Những năm “cải tạo” ở Bắc Việt

Trần Huỳnh Châu

Post by Sơn râu 11 Dec 2025

Phần 4: Rét, Nóng và bịnh tật

Đói rét vẫn đi liền với nhau. Càng đói càng thấy rét, và càng rét càng thêm đói.Chúng tôi được chở ra Bắc vào đầu mùa đông năm ’76 là mùa đông rét nhất trong mấy mươi năm. Đêm rét nhất năm đó là 3o C. Thế mà trại giam không có cửa kính, nằm trên sập gỗ và chúng tôi thiếu áo ấm, thiếu mền, thiếu ăn. Có bao nhiêu áo quần đem mặc cả vào người, kể cả áo mưa. Có bao nhiêu khăn lông đem quấn cả vào đầu vào cổ. Có bao nhiêu tấm nylon đem che loạn cả lên. Người nào trông cũng giống như đàn bà đẻ ở nhà quê ngày xưa. Buồng nào trông cũng như buồng đẻ. Nhưng không có lò than để sưởi. Lạnh nhất là những hôm gió bấc mưa phùn tháng chạp ta. Giá mỗi buổi sáng có một tô phở nóng nước béo ăn vào thì chắc ấm được ngay. Nhưng buổi sáng không có ăn gì. Buổi trưa ăn đói. Buổi chiều ăn đói. Cho nên bụng thì cồn cào lép kẹp, quần áo thì mong manh, mà rét năm ’76 kéo dài gần hai tháng liền. Rét liên tục từ Noël tới Tết. Sau Tết trời mới bắt đầu dễ chịu lại. Năm đầu tiên rét nhiều và thiếu áo ấm nhưng được cái là chúng tôi mới ra chưa phải lao động. Những năm sau thì ít rét hơn, và chúng tôi đã được gia đình gởi áo ấm ra (trại cũng có phát cho mỗi người một cái áo trấn thủ, tức là loại áo vải may kẹp bông bên trong nhưng bông mỏng thôi, và chỉ che được từ ngực tới giữa bụng, không có tay), nhưng lại phải làm lao động ngoài trời.

Mùa đông đầu tiên, có người rét quá, lấy tấm nylon quấn vào, lấy áo mưa nylon mặc vào mà ngủ, tưởng là ấm, nhưng vì hơi nước trong người bốc ra không bay hơi được, người ướt đẫm, sáng ra thì bị cảm. Đầu hôm còn ngủ được, từ nửa đêm trở đi sao mà nước mát, đến thế!Anh Lê Thành Châu, (Tổng Giám đốc Khai Hoang Lập Ấp), nổi tiếng là sợ đỉa, nhưng đến ngày tắm giặt thì cũng bất chấp đỉa, cũng nhào xuống nước ngay.

Lúc nào chúng tôi cũng chỉ mặc có cái quần đùi. Buổi trưa nằm trong trại giam, người nào cũng chỉ có cái quần đùi, nằm sát nhau như cá hộp, hầu hết đều da bọc xương, trời thì nóng bức. Có lần giữa trưa nóng quá ngủ không được, tôi nhổm dậy nhìn quang cảnh đó và thầm nghĩ quá đúng là địa ngục rồi đây. Và tôi nghĩ giá có cái máy ảnh chụp được cảnh chúng tôi gầy gò, bụng lép, ngực đầy xương sườn, nằm thiêm thiếp sát bên nhau, mồ hôi nhễ nhại, trong trại giam đóng chặt giữa buổi trưa hè nóng bức như thế này mà gởi qua Pháp cho báo Paris-Match đăng lên, thì chắc chắn không còn ai có thể nghi ngờ gì về cái địa ngục Cộng sản được nữa. Thanh Hóa nóng hơn Quảng Ninh vì chúng tôi ở xa biển và chịu ảnh hưởng gió Lào.

Trời nóng như thế, tắm giặt dơ bẩn khổ sở như thế, và ăn đói thì bệnh tật xảy đến là chuyện dĩ nhiên. Hầu hết chúng tôi đều mang bệnh trong mình. Kẻ bệnh phổi, người teo chân, kẻ đau dạ dày, người bệnh trĩ , kẻ thần kinh suy nhược, người đau răng… chẳng mấy ai thoát được. Mùa hè ’79, tất cả chúng tôi bị sảy ngứa cùng mình. Buổi trưa, buổi tối, ai cũng gãi sồn sột. Ai không lở lói, thì bị sảy ngứa là lấy làm may mắn rồi.

Mùa đông năm ’78 và đầu mùa hè năm ’79, một số chúng tôi lâm vào tình trạng kiệt sức. Chỉ có 10% là tuy sức khỏe xuống nhưng không quá tồi tệ, còn có 90% là rất gầy yếu trong đó chừng 30% chỉ còn da bọc lấy xương.

Thuốc men của trại thì gần như không có gì. Hồi ở Quảng Ninh, đa số chúng tôi bi sán lãi, vì rau toàn bón bằng phân người. Cầu tiêu thì trong phòng giam. Mỗi ngày chúng tôi phải dọn cầu, gánh thùng phân ra, phân và nước tiểu nhỏ giọt vương vãi trên sàn. Cứ thế mà sán lải lan tràn. Ngày nào dọn phân cũng thấy mấy con lải đũa trong thùng phân. Thế mà báo cáo với trạm y tế thì cán bộ y tế trả lời là không có thuốc lải, và “giun thì ai chả bị, các anh nên khắc phúc, chết chóc gì mà sợ giun”.

Thuốc men đã không có, thuốc của gia đình người ta gởi ra lại kiểm soát, hạn chế. Cán bộ y tế khi kiểm soát thuốc trong Nam gởi ra, cứ phàn nàn là sao thuốc men trong Nam nhiều loại nhiều thứ rắc rối qua, chẳng biết thứ gì dùng vào bệnh gì. Ngoài Bắc thì chỉ có mấy loại thôi, giản dị lắm. Đã không biết thuốc nhưng lại cứ kiểm soát. Có lần tôi bị giữ thuốc lại, xin mãi mới được phát. Khi phát ra, cán bộ y tế giảng đi giảng lại mãi rằng phải dùng thuốc cho đúng, rằng thuốc Dénoral là thuốc sốt rét… (thực ra thì Donéral là thuốc trị sổ mũi!)

Năm đầu ở Quảng Ninh thỉnh thoảng còn có phát Rinifon, Kavet.. Từ mùa hè năm 77 thì tịt luôn. Đau bụng, chỉ phát lá ổi để nấu mà uống. Thỉnh thoảng cho mấy thứ lá, ai có cảm thì nấu nồi nước lá mà xông. Xông không khỏi, hoặc có bệnh trầm trọng khác thì cho sang Bác sĩ Của châm cứu. Châm cứu không hết thì anh Của đưa lên trạm xá của trại, có cán bộ y tế khám. Cán bộ y tế chỉ là một y tá và trạm xá cũng chẳng có thuốc men gì. Có lần bác sĩ Của cõng một bệnh nhân lên trạm xá, anh em chúng tôi cười và chỉ trỏ ”hãy trông bác sĩ cõng bệnh nhân đến cho y tá khám”. Thỉnh thoảng có chích cho mũi thuốc thì không có thuốc sát trùng, chỉ lấy cục bông nhúng vào luộc luộc ống tiêm, chà chà trên da rồi chích.

Cũng có trường hợp cho đi bệnh viện. Nhưng đến nhà tù Cộng sản mà cho đi bệnh viện thì ít hi vọng trở về….

Ông bà ta nói “khéo co thì ấm”. Nhưng lạnh cỡ 3o C mà không có lò sưởi , không có cửa kính, không có mền, không có áo ấm, chỉ mặc mấy lớp quần áo mỏng và đắp một cái chăn mỏng thì co cách nào cho ấm nổi, thì không ai ngủ nổi.

Ông Lê văn Đồng, Thẩm phán bị bệnh phổi và đã cao tuổi, suốt đêm nằm ho. Anh Đỗ Kế Cầu bị bệnh suyễn suốt đêm nằm bơm thuốc (thuốc và bơm là của nhà mang đi) và nhiều phen không thở được . Co vào cũng rét, duỗi ra càng rét, nằm nghiêng cũng rét, nằm ngữa càng rét, tay để trong mền nhưng mền mỏng quá mà tay không mang găng nên bàn tay cóng lại, vành tai lạnh quá mất cả cảm giác. Mùa đông năm ’76 quả thật là mùa đông rét kinh hoàng của chúng tôi.

Khoẻ như bác sĩ Văn văn Của mà rét còn không ngủ được. Không ngủ được thì lại đói, đói quá. Nửa đêm, ông Của dậy bàn với ông Canh (Thiếu tá) kiếm cách gì cho đỡ đói, đỡ rét. Thuốc lào hết rồi. Thuốc điếu không có. Thực phẩm dự trữ không còn gì. Loay hoay một hồi rồi ông Của tìm được gói muối nhỏ trong xắc. Bèn lấy ra cùng với ông Canh quẹt muối vào lưỡi cho mặn miệng rồi uống nước. Nhưng uống nước với muối vào thì bụng càng cồn cào thêm. Tôi nằm bên cạnh, rét quá không ngủ được nghe hai anh thì thầm bàn với nhau mà xót xa. Tôi tuởng tượng giá mình còn cục đường nhỏ thôi. Môt cục đường vào bụng được bao nhiêu calories. Người ta hay nói đùa “hột muối cắn đôi, hột đường đớp hết”. Không biết lúc đó tôi còn cục đường thì có thức dậy lấy chia cho anh Của và anh Canh nổi không. Giá có cục đường chắc phải nghĩ ngợi găng lắm. Nhưng không có gì, thôi đành nằm yên chịu rét. Lúc ấy chúng tôi đang ở phòng số 3 trại Quảng Ninh, và đang là tháng chạp năm Thìn. .

Mùa hè thì nóng. Trại Quảng Ninh tương đối khá vì gần vịnh Hạ Long, khí hậu không đến nổi quá nóng, và nhà giam lợp ngói, nước tắm đầy đủ. Trại nầy vốn khi xưa là một trại nhà binh Pháp nên có hệ thống nước lấy nước suối trên núi xuống, các bồn nước lúc nào cũng đầy.. Chỉ phiền là khi trời mưa thì nước suối đục, nước trong bồn cũng đỏ ngầu. Nhưng được thế cũng quý lắm rồi, cũng có chút tiện nghi của “thực-dân đế-quốc” để lại.

Khi vào trại số 5 Thanh Hóa, mà phân trại B và phân trại C là hoàn toàn của “Xã hội chủ nghĩa” xây cất, thì buồng giam quá nóng, và không đủ nước dùng. Khi đến phân trại B, chúng tôi có đào thêm giếng và lúc đó còn trong mùa mưa, mạch nước lúc nào cũng đầy. Còn phân trại A là nơi có bộ chỉ huy của trại giam số 5 thì nguyên là một khu cơ sở gì không rõ, của Pháp xây cất từ trước năm 1945, nên cũng còn được.

Mùa hè nóng nực và khổ sở nhất cho chúng tôi là mùa hè hạn hán năm 1979. Lúc đó chúng tôi ở phân trại C. Nước không có chúng tôi chỉ tắm rửa bằng nước ruộng, nước ao. Theo quy định, một tuần lễ chỉ được tắm hai lần, sau buổi làm lao động khổ sai ngoài đồng. Nước ao, kế liền đó là ruộng, trâu dẫm ở đó, phân bón ruộng, phân tưới rau cũng chạy ra đó, nước đục ngầu và đầy những đỉa, thế mà đến ngày tắm giặt là chúng tôi mừng lắm. Chúng tôi cũng nhìn thấy nước đục, nước dơ bẩn đấy, nhưng vẫn cứ tranh nhau nhảy xuống.

Từ Quảng Ninh vào Thanh Hóa, nhóm chúng tôi khoảng 500 người (hồi mới ra thì 800 người, nhưng đã được đưa trước vào trại 90A một số rồi), bị chết khỏang 30 người vì bệnh trong thời gian ’78, ’79.

Anh Lưu Trương Không (?) (trước là Giám đốc tại Bộ Chiêu-Hồi) bị chết vì biến chứng của bệnh phù thủng. Anh Chung (Thiếu tá Cảnh Sát) đang ngồi sinh hoạt học tập, bỗng gục xuống chết vì bệnh tim và kiệt sức. Khi di chuyển từ Quảng Ninh về Thanh Hóa, anh Bé (Trung tá) bị bệnh chở ra bệnh viện Hòn Gay rồi không thấy vào Thanh Hóa, về sau nghe nói đã chết. Anh Minh (Đảng Dân Chủ), anh Ngô Chuẩn (Cảnh Sát) đi bệnh viện Thanh Hóa, không thấy trở về. Còn nhiều nữa, nhưng tôi không nhớ tên.

Kinh hoàng nhất là Trạm xá phân trại B trại số 5 Thanh Hóa, nơi các bệnh nhân nằm mà chỉ chờ chết. Tháng 8 năm 1978, khi chúng tôi mới từ Quảng Ninh vào Thanh Hóa, chúng tôi đã đếm được 18 tù hình sự chết nội trong tháng đầu. Mà số tù hình sự chết ở phân trại nầy chỉ độ 300 thôi. 300 tù mà một tháng đã chết 18 người! Và nhìn vào trạm xá thì thấy các bệnh nhân trông đúng là các bộ xương. Anh em để ý kỹ thì thấy dường như chỉ có một cái hòm dùng đi dùng lại. Mỗi lần có người chết, bỏ vào hòm khiêng ra, nhưng chắc là chỉ chôn xác mà không có hòm. Hòm có lẽ được khiêng trở vào lúc ban đêm, để lần khác dùng nữa.

Anh Bùi văn Bảy, (trước là Thiếu Tá, chuyên viên điện toán tại Bộ Cựu Chiến Binh), bị kiệt sức và lao phổi ho ra máu, người chỉ còn da bọc xương và xanh mét. Thế mà vẫn để nằm ở trạm xá phân trại C, sống lây lất nhờ anh em trong tù giúp đỡ thuốc men và thức ăn.Trường hợp anh Bảy là một trường hợp rất đáng thương tâm. Anh đi ở tù, chị Bảy bệnh tim nặng chết vào năm 1977, một đứa con nhỏ chết vì té lầu, những đứa còn lại phân tán nhờ vã bà con sống cho qua ngày. Bà con cùng xóm với gia đình anh Bảy thấy hoàn cảnh qua thương tâm và thấy anh Bảy trước kia chỉ là chuyên viên điện toán lo về hồ sơ cô nhi quả phụ tại Bộ Cựu Chiến Binh, nên họp nhau làm đơn xin cho anh Bảy về, theo tinh thần “nhân dân làm chủ”. Nhưng đơn của nhân dân lối xóm gởi đi, Công an chẳng thèm trả lời, trong khi đó anh Bảy không được gia đình tiếp tế vì các con còn nhỏ và quá nghèo, nên đã kiệt sức chỉ còn nằm đợi chết trong tù.

Còn nhiều trường hợp lắm nhưng tôi không nhớ tên. Trong trại giam, buồng nầy buồng kia ngăn cách nhau, cấm không cho liên lạc với nhau nên thường chỉ thấy mặt quen mà không biết tên.

Những bệnh không có tính cách cấp tính như trĩ, đau răng, đau dạ dày…thì trại coi như không, bắt đi làm lao động như thường và không có thuốc men gì cả. Đau dạ dày vẫn phải ăn mạch cả vỏ, và ăn sắn như thường, nếu không muốn nhịn đói hoàn toàn. Trên nguyên tắc, mỗi ngày ai bệnh có thể ghi tên xin ăn cháo. Nhưng thực tế, trong thời gian ăn mạch và sắn thì việc ghi tên xin ăn cháo rất là hạn chế vì lẽ không có gạo nấu cháo. Mỗi ngày một đội chỉ được ghi cho một người ăn cháo thôi. Nếu có nhiều người bệnh, cũng chỉ chọn lấy một người. Trong nhà tù Cộng sản , một tô cháo ăn với muối cũng là ân huệ đặc biệt lắm đấy.

Nhức răng xin muối ngậm cũng khó khăn lắm. Cán bộ bảo là theo nội quy, cấm phạm nhân giữ muối. Chúng tôi hiểu là muối có tác dụng làm mau hư hại các song sắt của trại giam. Nhưng điều buồn cười là trại giam lợp tranh, vách đất, thì nếu muốn trốn, việc gì người ta phải tính chuyện phá song sắt. Đối với trại giam ở Miền Bắc, việc trốn ra khỏi trại không khó, cái khó là làm sao thoát được về đến nhà hay đến chỗ an toàn mà không bị bắt lại.

Bệnh đau răng rất là phổ thông trong trại giam. Nhiều người bị sưng hàm, sưng mặt. Chính tôi cũng bị sưng mặt lên rồi. Đầu năm 1980, tôi vừa về đến nhà, vợ tôi là Nha sĩ, phải mổ ngay vì thấy cả mấy chân răng đều làm mủ , và mủ đã bắt đầu lan ra về phía trên mũi rồi.

Mùa đông thiếu áo, mùa hè nóng và dơ bẩn, quanh năm đói, bệnh tật thì “khắc phục”. Đảng và Nhà nước Cộng sản chỉ biết nhốt chúng tôi và bắt chúng tôi làm khổ sai, chết thì chôn..

Trước kia, trong chế độ Cải Huấn của ta, mỗi khi có tù chết trong trại giam là Biện lý đến điều tra, quy trách cho Quản đốc Trung Tâm về vấn đề chữa bệnh cho tù nhân, hạch hỏi tại sao không đem đi bệnh viện kịp thời. Trung Tâm phải báo ngay cho thân nhân người chết theo thời hạn luật định, để thân nhân đến còn nhìn thấy được thi hài và có quyền khiếu nại nếu thấy có điểm nghi ngờ.

Còn trong chế độ cải tạo của Cộng sản, chết là đem chôn ngay, chẳng thông báo cho thân nhân gì cả. Hồi ở trại Long Thành, tôi thấy ông chồng bà bác sĩ Vũ thị Thoa bị chết trong trại, bà Thoa ở Sàigòn chỉ cách Long Thành có mấy chục cây số, mà không có thông báo gì cả, đem chôn luôn. Một anh khác, là nhân viên Phủ Đặc ủy Tình Báo, sau khi anh chết trong trại bốn tháng rồi, mẹ anh vẫn còn gửi thư và quà đến trại cho anh vì tưởng con mình còn sống! Còn nói gì đến trại “cải tạo” Miền Bắc xa cách Miền Nam, ai hơi đâu mà thông báo. Chết thì chôn ngay. Không cần hòm.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người đi tìm mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 11 Dec 2025

10. Y Sĩ Thiếu Tá Lê Văn Tập

Lê Văn Tập sinh năm 1940 tại Kim Long Huế, Trung Học Quốc Học Huế, Y Khoa Sài Gòn 1959-1966, cựu Nội trú các Bệnh viện Sài Gòn, Khóa 8 Trưng Tập Quân Y Trừ bị, Bác sĩ giải phẫu Quân Y viện Nguyễn Tri Phương, Mang Cá, Huế 1967-1971; Bệnh viện Quân Dân Y Phối Hợp, Rạch Giá 1971-1975. Cấp bậc cuối cùng Thiếu Tá. Sau

1975, bảy năm tù giam ở Rạch Giá vì “tội tuyên truyền phản cách mạng.” Tị nạn Hoa Kỳ, định cư tại San Jose từ 1992.

