Vết xước đầu đời

vietmessenger.com

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 5 Sep 2025

3. Người chú.

Khi ông Phạm bước ra khỏi phòng họp, bí thư đảng ủy đi theo, vỗ vai, giọng thân mật:

– Thằng con anh độ này ra sao? Hắn đã chịu  đem vợ con về ở với ông chưa?

Ông Phạm quay lại:

– Về được vài tháng rồi, nhưng ngó bộ cũng tính nào tật đó, con vợ vẫn hỗn, còn hắn thì vẫn bênh vợ.

Bí thư cười:

– Thôi làm lơ đi anh ơi, mình cần bọn chúng, chứ bọn chúng đâu có cần mình nữa.

Sánh vai nhau bước xuống tầng cấp sở công an, bí thư đảng ủy trở lại vấn đề của buổi họp vừa xong:

– Thôi rán nghe anh Phạm. Tôi biết anh cũng cắn đắng với vụ này lâu lắm. Chỉ còn một hôm nay nữa thôi. Các anh trên cũng như tôi hoàn toàn tin ở anh. Sự nghiệp chiến đấu bao nhiêu năm chẳng lẽ vì một chút tình cảm nhỏ mọn để ảnh hưởng.

Ông Phạm đứng lại, nhìn thẳng vào mặt bí thư đảng ủy:

– Anh khỏi động viên tôi. Anh cứ yên tâm. Mọi chuyện sẽ đâu vào đấy. Anh lên phòng đi. Tôi lên nhà lao sắp xếp mọi việc.

Ông Phạm bước vội ra chiếc xe con đang chờ sẵn ngoài sân. Xe về nhà lao, nơi ông làm việc. Vừa xuống xe, ông bước vội qua hai cánh cửa cổng, quên cả đáp lại hai người lính đứng nghiêm chào. Vứt chiếc cặp xuống bàn, ông mở ra, lấy bức điện khẩn có đề hai chữ tối mật bằng mực đỏ, đọc lại một lần nữa, rồi đặt vào tủ khóa lại. Như sợ còn chưa kỹ, ông lấy băng keo dán thêm một lớp phía ngoài, ký tên vào. Ông ngồi phịch xuống ghế, rút điếu thuốc Jet châm hút, mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà. Ông cố hướng ý nghĩ ông vào một việc khác, nhưng không được. Cuộc họp đảng ủy sáng nay về bức điện khẩn cứ như dính chặt trong đầu ông, không cách gì dứt bỏ ra được, dù chỉ một chốc. Ông xoay xoay trên ghế, trằn lui trằn tới, trở qua trở về, nhưng vẫn không có vị trí nào thoải mái. Cuối cùng, ông phải đứng dậy. Điếu thuốc mới hút được một nửa, ông vứt đi, rút thêm một điếu khác châm lửa hút. Lòng ông bứt rứt, bồn chồn như có con gì bò lui bò tới trong bụng.

Một hồi lâu, ông lên tiếng gọi:

– Thuấn đâu?

Một anh công an chạy vào:

– Dạ thưa thủ trưởng, có em ạ.

– Sáng nay, tổ chức thăm nuôi chu đáo chứ?

– Dạ, báo cáo thủ trưởng, chu đáo lắm.

– Bao nhiêu phạm nhân được thăm nuôi?

– Dạ, báo cáo, mười một.

– Thường phạm cả?

– Dạ chín thường phạm, hai cải tạo.

– Có ai ở biệt giam không?

– Dạ có, một, tên Hoàng Đình Cung.

Ông Phạm giật thót người:

– Cung tử hình hả? Ai thăm vậy?

– Mẹ và đứa em gái.

– Có khóc lóc, van vỉ gì không?

– Dạ không.

– Gửi đồ ăn gì?

– Dạ, một bịch cơm, thịt kho, hai gói thuốc, và một bình thuốc bổ.

– Khám kỹ chưa?

– Báo cáo, rồi ạ.

– Đem đồ ăn vào cho hắn, còn lại để gửi đó. À, đưa tôi gói thuốc.

Ông Phạm đưa tay lấy gói thuốc Jet bỏ túi, rồi đi vào bên trong. Qua khỏi hai lần cửa có lính canh, mới đến sân. Sân lát xi măng, khá rộng. Đứng ở đây nhìn lên ta thấy được một khoảng trời rộng mở. Còn chung quanh là những bức tường đá kiên cố, trên tường đầy lởm chởm những đinh, mảnh vỡ thủy tinh, thép gai, cọc sắt nhọn. Không gian như chật lại, đông cứng với những chấn song im lặng nặng nề. Một vài tù nhân đang quét sân; ở một góc nhà bếp, hai người ngồi gọt vỏ sắn. Một người công an ôm súng đi quanh. Trên đầu tường ở góc sân, một người công an khác ôm súng chĩa ra phía ngoài. Mấy cành phượng với một vài chùm bông đỏ ối rũ xuống, thỉnh thoảng gió đẩy vướng vào các khoanh thép gai.

– Chào cán bộ!

– Chào cán bộ!

