Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 10 Sep 2025

Phần 4.

Hai trang 5,6 NTBKCB, người viết Phan Hiền. Có thể đây là anh Phan Hiền, nhân viên Bộ Ngoại Giao VC. Lời lẽ chung chung, bài tựa này có thể dùng để làm tựa cho tất cả những “quái phẩm Cộng sản” mạ lỵ nhân dân ta trên cõi đời này. Phan Hiền nhắc lại những lời cũ rích từ khươm mươi niên. Theo đúng thông lệ anh ca tụng bọn công an Việt cộng – những kẻ bị nhân dân căm thù nhất – là những “chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc” hy sinh, mẫu mực, đấu tranh gian khổ trường kỳ.

Bài học đầu tiên trong những khóa dậy nghề Công an Việt cộng có câu: “Quân đội bảo vệ Tổ quốc, Công an bảo vệ Đảng…” Bẩy mươi mùa đói rét trôi qua trên đất nước Liên Xô vĩ đại, Thành trì của Chủ Nghĩa Xã Hội Thế Giới, đến những năm 1988. 1989 bức tượng tên tội đồ Dherzinsky, tên lập ra cơ quan KGB ác ôn nhất lịch sử nhân loại – Tượng đá Vĩ Nhân Dherzinsky oai dũng đứng trước trụ sở KGB – bị nhân dân Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo xuống cho ra nằm ở bãi rác. Bọn nhân viên Công an Nga, Tiệp, Đức, Hung trở thành những tên “mặt người dạ thú”. Tờ báo Tuổi Trẻ Thành Hồ năm 1992 đăng một bài dịch từ một tạp chí Tiệp Khắc. Anh công an Tiệp được phỏng vấn trong bài báo này than:

– Đảng đã làm chúng tôi trở thành những kẻ thù của nhân dân.

Quyền lợi của Đảng Cộng sản và quyền lợi của nhân dân chưa bao giờ và không bao giờ đi đôi với nhau. Chuyện ấy, trẻ con lên ba, cụ già chín bó đều biết. Với những người cộng sản, việc “bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân” có nghĩa là bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của bọn đảng viên cộng sản, giữ vững mãi cái chế độ trong đó “người đối xử với người tàn tệ hơn là lang sói”, để yên cho bọn cộng sản mặc tình ăn trộm, ăn cướp, ăn hại, đái nát, hủy hoại đất nước, đầy đọa nhân dân, làm những thế hệ con em sống dở, chết dở trong ngu dốt, nghèo đói.

“Trí thông minh, tinh thần sáng tạo…” của công an cộng sản được biểu hiện bằng việc phóng tay “bắt hết, nhốt hết, cho đi tù chết bỏ”. Kể từ ngày Lenin “vĩ đại” gọi những người chống đảng cộng sản là “bọn sâu bọ”, Công an cộng sản tất cả các nước chẳng may bị bọn cộng sản cướp chính quyền, thẳng tay đàn áp, giết tróc những người không may cùng một dân tộc với chúng.

Tôi sống ở K3 – Trại Cải Tạo Z30A trọn năm 1989, cùng sống với tôi trong trại cải tạo này năm ấy có Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Linh Mục Trần Đình Thủ, Dòng Đồng Công Thủ Đức, Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Trưởng Dòng Tên Việt Nam, Tu Sĩ Phật Giáo Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, anh Doãn Quốc Sĩ, Tiến sĩ Sử học Mã Thành Công, Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ sư Lê Công Minh cùng khoảng năm trăm người tù chính trị từ khắp lãnh thổ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1994 khi tôi đi khỏi thành phố HCM, Trí Siêu Lê Mạnh Thát còn ở Z30A, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận mãn án đã trở về mái chùa xưa, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương năm 1990 bị điều ra Trại cải tạo Phú Khánh. Trại này nằm trong rừng giữa hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, nên được gọi là Phú Khánh.

Năm 1989 là năm cộng sản không rẫy chết mà chết ngắc ở Đông Đức. Trong Z 30A chúng tôi phấn khởi truyền nhau những tin tức như tin Bức Tường Ô Nhục Bá Linh bị phá đổ, “Đồng chí Eric Honecker vĩ đại” – danh hiệu Việt Cộng tôn xưng “Đồng chí Eric Honecker, Chủ tịch Đảng Cộng sản Đức”, Honecker có sang thăm Thành phố HCM năm 1976 – phải bỏ Đảng chạy ra nước ngoài. Chúng tôi phấn khởi nghe tin nhân dân các nước Đông Âu, theo gương nhân dân Ba Lan, tự phá gông xiềng Búa Liềm, tin vợ chồng Sô-xét-cu, Chủ Tịt Đảng Cộng Lỗ Ma Ni, bị nhân dân lôi cổ ra dí súng vào đầu, bắn bỏ. Những chuyện chúng tôi không thể ngờ có thể xẩy ra trong đời mình.

Tháng Hai năm 1990, mãn án tù lần thứ hai sáu mùa cóc chín, tôi trở về Ngã Ba Ông Tạ. Mang giấy ra trại đến phường công an khai báo để ghi tên trở vào sổ Hộ Khẩu – vừa bị bắt là tên bị xóa ngay trong sổ – anh công an khu vực, nay đổi tên là công an đường phố, bảo tôi:

– Chú viết bản tự kiểm…

Bị coi là có tội, bị bắt, bị ra tòa, bị kết án, mãn án tù, về nhà, còn tự kiểm, tự cáo gì nữa? Tôi nghĩ. Tôi hỏi:

– Tôi tự kiểm về chuyện gì?

– Về những việc chú đã làm – Anh công an Ông Tạ trả lời tôi, anh giải thích – Chú đã làm gì để bị bắt? Chú làm những gì trong thời gian cải tạo. Chú có suy nghĩ gì? Và bây giờ về chú dự định sẽ làm gì?

Tôi nghĩ thầm: “Anh mới là người phải viết tờ tự kiểm những tội lỗi của anh và của bọn anh với nhân dân chứ? Tại sao đến bây giờ tôi vẫn còn phải viết tờ tự kiểm với anh…?” Cộng sản nó sụp ở những đâu đâu, ở quê hương tôi nó còn vững lắm. Tôi bùi ngùi cầm bút viết trang tự kiểm cho xong. Tôi vụng dại đủ mọi thứ, làm việc gì cũng bê bối không giống ai, được cái viết vớ vẩn vô thưởng vô phạt thì tôi mần khá dễ dàng.

Bọn công an cộng sản Nga, Đức, Tiệp, Hung, Ba Lan, Lỗ đã phải “trả lời những tội trạng của chúng trước nhân dân”, đã “phải cúi đầu nhận tội”, đã nhục nhã vì bị nhân dân chửi rủa, khinh bỉ, vợ con tủi hổ, xa lánh.

Sẽ có ngày đẹp trời bọn cộng sản Việt Nam cũng phải chịu chung số phận với bọn đàn anh của chúng. Ngày đẹp trời ấy bao giờ đến? Tháng mấy? Năm hai ngàn mấy? Tôi có được thấy ngày đẹp trời ấy chăng? Thôi thì đành tự an ủi bằng ý nghĩ: “Mình đã thấy cộng sản sụp ở gốc rễ của nó rồi. Trước sau gì mấy cành cây mục cũng chết theo thôi. Đừng có nóng…”

Nhưng tại sao tôi lại bi quan nhỉ? Đời tôi còn những hai bó nữa kia mà? Hai bó nhiều lắm, lâu lắm chứ. Hai bó là hai mươi quyển lịch Tam Tông Miếu. Chịu khó bóc vài ba tập lịch nữa thôi, ngày đẹp trời sẽ đến. Có thể lắm chứ. Biết đâu đấy.

Trích NTBKCB, trang 7, 8, 9.

Hơn một tuần nay, Nguyễn Trí Văn được nhận vào làm lái xe cho một Công ty Xuất khẩu hải sản. Nhờ người anh họ từ miền Bắc vào công tác ở thành phố quen với Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Công ty giới thiệu nên Văn được nhận dễ dàng, vả lại anh không có quan hệ chính trị gì phức tạp. Tuy là Thượng sĩ trong quân đội Saigon cũ, nhưng anh ta chỉ biết cầm súng khi còn ở quân trường, sau đó được tuyển vào đội bóng đá của Sư Đoàn 3 Không Quân. Từ giã vị trí trung phong trên sân cỏ đã mấy năm rồi nhưng phản xạ của cơ bắp vẫn còn tốt cho nghề lái xe. Anh ta cảm thấy xin được việc làm ở một cơ quan Nhà Nước là điều may mắn đối với mình.

Cũng trong thời gian này, điều may mắn thứ hai lại đến. Anh vừa nhận được món hàng nhỏ từ Paris gửi về. Thật là của từ trên trời rơi xuống, giữa lúc gia đình anh gặp khó khăn túng thiếu. Gói hàng có kèm theo lá thư với mấy dòng vắn tắt:

Paris ngày…

Văn thân mến,

Xin gửi cho em món quà nhỏ. Gọi là của ít lòng nhiều. Mong rằng em vẫn còn ở chỗ cũ và nhận được thư này. Hãy viết thư ngay cho anh sau khi nhận được thư.

Thân ái,

Trần Tam Tiệp

Thật là một niềm vui bất ngờ đối với Nguyễn Trí Văn.

Khi nhận quà về, Văn đã khoe với vợ con, bạn bè rằng Tiệp là anh em “kết nghĩa”, mặc dầu ông ta vốn là Trung tá, “Mạnh thường quân” của đội bóng ngày xưa của anh. Và đây là lần đầu tiên anh được tin tức của cấp chỉ huy cũ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Lúc này, nhiều sĩ quan cũ mà anh biết đi học tập chưa về, môt số người được về lại đã dông ra nước ngoài. Trước đó, Văn cho rằng có liên lạc với các ông “xếp” ấy cũng chả cần thiết. Thật tình anh không còn nghĩ đến ai. Cái quá khứ ấy cũng nên quên đi, trừ những lần đi xem những trận bóng ở sân Thống Nhất, anh vẫn nhớ lại quãng đời cầu thủ ngắn ngủi của mình. Nay được thư kèm theo quà, anh thấy cũng hay. Quá khứ lại sống dậy trong anh. Hơn một tháng sau khi trả lời thư của Trần Tam Tiệp, anh lại nhận được lá thư thứ hai của ông ta. Gói quà lần này sộp hơn lần trước nhiều, đem ra chợ trời bán gần được 4000 đồng, đủ trang trải mấy món nợ, còn dư may sắm cho vợ con. Trong thư Trần Tam Tiệp nhờ tìm gặp Trung úy Không quân Trần Ngọc Thự và một số người khác để lấy địa chỉ gửi qua cho Tiệp. Ông ta bảo những người đó là bạn thân, ông ta cần biết địa chỉ để gửi quà về giúp. Văn thấy không thấy gì trở ngại, vả lại đây là chuyện”tình nghĩa” không có lý do từ chối. Chỉ trong hai Chủ nhật, Văn đã tìm gặp được mấy người bạn cũ, và từ người này hỏi thăm người nọ, cuối cùng anh đã gặp hầu hết những người Tiệp cần biết tin tức.

Sau lần ấy, Văn còn nhận thêm vài món quà nữa, rồi Tiệp viết thư báo sắp bận đi làm ăn xa. Từ đó bặt tin luôn. Văn thấy như vậy cũng đủ rồi. Làm một cái gạch nối cho viên chỉ huy cũ liên lạc với anh em bạn bè, anh đã hoàn thành và cũng đã được trả công. Anh trở về với nếp sống cũ và hầu như quên đi chuyện ấy, chỉ còn giữ lại mấy cái hộp giấy đựng quà làm kỷ niệm. Nhân vật Nguyễn Trí Văn có thật. Là một cầu thủ khá nổi trong đội banh Không quân, Nguyễn Văn Trí được anh em không quân biết tên, biết mặt. Nghe nói anh vẫn được gọi bằng cái tên thân thương Trí Lùn.

Những Tên BKCB mở đầu bằng 3 trang nói đến Nguyễn Trí Văn tức Nguyễn Văn Trí. Và từ Trí Lùn “giới thiệu” đến Trung tá Không quân VNCH Trần Tam Tiệp, ông “Dượng Ba” thương mến của anh em chúng tôi..

Công an Thành Hồ cay cú Dượng Ba của chúng tôi nhất. Mấy ảnh kết tội Trần Tam Tiệp là người chủ động trong những việc:

1. Tranh đấu trong những tổ chức văn học – chính trị quốc tế để bảo vệ những văn nghệ sĩ Saigon bị cộng sản đàn áp.

2. Tố cáo trước dư luận thế giới những hành động bạo tàn của VC ở Việt Nam.

3. Làm nhịp cầu liên lạc giữa những văn nghệ sĩ Saigon sống dưới ách đàn áp thô bạo của cộng sản với những tổ chức văn học-nhân quyền quốc tế như PEN International, Amnesty International: Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Ân Xá Quốc Tế.

4. Cung cấp sự giúp đỡ về tinh thần và tiền bạc cho những văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở Thành Hồ đỡ tả tơi, cuộc sống bớt chút màu sắc đen hơn mõm chó mực.

Công an Thành Hồ gán cho Trần Tam Tiệp cái tội “thúc đẩy chúng tôi viết và gửi tác phẩm ra nước ngoài…”

Và Công an Thành Hồ cay cú nhất vì mấy ảnh cóc đụng được vào cái lông chân nào của Trần Tam Tiệp. Dượng Ba của chúng tôi sống ở Paris. Các anh Công an VC hung hăng con bọ xít bắt, bỏ tù mút chỉ cà tha mấy tên dzăng nghệ sỡi kẹt giỏ bị mấy anh gọi là Biệt Kích Cầm Bút – mấy ảnh là công an VC cầm súng – nhưng mấy ảnh hận mà hổng có làm gì được Dượng Ba Trần Tam Tiệp của chúng tôi. Vì vậy mấy ảnh cay cú dữ dội.

Trong thời gian tôi bị thẩm vấn ở Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu – những tháng 5,6,7 năm 1984 – Sáu Khôi, một nhân viên cấp trung của sở Công an thành phố HCM, đến nhà giam chỉ huy bọn thẩm vấn chúng tôi. Sáu Khôi không đích thân thẩm vấn chúng tôi. Y chỉ ghé vào các phòng đang thẩm vấn, ngồi nghe, góp vài ý kiến. Tôi thấy rõ Sáu Khôi căm thù Trần Tam Tiệp. Mỗi lần nói đến Dượng Ba của chúng tôi, Sáu Khôi đều gằn giọng: “… Thằng Tiệp… Thằng Tiệp…”

Đọc mấy trang NTBKCB trên đây, ta thấy hai anh Nam Thi – Minh Kiên viết về Trí Văn nhẹ hều. Đi tìm những ông không quân vất vưởng ở Thành Hồ để những ông này liên lạc với Trung tá Trần Tam Tiệp ở Paris, nhận được vài thùng quà. Rồi thôi. Chẳng có tội gì cả. Nhưng… “Dziệc cộng dziếc dzậy mà hổng phải dzậy…” Dziệc cộng công an nói và dziếc lại càng khác nhau. Sự thực não nùng bi đát đúng kiểu VC là chỉ vì cái tội đi tìm mấy ông bạn đồng ngũ không quân giúp Trung tá Trần Tam Tiệp, anh Nguyễn Trí Văn, tức Nguyễn Văn Trí, tức Trí Lùn Đội Bóng Không Quân Quân Lực VNCH, bị công an Thành Hồ cho xe bông đến tận nhà – nghe đâu Trí ở Gò Vấp – ưu ái đưa vào Số 4 Phan Đăng Lưu cho nằm ngâm thơ Gãi Háng – cơm tù bưng đến tận cửa xà lim, nước tù xịt xà lim cho tắm vì những ống nước nhà tù đặc cứng rỉ sét – Không hề bao giờ là Biệt Kích Cầm Bất Cứ cái gì, Nguyễn Trí Văn cũng nằm xà lim, ăn cơm nhạt xỉu xỉu mười tháng.