Y sĩ Thiếu tá Lê Văn Tập

Nhớ Về Nghiêm Sỹ Tuấn

Bắt đầu từ năm thứ hai, Nghiêm Sỹ Tuấn được xếp vào cùng nhóm B đi thực tập bệnh viện với chúng tôi. Anh là con người hiền lành, ít nói nhưng luôn luôn tươi cười với bạn bè. Anh ăn mặc gọn gàng quần áo sạch sẽ, đi xe gắn máy màu đỏ và là một sinh viên chuyên cần mẫu mực, ít khi vắng mặt trong các giờ học hay thực tập ở bệnh viện. Năm thứ ba, tôi càng gặp anh nhiều lần hơn vì anh phụ giúp tôi trong công việc ghi chép các bài giảng của thầy Nguyễn Huy Can về môn Anapath / Cơ thể bệnh lý để in ra cours ronéo cho anh em cùng lớp. Có một lần anh bị lường gạt vì lòng nhân đạo thương người. Chuyện xảy ra như sau: “Khu Dermatology / Ngoài Da Bình Dân

có một bệnh nhân người Huế bị giang mai lở lói đầy người. Hắn có tài ngon ngọt kêu ca xin sinh viên giúp đỡ. Hắn gặp tôi thì mừng quýnh nhận ra người quen từ hồi còn nhỏ ở Huế, xin vay tiền. Nhưng tôi biết hắn là con nhà giàu vì ham chơi bời mà ra nông nỗi này, với lại tôi đâu có tiền bạc dư dả. Thế mà hắn gặp Nghiêm Sỹ Tuấn hắn ca bài con cá sao đó Nghiêm Sỹ Tuấn xoay sở cho nó vay 200 đồng. Hôm sau hắn trốn mất tiêu.”

Đầu năm 1966, Nghiêm Sỹ Tuấn được trưng tập vào khóa 7 Quân Y. Sau khi thụ huấn ở quân trường Thủ Đức và học xong khóa hành chánh ở trường Quân Y, Nghiêm Sỹ Tuấn chọn binh chủng Nhảy Dù. Cùng lớp có anh Dương Hữu Thành, người nhỏ nhắn, mang kính cận thị cũng xin vào Nhảy Dù tuy các anh ra trường với điểm cao có thể chọn những đơn vị nào tùy thích. Có lẽ tiếng tăm của Nhảy Dù và lòng ham muốn phiêu lưu đã lôi cuốn các anh. Thế rồi mỗi người một ngả, chúng tôi xa nhau từ đó …

Tôi xin ở lại làm Nội trú Bệnh viện Bình Dân thêm một năm nữa nên khi vào quân đội thuộc khóa 8 Quân Y trưng tập. Mãn khóa, tôi chọn Quân Y viện Nguyễn Tri Phương vì muốn về phục vụ nơi chôn nhau cắt rốn. Tôi còn rủ rê được Nguyễn Phú Cường, Nguyễn Thế Huyền. Mới trình xong luận án, tôi được lệnh anh Hoàng Cơ Lân bắt buộc phải ra Huế ngay bằng máy bay quân sự ngày 21-7-1967 vì chiến trận ở Huế đang gay cấn. Nhảy Dù đang hành quân miệt Phú Thứ, quận Phú Lộc. … Thế rồi đến Tết Mậu Thân, Huế bị Việt Cộng chiếm đóng hơn 21 ngày, gây biết bao nhiêu tang tóc cho đồng bào. Binh sĩ Nhảy Dù từ Đà Nẵng bay trực thăng xuống sân bay Quân Y viện Nguyễn Tri Phương trong thành Mang Cá, từ đó phối hợp với Thủy Quân Lục Chiến đánh ra từ từ, vây Việt Cộng vô tử thủ trong Đại Nội.

.. Sau khi Huế được giải tỏa, một Tiểu đoàn Nhảy Dù có phận sự lục soát vùng Kim Long từ cầu Bạch Hổ trở lên núi. Tiểu đoàn trưởng của BS Bùi Quý Nhiếp tạm trú ở nhà Ba Mẹ của chúng tôi, còn BS Nhiếp thì ở một nhà khác cạnh bờ sông Hương … Mọi sự đã trở lại yên ổn, dân Huế ra sức xây dựng lại thành phố đổ nát.

… Thế rồi một buổi chiều, Quân Y viện Nguyễn Tri Phương chúng tôi được báo cho biết có một bác sĩ Nhảy Dù tử trận mới được trực thăng tải thương đưa về.

Kéo zíp xuống. Mở poncho nhìn cho kỹ: than ôi, Nghiêm Sỹ Tuấn nằm đó, khuôn mặt bình thản như đang ngủ ngon, mình mẩy thì bị vô số mảnh đạn nhỏ và, đất đá bùn đen ghim vào người, bụng anh sình trương lên trông quá thảm thương. Tội nghiệp, thương cho người bạn hiền, mấy năm chưa gặp lại thì bây giờ thấy anh đang nằm đó trên bàn đá lạnh lẽo của nhà xác.

Ôi chiến tranh … nghiệt ngã là thế!

Y sĩ trưởng Trung tá Nguyễn Duy Đương nghe báo liền ra lệnh cho khâm liệm BS Nghiêm Sỹ Tuấn theo lễ nghi quân cách, có sĩ quan Quân Y canh gác quan tài, chờ được chở vào Sài Gòn. Anh em bác sĩ và nhân viên, y tá Quân Y viện lần lượt viếng thăm chào từ giã anh Nghiêm Sỹ Tuấn … Nhớ lại vẻ mặt bình thản của anh Nghiêm Sỹ Tuấn, chúng tôi nghĩ là chính anh cũng không ngờ anh bị Việt Cộng pháo kích trúng ngay anh, và cũng không ngờ rằng mình vắn số như thế.

… Anh chắc cũng không thể ngờ rằng, 7 năm sau Việt Cộng chiếm được miền Nam Việt Nam và các bạn của anh sống sót qua cuộc chiến cũng đã phải bị tù đày gian nan cực khổ trăm chiều. Rốt cuộc thì một số anh em cũng qua được những đất nước tự do bằng cách vượt biển hay ra đi theo chương trình nhân đạo. Chúng tôi sực nhớ tới những người bạn thân thương đã bỏ mình trong chiến tranh chống Cộng sản bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam. Nhắc lại những chuyện xa xưa mà chúng tôi biết về anh, người bạn hiền đã khuất, chúng tôi rất khâm phục anh: anh đã tình nguyện phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù và bị tử thương khi đang làm nhiệm vụ băng bó cho binh sĩ.

Anh Nghiêm Sỹ Tuấn, chúng tôi không bao giờ quên anh.

LÊ VĂN TẬP

San Jose, tháng 02.2019

Ông Đại Sứ

vietmessenger.com

Morris L. West

Bản dịch của Chu Việt

Post bby Sơn râu 11 Dec 2025

Chương 4.

Ám sát là một danh từ xấu xí nhưng trong cái không khí Saigon sáng hôm ấy, nghe nó như một tiếng thông dụng. Quang cảnh thành phố như một trại binh. Ở mỗi góc phố đều có lính gác và các đội đội tuần tiễu võ trang trên xe jeep, xe vận tải qua lại không ngừng. Phố xá vắng vẻ, người đi lại vội vã, sợ sệt. Các cửa tiệm đều trống trải, các bar vắng khách và các cô chiêu đãi ngồi nhìn xuông qua lưới sắt như những con chim trong lồng. Tôi có ảo tưởng thoáng qua là cái thành phố tỉnh lẻ lỗi thời này đã bỗng chốc biến thành một khu rừng hoang trong đó thú vật đều đã ẩn trốn trong khi các người săn bắn bồn chồn rình rập, sợ hãi sự vắng lặng và cô quạnh. Không khí nặng mùi sấm sét và khi một chiếc xe hơi nổ hậu, người ta nghe như tiếng súng bắn.

Tại tòa Đại sứ họ đưa cho tội những báo cáo đầu tiên về những vụ sinh viên làm loạn. Viện Đại học nổi loạn. Sinh viên bãi khóa và họp mít tinh phản kháng. Một vị giáo sư đã bị sinh viên của mình ném đá. Các bích chương tuyên cáo thiết quân luật của chính phủ bị xé rách và bôi bẩn. Từng toán thanh niên ngồi trên tường la ó quân lính đi ngang qua, thách đố họ chiến đấu chống Việt cộng chứ đừng chống dân mình. Đã có nhiều người biểu tình bị bắt giữ và chở đến những trại giam gần ngoại ô thành phố. Đúng giữa trưa, đài phát thanh công bố lệnh đóng cửa tất cả các trường học cho đến khi có lệnh mới. Các học sinh Mỹ đã được chính phủ quân đội chúng ta hộ tống trở về nhà. Lính gác đã được tăng cường quanh Dinh Tổng thống và nhiều súng cao xạ được bố trí trong sân Dinh. Trên bàn giấy tôi, có một điện văn ngắn do Festhammer từ Hoa thịnh đốn gửi tới:

TẤT CẢ MỌI NGƯỜI Ở ĐÂY QUAN TÂM SÂU XA ĐẾN TIN BẠO ĐỘNG CHỐNG PHẬT TỬ MỚI ĐÂY. ÔNG ĐƯỢC CHỈ THỊ PHẢI PHẢN KHÁNG VỚI LỜI LẼ MÃNH LIỆT NHẤT SỰ THIẾU THÀNH TÍN CỦA CHÍNH PHỦ SAU NHIỀU LẦN HỨA GIẢNG HÒA – LỜI PHẢN KHÁNG PHẢI ĐƯỢC CÔNG BỐ RÕ RÀNG CHO BÁO CHÍ YÊU CẦU BÁO CÁO ĐẦY ĐỦ VÀ KHẨN CẤP MỌI DIỄN BIẾN.

ÔNG ĐẠI SỨ

Tại Phủ Tổng Thống, tôi đã đưa ra lời phản kháng. Trong một giờ nữa tôi sẽ công bố cho báo chí hay. Về tình hình, tôi chưa thể báo cáo được điều gì hữu ích vì chúng tôi cũng chưa hiểu rõ lắm. Tôi gạt bức điện văn sang một bên và gọi Đại-tướng Tolliver để ông tóm tắt tình hình quân sự cho tôi. Đại-tướng tóm lược như sau :

“Cho tới nay thành phố vẫn yên tĩnh. Tổng Thống Cung đã cho di chuyển về ba tiểu đoàn dưới quyền chỉ huy của một vị tưởng lãnh Công giáo trung thành với chính quyền. Để thêm phần thận trọng, vị trí dàn quân cứ bốn giờ lại thay đổi một lần. Thành phố Huế cũng được kiểm soát chặt chẽ. Các nơi khác đều yên tĩnh. Đêm qua chúng tôi được báo cáo cho hay có sự xô sát giữa binh sĩ Công giáo và Phật giáo tại Trà Vinh, nhưng vị chỉ huy địa phương đã dẹp yên được. Ngoài ra không có dấu hiệu nào về sự nổi loạn cõng khai trong quân đội hay có sự chuyển quân nào do các tướng lãnh bất mẫn ra lệnh cả. Các cuộc hành quân chống Việt cộng vẫn tiếp diễn bình thường nhưng tại các đơn vị chiến đấu, tinh thần xuống rất thấp. Tôi đã cho tăng cường canh gác tại tất cả các cơ quan và cơ sở quân sự Hoa Kỳ. Tôi cũng cho xe tuần tiểu đi kiểm soát sự an toàn tại các gia đình người Hoa Kỳ. Thưa ông Đại-sứ, cho đến phút này, tất cả chỉ có thế. Nếu có sự thay đổi tôi sẽ xin thông báo ngay”.

Cho đến nay, dường như tôi có thể tin được lời của Cung khi ông ấy xác định vị trí của mình. Quả thực ông đang nắm vững được tình hình. Nhưng nắm vững được bao lâu, lại là vấn đề khác. Những giàn cao xạ phòng  không đặt trong vòng Dinh đủ chứng tỏ sự nghi ngờ lòng trung thành của quân đội. Tôi kêu Yaffa đến để xem hắn giải thích những dấn hiệu kia ra sao. Thật không ngờ hắn lại đồng ý với Đại-tướng Tolliver:

“… Trong lúc này, hiển nhiên Cung là chủ nhân ông của nước này và không có ai được tổ chức để lật đổ ông. Thành phố sôi sục vì bất mãn nhưng Cung đã lấy vung úp ngay lên nồi, thành thử ra không ai thấy được bọt sủi lên. Tôi đã đi lại nhiều nơi và nhận báo cáo từng giờ của các nhân viên. Quả thật Cung đã đi được một nước cờ tuyệt diệu”.

“Để tôi nói trắng ra ạnh nghe, anh Yaffa. Nếu tôi ưng thuận một cuộc đảo chính trong lúc này, liệu các ông tướng của anh có làm nổi không?”

“Thưa ông, không được”. Hắn cố ý nhấn mạnh. “Nếu làm trong lúc này, họ sẽ bị đè bẹp trong nửa ngày.”

“Vậy thì rốt cuộc Cung là người mà chúng ta đang cần con người hùng có võ trang có khả năng duy trì được xứ sở này.”

“Tôi không nghĩ như vậy. Sáng nay, ông đã thấy thành phố trong một tình trạng tê liệt và ngưng trệ. Ai nấy đều tìm chỗ để trú ân. Kẻ nào thò đầu ra là bị bắn nát óc. Nhưng có ai phong tỏa được một thành phố mãi đâu. Người ta còn phải ăn, uống và xả hơi đôi chút, cả binh sĩ cũng phải xả hơi nữa. Vậy thì cho nhiều lắm là một tuần hay mười ngày nữa, ông Cung sẽ thấy tạm yên và cho mở nắp ra. Đó mới lúc là ông sẽ thấy trong nồi sôi sục.”

“Tạm nghe theo lý luận của anh đi, anh Yaffa. Rồi. Thiết quân luật được hủy bỏ, quân đội rút khỏi Saigon. Lúc ấy các tướng lãnh của anh có sẵn sàng không?”

“Nếu quân đội đồn trú di tản đi thì vâng được. Nhưng thưa ông Đại Sứ, tôi phải nói minh bạch, bởi vì các tướng lãnh rất minh bạch đối với tôi. Không một tướng lãnh nào sẵn sàng để tiến bước nếu không được it nhất có sự yểm trợ ngầm của Hoa Kỳ. Họ rất dễ bị tiêu diệt, như ông thấy rõ. Họ cần phải có sự che chở của chúng ta.”

“Và nếu ta không che chở cho họ?”

“Thì ông lại mắc kẹt với Cung, một kẻ độc tài cai trị trong một sự trống rỗng. Nếu Việt cộng làm chuyện gì lớn, e rằng tinh thần chiến đấu và kỷ luật có thể sụp đổ luôn.”

Tới đây, có một sự im lặng ngắn ngủi khó thở. Rồi Yaffa đặt một câu hỏi riêng của hắn:

“Thưa ông Đại-sứ, lập trường của ông thế nào? Ông gặp Tổng Thống Cung. Ông đã nghe ý kiến của các nhân viên. Tôi đã hết lòng nói thẳng với ông. Ông thấy giải pháp nào chưa?”

“Hiện tại tôi chưa thấy giải pháp nào cả. Tôi cũng rất thành thực với anh, anh Yaffa. Tôi mới đến đây được hơn một ngày. Tổng Thống ra lệnh cho tôi thương lượng với Tổng Thống Cung để xem tôi có thể làm ông thay đổi thái độ được không. Nếu tôi thất bại, tôi sẽ phải đề nghị một biện pháp khác. Nhưng tôi vẫn chưa chuẩn bị để làm như thế. Tôi chưa có đủ sự kiện hay sự hiểu biết đầu tay. Về một khía cạnh nào đó, hành động của Cung hiện tại có lợi cho tôi. Vì tôi có thì giờ nhiều hơn để thu thập tin tức.”

“Tôi hiểu,” Yaffa lặng lẽ nói, “giờ đến lượt tôi xin ông xét đến lập trường của tôi. Tòi phải tiếp tục chuẩn bị cho giờ khủng phút hoảng mà Cung có thể bị hạ bệ. Tôi phải có khả năng đưa ra các đường lối hành động thay thế nhau. Đó là tất cả ý nghĩa của công việc tôi làm. Vậy tôi xin hỏi:

“Ông sẵn sàng tin tôi đến mức nào?”

“Anh Yaffa, tôi sẵn sàng tin anh chừng nào và bao lâu anh sẵn sàng lương thiện đối với tôi. Khi gặp nhau lần đầu, anh có nói với tôi anh là một tên nói dối có tài. Nhưng tôi không thể đề nghị gì được lên chính phủ chúng ta căn cứ trên một lời nói dối mặc dù là một lời nói dối có tính cách nghề nghiệp. Tôi tin chắc anh hiểu tôi nói gì.”

Tôi ngạc nhiên thấy hắn ngả người về phía sau ghế và cười lên tiếng. Đôi bàn tay nhỏ và mềm của hắn phác những động tác xoay tròn trong không khi.

“Hòn đất ném đi, hòn chì quăng lại! Hay lắm, thưa ông Đại sứ, òng đã định rõ thái độ. Tôi xin chấp nhận. Bây giờ ta hãy đi vào chi tiết. Trước hết, ông Đại sứ muốn gì?”

“Trước hết tôi muốn gặp các tướng lãnh đang hay có thể dính liu đến cuộc vận động lật đổ chính quyền Cung.”

Hắn nhíu lông mày khi nghe tòi nói vậy và lấy tay bóp đòi má hồng hào. “Làm vậy thật chướng. Nếu cho họ ngồi chung trong một căn phòng thì tèn gián điệp hạng bét cũng có thể nhìn thấy hình dạng một vụ âm mưu. Tôi có cách dàn xếp …

Tụi Úc, tụi Ý và một vài tòa Đại-sứ khác thỉnh thoảng vẫn giúp đỡ tôi. Họ sẽ tổ chức một bữa tiệc hay một cuộc tiếp tân và có thể thêm vào danh sách quan khách của họ bất cứ danh tính nào tôi yêu cầu”

“Vậy anh làm đi. Độ chừng bao lâu?”

“Ba hay bốn ngày cho cuộc gặp gỡ đầu tiên”.

“Hay lắm! …. À, còn một vấn đề nữa. Sáng nay ông Cung tự nhận ổng biết hết các hoạt động của anh. Ông có hứa gửi cho tôi một bản báo cáo đầy đủ. Tôi cũng đã hứa nghiên cứu và gửi một bản sao về Hoa thịnh đốn.”

Yaffa lại cười ngất. “Thưa ông Đại sứ, tôi

cũng muốn xem báo cáo đó.”

“Liệu báo cáo ấy có gây rắc rối cho anh không?”

“Tôi chắc là có. Nhưng thưa ông Đại sứ, có điều rất lạ về xứ này là an ninh chẳng có nghĩa lý quái gì cả. Điều qnan hệ là những lá bài ông giữ trên tay và cách ông chơi. Đó cũng là đường lối của những liên hệ gia đình và những cách làm tiền. Chắc chắn là Cung biết rõ những người hoạt động chống lại ông ta. Nhưng cũng như một ông quan cựu trào, ông chấp nhận âm mưu như một chuyện dĩ nhiên. Bao lâu ông chưa thấy ló dạng một cuộc âm mưu tối hậu ông vẫn tin rằng ông có thể mua chuộc được kẻ này, dọa kẻ kia và lưu đầy một kẻ khác làm Đại sứ tại Ai Cập. Thế nên tôi không thật sự quan tâm đến báo cáo ấy. Điều tôi quan tâm hơn là khuyến dụ được ông và cung cấp cho ông những phương tiện để thi hành cái điều thuận lợi cho đúng lúc.”

Tôi không cưỡng lại được sự nói nhạo nhưng Yaffa vẫn bình thản. Câu trả lời của hắn thật lẹ và gẫy gọn:

“Vâng, thưa òng Đại-sứ. Trong chính trị, không có chuyện đúng hay sai. Chỉ có chuyện thuận lợi và khả hữu mà thôi”.

