vietmessenger.com
Nguyễn Đình Toàn
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 12 Oct 2025

92. Trần Văn Khê
Nhà xuất bản Trẻ ở trong nước vừa cho ấn hành bộ Hồi Ký Trần Văn Khê. Sách được chia làm bốn tập và được đặt dưới bốn tiêu đề khác nhau.
Tập thứ nhất: Ươm Mầm Trổ Nụ
Tập thứ hai: Đất Khách Quê Người
Tập thứ ba: Bôn Ba Bốn Biển Năm Châu
Tập thứ tư: Một Gánh Nhạc, Một Cuộc Đời
Tổng cộng sách dày trên 1500 trang.
Ông Trần Văn Khê đã kể lại từ thời thơ ấu cho tới lúc ông qua Pháp du học, đậu tiến sĩ và trở thành giáo sư tại đại học Sorbonne, một trong những trường đại học danh tiếng nhất của nước Pháp. Như tác giả cho biết, ông sinh ra trong một gia đình có bốn đời nhạc sĩ. Bốn đời là kể đến ông thôi. Thực tế phải kể thêm các con và các cháu nội ngoại của ông nữa là sáu đời. Bởi vì riêng trưởng nam của ông, nhạc sĩ Trần Quang Hải, hiện đã là một trong những nhạc sư danh tiếng trên thế giới rồi. Về bản thân, Trần Văn Khê cho biết, ông được học nhạc từ lúc còn ở trong bụng mẹ, ông gọi là giáo thai.
Cũng theo ông, nếu không nhờ người cậu thứ Năm và thân mẫu thực hiện việc giáo thai bằng âm nhạc, chưa chắc ông đó được ngọn lửa tình yêu âm nhạc nung nấu trong lòng như ngày nay. Có thể nói ông Trần Văn Khê là một trong vài người Việt Nam bình thường, nghĩa là không từng giữ một chức vụ chính trị nào, nổi tiếng nhất, nhờ công việc nghiên cứu và giảng dạy nhạc cổ truyền dân tộc [và có thể nói, nhạc của cả vùng Đông Nam Á nữa]. Không những ông nổi tiếng trong nước, còn có thể nói, trong địa hạt chuyên môn, ông được cả thế giới coi như bậc thầy. Quả thật, theo dõi tập sách, người ta không thể nhớ hết những hội nghị, các viện đại học, âm nhạc, ông đã được mời tham dự, thỉnh giảng và được tôn kính như thế nào.

Trong lời tựa của tập sách, Trần Văn Khê viết:
“Trải qua bao nhiêu thăng trầm, tôi thấu hiểu rằng có tài năng thiên phú chưa đủ mà còn phải luôn học hỏi, trau dồi, luyện tập công phu mới đạt được kết quả tốt cho công việc.
Trong những hoàn cảnh khó khăn, tôi luôn cố giữ sáng suốt để nhận chân sự việc, cùng với ý chí quyết tâm thì khó khăn đến đâu cũng sẽ vượt qua, gặp cảnh buồn cũng đốt tan thành sầu, dập tắt lửa muộn để tìm được niềm lạc quan. Trong mọi việc làm thì không vì danh hay vì lợi mà chỉ vì tình, tình đổi với người thân, với dân tộc, đất nước và rộng hơn nữa là với nhân loại”.
Đọc trên dưới một ngàn trang sách, đôi lúc độc giả có cảm tưởng như đọc một bộ tiểu thuyết có đủ vui buồn, gay cấn, hấp dẫn. Cái hấp dẫn nhất là người ta biết chắc đây là một nhân vật có thật, những chuyện xẩy ra đều là chuyện có thật. Các tình huống éo le, khó khăn luôn kết thúc một cách tốt đẹp, nhờ sự uyên bác khéo léo của tác giả. Ngoài sự uyên bác ông còn có tài hùng biện. Rất nhiều các nhân vật hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trên địa hạt văn hóa của quốc gia họ, đã nhờ có ông mà hoàn tất được vai trò đó và trong vài trường hợp, nhờ sự cố vấn của ông, họ đã giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn bế tắc, giải quyết một cách êm đẹp, đôi khi bảo
vệ được cả tự ái dân tộc của họ nữa.