Ông Phạm gật đầu đáp lại lời chào của hai tù nhân.

Ông đi thẳng đến một tù nhân đang quét:

– Anh Huy, khỏe chứ?

– Dạ thưa cán bộ, khỏe.

– Năm nay tôi có đề nghị giảm án cho anh.

Tù nhân hỏi:

– Hy vọng giảm được bao nhiêu cán bộ?

– Thì một, vài năm.

Tù nhân cười:

– Tôi từng này tuổi thì giảm vài năm e cũng đâu có sống đến đó. Chung thân cũng là chung thân.

– Năm nay anh bảy mốt hay bảy hai?

– Dạ, bảy hai.

– Ráng cải tạo tốt đi rồi đề nghị giảm án, hy vọng cũng có ngày về sống với vợ con.

– Cám ơn cán bộ.

Ông Phạm lại rảo bước quanh sân, đi ngang hội trường, nhà bếp. Lặng lẽ. Thỉnh thoảng có tiếng chim hót đâu đó trên bờ tường hay tiếng một chiếc xe gắn máy chạy ngang qua xa xa phía ngoài đường cái. Tự dưng, ông nhớ đến

những ngày tháng xa xưa, hồi ông bị giam cũng tại nhà lao này ba mươi mấy năm về trước. Kể ra thì bây giờ cũng chẳng khác lắm với hồi đó. Chỉ có cái sân được lát gạch đàng hoàng hơn và khu hội trường lớn hơn. Nghe nói nhà lao được tu sửa lại thời Ngô Đình Diệm. Ông chợt bật cười khi nghĩ rằng mình đã từng là tù lâu lắm rồi, có cả vài chục năm, nhưng chỉ khi về đây, ông mới chợt nhớ đến những tháng ngày tù tội cũ. Cũng dễ hiểu thôi, vì ông bị bắt đâu chỉ có gần hai tháng vì bị tình nghi tiếp tế cho Việt Minh, sau được một người bà con làm mật thám bảo lãnh cho ra sớm. Thực ra, ông cũng chẳng ưa gì cái nghề này, ông định xin đổi đi một ngành khác nhiều lần, nhưng nghĩ lại ở đâu quen đó, nên thôi. Vả lại, làm cái chức trưởng lao cũng nhàn hạ, nhất là những nhà lao kiên cố như thế này. Có điều, lần này chính cái chức trưởng lao lại làm ông bối rối.

Trở lại vào hành lang, ông Phạm gọi:

– Bảo đâu?

Một anh công an từ phòng trong chạy ra, khẩu súng ngắn bên hông lủng lẳng:

– Báo cáo thủ trưởng, em đây.

– Cho tôi vào khu biệt giam.

Anh công an tuân lệnh, đi trước, tay đút túi quần, lấy ra chùm chìa khóa, lần lượt mở hết lớp cửa này đến lớp cửa khác. Ông Phạm đi sau, đưa mắt quan sát các phòng. Phòng y tế, phòng mộc, khu tù hình sự, khu tù có án, khu tù cải tạo. Càng đi sâu vào, không khí càng lạnh lùng, vắng lặng. Qua khỏi phòng kỷ luật là đến khu biệt giam. Đây là khu dành để nhốt những tù nhân nguy hiểm và những tù nhân có án tử hình đang đợi lệnh ân xá hay đang chờ ra pháp trường. Khu chia ra nhiều phòng. Nói phòng, chứ thực ra là những cái hộp đá kiên cố, phẳng phiu, một nửa chiều cao nằm sâu dưới đất. Bên trên có một cái ô nhỏ có chấn song để đưa đồ ăn vào. Ở đây hầu như không có ánh sáng. Một bóng điện với thứ ánh sáng mờ đục treo ở cuối hành lang chỉ đủ để soi lối đi. Tới trước một cái “hộp”, ông Phạm dừng lại:

– Mở khóa, đưa cái đèn pin cho tao.

Anh công an mở khóa, ông đẩy cánh cửa sắt nặng nề. Ông đưa tay bịt mũi để tránh hít phải cái mùi hôi đặc biệt từ trong “hộp” tỏa ra. Trong ánh sáng nhờ nhờ, ông nhìn thấy một tù nhân ngồi dựa vào tường, bất động. Ông bấm đèn pin rọi khắp trên dưới, rồi chiếu vào tù nhân. Tù nhân cựa mình, ngẩng đầu nhìn lên, rồi như bị chói mắt, anh ta cúi xuống dụi đầu vào vai. Ông Phạm dọi đèn đi chỗ khác. Tù nhân ngước mắt, giọng yếu ớt:

– Chào … cán … bộ.

Ông hỏi lớn:

– Tao đây, Cung, à … chú đây.

Đôi mắt tù nhân như sáng lên:

– Trời, chú …

– Ừ, trong người có khỏe không?

– Dạ, cũng vậy. Chú ơi, đã có lệnh giảm án chưa chú?

Ông nhanh nhẩu:

– Chưa, nhưng cũng sắp.

– Có … có … hy vọng nhiều không chú?

