vietmessenger.com
Serge Miller
Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên
Post by Sơn râu 16 Nov 2025

Chương 12
Cho đến lúc ngồi trong toa xe tôi mới ý thức được thực tại. Mỗi toa năm mươi người và tôi là người Pháp độc nhứt giữa số tù nhân Ba-Lan và Ukraine. Nghĩ ngợi mà làm gì nữa! Tư tưởng của tôi đầy mùi cay đắng. Tất cả mọi sự xây dựng được với bạn bè nay đã sụp đổ, bị bứng đi như người ta xé một trang giấy cũ trong một cuốn sách bỏ xó. Mới hồi đêm qua đây, giờ thì lại xa cách quá rồi. Có thật cần phải lo âu quá đáng trong một vài cảnh ngộ nào đó của cuộc đời? Những ngày dài bất tận ở nhà lao Montluc vẫn còn đó, cuộc đi đầy đến Buchenwald, cuộc tiếp xúc đầu tiên, những sự ngạc nhiên, những âm mưu, bẩy tháng đấu tranh không ngừng và bây giờ đơn độc lên đường bước vào một giai đoạn mới. Nếu biết được sẽ bị đưa vào tổ ong vò vẽ nào, tôi đã có thể đem theo một ít đồ tư hữu: một mẩu bánh, vài điếu thuốc, vài miếng giẻ (xin lỗi vài khăn tay); tuy nhiên tôi giống như Robinson Crusoe, chỉ có thiếu tự do của nhân vật nầy. Bên cạnh tôi mọi người có vẻ thích ứng với hoàn cảnh hơn, sự quen mặt đã làm họ dễ chấp nhận cảnh ngộ mới và một nửa trong bọn họ đã bắt đầu ngủ ngon. Chắc họ nghĩ rằng mọi chuyện rồi phải đến thế cả. Cũng giống như đêm đầu tiên trong xà lim, tôi không thể nào chợp mắt được. Vả chăng, cửa sổ hai bên toa xe mở rộng cho thấy cảnh vật bên ngoài đã gợi ý nghĩ trốn thoát, con tàu dừng lại nhiều lần tại các ga đổi hướng hoặc ngay tại chính giữa cánh đồng quê. Vào mùa ấy, vùng đồng quê thật đẹp.
Trong mỗi toa đã có chuẩn bị trước cho mỗi người một phần bánh mì và phó mát làm bằng bột cá dư thừa trong trại tập trung. Đó là bữa ăn dành cho cuộc hành hình. Chỉ có hai lính canh mỗi toa, họ là lính không quân. Tôi có thể nói chuyện với họ và điều nầy làm tôi nhớ lại lúc trước, thuở còn bị giam trong trại tù binh chiến tranh.
Họ rất ngạc nhiên khi biết tôi chẳng hề ăn cắp hoặc giết người gì cả mà lại bị bắt làm tù nhân. Kháng chiến ư? Họ hoàn toàn không biết gì cả. Khi mà họ đã đánh bại được nước Pháp rồi, mọi người đều phải khuất phục. Thật họ, những kẻ ngây ngô, họ không biết gì cả về một cuộc chiếm đóng bởi các người anh em của họ và thật dài dòng nếu muốn giải thích cho họ hiểu. Và, cuộc nói chuyện chuyển hướng dần dần, và không thất bại tí nào; tôi được xem hình họ chụp với vợ con. Năm phút trước, đó là những tên người máy ngu đần muốn chinh phục thế giới và bây giờ giọng nói đầy nước mắt nhắc đến gia đình. Tôi muốn nện mấy gậy vào đầu họ vào lúc đó và nói: “Nhưng, không biết đầu óc anh chứa cái giống gì trong đó?”, tôi để mặc họ với sự ngớ ngẩn và nằm dài xuống bên cạnh một người thợ đóng giày quê ở Kiev. Tôi chợt nhận thấy mình cũng đã mang theo được từ trại Buchenwald một cái gì: tiếng Nga, không đủ để đàm đạo với một nhà ngoại giao, nhưng cũng đủ để tham dự vào các cuộc nói chuyện tầm phào. Lập tức, một câu hỏi lớn chợt đến: chiến tranh còn bao lâu nữa? Trả lời sau đây! Bịp chăng? Không thể được! Nếu nói là chiến tranh sẽ chấm dứt vào cuối Đông năm nay, ông bạn Nga của tôi cũng còn cho là quá bi quan. Thật bất ngờ, ông ta cười vào mũi tôi và nói:
– Tôi đã là chiến sĩ và rồi tù nhân. Tôi biết nhiều về các toa xe lửa chở súc vật, đói khát, chấy rận. Một cuộc chiến tranh đâu có chấm đứt quá nhanh như vậy được. – Đoạn ông ta nói về thành phố quê quán của mình.