“Anh Yaffa, trong Kinh Thánh, có câu nói:

“Một người chết cho cả dân tộc là điều thuận lợi”! Anh có nghĩ rằng chuyện ấy có liên hệ đến Cung không? Nếu các tưởng lãnh truất phế ông, liệu họ có giết ông không?”

Câu hỏi của tôi làm hắn chưng hửng và hắn ngửng lên nhìn tôi với một vẻ ngạc nhiên ghê gớm.

“Giết òng ấy? Không, thưa òng Đại sử, vấn đề đó chưa bao giờ được đả động tới cả”.

“Nếu vậy thì tôi muốn thảo luận với anh về việc đó. Anh Yaffa, tôi muốn có sự cam kết là chính phủ Hoa Kỳ không thể làm bung xung cho một vụ hành quyết thuận lợi được!”

Lúc đo tôi mới thấy rõ chân tưong của con người Yaffa, dưới cái bộ mặt thản nhiên và đầy nữ tính. Hắn nhìn chiếu diện tôi và đặt câu trả lời ra trước tòi như đặt một đồng đô la trên chiếu bạc.

“Điều thuận lợi? Anh nói sao, Yaffa?

“Thưa ông Đại-sứ, cam kết thì ông có ngay! Có mất tiền mua đâu! Tôi nhận và đưa ra cam kết  hàng ngày mà. Nhưng lời hứa thì không! Ai có thể đoan chắc được chuyện gì khi súng nổ ầm ầm? Chắc không có tôi! Tôi là một tình báo viên một kẻ âm mưu chuyên nghiệp. Ông muốn có chính phủ mới? Tôi sẽ đưa ông một chính phủ mới như đưa ông một đĩa trứng chiên ăn sáng. Ông muốn có khăn lau vết trứng dây trên mặt? Tôi cũng cung cấp được chọ ông: Nhưng ông đừng bảo tôi làm trứng chiên mà không cần đập trứng. Tôi không thể làm được. Không ai làm được cả!”

Khi hắn đi khỏi, tôi bỗng cảm thấy người ớn lạnh, như thể có con ngỗng đã bước qua trên nấm mồ của tôi.

Anne Beldon mang đến cho tôi cà phê và một đĩa săng uých. Nàng cằn nhằn mãi cho đến khi tôi chịu ăn mới thôi. Đây là lần đầu từ khi tới đây tôi đã chú ý đến nàng và tôi cảm thấy cần phải xin lỗi nàng về sự bận bịu của tôi. Nàng chấp nhận một cách đơn giản và chúng tôi ngồi nói chuyện chơi, kiểu nói chuyện để làm vơi sự căng thẳng của công việc đại sự. Nàng cho tôi biết nàng là một góa phụ. Chồng nàng là một phi công phản lực của Hải quân đã tử trận tại Đại Hàn. Nàng đã xin phục vụ ngành ngoại giao tại Nhật Bản và đã làm việc một thời gian tại Tokyo, Đài Loan và Bangkok. Nàng nói tiếng Pháp rất thạo và hiện đang học tiếng Việt Nam với một giáo sư đại học người Việt đã hồi hưu. Nàng nói chuyện một cách dễ dàng và đi lại thoải mái; khi cười đôi mắt nàng sáng ngời vẻ vui tính và điểm chút bỡn cợt. Tôi đoán nàng độ ba mươi lăm tuổi. Theo tôi nhận thấy thì ngành Ngoại giao thường đối xử kỳ cục với phụ nữ ở vào một tuổi và tình trạng nào đó. Người ta đòi hỏi họ phải có hiệu năng; rốt cuộc một số trở nên khô khan và ưa chiếm đoạt. Họ sống trong một cộng-đồng toàn đực rựa mà một nửa đã có vợ và số còn lại đã sống quen với những mối tình lén lút tạm bợ, đôi khi với cả người bản xứ. Tuy nhièn, những quy ước của đời sống ngoại giao đặt họ vào thế bất lợi. Trong những nhiệm sở khổ cực như nhiệm sở này họ phải cam chịu thân phận tỳ thiếp cấm cung, đến độ một vài người phát điên khùng và một số trở nên lạnh lùng, ích kỷ. Trong kinh nghiệm của tôi, thật it khi thấy một người thư ký thâm niên nào giữ vững được thế quân bình về tình cảm và một phụ-nữ tính linh động như Anne Beldon. Cho nên tôi thầm cám ơn sự hiện diện của nàng trước giờ phút bị quấy đảo không thể tránh thoát của cuộc họp báo.

Nàng quá khôn ngoan nên đã không chịu nhận xét về những nhân vật của tòa Đại sứ nhưng nàng đã phê bình về lối sống của người Việt một cách khéo léo như sau:

“…Ông không thể tưởng tượng được những người dân ấy đã mệt mỏi và chán chường đến mức nào. Tôi thường thăm viếng họ, dùng cơm với họ và nói chuyện với các phụ nữ. Trước đây tình hình còn sáng sủa tòi thường thỉnh thoảng đi nghỉ cuối tuần ở Đà Lạt với cô con gái ông giáo sư của tôi. Dường như không còn ai nhớ ra rằng đất nước này liên tục sống trong chiến tranh đã hai mươi năm qua kể từ khi quân Nhật sang và Hồ chí Minh chiêu mộ những toán quân du kích đầu tiên. Tôi nghĩ rằng phải là một phụ nữ thì ông mới hiểu được điều đó như thế nào. Ông thấy các ngài quan lớn đến rồi lại đi. Ông nghe họ hứa hẹn đủ điều rồi đùng một cái con ông đã là người cầm súng như cha nó vậy.”

“Họ nghĩ thế nào về chúng mình, cô Anne?”

“Cảm nghĩ của họ lung tung lắm. Họ nhìn bọn mình như tượng trưng cho một nền tự do và thịnh vượng mà họ không có. Họ thich chúng mình và biết ơn điều mình cố gắng giúp họ. Nhưng họ cho rằng chúng mình rất ngây thơ quá ngây thơ đối với cải phức tạp cổ xưa của Á châu. Họ không thích người Pháp nhưng lạ thay họ lại kính trọng bọn Pháp hơn mình. Họ nhận định rằng người Pháp vẫn còn đang cai trị xứ sở họ nào ngân hàng, nào xi nê, nào thương mại cao su và hàng không; trong khi người Mỹ chiến đấu để giúp bọn chúng làm ăn. Kể ra thì cũng đúng thật!”

“Và sự thật họ muốn gì, cô Anne? Họ có nói cho cò biết không?

“Họ chỉ muốn hòa bình. Hòa bình với bất cứ giá nào, tôi e vậy. Tôi không thể trách họ được.”

Tôi đã nghe thấy điều này trước tiên do ông Tổng Giám mục người La Mã, một lần nữa do Mel Adams nói ra; giờ đây lại do một phụ nữ nói ra lần thứ ba. Dàn chúng mỏi mệt. Họ đã mất niềm tin. Họ chỉ muốn ban đêm ngủ yên tĩnh. Vậy tôi đã mang đến cái gì để cho có thể tái lập được sự che chở đã mất đi? Cà phê đã nguội và có vị chua trên đầu lưỡi. Tôi gạt tách cà phê sang bên và bảo Anne Beldon mang đến cho tôi những phiếu ghi chú cho cuộc họp báo. Khi đưa đến cho tôi, nàng hỏi:

“Thưa ông Đại sứ, ông cho phép tôi nói một điều?”

“Tự nhiên, cô Anne. Chuyện gì đó?”

“Ông hãy cẩn thận đối với báo chí ở đây.

Phần lớn họ còn trẻ lắm. Họ dấn thân hết mình; họ bị nhiều nguy hiểm và họ đã nhìn thấy vài điều khủng khiếp. Họ đã hị kết tội là ngồi ở quầy rượu Caravelle mà viết phóng sự về chiến tranh và họ rất tức giận chỉ vì điều đó không đúng sự thật. Người Mỹ chúng mình cũng đã cho họ uống nước đường nhiều, thế nên họ sẽ săn lấy đầu ông đó. “

“Cám ơn cô Anne. Ông nội tôi đã đánh nhau với bọn da đỏ. Tôi sẽ hết sức cố gắng để giữ cho sọ mình nguyên vẹn.”.

Khi đứng dậy, tay tôi quệt phải tay nàng và tôi ngạc nhiên thấy bàn tay ấy mát mẻ và mềm dịu biết bao. Tôi chợt nhớ rằng đã lâu lắm tôi mới đụng chạm với da thịt đàn bà. Mel Adams và tùy viên báo chí của tôi đã dẫn các phóng viên vào phòng họp của tòa Đại sứ. Tôi đã yêu cầu một cuộc họp báo quy mô, thì đây họ đã làm sẵn cho tôi, với tất cả nghi thức trang trọng! Có những máy quay phim thời sự, máy ghi âm và cả một trung đội phóng viên thuộc mười nước. Phần lớn họ rất trẻ tuổi và trông họ đều có vẻ gắng gượng, căng thẳng của những kẻ sống với nguy hiểm trong một môi trường thù nghịch. Có vài người mặc sơ mi trần, hai ba người khác mặc đồ trận dơ bẩn như thể mới đi hành quân về. Một, hai người không cạo râu. Một số khác vẻ mặt vàng vọt và ủ ê như bị ngã nước hay chưa tỉnh rượu. Người niên trưởng của họ là một chàng trai gầy gò, cao kều, quê quán ở Brooklyn, đại diện cho một hãng thông tấn quốc tế. Ông Tùy viên Báo chí giới thiệu hắn với tôi và hắn lanh lẹ giới thiệu từng người không chút ngập ngừng. Tôi ngồi xuống và máy quay phim, máy ghi âm bắt đầu chạy. Cuộc họp báo – hay một cuộc xử án? bắt đầu phiên nhóm. Họ đã chuẩn bị cuộc phỏng vấn thật kỹ lưỡng. Các câu hỏi từ mọi phía dồn đến nhưng đều theo một thứ tự dò dẫm có mạch lạc.