– Sao lại không hy vọng. Tội như trời mà chủ tịch nước còn giảm án, huống hồ trường hợp mày, à … trường hợp cháu. À, này Bảo, mở cái cùm tay phải cho hắn đi.

Anh công an tra chìa khóa mở cái cùm sắt tay phải, rồi lùi ra, tay để lên khẩu súng.

– Mở cùm chân một tí đi.

Anh công an lại đến mở cùm chân, rồi lùi ra, rút súng hẳn ra khỏi bao, cầm tay đề phòng bất trắc. Cung co duỗi chân thoải mái. Ông Phạm rút gói thuốc Jet, lấy một điếu châm lửa.

– Hút đi cháu.

Cung đặt điếu thuốc trên môi, hít một hơi dài, sảng khoái.

– Trời, đã quá chú ơi!

– Mạ cháu với con Liên có tới thăm nuôi sáng nay.

Chốc nữa, tụi hắn đem đồ ăn vào. Chiều nay, hớt tóc, đi tắm. Không có gì phải lo lắng. Năm nay, án tử hình khá nhiều, nên chủ tịch nước xét dần. Cháu còn đến hai tháng nữa mới hết hạn. Tao nghĩ là lệnh giảm án cháu sẽ ký trước lễ quốc khánh.

Cung hút hết điếu thuốc, xin thêm một điếu nữa.

– Còn mấy đứa khác? Con Bé em đã đi học chưa?

– Thường cả. Bé em đi mẫu giáo. Mà thôi, cháu lo gì chuyện bên ngoài. Ráng giữ gìn sức khỏe, cải tạo tốt để được giảm án lần lần.

Cung cười đau đớn:

– Cháu bị cùm đêm, cùm ngày thế này thì giữ gìn sức khỏe với cải tạo tốt thế nào được chú.

Ông Phạm cười:

– Thì tao nói tương lai cà. Bầy giờ theo chính sách, cháu phải tạm chịu như thế này cho đến khi có lệnh giảm án xuống chung thân. Lúc đó, cháu cũng được chuyển về các phòng khác hoặc ra lao động bên ngoài.

Giọng Cung chán nản:

– Cứ thế này, cháu muốn họ đem cháu ra bắn quách cho được việc.

– Nói tầm bậy, tầm bạ không hà.

Ông Phạm đứng dậy, đưa tay vuốt tóc đứa cháu, dịu dàng:

– Thôi, chú ra. Đừng lo gì hết.

Cung nhìn lên:

– Chú … đi rồi sao?

– Ừ, chú phải đi họp giờ.

– Giờ là sáng hay tối vậy chú?

– Trưa.

Ông định bước ra thì Cung gọi:

– Chú ơi.

Ông quay lại. Cung nói:

– Có cách gì chú cho cháu gặp ba mạ cháu một lần nữa được không? Cháu lạy chú, giúp cháu với.

– Thì mai mốt được giảm án, rồi muốn gặp mấy chẳng được.

– Tự nhiên … cháu có linh tính … cháu cảm thấy như chẳng bao giờ gặp lại ba mạ cháu nữa.

Ông Phạm nạt yêu:

– Cứ nói tầm bậy không hà.

Giọng Cung tha thiết:

– Thiệt chú à, chú giúp cháu đi.

– Thôi được, để chú hỏi lại trên ty xem sao.

Cung im lặng, buồn bã đưa tay, chân cho anh công an cùm lại. Ông Phạm bước ra ngoài, không quay nhìn lại. Ông đi một mạch thẳng ra văn phòng như muốn thoát cho mau khỏi cái nặng nề, u ám của khu biệt giam. Đúng hơn, ông muốn trốn khỏi đứa cháu. Đã hơn một năm nay, ông mất ăn mất ngủ vì nó. Trong suốt cuộc đời phục vụ của ông trong ngành công an, chưa bao giờ ông phải đối phó với một hoàn cảnh éo le như thế này. Cung gọi ông bằng chú ruột, bị kết án tử hình vì tội cướp giựt và bắn trả lại công an khi bị truy đuổi. Khi Cung mới bị bắt, ông cho rằng cùng lắm hắn chỉ bị kết án mươi, mười lăm năm tù. Cho nên, mặc cho anh ruột ông lui tới năn nỉ, ỉ ôi, bà con dòng họ dùng tình cảm làm áp lực, ông vẫn làm ngơ vì sợ ảnh hưởng đến sự nghiệp. Ngày tòa xử, ông xin đi Hà Nội công tác để tránh mặt. Chẳng ngờ, do tình hình trật tự trị an tại địa phương thời gian gần đây xấu đi do quá nhiều vụ việc phản động, cướp giựt, nên tỉnh ủy chỉ thị cho tòa án kết án tử hình một vài người để làm gương và trấn áp, trong đó có Cung. Bản án bất ngờ làm ông choáng váng. Thế rồi, do bà con đến làm dữ, ông miễn cưỡng chạy quanh thăm dò. Đảng ủy cơ quan động viên ông không nên hốt hoảng, giải thích rằng đây là một bản án “làm gương” thôi, sau này, chủ tịch nước và quốc hội sẽ giảm án. Có người bắn tiếng là muốn mọi chuyện êm xuôi tại địa phương thì “lo” bốn cây vàng. Ông làm lơ, vì chuyện chạy chọt, đút lót ông không rành, hơn nữa, ông sợ ảnh hưởng. Vả lại, số tiền quá lớn, anh chị ông không cách gì lo nổi. Bán hết cả nhà đất, tài sản cũng chưa được một cây. Bởi vậy, ông động viên anh chị ông và bà con yên tâm chờ đợi lệnh giảm án của trung ương. Thế nhưng, sáng nay, đảng ủy triệu ông về họp, cho hay đơn xin ân xá của Hoàng Đình Cung, cháu ông, đã bị trung ương bác và tội nhân phải ra pháp trường ngay sáng sớm ngày mai!