– Kiev bị tàn phá rồi. Chúng tôi sẽ xây dựng lại, còn phong cảnh, không một trận đánh nào sẽ có thể tiêu diệt nó được cả, và đó chính là vẻ đẹp của thành phố. Con sông Dniepr chảy ngang qua chính giữa. Bên nầy sông “thành phố thượng” nằm trên một vùng cao nguyên với hàng trăm lầu chuông, và phía trước mặt một “vùng đồng hoang” ngút ngàn vô tận.
Ông ta nói nho nhỏ để không làm phiền các người khác ngủ bên cạnh và nhìn đăm đăm vào khoảng không, chắc ông ta đang nhìn thấy cánh đồng quê hương qua trí tưởng tượng. Mắt tôi đã sụp xuống và chỉ còn nghe tiếng được tiếng mất. Ngay cả sàn tàu gồ ghề cũng trở nên êm dịu khi người ta quá mệt.
Các tia nắng ấm đã đánh thức chúng tôi dậy. Suốt đêm, có hàng ngàn cơ hội để hạ hai tên lính canh. Nhưng sau đó thì sao! Trong bộ quần áo tù, không một xu dính túi, trốn thoát là một ý nghĩ điên khùng. Một thị trấn xuất hiện, tôi đọc thấy trên một tấm bảng: Nordhausen. Nhiều ống khỏi nhà máy, gác chuông nhà thờ, luôn luôn ta thấy trước hết là những thứ đó, sau mới đến là dân chúng, nhà cửa. Chiến tranh ư? không có vết tích gì của chiến tranh ở đây cả. Con tàu chạy không mau lắm, nhờ đó chúng tôi quan sát được dân cư. Họ ăn mặc đẹp và sạch sẽ, ở Đức luôn luôn là vậy. Một bé gái đứng trên sân ga nhìn chúng tôi; cô bé nghĩ gì về chúng tôi nhỉ? và rồi lại đến vùng đồng quê. Suốt một buổi sáng chúng tôi rảnh rỗi ngỗi nhìn cảnh vật cho đến trưa khi con tàu dừng lại và một lính canh nói “Đây rồi”. Ellrich! Một nhà ga trung bình với một đường chuyển hướng tàu. Tất cả sự vật có thể thấy được là kiểu nhà cửa tô bằng hồ trước các hầm đá trắng. Mọi vật có vẻ như đang đắm chìm trong giấc ngủ.
Bốn trăm và không ai trốn cả… Tiến lên! Chúng tôi không phải đi bộ lâu, gần nhà ga một hàng đèn dọc theo con hương lộ và thỉnh thoảng, một cuộn thép gai. Chúng tôi đến lúc mà chỗ ở đang được xây cất. Vài phút sau chúng tôi đứng giữa một kiến trúc được dùng vào việc khác gồm nhiều dãy nhà bị phá hủy bằng chất nổ để sửa soạn xây dựng một trại tập trung. Những ngôi nhà còn lại đã có người ở, vậy là chúng tôi đến tăng cường.
Cho đến lúc đó, mọi chuyện êm đẹp, nhưng ảo vọng của chúng tôi chỉ kéo dài trong chốc lát. Nhiều binh lính tập họp chúng tôi lại, và một tên bắt chúng tôi đứng nghiêm sau khi ra lệnh “Mutzen ab” (dở nón ra). Và chúng tôi thấy một sĩ quan SS, đúng hơn là một hình nộm múa rối, ưỡn ẹo đi về phía chúng tôi. Y khoanh tay trước ngực, ngửa đầu ra sau, vẻ chế riễu, y mắng tạt vào mặt chúng tôi:
– A! Bỏ nón ra cách đó hả! Bộ các anh tưởng còn ở Buchenwald chắc! Ở trại dưỡng sức chắc! Ở trong lãnh địa của bọn Sô-viết chắc! Mấy thứ đó chấm dứt rồi, ở đây ta là người chỉ huy, và để bắt đầu, đồ ăn hại, hãy thử dượt trong nửa giờ.