Có thể nói, ông là người thứ nhất, đã hệ thống hóa được nền âm nhạc cổ truyền của dân tộc một cách khoa học đồng thời đem rao giảng, truyền bá, làm cho thế giới biết tới giá trị đích thực của nó, vừa yêu mến vừa kính nể.
Riêng về các nhạc cụ Việt Nam, ông Trần Văn Khê cho biết:
“Nhạc cụ Việt Nam đa dạng và phong phú có đôi nét đặc thù mà chúng ta nên lưu ý. Hình dáng thanh nhã và cân đối, âm sắc khác nhau, tiếng thổ đàn kìm, tiếng kim đàn tranh, tiếng mộc nhịp phách, tiếng tơ đàn tỳ, tiếng đá biên khánh, bồi âm đàn bầu, hợp âm đàn đáy, nhưng nếu được chọn để hòa hợp, bổ sung cho nhau rất nhuần nhuyễn.
Cố giáo sư Emile Leipp, chuyên gia thanh học đại học Paris, sau khi nghiên cứu một số nhạc cụ Việt Nam đã ngạc nhiên nhận xét rằng: ‘Dưới các dạng đơn sơ, nhạc cụ Việt Nam có hiệu quả và năng xuất rất cao trong lãnh vực thanh học và khả năng biểu diễn”.

Tất cả các năng xuất và khả năng ấy của nhạc cụ Việt Nam, đã được ông Trần Văn Khê, trong khi giảng dạy hoặc thuyết trình tại các hội nghị âm nhạc đề cập, dẫn chứng, và công việc minh họa của ông đã trở thành các cuộc trình diễn thuyết phục đối với các sinh viên, giáo sư, các nhà nghiên cứu âm nhạc khắp thế giới.
Sau đây chúng tôi xin trích dẫn một đoạn, trong tập 3 của cuốn hồi ký, các trang 133-134, điển hình cho các công việc của tác giả: “ … tôi được mời nói chuyện mấy buổi về âm nhạc Việt Nam có cả phần minh họa trên đài phát thanh Budapest. Giáo sư Kroo – nhà nhạc học Hungary, giáo sư tại Hàn Lâm Viện List cũng là giám đốc chương trình âm nhạc đài phát thanh Budapest nói rằng tôi dạy trong lớp chỉ có vài trăm người nghe, còn ở trên đài thì những điều tôi nói sẽ có cả triệu người nghe.
Tôi hào hứng nhận lời và trong phần kết luận tôi nói:
“Trong 45 phút vừa qua, chúng tôi mới chỉ trình bày sơ lược về các thể loại âm nhạc, giống như mời các bạn ngồi trên máy bay đi một vòng nhìn xuống nước Việt Nam. Các bạn không thể dừng lại nơi nầy nơi nọ để ngắm xem các loại kỳ hoa dị thảo, chưa được nghe câu hò tiếng hát trong dân gian, những làn điệu hát chèo, hát tuồng trong truyền thống chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. Các bạn cũng chưa thưởng thức nhạc thính phòng của Việt Nam. Xin hẹn một lần khác khi có dịp chúng tôi sẽ đi sâu hơn vào mỗi loại. Nghe vậy ban biên tập đài phát thanh nhờ giáo sư Kroo đến gặp tôi chuyển lời mời của họ:
Sẵn dịp có mặt tại Budapest, giáo sư có bằng lòng nói thêm hai buổi nữa về âm nhạc dân gian và âm nhạc bác học trong truyền thống âm nhạc Việt Nam không?
Lẽ tất nhiên tôi rất sẵn lòng”.
Tập hồi ký của ông Trần Văn Khê có đủ chuyện vui buồn hấp dẫn như một bộ tiểu thuyết. Sau đây là một đoạn tác giả kể lại chuyến tham dự liên hoan âm nhạc của ông tại Testour, một đô thị của Tunisie, do những người Á Rập rời khỏi Tây Ban Nha sang lánh nạn rồi xây dựng từ thế kỷ thứ 17.
“Trong liên hoan có một buổi hội thảo về nhạc cụ, nhạc khí Ả Rập, nhân dịp này tôi nói chuyện về sự di chuyển của một nhạc khí.

Chẳng hạn như đàn barbat truyền thống của Ba Tư đã theo con đường tơ lụa ngày xưa du nhập sang các nước Đông Á, được các nước xử dụng và phát triển thành một phong cách mới. Đờn này sang Trung Quốc dưới dạng Pipa, rồi qua Việt Nam trở thành tỳ bà, đến Nhật Bản biến thành bốn năm loại Biwa khác nhau, vào Triều Tiên thì do không phù hợp nên Tang pipa chỉ được xử dụng một thời gian ngắn rồi bị mai một”.
Phải nói, những người đọc sách của ông Trần Văn Khê được biết thêm nhiều thứ liên quan tới âm nhạc, không phải chỉ âm nhạc dân tộc mà còn liên quan tới âm nhạc của nhiều nước trên thế giới, kể cả sự cảm thông giữa các dân tộc qua âm nhạc mà người ta thường được nghe mệnh danh là một ngôn ngữ quốc tế.
Ông Trần Văn Khê kể tiếp:
“Ấn tượng nhứt trong dịp này là lần tôi gặp gỡ phái đoàn của Syrie gồm những sinh viên trường nhạc và các nhạc sĩ rất trẻ, tuổi chỉ từ 17 đến 25. Những bạn trẻ này đờn rất hay với tất cả những nhiệt tình say sưa. Trong buổi giao lưu, tôi đờn tranh điệu ‘sa mạc’, ngâm bài thơ ‘Anh Khóa mà nội dung mô tả tâm sự bi thương của một thiếu phụ vắng chồng. Người chồng từ giã gia đình lên kinh đô thi Hương, thi Hội, những mong sau khi bảng hổ đề tên, công danh đắc lộ, thì ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau.
Người vợ ở lại nhà thay chồng nuôi mẹ già và gánh vác luôn bổn phận người cha đối với con trai. Nỗi nhớ nhung, mong đợi đã khiến nàng sầu não, tự ví mình như con ve, sống mòn mỏi qua ngày chờ đợi dáng người chồng thân yêu biền biệt không biết bao giờ mới trở về.
Khi tôi dứt lời ca, mọi người trong đoàn Syrie đều chảy nước mắt, có bạn bật khóc nức nở bỏ chạy ra ngoài”.
Ông Trần Văn Khê cho biết, sở dĩ các bạn trẻ Syrie xúc động như vậy vì điệu sa mạc của Việt Nam có âm điệu ray rứt, buồn bã, tương đồng với nhạc truyền thống của Ả Rập, do áp dụng một quãng ba trung bình giữa trưởng và thứ, giống như quãng ba Zalzal của truyền thống Ả Rập, mặc dầu họ không hiểu hết lời thơ, ý nhạc của Việt Nam.
Qua nhiều trạng huống, ông đã chinh phục được lòng yêu mến, ngưỡng mộ của rất nhiều tầng lớp người nghe của nhiều quốc gia khác nhau, gặt hái sự thành công bằng cả những giọt nước mắt xúc động, nghĩa là lòng ái mộ sâu xa nhất, không phải chỉ riêng đối với âm nhạc cổ truyền Việt Nam mà ngay cả đối với nền âm nhạc của chính nước họ nữa. Thượng đế đã ban cho ông nhiều ưu điểm.
Nhưng cũng phải nói cái tài, cái học của ông, còn do chính công lao của ông hun đúc nên. Ông cũng tự nhận ông là người may mắn. May mắn vì suốt đời ông đã được theo đuổi và làm công việc ông ưa thích. Đó là cái may mắn, với hoàn cảnh như đất nước chúng ta trong suốt gần nửa thế kỷ qua, chỉ một vài người có được. Ông cũng nói, ông có thái độ chính trị chứ không làm chính trị, không đứng về phe nào cả. Nghĩa là, ông không đứng về phe quốc gia hay cộng sản. Ông làm việc chỉ để phục vụ văn hóa, đồng bào và nhân loại thôi. Có lẽ ông là người Việt Nam duy nhất có thể tìm ra cái chỗ đứng ấy, kể từ 1945 đến giờ! Thực tế, ông đã nhiều lần tỏ rõ lập trường của mình.