Đến phòng làm việc, ông đóng cửa lại, ngồi thừ người ra. Ông cố xua đuổi hình ảnh thê thảm của đứa cháu trong phòng biệt giam ra khỏi đầu óc. Nhưng hình như càng xua đuổi, khuôn mặt nhợt nhạt của nó như hiện rõ mồn một trước mắt ông. Ông không thương nó lắm, mà cũng chẳng giận nó nhiều. “Hắn làm hắn chịu”, ông nghĩ. Sự nghiệp ông cũng chẳng ảnh hưởng nhiều lắm vì tội lỗi của nó. Nhưng điều phiền hà, là ăn làm sao nói làm sao với anh ông, với bà con tông tộc đây. Một người làm quan, cả họ được nhờ. Huống chi, ông lại là một thiếu tá công an. Ở một thời buổi mà việc gì cũng phải có chữ ký của công an, làm sao bà con họ hàng ông không tới nhờ vả, kêu réo.

Nhưng rồi, ông Phạm cũng bình tĩnh trở lại. Chức năng nghề nghiệp không cho phép ông bối rối. Không thể để cho thứ tình cảm tiểu tư sản đó ảnh hưởng vào công việc. Trong cái nghề của ông, luôn luôn giữ một trái tim lạnh lùng là yếu tố hàng đầu. Kinh nghiệm của mấy chục năm làm công an cho thấy, mọi sơ hở thường bắt nguồn từ sự thương xót, cảm thông không đúng chỗ. Ông còn nhớ như in cái lần ông thi hành công tác đầu tiên, hai ngày sau khi ông được tuyển vào ban ám sát bí mật của công an xã. Hồi đó, các anh trên giao cho ông đi ám sát một người đàn bà tình nghi làm tề điệp cho Pháp. Dù chị này là bà cô trong họ của ông, nhưng ông vẫn hăng hái nhận lời, vì cách mạng đã dạy lợi ích của cách mạng là trên hết. Nhưng khi tiếp cận được với đối tượng, tự dưng ông thấy tội nghiệp và chợt nghĩ đến tình máu mủ. Vì thế, ông có phần lơi tay khi phang chiếc rựa ngang đầu người đàn bà, khiến chị ta còn kịp la một tiếng. Chiếc đầu cũng chưa đứt hẳn. Ông hốt hoảng chạy trối chết. Về sau, trong những lần công tác khác, khi thì bắn, khi thì đâm, khi thì đập cuốc trên đầu … , ông chuẩn bị tinh thần bình tĩnh, và gạt bỏ mọi tình cảm cá nhân ra ngoài. Có lệnh là làm, lạnh lùng, không thương không xót, không thắc mắc, không do dự, trù trừ. Cái chết của bản thân phải xem thường. Cái chết của người khác còn phải xem thường hơn. Nhất là sau này, khi được biên chế về quản lý tù nhân, có vô số trường hợp gợi cho ông biết bao vấn đề về tình cảm. Vì quản lý cho tốt những kẻ bị bắt, ông phải biết thật rõ hoàn cảnh, tâm tình của từng cá nhân và phản ứng quen thuộc của mỗi người. Đặc biệt là đối với những kẻ bị án tử hình. Hồi còn ở trong rừng thì đơn giản, vì tội nhân chẳng phải bị tuyên án. Thấy cần, thì dẫn ra một nơi vắng vẻ nào đó bắn bỏ, không báo trước. Còn khi về thành rồi, phần nào cũng phải có luật, có lệ, nên tù nhân biết được bản án dành cho mình. Thường thường thì khi bị kết án tử hình, tù nhân trở nên một người khác. Tâm lý hoàn toàn không ổn định.

Biện pháp duy nhất là hứa hẹn, hứa hẹn cho đến phút cuối cùng, trước khi dẫn ra pháp trường. Điều đó, ông Phạm cũng áp dụng đối với cháu ông.