“Thưa ông Đại sứ, việc bổ nhiệm của ông có nghĩa là Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối với chế độ Cung hay thay đổi đường lối chỉ đạo chiến tranh?”

“Thay đổi chính sách? Không có. Chúng ta ở đây để giúp đỡ nước Cộng hòa Viet Nam theo đuổi chiến tranh chống Cộng và ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á. Chúng ta không bao giờ đi sai mục tiêu ấy.”

“Một sự thay đổi thái độ chăng?”

“Khộng. Chúng ta đến đây với tư cách đồng minh, cố vấn quân sự và nhà cung cấp quân cụ chiến lược. Chúng ta vẫn có thái độ ấy.”

“Sự khuyến cáo của ông có luôn luôn được đón nhận không?”

“Thật không may là trong một vài vấn đề quan hệ, lời khuyến cáo của tôi đã bị bác bỏ. Chính phủ Hoa Kỳđã thôi thúc một cách mãnh liệt đòi chính phủ miền Nam Việt Nam có. biện pháp chấn chỉnh lại những nỗi thống khổ của cộng đồng Phật giáo và áp dụng sự bình đẳng tôn giáo hoàn toàn như hiến pháp đã bảc đảm cho họ.

Điều này đã không được thực hiện. Đã thế lại có thèm những hành vi đàn áp và bạo hành. Chính phủ tôi rất phiền lòng về những hành vi ấy và tuyèn bố một cách minh bạch tự tách khỏi những vụ ấy.”

“Chính òng đã chứng kiến một vài hành vi bạo động tại chùa Xá Lợi?”

“Đúng. Sau đó tôi đã chính thức phản kháng với Tổng Thống Cung.”

“Xin ông cho biết lời lẽ của sự phản kháng đó.”

“Đó là những lời phản kháng mạnh mẽ nhất, tôi cam đoan với quý ông.”

“Trong lời phản kháng, có nói đến sự trừng phạt nếu không chịu nghe theo? Thí dụ như chấm dứt viện trợ? Hay rút bỏ viện trợ quân sự?)

“Trong lúc này xin miễn bàn.”

“Nhưng Tổng Thống Cung đã có lời bình luận rồi. Hồi mười một giờ sáng nay, ông tuyên bố rẳng Hoa Kỳ đã can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam với lời đe dọa tàn nhẫn là sẽ trừng phạt về kinh tế.”

“Đó là tời tuyên bố của Tổng Thống Cung, không phải của tôi.”

“Ông cũng cho là gián điệp Mỹ đang gây xáo trộn và xúi dục một cuộc nổi loạn trong những phần tử bất mẫn của quân đội và chính quyền”.

“Như tôi đã bày tỏ với Tổng Thống Cung, ý kiến của tôi là đàn áp và bạo tàn sẽ gây ra nổi loạn nhanh hơn là người Mỹ chúng ta có thể làm”.

“Thưa ông Đại-sứ, ông có cải chính tin cho rằng CIA hay một cơ quan Hoa Kỳ nào khác đang âm mưu chống lại chính phủ không?”

“Tôi mới đến đây được hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Tôi đã nghe nói đến âm mưu về phía Phật giáo, âm mưu về phía Công-giáo và âm mưu do Việt cộng chủ trương. Nhưng cho đến nay tôi chưa đụng phải một cuộc âm mưu nào trong tòa Đại-sứ của tôi cả!”

Họ đều cười rộ, nhưng đó là một âm thanh trống rỗng như tiếng cười trong khán đài của đấu trường khi người đấu bò vừa diễn một pha chọc cười. Cuộc khiêu vũ với tử thần vẫn tiếp diễn và chúng tôi vẫn chưa tới lúc đụng chạm đến  sự thực. Một gã người gầy gò, mắt tinh quái, có giọng nói kéo dài của dân Úc, đẩy tới trước mặt tôi một ống vi âm và bắt đầu một loạt câu hỏi theo chiều hướng mới:

“Thưa ông Đại sứ, liệu chúng ta có thắng trận không?”

“Theo chỗ tôi biết thì chúng ta đang thắng”.

“Cách đây một tháng, Đại-lướng Tolliver đã tuyên bố có thể thắng được trước năm 1965. Ông có đồng ý không?”

“Tôi là một nhà ngoại giao chử không phải là một nhà quân sự. Tôi không thể trả lời câu hỏi ấy”.

-Thưa ông Đại sứ, liệu có thể thắng trận được không nếu Hoa Kỳ nắm quyền kiểm soát tình hình quân sự và tung ra một cuộc phản công toàn diện?”

“Có thể thắng trận theo ý nghĩa quân sự, nhưng sẽ là thắng trận trong một sự trống rỗng, làm chúng ta lại rơi vào vị trí của người Pháp nghĩa là quân đội thực dân trong một vùng bất mãn về chính trị. Điều đó cũng chắc chắn sẽ dẫn tới một sự “leo thang” nghĩa là một cuộc đụng độ trực tiếp giữa Mỹ quốc và Trung Hoa. Trong cả. “lúc này, chưa bên nào chuẩn bị để làm như vậy.

“Vậy có điều gì làm ông thắc mắc về tình quân sự?”

“Có sự chia rẽ trong Bộ Tổng Tham mưu của Quân đôi Việt Nam và thiếu hẳn một đoàn sĩ quan cấp úy và hạ sĩ quan được huấn luyện đầy đủ và ăn ý với nhau.”

“Sự đàn áp Phật-giáo có gây ra sự bất đồng ý kiến nào lớn lao trong quân đội miền Nam Việt Nnam không?”

“Hiện tại thì chứa. Nhưng việc đó đã làm cho tinh thần nói chung bị xuống thấp mà nguyên do thật sự là chiến thuật chia để trị. Trên quan điểm quân sự thì chúng ta phải hết sức làm những gì có thể làm được trong tình thế hiện nay.”

“Và trên bình diện chính trị, có việc gì đang được xúc tiến, thưa ông Đại-sứ?”

“Như tòi đã nói với quý ông, chúng tôi đã phản kháng mãnh liệt với Tổng Thống Cung. Chúng tôi sẽ tiếp tục phản kháng và chúng tôi sẽ áp dụng những biện pháp khác tùy theo tình thế đòi hỏi.”

“Xin ông nói rõ hơn về những biện pháp ấy.”

“Sau này có thể nói rõ nhưng bây giờ không phải lúc.”

“Giả dụ là chế độ Cung chứng tỏ không được đa số dân chúng chấp thuận. Hoa Kỳ sẽ làm gì khi ấy? “

“Đó là một câu hỏi giả thiết. Nó không ăn nhằm gì đến hiện tại.”

Họ tấn công tôi tơi bời trong gần một tiếng đồng hồ cho đến lúc Mel Adams bước vào và kết thúc cuộc họp báo. Miệng tôi khô ráo. Quần áo tôi ướt đẫm mồ hôi và đầu tôi nhức nhối. Trong lúc cùng bước lên cầu thang đến văn phòng tôi, Mel Adams quyết án về tôi:

“Thưa ông, họ làm khó ông ghê quá. Họ đã được đầy đủ tin tức và rất hăng say.”

“Kết quả ra sao, Mel?”

“Về mặt thăm dò, có thể nói chúng ta thắng lợi chút ít. Lời phản kháng của ông đã được đón nhận khả quan. Họ cũng đã nhận được thông tri về sự trừng phạt. Ông đã bầy tỏ được một cách kín đáo sự bất mãn về tình hình quân sự. Giờ đây, mình chỉ còn việc chờ đợi xem họ nói ra sao trên báo chí. Nhưng tôi tiên đoán sẽ có kẻ chửi bới. Họ biết xin lỗi ông họ biết là mình nói quanh thay vì đưa ra một giải pháp thật sự …

Để chắc ăn, tôi đã cho ghi âm cuộc họp báo từ đầu chí cuối. Chúng ta sẽ cho đánh máy và gửi về Hoa-thịnh-đốn. Tôi cũng có ý kiến là mình nên gửi một bản cho Phủ Tông Thống nữa để có chứng tích.”

“Ý kiến hay đó … anh Mel, đôi lúc tôi muốn quay về với thời đại ngoại giao bí mật xưa kia. Chỉ có các nhà quí phái họp với nhau và mặc cho bọn dân quê quét dọn!”

“Tôi cũng vậy!”, Mel nồng nhiệt nói. “Làm sao mà ông có thể thương lượng được dưới các ống kính T.V.? Làm sao mà ông có thể đấu trí được  với Cung khi cả hai đều tranh luận công khai có ghi chép cần thận. Luôn luôn ông bị kẹt vì những lời tuyên bố tuần lễ trước. Khi ông lấy lại được lời tuyên bố, thì nó đã được khắc trên đá như bia thời cổ.”

“Anh Mel, đó là điểm bọn Mác-xít luôn luôn thắng thế. Họ có thể viết lại sử sách lúc nào cũng được. Ước chi mình cũng viết lại được phần nào sử sách của mình … Anh dùng chút rượu?”

Uống xong hai ly rượu với Mel Adams và ngồi hai giờ tại bàn giấy với các báo cáo, công hàm và công điện, bỗng nhiên tôi cảm thấy mỏi mệt lạ thường. Mắt tôi cay xè, toàn thân tôi đau đớn như bị roi vọt đánh, các hàng chữ đánh máy mờ nhạt và nhẩy múa trước mắt tôi. Tôi nhớ lại với sự ngạc nhiên mơ hồ rằng tôi đã liên miên làm việc gần ba mươi sáu tiếng đồng hồ. Thế là đủ lắm rồi, quá đủ. Giờ nếu tất cả Á châu có võ trang tiến đến với voi ngựa, cờ xí, kèn trống cũng không cản được tôi về nhà đi ngủ.

Nhưng chờ đã lâu mà giấc ngủ vẫn không đến. Thân thể tôi mềm nhũn và bị mệt nhọc đầu độc nhưng trí óc tôi quay cuồng trong sự suy nghĩ lao lung, tỉ như một động cơ bỗng nhiên tuột khỏi số gài. Cái trục quay của nó vẫn chỉ là một vấn đề cũ: tại sao đất nước này, bị chiến tranh tiêu hao nhưng đã đứng vững được nhờ sự viện trợ vĩ đại, lại chưa tìm ra được sức mạnh, sự hứng khởi hay người nào để thu thập sức lực và hoàn tất cuộc cách mạng đã khởi đầu từ hai mươi hai năm về trước?

Đã có nhiều người đưa ra cho tôi nhiều lời giải đáp khác nhau nhưng không có giải đáp nào khá đầy đủ để giải thích sự tan rã lớn lao đang diễn ra trước mắt tôi. Độc tài cô lập? Không đủ, vì còn nhiều nhà độc tài khác còn ghê gớm hơn đã tạo ra được một ý thức về mục đích và một động lực thúc đầy sự đoàn kết, ít nhất cũng được một thời. Chia rẽ trong hàng ngũ tướng lãnh và cán bộ chính quyền? Cũng vẫn chưa đủ, bởi vì chẳng ai được lợi lộc gì nếu quốc gia sụp đổ. Dân chúng mỏi mệt và thất vọng? Đó là những triệu chứng chứ không phải chính căn bệnh. Tranh chấp tôn giáo? Thì trong những xã hội có trật tự nhất cũng thỉnh thoảng xẩy ra. Cảnh sát tàn nhẫn? Nhưng Á châu là một đại lục tàn nhẫn. Tạo hóa còn bạo tàn hơn người biết bao, hàng ngàn năm nay con người vẫn sống chịu đựng với dịch hạch, đói khổ, bệnh đậu mùa, giun sán và dưới làn roi quất của lũ nô bộc lãnh chúa.

Vậy thì có cái gì thiếu sót? Mà thật ra thì căn bản của mọi sự đoàn kết là cái gì? Con người bấu víu vào sợi rơm nào để duy trì sự sống mỏng manh của hắn? Tôi cũng là người như mọi người khác. Giờ đây tôi trần truồng và nằm chảy mồ hôi trên giường đơn độc trong một buồng tối trong miền nhiệt đới. Cả chính tôi nữa cũng đang bị đe dọa từ bên trong và bao vây từ bên ngoài. Tôi đã làm gì hay tôi có thể làm gì để giữ được sự vẹn toàn cho con người tôi? Những ý nghĩ nhảy vọt đã đem tôi quay thẳng về khu vườn Tenryu-ji, nơi mà Muso Soseki đã khai tâm cho tôi về con đường cứu rỗi.

“Cội rễ sự khốn cùng của con người là một ý hướng tha hóa tách khỏi cái trật tự thiên nhiên của vũ trụ. Tác dụng của Satori là một sự soi sáng tâm linh, sao cho bản chất của bản ngã và của vũ trụ sau rốt được minh bạch và cột sao tái lập lại được cái ý hướng của sự tương quan đích thực, hay đơn nhất tính giữa bản ngã và vũ trụ”. Đồng nhất tính! Đó mới chính là câu giải đáp! Đó là chìa khóa của tất cả vấn đề con người. Nếu con người vẫn chưa hiểu, dù rằng một cách mù mờ, mình là cái gì và liên hệ ra sao với đồng loại và với vũ trụ thí hắn không thể sống được. Nhốt hắn vào một nhà tù bít kín, ngăn hắn không cho thấy và nghe được thế giới bên ngoài, một thời gian ngắn hắn sẽ trở nên điên rồ và bệnh hoạn. Đó mới là ý nghĩa đích thực của đạo thần linh cổ xưa ở Á châu: nếu không van vái thần linh của đá, sông và cây cối thì sự liên hệ thiết yếu giữa chúng và con người sẽ bị ngắt đứt và toàn thể vũ trụ sẽ tan biến thành hỗn loạn.

Dù không biết điều đó, Mel Adams đã phát biểu cùng một tư tưởng nhưng với lời lẽ khác.

“Những người duy nhất trong nước này đích thực biết tại sao mình chiến đấu chính là dân Ki-tô giáo.”

Ki-tô giáo là một tôn giáo mà nền tảng và cội rễ dựa vào một sự xác định đồng nhất tính của con người. Người là một nhân vật tạo ra bởi một Thượng Đế cũng là người. Bởi thế hắn có mối liên hệ gia đình với mọi người khác. Vũ trụ vật chất là một môi trường được tạo ra để cho con người nẩy nở, sinh sống và tái tục. Cương vị của hắn đã được xác nhận bởi giáo thuyết Hiện hình, theo đó thì chính Đấng Tạo hóa hiện ra với đa thịt con người và do đó nó có một phẩm cách không thể chối cãi được.

Chủ nghĩa Cộng-sản cũng có tính cách đặc thù tương tự trong tín điều của chính họ. Đồng nhất tính của con người chỉ được xác nhận và duy trì bằng sự hoạt động tập thể của hắn mà thôi. Hắn là một sinh vật lệ thuộc, do sự hỗn loạn sinh ra và đi dần đến sự tuyệt chủng. Một cách đơn độc, hắn cam chịu số phận dung thân ở một nơi hoang vu cần cỗi, làm một con mồi ngon cho sự bất công và bóc lột. Bởi vậy đồng nhất tinh của hắn tùy thuộc vào tính cách một thành phần khả dụng của quần chúng. Nhưng hắn đã có một đồng nhất tính và

nếu hắn chịu tuân phục thì quần chúng sẽ đảm bảo và che chở cho đồng nhất tính ấy.

Do một sự éo le kỳ lạ, Phật giáo đã khẳng định đồng nhất tính bằng cách giảng dậy rằng sự toàn thiện là ở chỗ hủy diệt tối hậu của đồng nhất tính trong cái Toàn ngã của sự giác ngộ thuần túy.. Nhưng đó là một giáo thuyết khép kín, chỉ  có kẻ lọc lựa mới đạt tới được, thế nên đám thường dân đã làm cho nó ung thối và đê tiện đi để tiện lợi cho nhu cầu của họ hơn. So với những khẳng định khác nhau nhưng sâu sắc ấy thì tin điều của Hoa Kỳ mà tôi là tân giáo chủ ở miền Nam Việt Nam thật là trống rỗng và chẳng làm ai thỏa mãn cả. Dân chủ! Tự quyết! Tự do! Bình đẳng! Huynh đệ! Những danh từ ấy có nghĩa gì với một người ngồi dưới gốc cây đề, tai nghe thấy qua tiếng lá reo lời thì thầm của một thiên thần nổi giận? Làm sao mà hắn lại có thể tự đồng hóa được với chúng ta những quân man rợ mắt xanh, của cải có thật nhiều nhưng hiểu biết chẳng là bao?

Cung là một triết gia. Chắc chắn ông cũng đã nghĩ tới những điều ấy rồi. Ông là một người dân Á châu. Chắc chắn trong lòng ông, ông cũng đã nghe thấy những tiếng nói của tiền nhân đã từ đời này sang đời khác kêu gào đòi hỏi đồng nhất tính, sự tái tục và cộng đồng tính. Có lẽ nếu tôi có thể làm cho ông lại biết nghe lời những tiếng nói ấy thì tôi có thể khích ông tuyên bố được những lời nói ấy với ngôn ngữ bình dân để cho dân chúng có thể nghe thấy mà át đi được sự rùm beng của các chính trị gia và chuyên gia tuyên truyền. Có lẽ cũng không đến nỗi quá muộn để đi dọc theo các biên giới một lần chót và làm vang lên một tiếng kèn vọng lần cuối …Nhưng đối với tôi thì đã quá muộn. Bóng tối và sự im lặng áp đảo tôi và tôi ngủ luôn một mạch

mười hai tiếng đồng hồ. Khi xuống ăn điểm tàm, tòi đã thấy George Groton uống đến tách cà-phê chót. Đôi mắt hắn đỏ ngầu, người dáng mệt mỏi. Khi tôi hỏi, hắn nói rằng hắn đã thức khuya nghiên cứu tài liệu của Tòa Đại sứ về tình hình Phật giáo. Theo ý hắn, những tài liệu đó thiếu xót một cách tai hại. Tôi hỏi hắn lý do.

“Bởi vì thưa ông Đại-sứ, tài liệu nói về tình hình hiện tại mà chỉ dựa trên quan điểm của những quan sát viên chính trị và nhân viên tình báo mà thôi. Về một số vấn đề quan yếu, tài liệu rất mơ hồ. Tỉ dụ như đa số người Việt Nam theo phái Đại thừa nhưng cũng có một số chùa chiền theo phái Tiểu thừa và họ có những lièn hệ chắc chắn với phái Tiểu thừa ở Lào và Cambốt. Họ cũng có một mối liên hệ lịch sử với Cao đài và Hòa Hảo nữa; đó là những giáo phái mà bộ đội riêng của họ đã bị Tổng Thống Cung giải giới. Những liên hệ đó như thế nào? Có được xử dụng vào những mục đích chính trị và quân sự không? Báo cáo không thấy nói. Thế nên chúng ta không làm cách nào biết được việc Cung đàn áp có hậu quả như thế nào đối với hoạt động Phật giáo bên kia biên giới. Lại còn điều này nữa. Chùa chiền của phái Đại-thừa đều là những cơ sở tự trị. Vị sư trụ trì tại chức vị là người lãnh đạo tín đồ trong một khu vực riêng. Nhưng mà giữa các đền đài thì lại có đủ thứ thông thuộc và liên hệ một cách lỏng lẻo. Về những mối liên hệ này, tài liệu cũng nói mơ hồ lắm. Người Trung Hoa có chùa riêng và sư sãi riêng. Chúng ta không có tin tức gì chính xác về điểm này cả. Vậy mà tất cả cuộc khủng hoảng hiện nay đã khởi đầu với Phật giáo. Có phải Cung đã hoàn toàn dựng lên cuộc khủng hoảng đó không? Hay đó là thành phần của chuyện gì to lớn hơn một phong trào Liên-Phật-giáo tả phái xuất phát từ Tích Lan và Miến Điện, qua mặt nhóm hoàng phái ở Thái Lan và xuất đầu lộ diện ở đây? Nghe nói thì có vẻ điên khùng nhưng sự thực không điên khùng đâu. Về vụ chùa chiền rối loạn ở đây, Thái Lan chỉ ngỏ ý tiếc một cách có lễ độ nhưng đâu có lớn tiếng phản kháng. Nhưng mà Tích Lan thì lại bắn hết quả rốc-kết này

đến quả khác. Ít nhất thì như vậy cũng có ý nghĩa  gì đó. Tôi nghĩ rằng mình phải làm cái gì mới được, thưa ông.”