Trên giấy, lời nói ấy không làm ta thấy có gì cả, nhưng lấy danh dự mà nói, các lời nói ấy đã tác động nhiều lên chúng tôi. Y không nói, y hét lớn, vung vẩy, xùi bọt mép như bị chó điên cắn. Và những người không hiểu được tiếng Đức sẽ tự hỏi là không hiểu con quỷ nào đang đứng trước mặt mình. Tất cả binh lính và hạ sĩ quan bao quanh chúng tôi đều thuộc không quân, nhưng tên chỉ huy bởi vì chính hắn ta, là sĩ quan SS.
Y vừa dứt lời huấn thị, một tên thuộc viên bắt chúng tôi làm động tác thể dục trong nửa giờ, nếu là trời lạnh, chắc người chúng tôi được sưởi ấm lên rồi. Mất một số nhiệt năng vô ích thật đáng tiếc. Sau đó là một cuộc lục soát. Chúng biết chúng tôi không có vật gì bậy bạ cả, nhưng chúng cũng giỡn chơi bằng cách lột áo làm bằng gỗ thông của chúng tôi và bẻ gẫy các chiếc muỗng mà cán được mài nhọn như dao. Chúng cười phá lên trước sự khám phá đó vì viên chỉ huy vẫn để ý theo dõi. Trong lúc đó một bọn tù nhân với băng đeo tay tiến gần chúng tôi, và bấy giờ chúng tôi được biết các nhân vật trưởng khối, Kapo và các loại cai ngục khác trong tương lai của chúng tôi. Tất cả đều mang hình tam giác lục (Tù thường tội). Đó là đám người cặn bã mà giới tờ chính trị ở Buchenwald đã tống cổ đi. Tuy nhiên giới tù nhân chính trị đã lầm khi tưởng làm như thế thì bọn tù thường tội sẽ bị cực khổ. Bọn đó nếu còn ở lại trại trung ương thì sẽ bị bắt đập đá, nhưng ở đây chúng là chủ nhân của chúng tôi, quyền uy vô hạn và tên sĩ quan SS có thể ngủ yên. Y không thể kiếm đâu ra các công sự viên tốt hơn để thi hành mệnh lệnh của mình.
Cả một bầy vô lại tziganes trẻ bao quanh một người mang băng tay niên trưởng. Chúng làm công việc sửa chữa lại các tòa nhà và lúc nầy chúng đang nghỉ trưa và đang tìm cách bày tỏ sự sốt sắng lố bịch của chúng. Chúng canh chừng từng lời lưu ý nhỏ nhoi của viên chỉ huy để lập tức tán thành ngay. Tên nầy lại khoanh tay trước ngực và giọng chế diễu: “Có lẽ các anh sẽ thấy có sự thay đổi, chính là bọn “lục” chỉ huy ở đây và vị trưởng trại không muốn thấy ai lạng quạng cả!” Anh ta cao lớn, cặp mắt hơi đục với một mái tóc rậm rạp. Về sau tôi được biết anh ta là người Hambourg, bị kết án khổ sai chung thân vì tội đã giết hai mạng người trong “giới”. Tại đây anh ta là chủ nhân ông thật sự của chúng tôi.
Cuộc khám xét chấm dứt trong tiếng ồn ào chung, tôi vui mừng nghe có tiếng Pháp xen lẫn trong đó. Chúng tôi có 15 người trong tổng số 400, ở rải rác trên các toa khác nhau, và cảnh ngộ tả tơi xơ xác đã làm chúng tôi tự động kiếm nhau. Hình như chúng tôi được phép nghỉ một chút, mọi người ngồi bệt xuống đất và đem thứ đồ ăn nào mỗi người có ra chia cho cả tập thể bởi vì cơn đói đã đến. Tôi không có gì cả, nhưng nhờ xin xỏ nên cũng được nhiều gào-mên nước. Trong vài phút chúng tôi thưởng thức tình đoàn kết thật sự, đó là tình đoàn kết mà nghịch cảnh đã hun đúc nên, không tính toán, không giả tạo. Trời rất đẹp và ngước mắt nhìn lên, ta thấy xa xa những cánh đồng, những nông trại, tất cả những gì để mơ mộng. Chúng tôi mới vừa bắt đầu làm quen nhau thì một hồi còi đã dựng mọi người đứng dậy. Bốn tên Kapo (tù nhận được chọn làm cai) đến đưa chúng tôi đi khuân gạch, đó là “lễ nghi” tiếp đón đồng thời để cho chúng tôi “làm quen” với sinh hoạt của trại. Phải bươi móc, tìm kiếm trong các ngôi nhà đổ nát, tất cả gạch ngói còn có thể xử dụng lại được và vừa vác vừa chạy đến chất vào một đống cách đó chừng 50 thước. Trong mỗi khu chúng tôi có 100 người, những người khác được phân phối cho khắp công trường và mỗi người có phần đau khổ của mình. Chất lên xe, dỡ xuống xe, luôn luôn là vât liệu xây cất. Bên trong tình hình, có lẽ là có quá dư người, nhưng thật ra có nhiều người đóng vai trò chỉ huy quá, nhất là bọn lang bạt “gitan” luôn luôn xuất hiện như là họn tình nguyện khi cần làm bất cứ việc gì ngoại trừ làm công việc lao tác. Mạnh thế nhờ có quốc tịch Đức, vì bọn chúng đều là người Đức, chúng đóng vai trò cai thợ, và để được chú ý, với cây gậy trong tay chúng đến lên giọng khỉ. Gần như toàn thể gia đình chúng đều đã bị tiêu diệt ở Auschwitz, nhưng ở đây hình như chúng đã bị mất hết nhân tính. Nếu mỗi người tượng trưng cho một con thú: chó sói, chồn, cừu, bò con, bọn gitan ở đây hình như đã bị biến thành rắn độc và chúng chiếm tất cả các chức vụ phụ tá. Tên Kapo đi quanh quẩn, nói chuyện với một tên lính canh và chiêm ngưỡng bọn phụ tá, giống như một bầy chó con đang chạy theo chúng tôi không ngừng. Chúng tôi bị chìm ngập trong bụi mù một cách mau lẹ, chân tay bị phồng dộp, hơi thở nặng nề. Và luôn luôn là những tiếng la hét mà tôi phải nghe hiểu:
A! A A! Đây không phải là Buchenwald đồ lười biếng, bây được nghỉ ngơi ở đó, phải làm việc ở đây!
Bọn chúng theo đuổi trù ếm đặc biệt tù nhân người Nga, và chửi bới họ một cách dữ dằn, nhưng khi thấy chữ “F” trên dấu hiệu hình tam giác, chúng làm bộ ra vẻ chăm sóc. Tôi đâu có biết rằng tù Pháp thường nhận được đơn kiện. Tôi nói với chúng về những “Pakétt” (Bưu kiện) về sô-cô-la, và về thịt muối. “Chắc chắn là tôi sẽ nhận được nhiều, nhiều hơn là tôi cần”. Chúng chảy nước miếng khi nghĩ đến chuyện đó. Nếu chúng biết được sự thật, chúng sẽ để tôi tại chỗ thừa chết thiếu sống tuy nhiên khi người ta bịp, phải đi tận cùng. Đã đến lúc, tôi kiệt sức. Chỉ trong một buổi chiều mà hình như người ta mất tất cả sức lực và một nửa cuộc sống. Và uy tín của một xứ giàu có như xứ sở của tôi đã giúp tôi tránh khỏi phải chấm dứt một ngày trong tình trạng gục ngã. Đến 6 giờ chiều, đói khát, bẩn thỉu, chúng tôi được đưa về khối. Sức mạnh thật sự của con người là, trong một giai đoạn mới của cuộc đời, có thể xóa bỏ một cách tự động hình ảnh quá khứ trong tâm trí. Tôi gần như buồn cười trước các âu lo mà trước đây tôi thường nghĩ đến. Cuộc đời chó má thật. Tuy nhiên nếu trong đời sống dân sự, làm người giác ngộ là chuyện dễ dàng, thì trong trại tập trung nó là cả một sự xa hoa. Trong 15 ngày thôi, là kẻ chán đời sẽ đổ sụp như một đống giẻ và sau đó là một thây ma! Tôi yêu cuộc sống và tôi cố gắng quên đi “nhà dưỡng bệnh” gần Weimar để chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh được báo trước là sẽ khó khăn vô cùng. Nhưng dẫu sao khi người ta không còn có gì nữa cả, tất cả, đều có thể được mang lại cho con người.
Trước một tòa nhà xám có dấu hiệu cho thấy là đáng dành cho những người bị dịch hạch hay cùi hủi và các khung kiếng cửa sổ đã được thay thể bằng không khí đồng nội, người ta bắt chúng tôi sắp hàng để trình diện với viên trưởng khối và viên Fuhrer mới. Một người là tù nhân, người kia là một hạ sĩ quan không quân, nhưng cả hai, đều là người Đức, đang bàn về số phận của chúng tôi. Tất cả những gì mà họ nói với chúng tôi, chúng tôi đều biết trước: Kỷ luật!… Họ chỉ có tiếng trong mồm và nó cũng được dùng luôn làm buổi ăn tối cho chúng tôi! Thế mà một khổ nhục phụ nữa vẫn còn chờ đợi chúng tôi. Chúng tôi đã tỏ ra bằng lòng vì có thể ngả lưng xuống đệm rơm, nhưng một nửa” giường luôn luôn là một kiểu giường chồng lên nhau, chưa được ráp, thể là suốt đêm phải đóng búa, khiêng ván, lót đầy rơm. Hai toán ziganes thay phiên nhau suốt đêm để chỉ cách cho chúng tôi. Đến bừng sáng, mọi việc mới xong và nếu tù Nga tỏ ra dai sức thì bọn tù đại diện khu vực La-tinh chúng tôi chỉ còn là cái bóng của chính mình… Để giáng thêm vố nữa, một khổ hình khác lại chờ chúng tôi. Chúng tôi bị cấm nằm nhàn vì có cà-phê, một cuộc viếng thăm của viên niên trưởng và lại bắt đầu làm việc lại ngay, viên trưởng khối, tên Helmut, cho biết rằng từ đầu tháng 4, trại bắt đầu mở cửa và tất cả mọi ngày chúa nhật được xử dụng để xây dựng trại, còn trong suốt tuần chúng tôi phải làm việc tại các công trường khác nhau chung quanh Ellrich. Đó là nhiều nhà máy nổi tiếng được xây ngầm dưới đất, lương tự như nhà máy Dora nằm cách đây vài cây số.
Người niên trưởng sẽ nói gì với chúng tôi? Tòa nhà chúng tôi ở gồm có mặt tầng trệt và hai tầng lầu, 400 người chúng tôi chiếm hai tầng dưới, tầng trên cùng dành cho chuyến công-voa sắp tới. Tên phạm trọng tội ở Hambourg đến kiếm chúng tôi tại tầng thứ nhất. Giống như mọi tên gia nô đê tiện khác của bọn SS, y mang một đôi giày ống và chiếc quần kỵ mã, vừa mới được vạch một lằn sơn để phân biệt với người thường. Chúng tôi phải ngồi bệt cả xuống sân để y chế ngự và trong thấy chúng tôi rõ hơn. Nhưng buổi gặp gỡ trở nên đáng chú ý vì y tới để chỉ định các người làm việc cho khối, và sau khi sì sầm một lúc với bộ tham mưu, y hỏi ai biết nói tiếng Đức. Ngoại trừ trong nhóm người Pháp chỉ có ba người, tất cả các tù nhân khác đều đưa tay lên. Đối với mọi người việc nầy cũng như trúng số độc đắc, ai cũng muốn thử thời vận.
Một loạt cười dòn và một tiếng gầm gừ cho chúng tôi biết y sắp ổn định cách lựa chọn.
– Bọn bôn-sơ-vích không được đưa tay.
Y nói và ra lệnh cho bọn tù Nga bỏ tay xuống. Chỉ còn lại khoảng hai mươi tù nhân Ba-Lan và ba người Pháp.
– Anh gốc ở đâu?
Câu hỏi nầy đặt ra cho tôi. Đó là sự may mắn mà nhờ trung gian của một tướng cướp đã đến gỏ cửa tôi. Tôi nhìn thẳng vào mất y, và sau khi hít một hơi dài, tôi vứt lá bài xuống chiếu: Ba-lê.
Một tia nhìn thoáng hiện trong mắt y như một kỷ niệm mơ hồ. Y vẫn giữ thái độ mơ màng một lúc và tôi, lúc đó đang đứng dậy, có cái cảm giác đang cố giữ thăng bằng khi đứng trên một sợi dây căng thật thẳng.
– Tôi có biết Montmartre, – y trả lời tôi với giọng người đang đàm đạo thân mật đượm mùi tiếc nuối. Và tôi hiểu rằng tôi đã bám được vào cây sào.
– Lấy anh nầy, – y nói với Helmut, trưởng khối của chúng tôi,
– Hú vía! Tôi thở hắt hết không khí bí giữ lại trong phổi và sức lực bị tiêu hao trong 48 giờ vừa qua nay đã trở lại khi nghe mấy lời đó. Sau đó y chỉ định thêm hai người Ba-Lan, một người phụ trách tầng dưới và người kia, thư ký khối vì anh nầy biết cả tiếng Đức lẫn tiếng Nga.
Buổi họp hình như đã chấm đứt, khi bên cạnh tôi, một tù nhân người Pháp đến khúm núm xin phép được trình đôi lời với viên niên trưởng.
– Tôi là người Alsace, – hắn ấp úng, – tôi hy vọng các ông sẽ chấp nhận sự phục dịch của tôi.
Từ khi chúng tôi được biết hắn ta, hắn ta chỉ ầm ừ với chúng tôi có vài tiếng và chẳng ai chú ý đến hắn cả. Chúng tôi chỉ biết hắn tên là Paul.
– Chú mày có sức khỏe, làm một chân Kapo được lắm, – viên niên trưởng hứa với hắn ta.
Trên kia, những tên cai đang tìm kiếm, như trong một chợ nô lệ, số người cần thiết cho những công việc khác nhau trong ngày hôm nay: Khuân vác vật liệu, làm “vệ sinh và tạp dịch đủ thứ. Bọn Tziganer cũng có mặt ở đó với gậy gộc để đưa các toán đến các địa điểm khác nhau. Phần đông tù Pháp đã có thể ở lại trong nhà với tôi, với nhiệm vụ sửa soạn một phòng cho viên trưởng khối.
Helmut tỏ ra rất chịu giá trị của thủ công nghệ Pháp bằng cách phân phối súp rất rộng rãi. Tuy nhiên y không để mất hướng, bởi vì sự rộng rãi trong khi phát xúp chẳng qua cũng chỉ là một cách nhắc nhở gián tiếp chúng tôi về thuốc lá: thuốc điếu Gaulois. Bất cứ người ngoại quốc nào ghiền thuốc mà biết qua thuốc Gaulois đều cũng trở thành các tay hâm mộ nó nồng nhiệt. Ở đây sự ưa thích đó trở thành điên cuồng. Một người trong bọn tôi còn vài điếu đã làm một cuộc thương lượng thích thú và không kém lạ kỳ; một lít xúp ăn thêm trong suốt 15 ngày, một phần margarine trong suốt một tuần, và bánh mì. Tuy nhiên điều kiện sau cùng liên hệ tới bánh mì là nhiệm ý vì chính ngay cả viên trưởng khối cũng chỉ có được phần ăn hằng ngày của mình, anh ta chỉ có thêm quyền là tự ý định đoạt về số đồ ăn dư thừa sau khi phân phát. Người vừa làm vụ áp phe nầy tên là Bureau, thầu khoán nhỏ vùng Lyon, là một cựu chiến binh; là một trong những người Pháp đầu tiên bị đày qua Đức, anh ta không thiếu khôn ngoan do kinh nghiệm lâu ngày trong tù.
– Tôi không hút bao giờ, – anh ta nói với chúng tôi, – nhưng tôi biết các điếu thuốc lá nhỏ ấy sẽ giúp ích tôi rất nhiều. Tôi còn cả một số dự trữ, tuy nhiên phải coi chừng bọn bất lương nầy. Nếu tên nầy trả đều đặn, tôi sẽ lại đề nghị trao đổi với hắn trong mười lăm ngày nữa.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.