Một thí dụ cụ thể là khi ông về nước, được ông Trần Văn Hương, với tư cách là Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đề nghị trao tặng huân chương Chương Mỹ Bội Tinh hạng nhứt mà ông gọi là của Chánh Phủ Sài Gòn, ông không muốn nhận vì “không muốn có quan hệ gắn bó gì với Chánh Phủ Sài Gòn”.
Ông viết trong cuốn hồi ký, “nếu trong buổi lễ, họ ghi là xét rằng tôi có công với chính phủ chắc chắn tôi sẽ phản đối ngay, vì danh không chính, ngôn không thuận”. Ông cho biết trong buổi lễ, ông có phần nhẹ nhõm khi nghe nội dung ghi trong quyết định trao tặng huân chương:
“Xét vì giáo sư Trần Văn Khê suốt trong nhiều năm ở hải ngoại, đã đem tiếng nhạc Việt Nam đến khắp nơi trên thế giới, gây được cảm tình của rất nhiều người trên thế giới đối với dân tộc và âm nhạc Việt Nam”.
Đó là lý do ông nhận các huy chương.
Ông kể tiếp:
“Trong lời phát biểu, tôi tránh không cảm ơn Chánh Phủ và Tổng Thống là người đã ký tên trong bảng huân chương, ‘các bạn tôi’ đều e ngại khi nhận ra điều đó. Theo đúng nghi thức đáng lẽ tôi phải tới bắt tay cảm ơn ông Hương và từng người trong Hội Đồng Chánh Phủ, nhưng tôi chỉ nghiêng đầu chào mọi người rồi trở về chỗ ngồi. Thật bất ngờ, các quan chức thấy vậy liền đứng dậy đi tới bắt tay tôi” [tập 3, trang 19]. Ở trang 189 cùng tập, ông Trần Văn Khê nói về việc ông cùng phái đoàn chuyên gia về âm nhạc học và Hội Đồng Quốc Tế Âm Nhạc sang Mỹ họp và được Tổng Thống Mỹ lúc bấy giờ là ông Lyndon B. Johnson mời vào Tòa Bạch Ốc uống trà.
Ông cảm thấy khó xử, e thẹn đối với những người “bạn” của mình đang hy sinh tánh mạng trên chiến trường. Về buổi thuyết trình có minh họa với đề tài “Âm nhạc trong đời sống của người Việt Nam” tại Los Angeles, ông
Trần Văn Khê kể tiếp trong cuốn Hồi ký như sau:
“Trước khi đánh trống, tôi nói thêm rằng, giờ phút này máy bay Mỹ có thể đang giội bom trên đất nước tôi. Một số thanh niên Việt Nam và cả thanh niên Mỹ cũng có người đang chết.
Vì vậy, tôi mong muốn buổi nói chuyện này mang tinh thần kêu gọi hòa bình cho đất nước Việt Nam để có sự hữu nghị thực sự giữa hai dân tộc”.
Sự uyên bác của ông Trần Văn Khê trong lãnh vực âm nhạc là điều giới chuyên môn cả thế giới công nhận.
Ông cũng đã mang tất cả tài sức, sở học ra để làm rạng danh xứ sở, làm cho thế giới biết đến âm nhạc Việt Nam, văn hóa Việt Nam.
Ông tự xác định là một người tự do, không dây dưa gì đến chính trị.
Nhưng ông cũng nhiều lần khẳng định ông không muốn có một sự liên hệ nào với chính phủ miền Nam. Ông trách người Mỹ ném bom trên đất nước Việt Nam. Không biết có bao giờ ông tự hỏi, vì sao có cuộc chiến tranh, để bom đạn phải đổ xuống đất nước? Và đó cũng là lý do, nhiều người, nhất là những người sống ở miền Nam [trong đó có cả gia đình ông] không làm sao có thể hoàn toàn chia sẻ sự hãnh diện dù cho việc làm của ông có mang lại.
Thật là một điều vừa đáng buồn vừa đáng tiếc.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.