Bao lâu nay. Và chiều nay. Một buổi chiều nữa thôi. Đứa cháu ấy, ông đã từng ẩm bồng hồi còn nhỏ. Dù gì đi nữa, nó cũng là cháu ông. Và dù gì đi nữa, ông cũng không thể làm gì được khác hơn. Ông mở tủ, lấy hồ sơ Hoàng Đình Cung và cẩn thận kẹp thêm cái lệnh khẩn vào, rồi cất kỹ. Ông gọi nhân viên, phân phối công việc như thường lệ. Đồng thời kín đáo chuẩn bị mọi việc cho buổi hành hình sáng mai. Vì lẽ, việc hành hình là tối mật, phải được giữ kín cho đến giờ phút cuối. Ông gọi điện xuống ty, xem thử có gì thay đổi nữa không. Và trước khi ra về, ông lặng lẽ vào phòng biệt giam, rọi đèn nhìn cháu ông một lần nữa.

Ông bước lên xe về nhà, dặn vói với anh bảo vệ:

– Nhớ nhắc đồng chí phó chủ nhiệm là có gì, điện cho tôi ngay. Tối này tôi ở nhà một bữa. Sáng mai tôi đến sớm.

Vừa bước vào nhà, ông Phạm giựt mình vì thấy người anh và người chị dâu đang ngồi đợi.

– Chào anh chị.

– Chú đi làm về.

Ông ngồi xuống cạnh giường, vào đề ngay:

– Có chuyện gì không anh chị?

Bà chị dâu lên tiếng:

– Thì chú thay áo quần đi đã, làm gì mà vội thế.

Ông nói dối:

– Thú thật, em kiếm vài ba miếng gì rồi tranh thủ đi công tác ngay.

Người anh hỏi:

– Thế nào chú? Đã có tin. chi về lệnh giảm án cho cháu chưa?

– Chưa, anh à.

– Có hy vọng gì không chú? Chú có cách gì vận động giùm cho cháu. Anh chị chỉ có một mình nó là con trai. Không lẽ như chú mà …

– Thì em đã thưa với anh chị rồi, trước sau gì cũng có lệnh giảm án thôi. Anh chị cứ lo vớ vẩn. Không để ý gì đến lời trấn an đó, người anh vẫn than van:

– Tức thiệt là tức! Có giết người gì cho cam. Đằng này chỉ có cầm súng bắn bừa. Một vết xước cũng không có. Thế mà chết mới oan. Sao mà dễ tử hình thế.

Ông Phạm im lặng. Những lời than van như vậy, ông nghe tràn tai. Ông đã giải thích nhiều lần, hứa hẹn nhiều lần rồi, nhưng anh chị ông đâu chịu nghe. Anh chị ông vẫn cho rằng, mọi chuyện xảy ra là vì ông không thương đứa cháu. Nhiều lúc, quá bực mình ông định nói thẳng với người anh là một con người như thằng Cung là không đáng sống vì chẳng có ích gì cho xã hội hết. Hắn đã bị bắt vào tù từ hồi còn chế độ cũ, đến khi cách mạng lên, lại bị bắt thêm vài lần nữa, nhưng chứng nào vẫn tật đó, không hề thay đổi. Đó là một loại người “không thể cải tạo” được, theo ông. Nhưng ông không dám nói. Ông sợ há miệng mắc quai. Lâu nay, bà con dòng họ ông vẫn bêu riếu ông là đi theo cách mạng bao nhiêu năm chẳng lo gì đến mồ mả tổ tiên, giỗ chạp, cúng ky. Lúc đầu ông phản ứng giận dữ. Nhưng rồi, thấy bà con dần dần im lặng xa lánh ông, ông mới chợt nhận ra rằng mình sẽ bị cô lập hoàn toàn, nếu cứ tiếp tục thái độ cứng rắn như vậy. Ông bị khuất phục, vì càng lớn tuổi, người ta càng cảm thấy mình cần đến bà con tông tộc, đến mồ mả, giỗ chạp, làng nước.

Người chị dâu thổn thức:

– Chú nỡ lòng nào nhìn đứa cháu chết thảm. Chú có còn nhớ, chú đã từng bồng ẩm hắn trên tay. Hồi chú bị vây bắt, tui cũng đã từng bồng cháu lên thăm chú, chú nhớ không? Vợ chồng tui có đòi hỏi gì chú nhiều đâu. Tội của nó đâu có đến nỗi phải tử hình. Tui không hiểu cái tội gì gọi là tội “không thể cải tạo” được. Cách mạng nói “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, mà cái thằng Cung tui, cách mạng lại thua đến nỗi chỉ có cách là giết nó đi. Sao lạ lùng thế!

Ông Phạm vẫn im lặng. Ông lặng lẽ châm hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, chịu trận ngồi nghe. Than van một hồi, cuối cùng, người chị dâu lấy khăn chặm nước mắt, nói:

– Sáng nay tui có vô thăm nuôi. Chú có ghé thăm hắn không?

– Có, em mới ghé chiều nay. Cháu vẫn khỏe.

– Cháu có ốm lắm không?

– Thường thường vậy thôi. Em vẫn dặn tụi nó lo cho cháu đầy đủ.

Người anh nói:

– Đầy đủ thì cũng cơm tù.

