Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

Đời Mới xuất bản 1974

Post by Sơn râu 11 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu

20. Mấy Ông Nhà Xuất Bản Của Tôi

TÔI đáp máy bay từ Caracas đi Ba Lê với một chiếc va li đựng ba kí rưỡi trang giấy đánh máy. Vé khứ hồi mua chịu. Tôi quá nôn nả tiếp xúc với nhà xuất bản nên có thể sẽ phải đương đầu với cảnh sát ở phi trường Orly. Mong sao người ta không bắt tôi lại để tống đạt và bảo tôi ký lệnh cấm lưu trú suốt đời ở Ba Lê! Trong trường hợp tôi phải đi xin xỏ ở tại một văn phòng thê thảm một giấy phép lưu trú, thật là chán chết. Sau ba mươi tám năm, chắc hẳn tên tôi không còn trên danh sách những người cần phải theo dõi.

Số 8 đường De Nesle, Nhà Xuất bản Jean Jacques Pauvert. Từ Caracas, một đô thị với những đại lộ rộng lớn hiện đại, tôi đến đây đi vào một con phố hẹp, bẩn thỉu, một tòa nhà loang lổ. Sân nhà cũng tồi tàn như con đường. Những tảng đá lớn, những tảng đá của những đường phố Ba Lê cách đây một trăm năm, một cổng lớn dành cho các xe độc mã, song mã vào ra thời trước. Chưa kể mỗi lần đi ra, phải tính rất sít sao. Một tầng lầu cao phải leo lên, một cầu thang với những bậc cấp đã cũ kỹ, thật chẳng khác nào cổng vào phòng tối trong nhà tù ở Caen. Trời! Nhà xuất bản Pauvert có một bộ mặt không làm cho mình vững tâm chút nào.

Mặc dù tôi tự bảo đây là khu phố cũ kỹ nhất của thành phố Ba Lê, và có cả đống thằng có bộ óc đầy kiến thức mỹ thuật hay nói đúng hơn, những thằng không phải tụi ấy, sẵn sàng chết để không ai động đến một viên đá ở đây. Nhưng đối với một thằng từ Nam Mỹ sang với một quả bom hy vọng trong tay, khung cảnh này không có vẻ gì là “đại tư bản” hết.

Tuy nhiên, ở từng lầu nhất, khung cửa khá đẹp, đánh xi cẩn thận, một khung cửa mênh mông như của một văn phòng chưởng khế tỉnh lẻ. Phía trên, hàng chữ bằng đồng bóng lộn: Jean Jacques Pauvert, nhà xuất bản.

Cửa mở bằng cách bấm nút. Trong nhà này, người ta không sợ kẻ trộm. Thật ra trong cái hang này chỉ có giấy mà thôi. Dù sao, tụi mình mở cửa cũng gây thêm chút tự tin.

Tôi đã cẩn thận báo trước bằng điện thoại:

– Allô! Ông Castelnau? Đây là Charrière.

– Kìa! Ông điện thoại từ Caracas phải không?

– Không, tôi đang ở Ba Lê.

– Hay quá!

Ông ta không thể tin nổi và mời tôi đến trong buổi chiều.

Bên trong cửa, hai người đang chờ, trên đùi có tập bản thảo. Sau khi cô thư ký mời tôi ngồi, một bà già nghiêng mình về phía tôi nói: “Tôi mong ông không gấp lắm, vì tôi đã chờ một lúc lâu rồi”.

– Không, tôi không gấp.

Một phút sau:

– Ông Charrière, gặp ông ở đây thật không tin nổi!

Một người khoảng 40 tuổi, dáng dấp còn trẻ, tươi cười, khuôn mặt dễ thương, gầy như một cây đinh. Ông ta như đang bơi trong bộ quần áo đã trải qua nhiều mùa mưa nắng.

Ông ta tự giới thiệu:

– Jean Jacques Castelnau. Ông cười, nói tiếp: – Quả thật, không thể tin được! Tôi chờ đợi tất cả, trừ việc gặp ông tại đây.

Ông ta nhã nhặn, vui vẻ kéo tôi lại văn phòng. Văn phòng được sưởi ấm, khắc khổ, nhưng trang hoàng đẹp mắt bằng một tủ đầy ắp sách và đủ loại tranh vẽ cùng giấy quảng cáo dán trên bốn bức tường.

– Tôi hết sức ngạc nhiên được gặp ông ở đây. Xin lỗi ông, sau khi gửi thư đi, tôi trông đợi các tập vở kia chứ quả thật không trông đợi ông.

– Ông ngạc nhiên vì một người bị phá sản đã đi từ Caracas chỉ vì một bức thư không ràng buộc gì ông hết, phải vậy không?

– Vâng, quả vậy, ông vừa nói vừa cười, tôi xin thú nhận.

– Ông thấy không, tôi bị phá sản, đúng vậy, nhưng tôi vẫn trả tiền thuê nhà và tiền điện thoại.

– Điều quan trọng là ông đã đến đây. Chắc Jean Jacques sẽ bằng lòng lắm. Ông có đem tập bản thảo chứ? Đã viết xong hết chưa?

– Có bản thảo đây. Đã xong và đầy đủ.

– Có đây không?

– Không, ngày mai tôi sẽ đem đến. Hôm nay chỉ để tiếp xúc xã giao.

Chúng tôi nói chuyện một lúc thì một người trẻ cao lớn, đôi mắt trong sáng, nụ cười dễ mến bước vào: “Xin giới thiệu Jean Castellin” Castelnau nói.

– Hân hạnh. Tôi là Henri Charrière. Ông trùng tên với một tên tù trong sách tôi. Không phiền chứ?

– Không bao giờ, anh ta cười nói. Tôi đã đọc các đoạn trong sách ông và thấy rất hay. Xin mừng ông.

Anh ta đi ra. Chúng tôi nói chuyện thêm một lúc nữa, rồi tôi đứng lên:

– Hẹn ngày mai.

– Sao, chúng ta đi ăn với nhau chứ?

– Xin cảm ơn ông, ngày mai vậy.

– Ngày mai gặp lại, với các tập vở.

– Với tất cả các tập vở.

Tôi về nhà cháu Jacques ở ngoại ô. Nó biết Ba Lê như túi áo của nó và có ý kiến khá xác thực về giới văn chương vì nó làm việc cho báo Paris Match. Nó cũng là một nghệ sĩ. Nó đợi tôi với Jacquelinne, người vợ khả ái của nó, làm nghề trang trí và hai đứa con gái, trong một biệt thự xinh xắn có vườn chung quanh.

– Thế nào, cậu? Jacques hỏi khi tôi vừa khép cửa lại.

– Thế này… và tôi kể lại cho nó nghe. Thằng cha Castelnau, dễ thương hết sức, vân vân.

– Còn Pauvert?

– Cậu không gặp.

– Cậu không gặp ông ta?

– Ừ không!

– Theo cậu, như vậy là triệu chứng tốt hay xấu?

– Theo cậu nghĩ, người điều khiển việc xem các bản thảo và quyết định trước tiên là Castelnau. Thằng chả chắc làm việc theo kiểu các nhà doanh nghiệp Hoa Kỳ.

– Cậu muốn nói gì?

– Như trong tất cả mọi dịch vụ, mọi đề nghị đều được các cộng sự viên xem xét cẩn thận, rồi trình bày các lý do khiến họ xin chấp thuận cái này cái nọ, một tác phẩm hoặc một kiểu vòi nước mới. Và cuối cùng lão chủ lớn quyết định. Vì hắn chưa hề tiếp xúc với cậu, chưa đi ăn, đi nhậu, nghĩa là chưa có dịp quen biết cậu, vì hắn chưa phát biểu một lời khen hoặc một sự phấn khởi nào, nên khi hắn quyết định là mình đến máy chém rồi: chặt đầu hay thoát chết. Rồi sau đó hắn bắt đầu phân bua: “Ông hiểu cho, không có gì đặc sắc, mấy anh cộng sự viên của tôi bốc đồng nhanh quá, vì không phải họ trả tiền nên họ không thiệt gì hết, nhưng tôi thì khác. Bây giờ, có lẽ chúng ta có thể thử xem lại, dĩ nhiên là nếu ông chịu làm việc với chúng tôi với những điều kiện khiêm nhường hơn”. Thằng cha Pauvert, chắc là một thằng như vậy.

– Cậu quá chán đời!

– Trái lại, cậu rất sành tâm lý cháu ạ. Bởi vì, cậu nói cho cháu biết: Khi một anh già như cậu, đã sống trong địa ngục như cậu đã sống, nay trở về, vượt 12.000 cây số bằng máy bay để đưa cho cháu những trang giấy kể lại những nỗi khổ ải, nếu trong bụng cháu còn có một ít tình cảm, một ít nhân ái, dù cháu có bận gì đi nữa, cháu cũng đều nói một lời chào đón, chỉ một lời thôi. Hắn không đến, thế thì không cần phải rọi kiếng làm gì cho mệt, ruột gan của hắn đã rõ ràng: giống như một số doanh nhân Hoa Kỳ, tiền của hắn chỉ đập theo nhịp kim tiền. Cháu tin như vậy đi.

Nghe tôi nói như vậy, vợ chồng Jacques cười ngặt nghẽo.

Tôi thức dậy sớm để có mặt đúng mười giờ ở Ba Lê.

Tôi mang theo 620 trang của tập bản thảo đánh máy. Xe tắc xi để tôi ở góc đường De Nesle và đường Dauphine, và tại chỗ ấy, trên lề đường, trước một quán nước, có Jean Jacques Castelnau.

Anh ta mặc áo choàng ấm, như thế phải lắm vì trời khá lạnh, mà gầy như anh, không có mỡ để che chở. Anh tiến về phía tôi:

– Ồ, ông đã đến! Chúng ta đi uống cà phê nhé?

Phải chăng anh ta chờ tôi trên lề đường? Rồi sẽ biết!

– Từ hôm qua đến nay, khỏe chứ, ông Castelnau?

– Cảm ơn ông. Tập bản thảo trong chiếc va li nhỏ ấy phải không.

– Vâng.

Người ta đem ra hai tách cà phê.

– Ông cho phép, tôi xin liếc qua một chút?

– Vâng (thằng chả nôn nả lắm, hẳn thích rồi).

Chiếc va li nhỏ bằng vải nằm trên bàn quán nước, khóa phét mơ tuya đã kéo ra.

Và anh chàng Castelnau vui tính, khả ái, nhã nhặn để mặc tách cà phê nguội hẳn, cặp mắt nhà nghề của anh lướt nhanh trên các trang giấy, hết đoạn này đến đoạn khác. Tôi nhìn anh. Khuôn mặt đăm chiêu, cặp mắt hơi nhíu lại, căng thẳng. Thằng chả đã quên tôi rồi. Đây là triệu chứng tốt.

– Thế này, anh Charrière, hôm nay là thứ năm, tôi sẽ đọc tập bản thảo dày cộm này trong ngày nghỉ cuối tuần rồi thứ hai anh đến gặp tôi, tôi sẽ cho anh biết chúng ta phải làm gì. Khỏi phải nhọc công leo lên văn phòng tôi, chúng ta đã nói những gì cần nói rồi. Đồng ý?

– Tốt lắm.

– Bây giờ chào anh và hẹn thứ hai.

Anh ta nói những điều trên với một thái độ cởi mở, một nụ cười khả ái, một ánh mắt thẳng thắn trẻ trung trong lúc anh kéo phẹt mơ tuya chiếc va li nhỏ bằng vải, nhận lãnh chiếc va li ấy, thản nhiên biểu tỏ anh nôn nả, rất nôn nả được một mình đọc tập bản thảo.

– Chào anh Castelnau, hẹn thứ hai.

Thằng cha dễ thương ấy đi theo đường De Nesle còn tôi thì đi ngược lên đường Dauphine hướng về phía đường ngầm Odéon.

Trời mưa phùn, tôi không lạnh vì có mặc áo choàng ấm và khá nhiều mỡ che bộ xương của tôi.

Nên đi tắc xi, như thế hay hơn đi xe lửa ngầm. Mãi đến lúc ngồi trên toa xe lửa ngoại ô, tôi mới nghĩ lại những gì vừa xảy ra. Cuộc sống nhộn nhịp trên các đường phố Ba Lê, nhìn từ xe tắc xi đã cướp hết tâm trí tôi.

Đáng lẽ hắn phải biên nhận cho tôi. Tại sao không, Papi nhỉ? Cuốn sách của mày không phải một bảo vật, nhưng dù sao người ta cũng có thể chép ra, tất cả hay một phần. Thằng cháu tôi có nói, hình như là trước khi đưa một tập bản thảo cho bất cứ ai, nên cẩn thận nạp bản tại Hội các nhà văn. Nhưng tôi không phải nhà văn! Vả lại, không ai có thể thay thế Papillon đã bị mười hai lão phụ thẩm đưa đi đày chung thân; không giống một nhà văn thứ thiệt.

Coi chừng, tại sao hắn không muốn mày leo lên lầu? Có thể hắn có một lý do nào đó. Papi, được rồi, phải đề phòng, đồng ý, nhưng đến mức đó thì quá chừng! Mày đã thấy khuôn mặt khả ái, lương thiện, vui vẻ của hắn rồi mà. Tôi có thấy, đúng, nhưng cái thằng Hoa Kỳ chở tôm hùm với khuôn mặt tròn như chị Hằng, dáng dấp hiền lành ngốc ngếch, cũng có vẻ một người lương thiện lắm chứ! Không, hắn chỉ muốn khỏi phiền mày leo cầu thang. Hẳn mong như vậy đã.

Dù sao chỉ hơn bốn ngày nữa là mày biết rõ. Một chuyện ghê gớm là thằng cha quan trọng nhất trong nhà xuất bản Pauvert sẽ đọc cuốn sách mày trong ngày nghỉ cuối tuần. Bao nhiêu tập bản thảo được cái may mắn ấy, nhất là do một người không tên tuổi? Hơn thế nữa, một tên cựu phạm?

Bốn ngày dài ghê. Hay là mày đi thăm cháu gái của mày ở Saint Priest?

Sáng hôm sau, tôi đáp máy bay đi Lyon. Phi cơ đông nghẹt người. Ngồi thiếu tiện nghi, tôi hút thuốc. Cạnh tôi một bà đọc tờ France Soir. Vì tôi từ chối tờ báo do cô tiếp viên đưa, nên tôi liếc sang để đọc những hàng tít lớn trên tờ báo của bà ngồi cạnh đã nhã nhặn vì tôi mở lớn tờ báo.

Trời ơi! Vô lý! Vô lý! Dưới tên ký Edgard Schneider, tôi đọc mấy chữ to tổ bố:

“Pauvert có ích gì cho công chúng không?”.

Tôi chỉ đọc được hàng tít, vì không đeo kính, kính tôi để trong áo choàng ấm, trong cái lưới trên đầu tôi. Vì tôi ngồi gần cửa kính ở hông máy bay, nên phải làm rộn hai người mới ra chỗ hành lang lấy được. Mọi người sẽ khó chịu, lại lâu lia nữa.

Vả chăng, thằng cha Pauvert có thể không phải là thằng Pauvert của tôi, cặp kính quá bự như vậy không phải là của một nhà xuất bản, mà có lẽ là một ông bộ trưởng.

Tuy vậy, tôi vẫn không đừng được.

– Xin lỗi bà, anh Pauvert này là ai vậy?

– Ông muốn xem tờ báo?

– Không, cảm ơn bà, tôi không có kính. Xin bà vui lòng đọc cho mấy chữ nhỏ.

Bà láng giềng của tôi đọc bằng một giọng bình thản:

“Jean Jacques Pauvert (không còn nghi ngờ gì nữa) có thể được chính các chủ nợ cứu khỏi tình trạng vỡ nợ”.

Cái mà nhà xuất bản ít khuôn sáo nhất Ba Lê gọi là một sự trục trặc tiến trình, thực ra là một lỗ hổng… đồng quan nặng, vân vân”.

– Cảm ơn Bà, cảm ơn nhiều. Tôi sẵn sàng nhận tờ báo sau khi bà xem xong, vì tôi muốn giữ lại bài ấy.

– Ông biết Jean Jacques Pauvert?

– Không, còn tệ hơn nữa kìa, suýt nữa là thứ hai vừa qua tôi làm quen với hắn.

Tôi nhìn thấy vẻ ngạc nhiên trên nét mặt bà ta, và chiếc Caravelle vẫn tiếp tục bay rất êm trong các đám mây trắng như bông gòn của tháng mười này.

Tôi có làm rộn mấy hành khách ngồi cạnh cũng mặc, vì quá xúc động tôi phải mắc tiểu.

– Xin lỗi bà. Xin lỗi ông.

Thay vì đứng để tiểu tiện, tôi ngồi bẹp trên bàn tọa của cầu tiêu. Ngồi một mình như vậy, tôi mặc sức suy nghĩ. Người ta vẫn đến lắc chốt cửa, tôi đếch cần, đi chỗ khác mà đái.

Bạn ơi, thế này thì thật là phá sản hoàn toàn. Mày sắp tìm ra một nhà xuất bản, như trong túi rồi, sự thật nó nằm trong đống cải su.

Đặc biệt hơn nữa, nó giữ tập bản thảo của mày.

À, ra vậy nên thằng chả có nụ cười tình, chờ mày trước quán nước và không muốn mày lên lầu!

Eo ơi, đáng lẽ mày phải linh cảm luồng gió thất bại này! Có lẽ trên lầu, một thừa phát lại đang tiến hành công cuộc tịch biên bàn ghế, máy móc. Vậy đó!

Tờ France Soir không phải là đồ bỏ. Nhờ nó mày có tin sốt dẻo! Và xin lỗi, không phải tin vớ vẩn! Tin đưa cả một vừng thái dương vào lòng mày đó!

Làm gì bây giờ? Lấy tờ báo của bà kia rồi về Ba Lê lập tức.

Lúc 10 giờ phi cơ hạ cánh xuống Lyon.

Lúc 10 giờ 20, tôi đến kho hành lý lấy chiếc va li.

Lúc 10 giờ 30, tôi đem nó gởi theo chuyến bay Lyon – Ba Lê.

Lúc 15 giờ, tôi xuất hiện tại chỗ tiếp tân nhà xuất bản Pauvert.

Lúc 15 giờ một phút. Không nhờ báo trước cũng không cần xin phép trước, tôi đột nhập văn phòng của Castelnau; tôi thấy hắn đang đọc tập bản thảo của tôi và đang bàn cãi về tập bản thảo ấy với Castelli.

Lúc 15 giờ 6 phút, tôi lặng lẽ cất tập bản thảo vào chiếc va li nhỏ bằng vải sau khi đã kiểm điểm lại đủ 620 trang.

Lúc 15 giờ 10 ngồi trước tách cà phê, Castelnau giải thích cho tôi nghe rằng không phải vì Jean Jacques Pauvert gặp rắc rối trong cơ sở mang tên hắn mà hắn không thể xuất bản sách tôi trong một chi nhánh nhà xuất bản của hắn, các chi nhánh vẫn lành mạnh như thường.

Lúc 15 giờ 15, tôi tuyên bố thẳng thừng với Castelnau rằng tôi không còn muốn biết gì về con người doanh thương quá khôn khéo ấy nữa.

Và đúng 15 giờ 20, chúng tôi quyết định cùng nhau đi ăn cơm tối ở nhà hàng La Coupole ngay hôm ấy, lúc 8 giờ.

Và tại đây tôi tìm thấy con người cao thượng nhất, hào hoa nhất, ngay thẳng nhất.

Lúc uống Whisky, tôi được biết chính anh Castelnau, là người đặc trách vụ Albertine Sarazin từ đầu;

Đến khi ăn sò, anh cho biết anh hết tiền và không còn làm ở nhà xuất bản Pauvert vì anh này không thể tiếp tục trả lương cho anh, anh chỉ lãnh một ít tiền, lâu về sau này;

Đến khi ăn cá dìa, anh nói Pauvert là bạn của anh nên anh đã để cho Pauvert ở khỏi trả tiền một căn nhà nhỏ trong sân, có phần hư nát, nhưng anh ấy sẽ sửa sang làm văn phòng, để anh ta có thì giờ quật lại đương đầu với tương lai;

Đến món bít tết, anh cho biết trên hết mọi việc, anh có năm đứa con tuyệt diệu, bốn gái một trai và một người vợ rất ngoan;

Đến món phố mát, anh tự cho còn may lắm vì chúng nó rất đễ thương và yêu nhau lắm;

Đến món tráng miệng, anh cho biết anh có mắc nợ chút ít, nhưng điều ấy không quan trọng, vì anh đã trả tiền học cho cháu và đã may sắm quần áo lạnh cho chúng;

Đến lúc uống cô nhắc, anh tin chắc trong vòng sáu tháng anh sẽ cho xuất bản sách tôi trong những điều kiện rất tốt đẹp.

– Anh sẽ bảo đảm như thế nào với tôi?

– Về phương diện vật chất, không có gì hết. Vấn đề là anh tin tôi, tin tuyệt đối. Anh sẽ không hối tiếc đâu.

À, thằng này muốn chơi trội mình! Hoặc nó là một thằng lưu manh quỷ quyệt, hoặc là…

– Tôi có thể đến nhà anh ngày mai không? Nếu được, lúc mấy giờ?

– Mời anh đến dùng cơm trưa, lúc 1 giờ. Được không?

– O.K.

Chúng tôi dắt nhau vào vài quán rượu. Hắn uống có hạng lắm, vẫn như thường, dễ thương, vui vẻ, đớp whisky rất thành thạo.

– Mai gặp lại, Jean Pierre.

– Hẹn ngày mai, Henri.

Lúc bấy giờ tôi không biết việc gì đã xảy ra: chúng tôi bật cười lớn, bắt tay nhau.

Tôi đến nhà cháu tôi vào lúc 1 giờ khuya. Bọn con nít đã ngủ.

– Cậu đó hả? Cháu tưởng cậu ở Lyon. Có việc gì vậy? Mọi việc trôi chảy hết chứ?

– Vâng, mọi việc đều trôi chảy. Nhà xuất bản của cậu, nói đúng thằng cha sắp trở thành nhà xuất bản, đang vỡ nợ.

Rồi chúng tôi cùng cười.

– Quả thật đời cậu không giống ai hết. Luôn luôn có chuyện bất ngờ xảy đến.

– Đúng vậy. Chúc chúng bây ngủ ngon.

Tôi nằm xuống và ngủ liền, không chút âu lo gì về số phận cuốn sách của tôi.

Tôi không thể giải thích tại sao, chỉ linh cảm như vậy.

Ngày mai sẽ hay. Đêm rất bình yên.

Ngày thứ bảy, đúng 13 giờ, tôi leo hai tầng lầu của một tòa nhà sạch sẽ, ở tại khu 6. Bậc cấp dễ bước lên, điều này đối với tôi rất quan trọng vì cặp giò tôi bị gãy ở Baranquilla; cầu thang có trải một tấm thảm tươm tất giúp người ta bước lên không trượt chân. Ngoài trời, vẫn còn mưa.

Jean Pierre làm chủ cả một bộ lạc, một bộ lạc dân da đỏ chính hiệu.

Hai bé gái, Olivia với Florence, mười tám, và mười sáu tuổi, rồi nghỉ một thời gian khá lâu trong “cơ xưởng Marianne”, vì vợ Jean Pierre tên Marianne. Tôi nhận thấy nụ cười hiền dịu và đôi mắt sáng ngời khi nàng nhìn mấy đứa nhỏ, ra đời sáu năm sau Florence, “Khi người ta không còn đợi chúng nữa”, tôi vừa nói vừa cười.

Một căn nhà rộng rãi, sạch sẽ và có phần sang trọng một vài bàn ghế cổ chứng tỏ một trong hai người hoặc cả hai đã có những bà nội thuộc giới thượng lưu. Vừa nói chuyện, tôi vừa để ý đến các chi tiết nhỏ nhặt.

Trong bữa ăn, tôi để ý đến hai điều rất quan trọng:

– Trong nhà Jean Pierre, mọi người biết giữ lễ độ, bọn con nít ăn không kém người lớn và hơn Papillon, ứng viên tác giả có sách bán rất chạy.

– Chiếc bàn hình tròn, nên mọi người trông thấy nhau rất rõ. Ra điều con gái ngoan, hai đứa lớn kín đáo giúp việc bưng dọn, đứa đi tìm cái này, đứa bưng dọn cái khác. Ba đứa bé tí quí cha chúng một cách rõ ràng và chỉ nói khi được cho phép, một chuyện rất hiếm. Vì Jean Pierre nói nhiều không kém gì tôi, và như vậy người khách khó chen vào một câu nào được.

Thằng cha Jean Pierre kể lại câu chuyện phát hiện Albertine Sarazin, sự thành công của nhà văn nữ ấy, lý do cùng cơ may trong việc giới thiệu ồ ạt một tác giả, các mối quan hệ với báo chí, đài phát thanh, các nhà phê bình. Tất cả tên tuổi của tất cả các nhà phê bình, với đầy đủ thành tích, giòng dõi vân vân tuôn ra nhẹ nhàng từ đôi môi nhà xuất bản tương lai của tôi, làm cho tôi hết sức thán phục.

Không khí lành mạnh, chủ nhà thông thạo nghề nghiệp những điều anh ta nói ra rất hợp lý, anh nói mà không hề lên giọng. Chúng tôi đồng ý bản thỏa ước như sau tại phòng khách của anh:

– Tôi trao cho anh cuốn sách cùng tác quyền của tôi. Anh cũng biết tôi viết để kiếm tiền, không có gì khác. Và anh biết tại sao.

Anh ta cười nhẹ:

– Không bao giờ người ta biết chắc chắn tại sao người ta viết một cuốn sách.

– Có thể, nhưng tôi thì tôi biết.

– Anh có thể tin.

– Chào anh nhé.

– Thôi chào anh.

– Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại.

Trên chuyến xe lửa ngoại ô đưa về nhà cháu tôi, trong tôi không còn chút hoài nghi, ngờ vực nào hết. Nhà anh ta rất lành mạnh rất sáng sủa, một người bê bối không thể có một gia đình như vậy. Thêm vào đó, anh là người khôn khéo vì trong hoàn cảnh nghèo rớt mồng tơi, anh đã sắp đặt để cho mái ấm gia đình có vẻ vững tin vào ngày mai và vào một cuộc sống yên lành của một gia đình khá giả.

Mười bốn giờ bay và giờ đây tôi đến Caracas.

– Em cưng! Anh chiến thắng trở về.

– Xong rồi hả? Người ta xuất bản sách của anh?

– Hơn thế nữa, người ta chuẩn bị cho anh một thành công huy hoàng.

Tháng 10, tháng 11, tháng chạp, cả một cuộc trao đổi thư từ giữa Castelnau với tôi. Anh ta nói cho tôi biết anh rất tôn trọng tập bản thảo, do những gì anh đã cảm thấy xuyên qua tập bản thảo ấy. Cảm nghĩ của anh ta rất đúng: “Về đến Caracas, chắc anh tự hỏi tất cả chuyện này phải chăng là một giấc mơ, một sự láo toét, vân vân… Không có vấn đề viết lại cuốn sách của anh thành một cuốn tiểu thuyết, nhưng chỉ sửa các lỗi về văn phạm, về chính tả, về chấm câu… Sách của anh có một ngôn ngữ riêng, ít khi thấy, không ai động đến, nó sẽ là cuốn sách của anh, xin anh đừng lo, vân vân”.

30 tháng giêng năm 1969: một bức điện tín: “Đại thắng. Khế ước đã ký với nhà xuất bản lớn Robert Latfont rất hứng khởi (chấm) Sẽ đích thân theo dõi việc giới thiệu ồ ạt cuốn sách (chấm) Thư tiếp sau. Jean Pierre”.

Và mặt trời đã về lại trong nhà cùng với bức điện tín trên.

Và mặt trời đã về lại trong lòng chúng tôi khi hay tin người ta chắc chắn sẽ xuất bản cuốn sách của tôi.

Và mặt trời đã rọi chiếu một cầu vồng hy vọng rực rỡ vì đây là một nhà xuất bản lớn, Robert Latfont.

Bức điện tín đến trong lúc chỉ có tôi và Rita ở nhà. Chúng tôi đang ngủ thì người phát thư gọi dậy lúc 10 giờ sáng (đêm qua chúng tôi đi ngủ lúc 6 giờ sáng sau khi quán rượu Scotch đóng cửa), chúng tôi đã ngủ lại với bức điện. Trước khi ngủ, chúng tôi đọc lại một lần nữa. Tôi nói:

– Chờ anh một phút nghe cưng.

Tôi gọi dây nói con gái chúng tôi ở Tòa Đại Sứ để báo tin mừng. Nó reo lên:

– Nhà xuất bản nào vậy? (Vì nó đọc sách nhiều lắm).

– Robert Latfont. Con biết chứ?

Giọng nói hết vui tươi đáp: “Con không biết nhà xuất bản này. Có lẽ một nhà xuất bản nhỏ, bởi vì thành thật mà nói, con hoàn toàn không nghe nói đến tên này”.

Tôi gác máy, có phần thất vọng vì con gái tôi không biết nhà xuất bản lớn của tôi.

16 giờ. Clotilde vừa về đến nhà, Rita đến tiệm uốn tóc. Nó đọc đi đọc lại bức điện.

– Robert Latfont, một nhà xuất bản lớn? Con chắc thằng chả phóng đại, vì con không biết nhà xuất bản ấy.

– Nhưng Castelnau đứng đắn lắm.

– Vô lý. Ở Tòa Đại Sứ, con có hỏi một con nhỏ bạn. Nó còn đọc nhiều sách hơn con, nó quả quyết: không biết Latfont. Con bạn người Pháp, dân Ba Lê nữa là khác.

Lạ thật.

Điện thoại reo.

– Anh Henri đó hả? Em, Rita đây. Đúng đó, một nhà xuất bản lớn.

– Sao, em nói sao?

– Tại đây, trong tiệm uốn tóc, có một tờ toàn báo cũ có in hình của cái nhà xuất bản của anh. Hình lớn.

– Em về ngay đi.

– Em làm tóc chưa xong.

– Về gấp đi cưng, chóng ngoan, ngày mai làm tóc cũng được!

Mười lăm phút sau, về mọi phương diện, đã được xác định rằng Castelnau không phóng đại khi nói: “nhà xuất bản lớn”.

Đó là do tạp chí Jours de France.

Trong một văn phòng sang trọng, hai người: Robert Latfont và nhà văn Bernard Clavel. Những bức hình lớn. Họ đang cười, đúng lúc lắm: Bernard Clavel, một tác giả của Latfont, vừa đoạt giải thưởng Goncourt kỳ thứ 63. Theo tờ báo, giải thưởng này đưa đến cho nhà xuất bản một số tiền lớn (càng hay, như thế nó sẽ có địa để xuất bản sách của tôi) và cho tác giả một tổng số tác quyền khoảng một triệu quan.

Tôi cũng được biết, anh Latfont này (trên bức hình anh ta giống một kép nhất) thành lập nhà xuất bản từ năm 1941. Đàng hoàng mà!

Tôi lại được biết, trước khi được giải Goncourt, Bernard Clavel đã nếm mùi thất vọng vì bị các nhà xuất bản từ chối và các nhà phê bình trề môi trước mấy quyển sách đầu tay của anh.

Thế là tôi thật hên! Tôi không bị các nhà xuất bản từ chối, tôi tìm ra một nhà xuất bản đặc biệt. Còn chờ xem hình thù miệng mồm của các nhà phê bình khi họ xem sách tôi. Mong sao nó đừng giống lỗ đít gà mái.

Tôi với Rita dứt khoát sắp Clotilde và bạn gái của nó vào hạng dưới mức trí thức, quá dốt nên mới không biết một nhà xuất bản quan trọng, vĩ đại như Robert Latfont, nhà xuất bản của tôi. Clotilde cười vui vẻ đồng ý rồi lập tức đem lồng hai trang tuần báo vào giấy nhựa treo trên tường phòng làm việc của tôi.

Ôi, ngày hôm nay đẹp quá! Hoan hô bức điện tín của Jean Pierre, hoan hô tờ tạp chí đã cho chúng tôi biết những điều cần thiết để chúng tôi hoàn toàn sung sướng.

Thế là tôi đã đi vào một thế giới mới lạ đối với tôi bằng cửa lớn.

Một bức thư của Castelnau yêu cầu tôi đến Ba Lê ở lại mười lăm ngày. Đồng ý với Latfont rất mong được biết tôi. Castelnau muốn, nếu tôi chấp thuận, chính tự tay tôi cắt bỏ một vài đoạn trong bản thảo vì quá dài và sửa chữa một đôi chỗ tôi kể không được hay lắm.

Tám ngày sau tôi đến, vào đầu tháng ba.

Castelnau đón tôi ở phi trường Orly. Vừa ăn trưa trong một tiệm ăn, anh trình bày những việc anh đề nghị với tôi: bỏ hẳn một vài chuyện rất hay tôi nghe kể trong tù.

– Tại sao?

– Bởi vì, Henri, đôi khi, trong mười hay hai mươi trang, anh kể chuyện một người khác và như vậy, trong hai mươi trang ấy, nhất là khi các chuyện ấy quá hấp dẫn, anh phá vỡ câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm của người mà độc giả đang hồi hộp theo dõi từng bước chân, người ấy là Papillon.

– Tôi hiểu: không nên có chuyện gì khác, ngoài Papillon. O.K.

Quả thật mỗi ngày mình học thêm được một sàng khôn. Khi viết quyển “Papillon” tôi tự nhủ: “Papillon, rồi lại Papillon, Papillon mãi, riết rồi người ta sẽ chán. Còn nếu thêm chuyện này, chuyện nọ, chuyện của người này, của người nọ, tính chất tạp bác của cuốn sách sẽ tăng, người đọc sẽ thích thú hơn”. Nhưng vì Castelnau và nhà xuất bản đã đồng ý bảo tôi cất đi, tôi làm theo không lôi thôi gì hết.

Tôi gặp Latfont tại văn phòng của anh ta và chúng tôi thân nhau ngay.

Anh ta đẹp như một người bốn mươi tuổi, kiểu “thần tượng”. Một người cẩn trọng, bình tĩnh, dáng điệu một nhà ngoại giao, nhưng người ta cảm thấy bên trong, lửa đam mê có thể bùng cháy mà không dễ dàng phát lộ thành pháo bông rực rỡ. Tóm lại, một nhân vật lớn, hào hoa phong nhã đang tiếp một anh đã bị tù đày, như một người bạn, và đã biểu tỏ mối cảm tình ấy một cách hết sức tế nhị, đã mời ăn trưa ngày hôm sau, thứ bảy, không phải ở nhà hàng, mà ở tại nhà rất trưởng giả của anh.

Không bao giờ tôi quên được bữa ăn ấy, bữa ăn đầu tiên hết sức đặc biệt đối với tôi, trong một ngôi nhà lộng lẫy ở bìa rừng Boulogne. Trong đời tôi chỉ biết môi trường giới chức tầm thường hoặc các nhà hàng hạng sang! Nhưng một khung cảnh và một không khí thanh lịch như thế này, tôi chưa bao giờ được biết.

Không phải vì vậy mà tôi bị chóa mắt, không thốt nên lời, vì tôi không đến nỗi quê như vậy, nhưng tôi vô cùng cảm động vì sự ân cần của vợ chồng Latfont ngay hôm sau ngày sơ ngộ.

Trong bàn ăn có Robert cùng gia đình, một chủ ngân hàng, vợ chồng Castelnau.

Robert nói về cuốn sách. Anh nói rằng anh quá thích đến nỗi bắt đầu đọc từ lúc nghỉ cuối tuần anh chỉ bỏ sách xuống trong đêm chúa nhật. Vợ anh thêm rằng trong hai ngày ấy anh không hề mở miệng và không ai đến gần anh được.

Trong bữa cơm ấy, tôi nhận thấy anh là một người trung thực, cao thượng, rộng rãi. Khác hẳn loại doanh nhân điêu xảo chỉ tìm cách làm sao phát tài là được.

Tôi không thể tả cho bạn đọc rõ tất cả vẻ đẹp, tất cả sự cảm thông và niềm xúc động của khoảnh khắc ấy. Nhưng tự bạn đọc cũng có thể tưởng tượng niềm phấn khởi của tôi khi tìm thấy một thế giới mới lạ, khác hẳn những gì tôi đã biết, chưa kể tôi đang trải qua một chuyển hướng đột ngột của đời tôi: thật tình tôi đang say sưa hạnh phúc.

Nói với một người có một quá khứ như tôi: “Anh không kém bất cứ một người nào, anh đáng được trọng nể như một người xuất chúng, anh xứng đáng được ngồi đây, cùng với gia đình tôi trong nhà này, anh rất hợp với nơi này, anh đến tôi rất sung sướng”. Nói mà không nói thành lời, mừng chỉ hiểu ngầm, không một lời khen tặng rẻ tiền làm cho mình bực bội hơn là hoan hỉ, không, không có gì cảm kích lòng người sâu xa hơn được.

Một điều bất ngờ đối với Latfont và Castelnau là trong câu chuyện, vấn đề tương lai và sự thành công của cuốn sách chỉ còn ở hàng thứ yếu. Sách tôi đã đem lại quá nhiều cảm giác kỳ diệu nên công sức của tôi được đáp ứng xứng đáng rồi. Đến nỗi tôi đã hăng say tấn công anh chủ ngân hàng, bạn của Robert, để thuyết phục anh cùng tôi mở ở Venezuela một cơ sở thương mại về tôm hùm.

Tôi cũng có làm quen với cô Françoise Lebert, người cao lớn niềm nở, tùy viên báo chí của Latfont. Nàng chưa kịp đọc tập bản thảo đã được đưa gấp đến nhà in. Tôi với Castelnau hẹn gặp nàng lúc 7 giờ ở nhà hàng La Coupole, để làm quen, và tại đây nàng đã dại dột nói thế này: “Anh nói qua cho tôi biết trong sách anh nói”. Chúng tôi ăn xong lúc một giờ rưỡi. Ngày hôm sau nàng điện thoại cho Castelnau: “Chưa bao giờ tôi được một buổi họp mặt tuyệt diệu như vậy, thành công nắm chắc rồi”. Triệu chứng tốt.

Tôi lên đường về Caracas, như một chiếc buồm căng gió.

Vì mãi suy nghĩ về tất cả những gì vừa xảy ra, tôi không nghe tiếng cô tiếp viên mời hành khách lên phi cơ. Chuyến bay ấy không có tôi. Phải chờ mười sáu giờ, điện cho Rita.

Trong mười sáu giờ ấy, khi thì ở quán cà phê, khi thì ở quán rượu, khi thì ở tiệm ăn phi cảng Orly, tôi hồi tưởng lại ba tuần lễ phi thường và ngắn ngủi ở Ba Lê.

Sau bữa ăn trưa tại nhà Latfont một bữa ăn trưa tại nhà một nhà trí thức lớn, Jean François Revel. Castelnau cho tôi biết, Revel là một trong những khối óc lớn của Ba Lê, văn sĩ tài danh, triết gia và gì đó nữa. Latfont đã đưa tập bản thảo của tôi cho anh ta đọc và anh ta cũng mê ngay. Đến nỗi anh định viết một cái gì về cuốn sách ấy.

Tôi xúc động khi đến thăm anh, tôi cũng xúc động khi biết ngôi nhà của anh, gia đình anh. Một ngôi nhà trên bờ sông Seine, sáng sủa, vui tươi, đầy sách và trong không khí phảng phất một vẻ gì khiến người ta cảm thấy ngay chỉ những ý nghĩ cao thượng mới có quyền ở trong nhà này.

Trong khi được vợ chồng Jean François tiếp, tôi không nhận họ có chút mặc cảm tự tôn nào. Họ không cho tôi được ngồi cùng bàn với họ, mà đã tiếp tôi như người thân, ngang hàng nhau.

Nhiều lần trong bữa ăn tôi đề cập đến sự “cải tạo”, sự “hồi phục danh dự” của tôi, và chính Jean François Revel là người đã cho tôi hiểu hơn bất cứ ai, hơn cả tôi nữa, rằng tôi không nên nói đến vấn đề “cải tạo” hay “hồi phục danh dự” như tôi đã làm. Anh giải thích rằng không phải kẻ khác, kể cả những thằng cha ghê gớm tôi đã gặp, đã tạo nên con người của tôi, mà con người ấy đã có rồi, từ trước.

Cải tạo? Hồi phục? Đối với ai? Đối với cái gì? Những gì đã có trong tôi, không kể có quan trọng hay có giá trị thế nào đi nữa, những gì là nghị lực, là đức tính, là trí tuệ, là óc thích phiêu lưu, là tinh thần công lý, nhân ái, vui sống, đều đã có luôn luôn trong tôi. Đã có từ buổi đầu, rất lâu trước thời kỳ Montmartre và trong mấy năm tù đày, nếu không, tôi đã không thể làm những gì tôi đã làm để thoát khỏi con đường thối nát, và tôi đã không làm như tôi đã làm.

Anh nói tiếp rằng một đôi người thượng thặng có thể giúp mình nhìn thấy sự việc khác hơn trước, nhưng không thể làm cho mình đủ sức sống với sự việc ấy, đạt đến thành công và chi phối các sự việc ấy. Không ai có thể “cải tạo” tôi, bởi lẽ dù một đôi hoàn cảnh trong buổi thiếu thời của tôi đã che khuất con người thật của thằng bé Henri Charrière, và khiến trong một giai đoạn nào đó, những điều nó làm đã tạo ra một hình ảnh khác hẳn nó, những gì đã có trong tôi và đã phát tiết đầy đủ trong cuộc tranh đấu để thoát khỏi cảnh tù đày ghê tởm, vẫn đã có trong tôi từ trước. Mẹ tôi mất đã có ảnh hưởng quyết định đối với đời tôi; cái chết ấy nó như một hỏa diệm sơn trong thể xác một đứa bé mười một tuổi, tôi không thể chấp nhận một chuyện khủng khiếp như vậy, một bất công tuyệt đối như vậy, tôi một thằng con trai hung dữ, cảm ứng mau lẹ óc tưởng tượng dồi dào, và không có gì cho thấy, không ai được quyền nói, nếu không có thảm cảnh ấy thì cho đến ngày thành người lớn, vì không có bên cạnh một bà mẹ dịu hiền, một mối tình mẫu tử tôi cần cho tôi, tôi đã không trở thành một người khác, tuy tôi vẫn là tôi. Một loại người sáng tạo, có thể là một người phát minh những dụng cụ tân kỳ như tôi thường mơ ước, một người giang hồ mạo hiểm, vâng, có thể là một người đi chinh phục đất mới, nhưng một người sống trong xã hội.

Người ta không cải tạo một cái gì đã có rồi, nhưng người cho nó có dịp phát hiện hoàn toàn, không sớm thì muộn. Dân Venezuela không tạo tôi thành con người ngày hôm nay, nhưng đã cho tôi cơ hội, sự tự do, niềm tin tưởng để chọn một lối sống khác, theo đó tất cả những gì trong tôi đã bị nền công lý nước Pháp phủ nhận và xử tiêu, có thể trở thành hữu dụng trong một tập thể bình thường. Chỉ bấy nhiêu đó, tôi đã tri ân họ ngàn đời.

Và anh nói, như thế tôi khỏi có mặt cảm tự ti đối với mọi người trong xã hội này khi tôi trở về với một cuốn sách, dù sách ấy có gây ồn ào, nhưng tôi không nên vì vậy mà tự cho mình là siêu nhân. Vâng, tôi đã làm những điều dại dột, tôi đã bị trừng phạt, nhưng những gì tôi đã làm để tự giải phóng, mấy người lương thiện kia có làm nổi không, có đủ nghị lực, đủ đức tin để làm không?

Không, đừng nên nghĩ rằng vì những tủi nhục tôi đã chịu đựng, tất cả những người Pháp đều kém tôi, vì họ đã đày tôi qua bên ấy, nhưng cũng đừng nên nghĩ rằng do quá khứ của tôi, thiên hạ có quyền nghi ngờ tôi, khinh miệt tôi, nói với tôi. “Im đi, mày không là gì hết, mày nên nhớ mày từ đâu đến”.

Tất cả các ý kiến ấy, nhiều lần tôi nghĩ đến, nhưng vì tôi đã từ nơi ấy thoát ra, đã sống với hạng người như vậy, rồi trong bao nhiêu năm tháng, lúc đầu ở trước tòa đại hình và sau thì khắp mọi nơi, người ta đều nói đi nói lại đến điên cái đầu rằng tôi chỉ là một thứ đất đen, nên tôi không an tâm, tôi bị giao động, tôi không dám nghĩ như vậy nữa. Phải có những người như Castelnau, Latfont, Revel tôi mới có thể nhìn thẳng vào tôi trong gương, nhìn thấy mà không giao động một người có lẽ nhiều tính xấu và khuyết điểm, nhưng là một con người, một con người xứng đáng như những người khác.

Tôi đi đến nhà các anh ấy như khi tôi đến gần một chiếc ghế, không biết mình có quyền ngồi xuống hay không. Nhưng các anh ấy đã nói: “Mời anh ngồi, chỗ này là của anh”.

Tất cả cảnh ấy hiện rõ trong đầu óc trong khi tôi chờ máy bay đến ở Orly, và tôi tự nhủ khi nào về lại Ba Lê trong dịp phát hành cuốn sách, chắc chắn tôi sẽ còn gặp nhiều người tài ba lỗi lạc.

Không phải chỉ có những kẻ phiêu lưu mạo hiểm là đáng kể. Mỗi người đàn ông, mỗi người đàn bà đều có một tiểu sử, nhưng dù họ từ đâu đến, từ một nơi nào trên hoàn cầu, người ta cũng nhận ra ngay những người không chịu cúi đầu chấp nhận luân lý thông thường một khi đã phân tích thấy luân lý ấy không đúng.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply