Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

PHÙ SA xuất bản 1964

Post by Sơn râu 24 Oct 2025

Phần 5.

Đúng như dự đoán của tôi, ông bà Henri Nhan rất hài lòng. Bà yêu cầu tôi ngưng đọc từng chập. Bà đập mạnh vào vai chồng:

– Ông trạng Lương Thế Vinh của tôi! Bấy lâu tôi làm bà Trạng mà không hay biết.

Ông cúi đầu nói lảng:

– Về khung cảnh chuột cắn đuôi nhau lội dài hàng mấy trăm thước, ông thi sĩ suy luận hay quá. Nhớ thêm thắt vài câu, nói lên vẻ đẹp hùng vĩ của miền núi Ba Thê. Xưa kia, thương cảng quốc tế; bây giờ, đất bồi… cả thời xưa huy hoàng vàng son đã chìm lĩm chẳng khác nào thành phố Pompéi ở Ý Đại Lợi bị lấp dưới lớp tro của núi lửa Vésuve.

Ông vuốt râu thò tay kéo đôi vớ lên sát đầu gối:

– Thời lai phong tống… Tôi tin rằng kỳ này mấy ổng dám giới thiệu tôi vô Hội đồng Liên hiệp Pháp, đi du lịch chơi lai rai. Hằng năm chánh phủ Pháp sẽ đài thọ cho tôi hai chuyến du lịch để tìm hiểu các nước trong Liên hiệp Pháp, khắp vòng quanh thế giới: nào Algérie, nào Guyane ở Nam Mỹ, nào Nouvelle Calédonie ở Thái Bình Dương…

Bà Henri mỉm cười:

– Tôi mơ ước đi vòng quanh thế giới. Như vậy vui hơn chớ về đồn điền ở Mốp Giăng làm gì. Huê lợi không có, suốt ngày quanh quẩn.

Ông nghiêm giọng, chỉ ngón tay thẳng vào mặt tôi:

– Thời giờ cấp bách lắm. Tôi hứa trưa mai nạp đoạn thứ nhứt của cái monographie vùng Mỹ Lâm cho ông quan tư Ca Rê. Ông thi sĩ chần chừ gì nữa? Ông nghe lời của nhà tôi à?

Day qua bà vợ, ông lẩm bẩm:

– Ngạn ngữ Tây có câu: Đàn bà tuy tóc dài nhưng tư tưởng của họ rất ngắn! Cái “áp phe” đất Mỹ Lâm với cái tương lai của Hội đồng Liên hiệp Pháp đi đôi. Hiện nay các nhà khảo cổ Tây phương đang chú ý về vùng núi Ba Thê. Ai tìm được điều gì mới lạ thời sẽ nổi danh, được thế giới chú ý. Nhưng muốn tìm được điều mới lạ, họ phải lạy lục tôi!

Ông Henri Nhan đứng dậy thở phều phào, gương mặt đỏ ửng với cái vẻ mệt mỏi của con ngựa già cố chạy đường khuya nước rút. Bỗng dưng, tôi quả quyết rằng: chính ông ta đã bố trí giết người thầu khoán năm xưa, theo lời thuật lại của lão Tư Hiếm! Bỉ ổi quá! Bà Henri cười hồn nhiên, chắc bà chẳng lạ lùng gì cái bản chất háo thắng của ông chồng. Thừa lúc ông đi thẳng lên nhà trên, bà nói khẽ với tôi:

– Cứ viết nhanh cho vừa ý ổng. Ông hãy xem như chuyện viết chơi chơi… kiếm tiền xài.

Tôi lẩm bẩm:

– Dạ rầu quá, tôi lỡ lãnh tiền rồi, bằng không thì…

– Ông cứ nghe tôi. Nếu ông rút lui, nhà tôi tìm cách gièm xiểm… ổng ưa thù vặt vô cớ… Ông đừng bực mình. Cái “áp phe” nọ chẳng đi tới kết quả gì đâu. Tôi nói, ông chờ xem… Chuyện “vọc nước giỡn trăng” tôi biết trước rồi. Tụi Tây đâu dễ gạt như nhà tôi tưởng…

Ngòi bút của tôi bắt đầu bay nhảy trên mặt giấy:

“Trước khi ông Nguyễn văn Nhan đến khai khẩn thì vùng thương cảng Ba Thê đã hoang tàn; đất phù sa hằng năm bồi lên, chôn vùi bao di tích của nền văn hóa xa xưa cổ kính của Đông Nam Á. Mùa nước nổi, từng đàn chuột cắn đuôi nhau mở cuộc ‘vạn lý trường chinh’ từ chân trời vô tận đến chân trời vô tận…Nhưng khi ông đến, mấy đàn chuột ấy bỗng nhiên biến mất, chẳng bao giờ xuất hiện. Các bô lão địa phương bảo nhau: Ấy là điềm lành. Đất Ba Thê Mỹ Lâm đã đến thời hưng thịnh…”

Chị ở bước lại gần tôi, nói khẽ:

– Ông tôi mời ông vào trong phòng.

Tôi, cau mày:

– Hôm trước, tôi dặn chị kêu tôi bằng thầy, đủ rồi.

– Ông tôi cũng kêu ông bằng ông. “Thầy” sao khó tánh quá!

Tôi đi thẳng vào phòng ông Henri. Chắc rằng phía sau lưng tôi, bà Henri và chị bếp nhìn nhau mỉm cười. Nhưng thái độ tiểu nhân của tôi phát sanh do động cơ khác.

– Ông thi sĩ hãy ngồi chờ tôi tìm chuyện cổ tích Lộc Giác Chân Nhân trong quyển sách Tây do ông quan tư Ca Rê cho tôi mượn nghiên cứu. Đàn ông bọn mình ưa làm những việc mà đàn bà không ưa, tuy rằng chung qui mình chỉ lo lắng cho họ để rồi mình hưởng rất ít. Tôi muốn ông vào đây để tránh những câu nói đâm họng, làm “thối chí anh hùng” của nhà tôi. Và cũng để đứa ở khỏi tò mò. Ông ráng giữ bí mật. Ông quan tư Ca Rê lợi dụng, muốn nhờ tôi giúp cho vài món cổ ngoạn của thị trấn Óc Eo ở chân núi Ba Thê. Tụi Tây khảo cổ xưa kia chỉ mới đào bới sơ sài. Hồi năm một ngàn chín trăm bốn mươi mốt, gặp giặc Nhựt Bổn, tụi nó bỏ luôn không dám trở lại. Mấy món đó xưa trên một ngàn năm trăm năm, ông Ca Rê định kiếm vài kiểu đem về Tây, tặng cho người tình nhân là bà bá tước De L… Đồng thời ông ta muốn ghi chép vài phong tục địa phương mà giới khảo cổ chưa từng nói tới. Hiện giờ ở Mốp Giăng, tại điền của tôi còn miễu thờ Chúa Ngung, Ma Nương với pho tượng đá xưa và những người chuyên môn “lên xác”. Nếu mình trình bày rõ rệt, đủ sức hấp dẫn tức nhiên ông Ca Rê sẽ cao hứng mở cuộc hành quân cấp tốc tới Mốp Giăng để đóng đồn… Nhơn dịp đó, uy thế của tôi đối với các tá điền nhứt định tăng lên… Và ông Ca Rê sẽ đền ơn tôi xứng đáng, trong mức quyền hạn của ổng. Chuyện Lộc Giác Chân Nhân đây này. Đọc đi. Trong khi đó, tôi sắp xếp thứ tự. Bộ óc tôi cỡ này nôn nao, lộn xộn quá.

Chuyện Lộc Giác Chân Nhân rất ngắn, chiếm vỏn vẹn bốn trang sách khổ nhỏ, trong quyển tập Cổ tích An Nam, in bên Pháp hồi năm 1926… Tay tôi hơi run run. Cái “áp phe” Mỹ Lâm này rõ ràng là vấn đề máu lửa mà tôi và bọn lính Lê dương đều đứng trong cuộc, họ bắt buộc đóng hẳn hòi những vai trò quan trọng. Tôi nhớ tới cái lon sữa bò đầy gạo để cắm nhang trên trang thờ Thái Thượng Lão Quân. Lão Tư Hiếm – con người vừa hiền hòa vừa bí hiểm – với vầng trán mặn mồ hôi sẽ nghĩ gì? Rồi đây quân đội viễn chinh Pháp dùng xe, dùng tàu sắt tiến vào Mốp Giăng giữa cảnh thiếu người, chỉ còn chuột, bưng sen với hơn mười gia đình, trong ấy có người cùi người mù – nếu lão Tư Hiếm không nói dối.

– “Ông cứ kéo ghế qua ngồi sát bên tôi! Câu chuyện như vầy. Khi tôi mới khẩn đất hoang thì ở Mốp Giăng đã có sẵn, một cái miễu xiêu vẹo, cất trên gò đất cao bên gốc cây bàng cổ thụ. Miễu thờ bốn năm cục đá phủ vải đỏ bạc màu. Vì ít tin đồng bóng phù phép, tôi khuyên dân chúng nếu ốm đau thì cứ uống thuốc, đừng cúng kiến vô ích. Năm đó, một thiếu nữ bỗng nhiên nổi cơn điên xé quần áo, nói xàm, đi lang thang. Vài ngày sau thi thể cô ta bỗng nhiên nổi lên, trôi tấp vào chiếc cầu ván trước nhà tôi, một buổi sáng đại khái vào tháng Giêng năm 1937… Tôi xuất tiền mua hòm giúp việc ma chay. Sáng hôm sau, đến lượt một người trong xóm nổi cơn điên chạy tới trước miễu nọ múa men tay chân, tự xưng là Chúa Ngung, Ma Nương, vị thần đến khai khẩn vùng đất Mốp Giăng từ ngàn năm về trước đã chết rồi hóa đá. Thấy chuyện lạ tôi cầu xin Chúa Ngung, Ma Nương trình bày mọi thắc mắc. Người ‘xác’ vào miễu dở tấm vải, chỉ ngay một tượng đá, bảo rằng đó là tiền kiếp của mình. Pho tượng quá cũ, tạc hình một vũ nữ đang uốn mình, đầu đội mão vuông, chân mang vòng, tay cầm thếp đèn chong kiểu vũ nữ Chiêm Thành, Ấn Độ. ‘Xác’ lại ra lịnh cho tôi hằng năm phải cúng kiến, mướn lại đất của Chúa Ngung, Ma Nương trong vòng một năm. Thế là đứng về mặt tinh thần, tôi phải nhận mình là tá điền của kẻ khuất mặt, mặc dầu tôi nghiễm nhiên là chủ điền. Tôi đồng ý. Xác đòi ăn mắm sống, ăn xong ‘xác’ bảo tôi đem một tờ giấy trắng để trước miễu rồi ‘xác’ hái bốn nhánh cây, chạy băng ngang đồng ruộng suốt mấy chục cây số từ sáng tới xế chiều để cắm bốn nhánh cây xuống ở bốn góc. Lạ thay, ‘xác’ cắm ngay ranh đất đúng như trong tờ bằng khoán mà sở Quan thủ địa bộ đã cấp cho tôi.

Xác về miễu nhúng tay xuống bùn, áp vào tờ giấy rồi dạy tôi hằng năm phải làm lễ như hôm ấy, gọi là lễ ‘tá thổ’. Bằng không dân làng lần lượt phải bị Chúa Ngung, Ma Nương bắt chết như trường hợp người thiếu nữ điên nọ”.

Khổ tâm quá! Tôi đã đoán phần kết luận ngay từ khi ông Henri Nhan mới kể đến phân nửa câu chuyện. Tôi tin nơi trực giác của mình. Nhơn phong tục cúng Chúa Ngung, Ma Nương, ông Henri Nhan đã hành động khéo léo – khéo gấp bội phần kế hoạch giết người thầu khoán. Chúa Ngung, Ma Nương là vị thần gì… Sự thật ra sao? Tôi nóng nảy, đứng dậy định kiếu từ về tìm lão Tư Hiếm để nghe thêm một tiếng chuông khác.

Ông Henri như bực dọc:

– Ông viết liền được chưa mà im lìm như vậy? Nếu chưa hiểu, cứ hỏi lại tôi.

– Dạ hiểu phần nào. Xin phép ông, để về nhà sắp xếp đầu đuôi viết kỹ lưỡng rồi tôi trở lại đây nhờ ông dạy thêm.

Ông Henri liếc lên vách:

– Để coi… mười giờ rồi. Ông ráng viết, ba giờ chiều trở lại liền, kịp không? Tôi muốn ông ăn cơm trưa tại đây rồi viết luôn, đừng về mất thời giờ quý báu.

– Dạ, ở đây không khí hơi lạ. Về nhà ăn cơm xong tôi đóng cửa lại, viết một mạch là tạm xong. Tôi trở lại cỡ hai giờ rưỡi chiều.

Chắc hẳn ông Henri vừa ý khi nghe tôi nói “đóng cửa lại”, “hai giờ rưỡi”.

– Ông ra nói nhà tôi đưa chút ít tiền… Hổm rày tôi vô tình, quên phứt.

Đến cổng, bà Henri với nụ cười lúm đồng tiền, trao cho tôi năm trăm đồng.

– Nhớ kỹ nghe, nhà tôi bắt đầu khó tánh rồi đó. Ông nên viết như kỳ rồi vậy thôi. Theo quẻ tử vi, nhà tôi năm nay tuổi Mẹo, ngôi sao… ác liệt lắm! Vái trời cho nhà tôi được vô… Liên hiệp Pháp để tôi đi du lịch Phi Châu coi sư tử, ngựa rằn chơi. Ông thi sĩ nhớ “Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu” chớ? Đó mới thật là thơ.

Tôi cười, nụ cười khô héo:

– Thơ của rừng thiên nhiên Phi Châu… sang trọng hơn thơ đồng quê của tôi một bực.

Bà Henri nói vói theo:

– Nhà tôi cũng ưa đồng quê vậy. Nhưng sao khác với đồng quê của ông… Coi bộ hai thi sĩ đồng quê kỵ tuổi, kỵ ngôi sao… Chiều, ông nhớ trở lại sớm nghen!

Tôi ăn lua láo mới vừa được nửa chén cơm, chợt lão Tư Hiếm bước vào:

– Ủa! Bữa nay thầy ăn hơi sớm đó. Mời thầy qua ăn với tôi. Hồi sáng tới giờ, tôi chờ… Thầy về hồi nào mà tôi không thấy kìa?

Tôi hiểu rằng mình nên chiều theo ý muốn của lão, đừng từ chối bất cứ vì một lẽ gì. Lão dọn ra một con cá lóc nướng, một dĩa muối ớt. Chắc lão vừa cúng xong: trên lớp vảy cá cháy khét, mớ tàn nhang rắc lốm đốm. Từng khúc nhang cong queo tuy đã hóa ra tro nhưng còn giữ nguyên hình dáng cũ. Lão nói nhanh:

– Thôi mình ăn.

– Còn ai nữa không bác?

– Đâu còn ai. Dịp này chỉ có thầy với tôi. Món ăn ít quá. Rượu đây, tiên vi chủ – lão uống một hớp rồi trao cho tôi – hậu vi khách.

Rồi lão nhướng mắt, dò hỏi ngay:

– Thầy uống cạn đi. Say sưa gì mà sợ… Công việc của thầy tới đâu rồi?

Tôi hiểu đó là nỗi thắc mắc thầm kín nhứt của lão. Vì thời giờ còn lại quá ngắn, tôi đi thẳng vào đề:

– Dạ, ổng nhắc tới sự tích cái miễu Chúa Ngung, Ma Nương. Trong điền đất của ổng, năm đó, một thiếu nữ mang bịnh điên té xuống sống chết trôi tấp trước bến nhà ổng, rồi “đạp đồng” lên… Là kẻ sanh sau đẻ muộn, chưa từng sống ở Mốp Giăng, tôi thắc mắc quá định về đây hỏi bác.

– Thầy tin tôi hay tin ông chủ Nhan? – Lão trừng mắt hỏi.

– Tôi tin ông chủ Nhan nhưng cũng tin nơi bác. Ổng là người trong cuộc, thưa bác.

Lão cười nhếch mép:

– Đúng như thầy nói. Ông chủ Nhan mới thật là… người trong cuộc! Nhưng còn người khác nữa, cũng trong cuộc. Đó là người lên “xác” Chúa Ngung, Ma Nương…

Lão nhìn trân trân vào bộ mặt vừa ngơ ngác vừa “thông minh vặt” của tôi mà nói gằn:

– Bộ thầy tưởng tôi là kẻ “lên xác” hồi đó hả?

– Dạ, tôi đâu có nghĩ như vậy. Nếu người đó là bác thì chủ Nhan đâu để bác sống kham khổ như vầy. Chẳng hay người đó là ai, ở đâu? Chắc chắn ông ta rành sự tích Chúa Ngung, Ma Nương hơn ông chủ Nhan.

– Người đó… còn ở lại giữ cái miễu đó. Anh ruột của tôi. Anh ấy còn sống cũng như đã chết… Chết mà chưa chôn.

Rồi lão Tư Hiếm hạ thấp giọng:

– Theo lời anh tôi thì người con gái năm xưa bị đâm bằng dao phay vì cô ta dám cả gan chống báng luật lệ của Tây, lúc quan kinh lý tới đo đất lập địa bộ cho ông chủ Nhan.

– Nhưng ông anh đó “lên” thiệt hay “lên” giả?

– Làm sao lên thiệt được? Anh tôi thua cờ bạc, trở về nhà gặp lúc dân chúng đang xôn xao, bất mãn. Họ hồ nghi kẻ giết cô gái chính là… ông chủ Nhan. Anh tôi tới gặp ông chủ, hai người bàn mưu bàn kế. Ngày sau, anh tôi “đạp đồng” trước miễu rồi cả gan dở miếng vải phủ từ bao nhiêu đời trên pho tượng “ông tà”. Ở Mốp Giăng, dân chúng ưa thờ những viên đá rơi rớt, tìm được khi cày ruộng. Anh tôi tự xưng là Chúa Ngung, Ma Nương… tức là vị thần đã bắt cô thiếu nữ nọ cho chết để đem về âm phủ làm vợ. Rồi Chúa Ngung, Ma Nương nói huyên thuyên, xưng rằng Chúa Ngung là người khai khẩn đầu tiên từ ngàn năm xưa tại đất Mốp Giăng… Chủ Nhan phải làm tờ mướn đất của Chúa Ngung, mỗi năm ký giao kèo trở lại một lần… Nói dứt lời, Chúa Ngung chạy khắp tứ phía để cắm ranh đất cho ông chủ Nhan mướn. Dân chúng hoảng sợ, phục Chúa Ngung, Ma Nương sát đất vì xác cắm trúng ngay ranh trong… địa bộ, xê xích chừng vài tấc.

Tôi lắc đầu:

– Mưu kế của chủ Nhan cao cường thiệt, chắc hẳn ông anh nọ đã xem kỹ trên bản đồ, trước khi lên xác.

Lạo Tư Hiếm thở dài:

– Nhưng ông chủ Nhan còn nhiều ẩn ý khác. Ổng muốn nhờ oai quyền của thần thánh để chứng minh cái quyền làm đại điền chủ của mình, để đám tá điền hiểu rằng họ chỉ là người giựt đất của thánh thần. Đã đành rằng họ ra công phá đất trước ông chủ Nhan nhưng Chúa Ngung, Ma Nương đã khai phá trước họ hàng ngàn năm… Nếu họ bất tuân ông chủ Nhan, tức nhiên là họ bất tuân luôn cả thánh thần, mỗi năm họ phải chịu chết oan ức, phát điên phát khùng như cô con gái nọ. Tôi nhớ rõ. Cô ta tên Thừa… Bây giờ theo ý thầy, người lên xác nọ đáng trách không?

– Đáng lắm chớ, mặc dầu chủ chốt là người khác.

– Nhưng anh xác thua cờ bạc, túng tiền. Lãnh của chủ Nhan năm mươi đồng tiền thưởng, để rồi ngày hôm sau thua lại ráo trọi… Của hoạnh tài bất phú.

Tôi cúi mặt nghĩ tới cảnh ngộ không khác, của mình.

– Thưa bác, mình nên thương hại anh xác nọ.

– Nếu gặp mặt anh xác nọ, thầy xử trí ra sao?

– Dạ, làm sao gặp được! Với lại tôi đâu phải là người tá điền bị chủ Nhan giựt đất.

– Xin lỗi thầy, tôi thí dụ như vậy kìa.

Trước câu hỏi đầy ác ý đó, tôi bị va chạm tự ái nên nói gắt:

– Ờ, nếu gặp mặt người xác ấy, nếu tôi là tá điền của chủ Nhan… thì tôi đãi anh ta một tiệc, đại khái như tiệc cá lóc hôm nay.

Lão Tư Hiếm bèn hươi bàn tay, chụp lấy cái ống điếu dài bằng cây ớt hiểm. Lần này tôi thấy rõ: đầu cái ống điếu nọ bịt khoen sắt, thứ khoen khá dày, tuy đã sét nhưng còn cứng.

Tôi biết lão đang bối rối, sự bối rối của kẻ yếu thế. Chắc rằng lão chưa dám và không nỡ hăm dọa tôi!

Tôi dịu giọng:

– Cái người xác bày chuyện đồng bóng đó, coi vậy mà hữu ích. Nhờ vậy hằng năm chắc ở điền ông chủ Nhan cúng miễu lớn lắm. Cờ bạc, ăn nhậu “trong thì trống đánh rập rình, ngoài thì trai gái tự tình cùng nhau” như lễ kỳ yên ở đình.

Lão cười sặc sụa:

– Đúng vậy, làng Mỹ Lâm từ khi ông thầu khoán bị giết, chẳng còn ai muốn cất đình, sợ oan hồn ông thầu khoán cũ vặn họng. Cái miễu của Chúa Ngung, Ma Nương thay thế cho cái đình; dân ở vùng lân cận tuy không phải là tá điền của chủ Nhan cũng rủ nhau nườm nượp tới chung vui. Phen đó, hồi trào thống chế Bê Te, quan Chánh tham biện chủ tỉnh “Gia La” tới dự lễ, dẫn theo bà vợ còn trẻ măng. Ông Tây bà đầm bắt tay “bủa xua” với Chúa Ngung, Ma Nương… Chúa Ngung, Ma Nương trả lời bằng tiếng Tây “com-xi com-xa” khiến ai nấy nín cười không nổi. Rồi ông Tham biện “Gia La” chụp hình buổi lễ, bà đầm vỗ vai xác, cúng cho xác năm đồng… Bả hứa khi về Tây sẽ thuật lại cho bà con cô bác bên đó nghe chơi. Bà đầm đó vui lắm, cười tủm tỉm hoài.

Tôi muốn thêm vào câu nói của lão: “Cười tủm tỉm hoài với hai lúm đồng tiền”. Nhưng tôi nghĩ: “Mình với lão Tư Hiếm hành hạ nhau bằng lời nói làm gì? Như hai kẻ khốn cùng đang đói bụng, chạy bươi đống rác cấu xé nhau để giành một cây tăm xỉa răng”. Sực nhớ tới thời giờ quá ngắn, tôi muốn ra về:

– Thì ông bà Chánh tham biện cũng thị oai với dân bổn xứ, tỏ rằng ta đây là “anh hai” của Chúa Ngung, Ma Nương. Và Chúa Ngung, Ma Nương có tiền của Tây thì mới vui vẻ được. Phen này, Tây biểu ông chủ Nhan viết lại tích xưa, chắc cũng vì mục đích muốn làm “anh hai” đó.

Bộ mặt lão trông khác hẳn! Dè đâu tôi nói êm thắm nhỏ nhẹ mà lão lại giựt mình:

– Mục đích gì? Tây muốn đi Mốp Giăng à?

Tôi nói khẽ:

– Ông quan tư muốn coi tận mặt pho tượng đá trong miễu Chúa Ngung, Ma Nương, luôn dịp sưu tầm tại chỗ những pho tượng khác, hỏi thêm tục lệ cúng kiến, hoặc tìm người “xác” cũ để hỏi lại.

– Tại sao Tây không mướn ai đi ăn cắp pho tượng hoặc mời người tại Mốp Giăng ra chợ cho gọn? – Lão hỏi.

– Vì… ông chủ Nhan nằng nặc mời Tây vô Mốp Giăng rồi đóng đồn luôn. Vả lại ai dám đi Mốp Giăng một mình để ăn cắp tượng thờ trong miễu? Người ở Mốp Giăng đâu dám ra chợ, liên lạc với Tây để lãnh tiền rồi về nhà. – Tôi đáp.

– Thời buổi giặc giã, khó quá. Nghĩ mà tủi thân cho vong hồn con nhỏ chết hồi đó. Chết rồi mà thiên hạ nói vầy, nói khác, bán đứng nó. Thầy biết chừng nào Tây vô trỏng không?

– Trời ơi! Bí mật quân sự. Nhưng tôi đoán: ông quan tư đi liền để kiếm pho tượng đem về tặng bà bá tước bên Tây. Ông quan tư chờ câu chuyện Chúa Ngung, Ma Nương của tôi viết. Chiều nay, tôi nạp chuyện đó cho chủ Nhan dịch ra chữ Tây. Thôi kiếu ông, tôi về giây lát để viết gấp cho đúng hạn.

Lão chép miệng, nhìn lên trời:

– Thầy làm công chuyện của thầy, mai mốt thầy còn đường tiến thân nơi chợ búa. Phần tôi, trước sau gì cũng về quê xưa. Thầy năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

– Dạ, hai mươi bốn. Khi nãy, tôi lỡ thốt nhiều lời vô lễ. Bác tha thứ giùm em cháu.

– Người gần chết như tôi còn dám bắt bẻ lời nói của ai. Nếu tôi giận thầy một, thì phải giận tôi tới mười mới công bình. Thôi, thầy đi đi.

Tôi khép cửa, chán nản hơn bao giờ hết. Mưa lất phất. Tôi viết đại khái về trường hợp ông Henri Nhan phát giác pho tượng Chúa Ngung, Ma Nương, đúng theo lời lẽ ông ta thuật lại. Viết xong, đã hơn hai giờ hai mươi phút. Tôi lướt dưới cơn mưa, liếc nhìn thấy cánh cửa nhà lão Tư Hiếm đã khép kín.

Nữ Đại Tá Danielle Ngô

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

April 13th, 2021

Post by Sơn râu 23 Oct 2025

Phi trường Tân Sơn Nhất, ngày 29 tháng Tư năm 1975. Giữa tiếng pháo kích vào phi trường, gia đình của cô bé Danielle Ngô, 3 tuổi lúc bấy giờ là trong số những người Việt cuối cùng lên phi cơ quân sự để rời khỏi Việt Nam từ Tân Sơn Nhất trong những ngày cuối cùng của miền Nam Việt Nam. Hôm nay, nữ đại tá lục quân Danielle Ngô là một trong những nữ sĩ quan gốc Việt có nhiều cơ hội sẽ trở thành một cấp tướng lãnh đầu tiên trong quân lực Hoa Kỳ.

Đại tá Danielle Ngô, Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Công binh 130, trong đợt huấn luyện hoạt động ở Hawaii, ngày 25 tháng 1, 2018. nguồn VOA 

Với những tấm vé từ người thân làm cho Ðại Sứ quán Hoa Kỳ, bà Thái An, mẹ của Danielle đã cùng hai con nhỏ của mình rời khỏi Việt Nam từ Tân Sơn Nhất trong những ngày cuối cùng như vậy. Phi cơ đưa mẹ con bà đến đảo Wake Island và 3 tháng sau được định cư đến Mỹ.

Sinh ra tại Vũng Tàu, Danielle không biết gì về cha mình, ngoại trừ nghe kể lại ông là một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa từng được huấn luyện với lực lượng đặc biệt Mỹ và bị tù sau 1975, rồi không còn tin tức gì kể từ đó.  Mẹ cô, bà Thái An lấy chồng năm 17 tuổi, đến Mỹ chỉ mới ngoài tuổi đôi mươi đã gánh trách nhiệm tự lo cho hai con nhỏ, Danielle cùng em gái một tuổi là Stefanie Lan Ðình (?) (chú: được viết là Lan Dinh trong bài báo). Mẹ con bà sống trong  khu nhà được tài trợ qua chương trình gia cư của chính phủ tại Boston. Bà Thái An quay lại trường với mong muốn tìm được công việc tốt hơn để chăm lo cho hai con gái, từng bước lấy các bằng hai năm, đại học rồi cuối cùng là cao học để làm công việc một quản thủ thư viện. Chỉ hơn em gái 15 tháng, Danielle thay mẹ lo cho em, ý thức một tinh thần trách nhiệm từ những ngày còn nhỏ như vậy. Cô cũng bắt đầu tham gia những hoạt động thể thao, thiện nguyện tại trung học, tự học về việc tổ chức và trách nhiệm qua những việc như vậy.

Từ trái: Stefanie (em gái út), mẹ Thái An, Danielle Ngô mặc váy trắng khi cả nhà đến thăm Danielle ở Hawaii hồi năm 2018 nguồn VOA

Hình ảnh về Việt Nam trong đầu Danielle chỉ qua lời kể của người mẹ. Nhưng hình ảnh những người lính Mỹ đã giúp đỡ gia đình cô tại phi trường Tân Sơn Nhất, cho đến các đảo dành cho người tị nạn cùng sự giúp đỡ trong những ngày đầu tiên trên đất nước thứ hai này còn trong tâm trí của cô. Danielle quyết định nhập ngũ sau khi tốt nghiệp trung học ở tuổi 17 sau khi hứa với mẹ là sẽ quay lại đại học.

Sau hai năm quân ngũ, Danielle ghi tên theo học đại học Boston. Ra trường, Danielle quay lại quân đội  với cấp bậc đại úy tác chiến công binh và bắt đầu đời binh ngũ thật sự với những nhiệm vụ và đồn trú xa xôi. Cô được điều sang Bosnia rồi chiến trường Iraq, trở thành một sĩ quan có nhiệm vụ mà đa số là nam giới. Cô em gái lây niềm hứng khởi từ chị mình, cũng theo học Học viện quân sự West Point và có thời gian hai chị em đã cùng nhận nhiệm vụ và đồn trú chung tại Fort Hood, Texas.Năm 2001, trước thời điểm 9/11 thì Danielle là nữ sĩ quan đầu tiên trở thành một Ðại Ðội Trưởng công binh tác chiến thuộc lữ đoàn tác chiến của Sư Ðoàn 4 Bộ Binh, một trong những sư đoàn tham gia chiến dịch tấn công Baghdad và bắt Saddam Hussein. Sau Iraq, Danielle được điều sang chiến trường Afghanistan, lên Tiểu đoàn trưởng, trở thành Tùy viên quân sự cho Chủ tịch Ủy ban Quân sự NATO, rồi Lữ đoàn trưởng… được thăng chức theo thời gian quân ngũ và khả năng lãnh đạo của cô.

20 tháng 7 năm 2016, tại căn cứ quân sự Hamilton Field, nữ Đại Tá Danielle J. Ngô đã chính thức nhậm chức Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 130 Công Binh Lục Quân. Trong buổi lễ bàn giao cấp chỉ huy lữ đoàn, hiệu kỳ của Lữ Đoàn 130 Công Binh đã được Đại Tá Tiền Nhiệm Blace C. Albert chuyển giao lại cho Đại Tá Danielle J. Ngô, tân Lữ đoàn trưởng. ảnh: 130th Engineer Brigade

Ngày hôm nay thì Ðại Tá Danielle Ngô là sĩ quan hiện dịch gốc Việt có cấp bậc cao nhất trong lục quân Hoa Kỳ, chỉ thua sau tướng Lương Xuân Việt (chú: các tướng gốc Việt khác thuộc các binh chủng khác). Cô hiện là sĩ quan hành chánh tại văn phòng Tổng Thanh Tra Lục Quân. Còn người em gái của cô là Stefanie nói trên thì xuất ngũ quân đội sau bảy năm, trở thành một phó Chủ Tịch ngân hàng Bank of America, về hưu sau 18 năm làm việc và hiện đang làm giám đốc một trung tâm dạy tiếng Anh tại Thái Lan. Ðại tá Danielle Ngô được các tướng lãnh và những lãnh đạo quân đội khen ngợi, đánh giá cao về phẩm cách cùng tinh thần phục vụ. Cô cũng hoàn tất 3 bằng cao học trong thời gian tại ngũ, một bằng về Chính Sách Công Quyền tại đại học Georgetown và 2 bằng tại các Học viện quân sự và sĩ quan tham mưu. Mang cấp bậc Ðại Tá đã gần 7 năm, ở tuổi 49 hiện nay, tất cả những điều vừa kể đã hứa hẹn những cơ hội sẽ được thăng tiến xa hơn trong tương lai.

Trung Tá Danielle Ngô, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 52 Công Binh điều khiển đơn vị giải toả cháy rừng khủng khiếp tạì Waldo Canyon, Colorado June 26th, 2012. nguồn youtube

Ðại Tá Danielle Ngô hy vọng rằng câu chuyện của cô sẽ là niềm cảm hứng cho các thế hệ gốc Á Châu hay gốc Việt nói riêng bởi hầu hết các phụ huynh chỉ đặt nặng con đường học vấn nên thiếu vắng sự gia nhập và thăng tiến trong con đường quân ngũ. Cô bảo khi có nhiều tướng lãnh gốc Phi Châu trong quân đội, cộng đồng gốc Phi có xu hướng gia nhập quân đội và thừa kế truyền thống đó, trong khi cộng đồng Á Châu hay Hispanic thì chưa được điều này nên chưa có nhiều khuôn mẫu để giới trẻ nhìn đến. Em gái cô bảo rằng, những kỹ năng lãnh đạo của chị em cô là học được từ quân đội chứ con cái trong gia đình Á Châu chỉ có phục tùng mà không thể hiện được tinh thần lãnh đạo.

Tháng Tư, sau 46 năm trên xứ người, thế hệ thứ nhì đã từng bước góp mặt vào mọi lãnh vực trong bức tranh toàn cảnh của nước Mỹ. Trong khi thành công đó đây của thế hệ thứ nhì này đáng ghi nhận nhưng không phải là một chân dung thật sự của cộng đồng Việt vốn còn nhiều điều có thể hoàn thiện hơn, cũng như vẫn chưa sánh bằng các cộng đồng thiểu số khác trong các lãnh vực khác nhau.Chính vì vậy, câu chuyện của nữ đại tá Danielle Ngô là một câu chuyện đầy ý nghĩa và giúp cho giới trẻ gốc Việt nhìn đến như một khuôn mẫu để dấn thân vào các lãnh vực công quyền, quân đội nhiều hơn trong mùa tháng Tư này.

Đại tá Danielle Ngô, chỉ huy Lữ đoàn Công binh 130, tại Đối thoại Học thuật Chuyên gia về Quản lý Thiên tai Hoa Kỳ-Trung Quốc ngày 9 tháng 11 tại Côn Minh, Trung Quốc.

ĐYT

theo army.mil

Papillon – Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 23 Oct 2025

Bài 10

Trinidad

Chim trời đã báo cho chúng tôi biết đã sắp tới đất liền trước khi chúng tôi trông thấy đất liền rất lâu. Vào khoảng bảy giờ rưỡi sáng, một đàn chim đã bay đến lượn vòng xung quanh thuyền chúng tôi. “Đến rồi, các bạn ơi, đến rồi? Chúng mình đã hoàn thành được phần đầu của cuộc vượt ngục, phần khó nhất. Tự do vạn tuế!”
Cả ba đứa chúng tôi đều bộc lộ nỗi vui mừng của mình bằng những tiếng reo hò, những lời cảm thán trẻ thơ. Mặt chúng tôi đều trát đầy mỡ ca-cao (chiếc tàu vừa gặp có cho chúng tôi một ít để bôi những chỗ bị bỏng nắng cho đỡ rát). Đến khoảng chín giờ thì trông thấy đất liền. Một ngọn gió mát rượi nhưng không mạnh lắm nhanh chóng đưa chúng tôi vào bờ trên một mặt biển khá phẳng lặng. Mãi đến khoảng bốn giờ chiều chúng tôi mới nhìn thấy những chi tiết của một hòn đảo dài viền những ngôi nhà trắng chụm lại thành từng khóm nhỏ, trên chóp đảo mọc đầy những rặng dừa. Chưa trông rõ đây là một hòn đảo hay là một bán đảo, mà cũng chưa rõ mấy khóm nhà kia có người ở hay không. Phải đến hơn một tiếng đồng hồ nữa mới nhìn thấy những bóng người đang chạy ra cái bãi cát mà thuyền chúng tôi đang tiến vào. Không đầy hai mươi phút sau, một đám đông hỗn tạp đủ màu sắc đã tụ tập lại Cả cái làng nhỏ bé này đã ra bãi biển hết, không còn sót một ai, để tiếp đón chúng tôi. Về sau chúng tôi được biết rằng đây là làng San Fernando.
Cách bờ ba trăm thước tôi bỏ neo. Neo ăn ngay lập tức. Tôi làm như vậy một phần là để xem thử phản ứng của dân làng ra sao, và cũng để thuyền khỏi bị thủng khi chạm đáy, nếu đáy biển ở đây bằng san hô. Chúng tôi hạ buồm và chờ đợi. Một chiếc xuồng nhỏ bơi ra phía chúng tôi. Trên xuồng có hai người da đen ngồi chèo và một người da trắng đội mũ cối kiểu thuộc địa.
– Xin hoan nghênh các vị khách mới đến Trinidad, – người da trắng nói bằng tiếng Pháp rất sõi. Hai người da đen cười niềm nở, phô hết hai hàng răng trắng muốt.
– Xin cám ơn ngài về những lời lẽ tốt đẹp của ngài. Đây bãi là san hô hay là cát ạ?
– Cát đấy các ông có thể vào tận bờ mà không ngại gì cả.
Chúng tôi kéo neo lên, và sóng biển từ từ đẩy chúng tôi vào bờ cát. Thuyền vừa chạm đất thì có mười người lội xuống nước kéo thẳng một mạch chiếc thuyền lên bãi. Họ ngắm nghía chúng tôi, giơ tay sờ chúng tôi một cách thân ái, mấy người đàn bà da đen hay Ấn độ gì đấy phác những cử chỉ mời mọc. Ai ai cũng muốn mời chúng tôi về nhà: người da trắng biết nói tiếng Pháp giảng giải cho chúng tôi như vậy. Maturette bốc một nắm cát và đưa lên môi hôn. Thế là cả đám người reo hò nhảy nhót như điên như dại.
Sau khi tôi nói rõ tình trạng của Clousiot cho người da trắng biết, ông ta liền sai người khiêng cậu ấy về nhà ông ta, gần ngay bãi biển. Ông ta nói rằng chúng tôi có thể để nguyên đồ đạc trên thuyền cho đến mai, không có ai động đến đâu. Mọi người đều gọi tôi là “captain” (“thuyền trưởng”), tôi cười lớn khi nghe mình được đề bạt như vậy. Ai cũng nói với tôi: “Good captain, long ride on small boat!” (Thuyền trưởng giỏi, chuyến đi thì xa mà thuyền thì nhỏ thế!”).
Đêm đã xuống. Sau khi yêu cầu họ đẩy thuyền lên cao hơn chút nữa và buộc nó vào một chiếc thuyền to hơn nhiều đang nằm giữa bãi, chúng tôi đi theo người da trắng (ông ta là người Anh) về nhà ông. Đó là một ngôi bungalow thuộc loại thường thấy ở bất cứ vùng đất nào thuộc Anh; vài ba bậc thềm bằng gỗ, một cái cửa ra vào có chăng lưới sắt. Tôi vào theo người Anh, Maturette đi sau lưng tôi. Bước vào nhà, tôi trông thấy Clousiot ngồi trên một chiếc ghế bành, cái chân bị gãy kê trên một chiếc ghế, đang ba hoa chích chòe với một thiếu phụ và một cô con gái.
– Đây là vợ tôi và con gái tôi, – người Anh nói. Tôi còn một đứa con trai nữa đang đi học ở Anh.
– Xin các ông tự coi là thượng khách của nhà này, người thiếu phụ nói bằng tiếng Pháp.
– Mời các ông ngồi, – cô con gái vừa nói vừa đem lại cho chúng tôi chiếc ghế bành bằng mây đan. 
– Cám ơn bà, cám ơn cô, xin các vị dừng tự làm phiền nhiều quá vì chúng tôi.
– Sao lại thế ạ? Chúng tôi rất biết các ông từ đâu đến, xin các ông cứ yên tâm, và tôi xin nhắc lại: các ông là thượng khách trong nhà này.
Chủ nhân là một trạng sư, gọi là Master Bowen, có văn phòng luật sư ở Port of Spain, thủ đô của đảo Trinidad, cách đây bốn mươi cây số.
Họ dọn ra cho chúng tôi một ấm trà pha sữa, một đĩa bánh mì nướng phết đường, một đĩa bơ và một hũ mứt. Đây là buổi tối đầu tiên chúng tôi được làm người tự do, tôi sẽ không bao giờ quên buổi tối này. Không có một lời nào nhắc tới quá khứ của chúng tôi, không có lấy một câu hỏi tò mò nào có thể làm cho chúng tôi ngượng ngập: họ chỉ hỏi xem chúng tôi lênh đênh mất mấy ngày trên biển và chuyến đi có vất vả gì không, Clousiot có đau lắm không, chúng tôi có muốn họ đi đăng ký với cảnh sát địa phương ngay ngày mai hay để đến ngày kia, chúng tôi có còn ông cụ bà cụ không, có vợ con gì không. Nếu chúng tôi muốn viết thư cho người thân, họ sẽ đi bỏ thư cho… Còn biết nói với các bạn những gì nữa: đó là một cuộc đón tiếp hết sức đặc biệt, của dân đảo ngoài bãi biển cũng như của cái gia đình đầy thiện ý chân thành đối với ba người bôn tẩu. 
Master Bowen gọi điện thoại cho một ông bác sĩ để hỏi ý kiến ông ta về người bị thương. Bác sĩ dặn là đến chiều mai phải đưa người ấy đến bệnh viện tư của ông để soi X-quang xem cần phải làm gì. Master Bowen lại gọi điện đến Port of Spain cho vị chỉ huy Đạo Quân Cứu thế (Salvation Army). Ông này hứa là sẽ chuẩn bị cho chúng tôi một căn phòng trong khách sạn của Đạo, bao giờ thích đến thì đến, và dặn chúng tôi giữ thuyền cho cẩn thận nếu có còn tốt, vì chúng tôi sẽ cần đến nó để ra đi. Ông ta hỏi xem chúng tôi là tù khổ sai hay là dân bị đày biệt xứ. Chúng tôi trả lời là tù khổ sai.
Điều đó hình như làm cho ông bác sĩ hài lòng.
– Các ông có muốn tắm táp, cạo mặt không? – cô con gái nói. – Nhất là các ông đừng từ chối nhé, không có chút gì phiền hà cho chúng tôi đâu. Trong phòng tắm đã có sẵn mấy bộ đồ để thay. Tôi hy vọng các ông sẽ mặc vừa.
Tôi vào tắm, cạo râu, chải đầu cẩn thận rồi trở ra trong một bộ trang phục tiêm tất: quần xám, sơ-mi trắng, giầy tennis, bít tất trắng.
Một người Ấn Độ gõ cửa ngoài. Anh ta cầm một cái gói lớn, đưa cho Maturette, nói rằng bác sĩ được biết tôi vóc người xấp xỉ bằng bác sĩ cho nên dễ mượn áo quần, nhưng Maturette thì vóc người bé nhỏ, mà trong nhà ông luật sư không có ai bé nhỏ như thế, cho nên không thể mặc nhờ của ai được, ông ta phải gửi gói áo quần số nhỏ này tới. Nói xong, người Ấn Độ cúi mình chào chúng tôi theo tập quán của người theo đạo Hồi, và lui ra. Đứng trước một lòng nhân hậu lớn lao như vậy, tôi biết nói sao để các bạn hiểu được nỗi xúc động không sao tả nỗi đang tràn ngập lòng tôi lúc bấy giờ? Clousiot được cho đi ngủ trước, còn năm người chúng tôi ngồi giờ lâu trao đổi ý kiến về nhiều vấn đề khác nhau. Điều làm cho hai người phụ nữ quan tâm hơn cả là chúng tôi định sẽ làm lại cuộc đời ra sao. Không ai đả động đến quá khứ, chỉ toàn chuyện hiện tại và tương lai. 
Master Bowen lấy làm tiếc rằng Trinidad không chấp nhận cho những người vượt ngục định cư trên đảo. Ông phân trần rằng ông đã có mấy lần xin nhà chức trách trên đảo chấp nhận biện pháp này cho một vài người nhưng chưa bao giờ được chấp thuận. Cô con gái nói tiếng Pháp y hệt người Pháp, không thua gì cha cô, không bao giờ phát âm sai hay có giọng lơ lớ. Cô ta tóc vàng, mặt đầy tàn nhang, tuổi chừng từ mười bảy đến hai mươi (tôi không dám hỏi xem cô bao nhiêu tuổi). Cô nói:
– Các ông hãy còn trẻ lắm; cả một quãng đời dài đang đợi các ông. Tôi không biết các ông đã làm gì nên tội mà bị xử như vậy, và không muốn biết. Nhưng đã có đủ can đảm để lao ra biển trên một con thuyền nhỏ bé như vậy để đi một hành trình dài và nguy hiểm như vậy, thì tất nhiên các ông sẵn sàng trả bất cứ giá nào để được sống tự do và đó là một điều rất đáng phục.
Đêm hôm ấy, chúng tôi đã ngủ đến tám giờ sáng mới dậy. Bàn ăn đã dọn sẵn. Hai người phụ nữ nói với chúng tôi một cách rất tự nhiên rằng Master Bowen đã đi Prot of Spain đến chiều mới về, có đem theo những tài liệu cần thiết để vận động cho chúng tôi. Con người ấy đã đi khỏi nhà trong khi có ba tên tù khổ sau vượt ngục đang ở đấy: đó là một bài học có một không hai đối với chúng tôi. Ông ta muốn nói với chúng tôi: “Các anh là những con người bình thường, lành mạnh; các anh có thể thấy tôi tin các anh như thế nào khi tôi mới tiếp xúc với các ông có mười hai tiếng đồng hồ mà đã để cho các ông ở lại trong nhà một mình với vợ con tôi. Sau khi đã nói chuyện với ba ông, tôi đã thấy rõ rằng ba ông là những con người hoàn toàn đáng tin cậy, đến mức các ông không thể nào có một hành vi, một cử chỉ hay một lời lẽ nào đáng trách ở nhà tôi, cho nên tôi đã để các ông ở trong nhà tôi như những người bạn cũ. Cách bày tỏ lòng tin cậy này đã làm cho chúng tôi rất cảm động.
Tôi không phải là một người tri thức có thể miêu tả lại cho bạn đọc – nếu một ngày kia cuốn sách này sẽ có người đọc – với sức truyền cảm cần thiết, với đầy đủ tính hùng biện, để bạn đọc hiểu hết cái cảm giác tự trọng lớn lao… không phải: cái cảm giác trong sáng và mãnh liệt của kẻ thấy mình được phục hồi, nếu không phải là được bước vào một cuộc sống mới. Lễ rửa tội tưởng tượng ấy, cuộc tẩy rửa thanh cao ấy, cuộc nâng cao con người tôi lên trên đống bùn nhơ mà tôi đã sa vào, cái cách thức mà người ta đã dùng để chỉ qua một ngày đã trao cho tôi một trách nhiệm thực sự ấy, vừa rồi đã làm cho tôi biến thành một con người khác một cách giản dị đến nỗi cái mặc cảm của người tù khổ sai khiến cho người ta còn nghe thấy tiếng xiềng xích ngay cả khi đã được trả tự do và luôn luôn có cảm giác như có ai đang theo dõi mình, đến nỗi tất cả những gì tôi đã trông thấy, đã trải qua và đã chịu đựng, tất cả những gì đã xô tôi đến chỗ trở thành một con người tật nguyền, thối nát, luôn luôn nguy hiểm cho mọi người, bề ngoài thì phục tùng một cách thụ động nhưng bất cứ lúc nào cũng có thể biến thành một kẻ nổi loạn hung hãn khủng khiếp, tất cả- những cái đó giờ đây bỗng biến mất như do một phép thần thông. Xin cám ơn Luật sư Bowen, vị trạng sư của Hoàng gia, cám ơn ông đã làm cho tôi trở thành một con người khác trong một thời gian ngắn ngủi như vậy!