Người chị dâu cười:

– Không cơm tù thì ông nói ăn cơm gì bây giờ. Nói cho vui, chứ có chú lo vẫn đỡ hơn.

Nhích lại gần ông Phạm, người chị dâu hạ giọng:

– Vợ chồng tui định nhờ chú một việc. Việc này theo tui, nếu chú thực tình thương cháu, thương vợ chồng tui thì không có gì khó. Liệu chú có giúp không?

– Việc gì anh chị cứ nói.

Người chị dâu đưa mắt nhìn người chồng. Ngần ngừ một lát, người anh nói:

– Không giấu gì chú, mấy tháng trước đây, thằng Cung có nhắn về với vợ chồng tôi là tìm cách gửi cho nó một sợi dây đàn hoặc ít viên thuốc độc. Vợ chồng tôi cho là nó quẫn trí nghĩ bậy. Nhưng gần đây, nó lại nhắn là nếu

thương nó thì tìm mọi cách gửi vô. Vợ chồng tôi cắn đắn nhau mãi về chuyện này, vì dù sao vẫn còn hy vọng là cháu sẽ được giảm án thành chung thân. Hơn nữa, ai lại gửi thuốc độc vô cho con bao giờ. Nhưng nghiệm đi nghiệm lại, thấy cháu cũng có lý. Vì tôi chẳng thấy mấy ai bị tử hình mà được giảm án bao giờ. Nên, thà để cho cháu tự xử lấy còn đỡ khổ hơn là đợi người ta đem đi bắn. Thế là mấy lần thăm nuôi rồi, tôi tìm cách giấu đút gửi vô, nhưng mấy người bảo vệ lục giữ quá, nên đành chịu …

Ông Phạm giựt nẩy mình trước những điều hoàn toàn lạ ông mới nghe lần đầu, nhưng vội vàng trấn tĩnh. Người anh nhìn thẳng mắt ông, nói tiếp:

– Tôi biết trách nhiệm chú lớn, chú không muốn có việc gì ảnh hưởng đến sự nghiệp của chú. Nhưng theo tôi, nếu chú thương cháu, chú vẫn tìm cách này hay cách khác gửi giúp vào. Giả dụ như ngày thăm nuôi, chú nói mấy đứa bảo vệ dễ dãi, rồi chú lánh mặt đi, giả đò đi công tác chẳng hạn …

Ông Phạm ngắt ngang:

– Sao anh chị lại nghĩ quẩn theo nó vậy. Nó còn đến hai tháng nữa mới hết hạn lệnh giảm án. Mà em chắc chắn là nó sẽ được giảm án.

– Nhà nước cách mạng làm nhiều cái bất ngờ lắm, không ai hiểu nổi đâu. Nói có mà không, rồi nói không mà có. Chắc chú hiểu quá rõ, vì chú từ trong lò cách mạng ra. Tôi chỉ mong chú thương cháu, thương vợ chồng tôi.

Ông Phạm cười:

– Ai lại thương con, thương cháu mà đưa thuốc độc để nó tự tử bao giờ.

Ngừng một lát, ông tiếp:

– Còn nói chuyện đưa thuốc vào. Cái này, đối với em không có gì khó. Có điều, em giả sử, sau khi thằng Cung tự tử và chết đi, pháp lý lên khám nghiệm, họ sẽ tìm ngay ra nguyên nhân. Lúc đó thì, em là người đầu tiên lãnh đủ. Và kế đó là anh chị. Luật pháp không dung thứ chuyện để cho

một người bị tử hình lại chết trước khi ra pháp trường. Chưa chừng, người tiếp tay sẽ lãnh án thế tử tội nữa đó. Em nói đây chẳng phải chỉ riêng cho luật pháp cách mạng mà thôi đâu. Luật pháp nước nào cũng vậy hết. Anh chị cứ suy nghĩ kỹ mà xem.

Người anh định nói thêm, nhưng cảm thấy sao đó, lại im lặng, ngồi nhìn xuống đất. Người chị dâu tức tưởi:

– Cái gì nói với chú cũng đâm ra thành khó khăn. Khổ ơi là khổ, muốn con sống không được, giờ muốn con chết cũng không xong.

Nhìn sang chồng, bà đay nghiến:

– Tui đã nói rồi, mắc mớ chi mà phải nói với chú. Đã không giúp, lại còn dọa nữa. Chú ấy là công an, chú ấy chỉ biết có đảng, làm gì biết đến bà con, dòng họ.

Ông Phạm cố trấn tĩnh, ôn tồn nói:

– Chị đừng nói vậy. Cái gì em làm được là em làm liền. Anh chị đừng đẩy em vào chỗ khó xử.

Người chị dâu đứng dậy:

– Tụi tui làm gì mà dám “đẩy” chú. Tụi tui đến xin, đến năn nỉ chú, chứ có dám làm gì đâu.

– Chị đừng chua chát với em mà tội. Anh chị cứ yên tâm, em chắc là chỉ trong tháng này là có lệnh giảm án cho cháu thôi. Anh chị biết là sắp đến lễ quốc khánh rồi mà. Khi án giảm thành chung thân, em sẽ tìm cách gỡ dần cho nó.