… Văn thấy không có gì trở ngại, vả lại đây cũng là chuyện tình nghĩa không có lý do gì từ chối…

Nguyễn Trí Văn không đến nỗi phải chết vì “tình nghĩa”. Anh chỉ vì “tình nghĩa” mà bị Công an Việt cộng cho đi tù gần một mùa lá rụng…

… Anh trở về với nếp sống cũ và hầu như quên đi câu chuyện ấy, chỉ còn giữ lại mấy cái hộp giấy đựng làm quà kỷ niệm…

Poste Phú Lang Sa văn minh hơn Post Mẽo ở những hộp các-tông đựng quà. Những hộp giấy vàng vuông vắn, gọn đẹp. Những năm đầu thập niên 80 một trong những lạc thú hào hứng nhất của những Anh Con Trai, những Chị Con Dâu Bà Cả Đọi ở Thành Hồ là đến Bưu Điện hay vào phi trường Tân Sơn Nhất lãnh đồ. Gần như cả nước sống nhờ đồ ngoại quốc gửi về. Có đồ là có tất cả. Có đồ là nỗi tuyệt vọng mênh mang trong lòng ta dịu bớt, vơi đi, ta được tiếp đôi chút hy vọng để có thể không chết. Nỗi sợ hãi công an trong ta cũng nhạt đi khi ta có đồ. Đồ càng lớn, càng nhiều, càng tốt. Tất nhiên. Nhưng đồ nhỏ cũng rất tốt. Chỉ một paquet một ký lô thuốc Tây từ Pháp quốc văn minh phồn hoa trữ tình lãng mạn sông Seine mờ sương trắng – là áo sương mù hay váy em. Ga Lyon đèn dzàng… Những anh Con Trai Bà Cả Đọi từ muôn kiếp trước đến muôn kiếp sau chưa từng một lần được đặt những bước loạng quạng đến Paris, chưa từng biết mùi Đầm là gì… vẫn xúc động khi nghe chuyện lên xe tiễn em đi. Chưa bao giờ buồn thế… – những paquet quà thơm phức từ Pháp quốc gửi về Thành Hồ. Mỗi paquet – tuy không đủ lãng quên đời – cũng đủ cho hai vợ chồng và ba con nhỏ sống được một tháng.

Đấy là thời gian những anh Con Trai Bà Cả Đọi ở thành Hồ được gọi là những anh Tư Đê. Đúng ra mấy ảnh là mấy anh Năm Đê. Ngoài một tiếng Đê, ngôn ngữ thuần túy dân tộc, mấy ảnh luôn luôn sài bốn tiếng vần Đê:

– Đi, Đồ, Đói, Đợi

– Sao không đi? Còn ở đây?

– Đi không được. Sao lại không đi!

– Có tính đi không? Có đường đi không?

– Có đồ không?

– Đói thấy mồ…

– Đành đợi vậy…

Mấy ảnh nói mấy ảnh đợi, nhưng chính mấy ảnh cũng không biết mấy ảnh đợi ai, đợi cái gì, đợi đến bao giờ…

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 10 Sep 2025

53. Nguyễn Văn Sâm

Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Sâm có nhiều điểm tương đồng. Trước 1975 cả hai ông đều là giáo sư tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Cả hai, có thể đã viết văn từ lâu, nhưng chỉ chính thức công bố những gì mình viết từ sau 1975, ít nhất đối với Nguyễn Văn Sâm, vì trước 75 người ta chỉ được đọc những sách nghiên cứu về văn học của Nguyên Văn Sâm thôi.

Cả hai đều là người Nam. Điều này rất quan trọng bởi vì cả hai cùng dùng giọng văn rặc miền Nam để viết, và cùng với rất nhiều nhà văn lớp trước như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Vương Hồng Sển, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên và các tác giả đương thời như Trần Tuấn Kiệt, Huỳnh Phan Anh, Kiệt Tấn, Hồ Trường An … cho người đọc thấy rõ cái phong phú và đáng yêu của mảng ngôn ngữ chúng ta ở phía Nam. Cùng với cuộc Nam tiến, đất đai được khai phá tới đâu, ngôn ngữ của chúng ta trổ mầm tới đó.

Viết văn, trước hết, có phải là cách thức xử dụng ngôn ngữ?

Là một giáo sư văn chương nên Nguyễn Văn Sâm thông hiểu tận tường cách xử dụng ngôn ngữ, cái nặng nhẹ của từng con chữ khi được đặt cạnh nhau. Hiểu biết là một chuyện. Tài năng lại là chuyện khác.

Một thân hữu của Nguyễn Văn Sâm, giáo sư ngữ học Đàm Trung Pháp, hiện đang dạy tại Texas Woman’s University, đọc Khói Sóng Trên Sông đã cho biết cảm nghĩ như sau:

“Là một cá nhân thiết tha học hỏi ngôn ngữ, tôi rất yêu tiếng Việt miền Nam. Và khi đọc văn của anh Nguyễn Văn Sâm, tôi không khỏi ngầm so sánh anh với hai nhà văn người Nam khác là Sơn Nam và Lê Xuyên mà tôi cũng ưa thích. Ngôn ngữ miệt vườn’ của anh Sâm coi bộ ngộ nghĩnh và nhiều màu sắc không thua gì Sơn Nam trong ‘Hương Rừng Cà Mau’. Và anh Sâm, có lẽ cũng vì gốc nhà giáo chăng, không đi quá trớn như Lê Xuyên trong cái ‘ép-phê’ làm người đọc phải nóng ran người trong các đoạn văn khêu gợi dục tình. Quý vị nào đã đọc ‘Chú Tư Cầu’ hoặc ‘Rặng Trâm Bầu của Lê Xuyên thì sẽ đồng ý với tôi là Nguyễn Văn Sâm còn ‘nhẹ tay’ lắm trong lãnh vực này”.

Đề tài Nguyễn Văn Sâm chọn để viết những truyện ngắn của mình là những truyện thường nhật, xẩy ra hàng ngày chung quanh chúng ta. Nỗi khó khăn, cực nhọc của những gia đình tị nạn, làm việc không có thì giờ mở mắt, lại

có cha mẹ già phải trông nom, nhất là khi các cụ đã lú lẫn không còn tự lo được cả vấn đề vệ sinh thân thể.

Một anh chàng tật nguyền tự hành hạ mình với những mặc cảm nhưng lại luôn thèm khát xác thịt đàn bà. Một phụ nữ Việt buồn chán gia đình, giao du với một người đàn ông Mỹ bất hảo, bị người này bỏ thuốc ngủ vào nước uống rồi hãm hiếp. Các ông-già-dịch Việt kiều mang tiền về nước bao gái …

Trong bất cứ truyện nào Nguyễn Văn Sâm cũng tỏ ra có con mắt quan sát sắc xảo, tỉ mỉ. Nhưng chính ở những đoạn tác giả dùng kỹ thuật nhấn mạnh những nhận xét của mình lại có một vẻ gì đó công thức không thoải mái lắm.

Chẳng hạn như đoạn tác giả phân tích tâm lý của nhân vật Chuyên, một phụ nữ làm nghề hầu bàn tại một tiệm ăn ở khu Sài Gòn nhỏ, Nguyễn Văn Sâm viết: “Những khuôn mặt mang nụ cười nham nhở. Những hàm răng cáu bợn thức ăn. Những hơi thở nồng hơi bia xú với thực phẩm chưa kịp tiêu hóa, tạo thành mùi cám heo lâu ngày, chuyển mùi. Chuyên muốn gạt phắt những chúng sinh lô nhô chung quanh sang một bên để chạy mau về phòng mình nằm sải tay thở những hơi dài trút hết những ưu sầu, chán chường ra khỏi tâm tư”.

Các đoạn tác giả tưởng chừng chỉ nói phớt qua lại gây ấn tượng sâu sắc như trong truyện Theo Gót Huyền Trân:

“Trong mấy năm, chị này đập bầu liền xì bốc. Mang bầu lạch ạch cũng bò ra chợ, mới đẻ hôm kia cũng te te đi bán, bỏ lún mấy đứa nhỏ ở nhà khóc lòi rún, mặt mũi tèm lem tuốt luốt, sống chết phó thác cho trời khỏi cần cột niệt”.

Qua ngòi bút Nguyễn Văn Sâm người đọc được đọc những câu văn tượng thanh, tượng hình, những câu nói tựa thoát ra từ cái miệng Phạm Duy gọi là ‘đôi môi xinh hàm răng xít xa’ như trong Tình Lụy Thiên Thu:

“Mèo chuột, tò tí te thì mấy chị có con chuột Tàu trong bụng phải không ngoại”.

Và trong Tình Đất một truyện ngắn khác trong tập của Nguyễn Văn Sâm:

“Thét rồi nó tới chà lết quết xảm ở nhà tôi, gặp thì chỉ chào sơ sơ rồi quay ra tíu ta tíu tít với con Út”.

Rất nhiều người tưởng rằng sống ở miền Nam ba bốn chục năm, giao tiếp cả với những người miệt vườn, dưới tỉnh đọc Phi Vân, Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Bình Nguyên Lộc rồi, tưởng rằng mình đã biết khá nhiều đặc ngữ miền Nam rồi, vẫn bắt gặp trong Khói Sóng Trên Sông những từ mình chưa thấy bao giờ, vừa ngạc nhiên vừa hãnh diện, thích thú về sự giầu có của tiếng nói của dân tộc ở phía Nam. Xin trích dẫn một đoạn trong truyện “Như Nước Trong Nguồn” tiêu biểu cho cái chất “Nam kỳ rặc” của Nguyễn Văn Sâm:

“Chứng kiến tụi nó ỡm ờ trao tình bằng miệng hò mắt liếc, tôi khoái lỗ tai thì có mà bằng bụng thì không. “Tôi nhớ tới tấm thân tôi. Con trai khi dễ coi như chẳng cùng loài cùng lứa, kiểu thằng Lai, thằng Chệt nào lạc loài trong xóm. Con gái đi ngang qua không đứa nào cần biết tôi đứng đó,  đương có mặt, chúng ngó thẳng vô mặt tôi mà chẳng thấy mắc cỡ bối rối, trong khi đó, đối với mấy thằng khác cỡ tuổi tôi, mấy con nhỏ này thường khi hành động kiểu như bị hớp hồn: quýnh quáng, tiếng được tiếng mất, cà-lăm cà-lập, vuốt vuốt tóc, kéo kéo áo, đỏ mặt cúi đầu ngó xuống chưn … thấy mà phát nực”.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 10 Sep 2025

52. Nguyễn Tường Tam.

Ngày 7 tháng 7 năm 2002, báo chí ở quận Cam, nhiều tờ, đã dành những số đặc biệt, đăng các bài nhận định về tiểu sử, tác phẩm và những hoạt động của Nhất Linh để tưởng nhớ ông, nhân ngày giỗ ông. Và độc giả đã được đọc nhiều bài liên quan tới đời tư, cá tính, sự nghiệp cũng như cái chết của ông, do các than nhân, bằng hữu, đồng chí của ông, các nhà văn, trí thức thuộc cùng thế hệ với ông và hiện đại viết.

Nói chung, người ta đều đồng ý rằng, khó tách rời nhà văn Nhất Linh ra khỏi chính trị gia Nguyễn Tường Tam, nhưng vẫn phải phân chia những hoạt động của ông làm hai phần rõ rệt; hoạt động văn học và hoạt động chính trị.

Về tiểu sử của ông, chúng ta được biết:

“Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1906 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông là người sáng lập Tự Lực Văn Đoàn, chủ trương các báo Phong Hóa và Ngày Nay, lập Đảng Hưng Việt sau đổi thành Đại Việt Dân Chính”.

Trả lời một cuộc phỏng vấn, vì sao đậu đầu trong kỳ thi vào trường Mỹ Thuật ông lại chỉ theo học một thời gian ngắn rồi bỏ, không học vẽ, Nhất Linh cho biết:

“Vì khi mang giá vẽ, cọ, màu về quê, thấy đời sống thôn quê khổ quá, tối tăm quá, cần phải làm gì giúp họ. Giá, cọ, màu không giúp kiến hiệu bằng báo chí”. Như thế, mục đích việc viết văn, làm báo của ông đã rõ. Ông muốn dùng ngòi bút để thay đổi xã hội, tạo nên một cuộc sống tốt hơn, đẹp hơn, cho tất cả mọi người, nhất là tầng lớp nông dân, nghèo khổ.

Trong 40 năm hoạt động văn học ông đã hoàn thành trên 20 tác phẩm. Giai đoạn đầu, từ 1932 đến 1936, khi viết các tác phẩm Anh Phải Sống, Gánh Hàng Hoa, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng … ông đã theo đúng đường lối hay lý tưởng do mình đề ra, dùng văn chương để thay đổi cuộc đời. Hay có thể nói đây là giai đoạn ông chủ trương làm một thứ nghệ thuật vị nhân sinh.

Nhưng sau đó, từ các cuốn Đôi Bạn, Bướm Trắng cho đến Xóm Cầu Mới, Giòng Sông Thanh Thủy, có vẻ như ông đã viết khác hẳn, tuy vẫn có những vấn đề thời sự, nhưng chủ yếu ông đào sâu, phân tích tâm lý, hành động của các nhân vật, làm cho các nhân vật gần với sự thật hơn, hợp lý hơn. Đây có thể gọi là giai đoạn ông viết văn vì văn chương, nghệ thuật vị nghệ thuật, chứ không muốn khoác cho công việc viết lách một cứu cánh khác.

Ảnh hưởng của Nhất Linh trong văn học Việt Nam và đối với tâm hồn nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam rất lớn. Những người đồng thời với ông đã đọc ông. Những thế hệ kế tiếp đã học ông.

Có thể nói, các nhân vật của ông như Loan, Dũng, Thái, Nhung, Nghĩa, Triết, Trương, Thu, Phương, Mùi … từ khi được ông tung ra đời, đời sống đã đổi khác. Theo nhà văn, luật sư Trần Thanh Hiệp thì:

“Những nhân vật hư cấu nhưng linh hoạt như đang sống thực ngoài đời, tuy chỉ hiện hữu trong tưởng tượng. Những nhân vật, vì vậy, phản ánh được một bộ mặt nhất định của xã hội đương thời, mở ra một chiều hướng đi lên

cho cuộc sống”. Trong từ ngữ chuyên môn của văn học, người ta gọi đó

là ‘không gian văn chương’ của Nhất Linh.

Không gian cung cấp cho xã hội một kiểu mẫu sống, một rung cảm mới và nhất là một ngôn ngữ mới. Công trình mở đường này khiến cho Nhất Linh được đồng thanh nhìn nhận là người mở đường cho văn học sử Việt Nam vào thời điểm thập niên 30, mang lại cho bộ môn tiểu thuyết một bước tiến bộ theo hướng nghệ thuật, và thổi vào báo chí tiếng Việt một sức sống vươn lên. Trong chừng mực đó Nhất Linh đã đivào lịch sử của đất nước”

Có thể nói Nhất Linh đã thành công trong ý nguyện của mình.

Nhưng vẫn theo ông, trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết viết từ 1952 đến 1960, Nhất Linh lại cho rằng:

“ … tiểu thuyết muốn viết gì cũng được: xã hội, luận đề, trinh thám, ái tình, luân lý, tình cảm, triết lý … Được tất. Nhưng trước hết phải lo viết cho hay. Viết hay là tả đúng các trạng thái phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự sống, tìm cho nhiều chi tiết về người và việc để tạo được nhân vật sống động”.

Có chút gì mâu thuẫn trong sáng tác và lý thuyết/tiểu thuyết của Nhất Linh chăng? Sự việc có lẽ chỉ có thể giải thích như nhận xét của Võ Phiến: “Hai con người chính trị và văn nghệ của ông làm khổ lẫn nhau. Và sở dĩ có hiện tượng ấy, theo Trương Bảo Sơn, chỉ vì, Nhất Linh làm chính trị cũng như văn nghệ, đều cần cù, mê say theo một triết lý tuyệt hảo. Nhưng ông chỉ làm tuyệt hảo riêng từng việc một, không thể cùng một lúc làm tuyệt hảo cả hai việc”.

Cũng vẫn trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết Nhất Linh đã nói rõ:

“Cái sai lầm nhất trong đời văn sĩ của tôi là đã để cái ý quyết định dùng tiểu thuyết làm một việc gì [viết luận về tiểu thuyết] lên trên cái ý định viết một cuốn tiểu thuyết hay”. Nghệ sĩ vốn khó tính với chính mình, hay đó là lời khuyên chân thành nhất ông muốn gửi lại cho những thế hệ sau?

Tuyên ngôn thành lập Tự Lực Văn Đoàn của ông bầy tỏ đầy đủ cả hai con người Nhất Linh và Nguyễn Tường Tam:

“Lấy tên Tự Lực là có ý họ tự sức mình gây lấy một cơ sở chứ không cậy nhờ bàn tay chính phủ hoặc một thế lực tài chính nào, do đó có tư cách độc lập, không tuân theo một chỉ thị nào, ngoài đường lối chính họ vạch ra”. Ông quan niệm muốn giành độc lập cho đất nước cần mở mang dân trí, đồng thời, không dựa vào bất cứ một thế lực nào bên ngoài.

Những công việc ông làm trong VNQDĐ chỉ những người thân cận với ông mới biết rõ.

Chúng ta hãy tìm hiểu ông như ông xuất hiện trước mắt mọi người với tư cách là một nhà hoạt động chính trị. Và trong cuộc đời làm chính trị của ông có lẽ có hai sự việc quan trọng hơn cả:

Thứ nhất ông được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ đoàn kết quốc gia. Thứ nhì là cái chết của ông, hay rõ hơn, việc ông tự sát.

Và, việc quan trọng nhất trong khi ông giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngoại Giao là cầm đầu phái đoàn Việt Nam họp với Pháp tại Đà Lạt ngày 17 tháng 4 năm 1946. Phái đoàn gồm có Võ Nguyên Giáp, phó trưởng phái đoàn kiêm trưởng ban quân sự, Vũ Văn Hiền tổng thư ký, Hoàng Xuân Hãn trưởng ban chính trị, Nguyễn Mạnh Tường trưởng ban Văn Hóa. Luật sư Trần Văn Tuyên, đổng lý văn phòng bộ ngoại giao khi ấy thuật lại rằng:

“Anh Nguyễn Tường Tam trả lời bằng tiếng Việt Nam, anh Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường cùng phụ trách thông ngôn cho phái đoàn”.

Ông Hoàng Xuân Hãn cho biết về hội nghị như sau:

“Thấm thoắt đã đến ngày chủ nhật thứ nhì ở Đà Lạt. Hôm nay là ngày 28 tháng 4. Nguyễn Tường Tam bị ốm từ hôm qua, có lẽ bị cảm lạnh. Tôi không biết Tam trước khi có phái đoàn Đà Lạt, nhưng cũng biết anh là Nhất Linh trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn và nhất là chủ bút những tạp chí Ngày Nay, Phong Hóa đã vang tiếng một thời. Bấy giờ, anh người cao gầy, mặt dài má lép, chút râu trên mép, đôi mắt to nhưng ra vẻ mệt nhọc, hay chán chường. Cử chỉ lễ độ, ăn nói chững chạc trong buổi xã giao hội họp với kẻ chức trách hoặc phái viên Pháp, anh đã có một thái độ cử chi đoan nghiêm và đúng mức, không làm thẹn chức vụ Bộ Trưởng Ngoại Giao và chủ tịch phái đoàn Việt Nam”.

Các tài liệu ghi chép đều nói lên quyết tâm giành độc lập cho đất nước cũng như khả năng ngoại giao ngoại hạng của Nguyễn Tường Tam.

Ông gửi thư cho ông Hồ Chí Minh xin từ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao ngày 5/3/1946, vì thế, không cầm đầu phái đoàn Việt Nam sang Pháp tham dự hội nghị Fontainebleau.

Có thể nói, đây là hành động công khai của ông, nói ra sự bất hợp tác với cộng sản, dù là để tranh đấu giành độc lập cho đất nước. Nguyễn Tường Tam trở qua Trung Quốc cùng tìm một giải pháp chính trị tranh thủ độc lập cho Việt Nam. Việc này không đi tới một kết quả cụ thể nào. Năm 1949 Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tuyên bố không hoạt động chính trị nữa.

Năm 1953 ông lên Đà Lạt ở ẩn. Năm 1958 ông trở về Sài Gòn ấn hành tờ tạp chí Văn Hóa Ngày Nay.

Ngày 7/7/1963, ông tự sát vì không chịu để cho tòa án của chính quyền Ngô Đình Diệm xử. Theo nhà văn, luật sư Trần Thanh Hiệp, thì:

“Trong trí nhớ tập thể vẫn còn những khoảng tối trên thân thế và sự nghiệp Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Không dễ gì có được một ‘cây đàn muôn điệu’ [văn, nhạc, họa] như ông. Lại thêm một số vốn sống thượng vàng hạ cám, phong phú, không phải ai cũng có. Vậy tại sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã ngưng sáng tác sau Bướm Trắng, Xóm Cầu Mới, Giòng Sông Thanh Thủy. Ông có mặt ở nhiều nơi, đã liên tục hiến thân cho cách mạng chính trị từ thập niên 30, lúc nào cũng ở trên cấp bậc lãnh đạo, vậy tại sao ông tuyên bố rút lui khỏi chính trường đầu thập niên 50 và hơn một thập niên sau lại tự sát vì chính trị? Những bí ẩn này gợi ý rằng sự hiểu biết về nhân vật Nhất Linh Nguyễn Tường Tam vẫn còn phải bổ xung. Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có thể có một thái độ của khách bàng quan, trong khi chờ đợi. Miền Nam Việt Nam đã mất về tay cộng sản, điều Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lo ngại. Tất nhiên không hẳn hoàn toàn do những hành động ông lên án. Nhưng lịch sử đã bắt đầu việc phán xét và sẽ còn tiếp tục phán xét. Nhất Linh Nguyễn Tường Tam không có ý định để lại cho đời sau một thông điệp với một nội dung nhất định nào. Vào cái tuổi 57 chưa hẳn quá về chiều của cuộc đời, ông đã lấy cái chết của mình để cảnh cáo những người cầm quyền bạo ngược, ngang nhiên chà đạp lên mọi thứ tự do là nhân phẩm, thứ giá trị khiến cho con người khác biệt được với các sinh vật khác. Không phải ai cũng lấy được một quyết định như vậy.

Phong thái lẫm liệt ấy hiếm thấy trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Người Việt Nam có thể tự hào đã có một nhân vật Nhất Linh Nguyễn Tường Tam trong lịch sử”.

Vết xước đầu đời

vietmessenger.com

Trần Doãn Nho

Tập truyện Trần Doãn Nho

Bìa và phụ bản của họa sĩ Đinh Cường

Post by Sơn râu 9 Sep 2025

10. Vướng víu.

Ông bà Mẫn từ trên xe Honda bước xuống, hai tay ôm đồ đạc lỉnh kỉnh, chưa kịp vào nhà thì đứa cháu đã chạy ra, đưa cái điện tín khẩn. Ông Mẫn cầm, bà Mẫn nhìn ghé vào tờ giấy, đọc: “Ra Nha Trang gấp. Chuyện tối quan trọng.” Mặt bà Mẫn tái xanh. Ông Mẫn cất kính mát, vỗ vào trán:

– Cái gì thế này! Còn có năm ngày nữa là lên máy bay.

Bà Mẫn nhìn ông mếu máo:

– Cái gì thế anh? Biết tính sao đây.

Ông Mẫn im lặng, suy nghĩ. Bà Mẫn vứt đồ đạc, ngồi xuống nền nhà, luôn miệng than thở. Ông Mẫn van vỉ:

– Bà im giùm tôi đi. Tôi cũng có biết gì hơn bà đâu. Đánh cái điện tín ngu như con bò. Không ai hiểu mô tê gì hết.

Ông đi lui đi tới trong phòng khách. Một lát sau, ông nhìn vợ:

– Suy nghĩ mãi, tôi cũng không biết chuyện gì đã xảy ra. Tôi tính thế này: bà thuê bao chiếc tắc xi ra ngay Nha Trang tối nay. Tôi phải ở lại lo thu xếp hành lý. Mốt lên phi trường cân hành lý rồi. Lấy số điện thoại nhà thằng Thanh ở Chợ Lớn, ra ngoài đó đến bưu điện gọi vào ngay. Tôi sẽ dời lên ở nhà thằng Thanh canh điện thoại bà. Thôi bà đi đi, thì giờ không còn nữa.

Hai ông bà rú xe chạy vụt đi. Bà Mẫn thuê bao một chiếc taxi tại bến Lê Hồng Phong chạy đêm ra Nha Trang với giá tiền hơn gấp đôi giá thường lệ. Ông Mẫn đem mấy trăm đô-la đổi ra tiền và chỉ vàng nhét vào túi bà, dặn dò cẩn thận. Xe đến Nha Trang cũng gần hai giờ sáng. Xe vừa ngừng trước cổng, bà Mẫn đã vội nhảy xuống xe chạy vào, quên cả lấy tiền thối.

Nhà còn thức, đèn đuốc sáng trưng. Vừa nghe tiếng gõ cửa, ba đứa con bà đều chạy ùa ra, mặt mày đứa nào đứa nấy buồn thiu. Hai cô con gái mắt đỏ hoe. Bà chưa kịp hỏi, cô gái lớn đã mếu máo:

– Con Na bỏ đi rồi.

Bà mở lớn đôi mắt nhìn mấy đứa con, há hốc mồm, sửng sốt không nói được. Một lát, bà vất cái “sắc” xuống đất, run giọng hỏi:

– Đi rồi, đi đâu? Mẹ không hiểu chi hết.

Viện, cậu con trai, dìu bà vào:

– Mẹ vào đây, rồi nói chuyện sau. Mà mẹ phải thật bình tĩnh đã.

Bà Mẫn luôn miệng rên rỉ:

– Trời ơi là trời, còn có năm ngày nữa thôi. Tôi biết làm sao đây.

Bà lay hai vai đứa con trai:

– Nói mau đi. Tao quá sốt ruột. Kiểu này chắc tao chết quá. Nói mau, nói mau. Tại sao nó đi, đi hồi nào?

Ba đứa con nhìn nhau. Cuối cùng, Viện nói:

– Con Na có bồ. Con đoán là nó trốn ra với thằng bồ nó.

Bà Mẫn há hốc mồm, lắp bắp:

– Con Na có bồ? Con Na mà có bồ! Trời! Sao tao chẳng hề hay biết gì vậy. Mới có mười bảy tuổi đầu. Nó đứng đắn, đàng hoàng là thế sao nó lại có bồ. Sao tụi bây biết nó có bồ? Tại sao trước đây chẳng có đứa nào nói cho tao biết. Trời ơi.

Ba đứa con im lặng nhìn nhau. Bà Mẫn sụt sùi, đưa mắt ngơ ngác nhìn hết đứa này đến đứa khác, tâm thần bối rối bất định. Trong lúc đó, vợ chồng người em bà Mẫn, mấy đứa cháu đều thức dậy. Bà Mẫn nhìn người em:

– Làm thế nào bây giờ cậu? Cậu biết không, chỉ còn có năm ngày nữa là lên máy bay mà nó bỏ đi như thế này, biết tìm đâu.

Người em cười:

– Theo em, cháu có người yêu thì để cháu ở lại.

Bà Mẫn chồm dậy:

– Cậu nói cái kiểu gì lạ vậy. Không đời nào. Ai cho nó có bồ, có người yêu? Tôi đã dặn dò nhiều lần là không được có bồ, không được yêu đương lăng nhăng. Mọi chuyện phải đợi qua Mỹ cái đã.

Người em nói:

– Chị lạ thiệt. Bộ ở Mỹ mới yêu được còn ở Việt Nam thì không được yêu. Hồi xưa, chị … mê anh Mẫn, chị khóc lóc …

Bà Mẫn chỉ vào mặt em:

– Cậu đứng đắn một chút xem. Ruột tôi đang rối tung lên đây. Tôi lâu nay cứ lo con bé lớn, nên khuyên lơn nó mãi. Thằng Viện nữa. Nay chở con này, mai chở con nọ. Ai mà ngờ cuối cùng lại chính con bé út gây rắc rối. Nó thương tôi thế, nó hiền lành thế mà …

Người em lại cười:

– Bộ hiền lành thì không được yêu hay sao?

– Không được. Đứa nào cũng phải đi qua Mỹ mới

được yêu. Tôi phải đi tìm con Na về. Tôi không tìm ra nó, chắc tôi chết mất. Cậu phải giúp tôi đi tìm nó gấp. Tốn mấy cũng được, cậu biết không.

– Em mà được đi Mỹ như chị, đứa nào ưng ở lại, em cho ở lại. Chắc gì ở Mỹ nó sướng bằng ở đây. Vả lại, chắc gì nó kiếm được người vừa ý nó. Mà thôi, chị nhất quyết đi tìm nó thì cứ đi tìm. Phải đi ngay. Thì giờ đâu còn bao nhiêu nữa.

Thế là chưa đầy một tiếng đồng hồ sau khi ra Nha Trang, bà Mẫn lại ôm cái “sắc” nhỏ nhảy xe tốc hành chuyến ba giờ rưỡi sáng đi Huế sau khi dùng điện thoại báo tin và hỏi ý kiến ông Mẫn. Các con bà cho biết, bé Na, hay

như tên trong giấy khai sinh là Anh Thúy đã rời khỏi nhà chiều hôm trước, trong túi chỉ có mấy chục ngàn đồng. Người yêu của Anh Thúy là một thanh niên lái xe tải ở đường Thống Nhất. Qua sự tiết lộ của mấy đứa con, hai đứa

quen nhau cả một năm nay, nhưng chị em giấu cho nhau vì lẽ giản dị là cô nào cũng có bồ. Hai cô lớn thì có bồ cho vui, cho đỡ buồn. Còn Anh Thúy, lúc đầu, bắt chước mấy chị cũng muốn có một thằng bồ “cho đỡ buồn”. Thực tế thì cô nào cũng muốn đi Mỹ, muốn lấy chồng ở Mỹ. Nhưng không ngờ, chơi mà hóa thiệt. Rốt cuộc, tình yêu của Anh Thúy quá sâu đậm, nên phút cuối cùng, cô quyết định trốn đi.

“Tình yêu sâu đậm”. Cái từ mà cô con gái lớn mô tả việc con Na trốn theo trai, khiến bà Mẫn như lên cơn sốt. Bà không thể hình dung đứa con út mà bà cưng nhất lại có thể bỏ gia đình mà đi trong những ngày trọng đại như thế này. Đáng lẽ giờ này cả gia đình bà vui chơi ở Sàigòn, thăm bà con, bạn bè, thăm các nơi trước khi lên máy bay đi Mỹ. Suốt gần hai chục năm, làm gì có được những ngày vui như thế. Thế mà, bà phải bỏ ăn, bỏ ngủ, chạy đôn chạy đáo đi tìm đứa con. Tình yêu, tình iếc gì, mất dạy thì có! Càng ức, bà càng hối hận tại sao mình quá chủ quan. Thấy một vài người bạn H.O, có con lớn, nhất là con gái, cứ phải ngay ngáy lo âu về chuyện đi ở của đứa con, bà đã từng phì cười và sung sướng khi thấy mình không bị vướng vào hoàn cảnh đó. Chuyến xe tốc hành đưa bà Mẫn trở lại thành phố mà mới một tuần trước đây gia đình bà đã làm tiệc từ giã bà con, bạn bè. Đến Phú Bài, bà bồn chồn ra đứng ở cửa. Xe chưa ngừng, bà đã nhảy vội xuống, suýt té, tìm chiếc Honda ôm giục chạy lên đường Thống Nhất. Căn nhà nằm bên kia đường rầy xe lửa. Bà Mẫn cố nén hồi hộp đi vào. Nhà nhiều cây, vắng vẻ. Đến bậc thềm, bà đứng lại nhìn quanh. Bà định vào hẳn cửa lớn thì thấy có bóng người ở bên cạnh chiếc taxi ở góc vườn. Bà vội vã bước đến.

Nghe tiếng động, một thanh niên từ gầm xe bò ra.

– Chào bác. Thanh niên lên tiếng.

Bà Mẫn nhìn kỹ thanh niên:

– Chú cho tôi hỏi. Đây có phải là nhà của ông Bường?

Thanh niên đáp giọng nhỏ:

– Dạ phải. Bác muốn gặp ba cháu? Vậy mời bác vào. Thanh niên trong bộ quần áo dính đầy dầu mỡ, phủi tay, đi trước. Bà Mẫn bước theo hỏi:

– Ai là cậu Thông?

Thanh niên xoay đầu lại:

– Dạ, cháu là Thông.

Bà Mẫn mím môi, cố đè xuống một nỗi giận dữ như muốn phun vọt ra thành những lời chửi rủa. À, thì ra mày. Cái thằng đã dụ dỗ con tao, đã cướp đi những ngày vui còn lại ở Việt Nam. Hèn gì trông mặt mày đểu cáng, bần tiện. Mày biết con tao sắp đi Mỹ, mày quyến rũ nó, mày lợi dụng nó để mày tìm cách bắt bí vợ chồng tao.

Bà bước vào nhà, và nhớ lời dặn dò của ông Mẫn qua điện thoại là phải hết sức dịu dàng, hòa nhã, mềm mỏng. Lạt mềm buộc chặt. Hơn nữa, “mình đang ở thế yếu”, ông Mẫn nhắc đi nhắc lại với bà như thế.

Thanh niên kéo ghế nói:

– Xin mời bác ngồi. Để cháu đi gọi ba cháu.

Bà Mẫn khoát tay:

– Từ từ, bác có chuyện muốn hỏi cháu một tí trước khi gặp ba cháu.

Ngừng một lát, quan sát nét mặt người thanh niên, bà cố tìm ra một dấu hiệu khác lạ trên đó như một chút bối rối, hay sợ sệt chẳng hạn. Nhưng thấy anh ta vẫn bình thường, bà gượng tươi cười nói:

– Bác xin tự giới thiệu, bác là mẹ của Anh Thúy. Chắc cháu có biết Anh Thúy?

Người thanh niên chợt biến sắc:

– Bác … là mẹ của Thúy … không … cháu không biết Anh Thúy nào cả. Mời bác ngồi, cháu đi gọi ba cháu.

Bà Mẫn nghiêm mặt định nói, nhưng anh ta đã đi vào phía trong. Một lát, một người đàn ông bước ra chào bà.

– Chào chị. Tôi là Bường, ba của Thông. Mời chị ngồi. Bà Mẫn cười:

– Xin chào anh.

Đợi người đàn ông ngồi xuống xong, bà nói ngay:

– Xin thưa anh thế này. Theo như người ta cho biết, con anh đây và con gái tôi, hai đứa thương nhau. Trai gái thương nhau là lẽ thường, vợ chồng tôi không hề cấm cản. Nhưng nghiệt một cái là cháu không hề cho tôi biết. Đến

phút cuối, thưa thiệt với anh, còn năm ngày nữa là gia đình tôi lên máy bay đi Mỹ theo diện H.O, cháu đột ngột bỏ đi, chẳng nói năng gì cho vợ chồng tôi biết cả. Chúng tôi đoán là cháu đã về lại Huế, vì muốn ở lại Việt Nam với cháu Thông, con anh. Anh cũng biết, thấy con bỏ đi, lòng ai cũng như muối xát, không rõ con cái muốn gì và hiện giờ ở đâu, ra sao. Tôi hộc tốc bỏ hết mọi việc, ra lại đây, trước để biết thực hư, sau để xem ý cháu thế nào mà liệu bề dàn xếp.

Nhờ anh nói với cháu Thông, có biết cháu Anh Thúy ở đâu, chỉ cho tôi được gặp, để nói với chấu đôi lời.

Người đàn ông – ông Bường – gật gù, lắng nghe bà Mẫn nói. Thấy bà Mẫn ngừng nói, ông lên tiếng:

– Xin thưa với chị, lâu nay tôi cũng có nghe thằng Thông nói nó có thương một cháu nào đó, nhưng nghe nói bên anh chị cũng khó, nên cháu chưa dám định gì hết. Cháu nói cháu cũng chưa biết rõ mặt anh chị nữa. Riêng tôi, hôm nay nghe chị nói tôi mới rõ là cháu ở trong diện được đi Mỹ. Nếu tôi biết trước như thế, thì tôi cũng đã khuyên con tôi đừng dan díu vào làm gì, vì đủ thứ rắc rối, không đi đến đâu.

Với lại, không hết tiếng (cái giọng đểu cáng, bà Mẫn nghĩ bụng). Tôi cũng không ngờ con chị lại nặng tình như thế, dám trái ý anh chị, bỏ đi. (Đã âm mưu rồi còn làm bộ đạo đức giả, bà Mẫn nghĩ). Con cái như thế là không được. Để tôi hỏi thằng Thông xem sự việc ra sao.

– Thông ơi, ra đây. Ông Bường gọi.

Thông bước ra trong một bộ áo quần khác vừa mới thay. Ông Bường hỏi con:

– Bà đây là mẹ của Anh Thúy. Con và Anh Thúy có quen nhau, phải không?

Thông lí nhí trong miệng đáp “dạ”, hai bàn tay nắm chặt lấy nhau.

– Con có biết Anh Thúy hiện giờ ở đâu không?

Thông ngẩng mặt lên nhìn bà Mẫn:

– Thưa bác cháu hoàn toàn không biết. Cháu và Anh Thúy đã từ giã nhau từ cả hai tuần trước.

Bà Mẫn dịu dàng hỏi:

– Bác nói thiệt với cháu, lòng bác hiện giờ như lửa đốt. Như bác đây biết và rồi sau cháu sẽ biết. Bác sắp rời Việt Nam, mà con thì bỏ đi đâu, sống chết đói no không biết, làm mẹ sao mà đành lòng. Nếu không gặp được Thúy,

chắc hai bác và gia đình đành phải ở lại. Cháu và con bác thương nhau là chuyện thường tình. Nếu mấy đứa bây cho bác biết từ trước thì hai bác sẽ thu xếp êm đẹp rồi, đâu có phải để đến như thế này. Bác thức đêm thức hôm đi suốt từ Sàigòn ra Nha Trang rồi lại về Huế. Bác nghĩ rằng con Thúy bác chỉ có về đây với cháu thôi. Bà Mẫn nức nở, lấy khăn chặm nước mắt, nhìn Thông tha thiết. Thông lễ phép nói:

-Cháu thề với bác là cháu không hề biết Thúy hiện ở đâu.

Bà Mẫn giang hai tay về phía Thông:

– Không, nhất định cháu biết, cháu phải biết. Bác van xin cháu, bác chỉ mong được gặp Thúy để xem em như thế nào, em muốn gì. Bác hứa sẽ không la rầy gì Thúy.

Thông vẫn rất lễ phép:

– Thưa bác, cháu hoàn toàn không biết Thúy ở đâu. Cháu biết là cháu nói ngay. Ông Bường xen vào:

-Tôi chắc cháu không hề hay biết gì về chuyện Thúy bỏ đi. Suốt ngày hôm nay, cháu vẫn ở nhà, chẳng có đi đâu. Tôi người lớn, tôi không dối bác làm gì.

Bà Mẫn im lặng, uất ức. Bà nhìn người cha, rồi nhìn người con, cố phát hiện bất kỳ một dấu hiệu gì khác thường trên khuôn mặt hai người. Nhưng trông họ vẫn bình tĩnh. Bà lại nhìn mông lung ra ngoài vườn, nhìn đoàn tàu vừa chạy ngang với một cảm giác ngao ngán cùng cực. Cuối cùng, bà quay lại, nét mặt thiểu não:

– Chắc tôi chết mất, nếu không gặp được Thúy. Biết làm sao đây hở trời.

Bà đứng dậy, có cảm giác như mọi sức lực trong người cạn kiệt. Bà cố gượng dậy để khỏi ngã chúi về phía trước. Bà chào hai cha con ông Bường rồi thất thểu bước. Ông Bường tiễn chân bà ra cổng, nói:

– Bác thông cảm. Tôi cũng không biết phải an ủi bà như thế nào.

Bà Mẫn không còn muốn nghe gì nữa. Bà bước vội ra đường, đón xe thồ qua Bưu điện. Phải cả tiếng đồng hồ sau, bà mới nói chuyện được với ông Mẫn qua đường dây điện thoại viễn liên. Bà vừa khóc vừa tóm tắt tình hình với chồng. Sau khi phân tích mọi điều, ông Mẫn dặn bà về nhà đứa em vợ ăn uống, tắm rửa cho bình tĩnh trở lại, rồi cùng người em lên lại nhà ông Bường. Theo ông Mẫn, bằng mọi giá phải bám lấy cha con ông Bường. Và điều quan trọng nhất là chấp nhận mọi điều kiện mà họ đưa ra một cách vui vẻ. “Em không quen hứa cuội” bà Mẫn nói. “Bà phải hứa, không thì chẳng bao giờ gặp được con đâu”, ông Mẫn nói:

“Nếu họ bắt phải làm giấy cam kết hay thề thốt thì sao.” “Cứ làm, cứ thề. Tôi đã nói, bà phải chấp nhận tất cả mọi điều kiện. Tất cả, bà nghe chưa. Không trù trừ, do dự. Thì giờ không cho phép suy nghĩ hơn thiệt nữa.”

Bà Mẫn cùng người em trở lại nhà ông Bường buổi tối.

Gặp bà, ông ta hỏi ngay:

– Thế nào, bác đã gặp được con gái bác chưa? Bà Mẫn có cảm giác câu nói của ông Bường như một lời châm chọc vô cùng đểu giả. Nhưng bà cố hết sức nén giận:

– Chưa bác à. Thế cháu Thông đâu?

– Cháu đi đâu đó, chắc cũng sắp về.

– Tôi có chuyện muốn thưa cùng với bác, nhưng phải đợi cháu Thông về đã.

Ba người ngồi trao đổi những chuyện vu vơ. Bà Mẫn tỏ ra bình tĩnh hơn buổi chiều vì có người em ở một bên, hơn nữa đã có lời dặn dò của ông Mẫn. Khá lâu sau, Thông đạp xe đạp về. Anh ta chào bà Mẫn, nét mặt hơi mất tự nhiên. Bây giờ, bà Mẫn mới có dịp nhìn kỹ người thanh niên mà hiện nay bà vô cùng thù ghét. Khuôn mặt nhỏ nhắn, trắng, trông có vẻ lì lợm, nhưng không đến nỗi bất lương. Nhưng bà thấy có cái gì đểu cáng, bất chính ẩn dấu ở đàng sau, không thể tin được. Một khuôn mặt như thế này làm sao tin được hắn ta đến với con bà là vì yêu. Hắn chỉ tìm cách lợi dụng thôi.

Đợi Thông ngồi xuống, bà Mẫn từ tốn nói:

– Tôi đã suy nghĩ rất kỹ trước khi trở lại đây. Tôi biết chắc chắn là con tôi và cháu Thông đã sắp đặt trước việc này. Sự đã rồi. Làm cha làm mẹ mà khắt khe quá với con sẽ đưa đến những tình hình không hay. Sự việc hôm nay có một phần lỗi của vợ chồng tôi. Tôi đã trải qua một thời tuổi trẻ, cũng yêu cũng thương, cũng hẹn cũng hò cho nên tôi hiểu.

Bây giờ đây, trước mặt bác, em tôi, tức là cậu mấy cháu, và cháu Thông, tôi xin hứa là hoàn toàn tán thành mối tình của con tôi và cháu Thông.

Ngừng một lát để quan sát phản ứng của hai cha con, bà Mẫn lại tiếp:

– Tôi sẵn sàng để cháu ở lại. Trước đây, tôi vẫn cho rằng phải qua Mỹ mới được sung sướng. Nhưng giờ, nghĩ lại, sung sướng đâu chẳng thấy, mà lại cắt đứt mối tình của con, thì đúng là không nên.

Ông Bường cúi đầu, chăm chú lắng nghe. Thông thì ngồi nhìn thẳng mặt bà Mẫn như muốn tiếp nhận tất cả những gì bà nói. Khuôn mặt trông hớn hở hẳn lên. Bà Mẫn nhìn Thông hỏi:

– Bác nói thế có đúng không?

– Dạ.

– Bây giờ bác tính thế này. Cháu cứ để cho bác gặp mặt Thúy, để bác thăm em và biết chắc em hiện vẫn bình an vô sự …

Bà Mẫn ngừng lại nhìn Thông. Thông cúi đầu yên lặng.

Bà nhìn ông Bường. Ông ta nhìn vơ vẩn lên trần nhà. Bà Mẫn hỏi Thông:

– Thế nào? Mẹ con sắp phải xa nhau, nỡ nào cháu không để cho bác gặp được em. Cháu thương Thúy, cháu cũng phải thương mẹ của Thúy chứ.

Thông vẫn yên lặng. Anh bối rối nhìn quanh, tránh cái nhìn van lơn, tha thiết hướng vào mình. Bà Mẫn lại hỏi:

– Trước hết, để cho bác yên tâm, cháu cho bác biết có phải hiện giờ Thúy đang ở Huế không?

Thông lí nhí cái gì trong miệng, bà Mẫn nghe không rõ.

Bà nghiêng đầu sang bên phía Thông, nhắc lại câu hỏi.

Thông ngập ngừng:

– Dạ, dạ … không … à … à dạ … có.

Thông quay đi, khuôn mặt như tái lại. Bà Mẫn thở phào. Không khí như bỗng dịu hẳn. Bà Mẫn lại tiếp tục:

– Cháu đồng ý cho bác gặp Thúy không?

Thông im lặng. Bà Mẫn nhìn ông Bường:

– Cớ sự đã thế này, bác cũng nên nói cháu giúp tôi. Bác có con, bác biết. Lòng tôi như lửa đốt …

Ông Bường nói:

– À, thì chuyện tụi nó, tôi chẳng để ý làm gì.

Đồ đểu. Bà rủa thầm. Như một màn độc thoại trong vở kịch, bà lại tiếp:

– Bác và cháu có ý kiến gì cứ nói.

Nhìn khuôn mặt hai cha con một lần nữa, thấy chưa có dấu hiệu gì biến chuyển, bà nói một câu bà vẫn còn trù trừ chưa muốn nói từ nãy giờ:

– Vợ chồng tôi sẵn sàng chấp nhận hết mọi điều kiện mà bác và cháu muốn, miễn là đừng có gì quá đáng.

Bà Mẫn có cảm giác ông Bường thở ra nhẹ nhõm, còn Thông thì hớn hở hẳn ra. Có lẽ thế, ông Bường nhỏm người dậy, cầm bình trà rót thêm nước vào cốc mọi người, rồi từ tốn nói:

– Tấm lòng thương con của bác làm tôi quá sức cảm động. Không giấu gì bác, hồi mới tối nay, tôi gặn hỏi mãi thì Thông mới thú thật là có cháu Thúy ở Huế. Tôi bảo Thông nói với cháu Thúy là vì chữ hiếu, nên về thăm mẹ và xin phép mẹ đàng hoàng. Nhưng hình như cháu sợ chị đổi ý …

Bà Mẫn cướp lời:

– Không đời nào.

– Để tôi tiếp. Cháu nói cháu không hề muốn đi Mỹ. Cháu muốn lấy chồng ở Việt Nam và muốn anh chị lo cho cháu trước khi ra đi.

– Tôi sẵn sàng.

– Nhưng cháu vẫn còn ngần ngại … Cái này Thông nó biết. Tôi chỉ nghe nói đại khái thôi. Có gì con cứ nói với bác đi, Thông.

Thông ấp úng:

– Dạ thưa bác … dạ … tụi cháu biết lỗi, nhưng vì thương nhau quá làm liều. Thúy muốn bác chính thức … tổ .. tổ .. chức … cho hai … đứa. Còn không … Thúy sợ … sợ …

Ông Bường lớn tiếng với Thông:

– Mày cứ ấp a ấp úng. Tụi bây tính sao, muốn gì thì cứ nói với chị, với anh đây. Mẹ và cậu, và có ba đây. Người lớn đã nói ra không lẽ nuốt lời.

Thông cố thu hết can đảm, e dè nhìn bà Mẫn:

– Tụi con … tụi cháu muốn bác hứa .. hứa …

Bà Mẫn hơi cáu:

– Cậu, à cháu … con, tụi bây muốn tau hứa, thì tau hứa. Hay có muốn bác thề, bác cũng thề. Có bàn thờ Phật đây …

Bà Mẫn đứng dậy, đến trước bàn thờ Phật, nói lớn:

– Hôm nay, ngày … ngày tám, ngày tám phải không cậu Quảng. Phải há! Ngày tám tháng bảy, tôi là Văn Thị Vinh, xin hứa, à xin thề … nếu tôi không cho con tôi là Anh Thúy ở lại Việt Nam, nếu không cho cháu lấy cậu … à … cháu Thông, thì tôi sẽ bị … bị … tai nạn … , bị đi … máy … bay …

Nói đến đây, chợt bà cảm thấy bàng hoàng vì lời thề quá độc. Giọng bà Mẫn chợt đứt quãng và lắp bắp rồi đột ngột ngừng lại. Cả ba người ngơ ngác nhìn, thấy bà Mẫn miệng há hốc, người run lẩy bẩy, té lăn ra giữa nền nhà.

Hoảng hồn, em bà Mẫn, ông Quảng vội đến đỡ bà Mẫn lên, Thông rối rít chạy đi lấy khăn ướt lau mặt cho bà. Phải một lát lâu sau, bà Mẫn mới tỉnh người, vịn bàn đứng dậy, nhìn quanh:

– Cám ơn. Tôi hơi mệt, vì đã thức suốt hai đêm liền.

Ông Bường nhìn Thông, rồi nói:

– Thực, tôi hết sức cảm động vì tấm lòng của chị. Tôi không ngờ chị thương con, thương rể … à … thương cháu Thông như thế. Chị đã thề, riêng tôi đây, tôi cũng vui lòng cho hai đứa tác hợp với nhau. Thông, con liệu nhắn Thúy về gặp mẹ.

Thông ngần ngừ:

– Nhưng trời tối thế này. Hay đợi sáng mai?

Bà Mẫn xua tay:

– Cháu cũng biết rồi, thì giờ không còn nữa. Bác phải trở lại Sàigòn trong đêm nay.

– Đêm nay? Thế còn chuyện đám cưới? Ông Bường hỏi.

Bà Mẫn hơi sửng sốt:

– Đám cưới? À, thì đám cưới, nhưng thật đơn giản. Anh biết rồi, nếu bây giờ lên tàu tốc hành cũng phải khuya mai mới đến. Vỏn vẹn chỉ còn ba ngày nữa mà phải lo hàng vạn thứ: cân hành lý, thăm bà con, lo khám sức khỏe, mua sắm đồ đạc lỉnh kỉnh …

– Dạ, tôi biết. Vậy thì, chắc tôi với cháu cũng phải vào Sàigòn luôn thể.

– Anh với cháu vào Sàigòn à ?… À, mà phải, được, đi cùng với tôi và cháu Thúy.

Ông Bường quay sang Thông:

– Thông, con xem, trước khi đi đón Thúy, lo xoay chạy tiền nong để còn mua vé tàu, mua sắm ít đồ để mà lo việc cưới hỏi.

Nhìn bà Mẫn, ông Bường cười:

– Chị xem, dù gì cũng con nhà đàng hoàng. Mà gia đình chị lại sắp đi Mỹ. Đám cưới dù có gấp gáp, nhỏ nhoi cũng phải ngó cho được kẻo người ta cười, phải không chị.

Bà Mẫn ậm ừ, gật đầu. Thông bước đi. Bà Mẫn hỏi:

– Cháu đi đón em mau mau nhé.

Thông dừng lại:

– Để cháu chạy gấp đi mấy chú, mấy dì xoay một ít tiền rồi đi sau ….

Bà Mẫn hốt hoảng:

– Thôi, khỏi. Không còn thì giờ nữa. Cháu đi chở Thúy về ngay, tất cả chuẩn bị để đi ngay. Mọi phí tổn để vợ chồng tôi tính. Cậu Quảng lên ga mua ngay vé chợ đen, chuyến tàu tốc hành sớm nhất.

Ông Bường nhìn bà Mẫn, xuýt xoa:

– Ai lại làm thế. Chị còn phải lo mua sắm đồ đi Mỹ …. Vả lại, nhà trai cũng phải có chút gì chứ ….

– Thôi, cám ơn lòng tốt của anh và của cháu. Vợ chồng tôi lo tất, khỏi phiền anh. Miễn là tôi được gặp cháu trước khi đi.

Chuyến tàu TN8 Hà Nội-Sàigòn rời ga Huế vào lúc nửa đêm. Bà Mẫn mua luôn một khoang giường nằm mềm cho bốn người đi: Ông Bường, Thông, Anh Thúy và bà Mẫn. Vào Đà Nẵng thêm hai người bà con nữa cùng đi với bà Mẫn: một là em gái bà và một là em gái ông Mẫn. Bà Mẫn giải thích với cha con ông Bường và Anh Thúy, bà cô và bà dì của Thúy vào dự đám cưới hai cháu, tiễn gia đình ông Mẫn đi, đồng thời dẫn vợ chồng Anh Thúy trở về quê giới thiệu và trình diện với bà con.

Theo lời bà Mẫn dặn dò, hai người em cố thuyết phục Anh Thúy bỏ ý định ở lại Việt Nam. Nhưng, cô vẫn khăng khăng không thay đổi ý kiến. Cô cho biết cô không thể sống xa Thông. Hơn nữa, bà Mẫn đã hứa, đã thề là sẽ sẵn sàng để cô ở lại. Cô dọa, nếu mẹ cô đổi ý cô sẽ làm liều. Chuyến tàu đến ga Hòa Hưng vào lúc ba giờ sáng. Bà Mẫn bước xuống sân ga với một tâm trạng nặng nề. Hai ba ngày qua, bà đã sống đời sống của một người khác. Lo âu, căng thẳng, buồn phiền, chán nản. Bà phải dịu dàng, vui vẻ với con. Bà phải ân cần, chìu chuộng một ông sui gia và một cậu con rể bất đắc dĩ. Bà phải đóng một vở kịch mà đoạn cuối, chưa biết sẽ ra sao. Nếu không có giấc mơ đi Mỹ vực dậy, bà đã hoàn toàn kiệt sức. Ông Mẫn, ba đứa con và khá đông cháu chắt, bạn bè ông Mẫn đón ngay tại cổng ra ga. Thấy ông Mẫn, bà Mẫn chạy bổ lại ôm lấy ông nức nở. Ông gỡ nhẹ bà ra tiến đến ông Bường, tươi cười:

– Chắc anh là anh Bường. Thế cháu Thông đâu ?… À, đây. Tôi là Mẫn, ba của Anh Thúy. Hân hạnh được gặp anh và cháu.

Ông quay sang bà Mẫn và các con:

– Thôi, có gì về nhà hẳn hay. Đứng ngay cổng nói chuyện, cản đường khách ra vào. Người nào, xe nấy. Mỗi người đèo một người.

Bà Mẫn nhìn chồng, dụ dự chưa quyết. Ông Mẫn lớn tiếng:

– Thì bà lên xe về nghỉ đi. Mặt mày hốc hác như mất hồn.

Bố trí cho mọi người lên xe về hết, ông Mẫn mới quay sang hai cha con ông Bường đang ngơ ngác đứng nhìn:

– Để đàn bà con nít về trước, mình đàn ông từ từ về sau.

Ông chỉ người thanh niên đi với ông:

– Đây là Thanh, cháu tôi, hiện đang phục vụ ở Sở Công an Thành phố. Đây là anh Bường và cháu Thông. Mời tất cả vào quán nước đằng kia, ta sẽ nói chuyện sau.

Cả bốn người vô quán nước. Ông Mẫn gọi cà phê, thuốc lá. Sau vài lời hỏi thăm xã giao, ông Mẫn nói:

– Trước hết, tôi xin cảm ơn anh và cháu đây đã thương cháu Thúy nhà tôi, lặn lội vào tận đây. Nhưng tôi xin thông báo cho anh rõ: cháu Thúy nhà tôi phải đi Mỹ cùng với gia đình. Đó là tương lai của cháu.

Ông Bường trợn mắt nhìn ông Mẫn:

– Anh nói cái gì lạ vậy. Chị đã hứa, đã thề trước bàn thờ. Chị đã …

Ông Mẫn cắt ngang:

– Nhà tôi không làm vậy thì làm sao cha con anh chịu thả con bé Thúy ra.

Thông đứng dậy, nét mặt vô cùng xúc động, nhìn ông Mẫn, lắp bắp:

– Trời ơi, bác nỡ nào … cháu và … Thúy thương nhau … Bác gái … đã … hứa.

Thông đẩy ghế, chạy ra khỏi quán, nhìn về sân ga, rồi trở vào ngồi gục mặt xuống bàn, nức nở. Ông Mẫn cười:

– Có lẽ cậu cũng có thương con tôi đấy. Nhưng lợi dụng thì nhiều hơn.

Thông ngẩng đầu lên:

– Cháu không hề lợi dụng. Tụi cháu … đàng hoàng …

– Không, cậu biết gia đình tôi sẽ đi Mỹ, cậu quyến rũ con gái tôi. Tôi không tin cái thứ tình cảm của cậu.

Thông van vỉ:

– Bác ơi, tụi cháu … tụi con thương nhau thực tình.

Ông Bường đứng dậy:

– Như vậy thì tôi đã rõ. Mọi lời thề thốt của chị ở nhà tôi chỉ là một sự lường gạt.

– Cứ xem như thế đi. Nhưng anh nên nhớ rằng cha con anh đã lường gạt trước đấy nhé. Thôi, chào anh. Chúc anh ở lại vui vẻ.

Ông Mẫn và đứa cháu đứng dậy đến quầy trả tiền, rồi bước ra xe. Thông chạy theo.

– Bác ơi bác … thương cháu. Thúy ơi, Thúy …

Thông như muốn quỵ hẳn trên lối đi. Ông Bường đứng nhìn theo chiếc Honda chở ông Mẫn khuất dần ở góc đường đàng xa, lầm bầm chửi tục một mình.

Tất nhiên là Anh Thúy không thể nào ngủ được. Mai đã lên máy bay. Mai đã ra đi. Không còn gì cả. Cô đã mất hết. Mất Huế. Mất Thông. Mất những đêm hẹn hò. Mất những con đường rợp bóng cây đạp xe đạp đi với nhau. Bao nhiêu thề thốt. Bao nhiêu hứa hẹn. Cô ngồi dậy vặn đèn nhỏ ở bàn. Mọi người có lẽ đã yên giấc ở phòng ngoài, ở mái hiên, ở trên gác, ở phòng khách. Bà con. Bạn bè. Khóc lóc. Dặn dò. Bia. Thuốc. Hành lý. Vui quá vui. Bà mẹ cô tươi cười, hạnh phúc. Một nước Mỹ rạng ngời, sung sướng hình như đầy ắp cả căn nhà mướn tạm này. Ba cô không tiếc tiền, đã trả trọn tháng tiền nhà cho chỉ ba ngày tạm trú. Tất cả là vì cô. Cô nhìn quanh. Mẹ cô thiêm thiếp. Người anh trai nằm ngủ say sưa ngay nơi cửa phòng. Cánh cửa phòng đóng kín với chiếc khóa to bản treo lủng lẳng. Các cửa sổ có chấn song, lớp trong lớp ngoài. Cô được canh giữ như một tù nhân. Cô là một tù nhân. ít ra cho đến lúc cô lên máy bay. Mọi người khuyên nhủ, động viên cô. Mọi người chúc mừng cô. Một thiên đường đang đợi cô trước mắt. Một huy hoàng cô đang nắm trong tay. Tại sao cô muốn bỏ nó. Tại sao cô muốn ở lại Việt Nam.

Không. Cô muốn ở lại. Nước Mỹ hoàn toàn vô nghĩa đối với cô. Cha mẹ cô, anh em cô cũng hoàn toàn vô nghĩa. Vì không ai hiểu cô. Không ai thương cô. Mọi người đều ích kỷ. Mọi người chỉ biết có nước Mỹ. Mọi người đều gian dối. Cô đã trốn đi, nhưng cô lại bị mẹ cô “bắt lại”. Cha mẹ cô đã dàn một vở kịch để chia lìa cô với Thông. Cô gục mặt xuống bàn. Mọi chuyện đều đổ vỡ tan tành. Thế giới trở nên hoang vu, trống vắng. Cô ân hận tại sao đã để cha mẹ cô lừa phỉnh, kéo cô ra khỏi chỗ ẩn nấp rồi đưa lại vào đây, ở căn nhà này và bắt cô phải đi Mỹ. Càng ân hận, cô lại càng giận Thông nhẹ dạ, dễ tin. Phải chi, phải chi, giờ này cô còn được ở Huế, trong ngôi nhà nhỏ đó, đợi Thông. Phải chi … Cô mệt mỏi, chán nản. Cô kéo hộc bàn, lấy một gói thuốc, đổ ra vài viên, rót nước định uống. Bỗng có bàn tay ai giữ lại. Cô nghe tiếng mẹ cô ở phía sau:

– Con không ngủ mai mà lên đường, còn uống thuốc gì nữa.

Cô quay lui nhìn mẹ, đôi mắt long lanh:

– Mẹ tưởng con uống thuốc gì?

– Không, mẹ không tưởng gì hết. Con đừng suy nghĩ vẩn vơ nữa. Đi ngủ đi.

Cô gục đầu nức nở:

– Đến thuốc bổ mà mẹ cũng không cho uống nữa.

Mẹ vỗ về:

– Con cứ yên tâm ra đi. Mẹ đã hứa với con ba tháng sau cho con về mà.

Cô nhìn mẹ:

– Thì mẹ đã chẳng hứa bao nhiêu lần rồi còn gì!

Cô im lặng. Mẹ cô cũng im lặng.

Hai bàn tay cô bíu lấy mép bàn. Cô muốn nói, muốn la, muốn hét, muốn … Nhưng rốt cuộc, cô chỉ ngước nhìn mẹ, đôi mắt nhòa lệ và giọng ướt đẫm:

– Mẹ ơi, mẹ có biết …

“GIẤC MƠ MỸ”

Tuyển tập Tạp Ghi

Huy Phương

Post by Sơn râu 9 Sep 2025

Con người trên trái đất này có thể nhìn nước Mỹ dưới nhiều con mắt khác nhau, thương yêu, ghét bỏ hay thù hận, nhưng tự trong thâm tâm, ai cũng có một giấc  mơ, một ngày kia, được đến sinh sống ở Mỹ. Chắc hẳn ngày nay không ai có ảo tưởng là ở Mỹ, người ta có thể nhặt đồng đô la trên đường phố một cách dề dàng hay có một đời sống giàu sang sung sướng, nhưng tất cả đều có một cái nhìn chung là nước Mỹ cho ta nhiều cơ hội để thăng tiến, mà không bị giới hạn bởi chủng tộc, gốc gác, tôn giáo hay giới tính của mình.

Đối với người Việt Nam “Giấc Mơ Mỹ” bắt đầu từ những người vượt biển bỏ nước ra đi, sau tháng 4-1975, tại các trại tạm cư, không chỉ những cựu viên chức chính quyền VNCH, mà những người tị nạn khác cũng đi tìm những liên hệ với chính quyền cũ, để mong có cơ hội được phái đoàn Hoa Kỳ phỏng vấn và chấp thuận cho nhập cư. Tại các trại tạm cư ở Đông Nam Á, danh từ “hốt rác” dùng để nói đến những người tị nạn không được nhận vào Mỹ, bất đắc dĩ phải đi các nước khác.

Ngày nay, số người Việt Nam mong muốn sang Mỹ và mong có cơ hội trở thành thường trú nhân luôn là một con số rất cao, từ chuyện du học, nhập cư theo đường hôn nhân đến diện đầu tư. Cả những nhân vật trong chính quyền và đảng viên Cộng Sản cũng muốn tìm cách bắc một đầu cầu, để trong tương lai, cả gia đình có thể “đổ bộ” lên đất Mỹ một cách hợp pháp. Các bà bầu Trung Cộng và bây giờ đến đàn bà Việt Nam, nếu có phương tiện cũng tìm cách vào Mỹ ấp trứng, và chờ ngày sinh nở một đứa con mang quốc tịch Mỹ.

Trong những ngày qua dư luận trong nước xôn xao việc ông Trương Đình Anh, nguyên Tông Giám đốc tập đoàn viễn thông FPT, đã đưa cả gia đình sang Mỹ định cư. Ông cựu thủ tướng đã có con gái mang quôc  tịch Mỹ, ông đương kim thủ tướng cũng đã đặt được “đầu cầu” với đứa con trai du học và hai căn nhà mới tậu.

Những gia đình này chắc chắn không nghĩ rằng sang Mỹ để kiếm tiền

hay tị nạn chính trị, vì thời nay, còn có những trường hợp tị nạn văn

hóá hay tị nạn giáo dục, và ai cũng biết rằng nước Mỹ là nơi các thế hệ

con cháu họ lớn lên, nhận được một nền giáo dục tốt và sau đó là nghề

nghiệp tốt do nền giáo dục đó mang lại.

Những nhà khai quốc Hoa Kỳ đã dùng thành ngữ “cuộc sống, tự do, và

sự mưu cầu hạnh phúc.” Di dân có nhiều cơ hội để đạt được sự thành

công về mặt vật chất lớn lao hơn là có thể có được tại quốc gia gốc gác

của mình.

Khốn nỗi, theo một khảo sát mới đây của tổ chức New Economics

Foundation, khảo sát về chỉ số hạnh phúc, Hoa Kỳ đứng thứ 108 trong

khi Việt Nam đứng thứ 5 trong 10 “top ten” trong số 140 quốc gia. Vậy

mà, mỗi năm có gần trăm nghìn người rời Việt Nam đi định cư, đông

nhất vẫn là đến Mỹ và một số nhỏ ở các nước khác.

Những ngày hỗn loạn vào thời điểm 30 tháng 4-1975 và sau đó, nhiều

người chống Cộng Sản đã bị cầm tù và bạc đãi, chỉ có một con đường

duy nhất là đến Hoa Kỳ để được nương thân và cật lực làm việc để

sống còn. Nhưng sau đó có những đợt di dân, bảo lãnh sum họp gia

đình, không còn thấy đây là “Giấc Mơ Mỹ” nữa. Đây là những người

đang sống sung sướng giàu có ở Việt Nam, hay đang nhờ đồng tiền

“mồ hôi, nước mắt” của thân nhân ở ngoại quốc. Ở Việt Nam, họ ăn

không ngồi rồi, nhà đôi khi có một hai người giúp việc, không bận lòng

vì sinh kế, lại sống giữa cộng đồng người Việt quen thuộc, gần gũi,

chung cùng văn hoá, không trở ngại chuyện ngôn ngữ, nhất là những vị

cao niên.

Không thiếu những bà mẹ được con cái bảo lãnh sang Mỹ, năng nặc

đòi về. Ở Mỹ chẳng có lối xóm, bạn bè gần gũi, cũng chẳng có xích-lô,

xe ôm, không biết lái xe được coi như què. Có người hiến kế mua cho

bà một chương trình TV tiếng Việt, chiếu suốt 24 giờ cho bà có bè bạn,

đỡ cô đơn. Tôi có một vị thầy cũ cũng ở trường hợp trên, cuối cùng

đám học sinh phải xúm lại năn nỉ, thầy mới nguôi ngoai, nhưng cuộc

sông trên xứ Mỹ này chắc không được vui đối với một người không

thấy đây là chuyện cấp bách sống còn và sống là sống như thế nào?

Bây giờ trên đất Mỹ, người Việt giàu có, sung túc, với những ngôi nhà

bạc triệu, xe hơi đắt tiền, nhưng những điêu này không do may mắn hay mánh mung mà bắt đầu bằng những nôi cơ cực trong những ngày đầu chân ướt chân ráo đến đây. Có người dậy từ lúc 4 giờ sáng trong buổi sáng mùa Đông giá rét để đi một “round” bỏ báo, ngồi trong shop may để cắt chỉ, đơm khuy với đồng lương rẻ mạt. Có những gia đình làm nghề may, đêm tối mỏi mệt, gục đầu ngủ thiếp trên bàn may. Thời gian bắt đầu, có những người đến sở làm bằng hai ba chuyến xe bus, có khi phải đứng chờ chuyến xe giữa trời tuyết đổ, lạnh dưới độ âm,

Ông anh rễ tôi bảo lãnh cho cô em gái vượt biên từ đảo sang. Buổi chiều, thấy ông anh đi làm về sau một ngày đi cắt cỏ, mặt mày hốc hác quần jean, áo bò bẩn thỉu, tay xách cái lunch-box đựng cơm trưa, bất giác cô em than:

– “Tưởng anh qua Mỹ làm gì, đâu có ngờ thấy anh tồi tàn như vậy! Nhờ cuộc đời chịu thương, chịu khó như vậy, phần lo cho con cái ăn học nên người, phần lo giúp đỡ cho gia đình còn kẹt lại ở quê nhà, nhưng ngày nay những gia đình này đã thành công vượt bực, con cái thành tài, nhà cao cửa rộng. Thấy những “Việt kiều” áo gấm về làng, đừng nghĩ rằng ở Mỹ, họ thong dong năm chơi hốt bạc. Ngày nay không những những người đến Mỹ được cơm no, áo ấm mà có một đời sống tự do, hạnh phúc, nhân phẩm được tôn trọng, sinh mạng con người được bảo đảm, có cơ hội thăng tiến cho mọi người. Như vậy,

đừng nên chỉ nghĩ đến hai chữ “đô la” khi muốn đến Mỹ, tạo Giấc Mơ Mỹ cho mình và gia đình.

Nhà văn kiêm sử gia James Truslow Adams đã dùng danh từ “Giấc mơ Mỹ” trong cuốn sách xuất bản năm 1931 của ông có tựa đề là Epic of America (Thiên Anh Hùng Ca Mỹ Quốc):

“Giấc mơ Mỹ là giấc mơ của một vùng đất mà ở đó cuộc sống đáng tốt đẹp hơn, giàu có hơn và đầy đủ hơn cho mọi người. Ở đó mỗi người có cơ hội theo khả năng hoặc thành tựu của mình. Đấy là một giấc mơ khó khăn cho tầng lớp thượng lưu châu Âu diễn giải đầy đủ, và cũng thật khó khăn cho tất cả chính chúng ta những người càng ngày ngờ vực và không tin tưởng vào nó. Nó không phải là một giấc mơ về các loại xe hơi hay đơn thuần là tiền lương cao, nhưng là một giấc mơ về trật tự xã hội mà trong đó mọi đàn ông và đàn bà sẽ có thể đạt được tầm vóc đầy đủ cái khả năng bẩm sinh của mình, và được những người khác công nhận họ vì những gì của chính họ, không phân biệt môi trường hoàn cảnh sinh ra hay địa vị ngẫu nhiên của họ.”

Nước Mỹ chỉ mới thành lập hơn 500 năm (Cristoforo Colombo đến châu Mỹ năm 1492) ngày nay là một cường quốc về kinh tế, quân sự, lãnh đạo cả thê giới. Hơn thế nữa, có thể nói là là một vùng đất của ước mơ, của cơ hội và mọi người trên quả địa cầu này đều muốn đến sống nơi đây. Phải chăng tất cả đều nằm trong câu cuối của lời tuyên thệ trung thành với nước Mỹ, “với tự do và công lý cho tất cả mọi người!”

Đất nước chúng ta từ hơn bốn mươi năm nay, không có tự do, mà cũng chẳng hề có công lý. Nước Mỹ là đồng minh của miền Nam nhưng được xem là cựu thù của miền Bắc và giờ đây, chuyện mơ ước được đến định cư tại Mỹ của người Việt Nam như là một cơn sốt.

Xin hãy đến đây “những kẻ mệt mỏi, nghèo đói,” “những người vô gia

cư, dập vùi trong bão tố … ” như những lời thơ của thi sĩ Emma Lazarus

khắc dưới chân Nữ Thần Tự Do bên bờ biển New York.

Nước Mỹ có thể gọi là Thiên Đường, nhưng là một chốn Thiên Đường cần lao và trí tuệ, là đất cơ hội của nổ lực, chứ không phải cơ hội của băng đảng, mánh mung.

Ngày nay những ông Vương, ông Li ở Trung Cộng, hay những ông Nguyễn, ông Trần ở Việt Nam, đều mang “Giấc Mơ Mỹ” như ước mơ của ông Li, một người có ở Bắc Kinh đã phát biểu: “Những giá trị của sự Tự Do, Bình Đẳng, Độc Lập và Dân Chủ đã lôi cuốn tôi. Tôi hy vọng con cái mình sẽ được nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường ấy!”

Môi trường đó không tìm thấy ở Trung Cộng hay ở Việt Nam, là những nước tiêu biểu cho chủ nghĩa Cộng Sản hiện nay. /

‘Chiến Sĩ Vô Danh’

hung-viet.org

Huy Phương

Post on 1Jun 2016

Post by Sơn râu 9 Sep 2025

 (Viết cho ngày “Chiến Sĩ Trận Vong”)
Năm 1972, trong “Mùa Hè Đỏ Lửa,” với thiệt hại lớn lao của bốn mặt trận Kontum, Bình Long, An Lộc, Quảng Trị, của cả hai bên, để vinh danh những người lính VNCH đã nằm xuống, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã phát động một chiến dịch vinh danh và tri ân các chiến sĩ, bằng cách vẽ hình ảnh các tử sĩ và treo ở trên đường phố Sài Gòn. Tôi chỉ nhớ tên một vài vị, đều là sĩ quan, như cố Chuẩn Tướng Không Quân Nguyễn Huy Ánh, cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, cố Đại Úy Trần Thế Vinh, cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương… Trong số anh hùng này, không thấy có một hạ sĩ quan hay binh sĩ nào.

Hồi ấy, tuần báo Diều Hâu là một tờ báo “tay trái” của Phòng Thông Tin-Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến do Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh và Thiếu Tá Phạm Huấn chủ trương, và chúng tôi, nhân viên của Phòng Báo Chí lâu lâu cũng mượn đất của Diều Hâu để múa bút. Vào dịp đó, trên Diều Hâu tôi đã viết một bài ngắn, cũng lấy đề tựa “Chiến Sĩ Vô Danh,” và câu hỏi tôi đặt ra trong bài báo là phải chăng, anh hùng, tử sĩ của VNCH đều là sĩ quan mà không có một anh lính nào? Vậy thì người lính tử sĩ ở đâu?

Bài viết này không làm cho Trung Tướng Trần Văn Trung mấy hài lòng, và sau khi tờ báo phát hành, nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh được gọi lên “trình diện” ông tổng cục trưởng. Ông Nguyễn Đạt Thịnh nổi tiếng là thẳng thắn và luôn luôn bênh vực nhân viên, mặt khác tờ báo do ông chủ trương, phần nào ông cũng có trách nhiệm, nên nội vụ được cho qua, và tác giả bài báo không phải khăn gói đi Kontum.

Người ta hay dễ dãi trong công việc, và tìm những việc dễ dãi mà làm. Tướng tá chết thì ai cũng biết, nhưng anh hùng vô danh, mặc dù là số đông mấy ai đã biết được tên tuổi.

Gần đây ở hải ngoại cũng vậy, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm, năm vị tướng tuẫn tiết lại được nhang khói, vinh danh. Về sau người ta thêm vào đó, Trung Tá Nguyễn Văn Long, tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, rồi sau đó nữa là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng Chương Thiện, không tự sát, nhưng không chấp nhận đầu hàng, chiến đấu đến cùng, bị bắt và bị xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 Tháng Tám, 1975.

Cả miền Nam, vì mối nhục mất nước, có cả hàng nghìn chiến sĩ tự sát bằng cách này hay cách khác, từ một người lính quân cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu đến những anh em Thủy Quân Lục Chiến trên bãi biển Thuận An, hay các chiến sĩ Nhảy Dù chia nhau một quả lựu đạn tại ngã ba Ông Tạ, trên đường lui binh.

Câu hỏi ngày xưa vẫn còn nguyên: “Vậy thì người lính tử sĩ ở đâu?”

Gần đây, tại San Jose, theo cung cách xây dựng tượng đài vinh danh các anh hùng tuẫn tiết, một bức tường tưởng niệm với năm vị tướng lãnh cùng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Trung Tá Nguyễn Văn Long được dựng lên. Người lính Biệt Động Quân Đoàn Trọng Hiếu đã phê phán chuyện dựng bức tường này: “Việc làm dựng một bức tường tưởng niệm quân dân cán chính VNCH là một việc làm rất đáng hoan nghênh. Nhưng việc ủng hộ nội dung lại là hành động thiếu suy nghĩ đáng chê trách, vô tình biến chúng ta thành kẻ bất nhân bất nghĩa!” Và ông cũng cay đắng cho rằng: “Xin đừng phơi thây trăm họ, để chỉ vinh danh một người!”

Trên thế giới, không phải quốc gia nào hay ai có thể có khả năng làm một cuộc kiểm kê để có danh sách những người lính đã hy sinh, như người Mỹ đã làm khi xây dựng bức tường đá đen ở thủ đô Washington, DC, có tên của hơn 58,000 lính Mỹ đã chết hoặc mất tích tại chiến trường Việt Nam.

Có những người lính đã nằm lại ngoài mặt trận, không đem được về hậu phương, thân thể họ bị vùi lấp trong bom đạn, đất cát, không quan quách, không bia mộ, không ai gắn huy chương, không có nghi lễ phủ cờ đưa tiễn. Gần như không ai biết đến họ, không ai nhớ đến tên tuổi của họ, vì “họ là những anh hùng không tên tuổi,” được gọi là những “Chiến Sĩ Vô Danh.”

Nước Pháp có mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 Tháng Mười Một, 1920. Họ không có tên. Đây là ngôi mộ của một người lính Pháp vô danh chết trong trận Verdun, thời Thế Chiến 1. Cùng ở Paris, bảy chiến sĩ vô danh khác cũng được chôn cất ở Flandres, Artois, Somme, Chemin des Dames, Champagne, Verdun và Lorraine. Trên ngôi mộ ở Khải Hoàn Môn khắc dòng chữ: “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc.” (1914-1918). Người Mỹ cũng có ngôi mộ chiến sĩ vô danh (Tomb of the Unknowns) tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, Virginia, để chôn cất các binh sĩ Hoa Kỳ vô danh tử trận trong Thế Chiến 1, Thế Chiến 2, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và những cuộc chiến tiếp theo sau đó!

Không ai kiểm kê được đầy đủ danh tánh những người đã tự sát hơn là đầu hàng giặc trong ngày tang tóc 30 Tháng Tư, 1975 của miền Nam Việt Nam, cũng không ai có đủ danh sách hàng triệu người đã chết cho tổ quốc, bởi vậy chúng ta cần thiết có một nấm mộ hay tượng đài cho những chiến sĩ vô danh. Chúng ta thường có thói quen ca tụng những người quen mặt biết tên!

Có khi nào bạn so sánh cái chết huy hoàng, rộn ràng của một tướng lãnh và cái chết của một người lính hòm gỗ đơn sơ với những nhánh hương lạnh lẽo trong một nghĩa trang buồn, hay những người lính không bao giờ trở về, thân xác chôn vùi đâu đó trên mảnh đất quê hương!

Chúng ta cần một bia mộ hay tượng đài cho những chiến sĩ vô danh như thế.

Huy Phương
Nguồn Người Việt

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

vietmessenger.com

Hoàng Hải Thủy

Post by Sơn râu 9 Sep 2025

Phần 4.

Hai trang 5,6 NTBKCB, người viết Phan Hiền. Có thể đây là anh Phan Hiền, nhân viên Bộ Ngoại Giao VC. Lời lẽ chung chung, bài tựa này có thể dùng để làm tựa cho tất cả những “quái phẩm Cộng sản” mạ lỵ nhân dân ta trên cõi đời này. Phan Hiền nhắc lại những lời cũ rích từ khươm mươi niên. Theo đúng thông lệ anh ca tụng bọn công an Việt cộng – những kẻ bị nhân dân căm thù nhất – là những “chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc” hy sinh, mẫu mực, đấu tranh gian khổ trường kỳ.

Bài học đầu tiên trong những khóa dậy nghề Công an Việt cộng có câu: “Quân đội bảo vệ Tổ quốc, Công an bảo vệ Đảng…” Bẩy mươi mùa đói rét trôi qua trên đất nước Liên Xô vĩ đại, Thành trì của Chủ Nghĩa Xã Hội Thế Giới, đến những năm 1988. 1989 bức tượng tên tội đồ Dherzinsky, tên lập ra cơ quan KGB ác ôn nhất lịch sử nhân loại – Tượng đá Vĩ Nhân Dherzinsky oai dũng đứng trước trụ sở KGB – bị nhân dân Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo xuống cho ra nằm ở bãi rác. Bọn nhân viên Công an Nga, Tiệp, Đức, Hung trở thành những tên “mặt người dạ thú”. Tờ báo Tuổi Trẻ Thành Hồ năm 1992 đăng một bài dịch từ một tạp chí Tiệp Khắc. Anh công an Tiệp được phỏng vấn trong bài báo này than:

– Đảng đã làm chúng tôi trở thành những kẻ thù của nhân dân.

Quyền lợi của Đảng Cộng sản và quyền lợi của nhân dân chưa bao giờ và không bao giờ đi đôi với nhau. Chuyện ấy, trẻ con lên ba, cụ già chín bó đều biết. Với những người cộng sản, việc “bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân” có nghĩa là bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của bọn đảng viên cộng sản, giữ vững mãi cái chế độ trong đó “người đối xử với người tàn tệ hơn là lang sói”, để yên cho bọn cộng sản mặc tình ăn trộm, ăn cướp, ăn hại, đái nát, hủy hoại đất nước, đầy đọa nhân dân, làm những thế hệ con em sống dở, chết dở trong ngu dốt, nghèo đói.

“Trí thông minh, tinh thần sáng tạo…” của công an cộng sản được biểu hiện bằng việc phóng tay “bắt hết, nhốt hết, cho đi tù chết bỏ”. Kể từ ngày Lenin “vĩ đại” gọi những người chống đảng cộng sản là “bọn sâu bọ”, Công an cộng sản tất cả các nước chẳng may bị bọn cộng sản cướp chính quyền, thẳng tay đàn áp, giết tróc những người không may cùng một dân tộc với chúng.

Tôi sống ở K3 – Trại Cải Tạo Z30A trọn năm 1989, cùng sống với tôi trong trại cải tạo này năm ấy có Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Linh Mục Trần Đình Thủ, Dòng Đồng Công Thủ Đức, Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Trưởng Dòng Tên Việt Nam, Tu Sĩ Phật Giáo Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, anh Doãn Quốc Sĩ, Tiến sĩ Sử học Mã Thành Công, Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ sư Lê Công Minh cùng khoảng năm trăm người tù chính trị từ khắp lãnh thổ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1994 khi tôi đi khỏi thành phố HCM, Trí Siêu Lê Mạnh Thát còn ở Z30A, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận mãn án đã trở về mái chùa xưa, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương năm 1990 bị điều ra Trại cải tạo Phú Khánh. Trại này nằm trong rừng giữa hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, nên được gọi là Phú Khánh.

Năm 1989 là năm cộng sản không rẫy chết mà chết ngắc ở Đông Đức. Trong Z 30A chúng tôi phấn khởi truyền nhau những tin tức như tin Bức Tường Ô Nhục Bá Linh bị phá đổ, “Đồng chí Eric Honecker vĩ đại” – danh hiệu Việt Cộng tôn xưng “Đồng chí Eric Honecker, Chủ tịch Đảng Cộng sản Đức”, Honecker có sang thăm Thành phố HCM năm 1976 – phải bỏ Đảng chạy ra nước ngoài. Chúng tôi phấn khởi nghe tin nhân dân các nước Đông Âu, theo gương nhân dân Ba Lan, tự phá gông xiềng Búa Liềm, tin vợ chồng Sô-xét-cu, Chủ Tịt Đảng Cộng Lỗ Ma Ni, bị nhân dân lôi cổ ra dí súng vào đầu, bắn bỏ. Những chuyện chúng tôi không thể ngờ có thể xẩy ra trong đời mình.

Tháng Hai năm 1990, mãn án tù lần thứ hai sáu mùa cóc chín, tôi trở về Ngã Ba Ông Tạ. Mang giấy ra trại đến phường công an khai báo để ghi tên trở vào sổ Hộ Khẩu – vừa bị bắt là tên bị xóa ngay trong sổ – anh công an khu vực, nay đổi tên là công an đường phố, bảo tôi:

– Chú viết bản tự kiểm…

Bị coi là có tội, bị bắt, bị ra tòa, bị kết án, mãn án tù, về nhà, còn tự kiểm, tự cáo gì nữa? Tôi nghĩ. Tôi hỏi:

– Tôi tự kiểm về chuyện gì?

– Về những việc chú đã làm – Anh công an Ông Tạ trả lời tôi, anh giải thích – Chú đã làm gì để bị bắt? Chú làm những gì trong thời gian cải tạo. Chú có suy nghĩ gì? Và bây giờ về chú dự định sẽ làm gì?

Tôi nghĩ thầm: “Anh mới là người phải viết tờ tự kiểm những tội lỗi của anh và của bọn anh với nhân dân chứ? Tại sao đến bây giờ tôi vẫn còn phải viết tờ tự kiểm với anh…?” Cộng sản nó sụp ở những đâu đâu, ở quê hương tôi nó còn vững lắm. Tôi bùi ngùi cầm bút viết trang tự kiểm cho xong. Tôi vụng dại đủ mọi thứ, làm việc gì cũng bê bối không giống ai, được cái viết vớ vẩn vô thưởng vô phạt thì tôi mần khá dễ dàng.

Bọn công an cộng sản Nga, Đức, Tiệp, Hung, Ba Lan, Lỗ đã phải “trả lời những tội trạng của chúng trước nhân dân”, đã “phải cúi đầu nhận tội”, đã nhục nhã vì bị nhân dân chửi rủa, khinh bỉ, vợ con tủi hổ, xa lánh.

Sẽ có ngày đẹp trời bọn cộng sản Việt Nam cũng phải chịu chung số phận với bọn đàn anh của chúng. Ngày đẹp trời ấy bao giờ đến? Tháng mấy? Năm hai ngàn mấy? Tôi có được thấy ngày đẹp trời ấy chăng? Thôi thì đành tự an ủi bằng ý nghĩ: “Mình đã thấy cộng sản sụp ở gốc rễ của nó rồi. Trước sau gì mấy cành cây mục cũng chết theo thôi. Đừng có nóng…”

Nhưng tại sao tôi lại bi quan nhỉ? Đời tôi còn những hai bó nữa kia mà? Hai bó nhiều lắm, lâu lắm chứ. Hai bó là hai mươi quyển lịch Tam Tông Miếu. Chịu khó bóc vài ba tập lịch nữa thôi, ngày đẹp trời sẽ đến. Có thể lắm chứ. Biết đâu đấy.

Trích NTBKCB, trang 7, 8, 9.

Hơn một tuần nay, Nguyễn Trí Văn được nhận vào làm lái xe cho một Công ty Xuất khẩu hải sản. Nhờ người anh họ từ miền Bắc vào công tác ở thành phố quen với Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Công ty giới thiệu nên Văn được nhận dễ dàng, vả lại anh không có quan hệ chính trị gì phức tạp. Tuy là Thượng sĩ trong quân đội Saigon cũ, nhưng anh ta chỉ biết cầm súng khi còn ở quân trường, sau đó được tuyển vào đội bóng đá của Sư Đoàn 3 Không Quân. Từ giã vị trí trung phong trên sân cỏ đã mấy năm rồi nhưng phản xạ của cơ bắp vẫn còn tốt cho nghề lái xe. Anh ta cảm thấy xin được việc làm ở một cơ quan Nhà Nước là điều may mắn đối với mình.

Cũng trong thời gian này, điều may mắn thứ hai lại đến. Anh vừa nhận được món hàng nhỏ từ Paris gửi về. Thật là của từ trên trời rơi xuống, giữa lúc gia đình anh gặp khó khăn túng thiếu. Gói hàng có kèm theo lá thư với mấy dòng vắn tắt:

Paris ngày…

Văn thân mến,

Xin gửi cho em món quà nhỏ. Gọi là của ít lòng nhiều. Mong rằng em vẫn còn ở chỗ cũ và nhận được thư này. Hãy viết thư ngay cho anh sau khi nhận được thư.

Thân ái,

Trần Tam Tiệp

Thật là một niềm vui bất ngờ đối với Nguyễn Trí Văn.

Khi nhận quà về, Văn đã khoe với vợ con, bạn bè rằng Tiệp là anh em “kết nghĩa”, mặc dầu ông ta vốn là Trung tá, “Mạnh thường quân” của đội bóng ngày xưa của anh. Và đây là lần đầu tiên anh được tin tức của cấp chỉ huy cũ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Lúc này, nhiều sĩ quan cũ mà anh biết đi học tập chưa về, môt số người được về lại đã dông ra nước ngoài. Trước đó, Văn cho rằng có liên lạc với các ông “xếp” ấy cũng chả cần thiết. Thật tình anh không còn nghĩ đến ai. Cái quá khứ ấy cũng nên quên đi, trừ những lần đi xem những trận bóng ở sân Thống Nhất, anh vẫn nhớ lại quãng đời cầu thủ ngắn ngủi của mình. Nay được thư kèm theo quà, anh thấy cũng hay. Quá khứ lại sống dậy trong anh. Hơn một tháng sau khi trả lời thư của Trần Tam Tiệp, anh lại nhận được lá thư thứ hai của ông ta. Gói quà lần này sộp hơn lần trước nhiều, đem ra chợ trời bán gần được 4000 đồng, đủ trang trải mấy món nợ, còn dư may sắm cho vợ con. Trong thư Trần Tam Tiệp nhờ tìm gặp Trung úy Không quân Trần Ngọc Thự và một số người khác để lấy địa chỉ gửi qua cho Tiệp. Ông ta bảo những người đó là bạn thân, ông ta cần biết địa chỉ để gửi quà về giúp. Văn thấy không thấy gì trở ngại, vả lại đây là chuyện”tình nghĩa” không có lý do từ chối. Chỉ trong hai Chủ nhật, Văn đã tìm gặp được mấy người bạn cũ, và từ người này hỏi thăm người nọ, cuối cùng anh đã gặp hầu hết những người Tiệp cần biết tin tức.

Sau lần ấy, Văn còn nhận thêm vài món quà nữa, rồi Tiệp viết thư báo sắp bận đi làm ăn xa. Từ đó bặt tin luôn. Văn thấy như vậy cũng đủ rồi. Làm một cái gạch nối cho viên chỉ huy cũ liên lạc với anh em bạn bè, anh đã hoàn thành và cũng đã được trả công. Anh trở về với nếp sống cũ và hầu như quên đi chuyện ấy, chỉ còn giữ lại mấy cái hộp giấy đựng quà làm kỷ niệm. Nhân vật Nguyễn Trí Văn có thật. Là một cầu thủ khá nổi trong đội banh Không quân, Nguyễn Văn Trí được anh em không quân biết tên, biết mặt. Nghe nói anh vẫn được gọi bằng cái tên thân thương Trí Lùn.

Những Tên BKCB mở đầu bằng 3 trang nói đến Nguyễn Trí Văn tức Nguyễn Văn Trí. Và từ Trí Lùn “giới thiệu” đến Trung tá Không quân VNCH Trần Tam Tiệp, ông “Dượng Ba” thương mến của anh em chúng tôi..

Công an Thành Hồ cay cú Dượng Ba của chúng tôi nhất. Mấy ảnh kết tội Trần Tam Tiệp là người chủ động trong những việc:

1. Tranh đấu trong những tổ chức văn học – chính trị quốc tế để bảo vệ những văn nghệ sĩ Saigon bị cộng sản đàn áp.

2. Tố cáo trước dư luận thế giới những hành động bạo tàn của VC ở Việt Nam.

3. Làm nhịp cầu liên lạc giữa những văn nghệ sĩ Saigon sống dưới ách đàn áp thô bạo của cộng sản với những tổ chức văn học-nhân quyền quốc tế như PEN International, Amnesty International: Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Ân Xá Quốc Tế.

4. Cung cấp sự giúp đỡ về tinh thần và tiền bạc cho những văn nghệ sĩ kẹt giỏ ở Thành Hồ đỡ tả tơi, cuộc sống bớt chút màu sắc đen hơn mõm chó mực.

Công an Thành Hồ gán cho Trần Tam Tiệp cái tội “thúc đẩy chúng tôi viết và gửi tác phẩm ra nước ngoài…”

Và Công an Thành Hồ cay cú nhất vì mấy ảnh cóc đụng được vào cái lông chân nào của Trần Tam Tiệp. Dượng Ba của chúng tôi sống ở Paris. Các anh Công an VC hung hăng con bọ xít bắt, bỏ tù mút chỉ cà tha mấy tên dzăng nghệ sỡi kẹt giỏ bị mấy anh gọi là Biệt Kích Cầm Bút – mấy ảnh là công an VC cầm súng – nhưng mấy ảnh hận mà hổng có làm gì được Dượng Ba Trần Tam Tiệp của chúng tôi. Vì vậy mấy ảnh cay cú dữ dội.

Trong thời gian tôi bị thẩm vấn ở Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu – những tháng 5,6,7 năm 1984 – Sáu Khôi, một nhân viên cấp trung của sở Công an thành phố HCM, đến nhà giam chỉ huy bọn thẩm vấn chúng tôi. Sáu Khôi không đích thân thẩm vấn chúng tôi. Y chỉ ghé vào các phòng đang thẩm vấn, ngồi nghe, góp vài ý kiến. Tôi thấy rõ Sáu Khôi căm thù Trần Tam Tiệp. Mỗi lần nói đến Dượng Ba của chúng tôi, Sáu Khôi đều gằn giọng: “… Thằng Tiệp… Thằng Tiệp…”

Đọc mấy trang NTBKCB trên đây, ta thấy hai anh Nam Thi – Minh Kiên viết về Trí Văn nhẹ hều. Đi tìm những ông không quân vất vưởng ở Thành Hồ để những ông này liên lạc với Trung tá Trần Tam Tiệp ở Paris, nhận được vài thùng quà. Rồi thôi. Chẳng có tội gì cả. Nhưng… “Dziệc cộng dziếc dzậy mà hổng phải dzậy…” Dziệc cộng công an nói và dziếc lại càng khác nhau. Sự thực não nùng bi đát đúng kiểu VC là chỉ vì cái tội đi tìm mấy ông bạn đồng ngũ không quân giúp Trung tá Trần Tam Tiệp, anh Nguyễn Trí Văn, tức Nguyễn Văn Trí, tức Trí Lùn Đội Bóng Không Quân Quân Lực VNCH, bị công an Thành Hồ cho xe bông đến tận nhà – nghe đâu Trí ở Gò Vấp – ưu ái đưa vào Số 4 Phan Đăng Lưu cho nằm ngâm thơ Gãi Háng – cơm tù bưng đến tận cửa xà lim, nước tù xịt xà lim cho tắm vì những ống nước nhà tù đặc cứng rỉ sét – Không hề bao giờ là Biệt Kích Cầm Bất Cứ cái gì, Nguyễn Trí Văn cũng nằm xà lim, ăn cơm nhạt xỉu xỉu mười tháng.

… Văn thấy không có gì trở ngại, vả lại đây cũng là chuyện tình nghĩa không có lý do gì từ chối…

Nguyễn Trí Văn không đến nỗi phải chết vì “tình nghĩa”. Anh chỉ vì “tình nghĩa” mà bị Công an Việt cộng cho đi tù gần một mùa lá rụng…

… Anh trở về với nếp sống cũ và hầu như quên đi câu chuyện ấy, chỉ còn giữ lại mấy cái hộp giấy đựng làm quà kỷ niệm…

Poste Phú Lang Sa văn minh hơn Post Mẽo ở những hộp các-tông đựng quà. Những hộp giấy vàng vuông vắn, gọn đẹp. Những năm đầu thập niên 80 một trong những lạc thú hào hứng nhất của những Anh Con Trai, những Chị Con Dâu Bà Cả Đọi ở Thành Hồ là đến Bưu Điện hay vào phi trường Tân Sơn Nhất lãnh đồ. Gần như cả nước sống nhờ đồ ngoại quốc gửi về. Có đồ là có tất cả. Có đồ là nỗi tuyệt vọng mênh mang trong lòng ta dịu bớt, vơi đi, ta được tiếp đôi chút hy vọng để có thể không chết. Nỗi sợ hãi công an trong ta cũng nhạt đi khi ta có đồ. Đồ càng lớn, càng nhiều, càng tốt. Tất nhiên. Nhưng đồ nhỏ cũng rất tốt. Chỉ một paquet một ký lô thuốc Tây từ Pháp quốc văn minh phồn hoa trữ tình lãng mạn sông Seine mờ sương trắng – là áo sương mù hay váy em. Ga Lyon đèn dzàng… Những anh Con Trai Bà Cả Đọi từ muôn kiếp trước đến muôn kiếp sau chưa từng một lần được đặt những bước loạng quạng đến Paris, chưa từng biết mùi Đầm là gì… vẫn xúc động khi nghe chuyện lên xe tiễn em đi. Chưa bao giờ buồn thế… – những paquet quà thơm phức từ Pháp quốc gửi về Thành Hồ. Mỗi paquet – tuy không đủ lãng quên đời – cũng đủ cho hai vợ chồng và ba con nhỏ sống được một tháng.

Đấy là thời gian những anh Con Trai Bà Cả Đọi ở thành Hồ được gọi là những anh Tư Đê. Đúng ra mấy ảnh là mấy anh Năm Đê. Ngoài một tiếng Đê, ngôn ngữ thuần túy dân tộc, mấy ảnh luôn luôn sài bốn tiếng vần Đê:

– Đi, Đồ, Đói, Đợi

– Sao không đi? Còn ở đây?

– Đi không được. Sao lại không đi!

– Có tính đi không? Có đường đi không?

– Có đồ không?

– Đói thấy mồ…

– Đành đợi vậy…

Mấy ảnh nói mấy ảnh đợi, nhưng chính mấy ảnh cũng không biết mấy ảnh đợi ai, đợi cái gì, đợi đến bao giờ…

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 9 Sep 2025

51. Nguyễn Tiến Lãng

Rất nhiều người trong chúng ta, ở các lứa tuổi khác nhau, được nghe nhắc đến cái tên Nguyễn Tiến Lãng, biết đến ông như một nhà văn, nhà báo lỗi lạc, nhưng lại rất ít người tận mắt được đọc những tác phẩm của ông mà chỉ nghe nói. Bởi vì, tuy viết nhiều, nhưng hầu hết các tác phẩm của ông đều được viết bằng tiếng Pháp, chỉ riêng tập truyện ngắn Tiếng Ngày Xanh được viết bằng tiếng Việt, xuất bản ở trong nước năm 1939, nhưng vì những biến cố chính trị trong thập niên 30-40, gần như đã bị thất tán, không thấy ai giữ được.

Được biết mới 13 tuổi, nghĩa là vào năm 1922, ông đã bắt đầu cộng tác với các tạp chí danh tiếng lúc bấy giờ như các tờ Hữu Thanh của Ngô Đức Kế, An Nam Tạp Chí của Tản Đà, Nam Phong Tạp Chí của Phạm Quỳnh. Đến năm 1934 Nguyễn Tiến Lãng đã được chính Phạm Quỳnh giao cho trông coi biên tập tờ Nam Phong Tạp Chí, khi Phạm Quỳnh vào Huế nhận chức Thượng Thư. Nhiều người cho rằng, sở dĩ Nguyễn Tiến Lãng được Phạm Quỳnh giao cho trọng trách điều khiển tờ Nam Phong thay mình vì Nguyễn Tiến Lãng là rể của ông. Thực tế không phải như vậy. Nguyễn Tiến Lãng chỉ thành hôn với bà Phạm Thị Ngoạn ái nữ của ông Phạm Quỳnh 6 năm sau khi làm tờ Nam Phong, tức là năm 1940.

Trong cuốn hồi ký xuất bản sau này tại Pháp, Nguyễn Tiến Lãng cho biết thêm, khi giao tờ Nam Phong cho Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Quỳnh cũng không được yên tâm lắm. Và, như người ta đã biết, Nguyễn Tiến Lãng làm chủ bút Nam Phong được mấy tháng thì tờ báo bị đình bản. Những tác phẩm chính Nguyễn Tiến Lãng để lại gồm trên một chục cuốn gồm sáng tác, tiểu luận văn học, nghiên cứu, phiên dịch. Các bản dịch ca dao Việt Nam, truyện Hoa Tiên, các cổ tích như Thiếu Phụ Nam Xương, Tú Uyên Giáng Kiều, Từ Thức Giáng Hương, sang tiếng Pháp của ông, được người Pháp cho rằng “đã hội tụ được cả âm điệu lẫn hình ảnh trong thơ” và “chuyên chở được cả những tình cảm cao thượng lẫn tiết tháo của tâm hồn Việt Nam”.

Gơogle images edited by AI

Nghe nói những bài luận bằng tiếng Pháp Nguyễn Tiến Lãng viết khi ông còn là một học sinh trung học, đã được thầy dạy Pháp văn của ông ở trường Bưởi trao cho toàn quyền Robin đọc. Robin cảm mến tài năng của Nguyễn Tiến Lãng, cấp học bổng cho ông vào học tại Lycée Albert Sarraut, rồi sau bổ nhiệm ông làm bí thư. Trong một cuộc thi viết truyện ngắn do báo Indochine tổ chức năm 1932, truyện Eurydice của Nguyễn Tiến Lãng đã đoạt giải nhất, trong khi chính thầy dạy Pháp văn của ông được giải nhì.

Tuy được viết từ thập niên 30, truyện ngắn Eurydice của ông, đã được chính Nguyễn Tiến Lãng dịch sang tiếng Việt, dưới cái tên Tình Xưa, ngày nay đọc lại vẫn thấy mới.

Tác phẩm sau cùng của ông cuốn Les chemins de la revolte, xuất bản tại Pháp, được trao giải thưởng văn chương Silvio Pellico, dành cho những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của những tù nhân chính trị dưới bất cứ chế độ nào. Tuy các nhân vật đều có tên riêng, nhưng người ta có thể nhận ra không mấy khó khăn rằng Phủ Doãn Lê Văn Nguyên và Thượng Thư Trần Phạm chính là hóa thân của Nguyễn Tiến Lãng và Phạm Quỳnh, cả hai người đã trải qua biến cố 1945 như thế nào và họ đã bị cộng sản bắt ra sao.

Ở các trang 36-37 của cuốn sách, Nguyễn Tiến Lãng kể lại cảnh cha con gặp nhau lần cuối trong sân nhà tù như sau:

“Chàng nhìn ông và hỏi: Thầy có đau lắm không? Ông bị đau bao tử, ở nhà, mỗi khi bị dạ dày hành cứ hai tiếng lại phải uống thuốc. Trần Phạm bình thản trả lời: Ô, không. Rồi ông đưa mắt nhìn vị Tổng Đốc Quảng Nam. Hai người là đối thủ kịch liệt về chính trị nhiều năm nay. Và bây giờ họ gặp nhau trong cái sân tù này. Họ chỉ trao nhau một ánh mắt. Rồi một người nhìn trời; người kia, đôi mắt vô cảm chăm chăm hướng về một thân cây cằn cỗi ở cuối sân trước khi quay nhìn về phía con trai – người con trai duy nhất. Chiều tái ngắt”.

Những khám phá, chỉ dẫn về ý nghĩa cuộc sống, về những vật dụng quanh ta, Nguyễn Tiến Lãng viết trong các đoản văn của ông, cho thấy ông có một sự hiểu biết sâu xa về nhân sinh, một tâm hồn tế nhị, nặng lòng với quê hương đất nước và thơ mộng biết bao. Chỉ cần đọc đoản văn ông viết về “cây nêu” trong ngày Tết cổ truyền của chúng ta, hay ít dòng trong bài tựa truyện Mai Lĩnh của ông đủ thấy rõ những điều đó:

“Mai Lĩnh, đồi mơ, nằm giữa giải Oan Tuyền và cửa trời Vân Song trong vùng Hương Tích, gần nơi tôi chào đời. Mai Lĩnh! Ta lấy tên mi đặt cho tập văn viết thuở thiếu thời. Đồi ơi! Mi có biết khi mới rời ghế nhà trường, tâm hồn ta chỉ thiết tha một giục giã lên đường, một khát vọng tìm những

chân trời khác, một tình yêu những bến bờ xa lạ. Rồi ta đã đi khắp mọi vùng đất nước để tái tạo hồn Việt trong ta. Trên hành trình tư tưởng và con tim này, lối đi huyền thoại và đường mòn cổ tích đã dẫn ta về làng, dẫn đến những người thân đã mất, dẫn đến ngọn đồi Mai Lĩnh mà ngày trước năm nào ta cũng dạo chơi.

Ta ngắt bên đường những đóa cổ tích xưa, những mẩu truyện tưởng tượng hay đã sống thời này. Có những truyện viết đã ba mươi năm, hay sớm hơn nữa. Thời đó, ta thường nói với các bạn: ‘Hạnh phúc thay cho kẻ nào trong chúng ta viết được tác phẩm sâu lắng, chạm đến hồn người, khiến khi

gấp sách lại, người đọc ngoại quốc sẽ còn như vẳng nghe tiếng thầm bên tai: An Nam ta đã mở lòng đón bạn, vậy bạn hãy dang tay chào đón nước Nam này”.

Ông Phạm Quỳnh bị cộng sản thủ tiêu. Ông Nguyễn Tiến Lãng được cộng sản tha khỏi tù, sau đó, ông đi Pháp, dạy học rồi làm công chức trong Bộ Giáo Dục Pháp.

Ông mất tại Antony, ngoại ô Paris năm 1976.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 9 Sep 2025

50. Nguyễn Thụy Long

Thuở Mơ Làm Văn Sĩ là tự truyện của một nhà văn kể lại cái thời còn đang mơ làm nhà văn của mình, hay đúng hơn đang bắt đầu viết lách, đang sửa soạn để nhận lấy định mệnh của mình. Nói cách khác, chẳng có sự sửa soạn nào cả, người ta không thể lựa chọn định mệnh của mình. Mọi sự diễn ra tự nhiên như vậy. Viết văn không phải là một cái nghề. Mặc dầu nếu không học thì người ta không viết được. Nhưng chỉ học không thôi, người ta cũng không trở thành văn sĩ được. Vì, như người ta thường nói, chỉ thi sĩ mới làm được thơ. Làm thơ không trở thành thi sĩ được. Làm nhà văn ở Việt Nam lại còn nhiều cái khó khăn, phức tạp hơn nữa. Bởi số phận của các nhà văn Việt Nam gần như gắn liền với những biến chuyển chính trị trong nước. Dưới chế độ cộng sản thì giá trị của một nhà văn có khi chẳng liên quan gì tới văn chương, mà lại tùy thuộc những tiêu chuẩn khác. Bị xếp vào hàng ngũ nhà văn ngụy thì gần như người ta chẳng cồn giá trị gì, nếu không muốn nói đến việc còn phải nhốt tù nữa. Nghe nói, sau khi đọc cuốn Loan Mắt Nhung của Nguyễn Thụy Long, Tố Hữu đã nói với Chế Lan Viên rằng:

“Đây là một cây bút hiếm có của dân tộc ta”. Và, nói tới Tố Hữu và Chế Lan Viên là nói tới những người có quyền hành của chế độ. Thế nhưng cuốn Loan Mắt Nhung vẫn bị liệt vào loại văn chương đồi trụy, cấm lưu hành và Nguyễn Thụy Long đã bị bắt.

Nguyễn Thụy Long được coi như nhà văn chuyên viết về đời sống của các nhân vật, trước đây, ta quen gọi là giang hồ, hảo hán, những người sống trong các ngõ hẻm tối tăm, bến cảng, nhà ga, ổ điếm, những kiếp người lầm than. Ông có một bút pháp khỏe mạnh. Đọc ông, người ta có cảm tưởng ông sống như lăn vào cuộc sống. Hay nói theo Nguyễn Mạnh Trinh thì, Nguyễn Thuy Long như đang trong cơn ‘phê’ ma túy văn chương khi sáng tác.

Đọc Thưở Mơ Làm Văn Sĩ chúng ta có cái thích thú được biết thêm về các nhà văn bây giờ đã trở thành các nhân vật danh tiếng như: Dương Nghiễm Mậu, Trần Dạ Từ, Lê Đình Điểu, Tú Kếu, Nguyễn Đức Sơn, Dương Hùng Cường, Duyên Anh, Đỗ Quý Toàn, Đằng Giao … tất cả đã có một thời kỳ khởi nghiệp, một thời mơ làm văn sĩ.

Nguyễn Thụy Long kể về Lê Đình Điểu:

“Trong căn phòng nhỏ của Lê Đình Điểu, bút hiệu Y Dịch, người bạn học với tôi, trang hoàng một cách hết sức trẻ con. Trên tường, ngay trước bàn học của Điểu, có hàng chữ cắt màu đỏ bằng giấy thủ công học trò ‘Trụ sở thi văn đoàn Lãng Bạc. Trên bảng đen ghi chương trình phiên họp hàng tuần của thi văn đoàn cùng tên các bạn thành viên trong nhóm. Điều quan trọng trên hết là trong chương trình có ghi mục bình văn bài tùy bút của tôi”.

Về buổi đầu tiên gặp Trần Dạ Từ, Nguyễn Thụy Long đã hỏi Lê Đình Điểu: ‘Đó là nhân vật nào?’.

Lê Đình Điểu nói:

“Hắn di cư vào đây có một mình, một thi sĩ có tài, thơ anh ta đăng rất nhiều trên các báo, chẳng được xu teng nào hết, vẫn phải sống bằng nghề bán báo và bỏ báo tư gia, vẫn đi học, học hành có vẻ bấp bênh. Nhưng nghe nói hắn thông minh tuyệt vời, học gì chỉ thoáng cái là hiểu … Hiện đang ở trại học sinh Phú Thọ”.

Và sau đây là hình ảnh Dương Nghiễm Mậu cũng trong những ngày ấy, được Nguyễn Thụy Long vẽ lại:

“Anh em chúng tôi vui mừng mời Hương Việt Hương lên gác nói chuyện văn nghệ. Chúng tôi nói về truyện dài của anh đăng từng kỳ trên tờ Văn Nghệ tuần san, ghê chưa! Hương Việt Hương sắp thành nhà văn thực thụ rồi. Anh được tờ báo mời viết và có trả nhuận bút đàng hoàng và từ nay anh làm việc thường xuyên cho tờ báo đó. Anh đã là văn sĩ rồi, không chỉ mơ làm văn sĩ như chúng tôi. Anh đổi bút hiệu là Dương Nghiễm Mậu, nhiều năm liền anh thành công với bút hiệu này”.

Những người Nguyễn Thụy Long nêu tên trong cuốn sách có thể nói, sau biến cố 75, hầu hết đã trải qua những ngày tù tội, cũng có người may mắn ra được khỏi nước sau hay trước ngày 30 tháng 4, một số vẫn còn lại ở trong nước, một số đã chết như: Dương Hùng Cường, Duyên Anh, Lê Đình Điểu.

được nữa.

Có điều đặc biệt là những người còn lại, hình như không ai bỏ nghề cả. Ây là nói những người đã ra khỏi nước. Những người còn lại ở trong nước thì chúng ta không thể biết được, những ai còn viết nữa, những ai không. Một mình Nguyễn Thụy Long có tác phẩm xuất bản ở nước ngoài, nên chúng ta được đọc. Đọc và phải nói rằng sách nào của ông cũng rất buồn. Hình như người ta đã phải sống một đời sống không thể sống.

Buồn như những dòng chữ Nguyễn Thụy Long viết về người bạn Thưở Mơ Làm Văn Sĩ của ông như sau:

“Hôm rồi, những ngày mưa gió, tôi đi đón hài cốt của Lê Đình Điểu hồi cố hương, như lời nhắn nhủ của anh với gia đình. Nắm xương tàn của anh về an táng ở quê hương xứ Hà Đông xa xôi … Tôi ngồi ở chùa An Lạc nghe kinh siêu thoát cho Điểu. Trong mấy chục năm qua, nhiều người bạn đã ra đi. Lê Đình Điểu là bạn tôi từ những ngày đầu ‘thuở mơ làm văn sĩ’. Nay anh đã nằm xuống rồi … ”.

Banco Giang hồ tung cánh

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đôi lời cùng bạn đọc: Có một số bạn đọc (USA) đọc truyện Papillion Người tù khổ sai trên trang blog của Sơn râu. Nhân đây cũng xin thông báo cho bạn được biết, râu tôi có post theo sau đó là truyện Banco Giang hồ tung cánh đồng tác giả nói trên. Truyện được đăng ngày 28 Nov 2024.

Nếu bạn muốn thì vào trang blog này ngày đó sẽ thấy, xin thưa về phần hình ảnh thì không có vì râu tôi đã bỏ để dành chổ cho các truyện post lên sau này. Hoặc giả bạn thích đọc vào thời điểm này xin cho biết qua phần Comment tôi sẽ post lại bài với đầy đủ hình ảnh.

Sơn râu