Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 9 Sep 2025

51. Nguyễn Tiến Lãng

Rất nhiều người trong chúng ta, ở các lứa tuổi khác nhau, được nghe nhắc đến cái tên Nguyễn Tiến Lãng, biết đến ông như một nhà văn, nhà báo lỗi lạc, nhưng lại rất ít người tận mắt được đọc những tác phẩm của ông mà chỉ nghe nói. Bởi vì, tuy viết nhiều, nhưng hầu hết các tác phẩm của ông đều được viết bằng tiếng Pháp, chỉ riêng tập truyện ngắn Tiếng Ngày Xanh được viết bằng tiếng Việt, xuất bản ở trong nước năm 1939, nhưng vì những biến cố chính trị trong thập niên 30-40, gần như đã bị thất tán, không thấy ai giữ được.

Được biết mới 13 tuổi, nghĩa là vào năm 1922, ông đã bắt đầu cộng tác với các tạp chí danh tiếng lúc bấy giờ như các tờ Hữu Thanh của Ngô Đức Kế, An Nam Tạp Chí của Tản Đà, Nam Phong Tạp Chí của Phạm Quỳnh. Đến năm 1934 Nguyễn Tiến Lãng đã được chính Phạm Quỳnh giao cho trông coi biên tập tờ Nam Phong Tạp Chí, khi Phạm Quỳnh vào Huế nhận chức Thượng Thư. Nhiều người cho rằng, sở dĩ Nguyễn Tiến Lãng được Phạm Quỳnh giao cho trọng trách điều khiển tờ Nam Phong thay mình vì Nguyễn Tiến Lãng là rể của ông. Thực tế không phải như vậy. Nguyễn Tiến Lãng chỉ thành hôn với bà Phạm Thị Ngoạn ái nữ của ông Phạm Quỳnh 6 năm sau khi làm tờ Nam Phong, tức là năm 1940.

Trong cuốn hồi ký xuất bản sau này tại Pháp, Nguyễn Tiến Lãng cho biết thêm, khi giao tờ Nam Phong cho Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Quỳnh cũng không được yên tâm lắm. Và, như người ta đã biết, Nguyễn Tiến Lãng làm chủ bút Nam Phong được mấy tháng thì tờ báo bị đình bản. Những tác phẩm chính Nguyễn Tiến Lãng để lại gồm trên một chục cuốn gồm sáng tác, tiểu luận văn học, nghiên cứu, phiên dịch. Các bản dịch ca dao Việt Nam, truyện Hoa Tiên, các cổ tích như Thiếu Phụ Nam Xương, Tú Uyên Giáng Kiều, Từ Thức Giáng Hương, sang tiếng Pháp của ông, được người Pháp cho rằng “đã hội tụ được cả âm điệu lẫn hình ảnh trong thơ” và “chuyên chở được cả những tình cảm cao thượng lẫn tiết tháo của tâm hồn Việt Nam”.

Gơogle images edited by AI

Nghe nói những bài luận bằng tiếng Pháp Nguyễn Tiến Lãng viết khi ông còn là một học sinh trung học, đã được thầy dạy Pháp văn của ông ở trường Bưởi trao cho toàn quyền Robin đọc. Robin cảm mến tài năng của Nguyễn Tiến Lãng, cấp học bổng cho ông vào học tại Lycée Albert Sarraut, rồi sau bổ nhiệm ông làm bí thư. Trong một cuộc thi viết truyện ngắn do báo Indochine tổ chức năm 1932, truyện Eurydice của Nguyễn Tiến Lãng đã đoạt giải nhất, trong khi chính thầy dạy Pháp văn của ông được giải nhì.

Tuy được viết từ thập niên 30, truyện ngắn Eurydice của ông, đã được chính Nguyễn Tiến Lãng dịch sang tiếng Việt, dưới cái tên Tình Xưa, ngày nay đọc lại vẫn thấy mới.

Tác phẩm sau cùng của ông cuốn Les chemins de la revolte, xuất bản tại Pháp, được trao giải thưởng văn chương Silvio Pellico, dành cho những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của những tù nhân chính trị dưới bất cứ chế độ nào. Tuy các nhân vật đều có tên riêng, nhưng người ta có thể nhận ra không mấy khó khăn rằng Phủ Doãn Lê Văn Nguyên và Thượng Thư Trần Phạm chính là hóa thân của Nguyễn Tiến Lãng và Phạm Quỳnh, cả hai người đã trải qua biến cố 1945 như thế nào và họ đã bị cộng sản bắt ra sao.

Ở các trang 36-37 của cuốn sách, Nguyễn Tiến Lãng kể lại cảnh cha con gặp nhau lần cuối trong sân nhà tù như sau:

“Chàng nhìn ông và hỏi: Thầy có đau lắm không? Ông bị đau bao tử, ở nhà, mỗi khi bị dạ dày hành cứ hai tiếng lại phải uống thuốc. Trần Phạm bình thản trả lời: Ô, không. Rồi ông đưa mắt nhìn vị Tổng Đốc Quảng Nam. Hai người là đối thủ kịch liệt về chính trị nhiều năm nay. Và bây giờ họ gặp nhau trong cái sân tù này. Họ chỉ trao nhau một ánh mắt. Rồi một người nhìn trời; người kia, đôi mắt vô cảm chăm chăm hướng về một thân cây cằn cỗi ở cuối sân trước khi quay nhìn về phía con trai – người con trai duy nhất. Chiều tái ngắt”.

Những khám phá, chỉ dẫn về ý nghĩa cuộc sống, về những vật dụng quanh ta, Nguyễn Tiến Lãng viết trong các đoản văn của ông, cho thấy ông có một sự hiểu biết sâu xa về nhân sinh, một tâm hồn tế nhị, nặng lòng với quê hương đất nước và thơ mộng biết bao. Chỉ cần đọc đoản văn ông viết về “cây nêu” trong ngày Tết cổ truyền của chúng ta, hay ít dòng trong bài tựa truyện Mai Lĩnh của ông đủ thấy rõ những điều đó:

“Mai Lĩnh, đồi mơ, nằm giữa giải Oan Tuyền và cửa trời Vân Song trong vùng Hương Tích, gần nơi tôi chào đời. Mai Lĩnh! Ta lấy tên mi đặt cho tập văn viết thuở thiếu thời. Đồi ơi! Mi có biết khi mới rời ghế nhà trường, tâm hồn ta chỉ thiết tha một giục giã lên đường, một khát vọng tìm những

chân trời khác, một tình yêu những bến bờ xa lạ. Rồi ta đã đi khắp mọi vùng đất nước để tái tạo hồn Việt trong ta. Trên hành trình tư tưởng và con tim này, lối đi huyền thoại và đường mòn cổ tích đã dẫn ta về làng, dẫn đến những người thân đã mất, dẫn đến ngọn đồi Mai Lĩnh mà ngày trước năm nào ta cũng dạo chơi.

Ta ngắt bên đường những đóa cổ tích xưa, những mẩu truyện tưởng tượng hay đã sống thời này. Có những truyện viết đã ba mươi năm, hay sớm hơn nữa. Thời đó, ta thường nói với các bạn: ‘Hạnh phúc thay cho kẻ nào trong chúng ta viết được tác phẩm sâu lắng, chạm đến hồn người, khiến khi

gấp sách lại, người đọc ngoại quốc sẽ còn như vẳng nghe tiếng thầm bên tai: An Nam ta đã mở lòng đón bạn, vậy bạn hãy dang tay chào đón nước Nam này”.

Ông Phạm Quỳnh bị cộng sản thủ tiêu. Ông Nguyễn Tiến Lãng được cộng sản tha khỏi tù, sau đó, ông đi Pháp, dạy học rồi làm công chức trong Bộ Giáo Dục Pháp.

Ông mất tại Antony, ngoại ô Paris năm 1976.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply