This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Xế trưa, bỗng có một đoàn xe vận tải của Quân Vận chạy tới. Ông Ðại úy trưởng đoàn chìa cái sự vụ lệnh cho tôi xem (tôi không nhớ ai đã ký) ghi rằng, đoàn xe sẽ chở Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân về phòng thủ Chùa Tỉnh Hội Ðà-Nẵng.
Tưởng Ðại úy tiểu đoàn trưởng đang ở Chùa Tỉnh Hội. Tôi cho ba chiếc GMC về dinh của Tướng Ðính để bốc Ðại Ðội 3/11, rồi ra lệnh cho tất cả quân nhân hiện có mặt trong sân leo lên những chiếc GMC còn lại.
Ðoàn xe chạy qua Chợ Cồn rồi quẹo sang đường Ông Ích Khiêm hướng về Chùa Tỉnh Hội. Hai bên đường dân chúng đứng chật như nêm. Người người hoan hỉ, nói cười, vẫy tay, hoan hô ầm ĩ.
Xuống xe, tôi cho quân bố trí phòng thủ quanh vòng rào của Chùa Tỉnh Hội.
Tôi bước vào chính điện để hỏi xem ông tiểu đoàn trưởng của tôi có mặt nơi đây không. Nào ngờ, người tôi chạm mặt đầu tiên lại là Thiếu tá Tôn Thất Trai. Thấy mặt tôi, ông Trai la oang oang,
– Thằng Dzu phản rồi! Nó chạy vào phi trường đầu hàng và đi theo cha Loan rồi!
Tin này làm cho tôi tá hỏa. Mới vài hôm trước, trong phòng họp các sĩ quan, Ðại úy tiểu đoàn trưởng dọa sẽ nghiêm trị những ai có tư tưởng hay hành động chống đối phong trào ly khai của Quân Dân Miền Trung.
Cái điệp khúc: “Ý dân là ý trời! Chống lại ý dân tức là chống lại ý trời!” hầu như trong cuộc họp nào, chúng tôi cũng phải nghe. Vậy mà hôm nay trắng đen lộn mặt, không ai ngờ được.
Ông Trai móc túi áo lấy ra cái lon đại úy ba mai vàng sáng chói rồi nắm ngực áo tôi định gắn cái lon ấy vào.
– “Toa” đeo cái lon này lên ngực để mà chỉ huy. Giấy tờ sẽ điều chỉnh sau. Bây giờ nhiệm vụ đầu tiên của “toa” là đem tiểu đoàn về phòng thủ Chùa Phổ Ðà.
Tôi bất bình, gạt tay ông ta ra,
– Không được! Thứ nhất là, không ai ở đây có quyền gắn lon thăng cấp cho tôi. Thứ hai là Ðại úy Dzu đi rồi, bây giờ tôi chỉ nghe lệnh của Tướng Vùng mà thôi! Tôi muốn biết Tư Lệnh Vùng bây giờ ở đâu?
Thiếu tá Trai giơ tay vỗ vỗ vài cái vào hông tôi rồi ôn tồn,
– Chờ chút! Chờ chút nhé!
Ông Trai lanh lẹ quay người đi vào chánh điện. Chừng một phút sau ông ta quay ra,
– Thủ tướng ra lệnh cho Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân về án ngữ tại Chùa Phổ Ðà để ngăn chặn quân chính phủ từ phi trường tiến ra.
Tôi thắc mắc,
– Thủ tướng nào? Ai là Thủ tướng ở đây?
– Thì Bác sĩ Mẫn, Thị trưởng Ðà-Nẵng chứ ai?
– Tôi không dưới quyền Thị trưởng hay Thủ tướng nào cả, tôi cần gặp Trung tướng Tư Lệnh ngay bây giờ!
Ông Trai kèo nài,
– Thì “toa” cứ làm theo sự phân công của Thủ tướng đi. Chiều nay Trung tướng Ðính sẽ nói chuyện với “toa” sau.
Không biết làm gì hơn, tôi đành miễn cưỡng chấp thuận,
– Vậy cũng tạm được!
Bỗng nhiên đạn đại liên từ hướng Ðông “Toác! toác!!Chíu! chíu!” bay sang như mưa.
Quay qua quay lại không thấy bóng ông Thiếu tá Trai đâu cả, tôi vội phóng mình ra ngoài sân. Mái chùa bể, vụn ngói bay tung tóe, bụi khói mịt mù. Con rồng bằng sứ nằm trên nóc chùa bị bắn vỡ đầu. Chiếc xe bồn đựng nước đậu trước cổng chùa cũng trúng đạn, nước phun có vòi. Có tiếng la thất thanh:
“Chết! Có người chết! Cứu thương! Cứu thương đâu! Có người đổ ruột đây nè!”
Sân chùa trở thành một nơi hỗn loạn cùng cực, với đủ mọi thứ âm thanh. Tiếng đạn bay, tiếng người kêu gọi tên nhau, tiếng la hét đau đớn của người bị trúng đạn cùng với tiếng khóc ré từng chặp của con nít tạo thành một không khí hỗn độn chưa từng thấy.
Tôi leo lên bờ tường, đứng dựa hàng rào sắt, mặt quay về sân chùa. Mặc cho đạn đại liên đang như mưa rào trên mái ngói, tôi hét to:
– Ðồng bào đừng sợ! Ðồng bào đừng sợ! Biệt Ðộng Quân sẽ bảo vệ đồng bào! Ðồng bào đừng sợ!
Nghe tiếng tôi oang oang trấn an, bà con bớt sợ, bớt ồn ào ngay. Ðồng bào tôi nằm rạp đất, nằm đè lên nhau, ngổn ngang trong sân. Họ đang nhìn tôi, ánh mắt đầy tin tưởng lẫn lo âu. Ngay sát chân tường, dưới chân tôi, nhiều đồng bào tôi đang khóc.
Ðứng trên cao, tôi thấy được vị trí khẩu đại liên trên một sân thượng hướng Ðông. Khẩu súng sát nhân ấy đang khạc đạn vào đồng bào tôi một cách không thương tiếc.
– Tính đâu! Tính đâu!
– Em đây Thẩm Quyền!
Khẩu 57 ly được vác tới. Tôi đỡ vai cho Hạ sĩ Tính. Hai người leo lên tháp chuông trước cổng. Tính kê súng lên vai.
Tôi nạp một viên đạn, khóa nòng, rồi vỗ tay lên nón sắt của Tính. Tính bóp cò.
“Oành!” Ðạn bay đi.
“Ùm!” Ðạn nổ! Lửa chói lóa trên mục tiêu. Khói và bụi bay lên cuồn cuộn.
Tôi nạp một viên đạn nữa, rồi lại khóa nòng, vỗ tay lên nón sắt của Tính. Tính bóp cò.
Oành!” Ðạn bay đi. “Ùm!” Khẩu đại liên hết hoạt động.
Dẹp xong ổ đại liên, tôi nhảy xuống sân kiểm tra tình hình. Sân chùa đang trong tình trạng vô cùng lộn xộn. Có hai người chết — một bà già và một thanh niên Phật Tử. Còn cả chục người khác bị vỡ đầu, đổ ruột, đang nằm kêu khóc rên la. Những thanh niên Phật Tử trong đội cứu thương chỉ biết băng bó cứu cấp những vết thương xoàng xĩnh, gặp trường hợp vỡ đầu phọt óc, ruột đổ lòng thòng, họ luống cuống, không biết xử trí ra sao.
Tôi gọi to,
– Quân Y đâu! Quân Y đâu!
Chỉ có hai anh y tá của tiểu đoàn chạy lại nhận lệnh băng bó cho người trúng đạn.
Tôi hỏi anh y tá,
– Thiếu úy Lẹ đâu?
– Dạ em không thấy ông ấy đâu cả!
Sau này tôi được biết ông Thiếu úy Lẹ, Trưởng ban Quân Y của tiểu đoàn, đã đi theo ông tiểu đoàn trưởng vào phi trường đầu hàng Ðại tá Nguyễn Ngọc Loan từ những ngày trước.
Một chiếc xe GMC được điều động để chuyển những người bị thương về Bệnh Viện Dân Y bên đường Hùng Vương.
Từ hướng cuối đường Nguyễn Duy Dương, nơi hai chiếc xe Jeep đậu sát bên hàng phi lao có tiếng loa oang oang:
“Yêu cầu toàn thể quân nhân các cấp thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân buông vũ khí và ra trình diện gấp!”
Tôi nghĩ cái loa tay này cũng cùng phe nhóm với khẩu đại liên 30 trên căn gác kia, nên sẵn súng đạn, tôi ra lệnh cho Hạ sĩ Tính nhắm gốc cây keo giữa hai chiếc xe, bắn thị uy một quả 57 ly. Ðạn rơi hơi ngắn, chạm mặt đường, nổ tung, và hất một chiếc Jeep lộn mèo xuống mương thoát nước bên hàng phi lao.
Tôi không cố ý giết những người ngồi trên hai chiếc Jeep đó, mà chỉ muốn bắn dọa để đuổi họ đi thôi. Không rõ có ai bị thương vong không, nhưng sau đó thì cái loa tay đã im tiếng.
Sau này tôi được biết, chiếc Jeep bị bắn lộn cổ xuống mương là xe của Trung tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa! Cũng may, lúc đó không có ai ngồi trên xe cả!
Trong khi tôi chuẩn bị dẫn quân đi thì có bàn tay ai nắm áo tôi giựt lại,
– Ê! Long! Bây giờ mày định đem lính đi đâu vậy?
Quay lại, tôi nhận ra đó là Thiếu úy Nguyễn Xuân Hồng Chân của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập. Thiếu úy Chân là bạn cùng Khóa 20 Võ-Bị của tôi. Tôi không rõ bạn tôi tự ý tham gia phong trào ly khai hay đã tham gia cùng với đơn vị của anh.
– Tao đem quân về giữ Chùa Phổ Ðà. Thôi! Tao phải đi ngay. Hẹn ngày gặp lại!
Bắt tay bạn xong, tôi khoát tay cho lệnh tiểu đoàn di chuyển.
Chúng tôi không đi trong phố mà len lỏi trong đường làng. Qua một vạt ruộng thì tới đường Hoàng Diệu. Tôi xua quân lên chiếm giữ hai đầu đường Chu Văn An để giữ an ninh cho toàn bộ tiểu đoàn tiến vào khu nhà dân xung quanh Chùa Phổ Ðà.
Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng trước sân chùa hướng Phan Châu Trinh. Các đại đội thì ém quân trong nhà dân. Những nhà dân bên đường đều bị đục tường làm lỗ châu mai, sẵn sàng cho một cuộc tác chiến trong đường phố. Nếu có giao tranh, trăm phần lợi thế sẽ nằm trong tay chúng tôi vì quân chính phủ sẽ nằm khơi khơi trên phố không có gì che giấu.
Tối hôm đó Tướng Tôn Thất Ðính vào máy truyền tin gọi tôi và ra lệnh cho tôi từ nay phải nghe lệnh ông Bác sĩ Mẫn và ông Thiếu tá Trai. Ông Thiếu tá Trai sẽ liên lạc trực tiếp với tôi.
Sáng hôm sau có tin đánh nhau vùng Ngã Ba Cây Lan. Trên trời, hai chiếc máy bay AD 6 bay lượn và bắn xuống khu tranh chấp để yểm trợ cho quân chính phủ.
Nhớ lại cảnh tượng xảy ra ngày hôm trước, chỉ có một khẩu đại liên 30 bắn vãi một dây đạn vào sân chùa Tỉnh Hội mà đã có cả chục nhân mạng thương vong; nay hai chiếc oanh tạc cơ trang bị đầy bom, đầy đạn dưới cánh kia sẽ giết chết bao nhiêu người dân vô tội đây? Tôi nghĩ rằng, muốn chận đứng cảnh chết chóc, chỉ có cách bắn vào phi trường, không cho máy bay cất cánh. Nghĩ là làm ngay. Tôi cho khẩu đội cối 81 ly “phang” 6 quả đạn nổ vào phi trường.
Rồi sau một cái phất tay của tôi, súng lớn, súng nhỏ, trung liên, đại liên, garand, carbine, đua nhau khạc đạn lên trời, nhắm hướng hai chiếc AD6. Chúng tôi nghiến răng siết cò súng, hy vọng ngăn chặn được những quả bom, làn đạn, đang tưới xuống đầu người dân Ðà-Nẵng, trong đó có thân nhân của chúng tôi, và có thể, có cả thân nhân của những vị phi công đang lái hai chiếc AD6 kia. Lúc này tôi chỉ hành động theo phản xạ, không suy tính thiệt hơn, không nghĩ tới hậu quả của việc mình làm.
Chỉ vài phút sau trên trời đã thấy xuất hiện hai chiếc chiến đấu cơ khác. Hai chiếc phản lực này bay kè hai chiếc AD 6 không cho bắn phá nữa. Một lúc sau thì cả bốn chiếc máy bay biến mất.
Tôi kiểm điểm lại thì thấy chỉ còn 14 trái đạn cối 81 ly nữa là hết số đạn mang theo. Tôi cho lột vỏ hết 14 viên đạn còn lại này, sẵn sàng phóng đi. Chỉ cần thấy bóng dáng những chiếc oanh tạc cơ tái xuất hiện trên bầu trời thì 14 viên 81 ly đó sẽ theo nhau bay vào phi trường ngay.
Rồi thì, thật bất ngờ, đại liên 12.7 ly trên đường Phan Châu Trinh từ phía Bắc bắn như mưa về hướng Phổ Ðà. Một đoàn chiến xa M41 vừa tác xạ vừa ào ào chạy tới. Khẩu 57 ly của Hạ sĩ Tính đặt trên tháp chuông mới bắn được một viên thì cái nóc tháp chuông đã bị đại bác trên xe tank bắn bay mất. Hạ sĩ Tính sợ quá, nhảy vội xuống đất núp sau bệ đá. Ðoàn chiến xa này là một đơn vị thiết kỵ Hoa-Kỳ. Tôi chẳng hiểu tại sao Tướng Tư Lệnh Vùng của tôi đang tỵ nạn trong Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ mà chiến xa Mỹ lại tấn công chúng tôi?
Có điều là quân Mỹ không có ý giết chúng tôi, đạn của họ dù bắn như mưa, nhưng bắn rất cao. Khi những chiến xa Hoa-Kỳ đã bao vây sát bờ tường Chùa Phổ Ðà, tôi liều mạng bước ra cổng xem người Mỹ muốn gì.
Một Ðại úy Hoa-Kỳ nhảy xuống đất, ngỏ ý muốn gặp cấp chỉ huy của Biệt Ðộng Quân. Tôi nói với ông ta rằng, tôi là người chỉ huy ở đây. Ông Ðại úy Mỹ nói, người Mỹ đã đứng ngoài vụ tranh chấp này. Nhưng 6 viên cối 81 ly của tôi đã không rơi trên khu Không Quân Việt-Nam mà rơi trên khu đậu máy bay của Mỹ nên quân đội Mỹ phải can thiệp.
Tôi phân bua với người sĩ quan Mỹ rằng, trong một nước dân chủ, việc dùng vũ lực để đàn áp lực lượng chính trị đối lập là một hành động man rợ, thô bạo và vô nhân đạo, không chấp nhận được. Chính quyền trung ương đã dùng tới không quân để tiêu diệt chúng tôi thì, để tự vệ, tôi sẽ làm tất cả những điều có thể làm, sử dụng bất cứ phương tiện gì mà tôi có trong tay để đánh trả. Nếu người Mỹ thấy cần giết chúng tôi thì cứ ra tay, chúng tôi không hề sợ chết. Tôi chỉ cho ông Ðại úy Hoa-Kỳ nhìn thấy đống đạn 81 ly đã lột vỏ, rồi nói với ông ta,
– Nếu máy bay tiếp tục bắn phá, tôi sẽ gửi số đạn kia vào phi trường ngay lập tức.
Tôi vừa dứt tiếng thì vị sĩ quan Hoa-Kỳ tiến lên ôm ngang hông tôi tỏ vẻ thân thiện, rồi thông báo cho tôi biết rằng, giờ này Không Quân Mỹ đã kiểm soát toàn bộ phi trường và tạm thời không cho máy bay Việt-Nam cất cánh nữa. Ðể đổi lại, ông ta đề nghị tôi phải ngưng ngay hành động pháo kích. Nếu tôi không làm theo lời yêu cầu của ông ta, ông ta đành phải san bằng chùa Phổ Ðà.
Sau khi nghe tôi hứa sẽ không nã pháo vào phi trường nữa thì đoàn chiến xa Mỹ mới chịu kéo nhau đi.
Ðêm hôm đó chiếc Jeep của Ðại úy Tiểu đoàn trưởng trở về đậu trước cổng chùa trên đường Chu Văn An. Ông Ðại úy đi cùng anh Chuẩn úy Hồ Văn Hữu, sĩ quan ban 5 Tiểu đoàn, và người tài xế. Dưới ánh điện đường tôi thấy dáng dấp của ông thật là tiều tuỵ. Râu tóc bờm xờm, áo quần xốc xếch, ông ngồi xẹp trên mặt đất trước đầu xe. Tôi tới đứng nghiêm trước mặt ông, rồi giơ tay chào ông theo đúng quân cách.
– Ðại úy trở về rồi ư? Anh em đang chờ Ðại úy.
Ðại úy Dzu không bắt tay tôi. Ông cúi mặt nhìn xuống mặt đường. Những ngón tay ông cào cào vô thức trên mặt lộ. Rồi mặt vẫn không ngẩng lên, ông nói nhỏ,
– Long bỏ tiểu đoàn rồi theo “moa” vào phi trường theo ông Kỳ có được không?
– Còn anh em?
– Bỏ tụi nó đó! Không có người chỉ huy, tụi nó sẽ tự giải tán thôi!
Tôi bất mãn, lớn tiếng,
– Ðại úy đem con bỏ chợ. Nay còn vác mặt về rủ rê tôi làm điều tồi tệ này nữa sao?
– Long à! Mình có còn con đường nào khác nữa đâu?
Ðại úy thều thào phân bua.
Từ lúc chiếc xe ngừng trước cổng, đã có nhiều binh sĩ chạy ra vây quanh ông Tiểu đoàn trưởng. Họ đã nghe rõ những lời ông nói. Vài người tỏ vẻ bất mãn quay lưng bỏ đi; vài người tức giận buột miệng chửi thề. Bốn năm khẩu súng lên cò chĩa vào đầu ông Ðại úy và ông Chuẩn úy làm cho hai vị này hoảng hồn nhìn tôi cầu cứu. Hạ sĩ Trần Quy vừa khóc vừa gào lên:
“Ðại úy là đồ tồi! Ðại úy là thằng phản bội! Ðại úy là thằng hèn!… Hu! Hu! Hu!…”
Tôi sợ tình trạng này kéo dài, sẽ khích động anh em khiến tính mạng của ông Ðại úy khó được bảo toàn, nên vội giơ tay ngăn cản anh em lại,
– Anh em bình tĩnh! Việc gì cũng có thể giải quyết ổn thỏa.
Sau đó tôi cúi xuống nói nhỏ vào tai ông Dzu,
– Ðại úy nhồi nhét cái tư tưởng “ý dân là ý trời” vào đầu óc anh em. Anh em đã răm rắp tuân theo lời Ðại úy. Nay Ðại úy bỏ dân chúng, bỏ anh em, thì Ðại úy cũng đừng trách anh em nặng lời với Ðại úy. Tôi nghĩ rằng, giờ này Ðại úy nên đi khỏi nơi đây là tốt nhất!
Tôi hất hàm ra dấu cho Chuẩn úy Hồ Văn Hữu; anh Hữu lật đật xốc nách ông Dzu dìu ông lên xe. Chiếc Jeep Willy rồ ga, nhắm hướng phi trường.
Thì ra 6 viên đạn súng cối 81 ly rơi trên khu đậu máy bay của Mỹ, cùng những tràng súng nổ rền trời, rền đất một góc thành phố buổi sáng ngày hôm đó đã khiến những người chỉ huy mới của ông Dzu lo ngại, rồi ra lệnh cho ông ta phải quay về chiêu dụ tôi theo họ.
Mẹ Việt Nam ơi chúng con vẫn còn đây… Mang giòng họ của Lê Lý Nguyễn Trần Mẹ dưỡng nuôi con giòng sữa Bắc Trung Nam Con của Mẹ đều một giống da vàng Quyết một lòng diệt hết lũ tham tàn
(Nguyễn Ánh 9)
Bài 29
Tết tù – “Chào mừng Mẹ Việt Nam”
Tết năm Canh thân, năm1980, đội văn nghệ Trại A ở trên đồi Phượng Vĩ, “chơi” một đòn ngoạn mục.
Để chuẩn bị “vui chơi ba ngày Xuân”, trại cải tạo Z-30A thành lập một “Đội Văn Nghệ” để đi trình diễn ở các phân trại, giúp vui cho “tù cải tạo.” Lúc nầy tài tử hề Khả Năng chưa về Trại Đá. Sau khi về Trại Đá được một thời gian ngắn, anh được chuyển qua “Trại Cây” để tham gia Đội Văn Nghệ.
Trước đó, soạn giả Yên Lang đang ở “Trại A” (đồi Phượng vĩ). Đội trưởng văn nghệ, nôm na gọi là ông bầu, là “Bầu Trừ”, tên thực là Nguyễn Văn Trừ. Ông nầy là con trai ông Nguyễn Phú Hải, đốc phủ sứ, từng làm Đô Trưởng Saigon Chợ Lớn thời “Ngô Tổng Thống muôn năm.”
Trước tết mấy hôm, “Đội Văn Nghệ diễn ở hai nơi: Trại A cũ (trên đồi Phượng Vĩ) và Trại B (Trại Cây) xong về đón giao thừa, “ăn tết”.
Việt Cộng làm nhiều trò mâu thuẫn, kỳ cục. Lao động mỗi ngày 8 tiếng. Ít khi được đi làm khổ sai mỗi tuần 5 ngày mà thường là 6 ngày, – đi lao động luôn cả ngày thứ bảy là thường -. Tệ hơn nữa, năm 1980, Phạm Tuân “lên” không gian, để “mừng thắng lợi” việc nầy, chủ nhựt chúng tôi cũng đi lao động luôn. Như vậy, lao động mỗi tuần “chỉ có” 7 ngày mà thôi.
Xin kể lại một chút:
Tôi không nhớ rõ thời gian nào, nhưng suốt mấy tuần liền, chúng tôi phải đi lao động một tuần 7 ngày thay vì 6 ngày như thời gian trước, để “Mừng đồng chí Phạm Tuân lên không gian thắng lợi”, đem “bèo hoa dâu” lên nghiên cứu về sự phát triển của nó trong vũ trụ! Nghe “quê” dữ!!!
“Lao đông là vinh quang” suốt 7 ngày một tuần, không có ngày nào được ở nhà để giặt quần áo, nên anh em chúng tôi than cũng dữ và chưởi Phạm Tuân cũng không ít. Do thân nhân lên thăm nuôi, chúng tôi biết thêm một số chuyện tiếu lâm của đồng bào miền Nam về chuyến bay của Phạm Tuân. (1)
Thế rồi bỗng một hôm, bên hông tường lớn, vách hội trường đang xây, có môt bức tranh bằng than đen, vẽ một anh chàng khổng lồ cưỡi xe đạp, ngồi phía sau là một thằng bé con. Thằng bé con được ghi chú là Phạm Tuân, còn anh chàng khổng lồ ngồi phía trước đạp xe, được ghi chú là “Go-Rơ-Bát-Xì-Cô”, (theo cách viết của báo chí “cách mạng”, tên thực của y là Viktor Gorbatco), tức là người lái phi thuyền Soyuz 37.
Hai ông trật tự Phạm Văn Tài và Dương Tấn Hải được lệnh chùi sạch bức hình đó và lấy vôi quét lại, xóa mất hình vẽ.
Lao động trong trại tù cải tạo gian khổ như thế nào, ai ai cũng biết, xin khỏi nói thêm để khỏi dông dài, nhưng ăn thì ngày nào cũng giống ngày nào: Sáng, một củ khoai lang, trưa một khúc khoai mì, chiều một chén khoai mì lát.
Xin nói thêm về việc ăn khoai mì lát một chút. Khoai mì chúng tôi ăn là khoai mì do chúng tôi trồng, nhổ về, ăn không kịp thì xắt lát, phơi khô, cho vào kho ăn dần. Khoai mì chấm với “nước mắm đại dương”, đảng và nhà nước chỉ tốn có chút muối mà thôi. Nếu tính chuyện lời lỗ, thì Việt Cộng chẳng lỗ bao giờ mà lời “quá cha bọn địa chủ bóc lột”!
Cũng vì ăn khoai mì nhiều quá, Bùi Xuân Tiếm, quê ở Bình Định, khác đội nhưng ở chung nhà với đội tôi, mỗi tối, ngồi ở tầng trên, anh ta nhại câu hát “Tổ quốc ơi ta yêu người mãi mãi” thành:
“Tổ quốc ơi! ăn khoai mì mãi mãi.
Từ trận thắng hôm nay, ta ăn độn dài dài.” (2)
Bùi Xuân Tiếm có lần bị cán bộ gọi “làm việc” vì những câu anh hay nói nhại, nói đùa, khi anh đọc báo Tin Sáng của Ngô Công Đức, mà lại đọc rất to:
“Bây giờ là thời kỳ “hiện đại hóa” (anh đọc là quá – theo giọng Nam, mặc dù anh là dân Bình Định). Nhà nước ta chủ trương “Cơ giới quá” (hóa), “Điện khí quá (hoá)”. Rồi anh nói một hơi “Đói quá (hóa), khổ hóa (quá), chán hóa (quá), nản hóa (quá).
Cả phòng, nghe nói nhại, cười rần rần. Công An đi tuần bên ngoài chú ý, ghi tên anh ta.
Ăn uống như vậy nhưng ở cổng trại, trước hội trường, Công An bắt trồng hoa. Thế nên ai cũng than: “Đói thấy mẹ còn xem hoa nỗi gì?”
Bây giờ tới tết, mỗi người một “miếng thịt heo ruồi tha”, cơm lưng chén (không phải lưng bát. Bát to hơn chén) mà còn xem văn nghệ. Người ta lại nói cái câu như cũ: “Đói thấy mẹ còn xem văn nghệ nỗi gì.”
Đêm giao thừa, ở Trại A, từ một gian rồi hai gian, ba gian… tù cải tạo đồng loạt hát, mà hát rất to “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…”
Công An đi tuần ngoài hè, không nói một lời.
Sáng mồng một, sau khi “mở chuồng”, tù cải tạo rửa mặt ăn sáng xong thì từ “Đội Văn Nghệ”, một toán hơn mười người đi ra, có biểu ngữ giương cao: “hoan nghênh Mẹ Việt Nam thăm tù cải tạo”, có một “anh chàng”, tên Chương, ăn mặc giả trang một bà mẹ già quê mùa, nghèo khổ, áo tứ thân đi thăm tù. Mẹ đi có kèn, có “Nhạc Sĩ Tù Ca “Dục què” (3) cầm đàn đi theo Mẹ tấu nhạc, có Võ Phước Thọ đi đầu dẫn đường, có Nguyễn Văn Huề (4) đi kèm hộ tống. Vậy là Mẹ đi từ lán (longhouse) nầy qua lán khác.
Mẹ đứng trên cao, chúc tết các con mạnh khỏe, khỏi ốm đau, hãy mạnh dạn tin tưởng vào lý tưởng của mình, chúc “các con” mau trở về với gia đình, v.v…
Vậy là “các con” (tù cải tạo) hoan hô Mẹ, và giống như tối qua, lúc giao thừa, tất cả cùng hát to “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…” Hết bài hát đó thì tới “Việt Nam quê hương ngạo nghễ…” của Nguyễn Đức Quang.
Cảnh tượng rất cảm động, thậm chí có anh em vừa hát vừa khóc.
Công An chỉ đóng cổng lớn. Quản giáo, vệ binh không ai vào trại. Biết rằng chúng nó đang nằm im để chực “vồ” lại, nhưng xem ra “tù cải tạo” chẳng ai sợ. Có người, khi biết như thế, lên gân: “Chơi rồi! Chơi luôn!”
Hai ngày sau, bọn cai tù, đứng đầu là tên cáo già trung tá Công An Việt Cộng Trịnh Văn Thích, 25 năm kinh nghiệm coi tù, bắt đầu phản công.
Trước tiên, chúng gọi “Bầu Trừ” lên điều tra, giữ lại luôn, không cho về. Thứ đến là Chương, người đóng vai Mẹ Việt Nam, rồi tới phiên Thọ, người dẫn đường, nhạc sĩ “Dục què”, Người thổi kèn, anh đánh trống, người chơi Guitar, lần lượt vô cát-xô.
Sau 3 ngày Tết, đi lao động trở lại.
Buổi sáng, như thường lệ, sau khi nghe kẻng, mấy chục đội tơi nón ra ngồi sắp hàng ở cái sân lớn, chờ gọi tên từng đội.
Công An gọi tên đội thứ nhứt. Đội rục rịch đứng dậy, thì Nguyễn Văn Huề, binh nhứt Nhảy Dù, “can tội Phục Quốc” đứng lên hô hào:
– “Anh em không nên đi lao động hôm nay. Yêu cầu ban giám thị trại giải quyết trường hợp các anh em trong “Đội Văn Nghệ”, hiện bị giam ở cát-xô. Cho họ về, chúng ta mới đi lao động.”
Mọi người vỗ tay hoan hô!
Nhưng Trịnh Văn Thích quỷ quyệt hơn. Một mặt y cho vệ binh dàn ra ở cổng trại, đạn lên nòng, khủng bố tinh thần. Mặt khác, y ra lệnh cho quản giáo tới từng đội để đe dọa, khuyến khích, đi lao động.
Quản giáo đội nào làm việc với đội trưởng đội đó. Mặt khác, Trịnh Văn Thích xuất hiện ngay cổng, hứa (cuội) to lên rằng:
“Những anh em đang bị giam ở cát-xô không có tội gì hết. Chẳng qua, vì mấy ngày tết, việc điều tra chưa kết thúc nên tạm giữ ở cát-xô vậy thôi. Nội sáng nay, trong khi “anh em đi lao động, ở nhà, chúng tôi sẽ xét lại từng cá nhân và sẽ cho về.”
Xong xuôi, y cho lệnh cán bộ trực trại gọi từng đội đi lao động. Thêm sự đôn đốc của quản giáo, từng đội đứng lên đi ra cổng.
Cuối cùng, chỉ còn một mình Huề đứng chơ vơ giữa sân.
Bấy giờ Trịnh Văn Thích cho một toán Công An vào vây quanh Huề, vật anh ta xuống, còng tay dẫn đi.
Một người, dù cao lớn như Huề, đói ăn đã mấy năm, làm sao chống lại mấy tên Công An lực lưỡng.
Những đứa con yêu của Mẹ Việt Nam nằm dài trong cát-xô, vừa tối, vừa lạnh, vừa đói, không biết bao giờ mới được thả ra…
Sau đó ít lâu, đội Văn Nghệ bị chuyển vào “Trại Đá” ở chung cùng phòng với đội chúng tôi.
hoànglonghải
(1) Phạm Tuân là phi công, phi hành gia của Việt Cộng. Ông là người Việt Nam đầu tiên bay lên vũ trụ vào năm 1980, trong chương trình có tên là Intercosmos của Liên Xô. Phạm Tuân được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.
Theo trung úy Việt Cộng Trần Đức Ước, (trại L3-T3 Long Giao) thì Phạm Tuân là người bắn hạ B-52 “rụng như sung”, nhờ Phạm Tuân biết cách phục kích, cho máy bay “đậu trên mây” chờ B-52 của Mỹ bay tới thì xông ra phục kích.
(2) Tù cải tạo chúng tôi trồng khoai mì, một ít được phát ăn liền, củ khoai còn tươi. Phần còn lại, xắt lát, ăn dần. Vì cất giữ chưa lâu, lát khoai mì còn trắng.
(3) Nhạc sĩ Nguyễn Tăng Dục, (Dục què) trước 1975 thuộc ban quân nhạc Hải quân VNCH, bị bắt về “tội Phục Quốc”, vào cát-xô bị đánh què một chân vì đã vào tù còn sáng tác nhiều bài “Tù Ca”. Bị què, Dục phải một tay cầm đàn, một tay cần gậy, trông rất tội nghiệp.
Sau khi đi tù cải tạo về, anh đến thăm tôi khi tôi trốn ở đường Trương Minh Giảng. Nhà anh ở Thủ Thiêm, rất khó tìm nên sau lần gặp đó, chúng tôi mất liên lạc. Anh thuộc “thành phần Phục Quốc” không được định cư ở Mỹ theo cái gọi là HO dù anh ở tù gần 5 năm.
(4) Nguyễn Văn Huề, binh nhứt Sư Đoàn Dù, bị bắt vì “can tội Phục Quốc”, cũng không được định cư Mỹ như Dục. Cách đây mấy năm, anh Trần Phú Trắc ở Nam Cali đứng ra quyên góp “bạn tù” cũ, kẻ ít người nhiều để giúp Huề. Sau khi được tha ra khỏi tù, Huề bị bệnh bại liệt toàn thân. Không rõ bây giờ anh còn sống hay đã qua đời.
Đến chiều hôm ấy, tấm giấy một trăm đã tan manh mún, chỉ còn chừng mươi đồng: năm chục đồng đền ơn cho bà chủ nhà, mười đồng gói thuốc thơm, mười đồng mớ thuốc Gò Vấp. Và tôi xài linh tinh. Giấy trắng, mực, viết chì tôi mua dự trữ sẵn để dành làm thơ. Hơi gió biển thổi mát rười rượi. Tôi hút thuốc, tưởng đến dung nhan quý phái của bà Henri Nhan. Hồi còn ở quê nhà, cha tôi nhiều lần nhắc đến ông hội đồng X. mà bà chủ Nhan bảo là chú ruột. Tôi tin rằng bà không nói dối. Cha tôi thuật lại: Ông hội đồng X. ăn xài sang trọng như Tây, phòng khách của ông trưng bày nhiều thứ lạ, thí dụ như pho tượng cẩm thạch tạc kiểu người đàn bà khỏa thân đang giương cung bắn con nai, hoặc chàng lực sĩ Tây Phương đánh sư tử; ông hội đồng gởi thơ qua tận bên Pháp mua một cái đồng hồ đặc biệt, cứ đúng mười lăm phút một đứa bé bằng đồng bước ra cầm dùi nhỏ, gõ tự động vào cái chuông. Tóm lại, những kỳ quan – so với cách sống của đa số điền chủ quê mùa khác ở vùng U Minh. Ông nhận một đứa cháu gái đem về làm con nuôi. Cô này nghe đâu học ở Sài Gòn, sau khi rời nhà trường về chợ Cần Thơ, kết nhân tình với một ông y khoa bác sĩ trẻ tuổi. Rồi cuộc hôn nhơn bất thành, ông bác sĩ tự tử bằng thuốc ngủ. Phải chăng vì lẽ ấy mà cô ta chẳng muốn nói rõ lý lịch cho tôi nghe? Và cuộc gặp gỡ giữa cô ta với ông Henri Nhan chỉ là do tình thế loạn lạc đưa đẩy?
Tôi qua nhà lão Tư Hiếm. Lão lồm cồm ngồi dậy, quét bộ ván.
– Hồi sáng thầy đi đâu quá sớm?
– Sao bác biết?
– Thì tôi qua mời thầy uống rượu, chẳng gặp ai.
Nghĩ rằng trước sau gì mình cũng cần nói thật với lão, tôi bắt đầu vào chuyện:
– Số là vợ chồng ông chủ Henri Nhan đọc báo thấy mấy bài thơ của tôi, ổng bả hâm mộ tài nghệ, mời tôi tới, nhờ vài việc.
Lão Hiếm sửng sốt:
– À, ông chủ Nhan, đại điền chủ ở Mỹ Lâm phải không?
– Dạ phải.
– Ổng nhờ thầy làm công việc gì?
– Ổng muốn tôi viết lại những sự tích ngày xưa ở Mỹ Lâm, để… in thành sách cho quan Tây đọc chơi. Ổng kể câu chuyện, tôi viết lại cho có đầu có đuôi.
– Thầy nhận lời chưa?
– Chưa dứt khoát. Tôi muốn nhờ những người sống cố cựu ở Mỹ Lâm như bác giúp tôi tài liệu. Nhà bác hồi xưa chắc ở trong điền ổng?
Đôi mắt lão Tư Hiếm mấp máy. Lão gãi đầu rồi vói tay vào vách, tìm cái ống điếu… Sự bối rối hiện rõ rệt quá! Ngón tay của lão cầm que diêm, run run châm đôi ba lần mà vẫn không cháy điếu thuốc. Đóm lửa tắt. Lão đánh cây diêm thứ nhì, cố nín hơn hồi lâu rồi mới kéo thẳng một hơi, nhưng đứt đoạn.
– Ruộng ổng cò bay thẳng kiếng, trên ba ngàn mẫu. Tôi ở đất ổng trên bốn chục năm. Tá điền ổng hồi xưa trên hai trăm gia đình. Bây giờ còn chừng hai chục, phần lớn thất lạc như tôi đây chẳng hạn.
Ngừng một chập, ông nói nhỏ:
– Ổng có hỏi tên tôi không? Bà vợ của ổng hiền lắm. Vợ chấp nối.
Tôi hơi ngạc nhiên:
– Ổng nào biết bác ở Xóm Biển gần nhà tôi.
– May lắm. Giữa tôi với ổng, tôi muốn đừng ai nhắc tới tên ai nữa. Tôi già rồi. Tôi chẳng thiếu nợ ổng đồng bạc nào, hột lúa nào. Tôi chẳng hề ở ác với ổng. Quê xứ tôi buồn lắm. Ai làm ruộng đâu mà góp lúa ruộng? Nhà binh Tây chê xứ tôi, chẳng thèm đóng đồn bót. Mấy “ông” Việt Minh thì ở đâu xa xa. Tận trong núi Ba Thê.
– Hồi nãy bác nói còn chừng hai chục gia đình tại đó.
– Thì họ ở lấy lệ nhưng suốt ngày ra đồng sống bằng nghề khác như hái lá sen, bắt ốc, câu cá, gài bẫy chim chớ đâu làm ruộng như xưa. Để tôi nhớ coi… chắc chắn là mười sáu gia đình, trong đó có gia đình một bà già mù, một gia đình cùi. Nghĩa là còn mười bốn. Với một cái miễu thờ Chúa Ngung, Ma Nương.
– Chúa Ngung, Ma Nương là vị thần gì? Tôi ít nghe nói tới.
– À, điều đó ông chủ Nhan rành hơn tôi, ổng bày ra cái miễu đó. Thôi để thầy ngủ sớm, sáng mai đi làm.
Tôi lững thững ra cửa, hơi buồn vì lão dường như muốn đuổi khách. Lão bước xuống bộ ván, gọi theo giọng nhỏ rí:
– Xin lỗi thầy… tôi muốn…
Vì tôn kính người lớn tuổi, tôi vui vẻ trở lại, lão lẩm bẩm:
– Đối với chủ Nhan, thầy nên cẩn thận trong công việc làm. Nhứt là đừng bao giờ nói có bất cứ người tá điền nào của ổng ở xóm này. Tội nghiệp tôi.
– Bác khỏi lo. Tôi hứa điều đó. Tối mai tôi qua gặp bác. Tôi chỉ muốn làm thơ. Thời buổi giặc giã…
Đêm ấy, tôi lại suy nghĩ liên miên. Thái độ lão Tư Hiếm làm cho tôi ái ngại. Dường như lão quá sợ. lần thứ nhứt lão nài nỉ tôi đừng tiết lộ chuyện lão nói xấu Tây. Phen này, lão hốt hoảng khi nghe đến chuyện ông đại điền chủ Henri Nhan muốn sưu tầm chuyện cổ tích. Nỗi lo sợ đó thật khó hiểu. Trong phút giây, tôi muốn từ khước công việc làm mà ông Henri Nhan sắp giao phó. Nhưng tôi cần tiền, chẳng lẽ tôi bắt buộc ông chủ nhà phải nai lưng đạp xe ba bánh từ tháng này qua tháng kia để nuôi dưỡng một thanh niên tay chân đầy đủ như tôi. Nàng Thơ sống chẳng cần cơm áo, nhưng muốn tao ngộ với nàng, kẻ phàm tục cần sống nhiều năm bằng cơm áo tối thiểu để chờ đợi phút giao cảm, ngàn năm một thuở. Hơn nữa, tôi tin tưởng nơi bản chất hiền hòa và sự ân cần của bà Henri. Khách yêu thơ chẳng lẽ nhẫn tâm giết thi sĩ! Trên con đường tranh danh đoạt lợi, bà ta chẳng cần đạp lên trên xác chết của tôi và xác chết của lão Tư Hiếm mà làm gì.
Mặt trời mọc cao hơn một sào khi tôi giựt mình thức dậy.
Đằng kia lão Tư Hiếm đi tới lui trong ngõ hẻm như ngóng chờ tôi. Thay quần áo xong, tôi hối hả lên đường, sợ trễ mặc dầu hồi sáng hôm qua bà Henri Nhan chưa nói rõ giờ khắc làm việc. Lão Tư Hiếm tằng hắng rồi ho lớn. Tôi đến bên lão để trấn an:
– Tôi hứa chắc mà, bác vững bụng đi. Bác cũng đừng cho chòm xóm biết tôi có công việc làm tại nhà ông ấy. Ngày hôm qua, tôi nói dối chủ nhà rằng tôi mới lãnh chút ít tiền của nhà báo từ Sài Gòn gởi xuống. Chưa chắc ông Henri mướn tôi làm việc lâu ngày đâu! Không chừng lát nữa ông ta đuổi tôi. Sáng nay, tôi như người đi dạo mát để giết thì giờ.
Lão gật đầu, mỉm cười:
– Đâu phải vậy. Thầy gặp cơ hội tiến thân, tôi mừng, cầu chúc thầy gặp may mắn, tiền bạc khá giả chớ! Tôi nào dám ngăn cản thầy.
Lại một sự hiểu lầm nữa. Hết sợ ông cò Tây, lão sợ ông Henri Nhan rồi giờ đây lão sợ đến tôi. Chẳng lẽ đứng lì ở đây để thanh minh một trường hợp chưa rõ rệt? Tôi lại kiếu từ, đi phăng phăng đến đường Mé Sông.
Lần này chị ở nhanh nhẹn mở cổng, dẫn tôi đi thẳng vào dãy hành lang khá rộng nối liền biệt thự xuống nhà bếp.
Bà Henri Nhan ngồi dựa lưng trên chiếc ghế mây, nhìn tôi nhưng tay vẫn nâng tờ báo.
– À, chào ông, ông làm việc tại chỗ này cho mát mẻ. Chị ở châm cà phê đem lên bây giờ. Nè ông, kỳ này báo Paris Match hay quá.
– Dạ, tin tức mới mẻ về chiến sự Việt Nam, thưa bà.
– Tôi ghét giặc giã lắm. Dầu là phim hát bóng nói về giặc giã. Tôi chú ý điều khác vui vẻ hơn… Vợ chồng quận chúa Anh Quốc rủ nhau hưởng tuần trăng mật tận giữa rừng già Nam Phi Châu, nơi loài người chưa đặt chân đến lần nào. Một vị tù trưởng nọ huy động dân bổn xứ xây cất một cái “thum” khá to cheo leo trên ngọn cây. Trong “thum” sắp đặt một cái giường nệm, bàn uống rượu, máy thâu thanh, máy hát và tư bề có giăng lưới mành mành để ngăn cản lũ muỗi sốt rét tsé-tsé… Thổ dân đem vài con ngựa rằn, buộc vào chân cây để làm mồi. Tối đến dưới ánh trăng rằm, vợ chồng quận chúa uống rượu, vặn máy hát nghe hòa âm Beethoven, thỉnh thoảng liếc mắt xuống chân cây ngắm từng cặp sư tử đang gào thét để tranh nhau ăn thịt ngựa rằn. Đêm về khuya, bọn sư tử vẫn còn nằm đó mơ màng. Có lẽ chúng nó say mê âm hưởng nhạc cổ điển hồi thế kỷ mười tám của Beethoven. Phóng viên nhà báo đã săn được những bức ảnh ly kỳ ấy, ghi chú là “Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu”.
Ly cà phê đã mang đến. Bà mời tôi rồi nói tiếp:
– Bà quận chúa năm nay bốn mươi tuổi mà trẻ măng như minh tinh màn bạc. Bà có tật thích ăn nho tươi, thứ nho đen trồng tại Tây Ban Nha. Bà quận chúa cười, lộ hai núm đồng tiền… rõ ràng.
Tôi vừa nghiêng đầu tới phía trước cho gần trang báo hơn, chợt nghe chị ở nói:
– Thưa ông, ông tôi mời ông nói chuyện riêng.
Bị giựt mình vì lối xưng hô bất lợi ấy, tôi nghiêm mặt, nói với chị ở:
– Chị cứ gọi tôi bằng “thầy” cho tiện. Tôi làm công như chị chớ đâu phải làm chủ mà kêu tôi bằng ông.
Bà Henri Nhan thấm ý, cười mủm mỉm:
– Ông thi sĩ ưa thắc mắc quá. Ừ, ông vào trong phòng xem nhà tôi nói gì.
Bấy giờ tôi mới hiểu cái tật mang vớ kinh niên của ông Henri Nhan. Ông ta thú nhận mắc bệnh tê thấp từ hơn mười năm, rồi than phiền thời vận nước nhà, nhân tình thế thái, người Pháp chưa hiểu rõ hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ông cố gắng tranh đấu tới cùng để giữ… “thể diện dân tộc”.
– Ông thi sĩ hãy noi theo khuôn mẫu quyển sách này, đọc kỹ dàn bài. Còn đây, miếng giấy nhỏ tôi ghi chú ngày sanh tháng đẻ, bước đường lập thân tiến thủ của tôi lúc nhỏ. Ông ra ngoài bàn, thảo vài trương, lát nữa trình cho tôi xem.
Thật là mệt trí, khó xử. Suy nghĩ hơn mười phút rồi mà trí óc của tôi ngày càng tối om. Quyển tiểu sử làm mẫu nọ nhan đề “Từ Dũ Hoàng Thái Hậu truyện” của Nguyễn Liên Phong, phụng lược dịch, do nhà F.H. Schneider in từ năm 1913. Bìa sách trình bày lối xưa có hai con rồng chầu; hai câu đối được ấn công sắp từng chữ, từ trên xuống dưới theo kiểu viết liễn:
Cội nền vững chắc, nước Nam Việt trường xuân
Tánh nết hiền lành. Phật Quan Âm tái thế.
Trước khi vào bài, người biên soạn đã sắp xếp một loạt năm sáu bài tựa, viết theo lối biền ngẫu.
Bà Henri nói nhanh:
– Để ông làm việc. Ông nhái theo sách xưa cho êm chuyện. Đừng suy nghĩ nhiều mất công. Cứ viết đại cho vừa lòng ổng. Ông thấy thế nào?
– Dạ, làm sao so sánh công đức của ông nhà với bà Từ Dũ được? Bà Từ Dũ, mẹ của vua Thiệu Trị, đã dạy vua Tự Đức trở thành đấng minh quân. Vả lại, tiểu sử của đàn bà khác với tiểu sử của đàn ông, thời xưa khác với thời nay.
– Ông cứ liệu chừng vậy; theo ý kiến riêng của tôi, đàn ông đàn bà đều như nhau, bất luận xưa hay nay. Đàn bà lần lần giống như đàn ông, đàn ông lại giống như đàn bà về thói ăn nết ở, công danh sự nghiệp. Xã hội ngày một tiến mà. Ông tùy ý.
Nói xong, bà Henri lên phòng khách. Tôi ngồi trơ trẽn một mình, nhìn lơ đãng ra ngoài vòng rào bên kia. Vẫn hai cái họng súng đen ngòm; vài tên lính Lê dương tới lui. Nhưng tiếng ho sù sụ trong phòng nhắc nhở tôi trở lại nhiệm vụ. Chắc chắn ông Henri Nhan đang nóng lòng chờ đợi. Tôi căn cứ vào mớ tài liệu của ông, cúi đầu viết thao thao lấy lệ.
– Xong rồi chớ?
Tôi day lại:
– Thưa ông, chưa xong hẳn. Mới viết tạm vài trang để chờ ông sửa lại.
Ông Henri ngồi xuống chiếc ghế bành bằng mây, châm điếu thuốc:
– Cứ đọc nghe thử.
Tôi lần lượt trình bày:
– Quyển sách sẽ lấy nhan đề “Mỹ Lâm nhân vật: Ông Henri Nguyễn văn Nhan” mở ngoặc: 1897 đến năm… chấm, chấm, chấm… đóng ngoặc lại (1897… Vì ông vẫn còn sống.
Ông Henri hé nụ cười:
– Đắc co!
– Mở đầu ở trang 5, tôi dẫn hai câu châm ngôn: Muốn là được (Vouloir c’est pouvoir và “Người đời muôn sự của chung. Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi”.
– Hay lắm. Một câu Pháp, một câu Việt Nam. Tây Phương và Đông Phương hòa hợp với nhau. Ông ghi rõ câu trên của Victor Hugo, câu dưới là ca dao thuần túy Việt Nam.
– Phía trước hai câu này, thưa ông, tôi muốn để hai trang trắng dành cho người đề tựa.
– Được quá, danh dự đề tựa ấy tôi xin trao cho quan tư Ca Rê.
– Và đây, phần tiểu sử: Ông Henri Nguyễn văn Nhan sanh vào ngày… tháng… âm lịch Ất Dậu… tính dương lịch nhằm mười sáu Avril năm một ngàn tám trăm chín mươi bảy. Thân phụ của ông là Nguyễn văn Mổ ở làng Đức Mỹ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam vào lập nghiệp ở Bình Dương (Gia Định kết hôn cùng bà Vương thị X., rồi hạ sanh ông tại Tân Lộc Thôn, nay đường X, Sài Gòn.
Vì cha mẹ đều qua đời quá sớm, năm chín tuổi ông được người cô đem về làm dưỡng tử cho học chữ nho. Năm ông mười hai tuổi cô đến Cần Thơ mua bán, ông vào tiếp tục học trường bổn quốc Cần Thơ đến năm thứ hai ban Trung học…
Bàn tay ông Henri Nhan khoát nhẹ, ra dấu bảo cho tôi ngưng lời. Thật ra trang giấy cũng chẳng còn chữ nào mà đọc; ông lắc đầu, cau có:
– Chưa được! Về quê quán và trường hợp vào đất Gia Định của cha mẹ tôi, ông thi sĩ hãy tự ý tô điểm thêm, rồi nói rõ: vì lý do yêu nước, chống Pháp hồi thế kỷ vừa qua. Người Pháp bây giờ muốn làm bạn và nâng đỡ những người Việt Nam thuộc dòng máu khẳng khái đã dám chống đối họ trong quá khứ… Hơn nữa, lúc đi học, tôi phải tỏ ra thông minh hơn các bạn đồng môn. Và tôi phải bỏ học nửa chừng vì lý do làm quốc sự, cho “ngon” một chút!
Tôi lộ vẻ ngạc nhiên:
– Thưa ông, như vậy e phật ý nhà cầm quyền Pháp. Rủi bề gì ông còn có người che chở; riêng tôi thì mang vạ lây. Ông hồi đó theo gương chí sĩ nào?
– Thi sĩ này ngớ ngẩn quá! Cứ viết rằng tôi chống Pháp hồi năm một ngàn chín trăm hai mươi sáu gì đó theo tài liệu lịch sử cách mạng Việt Nam.. để ông quan tư Ca Rê hãnh diện. Còn bây giờ, đối với quân đội Pháp, sau Đệ nhị Thế chiến…
Có người bấm chuông ngoài cửa. Chị ở mang vào tấm danh thiếp. Ông Henri lập tức đứng dậy, nói vói lại:
– Tôi qua ông quan tư Ca Rê có việc cần. Cái “áp phe” ở điền Mỹ Lâm của tôi sẽ thành công trong vài ngày. Để nhà tôi đến chỉ dạy ông thêm. Nhớ viết gấp lên. Phần thứ nhì của đời tôi mới là quan trọng, quyết định. Nãy giờ, chỉ mới là cái phần giáo đầu tuồng… Ông phải cố gắng, tranh thủ thời giờ.
Từ nhà trên, bà Henri trở xuống mân mê tờ báo Pháp:
– Công việc tiến hành như vậy được chớ! Ông thi sĩ đừng cãi với nhà tôi làm gì. Ban nãy, dường như ông thi sĩ cãi một đôi lần. Nguy lắm. Nhà tôi chẳng bao giờ chịu nhìn nhận rằng mình kém thông minh hơn một kẻ khác. Ông thi sĩ chớ nên nói câu nào đá động tới vấn đề chánh trị, rủi nhà tôi vui miệng rồi tên tuổi của ông lại thấu tai nhà binh Tây. À, trưa rồi, ông cứ về nhà viết tô đậm thêm, khen ngợi… cho ổng xong cái “áp phe”. Tôi nhức đầu lắm.
Gương mặt khổ sở, dằn vặt của lão Tư Hiếm đột nhiên hiện ra. Tôi linh cảm mơ hồ rằng cái “áp phe” này khá rắc rối. Các ông đại điền chủ thường núp oai của nhà binh Pháp để bảo vệ cái tài sản “cò bay thẳng kiếng” của họ. Tuy không sống bằng nghề nông, tôi vẫn cảm thông mơ màng với nguyện vọng “có đất cặm dùi” chánh đáng của nông dân. Biết đâu tôi sẽ tìm thêm nhiều thi tứ mới: những cô thôn nữ tươi vui hơn, những con trâu tơ mập mạp hơn… Nhưng khó hiểu quá! Đứng về quyền lợi thực tế mà xét, nếu tá điền ở Mỹ Lâm đều tản lạc, còn chừng mười lăm gia đình – theo lời lão Tư Hiếm – thì ông Henri Nguyễn văn Nhan vận động với nhà binh Pháp để hưởng huê lợi gì. Thừa lúc bà Henri Nhan lơ đãng, tôi giả vờ hỏi, vô tình:
– Thưa bà, ở Mỹ Lâm bây giờ chắc sung túc lắm?
Bà cười giòn:
– “Khỉ ho cò gáy” chớ sung túc! Còn một cái miễu thờ một pho tượng đá, ông chúa bà chúa gì đó. Ruộng bỏ hoang đâu hồi năm ngoái năm kia. Ông quan tư Ca Rê muốn khảo cứu cái pho tượng đá xưa đó tại chỗ, luôn dịp sưu tầm phong tục dân chúng cũng tại chỗ cho xác thực, khoa học. Nhà tôi muốn nương cơ hội ấy xây dựng thanh thế, nhờ Tây đóng bót… cho tá điền biết mặt! Tôi can ổng hết lời. Thà đi Sài Gòn mua bán xuất nhập cảng gì đó làm giàu mau hơn, ít nguy hiểm hơn… Một đồng bạc Đông Dương ăn tới mười tám quan. Thôi ông về, viết theo ý của nhà tôi, nếu chiều nay trời mưa ông cứ viết tiếp phần sau. Đại khái, rời nhà trường, nhà tôi thấy vùng đất Mỹ Lâm, xóm Mốp Giăng còn âm u hoang dại, đầy chuột, đầy bưng sen, bưng bông súng… vân vân. Ông cứ tự do làm thơ ở phần đó.
Bà đứng dậy, trao cho tôi năm tấm giấy một trăm đồng rồi gọi chị ở mở cổng. Tôi lưỡng lự muốn trả bớt lại hai trăm, nghĩ thầm rằng lãnh tiền càng nhiều, lương tâm càng bức rức. Tôi liên tưởng đến những câu hỏi thăm dò của lão Tư Hiếm khi gặp mặt vào trưa nay. Gương mặt lão chắc chắn trở nên lo âu, bí hiểm với nụ cười gượng gạo, gợn chút gì mỉa mai rõ rệt.
– Ông muốn xem số báo này à? Báo bên Pháp gởi riêng cho ông quan tư. Tôi sẵn sàng cho mượn, ngặt bất tiện cho ông. Người lối xóm, họ dòm ngó. Cái xóm Biển, lô A của ông hẻo lánh quá, từ đây tới đó hơn một ngàn thước mà chẳng bao giờ tôi dám tới, bởi vậy hôm trước tôi phải gởi thơ cho ông theo đường bưu điện. Báo kỳ này hay lạ: “Nhạc Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu”. Lá tử vi của ông bà quận chúa Ăng Lê tốt thật. Không hiểu họ sanh nhằm giờ nào, ngày nào, năm nào, cung nào? Phần tôi, hồi nhỏ đã có lần đem dĩa nhạc Beethoven hát inh ỏi ở Miệt Thứ, ở Mốp Giăng, giữa rừng tràm, muỗi mòng, khỉ, rắn, cá lóc… Tạm gọi là “Nhạc Beethoven ở U Minh, ở Mốp Giăng” được không ông thi sĩ?
Hãy đến chỗ gọi là phòng vẽ của Nguyên Khai, một cái garage nhỏ, để nhìn thấy cái ngổn ngang có thể làm cho phát ốm. Trên tường, dưới đất, trong xó góc, giữa lối đi, những ống màu quên đóng nút, những khung tranh trống đủ mọi kích thước được xếp ngả vào nhau, những thước bố vừa được mở ra, những bức tranh còn dở dang được cuốn lại. Mấy cái chân đèn cao ngất ngưởng, dây điện vắt ngang vắt dọc, nằm la liệt trên sàn nhà. Bà Lan Phương [bà Nguyên Khai] muốn cho bạn nhìn rõ bức tranh còn treo trên giá vẽ, không biết ổ điện nằm ở chỗ nào, nút nào là nút bà muốn bật.
Rồi cũng tìm ra. Ánh sáng, dù là ánh sáng tập trung của ngọn đèn nhỏ có chụp, trong căn phòng không có lấy một khoảng trống, hình như không xua đi được hết bóng tối, làm lóa màu sắc của bức tranh còn ướt sơn. Đối với những con mắt bình thường, người ta không khỏi thắc mắc tự hỏi, làm thế nào có thể vẽ trong điều kiện như vậy?
Thế nhưng, ngoài những đống khung chồng lên khung, còn có những đống tranh chồng lên tranh. Hoa. Chân dung. Tĩnh vật. Khỏa thân …
Khỏa thân một nửa thôi. Thiếu nữ hay một nửa đàn bà thôi. Một nửa đàn bà nghĩa là chỉ vừa qua tuổi thiếu nữ vài năm thôi. Năm năm. Mười năm. Không phân biệt được. Bầu ngực ấy không thể là bầu ngực thiếu phụ được.
Vì sao? Vì cái vẻ “trinh nguyên” người ta cảm nhận được qua màu sắc và nét vẽ chăng?
Thế còn cái vẻ mềm mại người ta cũng cảm nhận được qua màu sắc thì giải thích như thế nào? Nhớ Kawabata, trong cuốn Ngàn Cánh Hạc thì phải, một nhân vật nữ được hỏi vì sao vú của bà một bên to, một bên nhỏ?
Câu trả lời là chồng bà thuận tay trái. Hỏi bà Lan Phương ở đâu mà lắm người đẹp cho ông ấy vẽ thế?
“Dạ, không biết”.
Có thể tin được câu trả lời ấy không? Ánh sáng của ngọn đèn dừng lại trên một bức tranh không có khung ghim trên tường.
Garage bị dột chăng? Nước bám thành giọt trên bức tranh. Không, đấy chỉ là những giọt nước vẽ: trong suốt và đẹp như những viên ngọc. Người không quen với hội họa mới có thể bị sốc vì những bức tranh được hoàn tất bằng những bộ phận phế thải của một chiếc computer, những con ốc, con IC …
Nhưng cái thành phố chúng ta đang sống đây có thể nào tách rời ra khỏi những thứ ấy? Không biết có phải Nguyên Khai muốn đổi mới cách vẽ hay nhìn quanh đời sống không thể không có lúc thấy mình phải vẽ những bức tranh như thế, gắn liền sắt với màu. Nhưng dù là những bức tranh có lẫn kim khí như thế, người ta vẫn nhận ra chất thơ mộng lẩn khuất đâu đó quanh bức tranh, lấp lánh sau những mảng màu sậm, như những đốm sao nhìn thấy trong đêm của một thành phố kỹ nghệ.
Nói chung, cái chất thơ mộng, lãng mạn của tâm hồn Nguyên Khai hình như lúc nào cũng chìm lẩn dưới màu sắc, dưới những đường nét. Có vẻ như ông muốn dấu bớt chúng đi chứ không phơi bày ra.
Phòng tranh kỷ niệm 40 năm làm việc của Nguyên Khai, tháng 10/03, không có một bức tranh nào được vẽ từ 40 năm trước. Những bức tranh ấy bây giờ ở đâu, ai giữ, có lẽ chính ông cũng chỉ còn lại những kinh nghiệm. Không phải chỉ những kinh nghiệm hội họa, mà còn là những đắng cay, ngọt ngào của đời sống. Kinh nghiệm hiển nhiên là quý. Nhưng những nét vẽ không tuổi già, không quá khứ, tình cờ, hồn nhiên, lại có vẻ đẹp riêng.
Nguyên Khai muốn vẽ gì thì vẽ, nhưng xem tranh Nguyên Khai hãy tìm những bức ông vẽ hoa, vẽ thiếu nữ. Những thân hình mảnh mai ấy thế nào cũng có một chỗ đầy đặn. Màu sắc của ông không làm chói mắt, nhưng trong cái vẻ trầm trầm, buồn buồn, vẫn có một điểm nào đó rực rỡ sáng. Cái đẹp trong tranh Nguyên Khai là cái đẹp hiền hòa. Không có sự đe dọa mất mát. Tuổi trẻ tự nó là một cái đẹp, bền vững hay không là chuyện khác.
Có thể lấy câu thơ này của Tagore để nói về những bức tranh thiếu nữ của Nguyên Khai:
Sau Ngọc Dũng [hội họa], Nguyễn Cao Đàm [nhiếp ảnh], sinh hoạt tạo hình của chúng ta lại vừa mất thêm một cột trụ nữa, đó là điêu khắc gia Mai Chửng. Nhân tài như lá mùa thu, cứ rụng dần.
Mai Chửng mất ở tuổi 62. Nhớ lại, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, trong một bài báo có viết:
“Nếu tôi có chết ngay lúc đang viết những dòng này, thì cũng không gọi là chết yểu được nữa”. Nếu chúng tôi nhớ không nhầm thì khi viết những dòng
ấy, Nguyễn Mạnh Côn mới ở tuổi 48, 49 gì dó. Vậy, Mai Chửng đã ngoài 60, càng không thể coi là non yểu. Thế nhưng chúng ta vẫn cứ thấy tiếc.
Bởi vì, các tài năng của chúng ta không có bao nhiêu, lại bị phí phạm vào những việc không đâu mất quá nhiều thời gian. Thành thử, lắm lúc chúng ta tưởng chừng những người như Mai Chửng chỉ mới vừa bắt đầu lại công việc. Ngành sinh hoạt nào thì cũng có thể có nhiều người theo đuổi, dù các tài năng thực sự không phải lúc nào cũng có.
Riêng điêu khắc thì dường như, ngay đến cả những người theo đuổi không thôi, cũng đã hiếm. Có thể, hiện tượng này chỉ đúng với chúng ta thôi.
Nhưng đó là sự thật. Sở dĩ có cái sự thật đó, bởi vì, trước hết, có lẽ tại chúng
ta chưa có một điêu khắc gia nào, được thực sự xếp vào hàng các bực thầy, để có thể truyền dạy công việc. Mặc dù trong các trường mỹ thuật, điêu khắc vẫn được là một trong những bộ môn chính. Đó là chuyện trường học.
Ngoài đời thì, việc buôn bán tranh gần như đã trở thành một nghề phổ biến.
Các người yêu tranh có thể bỏ ra một số tiền kha khá, để mua tranh về nhà treo, cũng không còn là chuyện lạ nữa. Nhưng những người mua tượng, sưu tập tượng, dù với mục đích nghệ thuật hay thương mãi, vẫn còn rất ít. Ở đây, chúng ta sẽ không nói đến những tay buôn lậu tượng [cổ] để kiếm tiền, vì đó là một công việc khác hẳn. Làm nghệ thuật không có công việc nào dễ dàng cả.
Nhưng điêu khắc hình như khiến người ta ngại, vì nó có vẻ kềnh càng, phức tạp. Từ ngọn núi đến một hạt sạn đều có thể là vật liệu của công việc. Tràng, đục, dao, kéo, cưa, búa, cuốc, xẻng, kìm, kẹp, mỏ hàn … đều có thể là dụng cụ. Một bức tranh dù kích thước thế nào cũng chỉ có vài chỗ bầy nhất định: nội thất một tư gia, một dinh thự hay một viện bảo tàng nào đó. Còn tượng, nhiều khi cần đến cả một công viên, một khu rừng, chỉ để bầy một pho duy nhất. Dĩ nhiên cũng không thiếu những tượng để bầy trong tủ kính. Nghe nói tranh của một vài tác giả Việt Nam đã bán được tới cái giá 6 con số. Đối với chúng ta thì đó là một cái giá khá lớn rồi. Nhưng nó không có nghĩa gì đối với những tác giả ngoại quốc. Tượng của chúng ta thì quả thật không ai biết rõ cái giá tiêu biểu [tượng trưng] thế nào. Về giá trị nghệ thuật thì từ trước tới nay, bức tượng được nhiều người biết và nói đến nhất, có lẽ là bức Nghìn Thu Vĩnh Biệt [Tiếc Thương?] của Nguyễn Thanh Thu, đặt tại nghĩa trang quân đội, Thủ Đức.
Nhưng sau 1975, bức tượng [và cả cái nghĩa trang] đã bị người ta phá bỏ.
Ngọc Dũng, Nguyễn Cao Đàm, có thể có nhiều người đã có dịp được thấy tác phẩm của họ. Riêng Mai Chửng thì số người được thưởng lãm tác phẩm của ông rất ít. Bức tượng được nhiều người biết đến nhất của ông là bức ông cho bầy tại Phòng Báo Chí thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, nơi Mai Chửng đang làm việc với chức vụ đại úy. Tượng được hình thành hoàn toàn bằng những vỏ dạn súng cầm tay. Những vỏ đạn được hàn gắn liền với nhau, vặn vẹo như một khúc ruột trong cơn đau. Bức thứ hai là một khối đá trắng tạc đầu một người lớn và mấy đứa nhỏ.
Miệng và mắt cái người lớn cũng như lũ trẻ, có hình dạng làm liên tưởng tới miệng những ông bình vôi. Đó là những cái miệng không hẳn là những cái miệng, vì thế, có vẻ như không nói được. Những hố mắt khô rỗng, nhưng lại
có một vẻ gì đó rất thơ ngây, tội nghiệp. Chúng ta có bao nhiêu điêu khắc gia thực sự xứng danh?
Đó là một câu hỏi, hình như, trong hoàn cảnh hiện nay, chúng ta không trả lời được. Có điều mất Mai Chửng là chúng ta mất đi một điêu khắc gia có tài, thực sự có tài. Vì thế, cái chết của Mai Chửng không chỉ còn là nỗi tiếc thương riêng của gia đình ông.
Đảo bồ câu Tôi đang mải mê đứng ngắm cái thế giới tí hon này và theo dõi mấy con kiến cảnh binh xem thử sự giám sát của chúng có đến tận sát cửa vào tổ kiến hay không, thì bỗng có tiếng người nói: – Không được động đậy. Hễ nhúc nhích là chết ngay… Quay lại! Đó là một người cởi trần, mặc quần soọc ka ki, chân đi một đôi ủng da màu đỏ, tay cầm một khẩu súng hai nòng. Người ấy tầm vóc trung bình, to ngang, nước da cháy nắng. Đầu hắn hói trán, quanh hai mắt và ở vùng mũi xăm chàm rất đậm, làm thành một cái mặt nạ vẽ. Ngay giữa trán có xăm hình con dán. – Anh có vũ khí không? – Không. – Anh có một mình à? – Không. – Các anh có mấy người? – Ba. – Anh đưa tôi đến chỗ các bạn anh đi. – Không được, vì một trong hai người có một khẩu mousqueton, và tôi không muốn anh bị bắn chết trước khi biết ý định của anh. – À! Vậy thì anh phải đứng yên và nói khe khẽ một phút. Các anh chính là ba tù nhân vừa trốn khỏi bệnh viện phải không? – Vâng. – Ai là Bươm bướm? – Tôi đây. – À thế thì anh có thể coi như anh đã gây ra cả một cuộc cách mạng ở trong làng với cuộc vượt ngục của anh! Một nửa số phạm nhân mãn hạn đã bị bắt giải về sở hiến binh. Hắn bước lại gần tôi, nòng súng chĩa thấp xuống đất chìa tay ra cho tôi bắt và nói: Tôi là Le Breton Mặt nạ. Anh đã từng nghe nói về tôi chưa? – Chưa, nhưng tôi thấy rõ anh không phải là kẻ săn người. – Đúng đấy. Tôi đặt bẫy ở đây để bắt chim hocco. Hổ ăn mất cửa tôi một con rồi… nhưng cũng có thể là các anh. – Chúng tôi ăn đấy. – Anh uống cà-phê nhá? Trong cái xắc hắn đeo sau lưng có một cái bình thủy. Hắn rót ra cho tôi một ít cà phê, và bản thân cũng uống một ít. Tôi nói: – Đến gặp các bạn tôi đi. Hắn đến, và ngồi xuống với chúng tôi. Hắn cười khe khẽ một mình về câu chuyện khẩu mousqueton mà ban nãy tôi đã bịa ra để lòe hắn. Hắn nói: – Thế mà ban nãy tôi tưởng thật, vì không có một tên săn người nào chịu nhận đi tìm các anh: ai nấy đều biết rằng các anh có mang theo một khẩu mousqueton. Le Breton Mặt nạ giảng giải cho chúng tôi biết rằng anh ta đã ở Guyane được hai mươi năm và đã ra khỏi tù được năm năm nay. Anh ta bốn mươi lăm tuổi. Vì đã lỡ dại dột xăm hình lên mặt, anh ta không nghĩ đến chuyện về Pháp nữa. Anh ta rất mê rừng và toàn sống nhờ vào rừng: da rắn, da hổ, sưu tầm bươm bướm, và nhất là bắt chim hocco – con chim mà chúng tôi vừa ăn. Anh ta kể cho chúng tôi nghe như sau: – Đây là một giống chim hoang dã thuộc loại gà rừng. Dĩ nhiên nó chưa bao giờ tiếp xúc với gà nhà hay với người. Tôi đặt bẫy bắt sống giống chim này, đem vào làng và bán cho người nào có chuồng gà, vì đây là giống chim rất được ưa chuộng. Còn phải nói. Chẳng cần vặt lông cánh, chẳng cần làm gì, cứ thế đến sâm sẩm tối cho nó vào chuồng gà, đến sáng mở cứa chuồng là nó ra đứng trước cửa có vẻ như đang đếm số gà trống và gà mái đang ra chuồng. Nó đi theo đàn gà, và cũng ăn như gà, nhưng vừa ăn vừa đưa mắt nhìn kỹ bốn phía mười phương, quan sát cả các bụi rậm ở xung quanh.
Đó là một con chó giữ gia cầm không có gì sánh kịp. Đến tối nó về đứng ở cửa chuồng gà, và không thể hiểu nó làm thế nào mà biết được còn thiếu con nào, chỉ biết là nó biết, và lập tức đi tìm. Dù gà trống hay gà mái, hễ tìm ra là nó mổ rõ đau vào để dạy cho chú gà kia biết giờ biết giấc. Nó giết chuột đồng, rắn, nhện, rết, bọ cạp, và hễ thoáng có bóng một con diều hâu xuất hiện trên nền trời là nó lùa cả đàn gà vào đám cỏ rậm trong khi bản thân nó đứng ra đối địch với kẻ thù. Đã đem nó về là nó không rời chuồng gà bỏ đi nữa. Một con chim lạ lùng như thế mà chúng tôi đã luộc ăn như một con gà tầm thường. Le Breton Mặt nạ cho chúng tôi biết rằng Jésus, l’ Enflé và khoảng ba chục cựu phạm nhân hiện đang bị giam ở sở cảnh binh Saint-Laurent; ở đấy họ đến xem các tù nhân mãn hạn, xem thử có nhận ra một người nào đã từng rình mò xung quanh tòa nhà mà chúng tôi đã ở trước khi trốn đi không. Thằng “giữ chìa khóa” người A-rập thì bị nhốt xà-lim ở sở cảnh binh. Hắn bị giam cách ly, vì họ nghi là hắn đồng lõa với chúng tôi. Hai cú chân giường sắt đã làm cho hắn ngất đi nhưng không để lại chút thương tích nào, còn bọn cảnh sát thì chỉ bị sưng đầu nhẹ. “Còn tôi thì cảnh sát không động đến, vì ai cũng biết tôi không bao giờ nhúng tay vào các vụ vượt ngục” Le Breton nói với chúng tôi rằng Jésus là một thằng rất khốn nạn. Khi tôi nói tới chiếc xuồng, anh ta đòi xem. Vừa trông thấy nó anh ta đã kêu lên: – Nó thí mạng các anh còn gì. Cái xuồng này sẽ không bao giờ nổi lấy được một tiếng đồng hồ trên mặt biển. Hễ gặp phải một ngọn sóng hơi mạnh một chút, khi dập xuống nó sẽ vỡ ra làm đôi ngay. Chớ có đi chiếc xuồng này: chẳng khác gì tự sát. – Thế thì biết làm cách nào bây giờ?
– Anh có tiền không? – Có – Bây giờ tôi nói cho anh biết rõ phải làm gì, hơn nữa, tôi sẽ giúp anh: anh xứng đáng được giúp đỡ. Tôi sẽ giúp không thôi, sao cho anh và các bạn anh thành công. Vì bất cứ lý do gì các anh cũng không được đến gần làng. Muốn có được một cái thuyền tốt, phải đến đảo Bồ câu. Trên đảo này có gần hai trăm người hủi. ở đây không có giám thị, và không bao giờ có một người nào lành mạnh đến đấy, kể cả thầy thuốc. Cứ mỗi ngày vào lúc tám giờ, một chiếc xuồng đưa lương thực đến cho người trên đảo đủ dùng trong hai mươi bốn tiếng, toàn đồ ăn sống. Viên y tá bệnh viện nhà lao giao một thùng thuốc cho hai viên y tá của đảo (đều mắc bệnh hủi), chuyên chăm sóc bệnh nhân trên đảo. Không có một ai, dù là cảnh sát, linh mục hay bọn săn người, đặt chân lên đảo. Những người hủi sống trong mấy túp nhà tranh nhỏ do chính họ dựng lên. Họ có một căn nhà chung để hội họp. Họ nuôi gà vịt để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Họ không được công khai bán bất cứ thứ gì, nhưng họ vẫn bí mật giao dịch mua bán với Saint-Laurent, Saint-Jean và với dân Tàu ở Guyane thuộc Hà-lan, ở Albina. Họ đều là những kẻ sát nhân thuộc loại nguy hiểm. Rất ít khi họ giết lẫn nhau, nhưng họ rất hay bí mật ra khỏi đảo, phạm một tội ác rồi sau đó lại trở về ẩn náu trên đảo. Để thực hiện những chuyến đi ấy, họ có một số thuyền lấy trộm được của dân làng bên. ở đảo này, tội nặng nhất là có một chiếc thuyền. Cảnh sát được lệnh bắn vào bất cứ thuyền nào đi vào đảo Bồ câu hay ra khỏi đảo. Vì vậy bọn hủi nhận chìm thuyền của họ xuống nước và lấy đá chặn cho thuyền khỏi nổi lên. Mỗi khi cần đến thuyền, họ lặn xuống nước bỏ đá ra, thế là thuyền lại nổi lên. Trên đảo có đủ các giống người, từ khắp các miền của nước Pháp. Kết luận: cái xuồng của anh chỉ có thể dùng trên sông Maroni mà thôi, mà với điều kiện là không chở nặng quá! Muốn ra biển phải kiếm một chiếc thuyền khác và cách tốt nhất là đến đảo Bồ câu mà tìm. – Làm thế nào để đến đấy? – Đây. Tôi sẽ cùng đi với anh trên sông cho đến khi trông thấy đảo. Nếu đi một mình, anh sẽ không tìm ra hoặc có thể nhầm sang đảo khác. Đảo này cách cửa sông một trăm năm mươi cây số. Vậy phải quay trở lại phía sau. Nó ở phía trên Saint – Laurent đến năm mươi cây số. Tôi sẽ đưa anh đến thật gần đảo, sau đó tôi sẽ chuyển sang xuồng của tôi (ta sẽ kéo nó theo) và một mình anh sẽ hành động trên đảo. – Tại sao anh không lên đảo với chúng tôi? – Trời ơi, – Le Breton nói. – Tôi đặt chân lên bến ván của họ có một lần (cái bến ván này là nơi ghé chính thức của thuyền Ban quản trị). Hồi đó là giữa ban ngày, thế mà những điều tôi trông thấy đã đủ cho tôi ngán lắm rồi. Anh tha thứ cho tôi, Papi ạ, nhưng cho tới chết tôi sẽ không bao giờ còn đặt chân lên đảo này nữa. Vả chăng tôi sẽ không khắc phục nổi cái cảm giác ghê tởm khi đứng gần họ, khi phải nói chuyện, phải thương lượng với họ. Như vậy tôi sẽ có hại hơn là có lợi cho anh. – Bao giờ thì đi? – Sâm sẩm tối thì đi. – Thế bây giờ là mấy giờ rồi, Breton? – Ba giờ. – Được thế thì tôi ngủ một lát. – Không được đâu, anh phải thu xếp chở hết đồ đạc lên xuồng. – Ồ, không, tôi sẽ đi xuồng không, sau đó sẽ quay về đón Clousiot. Clousiot sẽ ở lại đây trông đồ. – Không thể được, không bao giờ anh có thể tìm lại chỗ này, ngay giữa ban ngày cũng vậy. Mà ban ngày thì anh tuyệt nhiên không được có mặt trên sông. Cuộc lùng bắt các anh chưa chấm dứt đâu. Vùng sông vẫn còn nguy hiểm lắm.
Chiều xuống. Le Breton đi tìm cái xuồng độc mộc của anh. Chúng tôi buộc nó vào phía sau thuyền của chúng tôi. Clousiot ngồi cạnh Le Breton đang cầm chèo lái Maturette ngồi giữa, tôi ngồi phía trước. Thuyền ra khỏi vịnh một cách khó khăn, và khi ra đến sông thì trời đã sắp tối. Một vầng thái dương khổng lồ màu đỏ huyết dụ làm bùng lên một đám cháy ở chân trời phía biển. Muôn vàn tia lửa của một trận pháo hoa vĩ đại đang thi nhau bùng lên, như thể những tia đỏ đang cố sao cho đỏ hơn những tia đỏ khác, những tia vàng đang cố sao cho vàng hơn những tia vàng khác, và ở những vùng các màu sắc pha trộn vào nhau thì cố sao kết hợp được thật nhiều màu sắc. Có thể trông rõ ở phía trước, cách chúng tôi hai mươi cây số, cái cửa bể của con sông oai nghiêm đang đổ ra đại dương trong những đợt sóng màu hồng chen ánh bạc lấp lánh. Le Breton nói: “Giờ nước ròng sắp hết. Chỉ một tiếng đồng hồ nữa sẽ thấy nước triều lên: ta sẽ lợi dụng nó để đi ngược sông Maroni, và đi như thế chẳng cần chèo chống gì nhiều, rất chóng đến nơi”. Đêm tối đổ sập xuống một cách đột ngột. – Đi thôi, – Le Breton nói. – Chèo cho mạnh để ra giữa sông. Đừng hút thuốc nữa. Mấy mái chèo vục xuống nước, và chúng tôi cắt ngang dòng đi khá nhanh. Tôi và Le Breton phối hợp rất ăn nhịp với nhau, mái chèo cắt nước đều đặn. Maturette đem hết sức bình sinh ra chèo. Càng ra giữa dòng càng cảm thấy rõ thủy triều đang đẩy thuyền lao mạnh về phía trước. Thuyền lướt đi vun vút, cứ nửa giờ một lại cảm thấy thủy triều lên mạnh hơn. Sáu giờ sau, chúng tôi đã đến rất gần đảo. Thuyền lao thẳng vào đấy: một cái vệt lớn gần đúng giữa dòng sông, chi hơi chếch về bên phải một chút. “Đây rồi” – giọng Le Breton nói khẽ. Đêm không tối lắm, nhưng chắc đứng hơi xa không sao thấy được chúng tôi, vì làn sương mù bay là là trên mặt sông. Chúng tôi đã đến sát đảo. Khi đã phân biệt được rõ hơn những đường nét của giải bờ đá, Le Breton bước sang chiếc thuyền độc mộc của anh ta, nhanh nhẹn cởi dây buộc và nói khẽ một câu: “Chúc các bạn may mắn!”. – Cám ơn nhé. – Không có gì. Chiếc thuyền của chúng tôi, không được Le Breton điều khiển nữa, bị dòng nước đẩy ngang vào bờ đảo. Tôi cố lái cho nó đi thẳng trở lại, nhưng không có kết quả cho lắm, và vẫn bị dòng nước đẩy mạnh, chiếc thuyền đâm cheo chéo vào những khóm lá rũ trên mặt nước. Thuyền xô vào bờ rất mạnh, mặc dầu tôi đã dùng chèo cố hãm lại, đến nỗi giá đây không phải là một lùm cây mà là một tảng đá, thì chiếc thuyền đã vỡ tan ra rồi, và thế là đi tong các thứ đồ dùng và lương thực, v. v. Maturette nhảy xuống nước, kéo chiếc thuyền vào, thế là chúng tôi chui vào phía dưới một lùm cây rất to. Cậu ta lại kéo nữa, và chúng tôi đã buộc được thuyền vào một cành cây. Chúng tôi uống mỗi người mấy ngụm rượu rhum, và tôi leo lên bờ một mình, để hai bạn tôi ngồi lại dưới thuyền. Tay cầm địa bàn, tôi bước đi sau khi đã làm gãy mấy cành cây và móc vào nơi này nơi nọ những miếng vải bao bột mà tôi đã xé sẵn ra trước khi lên đường. Đi được một lát, tôi thấy có ánh đèn lập lòe phía trước và chợt nghe thấy những tiếng người nói. Trước mặt tôi có ba nếp nhà tranh. Tôi bước về phía đó. Vì tôi không biết mình sẽ trình diện với những người ở trên đảo ra sao, tôi quyết định để cho họ phát hiện tôi trước. Tôi đánh một que diêm. Khi ánh lửa lóe lên, một con chó nhỏ vừa sủa vừa xông vào tôi. Nó cứ chồm chồm chỉ chực cắn vào chân tôi. Mong sao nó đừng mắc bệnh hủi” – tôi thoáng nghĩ. Ngu quá, chó có bao giờ lại mắc bệnh hủi! – Ai đấy? Ai? Cậu đấy hả Marcel? – Tôi là một người vượt ngục. – Anh đến đây làm cái gì? Để ăn trộm hẳn? Anh tưởng chúng tôi có của thừa chắc? – Tôi cần được giúp đỡ. – Giúp không hay có trả tiền? – Mày có câm mồm đi không, thằng Chouette kia? Bốn bóng người từ trong mấy nếp nhà tranh đi ra. – Đi tới từ từ anh bạn! Tôi cuộc rằng anh chính là người có khẩu mousqueton. Nếu anh có mang theo, anh cứ để xuống đất đi, ở đây anh không sợ gì hết. – Vâng, chính tôi, nhưng khẩu mousqueton thì tôi không mang theo. Tôi bước tới sát họ. Trời tối quá tôi không phân biệt được nét mặt mấy người ấy. Tôi giơ tay ra một cách ngu xuẩn. Không ai bắt lấy bàn tay tôi. Tôi hiểu ra, một cách hơi muộn màng, rằng bắt tay là một cử chỉ không bao giờ có ở đây: họ không muốn làm cho tôi nhiễm bệnh. – Vào nhà đi, – La Chouette nói. Túp lều tranh sáng mờ mờ dưới ánh một cây đèn dầu đặt trên bàn. – Ngồi xuống đi. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế rơm không có lưng tựa. La Chouette thắp thêm ba cây đèn dầu nữa và đem một cây đặt lên cái bàn ngay trước mặt tôi. Ngọn khói bốc lên từ cái bấc đèn dầu dừa tỏa ra một thứ mùi ngửi mà buồn nôn. Tôi ngồi, còn năm người kia đứng, tôi không trông rõ mặt họ. còn mặt tôi thì vừa ngang tầm ánh đèn, chắc họ trông rất rõ: hẳn là họ có chủ ý để ánh sáng như vậy. Giọng nói ban nãy đã mắng bảo La Chouette câm mồm bây giờ lại nói: – L’anguille, cậu sang bên nhà chung hỏi xem bên ấy có muốn chúng ta đưa anh này sang không. Toussaint trả lời ra sao về đây báo ngay, nhất là trong trường hợp Toussaint đồng ý. ở đây chúng tôi không có gì để mời anh uống đâu anh bạn ạ, trừ khi anh vui lòng nuốt trứng sống. Hắn đặt trước mặt tôi một cái giỏ đan đựng đầy trứng. – Cám ơn, tôi không cần đâu. Bên tay phải, rất gần chỗ tôi, một người trong bọn họ ngồi xuống, và lần đầu tiên tôi trông thấy bộ mặt của một người hủi. Thật là gớm ghiếc. Tôi phải cố gắng lắm mới không ngoảnh mặt đi và không để lộ cái cảm giác ghê tởm ra ngoài. Cái mũi đã bị ăn mòn hết cả thịt lẫn xương, ở chính giữa mặt chỉ thấy một cái lỗ lớn. Tôi nói là một cái lỗ, chứ không phải hai đâu, nó to bằng một đồng tiền hai francs. Cái môi dưới về phía bên phải cũng bị ăn sứt, để lộ ba cái răng tróc nếu, rất dài đều vàng khè, cắm thẳng vào xương hàm trên đã tróc hết thịt. Hắn chỉ còn một tai. Hắn đặt một bàn tay băng bó lên bàn: đó là bàn tay phải. Bằng hai ngón tay cuối cùng còn lại trên bàn tay phải, hắn cầm một điếu xì gà to và dài, chắc chắn là do hắn quấn lấy bằng một tấm lá thuốc chưa khô hẳn, vì điếu xì-gà có màu tai tái. Chỉ còn con mắt bên trái của hắn là con mi, mắt bên phải không nhắm lại được, và một vết loét dài và sâu từ mắt phải chạy lên trán rồi mất hút trong mớ tóc hoa râm bù xù.
Bằng một giọng khản đặc, hắn nói với tôi: – Chúng tôi sẽ giúp anh, anh bạn ạ. Chứ không thì rồi dần dà anh sẽ có đủ thì giờ để trở thành như tôi: điều đó tôi chẳng muốn. – Cám ơn. Tôi tên là Jean sans Peur, tôi là dân ngoại ô. Khi tôi bước chân đến trại khổ sai, tôi còn đẹp hơn, lành mạnh hơn, khỏe hơn anh. Trong mười năm, tôi đã hóa ra thế này. – Họ không chữa cho anh sao? – Có chứ. Từ khi tôi tiêm dầu choumogra cho đến nay thì thấy có đỡ. “Đây anh xem”. Hắn quay nghiêng đầu cho tôi xem mé bên trái: – Bên này đang khô dần. Một niềm thương xót vô hạn tràn ngập lòng tôi, và tôi giơ tay ra toan sờ vào má bên trái của hắn để bày tỏ niềm thông cảm. Nhưng hắn đã né người ra phía sau, nói: – Cám ơn anh đã có lòng muốn chạm vào tôi. Nhưng tôi phải khuyên anh là đừng bao giờ chạm vào một người bệnh, mà cũng đừng bao giờ ăn hay uống vào một cái cà-mèn của họ. Trước sau tôi chỉ một lần trông thấy mặt một người hủi – người duy nhất đã có đủ can đảm chịu để cho tôi nhìn thẳng vào mặt. – Hắn ta đâu? – Trên ngưỡng cửa hiện ra một bóng người thấp tịt, gần như một người lùn. – Toussaint và mấy tay kia muốn gặp hắn. Đưa hắn tới trung tâm đi. Jean sans Peur đứng dậy, nói với tôi: – Đi theo tôi. Chúng tôi cùng đi cả ra ngoài trong đêm tối, bốn năm người đi phía trước, Jean sans Peur đi bên cạnh tôi, mấy người nữa đi phía sau. Ba phút sau, khi chúng tôi đi đến một cái nền rộng đắp cao lên, ánh trăng mờ mờ soi lên cái thứ quảng trường này. Đó là chỗ cao nhất trên đảo. ở chính giữa có một ngôi nhà. Một ít ánh sáng lọt qua hai khung cửa sổ. Khoảng hai mươi người đứng trước cửa chờ chúng tôi. Chúng tôi bước tới. Vào đến cửa, họ xê ra hai bên cho chúng tôi vào nhà. Đó là mọt gian phòng hình chữ nhật chiều dài khoảng mười mét, chiều rộng bốn mét, có một thứ lò sưởi củi gỗ đang cháy, bốn góc có đặt bốn tảng đá lớn cao ngang nhau. Gian phòng được chiếu sáng bằng hai cây đèn bão lớn thắp dầu hỏa. Ngồi trên một chiếc ghế đẩu là một người không có tuổi, mặt trắng bệch, mắt đen. Sau lưng hắn có năm sáu người ngồi trên một chiếc ghế dài. Hắn nói với tôi: – Tôi là Toussaint le Corse, còn anh là Papillon? – Vâng. – Ở trại khổ sai tin tức đi rất nhanh, cũng nhanh ngang những hành động của anh. Khẩu mousqueton của anh để đâu? – Chúng tôi ném xuống sông rồi. – Ở chỗ nào? ‘ Ngay trước bức tường bệnh viện, đúng ở chỗ chúng tôi leo qua tường. – Thế thì có thể tìm lại được chứ? – Tôi nghĩ là có thể, vì nước chỗ ấy không sâu. Sao anh biết? – Vì chúng tôi phải lội xuống nước để khiêng anh bạn của chúng tôi bị thương đưa lên thuyền. – Hắn ta bị thương thế nào? – Gãy một chân. – Anh đã làm gì cho hắn chưa? – Tôi đã buộc nẹp cho anh ta. – Hắn có đau không? – Có – Bây giờ hắn đâu? – Dưới xuồng ấy. – Anh bảo là anh đến đây vì cần được giúp đỡ: vậy anh cần thứ gì? – Một chiếc thuyền. – Anh cần chúng tôi giúp anh một chiếc thuyền? – Vâng. Chúng tôi có tiền để trả. – Được Tôi sẽ bán cho anh chiếc thuyền của tôi. Nó là thứ tuyệt hảo, và hãy còn mới toanh. Tôi vừa mới lấy trộm được tuần trước ở Albina. Đó không phải là một cái thuyền, đó là một chiếc tàu viễn dương. Chỉ thiếu có một cái: đó là cái trụ đáy. Trong hai tiếng đồng hồ bọn tôi sẽ lắp cho anh một cái trụ đáy tươm tất. Còn thì cái gì cũng có sẵn: bánh lái có cả tay lái đầy đủ, cột buồm cao bốn mét bằng gỗ lim và một lá buồm bằng vải lanh mới tinh khôi. Anh trả tôi bao nhiêu? – Anh cứ nói giá đi! Tôi không biết giá cả ở đây. – Ba ngàn francs nếu anh có đủ tiền trả, còn nếu không đủ thì anh quay về tìm khẩu mousqueton đi rồi tối mai đem đến đây mà đổi lấy thuyền. – Không, tôi sẽ trả tiền. – Được rồi. Xong phắt. La Puce, dọn cà-phê! La Puce tức là cái người lùn tịt ban nay đã sang bên kia tìm tôi. Hắn đến cạnh một tấm ván đóng vào tường phía trên lò sưởi, lấy một cái cà-mèn mới tinh đã được lau chùi bóng lộn lên, rồi lấy một cái chai đựng cà phê rót vào đấy và bắc bên bếp lửa. Một lát sau hắn bỏ cà-mèn xuống, rót cà-phê ra mấy cái ca đề cạnh bốn tảng đá. Toussaint cúi người cầm lấy và chuyển cho mấy người ngồi sau lưng hắn. La Puce cầm cái cà-mèn đưa cho tôi, nói: “Uống đi, đừng sợ, cái cà-mèn này chỉ dùng cho khách vãng lai. Không có người bệnh nào uống vào đây đâu”. Tôi cầm lấy cái cà-mèn uống rồi đặt lên đùi. Lúc bấy giờ tôi mới nhận thấy có một đốt ngón tay người dính vào cái cà-mèn. Tôi đang ngỡ ngàng thì La Puce nói: – Chà, mình lại rơi đâu mất một ngón tay nữa rồi! Đi đi đàng nào thế không biết? – Nó đây – Tôi vừa nói vừa chỉ cái cà-mèn. La Puce gỡ cái ngón tay ra, ném vào lửa. Hắn lại đưa cà-mèn cho tôi, nói: – Anh cứ uống đi, vì tôi là loại hủi khô. Tôi cứ rụng dần từng bộ phận một, nhưng tôi không bị rữa, chứng này không lây đâu. Một mùi thịt nướng thoang thoảng trên không. Tôi nghĩ bụng chắc đó là mùi cái ngón tay bị ném vào lò sưởi Toussaint nói: “Anh sẽ phải ở lại đây cả ngày cho đến tối để chờ nước ròng. Bây giờ anh phải ra bảo cho các bạn anh biết. Các anh hãy khiêng anh bạn bị gãy chân lên một căn lều mà nằm, xuống thuyền lấy hết các thứ lên rồi nhận chìm nó đi. ở đây không có ai đỡ được cho các anh một tay đâu. Chắc anh cũng hiểu tại sao rồi. Tôi lập tức ra chỗ hai bạn tôi đang đợi ở dưới thuyền. Tôi và Maturette khiêng Clousiot lên, đặt cho anh ta nầm trong một căn lều. Một giờ sau dưới thuyền không còn thứ gì nữa, và các đồ đạc, thực phẩm của chúng tôi đều được xếp lại ngăn nắp. La Puce xin chúng tôi cái xuồng và một mái chèo. Tôi cho ngay. Hắn liền đem xuồng đi dìm ở một nơi hắn biết. Đêm đã qua rất nhanh. Cả ba chúng tôi cùng nằm trong căn lều tranh, trên những tấm chăn mới do Toussaint gửi tới. Mỗi tấm đều được trao cho chúng tôi trong một cái túi bọc bằng giấy gói hàng loại cứng. Tôi nằm dài trên chăn kể lại cho Clousiot và Maturette nghe những sự việc đã diễn ra từ khi tôi lên đảo và kết quả cuộc thương lượng giữa tôi với Toussaint. Clousiot nói ra một câu rất ngốc, chẳng qua vì không kịp suy nghĩ: – Vậy là chuyến vượt ngục này tốn sáu ngàn năm trăm francs. Tớ sẽ đưa cậu một nửa số tiền ấy, tức là cái món ba ngàn francs của tớ. – Tụi mình đến đây không phải để ngồi làm những con tính kiểu Armêni như vậy. Chừng nào tôi hãy còn xu là tôi cứ trả. Rồi sau hẵng hay. Không một người hủi nào vào căn lều của chúng tôi. Trời sáng thì thấy Toussaint đến. – Chào các anh. Các anh có thể ra ngoài chơi. Cứ yên tâm: ở đây không có ai đến quấy rầy các anh đâu. Trên ngọn cây dừa ở đàng kia có một tay của chúng tôi gác. Xem có thuyền của cảnh sát đi trên sông không. Bây giờ không có. Chừng nào vẫn thấy miếng vải trắng kia bay trên ngọn dừa tức là không có gì. Nếu trông thấy gì, tay gác trên ngọn dừa sẽ xuống báo ngay. Các anh có thể tự đi hái đu đủ lấy mà ăn nếu thấy thích. Tôi nói: – Toussaint này, thế cái trụ đáy thì thế nào đây? – Sẽ lấy cánh cửa bệnh xá mà làm. Đó là loại “gỗ rắn”, rất nặng. Xẻ đôi cánh cửa ra thành hai tấm gỗ ghép lại là xong. Anh em ở đây đã đưa thuyền lên bãi cao từ hồi đêm. Anh đến mà xem.
Chúng tôi cùng đến xem. Đó là một chiến thuyền tuyệt đẹp dài năm mét hãy còn mới tinh. Trên thuyền có hai tấm ván bắc ngang trong đó một tấm có khoét lỗ để đút cột buồm. Thuyền rất nặng. Tôi và Maturette phải khó nhọc lắm mới lật sấp nó xuống được. Cánh buồm và dây lèo đều mới. Hai bên mạn thuyền có gắn những cái vòng để buộc các thứ chở theo, trong đó có thùng nước ngọt. Chúng tôi bắt tay vào việc. Đến trưa, một cái trụ đáy chắc chắn, càng về phía trước càng thon lại, đã được gắn chặt vào đáy thuyền bằng những cái đinh xoắn ốc rất dài và bằng bốn cái đinh chốt có lắp vòng mà tôi đã mang theo. Đứng thành vòng tròn xung quanh chúng tôi, đám người hủi im lặng xem chúng tôi làm. Toussaint chỉ vẽ cho chúng tôi rõ cần làm những gì, và chúng tôi cứ thế mà làm theo. Mặt Toussaint thoạt trông có vẻ như bình thường: không có chỗ nào lở loét hay sứt sẹo; chỉ khi nào hắn nói mới thấy là chỉ có một nửa mặt bên trái nhúc nhích. Hắn cũng nói rõ cho tôi biết là nửa bên phải bị liệt hẳn, và cũng nói thêm rằng hắn bị bệnh hủi khô. Ngực bên phải và cánh tay phải của hắn cũng bi liệt và hắn dự tính là chỉ ít lâu nữa cái chân phải cũng sẽ liệt nốt: Con mắt phải của hắn im lìm bất động như mắt giả. Nó vẫn thấy, nhưng không cử động được. Tên những người hủi trên mấy trang giấy này đều không phải là tên thật của họ. Để đừng bao giờ những ai đã từng yêu đương hay quen biết những con người khốn khổ này biết được họ đã bị thối rữa ngay khi còn sống một cách ghê sợ như thế nào. Tôi vừa làm việc vừa nói chuyện với Toussaint. Nhưng người khác chẳng ai nói gì. Chỉ trừ có một lần: lúc ấy tôi toan cầm lấy mấy cái bản lề họ đã tháo ra từ một cái tủ trong bệnh xá để đóng thêm vào trụ đáy cho chắc, thì một người hủi nói: “Khoan đã, cứ để đấy. Trong khi tháo tôi bị đứt tay nên máu dính vào đấy. Tôi đã chùi di nhưng chưa sạch hẳn”. Một người hủi khác lấy rượu rhum rót lên chiếc bản lề rồi châm lửa đốt hai lần, xong mới nói: “Bây giờ thì được rồi, anh lấy đi”. Trong khi chúng tôi làm việc, Toussaint nói với một người hủi: “Cậu đã mấy lần đi, cậu phải nói kỹ cho Bươm bướm hiểu rõ cung cách, vì ba cậu này đều chưa đi lần nào”. Người kia lập tức giảng giải: – Chiều nay sẽ có nước ròng rất sớm, ba giờ đã bắt đầu rồi. Chập tối khoảng sáu giờ, sẽ có một dòng nước thủy triều xuống rất mạnh, trong khoảng chưa đến ba tiếng đồng hồ sẽ đưa các anh xuống chỉ cách cửa bể chừng một trăm cây số. Đến chín giờ là phải dừng lại. Anh phải buộc kỹ thuyền vào một thân cây trong rừng mà đợi cho qua sáu tiếng đồng hồ nước thủy triều lên: tức là đến ba giờ sáng. Anh đừng ra đi vào giờ này, vì nước xuống chưa mạnh. Đến bốn giờ rưỡi sáng anh hãy cho thuyền ra giữa sông. Anh có được một tiếng rười để đi năm mươi cây số trước khi mặt trời lên. Cái thời gian một tiếng rưỡi này là thời cơ độc nhất vô nhị của anh đấy. Đến sáu giờ, khi trời sáng, anh phải ra biển rồi. Dù bọn cảnh sát có trông thấy anh, chúng cũng không đuổi theo anh được, vì chúng sẽ đến chỗ giáp triều ở cửa biển đúng vào lúc thủy triều bắt đầu lên. Chúng sẽ gặp phải ngọn triều dữ dội không tài nào vượt qua được trong khi anh đã ra khơi rồi. Cái khoảng cách một cây số ngăn chia bọn cảnh sát với anh khi chúng trông thấy anh, bằng bất cứ giá nào anh cũng phải có được nó: vì đó chính là sinh mệnh của anh. ở đây chỉ có một lá buồm, trước đây anh đã sắm được những gì cho cái xuồng kia?
– Một lá buồm chính và một lá buồm foc. – Chiếc thuyền này nặng, có thể chịu được hai foc, một lá căng đứng dọc cột buồm, đáy hình tam giác chạy từ mũi thuyền đến chân cột buồm, một lá buộc lỏng cho nó phồng lên ở phía trước mũi thuyền, để nó nâng mũi thuyền lên khi có sóng ngược chiều. Khi vượt cửa biển anh cho căng hết buồm lên, đâm thẳng vào các đợt sóng: ở cửa biển sóng bao giờ cũng rất to. Anh cho hai bạn anh nằm sát đáy thuyền để cho nó có thăng bằng hơn, còn anh, anh phải cầm tay lái thật vững. Đừng buộc lèo vào chân, phải luồn nó vào cái vòng bên mạn thuyền và giữ nó bằng cách quấn một vòng quanh cổ tay (chỉ một vòng thôi đấy). Nếu anh thấy sức gió thổi cùng chiều với một ngọn sóng lớn làm cho nó mạnh thêm gấp bội, và anh phải nằm rạp xuống nước với nguy cơ lật thuyền, anh hãy buông hết ra, sẽ thấy thuyền tức khắc lấy lại thăng bằng. Khi đó anh đừng hãm lại, cứ thả lỏng cho buồm chính vật qua vật lại mặc sức, chỉ dùng hai lá foc cho thuyền tiến thẳng vào luồng gió. Mãi đến khi nào ra đến chỗ nước xanh anh mới đủ thì giờ để bảo cậu bé hạ buồm xuống, thu gọn nó vào lòng thuyền, rồi sau đó cho kéo nó lên và lại chuyển sang hướng mới. Anh biết đường đi trên biển chứ? – Không. Tôi chỉ biết rằng xứ Venezuela và xứ Colombia ở về phía tây-bắc. Đúng đấy, nhưng anh phải coi chừng đừng để gió thổi dạt vào bờ. Xứ Guyane thuộc Hà Lan họ giao trả tù vượt ngục đấy, xứ Guyane thuộc Anh cũng vậy. Đảo Trinidad thì không giao trả tù nhưng lai bắt anh phải lên đường sau mười lăm ngày cho tạm trú. Xứ Venezuela thì trao trả tù vượt ngục sau khi đã bắt anh làm phu sửa đường một hai năm. Tôi vểnh hết tai lên nghe thật kỹ. Toussaint nói là thỉnh thoảng anh ta vẫn đi, nhưng vì anh ta mắc bệnh hủi cho nên cũng bị họ trả về một cách dứt khoát. Anh ta thú thật là chưa bao giờ đi quá được Georgetown ở Guyane thuộc Anh. Bệnh hủi của Toussaint chỉ có thể thấy rõ khi nào anh ta đi chân không: bao nhiêu ngón chân đều đã rụng hết. Anh ta bắt tôi nhắc lại những điều anh ta vừa dặn dò tôi. Tôi nhắc lại không sai một chữ. Đến đây Jean sans Peur nói: “Anh ta phải đi ra khơi trong bao nhiêu lâu?” Tôi trả lời trước: – Tôi sẽ đi hướng bắc – đông – bắc trong ba ngày. Với ảnh hưởng của hải lưu, hướng thực tế sẽ thành bắc bắc; đến ngày thứ tư tôi sẽ chuyển sang hướng tây bắc, và kết quả sẽ là chính tây. – Khá lắm, – Toussaint nói. – Tôi thì lần vừa rồi tôi chỉ đi hai ngày theo hướng đông – bắc, thành thử tôi rơi đúng vào Guyane thuộc Anh. Với ba ngày theo hướng bắc, anh sẽ vòng qua phía bắc Trinidad hay Barbados, và băng một phát qua Venezuela mà không hay, để rơi trúng vào Curacao hay Colombia. Jean sans Peur nói: – Toussaintnày, cậu vừa bán chiếc thuyền bao nhiêu? – Ba ngàn, – Toussaint nói. – Đắt quá hay sao? – Không. Tôi hỏi không phải có ý như thế. Chẳng qua để biết thôi. Anh có đủ sức trả không, Papillon? – Có Trả xong có còn được ít nhiều gì không? Không. Chúng tôi chỉ có ngần ấy: đúng ba ngàn francs trong plan của cậu Clousiot. – Toussaint ạ, tôi đưa khẩu súng lục của tôi cho cậu – Jean sans Peur nói. – Tôi muốn giúp các cậu này. Cậu trả tôi bao nhiêu? – Một ngàn francs, – Clousiot nói. – Tớ cũng muốn giúp các cậu ấy. – Cám ơn các anh nhiều quá, – Maturette nhìn Jean sans Peur nói. – Cảm ơn, – Clousiot cũng nói. Còn tôi, lúc ấy tôi thấy xấu hổ vì đã nói dối họ. Tôi nói: – Không được, tôi không thể nhận của anh một món quà như vậy: không có lý do gì cho phép tôi nhận như thế. Jean sans Peur nhìn tôi, nói: – Có chứ, có lý do đấy. Ba ngàn francs là một món tiền lớn, thế nhưng với cái giá ấy Toussaint thiệt ít nhất là hai ngàn, vì chiếc thuyền tốt cực kỳ. Không có lý gì tôi lại không góp phần giúp các anh. Lúc bấy giờ đã xảy ra một điều rất cảm động: La Chouette ném một cái mũ xuống đất, thế là đám người hủi ném vào đấy người thì tiền đúc, người thì tiền giấy. Từ khắp mọi nơi đều có những người hủi kéo tới, và ai ai cũng có ít nhiều bỏ vào cái mũ. Tôi thấy xấu hổ quá Nhưng bây giờ tôi không thể nói rằng tôi còn tiền? Trời ơi, biết làm thế nào bây giờ? Tôi đã xử sự một cách thật đốn mạt trước nghĩa cử cao đẹp của họ. Tôi nói: “Tôi van các anh, các anh đừng hy sinh như vậy!”. Một người da đen Tombouetou, hai tay cùi hết chỉ còn là hai cục thịt, không sót lấy được một ngón, nói: tiền của chúng tôi không phải để sống. Anh cứ nhận đi, đừng ngượng ngập. Tiền chúng tôi dùng để đánh bạc hay để hôn hít mấy con mẹ hủi vẫn thỉnh thoảng từ Albina tới”. Những lời này làm cho tôi thấy đỡ nặng lòng, và đến đây tôi mới từ bỏ ý định thừa nhận là mình hãy còn tiền. Họ đã cho luộc hai trăm quả trứng khiêng tới cho chúng tôi trong một cái thùng mang dấu chữ thập đỏ. Đó là cái thùng đựng các thứ thuốc họ vừa nhận được sáng nay. Họ còn mang đến hai con rùa sống mỗi con ít ra cũng phái đến ba chục cân, sau khi đã trói nó lại rất kỹ, một mớ thuốc lá chưa thái, hai chai đầy diêm que và bìa quẹt, một bị gạo chừng năm mươi cân, hai bị than củi, một cái bếp cồn (cái bếp của bệnh xá), và một bi-đông xăng. Cả cái tập thể khốn khổ này đều xúc động vì tình cảnh của chúng tôi, và ai cũng muốn góp phần vào sự thành công của chuyến vượt ngục. Tưởng chừng như chính họ đang vượt ngục vậy. Chúng tôi đã kéo chiếc thuyền đến một cái bến gần chỗ chúng tôi ghé xuồng đêm trước. Họ đã đếm số tiền quyên góp trong cái mũ: tám trăm mười francs. Tôi chỉ phải đưa một ngàn hai trăm francs cho Toussaint là đủ. Clousiot đưa cái plan của cậu ta cho tôi, tôi mở nó ra trước mặt mọi người. Nó đựng một tờ giấy bạc một ngàn francs và bốn tờ năm trăm. Tôi trao cho Toussaint một ngàn rưởi francs, anh ta thối lại ba trăm rồi nói: – Anh cầm lấy khẩu súng này, tôi tặng anh đấy. Các anh đã chơi xả láng với số kiếp, phải làm sao đừng để xảy ra cái tình trạng là đến phút cuối chỉ vì không có vũ khí mà đi tong hết cả bấy nhiêu công sức. Tôi hy vọng rằng anh sẽ không có dịp nào cần phải dùng đến nó. Tôi không còn biết nói thế nào để cảm ơn anh ta – trước hết là anh ta, và sau đó là tất cả cái khối cộng đồng của họ. Người y tá của đảo đã xếp sẵn một cái hộp đựng bông thấm nước, cồn, aspirin, băng, i-ốt, một cái kéo và một cuộn băng dính. Một người hủi mang đến hai tấm ván mỏng bào rất kỹ và hai giải băng Velpeau mới tinh còn để nguyên trong hộp. Anh ta tặng chúng tôi mấy thứ đó chẳng qua để chúng tôi thay bộ nẹp chân cho Clousiot. Đến khoảng năm giờ trời bắt đầu đổ mưa. Jean sans Peur nói với tôi. – Các anh gặp may đấy. Trời này thì không sợ bị chúng nó nhìn thấy. Các anh có thể lên đường ngay và như thế là lợi được cả nửa giờ. Khi phải dừng lại đợi, các anh sẽ ở gần cửa biển hơn để lại lên đường lúc bốn giờ rưỡi sáng. Tôi nói: – Tôi sẽ làm thế nào để biết giờ giấc đây? Thủy triều sẽ cho anh biết giờ, tùy theo lúc nó lên hay xuống. Chúng tôi hạ thủy chiếc thuyền. Nó chẳng phải như cái xuồng kia đâu: mạn thuyền nhô cao lên trên mặt nước đến hơn bốn tấc trong khi chở cả ba chúng tôi lẫn toàn bộ đồ lề và lương thực. Cột buồm được quấn trong mấy lá buồm và đặt nằm trong lòng thuyền, vì đến khi xuất phát để ra biển mới dùng đến buồm. Chúng tôi lắp bánh lái, tay lái đâu vào đấy, đặt thêm một cái đệm bằng dây leo để tôi ngồi lái thuyền cho êm. Chúng tôi lại dùng mấy tấm chăn lót thành một chỗ nằm cho Clousiot ở đáy thuyền (cậu ta không chịu thay băng). Clousiot nằm ngay dưới chân tôi: cậu ta nằm giữa lòng thuyền, một bên là tôi, bên kia là cái thùng đựng nước ngọt. Maturette cũng ngồi giữa lòng thuyền, nhưng ở phía trước. Tôi lập tức có được một cảm giác an toàn mà tôi không hề thấy có khi ngồi lên cái xuồng trước kia. Trời vẫn mưa. Tôi sẽ phải đi xuôi dòng ở khoảng giữa sông, nhưng hơi chếch sang bên trái, phía bờ thuộc địa phận Hà Lan. Jean sang Peur nói: – Lên đường mạnh giỏi nhé! Thôi đi ngay đi cho sớm sủa. – Chúc các anh may mắn! – Toussaint nói đoạn đạp mạnh chiếc thuyền ra khỏi bờ. “Cảm ơn Toussaint, cảm ơn Jean, cảm ơn tất cả các bạn một ngàn lần”. – Và chúng tôi rời khỏi đảo rất nhanh dưới sức đẩy của dòng nước thủy triều xuống đã bắt đầu từ cách đây hai tiếng rưỡi và bây giờ đang chảy băng băng như dòng thác. Trời vẫn mưa, nhìn ra phía trước cách mười thước đã không trông thấy gì rồi. Vì ở phía xuôi có hai hòn đảo nhỏ nữa, cho nên Maturette cứ phải chồm người lên, mắt đăm đăm nhìn trước mặt, để cho thuyền khỏi đâm vào những tảng đá ven bờ đảo. Đêm đã xuống. Một cái cây đại thụ cùng trôi xuôi dòng với chúng tôi đã có lúc làm cho chúng tôi phải lúng túng với những cành lá xum xuê của nó. May thay nó trôi chậm hơn, cho nên chúng tôi cũng nhanh chóng gạt nó ra xa chiếc thuyền, và tiếp tục lao tới với tốc độ ba mươi cây số một giờ là ít. Chúng tôi hút thuốc lá, uống rượu rhum. Người trong làng hủi đã cho chúng tôi sáu chai đầy. Có điều lạ là trong chúng tôi không có ai nhắc tới những vết loét khủng khiếp mà chúng tôi đã nhìn thấy trên thân thể những người hủi. Câu chuyện chỉ xoay quanh một đề tài duy nhất: lòng tốt của họ, sự hào phóng của họ, tính ngay thẳng của họ, và cái hên của chúng tôi đã gặp được Le Breton Mặt nạ đưa chúng tôi đến Đảo Bồ Câu. Trời mưa mỗi lúc một to, tôi ướt như chuột lột, nhưng mấy cái áo va-rơi len tốt đến nỗi mặc dầu ướt sũng nó vẫn giữ được hơi ấm như thường. Chúng tôi không thấy lạnh. Chỉ có bàn tay tôi cầm lái bị nước mưa làm cho tê dại đi. Maturette nói: – Bây giờ chúng mình trôi phải đến bốn mươi cây số một giờ. Đã đi được bao nhiêu lâu rồi nhỉ? – Để yên tớ nói cho mà nghe, – Clousiot nói. – Đợi tí nhé: ba tiếng mười lăm phút. – Cậu này điên! Cậu làm thế nào mà biết được? – Từ khi bắt đầu đi tớ đã đếm từng ba trăm giây một, cứ mỗi lần tớ lại cắt một miếng các-tông. Tớ đã có được ba mươi chín miếng. Mỗi miếng là năm phút, vị chi là ba giờ mười lăm phút. Nếu tớ không nhầm, chỉ mười lăm hay hai mươi phút nữa chúng mình sẽ không đi xuôi nữa, mà sẽ trôi ngược về điểm xuất phát. Tôi đẩy tay lái sang phải để cho thuyền đi chéo góc vào bờ, phía Guyane thuộc Hà Lan. Chưa vào đến bờ đã thấy dòng nước đứng lại, không chảy xuôi mà cũng chẳng chảy ngược. Trời vẫn cứ mưa. Bây giờ chúng tôi không hút thuốc, không nói chuyện nữa, chỉ bảo nhau thầm thì: “Cầm lấy chèo mà chèo vào đi”. Tôi cũng chèo, còn tay lái thì kẹp vào đùi cho bánh lái khỏi đảo. Thuyền từ từ ghé vào dải bờ rậm rạp. Chúng tôi vít cành cho thuyền chui vào dưới một lùm cây, và nấp vào đấy Xung quanh cây lá dày đặc, tối như bưng. Dòng sông phủ một lớp sương mù xám xịt. Nếu không căn cứ vào nước thủy triều lên xuống thì không thể nào biết được phía nào là biển, phía nào là nguồn sông.
Bao năm đã trôi qua, nhiều người Việt-Nam vẫn còn cho rằng Tăng Ni Phật Giáo Miền Trung phát động vụ “Bàn thờ Phật xuống đường năm 1966” là Cộng-Sản. Những quân nhân Phật Tử và dân chúng đã vào chùa ủng hộ cuộc chính biến đó cũng bị kết tội là mắc mưu Cộng-Sản xúi giục, phá rối trị an. Thực tế không phải như vậy đâu!
Bất cứ chuyện gì xảy ra trên thế gian này đều có nguyên ủy của nó. Nếu không phải là một người đã từng tham gia, dính líu tới cuộc chính biến năm 1966 đó, thì sẽ không thể có một kết luận chính xác cho những gì đã xảy ra.
Nhớ lại thời 1963, Việt-Nam Cộng-Hòa có lãnh tụ là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Vụ đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 dưới sự dàn dựng của Hoa-Kỳ, cùng sự tham gia của Phật Giáo và quân đội chỉ nhằm mục tiêu là lật đổ một lãnh tụ. Sau khi Tổng Thống Diệm bị giết thì đất nước ta lâm vào tình trạng lạm phát lãnh tụ. Ðất nước có quá nhiều lãnh tụ xuất hiện, cũng có nghĩa là đất nước không có ai đủ tài, đủ đức cho dân chúng tôn thờ. Một phe phái chính trị vừa giành được quyền bính thì không lâu sau đã bị phe khác lật đổ, Miền Nam bước sang thời kỳ vô cùng nhiễu nhương, tạo cơ hội cho quân đội đứng lên, nắm giữ chính quyền.
Quân đội một mặt bảo vệ biên cương, đồng thời quân đội cũng cầm đầu chính phủ, nắm vận mệnh quốc gia. Có điều những tướng lãnh cầm quyền không do dân bầu mà là do phe phái đặt để sau những lần đảo chánh, chỉnh lý, hay biểu dương lực lượng. Thêm vào đó, quân đội cũng không còn là một khối thuần nhất nữa; tướng lãnh tranh giành quyền hành, đấu đá nhau liên miên. Không có lãnh tụ chân chính, nên thầy trò, dù là trong quân đội, cũng bỏ nhau, phản nhau là chuyện bình thường.
Năm 1966 Tướng Thiệu, Tướng Kỳ ngự trị ở trung ương. Miền Trung thì Tướng Thi hùng cứ một phương. Thời gian này đất nước ta nằm trong tay các “Sứ quân” tướng lãnh của quân đội. Nhưng Việt-Nam Cộng-Hòa lại là đất nước của dân chủ và tự do, nên dân chúng Việt-Nam Cộng-Hòa luôn luôn khát khao, đòi hỏi phải có một chính quyền dân cử. Nhân cơ hội này, người Mỹ đã đứng sau lưng, dàn dựng và sắp xếp cho các “Sứ Quân” loại bỏ lẫn nhau từ từ. Ðể rồi vụ binh biến Miền Trung xảy ra. Trâu bò húc nhau thì ruồi muỗi chết! Chỉ có lính tráng và dân chúng Miền Trung như chúng tôi là gánh lấy cái khổ. Quân nhân thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân cũng chỉ là những nạn nhân của cuộc binh biến năm 1966 này.
Thời hậu đảo chánh, Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam lâm vào tình trạng chia rẽ trầm trọng, Ấn-Quang đi theo một đường, Việt-Nam Quốc Tự đi theo một nẻo. Phật Giáo Miền Trung hầu như hoàn toàn chịu sự chi phối và chỉ đạo của phe Ấn-Quang. Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật là một con cờ của Ấn-Quang. Tháng 2 năm 1966 Trung tướng Nguyễn Chánh Thi công khai ủng hộ “Phong Trào Nhân Dân Tranh Thủ Cách Mạng” của Phật Giáo, chủ trương ly khai và đòi tách Miền Trung ra khỏi Việt-Nam Cộng-Hòa để thành lập Miền Trung Tự Trị.
Dân chúng từ nông thôn, nghe lời kêu gọi của Giáo Hội Phật Giáo Miền Trung theo chân nhau, ào ào tuôn vào thành phố ủng hộ và tham gia phong trào tranh đấu. Huế, Ðà-Nẵng, chùa chiền nào cũng đầy người và người. Vào Hè, Ðà-Nẵng hừng hực nắng. Thành phố chói lòa vì mái nhà nào cũng lợp tôn. Nắng nung mặt lộ, đường phố bốc hơi. Trong lòng người dân Ðà Nẵng “lửa cách mạng” cũng bừng bừng cháy. Biểu ngữ giăng khắp nơi: “Hoan hô hội đồng nhân dân tranh thủ cách mạng!” – “Một quốc hội dân cử…”- “Ðả đảo chế độ độc tài quân phiệt!” …
Ðầu tháng 3 năm 1966, Trung tướng Nguyễn Chánh Thi bị giải nhiệm, thay thế bằng Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân. Từ đó dấy lên phong trào tranh đấu đòi phục quyền cho Tướng Thi. Giữa tháng 3, Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân bị điều động từ Hội-An ra Ðà-Nẵng cũng nhằm mục đích hỗ trợ cho phong trào này. Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu, Tiểu Ðoàn Trưởng 11 Biệt Ðộng Quân, vốn là đàn em thân tín của Trung tướng Nguyễn Chánh Thi nên ông dẫn tiểu đoàn về Ðà-Nẵng để ủng hộ Tướng Thi cũng là lẽ đương nhiên. Thời gian này, tôi, Thiếu úy Vương Mộng Long, là đại đội trưởng Ðại Ðội 3 của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.
Dưới cái nắng như thiêu, ba quân trong hàng, im phăng phắc nghe Ðại úy Tiểu đoàn trưởng ban lệnh: “Dân chúng muốn Miền Trung tự trị, và sẽ tiếp tục tranh đấu để Việt-Nam có một chính quyền do dân bầu lên, làm việc cho dân, làm việc vì dân. Ý dân là ý trời! Dân chúng đòi ly khai, chúng ta ly khai. Từ giờ phút này, chúng ta đứng về phía nhân dân, chống lại chính quyền Thiệu, Kỳ.”
Trong tiểu đoàn này, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng là cấp chỉ huy tối cao. Cấp chỉ huy nói gì, chúng tôi tin nấy, cấp chỉ huy muốn sao, chúng tôi làm vậy, vì kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Vả lại, chúng tôi là con dân Miền Trung, dân chúng Miền Trung đòi ly khai, chúng tôi ly khai theo dân là đúng với ý trời rồi còn gì?
Tiểu đoàn chỉ có ba đại đội 1, 3, và 4 kéo về đây, vì Ðại Ðội 2/11 của Ðại úy Tôn Thất Trực còn nằm trong Hội-An. Tôi nghe nói anh Trực đang chỉ huy Ðại Ðội 2/11 cùng một nửa Tiểu Ðoàn 39 Biệt Ðộng Quân giữ nhiệm vụ phòng thủ Chùa Tỉnh Hội Quảng-Nam nhận lệnh trực tiếp từ Ðại tá Ðàm Quang Yêu, Tư Lệnh Biệt-Khu Quảng-Ðà.
Chúng tôi đóng quân trong sân vận động Chi-Lăng. Cứ cách vài hôm đại đội tôi lại tới phiên trực, phải leo lên lưng thiết vận xa M113 hành quân tùng thiết; đi, về trong ngày để tảo thanh du kích Việt-Cộng lẩn quất quanh vùng Non Nước, Cầu Ðỏ, Lăng-Cô ngoại ô Ðà-Nẵng…
Ðóng quân ở sân vận động cùng hai đại đội bạn (1 và 4) được ít lâu, Ðại Ðội 3/11 nhận được lệnh di chuyển về chốt giữ nhà máy đèn Ðà-Nẵng để kiểm soát con đường dẫn vào Quân Y Viện Duy Tân và phi trường Ðà-Nẵng.
Cuối tháng 3 năm 1966, đại đội tôi được tăng cường một khẩu đội SKZ 57 ly và một khẩu đội cối 81 ly. Thời gian này, tôi phải trực máy truyền tin 24/24 để sẵn sàng thi hành một nhiệm vụ đặc biệt do Ðại úy Tiểu đoàn trưởng giao phó.
Một đêm, trong giờ giới nghiêm, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng với một xe Dodge có 6 Biệt Ðộng Quân vũ trang hộ tống tới gặp tôi. Ông chỉ thị cho tôi ngày hôm sau phải chận đoàn xe từ phi trường ra, và bắt cho được vị tướng ngồi trong chiếc xe Falcon đen. Chẳng hiểu ất giáp gì cả, nhưng tôi cứ im lặng thi hành lệnh này. Tôi cho căng một cuộn thép gai vòng chận ngang con đường từ phi trường về Bộ tư lệnh quân đoàn rồi cho quân bố phòng chờ đợi. Suốt hai ngày không có chuyện gì xảy ra. Tới ngày thứ ba thì Ðại úy ghé thăm và cho phép đại đội tôi sinh hoạt bình thường trở lại.
Nhà tôi ở trong Hội-An, cả tháng rồi tôi chưa ghé thăm nhà. Ðược dịp ông Tiểu đoàn trưởng giải tỏa lệnh trực 24/24 thì ngay trưa hôm đó, như sáo sổ lồng, tôi giao đại đội cho Thiếu úy Ðạt rồi cùng Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong leo lên chiếc Dodge 4 phóng đi ngay.
Ngày đầu đáo nhậm đơn vị (10 tháng 2 năm 1966) tôi đã được cấp chiếc Dodge 4 này nên lái nó cũng quen rồi. Ðúng ra thì Ðại đội trưởng Biệt Ðộng Quân phải có một xe Jeep, nhưng tôi lại chưa từng được “sờ” tới cái xe Jeep lần nào. Chiếc xe này đã theo ông cựu Ðại đội trưởng từ lúc ông ta bị thương, rồi tiếp tục bị biệt phái theo ông ta khi ông ta xuất viện về làm sĩ quan Ban 3.
Thực tình thì tôi cũng chẳng màng tới chuyện xe cộ. Miễn là được làm Ðại đội trưởng, có quân, có quyền, hành quân thì đi riêng một cánh, chẳng dưới quyền ai là thích lắm rồi. Tôi về nhà thăm mẹ tôi một buổi. Tới chiều, tôi sang nhà anh bạn Trần Ngọc Lợi bên bờ sông Thu Bồn ngồi nhâm nhi mấy chai bia cổ cao. Tôi ngủ qua đêm ở nhà thằng bạn, dự trù sáng hôm sau sẽ trở về đơn vị.
Sáng hôm sau, “đề” hoài mà chiếc Dodge thổ tả cứ ì ra không chịu nổ máy. Tôi phải mượn cái Honda hai bánh của anh bạn, chạy vào tiểu khu nhờ ông trưởng ban quân xa của đại đội yểm trợ tiếp vận tiểu khu giúp đỡ. Quân xa của tiểu khu kéo được chiếc Dodge của tôi về tới công xưởng thì xế chiều rồi. Hai ông thợ máy phải làm việc hì hục tới mười giờ đêm mới sửa xong xe cho tôi.
Mười giờ sáng ngày sau nữa tôi mới về tới đại đội. Hạ sĩ Phụng, người mang máy truyền tin đại đội hớt hải chạy ra nắm áo tôi,
– Nguy rồi thẩm quyền! Ðại bàng tìm thẩm quyền hai ngày nay. Không gặp thẩm quyền, ổng nổi tam bành! Chửi thề luôn miệng!
Tôi chột dạ,
– Ủa! Chứ Thiếu úy Ðạt đâu?
– Thẩm quyền vừa đi khỏi thì Thiếu úy Ðạt cũng đi mất. Chắc ổng “dù” về Huế thăm nhà rồi!
Tới trưa hôm đó thì xe của Ðại úy xuất hiện. Mặt ông lầm lì, ông không hé môi. Ông ngoắc tay cho tôi lên ghế sau rồi ra dấu cho tài xế chạy thẳng về sân vận động.
Ông nhảy xuống xe, liếc mắt ra dấu cho tôi đi theo. Vào phòng, đóng cửa lại xong xuôi, ông mới trợn mắt,
– Mấy ngày nay ông bỏ đơn vị đi đâu?
– Tôi ghé thăm nhà trong Hội-An.
– “Ð! Má!” Ông có biết ông đã làm hỏng hết kế hoạch hành quân của người ta rồi không?
Tôi ngớ người, ú ớ,
-Có chuyện gì vậy đại bàng?
– “Ð! Má!” Hôm qua phái đoàn của thằng cha Có [Trung Tướng Nguyễn Hữu Có] từ Sài-Gòn ra. Tôi gọi ông để thi hành mật lệnh, ông không có nhà, thằng phụ tá của ông cũng vắng mặt. Không túm được cha Có thì làm sao gây áp lực với tụi trung ương để phục hồi chức vụ cho “Ông Thầy” đây? Ông làm hỏng hết kế hoạch của “Mặt Trận” rồi, ông có biết không?
Vì thường nghe Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu gọi Trung tướng Nguyễn Chánh Thi là “Ông Thầy” nên tôi hiểu ra liền: Kế hoạch của phe ly khai là bắt sứ giả của chính phủ trung ương (Trung tướng Nguyễn Hữu Có) để mặc cả chuyện phục hồi chức vụ cho Trung tướng Nguyễn Chánh Thi!
Tôi đành lí nhí,
– Tôi nhận lỗi! Tùy Ðại úy xử phạt. Tôi sẽ không khiếu nại.
Mặc tôi đứng trơ giữa phòng, Ðại úy chắp tay sau đít, hậm hực đi đi, lại lại loanh quanh cả chục vòng rồi tiến ra mở cửa,
– Ði đi!
Tôi bước ra khỏi phòng, sau lưng tôi Ðại úy ra lệnh cho anh tài xế,
– Ðưa anh ta về đại đội!
Từ hôm xảy ra vụ bắt hụt sứ giả của chính phủ trung ương, tôi bị ông Tiểu đoàn trưởng liệt vào loại “lừng khừng chống cách mạng.” Tuần lễ sau tôi được lệnh đem Ðại Ðội 3/11 về đường Bạch-Ðằng, canh gác tư dinh của tướng Tân Tư Lệnh Vùng. Tư Lệnh Vùng 1 bây giờ đã là Trung tướng Tôn Thất Ðính. Tôi chỉ giáp mặt Tướng Ðính có một lần. Hầu như mọi việc trong nhà đều do ông Thiếu tá Tôn Thất Trai, Chánh Văn Phòng của Tướng Ðính quán xuyến.
Cũng từ đó, đại đội tôi được miễn hành quân. Tôi và Thiếu úy Ðạt, đại đội phó, cứ luân phiên lang thang trên phố. Vào một buổi chiều, Ðại úy Tiểu đoàn trưởng gọi tôi về trình diện. Ông đưa cho tôi một danh sách thăng thưởng những quân nhân hữu công của đại đội tôi rồi nói,
– Ngày mai có xe đón các anh về Hội-An dự lễ gắn huy chương trận Tháp Bằng-An.
Trận Tháp Bằng-An xảy ra ngày 22 tháng 2 năm 1966, khi đó tôi chỉ là một thiếu úy trung đội trưởng với thâm niên mười hai ngày công vụ. Nhưng vài phút trước trận đánh, tôi đã được đảm nhiệm chức vụ Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 3/11 thay thế Trung úy Lê Bá Ngọ bị thương.
Trong trận đánh này, đại đội tôi lập công đầu, hạ sát trên một trăm địch quân, tịch thu được 105 vũ khí cá nhân và cộng đồng. Ðại úy tiểu đoàn trưởng nói rằng Trung tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thăng cấp trung úy đặc cách mặt trận cho tôi rồi, ráng chờ ít lâu nữa, có nghị định của Bộ Tổng Tham Mưu, ông sẽ gắn lon mới cho tôi.
Buổi lễ tuyên dương công trạng đã diễn ra trong sân cờ của Tiểu Khu Quảng Nam. Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu Tiểu Ðoàn Trưởng 11 Biệt Ðộng Quân được Trung tướng Tôn Thất Ðính gắn cho một Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương; Ðại úy Nguyễn Văn Của, Chi Ðoàn Trưởng 3/4 Thiết Vận Xa được vinh thăng Thiếu tá.
Tôi được ông Ðại tá tên là Mô gắn cho một Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu. Ngoài ra, tôi còn được một ông tướng Mỹ gắn cho một huy chương Silver Star của Hoa-Kỳ. Gần hai chục quân nhân hữu công khác thuộc Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/4 Thiết Quân Vận cũng được ban thưởng huy chương và thăng cấp.
Dịp này tôi mới biết Trung tướng Nguyễn Chánh Thi đã lên đường xuất ngoại để chữa bệnh hay giữ chức Ðại sứ ở nước nào đó bên trời Tây. Trung tá Trần Văn Hai đã về giữ chức Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân-Lực Việt -Nam Cộng-Hòa thay thế Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận. Tướng Nhuận được điều động ra Huế đảm trách chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh thay Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân. Tướng Chuân vào Ðà-Nẵng làm Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật, chưa đầy một tháng thì từ chức, trao quyền cho Trung tướng Tôn Thất Ðính.
Tôi cũng nghe rằng, Tướng Ðính tuy là người của trung ương phái ra, nhưng lại công khai ngả theo phe ly khai của Phật Giáo (?) Trong tư dinh của Tướng Vùng không có chỗ cho binh lính nấu cơm, nấu nước, vì thế, trong thời gian này thầy trò tôi cứ cơm đường cháo chợ qua ngày.
Một đêm trong khi ngủ say, võng đứt, Thiếu úy Ðạt bị một cái tủ đè vỡ đầu, gãy tay, phải đi nằm nhà thương. Ðại Ðội 3/11 chỉ còn mình tôi là sĩ quan, nên tôi hết dịp lang thang trên phố. Rồi sáng sớm 15 tháng 5 Thiếu tá Trai báo cho tôi biết rằng, Thủy Quân Lục Chiến từ sân bay tiến ra, đã đánh chiếm Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I. Trung tướng Tôn Thất Ðính phải bỏ chạy sang Sơn-Trà tá túc trong Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Thiếu tá Trai cũng chuyển lời nhắn của Trung tướng Tư lệnh cho tôi là:
“Nếu Thủy Quân Lục Chiến đến chiếm tư dinh của ông, thì tôi cứ giao cơ ngơi này cho họ. Nếu họ muốn tôi giải giới, thì tôi giao nạp vũ khí cho họ để tránh đổ máu.”
Một đoàn xe chở Thủy Quân Lục Chiến chạy ngang qua dinh Tướng Ðính, nhưng không dừng lại. Họ hướng về phía Ðài Phát Thanh Ðà-Nẵng. Sau đó thì súng nổ đùng đùng kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ rồi im. Tới trưa thì quân chính phủ chiếm được Ðài Phát Thanh. Tôi nhặt chiếc xe đạp của ai đó vứt bên lề đường, đạp về sân vận động xem tiểu đoàn ra sao.
Giờ này, dân chúng đang tụ tập đông như kiến quanh cổng sân Chi-Lăng. Dân chúng khóc lóc thật thảm thiết. Nhiều bà con ai oán gào lên:
“Các con ơi! Sao các con dửng dưng đứng nhìn quân Thiệu, Kỳ chiếm Ðà-Nẵng mà không dám làm gì sao? Các con ơi!”
Xen kẽ là những tiếng hô: “Dân quân Ðà-Nẵng thà chết không đầu hàng bọn Thiệu, Kỳ, Có!”- “Ðả đảo quân phiệt!”-Miền Trung Tự Trị!”
Nhìn cảnh tượng bừng bừng khí thế này, tôi thấy lời Ðại úy tiểu đoàn trưởng thật là chí lý:
“Ý dân là ý trời! Dân chúng đòi ly khai, chúng ta ly khai.”
Tôi nghĩ bụng, dân chúng thà chết không đầu hàng. Là con dân Ðà-Nẵng, chúng tôi sẽ theo ý dân, quyết không đầu hàng! Ðại úy quả là người chỉ huy sáng suốt, quyết tâm trung thành với lãnh tụ của ông, trung thành với dân chúng Miền Trung. Chúng tôi may mắn lắm mới có Ðại úy là con chim đầu đàn dẫn dắt…
Tuy khỏi lao động, cuốc đất, trồng bắp, trồng mì, ở nhà “vui chơi, tắm giặt, nghe đài”, nhưng chúng tôi chỉ “vui chơi” vào buổi sáng mà thôi.
Buổi chiều… dù khi trời mây âm u hay bóng chiều êm ả, nắng phai dần, có khi tưởng như những ánh nắng vàng trong “Hai buổi chiều vàng” của Nhất Linh, cũng làm cho lòng kẻ tha phương buồn nhớ cố hương. Huống chi bọn chúng tôi, xa nhà đã năm, bảy năm; tù tội cũng đã năm, bảy năm; xa vắng cha mẹ, vợ con cũng đã năm, bảy năm.
Ai không nhớ con đường làng, hàng phố cũ, những con hẽm quanh co tưởng như bất tận của Saigon, hay “con đường quê” nơi làng cũ, nhớ bến đò đìu hiu, nhớ con đò máy xành xạch chạy qua con kinh vắng lặng, hay bóng chiếc thuyền lênh đênh ngoài cửa biển. Tất cả là những nỗi nhớ khôn cùng, đè nặng lên tâm hồn người tù cải tạo. Nỗi buồn nhớ cha mẹ, vợ con, người thân… không phải là những bâng khuâng nhẹ nhàng của tuổi thanh xuân khi mới biết yêu.
Có khi người tù nhìn lên ngọn núi Chứa Chan. Núi đụng tới mây, mây đụng tới trời mà nỗi buồn, nỗi nhớ của người tù lên cao vun vút, cao hơn cả những ngọn mây, hơn cả khung trời xanh thẳm trên đầu núi, và ai cũng như ai, cũng ngậm ngùi, chua xót nghĩ tới ngày về.
Biết bao giờ mới được tha về?!
Tôi nằm bên nầy võng, anh Tâm nằm bên kia. Hai đầu võng nối vào nhau ở cái cột xi măng ngoài hàng hiên. Hai cái võng hơi chéo nhau, tôi có thể thấy mặt anh Tâm. Anh Tâm nằm bên kia cũng thấy tôi được, nhưng suốt một thời gian lâu, anh và tôi không ai nói với nhau một lời nào cả. Có lẽ anh em chúng tôi cùng một tâm trạng:
Nhớ nhà.
“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đây không phải khói của Thôi Hiệu, không có “Hoàng Hạc Lâu”, đây không có Huy Cận, chỉ có những bức tường cao, làm sao nhìn “giang thượng” để thấy “yên ba”; dù không thấy “khói hoàng hôn”, không thấy gì, chúng tôi cũng thấy nhớ nhà.
Nỗi nhớ nhà như một viên đá tảng, đè nặng lên tâm hồn mỗi người, khiến tôi nhớ một câu trong “Pensée d’ Automne” của Anatole France: “Tôi không muốn nói gì cả! Tôi chỉ có một ý nghĩ. Thế nào cũng phải lên đường.” Không phải lên đường để ra đi mà lên đường để trở về. Trở về với gia đình.
Tôi nhìn qua anh Tâm. Mắt anh vẫn mở, nhìn hững hờ đâu đó lên trời cao, và anh cũng chẳng nói với tôi một lời. Khuôn mặt buồn, thờ thẫn và im lặng của anh làm tôi nhớ tới bài thơ của ông Bùi Khánh Đản.
Trong một số báo “Bách Khoa” nào đó, xuất bản sau khi chế độ Nhà Ngô bị lật nhào, ông Bùi Khánh Đản kể lại câu chuyện, rằng trước khi bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm đưa ra tòa, xử về tội chống chế độ vì ông có “dính líu” trong vụ đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960 của ông Đại Tá (cấp bậc lúc đó) Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù thất bại.
Khi đến thăm ông Bùi Khánh Đản, ngoài câu chào xã giao thông thường, ông Nguyễn Tường Tam không nói với chủ nhà một lời. Hai người ngồi đối diện, trầm ngâm. Được một lúc, Nhất Linh đứng dậy, chào người bạn rồi ra về.
Nhất Linh đi đã lâu, ông Bùi Khánh Đản vẫn không dứt dòng suy nghĩ về người bạn thơ, về hoàn cảnh chính trị khó khăn bấy giờ Nhất Linh đang gánh chịu.
Buồn và thương bạn, ông Bùi Khánh Đản làm bài thơ “Thiếu Một Lời” nói về lần thăm viếng hôm ấy:
“Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi,
Anh đã quên không nói một lời.
Tám hướng dần buông vào tịch mịch,
Hai lòng vẫn nghĩ chốn xa xôi.
Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện,
Tai lắng thời gian thánh thót rơi.
Tất cả chìm sâu, sâu xuống mãi
Vì anh chỉ thiếu một lời thôi.
&
Một lúc sau, anh Trần Phú Trắc đến, ngồi xuống thềm, kế bên võng tôi. Anh nói:
_ “Bọn trẻ nó làm vầy là vô tình giết ông Điệp đó anh à!”
Tôi hỏi:
_ “Ông Điệp mới ra “cát-xô” tối qua?”
_ “Ông ta đấy!” Trắc trả lời.
Ông Điệp là người nổi tiếng của trại tôi. Nếu Việt Cộng hay ca ngợi “kiên cường”, “bất khuất” thì đó chính là ông Điệp, một người chống Cộng “kiên cường, bất khuất” chớ không phải đó là người Cộng Sản.
Trước 1975, ông chưa nhập ngũ. Tôi không rõ lý do. Sau tháng Tư năm đó, ông dính líu vào một tổ chức “Phục Quốc” hay “Công giáo chống Cộng”, tôi không rõ lắm, bị bắt. Sau thời gian giam ở Biên Hòa, ông bị đưa về đây, để “sản xuất, lao động”, để giác ngộ chủ nghĩa Cộng Sản, để thấy “lao động là vinh quang.”
Vậy nhưng không mấy khi ông đi lao động, bởi vì thời gian ông “nằm ở cát-xô” chiếm gần hết thời gian ông ở tù. Đầu tiên, ông có tín ngưỡng rất mạnh. Hình như, tôi nói là hình như vì tôi không rõ và cũng không tò mò chuyện nầy, gia đình ông thuộc một họ đạo ở Hố Nai, có nghề “điêu khắc truyền thống” thường khắc hay nặn tượng Chúa, Mẹ cho nhà thờ, cho các gia đình theo đạo Thiên Chúa trong giáo xứ. Do đó, mới vào tù, ông kiếm một ít gốc củi tốt, cứng, sắm một con dao nhỏ, khắc tượng để đeo hoặc biếu tặng anh em chung trại. Phần đông họ là những thanh niên còn trẻ: “Phục Quốc”.
Việc làm đó, có hai kết quả. Nhiều người khen ngợi anh, không chỉ vì cái tài khắc tượng đẹp, nhanh, và vì anh có tín ngưỡng mạnh mẽ.
Thứ hai, bọn Công An theo dõi anh chặt chẽ hơn, tịch thu tượng, dụng cụ anh dùng khắc tượng, giam anh vào “cát-xô”, buộc anh làm cam đoan không tái phạm. Nhưng không bao giờ anh chịu làm theo mệnh lệnh của chúng, nên anh “nằm cát-xô” dài dài. Được thả ra khỏi “cát-xô”, anh lại “tái phạm”, lại vô “cát xô”. Cứ cái vòng luẩn quẩn ấy diễn ra, kéo lại hoài, làm anh trở thành “khách không mời mà đến” thường xuyên các gian nhà ngói đỏ ở phía sau “Trại Đá”.
Tối qua, anh mới được tha ra khỏi “cát-xô”. Đám “Thanh Niên Phục Quốc” tôn vinh anh như một thần tượng sống. Vừa thấy anh vào cổng, bọn họ ùa ra “Hoan hô anh Điệp”, chạy đến ông, bắt tay, nắm áo. Ông vừa về phòng, đã có người mời ông đi tắm, nước đã múc sẳn trong thùng, người lo nấu mì, người lo pha trà ông uống. Đám “Thanh Niên Phục Quốc” xúm lại quanh ông, chúc, mừng hỏi thăm, ca ngợi ông là người dũng cảm, kiên trì, bất khuất, coi bọn Công An chẳng ra cái thá gì, v.v… và v.v…
Trắc nói:
_ “Làm như thế là chúng đẩy ông đi tới, mà ông không lùi lại được, đưa ông cao lên mà ông không xuống được. Với bọn Cộng Sản nầy, làm như thế là nguy cho ông ta lắm.
_ “Leo lưng cọp khó mà xuống”. Tôi góp ý.
_ “Xuống làm sao?! Xuống là mất đi cái tiếng dũng cảm, người hùng, người số một…” Trắc nói.
_ “Vậy là bọn Công An lại cho vô “cát-xô” như rước kia.” Tôi nói.
_ “Vô hoài cũng có ngày không còn ra được nữa.” Trắc kết luận.
_ “Có ai khuyên đám trẻ nầy được không?” Tôi hỏi.
Anh Tâm nói:
-Bộ người ta muốn bị chụp mũ là “ăng-ten”, muốn bị chưởi là thằng hèn? Mày không nhớ vụ ông Huy sao?”
Ông Đào Quang Huy là giáo sư nổi tiếng giỏi ở trường Luật Saigon. Khi Đại Tướng Dương Văn Minh chọn Giáo Sư Vũ Văn Mậu làm “thủ tướng ba ngày”, ông Huy được ông Mẫu mời làm Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng. Ông Huy nhận lời nhưng chưa nhậm chức thì… “đứt phim”.
Ông không bị Cộng Sản bắt đi “học tập cải tạo”, nhưng chúng có âm mưu bỏ tù ông. Chúng cho người giả danh Phục Quốc, đến mời ông tham gia. Ban đầu, ông nghi, ngờ từ chối. Tên cò mồi lui tới nhà ông nhiều lần, năn nỉ, khích tướng ông hèn nhát, nên ông bèn “nổi máu anh hùng”, tình nguyện tham gia. Chúng mời ông đi họp và đưa ông thẳng vô… Chí Hòa.
Sau khi “điều tra”, bọn Công An đưa ông trại Giá Rây “học tập lao động”, cuốc đất, trồng khoai “làm giàu đất nước”. “Lao động thực tế” ích lợi hơn mớ sách vở kinh tế mà ông đã học bên Tây nhiều.
Về trại Gia Rây, vì “tội Phục Quốc”, ông được “biên chế” chung với đám Phục Quốc, phần nhiều là những thanh niên trên dưới hai mươi tuổi, còn đầy nhiệt huyết với Dân Tộc, Đất Nước.
Tuy nhiên, họ không hiểu ông. Một hôm họp đội, kiểm điểm lao động, ông bị quản giáo phê phán là “chây lười”. Ông phản bác một cách mai mỉa: “Tôi không may mắn nên được sinh ra trong một gia đình giàu có và trí thức ở Hà Nội trước năm 1954, thành ra cha mẹ tôi không cho tôi làm việc gì nặng nhọc, để có thể hiểu giá trị “lao động là vinh quang”.
Nghe ông phát biểu như thế, đám thanh niên bồng bột chê ông là người nói xấu cha mẹ, bất hiếu, v.v… và v.v…
Từng nghe tiếng ông, nghe câu chuyện đó do Trắc kể lại, một hôm, chủ nhật, tôi nhờ anh Nguyễn Đình Niệm, quê ở Quảng Bình, cùng quê với Ngô Văn Vinh là học trò của một người bạn tôi. Qua Vinh, tôi quen anh Niệm, anh Niệm lại thân thiết với Giáo Sư Đào Quang Huy. Anh Niệm gọi tôi tới chơi, cùng uống cà-phê với giáo sư Đào Quang Huy. Hai người nầy, cùng là trí thức với nhau cả. Anh Niệm hoc khóa 2 Võ Khoa Thủ Đức, giải ngũ khi còn là trung úy, qua Nhựt làm gì anh không nói rõ, nhưng có vợ Nhựt, sau làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon, không di tản hồi tháng Tư / 75 và đi ở tù. Tôi là người thường học thêm Anh Văn ở anh vì anh giỏi cả hai sinh ngữ, anh và Pháp. Qua cuộc thăm viếng ấy, tôi tin là tôi hiểu Giáo Sư Đào Quang Huy hơn đám trẻ.
(Ghi chú: Trở lại chuyện ông Điệp, vì cái vòng quay như tôi nói trên kia, sau khi tôi ra tù được vài năm thì nghe tin ông qua đời. Một buổi sáng, trật tự mở “cát-xô” đem thức ăn và nước uống vào cho ông thì xác ông đã lạnh tanh, không biết ông qua đời vào lúc nào.)
&
Một lát sau, Ngọc “thiến” tới. Trắc hỏi Ngọc:
_ “Ông ở Huế, “ông” có biết nhiều chuyện Huế như “mệ” Hải không?”
_ “Tui thì chịu,” Ngọc nói. “Chuyện đâu trên trời dưới đất, ông kể từ ngày nầy qua ngày khác không hết. Nghe cũng vui!”
_ “Vui gì? Tao đang muốn nghe nó kể tiếp chuyện ông cha Luận cho tao nghe. Ông đi tu, không biết có bồ không? Có không mầy! Hải?”
Tôi nói trống lãnh sang chuyện khác:
_ “Huế nhiều chuyện lắm. Chuyện mấy ông vua trong cung. Chịu chơi, đa tình nhất là ông Thành Thái. Ông Phan Văn Giáo cũng bắt chước, chơi bời không thua gì vua. Chuyện ông Nguyễn Cao Thăng là một quái kiệt không những Huế mà cả Saigon cũng giật mình. Một mình ông xoay chuyển việc chính trị như trở bàn tay. Ông nầy chết sớm chớ không nếu còn thì Saigon chắc có thêm nhiều chuyện vui! Ông Thăng là “dân Quảng Trị tui”. Cha Luận là dân Hà Tịnh. Cậu Cẩn là gốc Quảng Bình. Thủ Hiến Phan Văn Giáo gốc Khánh Hòa. Mấy ông nầy đến Huế “quậy” dữ lắm, chuyện kể sao cho hết.
_ “Mày kể chuyện cha Luận trước đi.” Anh Tâm bảo.
_ “Cha Luận là cha nuôi của Như Hà, rất có thế lực vì một, ông là linh mục, hai là giáo sư, ba là viện trưởng Viện Đại Học Huế, bốn là thân cận với gia đình họ Ngô, dài dài lắm chuyện…”
“Ông có công lớn với việc thành lập Viện Đại Học Huế, khó nhứt là việc mời giáo sư. Hồi đó, người Việt Nam tốt nghiệp đại học bằng cấp cao đâu có nhiều, mỗi năm, ông phải đi một vòng Âu – Mỹ để mời giáo sư, xin các viện đại học Âu – Mỹ giúp đỡ. Khi mở Y Khoa, một số bác sĩ Đức qua dạy ở Viện Đại Học là nhờ ông. Ông “Gun” (Wulff) là bác sĩ đầu tiên đến dạy ở Y Khoa Huế. Ông nầy cùng một số giáo sư, sinh viên là cái “kẹt” của Cha Luận đấy. Mặc dù có sự cam kết giúp đỡ giữa hai nước Đức và VNCH, nhưng về tình riêng, giữa Cha Luận với những người nầy khá sâu đậm. Sau vụ Đài Phát Thanh, ông bác sĩ cùng một số giáo sư, sinh viên đứng về phía Phật Giáo, chống lại chính quyền, Cha Luận kẹt cứng. Ông bác sĩ bị đuổi về Đức, một số giáo sư và sinh viên bị bắt bỏ tù. Cha Luận đứng giữa, một bên là những người đầy tình nghĩa với Cha, họ đến với Viện Đại Học, một phần cũng vì Cha; bên phía kia là ông Ngô Đình Thục, – một người không “thuận thảo” gì với Cha -, đã “hạ quyết tâm” triệt hạ đám Phật Giáo “phản loạn” Huế, dám chống lại Ngô Triều…”
Có kẻng gọi lảnh cơm…
Tôi cười nói:
_ “Thôi đi lấy cơm mà “vô chuồng”, “chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ”
để lại tuần sau…”
Anh Tâm nói:
_ “Tao đang muốn nghe chuyện Huế của mày.”
Tôi cười nói giả lả với anh bằng hai câu thơ đầu trong bài “Uống Rượu Tiêu Sầu” của Cao Bá Quát:
“Thế sự thăng tram quân mạc vấn,
Yên Ba thâm xứ hữu ngư châu…”
Anh Tâm bèn hỏi:
_ “Nguyễn Công Trứ phải không?”
_ “Cao Bá Quát đó.” Ngọc “thiến” trả lời.
Anh Tâm nói thật tình:
_ “Tao đi lính mới học thêm thi tú tài, tụi bây sướng hơn, học sinh nên học được kỹ.”
_ “Tui không được như “rứa” đâu ông ơi! Tui “dân Quảng Trị”, mồ côi cha, con nhà nghèo, lang bạt ở Huế mấy năm trời, vừa kiếm cơm ăn vừa học, khi làm “rề-xếp-tơ” (précepteur), khi ăn cơm tháng rẻ tiền, không như anh nghĩ đâu!”
Trắc cười:
_ “Chương trình chiếu phim hôm nay đến đây chấm dứt, hẹn khán thính giả tuần sau.”
_ “Tuần sau không bao giờ tới, lỡ mai “mệ” Hải được tha về thì sao? Thôi lo lãnh bắp đi. Chiều nầy ăn bắp.” Ngọc “sùi” cười nói.
Tôi nghe anh Tâm chưởi thề “đ. m.” một tiếng như hồi sáng, khi chúng tôi mới họp mặt nhau.
Tôi nghĩ chắc không phải anh Tâm chưởi tôi!”
Phụ lục
TRỞ LẠI VIỆT NAM Hồi ký BS. ERICH WULFF – Minh Nguyện (Việt dịch)
Lời người dịch : Đây là bài thứ tư được trích dịch từ quyển hồi ký tiếng Đức Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), Suhrkamp Verlag, Taschenbuch Nr. 73, Frankfurt a.M., Germany, 1972, từ trang 211 đến 214, với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút hiệu của Erich Wulff. Ông này là một bác sĩ người Đức dạy tại trường Đại học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967, trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một sự tình cờ, tác giả đã chứng kiến biến cố tại đài phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách thê thảm và đã được mời trình bày sự kiện này trước Uỷ ban điều tra đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng 9/1963. Bài thứ tư này nói về chuyến trở lại Việt Nam vào tháng 4/1964 của tác giả sau khi chế độ Ngô đình Diệm bị lật đổ và được tiếp đón trọng thể tại Sài gòn và Huế.
Trong suốt chuyến bay từ Paris về Sài gòn tôi chỉ biết nằm ngủ. Hai chỗ ngồi bên cạnh tôi bị bỏ trống. Khi máy bay dừng lại tại New Delhi tôi thấy bước vào một hành khách là một vị tăng sĩ tròn trịa, khoảng 50 tuổi vận áo vàng ; khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi nghe hình như vị ấy thì thầm vài chữ tiếng Việt. Lúc ăn sáng tại một quán ăn ở phi trường Bangkok tôi đến ngồi bên vị ấy và gợi chuyện. Vị ấy đúng là một người Việt và đã sống 12 năm vừa qua tại Ấn độ. ‘Nếu vậy, chắc Thầy là Thượng tọa Thích Minh Châu’. Vị ấy cười. ‘Còn ông, chắc ông là Bác sĩ Wulff phải không?’. Vị ấy đã nhìn thấy sổ Thông hành Đức của tôi khi tôi trình giấy tờ cho cảnh sát phi trường, do dó đã suy luận ra như thế.
Bức thư của tôi viết vào tháng 5/ 1963 đã đến tay Thầy (1) và Thầy đã báo động liền đến Tổ chức Phật giáo Thế giới. Sau đó Thầy cũng đã đọc được một vài bài báo khác của tôi. Thời gian còn lại trên chuyến bay về lại Sài gòn quá ngắn ngủi để tôi có thể kể lại cho Thầy nghe hết những gì tôi đã chứng kiến tại Việt Nam trong những năm vừa qua. Vì đã xa quê hương hơn 12 năm nên Thầy cũng khó hình dung được tình hình hiện nay như thế nào. Thầy đã hỏi tôi về tình hình, về dư luận, về những tàn phá của cuộc chiến tranh, về sức khoẻ của người anh ruột đang làm Chủ sự tại Tòa Viện trưởng Viện Đại học Huế. Thầy tỏ vẻ thông cảm với những câu trả lời chưa được hoàn hảo lắm của tôi. Thầy Minh Châu là một con người trầm tĩnh, sâu sắc ; phong cách thoải mái và đượm nhiều hóm hĩnh của Thầy rõ ràng chứng tỏ Thầy không phải là một nhà tu khổ hạnh hay là một người xách động chính trị. Nhưng Thầy là một người quan sát tinh tường, đã đi thăm nhiều nơi tại Đông Nam Á cũng như đã ghé qua Trung hoa lục địa. Với những kinh nghiệm giao thiệp quốc tế như thế của Thầy, điều rất còn thiếu sót nơi các vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, hẳn sẽ giúp Thầy làm nhịp cầu đối với bên ngoài. Thầy nói cho tôi biết rằng trước hết Thầy muốn xem tình hình tại quê nhà như thế nào. Thầy cũng không biết sẽ ở lại hay lại ra đi. Nhưng khi về lại Sài gòn, Thầy đã nhận lãnh nhiều vinh dự và công tác đến nỗi không còn nghĩ đến chuyện rời xa khỏi nước. Thầy đã được bổ nhiệm vào chức vụ Viện trưởng của Đại học Phật giáo Vạn Hạnh vừa mới được thành lập.
Khi máy bay hạ cánh tại Sài gòn, tôi thấy sân bay đông nghịt cả người. Một ban quân nhạc đứng dàn chào; phía dưới cầu thang máy bay tôi thấy đã có mặt các người bạn Hoàn, Tuân (2) và thầy Trí Quang cùng các vị lãnh đạo Phật giáo khác. Thời tiết nóng bức dữ dội, tôi lại mặc bộ đồ veston và cầm áo choàng vì không còn chỗ để trong vali và để tránh quá kí. Khi bước ra máy bay, tôi lại cầm tay hộ thùng đồ to tướng của thầy Minh Châu, nên trông tôi có vẻ nực cười. Một viên đại tá giơ tay chào và xin tôi giao giấy phiếu lãnh hành lý và giành lấy thùng đồ to tướng ra khỏi tay tôi, trước khi tôi giải thích được rằng thùng đó không thuộc về của tôi. Sau đó tôi mới có thể chào hỏi bạn bè. Tôi phải bắt tay lia lịa bên phải và bên trái của tôi. Các bạn Fritz và Miên (3) không ra đến được sân bay. Khi chúng tôi được đưa ra khỏi Phòng khách đặc biệt, tôi chợt thấy họ đứng bên cạnh xe Con Cóc 2 CV lọc cọc của Miên. Tôi muốn đi về nhà cùng với xe của họ, nhưng thầy Trí Quang nhất định mời tôi vào ngồi trong một chiếc xe Mercedes được mướn để đưa về nhà Lý, người anh của Tuân để dự một bửa tiệc tại đó.
Những ngày tiếp theo là những buổi tiếp tân và chiêu đãi liên miên. Các chùa mời những bửa ăn chay thịnh soạn, còn các người bạn Hoàn và Oánh, Miên và Quát (4) thì mời những bửa cơm tối thân mật. Những lúc rổi rãnh tôi đều qua biệt thự của Tuân, nhỏ hơn ngôi nhà của họ ở Huế nhưng lúc nào cũng đầy ập cả người giống như một chỗ cắm trại camping vào lúc cao điểm. Bà con và bạn bè từ Huế vào đều tá túc tại đây, Tuân và người vợ Phương nhiều lúc cũng không có một căn phòng dành riêng cho mình. Quát vẫn ở tại ngôi nhà cũ đẹp đẽ, vì không muốn dọn vào một tòa nhà của chính phủ với nhiều điều phiền toái. Riêng Oánh và Hoàn thì dọn vào những toà lâu đài với vườn hoa rộng lớn như công viên, có những bức tường cao bao bọc chung quanh. Đó nguyên là các tòa nhà của những nhân viên cao cấp của thực dân Pháp trước đây để lại. Bà vợ của Hoàn, trước đây làm nghề y tá tại Paris, nay đeo đầy hột xoàng, đang tìm cách vô vọng thế vào vai trò của một Đệ Nhất Phu nhân của bà Nhu trước đây. Người chồng không lấy làm gì vui vẻ cho lắm, nhưng không dám nói gì.
Trong những ngày đầu tiên sau khi trở lại Việt Nam tôi không có thì giờ cho những buổi đàm luận nghiêm chỉnh. Tôi vừa mới hoàn tất những buổi gặp mặt cần thiết thì quý Thầy Trí Quang và Minh Châu muốn đi cùng tôi ra Huế. Tuân cho rằng một chuyến đi chung như vậy có lợi về mặt chính trị. Tại phi trường Phú Bài các sinh viên và các đồng nghiệp người Đức đã chờ đón tôi. Nhưng mà họ không có cơ hội để chào đón tôi một cách đàng hoàng. Hàng ngàn Phật tử đã chiếm lấy sân bay, hoan nghênh nhiệt liệt quý Thầy Trí Quang, Minh Châu và tôi, và vẫy lá cờ năm màu của Phật giáo quốc tế trên tay. Chúng tôi tiến vào thành phố trên những chiếc xe mui trần, đoạn đường dài 13 cây số đi qua những phong cảnh quen thuộc đang sang xuân vào lúc hoàng hôn đã làm biến mất đi dần những biên giới không gian như trong một bức tranh Tàu. Tại mỗi thôn xóm đi qua đều có các đoàn thanh niên phật tử hân hoan đứng chào trước những căn nhà trang hoàng đầy hoa và cờ. Đoàn xe đi vào Huế, chạy dọc dòng sông Hương, đi ngang qua cư xá của chúng tôi và dừng lại tại chùa Từ Đàm, trung tâm tranh đấu chống chế độ Diệm và là nơi khỏi đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo 30 năm trước đây. Các em thiếu nhi phật tử đứng tập hợp bên cạnh các thiếu nữ áo dài tím nhạt và các thanh niên trong đồng phục của Gia đình phật tử. Đứng trên tầng cấp của chùa, quý Thầy Trí Quang, Minh Châu và tôi nói những lời phát biểu ngắn (5).
Trong lúc đứng trên khán đài tôi cảm nhận được niềm hân hoan phấn khởi của quần chúng. Ở nơi đây tôi có cảm giác rất mạnh mẻ nhiều hơn so với Sài gòn về nồng độ biểu dương bề ngoài, vì thực tại chợt đến như một giấc mơ. Đó là một sự hoà nhịp giữa những tình cảm nồng cháy trộn lẫn với tâm trạng hãnh diện của những người chiến thắng trở về lại nơi chốn mà trước đây người ta đã gieo sợ hãi và đã trục xuất tôi đi. Nhưng trên đường trở về lại căn phòng, tôi đâm ra suy nghĩ về sự say men chiến thắng của các giới Phật tử. Điều này làm cho tôi liên tưởng đến những gì đã xẩy ra trước đây do người Thiên chúa giáo gây ra, những điều mà tôi không đồng tình và chống đối. Tuy nhiên sau khi chịu nạn kỳ thị trong 10 năm vừa qua, nay có lẻ đám đông quần chúng cần một biểu thị tự chứng tỏ sức mạnh. Một sự biểu dương lực lượng hẳn nên được chấp nhận. Nhưng điều này sẽ kéo dài bao lâu ? Tôi mong mỏi rằng sự say men chiến thắng và biểu dương quyền lực mới giành được này của các Phật tử không làm mờ đi những nhiệm vụ quan trọng hơn đang đợi chờ họ.
(2) Lúc này các người bạn của tác giả đang tham gia chính quyền : Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn, bộ trưởng giáo dục Bùi Tường Huân (Xin xem ghi chú 1 của bài thứ nhất ghi lại trên đây).
(3) tức Đại sứ Bùi Diễm, Fritz là Tuỳ viên văn hóa toà Đại sứ Hoa kỳ.
(4) tức Thủ tướng Phan huy Quát, và Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh sau này.
Chúng tôi đem về anh em mỗi người một phần cơm. Thấy chén cơm lưng lẻo, anh Tâm nói:
_ “Có chút xíu vầy mà ăn cái chi! Làm sao cho no đây trời!”
Ngọc “xùi” nói:
_ “Nấu thêm một ít mà ăn!”
Chiếu nhanh nhẩu:
_ “Chờ tui nấu thêm. Lâu lâu nên “bồi dưỡng” cái xác phàm một chút cho có lòng nhân đạo.”
Anh Tâm hỏi:
_ “Mày có gạo không?”
_ “Đừng lo! Tui mới thăm nuôi. Gạo dưới tui bây giờ ăn không hết. Công An không cho đem ra khỏi tỉnh. Tui nấu bốn “loon” nghe! Đủ không!”
Ngọc “xùi” cười:
_ “Bốn “loon”! Quá đã! Quá đã!”
Quê Chiếu ở Cần Đước. Cần Đước, Cần Giuộc là hai nơi sản xuất gạo của Long An. “Ngăn sông cấm chợ” thì Saigon không có gạo, mặc dù Long An kế cận Saigon.
Anh Tâm hỏi Chiếu:
_ “Gạo không lên được Saigon à? Qua khỏi cầu ông Thìn là tới bót Ký Thu Ôn rồi mà gạo không đi được?”
_ “Vợ tui nói, tụi Công An Kinh Tế xét dữ lắm. Đem cho tui ba chục lon gạo, có giấy đi thăm nuôi mà cũng bị tụi nó bắt, năn nỉ thiếu đường lọi lưỡi.” Chiếu kể.
Bỗng anh Tâm hỏi tôi:
_ “Hải! Mầy có học kinh tế không?”
_ “Có chớ. Tui học với bà Trai ở Huế.”
_ “Tao thấy có một nguyên tắc, mà Cộng Sản làm chuyện lạ đời. Mậu dịch càng lớn càng rộng, kinh tế mới phát triển. Nước nầy nước kia còn phải vậy, huống chi trong một nước.” Anh Tâm nói. Anh đang học luật thì “đứt phim” (tức ngày 30 tháng Tư)
_ “Anh không nhớ Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng tuyên bố à?” Tôi nói. Trong “Hội nghị các nước không liên kết” họp ở Ấn Độ sau 1975, ông Đồng tuyên bố hách một câu: “Phát triển đất nước, phải dựa vào sức mình là chính”. Hội nghị vỗ tay hoan hô. Hoan hô thiệt hay hoan hô giả, ai mà biết, nhưng phát triển kinh tế mà “dựa vào sức mình” thì nước người ta đi hia bảy dặm, còn mình đi bộ phía sau. Lê Duẫn thì bảo: “Tỉnh nào có người chết đói là tỉnh ủy ấy phải chịu trách nhiệm” nên nơi nào sản xuất thực phẩm thì giữ lấy mà ăn. Tỉnh nào lo tỉnh đó thì kinh tế phát triển sao được!? Không có cái “học huyết kinh tế” nào mà u mê kỳ lạ đến như vậy. Vậy mà y còn nói, chỉ sau một vài “kế hoạch năm năm” thì nhà nào cũng có TV, tủ lạnh. Có bằng cách nào, tui không hiểu được. Lúa làm ra không bán được thì nông dân trồng lúa làm chi, ruộng bỏ hoang. Hàng công nghiệp làm ra không bán được thì sản xuất làm chi, hãng xưởng đóng cửa. Cái chết rõ ràng như dzậy mà tụi nó không thấy được là sao?”
Chiếu đi nấu cơm rồi. Ngọc “xùi” lo luộc rau. Y hỏi anh Tâm:
_ “Thằng đó “xuất sắc trong vi tỳ nữ”. Anh đừng lo.”
Một lát sau chúng tôi bày cơm rau ra giữa thềm nhà, quay quần ngồi ăn. Tôi nói:
_ “Bữa nay mình ngon dữ. Một bữa thịnh soạn.”
Bỗng anh Tâm nói to:
_ “Ngọc “xùi” cho muối nhiều quá, nước canh mất ngon.”
Tôi nói đùa: “Nó học nghề “Chú Ba-Tô” mà anh!”
“Chú Ba Tô” là tên gọi đùa ông cựu đại úy Cảnh Sát Trần Thanh Tuấn, nguyên Chủ Sự Phòng Công Xa Bộ Tư Lệnh CSQG. Hồi còn học ở Cao Thắng, đóng kịch, chú thường đóng vai hề Charlo, nên bạn bè gọi đùa là “chú Ba Tô”. Cái tên ấy đi theo anh ta mấy chục năm nay.
Một hôm, thấy tôi nấu chè, chú bảo:
_ “Này Hải! Mầy nấu chè nhớ bỏ vô ít muối, cho “lại đường”, mới ngọt.”
Xong, tôi mời chú một chén.
Mấy hôm sau chú nấu chè mời lại tôi. Tôi đùa:
_ “Chú bỏ ba muỗng muối một muỗng đường phải không? Mặn quá! Chú ướp muối chớ nấu chè chi?”
Mấy anh em chung quanh nghe tôi nói đùa đều cười. Từ đó mới có câu chuyện Chú Ba Tô nấu chè bỏ muối nhiều vì muối rẻ hơn đường.
Chưa hết màn “đãi ngộ” cái xác phàm ngày chủ nhật. Sau khi cơm nước xong, chúng tôi còn bày trò uống “Cà-phê Ban Ma Thuột”.
Nói “Càphê Ban Ma Thuột” là nói thật, chính hiệu.
Khi còn ở “trại trong” – tức Trại B rồi Trại A, tôi thường ăn chung với Ngô Văn Tăng, cụ Trần Văn Niệm và Phan Thành Long. Long lo việc nấu nướng vì tôi thì lớn tuổi, ông Tăng và cụ Niệm đã già. Long tận tình lo cho “cụ Niệm già” hơn ai hết.
Cụ Niệm vui tánh! Những bữa ăn với “Cụ Niệm”, nhất là vào những ngày nghỉ, tôi được nghe không ít những chuyện vui do cụ kể. Nhìn mặt cụ đã thấy vui, nói chi chuyện cụ kể. Cụ để râu như Hồ Chí Minh. Mắt cụ to, nhưng trông hiền, không sắc và dữ như mắt ông Hồ. Bình thường mắt cụ đã to, như mắt “Con nai vàng ngơ ngác” xứ Ban Ma Thuột. Khi vui, cụ cười, mắt híp lại, trông thật hay! Ngồi chơi ngoài hiên nhà, gió thổi mơn man, râu cụ bay trông rất hay.
Có lần, tôi nói đùa:
_ “Cụ chừa râu như “già Rô” – tiếng lóng anh em chúng tôi gọi đùa Hồ Chí Minh – “tụi nó ghét, chờ cụ ngủ say, chúng nó cắt râu cụ có ngày.”
Cụ nói:
_ “Tao đâu muốn bắt chước ai. Đây là cái tục của ông bà, tao làm theo. Chừa râu như vầy, tao là người Việt Nam, “già Rô” thì chưa hẳn là người Việt Nam. Ổng là “Quốc tế Vô Sản” rồi, “ngụy trang” đấy, Việt Nam gì nữa!”
Rồi cụ kể:
_ “Hồi trẻ, tao ghét chừa râu lắm. Già, tao lại bày đặt. Đàn ông chừa râu, làm đàn bà có người ưa, người ghét.”
Ông Ngô Văn Tăng góp ý:
_ “Ông Diệm không râu, không có ông tướng nào dám chừa râu. Ông Diệm chết rồi, mấy ông tướng đua nhau chừa râu! Báo chí hỏi, mấy ông trả lời không ra!”
_ “Tự vì báo chí hỏi mấy ông tướng.” Tôi nói. “Tui thì tui hỏi ngay mấy bà tướng, bà Khánh, bà Kỳ… Mấy bả cho biết lý do ngay, lý do rất rõ ràng!”
Cụ Niệm cười:
_ “Mày nói móc. Ai không biết mấy bà ưa “Nhứt lưỡi, nhì râu, tam đầu, tứ củ”. Bài bản nầy có từ Đường Minh Hoàng với Dương Quí Phi bên Tầu. Đường Minh Hoàng thì già. Dương Quí Phi vừa trẻ vừa sexy.”
Nghe cụ Niệm nói, tôi hỏi:
_ “Hồi trẻ, chắc cụ cũng bay bướm lắm?”
_ “Còn hỏi! Tao bây giờ già, người ta còn ưa nhìn, huống gì còn trẻ. Hồi đó tao làm Cảnh Sát ở Hải Phòng, người làng ở Thái Bình lên, muốn ở lại hay trễ xe, cứ tới nhà tao ở lại, khỏi ở khách sạn, tốn tiền.”
_ “Hồi đó cụ chưa có vợ?” Tôi hỏi.
_ “Vợ con đâu! Tao thuê nhà ở một mình, cũng để người làng lên Hải Phòng có nơi trú chân!” Cụ Niệm nói.
Tôi vừa nói vừa cười:
_ “Cụ mà không léng phéng với cô nào, tui không làm người!”
Cụ Niệm cười:
_ “Được cái là tao không léng phéng cô bà nào có chồng rồi. “Trai tân, gái góa thì chơi. Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng.” Tội lỗi lắm, thất đức.”
_ “Cụ chộp được mấy cô?” Tôi hỏi.
Bỗng cụ nói khác đi:
_ “Này, “ông” biết không? Tụi nó còn con gái mà nhiều đứa mất trinh. Hồi xưa mà vậy, làm sao có chồng!”
_ “Thời Việt Minh cụ ơi! “Giải phóng phụ nữ” mà. Đi họp hành, vô đoàn thể, vô du kích, canh ngày, gác đêm, tụi nó chơi “tét mẹ cái ong bầu”, con nào mà còn trinh!” Tôi nói.
_ “Tao sợ hai điều. Một là con gái còn trinh. Mình thì chơi bời, làm nó mất trinh mà không cưới nó thì tội cho nó. Còn con nào mất trinh rồi, lỡ nó có bầu, phải cưới thì “chết cha tao!” Nói xong, cụ Niệm cười hề hề.
_ “Có vợ rồi, cụ còn léng phéng với cô nào nữa không?” Tôi hỏi.
_ “Cái tánh “dê” cũng không chừa, chỉ ít lại thôi.” Cụ nói, thật thà.
Cụ Niệm kể rất nhiều chuyện bay bướm của cụ như thế cho bọn tôi nghe. Bao giờ cụ cũng kết luận bằng câu:
_ “Tôi nghiệp. Tao làm khổ bà ấy nhiều lắm!”
Bà ấy, tức là vợ của cụ chớ ai!
Cụ cũng hay kể chuyện về đứa con trai út của cụ, Thằng ấy tên Bảo.
_ “Nó thương tao lắm! Tao đi làm về trễ, bao giờ nó cũng chờ tao về, “Ăn với ba!” Khi nào không “ăn với ba” được thì nó cũng ngồi trước mặt tao, khi tao ăn. Nó vừa nhìn tao, vừa lượm những hột cơm rơi trên bàn, bỏ mồm nhai. Vừa nhai vừa hát câu: “Giết người đi…”, “Giết người đi…” Bực mình, tao nói: “Ăn gì dơ! Bộ chết đói hả?”
_ “Me có để đói bao giờ! Ăn cho vui mồm.” Nó trả lời!
Tao lại hỏi:
_ “Cái gì mà “Giết người đi…” Giết người là sướng lắm hả? Không nên giết ai hết, giết người là có tội.”
_ “Giết là giết người trong mộng. Chỉ là trong mộng thôi bố à! Phạm Duy còn bảo: “Giết người đi thì ta ở với ai?!”
_ “Câu ấy hay đấy!” Tao bảo nó.
Kể xong, cụ Niệm nói:
_ “Tao thương thằng út lắm.”
Bỗng cụ hỏi:
_ “Mày biết ông anh tao không?”
_ “Ông nào?” Tôi hỏi.
_ “Trần Văn Ứng.” Cụ trả lời.
_ “Tui có nghe tên một ông Trần Văn Ứng, danh thủ bóng tròn đất Bắc Hà. Phải ông nầy không?” Tôi hỏi.
_ “Chính hiệu con nai vàng.” Cụ Niệm cười.
Một lúc, cụ kể:
_ “Hôm tranh giải vô địch ở sân Hàng Đẫy, Nha Công An Bắc Việt cho xe về Hải Phòng đón tao lên xem đấy. Mấy chã thật là điệu đời.” Cụ khen.
_ “Dân Hà Nội mà ông! Có vậy mới là đất văn vật, ở với nhau chí tình.” Tôi tán thán.
&
Ba bốn tháng Cụ Niệm mới được thăm nuôi một lần. Gia đình cụ ở tận Ba Ma Thuột. Cậu con trai út của cụ bao giờ cũng đi theo mẹ. Và thường thì cụ được một gói “Càphê Ban Ma Thuột” chính hiệu. Thế nào, ngày chủ nhật kế đó, bọn tôi cũng được cụ đải cho một chầu càphê. Dĩ nhiên, lời đồn thiên hạ không sai. Thứ càphê nầy là càphê số một trần gian.
_ “Nó có giống như “trảm mã trà” không?” Tôi lại hỏi.
_ “Khác chứ. “Trảm mã trà” là lá trà non tẩm với dịch vị trong bao tử con ngựa. “Càphê cứt chồn” không phải vì cứt chồn ngấm vào càphê mà ngon. Cứt thấm vào thì hôi chứ ngon mẹ gì!” Cụ Niệm nói.
_ “Vậy nó ngon vì sao?” Tôi lại hỏi.
_ “Cứt chồn khô hay tươi đều hôi. Người ta đi lượm hột cà phê lẫn trong cứt chồn, đem về rửa thật sạch, phơi khô để hết mùi hôi. Còn như hột càphê nó kén lắm. Hột phải chín đủ, càphê mới ngon. Con chồn nó ăn hột càphê, hột chín. Nó chỉ tiêu thụ cái vỏ lụa. Còn hột cà phê cứng, nó ỉa ra ngoài. Khi ăn, chồn chỉ ăn những hột đã chín đỏ, là lúc hột càphê đạt tới cái độ chín nhất, ngon nhất. Càphê mình thường uống, là cà phê hột già, xanh đậm chứ chưa chín hẳn. Tới đó người ta phải hái rồi, không chờ cho nó chín đỏ được, càphê rụng mất.”
_ “Thiếu gì lần. Khi tao làm “xếp pô-lít”, tới mùa, thằng Tây chủ đồn điền biếu nửa kí-lô “càphê cứt chồn”. Nửa ký thôi nhé, không có nhiều đâu. Mỗi người được biếu nửa ký, phải là người đang cầm quyền mới được chủ nó biếu cho. Tới mùa, mỗi sáng, mấy đứa con gái Thượng được lệnh chủ đi tìm hột càphê trong cứt chồn. Ngoài số biếu, còn lại thằng chủ đem về Tây.” Cụ Niệm giải thích.
_ “Đem về cho ai bển?” Tôi tò mò hỏi.
_ “Gia đình bạn bè nó. Vợ con nó ở bên đó, đâu có qua bên nầy. Mỗi năm nó về thăm nhà một lần, với lại đem tiền về.”
_ “Tiền gì?” Tôi lại hỏi.
_ “Tiền nó kinh doanh làm ăn. Phải qua hối đoái nó mới đem tiền về được.” Cụ Niệm nói.
_ “Nhiều không?” Tôi lại tò mò.
_ “Bạc triệu. Đổi ra đô-la hoặc Franc. Đem tiền Việt Nam về bên đó không xài được.” Cụ Niệm nói.
_ “Cụ nghĩ có cách nào mà đem tiền về Tây được! Khó lắm. Ông bạn tui, có con du học bên Đức, được đổi tiền, cũng đủ giàu.” Tôi nêu ý kiến.
_ “Tao biết! Có cách hay lắm. Hỏi được thì mày hỏi ông Ngô Đình Thục với ông Huỳnh Văn Lang, đệ tử ông Thục nên được làm Viện trưởng Viện Hối Đoái đấy.”
Tới đó thì tôi chịu thua, đành làm thinh, nói lãng sang chuyện khác:
_ “Càphê vợ tui bới cho không ngon. Đông nó có bảo càphê Saigon bây giờ phần nhiều là càphê Long Khánh, hơi chua. Tụi nó pha với cơm dừa rang cháy xay nhỏ với hột cau, đắng, khó uống, có khi pha với bột bắp nữa.” Tôi nói, một hơi.
Cụ Niệm cười cười:
_ “Mày biết pha hột cau để làm gì không?”
_ “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!” Nói xong, tôi và cụ Niệm cùng cười.
Một lúc, cụ nói:
_ “Mày biết không?”
_ “Có chuyện gì hay?” Tôi hỏi.
_ “Không hay thì tao không nói với một đứa tò mò như mày. Nghề trồng càphê nầy giàu lắm. Có đứa chết đấy. Ghê lắm.” Cụ Niệm nói.
_ “Vàng và Máu” của Thế Lữ hay “Càphê và Máu” đây?” Tôi cười hỏi.
_ “Tao điều tra môt vụ cướp càphê, rợn người luôn.” Cụ Niệm nói.
Tôi lại đùa:
_ “Cướp tiền cướp bạc, ai lại cướp càphê.”
_ “Để tao kể cho nghe. Tới mùa, càphê hái rồi, mấy thằng chủ Tây chất đầy trong kho. Đám lính chi khu, tổ chức đem một chiếc xe Dodge vô cướp càphê. Bọn nó phá cửa kho, chất đầy xe, rồi dọt lẹ. Ban đêm chủ Tây không dám đuổi theo. Bữa đó, phe ta gặp ngay tụi Cộng. Hai bên nổ súng. Việt Cộng rút chạy. Phe ta chết một trung sĩ. Tụi nó lén chôn trong rừng, không dám báo cáo. Vậy rồi việc cũng vở lở ra. Quân Cảnh Tư Pháp với tao điều tra, bắt giam mấy thằng. Tụi nó khai thiệt. Hôm đi lấy xác thằng trung sĩ, mới đào lên, trúng đôi giày “bốt-đờ-xô”. Đứa con gái hơn mười tuổi biết ngay là bố nó. Nó khóc nức nở: “Bố ới! Bố ơi!” Nghe con bé khóc, tao xúc động muốn vở tim ra luôn, tao tưởng như có ai bóp tim tao lại. Tao chảy nước mắt. Làm ăn cái gì mà tội nghiệp vậy hả trời. Bây giờ kể lại, tao còn lạnh mình.”
_ “Việt Cộng cũng đi cướp càphê!” Tôi hỏi.
_ “Tụi nó đi thu thuế, chớ không phải cướp càphê. “Tao ngộ chiến” mà.”
_ “Tự thằng chủ nó không đóng đủ hay chưa kịp đóng. Bọn kinh tài Việt Cộng là kinh lắm. “Tiền và Máu” là tụi nó đấy.” Tôi nói.
_ “Mày cũng rành dữ.” Cụ Niệm nói.
_ “Cụ biết không?” Tôi nói. “Tui ở Rạch Giá, ai làm ruộng trong vùng sâu mà không đóng thuế cho Việt Cộng là tui cùi luôn. Làm rừng, làm gỗ cũng vậy thôi.”
_ “Mày biết TrungTá Thứ quận trưởng Ph. A. không? Chả đi cải tạo mới hơn một năm mà được tha về rồi.” Cụ Niệm nói.
_ “Tui có gặp ông ta với vợ ông ở Saigon một lần, ở nhà ông xếp tui. Giàu lắm, vừa làm quận trưởng, vừa có đồn điền càphê. Cái ghế quận trưởng của ổng bắt vít kỹ lắm.” Tôi nói.
_ “Mày nghĩ tại sao chả về sớm vậy?” Cụ Niệm hỏi.
_ “Sĩ quan Cảnh Sát mà không biết chuyện đó sao được! Đóng thuế, kinh tài Việt Cộng, tiếp tế thuốc men, vợ chạy chọt khi vô tù… Biết bao nhiêu lý do! Cháy nhà ra mặt chuột. Trung tá Thứ mặt chuột, không phải mặt người.”
_ “Mày thì thôi!” Cụ Niệm vừa mắng tôi vừa cười.
Có lần, cụ Niệm hỏi tôi:
_ “Mày biết “Vương Quốc Sedang không?”
_ “Biết chút chút.” Tôi nói. “Lâu lắm, khi còn nhỏ, tui đọc một bài trên báo Phổ Thông của ông Nguyễn Vĩ, nói về một ông Tây làm vua ở xứ mọi nào đó trên Cao Nguyên. Ông Tây nầy sao lại có tên là Marie? Marie là tên đàn bà chớ!”
_ “Mấy thằng Tây chủ đồn điền càphê cũng là vua một xứ đấy. Nó không xưng vua mà thôi, chứ sống như vua.” Cụ Niệm nói.
_ “Cụ nói sao? Tui không hiểu.”
_ “Việc điều hành thu hoạch, buôn bán có người của nó lo hết. Nó chỉ việc hưởng thụ, hú hí với con vợ mọi, có thêm mấy con hầu, như vua vậy!” Cụ Niệm giải thích.
_ “Tây qua làm vua ở xứ ta, sướng nhỉ. Nhưng nó có vợ bên Tây mà?” Tôi nói.
_ “Bên Tây là vợ chính thức. Vợ bên nầy nó cưới theo tục lệ xứ Thượng, hạ trâu heo ra ăn nhậu là xong, không cần giấy tờ. Con vợ nó sexy lắm. Thỉnh thoảng, con nầy nó bỏ tiền ra, mua một vài con nhỏ Thượng còn con gái đem về cho chồng nó chơi. Xong, nó cho về hay ở lại hầu hạ.” Cụ Niệm kể.
_ “Có tiền mua tiên cũng được, huống gì mấy con nhỏ mọi.” Tôi tiếp lời.
_ “Trong đồn điền của nó, chính quyền ít khi đụng vô. Có chuyện gì, chúng nó giàn xếp với nhau hết, không có thưa kiện, không làm phiền mình.”
_ “Vậy chớ nó làm chi cũng được hay sao? Tụi nó có buôn bán ma túy thuốc phiện như ở Quảng Đức, Phước Long hay không?” Tôi lại hỏi.
(Sở dĩ tôi hỏi câu đó là vì có mấy sĩ quan trong số “Vườn Đào” chuyển lên, kể cho tôi nghe, khi họ phục vụ ở Phước Long, cứ vài tuần một lần, có một chiếc máy bay loại Cessna từ Lào qua, bay thấp xuống, thả một vài kiện hàng trong rừng cao su. Tỉnh trưởng cho xe Dodge ra nhặt lấy, đem về dinh tỉnh trưởng, bỏ vô tủ lạnh hư, cột kỹ cho trực thăng chở về trụ sở Quốc Tế Quân Viện ở đường Trần Quốc Toản, Quận 10, nói là đem tủ lạnh đi sửa. Hàng từ đó, chuyển đi đâu, họ không biết. Người ta nghi là đó là bạch phiến từ Tam Giác Vàng. Việc buôn lậu nầy có liên hệ với Tây ở bên Lào, và cả chính quyền Miền Nam nữa đấy, kể cả đường dây của ông Tuyến, ông Nhu và tướng Quang sau nầy. Tôi có kể lại cho cụ Niệm nghe).
_ “Không biết được đâu. Nếu có thì ở cấp trên với nhau, mình là tép riu, đoán chừng vậy thôi. Nhưng về tình báo, làm Cảnh Sát, tao cũng có nghi!” Cụ Niệm nói.
_ “Nghi sao?” Tôi hỏi.
_ “Mày nghĩ xem. Xịa với “đơ-dèm buy-rô” có quan hệ gì với nhau không mà các đồn điền càphê của Tây, mình thường “đứng ngoài ngó vô”.
Trước khi mất Ban Ma Thuột, Sư Đoàn 10 của Việt Cộng biến mất tăm. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn tìm không ra. Tao cũng có đọc công điện hỏi việc mất dấu Sư Đoàn 10 nầy. Thế rồi đêm 10 tháng 3, Việt Cộng tấn công vào thị xã Ban Ma Thuột mà mình không biết trước, không phòng bị gì cả. Nếu tụi nó ém quân trong rừng, trong các buôn Thuợng, mình biết chứ. Nó ém quân ở đâu mà mình không biết. Đùng một cái, nó tấn công ào ào vô thị xã.”
_ “Cụ nghi nó ém quân trong các đồn điền cà phê?” Tôi hỏi.
_ “Trước kia thì tao không thấy, nhưng trận mất Ban Ma Thuột thì tao nghi lắm. Hốt cú chót mà, chơi đòn bất ngờ, mình nghi gì được?” Cụ Niệm nói, vẻ cay đắng.”
_ “Cụ nói tui mới nhớ. Nguyễn Quảng Thành cùng đội với tui đây nè. Anh chàng nầy khóa 22 Võ Bị với “Hùng móm”, em út anh em tui. Thành “thuộc một lẻ một”, phụ trách tình báo ở phía Tây Ban Ma Thuột. Y kể không phát hiện ra Việt Cộng ém quân ở đó trước khi tụi nó đánh vô thị xã. Thành có tình báo ở đó sang tuốt bên Lào luôn mà, không lý anh ta không biết gì. Anh ta cũng nghi như cụ mà không dám chắc thì “đứt phim”. Tôi nói lại ý của Thành gù. (Thành gù là tiếng lóng chúng tôi gọi Nguyễn Quảng Thành, anh bị gù lưng như Quasimodo).
_ “Không sai đâu mày!” Cụ Niệm xác định.
_ “Tui không biết khi cụ Diệm đuổi Tây về nước năm 1955, có giao ước chi về cơ sở kinh tế của Tây không mà nhiều nơi mình không dám “rớ” tới. Tức thiệt.” Tôi nói.
_ “Mình là nước nhược tiểu, kẹt nhiều thứ mày à.” Cụ Niệm góp ý.
_ “Đâu có phải chỉ có tụi Mỹ mới “đâm sau lưng chiến sĩ”. Tụi Pháp thương chi miền Nam…” Tôi góp ý.
Hôm chuyển trại, cụ Niệm, ông Tăng và tôi thì ra “trại ngoài”, Long thì qua “Trại Cây”. Thành ra, khi ra ngoài nầy, không ai lo việc nấu nướng cho ông già. Ông vừa già, vừa yếu, lụm cụm, lò bệ, củi lửa không có, thành ra, tuy có được tiếp tế nhưng ông không tự nấu ăn được. Trong khi đó, ông Âu Văn Minh, cũng già yếu, lại không được ai thăm nuôi cả. Hai ông già, một người có lương thực, một người không, đành chịu chết đói cả, kéo nhau ra nằm ngoài Vườn Xoài, nghĩa địa tù.
Trước khi cụ qua đời, tôi có đến thăm. Cụ lục trong bao đựng đồ ăn gói “càphê Ban Ma Thuột.” Cụ bảo: “Tao không còn uống được nữa. Mày lấy mà dùng.”
Nhờ đó mà bữa nay tôi có “càphê Ban Ma Thuột” uống với bạn bè.
&
Uống càphê gần xong thì Ngọc “xùi” đi đâu đó về, dẫn theo Nghiêu và Lịch. Ngọc pha càphê cho hai người. Lịch thì uống một ly nhỏ, còn Nghiêu thì không uống.
Anh Tâm, nói giọng Nam, thay vì gọi là Nghiêu thì anh gọi tên Nghêu. Nghêu nói: “Tui là Nghiêu, không phả Nghiêu.”
Tôi giải thích: “Nghiêu là vua Nghiêu, vua Thuấn. Còn Nghêu là Nghêu Sò Óc Hến (tên vở kịch Việt Cộng đang diễn ở trên TV). Nghiêu là thời thiên hạ thái bình, no ấm. Còn Nghêu Sò Ốc Hến chỉ ăn được thôi.” Rồi tôi đọc câu ca dao:
Ở đời Nghiêu Thuấn khổ thay!
Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn.
Ở đời Kiệt Trụ sướng sao,
Có rừng nem béo, có ao rượu đầy.
Nghe xong, anh Tâm cười:
_ “Mày lại nói móc lò.”
Tôi cải chính:
_ “Không phải tui. Không phải tui mấy ông ơi!” Ca dao đó.”
Anh Tâm hỏi đùa:
_ “Vậy thì thằng nầy tên là Nghiêu hay Nghêu?”
_ “Nó mà Nghiêu gì? “Chính danh thủ phạm” là Nghêu!” Tôi cười.
Lịch nói:
_ “Anh nói móc thằng nầy coi chừng. Anh không thấy tui sao?”
_ “Nó mà Nghiêu, thì nó không cuốc vào đầu ông như vậy. Mà lạ. Gia đình nó đạo dòng, sao không đặt tên Phao Lồ, hay Mác Tin, Phan xi cô mà lại Nghiêu Thuấn.” Tôi thắc mắc.
_ “Ba tôi giỏi chữ Nho lắm đó. Rành Nho nên ông mới đặt tên tui là Nghiêu, theo gương Nghiêu Thuấn.” Nghiêu giải thích.
Tôi nói đùa:
_ “Vậy là “Con gà Tây Ba Lê” thành “Vịt Bắc Kinh” rồi.
Thấy không khí không vui, hai ngưòi đỏ đi.
Anh Tâm nói:
_ “Mày thấy không? Choảng nhau một trận mà bây giờ cũng đi chơi với nhau được! Hay thật.”
Cách nay khoảng hai tháng, một hôm đội tôi đi cuốc đất sau đồi Phượng Vĩ. Chúng tôi đang dàn hàng ngang, để cuốc đất tới dần phía trước thì bỗng Nghiêu đang đứng bên cạnh Lịch, quay ngang cây cuốc, cuốc vào đầu Lịch một cái thật mạnh. Nhờ Lịch đội cái mũ vải rộng vành do anh tự may bằng vải mui xe GMC, nên lưỡi cuốc chỉ làm Lịch rách da, chảy máu. Anh không bị bất tỉnh. Đội Trưởng Đông xin quản giáo Hoành cho Lịch về trạm xá. Tôi không nhớ bữa đó ai dìu Lịch về.
Về tới sân, chúng tôi thấy Lịch đang cầm nồi và củi “nấu nướng linh tinh”, (như lời cán bộ thường mắng chúng tôi). Thấy vậy, Đỗ Trọng Khiêm nói đùa:
_ “Tao cứ dòm trên mái nhà, bị thằng Nghiêu cuốc cho một lát, tao nghi mầy leo lên mái nhà ngồi chơi!”
&
Sau khi Nghiêu và Lịch đi rồi, anh Tâm nói:
_ “Thằng Nghiêu to như voi, thằng Lịch như con chuột. Nó kẹp cổ thằng Lịch cũng chết, cần chi dùng cây cuốc?”
_ “Thằng “đô” con ít khi tự tin. Thằng nhỏ con tự ty nên khi nào cũng muốn gồ ghề lên cho người ta sợ. Anh không thấy thằng Lịch miệng lưỡi nó ghê lắm. Nhiều thằng “ngán” nó. Thằng Nghiêu phải “cầu viện” tới cái cuốc cho có tự tin.” Tôi giải thích.
Anh Tâm hỏi:
_ “Chuyện chi mà hai đứa đụng độ dữ vậy?”
_ “Việc tôn giáo gì đó. Hai đứa ý kiến mâu thuẫn rồi đã kích nhau. Thằng Nghiêu thua cái miệng thằng Lịch, tức quá, phang cho một cuốc.”
Tôi giải thích.
_ “Gì mà ghê vậy!” Anh Tâm nói.
_ “Anh không thấy trường hợp nhà Ngô a?” Tôi nói. “Người Huế đón “Ngô Chí Sĩ” đông như vậy mà đến khi xảy ra “đàn áp tôn giáo”, người ta lại hoan hô Quân Đội lật đổ ông Diệm. Gì chứ về tôn giáo phải cẩn thận.” Tôi nói.
_ “Việt Cộng tụi nó cẩn thận gì đâu! Nó triệt hạ luôn, “làm gì được nhau?” Anh Tâm nhận xét.
_ “Cộng Sản cũng là một tôn giáo. Nó phải triệt tiêu các tôn giáo khác. “Cách mạng triệt để” mà! Anh thấy cái nhà thờ phía con đường đi Võ Đắt Võ Xu không? Từ hồi chuyển ra trại nầy, tôi không nghe tiếng chuông nhà thờ. Nhiều bữa cuốc đất trên ngọn đồi nhỏ phía sau “Đồi Phượng Vĩ”, không khi nào tôi thấy bóng người ở đó. Nhà thờ vắng hoe.” Tôi bày tỏ ý kiến.
_ “Buồn há?” Anh Tâm nói.
Tôi nói nho nhỏ, theo câu hát “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Văn Bình:
Cỏ hoang chân giáo đường,
Chúa buồn trên thánh giá…
_ “Còn chùa thì sao?” anh Tâm hỏi.
_ “Chùa cũng vậy thôi!” Tôi nói. “Nhưng chùa bỏ hoang lâu hơn, từ khi Tây đô hộ nước ta. Anh biết không?”
_ “Chuyện gì?” anh Tâm hỏi.
Tôi đọc:
Chùa không sư tụng cảnh buồn teo Cốt Phật còn đây chuỗi Phật đâu? Réo rắt cành thông thay kệ đọc Lập loè bóng đóm thế đèn treo Hương sầu khói lạnh nằm ngơ ngác Vách chán đêm suông đứng dãi dầu Rứa cũng trơ gan cùng tuế nguyệt Bên thềm khắc khoải tiếng quyên kêu.
“Bài thơ nầy của Hàn Mặc Tử. Hồi tôi còn đi dạy, dạy về Hàn Mặc Tử cho học sinh, tôi dạy nhiều bài thơ của ông nầy. Trước đó thì không sao? Sau khi ông Ngô Đình Thục về Huế, ông hiệu trưởng trường tôi nhắc khéo tôi đừng dạy bài nầy nữa. Chắc ông bị bọn Công An nắn huyệt. Thời Diệm Nhu bọn ấy cũng nhạy bén đấy!”
Một lúc sau, tôi nói:
_ “Thằng Nghiêu nầy có tướng giết người!”
_ “Mày biết coi tướng?” Anh Tâm hỏi tôi. Tôi trả lời:
_ “Biết đâu! Trịnh Xuân Chính nói đấy.”
_ “Nói sao?”
_ “Thằng nầy,” tôi ngập ngừng, “có hai bàn tay to quá khổ. Tướng giết người đấy.” Rồi tôi nói tiếp:
_ “Việc ông Chính nói làm tôi nhớ một câu chuyện. Năm 1974, khi tôi còn ở Hà Tiên, có hai cô con gái Tàu lai, nhà ở Hòn Chông, khi hai chị em nó lăn tay làm căn cước, thấy hai bàn tay, tôi hết sức kinh ngạc. Hai bàn tay to quá chừng. Tôi nói với thiếu úy trưởng cuộc Cảnh Sát: “Mặt đẹp như dzầy, thấy hai bàn tay mà khiếp.” Nay nghe ông Chính nói vậy, tôi tìm ra một điều.”
_ “Điều gì?” Anh Tâm tò mò hỏi tôi.
_ “Anh biết”, tôi nói, “Biển Đông với Vịnh Thái Lan là “đất thánh” của bọn cướp biển hồi các thế kỷ trước, phần nhiều là dân Hải Nàm. Về già, giải nghệ, bọn nó đâu có về quê mà theo Mạc Cửu kêu gọi, lập nghiệp ở vùng Hà Tiên – Rạch Giá. Hai cô con gái tôi nói là “hậu duệ” đám cướp biển ấy đấy. Cướp biển nào mà không giết người.”
_ “Mày nói có gì làm chứng?” Anh Tâm hỏi khắc tôi.
_ “Làm chứng? Anh làm như tôi là nhà nhân chủng học. Nếu anh có đọc Sơn Nam, “Kho vàng hòn Tre”, anh đồng ý với tui đấy. Cài gene trong cơ thể, chắc truyền lâu được nhiều đời chớ.”
Ngồi chơi một lúc, Ngọc “thiến” hỏi tôi:
_ “Tui cũng lớn lên ở Huế, sao tôi không thấy người Huế đi đón ông Ngô Đình Thục?”
_ “Có chớ! Dân Phú Cam đón ông, cũng không đông lắm, chỉ ngoại trừ bọn “theo gió phất cờ”. Trả lời xong cho Ngọc, tôi nói:
_ “Anh Tâm nầy!”
_ “Gì?” Anh Tâm hỏi.
_ “Có một người, người Huế ngưỡng mộ lắm, muốn hoan hô lắm, nhưng ông ấy tui không thấy đến Huế bao giờ!”
_ “Ai dzậy?” Anh Tâm hỏi.
_ “Ông Nguyễn Tường Tam.” Tôi nói.
_ “Năm ông ở trên Đà-Lạt về, dân Saigon không ai đi đón ông, nói chi tới Huế.” Anh Tâm trả lời tôi.
_ “Huế khác Saigon chớ!” Tôi phản bác.
_ “Khác làm sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.
_ “Từ trước 45 trở về sau, có bao nhiêu thế hệ ngưỡng mộ ông Nhất Linh. Người Huế, phần đông, biết đọc biết viết, biết đọc tiểu thuyết là người ta đọc Nhất Linh, Khái Hưng, ngưỡng mộ hai ông nầy. Thế hệ tôi thì khỏi nói, vừa học Nhất Linh, vừa ngưỡng mộ “nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam”. Áo blouson da, ngậm ông dzố, trông sao mà ngon lành vậy không biết. “Thần tượng cách mạng” của bọn tui đấy. Thằng Nguyễn Tường Thiết, ra học ở Huế, được người ta thương, cũng là nhờ cái hào quang của bố nó đấy. Còn như thế hệ sau tôi, vì cái chương trình 12 tháng 8 của Bộ Giáo Dục, học sinh phải học kỹ Nhất Linh với Tự Lực Văn Đoàn, thì tụi học sinh chịu ảnh hưởng văn chương nhóm nầy là không thể tránh được. Thi tú tài 1 dễ dính đề thi Tự Lực Văn Đoàn.” Tôi giải thích.
_ “Mày nói chương trình 12 tháng 8 là chương trình gì?” Anh Tâm hỏi tôi.
_ “Là chương trình cải cách, đưa các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vào chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị. Có mục đích chính trị đó.” Tôi nói.
_ “Mục đích gì?” Anh Tâm lại hỏi.
_ “Lấy “văn hóa tư sản chống văn hóa vô sản”. Ngoài Bắc tụi đó dạy văn hóa vô sản thì trong Nam phải làm ngược lại. Đó là một trong những guyên tắc căn bản chống Cộng. Nhưng cái đó thì “gậy ông đập lưng ông.”
_ “Mày nói ông Diệm chớ gì?” Anh Tâm nói.
_ “Phải rồi. Cho học trò học Nhất Linh mà lại đưa Nguyễn Tường Tam ra tòa vì tội phản loạn. Ông Nhu, ông Diệm không tiên liệu được tương lai. Vậy mà ông Diệm còn nói một câu rất bậy.
_ “Nói sao?” Anh Tâm lại hỏi tôi.
_ “Nghe tin ông Nguyễn Tường Tam tự vẫn, ông Diệm nói: “Ra tòa rồi cũng tha, có gì mà phải tự tử.” Vậy là ông Diệm nghĩ ông Tam sợ chết. Nghe câu nói của ông Diệm, cụ Lâm Toại, một ông giáo sư có tiếng ở Huế, nói với các giáo sư dạy cùng trường, một câu, giống như câu Tào Tháo nói với quan huyện Trần Cung vậy: “con chim sẻ không thể nào hiểu được con chim đại bàng.”
Một lúc sau, tôi lại nói:
_ “Ông Diệm còn nói bậy một câu nữa.”
_ “Câu gì nữa?” Anh Tâm lại hỏi.
–“Nếu tôi chết hãy trả thù cho tôi.” Tôi nói.
_ “Câu ấy thì bậy quá. Tao cũng không ưa.” Anh Tâm góp ý.
_ “Người Huế lại không hơn. Anh không thấy Huế chùa chiền tùm lum sao! Dù gì thì người Huế cũng từng nghe “Lấy oán báo oán, oán chồng chất; Lấy ân báo oán, oán tiêu tan.” Nghĩ lại thì ông ta cũng là người theo đạo Thiên Chúa.
Ngồi trong quán cà phê tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ: 11 giờ thiếu 25, rồi mở bốp ra, đem bức thơ đọc lại, vừa vui sướng, vừa hồi hộp:
Kính gởi thi sĩ Hoài Hương,
Hân hạnh được thưởng thức tài nghệ của ông qua những vần thơ điêu luyện trên tuần báo X. Thấy địa chỉ của ông đăng ở cuối bài thơ Một trăm thiếu một, tôi vội vã viết thơ này, hy vọng nó sẽ đến tận tay ông. Mong ông nhín chút thời giờ đến biệt xá của tôi, số 23 đường Mé Sông vào khoảng 11 giờ sáng, trong tuần này càng sớm càng hay vì vợ chồng tôi đang có việc cần ông hợp tác về mặt văn nghệ. Xin ông chớ từ chối.
Ông Bà Henri Nguyễn văn Nhan.
Kim đồng hồ chỉ 11 giờ thiếu 15. Tôi nghĩ thầm: “Mình lên đường là vừa”. Từ quán cà phê đến nhà ông Henri Nguyễn văn Nhan, khoảng đường dài chừng hơn năm trăm thước. Đến đấy quá trễ, e ông bà hiểu lầm cho tôi lập dị hoặc thiếu đứng đắn. Đến quá sớm, biết đâu họ đánh giá tôi quá thấp. Tôi rảo bước, con đường quá quen thuộc, hơn nữa hồi hôm qua tôi đã tìm biết rõ số 23 đường Mé Sông này một lần rồi. Một ngôi biệt thự, xung quanh có sân rộng. Điều đáng chú ý: cách đó chừng bốn căn nhà là tới đồn Pháp, đa số gồm lính Lê dương, canh gác cẩn thận. Ít ai dám đi ngang qua cái đồn Lê dương nổi tiếng hung dữ ấy. Thời buổi loạn lạc, sống chết bất thường. Lính Lê dương đi tới lui, tốp ra chợ, tốp về đồn, mặt mày hầm hừ đỏ khé vì nắng, vì rượu. Tôi yên tâm hơn bao giờ hết, với tấm giấy “lách xê” trong túi và nhứt là với bức thơ của ông bà Henri Nhan, một tài liệu cho phép tôi bén mảng đến gần đồn vì lý do chánh đáng, theo lời mời của một nhân vật tăm tiếng có quốc tịch Pháp.
Tiên đoán những câu hỏi sắp tới của ông bà Henri Nhan, tôi chuẩn bị sẵn những câu trả lời. “Hợp tác về mặt văn nghệ”. Mơ hồ quá, biết đâu ông bà muốn bỏ vốn ra để xuất bản thơ. Hoặc cùng hợp soạn một tuyển tập.
Nhìn kỹ tấm bảng ghi số 23 trước biệt thự, tôi mạnh dạn bấm chuông. Chị ở trong nhà chạy ra:
– Ông kiếm ai?
– Tôi muốn gặp mặt ông bà.
– Ông đi vắng rồi.
– Chị cứ nói có khách đến, chuyện cần.
– Dạ tôi không dám, hay là ông đợi lát nữa.
Tôi nhanh trí, đưa bức thơ hôm nọ và luôn cả phong bì cho chị ở:
– Chị mang vào cho bà. Tôi đứng chờ ngoài này.
Chị ở ngạc nhiên, vừa đi vừa liếc phong thơ đã xé. Chập sau, chị kéo nhẹ cánh cửa sắt:
– Mời ông vô.
Qua một cái sân khá rộng trải đá mịn, tôi đứng ngượng ngùng trước bực tam cấp. Phòng khách vắng hoe.
– Mời ông ngồi. Bà tôi lát nữa ra bây giờ.
Tiếng dép kéo nghe lẹp xẹp, ngày càng gần. Một thiếu phụ nhanh nhẹn khoát màn:
– À! Ông là Hoài Hương.
Tôi đứng dậy cúi đầu chào:
– Thưa phải…
– Ông cứ ngồi.
Ngồi xong, tôi cảm thấy lúng túng lạ thường vì bà chủ nhà vẫn đứng dựa lưng vào vách, bên khung cửa sổ. Tuổi bà trạc ba mươi, vóc dáng cao ráo, hai bàn tay ngón thuôn, móng thoa màu hồng dịu; cườm tay no tròn lộ ra thảnh thơi trong tay áo lụa quá rộng phủ xuống vừa khỏi cùi chỏ. Bà day lại, mỉm cười để lộ hai núm đồng tiền và một cái răng vàng:
– Nhà tôi vừa đi khỏi, chừng nửa giờ nữa mới về. Thôi, chắc ổng mừng lắm, ông đến đây thiệt hợp thời.
Chị ở bưng ra một tách nước trà hơi nguội. Bà nói tiếp:
– Ông cứ uống tự nhiên một mình. Chẳng mấy khi… thi sĩ đến nhà. Một thi sĩ hữu danh.
Tôi cúi mặt, đưa tay vói tách nước.
– À, này ông…
Giựt mình, tôi buông tay xuống. Cũng may tôi chưa nâng tách nước. Bằng không chắc chắn nó sẽ rơi xuống nền gạch bông quá bóng láng.
– Ông uống tự nhiên đi. Tôi đứng đây, luôn thể… chờ nhà tôi về. Tôi muốn nói điều gì bây giờ. À… quê quán của ông ở quận An Biên, nếu tôi không lầm.
Tôi trố mắt ngạc nhiên, phục thầm tài nhận xét của bà Henri:
– Dạ, sao bà biết? Hay là quê của bà…
Bà vội cướp lời tôi:
– Xin lỗi để tôi nói trước. Qua lời thơ của ông, tôi chú ý câu: “Mười con sông nhỏ song song, Chảy về một biển mà không giao đầu”, tôi quả quyết ông là người Miệt Thứ, nơi có mười con rạch nhỏ, từ rạch Thứ Nhứt đến rạch Thứ Mười, giáp rừng Cán Gáo. Với lại “Lòng đất sục sôi, hoa trắng soi mình trong màu đỏ”! Mới nghe qua thì ghê rợn xương máu, nhắc nhở chiến tranh.
Tôi sượng sùng, toan thanh minh trường hợp “tình ngay lý gian” ấy. Nhưng bà Henri lại khéo biện hộ giùm tôi:
– Thật khiêm tốn, hiền lành, cái miền quê An Biên! Ông tả đúng quá. Đất xốp, mưa thấm xuống, cứ đào là gặp mạch nước chảy tuôn. Thứ nước chát, đỏ bầm vì nhuộm màu vỏ tràm, dây choại, dây dớn; bông trắng, màu bông cây tràm.
Bên đồn, lính Lê dương bỗng rộ lên cười hát ỏm tỏi… Tôi liếc qua cửa sổ bên trái: hai họng súng “ô buýt” vừa ló ra cách nhà chừng hai chục thước.
Bà chép miệng:
– Chừng này sao nhà tôi chưa về? Ông quan tư Ca Rê là bạn của nhà tôi. Họ đang uống rượu bên đồn. Ông ráng chờ vài phút. Tới giờ lính ăn cơm rồi. Ông Ca Rê học giỏi lắm, xuất thân trường Thuộc địa, rành về tâm lý các dân tộc Đông Phương, nhứt là Ấn Độ. Ổng thích tìm bạn Việt Nam… để điều tra thêm… Vì vậy, nhà tôi cần gặp một thi sĩ Việt Nam để tiếp tay.
Nỗi lo âu hiện lên. Tôi ngồi im, cố gắng che giấu sự thất vọng. Tâm lý các dân tộc Đông Phương, Ấn Độ, Việt Nam? Những môn mà tôi chưa từng chú ý. Ông bà Henri Nhan quả thật đã gõ lầm cửa khi biên thơ cho tôi. Chẳng khác nào ông bà xúi biểu một ngư ông ở đồng bằng đi săn cọp tận đỉnh Hy Mã Lạp Sơn! Những bức hoành phi cẩn xa cừ, cái lục bình cao hơn tám tấc ở bàn giữa, cái ghế bành lót nệm màu xanh dương, đôi chim hoàng yến treo ngoài cửa cái, không khí mát mẻ trong phòng khách, pho tượng Phật Quan Âm trên bàn thờ riêng biệt, tất cả như mai mỉa sự có mặt của tôi tại đây. Tôi toan đứng dậy, cáo từ bà chủ nhà để trở về gian nhà Xóm Biển rồi nằm trên bộ vạc tre, kê đầu lên chiếc gối bằng cây mốp, tìm nàng thơ đang đi lởn vởn bên cạnh những em bé bắt ruồi, hoặc lão Tư Hiếm với chiếc ống điếu cổ lỗ.
Bà chủ nhà nói nhanh:
– Ý mà quên! Nãy giờ tôi quên mời ông hút thuốc. Thuốc điếu, ống quẹt… ở trong cái hộp cây sơn mài trước mặt ông đó. Ông cứ tự tiện mở ra.
– Dạ tôi… không ghiền thuốc.
– Không ghiền thuốc, làm sao cảm hứng được? Kìa! Nhà tôi về.
Rồi bà đổi giọng, day ra ngoài cửa sổ:
– Ông có mượn giùm tôi mấy cuốn Paris Match đó hả? Nãy giờ, thi sĩ tới chờ đợi ông rã ruột.
Ông Henri Nguyễn văn Nhan bước nhanh vào:
– A! Chào thi sĩ.
Tuổi ông trạc năm mươi, da mặt hồng hào. Tuy mặc bộ quần áo kaki vàng nhưng chân ông mang dép săn-đan với đôi vớ trắng.
Ông bắt tay tôi rồi trao xấp báo cho bà vợ trẻ:
– Bà à, ông Còm-măn-đăn Ca Rê hứa giải quyết gấp cái “áp phe” điền đất của mình ở Mỹ Lâm. Báo thì tôi mượn về mấy tờ đây cho bà.
– Ậy, lần này tôi nói gắt với ổng. Ổng hứa sẽ thi hành gấp trong tuần này, với điều kiện là tôi giúp ổng tài liệu… Chẳng biết người mình kêu bằng cái gì… cái monographie vùng phụ cận núi Ba Thê, từ khi người Pháp mới sang và những phong tục hồi xưa còn sót lại trong dân chúng.
Day qua tôi, ông tiếp:
– Ông giúp tôi phần ấy được chớ! Viết bằng chữ Việt Nam để tôi căn cứ vào đó dịch ra chữ Pháp. Văn chương của ông được đăng báo. Theo ý kiến của nhà tôi thì ông thuộc vào hàng trên mức trung bình. Nhà cửa, quê quán ông ở đâu? Học lực tới lớp nào? Từ mấy năm nay ông đã làm gì?
Cơn giận lại nổi lên ngấm ngầm. Tay tôi hơi run run. Tôi quên rằng thời chiến tranh mỗi chủ nhân cần điều tra lý lịch của bất cứ người làm công nào, nhứt là trường hợp ngôi nhà của chủ lại ở sát đồn bót. Tôi đứng dậy, nói lập vập:
– Thưa ông, tôi chưa từng soạn thảo những quyển địa phương chí lần nào cả. Viết tổng quát về lịch sử, địa lý, thói ăn nết ở, nguồn lợi kinh tế của một vùng… tưởng việc ấy dành riêng cho những nhà chuyên môn, học cao hơn. Rất tiếc vì tài mọn, tôi khó làm vừa lòng được. Xin…
Mấy tiếng “kiếu từ ông” chưa thốt ra khỏi miệng tôi là ông Henri Nhan đã chận ngay:
– Đừng ngại, chuyện cần gấp lắm. Tôi sẽ chỉ biểu rành mạch đầu đuôi gốc ngọn tất cả công việc; ông cứ noi theo lời tôi mà thi hành. Tôi đã trình bày với ông quan tư Ca Rê: Lịch sử vùng Mỹ Lâm tức là lịch sử của tôi! Tôi ra công khai phá vùng ấy hơn ba chục năm trường, lập đình chùa, làng xóm. Tôi hiểu từng cọng cỏ. Tôi đã gặp nhiều di tích xưa, trước khi người Pháp đến đào xới kho tàng Óc Eo ở núi Ba Thê mà họ cho rằng quan trọng, đánh dấu sự gặp gỡ với Tây Phương từ đời Thượng cổ ở Đông Nam Á. Chung qui công việc mà ông thi sĩ sắp làm chỉ là viết tiểu sử của tôi, theo kiểu tiểu sử các bực danh nhân, công thần trong quốc sử.
Tôi giữ thái độ im lặng mặc dầu tôi biết lão Tư Hiếm có thể giúp tôi nhiều tài liệu về phần đất ở Mỹ Lâm. Nhưng tôi cố tìm lời lẽ để rút lui vĩnh viễn, thề chẳng bao giờ đặt bước trở lại căn nhà khó thở này. Bà Henri Nhan như nóng nảy, nháy mắt, khoát nhẹ bàn tay búp măng, ra dấu hiệu bảo tôi cứ gật đầu.
Tôi đáp:
– Thưa ông, tôi suy nghĩ lại, trả lời sau.
Bà Henri Nhan cười giòn, bước tới vịn vai chồng:
– Dường như thi sĩ đồng ý rồi đó. Thôi bây giờ cũng đã trưa, để ông ấy về nghỉ rồi sáng mai trở lại nhận việc.
Ông Henri Nhan lẩm bẩm, nhìn tôi:
– Được, tôi nhức hai bàn chân quá. Chịu phiền nghe ông bạn. Tối nay tôi thảo kế hoạch để công việc tiến hành gấp rút. Tâm lý người Âu Châu… kỳ lắm.
Ông ta vào phòng.
Tôi đứng dậy, cúi đầu chào bà chủ. Bà đi trước.
– Để tôi mở cổng cho ông về.
Tiễn tôi đến khỏi bực tam cấp, bà nói khẽ:
– Công việc chẳng long trọng, to tát như ổng nói đâu! Cứ nhận lãnh đi, ông đừng quá khiêm tốn. Ban nãy, dường như ông hơi phật ý.
Cơn buồn giận của tôi đã bắt đầu dịu xuống:
– Dạ, tôi đâu dám phiền ai.
– Một hai ổng muốn trở về điền đất cũ ở Mỹ Lâm. Thật là khuấy nước giỡn trăng! Tôi khuyên ổng nên bỏ hết, vợ chồng đi lên Sài Gòn tìm huê lợi khác. Rầu quá. À, ban nãy tôi quên hỏi…
– Thưa bà…
– Ông ở Miệt Thứ, thuộc xóm nào? Chú ruột tôi là ông hội đồng X, chắc ông biết.
– Dạ ông hội đồng là bạn của ông dượng tôi.
Bà Henri tiếp:
– Tôi ít về quê lắm. Đi học Sài Gòn từ nhỏ tới lớn.
Đến cổng rào, bà kéo nhẹ cánh cửa sắt, đứng nép một bên, sờ vào túi:
– Đây, tôi gởi sở phí ông về xe. Ngày mai nhớ trở lại nghe. Chừng một tuần lễ thôi. Về tiền bạc, tôi lo liệu để ông được bề rộng rãi.
Hai vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức và Bé Ký vừa cho gom một số tác phẩm của mình, xuất bản thành hai tuyển tập.
Tuyển tập tranh Bé Ký mang tên Quê Hương Mến Yêu và của Hồ Thành Đức là Ấn Tượng Trong Đời Tôi. Cả hai tuyển tập đều được in trên giấy láng cứng, trình bầy trang nhã.
Bé Ký và Hồ Thành Đức là những họa sĩ đã thành danh từ lâu. Hình ảnh một thiếu nữ nhỏ nhắn, áo cánh, quần đen, cặp giấy trên tay, đi lại trên đường phố, thỉnh thoảng dừng trước một hoạt cảnh nào đó, một đứa bé đánh giầy, một người đàn bà bán hàng rong vừa hạ đôi quang gánh xuống mời mọc khách, một chiếc xe thổ mộ từ phía đồng Ông Cộ chạy ra chợ Bà Chiểu, dừng ở phía bên kia đường Lê Quang Định, một người hát xẩm gỡ cây đàn đeo bên mình, ngồi xệp xuống dưới chân chiếc cột đèn bắt đầu hành nghề, một người phu xích lô vắng khách ghếch xe nằm nghỉ bên một góc hè, một cơn gió làm bay chiếc nón rách của một người hành khất … đó là những đề tài quen thuộc của Bé Ký. Chỉ với một mẩu than chì và một tờ giấy trắng, bà đã biến những cảnh sắc tầm thường ấy thành những tác phẩm.
Mới đầu Bé Ký chỉ vẽ chơi, vì có năng khiếu tự nhiên từ khi còn nhỏ, nhưng tài năng của bà đã được nhiều nhà chuyên môn đặc biệt chú ý, sau đó, Bé Ký đã được các họa sĩ Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen trực tiếp hướng dẫn. Và tài năng của bà được khẳng định. Cuộc triển lãm tranh đầu tiên của Bé Ký tổ chức tại trụ sở Pháp Văn Đồng Minh Hội [Alliance Francaise] năm 1957 được bảo trợ bởi ông René de Berval, người chuyên viết phê bình mỹ thuật cho tờ báo Pháp ngữ Journal d’Extrême Orient và tạp chí France d’Asie ở Sài Gòn.
Tranh của Bé Ký được nhiều người Âu Châu sưu tầm, không phải chỉ vì tính chất “hương xa”, mang những hình ảnh đặc biệt Việt Nam mà chính vì cá tính của tranh, hay nói cách khác, vì tài năng của bà.
Trong bộ sưu tập của Nhà Bảo Tàng Á Châu Thái Bình Dương tại Ba Lan có tranh của bà. Theo nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy thì “giữa hàng ngàn tấm tranh của Bé Ký, tranh vẽ nét bằng mực tàu, tranh tô màu trên lụa, tranh sơn mài, dĩ nhiên tranh sao đi chép lại cũng khá nhiều vì nhu cầu thương mại, giữa núi tranh đồ sộ ấy, nếu chọn lại thực kỹ, chúng ta sẽ có nhiều tấm thực hiện hết sức tài tình như Đàn Nguyệt, Mẹ Con, Đàn Độc Huyền, Đàn cò, Bà Cháu, có thể xem là tuyệt kỹ”.
Xem tranh Bé Ký, hẳn ai cũng thấy ngay là Bé Ký rất thành công ở chỗ, trong suốt 40 năm sống đời một họa sĩ, Bé Ký đã xây dựng được một thế giới riêng biệt, đầy cá tính ngay từ những bước đầu tiên, rồi từ đó bà cứ bước đi một cách vô cùng vững tin ở cách nhìn và sự lựa chọn của mình.
Bút pháp của Bé Ký thuộc về đại chúng, đó là một thứ nghệ thuật quần chúng. Như vậy chẳng có gì đáng tiếc khi nghệ thuật của Bé Ký chỉ ngừng ngang mức dân gian mà không đi xa hơn nữa. Nếu chúng ta đã có nguồn tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, tranh đỏ Kim Hoàng, tranh làng Sình ở Huế thì chúng ta còn có thêm nguồn tranh dân gian quý giá không kém, đó chính là tranh Bé Ký. Dĩ nhiên tranh Bé Ký cao và thơ mộng hơn nhiều vì nó là hơi thở thuần nhất của một nghệ sĩ chân thành, tài hoa, độc đáo và sáng tạo. Một dòng tranh dân gian của đại chúng như tranh Đông Hồ thì hoàn toàn ngược lại, xóa hẳn cá tính vì được hình thành bằng nhiều thế hệ qua thời gian và lịch sử”.
Hồ Thành Đức được đào tạo trường quy hẳn hoi. Ông tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn. Ông theo trường phái ấn tượng và vừa vẽ sơn dầu vừa dán giấy. Những bức tranh ấn tượng của Hồ Thành Đức quả thật đã gây ấn tượng mạnh đối với người thưởng ngoạn. Những tảng mầu dù rực rỡ hay u ám của ông luôn có một vẻ bứt rứt, không yên. Càng nhìn càng thấy như chúng muốn tự đổi thay vị thế, hình dạng. Các bức tường, tảng đá trong tranh ông hình như cũng muốn bật một tiếng nói, tựa hồ chúng phải mang một nỗi buồn chúng không chịu nổi. Nói về tranh Hồ Thành Đức, ký mục gia Jennifer A. Bauman đã viết trên tờ Register như sau:
“Tôi thấy sửng sốt trước xúc cảm và những ẩn dụ chứa giữ bởi những mảnh giấy nhỏ đã được xử dụng để tạo ra tranh collage phức tạp. Lần đầu tiên xem tác phẩm “Bức Tường Nước Mắt”, tôi tưởng như những bộ mặt đau khổ tuyệt vọng kia có thể phát ra tiếng la khóc nếu chúng không bị phủ một lớp sơn bóng dày lên trên. Rõ ràng là chiến tranh Việt Nam vẫn còn ám ảnh Đức và đem lại cho nhiều tác phẩm của ông nỗi thống khổ hiển hiện.
Những tác phẩm gần đây hơn của ông phô bầy đôi chút tư tưởng lạc quan. Ở bức “Hoa Đá”, những cạnh cứng của đá mở toang ra, khoe những bông hoa màu sáng bên trong. Nhìn gần hơn, ta thấy những mảnh giấy in hình đời sống của biển, như thể hứa hẹn một ngày kia thế giới sẽ được tắm gội bằng Nước hy vọng”.
Các bức tranh thiếu nữ của Hồ Thành Đức như: Ngày Về, Thiếu Nữ và Hoa, Phật Tuyết Sơn, Chân Dung Thiếu Nữ … đều là những bức tranh đẹp, màu sắc dịu dàng, thơ mộng, chứng tỏ ông còn có một tâm hồn lãng mạn, có đủ cái đắm đuối của một tình nhân.
Định mệnh có những sự sắp đặt kỳ lạ: cả Hồ Thành Đức lẫn Bé Ký đều mồ côi từ khi còn nhỏ. Họ được sinh ở hai phương trời khác nhau Hồ Thành Đức ở Đà Nẵng, Bé Ký ở Hải Dương. Sự run rủi nào khiến họ làm chung một nghề, gặp được nhau và trở thành bạn đời với nhau? Trong hai cuốn sách Quê Hương Yêu Dấu và Ấn Tượng Trong Đời Tôi, có những bức hình chụp chung hai người, tựa những bức tranh họ không vẽ mà tự nhiên thành vậy.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.