Người anh cũng đứng dậy, thở dài:

– Lúc nào cũng nghe chú nói sẽ, sẽ, sẽ … thà chú nói thẳng chú không giúp, chú không làm, chú sợ mất chức. Từ ngày cách mạng về, tôi cứ nghe mãi chú sẽ, chú sẽ, sẽ …Thôi, tụi tôi về.

Hai vợ chồng đi ra. Ông Phạm im lặng tiễn anh chị ông ra cửa. Ông nói:

– Anh chị không hiểu nỗi khổ tâm của em, anh chị nói thế. Mà thôi, phận làm em, anh chị nói sao, em chịu vậy.

Ngừng một lát, ông nhắc lại một câu động viên thường lệ:

– Anh chị cứ yên tâm. Cháu sẽ có lệnh giảm án nay mai thôi.

Hai vợ chồng người anh ra rồi, ông vào nhà rửa ráy mặt mày sơ sài, gọi điện bảo tài xế chở ông trở lại nhà lao. Ông giở sổ thăm nuôi ra, rà soát lại mấy chục lần thăm nuôi trước của gia đình cháu ông, các loại thức ăn, thuốc men, áo quần mang vào mang ra, tên các nhân viên dưới quyền ông phụ trách kiểm tra thăm nuôi … Ông viết lệnh triệu tập buổi họp khẩn cấp toàn thể cán bộ phục vụ tại nhà lao vào chiều mai. Lời tiết lộ của vợ chồng người anh khiến ông toát mồ hôi hột. Ông muốn tìm xem ông đã sơ suất trong khâu nào khiến cho cháu ông có thể thông tin ra ngoài được với anh chị ông. Ông ra lệnh bố trí an ninh đêm nay chặt chẽ, cử một người trực gác thường xuyên trước phòng cháu ông, giữ lại toàn bộ đồ thăm nuôi buổi sáng. Xong đâu vào đó, ông vào phòng, đóng cửa lại, rút điếu Jet châm hút, lẩm bẩm:

– Tổ mẹ, ưng ngủ một đêm mà không được.

Dù chẳng có gì phải lo lắng, nhưng ông Phạm cũng ngủ không yên giấc. Ông trằn trọc mãi. Đến khi chợp mắt được một lúc, ông lại mơ thấy mình về làng ăn giỗ. Có lúc ông mơ thấy ông bồng Cung, dẫn Cung đi chơi.

Ba giờ sáng, ông thức dậy, chế trà uống. Ông xuống phòng biệt giam, vừa kiểm tra, vừa thăm lại đứa cháu lần cuối. Cung còn ngủ, đầu ngả sang một bên. Ông cảm thấy loáng thoáng trong lòng đôi chút xót xa khi nghĩ rằng chỉ còn vài tiếng nữa là đứa cháu ông không còn trên cõi đời này nữa.

Bốn giờ sáng, xe ở ty lên. Nhận lệnh, ký xong, cắt đặt mọi việc cho đồng chí trợ lý và các cán bộ phụ trách, ông trở vào phòng, đóng cửa lại, châm thuốc hút, đi lui đi tới, nghe ngóng. Một lát, từ trong phòng biệt giam vang lên tiếng bước chân rầm rập, tiếng lách cách của ổ khóa, tiếng lên đạn. Rồi sau đó là tiếng gào mỗi lúc mỗi lớn của Cung:

– Chú ơi là chú, họ đem cháu đi bắn rồi chú ơi. Chú ơi, cứu cháu với. Chú hứa với cháu là sắp có lệnh ân xá, sao giờ họ dẫn cháu đi bắn, chú ơi. Ba ơi, mạ ơi, con sắp chết rồi. Chú ơi là chú ơi, Liên ơi, trời đất ơi, cách mạng ơi.

Tiếng gào yếu dần đi, vì vừa như có bàn tay ai bịt miệng lại, vừa như không còn hơi sức. Khi dẫn đi ngang phòng ông, ông chỉ nghe tiếng ú ớ, tiếng rên rỉ nho nhỏ, rồi lịm dần đi. Ông bịt tai lại, cắn môi. Tự dưng, ông rơm rớm

nước mắt. Kể ra thì ông đã quá quen thuộc với cái cảnh này, với tiếng gào của người tử tội. Thông thường thì tội nhân chỉ đủ sức gào lên một câu ngắn rồi ngất đi khi nhận rõ rằng mình sắp chết. Thằng cháu ông lại gào được lâu hơn, khiến ông thấy lòng xốn xang.

– Cái thằng cũng mạnh thiệt! – ông lẩm bẩm.

Đợi chiếc xe chở tử tội và những người áp tải đi, ông mới lên xe. Khác với những lần trước, lần này ông cố tình đi chậm lại. Ông chỉ đến để chứng kiến, còn mọi thủ tục khác ông đã giao cho người phụ tá của ông lo.

Pháp trường là một triền núi vắng vẻ, ở khá xa thành phố. Nói là pháp trường, chứ thực ra chỉ là một bãi đất trống, với một cái cọc để trói tử tội, và một cái hố vừa đào chiều hôm trước. Chỗ bắn thay đổi luôn, mỗi nơi thường chỉ dung cho một vụ xử. Trừ những vụ phạm tội lớn, đặc biệt là những vụ án phản động hoặc cướp của giết người làm chấn động dư luận, thì pháp trường mới được bố trí ở thành phố, thị trấn để cho nhân dân tự do tới xem; còn thì đều tổ chức bí mật, đơn giản và nhanh chóng.

Đến nơi, ông Phạm xuống xe, đứng chung với đội hành quyết. Trời chưa sáng. Cây cỏ như còn ngái ngủ. Sương sớm lờ mờ. Lặng lẽ. Ngoài bãi bắn, cháu ông đã xuống xe, được mở trói và có lẽ đang được phép viết ít dòng từ giã cha mẹ, anh em. Bên cạnh đó là người trợ lý của ông, đội trưởng đội

hành quyết, đại diện tòa án và hai người công an bảo vệ.

Ông hỏi một người trẻ nhất trong đội hành quyết:

– Chú thi hành công tác này lần đầu?

– Báo cáo thủ trưởng, đúng ạ.

– Cảm giác thế nào?

– Dạ, thấy rờn rợn.

Ông cười:

– À, thì lúc đầu ai chẳng vậy. Sau này, mấy chú còn sướng hơn tao hồi trước. Bắn, đỡ run tay. Để tiết kiệm đạn cũng như để giữ bí mật, bọn tao chỉ có chặt, đâm, hay đập bể sọ. Lúc đầu, ngán ngán, rồi lâu dần cũng quen. Mình cứ tưởng tượng như đập một con gà, con chó gì đó thôi. Người có tội thì chết cũng như con vật, có gì mà phải băn khoăn. À, mà chú thấy tội nhân vùng vẫy, la hét gì trên xe không?

Có ăn hết phần ăn không?

Một người khác trong đội hành quyết trả lời:

– Thằng này cũng lì. Lúc từ nhà lao ra, hắn còn la. Chặp sau, hắn ngồi dậy, ăn uống tỉnh bơ, còn nói đùa nữa chứ. Em nhìn thấy hắn tỉnh quá, mà rờn rợn. Thủ trưởng biết không, hắn còn hỏi em “Anh thích bắn chỗ nào, đầu hay tim. Ờ, mà lạ, sao hắn lại tỉnh queo thế, thủ trưởng?

Ông Phạm gật đầu:

– Đúng là lạ thật! Đứa nào khi mới nghe dẫn đi bắn, cũng gào lên. Nhưng khi biết chắc không thể thoát chết được, đứa nào cũng bình tĩnh. Đại đa số lại còn không chịu cho bịt mắt nữa. Tao nghĩ chắc cái chết cũng nhẹ nhàng

thôi, phải không mấy chú?

Ông cố gượng vui, chứ thực tình, lòng ông cũng có phần xao xuyến. Ông định ở đây luôn cho đến khi vụ xử bắn kết thúc, nhưng một anh bảo vệ chạy vội ra:

– Báo cáo thủ trưởng, tội nhân xin được gặp chú.

Ông miễn cưỡng bước đi. Trời mờ mờ sáng. Cung đã được trói chặt vào cột, đầu gối quỳ xuống đất, hai tay quặt ngược ra phía sau. Mặt mày tái nhợt, nhưng trông Cung rất bình tĩnh. Thấy ông, Cung nhếch mép:

– Vĩnh biệt chú. Cháu không có gì trách chú hết. Cho cháu điếu thuốc.

Ông Phạm lấy điếu Jet, mồi lửa, nhét vào môi đứa cháu. Đôi môi run rẩy, lặp bặp ngậm điếu thuốc. Cung hít một hơi dài, nhắm mắt lại. Điếu thuốc động đậy, rớt xuống đất. Ông lấy một điếu khác, châm, rồi gắn vào môi Cung.

– Thuốc của mạ cháu bới vào hôm qua đó, – ông nói, mắt tránh đi chỗ khác.

Cung cố hít lấy hít để khói thuốc trước khi điếu thuốc lại rớt xuống đất. Anh ta ngẩng đầu nhìn người chú, giọng có hơi lạc đi:

– Nói họ đừng bịt mắt cháu nữa. Cháu không sợ.

Ông Phạm gật đầu, nhưng không làm gì cả. Ông bước vội lui, đi thẳng, không ngoái đầu lại. Ông nhìn mông lung về phía chân trời đang hửng sáng. Một lát sau, đợi cho phát súng ân huệ cuối cùng vang lên, ông mới quay lui. Từ xa, ông nhìn thấy đầu đứa cháu ngoẹo sang một bên. Ông cúi đầu, cắn môi, vội vã bước ra xe, bảo tài xế lái về nhà.

– Về thắp cho hắn mấy nén nhang, – ông Phạm lẩm bẩm.

Trời đã sáng hẳn.

Worcester đầu tháng 4-1994.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply