Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 21 Oct 2025

Phần 4 – Nghệ sĩ tạo hình

110. Đằng Giao

Tuy cùng lứa tuổi với các họa sĩ trong Hội Họa Sĩ Trẻ ở Sài Gòn năm nào, nhưng  Đằng Giao khởi sự vẽ muộn hơn nhiều.

Nhưng bắt đầu muộn hay không, cho đến nay, những người thuộc cái Hội Họa Sĩ Trẻ ấy, cũng như Đằng Giao, tóc đã bạc, hay ít nhất cũng đã muối tiêu như các cụ ta thường nói.

Tuổi già giống như cái nút chặn trên đường có xe lửa chạy qua, tới đó trước hay sau một tí, người ta đều phải dừng lại chờ. Khi cái rào cản được rút bỏ, thì [hình như] đối với quãng đường còn lại, người ta lại khởi hành cùng một lúc. Cái hình Đằng Giao chụp chung với Nguyên Khai [in trên báo Người Việt] khi hai người chạy đi chạy lại, chuẩn bị cho việc mở cửa phòng triển lãm của mình, tình cờ đã được khai mạc cùng một ngày và gần như ở cùng một địa điểm, chỉ cách nhau khoảng 100 mét, cho người đọc cảm tưởng đó.

Cả hai ông tóc đều đã bạc.

Một người đi xa đã lâu.

Một người vừa từ trong nước qua. Ở đằng sau khoảng trống của bức hình có cả mấy chục năm mọi người sống dở, chết dở, có cả sự ngỡ ngàng ngay cái phút đứng chụp với nhau bức hình như thế là điều khó tưởng tượng đừng nói là sự thật. Công việc Đằng Giao theo đuổi là sơn mài chứ không phải sơn dầu. Sơn mài Việt Nam đã có từ lâu. Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng, phải chờ đến Nguyễn Gia Trí nó mới được nâng lên hàng nghệ thuật có thể tranh đua với hội họa Tây phương.

Nhìn chung, sơn mài là một ngành nghệ thuật hoàn toàn Việt Nam, khác hẳn với sơn mài Nhật Bản. Đằng Giao, trong các buổi nói chuyện trên đài phát thanh hay trả lời phỏng vấn của báo chí, đã nói đến ít nhiều kinh nghiệm về sơn mài, ông đã được thừa hưởng từ bậc thầy này [Nguyễn Gia Trí] cùng với hai mươi năm lặn lội, tìm kiếm riêng.

Những người quen biết và có dịp gặp họa sĩ Nguyễn Gia Trí trong những năm cuối cùng của đời ông, đều biết, ông bị chứng run tay không vẽ được nữa. Ông sống kín đáo, ít giao tiếp. Ở trong nước Đằng Giao được coi như một trong những họa sĩ bán được nhiều tranh.

Vậy mà trong chuyến viễn du này, ông cho biết vẫn mang theo được khoảng 200 bức sơn mài lớn, nhỏ của mình, đủ biết sức làm việc của ông mạnh thế nào. Nhất là, vẫn theo Đằng Giao, làm tranh sơn mài là làm việc cật lực chứ không phải chỉ vẽ xong là xong. Còn rất nhiều công đoạn sau khi bức tranh hoàn tất để trở thành một bức sơn mài.

Cũng phải nói thêm là sau những năm tù, dù đã được tha về, nhưng bầu không khí chung quanh vẫn gần như không thể thở được, sức khoẻ kiệt quệ, tinh thần cùng quẫn, tương lai chưa biết ra sao, thực tế nhìn thấy trước mặt, chỉ cần nêu một điều là nhiều người, rất nhiều người, kể cả trẻ con, không ngày nào được ăn no, bản thân tiếp tục bị đe doạ, bị theo dõi, làm việc và làm việc được trong hoàn cảnh như thế, thật kinh khủng!

Người ta cũng đã nói đến sự giới hạn màu sắc của tranh sơn mài. Có những màu sơn mài không “lên” được. Nhưng bước vào phòng tranh của Đằng Giao người ta người ta có cảm tưởng “ngộp” trong màu sắc. Kỹ thuật hình như đã cho phép ông dùng bất cứ màu gì ông muốn. Từ bức tranh lớn nhất đến bức nhỏ nhất của Đằng Giao đều có đủ cái tưng bừng của màu sắc. Ở nhiều chỗ, cái màu son Đằng Giao dùng, dường muốn đốt cháy lớp sơn mài phủ bên trên. Những bức có nét vẽ “khô” và “cứng” như gân gà là những bức đẹp nhất của Đằng Giao. Người ta cũng bàn tán về việc tranh sơn mài đòi hỏi một chỗ treo thích hợp. Một xa-lông kiểu Tây phương treo tranh sơn mài sợ bị “chối”.

Nhưng quan niệm thẩm mỹ có thể thay đổi. Nhất là sơn mài hiện tại lại có những nét “tối tân” riêng. Và sau cùng, khi người ta đã quyết định mua một bức tranh ắt người biết phải treo nó ở đâu.

Papillon Người Tù Khổ Sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 20 Oct 2025

Bài 7

Vượt ngục lần thứ nhất

Trốn khỏi nhà thương Tối hôm ấy tôi gặp Dega, và sau đó là Fernandez. Dega nói với tôi là bác ta không tin tưởng vào kế hoạch vượt ngục của tôi; bác ta định đủ một số tiền lớn, nếu cần, để được miễn cấm cố. Bác ta yêu cầu tôi viết thư hỏi Sierra xem thử làm như thế liệu có được không. Ngay hôm ấy Chatal đưa thư đi và đem thư trả lời về cho chúng tôi. Sierra viết: “Đừng đút tiền cho bất cứ ai để xin miễn cấm cố. Việc này chỉ có các quan chức bên Pháp giải quyết được, còn ở đây thì không có một ai, kể cả viên giám đốc trại khổ sai, có thể miễn cho tù nhân chế độ cấm cố. Nếu không còn hy vọng gì vượt ngục từ bệnh viện, các anh có thể tìm cách xin ra viện một ngày sau khi chiếc tàu chuyên chở tù nhân ra Quần đảo (chiếc Mata) đã lên đường”.
Làm như vậy sẽ được nằm lại tám ngày ở khu vực giam thường trước khi có chuyến tàu sau ra đảo, và có lẽ ở đấy đễ vượt ngục hơn là ở gian phòng chúng tôi hiện đang nằm ở bệnh viện. Cũng trong cái thư ấy, Sierra nói rằng nếu tôi muốn anh ta sẽ cho một người tù khổ sai đã được trả tự do đến gặp tôi để nếu cần tôi có thể nhờ anh ta chuẩn bị cho một chiếc thuyền để sẵn ở phía sau bệnh viện. Người tù mãn hạn này là một người quê ở Toulouse, tên là Jésus. Cách đây hai năm, chính hắn đã chuẩn bị cho cuộc vượt ngục của bác sĩ Bougrat. Muốn gặp hắn, tôi sẽ phải đến chiếu điện ở phòng X-quang. Phòng này cũng nằm trong phạm vi bệnh viện nhưng muốn đến đó tù nhân phải có giấy gửi đi khám X-quang. Sierra dặn tôi là nếu đi chiếu điện phải bỏ plan ra trước khi đến phòng X- quang, vì bác sĩ có thể nhìn thấy nó nếu ông ta soi xuống phía dưới phổi. Tôi gửi giấy cho Sierra bảo anh ta cứ cho Jésus đến phòng X-quang và nhờ Chatal thu xếp cho tôi được đi chiếu điện. Ngay tối hôm ấy Sierra báo cho tôi biết rằng buổi chiếu điện là vào ngày kia, chín giờ sáng.
Ngày hôm sau, Dega xin ra viện cả Fernandez cũng thế. Chiếc Mata vừa đưa tù cấm cố ra Quần đảo hồi sáng sớm. Hai người hy vọng có thể trốn từ khu vực giam tù thường trong trại. Tôi chúc họ may mắn, còn tôi thì vẫn không thay đổi kế hoạch.
Tôi đã gặp Jésus. Đó là một người tù khổ sai già đã được trả lại tự do, khô như một con mắm, da mặt đen sạm, có hai vết sẹo gớm ghiếc chéo qua mặt. Hắn có một con mắt cứ chảy nước mắt sống khi nhìn người ta. Một gương mặt ghê sợ, một cái nhìn cũng ghê sợ không kém. Tôi không thấy tin hắn cho lắm, và sự thể sau này sẽ chứng minh rằng tôi có lý. Chúng tôi đi vào việc ngay:
– Tôi có thể chuẩn bị cho các anh một chiếu thuyền chở được bốn người, tối đa là năm. Một thùng ton-nô nước ngọt, một ít lương thực, cà-phê, thuốc lá; ba cái chèo kiểu thổ dân, mấy cái bao bột không, một cây kim và mấy sợi chỉ để anh tự khâu lấy buồm chính buồm phụ; một cái la bàn, một cái rìu, một con dao, năm lít rượu tafia (rượu rhum xứ Guyane) cả thảy hết hai ngàn năm trăm francs. Ba ngày nữa thì hết tuần trăng. Sau bốn ngày, nếu anh đồng ý, tôi sẽ ngồi trong thuyền đợi các anh từ tám giờ tối đến ba giờ sáng trong tám đêm liền. Khi bắt đầu có trăng non tôi sẽ không đợi nữa. Địa điểm đợi là ở chỗ chiếu thẳng từ góc phía dưới của bức tường bệnh viện. Cứ theo đúng hướng bức tường mà đi xuống phía sông, vì sẽ không trông thấy thuyền đâu. Cách hai mét cũng chưa trông thấy được”. 
Tôi không tin lắm, nhưng tôi vẫn ưng thuận.
– Còn tiền thì sao? – Jésus hỏi.
– “Tôi sẽ gửi qua Sierra”. – Tôi với hắn từ giã nhau mà không bắt tay. Công chuyện chẳng có vẻ gì lạc quan cho lắm.

Đến ba giờ, Chatal đến trại đưa tiền cho Sierra, hai ngàn năm trăm francs. Tôi tự nhủ: “Mình đánh bạc số tiền này, coi như có mất cũng thôi. Cũng nhờ có Galgani mới chơi sang thế được. Miễn sao hắn không nướng hết cả hai ngàn rưỡi tờ vào rượu tafia”. Clousiot vui mừng khôn xiết. Anh ta tin vào bản thân, tin vào tôi và vào kế hoạch vượt ngục. Anh ta chỉ băn khoăn có một điều: không phải đêm nào cũng thế, nhưng có nhiều đêm tên “giữ chìa khóa” người A-rập lại đi vào phòng bệnh nhân, mà lại thường là vào lúc đầu hôm, chưa khuya lắm. Còn một vấn đề nữa: biết chọn đâu ra một người thứ ba để cùng bàn việc này? ở đây có một cậu người Corse, thuộc giới giang hồ thành phố Nice, tên là Biangi. Cậu ta ở tù khổ sai từ 1929. Cậu bị giam ở phòng bệnh dành cho tù nhân cần giám sát nghiêm ngặt này là vì cậu can tội giết người. Clousiot với tôi bàn nhau xem có nên nói với cậu ta không, và nói vào lúc nào. Chúng tôi đang thầm thì bàn bạc như vậy thì cậu ta đến: đó là một thư sinh mười tám tuổi, đẹp lộng lẫy như một thiếu nữ. Họ cậu ta là Maturette, cậu bị xử tử rồi được giảm án xuống khổ sai chung thân vì còn quá ít tuổi – mười bảy tuổi – Cậu ta can tội giết chết một người lái tầu. Tham gia vụ này có hai cậu, một cậu mười sáu tuổi, một cậu mười bảy. Ra tòa đại hình, hai cậu bé này không những không buộc tội lẫn nhau mà còn khăng khăng chứng minh rằng chính mình, và chỉ có một mình mình thôi, đã giết người lái xe. Thế nhưng trên người nạn nhân chỉ có một vết đạn. Thái độ của hai cậu bé trong phiên tòa đại hình đã làm cho tất cả các phạm nhân khổ sai ở đây yêu mến họ. Vậy thì Maturette, dáng dấp giống hệt con gái, đến cạnh chúng tôi và cất tiếng thỏ thẻ xin lửa hút thuốc. Chúng tôi liền châm thuốc cho cậu ta, lại cho thêm bốn điếu thuốc và một hộp diêm. Cậu ta mỉm một nụ cười đấy sức quyến rũ cảm ơn chúng tôi rồi lui ra. Bỗng Clousiot nói với tôi: “Papi ạ, thôi ổn rồi. Thằng A-rập sẽ vào phòng hoàn toàn theo ý chúng mình cho mà xem. Cậu cũng biết bọn A-rập rất thích con trai vào tuổi măng tơ như cậu ấy. Từ đó đến chỗ dụ thằng giữ chìa khóa kia lẻn vào phòng ban đêm để tự tình với cậu bé xinh trai chẳng có gì khó. Cậu ta sẽ uốn éo vờ làm khó dễ, nói là chỉ sợ nhỡ ai người ta trông thấy, để thu xếp sao cho thằng A-rập vào phòng đúng giờ vào chúng tôi cần.
Để tôi bàn với cậu ấy.
Tôi đi gặp Maturette. Cậu ta tiếp tôi với một nụ cười đầy ý khuyến khích. Cậu ta tưởng tôi đã “cảm” vì nụ cười lẳng lơ ban nãy. Tôi nói ngay: “Cậu lầm rồi. Đi vào nhà xí một lát”. Vào đến nhà xí, tôi bắt đầu thương lượng.

– Những điều tôi sắp nói với cậu, nếu cậu hở ra cho ai lấy một tiếng là cậu toi mạng ngay. Đây: cậu có thể làm thế này, thế này và thế này giúp chúng tôi được không? Chúng tôi sẽ trả tiền; cậu muốn lấy bao nhiêu? Hay cậu muốn đi với chúng tôi?
– Tôi muốn đi với các anh, được không?
– Xong ngay! Cứ thế nhé? Cứ thế? – Chúng tôi xiết chặt tay nhau.
Maturette đi ngủ. Tôi gặp Clousiot nói qua cho cậu ta biết tình hình xong cũng đi ngủ nốt. Tối hôm sau đến tám giờ Maturette ra ngồi ở cửa sổ. Cậu ta không phải gọi thằng A-rập. Tự nó dẫn xác đến, thế là hai người bắt đầu nói chuyện rì rầm với nhau một lúc. Đến mười hai giờ Maturette đi ngủ. Tôi và Clousiot thì đã đi nằm từ lúc chín giờ, giả vờ ngủ. Thằng A-rập đi vào phòng, dạo hai vòng, phát hiện ra một bệnh nhân vừa chết. Hắn ra cửa gõ mấy tiếng, và một lát sau có hai người khiêng cáng vào đem xác chết đi. Người xấu số kia sẽ có ích cho chúng tôi vì cái chết của anh ta sẽ là một cái cớ để cho tên giữ chìa khóa A-rập có thể vào phòng bất cứ giờ nào trong đêm. Theo đúng lời khuyên của chúng tôi, hôm sau Maturette hẹn gặp hắn lúc mười một giờ đêm. Đúng giờ ấy, tên giữ chìa khóa vào phòng. Đi ngang giường cậu bé, hắn kéo chân đánh thức cậu ta dậy rồi đi thẳng vào nhà xí. Maturette liền đi theo. Mười lăm phút sau tên giữ chìa khóa ra và rời phòng bệnh nhân. Maturette lập tức đi ngủ lại, không phải nói gì với chúng tôi nữa. Ngày hôm sau cũng lại như thế, nhưng vào lúc mười hai giờ đêm. Mọi sự đều ổn: thằng A-rập sẽ đến đúng vào giờ cậu bé dặn.

Ngày 27 tháng mười một năm 1933, chúng tôi đã sẵn sàng hành động. Hai cái chân giường bằng sắt đã được mở vít sẵn, muốn tháo ra lúc nào cũng được. Tôi đợi đến bốn giờ chiều sẽ có giấy của Sierra cho biết những tin tức cuối cùng. Đúng giờ, Chatal đến, không cầm giấy má gì, chỉ nói với tôi “Francois Sierra bảo tôi nói với anh là Jésus đợi các anh ở địa điểm đã định. Chúc các anh may mắn. “Đến tám giờ tối, Maturette nói với thằng A-rập”
– Hôm nay anh đợi quá nửa đêm hẵng đến: vào quãng ấy có thể gặp nhau lâu hơn.
Thằng A-rập hẹn đến sau mười hai giờ. Đúng nửa đêm, chúng tôi đã chuẩn bị xong mọi thứ. Đến mười hai giờ mười lăm thằng A-rập vào, đi thẳng đến giường Maturette kéo chân cậu ta rồi đi tiếp vào nhà xí. Maturette vào theo hắn. Tôi tháo chân giường của tôi ra, nó rơi xuống sàn, hơi ồn một chút. Bên giường Clousiot thì không có tiếng động. Theo kế hoạch, tôi phải đứng sẵn bên cửa nhà xí, còn Clousiot thì cứ đi thoải mái đến chỗ nhà xí để thu hút sự chú ý của hắn. Sau một thời gian chờ đợi khoảng hai mươi phút, mọi sự việc diễn ra rất nhanh. Thằng A-rập từ trong nhà xí đi ra. Trông thấy Clousiot, hắn ngạc nhiên hỏi:
– Giờ này anh còn đứng giữa phòng làm cái gì thế? Đi ngủ đi.

– Giờ này anh còn đứng giữa phòng làm cái gì thế? Đi ngủ đi.
Ngay tức khắc, hắn bị một đòn “con thỏ” đánh vào giữa sọ, im lặng ngã khuỵu xuống. Tôi lập tức mặc áo quần của hắn vào, đi cả giày của hắn. Chúng tôi lôi hắn vào gầm giường, và trước khi đẩy hắn vào phía trong, tôi bồi thêm cho hắn một vố nữa vào gáy. Thế là xong được một việc.
Cả tám mươi bệnh nhân nằm trong phòng không thấy một người nào động đậy. Tôi đi nhanh về phía cửa ra vào, theo sau có Clousiot và Maturette mặc áo ngủ dài. Tôi gõ cửa. Tên giám thị vừa mở ra là tôi giáng cho một phát chân giường sắt lên đầu. Tên thứ hai để khẩu mousqueton trượt xuống đất. Chắc chắn là hắn ngủ quên. Hắn chưa kịp thức giấc thì tôi đã đánh hắn gục xuống. Mấy tên của tôi không kịp kêu, còn cái thằng bị Clousiot đánh thì chỉ “A!” lên một tiếng khẽ trước khi gục xuống. Hai tên tôi vừa đánh gục trên ghế, còn tên thứ ba thì nằm dài ra đất.

Chúng tôi nín thở. Cái tiếng “A?” kia chúng tôi tường chừng như cả nhân loại đều nghe thấy. Quả tình tiếng kêu ấy cũng khá to, nhưng chẳng thấy ai động tĩnh gì cả. Chúng tôi không đưa chúng vào phía bên trong phòng làm gì. Chúng tôi cứ thế bỏ đi, cầm theo ba khẩu súng. Clousiot đi đầu, cậu bé đi giữa, còn tôi đi sau cùng. Chúng tôi đi xuống cái thang gác sáng mờ mờ dưới ánh đèn dầu. Clousiot đã bỏ cái chân giường sắt, còn tôi vẫn cầm nó theo trong tay trái tay phải tôi cầm khẩu súng trường. Xuống đến tầng dưới cùng chẳng thấy gì. Xung quanh tối đen như mực. Phải nhìn thật kỹ mới trông thấy bức tường đi về phía bờ sông. Chúng tôi vội ra chân tường. Tôi đứng áp vào tường làm thang cho các bạn leo lên. Clousiot leo lên ngồi cưỡi trên bức tường rồi lôi Maturette lên, sau đó là tôi. Chúng tôi buông người xuống phía bên kia tường, trong bóng tối. Clousiot rơi vào một cái hốc, kêu đau chân. Maturette và tôi xuống ổn hơn. Cả hai chúng tôi đứng dậy. Chúng tôi đều đã buông khẩu mousqueton trước khi nhảy xuống. Clousiot toan đứng dậy nhưng không sao đứng được. Anh ta nói là gãy mẹ nó cái chân rồi. Tôi để Maturette đứng lại với Clousiot, lần theo bức tường chạy về phía bờ sông, vì tối quá nên hai tay tôi cứ phải sờ sờ lên tường. Chạy đến hết tường lúc nào cũng không hay, hai tay bị hụt ngã một cái như trời giáng, tưởng đến vỡ mặt. Từ phía sông có giọng ai nói với lên:
– Các cậu đấy à?

– ừ! Jésus đấy à? – ừ!
Hắn quẹt diêm lên trong khoản nửa giây. Tôi đã xác định được chỗ hắn đứng, liền lội xuống nước đi đến đấy. Cùng đứng với Jésus còn có một người nữa.
– Lên trước đi. Ai đấy?
– Papillon đây.
– Tốt.
– Jésus à, phải đi trở lại phía sau, bạn tôi bị gãy chân trong khi trèo tường.
– Thế thì cầm lấy cái này, chèo đi.
Ba cái chèo pagaie vục xuống nước và chẳng bao lâu chiếc xuồng nhẹ đã vượt qua cái khoảng cách chừng một trăm thước từ chỗ xuồng chờ đến chỗ các bạn tôi (tôi đoán chừng chỗ ấy, vì tối quá chẳng trông thấy gì).
Tôi gọi: “Clousiot?”.
– Khẽ chứ, trời đất – Jésus nói. Này l’ Enflé, bật đá lửa lên chút nào! Mấy tia lửa xanh xanh lóe ra. Các bạn tôi đã trông thấy. Clousiot khẽ huýt sáo qua kẽ răng theo kiểu dân Lyon: đây là kiểu huýt sáo không ồn nhưng lại nghe rất rõ, hơi giống tiếng huýt của loài rắn. Cậu ta cứ thế huýt liên tục một lúc, cho đến khi chúng tôi đến nơi. l’ Enflé bước xuống ôm xốc Clousiot dưa lên xuồng. Maturette lên theo, rồi đến l’ Enflé. Trên xuồng như vậy có đến năm người, nước chỉ còn cách mạn xuồng có hai lóng tay.
– Hễ muốn động đậy phải nói trước nhé, – Jésus nói, – Bươm bướm, đừng chèo nữa, cái chèo đặt nằm ngang trên đùi ấy. Đi thôi l’ Enflé!
Lập tức chiếc xuồng theo dòng lao vào đêm tối. Đi dược chừng một cây số, chúng tôi đã đến ngang tầm khu trại tù sáng mờ mờ dưới ánh điện tồi tàn do một cái máy phát điện hạng bét phát ra. Lúc bấy giờ xuồng đang ở giữa dòng sông và trôi băng băng theo dòng, với một tốc dộ khó tưởng tượng nổi. L’ Enflé đã nhấc chèo lên. Chỉ có Jésus áp mái chèo sát dùi giữ thăng bằng cho chiếc xuồng. Hắn không chèo mà chỉ giữ cho xuồng đi thẳng. Jésus nói: “Bây giờ thì có thể nói và hút thuốc được rồi. Hình như ổn cả. Cậu có chắc là vừa rồi các cậu không làm ai chết không?
– Tôi tin như vậy.
– Trời đất! Thế là cậu bịp tớ rồi đấy Jésus ạ! – l’Enflé nói. – Cậu bảo đây là một chuyến vượt ngục thường thôi chẳng có chuyện gì hóa ra là một cuộc vượt ngục của dân cấm cố, theo như tớ hiểu.
– Đúng, đây là dân cấm cố, l’Enflé ạ. Tớ không nói cho cậu biết từ đầu là vì nói ra cậu đời nào chịu giúp tớ. Thế mà tớ lại đang cần một người giúp. Cậu đừng lo có chuyện gì tớ sẽ đứng ra chịu hết.
– Thế mới phải, Jésus ạ. Ăn của cậu có một trăm tờ mà bị xử tử hay bị chung thân thì ớn quá. (Nếu trong một cuộc vượt ngục mà có một người canh tù bị giết thì phạm nhân và đồng lõa đều bị xử tử, còn nếu có một người bị thương thì họ sẽ bị khổ sai chung thân). Tôi nói:
– l’Enflé ạ, tớ sẽ biếu thêm hai cậu một ngàn francs.
– Thế thì được, anh bạn ạ. Như thế là hợp lẽ. Cám ơn cậu, trong làng chúng tớ chết đói đến nơi cả. Được thả còn tệ hơn là khi đang ở tù. ít ra khi ở tù còn có cái ăn cái mặc hàng ngày.
– Cậu có đau lắm không? – Jésus hỏi Clousiot. Không sao, – Clousiot nói. – Nhưng Papia ạ, với cái chân gãy của tôi thì còn làm ăn gì?
– Sẽ thu xếp sau. Bây giờ ta đang đi đâu thế này, Jésus?
Tới sẽ đưa các cậu đến nấp trong một cái vịnh cách cửa biển ba mươi cây số. Các cậu sẽ ở lại đấy tám ngày để cho qua giai đoạn căng nhất trong cuộc săn lùng của bọn cảnh sát và bọn đi săn người thuê. Phải làm cho họ tưởng là ngay đêm nay các cậu đã đi hết sông Maroni và ra đến biển rồi. Bọn săn người đi thuyền không gắn máy, đáng sợ hơn cả. Nói chuyện, ho, đốt lửa đều có thể đưa đến kết quả tai hại nếu chúng nó đang rình ở nơi nào gần đấy. Còn bọn cảnh sát thì đi xuồng máy không vào vịnh được, vì sẽ mắc cạn.

Đêm sáng dần. Cả bọn đi tìm mãi mới lần ra được chỗ Jésus đặt mốc (chỉ có một mình hắn biết chỗ này), và thuyền chúng tôi bắt đầu đi vào một vùng bụi bờ rậm rạp. Chiếc xuồng làm cho bụi bờ rạp hẳn xuống, và khi xuồng đã đi qua thì nó lại trỗi dậy ở sau lưng chúng tôi, làm thành một bức màn bảo vệ khá dày. Phải là một tay phù thủy mới biết được rằng chỗ này có đủ nước cho một chiếc thuyền đi qua được. Chúng tôi cứ thế đi sâu vào vùng bụi bờ trong một tiếng đồng hồ, vừa đi vừa gạt những cành cây chắn trước mặt. Bỗng nhiên chúng tôi thấy thuyền đã đi vào một thứ kênh thế là chúng tôi dừng lại. Bờ kênh cỏ mọc xanh rờn, rất sạch sẽ, có những cây đại thụ sum sê, cành lá tỏa rất rộng, ánh sáng ban ngày (lúc bấy giờ đã sáu giờ sáng) không lọt qua được. Dưới vòm lá uy nghiêm này vang lên tiếng kêu của những lời muôn thú mà tôi chưa hề biết. Jésus nói: “Đây là nơi các cậu phải ở lại chờ tám ngày. Đến ngày thứ bảy tôi sẽ đến đưa lương thực cho các cậu”.
Từ dưới một bụi rậm hắn lôi lên một con thuyền độc mộc nhỏ xíu dài chừng hai mét. Trong thuyền có hai mái chèo. Đây là cái thuyền hắn sẽ dùng để trở về làng khi nước triều lên.
Bây giờ ta hãy lo việc cho Clousiot lúc ấy đang nằm trên bờ kênh. Vì cậu ấy vẫn mặc mỗi chiếc áo ngủ dài, cho nên hai chân cậu vẫn để trần. Chúng tôi dùng rìu đẽo lại mấy cái cành khô cho thẳng, thành hình những thanh gỗ mỏng. L’Enflé cầm chân cậu kéo thật mạnh. Clousiot toát mồ hôi cố chịu đau. Đến một lúc nào đấy cậu nói: “Stop! ở tư thế này tôi thấy đỡ đau hơn cả, chắc xương lắp đúng rồi”. Chúng tôi lấy mấy cành cây đã đẽo thẳng lắp dọc cái chân gãy, lấy dây gai mới trong chiếc thuyền buộc lại. Clousiot thấy nhẹ hẳn. Jésus đã mua cho chúng tôi bốn cái quần, bốn cái sơ-mi và bốn cái áo va-rơi bằng len thuộc, bộ đồng phục của những người bị đày biệt xứ. Maturette và Clousiot mặc cái thứ đó vào, còn tôi vẫn để nguyên bộ đồ của tên “giữ chìa khóa” người A-rập. Cả bọn cùng uống rượu rhum. Đây là chai thứ hai được uống cạn kể từ khi lên đường. May thay, cũng ấm người lên thật. Muỗi tấn công chúng tôi không ngớt: đành phải hy sinh một bó thuốc lá. Chúng tôi ngâm thuốc lá trong một cái gáo rồi lấy nước bôi lên mặt, lên tay, lên chân. Nhờ có mấy cái áo va-rơi bằng len cho nên mới giữ được hơi ấm trong cái không khí ẩm thấp cứ thấm sâu vào người chúng tôi.
L’Enflé nói: “Chúng tôi đi đây. Thế cái món một ngàn tì kia đâu?”.
Tôi đi ra chỗ khác một lát rồi trở về, tay cầm một tờ giấy bạc một ngàn francs mới toanh.
– Thôi ở lại nhé, tám ngày tới cứ ở lỳ chỗ này, – Jésus nói. – Đến ngày mồng bảy chúng tớ sẽ đến. Ngày mồng tám là các cậu ra khơi. Trong thời gian này các cậu khâu buồm, thu dọn trên thuyền cho thật đâu ra đấy. Vặn cho chặt bản lề bánh lái: “Chúng tớ chưa kịp lắp. Nếu đợi đến mười ngày mà không thấy chúng tớ đến thì tức là chúng tớ đã bị tóm ở trong làng. Vì chuyến này lại có thêm vụ đánh tên giám thị cho nên tình hình gay lắm”.
Đến đây Clousiot lại cho chúng tôi biết rằng anh ta không để lại khẩu súng trường ở chân tường, mà trước khi trèo anh ta đã ném nó qua tường, không ngờ sông lại gần thế, cho nên khẩu súng bây giờ chắc chắn là nằm dưới nước. Jésus cho rằng như thế rất hay, vì nếu tìm không thấy khẩu súng đâu, bọn săn người sẽ nghĩ là chúng tôi có súng. Bọn này lại là bọn nguy hiểm hơn cả, vì chúng sục sạo sâu hơn bọn cảnh sát, nhưng vũ khi của chúng chỉ có một khẩu súng lục và một con dao phát bờ: tưởng chúng tôi mang theo khẩu mousqueton, chúng sẽ không dám sục sạo nữa. Hai bên chào tạm biệt nhau Jésus dặn thêm là trong trường hợp bị lộ chúng tôi phải bỏ xuồng, đi ngược dòng kênh cho đến khoảng bụi rậm không ngập nước, rồi cứ dùng địa bàn nhắm thẳng hướng bắc mà đi mãi. Có rất nhiều khả năng chúng tôi sẽ gặp, sau hai ba ngày đi bộ, khu trại chết người gọi là “Charvein”. Đến đó thì phải thuê tiền một người nào về báo cho Jésus biết là chúng tồi đang ở đâu..

Hai người tù khổ sai mãn hạn đã bỏ đi. Chỉ mấy phút sau, chiếc thuyền độc mộc của họ đã khuất hẳn, không còn nghe thấy gì, trông thấy gì nữa. ánh sáng ban ngày lọt vào rừng rậm theo một cách thức thật là đặc biệt. Người ta có cảm tưởng như mình đang đứng dưới những cái mái vòm che ánh sáng và không để lọt một tia nào xuống phía dưới. Trời bắt đầu nóng bức. Lúc bấy giờ chúng tôi mới chợt nhận ra rằng chỉ còn ba đứa chúng tôi, Maturette, Clousiot và tôi ở lại với nhau mà thôi chứ không còn ai khác nữa. Phản xạ trước tiên: chúng tôi nhìn nhau cười lớn – công chuyện vừa qua cứ chạy êm ru như có lắp ổ bi. Chỉ có một chuyện hơi phiền là cái chân của Clousiot. Nhưng bản thân anh ta thì cứ nói rằng bây giờ đã buộc nẹp rồi thì mọi sự đều ổn. Có thể đun nước pha cà-phê ngay. Thế là chúng tôi nhen bếp lên, và một lát sau mỗi đứa uống một ca cà phê đen bỏ đường thô. Ngon tuyệt. Từ tối hôm qua chúng tôi đã tiêu phí nhiều năng lượng đến nỗi bây giờ không sao có đủ can đảm soát lại đồ đạc hay xem xét chiếc thuyền. Để sau rồi hẵng hay. Bây giờ chúng tôi đã được tự do, tự do, Tự DO! Kể từ khi chúng tôi đến trại khổ sai cho đến hôm nay là đúng ba mươi bảy ngày. Nếu chuyến vượt ngục này thành công, cái án chung thân của tôi chẳng lấy gì làm dài hạn. Tôi nói: “Thưa ngài chánh án, án chung thân ở Pháp chừng bao lâu thì mãn hạn ạ?” Rồi cười phá lên. Maturette cũng vậy, vì cậu ta cũng bị án chung thân. Clousiot nói: Chúng mình khoan hẵng ca khúc khải hoàn. Xứ Colombia còn xa lắm, mà cái thuyền làm bằng một thân cây thui lửa này tôi trông khó lòng đi biển được”.
Tôi lặng thinh không đáp, vì tôi, nói thật ra, mãi cho đến phút cuối tôi vẫn cứ tưởng rằng chiếc thuyền này chỉ là một cái xuồng độc mộc dùng để đưa chúng tôi đến nơi dấu chiếc thuyền đi biển thực sự. Khi thấy rõ mình nhầm, tôi không dám nói gì, sợ ảnh hưởng đến các bạn ngay từ bước đầu. Mặt khác, vì thấy Jésus có vẻ như coi việc dùng một chiếc thuyền như thế này để vượt bể là điều hoàn toàn tự nhiên, tôi không muốn làm cho mọi người có cảm giác là mình không thông thạo về những thứ thuyền thường vẫn dùng dể vượt ngục.
Chúng tôi đã qua cái ngày đầu tiên này để nói chuyện và để tiếp xúc với cái môi trường lạ này: rừng rậm. Lũ khỉ và những loài sóc nhỏ nhào lộn trên đầu chúng tôi. Một đàn bakir (một giống heo rừng nhỏ) đến uống nước và ngụp lặn. Dễ đến hai ngàn con là ít. Chúng ùa vào vịnh bơi lội tứ tung, giật đứt những rễ cây rũ lòng thòng trên mặt nước. Một con cá sấu cai-man không biết từ đâu xông ra ngoạm chân một con heo bakir: con này ré lên thất thanh, thế là cả bầy heo xông vào con cá sấu, trèo cả lên lưng nó, tìm cách cắn vào mép nó. Mỗi lần con cá sấu quẫy đuôi là một con heo văng ra, quay tít mấy vòng rồi mới rơi xuống. Một con bị đuôi cá sấu quật vỡ đầu nổi lềnh bềnh, bụng ngửa lên trên. Lũ đồng loại lập tức xúm lại ăn thịt nó.

Cái vịnh đỏ ngầu những máu. Cảnh này diễn ra trong khoảng hai mươi phút. Con cá sấu lặn đi đâu mất, không thấy trở lại nữa. Đêm hôm ấy chúng tôi ngủ rất ngon, và đến sáng lại pha cà-phê: Tôi cởi bỏ cái áo va-rơi để tắm rửa bằng bánh xà-bông Marseille tìm thấy trong thuyền. Maturette dùng con dao mổ của tôi cạo râu cho tôi một cách grosso modo* (*đại khái -tiếng La-tinh thường dùng trong sách vở, ở đây dùng có ý hài hước), rồi cạo cho Clousiot, còn bản thân cậu ta thì không có râu. Khi tôi cầm chiếc va-rơi lên định mặc vào thì thấy rơi ra một con nhện to tướng, mình mẩy lông lá, màu đen tím, hãy còn dính vào áo bằng một sợi tơ. Lông con nhện rất dài, ở đầu mút như có một hòn bi nhỏ màu bạch kim. Nó nặng đến năm trăm gam là ít, trông nó to đùng. Tôi thấy tởm quá, liền dẫm cho nó chết ngay. Chúng tôi đã lấy tất cả các thứ trong lòng thuyền ra, kể cả cái thùng ton-nô nhỏ đựng nước. Nước trong thừng màu tím, chắc là Jésus, muốn cho nước khỏi thối, đã cho quá nhiều thuốc tím vào đấy. Trong mấy cái chai đậy nút rất kỹ có đựng diêm và vỏ quẹt. Cái địa bàn chỉ là thứ địa bàn của học trò cơn nít; nó chỉ cho Nam, Bắc, Đông, Tây, không có đường ghi độ: Cột buồm chỉ cao được hai mét rưỡi, thành thử chúng tôi lấy mấy cái bao bột khâu buồm thành hình thang, bên rìa có đính một sợi dây cho thêm chắc. Tôi làm một tấm buồm foc hình tam giác cân, sẽ lắp ở mũi thuyền cho nó dễ nhấc bổng lên mỗi khi có đợt sóng ngược chiều.
Khi chúng tôi cắm cột buồm, tôi nhận thấy đáy thuyền không chắc: cái lỗ tròn để đút cột buồm vào mòn lở hết. Khi vặn mấy cái vòng có trục xoắn ốc xuống gỗ để lắp bản lề bánh lái, trục sắt cứ lún tuột vào gỗ như thể cắm vào bơ. Chiếc thuyền này mục quá rồi. Cái thằng Jésưs khốn kiếp ấy nó đưa chúng tôi vào chỗ chết. Tôi miễn cưỡng chỉ cho hai bạn thấy rõ điều này: tôi không có quyền giấu họ. Biết làm thế nào bây giờ? Khi nào Jésuss đến chúng tôi sẽ bắt hắn tìm một cái thuyền chắc chắn hơn. Muốn thế, chúng tôi sẽ tước khí giới hắn, và tôi sẽ thủ con dao và cầm cây rìu cùng đi với hắn vào làng để kiếm một cái thuyền khác. Làm như thế rất nguy hiểm, nhưng vẫn không nguy hiểm bằng ra khơi trên cái thứ quan tài kia. Lương thực thì như thế cũng đủ: có một bi-đông dầu ăn và mấy hộp bột sắn lớn. Với từng ấy thứ có thể đi xa được. Sáng hôm ấy chúng tôi chứng kiến một cảnh khá ngộ nghĩnh: một bầy khỉ mặt xám đánh nhau với một bầy khỉ mặt đen lông xù. Trong cuộc ấu đả này chúng đã ném xuống một khúc cành cây rơi trúng đầu Maturette, làm nổi lên một cục u to bằng quả ổi. Chúng tôi ở lại chỗ này đã được năm ngày và bốn đêm. Đêm hôm nay mưa như trút. Chúng tôi che thân bằng những tàu lá chuối dại. Nước chảy như suối trên mặt lá trơn, nhưng chúng tôi chẳng bị ướt chỗ nào trừ hai chân. Sáng hôm sau ngồi uống cà-phê tôi nghĩ mà thấy ghê người vì sự bất lương của thằng Jésus: đây là một tội ác đáng ghê tởm. Hắn đã lợi dụng sự thiếu kinh nghiệm của chúng tôi để thay cho chúng tôi cái xuồng mục ruỗng này! Để bớt lại năm trăm hay một ngàn quan, hắn đã đành tâm đưa ba con người tới chỗ chết chắc chắn. Tôi cứ tự hỏi xem sau khi đã bắt hắn đổi được chiếc thuyền khác liệu tôi có tự kiềm chế được để đừng giết hắn hay không.
Chợt những tiếng chim gì kêu the thé làm náo động cả cái thế giới nhỏ của chúng tôi, nhưng tiếng kêu lảnh lót, chói chang đến nỗi tôi phải bảo Maturette lấy con dao phát đi xem thử. Năm phút sau cậu ta quay về và ra hiệu cho tôi. Tôi liền đi theo. Chúng tôi đi đến một nơi cách chỗ để thuyền khoảng trăm rưỡi mét: tôi nhìn thấy một con chim trĩ hay gà lôi gì đấy treo lủng lẳng trên không. Chân nó bị mắc vào một sợi thòng lọng buộc trên cành cây. Bằng một nhát dao phát, tôi chặt đầu nó để chấm dứt những tiếng kêu ghê người của nó. Tôi nhấc thử trên tay: dễ phải đến năm ki-lô là ít. Chân nó có cựa như chân gà. Chúng tôi quyết định đem nó về làm thịt ăn, nhưng lại chợt nghĩ ra rằng cái dây thòng lọng ắt phải có người treo lên, và chắc quanh đây còn có nhiều dây thòng lọng khác nữa. Thừ tìm xem đã. Chúng tôi quay trở lại chỗ kia thì thấy một hiện tượng rất lạ: cách vịnh khoảng mười mét có cả một dãy rào đan bằng lá và dây leo cao ba mươi phân chạy dài song song với bờ vịnh.

Cứ cách một quãng lại có một chỗ để ngỏ, và ở mỗi chỗ như thế lại có một sợi dây thòng lọng bằng thau ngụy trang bằng những nhánh cây, một đầu buộc vào một cái cành cây chĩa đôi. Tôi hiểu ngay ra rằng con chim từ phía vịnh đi vào tất phải vấp vào dãy rào và phải đi dọc rào để tìm lối vào. Gặp chỗ hở, nó liền đi qua, nhưng chân nó vướng vào sợi dây làm cho cành cây bật lên. Thế là con chim bị treo ngược trên cành cho đến khi chủ nhân mấy cái bẫy đến bắt nó về.
Cuộc phát hiện này làm cho chúng tôi rất lo. Dãy rào có vẻ được trông nom khá tốt, hẳn không phải là rào cũ, và nếu thế thì chúng tôi có nguy cơ bị người làm rào phát hiện. Ban ngày không thể đốt lửa lên được, nhưng ban đêm thì người kia chắc không đến đây làm gì Chúng tôi cắt phiên nhau gác để đề phòng phía dãy rào có đặt bẫy. Chiếc thuyền được giấu dưới một lớp cành cây và bao nhiêu đồ đạc, lương thực đều được đưa vào rừng rậm giấu hết.
Hôm sau phiên gác của tôi trúng vào khoảng mười giờ. Tối hôm qua chúng tôi vừa ăn com chim trĩ hay con gà lôi gì đấy, chúng tôi cũng chẳng biết nữa. Nồi nước súp thật là béo bổ, và thịt con chim, tuy chỉ luộc lên thôi, mà ngon tuyệt vời. Mỗi đứa ăn đến hai cà-mèn. Tôi đứng gác nhưng vì mải mê nhìn đàn kiến sắn lớn màu đen đứng tha mỗi con một dúm mảnh lá lớn về một cái tổ kiến khổng lồ, tôi quên cả gác. Mấy con kiến này dài khoảng một phân rưỡi, chân rất cao.
Mỗi con tha mấy mảnh lá rất lớn. Tôi đi theo chúng đến tận chỗ cái cây chúng đang lột lá, và được thấy cả một tổ chức có qui củ. Trước hết có những con kiến chuyên cắt lá thành từng mảnh. Chúng nó xén một tàu lá to thuộc loại chuối rừng thành từng mảnh kích thước rất đều nhau một cách hết sức khéo léo rồi thả rơi xuống đất. ở phía dưới có một hàng kiến cùng giống với bọn kia nhưng hời khác một chút: bên cạnh hàm chúng cớ một cái vạch màu xám. Mấy con kiến này đứng thành hình bán nguyệt, giám sát bọn kiến tha lá. Bọn này từ bên phải nối đuôi nhau kéo đến chỗ nhận các mảnh lá rồi đi về phía trái, phía tổ kiến.
Chúng nó nhanh nhẹn lĩnh phần mình rồi đi vào hàng, nhưng thỉnh thoảng có những con hấp tấp trong khi nhận phần hay xếp hàng gây thành tình trạng nghẽn lối. Lúc bấy giờ mấy con kiến cảnh sát xông vào can thiệp và đẩy từng con vào đúng chỗ của nó. Có một con kiến thợ, không hiểu đã phạm một lỗi gì nặng mà bị lôi ra khỏi hàng, và hai con kiến cảnh binh, con thì cắt đứt đầu nó ra, con thì cắt người nó ra làm hai mảnh ở chỗ ngang thắt lưng. Hai con kiến thợ bị bọn kiến cảnh sát chặn lại, chúng đặt chỗ lá đang khiêng xuống, đào một cái lỗ, và ba cái mảnh của con kiến bị xử tử: đầu ngực và bụng, bị vùi xuống lỗ và đắp đất lên.









Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 18 Aug 2023

Post by Sơn râu 20 Oct 2025

Kỳ 16

Hình như số tôi không có diễm phúc được ở gần vợ tôi vào những ngày nàng sinh con để có thể vuốt ve an ủi nàng những lúc nàng thấy cần tôi nhất. Ngày vợ tôi sinh em bé thứ nhất thì tôi đang lặn lội trong rừng Plei Trap, Pleiku.

Ngày vợ tôi sinh em bé thứ nhì thì tôi bận khai thông Quốc Lộ 14 nối Pleiku với Kon Tum.

Ngày vợ tôi sinh em bé thứ ba cũng là ngày tôi suýt chết trong một trận đánh vô cùng ác liệt đã xảy ra trên Căn Cứ Hỏa Lực 711. Trận chiến này đã cướp đi hàng trăm sinh mạng của cả hai bên tham chiến.

o O o

Vĩnh biệt

Cao Nguyên…

Sau khi Liên Tỉnh Lộ 8B được khai thông thì Ðại tá Từ Vấn thuyên chuyển, nhường chức Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân cho Trung tá Hoàng Kim Thanh.

Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân tiếp tục tăng phái cho Tiểu Khu Quảng-Ðức. Cuối năm 1974, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn ra đi, Quân Ðoàn II đặt dưới quyền của Thiếu tướng Phạm Văn Phú. Giữa tháng Hai năm 1974 tôi có dịp ghé Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Ông Trịnh Tiếu đã mang cấp bậc đại tá từ vài tháng trước, người phụ tá cho ông Tiếu là Thiếu tá Hồ cũng đã lên trung tá. Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II hiện thời là Ðại tá Lê Khắc Lý.Năm 1971 Ðại tá Lê Khắc Lý đã là Chỉ huy trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2, tôi là một sĩ quan tham mưu dưới quyền ông.Tháng 8 năm 1971, trong buổi họp từ biệt Biệt Ðộng Quân Vùng 2 để theo học lớp Cao Ðẳng Quốc Phòng, trước mặt các sĩ quan tham mưu của Biệt Ðộng Quân Vùng 2, Ðại tá Lê Khắc Lý đã nhắn nhủ tôi một câu mà tôi cứ nhớ hoài:

“Trước khi từ biệt, tôi chỉ khuyên Ðại úy Long một điều là, trên đời này muốn thành công phải biết nhún nhường. Không phải cấp chỉ huy nào cũng thích cái tính khí nông nổi và cương trực của Long đâu!”

Sau gần bốn năm cách xa, gặp lại người chỉ huy cũ tôi vui lắm. Tôi đã ngồi tâm sự với ông Lý gần nửa giờ rồi cáo lui. Trước lúc chia tay, Ðại tá Lý hỏi tôi,

– Sao Long không xin thuyên chuyển đi vùng khác? Cứ bám vào cái đất khỉ ho, cò gáy này mãi vậy?

Tôi trả lời,

– Tôi tính về Liên Ðoàn 6 với ông Tây, nhưng vì ông Tất cố tình lưu giữ nên tôi không đi nữa.

Ông Lý xua tay,

– Mình lo cái thân mình trước, đừng nể nang ai cả! Nếu có dịp đi khỏi Vùng 2 thì chớ bỏ qua! Ðừng lưu luyến cái xứ này!

Tôi không rõ khi nói ra câu đó Ðại tá Lý có ý gì, nhưng tôi cũng thấy lo.

Tôi đã phục vụ ở đơn vị tác chiến của Vùng 2 một thời gian gần mười năm.

Vì thế, tôi có dư điều kiện để xin đổi về Vùng 3, về các quân trường, về Bộ Tổng Tham Mưu hay về canh gác các Phủ, các Bộ ở Sài-Gòn.

Tôi cũng đã biết rõ, trong tương lai, tình hình Cao Nguyên sẽ càng ngày càng nguy kịch, nhưng tôi không nỡ bỏ Cao Nguyên mà đi.

Thế rồi, chưa tới một tháng sau ngày tôi ghé thăm quân đoàn thì Việt-Cộng đánh chiếm Ban Mê Thuột.

Trước khi Ban Mê Thuột bị tấn công, tôi đã xin đem quân về tử thủ thành phố này nhưng không được chấp thuận.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột bị tràn ngập, gia đình tôi và gia đình binh sĩ dưới quyền tôi rơi vào tay địch.

Hôm sau tôi tình nguyện đem quân về tái chiếm thành phố này, nhưng lời cầu xin của tôi bị gác ngoài tai.

Ban Mê Thuột thất thủ, kéo theo sự sụp đổ của Quân Ðoàn II, khiến cho hằng chục ngàn quân, dân của Cao Nguyên phải bỏ mạng một cách thật là oan uổng trên Liên Tỉnh Lộ 7B.

Ngày 15 tháng 3 năm 1975 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã bỏ chạy tới Nha-Trang.

Vậy mà gần nửa tháng sau tôi vẫn còn tả xung, hữu đột ở vùng biên giới Việt Miên, cách xa tỉnh lỵ Quảng-Ðức gần 30 cây số.

Trong cơn hoảng loạn cùng cực của Vùng 2, ông trung tá liên đoàn trưởng bị thương vừa lên máy bay rời vùng ngày hôm trước, thì hôm sau ông trung tá liên đoàn phó cũng đào ngũ.

Cuối cùng, tôi là người phải đứng ra đảm nhận vai trò chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, đơn vị cuối cùng còn tồn tại của Cao Nguyên.

Sau gần nửa tháng lui binh, vừa đói rét, vừa chiến đấu, ngày 6 tháng 4 năm 1975 chúng tôi được Phi Ðoàn 237 Trực Thăng của Quân Khu 3 bốc về Long Khánh, đây cũng là ngày tôi vĩnh biệt Cao Nguyên.

Chiếc trực thăng Chinook nặng nề cất mình lên cao, lượn một vòng, rồi bay thẳng về hướng biển.

Ngồi trong lòng con tàu, tôi dõi mắt nhìn qua khung cửa mà thấy tim mình nhói đau.

Dưới kia, Quốc Lộ 20 ngoằn ngoèo uốn khúc qua Ðèo Chuối…

Ðèo Chuối nằm vắt ngang rặng núi cuối cùng của Cao Nguyên Trung Phần.

Bên kia núi là lãnh thổ của Vùng 3 Chiến Thuật.

Vậy là, chỉ hai năm sau ngày đình chiến, Cao Nguyên Vùng 2 Chiến Thuật của Việt-Nam Cộng-Hòa đã không còn….

VML –

Seattle ngày 15 tháng 4 năm 2023

Vết Nám – Hồi Ký Tù Cải Tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 13 Sep 2015 

Post by Sơn râu 20 Oct 2025

Bài 27

Rối loạn đường tiêu hóa!

(hồi ức về một người bạn tù vong niên)

Ông già Minh tuy còn khỏe mạnh nhưng vì ông là người lớn tuổi nhất đội nên được quản giáo phân công ở nhà lo dọn dẹp phòng ốc, quét nhà, hốt rác…Ông khỏi đi phá rừng, cuốc đất ngoài bãi. Lợi dụng ở nhà có chút thì giờ rộng rãi, già Bình may giúp cái áo lá, cái quần xà lỏn cho người nầy, người khác, để được anh em trả công bằng cái kẹo, cái bánh mà “bồi dưỡng”.

Về khoản may vá thì ai ai cũng công nhận ông là người  khéo tay, mũi chỉ ông ta may đã nhỏ lại đều, áo quần ông cắt vừa vặn, sít sao. Với ba cái túi vải đạn M-16, ông cắt may thành cái áo “may ô”. Bốn cái túi loại đó thì ông may được cái quần xà lỏn. Áo quần ông ta mặc, dù “tự biên tự diễn” bao giờ trông cũng đẹp mắt, sạch sẽ…

Dù được ở nhà, lâu lâu ông cũng phải lên bệnh xá khai đau bệnh nầy, bệnh khác. Mục đích của ông là ngoài cái già, ông còn thêm lý do bệnh để khỏi đi lao động ở ngoài, lỡ có ai moi móc, khiếu nại, v.v… Có thể đó là cái “tẩy” của người khôn nhưng nói như ông thánh Khổng thì “khôn chết, dại chết, biết sống”.

Ở đây thì khôn cũng bị người ta ghét, dại bị người ta chê mà dù có “biết”, không làm gì ai, không đụng tới ai thì vẫn cứ ngắc ngoải như thường…

Tối thứ bảy, họp đội kiểm điểm, Trần Văn Diệm  tố già Minh có thuốc thừa đem cho Diệm khi anh ta bệnh. Điều đó chứng tỏ già Minh có thuốc mà không uống, tức là không bệnh; không bệnh mà khai bệnh, tức là trốn tránh lao động, chưa thấy được “Lao động là vinh quang”, chưa “giác ngộ”, “học tập cải tạo chưa tiến bộ” như thế thì còn lâu “cách mạng” mới cứu xét cho trở về sum họp với gia đình…

Khiếp thật!

Chỉ một việc khai bệnh giả thôi mà có cả chục cái mũ chụp lên đầu. Phen nầy chắc già Minh “mục trại” luôn.

Người miền Nam “phù suy không phù thịnh”; có thể có người ít ưa già Minh nhưng không ai bất nhẫn như Diệm.

Mình đau, người ta cho mình thuốc, nhưng kèm một lời cám ơn là một lời tố cáo. Người ta chê Diệm ngu hơn là cho Diệm xấu tính; ngu ở cái chỗ “quá tin cách mạng”. Có người mỉa Diệm: “Tự giác là tự sát nghe em!”

            Có hôm, người ta hỏi đùa già Minh: “Anh tuổi giáp tý, ông Thiệu cũng tuổi giáp tý. Tại sao ông Thiệu làm ổng thống, còn anh thì đi ở tù?” Tội nghiệp, già Minh lúng túng trả lời không ra. Ông ta cho rằng tại khác giờ sinh, khác ngày sinh, tại ông ta không có chân mạng đế vương, v.v…

            Về lý lịch, ông ta dấu khá kĩ. Với Long, người có tuổi kém ông ta một giáp và Long cũng lớn hơn số đông anh em khác khoảng chừng đó tuổi, thường chuyện trò với ông mà thôi. Hai người cũng từng là giáo sư chế độ cũ trước khi họ nhập ngũ.

Có lần Long nói với anh em: “Trước 1945, ông ta là sinh viên trường luật Hà Nội đấy!” Có người tin Long nhưng cũng có người vì không ưa già Minh nên xuyên tạc lời Long: “Luật gì? Luật đi đường.” Có đứa nói tục: “Đường lụ đấy.” Có đứa lại nói: “Ông ta luật sư thật đấy. Không thấy khi phát biểu, ông ta nói dốc dữ lắm.”

            Già Minh nói với Long hồi kháng chiến chống Pháp, ông cùng với bố ông, cả hai cùng tham gia.

Hồi đó, ông ta phục vụ ở Liên Khu 3, trong ban phát thanh của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến. Long rất thích nghe ông ta kể lại những kỷ niệm thời kháng chiến đó. Ông từng có dịp gặp Trần Chánh Thành khi ông Thành làm Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Liên Việt, một tổ chức ngoại vi của Cộng Sản, nhằm “thu gom”, kiểm soát những sinh viên Hà Nội theo Việt Minh mà không theo Việt Cộng. Già Minh có cảm tình với ông Thành, khen ông Thành giỏi hơn nhiều cán bộ Cộng Sản cao cấp khác. Chỉ vì hai chữ Cộng Sản mà ông Thành bị họ gạt ra ngoài.

            Hỏi già Minh về ông việc phát thanh, già Minh cười: “Có gì đâu mà phát thanh! Bên quân sự cho biết có đánh nhau ở đâu đó thì bên phát thanh cứ thế mà tán dốc lên. Tây bị cháy một xe thì tán lên thành chín, mười xe. Tây chết một thì nói một trăm. Còn phe ta thì bao giờ cũng chỉ có một câu “Quân ta rút lui hoàn toàn vô sự.”

Long cười: “có khi khỏi rút.” Già Minh thật thà hỏi: “Sao lại khỏi rút?” Có người cười: “Chết mẹ hết, còn ai nữa mà rút.” Già Minh cười: “Các cậu đùa thâm thật!”

            Theo kháng chiến được vài năm, già Minh về thành. Hỏi lý do, già Minh nói: “Về để đi làm, kiếm tiền giúp mẹ, nuôi em!” Thế sao bố già Minh lại không về? Đúng ra, việc nuôi con là việc của bố ông ấy, đâu phải bổn phận già Minh.

Có điều bí ẩn gì chăng?

Té ra, bố già Minh trước 1945 là thợ in giỏi, nay ông ấy đang làm ở chỗ in bạc cho Cộng Sản. Bọn chúng canh kĩ lắm, ông ấy không về được.

            Sau khi về thành theo Pháp, già Minh vẫn còn liên lạc với cha. Có lần ông kể cho Long nghe: “Mình nói thật với Long một điều. Năm 1954, sau khi hiệp định Genève ký rồi, bố mình nhắn mình lên chiến khu để ông thăm. Ông ấy đang ở Việt Bắc, kế cận chỗ làm việc của Hồ Chí Minh. Ông bố dặn già Minh một điều: “Phải tìm mọi cách đưa gia đình vào Nam. Cha con từ đó bỏ nhau. Bố mình không bỏ kháng chiến được, cũng giống như mình không thể sống chung với Cộng Sản được. Cha con còn như thế, làm gì có hòa hợp hòa giải mà mong.”

            Bỏ kháng chiến về thành, già Minh dạy học ở một trường trung học tư, làm thêm “giáo tại gia” tại nhà một thương gia giàu có. Cũng nhờ nghề dạy tư nầy mà già Minh cưới vợ.

Mỗi lần ông tới dạy cho mấy đứa em thì cô chị ra mở cửa. Cô ta vòng tay, cúi đầu chào: “Lạy bác ạ!” Vậy mà ông ta xin cưới con nhỏ “Lạy bác ạ” ấy và được ông thương gia thuận cho. Có lẽ thời kỳ ấy cái “mác” giáo sư cũng có giá lắm. Đây là thời kỳ đầu chiến tranh, “sao” chưa lên, “mai” chưa nở thì dân khoa bảng còn chút giá trị. Thần tượng thầy giáo lúc bấy giờ chưa sụp đổ.

            Với cái “hào quang” đó, già Minh di cư vào Nam và thất nghiệp. Ông ta phải chạy đôn chạy đáo mới xin được một chân dạy tư ở Saigon, sống tạm đủ. Đến đầu năm 1960, khi có lệnh tổng động viên, già Minh vào Cảnh Sát.

            Từ đó, cuộc đời ông lên voi xuống chó những mấy lần, không còn những bình thản trước cuộc thế như khi ông làm giáo sư.

Năm 1965, tình hình miền Trung hết sức rối loạn sau khi ông Ngô Đình Diệm bị giết. Già Minh được bổ nhậm làm trưởng ty cảnh sát ở một tỉnh ngoài đó.

Ông không chạy chọt, ông không xin xỏ. Chuyện đi làm trưởng ty, với ông, tưởng như chuyện “trên trời rơi xuống” vậy. Mới vào ngành được 5 năm, từ một nhân viên, cấp trên bằng vào tư cách và khả năng, chọn ông ra ngoài ấy.

Cầm sự vụ lệnh, già Minh đâm lo. Trách nhiệm với chính phủ, với đồng bào, với ngành ông phục vụ, lại ở một tỉnh miền Trung vào một thời kỳ hết sức xáo trộn, già Minh lo nhiều hơn vui.

Từ cổng Tổng nha Cảnh sát đi ra, gặp hai người bạn từng làm trưởng ty ngoài ấy, thời ông Ngô Đình Diệm, già Minh mời họ đi uống càphê và hỏi han kinh nghiệm.

Hai người bạn ấy nói với già Minh, Tổng nha chỉ là nơi ký giấy tờ, còn đằng sau nó là ai, già Minh phải biết chứ!

Đây là cơ quan an ninh cấp quốc gia mà. Ông Diệm làm tổng thống mà không cần biết cái bóng sau lưng ông là ai nên ông phải chết.

Từ nhận xét đó, khi ra miền Trung, già Minh tránh né các “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” mọc lên ở nhiều tỉnh ngoài ấy. Nhờ vậy, ông không bị họ bắt nhốt vào khám lớn như  ông tỉnh trưởng của ông. Nhưng cũng vì sự xáo trộn ấy mà ông rớt chức trưởng ty. Ông lên cao nguyên làm trưởng ty một thời gian ngắn nữa, rồi ông về Tổng nha giữ một chức vụ bình thường.

Làm trưởng ty thì ông có xe hơi, có tài xế, có “tà-lọt”, có bồi bếp, và tùy theo lương tâm mỗi người, người ta có chút ít “tư lợi”. Vợ ông đi chợ, đi phố, con ông đi học, có xe đưa rước. Bữa ăn ngon hơn, tuy không cao lương mỹ vị. Mọi người trong gia đình ai ai cũng ăn mặc đẹp hơn, sang hơn.

Với ông, những cái đó không quan trọng. Không có xe hơi đi làm thì ông đi xe Honda. Ông muốn sống bằng đồng lương của ông để ông khỏi phải lo bị điều tra, bị hạch hỏi. Đi xe Honda, không có tài xế, khỏi phải lưu tâm tài xế chờ đợi. Để ai chờ đợi, ông thấy phiền.

Ông muốn “Qui khứ lai từ” cho nó nhẹ.

Việc ông sống âm thầm nhiều năm trong trại cải tạo chứng minh tấm lòng đó của ông. Mỗi năm, vài lần, cô em gái ông nhà ở gần cầu Chà Và lên thăm. Gói quà nhỏ teo, ông cầm ở tay lặng lẽ vào trại, mở xem rồi gói cất, mặt không buồn không vui. Hình như ông quí cái tình gởi kèm theo gói quà, nó làm ông cảm động. Có ai hỏi thăm, ông nói nhỏ: “Em gái mình nghèo, con đông, tội nghiệp nó.”

Ông không than vãn đói rách như bao nhiêu người khác. Những lần thăm nuôi như thế, có thể làm cho ông nhớ vợ, nhớ con nhiều hơn. Bây giờ thì họ xa lắm, bên kia nửa vòng địa cầu, cách một đại dương mênh mông và không chắc chi ông còn gặp họ nữa. Biết bao nhiêu nhớ thương xoáy động trong tâm hồn một người tù già như già Minh.

            Tôi nghiệp già Minh!

Ông cũng là người như mọi người, cũng xương da. Cái thân xác nó cũng đòi hỏi được ăn no, được bồi bổ theo lẽ tự nhiên của tạo hóa. Nó đòi hỏi chất thịt, chất cá, cục muối, cục đường vậy chứ! Nhưng những thứ “bồi dưỡng” ấy, ít khi ông được có, được ăn. Ngay cả những thức ăn thường ngày như bắp, khoai mì do trại phát cũng thiếu, cũng ít, nên ông cũng không mấy khi được no.

Anh em trong đội, khi được thăm nuôi, phần thực phẩm trại phát, hôm đó, họ không ăn, họ bỏ đi. Ông xin cái đó để ăn thêm cho no. Ông xin cái người ta bỏ đi, không xin cái người ta cất giữ.

Rồi càng ngày cuộc sống bên ngoài càng khó khăn, thân nhân thăm nuôi ít đi, thì cái anh em bỏ ra cũng ít đi, ông đành ăn đói.

Cái đói của ông đâu phải vài ba bữa, đôi ba ngày. Nó kéo dài lê thê từ ngày nầy sang ngày khác, từ tuần nầy sang tuần nọ, từ tháng nầy qua tháng kia, tiếp nối năm hằng năm. Già Minh ở trại năm sáu năm nay, cái đói cứ triền miên như thế.

            Vậy mà cũng hay; ông âm thầm chịu đựng, không vì đói mà ông sinh ra tật nầy tật khác, không nịnh hót, không xin xỏ, không chạy chọt để xin làm nhà bếp, giữ nhà kho, hay một công việc nào đó khỏe hơn, no hơn. Ông vẫn cứ cái công việc giúp anh em như cũ: Vá giùm cho người nầy cái áo, cái quần, lên lai quần, đơm hột nút để được anh em trả công chút ít, bằng cục đường, củ khoai…

            Vậy mà tội nghiệp!

Chẳng ai chơi với ông, chẳng ai chuyện trò với ông. Chỉ có Long được ông ta tâm sự, chuyện trò một đôi lần. Điều đó cũng dễ hiểu. So với tuổi tác giữa ông và anh em trong đội, ông hơn họ những hai mươi năm. Hai thế hệ, xa nhau quá. So với tuổi, Long thuộc thế hệ ở giữa, không kém tuổi ông nhiều quá, và cũng không hơn tuổi số đông anh em nhiều quá. Thành ra Long như là người đứng giữa, là nhịp cầu giữa hai thế hệ xa nhau. Long có thể hiểu ông nhưng số đông anh em không thể thông cảm được.

Tuy nhiên, chuyện trò với Long thì có mà ăn uống với Long thì ông tránh mặt. Ông sợ, nhận của ai mà không thể trả lại thì ông tránh. Điều đó giữ cho ông được sự kính trọng.

            Trong trại cải tạo có nhiều cái phức tạp, mâu thuẫn. Người ta ganh ghét đố kỵ nhau không kém gì ở ngoài đời, có khi còn tệ hơn nữa.

Ở ngoài đời, có ghét ai, thương ai thì lâu lâu mới gặp. Ở trong trại, sáng ra, mới mở mắt đã thấy “đối tượng” rồi. Thương nhiều khi trở thành ghét, và nhiều khi đã ghét lại càng ghét hơn.

Vì đói nên người ta ghét nhau vì ăn. Người được thăm nuôi ít ghét người được thăm nuôi nhiều. Người ở đội cuốc đất ghét người ở đội trồng rau, vì người trồng rau có rau “cải thiện”. Người đội trồng rau thì ghét người đội cấp dưỡng vì cấp dưỡng nhiều khi ăn cắp được đồ ăn, mỉa nhau bằng câu “Giàu nhà kho, no nhà bếp”.

Già Minh ở ngoài đám “trần tục” đó, tránh không ghét ai, đố kỵ ai. Ông thuộc hạng nhất theo đúng nghĩa của nó: Ít được thăm nuôi nhất, sống âm thầm, cô đơn nhất; so với anh em, ông có chức vụ cao nhất và có vợ đẹp nhất.

            Một dịp nào đó, em gái ông lên thăm, mang cho ông mấy tấm ảnh con ông chụp ở Mỹ, mới gởi về. Đứa nào cũng mập mạnh béo tốt. Có lẽ chúng học hành đàng hoàng vì đứa nào cũng mặc áo thụng, đội mũ vuông, thứ trang phục mặc khi tốt nghiệp cấp ba hay đại học. Con trai thì giống già Minh, quắc thước. Con gái thì đẹp, giống mẹ! Già Minh cầm mấy bức hình đi khoe với anh em: “Con mình đây! Hình con mình ở Mỹ mới gởi về đây!” Tiếng nói của già Minh thường thì nhẹ, hơi nhỏ, bây giờ lại đượm vẻ thân yêu, trìu mến khi nói về các con.

Chỉ có hình con, không có hình vợ ông. Chẳng ai hỏi. Người ta tế nhị, ai chẳng biết ông bị vợ bỏ đã lâu! Bà ấy đã có chồng khác thì gởi hình cho ông làm gì. Vậy mà có điều lạ! Chẳng ai tỏ ý thương già Minh bị vợ bỏ trước ngày “sập tiệm” những mấy năm.

Bà ấy bỏ ông đi lấy một kẻ quyền cao chức trọng hơn ông. Nặng định kiến, người ta trở thành bất công với ông. Ông ta bị cướp vợ, nói trắng ra là một kẻ quyền thế chế độ cũ cướp vợ ông.

Ngày nay, bọn cán bộ ngoài Bắc vào cướp vợ của người miền Nam. Cũng nói trắng ra, dựa vào quyền lực chính trị hoặc quyền lực của đồng tiền cũng vậy thôi. Anh em chung đội chưởi rủa bọn ngày nay cướp vợ người, vợ bạn bè của họ. Thế tại sao họ không nguyền rủa kẻ cướp vợ già Minh. Có gì khác nhau giữa những người cướp vợ người khác, dù bọn đó thuộc chế độ cũ hay chế độ mới. Dù ở chế độ nào, cướp vợ người khác là hành động man rợ của loài dã thú đội lốt người, dù người đó là Tào Tháo trong truyện Tam Quốc.

            Bây giờ không ít bà bỏ chồng đi lấy chồng khác, lại lấy cán bộ mới đau lòng. Trước kia, người ta lấy chồng là lấy ông sĩ quan, ông giám đốc, ông trưởng ty… lương cao, bỗng hậu, có kẻ hầu người hạ, có lính tráng, có xe Jeep gắn hai ba cần câu.

Bây giờ là “thằng tù”. Có ai gọi là “ông tù” không nhỉ? Bỏ cái loon ra rồi, vô tù là coi như hai bàn tay trắng. May mắn, có người vợ chung thủy thì người đàn bà lặn lội nuôi chồng trong tù, còn khổ hơn cả “Con cò lặn lội bờ sông…”

Cũng có người “Anh đường anh, tôi đường tôi”. Người ta trách móc phê phán người đàn bà bạc bẽo ngày nay, thế vợ già Minh bỏ chồng đi lấy một ông lớn thì sao? Ghét Việt Cộng nên người ta phê phán người đàn bà ngày nay. Nhưng có thể nào vì “bênh phe ta” mà không phê phán ông quan, ông tướng… chế độ cũ. Than ôi: “Giặc giã triền miên, nhân tâm ly tán…” Có phải đó là chân lý muôn đời của loài người còn mang tâm dã thú?

            Người đời nay mất vợ vì bọn có quyền, có tiền; người ngày trước mất vợ cũng vì những lý do tương tự.

Tội nghiệp cho già Minh, nỗi đau của ông lớn lắm! Ông đau khổ cho ông mà cũng đau khổ cho con ông nữa. Sáu đứa con về với mẹ, rồi lên đường ra xứ người. Bỗng dưng, chúng trở thành những đứa bé không cha.

Với cõi lòng buồn bã, ông thường lang thang, chân ông bước đi mà ông không biết chân mình nằm ở đâu, tưởng như người ông lướt trên mặt đất vậy. Ông tưởng như ông không còn là người nữa. Ông biết ông không làm gì được nữa rồi. Những thứ vợ ông cần, ông không có, không thể nào có được.

Tiền bạc, may ra ông có thể trúng số. Nhưng quyền cao chức trọng, cái đó phải có thời gian gầy dựng, phải trúng bè trúng đảng, trúng phe trúng nhóm. Giả tỉ như bây giờ ông có “lon lá” này nọ, chưa chắc ông có thể đứng về phe nầy nhóm kia. Cái đó không thể có ông. Ông không thể lập bè lập nhóm với ai được. Như việc ông đi trưởng ty vậy. Người ta thấy ông có khả năng mà cho ông đi chứ ông không xum xoe che dù, cho lọng cho ai để có thể có một chỗ ngồi ngon.

Sau khi ông mất chức trưởng ty, mấy lần bà vào sở ông làm, khi năn nỉ, khi đay nghiến, khi hậm hực, buộc ông phải ký giấy ly dị. Ban đầu thì ông còn năn nỉ, ông chần chừ, rồi ông hẹn lần hẹn lữa. Cuối cùng thì ông phải chìu bà. Suốt đời ông ta chìu bà, cái gì cũng nghe bà, chìu bà, kể cả việc chìu bà mà ký giấy ly dị cho bà đi lấy chồng khác.

Chiếc xe đã chuẩn bị sẵn sàng, hành lý đã chất lên xe, cột buộc đâu đó rồi, tài xế, chủ xe đã ngồi trên xe, chỉ chờ ông đưa chìa khóa “công tắc” là xe nổ máy lên đường.

Ông không còn ngăn cản được nữa, không năn nỉ gì được nữa, không thể nhắc nhở một chút tình cảm nào, kỷ niệm nào để mong cho người ta hồi tâm suy nghĩ. Ông vẫn cứ trì hoãn, cho đến một ngày ông thúc thủ đầu hàng. Và lúc đó thì ông chỉ còn đứng lại một bên đường, nhìn theo bánh xe lạnh lùng quay tít. Và đám bụi đường cuộn lên mù mịt. Đứng đó, ông chỉ còn ngửi bụi mà thôi. Đám bụi đó đâu phải là “hồng trần”. Xe đó, đâu có gập ghềnh như xe Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Chuy. Chiếc xe hơi bóng loáng, đẹp đẽ, chạy trên đường êm như ru; nhưng lòng ông thì sóng gió tơi bời, bão táp ầm ĩ, sấm chớp long trời lỡ đất.

Già Minh, đúng là con người hèn nhát. Ông không có bản lĩnh, mạo hiểm, liều mạng chấp nhận cuộc đời này như một trường đấu tranh ưu thắng liệt bại. Ông đã phủ phục, đã cam chịu, đã đầu hàng. Ông là một võ sĩ hạng bét, thấy đối thủ của mình to con quá, vai u thịt bắp quá mà sợ. Chưa lên võ đài, trọng tài chưa thổi còi, người ta chẳng thấy ông đâu nữa. Ngay cả đối với vợ, ông cũng vậy. Bao giờ ông cũng dành cho bà cái thế chủ động, quyết định mọi việc trong nhà. Sự thụ động đó đã đưa lại kết quả ngày hôm nay.

            Ngày đám cưới – tổ chức tại nhà hàng lớn nhứt Saigon – Bao nhiêu tai to mặt lớn đều có hết, kể cả những nhân vật số 1, số 2 của miền Nam máu lửa nầy. –  Người ta tới chứng kiến việc một người đàn ông giàu có, quyền thế, “cưới” bà vợ của một người đàn ông nghèo hèn.

Ông cho thế là không tình không nghĩa, là cuộc sống của bầy thú hoang theo luật rừng xanh. Con “vật đực” mạnh nhất giành lấy những gì nó muốn; và con “vật cái” ngoan ngoãn phục tùng con “vật đực” mạnh nhất ấy để được sự thụ hưởng, che chở.  Đó là xã hội của bản năng, không phải là xã hội của lý trí, chưa đạt tới tính chất “Người”.

Cô ca sĩ hát bài “Em chỉ yêu anh binh nhì” nhưng chỉ chịu làm đám cưới với ông sĩ quan. Đằng sau cái mà người ta gọi là danh giá, là quyền thế, là giàu có, hiện ra trần truồng một sự thật đáng buồn, đáng ghê sợ: Giống cái tìm sự hưởng thụ và che chở ở giống đực. Đó là bản năng sinh tồn, sự bảo toàn nòi giống, như con ngựa cái đến lúc động cởn, nó sẽ bỏ chạy thật nhanh, chỉ có anh ngựa đực nào chạy nhanh nhất mới  được chọn làm “người hôn phối”.

Đó không phải tình yêu. Người ta chọn một ông chồng giàu, một người có thế lực quyền hành, một người trong tay có binh hùng tướng mạnh, dù cho “làm bé ông lớn còn hơn làm lớn ông bé” thì đó là tình yêu chăng? Già Minh không tin điều ấy. Không có tình yêu thì không có bình đẳng. Đó chỉ là sự lợi dụng lẫn nhau. Người “mạnh” thì muốn có kẻ “nô lệ” để nó phục vụ mình, người “yếu” thì chịu làm nô lệ để được đền bù lại bằng cái mình ham muốn.

            Với già Minh, ông ta yêu vợ thật sự, yêu ghê gớm. Vì vậy, ông vô cùng đau khổ khi mất vợ. Ông gởi xe ở nhà hàng Eden rồi ra ngồi nơi bậc thềm Hạ Viện cũ, để nhìn qua nhà hàng lớn, nơi vợ ông ta và người khác đang làm đám cưới. Phải chi ông còn trẻ một chút, để tâm hồn còn nóng bỏng một chút mà huởng cái “thú dau thương”, để nhìn “em” lên xe hoa về nhà chồng, nhìn xác pháo hồng mà nhớ kỷ niệm xưa.

Trớ trêu hơn, ông đã gần năm chục, tuổi “tri thiên mệnh” rồi. Ông đau khổ, ông nhớ thương, ông tiếc nuối, oán hờn. Nói chung, ruột gan, phèo phổi ông rối oạn lung tung. Chỉ có một điều ông tự hào; ông cúi sát mặt, nói với người bạn trẻ: “Long biết không, bà ấy mặc áo cưới bằng nhung đỏ, không dám mặc nhung trắng.” Rồi ông cười, nói tiếp: “Sáu con rồi, còn gì mà mặc áo trắng!” Giọng nói ông đượm vẻ buồn và tự hào rằng ông là người đến trước.

            Ông còn thương vợ ông lắm. Ông chỉ trách vợ một điều, buộc ông ký giấy ly dị. Nói xấu vợ thì không, không bao giờ ông nói xấu vợ. Tuy nhiên, đối với gia đình nhà vợ, ông chẳng có chút lòng kính trọng, những người ông gọi họ là bọn con buôn.

&

            Kể từ khi chuyển ra trại C, gần đồi Phượng Vĩ cũ – già Minh không cần khai bệnh nữa rồi, bởi vì lúc nầy ông bệnh thật, bệnh dữ lắm! Hình như ba năm nay, người em gái của ông không lên thăm ông nữa. Ban đầu, ông còn trông ngóng. Cứ mỗi lần người coi thăm nuôi bươn bả đi vào trại để gọi tên những người được thăm thì ông còn hướng mắt nhìn người ấy, có khi ông còn bước tới gần người ấy để nghe cho rõ có tên ông hay không.

Rồi dần dần, vẻ trông chờ đó không còn nơi ông nữa. Ông thất vọng, rồi ông tuyệt vọng, tuyệt vọng thật sự.

Tội nghiệp, đời ông nhiều nỗi tuyệt vọng quá! Ba năm nay ông không được thăm nuôi mà đời tù của ông thì dài những gấp đội: Sáu năm. Sáu năm đói khát. Sức thanh niên còn chưa chịu nỗi huống gì một người đã được anh em gọi là già.

Ban đầu, ông chỉ bệnh lai rai, đi muốn té, ngồi không vững. Những người ở chung phòng với ông thì thầm với nhau: “Ông ta không bệnh gì đâu! Ông ta đói quá đấy! Đói quá là yếu đi. Vậy rồi ông nằm liệt giường, liệt chiếu.

“Bác sĩ” Hảo xuống tận nơi xem bệnh cho ông, quyết định đưa ông vào bệnh xá và ông qua đời ở đó vì bệnh “Rối loạn đường tiêu hóa.” Phải chi lúc đó có kẻ từ tâm, đến thăm nuôi hay chia sẻ đồ ăn cho ông mỗi ngày thì ông có thể qua được.

            Già Minh chết rồi, qua lời anh em bàn tán, Long lại thường nhắc tới câu ca dao “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”

Ai đang xây chùa, ai đang xây nhà thờ, có ai nghĩ tới những người như già Minh, lúc nầy đây, ngay giờ phút nầy đây đang đói ăn, đang thèm chén cơm, con cá, miếng rau trong trại tù Cộng Sản.

@

Anh Minh thân mến,

            Mấy tháng trước khi anh qua đời, một sáng chủ nhựt, tôi, anh và anh Phí Ích Bành treo võng nằm chơi ở hội trường. Phí Ích Bành và tôi khẳng định với anh rằng Cộng Sản sẽ sụp đổ.

Anh hỏi bao lâu?

Tôi nói rằng cứ những cái mốc trong lịch sử Việt Nam và thế giới hiện đại, người ta phải tính bằng chục năm: 1945, Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai chấm dứt; 1955, người Mỹ thay chân người Pháp ở Việt Nam; 1965, Mỹ đổ quân trực tiếp tham chiến; 1975, người Mỹ cuốn cờ ra đi. Như vậy, ít ra, năm 1985, Cộng Sản mới chuyển mình, mười năm sau mới thay đổi, và sau năm hai ngàn mới thấy những biến chuyển trọng đại. Anh lên tiếng than: “Dài quá! Sức mình không chờ nỗi.” Rồi anh thở dài. Tội nghiệp cho anh. Anh biết cái chết không còn xa với anh nữa. Con ngựa ký đã gối mỏi chân chồn trên con đường thiên lý.

Anh Minh thân mến,

Thế hệ chúng ta gánh chịu quá nhiều đau khổ, phải không anh? Lịch sử đất nước chúng ta chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến tương tàn dai dẳng như cuộc chiến vừa qua: Những ba mươi năm!

Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, chỉ mấy năm là giành được độc lập. Lê Lợi chỉ có “Mười năm bình định giặc Minh”. Lâu dài như “Nam Bắc phân tranh” giữa Trịnh Nguyễn thì đánh nhau cũng chỉ có 7 trận hai bên bờ sông Gianh. Cũng chưa đầy hai mươi năm, Nguyễn Ánh dẹp nhà Tây Sơn, “thống nhất sơn hà.”

Cuộc chiến tranh của thời đại chúng ta là ngu muội nhất. Với sự hỗ trợ từ bên ngoài, vũ khí từ bên ngoài, chúng ta đánh nhau trối chết, giết nhau rất tận tình mà dân tộc chúng ta thì chẳng có lợi gì trong đó cả.

Chúng ta có lý tưởng đấy chứ, sao lại không?

Chúng ta chiến đấu cho Tự Do, nhưng khi cần thì cái gọi là “Thế giới Tự Do” bán đứng chúng ta cho Cộng Sản.

Chúng ta, dân tộc chúng ta gánh chịu nhiều gian lao, nhiều hy sinh để nhân loại thắng Cộng Sản. Đớn đau chính là chỗ đó vậy. Anh đã chết! Nhưng tôi vẫn cứ hỏi anh một điều, từ 1945 đến giờ, gia đình Việt Nam nào không có người chết, nghĩa là người “hy sinh” trong chiến tranh, hoặc sau chiến tranh như anh. Gia đình nào cũng có bàn thờ, thờ một “người lính” đã được “Tổ Quốc Ghi Ơn”.

Gia đình tôi cũng vậy đó anh. Mẹ tôi sinh bốn người con trai. Anh cả tôi bị giết vì chống Pháp, em út tôi, hy sinh trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” khi nó dẫn lính về đánh đuổi Cộng Sản ra khỏi cổ thành Quảng Trị, giành lại quê nhà, nơi chôn nhau cắt rún của anh em chúng tôi.

Chúng ta đã hy sinh cho đời, cho dân tộc quá nhiều. Mồ hôi, nước mắt, xương máu và cả tính mạng. Đời cho ta cái gì? Tù tội như tôi hay nằm xuống lòng đất như anh?

Một hôm đi cuốc đất ngang vườn xoài – Nghĩa địa tù, nơi anh nằm lại đó! Tôi ngoái cổ vào cố tìm mộ anh mà không thấy.

Thật ra, thì có nghĩa lý gì đâu một nấm mồ hoang, một nắm xương tàn. Nhưng khi nhìn vào nghĩa trang ấy, tôi thấy lòng tôi thương anh lắm! Mà khóc cho anh thì tôi không còn khóc được nữa. Ngay cả những người bạn tù, khi liệm anh vào hòm, khi khiêng anh đem đi chôn, họ cũng thương anh lắm. Nhưng họ cũng như tôi, khóc cho anh thì họ cũng không thể khóc được. Biết đâu trong số họ, trong số những người tù Cộng Sản, họ cũng mong ước được như anh.

Nằm im trong mấy tấm ván gỗ tạp, thế là khỏe! Khỏe thật sự! Thế là không còn nhớ, không còn thương; cả oán trách, thù hận cũng không!

Anh biết quá rõ cuộc đời nầy là hư ảo, bởi vì đời anh, anh đã qua biết bao nhiêu rối loạn. Thời kháng chiến chống Pháp, không chịu nỗi Việt Minh, bỏ mà về. Đó không phải là sự rối loạn đầu tiên trong đời anh sao?! Năm 1954, di cư vào miền Nam hàng triệu người, đó là sự rối loạn của dân tộc nhưng cũng có anh trong đó. Lại vì sự “Rối loạn miền Trung” như báo chí hồi ấy gọi, anh mất chức trưởng ty. Sự mất chức nầy, anh tiến mà thoái cũng được, nhưng vợ anh thì không. Vợ anh không lùi được. Ngày vợ anh lấy chồng khác, lòng anh “rối loạn” tơi bời. Ba mươi tháng Tư, “rối loạn” cả miền Nam.

Đời anh quá nhiều rối loạn, và anh chết vì sự rối loạn đó, mỗi lúc chết một ít, chứ anh đâu có phải chỉ vì một sự “Rối loạn đường tiêu hóa” để ra người thiên cổ như “bác sĩ” Hảo nói đâu!

Anh Minh thân mến,

Chung trại tù với anh sáu năm, tôi buồn cho anh, thương anh và phục anh nhiều lắm. Thành ra cái chết của anh cứ ám ảnh tôi hoài. Tôi định viết về cuộc đời của anh, ít ra, cũng thời gian chúng ta gặp nhau trong trại tù Cộng Sản. Để làm chi vậy? Tôi có bổn phận hay hứa hẹn gì với anh đâu! Nhưng tôi cứ nghĩ rằng nếu tôi viết được những gì về anh, lòng tôi sẽ nhẹ nhõm lắm, bớt đi những nỗi nhớ, nỗi thương, nỗi tiếc…

Với lại, may ra các con anh ở đâu đấy, chúng nó sẽ đọc bài tôi viết về anh. Chúng sẽ tự hào chứ anh! Có một người cha giữ được tiết tháo của mình, sự trong sạch và đứng đắn của mình, lòng tự trọng và không quì xuống trước mặt kẻ thù cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay trong trại tù Cộng Sản, là điều đáng quí và tự hào lắm.

Hồi còn ở Việt nam, có những buổi chiều buồn, tôi ra ngồi ở  bờ sông Thanh Đa, nhìn ra sông Saigon lững lờ chảy xuôi mà tiếc rằng cuộc đời chúng ta đã không được êm đềm như vậy.

Cuộc đời những thanh niên thuộc thế hệ chúng ta bao giờ cũng cuồn cuộn như thác lũ. Tiếng bom, tiếng đại bác, tiếng súng trường, súng liên thanh, tiếng máy bay, xe tăng gầm thét, bao giờ cũng đánh thức chúng ta dậy, gọi ta đi…

Và chúng ta đã trải qua những đoạn đường binh lửa, thật dài.

Dù tôi không trở lại chiến trường cũ, dù tôi không còn đi ngang nghĩa địa Vườn Xoài, nơi anh còn nằm đó, nhưng trí tôi không bao giờ nguôi được những hình ảnh của cuộc chiến đấu ngày trước với những nỗi băn khoăn, nhớ thương như trong mấy câu thơ Chinh Phụ Ngâm:

                        “Dấu binh lửa nước non như cũ,

                        Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.

                        Phận trai già ruỗi chiến trường,

                        Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về”    

Ôi! Ban Siêu! Nhà ngươi sung sướng hơn ta nhiều lắm!

Bảy mươi tuổi, nhà ngươi đi đánh giặc trở về, và từ đó, ngươi được sống một đời êm ấm. Còn ta? Ta giã từ vũ khí khi ta mới bốn mươi tuổi đầu, bước vào vòng tù tội tính bằng con số “chục” năm và bạn ta thì không bao giờ về, không bao giờ về nữa.

Anh Minh thân mến,

Từ nơi bờ sông Saigon đó, tôi viết được một ít về anh. Tiếc thay, bọn Cộng Sản đã đến nhà kiếm tôi, khiến tôi phải bỏ bản thảo mà chạy lấy thân.

Nay ở trên bờ biển đảo Bidong nầy, vẫn một nỗi ray rứt như ngày trước, không một chút nguôi ngoai, không bớt đi một chút nào, tôi lại viết về anh. Tôi biết chắc chẳng có đứa nào dám đến tịch thu bản thảo của tôi một lần thứ hai nữa./

Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

PHÙ SA xuất bản 1964

Post by Sơn râu 20 Oct 2025

Phần 1.

Hồi cuối năm 1949, tôi tản cư ra chợ Rạch Giá, ăn nhờ ở đậu tại xóm Sân banh, sát mé biển. Ở tỉnh nhỏ, thật khó kiếm một chân giáo viên tư thục hoặc thơ ký hãng buôn, vì vậy suốt ba bốn tháng trường, tôi cứ nằm nhà mà tập tành việc văn chương, gởi những bài thơ thuộc loại “đồng quê” cho hầu hết các nhựt báo, tuần báo ở Sài Gòn với hy vọng sẽ được các nhân viên tòa soạn lưu ý nâng đỡ. Đôi ba lần tên tôi được nêu trong mục Cánh nhạn bốn phương với kiểu trả lời: “Bạn Hoài Hương: nhận được tác phẩm của bạn. Rất tiếc vì nội dung cưỡng ép, kỹ thuật hơi vụng… nên chúng tôi hy vọng vào những sáng tác về sau. Chúc bạn cố gắng”. Có bạn phụ trách mục Cánh Nhạn, Thư Tín vô tình hay cố ý gọi tôi là cô Hoài Hương và (điều này chắc họ vô tình đã loan tin nhận được một thiên tiểu thuyết của tôi với nhan đề quá lạ vì chưa bao giờ tôi gởi đến báo ấy thiên tiểu thuyết nào cả. Thế rồi “hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai”, đến bài thơ thứ mười lăm, tôi hân hạnh được giới thiệu trong mục Vườn Hoa. Họ trích đăng vài câu, kèm theo đôi hàng bình luận, liệt nó vào xu hướng “tiến bộ, lành mạnh” – những danh từ quá khái quát mà tôi chưa hiểu rõ nghĩa. Tháng sau, vài bài thơ của tôi được đăng trọn, đóng khung, bên góc lại thêm bức tranh con trâu ăn cỏ, cô gái gặt lúa. Trong làng thơ, tôi tự nhận rằng mình đã bắt đầu có chỗ ngồi. Những bài ấy tôi cắt ra, dán kỹ vào quyển Nhựt ký. Đêm đêm, tôi thao thức, sáng tác thật nhiều, hy vọng đến năm sau sẽ hoàn thành một tập thơ khá dày chứa đựng nhiều đề tài độc đáo, phong phú. Vài người bàn cận đã quở trách:

– Cỡ này sao chú hút thuốc vàng móng tay, đầu tóc rối nuồi, quần áo ít giặt. Coi chừng bịnh đa. Xóm Biển này nhiều âm binh khuấy rối.

Tôi khoe khoang công trình làm thơ của mình, trình bày những kết quả cụ thể đăng trên báo. Ai nấy tỏ thái độ nghi ngờ. Hai chữ Hoài Hương có gì bảo đảm đó là bút hiệu của chính tôi. Tôi quyết trả lời cụ thể cho họ biết. Tuần sau, bài thơ nhan đề “Một trăm thiếu một” in rành rành trên mặt báo “Tiến” trước khi vào bài có hàng chữ xiên: Gởi về các bạn Xóm Biển và dưới bút hiệu Hoài Hương còn ghi chú thêm: 137, lô A Xóm Biển, Châu Thành, Rạch Giá, địa chỉ căn nhà mà tôi đang ăn đùm ở đậu.

Nhờ địa chỉ ấy, người trong xóm nể trọng ra mặt, gọi tôi là thầy Hai thi sĩ. Họ thúc hối tôi gởi thơ đăng báo để họ hưởng lây chút danh dự. Hỡi ôi! Dường như nguồn cảm hứng cạn dần, loại thơ “đồng quê” của tôi quanh đi quẩn lại chỉ nói về “mồ hôi thấm luống cày”, “máu thắm chan hòa mạch đất”, “lúa xanh vươn lên” rồi “lúa vàng vàng, lúa chín giữa ngày mùa thơm ngát”. Hoặc cô lái đò hờn duyên tủi phận, ông lão buông câu bên gốc dừa, dưới ánh trăng thanh. Sáng hôm nọ, tôi viết liên tiếp trên hai mươi câu thơ rồi xé bỏ, lơ đãng nhìn ra khung cửa. Trong ngõ hẹp này, ai hay là cả một bầu trời thơ mộng! Vài ông chủ nhà thiếu công ăn việc làm đang rủ nhau đánh đáo lạc, người thua cuộc phải cõng kẻ thắng trên lưng. Vài người tuổi hơn bốn mươi, có cháu nội, cháu ngoại mà vẫn đam mê vùi đầu vào trò chơi trẻ con ấy một cách hồn nhiên. Bên cạnh họ, trong khi chờ đợi mẹ đi chợ về, lũ trẻ xúm nhau bên đống rác, rình rập bắt từng con ruồi như hồi nào trước khi tản cư, chúng bắt chuồn chuồn, bươm bướm ở miền quê. Vài đứa tinh nghịch hơn, tìm dây nhợ, tìm giấy bìa để tẩn liệm rồi cử hành đám táng của một con chuột sình dưới đường mương. Có tiếng nói thơ Vân Tiên vang ra não nuột từ căn nhà của lão Tư Hiếm. Tôi qua đó. Lão gật đầu chào trước:

– À! Cỡ nào rảnh, thầy dạy cho tôi cách thức làm thi phú.

Tôi đáp:

– Dạ, bác cứ lựa những chữ có hơi lên hơi xuống giống như câu hát đưa em, như thơ Vân Tiên là được.

– Nhưng còn vài điệu ngâm khác ngộ hơn. Ngày xưa, tôi đờn cò, vỗ trống cơm cho họ lên xác ông, xác bà. Lâu lâu nghe vài câu tứ cú, bát cú gì đó. Vui lắm. Hồi đó tôi làm ăn khá, nhà rộng, bàn thờ to lắm, đâu như bây giờ.

Giữa nhà lão, cái thùng thông lơ lửng, mí trên đóng đinh sát vào cây đòn dông sần sùi. Mái nhà quá thấp, chỉ cần đứng trên bộ ván để vói tay lên cắm nhang vào cái lon sữa bò đã sét vì mưa tạt. Tấm giấy hồng đơn dán trên trang có bốn chữ Thái Thượng Lão Quân, nhưng nét mực đã nhòa rồi.

Lão nói tiếp:

– Hồi đó, ở nhà tôi thờ hơn mười nơi: Thái Thượng Lão Quân, Ông Quan Đế, Bà Cữu, Thổ Chủ, Tài Thần, Ông Táo… chưa nói đến ông bà và các bài vị khác của thân chủ. Bây giờ, giảm bớt chỉ còn trang thờ trên kia. Điều quan trọng là mình nên tôn kính; lư nhang tuy thô kệch nhưng mình cần giữ đúng nghĩa: trong cái lon sữa bò, tôi đổ gạo lức để cắm chân nhang cho chắc. Gạo là nền móng…

Nói xong, lão vói tay kéo từ nẹp vách đem ra một cái ống điếu dài, có u có nần – kiểu ống điếu bằng cây ớt hiểm rừng, dài cỡ bảy tấc tây, bóng láng vì xài quá lâu năm. Lúc châm thuốc, lão để một đầu ống điếu chỏi sát mặt ván, lưng lão thẳng, đầu hơi cúi xuống, giống như người hút thuốc lào. Chòm râu bạc, mái tóc bạc, hàng chân mày bạc lẫn lộn khuất lấp trong màn khói thuốc mù mịt. Dáng điệu lão giống như một nho sĩ ngồi dưới cội tùng, trong bức tranh cổ Trung Hoa, nếu lão còn giữ cái búi tóc như hồi bốn tháng trước. Và nếu tấm vách lá đừng quá rách loang lổ như từng cánh cửa sổ khép hờ, để lộ bối cảnh ngoài kia: không là núi nhưng là biển – mặt biển xanh như chàm lấp loáng nắng, Hòn Tre nổi lên như con rùa rút cổ, đôi ba chiếc tàu sắt trắng bạc như vôi, treo cờ tam sắc.

– Mau đi! Vợ tôi về rồi kia! Khòm lưng xuống cho tôi cõng! Anh còn thiếu tôi hai cõng. – Một người nói ngoài sân.

Đối phương của anh ta đáp nhanh:

– Tôi khòm lưng đây. Hai cõng kia, anh cho tôi đình lại. Coi như huề. Hồi chiều hôm qua, anh thua tôi liên tiếp hai bàn cờ tướng, nhớ không?

– Để đó! Đáo lạc tính theo đáo lạc. Cờ tính theo cờ. Tôi đánh cờ tướng quá dở. Nếu gặp cờ gánh hoặc cờ chó, tôi hạ anh sát ván. Tụi mình còn ở không ăn chơi nhiều ngày mà. Mai hãy tính.

Hai người đàn ông giải tán cuộc chơi, chạy ngang cửa. Lão hút điếu thuốc thứ nhì, phun khói rồi thở dài:

– Ngao ngán quá!

Tôi hỏi:

– Ngao ngán nỗi gì? Vài năm nữa, thế nào cũng hết giặc. Nhưng tại sao họ giỡn hoài như vậy hả bác! Rồi họ lấy gì làm tiền mà mua gạo hàng bữa? Hăng hái lên mới được chớ!

– Ở tỉnh nhỏ khó kiếm công việc làm. Lóng trước họ vác lúa cho nhà máy Tư Đài. Bây giờ cặp rằng bảo họ tạm nghỉ, chừng có việc làm hãy hay. Họ mới bắt đầu chơi giỡn từ nửa tháng nay, cam phần giữ nhà để cho vợ đi mua bán tần tảo. Hồi mới nghỉ việc, họ siêng năng bươn bả, tối ngày trông mong kiếm sở làm. Tối về, họ khuyên vợ con nên tiện tặn rút bớt việc chi tiêu.

“Nhưng thầy ơi! Có giỏi cắn hột muối ra làm hai làm ba, hoặc làm tư thì lụi hụi hai ngày hoặc bốn ngày cũng ăn hết hột muối. Tiết kiệm nỗi gì! Rầy rà khuyên răn vợ con làm gì? Điều quan trọng là làm sao tạo thêm năm mười hột muối… Tôi thấy vợ con họ bây giờ giống như mấy bà hồi xưa thắt lưng buộc bụng, gánh gạo đường xa để nuôi mấy ‘ông đồ’ cho dài lưng tốn vải. Thôi! Đèn nhà ai nấy sáng. Thầy làm thơ đăng báo, còn có ngày bay nhảy xa xuôi tới Sài Gòn, Chợ Lớn. Phần tôi thì nói thơ Vân Tiên chờ ngày về xứ như họ. Chán ngán quá!”

– Xin lỗi, quê quán của bác ở đâu?

Ngần ngại lắm tôi mới dám hở môi hỏi ông Tư Hiếm một câu mất lịch sự như vậy. Quân đội viễn chinh Pháp còn đồn trú khá nhiều tại chợ Rạch Giá. Nhiều người từ thôn quê tản cư ra chợ, họ giấu giếm tên tuổi, họ hàng và quê quán vì lý do này hoặc lý do khác.

Ông Tư Hiếm mỉm cười:

– Tôi xin giấy “lách xê” rồi. Tôi ở làng Mỹ Lâm.

– Gần núi Ba Thê?

– Sao thầy biết?

– Tôi thấy trên bản đồ. Hồi xưa đi dạo Hà Tiên, tôi có qua ngang đó. Xứ coi bộ buồn quá. Bùn lầy nê địa…

– Nhưng là xứ lâu đời! Nhà tôi ở xóm Mốp Giăng. Cây mốp mọc giăng ngang xanh um, tứ thời mát mẻ, đào xuống đất là gặp mạch nước ngọt. Hàng cây mốp thiên niên đó chính là bờ biển ngày xưa. Bây giờ cày ruộng lâu lâu người ta gặp tượng Phật bằng đá, hột chuỗi hổ phách, chén đá, lưỡi tầm sét hoặc chiếc ghe biển có chèo, cột buồm, đặc biệt là dây đỏi ghe, sợi lớn hơn cườm tay, mục như bùn nhưng còn thấy từng thớ gai xe lại… Người ta nói hồi ngàn năm trước, xóm tôi vui như chợ Rạch Giá bây giờ: cũng ở sát mé biển, tàu bè tứ xứ ra vào mua bán tấp nập. Rồi gặp thiên tai đại họa gì đó, bãi biển bồi lan ra xa, năm này qua năm khác hơn chục cây số.

Tôi phụ họa vào để kéo dài câu chuyện, chờ buổi cơm trưa:

– Đại khái, xóm Mốp Giăng của bác văn minh hơn chợ Rạch Giá ngày nay. Nó ở sát mé biển. Ngặt vì năm tháng trôi qua…

Ông Tư Hiếm đắc ý, vói lấy ống điếu kê xuống ván nhồi thuốc rồi trở bộ xếp bằng, đánh diêm quẹt:

– Bãi biển hóa ruộng dâu… Chừng vài trăm năm nữa, đất bồi lấp cái eo biển sau lưng mình, nối liền đường bộ ra tới ngoài Hòn Tre kia.

Thật ra, tôi ít tin tưởng vào những dự tưởng như vậy. Hồi cuối thế kỷ thứ XIX, nhiều thuyền trưởng Pháp đã tiên đoán thế nào rồi đây mũi Cà Mau cũng nối liền tới Côn Nôn, Tân Gia Ba, căn cứ vào số lượng đất phù sa do sông Cửu Long tuôn ra biển. Nhưng đến nay, chưa xảy ra điều gì quan trọng về mặt địa lý.

Tôi đáp:

– Cách đây tám mươi năm, ông Nguyễn Trung Trực đổ bộ ngay chỗ xóm mình để đánh đồn Kiên Giang. Từ đó tới giờ, dường như đất chưa bồi ra thêm được mấy thước. Biển vẫn còn là biển, thưa bác.

Lão Tư Hiếm cười khì:

– Nhưng đất vẫn bồi. Xứ mình như vậy đó. Nếu trời đất không bồi thì mình bồi để mà sống. Thầy chưa hay rằng…

Lão tạm ngưng câu nói. Tôi nhìn dáo dác, e rằng lão muốn ám chỉ chuyện “quốc sự”, “vá trời lấp biển” kháng Pháp. Nhưng lão gật gù:

– Xóm Biển của mình đây hồi năm ngoái còn là bãi bùn; cây bần, cây vẹt mọc um tùm. Tuy sát bên chợ nhưng ban đêm vẫn nghe tiếng âm binh kêu rú, Mới hôm qua, một cái xác chết trôi tấp vô, thối om rã xương mà ông Cò chẳng thèm hay biết.

Bỗng nhiên, phía trước nhà tôi, dường như thấp thoáng bóng người trạm đưa thư. Tôi phập phồng, liên tưởng đến số tiền nhuận bút của nhà báo từ Sài Gòn gởi xuống, theo địa chỉ.

Tôi đứng dậy nói vói lại:

– Có ai kiếm tôi kia… À, chắc ông Cò biết chuyện thây ma chết trôi đó chớ, nhưng ổng bỏ qua. Ở bót mé sông, hằng đêm Tây giết người rồi thả xuống.

Lão Tư Hiếm giựt mình:

– Điều đó, tôi nghe dân chài lưới nói lại chớ tôi nào dám đề quyết, vu oan cho Tây… Thôi, thầy về ăn cơm hả? Đừng nhắc tới nhắc lui chuyện đó cho người khác nghe, tội nghiệp tôi. Tôi đâu dám kích bác ai… Nói mà nghe vậy thôi.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 20 oct 2025

109. Y Uyên

Y Uyên là một trong những nhà văn miền Nam, xuất hiện trước khi cuộc chiến chấm dứt mấy năm. Ông gốc gác miền Bắc, di cư vào Nam năm 1954. Có thể coi như Y Uyên hoàn toàn trưởng thành tại miền Nam. Thành phố Tuy Hòa, nơi gia đình ông cư ngụ, sau khi ông tử trận, người dân Tuy Hòa đã lấy tên ông đặt cho một con đường. Như thế, ở Tuy Hòa trước năm 1975 có hai con đường, một mang tên Tản Đà và một mang tên Y Uyên.

Sau 1975, nếu những con đường ấy có đổi tên thì cũng là điều dễ hiểu thôi.

Y Uyên tốt nghiệp sư phạm. Trước khi nhập ngũ ông đã đi dạy học một thời gian. Ông mất quá sớm. Hình như ông chưa kịp lập gia đình nữa.

Xuất hiện muộn màng nhưng Y Uyên viết đều đặn và đã để lại 5 tác phẩm: Bão Khô và Tượng Đá Sườn Non [1966], Quê Nhà [1967] Ngựa Tía và Đuốc Sậy [1969].

Ngoài ra còn một số những truyện ngắn đăng tản mạn trên các tạp chí chưa được in thành sách. Phan Nhật Nam, Phan Lạc Tiếp, Dzoãn Dân, Thế Uyên,

Y Uyên đều là những sĩ quan trong quân đội VNCH, nên những gì họ viết về cuộc chiến vừa qua hầu hết đều là những kinh nghiệm bản thân. Chiến trận không phải chỉ diễn ra trên những chiến trường. Nó còn có thể diễn ra ở những hậu cứ, hậu phương, trong tâm hồn tất cả mọi người. Mỗi người Việt Nam đều có những kinh nghiệm riêng về chiến tranh, qua những gì mình tham dự, chứng kiến hay phải chịu đựng.

Y Uyên chết trong một trận Việt Cộng phục kích gần chân núi Tà Dôn, vào đêm cuối cùng ông còn ở lại đơn vị. Như tin người ta được biết, trong túi ông đã có tờ lệnh thuyên chuyển về Sài Gòn, nhưng chưa kịp lên đường.

Như thế Sài Gòn có vẻ là nơi an toàn? Và, nếu cái lệnh đến sớm hơn một ngày, có thể Y Uyên đã thoát chết?

Y Uyên có lối viết nhẹ nhàng. Truyện của ông thường là những truyện không có chuyện. Cái hay nằm ở trong những nhận xét tinh tế, những sự việc nhỏ nhặt, những lời đối thoại bình thường rất gần với cuộc sống ngoài đời và tự nó phản ánh cuộc sống ấy. Người ta yêu, ghét, nín, nhịn, nhớ, quên … trong một nỗi buồn bã, nhạt nhẽo. Lý do cũng chẳng phải vì các nhân vật lạnh nhạt với nhau. Trái lại nữa là đằng khác. Nhưng hình như người ta càng cố gắng thu gần những khoảng cách giữa người nọ với người kia, nó càng trở nên xa hơn.

Các nhân vật của Y Uyên thường ít nói. Ngôn ngữ của họ thường lại chỉ chứa một nửa những gì họ muốn nói. Đó là những điều giá không nói ra cũng được. Sự việc diễn ra giữa họ với nhau cũng ở trong tình trạng nửa vời như thế. Tất cả những điều đó kết thành cái không khí truyện của Y Uyên. Nên dù có là một cái truyện “cũng chẳng có gì” như cách nói của chính ông, đọc xong, người ta vẫn cảm thấy lòng nặng trĩu.

Nại, nhân vật trong truyện Chiếc Xương Lá Mục của Y Uyên vừa cắt đứt mối tình với Kim. Nại đi kiếm Khánh sau khi đã liệng lá thư của Khánh vào bếp.

Y Uyên viết:

“Khánh có vẻ thắc mắc ngay từ lúc Nại bước vô nhà. Nại muốn gì Khánh không hiểu nổi. Chắc chắn một điều Nại trong trí nhớ Khánh nhỏ bé và đơn giản. Cũng như Nại nhớ về Khánh. Có bấy nhiêu thôi. Giờ thì mỗi người như đắp thêm da thịt mới. Ở đó là tích lũy những mệt mỏi thời gian và leo lét chút xúc động tuổi nhỏ có những lúc bùng lên đột ngột như một cái choàng tỉnh ngơ ngác vô ích”.

Hai người chở nhau đi chơi rồi tới một khu vườn bán cây ăn trái. Khánh bóc vỏ một trái đưa cho Nại. Nại nhìn những ngón tay búp măng, móng đỏ, nhai vội mấy trái cây …

Nại hỏi:

– Sao thư viết cho anh em nói trước kia, bây giờ chỉ có anh là hiền?

– Vì ai ở bên em cũng dữ hết. Không có ai thành thực.

– Anh thành thực tới đâu?

Khánh thở ra:

– Biết được địa chỉ của anh em mừng quá viết bậy bạ. Giờ bắt giải thích mệt quá.

Nại bật cười, thấy Khánh có vẻ giận.

– Xin lỗi Khánh. Anh hỏi chơi vậy thôi, không phải vì tò mò.

Khánh thoáng chút ngẩn ngơ, bỏ quên Nại đối diện:

– Bây giờ, anh thật khó hiểu. Nói với anh, có khi phải giữ lời.

Chắc Khánh còn giận, nhưng Nại vẫn nói như hết lòng tin cậy:

– Anh nhiều lúc bất thường. Sống một mình mà lúc nào cũng như múa rối. Những lúc thấy mình khó hiểu anh vẫn tự kết tội. Đầu óc nhiều lúc chỉ còn là chỗ kết hợp những hình ảnh quái đản. Đêm qua, sáng nay, anh nghĩ hoài về một cái xương lá. Cái xương lá không căn nguyên đó có lúc anh nghĩ

là em. Thực vô lối. Cũng thực đáng sợ. Anh đã phải ghép cái hình ảnh có thực đó với em để bớt thấy những thứ trong đầu anh hết còn liên quan tới đời sống”.

Nại rủ Khánh về nhà. Khánh từ chối, lấy cớ có hẹn với bạn. Nại nói, lâu ngày mới được gặp nhau, ‘bỏ một cái hẹn không ăn nhằm gì’.

Khánh nói: “Em biết vậy là mắc lỗi với anh. Nhưng lỡ hẹn, vắng mặt không được”.

Vậy mà lúc còn ngồi ở sau xe trên đường đi, khi nghe Khánh nói biết được chỗ Nại đóng quân, Nại hỏi có lên với anh không, Khánh đáp gọn lỏn “Lên”.

Y Uyên viết tiếp:

“Nhìn Khánh, Nại biết Khánh chưa hề muốn chia tay …Khánh chưa muốn chia tay. Nại lập lại. Nhưng cũng chẳng  còn gì để giữ lại. Nại nói thêm mấy câu. Khánh như người tự mê hoặc, lời từ chối thêm nỗi thiết tha với những bịa đặt vừa có … Nại muốn la lớn: Sao đóng kịch cả với anh Khánh?”.

Các truyện ngắn khác của Y Uyên cũng có nội dung tương tự, một cảnh đời thoáng qua như trong Niềm Vui Xa Gần, một người đàn ông tình cờ gặp một người đàn bà trên một chuyến xe đò. Người đàn bà có hai đứa con, đứa nhỏ còn bế trên tay. Xuống xe, họ phải vuợt qua một cánh đồng nắng to để về làng.

Người đàn ông xách hộ người đàn bà chiếc rương bọc sắt. Tới chỗ chia tay, người đàn ông đặt chiếc rương xuống trả người đàn bà rồi rảo bước. Không có gì chứng tỏ nhưng anh vẫn cảm thấy “một niềm vui có hình dung” và lừng lững đi vào miền quê vốn dĩ nghèo nàn của mình. Cái hình ảnh sau cùng anh ta nhìn thấy khi quay đầu lại là thấy người đàn bà ngồi duỗi cẳng trong bóng mát của ngôi miễu vạch vú cho con bú.

Hạnh phúc trong các truyện của Y Uyên là thứ hạnh phúc nho nhỏ như vậy. Nếu người ta không nhìn nó là một thứ hạnh phúc thì [hình như] cũng không còn gì khác.

Thật buồn. Nỗi buồn ấy tràn lan trong các truyện của Y Uyên.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 20 Oct 2025

108. Xuân Vũ

Về tiểu sử Xuân Vũ người ta được biết: ông tên thật là Bùi Quang Triết, sinh năm 1930 tại Mỏ Cầy, tỉnh Bến Tre [tức Kiến Hòa]. Sau hiệp định Genève ông tập kết ra Bắc. Ở Hà Nội, như lời ông cho biết, ông thấy chế độ nó kỳ cục quá, ông đã vào thẳng trụ sở của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến để xin về Nam. Hành động ngây thơ, dại dột này đã làm khổ ông rất nhiều sau đó. Xuân Vũ đã phải đem hết sức lực, văn tài ra phục vụ “kháng chiến” như một cách “đái công chuộc tội” để chờ cơ hội thoát ly khác. Năm 1967, ông được đưa vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh và năm sau 1968, Xuân Vũ đã tìm được cách rời bỏ hàng ngũ cộng sản, vượt thoát vào Sài Gòn tìm tự do, theo chính sách khi ấy gọi là Chiêu Hồi.

Chuyến vượt trường sơn 1967 cũng là cơ hội khiến ông viết được cuốn “Đường Đi Không Đến” và cuốn sách này đã được giải thưởng Văn Học của Việt Nam Cộng Hòa. Sau ngày miền Nam sụp đổ, rất nhiều cán bộ miền Bắc vào Sàigon, đã đi lùng kiếm ông để trả thù, vì họ cho rằng, Xuân Vũ đã đánh họ một đòn chí tử.

“Chúng ông đến chứ sao không đến và đang đi tìm mày đây”.

Họ đã nói như vậy. Rất may là Xuân Vũ đã đi thoát vào những ngày rối ren

cuối cùng trước hôm 30 tháng 4. Trong cuốn Tôm Hùm Huýt Sáo viết và xuất bản ở Mỹ sau này, Xuân Vũ cho biết:

“Khi tôi về Sài Gòn, tôi có nói rằng tôi sẽ dùng những ngày còn lại của mình để viết ra cho hết cái bụng của tôi về Cộng Sản. Viết về cái sự kỳ cục của chủ nghĩa cộng sản mà tôi phải chạy bạt mạng trốn khỏi nó năm 1967. Sống trong lòng cộng sản tôi đã thấy nó kỳ cục. Thoát ra khỏi lồng nó, ngồi nhìn lại, tôi thấy nó càng kỳ cục hơn, đúng như cảm nghĩ đầu tiên về nó. Và càng ngày nó càng trở nên kỳ cục, siêu kỳ cục đến quái gở”.

Tâm sự với bằng hữu có lần ông nói:

“Sống trong lòng chế độ CS rồi mới thấy được cái nó vô nhân và hiểm độc đến mức nào, và chỉ muốn vượt thoát thôi. Nhưng khó mà thoát ra nổi.

Đến khi ra ngoài rồi thì lại thấy một sự phi lý khác, là nói xấu về chế độ đó một cách đúng mức thì ít ai tin. Vì vậy mà người miền Nam sau 1954, nghe dân di cư vào Nam nói xấu cộng sản, chỉ bảo lại tuyên truyền luận điệu của chính quyền. Ngày nay nhiều người ra hải ngoại rồi, đã nếm mùi cộng sản trong nước, khi nghe nói về chế độ cộng sản cũng không tin nó tệ hại đến thế”.

Nhà văn Minh Võ, người đã dành 40 trang trong cuốn “Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư” của mình để viết về Xuân Vũ cho biết, ngoài viết văn, Xuân Vũ còn làm rất nhiều thơ. Sau đây là “Bài Thơ Một Đời” Xuân Vũ chép tặng Minh Võ:

Khi xuân vắng bóng trên đồng lúa

Là xuân đang ngủ ở trên mây

Giữa trời xuân hái thêm hương nhụy

Đền ơn cha mẹ, tạ ơn thầy

Sắc đẹp, uy quyền đều hủy diệt

Thế gian còn lại chữ mà thôi

Cuộc sống trải ra trang giấy đẹp

Càng viết càng say nét mực ngời

Đất nước cho tôi cây bút thép

Viết đã lâu mà mực chưa vơi

Tổ quốc cầm tay tôi nắn nót

Phập phồng dòng chữ ánh vàng tươi

Đại Nam sống mãi cùng trời đất

Lương tâm của thế kỷ hai mươi

Xuân Vũ quan niệm “chữ như nước, đâu cũng tới được”. Cuộc đời như một cuốn sách. Cuốn sách khép lại. Xác phàm sẽ trở về với cát bụi nhưng hồn thiêng vẫn còn đó.

Như cuốn sách vẫn tồn tại.

Chữ làm sáng chính nghĩa.

Yêu văn chương, yêu chữ nghĩa, Xuân Vũ đã viết như tự hiến thân mình cho một chính nghĩa. Ông đã dùng những kinh nghiệm của bản thân để nói cho mọi người thấy rõ những sự thực gần như không thể tin nổi, những sự thực làm bại hoại đời sống dưới chế độ cộng sản, nói cho mọi người thấy những sự thực ấy là một bổn phận thiêng liêng, một lý tưởng, vì nó có ý nghĩa như là để cứu vãn đời sống đang bị một thế lực đen tối vùi rập.

Không nhờ Xuân Vũ người ta không thể nào được biết, những công thần của chế độ cộng sản như Nguyễn Tuân mà cũng có lúc đã phải thốt lên:

“Thật là kỳ quặc! Người ta sợ cả những cái không đáng sợ. Cấm những cái không đáng cấm, còn những cái đáng cấm thì lại không cấm. Tao mà còn sống được đến ngày nay là nhờ tao biết sợ chúng mày ạ!”.

Chế Lan Viên thì bảo:

“Có một thời người ta ném tất cả những viên đá quý để nhặt những viên sỏi. Khi cần thì chẳng tìm thấy nữa”.

Còn Xuân Diệu thì cho biết:

“Mỗi lần đứng lên nói về thơ Bác, tôi phải khóc để người ta phát cho tôi cái phiếu 2 lạng rưỡi thịt heo”.

Nhưng câu nói mang tai họa cho Xuân Diệu nhiều nhất có lẽ là câu: “Tố Hữu chỉ đứng tới đầu gối Nguyễn Du”.

Theo Xuân Vũ, nói như vậy là chạm tới “mình rồng” rồi. Nhưng “ở trên” không thèm nổi giận mà bảo đám tay sai nổi giận dùm mình.

Cứ xem cái cung cách cư xử ấy người ta đủ thấy cái lắt léo, hiểm nguy của cuộc sống quanh đó. Tất nhiên, những chuyện Xuân Vũ kể lại trong cuốn sách của ông, đến nay, có thể coi như đã cũ. Xuân Diệu đã chết. Tố Hữu cũng đã chết trước khi không còn chút quyền hành nào.

Nhưng người đọc không khỏi thấy buồn nản và tự hỏi:

Tại sao người ta có thể đối xử với nhau như vậy? Một xã hội như thế, tại sao nó cứ tồn tại mãi? Vì tự coi việc viết văn của mình như một hành động cứu vãn đời sống, nên Xuân Vũ đã không ngừng viết cho đến khi tắt thở. Ông viết dễ dàng, câu kệ không cầu kỳ, đôi khi còn mộc mạc nữa là đằng khác. Nhưng cũng chính nhờ thế, những gì ông viết ra người đọc có thể hiểu ngay, không có sự nhầm lẫn. Ông để lại một sự nghiệp khá đồ sộ gồm trên 80 tác phẩm lớn, nhỏ. Có những cuốn dày cả ngàn trang. Trong cuốn “Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết” Xuân Vũ đề cập tới các tên tuổi quen biết như: Nguyễn Tuân, Văn Cao, Hoàng Cầm, Xuân Diệu, Kim Lân, Hoàng Lập Ngôn, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Bính …

Giới thiệu cuốn sách nhà xuất bản viết:

“Tập hồi ký của nhà văn Xuân Vũ chẳng những ghi lại những quan hệ cá nhân của ông với những nhà văn lớp trước tiền chiến, ghi lại những bài học từ các danh nhân ấy mà còn ghi lại những bi kịch trong lòng của từng người một, mỗi bi kịch mỗi khác. Đối với những người sống bên ngoài mảnh đất xã hội chủ nghĩa thì thật là vô cùng khó đoán ra. Không ai có thể nghĩ rằng, một câu thơ mấy chữ mà đã làm cho tác giả bị tước quyền viết 30 năm, một chữ viết hoa hay không hoa đã được cả trăm nghệ sĩ đem ra phân tích chính trị hai đêm liền … “.

Xuân Vũ viết về từng người riêng biệt như ông đã thấy hay gần gũi, quen biết, cùng cái cách thế họ ứng phó với hoàn cảnh và giao tiếp với nhau.

Nói là ứng phó với hoàn cảnh, thực ra chỉ cần gói gọn trong một câu: họ đã chịu đựng hoàn cảnh như thế nào. Chỉ có chịu đựng chứ không có gì khác. Tất cả các phản ứng, nếu có thể gọi như thế, thực chất, cũng chỉ là để cho

nhẹ bớt đi một chút cái sức nặng phải gánh chịu. Vậy thôi. Và người ta hiểu tại sao, những truyện cười gay gắt nhất, đắng cay nhất, người ta nghe thấy bất cứ ở đâu, lúc nào, hàng ngày, thường xuất phát từ miền Bắc. Những truyện cười ra nước mắt mà, Đảng nghi mgờ rằng, chúng đã được sáng tác bởi chính giới văn nghệ, trí thức, như một thứ khí giới của những kẻ bất lực.

Người ta chỉ nhìn thấy những người có quyền hành chứ không thấy lòng kính trọng. Người ta có thể còn chút lòng thương xót đối với nhau, nhưng chẳng ai giúp gì được ai chứ đừng nói gì đến cứu nhau.

Được biết Xuân Vũ từng đi tập kết ra Bắc rồi lại vượt tuyến vào Nam, trong suốt những năm ông ở lại miền Bắc, có thể nói, gần như không có lấy một nụ cười trong cuộc sống, dù là của ông hay những người chung quanh.

Nói gần như, bởi vì, cũng có lúc ông kể lại trận cười phun cả rượu, chẩy nước mắt do Nguyễn Tuân tạo ra cho ông và “thằng bạn Nam kỳ văn sĩ” như ông viết. Nhưng nếu đọc đoạn văn ấy, phải đọc nguyên văn từng chữ một, nên không tiện trích ra đây, người ta mới thấy Xuân Vũ và người

bạn của ông có vừa cười vừa khóc cũng phải.

Ở các trang 114-115, chương nói về Văn Cao, Xuân Vũ viết:

“Sau khi đè bẹp Nhân Văn Giai Phẩm, đảng cho toàn thể văn nghệ sĩ ‘đi thực tế. Tôi không rõ Văn Cao đi đâu và Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán đi đâu, nhưng đi đâu thì cũng bị đảng khinh rẻ và còn tệ hơn nữa bị coi như ‘kẻ thù của nhân dân’. Tôi thường thấy Văn Cao chẳng còn chơi với ai hoặc không ai dám chơi với anh. Thời đó, họa sĩ Nguyễn Sáng, người Mỹ Tho than rằng: ‘Chơi với chó không sợ bị phản hơn là chơi với người’. Bởi vì không ai dám tâm sự với ai. Sợ bị báo cáo. Tố Hữu sẵn sàng nghe những báo cáo bí mật để sắp hạng các văn nghệ sĩ”.

Cái không khí kinh hoàng ngộp ngạt đó nay còn không? Biến thái của nó ra sao? Về cái chết của Nguyễn Bính, “người đã theo kháng chiến hết nghĩa, hết tình”, Xuân Vũ cho biết [trang 272]:

“Không một tờ báo nào ở Hà Nội loan đăng cáo phó Nguyễn Bính. Hội Nhà Văn không gửi ai đến viếng hương hồn nhà thơ”.

Bạn bè xưa đứng trong Thi Nhân Việt Nam với nhau giờ dửng dưng coi như pha. Xuân Diệu, Anh Thơ, Thanh Tịnh, Chế Lan Viên … toàn là ủy viên Hội Nhà Văn không một người nào tỏ ra xúc động, cũng như từ lâu không nhắc nhở tới anh”.

Xuân Vũ từ trần lúc 2 giờ 22 phút trưa ngày 1 tháng giêng năm 2004 tại Texas Hoa Kỳ.

Xin cầu chúc cho hương hồn ông được an nghỉ.

Tiếng dế và ánh trăng

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on August 31st, 2021

Post by Sơn râu 19 Oct 2025

Nguyễn xin gởi bài này cho bạn hiền Nguyễn Trung Dũng. Cứ như con dế bay vào ánh trăng thiên thu nghe ông Dũng… Nhớ nhau bây giờ tôi chỉ còn tìm đọc những trang văn.

Nhớ đã lâu lắm, nhân đi thăm bạn bè ở Bắc Cali, Nguyễn đã được bạn già Hà Thượng Nhân kể lại chuyện cãi nhau với Thanh Tâm Tuyền về câu thơ chữ Hán của Ðặng Trần Côn: Tất suất sổ thanh nguyệt. Câu thơ này được Bà Ðoàn Thị Ðiểm diễn Nôm trong “Chinh Phụ Ngâm”: Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc. Thanh Tâm Tuyền (ôi, anh Tâm và ông Hà đã là người thiên cổ!) sinh thời trong lúc cao hứng đã dịch lại như sau: Dế vài tiếng trăng. Theo Nguyễn tôi nghĩ, ý của anh Tâm là muốn xóa nhòa ranh giới giữa tiếng dế và tiếng trăng – có thể tiếng dế cũng là tiếng trăng – làm cho câu thơ chữ Hán có thêm một tầng ý nghĩa và cảm xúc, như thể nó có chút ý vị gì đó của haiku. Thế nhưng, ông Hà không chịu, bảo TTT không hiểu chữ Hán. Câu chuyện trà dư tửu hậu, chẳng có gì quan trọng nhưng nó có liên quan đến bài “Ðọc Ðêm Nghe Dế Gáy” của ông Hà viết cho Nguyễn Trung Dũng.

Vậy xin hãy gượm, trước khi vào chuyện, thiết tưởng nên nói đôi điều về dế kẻo thiếu tình với anh bạn nhỏ này. Nhiều bạn đọc lớn tuổi hẳn còn nhớ ca từ của bản nhạc “Thằng Cuội” của Lê Thương, trong đó có gợi lên hình ảnh rất đẹp của con dế: Có con dế mèn suốt trong đêm khuya hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ… Ôi, những trẻ em thời xưa, bây giờ đã già hết, nhưng làm sao quên được hình ảnh con dế mèn hát nỉ non dưới ánh trăng. Thật ra, không riêng gì tuổi thơ Việt Nam có hình ảnh con dế. Một bà mẹ ở Mỹ, nhớ lại thời thơ ấu của con trai mình cũng nhắc tới những con dế. Và chúng ta biết rằng trẻ con Nhật, rất yêu dế, thường bắt dế hoặc mua dế, đem về nuôi trong lồng tre. Chúng thường đem dế ra công viên vào những chiều mùa hạ để cho dế tranh gáy với những con dế khác.

Vẫn tiếng dế. Từ ngày qua Mỹ tới giờ Nguyễn tôi chưa hề được nghe dế gáy. Thậm chí, khi cùng vợ về chơi trang trại người bạn Mỹ ở vùng quê Duncan, OK, qua chiều và đêm giữa cánh đồng cỏ, mà không hề nghe con dế nào cất tiếng. Có lẽ vì gió trời lồng lộng chăng? Cũng có thể Nguyễn mải chuyện trò và xem TV nên không nghe dế gáy. Thật ra, theo sách vở, ở Mỹ có rất nhiều dế. Nhà văn Nathaniel Hawthorne có lần viết rằng nếu ta nghe được tiếng của ánh trăng thì nó cũng như tiếng loài dế gọi là snow tree crickets kêu vậy. Nguyễn nhớ thơ haiku (có phải của Basho?) có câu: Ðêm nằm nghe dế gáy / tưởng chừng như tiếng của ánh trăng/ trong khe lá mùa thu

The Cricket in Times Square. nguồn microsoft.com 

Nói tới dế và trăng, Nguyễn nhớ trong tiếng Mỹ có từ “con dế trăng” (moon cricket) dùng để chỉ những người Mỹ da đen thường kéo nhau ra giữa khoảng không trời đất hát những bài ca của người nô lệ dưới ánh trăng. Ðó là vào thời xa xưa trên đất này. Một hình ảnh thật đẹp nhưng ít nhiều ngụ ý khinh khi.

Con dế tuy nhỏ bé là thế, nhưng nó có chỗ đứng trong văn học đấy, các bạn ạ. Một con dế có tên Chester Cricket là vai chính trong một cuốn truyện của George Selden –Con Dế Ở Quảng Trường Times Square, The Cricket in Times Square. Selden kể trong tự truyện: “Một hôm tôi đáp xe điện ngầm về nhà. Lúc bước xuống ga ở quảng trường, tôi nghe tiếng một con dế gáy, lập tức một cốt truyện hình thành trong đầu tôi chỉ trong vài phút. Một tác giả phải cảm tạ những giây phút như thế mặc dù chúng xảy ra không thường xuyên lắm.”

Cốt truyện xoay quanh “nhân vật” mang tên Chester Cricket, một con dế có tài âm nhạc, một hôm đến New York trên chuyến tàu từ Connecticut. Nó thậm chí còn đi xe điện ngầm đến quảng trường Times Square. Tại đây, anh bạn Mario Bellini, có người cha đang lo điều hành một tiệm sách báo đang gặp khó khăn về tài chánh, đã tìm thấy con dế Chester và mang nó về nuôi cho vui, hy vọng nó sẽ mang điều lành tới cho tiệm. Cha của Mario là Papa Bellini cũng rất hoan hỉ khi có thêm con dế Chester trong nhà. Tại đây, Chester gặp Chuột Tucker và Mèo Harry. Hai tên này thường lang thang trong thành phố kiếm ăn nhờ những thực phẩm người ta bỏ đi. Chúng đưa Chester đi thăm quảng trường Times Square và Chester tỏ ra vô cùng thích thú. Thế rồi dần dần Dế Chester phát hiện ra tài năng ca hát của mình. Mario bèn đưa chú đi Phố Tàu mua cho chú một cái lồng để ở. Một hôm, Chester gặm mất hai đô la trong quầy tính tiền khiến Mama Bellini -mẹ của Marion – giận muốn đuổi dế đi, nhưng Chuột Tucker đã dùng những đồng tiền đi xin được để cứu Dế Chester và hoàn lại số tiền. Thời gian qua, trong một bữa tiệc vui của ba đứa -Dế, Chuột và Mèo- chúng đã vô ý để lửa cháy tiệm báo. Ngọn lửa được dập tắt, nhưng Mama Bellini vô cùng tức giận, bảo Mario đuổi Chester ra khỏi nhà. Tuy nhiên, đúng lúc ấy, Dế Chester cất tiếng hát khúc ca Mama Bellini từng ưa thích, và Mama đã hát theo và rồi Mama thay đổi ý kiến. Rõ ràng Chester có một ký ức âm nhạc tuyệt vời khi nó hát những khúc opera kỳ diệu khiến Papa Bellini cũng lấy làm ngạc nhiên thán phục. Về sau nhờ một giáo sư âm nhạc nghe và thích tiếng hát của Chester Cricket đã viết một bài đăng lên tờ “New York Times” nên khách hàng tấp nập kéo đến tiệm báo để nghe Chester trình tấu âm nhạc. Việc buôn bán của gia đình Bellini nhờ đó trở thành phát đạt. Nhưng rồi lòng hoài hương trỗi dậy, Chester muốn trở về vùng đồng nội của mình. Mọi người đều khuyên can nhưng cuối cùng Mario phải để Chester đi. Ðêm hôm ấy, khi trăng lên, Chester cất tiếng ca não nùng từ biệt Mario và bạn bè, rồi tất cả đưa Chester ra nhà ga lớn để về lại Connecticut, quê nhà của Chester.

Pinocchio và dế Jiminy Cricket – nguồn pngimg

Như vậy, con dế đã trở thành hình ảnh thân yêu của văn học, nghệ thuật. Hãng phim Walt Disney cũng đã sáng tạo hình ảnh con dế trong các tác phẩm của mình. đặc biệt, trong phim Pinocchio, dế Jiminy Cricket được xem là biểu tượng của lương tâm nhân vật Thằng Người Gỗ. Và các bạn xem phim The Last Emperor của đạo diễn Bertolucci hẳn còn nhớ hình ảnh vua Phổ Nghi lúc còn nhỏ đã say mê đi tìm và làm bạn với chú dế trong cung.

Như đã nói trên, từ lúc sang Mỹ đến giờ, Nguyễn chưa từng được nghe tiếng dế. Thế nhưng có người đã nghe tiếng dế gáy ở một công viên trên San Jose. Thưa, đó là ông bạn Nguyễn Trung Dũng của Nguyễn. Ôi, ông Dũng đã ra đi. Trong truyện ngắn Ðêm Nghe Dế Gáy, Dũng kể một ông già buổi chiều ngồi trong công viên bỗng nghe tiếng dế gáy. Ông không tin ở Mỹ còn có dế. Vạch cỏ lần theo tiếng gáy, ông thấy một con dế đang cất tiếng dưới một bụi hoa cúc. Ông bèn đưa tay ra gọi dế thì, lạ thay, con dế tự động bò lên bàn tay ông. Thế là ông đem con dế về nhà, ban đêm nghe nó gáy và chuyện trò với nó, đến nỗi cô con dâu ông bảo bố điên vì bố ban đêm nói chuyện một mình. Nhưng thật ra ông chuyện trò với con dế. Một đêm, thức giấc với vầng trăng, ông tự nhủ phải thả con dế vào ánh trăng để nó gáy. Thế là ông mở nắp hộp nhốt dế. “Con dế chui ra. Cọ cẳng, so râu, cánh rung, nó gáy lên một tiếng. Rồi vụt một cái, dế bung mạnh đôi càng bay về phía cửa sổ mở. Ðứng ở đó con dế lại gáy.” Và nó bay ra ngoài… “Ông già tay bấu lên bậu cửa, nhìn theo con dế bay lẫn vào ánh sáng của vầng trăng.”

Một truyện giản dị và cảm động. Như cái tình của con người đối với dế.

TN

Papillon Người Tù Khổ Sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 19 Oct 2025

Bài 6 – Saint-Laurent du Maroni

Bọn giám thị đổi phiên cho nhau để đi thay áo quần. Họ lần lượt quay trở lại, mặc toàn đồ trắng và đội mũ thuộc địa thay cho kepi. Julot nói: “Sắp đến nơi rồi”. Trong hầm tàu nóng kinh khủng vì các cửa sổ đều bị đóng hết. Qua tấm kính tròn có thể trông thấy cảnh rừng rậm. Vậy là tàu đã đi vào sông Maroni. Nước sông đục ngầu, cánh rừng trinh xanh tươi và sâu thẳm. Mấy con chim cất cánh bay vút lên, hoảng sợ vì tiếng còi tàu. Tàu đi rất chậm, cho nên chúng tôi tha hồ ngắm kỹ cái thế giới thực vật màu xanh thăm thẳm, dày đặc và phồn vinh. Đã nhìn thấy những nếp nhà đầu tiên bằng gỗ, mái lợp tôn kẽm. Mấy người da đen, đàn ông có đàn bà có, đứng trước cửa nhìn chiếc tàu đi qua. Họ đã quen nhìn cảnh chiếc tàu này đổ xuống bến món hàng bằng thịt người của nó, cho nên không hề có một cử chỉ chào đón gì. Ba hồi còi và những tiếng chân vịt cho chúng tôi biết là đã đến nơi, rồi mọi tiếng máy dừng hẳn. Bây giờ thì một con ruồi bay ngang cũng có thể nghe thấy tiếng.
Không ai nói với nhau một lời. Julot đã mở con dao nhíp ra, rạch một đường trên ống quần ngang chỗ đầu gối rồi xé cho mấy đường khâu bung ra. Phải lát nữa, khi đi trên cầu cậu ta mới rạch đầu gối, để trước đó đừng có vết máu. Bọn giám thị mở cửa chuồng và bắt chúng tôi xếp hàng ba. Julot ở hàng thứ tư, một bên là Dega còn bên kia là tôi: Chúng tôi lên boong tàu. Lúc bấy giờ đã hai giờ trưa, và một vầng thái dương bằng lửa dọi thẳng vào cái đầu húi trọc và vào hai mắt tôi. Chúng tôi xếp hàng trên boong và được hướng dẫn ra cầu. Đến khi đoàn người hơi chững lại vì những người đi đầu bắt đầu bước lên cầu, tôi giữ cho cái bị của Julot đừng rơi khỏi vai, còn anh ta thì một tay cầm da đầu gối kéo căng ra, một tay cầm dao ấn lưỡi vào chỗ da ấy, chỉ một nhát cắt ngọt bảy tám phân thịt. Anh ta chuyền cái dao cho tôi và một mình giữ lấy bị. Khi chúng tôi bước lên cầu anh ta ngã khụy và lăn lông lốc xuống đến cuối cầu. Người ta vực Julot dậy, và thấy anh bị thương, liền gọi những người khiêng cáng. Sự việc đã diễn ra đúng theo kịch bản của Julot: cậu ta được đưa vào bệnh viện trên một cái cáng hai người khiêng. Một đám đông pha tạp tò mò đứng nhìn chúng tôi. Những người da đen, lai da đen, những người thổ dân Anh-điêng, những người Tàu, những người da trắng tiều tụy trông không còn ra hồn người (chắc là tù khổ sai mãn hạn) chăm chú nhìn từng tù nhân đặt chân lên đất liền và đến xếp hàng sau lưng những người xuống trước. Bên phía đối diện, những viên giám thị, những người Âu mặc thường phục sang trọng, những bà đầm mặc áo mùa hè, những đứa trẻ con da trắng, ai nấy đều đội mũ cối thuộc địa trên đầu. Họ cũng đứng nhìn những người tù mới đến. Khi đã lên bờ được hai trăm người, đoàn tù đầu tiên này cất bước. Chúng tôi đi khoảng mười phút thì đến trước một cái cổng rất cao bằng gỗ súc, phía trên có đề: “Trạm trừng giới Saint- Lau rent du-Maroni. Sức chứa 3000 người”. Hai cánh cổng mở rộng ra và chúng tôi xếp hàng mười bước vào. “Đi đều, bước, một hai, một hai?” Một đám tù khá đông nhìn chúng tôi kéo vào. Có những người đứng trên cửa sổ hay leo lên những tảng đá lớn để nhìn cho rõ.
Vào đến giữa sân, có lệnh: đứng lại! Đặt bị xuống trước mặt. Bọn kia, phát mũ đi!” Họ phát cho chúng tôi mỗi người một cái mũ rơm. Quả thật chúng tôi đang rất cần mũ: chưa chi đã có hai ba người ngã xuống vì say nắng. Dega và tôi nhìn nhau, vì có một tên cảnh binh đeo lon đã cầm lên một cái danh sách ở trong tay. Chúng tôi nghĩ đến những điều Julot đã nói. Chắc họ sắp gọi le Guitou đứng riêng ra. Quả nhiên, le Guitou lập tức được hai viên giám thị kèm hai bên. Hắn rời hàng đi lại. Suzini cũng vậy, Girasol cũng y trang.
– Jules Pignard! (tức là Julot đấy)
– Jules Pignard nó bị thương, đi bệnh viện rồi.
– Được – Đó là những người bị cấm cố ở quần đảo.
Viên giám thị nói tiếp:
– Các người hãy nghe kỹ đây. Người nào tôi gọi tên thì vác bị ra khỏi hàng, đến xếp hàng trước mặt cái lán quét vôi vàng kia, lán số 1 ấy.

Dage, Carrier và tôi ở trong số những người được gọi ra xếp hàng trước lán. Cửa lán mở ra, và chúng tôi bước vào một gian phòng hình chữ nhật dài khoảng hai mươi mét. ờ giữa có để một lối đi rộng hai mét; bên phải và bên trái đều có một thanh sắt chạy suốt từ đầu đến cuối phòng. Những tấm vải toan dùng làm võng được căng giữa thanh sắt và bức tường, trên mỗi tấm có một cái chăn. Ai muốn chọn chỗ nào thì cứ đến đấy. Dega; Pierrot le Fou, Santori, Grandet và tôi chọn chỗ nằm gần nhau, và lập tức các “xóm ở chung” hình thành. Tôi đi ra cuối phòng: bên phải là dãy buồng tắm, bên trái là dãy cầu tiêu. Không có nước máy. Bám vào chấn song các cửa sổ, chúng tôi chứng kiến thủ tục phân phối chỗ ở cho những người tù đến sau chúng tôi. Louis Dega, Pierrot le Fou và tôi mừng rơn lên: chúng tôi được xếp vào một cái lán chung như thế tức là không bị cấm cố. Chứ không thì giờ này đã vào xà-lim cả rồi, như Julot đã giải thích. Mọi người đều hài lòng, mãi cho đến lúc năm giờ chiều, khi mọi việc đã xong xuôi. Lúc bấy giờ Grandet nói:
– Ngộ thật, trong đoàn tù này chưa thấy gọi tên một người nào bị cấm cố. Kỳ quặc thật. Thôi thì như thế càng hay! Grandet là người đã lấy sạch tiền trong tủ két sắt của một nhà tù trung tâm, một vụ trộm đã làm cho cả nước Pháp cười vỡ bụng.
Ở vùng nhiệt đới, đêm và ngày ập tới không có hoàng hôn mà cũng chẳng có bình minh. Ngày chuyển sang đêm và đêm chuyển sang ngày ngay tức khắc, quanh năm lúc nào cũng đúng vào giờ ấy. Đến sáu giờ rười chiều, đêm sập xuống một cách đột ngột. Và cũng đúng sáu giờ rưỡi, hai người tù khổ sai già xách vào hai cái đèn dầu lửa treo lên một cái móc ở trên trần, tỏa ra một ánh sáng yếu ớt. Ba phần tư gian phòng chìm trong bóng tối. Đến chín giờ, mọi người đã ngủ say, vì sau những giờ phút khích động lúc mới đến, ai nấy đều mệt nhoài vì nóng bức. Không có một hơi gió thoảng, mọi người đều mặc quần đùi mà ngủ. Võng của tôi ở vào giữa Dega và Pierrto le Fou, chúng tôi nói chuyện thì thầm một lát rồi ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, trời hãy còn tối thì tiếng kèn đã vang lên. Ai nấy vùng dậy, đi rửa mặt và mặc áo quần. Họ phát cà-phê, và mỗi người được một ổ bánh mì tròn. Cạnh chỗ nằm, mỗi người có một tấm ván gắn vào tường để đặt ổ bánh mì, cái cà-mèn và những đồ lặt vặt khác. Đến chín giờ thấy hai viên giám thị và một người tù khổ sai trẻ tuổi mặc đồ trắng không có sọc, bước vào lán. Hai gã cảnh sát là người Corse, họ nói tiếng Corse với những người tù đồng hương. Trong khi đó người y tá đi đi lại lại trong phòng. Đi qua chỗ tôi, anh ta nói:
– Khỏe không Papi? Cậu không nhận ra tớ à?
– Không.
– Tớ là Sierra l’Algérois, tớ đã làm quen với cậu ở nhà Dante ở Paris.
À phải, bây giờ thì tôi nhận ra rồi. Nhưng cậu đi năm hăm chín, năm nay đã là ba mươi ba mà cậu vẫn ở đấy à?
Ừ cũng chẳng nhanh được đâu. Cậu khai ốm ngay đi. Còn anh này là ai?
– Dega, bạn tôi đấy!
– Tôi cũng ghi tên cho anh khám bệnh. Papi thì bị kiết lỵ. Còn anh bạn già kia thì lên cơn suyễn. Tớ sẽ gặp lại các cậu ở Phòng khám bệnh lúc mười một giờ, tớ có chuyện cần nói với các cậu.
Anh ta tiếp tục đi vừa đi vừa nói to: “ở đây có ai ốm đau gì không?” Hễ có ai giơ tay là anh ta đến hỏi và ghi tên, Khi quay trở lại ngang chỗ chúng tôi, cùng đi với anh ta có một người giám thị già nua, nước da sạm: 
– Papillon, tôi giới thiệu với cậu ông xếp của tôi, y tá trưởng kiêm giám thị Bartiloni. Thưa ông Bartiloni, anh này và anh này là hai bạn của tôi, như tôi đã thưa chuyện lúc nãy.
– Được rồi Sierra ạ, đến buổi khám ta sẽ dàn xếp với nhau, cậu cứ tin tôi. Đến mười một giờ, người ta vào gọi mấy người khai ốm. Chúng tôi có chín người cả thảy. Chúng tôi đi qua trại giữa các đám tù. Khi đến trước một cái lán mới hơn và là cái lán duy nhất được sơn trắng có vẽ chữ thập đỏ, chúng tôi dừng lai và bước vào một gian phòng đợi trong đó có khoảng sáu mươi người. ở mỗi góc phòng có hai viên giám thị. Sierra hiện ra, mình mặc một chiếc blouse trắng muốt. Anh ta nói: “’Anh này, anh này và anh này, vào đi”. Chúng tôi bước vào một căn phòng có thể nhận ra ngay là phòng làm việc của bác sĩ. Anh ta nói với ba người bạn bằng tiếng Tây-ban-nha. Cái anh Tây ban-nha này thì tôi nhận ra ngay lập tức: đó là Fernandez, kẻ đã giết ba người Argentina ở hiệu cà-phê Madrid ở Paris. Khi hai người đã trao đổi với nhau mấy câu, Sierra đưa hắn vào một cái buồng kín ăn thông với gian phòng, rồi ra gặp chúng tôi:
– Papi, cậu để tớ hôn cái. Tớ rất hài lòng được dịp giúp cậu và bạn cậu một việc quan trọng như thế này. Cả hai đều bị cấm cố… ồ! cậu cứ để tớ nói? Cậu thì chung thân, còn Dega thì năm năm. Các cậu có tiền không?
Vậy thì mỗi cậu đưa đây năm trăm francs, sáng mai hai cậu sẽ được nhập viện. Cậu thì bị kiết lỵ. Còn bác Dega thì thế này: đang đêm bác hãy ra đấm cửa, hay tốt hơn là một cậu nào khác gọi tên gác và đòi y tá nói rằng Dega đang chết ngạt. Phần còn lại tôi sẽ lo Pappilon ạ, tôi chỉ xin cậu một điều: nếu cậu chuồn, cậu phải báo trước cho tôi biết kịp thời, tôi sẽ đúng hẹn. ở bệnh viện, mỗi người trả một trăm francs một tuần thì họ có thể giữ cho nằm một tháng, làm nhanh lên.
Fernandez từ trong buồng kín đi ra và đưa năm trăm francs cho Sierra ngay trước mặt chúng tôi. Tôi liền đi vào buồng và khi trở ra tôi đưa cho anh ta không phải là một ngàn francs mà là ngàn rưởi. Sierra từ chối cái số năm trăm francs kia. Tôi không muốn nài thêm.
Anh ta nói với tôi:
– Số bím cậu đưa cho tớ là để đút cho viên cảnh binh. Còn tớ thì tớ không lấy gì đâu. Chúng mình là bạn kia mà?
Hôm sau, Dega, tôi và Fernandez đã nằm trong một gian phòng rộng thênh thang của bệnh viện. Dega đã được đưa về đây lúc nửa đêm. Người y tá trông nom phòng này là một người ba mươi lăm tuổi tên là Chatal. Hắn đã được Sierra dặn dò đầy đủ về ba chúng tôi. Khi nào bác sĩ qua đây, hắn sẽ cho ông ta xem một kết quả xét nghiệm trong đó ông ta có thể thấy ruột tôi đầy ắp a-míp. Về phần Dega thì mười phút trước khi bác sĩ đến đến, anh ta cho đốt một ít lưu huỳnh và đưa cho bác ta hít, đầu đội một cái khăn mặt. Fernandez thì một bên má sưng vù to bằng quả dừa: anh ta đã chích thủng lớp da phía trong má và đã thổi thật mạnh trong một tiếng đồng hồ. Anh ta làm việc này một cách tận tình đến nỗi cái má ung to lấp hẳn một mắt. Gian phòng bệnh nhân đặt ở tầng lầu một của một tòa nhà khá lớn, có gần bảy mươi bệnh nhân nằm, trong đó có nhiều người bị kiết lỵ. Tôi hỏi người y tá xem Julot ở đâu. Anh ta nói:
– Ở tòa nhà ngay trước mặt. Cậu có muốn tớ nhắn gì không?
– Có. Nhờ cậu nói với Julot là Bươm bướm và Dega đang ở đây, cậu ấy hãy ra đứng ở cửa sổ.
Người y tá muốn ra vào phòng này lúc nào cũng được. Muốn thế anh ta chỉ cần gõ cửa, sẽ có một người A-rập ra mở ngay. Người A-rập này là một người “giữ thìa khóa”, tức một người tù khổ sai giúp việc cho các giám thị. Hai bên cửa ra vào có đặt ghế tựa cho ba viên giám thị ngồi, súng trường để sẵn một bên. Chấn song cửa sổ đều là những thanh đường ray xe lửa: tôi cứ tự hỏi không biết làm cách nào để cưa đứt những chấn song to và chắc như vậy. Tôi ngồi xuống cạnh cửa sổ.

Khoảng giữa tòa nhà của chúng tôi và tòa nhà của Julot có một mảnh vườn đầy hoa đẹp. Julot hiện ra ở cửa sổ, tay cầm một tấm bảng đen nhỏ trên đó có viết bằng phấn một chữ BRAVO (“hoan hô”). Một giờ sau người y tá đem lại cho tôi một cái thư của Julot. Anh ta viết: “tôi đang tìm cách sang phòng cậu. Nếu tôi thất bại, cậu cố sang phòng tôi. Lý do là các cậu có những kẻ thù ở bên phòng ấy. Thế ra các cậu bị phạt cấm cố à? Can đảm lên, ta sẽ thắng chúng nó”. Cái biến cố xảy ra ở nhà lao Beaulieu trong đó hai chúng tôi cùng chịu đau đớn đã gắn chặt chúng tôi lại với nhau. Julot là chuyên gia về môn sử dụng chày vồ, cho nên mới được mệnh danh là “người cầm búa”. Cách hành động của Julot hồi còn tự do là như sau: anh ta đi xe hơi đến đỗ trước một cửa hàng bán đồ trang sức vào giữa ban ngày, vào lúc những thứ kim hoàn đẹp nhất được bày ra tủ kính phía trước. Trong khi chiếc xe hơi do một người khác lái vẫn nổ máy đứng đợi, anh ta xuống xe rất nhanh, tay cầm một cái vồ lớn bằng gỗ phang mạnh vào cứa kính, vơ thật nhiều đồ nữ trang rồi nhảy lên xe phóng đi nhanh. Sau khi đã thành công ở Lyon, Angers, Tours, Le Havre, Julo tấn công vào một hiệu kim hoàn lớn ở Paris vào lúc ba giờ chiều, lấy đi một số đồ nữ trang trị giá gần một triệu. Anh ta chưa bao giờ kể cho tôi nghe mình đã bị nhận dạng như thế nào và tại sao. Anh ta bị xử hai mươi năm tù khổ sai, và đến năm thứ tư anh ta đã vượt ngục. Và, như anh ta đã kể với chúng tôi, chính vì trở về Paris mà anh ta bị bắt lại: anh ta đi tìm cái người trước kia vẫn oa trữ những đồ anh trộm được để giết hắn, vì hắn mãi không chịu giao lại cho em gái Julot một số tiền lớn mà hắn nợ của anh ta. Hắn tình cờ trông thầy Julot tha thẩn trước phố hắn ở, liền báo cảnh sát Julot bị bắt và đành trở lại về nhà tù khổ sai với chúng tôi.
Chúng tôi nằm bệnh viện đã được một tuần. Hôm qua tôi đã đưa hai trăm francs cho Chatal, đó là cái giá hàng tuần hai chúng tôi phải trả để được giữ lại ở bệnh viện. Để được kính nể, chúng tôi lấy thuốc lá ra mời tất cả những người không có thuốc lá. Một người tù khổ sai sáu mươi tuổi quê ở Marseille tên là Carora, đã kết bạn với Dega. Ông ta là cố vấn của Dega. Mỗi ngày ông ta nhắc đi nhắc lại với Dega nhiều lần là nếu Dega có nhiều tiền và ở trong làng người ta biết như thế (qua các báo từ Pháp gửi sang, ở đây người ta biết được những vụ lớn), Dega đừng vượt ngục thì hơn, vì những người tù mãn hạn đã được trả tự do sẽ giết bác ta để lấy plan. Dega nói lại cho tôi biết những buổi nói chuyện này với ông già Carora. Tôi ra sức nói cho Dega hiểu rằng lão già kia chắc chắn là một người vô tích sự, phải có thế mới đành chịu ngồi lỳ ở đây hai mươi năm nay, nhưng bác ta không chịu nghe. Dega bị những lời lẽ của lão già tác động rất mạnh và tôi phải khó nhọc lắm mới giữ vững được tinh thần cho bác ta bằng niềm tin mạnh mẽ của tôi.
Tôi gửi cho Sierra một mảnh giấy yêu cầu anh ta đưa Galgani vào nằm bệnh viện. Tôi không phải đợi lâu. Ngay hôm sau Galgani đã vào viện, nhưng lại nằm trong một phòng không có chấn song. Làm thế nào để trả lại cho Galgani cái plan của cậu ta? Tôi nhắn Chatal rằng tôi hết sức cần gặp Galgani, và để cho anh ta hiểu rằng đây là một cuộc chuẩn bị vượt ngục. Chatal nói với tôi rằng anh ta có thể đưa Galgani đến gặp tôi năm phút vào lúc mười hai giờ trưa. Đến giờ đổi gác, anh ta sẽ cho Galgani ra hiên nói chuyện với tôi ở cửa sổ, và không chịu lấy tiền công gì cả. Đúng mười hai giờ trưa, Galgani được đưa đến gặp tôi ở cửa sổ. Tôi trực tiếp đưa cái plan cho cậu ta. Galgani đứng trước mặt tôi cho plan vào bụng. Cậu ta khóc. Hai ngày sau, cậu ta gửi cho tôi một tờ tạp chí trong đó có để năm tờ giấy một ngàn francs và một chữ gọn thon lỏn: merci. Khi trao cho tôi tờ họa báo, Chatal đã trông thấy số tiền. Anh ta không nói gì, nhưng bản thân tôi muốn biếu anh ta chút đỉnh. Anh ta từ chối. Tôi nói:
– Chúng tôi ra đi đây. Anh có muốn đi với chúng tôi không?
– Không, Bươm bướm ạ, tôi đã hẹn với một nhóm khác phải năm tháng nữa, khi người cùng nhóm với tôi ra khỏi xà-lim, tôi mới đi được. Lúc bấy giờ cuộc vượt ngục sẽ được chuẩn bị kỹ hơn, và như thế chắc ăn hơn.

Còn anh bị cấm cố, cho nên vội là phải, nhưng ở đây cửa có chấn song thế kia sẽ gay lắm đấy. Anh đừng mong nhờ tôi giúp, vì tôi không thể để mất chỗ làm này. ở đây tôi có thể yên tâm đợi bạn tôi ra khỏi xà-lim.
– Rất tốt Chatal ạ. ở đời phải trung thực, từ nay tôi sẽ không nói gì với cậu về việc ấy nữa.
– Tuy vậy, tôi vẫn sẽ tiếp tục đưa thư cho anh và làm những việc anh nhờ.
– Cám ơn Chatal.
Đêm hôm ấy có tiếng tiểu liên bắn mấy loạt. Sáng hôm sau chúng tôi được biết rằng “người cầm búa” đã vượt ngục. Tôi cầu mong Thượng đế phù hộ cho anh ta; đó là một người bạn tốt. Chắc anh ta gặp được một cơ hội nào đấy và đã thừa cơ bỏ trốn. Thôi cũng mừng cho anh.
Mười lăm năm sau, tức vào năm 1948, tôi đang ở Haiti, cùng đi với một nhà triệu phú người Venezuela đến gặp ông chủ nhiệm Casino để thương lượng ký hợp đồng quản lý sòng bạc ở Haiti. Một đêm, tôi vừa uống sâm-banh trong một tiệm rượu ra, thì một trong những cô gái cùng đi với chúng tôi, người đen như than nhưng có giáo dục như một cô gái nhà lành ở một tỉnh lẻ bên Pháp nói với tôi:
– Bà ngoại em làm thầy lễ đạo vaudou, hiện nay sống với một ông già người Pháp. Đó là một người tù Cayenne vượt ngục. Hai ông bà ở với nhau đã được hai mươi năm nay. Ông ta suốt ngày say khướt. Tên ông ta là Jules Marteau.
Tôi lập tức tỉnh rượu:
– Cô bé hãy dẫn tôi đến nhà bà ngoại cô ngay. 
Cô ta dùng phương ngữ Haiti nói với người lái tắc-xi đang phóng hết tốc độ. Khi đi qua một hộp đêm sáng trưng, tôi bảo dừng xe lại rồi chạy vào mua một chai Pernod, hai chai sâm-banh, hai chai rhum nội địa. Xe lại lên đường. Chúng tôi đến bờ biển, xe đổ trước một ngôi nhà đỏm dáng tường sơn trắng, mái lợp ngói đỏ, nước biển vào đến gần sát bậc thềm. Cô gái gõ cửa hồi lâu mới thấy một bà già cao lớn, tóc bạc trắng, ra mở. Bà ta mặc một cái áo thụng dài đến tận mắt cá. Hai người đàn bà nói gì với nhau bằng tiếng địa phương một lúc, rồi bà già nói: “Mời ông vào trong, ngôi nhà này là của ông”. Một ngọn đèn đất soi sáng một căn phòng rất sạch, bày những lồng chim và bể cá.
– Ông muốn gặp Julot à? Xin ông đợi cho một chút, ông ấy ra ngay. Jules, Jules? Có người muốn gặp ông đây này.
Mình mặc một bộ pyjama sọc xanh khiến tôi nhớ lại đồng phục của nhà tù khổ sai, một ông già đi chân không bước ra.
– Nào, bà Cục Tuyết nói lại nghe coi, ai lại đến thăm tôi vào giờ này? Bươm bướm! Không, chẳng lẽ? – Julot ôm chầm lấy tôi và nói:
– Đưa cái đèn lại đây, bà Cục Tuyết, để tôi nhìn mặt thằng bạn già chút nào. Thôi đúng rồi, đích thị. Chính cậu đây rồi! Thế là cậu là thượng khách. Ngôi nhà này, món tiền tôi đang có, đứa con gái của vợ tôi, tất cả đều là của cậu. Cậu chỉ cần nói một tiếng.
Chúng tôi đã cùng uống hết chai Pernod, hai chai sâm-banh, hai chai rhum, và thỉnh thoảng Julot lại cất tiếng hát. Thế là rốt cục cánh ta vẫn thắng chúng nó cậu nhỉ? Cậu thấy chưa, không có gì tuyệt bằng phiêu lưu mạo hiểm. Như tớ đây đã đi qua Colombia, Panama, Costa Ria, la Jamaica, để rồi cách đây chừng hai mươi năm, dừng lại ở đây và tìm được hạnh phúc với Cục Tuyết là người đàn bà tốt nhất mà một người đàn ông có thể gặp được trên đời này. Bao giờ cậu đi. Cậu ở đây có lâu không?
– Không, một tuần thôi.
Cậu đến đây có việc gì?
– Ký hợp đồng trực tiếp với chủ nghiệm Casino về quyền quản trị sòng bạc ở đây.
– Cậu ạ tớ cũng muốn rằng cậu ở lại đây suốt đời với tớ trong cái xóm tiều phu đốt than này, nhưng nếu cậu đã bắt liên hệ với thằng cha chủ nhiệm ấy thì cậu chớ làm gì chung lưng với hắn, hắn sẽ cho người ám sát cậu khi thấy công việc của cậu phồn vinh.
– Cám ơn lời khuyên.
– Còn bà Cục Tuyết, bà hãy chuẩn bị cuộc vũ hội đạo vaudou “không dành cho khách du lịch” đi. Một cuộc vũ hội thứ thiệt cho bạn tôi!
Vào một dịp khác tôi sẽ kể cho các bạn nghe cái buổi vũ hội trứ danh này của đạo vaudou, “không dành cho khách du lịch”.
Vậy là Julot đã vượt ngục, còn tôi, Dega, Fernandez vẫn đang chờ đợi. Thỉnh thoảng tôi lại nhìn những chấn song cửa sổ, cố làm ra vẻ vô tư. Đó quả là những khúc đường ray xe lửa thật, không tài nào phá được. Bây giờ chỉ còn lại cửa lớn. Ngày đêm lúc nào cũng có ba tên giám thị có súng ngồi canh. Từ khi Julot vượt ngục, việc canh phòng càng thêm cẩn mật. Những lượt đi tuần dày hơn, ông bác sĩ không được ân tình như trước. Chatal mỗi ngày chỉ đến hai lần để tiêm thuốc và đo nhiệt độ cho bệnh nhân. Lại một tuần nữa trôi qua, tôi lại trả thêm hai trăm francs, Dega thì nói đủ các thứ chuyện, trừ chuyện vượt ngục. Hôm qua bác ta trông thấy con dao mổ của tôi, hỏi luôn:
– Cậu vẫn giữ con dao ấy đấy à? Để làm gì thế?
Tôi bực bội trả lời:
– Để bảo vệ cái thân tôi và cả cái thân bác nữa khi cần.
Fernandez không phải người Tây-ban-nha, cũng không phải người Argentina. Đó là một người khá, một tay giang hồ chân chính, nhưng chính anh ta cũng bị tác động vì những câu chuyện của lão già Carora. Một hôm tôi nghe thấy anh ta nói với Dega: “ở Quần đảo hình như khí hậu tốt lắm chứ không phải như ở đây, mà không nóng mấy. Nằm trong phòng này rất dễ lây bệnh kiết lỵ vì chỉ cần đi ngoài là có thể bị vi trùng dính vào rồi”. Trong căn phòng dành cho bảy mươi bệnh nhân này ngày nào cũng có một hai người chết vì bị kiết lỵ.
Có một điều kỳ thú đáng lưu ý là họ đều chết vào lúc triều lên buổi chiều hay buổi tối. Chưa có một người bệnh nào chết vào buổi sáng. Đó là một điều bí ẩn của thiên nhiên.
Đêm hôm ấy tôi có một cuộc thảo luận với Dega. Tôi nói với bác ta rằng thỉnh thoảng ban đêm tên giữ chìa khóa người A-rập lại vào phòng đến giở chăn đắp của những người ốm nặng trùm chăn kín mặt. Đó là một hành động rất sơ hở. Chúng tôi có thể đánh vào đầu cho nó ngất xỉu, mặc áo quần của nó vào (chúng tôi đều chỉ mặc sơ-mi dài và đi dép, ngoài ra không có gì khác).
Đóng bộ xong, tôi sẽ đi ra và bất thình lình giật súng của một tên giác cửa, chĩa súng vào mặt chúng nó, bắt chúng nó vào phòng rồi khóa trái cửa lại. Sau đó chúng tôi sẽ nhảy qua tường của bệnh viện ở phía sông Maroni, lao xuống nước rồi để cho luồng nước cuốn đi. Sau đó sẽ hay. Sẵn có tiền, chúng tôi sẽ mua một cái thuyền và một ít lương thực để vượt biển. Cả Dega lẫn Fernandez đều dứt khoát bác bỏ kế hoạch này, lại còn phê phán tôi nặng lời nữa. Tôi thấy rõ là họ đã nản chí cho nên rất thất vọng. Trong khi đó thời gian cứ trôi qua.
Chúng tôi nằm đây đã được gần ba tuần. Tối đa chỉ còn mười, mười lăm ngày để chuẩn bị vượt ngục. 
Hôm nay là ngày hai mươi mốt tháng mười một năm 1933, một ngày đáng ghi nhớ. Một bệnh nhân mới bước vào phòng: đó là Joanes Clousiot, người mà họ đã tìm cách ám sát ở Saint-Martin, trong phòng cắt tóc của nhà lao. Hai mắt anh ta nhắm nghiền, đầy những mủ, anh ta hầu như đã mù. Khi Chatal đã ra khỏi phòng, tôi đến cạnh Clousiot. Rất nhanh, anh ta nói với tôi rằng mấy người tù cấm cố kia đã lên đường ra Quần đảo mười lăm hôm nay rồi, nhưng riêng anh ta thì họ bỏ quên. Cách đây ba hôm, một nhân viên kế toán đã báo cho anh ta biết. Anh ta liền bỏ một hạt thầu dầu vào mắt: mắt anh mưng mủ lên cho nên anh được đưa vào đây. Clousiot rất quyết tâm vượt ngục.
Anh ta nói với tôi rằng anh ta sẵn sàng làm tất, kể cả giết người nếu cần, miễn sao đi được. Anh ta có ba nghìn francs. Khi đã được rửa mặt bằng nước nóng anh ta liền nhìn rõ ngay. Tôi trình bày dự định vượt ngục cho anh nghe. Anh ta tán thành, nhưng lại nói rằng muốn đánh úp bọn giám thị phải có hai người, nếu được thì ba càng tốt. Có thể tháo chân giường ra, mỗi người cầm một cái (chân giường làm bằng sắt) để đánh vào đầu bọn gác. Theo anh ta thì dù có cầm súng chĩa vào chúng nó, chúng nó cũng sẽ không tin rằng mình dám bắn, và chúng nó có thể gọi bọn gác ở tòa nhà kế cận, nơi Julo đã trốn thoát, chỉ cách chỗ chúng tôi không đầy hai mươi mét.



Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3 Aug 2023

Post by Sơn râu 19 Oct 2025

Kỳ 15

Phái đoàn gồm có một đại tá, một trung tá và bốn thiếu tá. Mặt người nào cũng đăm chiêu, đằng đằng sát khí.

Tôi là thuyết trình viên, Trung úy Trần Dân Chủ, làm người chỉ bảng và cung cấp tang vật.

Trong mười phút, tôi tóm lược tình hình bạn địch cho phái đoàn, rồi đi vào chi tiết diễn tiến trận đánh ác liệt kéo dài suốt hai ngày, một đêm cho phái đoàn nghe. Tôi cũng đưa cho phái đoàn xem bức ảnh do Trung úy Chủ chụp được là một núi súng đủ loại của Việt-Cộng đã bị tịch thu ngày 14 tháng 4.

Sau đó tôi chỉ cho phái đoàn tận mắt quan sát một thủ pháo chứa hơi độc, một cái bao nhựa phòng hơi độc kèm theo hai ve thuốc giải độc mà địch đã bỏ lại trên trận địa.

Ngoài một vài quân nhân của Ðại Ðội 2/82 và 3/82 đứng ra kể lại những gì họ tham dự và chứng kiến, tôi cho phái đoàn tiếp xúc trực tiếp với hai nhân chứng đặc biệt là vợ chồng người lao công đào binh đã bị Việt-Cộng bắt sau khi tràn ngập 711.

Vợ chồng anh này đã bị Việt-Cộng trưng dụng để khiêng xác cán binh Cộng-Sản tử trận suốt một ngày một đêm.

Xác Việt-Cộng chết được đồng bọn kéo tới chân dốc Ðồi Tử Chiến, vợ chồng anh lao công này chỉ việc chất những cái xác đó lên xe. Ước tính họ đã chuyển vận trên 200 xác địch.

Tới khi máy bay lên vùng bắn phá thì họ vội vàng dắt nhau chạy trốn vào rừng rồi tìm đường về Pleime.

Hai ông đại tá và trung tá luân phiên đưa ra những thắc mắc và thẩm vấn nhân chứng, bốn ông thiếu tá thì chỉ ngồi ghi chép mà không có ý kiến gì.

Sau thời gian gần một giờ tra vấn, hạch sách, chụp hình, chụp ảnh, phái đoàn đã đóng cửa phòng hội để họp kín.

Chừng mười lăm phút sau, đoàn thanh tra mời chúng tôi vào phòng để thông báo kết quả thanh tra.

Ông trung tá đứng giữa phòng thuyết trình lớn tiếng dõng dạc tuyên bố:

– Buổi thanh tra tới đây là chấm dứt. Chúng tôi đã có đủ bằng cớ để trình cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng về những gì đã xảy ra trong trận chiến ác liệt này. Xin cám ơn Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và toàn thể anh em đã có mặt ở đây ngày hôm nay.

Ông trung tá vừa dứt lời thì ông đại tá già, trưởng đoàn từ từ đứng dậy, hắng giọng một cái rồi chậm rãi từng tiếng một,

– Thực tình mà nói, giờ này quả là rất may mắn cho quân đội ta, khi trước mắt chúng ta còn có một vị tiểu đoàn trưởng xuất chúng là Thiếu tá Vương Mộng Long. Tôi xin hết lòng khen ngợi anh Long, đồng thời cũng khen ngợi lòng quyết chiến, quyết thắng của các anh em chiến sĩ trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Các anh đã chứng tỏ cho thế giới biết rằng Quân Ðội Việt-Nam Cộng Hòa là một đạo quân vô cùng dũng cảm và thiện chiến. Về tới Sài-Gòn, tôi sẽ tường trình đầy đủ chi tiết trận đánh này cho Ðại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, chắc chắn đại tướng sẽ gửi lời khen ngợi tới anh em.

Vài phút sau đó, tôi đích thân tiễn chân phái đoàn ra bãi trực thăng. Trước khi máy bay cất cánh, tôi đã nói với ông đại tá già một câu thật ngắn,

– Thưa Ðại tá, với tình hình hiện nay, tôi không biết có còn sống sót để có thể nhìn thấy quý vị lần nữa hay không. Tôi cám ơn phái đoàn thanh tra đã chịu khó lắng nghe và sáng suốt đánh giá những gì chúng tôi vừa trải qua. Chúc quý vị thượng lộ bình an.

Mười ngày sau tôi nhận được thông báo từ Thiếu tá Nguyễn Giáp Trưởng Phòng 1 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2:

“Long ơi! Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được Bộ Tổng Tham Mưu tuyên dương công trạng trước quân đội. Thiếu tá Vương Mộng Long và toàn thể quân nhân trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 đều được ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu”

Tôi còn nhận được tin báo rằng những quân nhân Thiết Giáp, Công Binh, Pháo Binh và những sĩ quan thực tập có mặt trong trận đánh này cũng được tưởng thưởng.

Hoàn tất công việc đón tiếp phái đoàn thanh tra của Bộ Tổng Tham Mưu, tôi bàn giao Căn Cứ Hỏa Lực 711 cho Trung Ðoàn 42 Bộ Binh rồi rút về Pleime.

Tiểu Ðoàn 2/42 của Ðại úy Nguyễn Văn Chấn cũng di chuyển vào Pleime và tiếp tục tăng phái cho tôi.

Sau khi rút về Pleime ít ngày thì Thiếu úy Phạm Văn Tô Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/82 đã đào ngũ trong dịp nghỉ phép thường niên.

Tôi nghe mấy anh lính có quê ở Long-An cũng được về phép thăm nhà, sau khi trở lại đơn vị đã báo cáo rằng ông Phạm Văn Tô hiện thời đã đổi họ tên và trở thành một người lính Ðịa Phương Quân gác cầu Bến Lức.

Thời gian gần đây, chuyện lính đào ngũ từ đơn vị này rồi đầu quân vào đơn vị khác cũng không còn là lạ. Tôi không có ý chê trách sự lựa chọn của Thiếu úy Tô. Biết đâu đã có nguyên nhân sâu xa nào đó thúc đẩy Phạm Văn Tô chọn nhiệm vụ gác cầu của một binh nhì Ðịa Phương Quân, thay vì làm một thiếu úy đại đội trưởng tác chiến Biệt Ðộng Quân?

Tôi chỉ biết rằng, trong thời gian phục vụ dưới quyền tôi, chú Tô đã thi hành tất cả những gì mà tôi yêu cầu chú ấy làm, vì thế, tôi không muốn tìm hiểu xem vì sao Biệt Ðộng Quân Phạm Văn Tô đã rời xa đồng ngũ mà không một lời từ biệt.

Từ sau trận Căn Cứ Hỏa Lực 711 tháng 4 năm 1974 thì Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản bắt đầu gọi Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bằng cái tên “Thằng Hai Nâu”

Tin tức tình báo cũng cho tôi biết các đơn vị trực thuộc F320A Cộng-Sản đã được lệnh tránh đụng độ với “Thằng Hai Nâu” vì thế, lợi dụng thời gian tạm thời yên tĩnh này, tôi cấp tốc tái tổ chức lại đơn vị.

Hai ông Chuẩn úy Trần Quảng và Trương Anh Kiệt được điều động đi nhận nhiệm vụ mới.

Chuẩn úy Trần Quảng trở thành Sĩ quan Phụ tá Ban 3 Liên Ðoàn 24.

Chuẩn úy Trương Anh Kiệt theo học lớp quản trị nhân viên.

Người mang máy truyền tin cho tôi giờ đây là Binh 2 Y Don Nier thay thế cho Hạ sĩ Ðiêu Lon.

Binh 2 Y Don Nier trước đây là hiệu thính viên của Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến.

Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm được thăng cấp thiếu úy và được đề cử theo học khóa đào tạo Sĩ Quan Truyền Tin Binh Ðoàn.

Trung đội Trinh Sát 82 đã bị tôi giải tán. Trung đội Viễn Thám 82 được thành lập.

Thiếu úy Trần Văn Phước, Sĩ quan Ban 2 của đơn vị, kiêm nhiệm chức vụ chỉ huy Trung Ðội Viễn Thám 82 với quân số 18 viễn thám viên.

Dàn đại đội trưởng 82 hiện nay gồm có:

Ðại đội trưởng Chỉ Huy Công Vụ 82 là Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng.

Ðại đội trưởng 182 là Thiếu úy Lê Ðình Khay mới bổ sung.

Ðại đội trưởng 282 là Trung úy Nguyễn Hữu Anh từ Tiểu Ðoàn 11 chuyển sang.

Ðại đội trưởng 382 là Thiếu úy Phạm Ðại Việt.

Ðại đội trưởng 482 là Thiếu úy Phạm Văn Thủy.

Trong khi tôi bận bịu công tác huấn luyện đơn vị và thiết trí công sự phòng thủ thì những tin tức không vui tới tấp bay về. Tôi biết:

– Ngày 16 tháng 5 năm 1974 Chi Khu Dak Pek và Căn Cứ Biên Phòng Dak Pek rơi vào tay địch, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di đã tự sát ngay sau khi bị bắt.

– Hai tháng sau, ngày 16 tháng 7 năm 1974 Tiền Ðồn 5 trong vùng Kon Sơm Luk thất thủ. Ðại úy Dương Ðình Chính, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 1 Trung Ðoàn 44 Bộ Binh bị chết mất xác.

Ðại úy Dương Ðình Chính là bạn cùng khóa 20 Võ Bị của tôi.

Thời gian này, cứ cách vài ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại bay vào Pleime thăm tôi một lần.

Tướng Niệm khuyến cáo tôi rằng, chắc chắn mục tiêu sắp tới của Sư Ðoàn 320A Cộng Sản sẽ là Căn Cứ Biên Phòng Pleime.

Vì thế, tôi không dám rời xa đơn vị một ngày nào.

Dù có việc bận phải đi Pleiku giải quyết, tôi cũng cố trở về trong ngày, không dám bỏ đồn, qua đêm.

Tôi đã tự đặt mình trong tình trạng báo động một cách thường xuyên.

Tình hình chợt xoay chuyển nhanh, mặt trận duyên hải trở nên sôi động; Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cấp tốc rời Pleiku để di chuyển xuống Bình Ðịnh; Căn Cứ Hỏa Lực 711 được giao lại cho Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Căn Cứ Hỏa Lực 711 mới này vừa được xây dựng trên cao điểm 601, nằm cách Plei Ngol Ho chừng bốn trăm mét về hướng Bắc. Căn Cứ 711 cũ và  Căn Cứ Plei Ngol Ho đều bị san bằng, không còn dấu tích.

Trung tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng đã thăng cấp đại tá, còn Trung tá Chính thì thuyên chuyển đi đơn vị khác.

Người thay thế Trung tá Chính để giữ chức vụ Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân là Trung tá Hoàng Kim Thanh. Trung tá Hoàng Kim Thanh tốt nghiệp khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức.

Ngày tôi còn là một học sinh trung học thì anh Thanh đã là Ðại úy Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 10 Biệt Ðộng Quân đồn trú ngoài Ðà Nẵng. Rồi Tiểu Ðoàn 10 Biệt Ðộng Quân nhanh chóng cải danh thành Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân.

Tháng 2 năm 1966 tôi ra trường Võ Bị và học xong khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy, tới trình diện Tiểu Ðoàn 11 thì anh Thanh đã thuyên chuyển sang bộ binh, đảm nhận chức vụ Trung đoàn phó Trung Ðoàn 42 Biệt Lập của Biệt Khu 24 một thời gian rồi đi làm Quận trưởng Quận Lý Tín tỉnh Quảng-Tín.

Trung tá Hoàng Kim Thanh vừa mới trở lại Biệt Ðộng Quân vài tháng gần đây thôi.

Như vậy, sau khi Trung Ðoàn 42 Bộ Binh về Bình Ðịnh thì lần đầu tiên toàn bộ Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân quy tụ trong vùng Tây Nam Pleiku.

Trong Pleime có Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, còn phía Bắc Pleime thì được Tiểu Ðoàn 63 và Tiểu Ðoàn 81 trấn giữ.

Tiểu Ðoàn 63 nằm chung với Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 trong Căn Cứ Hỏa Lực 711. Thiếu tá Trần Ðình Ðàng khóa 15 Võ Bị đảm nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân.

Tiểu Ðoàn 81 nằm dưới chân Ðồi Tử Chiến hướng Nam của 711.

Người tạm thời giữ chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân khóa 15 Thủ Ðức. Ông Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân chính là người mà tôi đã thay thế vài tháng trước đây.

Tôi không rõ Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 đi đâu mà Thiếu tá Lân lại tạm thời đảm đương công tác chỉ huy đơn vị này.

Ngày 27 tháng 7 năm 1974 Việt-Cộng bắt đầu khởi động chiến dịch xóa sổ Căn Cứ Biên Phòng Pleime.

Ngay ngày đầu trận chiến, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị đánh tan, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 bị Việt-Cộng chặt đầu, Thiếu tá Trần Văn Ngọc, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 bị Việt-Cộng bắt làm tù binh, các đơn vị tăng viện cho Pleime đều bị địch cầm chân hay bị đẩy lui.

Thế là, chưa đầy bốn tháng sau ngày tử chiến để tranh giành Căn Cứ Hỏa Lực 711, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản lại gặp mặt nhau.

Cũng vẫn tình trạng một chống với mười. Lần này trận thư hùng đã kéo dài tới 33 đêm ngày.

Trong trận Pleime năm 1974 tôi đã chứng tỏ cho Ðại tá Kim Tuấn, Tư lệnh Sư Ðoàn F320A Cộng-Sản thấy rằng:

“Ở Tây Nguyên, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là vô địch!”

Diễn tiến của trận Pleime năm 1974 đã được tôi trình bày đầy đủ trong tác phẩm “Trận Pleime năm 1974”

Trưa 15 tháng 9 năm 1974 tôi đã dẫn đầu đoàn quân hiên ngang tiến vào Sân Vận Ðộng Pleiku trong một rừng cờ hoa và biểu ngữ.

Hôm đó toàn dân thành phố Pleiku đã đình công bãi thị để hân hoan chào đón Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vừa chiến thắng trở về.

Chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân cũng là chiến thắng sau cùng của quân ta trên Cao Nguyên Vùng 2.

Sau khi bàn giao Pleime cho một đơn vị bạn, tôi đem quân đi khai thông Liên Tỉnh Lộ 8B cho tỉnh Quảng-Ðức.

Trên đường đi giải vây cho Quảng-Ðức, tôi đã dừng quân ở Ban Mê Thuột một đêm. Dịp này tôi đã được gặp mặt vợ con vài tiếng đồng hồ.

Rồi tôi được nghe vợ tôi kể chuyện nàng sinh đứa con gái thứ ba vất vả như thế nào.

Ở Ban Mê Thuột, từ sáng 15 tháng 4, vợ tôi đã chuyển bụng, nhưng mẹ vợ tôi đi vắng nên chần chờ mãi bố vợ tôi mới chở vợ tôi tới bảo sanh viện.

Hai lần trước, vợ tôi sinh con rất nhanh, lần này lại quá khó khăn.

Bà mụ tỏ ra rất lo lắng, vì đứa bé này thật là khó tính; nó cứ đòi ra bằng mông.

Trong thời gian gần ba tiếng đồng hồ, bà mụ cứ cố gắng xoa xoa, nắn nắn cái bụng bầu để xoay cho cái thai đi theo chiều tự nhiên.

Cuối cùng cháu bé cũng chịu nghe lời bà mụ, nó xoay mình trở lại, rồi ra đời, mẹ tròn con vuông.

Vợ tôi sinh em bé xong rồi bà mẹ vợ tôi mới kịp về trông nom con gái.

Tới xế trưa, bố vợ tôi lại vào thăm cháu ngoại, rồi buột miệng nói rằng,

– Tao gọi điện thoại cho Biệt Ðộng Quân để báo cho thằng Long hay rằng vợ nó vừa đẻ con gái thì tụi Biệt Ðộng Quân trả lời rằng tiểu đoàn của thằng Long vừa bị Việt-Cộng tấn công tràn ngập, mất liên lạc rồi. Khi nào có tin tức mới thì chúng nó sẽ cho biết.

Vợ tôi nghe được câu này thì hai mắt tối sầm, không còn cảm biết gì nữa.

Sau khi được cạo gió, xức dầu, tỉnh lại, nàng nghe tiếng bà mẹ trách ông bố,

– Cái ông này! Chuyện như thế mà ông lại nói cho nó biết, làm cho nó bị xỉu! Thôi! Nó đã tỉnh rồi, ông đừng nhắc tới chuyện đó nữa!

Nghe chuyện kể, tôi thấy, vào ngày đơn vị tôi bị địch tràn ngập, phải chăng, nhờ thần giao cách cảm mà con tôi đã biết bố nó đang lâm nguy nên nó không chịu yên tâm chào đời một cách bình thường?