Người con gái có mái tóc vàng óng, có đôi mắt xanh như biển khơi ở xung quanh, đang ngồi với tôi dưới rặng dừa mọc quanh nhà cha cô. Nhưng giàn hoa giấy đỏ, vàng và tím nhạt đang nở rộ làm cho mảnh vườn có được cái thi vị cần thiết cho giờ phút này. 
– Ông Henri ạ (cô gọi tôi là Monsieur. Đã bao nhiêu lâu rồi không ai còn gọi tôi là Monsieur nữa!), như ba tôi đã nói với ông hôm qua, một sự thiếu thông cảm đầy bất công của nhà cầm quyền Anh không cho phép các ông ở lại đây: thật đáng tiếc. Họ chỉ cho các ông mươi lăm ngày để nghỉ ngơi rồi lại ra đi. Sáng sớm hôm nay tôi vừa ra xem chiếc thuyền của các ông, nó quá nhỏ bé và mong manh đối với cuộc viễn hành đang chờ đợi các ông. Ta hãy hy vọng rằng các ông sẽ đến được một đất nước có tinh thần mến khách hơn xứ sở chúng tôi và cũng hiểu biết người hơn. Tất cả các đảo thuộc Anh đều hành động giống nhau trong những trường hợp tương tự. Nếu trong chuyến đi sắp tới ông phải khổ sở nhiều, tôi xin ông đừng oán giận những người dân ở trên các đảo đó; người dân không phải là người chịu trách nhiệm về cách quan niệm này. Đây là những mệnh lệnh xuất phát từ nước Anh, do những người không hiểu biết gì về các ông ban hành. Địa chỉ của ba tôi là 101 Queen Street, Port of Spain, Trinidad. Tôi xin ông, nếu sau này Chúa muốn rằng ông có điều kiện làm như vậy, tôi xin ông viết cho chúng tôi vài dòng để chúng tôi được biết số phận của các ông.
Tôi cảm động đến nỗi không còn biết trả lời ra sao nữa. Bà Bowen đến cạnh chúng tôi. Đó là một người đàn bà đẹp trạc bốn mươi tuổi, tóc màu hạt dẻ vàng, mắt màu xanh ngọc thạch. Bà mặc một chiếc áo dài trắng rất giản dị, thắt một cái giải trắng, chân đi một đôi dép màu lá mạ.
– Thưa ông, chồng tôi đến năm giờ mới về. Ông ấy đang vận động các ông có thể đi xe của nhà chúng tôi lên thủ đô mà không có cảnh sát đi kèm. Nhà tôi cũng muốn làm thế nào để các ông khỏi ngủ qua đêm đầu tiên ở Sở Cảnh sát Port of Spain. Người bạn bị thương của ông sẽ đến thẳng bệnh viện tư của một bác sĩ bạn nhà tôi, còn ông và cậu em ít tuổi kia sẽ đến Khách sạn của Đạo quân Cứu thế.
Maturette đi đâu về, ra vườn gặp chúng tôi, cậu ấy kể là vừa ra chỗ để thuyền: có một đám người hiếu kỳ đang đứng quanh. Mọi vật trên thuyền đều y nguyên, không có ai động đến. Trong khi xem xét chiếc thuyền, mấy người hiếu kỳ tìm thấy một viên đạn giắt vào đít thuyền, ở phía dưới bánh lái. Một người trong bọn họp xin phép Maturette giữ viên đạn làm kỷ niệm. Cậu ta trả lời: “captain, captain”. Người thổ dân hiểu rằng muốn thế phải xin ông thuyền trưởng, anh ta nói: “Sao không thả mấy con rùa ra?”.
– Các ông có rùa à? – Cô con gái hỏi. – Thế thì ra xem đi.
Chúng tôi cùng ra chỗ để thuyền. Giữa đường, một cô bé thổ dân xinh đẹp cầm lấy tay tôi một cách hết sức tự nhiên. “Good afternoon” – đám người nhiều màu sắc ấy cùng nói một lượt. Tôi bắt hai con rùa ra rồi hỏi cô con gái chủ nhà: “Bây giờ thế nào nhỉ? Ném xuống biển nhé? Hay là cô đem về để trong vườn ấy, cô có thích không?’.
– Cái bể ở cuối vườn đựng nước biển. Ta sẽ nuôi chúng nó trong cái bể ấy, như vậy tôi sẽ có được chút kỷ niệm của các ông.
– Phải đấy.
Tôi đem tất cả những vật để trong thuyền ra phân phát cho những người dân đảo có mặt ở đấy, trừ cái địa bàn, mớ thuốc lá, con dao, cái rựa, cây rìu, mấy tấm chăn và khẩu súng lục mà tôi gói kín trong chăn: không ai trông thấy nó.
Đến năm giờ chiều Master Bowen về.
– Thưa các ông, mọi việc đều đã dàn xếp xong xuôi. Chính tôi sẽ đưa các ông đến thủ đô. Ta sẽ đưa ông bạn bị thương vào bệnh viện trước, rồi sau đó ta sẽ ra khách sạn.
Chúng tôi xếp cho Clousiot nằm ở ghế sau của chiếc xe. Tôi đang cảm ơn cô con gái thì bà mẹ đến, tay xách một chiếc va-li. Bà nói:
– Xin ông nhận cho mấy bộ quần áo của nhà tôi, chúng tôi xin biếu ông với tất cả tấm lòng thành. 
Tôi còn biết nói gì trước một lòng nhân hậu đầy tình người như thế!
– Cảm ơn ông bà, cảm ơn vô cùng.
Chúng tôi lên xe ra đi. Đó là một chiếc xe hơi tay lái đặt bên phải. Đến sáu giờ kém mười lăm chúng tôi đã đến bệnh viện. Nó được gọi là bệnh viện Saint- George. Mấy người y tá đặt Clousiot lên cáng và đưa vào một gian phòng có một người thổ dân đang ngồi trên giường. Bác sĩ đến. Ông bắt tay Bowen, rồi bắt tay chúng tôi. Ông không nói được tiếng Pháp, nên nhờ ông luật sư nói lại với chúng tôi rằng Clousiot sẽ được chăm sóc chu đáo, và chúng tôi có thể đến thăm anh bao nhiêu cũng được. Chúng tôi lại lên xe ông Bowen đi qua thành phố. Chúng tôi đều trầm trồ trước quang cảnh những dãy phố sáng trưng dưới ánh điện, xé hơi và xe đạp qua lại tấp nập. Những người da trắng, da đen, da vàng, ấn Độ, thổ dân, chen vai thích cảnh trên các vỉa hè của cái thành phố Port of Spain xây dựng toàn bằng gỗ. Đến khách sạn của Đạo quân Cứu thế, một tòa nhà chỉ có tầng dưới xây bằng đá còn các tầng trên đều bằng gỗ, được đặt ở một vị trí khá đẹp trên một quảng đường sáng trưng mà ở lối vào tôi có thể đọc thấy mấy chữ Fish Market (Chợ cá), ông thống lĩnh Đạo quân Cứu thế tiếp chúng tôi cùng với toàn bộ Ban tham mưu của ông gồm có những hội viên cả nam lẫn nữ. Ông có biết một ít tiếng Pháp, còn thì mọi người đều nói với chúng tôi bằng tiếng Anh. Chúng tôi không hiểu được bao nhiêu, nhưng gương mặt họ tươi cười ánh mắt họ niềm nở đến nỗi chúng tôi đều biết chắc đó là những lời lẽ đầy tình thân ái. 
Người ta đưa chúng tôi lên một căn phòng ở tầng thứ ba, có ba cái giường – cái thứ ba dành sẵn cho Clousiot – ăn thông với một căn buồng tắm có để sẵn xà phòng và khăn mặt cho chúng tôi dùng. Sau khi đưa chúng tôi về phòng, ông thống lĩnh nói:
– Nếu các ông muốn dùng bữa, đến bảy giờ, tức nửa tiếng nữa, các ông có thể dự bữa ăn tối chung của khách sạn.
– Thôi ạ, chúng tôi không đói.
– Nếu các ông muốn đi dạo phố, xin các ông cầm lấy hai đồng dollars tiền Antilles này để uống chén cà phê hay chén trà. Nhất là xin các ông đừng đi lạc. Khi nào muốn về khách sạn, xin các ông hỏi đường bằng mấy chữ đơn giản: “Salvation Army, please?”.
Mười phút sau chúng tôi đã ra phố. Chúng tôi đi trên vỉa hè, chen vai thích cánh với khách qua đường. Chẳng ai nhìn ngó chúng tôi, chẳng ai để ý đến chúng tôi. Chúng tôi thở thật sâu, bồi hồi thưởng thức những bước đi tự do đầu tiên trong một thành phố. Sự tin cậy thường xuyên đã khiến người ta để cho chúng tôi đi tự do trong một thành phố khá lớn như thế này làm cho chúng tôi hởi lòng, và không những đem lại cho chúng tôi lòng tự tin, mà còn soi sáng thêm cho chúng tôi hoàn toàn ý thức được rằng không đời nào mình lại có thể phụ lòng tin ấy. Maturette và tôi đi chầm chậm giữa đám đông. Chúng tôi thấy cần chen vai thích cánh với họ, được họ chen lấn xô đẩy, được họ đồng hóa thành một bộ phận của họ. Chúng tôi vào một quán bao gọi hai cốc bia. “Two beers, please” – mấy tiếng đó có gì lạ đâu? Phải, nó nghe tự nhiên hoàn toàn. ấy thế mà chúng tôi vẫn thấy có cái gì hoang đường, huyễn hoặc khi một người con gái Anh-điêng đeo cái vỏ ốc vàng trong mũi nói với chúng tôi sau khi dọn bia ra: “Half a dollar, sir”. Nụ cười của cô gái với hàm răng như chuỗi ngọc trai, đôi mắt to màu đen tím hơi xếch ở bên khóe, mái tóc huyền xõa ngang vai, chiếc yếm hơi hở ở chỗ đôi vú bắt đầu, đủ cho người ta đoán được vẻ đẹp tuyệt vời của đôi vú ấy, những thứ vặt vãnh và toàn hoàn tự nhiên đối với mọi người ấy đối với chúng tôi lại là những chuyện thần tiên huyền ảo. Ơ kìa, Papi, không phải đâu, không thể như thế được, chẳng lẽ đang là một xác chết còn sống, mà một tên tù khổ sai chung thân, mà bỗng dưng đùng một cái đã hóa thành một người tự do sao?
Vừa rồi là Maturette trả tiền bia, cậu ta chỉ còn nửa dollar. Bia mát rượi uống đã lắm. Maturette bàn: “Uống thêm cốc nữa nhé?” Cái việc uống liền một lúc hai chầu bia tôi thấy là không nên:
– Kìa, Maturette, cậu mới được thực sự tự do có chưa đầy một tiếng đồng hồ mà đã muốn say sưa be bét rồi? 
– Ồ! Em xin anh, Papi, anh đừng nói quá lời! Uống hai cốc bia mà anh gọi là say sưa be bét?
– Có thể cậu có lý, nhưng tôi cho rằng nếu đứng đắn thì không nên vồ lấy những lạc thú trước mắt. Theo tôi nên nhấm nháp từng tí một thì hơn là nhai ngấu nhai nghiến. Vả lại tiền có phải của mình đâu. 
– Vâng, đúng thế thật, anh có lý. Ta sẽ học sống tự do theo kiểu nhỏ giọt, như thế xứng đáng hơn. Chúng tôi rời khách sạn đi ra dãy phố lớn chạy suốt từ đầu đến cuối thành phố – gọi là Watters Street. Và chúng tôi hân hoan với những chuyến tàu điện qua lại, với những con lừa kéo xe, những chiếc xe hơi, những ánh đèn điện quảng cáo ở các rạp chiếu bóng và các quán rượu ban đêm, với những đôi mắt của các thiếu nữ da đen hay ấn Độ vừa nhìn chúng tôi vừa cười, đến nỗi chúng tôi không hề có chủ đích mà cũng đã ra đến cảng từ bao giờ không biết. Trước mặt chúng tôi là những chiếc tàu thủy đèn thắp sáng trưng, những chiếc thuyền du lịch với những tên gọi diệu huyền: Panama, Los Aggeles, Boston, Québec; những chiếc tàu chở hàng: Hamburg, Amsterdam, London, và chạy dài dọc bờ xây, xế hàng san sát vào nhau, là những quán ăn, quán rượu, quán bar đầy những khách nam nữ đang ăn, uống, nói, cười, lớn tiếng cãi cọ với nhau. Bỗng nhiên một nhu cầu không sao cường nổi giục giã tôi trà trộn vào đám đông này, chen vai thích cánh với những con người có lẽ cũng phàm tục, nhưng lại đầy sức sống.
Ở sân hiên một quán bar có những dãy thùng nước đáp ướp nào sò, nào nhím biển, nào tôm càng, nào “dao biển”, nào trai, nào vẹm, cả một cuộc trưng bày những món ăn hải sản ngon lành cám dỗ người qua đường. Những chiếc bàn tải khăn ca-rô trắng chen đỏ, phần nhiều đều có khách ngồi, như đang chào mời chúng tôi. Những cô gái da nâu nhạt, nét mặt thanh tú, loại con gái lai da đen nhưng không còn giữ lại một nét nào của chủng tộc negroid, thân hình bó chặt trong những bộ coóc-xê đủ màu cổ hở rất rộng, đang đứng chào hàng, lại càng khiến cho người ta muốn thưởng thức các thứ đó hơn nữa. Tôi đến cạnh một cô gái, nói:
– French money good? (Tiền Pháp tốt không?) – vừa nói vừa đưa ra một tờ giấy bạc một ngàn francs.
– Yes, I change for you (Tốt, tôi đổi giúp ông).
Cô ta cầm lấy tờ giấy bạc rồi mất hút trong căn phòng chật ních những người. Một lát sau cô ta trở lại, nói: “Come here (đến đây”), rồi dẫn tôi đến chỗ quầy tính tiền. Có một người Tàu đang ngồi đấy.
– Ông là người Pháp?
– Vâng.
– Đổi một ngàn francs à?
– Vâng.
– Đổi hết ra dollars Artilles à?
– Vâng.
– Hộ chiếu đâu?
– Không có.
– Thẻ thủy thủ?
– Không có.
– Giấy nhập cảnh?
– Không có.
– Được
Người Tàu nói mấy tiếng với cô gái, cô ta nhìn căn phòng một thoáng rồi đến cạnh một người dáng dấp như một thủy thủ, đội một cái mũ cát-kết giống như cái của tôi, có một vành lon kim tuyến và một cái mỏ neo, rồi dẫn hắn đến cạnh quầy tính tiền. Người Tàu nói:
– Giấy căn cước anh đâu?
– Đây
Thế là người Tàu thản nhiên như không làm một tờ phiếu đổi một ngàn francs mang tên người lạ mặt, bảo hắn ký vào, xong đâu đấy cô gái cầm cánh tay hắn lôi đi. Chắc chắn là người kia không sao biết được việc gì đang xảy ra. Còn tôi thì nhận hai trăm năm mươi dollars Antilles trong đó có năm mươi dollars bằng giấy ăn một và ăn hai dollars. Tôi đưa cho cô gái một dollar, chúng tôi đi ra ngoài và ngồi vào bàn gọi đủ các thứ món hải vị và mấy chai rượu vang trắng loại mạnh, chén một bữa ngon tuyệt trần.


Đà Nẵng 1966

Hồi ký

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 23 Oct 2025

Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com

Kỳ 3

Trưa 18 tháng 5 một đơn vị Dù tiến chiếm đoạn đường từ Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn tới ngã ba Chu Văn An, Hoàng Diệu. Binh lính Dù bố trí sau những gốc cây keo hai bên đường. Từ lỗ châu mai, chúng tôi nhìn thấy họ rất rõ. Quân Dù bắc loa yêu cầu cấp chỉ huy Biệt Ðộng Quân ra tiếp xúc với cấp chỉ huy của họ. Thiếu úy Lê Trực được chỉ định làm đại diện Biệt Ðộng Quân.

Với khẩu P.38 giắt bên hông, Thiếu úy Trực cùng một cận vệ tiến ra giữa ngã ba để tiếp chuyện cùng một Ðại úy Nhảy Dù.  Dù và Biệt Ðộng Quân thỏa thuận với nhau rằng sẽ giữ nguyên tình trạng án binh bất động như hiện thời.

Chiều 19 tháng 5 tôi nhận lệnh phải về dự một phiên họp khẩn cấp. Tôi đem theo Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong cùng Hạ sĩ Trần Quy và một máy PRC 10, rồi men theo đường làng về Chùa Tỉnh Hội.

“Hội Ðồng Chính Phủ Cách Mạng” gồm năm, sáu vị đang đứng vây quanh một cái kệ thờ lập lòe hương khói. Dưới ánh nến chập chờn tôi chỉ nhận ra ông Bác sĩ Tâm, Tổng trưởng Xã Hội, và ông Phụ tá Tổng trưởng Quốc Phòng là Thiếu tá Tôn Thất Trai. Ông Thủ tướng không đứng như những vị bộ trưởng mà nằm bò dưới kệ thờ. Ông gọi:

– Anh Long tới rồi hả? Lại đây! Lại đây!

Tiến tới sát kệ thờ, tôi lên tiếng:

-Chào Bác sĩ, tôi có mặt.

Ông Mẫn nhoài người nắm ống quần tôi giựt vài cái:

– Cúi xuống đây, tôi có ý kiến này với anh.

Tôi khom mình cúi xuống.

Ông Thủ tướng nghiêm nghị nói:

– Với tình hình khẩn trương như hiện nay…

Vừa nghe được nửa chừng câu nói của Thủ tướng, tôi phải đứng bật dậy. Có lẽ từ hôm có tiếng súng đầu tiên nổ trên thành phố này, Thủ tướng đã chui vào núp dưới gầm kệ thờ, không rửa mặt, đánh răng, súc miệng cũng nên?

Thủ tướng hình như biết lý do tại sao tôi không chịu cúi người nghe ông nói nữa, nên ông đưa tay che miệng rồi nói tiếp,

– Tôi đề nghị Biệt Ðộng Quân hộ tống “Hội Ðồng Chính Phủ” di chuyển ra Huế, ngoài đó mình còn Sư Ðoàn 1.

Vài vị bộ trưởng cũng phụ họa theo:

– Có Biệt Ðộng Quân hộ tống thì chúng ta yên tâm rồi!

Tôi thở dài ngán ngẩm. Ðường từ Ðà-Nẵng ra Huế dài cả trăm cây số, bình thường đi bằng xe cũng mất cả nửa ngày. Một đơn vị quân đội tinh nhuệ muốn hoàn thành công tác di chuyển bằng chân cũng mất vài ngày. Nếu đi một mình, chắc tiểu đoàn tôi cũng rơi rớt dọc đường ít nhứt là một phần ba quân số. Những ông chính trị gia trói gà không chặt này theo chúng tôi giỏi lắm cũng chỉ được dăm cây số là cùng. Sau đó các ông phồng chân, lọi cẳng, bong gân, ai khiêng, ai vác các ông đi cho hết đoạn đường còn lại đây? Ðó là chưa kể tới vấn đề liên lạc, có đụng độ giao tranh, tản thương, tiếp tế lương thực, hay những rủi ro khác xảy ra dọc đường.

Tuy nghĩ thế nhưng tôi vẫn bình tĩnh:

– Xin quý vị cho tôi biết, hiện giờ quý vị có cách nào liên lạc với Sư Ðoàn 1 không? Trước khi quyết định có nhận lời hộ tống quý vị ra Huế hay không, tôi yêu cầu quý vị phải để tôi đích thân nói chuyện với giới chức có thẩm quyền của Sư Ðoàn 1 cái đã.

Ông Thủ tướng liếc qua ông Thiếu tá Trai, ông Trai ấp úng:

– Trong chùa này chúng ta chỉ có một cái máy PRC 10 để liên lạc với Trung tướng Ðính. Hai ngày nay tôi gọi hoài mà không có ai bắt máy.

Tôi hiểu ra ngay rằng, Tướng Tôn Thất Ðính đã bị người Mỹ bỏ rơi, ông ta đã trở thành một con cờ bị loại rồi.

Trong vụ chính biến này, rõ ràng người Mỹ chơi trò hai mặt, mặt này đỡ lưng Tướng Thi, Tướng Chuân, rồi Tướng Ðính; mặt kia phù trợ Tướng Thiệu, Tướng Kỳ.

Tôi chỉ là một sĩ quan thừa hành, lúc nào cũng làm việc theo lệnh người chỉ huy trực tiếp của mình. Trong thời gian vừa rồi, tôi đã bị chuyền tay dưới quyền ông Dzu, ông Ðính rồi sang tay ông Mẫn, ông Trai. Giờ đây chính ông Mẫn ông Trai còn không biết làm gì để tự cứu mình; nếu tôi cứ tiếp tục đi theo các ông ấy thì không chết sớm cũng chết muộn.

Tôi là một quân nhân luôn luôn coi trọng kỷ luật, nhưng trong tình cảnh này, cứ khư khư ôm trách nhiệm một cách mù quáng thì tôi đúng là một thằng ngu. Tôi ngu, tôi chết đã đành, tôi còn làm cho cả trăm người phải chết theo.

Chỉ một phút sau, tôi đã có quyết định là, bằng mọi cách, tôi phải đưa đơn vị mình thoát ra khỏi cuộc đấu đá chính trị này càng nhanh càng tốt.

Tôi lùi lại hai bước, giơ tay quơ một vòng, điểm mặt từng chính khách:

– Thôi! Quý vị hãy tự lo liệu! Từ giờ này, Biệt Ðộng Quân không hợp tác với quý vị nữa!

Không đợi xem hội đồng chính phủ phản ứng ra sao, tôi khoát tay cho lệnh Hạ sĩ Phong và Hạ sĩ Quy quay lưng.

Ra tới sân, tôi khó khăn lắm mới thoát khỏi đám đông đồng bào Phật Tử bao vây, níu kéo, xúm xít hỏi han. Tội nghiệp cho đồng bào tôi, và tội nghiệp cho tôi! Tôi đau buồn cúi đầu bước đi.

Về tới ngã ba Hoàng Diệu, Chu Văn An tôi bị một nhóm quân Dù chận lại, không cho tiến vào khu vực Biệt Ðộng Quân chiếm cứ.

Ngay lúc đó, từ những lỗ châu mai trong nhà bên đường, nhiều họng súng của Biệt Ðộng Quân đồng loạt chĩa ra, cùng với tiếng lên cò “lách! cách!”

Tôi nói với anh sĩ quan Dù:

– Tôi là người chỉ huy Biệt Ðộng Quân. Tôi hứa với các anh rằng, ngày mai Biệt Ðộng Quân sẽ không còn hiện diện ở đây nữa.

Nghe tôi nói thế, lính Dù bèn kéo kẽm gai sang lề đường để cho tôi đi qua.

Tôi đã thức trắng đêm 19 tháng 5 để suy tính sẽ phải làm gì trong những ngày sắp tới. Với tình thế hiện thời, tôi chỉ còn ba con đường để chọn.

Thứ nhất là, đem quân ra Huế bắt tay với Sư Ðoàn 1: Ðường ra vào Ðà-Nẵng đều bị quân chính phủ chốt giữ, muốn vượt qua, khó tránh đụng độ. Nếu phải đánh nhau, quân lính đôi bên sẽ chết không biết bao nhiêu mà lường. Vả lại, không biết Sư Ðoàn 1 tọa lạc ở nơi đâu thì làm sao mà tìm?

Thứ hai là, đầu hàng quân chính phủ: Nếu làm điều này thì, vừa mở miệng ra lệnh, chắc chắn tôi sẽ bị giết chết ngay bởi những thuộc hạ thân thiết nhất của mình. Mà cho dù binh sĩ trong tiểu đoàn không nỡ giết tôi, chắc chắn tôi cũng sẽ bị ông Dzu làm nhục để trả thù.

Thứ ba là, vứt bỏ vũ khí, giải tán tiểu đoàn: Cách này giữ được an toàn sinh mạng cho anh em, giữ được sĩ diện cho đơn vị, thuộc cấp sẽ không oán trách tôi là người đã bỏ rơi anh em.

Cuối cùng, tôi chọn con đường thứ ba.

Mờ sáng ngày 20 tháng 5 tôi đi vào từng nhà báo cho anh em biết rằng cấp chỉ huy đã bỏ chúng ta rồi. Nếu chúng ta tiếp tục ở đây, chúng ta không biết sẽ theo lệnh ai. Lính Dù không phải là kẻ thù. Nếu có nổ súng, chúng ta và lính Dù đều chết; chết như thế thì thực là vô ích. Vì thế, tôi cho lệnh giải tán tiểu đoàn, anh em nên trở về với gia đình là tốt hơn cả.

Anh em nghe lệnh này buồn bã lắm, nhưng biết làm sao bây giờ?

Lúc này trong vườn nhà số 5 Chu Văn An chợt có tiếng người bàn tán, ồn ào. Thấy lạ, tôi lách qua hàng rào, bước sang xem có gì xảy ra không?

Nhà số 5 rất rộng, có sân vườn, giếng nước, củi đóm dồi dào. Chủ nhà cũng rất hiếu khách. Hình như chủ nhà có bà con với ông Nguyễn Tấn Ðời, chủ nhân của Tín-Nghĩa Ngân-Hàng (?) Vài gia đình binh sĩ đi theo đơn vị đã được tôi gửi gắm trong nhà này. Tôi lên tiếng:

– Có chuyện gì vậy?

Một người lính nói:

– Dạ trình thẩm quyền, vợ anh Sửu chuyển bụng đẻ. Anh em không biết tìm đâu ra Bà Mụ cho chị ấy.

Trong lúc túng thế, tôi đành nói với mấy chị vợ lính:

-Các chị đỡ bà đẻ này ra ngã ba Chu Văn An, Hoàng Diệu, nhờ Nhảy Dù cho xe cứu thương chở đi bệnh viện, chắc họ sẽ không từ chối đâu.

Quả đúng như tôi nghĩ, Quân Y Nhảy Dù đã sốt sắng thi hành công tác nhân đạo này ngay.

Giải quyết xong vụ sinh đẻ của bà vợ lính, tôi chỉ chỗ cho anh em xếp súng ống, đạn dược thành một đống trước sân chùa.

Sau đó, anh em chia tay nhau, túa ra đường Phan Châu Trinh, hướng này không có quân của chính phủ trung ương. Hạ sĩ Phong tìm được hai bộ quần áo dân sự cho thầy trò tôi. Tôi xin được cái mũ phớt đội lên đầu để tránh người quen nhận diện. Hai người theo con đường vòng đai hướng Ðông của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I hướng về Cầu Ðỏ.

Tới Cầu Ðỏ chúng tôi chạm phải một trạm kiểm soát an ninh do Biệt Ðộng Quân phụ trách. Ðơn vị Biệt Ðộng Quân này mới được điều động từ trong Nam ra.

Hai bên cầu dành cho bộ hành có hai người kiểm soát. Bên trái là một sĩ quan dáng cao cao, giọng nói Miền Nam. Tôi kéo vành nón quan sát, thì nhận ra anh ta là Thiếu úy Châu Văn Út, bạn cùng Khóa 20, cùng Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Võ-Bị của tôi. Anh là bạn rất thân của tôi, nhưng để anh nhận ra tôi trong tình thế này thì kẹt quá! Nhân lúc anh Út đang bận hỏi han người thanh niên đi trước, tôi lanh tay đẩy chú Phong về phía anh ta. Tôi lẻn sang bên phải đứng nối đuôi một người đi trước; một thượng sĩ kiểm tra phía bên này. Tôi nghe Út hỏi Phong:

– Anh là lính phải không?

– Dạ phải! Trình Thiếu úy em là lính của tiểu khu, đi phép về thăm nhà nên bị kẹt, hôm nay mới ra khỏi nhà tìm về đơn vị.

– Ðược rồi! Anh đi đi!

Bên này, ông thượng sĩ cũng hỏi câu như trên, tôi cũng trả lời như chú Phong.

Qua khỏi Cầu Ðỏ thì không còn trạm gác nào nữa.

Tới Thanh Quýt, thầy trò tôi ghé quán bên đường ăn mỗi người một tô mì Quảng, rồi lại tiếp tục đi.

Nơi đầu bến xe Hội-An cũng có một trạm kiểm soát hỗn hợp của Quân-Cảnh và Cảnh-Sát. Quân-Cảnh và Cảnh-Sát ở đây thì chẳng lạ mặt tôi tí nào, đành phải tránh thôi.

Vùng đất này của Hội-An thì tôi thuộc từng li, từng tấc. Tôi dự trù cứ ra chùa Long Tuyền xin tá túc ít lâu rồi sẽ tính.

Sau một hồi đi vòng vo, tôi dẫn Phong băng qua vạt ruộng sát vòng rào sân bay Hội-An để leo lên con lộ đất dẫn về Long Tuyền Tự.

Long Tuyền Tự, Hội An

Cổng chùa mở rộng. Một chú tiểu đang ngồi chẻ củi trước sân, thấy chúng tôi, chú ngừng tay, ngẩng mặt lên quan sát. Tôi đến bên chú tiểu nói nhỏ:

– Hai đứa tôi là lính của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân. Ðà-Nẵng bị quân Thiệu Kỳ chiếm rồi, chúng tôi chạy về đây. Nhờ chú trình với thầy trụ trì cho chúng tôi tá túc ít lâu.

Chú tiểu đảo mắt, nhìn trước, nhìn sau, rồi kéo tay tôi dẫn vào trai phòng. Nơi đây đã có một nhà sư lớn tuổi với đôi mắt kiếng cận dày cộm đang ngồi đọc sách trên một cái ghế dựa.

Chú tiểu chỉ tay về phía chúng tôi rồi ghé tai vị sư già nói nhỏ một câu. Vị sư già nhổm khỏi ghế rồi tiến lại phía tôi vồn vã:

– Lính của Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân hả?  Ðà-Nẵng ra sao rồi?  Sao lại phải chạy về đây?

Tôi tóm lược chuyện xảy ra tại Ðà-Nẵng cho vị sư già nghe. Nghe xong, vị sư già từ tốn:

– Cửa từ bi lúc nào cũng rộng mở. Hai anh có thể nương nhờ ở đây không có gì trở ngại cả. Nhưng từ xưa tới nay chùa không có lệ chứa đệ tử tục gia. Muốn cho người ngoài không nghi ngờ chắc hai anh phải xuống tóc đóng vai tăng, hai anh nghĩ thế nào?
Tôi gật đầu. Thầy chỉ cho tôi bể nước mưa ở giữa sân.  Hai chúng tôi ra đó gội đầu. Thầy ra lệnh cho anh sa di đang đứng hầu bên cạnh:

– Chú Quý xuống tóc cho hai anh này đi!

Chú tiểu có tên là Quý vội tất tả đi vào phòng trong, lúc trở ra, trên tay chú có con dao cạo râu của thợ hớt tóc.

Lưỡi dao cạo sắc như nước, rà sát da đầu, từ từ đi từ trán tới đỉnh đầu.  Nhìn những chùm tóc lả tả rơi trên nền gạch sân chùa, lòng tôi chợt lâng lâng một cảm giác buồn buồn khôn tả. Ngày đầu bước chân vào Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam tôi đã được ông thợ hớt tóc của trường húi cho một cái đầu “cua” tóc ngắn, để biến tôi từ một thư sinh dân chính với mái tóc bồng bềnh, thành một người lính nhà nghề. Vậy mà chưa tới ba năm sau, sóng đời xô đẩy, tôi đành ngậm ngùi giã từ mái tóc nhà binh để trở thành một nam tăng.

Vài phút sau, khi hai Biệt Ðộng Quân đã trở thành hai ông sư, đầu trọc lóc, thầy trụ trì mới bắt đầu hỏi tên tôi và tên chú Phong. Thầy ngồi ngẫm nghĩ một hồi, rồi chậm rãi:

– Con tên là Long, vậy ta cho con chữ Tùng: Pháp danh của con sẽ là Thích Như Tùng. Cây tùng hay cây thông là biểu tượng của người quân tử.

Quay sang chú Phong thầy tiếp:

– Còn con tên là Phong, ta cho con chữ Sơn: Pháp danh của con sẽ là Thích Như Sơn; con sẽ mãi mãi vững vàng như núi.

Thế là từ chiều 20 tháng 5 năm 1966, Thiếu úy Biệt Ðộng Quân Vương Mộng Long biến thành tỳ kheo Thích Như Tùng, ngày ngày chay tịnh, tu tâm dưới chân Phật Tổ.

Mấy ngày đầu, cứ mặt trời lên tới đọt cau, tôi và Như Sơn lại rủ nhau ra vườn sau phơi nắng bên chân cái tháp cổ. Chúng tôi phơi cho da đầu sạm đi, tránh người lạ tò mò phát giác ra cái đầu vừa xuống tóc.

Thời gian này Chùa Tỉnh Hội Quảng-Nam đang bị Thủy Quân Lục Chiến cô lập. Sa di Thích Như Hạnh giữ vai trò liên lạc viên giữa chùa Tỉnh Hội và chùa Long Tuyền.

Một hôm chú Hạnh từ chùa Tỉnh Hội trở về, mặt rầu rầu:

– Năm nay gặp pháp nạn, Phật Ðản không có lễ cung nghinh Ðức Phật như mọi năm, buồn quá!

Nghe nói vậy tôi pha trò:

– Phật Ðản mà Hội-An không có rước đèn thì người người được nghỉ, nhà nhà được nghỉ. Phật Thích Ca cũng được nghỉ, khỏi phải đứng trên tòa sen đặt trong lòng những chiếc ô tô treo cờ kết hoa chạy rong trong phố. Ðứng lâu trên xe, xe chạy rề rề, Phật bị chóng mặt và mỏi chân lắm.

Mọi người cùng cười, nhưng lòng không vui.

Như Hạnh trao cho tôi một cái thư tay của Ðại úy Tôn Thất Trực nhắn rằng anh ta đang trong tình trạng nguy ngập, chưa biết làm cách nào để thoát ra ngoài. Cùng chung cảnh ngộ với Tôn Thất Trực còn có Ðại đức Thích Như Huệ, Trung úy Tuyên Úy Phật Giáo của Trung Ðoàn 51 Biệt Lập cũng đang bị kẹt ở đây…

Vết Nám – Hồi Ký Tù Cải Tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 10 Nov 2016
Post by Sơn râu 23 Oct 2025

Bài 30

“Mút mùa Lệ Thủy”

Miếng thịt gà!

Trước tết năm Tân Dậu (1981), Đại úy “giặc lái” Đỗ Kim Bảng hỏi tôi:

            _ “Anh Hải có thích xem bóng đá không?”

            Tôi trả lời vừa bông đùa, vừa thiệt tình:

            _ “Tui đi coi đá banh trước khi đi học.”

            Tôi gọi “đại úy phi công” Đỗ Kim Bảng là “giặc lái” là gọi mỉa theo “danh từ Việt Cọng”. Việt Cọng gọi tất cả các phi công Mỹ hay VNCH là “giặc lái”. Thậm chí người lái xe tăng cũng là “giặc lái tàu bò”, lái tàu thủy cũng là “giặc lái”. Còn anh Đỗ Kim Bảng phi công thì trùng tên với ông Đỗ Kim Bảng, nhạc sĩ, tác giả những bài hát “Mùa Thi”, “Mưa Đêm Ngọại Ô”…

Bọn học trò Huế, ít ai không biết bài “Mùa Thi”, “Thi ơi là thi, sinh mi làm chi!” Huế là xứ “học hành thi cử” nên người ta biết tên tác giả “Mùa Thi”. Với lại, ông nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng là cậu cô bạn học của tôi, cô Nguyễn Khoa Diệu Trâm. Cô ấy là khoa khôi của Huế, đẹp “lừng lựng”.

            Thời ký có Phong Trào Thể Thao De Couroix, các đội bóng tròn, -gọi bóng tròn để phân biệt với bóng bầu dục? – sau nầy Việt Cộng gọi là bóng đá, thành lập ở nhiều nơi, ít nhất mỗi tỉnh môt đội; tỉnh lớn có tới hai ba đội, tranh giải khá sôi nổi. Hai ông anh tôi rất mê coi bóng tròn, dĩ nhiên tôi được “coi theo”, mặc dù khi ấy, tôi còn nhỏ, chưa vô học Lớp Đồng Ấu của cô Hồ, cô giáo đầu đời của tôi, tại “École Primaire de Quangtri”.

&

            Đỗ Kim Bảng nói với tôi:

            _ “Tôi là huấn luyện viên bóng đá cho tụi Công An, muốn đi chơi, anh theo tui làm “phụ tá.”

            Bỗng nhiên, tôi trở thành “Phụ tá Huấn luyện viên.” Buồn cười chưa?!

            Cứ chiều chủ nhật, Bảng và tôi ra cổng: “Báo cáo cán bộ, chúng tôi đi tập huấn.” Thế là tên Công An gác cổng cho đi, chẳng cần ai đón đưa gì cả. Việc nầy, Bảng làm đã quen mấy tuần nay, tụi nó không nghi ngờ trốn trại gì!

            Phía ngoài cái sân lớn của trại là sân bóng đá. Sân nầy cũng do tù cải tạo san bằng, đổ đất, dựng “gôn”… Sân hơi nhỏ. Tết nầy, bốn đội bóng của ba trại Z-30A, Z-30B, Z30-C và Z30-Đ tranh giải với nhau. Đội Z-30A tập dượt kịch liệt, cố đoạt cúp bóng đá năm nầy, là năm tranh giải lần thứ nhất.

            Trong khi Bảng tập dượt cho mười mấy tên Công An, cũng phân loại tiền đạo, tiền vệ, hậu vệ, chiến thuật… thì tôi ngồi chơi, nhìn trời nhìn đất. Thoát ra khỏi bốn bức tường đá nhà tù, được ngồi “nghe trời nổi gió nhớ quanh quanh”, thật ra là nhớ nhà, cũng sướng thật.

            Phía sau lưng tôi là một dãy nhà ngang, nhà của cán bộ ở với gia đình. Gian đầu tiên là của một trung úy Công An người miền Nam, trước 1975 có ra Bắc, sau đó về Nam, làm giám thị trại giam ở đây. Nhà nầy chúng tôi “quen” bởi vì mấy tuần nay, chúng tôi làm cỏ bắp phía “Nhà Thăm Nuôi”; mỗi chiều, trước khi ra về, quản giáo Bộ, ngày nào cũng biểu anh bạn tù Trần Tử Có, đốn một cây chuối, trồng chung quanh nhà thăm nuôi, khiêng về nhà cho anh trung úy cán bộ nầy. Vợ anh ta, cũng người Nam, có nuôi heo. Chuối cây, trộn với rau, cám… làm thực phẩm cho heo. Heo ăn mau lớn và mập.

            Nhân dịp đó, anh em tù chúng tôi cũng xin “quản giáo” đốn một cây cuối, lột vỏ, xắt lát nhỏ, trộn ăn thêm trong bữa ăn chiều. Được ít hôm, có người bị cảm sốt. Nguyễn Tấn Trí nói:

            _ “Mấy ông ăn chuối nên bị sốt đấy. Chuối nầy độc”.

            Bữa đó, Trần Tử Có cũng bị cảm sốt nên Huỳnh Hà Đông nói đùa:

            _ “Ăn chuối cây bị cảm sốt là đúng rồi. Trần Tử Có không ăn, chỉ vác chuối, cũng bị sốt nữa, huống chi ăn.”

            Câu nói đùa của ông Đông làm ai nấy đều cười.

            Có lần Trần Tử Có vác chuối về, đứng nói chuyện, bèn hỏi người vợ anh Công An:

            _ “Sao chị không nuôi gà mà ăn, nuôi heo để bán chớ ăn sao hết?”

            Chị ấy trả lời:

            _ “Ăn cái con mẹ gì. Tui chặt dao hơi mạnh, tụi nó xoi mói, dòm qua vách, coi thử mình có ăn gà vịt gì không? Các bọn gì kỳ cục.”

            _ “Xử dụng “Tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa” chớ gì?” Có nói.

            Ấy đấy! Ở với Cộng Sản, làm thịt con gà cũng bị dòm ngó, phê bình phí phạm “Tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa.

            Mồng hai Tết, hôm tranh giải, tôi cũng đi theo Đỗ kim Bảng, ra xem bọn chúng đá với nhau.

            Bây giờ hai đội Z30-A tranh với đội Z30-Đ30-Đ để vào vòng trong, cũng là vòng chung kết giữa đội thắng trận nầy, sau đó sẽ đấu với đội thắng Z30-B với Z30-C. Trận nầy, coi như bán kết, nên hai bên đấu với nhau cũng căng, không thiếu trò chơi xấu và ma mảnh. Cầu thủ hai đội phần nhiều là người Bắc.

Người Nam vô Công An khá hạn chế, toàn trại tôi chỉ có vài ba ngoe gì đó, người mới vô thì mang loon trung sĩ, những người Nam khác, là sĩ quan, phần đông gốc từ du kích hay Bộ Đội Địa Phương chuyển qua. Xử dụng những thành phần này, gốc địa phương, mục đúch của chính quyền là “nắm dân cho dễ”, theo dõi và phát hiện thành phần chế độ cũ, dễ bị tình nghi “phản cách mạng”.

            Trọng tài là người Nam, dân Biên Hòa, có thể do “Sở Thể Dục Thể Thao Đồng Nai” cắt cử đến. Trọng tài đến từ hôm qua, được trại Z30-A tiếp đãi chu đáo.

Trận đấu đang diễn ra, phần thắng đang nghiêng về đội Z30-A. Trọng tài vừa thổi phạt vài cầu thủ đội Z30-Đ chơi xấu. Theo tâm lý thì bên thua thường “nóng mặt chơi xấu” nên bị trọng tài bắt phạt là việc thường tình. Tuy nhiên, phía sau tôi, một đám đàn ông có, đàn bà, con nít cũng có có tiếng phê bình, bằng giọng Bắc:

            _ “Trọng tài tối qua ăn thịt gà rồi!”

            Nhìn lui, tôi đoán chừng họ từ Xuyên Mộc tới, đi theo để “cổ vũ cho đội nhà”. Họ ở xa mới tới sáng nay, sao có thể biết tối qua trọng tài được khoản đải món thịt gà? Có lẽ họ nghi ngờ vì trọng tài được trại Z30-A đón tiếp tối qua, và trong bữa cơm tiếp đải có món thịt gà. Đó chỉ là phỏng đoán, phỏng đoán có ăn thịt gà.

Tôi nhớ lại câu chuyện anh bạn Trần Tử Có khiêng chuối cho nhà cán bộ nuôi heo. Gà vịt quí đến vậy sao? Miếng thịt gà có thể làm cho trọng tài không còn công tâm nữa sao, làm cho trọng tài bênh vực đội cho ăn thịt gà hay sao, Xã Hội Chủ Nghĩa là vậy đó sao, “miếng ăn là miếng tồi tàn” như ông bà chúng ta nói hay sao? Hèn chi cán bộ Đạt có lần kể lại cho anh em chúng tôi nghe: “Mỗi năm xã làm heo hai lần: Ngày hai tháng chín và ngày Tết, thịt làm xong chia theo hộ khẩu, mỗi nhà được một miếng nhỏ bằng nắm tay, kể cả xương.

            Còn suốt năm thì sao?

Không hy vọng gì thấy miếng thịt heo, nói chi thịt bò hay thịt trâu. Trâu bò là “sức kéo” của hợp tác xã, dùng để kéo cày, kéo xe. Không có trâu bò thì xã viên kéo bò thay trâu. Lỡ tay để trâu bò chết, xã viên phải kéo cày thay trâu giống như thời Thực Dân, “địa chủ bóc lột”, tá điền kéo cày thay trâu cho chủ như trong tiểu thuyết viết về nông dân Việt Nam như trong “Nhà Quê” của Ngọc Giao hay “Nhà Nghèo” của Tô Hoài, “Con Trâu” của Trần Tiêu.

            Những ý tưởng chợt đến, từ lời “bình phẩm” của khán giả làm cho tôi không muốn xem cuộc tranh tài nữa. Tôi bỏ đi ra phía ngoài, ngồi xuống một thân cây ngang đường, nhìn ra phía “Nhà Thăm Nuôi” để nhớ vợ nhớ con. Tết nầy, không biết vợ tôi, các con tôi có “bánh chưng xanh” để ăn không; không hy vọng có thịt mỡ, dưa hành. Hơn năm năm “giải phóng” rồi có cái gì lớn hơn không, “xây dựng bằng năm bằng mười” như Hồ Chí Minh nói, hay hí hửng, vui mừng nghe tin Hợp Tắc Xã hạ một con heo, chia nhau mỗi người một miếng thịt heo “to bằng nắm tay, kể cả xương”.

&

Ca sĩ Thu Nở, Thu Cúc… của nhạc sĩ Chuột!

            Hôm trước Tết, bọn tù chúng tôi, gom chung cả mấy trại trong cũng như ngoài, đi nghe ca nhạc tại hội trường mới xây xong. Hôm ấy, có nhạc sĩ Nguyễn Văn Tí đến nói chuyện về “âm nhạc cách mạng” và các nữ ca sĩ của ông trình bày những sang tác mới của ông.

            Cô Thu Nở hát bài “Em đi nhà trẻ”: “Mùa xuân ai đi hái hoa, còn em, em đi nhà trẻ.” Bài hát hay đấy, cô giáo đầy tình thương trẻ em. Và “Ra vườn hoa em chơi, Em muốn hái một bông hoa đẹp, Nhưng cô bảo em đừng có hái, Bông hoa nầy là của chung.” Ngay từ bé, trẻ em đã được dạy cho cái ý thức “bảo vệ của công”. Xa hơn cái “ý thức bảo vệ của công”, chính là cái ý thức tài sản “Cộng Sản”, là dạy cho trẻ em cái ý thức Cộng Sản khi chúng còn trẻ thơ.

            Sau đêm xem văn nghệ hôm ấy, anh bạn tù Trần Phú Trắc nói với tôi: “Cái tục của người Việt mình ngày xuân là đi hái lộc, làm hại cây cối. Cộng Sản thì theo lời Hồ Chí Minh “ngày tết trồng cây”. Phải nhận rằng cái ý đó hay chớ anh.”

Tôi không nói gì, có nghĩa là “đồng ý với bạn”, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ tới cái tính cách “tuyên truyền” trong mỗi lời nói hay hành động của người Cọng Sản. Sự tuyên truyền làm sai lạc cái ý nghĩa đứng đắn của sự việc, che dấu cái xấu xa thủ đoạn trong mỗi lời nói hay công việc của họ.

            Hôm văn nghệ, Nguyễn Văn Tí cũng “lên án” những sáng tác của ông trước 1945, nhất là bài “Dư Âm”.

Ngay khi còn trẻ, tôi đã không thích bài “”Dư Âm”. Đó là một bài hát “sặc mùi tư sản”, cái hình ảnh “dáng em đang ôm đàn” cũng như câu thơ “Những nàng thiếu nữ buồn không nói, tựa cửa nhìn xa…” làm cho tôi chẳng ưa thích chút nào. Trong xã hội nông nghiệp như Việt Nam chúng ta, những hình ảnh nói trên, mang tính chất cô Kiều “trướng rủ màn che” xa lạ với hình ảnh “Người con gái Việt Nam da vàng, đi trong đêm ầm tiếng súng”. Tôi yêu mến những người dân gian lao đau khổ đó hơn, họ… “Việt Nam” hơn.

            (Sau nầy, thời kỳ đổi mới, Nguyễn Văn Tí lại quay 180 độ, ca ngợi bài “Dư Âm”. Ngưòi Cộng Sản bây giờ giàu có, cơm ngon áo ấm, “thừa cơm rửng mỡ” nên họ học đòi những cái thói “rởm đời” của giai cấp tiểu tư sản đó chăng?)

&

Ngộ cố tri

            Khi cô đào cải lương Hồng Nga vừa nhảy “tuýt” vừa hát nhạc rock trên sân khấu thì đám tù cải tạo gần ngàn người ngồi ở dưới la hét om sòm, vỗ tay hoan hô. Sự náo động bắt đầu.

            Thấy “khan giả tù” “nhiệt liệt hoan nghinh” (Việt Cộng hay lạm dụng mấy chữ nầy đấy), cô đào Hồng Nga lắc đít càng dữ, múa tay đá chân càng tợn, không kém gì cô Mai Lệ Huyền ngày trước. Vài anh tù cải tạo ngồi ở hàng đầu, bước ra chỗ trống trước khán đài nhảy, nhót lung tung khiến ai nấy cùng vui. Ngay cả mấy “chú Công An” có nhiệm vụ cầm súng canh gác đám tù phía ngoài  rìa “sân đá banh” (danh từ Việt Cộng là “bóng đá”) cũng “chỏng mõ” nhìn lên sân khấu, toét miệng mà cười.

            Quả thật đây là trường hợp “ngộ cố tri”. Dĩ nhiên, “tù cải tạo” thuộc chế độ cũ, mà cô đào cải lương Hồng Nga cũng là một nghệ sĩ nổi tiếng từ trước tháng Tư/ 75. Thành ra hai bên cùng là “cũ” hết. Kẻ thì “tù trong”, người “tù ngoài”, khác gì nhau! Ba mươi tháng Tư là “Cuộc đời gian lao từ đây” như câu hát bọn tù L3-T-3 chúng tôi đổi lời từ bài hát “Nguồn Tin Vui” của nhạc sĩ kiêm ca sĩ Duy Trác vậy.

            Tuy nhiên, Việt Cộng không hời hợt trong công việc “cách mạng triệt để” của chúng. Qua hiện tượng vừa nói, chúng hiểu ngay rằng giữa cô đào hát và đám “tù cải tạo” cùng là “cá mè” với nhau cả đấy, cùng có tình cảm và tư tưởng “chống phá cách mạng”. Nếu có một dịp nào đó, có cơ hội thì đám nầy “không tha cho cách mạng” đâu!

            Coi cải lương xong, về tới phòng, trong khi đang sửa soạn chỗ ngủ, anh Lã Trung Tâm hỏi tôi:

            _ “Mày thấy bữa nay vui không?”

            _ “Không phải vui mà hay!” Tôi trả lời. Rồi tôi đọc tiếp câu Kiều: “Rằng hay thì thật là hay, Nghe ra ngạm đắng nuốt cay thế nào!” Tôi nói tiếp, “cũng như Giang Châu Tư Mã trên bến Tầm Dương vậy. Cái hay là ở đây không có nước mắt, không có “Lệ ai chan chứa hơn người, Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.”

            Sau khi yên chỗ nằm, anh Tâm nói:

            _ “Tao tưởng “con” Lệ Thủy hát tuồng Dương Vân Nga chớ! Chắc nó sợ tụi Tầu cho lảnh đạn như Thanh Nga chớ gì?”

            _ “Chống Tầu là qua rồi anh. Trong khi bọn lính tráng “xung phong tiến lên”, thì bọn chính trị “nhẩm xà” với nhau rồi. Tui nhớ có lần đài BBC loan tin hồi đầu mùa hè năm 1972, ở phía Tây phi trường Đông-Hà, trong khi Tăng 54 của Liên Xô, lần đầu tiên đụng độ với Tăng M-49 của Mỹ giao lại cho Quân Đội VNCH, thì thằng Kissinger nâng rượu Vodka chúc sức khỏe thằng Gromyko ở Mốt-Cu. Chính phủ Cộng Sản Hà Nội đâu cần “tuyên vận” dân chúng chống Tầu nữa. Dù có muốn đóng vai Thái Hậu Dương Vân Nga, Lệ Thủy vẫn phải hát cuồng khác cho “đúng đường lối chính sách của đảng”.

            _ “Mấy năm trước, khi thấy hát tuồng Dương Vân Nga, tụi nó chưởi “con mẹ thái hậu” nầy dữ, cho là lăng loàn trắc nết, lấy ngai vàng của con mà “giao cho trai.” Mày thấy sao? Mày dạy lịch sử Việt Nam phải không?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Tui dạy từ “Hậu Lê” trở về sau. Tui không dạy “Tiền Lê”. Tui không rành lắm, nhưng nếu như nói về trước nạn Tầu xâm lăng, binh quyền ở trong tay thằng con nít không hay bằng giao binh quyền cho một tướng tài, “Thập đạo Tướng quân”. Có thể nhờ việc trao quyền đó mà bọn Tầu xin hòa, khỏi ôm đầu máu chạy về Tầu. Tù bọn mình nhìn vấn đề theo “cảm tính”, hễ cái gì không đỏ mà hơi hườm hườm thì ghét luôn.” Tôi trả lời.

            Ngọc “xùi” nằm phía bên kia, nảy giờ lắng tai nghe mà tôi không hay, bèn hỏi:

            _ “Mệ” Hải! Tụi nó nói thằng cha trung tá Thích mê Lệ Thủy. “Mệ” biết không?”

            _ “Tao nghe lâu rồi. Tụi Công An nó cũng nói chớ riêng gì bọn mình. Dễ hiểu lắm! Năm kia, khi còn trên đồi Phượng Vĩ, y cũng mời đoàn Lệ Thủy về hát, năm nay lại mời nữa. Còn như chuyện làm heo gà đãi nghệ sĩ với Lệ Thủy thì chắc tụi Công An trông thấy, rồi “phát triển” câu chuyện “tai vách mạch rừng”.

            _ “Hơi đâu mà nghe thiên hạ đồn, với lại bọn Việt Cộng chúng nó “đấu tranh” dữ lắm. Tranh ăn mà!”Anh Tâm kết luận.

            Ngọc “xùi” tiết lộ:

            _ “Nghe nói thằng chồng Lệ Thủy là thiếu úy, cải tạo về sớm. Vợ đi hát đâu, nó cũng tò tò đi theo. Bộ muốn giữ con vợ chắc?”

            _ “Giữ gì nỗi mày. Con ngựa mà đã “ngựa phi đường xa” thì chịu thôi.” Tôi quay qua anh Tâm: “Này anh Tâm, anh có nghĩ như tui không? Người đàn ông ngoại tình thì mười ông chỉ làm tan nát gia đình có vài ông,  “anh mê vợ bé bỏ bè con thơ”. Bồ bịch, chơi bời gì thì gì rồi cũng về lo cho vợ con. Đàn bà khi đã ngoại tình, thì mười nhà tan nát cả mười. Đàn bà mê trai hay lang chạ là ghê lắm, tán tậm lương tâm, con đẻ ra còn không thương, nói chi thằng chồng.”

            _ “Do đâu mày nghĩ vậy?” Anh Tâm hỏi.

            _ “Lịch sử chớ đâu! Cleopâtre tranh ngôi với em, tình nghĩa chị em cũng không còn. Cézar chết rồi cặp với Antoine. Từ Hy Thái Hậu cũng vậy. Cả bà Nhu cũng chẳng thua chi. Tham vọng quyền lực của người đàn bà ghê gớm lắm. Đàn ông “Qui khứ lai từ” còn dễ chớ đàn bà thì không!”

            _ “Mày nói có lý!” Anh Tâm đồng ý với tôi.

            _ “Dương Vân Nga cũng vậy?” Ngọc “xùi” hỏi.

            _ “Dương Vân Nga khác chớ! Chết chồng thì lấy chồng khác, bả đâu có ngoại tình. Những người khắt khe phê phán bà cái việc lấy ngai vàng của con mà giao cho tình nhân, chấm dứt triều đại nhà Đinh, khởi nghiệp nhà Tiền Lê. Với tình hình “giặc ngoài xâm lăng”, “toàn dân (không) hớn hở” mà lo sợ thì cũng khó phê phán bà.”

            _ “Vậy bà không có tội?” Ngọc “xùi” lại hỏi. Anh ta lại nói tiếp: “Mệ” mà nói không có tội, tụi nó chưởi “mệ” cho coi. Coi chừng tụi nó cho rằng “mệ theo đuôi Việt Cộng.”

            _ “Kệ cha tụi nó.” Tôi lại nói chuyện với anh Tâm: “Hồi anh em tui khôn lớn, bắt đầu có bồ bịch, mạ tui thường dặn: “Trai tân gái góa thì chơi, Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng.” Thất đức lắm.

            _ “Mày có nhớ mày kể hồi mày ở Trảng Lớn, Kim Cương gởi thư lên cho chồng, bảo rằng thằng chồng nó sắp về, vì “Anh Trường Chinh” đã hứa rồi. Mày nghĩ gì về cái chuyện “Anh Trường Chinh”?

            _ “Sự hưởng thụ của giai cấp thống trị anh à! Xưa mấy ông Tướng hay có bồ nhí, bồ trẻ, ca sĩ… Bây giờ cũng rứa thôi. Cái “mốt” (mode) nó vậy mà!”

            _ “Mấy ông tướng xông pha trận mạc mà mầy. Biết sống chết lúc nào mà không hưởng chút cháo.” Anh Tâm nói.

            _ “Anh nói làm tui nhớ một chuyện trong “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Tolstoy.” Tôi nói: “ Napoleon thua chạy, rút về Pháp. Bọn tướng trẻ quân Nga, đòi đuổi theo giết cho sạch quân Pháp. Ông Kutuzốp (Kutusov) thì cứ thoang thả: “Được rồi! Được rồi, để cho bọn nó chạy.” Xong, ông lại hú hí với con bồ trẻ.

            _ “Khác chớ mày! Chuyện mầy kể là chuyện mấy ông tướng. Còn như Trường Chinh, hay tướng tá bây giờ, đánh chác gì mà đòi hưởng thụ?”

            _ “Đúng rồi!” Tôi nói, rồi đọc:

“Giai nhân tự cổ như danh tướng,

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.”

            Bỗng tôi nghe ai đó phía giữa phòng nói với tới:

            _ “Thơ với thẩn, ngủ đi, mai còn đi “lao động là vinh quang. Cuốc đất, ăn khoai mì là văn hóa vô sản. Thơ văn là văn hóa tư sản. Bỏ đi Tám.”

            Quả thật là đời bấy giờ: “Sách vở ích gì cho buổi ấy!” như Nguyễn Khuyến nói vậy. Xã hội nước ta đã bao lần đổi thay đến tận gốc rễ./

Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

PHÙ SA xuất bản 1964

Post by Sơn râu 23 Oct 2025

Phần 4.

… Hăm ba tháng Mười, mưa dại gió may

Ngoài khơi Hòn Tre, chiếc tàu tuần chạy tới lui qua lớp mưa thưa, màu cờ tam tài lu mờ chỉ còn hiện lên một đốm đỏ lợt lạt. Đoàn ghe lưới nằm lúc lắc trên bãi bùn, con mắt sơn trước mũi ghe trông phờ phạc như con mắt cá chết. Sóng đánh từng hàng dài trên mặt biển dâng cao, gợi hình ảnh những luống cày quanh sườn đồi… Trước khi tan vỡ trên bãi bùn, bọt sóng vung ra, rơi lấm tấm trên ngọn mấy cây bần đã bị ngập mất gốc mất cành.

Nhà của lão Tư Hiếm day mặt theo hướng gió xuôi, cửa cái vẫn mở; lão bắc ghế ngồi sát hàng ba, làn khói thuốc tuôn thoăn thoắt vươn mạnh lên bầu trời quá thấp.

Nhà của tôi bên này đâm ngang lưng gió, mưa hắt thỉnh thoảng đưa từng luồng ướt át. Tôi vói tay khép cửa lại. Chắc chắn lão thừa hiểu rằng tôi đã về nhà. Đúng ra, tôi phải đích thân đến gặp lão từ hồi trưa, liền sau khi rời khỏi nhà ông Henri Nhan. Nhưng gặp để nói chuyện gì? Kế hoạch trở về Mỹ Lâm của ông Henri Nhan chưa có gì rõ rệt, quan tư Ca Rê sẽ áp dụng chiến thuật nào? Vào ngày giờ nào? Tất cả thuộc về phạm vi bí mật quân sự. Biết chừng đâu quan tư Ca Rê hứa ẩu để làm vừa lòng một “nhân vật bổn xứ”; lực lượng Lê dương cần được sử dụng ở những trường hợp thiết yếu; “đại sự” hơn. Vả lại, lão Tư Hiếm chẳng còn tài sản nào ở Mỹ Lâm cả. Một mình lão tài nào chống nổi, nếu muốn chống lại.

Trận mưa dai dẳng bên ngoài đem tới cho tôi một duyên cớ để trì huỡn việc gặp mặt lão Tư Hiếm. Lật qua lật lại mấy trang giấy hồi sáng, tôi hút nối đuôi một lượt ba điếu thuốc rồi viết sạch sẽ cho xứng đáng với số tiền nhận trước năm trăm đồng.

“Ông Henri Nguyễn văn Nhan sanh ngày… năm… Thân phụ là cụ Nguyễn văn Mổ, người làng Đức Mỹ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, đậu Cử nhân kỳ thi Ất Mão tại trường Tứ Quảng, sung Cẩm Y Vệ Thị Lang, sau thuyên chuyển vào đất Gia Định nhận chức Vệ úy trong cơ binh của quan Tổng đốc Nguyễn văn Mỗ. Nhơn thành Gia Định thất thủ, ngài Vệ úy treo ấn từ quan, ẩn sĩ qui điền không chịu hợp tác với tân trào, về mở trường dạy học tại Phú Cường, Bình Dương. Dịp này cụ sánh duyên cùng bà Vương Thị… hạ sanh được một đứa con trai duy nhất đặt tên là Nguyễn văn Nhan, tự Nhàn Vân, biệt hiệu Nhật Luân.

Lúc còn nhỏ, ông Nguyễn văn Nhan tỏ ra thông minh dĩnh ngộ hơn người, mới tám tuổi đã thuộc làu Tam Tự Kinh, Minh Tâm Bửu Giám. Trong hoàn cảnh mồ côi cha mẹ quá sớm, ông luôn luôn phấn đấu lập thân, tiết kiệm tiền ăn quà để mua sách vở cố theo chương trình sơ học tại tỉnh nhà (Bình Dương . Ông Đốc phủ sứ Trần văn M. bạn đồng môn của ông hồi xưa còn nhớ lại một giai thoại kỳ thú: Phen đó, thầy giáo bày cuộc thi thủ công, đầu đề: chiếc tàu thủy. Các học sinh được dịp trổ tài. Đứa này đóng tàu bằng giấy bồi, dùng keo dán mấy kẽ hở, cắt ống trúc làm ống khói. Đứa kia – con nhà khá giả – được cha dẫn ra tiệm bán sắt tây, bày kiểu cho thợ đóng tàu nhỏ bằng thiếc, trong tàu có bố trí cái nồi “sốt de” tí hon, khi đốt ngọn đèn cầy lên, nước sôi thổi hơi ra đẩy chiếc tàu tiến tới.

Ngày chấm thi, thầy giáo đặt một chậu nước khá rộng giữa sân. Chiếc tàu bằng giấy bồi lần lần chìm vì keo rã. Riêng chiếc tàu chạy bằng hơi nước đáng chú ý hơn hết nhưng các học sinh nhao nhao phản đối vì nó do người lớn tuổi chế tạo. Đến lượt ông Nguyễn văn Nhan trình bày chiếc tàu của mình. Thân tàu chỉ là một khúc cây mốp (gỗ nhẹ tiện sơ sài. Thầy giáo phê phán: “Nó không chìm, nó được chính tay học sinh tạo nên nhưng nó không xê dịch được”. Tức thì ông Nguyễn văn Nhan móc trong cái lon thiếc đem ra một con tôm còn sống nhăn. Ông cắm cái gai to lớn ở đầu con tôm vào phía sau lái tàu. Ai nấy trố mắt; chiếc tàu vừa thả xuống, tức thời con tôm nọ búng mình… mũi tàu phóng tới rẽ sóng, xắn vào vành cái thau, dội trở lại, chuyển qua hướng khác rồi vẫn xắn tới. Các học sinh vỗ tay, hò reo tán thưởng kiểu “tàu… con tôm”, chạy máy tự động ấy. Thầy giáo phải mệt nhọc lắm mà không kéo các học sinh trở về vòng kỷ luật được. Quan đốc học hoảng hốt chạy tới, thay vì rầy la các học sinh, ông tìm cậu Nguyễn văn Nhan, khen ngợi nức nở: “Trò đây quả thật là ông trạng Lương Thế Vinh tái sanh. Ngày xưa Lương Thế Vinh lúc còn bé đã biết đổ nước xuống lỗ để đem trái bưởi lên. Ngày nay, trò sáng chế ra kiểu tàu… tự động này, tài trí đâu kém?”.

Khi theo học năm thứ ba ban Cao tiểu, ông Nguyễn văn Nhan tuy thường được ghi tên vào bảng danh dự của toàn trường về đạo đức, về năng lực nhưng ông lại tỏ vẻ tư lự, đăm chiêu. Ông bắt đầu làm thơ, gởi đăng các báo ở Sài Gòn với nội dung thán phục các vị anh hùng cứu quốc kim cổ, từ Đông sang Tây: Gởi chiến sĩ mười bốn Juillet phá ngục Bách Ti, Vịnh ông Tôn Văn, Tâm sự Thủ khoa Huân… Nhơn phong trào lạc quyên ủng hộ các học sinh Đông Du do quan phủ Gilbert Trần Chánh Chiếu đề xướng, ông Nguyễn văn Nhan đã nhịn ăn quà sáng, gởi giúp được một đồng bạc trong thời kỳ giá lúa mười lăm xu một giạ.

Nhà cầm quyền thực dân đâu để yên cho chàng thanh niên giàu nhiệt huyết ấy. Sở Mật thám Pháp gây áp lực, khiến quan giám đốc ra lịnh đuổi ông Nguyễn văn Nhan khỏi trường. Chán nản, ông đi ngao du sơn thủy, lê gót lãng du khắp Hà Tiên, Bạch Mã, đảo Phú Quốc… tìm cơ hội khác hầu gióng hồi chuông cảnh tỉnh bé nhỏ, khiêm tốn nhưng hữu hiệu cho quốc dân…”.

Mưa chưa tạnh. Ăn xong cơm chiều, tôi nằm im nghe sóng biển vỗ ầm ầm lên bãi. Ngọn đèn dầu leo lét bỗng phựt lên cao hơn ống khói, gió biển tạt mạnh qua khe cửa hé mở.

Lão Tư Hiếm bước nhanh vào, vuốt mấy giọt nước trên mặt:

– Ở nhà một mình buồn quá, tôi qua đây thăm thầy. Mưa gì mà mưa hoài. Ở miền biển, thầy thấy điều gì đặc biệt không? Nước mưa trên mặt mình, nó mặn đắng như nước biển.

Tôi đáp:

– Có lẽ chất mặn của mồ hôi thấm lâu đời trên trán mình, thưa bác.

Lão gật đầu, cúi mặt xuống tránh ánh đèn, hồi lâu mới nói:

– Bữa nay, thầy làm việc rồi chớ? Ông chủ Nhan mướn thầy viết chuyện đời xưa ở Mốp Giăng, ở Mỹ Lâm thiệt sao?

Tôi ái ngại, che giấu một tiếng thở dài rồi cố ra vẻ hồn nhiên:

– Dạ, thiệt chớ. Chiều nay tôi ở nhà viết. Ổng căn dặn tôi tả lại vùng đất hoang ở Mốp Giăng ngày xưa, nào chuột, nào bưng sen, cảnh nê địa trước khi ổng tới khai khẩn. Nếu còn nhớ rõ cảnh xưa, nhờ ông giúp tài liệu. Tôi viết nhắm chừng, hồi nào tới giờ chưa từng tới Mốp Giăng.

Đột nhiên, lão day mặt lại:

– Vùng Mốp Giăng đã trở thành “đất thuộc” từ lâu rồi. Ổng tới làm chủ lúc sau này. Ổng chẳng bao giờ thấy chuột bầy, thấy bưng sen gì ráo! Miệt Mốp Giăng xưa kia do nhiều người tứ xứ tới mạnh ai nấy khai phá, cắm ranh, khai diện tích sơ sài rồi đóng thuế cho làng… Dè đâu… Thôi… tôi nói ít, thầy ăn học nhiều, chắc hiểu rộng hơn. Nếu tôi nói lỡ lời, thầy bỏ qua cho.

Lại chuyện cường hào ỷ thế thực dân Pháp, cưỡng chiếm đất đai! Thời xưa, lắm tay mưu sĩ lên Sài Gòn xin khẩn những “lô” đất chưa có ai đứng tên trong địa bộ quản hạt rồi họ mướn người chuyên về trắc địa đến quy định ranh giới. Lô đất ấy nghiễm nhiên thuộc về quyền sở hữu của họ. Đứng về mặt pháp lý thực dân phong kiến, mảnh vườn đất nhỏ của người nông dân “tiền phong khai hoang” mặc nhiên bị sáp nhập vào đồn điền của kẻ đến sau nhưng hiểu rành về quy chế điền địa hơn.

Tôi đánh tan bầu không khí oi bức nọ, đưa câu chuyện trở lại địa hạt khác, êm dịu hơn:

– Thưa bác, chuột ở Mốp Giăng hồi xửa hồi xưa chắc nhiều lắm? Mấy bưng sen còn không? Mỗi bưng rộng bao lớn? Nhiệm vụ tôi là viết chuyện đó cho ổng.

– Thầy cho tôi điếu thuốc. Hồi tôi còn nhỏ, tôi thấy dân chúng Mốp Giăng sống nhờ chuột. Mùa nước nổi, chuột cắn đuôi nhau nối liền thành một sợi dây dài, chẳng biết nó từ xứ nào tới để đi về đâu. Tụi nó lội chập chững, con này nương sức của con kia… Mỗi tháng, mình gặp năm sáu bầy như vậy. Nước giựt xuống, chuột làm ổ, trời sa mưa, cỏ non mọc nhú lên, tha hồ xây rọ mà bắt. Cứ dùng đăng sậy bao chung quanh một vùng cỏ lớn rồi lần lần mình siết vòng vây… bắt hàng trăm con. Mình ăn thịt chuột trừ cơm. Chuột bị chặt đuôi, lột da nằm dài trông thật giống con heo con… Thôi thì chuột rô ti, chuột bằm nhỏ xào lá cách lá lốt, chuột kho tiêu. Ăn không hết, mình bày ra khô chuột, treo lủng lẳng hàng trăm con từ trên kèo nhà. Lại còn mắm chuột nhận đầy lu, mỡ chuột thắng đầy hũ. Đèn thắp bằng mỡ chuột, sáng lắm… Nghe nói lâu lâu có người gặp con chuột bạch ngậm trong miệng “hột ngọc chuột” sáng ngời… Ôi thôi! Chuyện con chuột kể tới sáng thầy nghe không hết.

– Còn cái bưng sen ngày xưa?

– Nó còn hiển hiện đó. Rải rác đôi ba mẫu đất, đầy loại sen bạch, sen hồng. Cuối mùa mưa, gương sen cằn cỗi, hột sen khô nổi lình bình đen mặt nước; mình cứ đem thúng mà xúc, mỗi người xúc một buổi sáng hằng năm sáu chục lít đem bán cho Huê kiều… Nhưng dân mình ưa làm ruộng hơn là xúc hột sen.

– Dạ thưa bác, tại sao bây giờ hết chuột?

– Mấy năm sau thiên hạ làm ruộng nhiều nơi, chuột chia nhau tứ tán kiếm ăn, mỗi bầy đi một chỗ. Hồi xưa chuột đói vì ít ai làm ruộng. Đám ruộng nào bị tụi nó bu lại, kể như còn rơm trơ cọng.

– Còn sen? Tôi tưởng mình nên để vài lõm xem chơi. Sen mọc nhiều, hao đất quá.

– Nó là thứ xa xí. Muốn trừ sen, thêm đất làm ruộng, mình phải đào kinh cho nước rút bớt… Nói chí miệng, ông chủ Nhan hồi đó muốn mở mang đất đai lắm, ngặt ổng ít vốn. Ổng hứa với tá điền: nếu ai nấy đều góp lúa đầy đủ cho ổng, ổng mua thêm vài chục ngàn mẫu đất nữa cho bằng điền Tây của ông Kho… Ngặt vì… vợ lớn của ổng chết, ổng buồn. Hai vợ chồng không con. Rồi cưới bà sau này, cũng không con…

Lão chép miệng, hút điếu thuốc nữa:

– Thôi tôi về, khuya rồi. Lát nữa sợ mưa lớn.

Thấy câu chuyện còn hấp dẫn, tôi mời lão ở nán. Lão từ khước:

– Hút thuốc vấn không quen, để tôi về bển hút ống điếu cây ớt núi. Tháng rộng ngày dài, mai chiều tôi nói thêm. Chỉ sợ thầy không muốn nghe. Còn nhiều chuyện ở Mốp Giăng, ngậm ngùi lắm!

– Bác cứ nói. Tôi đi lấy cái ống điếu qua đây cho bác. Hay là tôi qua nhà bác cho tiện.

– Phải à! Thầy qua bên tôi đi. Hồi chiều tới giờ mảng lo nói chuyện, tôi quên thắp nhang.

Mưa cứ rơi đều đều. Đèn đường phía chợ ửng sáng một vầng quá rộng. Biển đen ngòm, bãi bùn, sóng nước và Hòn Tre lẫn lộn dưới vòm trời thiếu trăng. Lão Tư Hiếm vào nhà trước. Tôi bước vào chậm hơn, đưa tay đóng cánh cửa lại cho bớt lạnh. Lão nói nhanh:

– Ban đêm đóng cửa nói chuyện rì rào trong nhà, thiên hạ hồ nghi. Cứ để vậy.

Thắp nhang xong, lão hút thuốc uống trà, hớp từng hớp một.

– Tôi còn câu chuyện cổ tích này, liên quan tới cái ngôi đình làng không bao giờ xây cất ở làng Mỹ Lâm, trong điền ông chủ Nhan.

Tôi gật đầu, lộ vẻ nóng nảy:

– Tại sao chẳng bao giờ xây cất? Làng Mỹ Lâm quá nghèo à? Lạ vậy!

– Số là năm đó, lâu lắm rồi… Hồi còn bà chủ trước lận kia, hồi ông chủ Nhan… chưa làm điền chủ, ổng còn là hương quản, ngày hai bữa đạp xe máy lại nhà việc. Ruộng trúng ba bốn mùa liên tiếp, dân làng ai nấy mừng vui ăn tết tưng bừng, cờ bạc suốt tháng Giêng qua tháng Hai. Ngày rằm tháng Giêng, mấy ông kỳ lão đành bơi xuồng ra chợ Rạch Giá, thuộc làng Vĩnh Thanh Vân để dự lễ kỳ yên lạy tạ Thành hoàng bổn cảnh, thay mặt giùm cho dân làng Mỹ Lâm. Thật là mất thể diện. Tại sao làng Mỹ Lâm lại chẳng cất được một ngôi đình riêng biệt? Nghĩ vậy, ai nấy hùn tiền kẻ ít người nhiều. Ông chủ Nhan – hồi đó là hương quản Nhan – được cử làm thủ quỹ vì trong tổng số năm ngàn đồng lạc quyên, phần ông góp tới hai trăm đồng, nhiều hơn mọi người khác. Người lãnh thầu mua về một mớ gạch đá, rồi xin lãnh thêm tiền để mướn nhân công, mua thêm vôi cát, xi măng. Rủi thay, đêm nọ người thầu bị bọn cướp giết chết trên đường về Rạch Giá. Hương quản Nhan đến nơi làm “ăn kết” chạy tờ về quan trên để cho biết: xác người thầu nọ chẳng có một đồng xu dính túi! Mặt khác, nhơn danh thủ quỹ, hương quản Nhan trưng ra hai cái biên nhận tổng cộng bốn ngàn chín trăm năm mươi đồng do người thầu ký tên, lãnh trước rồi… Dân làng nhìn nhau, lắc đầu, bàn tán thì thầm.

Tôi hỏi nhanh:

– Họ hồ nghi ông chủ Nhan sắp đặt giết người thầu để giựt tiền lại?

Lão ung dung hút thêm điếu thuốc, im lặng giây lâu:

– À, thầy đoán chừng như vậy thì tôi nghe vậy. Tôi đâu dám nói gì hơn. Ai đã mắt thấy tai nghe… mà đề quyết thủ phạm là ai! Chỉ biết vài tháng sau, hương quản Nhan xin từ chức, đi Sài Gòn rồi trở về làm chủ của “lô” đất đã có sẵn huê lợi ở Mốp Giăng. Ổng thề chẳng bao giờ đứng ra góp tiền cất ngôi đình khác. Ổng muốn tránh tiếng dị nghị của người đời khi có cuộc lạc quyên thứ nhì. Ổng nói “Thà cất riêng một cái miễu trong điền để tạ ơn đất nước, do tiền túi của một mình tôi xuất ra thôi”.

– Cái miễu đó còn không?

– Còn chớ. Linh hiển lắm. Tôi nói cho thầy nghe hồi bữa hổm rồi mà. Thờ Chúa Ngung Ma Nương. Mai mốt nhứt định ông chủ Nhan nhắc tới tích đó. Tôi nhớ mờ ớ vậy thôi. Nói nhiều quá, mình mang tội với người sống và người chết… Thầy đừng chép vô sách vở, nguy lắm.

Trở về bàn viết, tôi thao thức mãi. Đêm ấy, qua khe cửa, tôi thấy ngọn đèn chong bên nhà lão Tư Hiếm còn leo lét đến nửa đêm. Phải chăng lão cố tình đánh một đòn ly gián giữa tôi và ông bà Henri Nhan? Nhưng, đứng về phía của tôi mà xét, tôi cần tiền ăn cơm, tôi đã lãnh tiền trước của bà Henri Nhan rồi. Tôi tin rằng quyển tiểu sử mà tôi đang soạn thảo chẳng bao giờ in ra. Mà dầu có in thì cũng chẳng ai thèm đọc! Tôi thầm cám ơn lão Tư Hiếm đã nhắc nhở khéo léo cho tôi về ý thức tôn trọng sự thật, bất cứ về vấn đề gì. Câu chuyện ông Henri Nhan giết người rồi kiếm tiền đút lót cho quan Tây để khẩn đất tuy đáng chú ý nhưng tôi chưa vội tin, vì chính lão cũng bảo là còn trong vòng giả thuyết.

Đã quá một giờ đêm.

Viết gì bây giờ? Chuyện mắm chuột, chuyện hột sen. Và đừng đi xa hơn. Tôi ngáp dài, nhướng đôi mắt hơi cay, viết lia lịa, tùy hứng… nhưng trong khuôn khổ, tránh những chi tiết quá lộ liễu khiến ông Henri Nhan có thể hồ nghi rằng tôi đã liên lạc với người tá điền xưa nào của ông để tìm tài liệu.

Bông Hồng Tạ Ơn – Bài kết

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 23 Oct 2025

115. Nguyễn Văn Trung

Nguyễn Văn Trung Sinh năm 1937 tại Chợ Lớn, tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định-Sài Gòn. Rồi ông qua Nhật Bản tu nghiệp về ngành sơn mài. Ở Nhật về ông được bổ nhiệm làm giáo sư giảng dạy tại các trường Cao Đẳng Mỹ Thuật, Bách Khoa Trung Cấp, Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật. Ông chỉ thực sự bắt đầu sáng tác từ 1993, sau khi ở các trại cải tạo ra, một khởi đầu khá muộn màng. Ông dùng gần đủ các chất liệu như sơn dầu, acrylic, màu nước, mực, để vẽ. Nguyễn Văn Trung cũng không theo một trường phái, một khuynh hướng nhất định nào. Ông vẽ theo cảm hứng. Vẽ như một công việc. Vẽ vì “thấy” cái đẹp.

Vẽ để “tìm” cái đẹp. Vẽ như “người mù đi tìm ánh sáng”. Vẽ xong “nhiều khi cũng không biết vì sao mình vẽ như thế”, Nguyễn Văn Trung “thú thực” với bạn bè vậy. Ông khắc gỗ rồi in thành tranh, thêm vào đấy màu sắc. Những bức sơn dầu, mực Tầu, màu nước, vẽ xong được mài nhẫn, một loại tranh chắc còn phải chờ để được đặt tên. Nguyễn Văn Trung rất tự hào về cái quá trình học hành trường quy nghiêm chỉnh của mình.

Tranh sơn mài của Nguyễn Văn Trung, nhất là những bức có nhiều màu xanh, chứng tỏ ông nắm vững kỹ thuật làm sơn mài. “Xanh” được coi là “màu khó lên” đối với sơn mài cổ truyền của chúng ta, nhưng trong tranh Nguyễn Văn Trung, dưới lớp sơn phủ, những khu rừng, những chiếc lá chẳng hạn, vẫn giữ được nguyên vẻ tươi thắm, mơn mởn. Nguyễn Văn Trung vẽ đủ loại: chân dung, ấn tượng, trừu tượng, dã thú, tư nhiên … nhưng những bức vẽ phong cảnh của ông vẫn dễ dàng chiếm được cảm tình của người xem hơn cả.

Trước khi tới dịnh cư tại Hoa Kỳ qua diện HO ông đã có dịp đi thăm nhiều vùng đất nước, cả miền Bắc lẫn miền Nam. Huế là bản quán của ông không kể làm gì. Người ta có cảm tưởng Nguyễn Văn Trung đi đến đâu vẽ đến đấy. Có lẽ vì thế phòng tranh của ông đã được mang tên là “Một Thoáng Việt Nam”. Nếu người xem có bị choáng ngợp vì số lượng tranh Nguyễn Văn Trung đem trưng bầy, thì đó chỉ mới là một phần nhỏ nhưng gì ông đã vẽ. Hình như màu sắc tràn ngập trong tâm hồn ông. Màu vàng của những cánh đồng lúa chín trong tranh Nguyễn Văn Trung làm cho những ai từng có những kỷ niệm về thời tiết của các miền trung du Bắc Việt tưởng nhớ lại cái nắng hanh làm căng da mặt. Mấy căn nhà mái đỏ trong một xóm quê, lũ trẻ chơi đùa dưới những bóng cây, tựa một bài hát của Hoàng Quý được vẽ lại. Nói là vẽ lại vì màu sắc “mới” quá. Bức hoa đào của ông cũng vậy. Hoa và hình ảnh người đàn bà trong tranh dường được nhìn qua một tấm gương trong suốt. Khi yêu người ta nhìn thấy mọi sự đều sáng hơn một chút chăng? Có vẻ như người ta nhìn thấy cái tình yêu ấy trong những bức tranh Nguyễn Văn Trung vẽ phong cảnh, nhất là phong cảnh miền Bắc của đất nước. Tranh của Nguyễn Văn Trung sẽ được trưng bày tại phòng sinh hoạt của Nhật Báo Người Việt từ ngày 09/1/2006 đến 13/1/2006.

Xin nói thêm: họa sĩ Nguyễn Văn Trung không phải là giáo sư Nguyễn Văn Trung [Đại Học Văn Khoa của chúng ta xưa] tác giả các tập Nhận Định.

Tranh Sơn Mài Nguyễn Văn Trung

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 23 Oct 2025

114. Nguyễn Cao Đàm

Chúng ta vừa mất đi thêm một nhiếp ảnh gia tài ba: Nguyễn Cao Đàm.

Ông mất tại Úc Đại Lợi, ngày 4 tháng 6 năm 2001. Ông sinh ngày 12 tháng 5 năm 1916. Nguyễn Cao Đàm bắt đầu tham gia vào nghệ thuật nhiếp ảnh ở khoảng tuổi 30. Nhưng cùng với sự tham gia của mình ông cũng đánh dấu mốc sinh hoạt của ngành nhiếp ảnh nghệ thuật Việt Nam thời ấy Vì, cùng với những Lê Đình Chữ, Phạm Ngọc Chất, Chen Fou Lee, một nhiếp ảnh gia người Trung Quốc, nhưng rất thích phong cảnh Việt Nam, ông đã góp phần nâng sinh hoạt nhiếp ảnh Việt Nam lên thành một ngành nghệ thuật, ngang hàng với những ngành nghệ thuật tạo hình khác.

Nhưng Lê Đình Chữ hình như đã ngưng lại ở ngay bước đầu ấy. Phạm Ngọc Chất làm việc không đều đặn lắm. Chen Fou Lee cuối cùng cũng chỉ như một người khách. Nguyễn Cao Đàm tiếp tục cầm máy và đã tạo được nhiều uy tín, không phải chỉ đối với giới thưởng ngoạn trong nước mà còn cả trên thế giới nữa. Ông đã được trao tặng nhiều huy chương cao quý trong các cuộc triển lãm quốc tế ở Ý, ở Bỉ, ở Đức, Singapore, Tây Ban Nha v.v …

Ông cũng được Hoàng Gia Bỉ trao tặng tước hiệu Honor Kortrijk, tước hiệu chỉ được trao tặng cho người nào ba lần chiếm giải nhất trong các cuộc thi do họ tổ chức hàng năm. Dĩ nhiên, với những cuộc thi có tầm vóc quốc tế như thế, chiếm giải nhất một lần đã là chuyện khó. Ba lần chiếm giải nhất trong một Salon là một điều không tưởng, nếu không có thực tài.

Nguyễn Cao Đàm cũng đã cho xuất bản nhiều sách bàn và dạy về nghệ thuật chụp ảnh. Sách của ông đã được tái bản nhiều lần. Điều ấy chứng tỏ những kinh nghiệm về công việc của ông vẫn còn được trân trọng.

Ông đã trích và cho phổ biến một số tác phẩm của mình trong cuốn Việt Nam Quê Hương Yêu Dấu, được rất nhiều người yêu thích, kể cả những người ngoại quốc, vì song song với bản Việt ngữ còn có một bản Anh ngữ có tên là “Vietnam: Our Beloved Land”

Ảnh của Nguyễn Cao Đàm rất gần gũi với đời thường. Một Chuyến Ra Khơi, Một Người Say Rượu, Vài Lá Trầu Và Mấy Quả Cau, Bà Cháu Ngồi Chải Tóc … Bức ảnh chụp một thiếu nữ mặc áo len, ngồi sau một chiếc giại, có nắng rọi lọt từ ngoài sân vào, tạo không khí mùa đông miền Bắc, vừa có cái ấm áp của nắng, vừa có cái nồng ấm của tuổi xuân. Bức chụp hình bà mẹ ôm con, mặc yếm, [ôi cái yếm của Việt Nam, sao mà đẹp đến thế], trên lưng người mẹ đọng một giọt mồ hôi, còn cho thấy một Nguyễn Cao Đàm nòi tình và dí dỏm nữa. Cái đặc biệt của ảnh Nguyễn Cao Đàm, cũng như tranh Thái Tuấn, là nhìn vào, người ta có thể nhận thấy ngay đó là tác phẩm của một người Việt Nam. Chỉ có người Việt Nam, mới vẽ được như thế, chụp được như thế. Trả lời một cuộc phỏng vấn Nguyễn Cao Đàm nói:

“Ảnh phải có chiều sâu, có nội dung, chứa đựng một cái gì …cái gì đó là đạo đức, là tình tự dân tộc”.

Ông giữ vững quan niệm ấy trong sáng tác, và chuyển đạt đầy đủ tới người xem ảnh. Cái hồn ảnh của ông, cái mà ông gọi là tình tự dân tộc, người ta có thể tìm thấy trong bất cứ tác phẩm nào của Nguyễn Cao Đàm, dù đó là một bức phong cảnh, chân dung hay tĩnh vật. Cái nghiêm trang của ông nằm ngay trong cách ông bố cục ảnh. Những ngày cuối cùng, theo thân nhân của ông, ông nhắc nhiều đến những con đường ở Sài Gòn. Có lẽ những kỷ

niệm trở về với ông. Câu hỏi cuối cùng của ông là: “Nguyễn Mạnh Đan đâu rồi?”. Bà đã trả lời: “Ông ấy ở Việt Nam chứ có ở đây đâu mà ông hỏi?”.

Ông giao thiệp với mọi người bằng tình chân thật, lúc nào cũng vui vẻ, không bao giờ để người khác biết và bận tâm vì những chuyện riêng của mình. Nguyễn Cao Đàm mất là một thiệt thòi lớn cho nhiếp ảnh Việt Nam.

Nhưng những ngày gần đây, người ta thấy sinh hoạt nhiếp ảnh Việt Nam ở hải ngoại dường như nở rộ. Các thế hệ kế tiếp đã có nhiều nhân tài, đạt được nhiều thành tích vẻ vang. Không biết có bao nhiêu người trong đó đã nhận được từ Nguyễn Cao Đàm một chút gì đấy cho cuộc chơi, cho nghề nghiệp?

Kẻ viết bài này có hân hạnh được quen biết ông trong những ngày ông làm việc ở Bộ Thông Tin [Sài Gòn]. Trên bàn làm việc của ông, có một cái hộp nhỏ, ông dùng để gạt tàn thuốc. Trên nắp cái hộp ấy, ông lấy đanh ghim khắc hai chữ: “Lò Cừ”. Nhớ ông, tôi nhớ đến đến cái hình ảnh ấy đồng thời với nụ cười hình như không có gì để nung nấu của ông.

Joyous climbing

Độc Hành Tìm Xác Bạn

Lê Thiệp

Post by Sơn râu 22 Oct 2025

Mỹ Voi trang bị đến tận răng. Ngoài chiếc máy quay phim và hai ba chiếc máy ảnh quanh người còn một băng vải dầy với những cục pin và những cuộn phim. Trong đám lính tráng đứng lố nhố chờ trực thăng, Mỹ Voi to vượt hẳn lên. An Lộc vẫn bị cô lập và phương tiện ra vào duy nhất là trực thăng. Bọn nhà báo chúng tôi nếu muốn vào, chỉ có nước cứ chờ và may lắm thì có thể quá giang các phi cơ chở binh sĩ tăng cường hoặc chở đồ tiếp liệu. Ưu tiên hạn chế đó khiến bon chen để quá giang rất khó khăn. An Lộc cần lính, cần đồ tiếp liệu và không có ai rảnh rang để chiều những tên nhà báo. Đôi khi có được một hai chỗ, chúng tôi phải bắt thăm. Khi viên phi công gật đầu thì Mỹ Voi đẩy tôi lên trước và nhanh như cắt nhảy lên theo. Từ bãi trực thăng dã chiến vào An Lộc có lẽ chỉ chưa đến nửa giờ, nhưng viên phi công đã dặn khi vào đến An Lộc máy bay chỉ xà xuống và mọi người phải nhảy ngay để trực thăng sẽ cất cánh trở ra lập tức. Phải như vậy vì đề lô cũng như pháo địch đều nhắm vào trực thăng, một mục tiêu rất hấp dẫn.

Đúng như dự trù, khi chiếc trực thăng xà xuống cách mặt đất chừng hơn một thước và tôi thấy cái biển đề Đồn Điền Xa Cát thì những người lính nhanh như chớp nhảy xuống. Tôi còn dụ dự, Mỹ Voi vừa hét “nhảy đi” vừa đẩy tôi xuống. Đúng lúc hai đứa tôi đang chúi người chạy về phía trước thì một tiếng nổ inh trời. Cho tới sau này, tôi vẫn không biết đó là hỏa tiễn 122 ly hay súng cối. Trong chớp nhoáng chỉ thấy bụi mù và Mỹ Voi lộn vòng vòng trên mặt đất như con quay, máy một nơi người một nẻo. Tôi chồm theo, thấy anh lăn lộn miệng thì lảm nhảm “Kỳ này chết thật.”

Thú thật tôi sợ thấu trời xanh, cố đè anh xuống. Chỉ một thoáng sau, anh như tỉnh, bảo “Đau quá chắc què rồi.” Tôi không có nhiều kinh nghiệm nhưng lanh trí bảo “Nằm im, để xem bị ở đâu đã.” Tôi không thấy vết thương và cũng không thấy máu chảy nên hỏi “Ông đau ở đâu?” Mỹ Voi nhăn nhó, cố quặt tay ra sau sờ vào mông. Tôi bảo “Duỗi chân ra co chân vào thử xem.” Hai đứa nằm dúi ở bên lề dưới cái mương đã khô, pháo của Bắc Việt nã thêm vài ba trái và chiếc trực thăng mất hút trên trời. Mọi sự có vẻ yên, Mỹ Voi cố ngồi dậy được nhưng vẫn nhăn nhó vì đau. Khi đi hẳn vào chỗ an toàn và thấy anh đã đi lại được, tôi mới đủ bình tĩnh để đùa “Chưa bể gáo đâu, ông ơi!” Tôi thấy phía hông chiếc quần của Mỹ Voi thủng một lỗ cỡ đồng xu nên thò tay vào túi quần sau của anh cố lôi chiếc bóp ra. Chiếc bóp khá dày và xem xét thì thấy một mảnh đạn to chỉ cỡ hột ngô xuyên qua lớp lớp đủ thứ thẻ bọc plastic, thẻ quân nhân, thẻ MACV, thẻ nhà báo, thẻ căn cước và dăm ba cái thẻ cùng một sổ dày chi chít số điện thoại. Mảnh pháo kích văng trúng Mỹ Voi nhưng nhờ có chiếc bóp dày cộm đó mà anh thoát.

Khó tưởng tượng một mảnh nhỏ như vậy mà có thể đẩy một người to như Mỹ Voi lộn đi năm bảy vòng. Thật ra, đây không phải lần đầu, tôi chia xẻ cái chết trong đường tơ kẽ tóc với Mỹ Voi. Trước đó mấy ngày, chúng tôi đã cố vào An Lộc và khi biết một chi đoàn thiết giáp đang có mặt gần đó chúng tôi đã mò mẫm tính tháp tùng. Viên đại úy chỉ huy vui vẻ tiếp đón và buổi tối trước hôm hành quân lên đường, đại úy Đức Tài ân cần đãi tụi tôi nhậu đế với đồ nhậu rất dã chiến trong đó có ration C của Mỹ. Khi khởi hành, Đức Tài rủ tụi tôi ngồi trên thiết vận xa M116 chỉ huy. M116 trang bị nhiều máy móc truyền tin và đủ thứ máy móc điện tử khác, nhưng Mỹ Voi nhất định lái chiếc jeep đi theo vì có thể tụi tôi sẽ phải quay về bất cứ lúc nào. Trước khi khởi hành, cả đám tụi tôi năm sáu đứa được đại úy Đức Tài thuyết trình về lộ trình và cảnh cáo tụi tôi phải cẩn thận, vì đoàn xe phải băng qua một quãng trống không có chướng ngại vật che và như vậy rất dễ cho pháo địch. Nghe để mà nghe vậy, nhưng nhìn đoàn những chiến xa hùng hậu với pháo tháp như những khối thép, chả đứa nào trong tụi tôi bận tâm cả. Khi từ quốc lộ vừa băng ngang một cái trảng lớn thì pháo địch bắt đầu nổ tứ tung. Những tiếng réo và sau đó là tiếng nổ nghe đến rợn người khiến Mỹ Voi rúm lại và chiếc xe jeep chúi vào một lùm cây. Cả bọn nhào xuống nằm bẹp dưới đất. Thú thật, tôi không rõ có phải pháo của thiết giáp hoặc pháo yểm trợ từ xa trả đũa hay không nhưng chỉ nghe đạn nổ cùng tiếng rít trên không. Mọi sự diễn ra nhanh quá và không lâu sau đó tất cả bỗng im như tờ.

Tôi nhỏm người đứng lên. Trận An Lộc kéo dài cả tháng rồi và các đám cây bị chặt cụt cháy nham nhở giơ những cành còn lại như những bộ xương khô. Từ phía trước có tiếng la inh ỏi “Đại úy bị rồi”, “Đại úy bị rồi.” Chiếc thiết vận xa chỉ huy của Đức Tài trúng pháo và ông bị thiêu trong lòng xe. Khó mà nghĩ chỉ mới tối qua chúng tôi còn ngồi trong ánh nến lung linh nhậu đế và nói chuyện văn thơ. Đức Tài thuộc nhiều thơ và tôi còn nhớ ông cao hứng đọc thơ Đinh Hùng:

Hôm nay có phải là thu.

Mây năm xưa đã phiêu du trở về.

Cảm từ em bước chân đi.

Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn.

Khi thấy chiếc poncho gói xác tạm quàn, chờ đưa ông về hậu cứ, chúng tôi đến nghiêng mình, mắt rớm lệ. Chuyện chết sống trong một nước chiến tranh không làm ai ngạc nhiên nhưng khi đối diện với thần chết là một chuyện khác. Tôi nhớ vào thời kỳ Mùa Hè Đỏ Lửa, chúng tôi bị kẹt tại Kontum nhiều ngày không cách gì thoát được vì phương tiện duy nhất rời khỏi nơi đây là đường hàng không. May mắn, khi máy bay riêng của tướng John Paul Vance ghé trong cuộc thị sát chiến trường có hai chỗ dư cho chúng tôi và khi bốc thăm thì tôi và Nguyễn Thế Tuấn Hải của đài Tiếng Nói Tự Do VOF được quyền vù đi trước. Ông bạn này có bí danh là Hải Lùn nhưng ăn to nói lớn và nhậu như hũ chìm. Phi cơ từ Kontum về Pleiku phải bay qua vùng Chư Pao nơi có một hẻm núi và chính nơi đó Cộng Sản Bắc Việt bố trí một hệ thống phòng không vô cùng dữ dội.

Trước khi leo lên phi cơ, viên phi công dặn dò rất kỹ và chúng tôi đều cài dây an toàn. Hai đứa tôi là người Việt duy nhất trên phi cơ ngồi lọt thỏm giữa những người lính Mỹ dềnh dàng trông còn to hơn với nón sắt, áo giáp và đủ thứ trang bị lỉnh kỉnh khác. Hình như mọi người ngồi trên trực thăng đều căng thẳng vì biết Chư Pao.

Quả nhiên khi bay giữa hai mỏm núi thì phi cơ trúng đạn, dù bay ở cao độ khá cao. Tôi không biết chuyện gì xẩy ra, chỉ thấy đột nhiên trực thăng chao đi, đảo vòng và mọi người nằm rạp xuống. Hải Lùn chúi trước mặt tôi và tôi thì hồn bất phụ thể. Phi cơ cứ thế tiếp tục chao đi chao lại giữa hai mỏm núi. Hải Lùn la chói lói “Thiệp ơi, tao chết rồi.” Phi cơ cứ chúi xuống. Tôi nhìn thấy cây cối xanh rờn dưới đất nghiêng đi, nghiêng đi và cũng nghĩ thế này là đi đứt. Hải Lùn chúi xuống trước mặt tôi, một tay ôm lấy mắt. Nói thì lâu nhưng mọi sự diễn ra nhanh đến độ tôi không định thần được.

Khi phi cơ đã lấy được thăng bằng, Hải Lùn tiếp tục la “Tao mù rồi. Tao mù rồi.” Tôi cố đẩy anh ngồi dựng lại, lôi tay anh ra xem có bị thương không. Một vệt máu chảy ra nơi khóe mắt, tôi đưa tay chùi. Hải Lùn bỗng như tỉnh lại, hỏi “Kính tao đâu.” May quá, tôi vớ ngay được cặp kính cận dầy cộm tròng vào mắt anh. Chuyện lạ nhất tới mãi sau này tôi vẫn tự hỏi là điều gì khiến trong hoàn cảnh thập tử nhất sinh đó, Hải Lùn vẫn khư khư ôm chiếc máy chụp hình. Ngay khi phi cơ bình phi, viên phi công Mỹ quay xuống hỏi có ai bị thương không. Tôi ngồi xoay lưng về phía người phi công nên không rõ, nhưng Hải Lùn nhanh như chớp đưa máy lên bấm lia lịa. Chiếc trực thăng trúng đạn, kính vỡ văng mảnh tứ tung và viên phi công lãnh đủ, mặt đầy máu. Tấm hình một phi công Mỹ mặt máu me vẫn lái phi cơ an toàn về căn cứ Holloway ở Pleiku hôm sau được đăng tải khắp thế giới. Tôi nhớ là khi trực thăng đáp xuống thì xe cứu thương, xe cứu hỏa túa ra và những người bị thương trong đó có Hải Lùn được băng bó săn sóc chu đáo. Tối hôm đó, hai đứa tôi được anh em lính tráng đãi nhậu ở Câu Lạc Bộ Phượng Hoàng. Tôi và Hải Lùn nhậu say mờ người và khi bước chân ra ngoài, hai đứa ôm nhau khóc tức tưởi. Tại sao khóc và làm sao có thể khóc được vẫn là một câu hỏi của hai đứa tôi khi ôn lại chuyện mấy chục năm trước.

Trong một hoàn cảnh khác và cũng vào lúc mấp mé tử sinh, Hải Lùn đã chụp một loạt hình nổi tiếng. Khi bốn trực thăng bay vào An Lộc, chiếc đầu có Bình Rỗ, chiếc thứ nhì có Hải Lùn và Dương Phục của Đài Quân Đội, Nguyễn Mạnh Tiến của Đài Sài Gòn. Khi vừa đến không phận đồn điền Xa Cam thì phi cơ Bình Rỗ trúng đạn bốc cháy và phi cơ thứ nhì xà xuống nhưng pháo và AK dữ quá khiến không xuống được phải bốc lên cao trở lại. Chính lúc đó, phi cơ trúng đạn và rơi xuống một bãi cỏ. Ai nấy chạy túa ra nấp vào những bụi cây. Rất may hai gunship có mặt liền tại chỗ bắn bảo vệ và ngay sau đó một trực thăng tới câu mọi người lên. Trong cảnh thập tử nhất sinh đó, Nguyễn Mạnh Tiến vẫn mở máy thu và nói như lạc giọng vào máy ghi âm tường trình sự việc xảy ra trong đó có lời nhắn nhủ “Đây là bản tường trình cuối cùng của đời phóng viên.”

Bản tường trình này may quá không phải là cuối cùng của đời phóng viên của anh nhưng đã được phát thanh với âm thanh thực của súng đạn cùng tiếng phi cơ cũng như tiếng la hét làm nền tạo một xúc động lớn cho thính giả. Tấm hình Hải Lùn chụp chiếc trực thăng câu người giữa chiến địa được tung ra khắp thế giới. Khi thấy tấm hình chạy trên trang nhất tờ Stars and Stripes, tôi hỏi và Hải Lùn cười khà khà bảo “Một xín.” Một xín là một ngàn đô la đủ cho cả nhà Hải Lùn sống vài tháng nhưng cái chua chát là không hề có tên Nguyễn Thế Tuấn Hải chua phía dưới như tác giả của tấm hình mà chỉ thấy mấy chữ UPI.

Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt và danh từ “leo thang” chỉ là thuật ngữ của báo chí Mỹ không thể phản ánh hết cái khốc liệt đang diễn ra từng giây phút trên mảnh đất này. Tin tức về Việt Nam ngày nào cũng được chạy tít lớn trên báo chí thế giới và những bản tin teletype từng giây từng phút đánh đi đủ thứ tin về Việt Nam. Nhưng tin còn chậm vì phải chờ báo và không ăn khách bằng hình ảnh, nhất là hình ảnh sống động trên truyền hình. Đạo quân săn phim săn hình của ngoại quốc đông như kiến. Rất nhiều người đã nổi tiếng vì tường trình về chiến tranh và cũng có nhiều người bỏ mạng trong lúc săn hình. Đáng nhớ nhất là bốn nhiếp ảnh viên trong đó có hai người nổi tiếng — Larry Burrows của Life và Henri Huet của AP — đã chết khi trực thăng bị bắn rơi trên chuyến bay từ Lào về Việt Nam. Nhưng ký giả cừ khôi nhất phải là Bernard Fall, tác giả hai cuốn sách trứ danh Hell in a Very Small Place và Street Without Joy. Nếu tính theo tỷ lệ thương vong thì số binh sĩ Mỹ chết ở Việt Nam rất thấp so với số ký giả hy sinh trong cuộc chiến. Hai người nữa cũng thường được nhắc tới là Francois Sully tử nạn cùng với tướng Đỗ Cao Trí và con của tài tử Errol Flynn là Sean Flynn bị Khờ Me Đỏ chặt đầu.

Không hẳn những bức hình được truyền bá khắp thế giới là do nhân viên chính thức của các báo hay các hãng thông tấn. Khi một bức hình được công bố bên dưới bao giờ cũng ký tên tác giả, nhưng rất nhiều hình chỉ ghi UPI hay Reuter thì phải hiểu thế nào? Trước hết, bản quyền là của các hãng này và người chụp không là nhân viên chính thức. Cuộc cạnh tranh săn tin, săn hình chiến tranh Việt Nam vô cùng gay go và các cơ quan ngoại quốc sẵn sàng bỏ tiền ra mua bất cứ tin tức, tài liệu hay phim hình nào có giá trị. Riêng về phim ảnh, họ mua của ai, đâu là nguồn cung cấp?

Chúng tôi vẫn đùa với nhau là đạo quân thứ năm hay mỉa mai hơn những “Kẻ Bán Gáo.” Gáo là cái đầu và quả thật lang thang giữa súng đạn thì vỡ đầu bể gáo không có gì đáng ngạc nhiên, nhất là khi không được võ trang hay trang bị mũ sắt áo giáp. Khí giới của họ là máy quay phim, chụp hình.

Phóng viên Việt Nam đặc biệt là người thuộc các đơn vị của Tâm Lý Chiến, Chiến Tranh Chính Trị hay các báo quân đội vì công tác và nhiệm vụ là những người phải xông xáo nhất đi xuống sâu nhất. Phải ghi nhận họ là những người vững tay nghề cầm máy không thua bất cứ ông Tây ông Mỹ nào nhưng lương bổng vô cùng hạn hẹp vì đa số là hạ sĩ quan đồng hóa.

Đáng nhớ nhất và đóng góp nhiều nhất phải nói tới những người đã tốt nghiệp khóa Phóng Viên Tiền Tuyến. Tổng cộng có 25 khóa sinh theo học lớp này. Họ được học quay phim, chụp hình với các huấn luyện viên người Mỹ như các ông Carter và Water, được huấn luyện về kỹ thuật săn tin, viết tin với các tên tuổi như Văn Quang Phạm Huấn, Nguyễn Đạt Thịnh là những sĩ quan hoạt động lâu năm trong ngành báo chí. Trong số 25 người trở thành phóng viên quân đội đã có tám người hy sinh. Tỷ lệ cứ ba thì chết một. Xin ghi tên của những anh em này vì thật sự chưa có một nén hương nào cho họ:

– Ngô Minh Dũng tử thương tại Đức Cơ, 1962

– Nguyễn Thanh Liêm, Đông Hà, 1971

– Trần Văn Nghĩa, Mỹ Chánh, 1972

– Vũ Tiêu Giang, Quân Khu 2, 1972

– Trần Văn Hiệt, Thừa Thiên, 1972

– Nguyễn Ngọc Bình, An Lộc, 1972

– Nguyễn Văn Hiếu, An Lộc, 1972

– Lao Quấn, An Lộc, 1972

Danh sách này chưa kể đến hơn chục phóng viên khác bị thương như Nguyễn Cầu bị thương tới sáu lần. Đóng góp của những phóng viên này chưa được ai ghi nhận trong khi bất cứ phóng viên ngoại quốc nào chết hoặc bị thương đều được cả thế giới biết đến. Có cầu thì có cung và đói bụng thì đầu gối phải bò. Khi đi công tác chính thức cho cơ quan thì thủ thêm một máy phụ. Những thứ phụ này đôi khi là nguồn lợi chính để nuôi vợ nuôi con. Khi quay hay chụp được một pha nào, một cảnh nào hấp dẫn, các hãng ngoại quốc sẵn sàng mua ngay và chỉ cần một tấm hình được xử dụng, thù lao có khi bằng cả tháng lương. Đám phóng viên này lặng lẽ ít huênh hoang nên công chúng bên ngoài nghề ít biết đến họ và ngay cả những hình chụp nổi tiếng trên thế giới do chính họ cầm máy cũng không được ký “by line” như tấm hình chụp cảnh binh sĩ đu tòng teng trên trực thăng tải thương khỏi An Lộc hay tấm hình rất sống động của Thái Khắc Chương chụp cảnh một sĩ quan Mỹ dang thẳng cánh đấm vào mặt một ông già Việt Nam khi ông cụ cố leo lên xe GMC để thoát khỏi vòng lửa đạn.

Khi lật những hình ảnh được ghi lại trên sách báo Mỹ, chúng ta thường bị đập vào mắt hình tướng Loan hay hình Nick Út chụp em bé bị bom napaln trần truồng chạy ra khỏi làng. Tìm lại tấm hình của Chương vẫn là một ám ảnh của tôi. Tất nhiên nếu có tìm ra thì cũng không có tên Chương. Mỹ Voi to con nhưng tính hiền khô không hay nói nhưng lại đầy tình cảm và rất thân với Nguyễn Ngọc Bình tự Bình Rỗ. Một lần Mỹ Voi thủ thỉ “Tôi thương thằng Bình vì nó thực thà, không bon chen và tận tụy với nghề. Đối với nó, cơ quan đơn vị là chính còn tiện tay chụp được gì để bán hay không là phụ, nhất là lúc nào nó cũng đắn đo xem hình chụp có nguy hại gì cho phe mình hay không. Nó nghèo lắm lại đông con nữa.”

Bình Rỗ tử nạn trong chuyến bay vào An Lộc. Phải vài hôm sau, tin Bình chết mới được xác nhận nhưng trong báo cáo chính thức chỉ ghi là mất tích vì phóng viên quân đội xem ra khá tự do khi đi công tác không cần qua các thủ tục hành chánh nhiêu khê. Có phải vì vậy mà khi chết, các đơn vị gốc đôi khi chỉ báo cáo mất tích tại trận chăng? Thế thôi. Chiến trận đang càng ngày càng sôi động và chết chóc xẩy ra khắp nơi như cơm bữa không ai có thì giờ để lo chuyện tìm xác một hạ sĩ quan như Bình.

Tôi hiểu điều này, nhưng Mỹ Voi ấm ức lắm, nhất là khi thấy vợ người bạn thân tức tưởi “Anh Bình chết mất xác chẳng ai lo, chẳng ai hỏi han một lời.”

Khi An Lộc đã hoàn toàn giải tỏa, Mỹ Voi âm thầm một mình trở lại chiến trường quanh An Lộc. Giữa các khu rừng cao xu ngả nghiêng bật gốc, những xác xe tăng của cả hai phía, giữa những cái bầu ngập xình hay phủ toàn bèo, Mỹ Voi nhất quyết tìm cho được Bình Rỗ. Bom đạn mìn chưa nổ vẫn nhan nhản và xác ta, xác địch, cả xác thường dân nay không còn phân biệt nữa mà chỉ là những bộ xương khô, thịt đã rã hết.

Suốt ba ngày lủi thủi một mình trên chiến địa đã ngưng tiếng súng, Mỹ Voi đi nhìn từng xác một, cuối cùng cũng tìm ra được bạn nhờ chiếc máy quay phim Bell Howell 35 ly văng ở một gốc cao su. Bình Rỗ nằm dựa vào gốc cây có lẽ khi bị rớt chỉ bị thương cố lết lại đó nhưng cuối cùng kiệt lực và khi lật xác thì nhờ chiếc thẻ bài nên yên tâm không sợ nhầm.

Mỹ Voi gói ghém chút xương tàn của bạn đem về. Bài báo về chuyện Mỹ Voi đi trở lại chiến địa tìm xác Bình gây một chút phản ứng. Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Bình được truy thăng chuẩn úy và hôm đám tang anh có rất nhiều quan chức trong quân đội dự.

Bọn “Bán Gáo” chúng tôi đều nghĩ phải làm một cái gì đó để tương trợ lẫn nhau. Người anh cả lớn tuổi nhất, anh Phạm Huấn đứng ra thành lập Phân Bộ Ký Giả Chiến Trường thuộc nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam những mong thực hiện ước vọng này. Có điều chúng tôi chỉ biết gặp nhau, ăn nhậu và chia xẻ những ngọt ngào cay đắng nghề nghiệp còn chuyện tương trợ hoặc bảo vệ lẫn nhau thì quả thật không đi đến đâu.

Trích từ sách Lững Thững Giữa Đời của Lê Thiệp

Papillon Người Tù Khổ Sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 22 Oct 2025

Bài 9 – Giờ hoàng đạo

Thủy triều lên sẽ kéo dài sáu giờ. Thêm một tiếng rưỡi đợi nước ròng nữa: như vậy tôi có thể ngủ bảy tiếng đồng hồ, mặc dầu tôi đang ở vào một trạng thái phấn khích dữ dội. Tôi phải ngủ bằng được, vì một khi đã ra khơi rồi, tôi còn ngủ vào lúc nào được nữa? Tôi nằm xuống giữa cái thùng ton-nô và cái cột buồm, Maturette căng một tấm chăn làm mái giữa cái thùng và tấm ván ngang, thế là tôi đã được che mưa che gió tươm tất, tha hồ ngủ cho kỹ. Tuyệt nhiên không có gì đến quấy rầy giấc ngủ say như chết của tôi, dù là một giấc chiêm bao, là mưa gió hay là tư thế nằm không thoải mái. Tôi ngủ, ngủ mãi cho đến khi Maturette đánh thức tôi dậy:
– Papi ơi, hình như đến giờ rồi, hay gần gần như thế. Nước thủy triều bắt đầu xuống từ lâu rồi.
Tôi thò tay xuống nước thì thấy luồng nước chảy về phía mũi thuyền, tức về phía biển, rất nhanh (chúng tôi cho thuyền quay mũi sẵn ra biển). Trời đã tạnh mưa. Một vành trăng khuyết cho phép chúng tôi nhìn thấy khá rõ trước mặt chúng tôi hàng trăm mét, dòng sông đang cuốn đi những đám cỏ, những thân cây, những khối gì đen ngòm. Nơi chúng tôi buộc thuyền không có gió. Liệu ra giữa sông sẽ có chăng? Gió có mạnh không? Chúng tôi từ dưới lùm cây rậm chui ra, thuyền vẫn buộc vào một rễ cây bằng một cái nút thòng lọng. Tôi nhìn lên trời để xác định đâu là bờ biển, đâu là nơi dòng sông kết thúc và cửa biển bắt đầu. Chúng tôi đã xuống đến gần cửa biển hơn nhiều so với dự tính, và tôi có cảm giác chỉ độ không đầy mười cây số nữa là ra đến biển. Chúng tôi uống mấy ngụm rượu rhum cho thật tỉnh người. Tôi trưng cầu ý kiến hai bạn: ta dựng cột buồm ở đây chăng? Phải, chúng tôi cùng dựng nó lên: nó đứng rất vừng trên cái ổ của nó ở đáy thuyền, và cái lỗ tròn trên tấm ván ngang khoét vừa khuýp giữ nó rất chặt. Tôi kéo buồm lên nhưng không trương ra, cứ để nó cuộn tròn xung quanh cột. Buồm chéo và buồm foc đã được sắp sẵn đâu vào đấy để Maturette có thể lắp vào ngay khi nào tôi thấy cần. Để trương buồm ra, chỉ cần buông sợi dây quấn nó xung quanh cột buồm. Chính tôi sẽ từ chỗ cầm lái mà làm thao tác này. Maturette ngồi ở phía trước cầm chèo; tôi cũng cầm chèo ngồi ở phía sau. Phải rứt ra khỏi bờ thật mạnh và thật nhanh, vì luồng nước cứ ép chúng tôi vào đấy.

– Coi chừng, chuẩn bị Lên đường, tùy ơn Chúa.
– Tùy ơn Chúa! – Clousiot nhắc lại.
– Xin phó thác thân tôi vào tay Người, – Maturette nói.
Chúng tôi giật mạnh con thuyền ra khỏi bờ. Rất đều tay, chúng tôi vục chèo xuống nước và kéo thật mạnh: thuyền tách ra một cách dễ dàng. Mới ra cách bờ chưa được hai mươi thước mà đã đi được một trăm thước về phía xuôi. Đột nhiên gió ập tới và đẩy chúng tôi ra giữa sông.
Lắp buồm chéo và foc, dây buộc cho chặt. Gió lùa vào hai cánh buồm, và chiếc thuyền chồm lên như một con tuấn mã rồi lao tới, nhanh như mũi tên. Chắc chúng tôi lên đường muộn so với giờ đã định, vì dòng sông đột nhiên sáng bừng lên như giữa ban ngày. Có thể trông rõ bờ bên phải thuộc dịa phận của Pháp cách chúng tôi khoảng hai cây số, và bên trái, cách một cây số, là bờ thuộc địa phận Hà Lan. Phía trước mặt có thể trông rất rõ những đợt sóng biển bạc đầu, giống như một đàn cừu.
– Trời đất ơi! Chúng mình nhầm giờ mất rồi, – Clousiot nói. – Liệu có kịp ra biển không?
– Không biết. – Tôi đáp xẵng.
– Xem kìa: sóng biển cao quá, đỉnh sóng trắng quá! Không khéo thủy triều bắt đầu lên rồi cũng nên. Không thể được, tôi vẫn thấy các thứ đang trôi xuôi đấy
Maturette nói:
– Chúng mình không được rồi, chúng mình sẽ không tới kịp.
Tôi liền gắt:
– Câm mồm đi, ngồi cho sát chỗ dây buồm foc và buồm chéo. Cả cậu nữa Clousiot ạ. Cậu im mồm đi cho tôi nhờ.
Đoàng – ình…! Đoàng – ình…? Mấy phát súng các bin bắn về phía chúng tôi. Phát thứ hai tôi định vị được rất rõ ràng. Hoàn toàn không phải bắn từ phía bọn cai ngục, mà là từ phía Guyane thuộc Hà Lan.

Tôi trương buồm lớn. Nó phồng lên mạnh đến nỗi chỉ thiếu chút nữa nó giật cổ tay lôi tôi ra khỏi thuyền. Con thuyền nghiêng hơn bốn mươi lăm độ. Tôi cố hứng gió đến mức tối đa: điều đó chẳng khó gì, vì gió quá nhiều. Đoàng – ình, đoàng – ình, đoàng – ình, rồi không nghe thấy gì nữa. Gió đưa chúng tôi về phía bờ Pháp nhiều hơn, và chắc hẳn vì thế mà tiếng súng trường ngừng bặt.
Thuyền chúng tôi lao đi với một tốc độ khủng khiếp dưới một ngọn gió mãnh hệt tưởng có thể cuốn phăng mọi vật. Thuyền lao nhanh đến nỗi tôi có cảm giác như bị ném về phía giữa cửa bể rồi chỉ vài phút nữa là đâm vào bờ Pháp. Có thể trông thấy rất rõ mấy người chạy ra bờ sông. Tôi từ từ đảo buồm bằng cách kéo thật mạnh sợi lèo. Bây giờ buồm chính đã dòng thẳng trước mặt tôi. Buồm foc tự nó đảo lại, cả lá buồm chéo cũng thế. Chiếc thuyền xoay ba phần tư, tôi liền thả buồm ra và chúng tôi ra khỏi cửa biển với gió thổi thẳng từ sau lưng. Uf! Xong rồi! Mười phút sau, đợt sóng biển đầu tiên tìm cách chặn chúng tôi lại, chúng tôi cưỡi lên trên ngọn nó một cách dễ dàng, và tiếng suýt-suýt của con thuyền khi còn lướt trên sông nhường chỗ cho tiếng tắc-i-tắc i-tắc của sóng biển vỗ vào ức thuyền. Sóng rất cao, thế mà chúng tôi vượt qua một cách dễ dàng chẳng khác gì một cậu bé nhảy cừu. Tắc-i-tắc, chiếc thuyền leo lên một ngọn sóng rồi lại trượt xuống mà không hề rung hay lắc. Chỉ có tiếng “tắc” của vỏ thuyền đập xuống mặt nước khi từ một ngọn sóng cao trượt xuống.
– Urra! Urra! Ra được rồi! Ra được rồi! – Clousiot gào cật lực.
Và để thêm hào quang cho trận thắng này của chí kiên quyết của chúng tôi trước những sức mạnh của thiên nhiên, Chúa lòng lành đã gửi cho chúng tôi một cảnh mặt trời mọc sáng chói. Các đợt sóng biển cứ tiếp nối nhau theo một nhịp điệu đồng đều. Chúng tôi càng tiến ra biển cả thì sóng càng bớt cao. Nước biển còn gợn bùn trông rất bẩn. Trước mặt chúng tôi, về phía bắc, màu nước trông như đen: lát nữa nó sẽ là màu xanh biếc. Tôi không cần nhìn địa bàn: cứ để mặt trời đúng bên vai phải, tôi lao thẳng phía trước, gió đầy buồm nhưng thuyền không nghiêng nhiều như ban nãy vì tôi buông một phần dây buồm chính, nó chỉ phồng một nửa mà không bị căng. Cuộc phiêu lưu lớn của chúng tôi bắt đầu.
Clousiot nhổm dậy. Anh muốn chồm cả người lên, ngẩng đầu lên để nhìn cho rõ. Maturette liền đến đỡ anh ngồi dậy quay mặt về phía tôi, lưng dựa vào cái thùng ton-nô. Anh vấn cho tôi một điếu thuốc lá, châm lên rồi chuyền cho tôi. Cả ba chúng tôi cùng hút thuốc. 
– Đưa chai rhum đây, ta uống một chầu mừng chuyến vượt cửa biển, – Clousiot nói.
Maturette rót rõ đầy ba cái ca sắt: thế là chúng tôi chạm cốc. Maturette ngồi sát cạnh tôi bên tay trái. Chúng tôi nhìn nhau. Gương mặt hai bạn tôi sáng ngời hạnh phúc. Chắc hẳn gương mặt tôi cũng vậy. Clousiot nói:
– Thưa thuyền trưởng, xin ngài cho biết chúng ta đang đi đâu?
– Đi Columbia, nếu Thượng đế vui lòng.
– Thượng đế vui lòng quá đi chứ! – Clousiot nói. 
Mặt trời lên rất nhanh, chẳng mấy chốc chúng tôi đã khô ráo. Mấy chiếc áo sơ mi của bệnh viện được cải biến thành khăn choàng “burnous” kiểu A-rập. Chốc chốc chúng tôi lại thấp nước đội lên đầu cho mát để khỏi bị say nắng. Biển cả một màu xanh ngọc bích, sóng cao ba mét nhưng rất dài cho nên thuyền đi rất thoải mái. Gió vẫn mạnh, nên khoảng cách giữa chúng tôi và bờ biển tăng lên rất nhanh. Chốc chốc tôi lại ngoái nhìn dải bờ đang mờ dần ở chân trời. Càng cách xa, cái khối màu lá cây ấy càng phô rõ những đường nét thêu thùa bí ẩn của nó ra. Tôi đang mải nhìn về phía sau thì một đợt sóng đánh ngang sườn nhắc cho tôi nhớ đến trách nhiệm của mình đối với tính mạng của các bạn và của bản thân.
– Em đi thổi cơm đây, – Maturette nói.
– Để tớ cầm cái lò cho, – Clousiot nói, – còn cậu cầm cái nồi.
Cái can xăng được chèn rất kỹ ở tít mũi thuyền, nơi tuyệt đối cấm hút thuốc. Cơm chín tới thơm phức. Chúng tôi ăn cơm nóng trộn với hai hộp cá xác-đin.
Sau đó là một chầu cà-phê ngon tuyệt. “Một chầu rượu rhum nhé?” Tôi từ chối, vì trời nóng quá. Vả lại tôi chẳng phải là tay bợm rượu. Cứ chốc chốc Clousiot lại quấn thuốc lá rồi châm lên cho tôi. Bữa cơm đầu tiên trên thuyền đã diễn ra một cách êm đẹp. Cứ vị trí của mặt trời thì lúc bấy giờ là mười giờ sáng. Chúng tôi mới ra khơi được có năm tiếng đồng hồ, nhưng có thể cảm thấy biển dưới đáy thuyền rất sâu. Sóng đã bớt cao, thuyền cắt sóng mà không thành tiếng vỗ. Một ngày tuyệt đẹp. Tôi nhận thấy rằng ban ngày chẳng mấy khi cần đến la bàn. Thỉnh thoảng tôi mới phải so vị trí mặt trời với kim chỉ nam và cứ theo đấy mà định hướng, dễ lắm. ánh nắng phản chiếu trên mặt biển làm cho tôi mỏi mắt. Tôi thấy tiếc là đã không nghĩ đến việc kiếm một cặp kính râm.
Bỗng dưng, Clousiot nói với tôi:
– Tôi gặp được anh ở bệnh viện thật may cho tôi quá!
– Đâu phải chỉ có anh là may? Anh đến cũng là rất may cho tôi. – Tôi nghĩ đến Dega, đến Fernandez… Giá họ đồng ý, có phải bây giờ đã cùng ở đây cả rồi không
– Chưa chắc, – Clousiot nói. Anh sẽ gặp những chuyện rắc rối vì khó lòng có thể thu xếp sao cho thằng A-rập vào phòng đúng lúc thuận tiện cho anh.
– Đúng, Maturette đã giúp ích cho chúng ta rất nhiều, và tôi đang mừng cho mình là đã đưa cậu ấy đi, vì cậu ấy rất tận tâm, can đảm và tháo vát.
– Cám ơn anh, – Maturette nói, – và cám ơn cả hai anh đã không khinh em còn ít tuổi và… ẻo lả thế này, mà vẫn tin tưởng vào em. Em sẽ cố sao cho xứng đáng với lòng tin của hai anh.
Rồi tôi nói: “Cả Francois Sierra nữa, giá có cả anh ta cùng di thì hay biết mấy! Cả Galgani nữa…”
– Cứ như sự tình đã diễn ra thì không thể được, anh Papi ạ. Ví thử Jésus là người đứng đắn, kiếm được cho ta một chiếc thuyền tốt, ta có thể đợi hai anh ấy ở chỗ nấp còn hắn, tức Jésus ấy, có thể giúp cho họ trốn và đưa họ đến đây với ta. Vả chăng, họ đều biết rõ anh và hiểu rằng sở dĩ anh không cho tìm họ chẳng qua là vì không thể làm như thế được mà thôi: à Maturette, nhân thể cũng hỏi cậu luôn, đầu đuôi ra sao mà cậu lại được xếp vào phòng dành cho loại phạm nhân nguy hiểm trong bệnh viện?
– Dạo ấy em không biết là em bị cấm cố. Em đi khám vì em thấy đau họng, và cũng để kiếm cớ đi đâu cho đỡ buồn. Thế rồi ông bác sĩ, khi nhìn thấy em, liền nói: “Xem phiếu của cậu tôi thấy là cậu bị cấm cố ở Quần đảo. Vì tội gì thế – “Thưa bác sĩ tôi không biết ạ Bị cấm cố là thế nào ạ?” – “Thôi được rồi. Chẳng là thế nào cả. Vào bệnh viện đi”. Thế là em được nhập viện, có vậy thôi.
– Ông ta muốn gia ân cho cậu đấy, – Clousiot nói.
Ai mà biết được vì nguyên do gì ông ta làm như thế, cái ông Toubib*(*cách gọi thân mật dùng cho thầy thuốc). Chắc bây giờ ông ta đang tự nhủ:
“Cái cậu có bộ mặt như thằng bé giúp lễ trong nhà thờ ấy kể ra cũng không đến nỗi tồi: nó dám vượt ngục kia mà?”.
Chúng tôi nói chuyện tầm phào một lúc. Tôi nói biết đâu ta sẽ gặp Julot, “con người cầm búa” ấy. Chắc bây giờ anh ta đi xa lắm rồi, trừ phi anh ta vẫn ẩn náu trong rừng”. Clousiot nói: “Tôi ấy mà, lúc ra đi tôi có để lại một mảnh giấy dưới cái gối ấy, đề là: “Đã ra đi không để địa chỉ lại”. Cả bọn cười phá lên.
Chúng tôi dong thuyền trong năm ngày không có chuyện gì xảy ra. Ban ngày, mặt trời, trong cuộc hành trình từ đông sang tây của nó, được tôi dùng làm địa bàn. Ban đêm thì tôi xem địa bàn để chỉnh hướng. Sáng ngày thứ sáu, một vầng thái dương rạng rỡ đón chào chúng tôi, biển lặng hẳn đi, mấy đàn cá chuồn bay vọt lên cách chúng tôi không xa. Tôi mệt nhừ cả người ra.
Đêm qua, để tôi khỏi ngủ quên, Maturette chốc chốc lại lấy khăn lông thấm nước biển lau lên mặt tôi, ấy thế mà tôi vẫn ngủ như thường. Lúc bấy giờ Clousiot dúi điếu thuốc lá đang cháy vào người tôi. Sáng nay, thấy biển lặng gió, tôi quyết định ngủ. Chúng tôi hạ buồm lớn và buồm foc xuống, chỉ để lại cái buồm chéo, thế là tôi lăn ra lòng thuyền ngủ như chết. Lá buồm lớn đã được căng ra trên đầu tôi để che nắng cho tôi. Không rõ tôi đã ngủ được bao lâu thì Maturette lay tôi dậy nói: “Bây giờ chỉ độ mười hai giờ hay một giờ trưa, nhưng em đánh thức anh dậy vì có cơn gió lạnh bắt đầu nổi lên, và ở chân trời, từ phía gió thổi tới, thấy đen kịt lại”.
Tôi choàng dậy và ra ngồi bên tay lái. Cánh buồm foc lúc bấy giờ được căng một mình, kéo chúng tôi đi trên mặt biển phẳng như gương. Sau lưng tôi, về hướng đông, trời đen kịt lại, và gió thổi mỗi lúc một lạnh hơn. Buồm chéo và buồm foc cũng đủ kéo thuyền lướt đi rất nhanh. Tôi cho cuốn lá buồm chính xung quanh cột buồm và buộc lại thật chặt.
– Hai cậu giữ cho vững nhé, vì đây là một trận bão. Những giọt mưa nặng trịch bắt đầu rơi lộp bộp trên lưng chúng tôi. Cái đám đen ngòm trên vòm trời phía đông tiến về phía chúng tôi với một tốc độ thần kỳ, nhìn mà chóng cả mặt: chỉ trong mười lăm phút mà từ chỗ mãi tít ở chân trời nó đã đến ngay sát chúng tôi
Thôi xong, nó đến rồi. Một luồng gió hung hãn vô cùng xô vào chúng tôi. Những đợt sóng bỗng dưng nổi lên một cách bất ngờ như do một phép thần thông, đợt nào cũng sủi bọt trắng xóa. Mặt trời mất đi đàng nào không còm tăm tích, mưa đổ xuống xối xả, xung quanh tối mịt không còn trông thấy gì, và sóng đánh vào thuyền tung tóe quất mạnh vào mặt tôi rát buốt như những nhát roi da. Bão biển. Đây là trận bão đầu tiên của tôi, với toàn bộ giàn nhạc binh khủng khiếp của những sức mạnh thiên nhiên được tháo củi sổ lồng, với đủ lệ bộ sấm, sét, mưa, sóng gào, gió hú, từ khắp bốn phương đổ với vây chặt lấy chúng tôi, đâm bổ vào chúng tôi.
Chiếc thuyền của chúng tôi bị tung lên như một mảnh rơm rác, khi thì nhấc bổng lên đến những chiều cao khó lòng tưởng tượng nổi, khi thì ném xuống những vực sâu thăm thẳm, sâu đến nỗi khó có thể hình dung rằng nó có thể ngoi lên được. ấy thế nhưng, sau những cuộc đâm đầu xuống vực quái đản như thế, nó vẫn bay vút lên, vượt qua một ngọn sóng bạc đầu nữa, rồi cứ thế mà lao tới. Hai tay tôi nắm chặt lấy tay lái, sẵn sàng chỉnh hướng cho con thuyền để đón những đợt sóng cả hiểm nghèo. Có một lần, nghĩ rằng nên cưỡng lại một phần nào đợt sóng cả cao ngất đang tiến tới, tôi hướng mũi thuyền vào nó. Có lẽ tôi quay thuyền quá nhanh, cho nên kết quá là nước tràn vào rất nhiều, ngập hết cả lòng thuyền, phải đến bảy mươi lăm phân nước là ít. Tôi cuống quít quay trở thế nào không biết mà rốt cuộc đã để cho một đợt sóng đánh thẳng vào bên sườn chiếc thuyền – một điều cực kỳ nguy hiểm làm cho nó nghiêng hẳn về một bên, suýt lật úp xuống, đến nỗi bao nhiêu nước trong lòng thuyền đều bị dốc ra ngoài gần hết.
– Cừ quá! – Clousiot reo lên. – Cậu quả là tay sói biển điêu luyện, Bươm bướm ạ! Nhoáng một cái đã hắt hết nước ra rồi!
Tôi nói: “Đấy, đã thấy chưa?”
Cậu ta có biết đâu là do tôi thiếu kinh nghiệm mà cả lũ suýt toi mạng vì để thuyền lật sấp giữa biển khơi Tôi quyết định thôi không vật lộn với các đợt sóng nữa, chỉ lo tới hướng đi, cố gắng giữ sao cho thuyền được thăng bằng đến mức tối đa. Tôi đón sóng chênh chếch ba phần tư, tôi để cho thuyền hạ xuống theo đà sóng, và cùng lên một cách thụ động với mặt biển. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng đó là một phát kiến quan trọng: làm như thế, tôi đã thủ tiêu được chín mươi phần trăm nguy hiểm. Mưa đã tạnh. Gió vẫn thổi như điên như dại, nhưng bây giờ điều đó cho phép tôi nhìn thấy rõ phía trước và phía sau tôi. Phía sau thì sáng, phía trước thì tối đen, chúng tôi đang ở giữa hai cái thái cực ấy.
Đến khoảng năm giờ, mọi sự đều đã qua. Mặt trời lại chói sáng trên nền trời, gió đã trở lại bình thường, sóng không còn cao lắm nữa. Tôi giương buồm lớn lên, và chúng tôi lại lên đường, vui khấp khởi vì hài lòng với bản thân. Hai bạn tôi dùng cà-mèn tát nốt chỗ nước còn đọng lại ở đáy thuyền. Họ lấy mấy tấm chăn ra phơi: buộc lên cột buồm, cứ gió thế này chẳng mấy chốc mà khô. Chúng tôi nấu cơm, chiên bột với dầu, ăn xong lại uống cà-phê hai suất, rồi làm một chầu rượu rhum ra trò. Mặt trời sắp lặn, bao nhiêu lửa tàn ném hết ra soi lên mặt biển xanh biếc, vẽ thành một bức tranh không sao quên được: nền trời một màu huyết dụ, vầng thái dương đã chìm một nửa xuống biển chiếu lên trời với mấy làn mây trắng và dọi lên mặt biển những chùm tia sáng vàng. Nhưng đợt sóng khi dâng lên thì xanh biếc ở phần gốc, xanh lục ở phần giữa, còn phần ngọn thì đỏ, hồng hay vàng tùy theo màu của tia sáng dọi vào. Một cảm giác thanh thản và êm dịu lạ lùng tràn vào hồn tôi. Và cùng với trạng thái thanh thản ấy là một niềm tin vừng chãi ở bản thân. Tôi đã qua cuộc thử thách một cách trót lọt, và trận bão ngắn vừa qua đã rất bổ ích cho tôi. Tôi đã tự mình học được cách điều khiển con thuyền trong những trường hợp như thế. Tôi sẽ bước vào đêm nay một cách hoàn toàn thanh thản.
– Thế nào, Clousiot, cậu đã thấy rõ cái thao tác dốc nước ra khỏi thuyền chưa?
– Bạn ơi, giả sử cậu không làm như vậy và để cho một đợt sóng thứ hai xô vào sườn, thì thuyền đã đắm mẹ nó rồi. Cậu quả là một quán quân. 
– Anh học qua các thứ đó trong hải quân đấy à? – Maturette nói:
– Đúng, cậu thấy đấy, kể ra được huấn luyện trong hải quân cũng có ích ít nhiều đấy chứ, nhỉ.
Chắc chúng tôi đã đi chệch hướng khá nhiều. Nhưng với những cơn sóng gió như vừa qua, ai mà biết được trong bốn tiếng đồng hồ chúng tôi đã chệch hướng mất bao nhiêu? Tôi sẽ theo hướng tây bắc để chỉnh lại. Đúng đấy Đêm đổ sập xuống ngay sau khi mặt trời lặn hết xuống biển, ném lên chân trời những tia cuối cùng của trận pháo hoa, lần này màu tím.
Chúng tôi lại dong buồn đi thêm sáu ngày nữa mà không có chuyện gì xảy ra trừ vài ba cơn mưa bão không lần nào kéo dài quá ba tiếng đồng hồ, và cũng không thể nào sánh kịp trận bão đầu tiên mà chúng tôi có cảm giác như đã kéo dài vô tận. Sáng hôm ấy đến mười giờ gió đứng hẳn, mặt biển không một gợn sóng. Tôi ngủ được một giấc gần bốn tiếng. Khi thức dậy tôi thấy rát môi quá: nó tróc hết cả da rồi, mũi tôi cũng vậy, bàn tay phải của tôi cũng không còn da, thịt cứ phô trần ra đỏ hỏn. Maturette và Clousiot cũng chẳng khá hơn. Chúng tôi phải bôi dầu lên mặt và lên hai bàn tay mỗi ngày hai lần, nhưng như thế vẫn chưa đủ: chỉ mấy tiếng là nắng nhiệt đới đã làm cho lớp dầu khô rang.
Lúc bấy giờ chắc vào khoảng hai giờ trưa theo bóng nắng. Tôi ăn trưa, rồi chúng tôi thu xếp căng lá buồm lên làm mái để tránh nắng, vì trên biển không có lấy một hơi gió thoảng. Có một đàn cá xúm lại quanh thuyền, nơi Maturette vừa rửa chén dĩa. Tôi cầm lấy con dao phát rừng và bảo Maturette ném mấy nắm gạo xuống nước (chỗ gạo của chúng tôi từ khi bị ướt đã bắt đầu lên men). Đàn cá ngoi lên sát mặt nước đớp gạo. Một con gần như nhô hẳn đầu lên trên mặt nước, tôi liền chém cho một nhát, thế là nó quay đơ ra, ngửa bụng lên. Con cá nặng đến bốn ki-lô. Chúng tôi đánh sạch vảy rồi đem luộc lên. Tối hôm ấy chúng tôi ăn cá luộc với bột sắn.
Chúng tôi ra khơi đã được mười một ngày. Trong suốt thời gian ấy chỉ có một lần chúng tôi nhìn thấy một chiếc tàu rất xa ở tận chân trời. Tôi bắt đầu băn khoăn tự hỏi không biết chúng tôi đang ở đâu thế này. Dĩ nhiên là ở ngoài khơi, rất xa mọi vùng đất liền; điều đó thì hoàn toàn chắc chắn rồi. Nhưng ở vị trí nào so với Trinidad hay bất cứ một hòn đảo nào thuộc Anh? Cái này thì chịu. Nhưng vừa nghĩ tới đã có câu trả lời ngay… Quả nhiên, ngay trước mặt chúng tôi, có một cái chấm đang từ từ to dần lên. Tàu viễn dương hay sà-lúp đi biển? Thôi nhầm rồi, nó không đi về phía chúng tôi Bây giờ đã trông thấy rõ đó là một chiếc tàu lớn, đang đi về phía bên hông chúng tôi. Nó đang đi lại gần thật, nhưng đi chênh chếch, và chúng tôi không nằm trên đường đi của nó. Vì lúc ấy không có gió cho nên mấy lá buồm của chúng tôi buông thõng xuống một cách thảm hại, chiếc tàu chắc chúng trông thấy chúng tôi. Nhưng bỗng có tiếng còi tàu hú lên, sau đó là ba tiếng “tu tu tu, ngắn, rồi chiếc tàu đổi hướng và đi thẳng về phía chúng tôi.
– Miễn sao nó đừng đến gần quá – Clousiot nói.
– Không có gì nguy hiểm dâu, biển lặng như dầu thế này…
Đó là một chiếc tàu chở dầu hỏa. Nó càng đến gần chúng tôi càng trông rõ có người đứng trên boong. Có thể đoán chắc họ đang băn khoăn tự hỏi không biết mấy con người kia đang làm gì trên cái vỏ đậu phụng ở giữa biển khơi thế này. Tàu từ từ tiến về phía chúng tôi bây giờ đã trông thấy rõ mấy viên sĩ quan và đám thủy thủ, có cả người đầu bếp, rồi lại thấy mấy người đàn bà mặc áo dài hoa và mấy người đàn ông mặc sơ-mi màu. Chúng tôi hiểu đó là những hành khách trên tàu. Nhưng tàu chở dầu mà lại có cả hành khách chúng tôi thấy cũng hơi lạ. Chiếc tàu tiến tới rất chậm, và viên thuyền trưởng nói với chúng tôi bằng tiếng Anh. 
– Where are you coming from? (Các ông từ đâu đến?).
– French Guyane. (Guyan thuộc Pháp).
– Vous parlez francais? (Các ông nói được tiếng Pháp chứ?) – một bà nói.
Tôi liền trả lời bằng tiếng Pháp:
– Thưa bà vâng,
– Các ông làm gì giữa biển khơi thế này?
– Chúng tôi đi theo đường Trời định.
Người đàn bà quay sang nói chuyện với viên thuyền trưởng một lát rồi lại nói với chúng tôi:
– Ông thuyền trưởng mời các ông lên tàu, ông ấy sẽ cho trục thuyền của các ông lên luôn.
– Bà nói giúp là chúng tôi cảm ơn ông thuyền trưởng, nhưng chúng tôi xin đi thuyền này thôi.
– Tại sao các ông không để cho chúng tôi giúp đỡ?
– Vì chúng tôi là những tù nhân vượt ngục, và vì chúng tôi không đi cùng hướng với tàu của các vị.
– Các ông định đi đâu?
– Đi Martinique, có lẽ còn xa hơn nữa. Chỗ này là chỗ nào? ‘
– Giữa biển khơi.
Muốn đến quần đảo Antilles phải đi như thế nào?
– Các ông có biết đọc bản đồ hàng hải của Anh không?
– Có
Một lát sau họ giòng dây xuống biếu chúng tôi một tấm bản đồ hàng hải, mấy tút thuốc lá, súc bánh mì, một cái đùi cừu rô ti.
– Ông xem bản đồ đi?
Tôi xem bản đồ rồi nói:
Tôi phải đi hướng tây 1/4 nam mới có thể vào quần đảo Antilles thuộc Anh, có phải thế không?
– Đúng.
– Chừng bao nhiêu hải lý?
– Đi hai ngày thì đến, – viên thuyền trưởng nói.
Tạm biệt, cảm ơn tất cả các vị!
Thuyền trưởng có lời khen ngợi lòng cam đảm hải hồ của các ông!
– Cám ơn, vĩnh biệt!
Chiếc tàu chở dầu từ từ ra đi. Nó rà sát cạnh chúng tôi, tôi phải cho thuyền tránh ra, sợ luồng nước xoáy sau chân vịt. Vừa lúc ấy một thủy thủ ném cho tôi một cái mũ lưỡi trai của sĩ quan hàng hải. Nó rơi đúng vào giữa thuyền. Tôi đã đội chiếc mũ lưỡi trai có gắn chiếc mỏ neo và thêu một lon vàng kim tuyến này khi chúng tôi đến Trinidad sau hai ngày dong buồm bình an vô sự.