vietmessenger.com
Nguyễn Đình Toàn
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 10 Sep 2025

52. Nguyễn Tường Tam.
Ngày 7 tháng 7 năm 2002, báo chí ở quận Cam, nhiều tờ, đã dành những số đặc biệt, đăng các bài nhận định về tiểu sử, tác phẩm và những hoạt động của Nhất Linh để tưởng nhớ ông, nhân ngày giỗ ông. Và độc giả đã được đọc nhiều bài liên quan tới đời tư, cá tính, sự nghiệp cũng như cái chết của ông, do các than nhân, bằng hữu, đồng chí của ông, các nhà văn, trí thức thuộc cùng thế hệ với ông và hiện đại viết.
Nói chung, người ta đều đồng ý rằng, khó tách rời nhà văn Nhất Linh ra khỏi chính trị gia Nguyễn Tường Tam, nhưng vẫn phải phân chia những hoạt động của ông làm hai phần rõ rệt; hoạt động văn học và hoạt động chính trị.
Về tiểu sử của ông, chúng ta được biết:
“Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1906 tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông là người sáng lập Tự Lực Văn Đoàn, chủ trương các báo Phong Hóa và Ngày Nay, lập Đảng Hưng Việt sau đổi thành Đại Việt Dân Chính”.
Trả lời một cuộc phỏng vấn, vì sao đậu đầu trong kỳ thi vào trường Mỹ Thuật ông lại chỉ theo học một thời gian ngắn rồi bỏ, không học vẽ, Nhất Linh cho biết:
“Vì khi mang giá vẽ, cọ, màu về quê, thấy đời sống thôn quê khổ quá, tối tăm quá, cần phải làm gì giúp họ. Giá, cọ, màu không giúp kiến hiệu bằng báo chí”. Như thế, mục đích việc viết văn, làm báo của ông đã rõ. Ông muốn dùng ngòi bút để thay đổi xã hội, tạo nên một cuộc sống tốt hơn, đẹp hơn, cho tất cả mọi người, nhất là tầng lớp nông dân, nghèo khổ.
Trong 40 năm hoạt động văn học ông đã hoàn thành trên 20 tác phẩm. Giai đoạn đầu, từ 1932 đến 1936, khi viết các tác phẩm Anh Phải Sống, Gánh Hàng Hoa, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng … ông đã theo đúng đường lối hay lý tưởng do mình đề ra, dùng văn chương để thay đổi cuộc đời. Hay có thể nói đây là giai đoạn ông chủ trương làm một thứ nghệ thuật vị nhân sinh.

Nhưng sau đó, từ các cuốn Đôi Bạn, Bướm Trắng cho đến Xóm Cầu Mới, Giòng Sông Thanh Thủy, có vẻ như ông đã viết khác hẳn, tuy vẫn có những vấn đề thời sự, nhưng chủ yếu ông đào sâu, phân tích tâm lý, hành động của các nhân vật, làm cho các nhân vật gần với sự thật hơn, hợp lý hơn. Đây có thể gọi là giai đoạn ông viết văn vì văn chương, nghệ thuật vị nghệ thuật, chứ không muốn khoác cho công việc viết lách một cứu cánh khác.
Ảnh hưởng của Nhất Linh trong văn học Việt Nam và đối với tâm hồn nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam rất lớn. Những người đồng thời với ông đã đọc ông. Những thế hệ kế tiếp đã học ông.
Có thể nói, các nhân vật của ông như Loan, Dũng, Thái, Nhung, Nghĩa, Triết, Trương, Thu, Phương, Mùi … từ khi được ông tung ra đời, đời sống đã đổi khác. Theo nhà văn, luật sư Trần Thanh Hiệp thì:
“Những nhân vật hư cấu nhưng linh hoạt như đang sống thực ngoài đời, tuy chỉ hiện hữu trong tưởng tượng. Những nhân vật, vì vậy, phản ánh được một bộ mặt nhất định của xã hội đương thời, mở ra một chiều hướng đi lên
cho cuộc sống”. Trong từ ngữ chuyên môn của văn học, người ta gọi đó
là ‘không gian văn chương’ của Nhất Linh.
Không gian cung cấp cho xã hội một kiểu mẫu sống, một rung cảm mới và nhất là một ngôn ngữ mới. Công trình mở đường này khiến cho Nhất Linh được đồng thanh nhìn nhận là người mở đường cho văn học sử Việt Nam vào thời điểm thập niên 30, mang lại cho bộ môn tiểu thuyết một bước tiến bộ theo hướng nghệ thuật, và thổi vào báo chí tiếng Việt một sức sống vươn lên. Trong chừng mực đó Nhất Linh đã đivào lịch sử của đất nước”
Có thể nói Nhất Linh đã thành công trong ý nguyện của mình.
Nhưng vẫn theo ông, trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết viết từ 1952 đến 1960, Nhất Linh lại cho rằng:
“ … tiểu thuyết muốn viết gì cũng được: xã hội, luận đề, trinh thám, ái tình, luân lý, tình cảm, triết lý … Được tất. Nhưng trước hết phải lo viết cho hay. Viết hay là tả đúng các trạng thái phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự sống, tìm cho nhiều chi tiết về người và việc để tạo được nhân vật sống động”.

Có chút gì mâu thuẫn trong sáng tác và lý thuyết/tiểu thuyết của Nhất Linh chăng? Sự việc có lẽ chỉ có thể giải thích như nhận xét của Võ Phiến: “Hai con người chính trị và văn nghệ của ông làm khổ lẫn nhau. Và sở dĩ có hiện tượng ấy, theo Trương Bảo Sơn, chỉ vì, Nhất Linh làm chính trị cũng như văn nghệ, đều cần cù, mê say theo một triết lý tuyệt hảo. Nhưng ông chỉ làm tuyệt hảo riêng từng việc một, không thể cùng một lúc làm tuyệt hảo cả hai việc”.
Cũng vẫn trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết Nhất Linh đã nói rõ:
“Cái sai lầm nhất trong đời văn sĩ của tôi là đã để cái ý quyết định dùng tiểu thuyết làm một việc gì [viết luận về tiểu thuyết] lên trên cái ý định viết một cuốn tiểu thuyết hay”. Nghệ sĩ vốn khó tính với chính mình, hay đó là lời khuyên chân thành nhất ông muốn gửi lại cho những thế hệ sau?
Tuyên ngôn thành lập Tự Lực Văn Đoàn của ông bầy tỏ đầy đủ cả hai con người Nhất Linh và Nguyễn Tường Tam:
“Lấy tên Tự Lực là có ý họ tự sức mình gây lấy một cơ sở chứ không cậy nhờ bàn tay chính phủ hoặc một thế lực tài chính nào, do đó có tư cách độc lập, không tuân theo một chỉ thị nào, ngoài đường lối chính họ vạch ra”. Ông quan niệm muốn giành độc lập cho đất nước cần mở mang dân trí, đồng thời, không dựa vào bất cứ một thế lực nào bên ngoài.
Những công việc ông làm trong VNQDĐ chỉ những người thân cận với ông mới biết rõ.
Chúng ta hãy tìm hiểu ông như ông xuất hiện trước mắt mọi người với tư cách là một nhà hoạt động chính trị. Và trong cuộc đời làm chính trị của ông có lẽ có hai sự việc quan trọng hơn cả:
Thứ nhất ông được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ đoàn kết quốc gia. Thứ nhì là cái chết của ông, hay rõ hơn, việc ông tự sát.
Và, việc quan trọng nhất trong khi ông giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngoại Giao là cầm đầu phái đoàn Việt Nam họp với Pháp tại Đà Lạt ngày 17 tháng 4 năm 1946. Phái đoàn gồm có Võ Nguyên Giáp, phó trưởng phái đoàn kiêm trưởng ban quân sự, Vũ Văn Hiền tổng thư ký, Hoàng Xuân Hãn trưởng ban chính trị, Nguyễn Mạnh Tường trưởng ban Văn Hóa. Luật sư Trần Văn Tuyên, đổng lý văn phòng bộ ngoại giao khi ấy thuật lại rằng:
“Anh Nguyễn Tường Tam trả lời bằng tiếng Việt Nam, anh Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường cùng phụ trách thông ngôn cho phái đoàn”.
Ông Hoàng Xuân Hãn cho biết về hội nghị như sau:
“Thấm thoắt đã đến ngày chủ nhật thứ nhì ở Đà Lạt. Hôm nay là ngày 28 tháng 4. Nguyễn Tường Tam bị ốm từ hôm qua, có lẽ bị cảm lạnh. Tôi không biết Tam trước khi có phái đoàn Đà Lạt, nhưng cũng biết anh là Nhất Linh trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn và nhất là chủ bút những tạp chí Ngày Nay, Phong Hóa đã vang tiếng một thời. Bấy giờ, anh người cao gầy, mặt dài má lép, chút râu trên mép, đôi mắt to nhưng ra vẻ mệt nhọc, hay chán chường. Cử chỉ lễ độ, ăn nói chững chạc trong buổi xã giao hội họp với kẻ chức trách hoặc phái viên Pháp, anh đã có một thái độ cử chi đoan nghiêm và đúng mức, không làm thẹn chức vụ Bộ Trưởng Ngoại Giao và chủ tịch phái đoàn Việt Nam”.
Các tài liệu ghi chép đều nói lên quyết tâm giành độc lập cho đất nước cũng như khả năng ngoại giao ngoại hạng của Nguyễn Tường Tam.
Ông gửi thư cho ông Hồ Chí Minh xin từ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao ngày 5/3/1946, vì thế, không cầm đầu phái đoàn Việt Nam sang Pháp tham dự hội nghị Fontainebleau.
Có thể nói, đây là hành động công khai của ông, nói ra sự bất hợp tác với cộng sản, dù là để tranh đấu giành độc lập cho đất nước. Nguyễn Tường Tam trở qua Trung Quốc cùng tìm một giải pháp chính trị tranh thủ độc lập cho Việt Nam. Việc này không đi tới một kết quả cụ thể nào. Năm 1949 Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tuyên bố không hoạt động chính trị nữa.
Năm 1953 ông lên Đà Lạt ở ẩn. Năm 1958 ông trở về Sài Gòn ấn hành tờ tạp chí Văn Hóa Ngày Nay.
Ngày 7/7/1963, ông tự sát vì không chịu để cho tòa án của chính quyền Ngô Đình Diệm xử. Theo nhà văn, luật sư Trần Thanh Hiệp, thì:
“Trong trí nhớ tập thể vẫn còn những khoảng tối trên thân thế và sự nghiệp Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Không dễ gì có được một ‘cây đàn muôn điệu’ [văn, nhạc, họa] như ông. Lại thêm một số vốn sống thượng vàng hạ cám, phong phú, không phải ai cũng có. Vậy tại sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã ngưng sáng tác sau Bướm Trắng, Xóm Cầu Mới, Giòng Sông Thanh Thủy. Ông có mặt ở nhiều nơi, đã liên tục hiến thân cho cách mạng chính trị từ thập niên 30, lúc nào cũng ở trên cấp bậc lãnh đạo, vậy tại sao ông tuyên bố rút lui khỏi chính trường đầu thập niên 50 và hơn một thập niên sau lại tự sát vì chính trị? Những bí ẩn này gợi ý rằng sự hiểu biết về nhân vật Nhất Linh Nguyễn Tường Tam vẫn còn phải bổ xung. Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có thể có một thái độ của khách bàng quan, trong khi chờ đợi. Miền Nam Việt Nam đã mất về tay cộng sản, điều Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lo ngại. Tất nhiên không hẳn hoàn toàn do những hành động ông lên án. Nhưng lịch sử đã bắt đầu việc phán xét và sẽ còn tiếp tục phán xét. Nhất Linh Nguyễn Tường Tam không có ý định để lại cho đời sau một thông điệp với một nội dung nhất định nào. Vào cái tuổi 57 chưa hẳn quá về chiều của cuộc đời, ông đã lấy cái chết của mình để cảnh cáo những người cầm quyền bạo ngược, ngang nhiên chà đạp lên mọi thứ tự do là nhân phẩm, thứ giá trị khiến cho con người khác biệt được với các sinh vật khác. Không phải ai cũng lấy được một quyết định như vậy.
Phong thái lẫm liệt ấy hiếm thấy trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Người Việt Nam có thể tự hào đã có một nhân vật Nhất Linh Nguyễn Tường Tam trong lịch sử”.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.