“Làm cái gì chẳng hạn, anh George?”

“Tôi có một ý kiến đề nghị; tôi đã suy nghĩ sắp đặt chi tiết kỹ lưỡng đêm qua. Xin ông thử cuu xét xem .”

“Anh cử nói đi.”

“Gần suốt ngày hôm qua tôi ở cạnh nhà sư ngụ tại tòa Đại sứ và hai nhà sư kia ở bên trụ sở USAID. Tôi nói với họ rằng mặc dầu tôi theo đường lối Zen, tôi vẫn là một Phật tử và do đó tôi có thiện cảm với những mục đích và vấn đề của họ. Tôi cho họ biết là ông cũng đang nghiên cứu đạo Phật theo đường lối Zen mặc dầu ông chưa hoàn toàn là một tín đồ. Điều này làm họ chịu lắm. Nhà sư ở tòa Đại sứ cũng khá khôn ngoan nên đề nghị tôi đi điều tra riêng và đích thân báo cáo cho ông. Ông hứa viết thư đưa tôi cầm đến cho các bạn hữu của ông và với những lá thư đó tôi sẽ tự do ra vào các chùa … Thưa ông, tôi nghĩ đó cũng là ý kiến hay. Hiển nhiên là họ muốn lợi dụng tôi vì trông tôi và đôi khi thực sự có vẻ một tên ngờ nghệch. Nhưng ít ra thì tôi sẽ lượm được tin tức đầu tay mà chúng ta hiện giờ không có. Nếu cần thì tôi có thể cạo đầu và mặc áo cà sa vàng.”. Hắn nhoẻn một nụ cười trẻ con vốn dĩ với tôi và tiếp thêm. “Thưa ông, trước đây tôi đã mặc cà sa. Cũng không khó chịu lắm đâu. Dĩ nhièn tôi không nói được tiếng họ; nhưng tiếng Pháp là chuyện thường trong đám nhà sư có học.”

“Anh đã nghĩ đến các sự nguy hiểm chưa, anh George? Nếu anh bị tóm cổ trong một vụ ruồng xét bất thần như đêm qua thì sẽ ra sao?”

“Thì tôi sẽ làm cho Cung và ông khó phân xử.”

“Anh cũng có thể bị báng súng đánh vỡ đầu nữa. Cũng có một điều nữa mà có lẽ anh chưa nghĩ tới.”

“Thưa ông điều chi?”

“Quân đội có một ngành tình báo, tòa Đại-sứ cũng có một ngành nữa và Harry Yaffa riêng hắn cũng có một tổ chức kín như bưng. Như vậy anh sẽ đơn thương độc mã, không có tư cách mà cũng không được che chở gì hết. Thật là bất tiện cho cả anh lẫn tôi.”

Hắn lại cười và nói thản nhiên, “Về mặt khác thưa ông, Hiến pháp Hoa Kỳ đảm bảo tự do tôn giáo cho mọi người. Tôi là một Phật tử và tôi thật lòng mong mùốn tiếp tục hành đạo … Vã lại, ông đã mang tôi đến đây làm phụ tá đặc biệt. Đây là một dịch vụ ngoài tôi ra không có ai làm được cả.”

Đó cũng là một dịch vụ hấp dẫn nữa một con mắt riêng và thành thạo nhìn vào cái hiện tượng mới mẻ nhất ở Á châu, một thứ Phật giáo có những tử đạo công khai, những nhà in bí mật và sự tuyên truyền khắp thế giới. Chúng tôi cùng nhau thảo luận về dự án đó thêm nửa giờ và tôi thỏa thuận với một vài điều kiện. “.. George, anh cứ thử làm trong mười ngày và coi xem anh đi tới đâu, Cách ba ngày anh báo cáo cho tôi một lần. Đừng có mạo hiểm, đừng có anh hùng độc ca gì cả. Nếu có dấu hiệu gì rắc rối dù là mỏng manh nhất, tôi muốn được biết ngay. Sau mười ngày chúng ta sẽ thảo luận lại. Rõ rang chứ?”

“Thưa rất rõ và xin cảm ơn ông. Bao giờ tôi có thể khởi sự?”

“Ngay bây giờ nếu anh muốn.”

Hắn ra đi vui như sáo để mình tôi ngồi lại ăn nốt bữa điểm tâm và ráng đoán hiểu những tin tức rùm beng đăng trên báo chí Saigon. Lúc đó tôi không biết rằng mà làm sao biết được? tôi vừa ký xong lệnh hành quyết George Groton.

Tôi còn nhớ rõ ngày hôm sau với sự cay đắng lạ thường bởi vì đối với tôi hình như giờ đây là khởi điểm của tất cả những sự phản phúc mà tôi đã dấn thân vào. Ngoại giao có thể được giải thích hay nhất là một công chuyện lưỡng đối vì nó đòi hỏi một sự cách biệt hoàn toàn giữa cái ngẫu nhiên và cái tuyệt đối, giữa điều chính đáng và điều thuận lợi, giữa sự khó khăn và lý luận mong muốn. Không ai tránh khỏi sự lưỡng đối đó, mọi người đều bị nó làm thay đổi; vài kẻ bị nó tiêu diệt. Điều thường xẩy ra là người ta rốt cuộc lại chấp nhận cái hành vi mà mình định đổi thay hay lại có cái hành vi mà mình có nhiệm vụ phải kết án.

Có lần ở Argentine, một bạn đồng nghiệp khả ái nhưng thiếu khả năng đã định nghĩa một nhà ngoại giao cho tôi nghe một cách rất La-tinh như sau:

“Nhà ngoại giao thật ra là một ông thầy bói cổ tiên đoán tương lai bằng cách xem ruột gan một con chim. Điều điên khùng là hắn phải giết chết con chim trước khi xem được ruột gan nó”.

Tôi nhắc lại câu chuyện này với một người Anh thì ông này, với lời lẽ ý nhị tuyệt hảo của Bộ Ngoại-giao Anh, lại cho tôi một định nghĩa khác nhau như sau:

“Ông bạn ơi, thật ra cũng không hẳn là như vậy. Nói là giống đi săn gà gô thì đúng hơn. Bạn phải xua cho chim bay lên thì bạn mới bắn được nó chứ. Nếu không may thì bạn sẽ bắn trượt con chim và trúng nhầm phải anh chàng xua chim.”

Sáng hôm đó dường như tôi là anh chàng xua chim bị người đi săn bắn trúng đít. Tôi đến tòa Đại sứ đầu óc sáng suốt và thoải mái. Những sự suy nghĩ trong đêm qua vẫn còn mãnh liệt trong trí óc tôi và tôi hình dung thấy hay tưởng rằng hình dung thấy sự khởi đầu của một cuộc đối thoại xây dựng với Tổng Thống Cung. Dĩ nhiên sẽ có sự va chạm sơ khởi. Vì cả đôi bên đã dùng những lời lẽ thô bạo công khai chửi bới lẫn nhau trên trường quốc tế; nhưng ít nhất thì tôi đã sẵn lòng dâng hiến một cành ô-liu đầu tiên mặc dầu làm vậy trông tôi có vẻ biến dạng như con chim bồ câu của Picasso. Tôi đang thảo một phiếu trình gửi cho Tổng thống thì Anne Beldon bước vào và đặt trước mặt tôi một bức điện của Festhammer:

PHẢN ỨNG CỦA THẾ GIỚI ĐỐI VỚI BÁO CÁO MỚI NHẤT TỪ SAIGON RẤT MÃNH LIỆT VÀ

CÔNG PHẨN – VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO SẼ ĐƯỢC THẢO LUẬN TẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP

QUỐC. AN-GIÊ-RI, TÍCH – LAN, NAM – DƯƠNG VÀ NGOẠI-MÔNG ĐANG ĐƯA RA KIẾN NGHỊ

CHỈ ĐỊNH MỘT ỦY BAN LIÊN HIỆP QUỐC ĐIỀU TRA SỰ VI PHẠM NHÂN QUYỀN TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM. SỰ CHỐNG ĐỐI CỦA CHÚNG TA VỀ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐÀN ÁP ĐÃ ĐƯỢC BIỂU LỘ Ở HOA-THỊNH-ĐỐN VÀ MINH THỊ THÊM BỞI LỜI TUYÊN BỐ VỚI BÁO CHÍ SAIGON CỦA QUÝ TÒA – DO ĐÓ HOA-KỲ BUỘC LÒNG PHẢI BỎ THĂM. ỦNG HỘ KIẾN-NGHỊ …

Vậy là đùng một cái kế hoạch hòa giải của tôi đã bị phá vỡ. Làm sao mà tôi có thể nói chuyện triết lý được với Cung một khi chính phủ của tôi đã đứng về phía chống đối ông trên bàn hội nghị của Liên-hiệp-quốc. Tôi tức giận, tức giận một cách cay đắng. Đó là sự biểu dương quyền lực chứ không phải là ngoại giao. Làm như vậy có khác chi đem các lời đe dọa trừng phạt dán lên các tường phố Saigon? Các người đi xua chim đã xua được cho chim bay lên nhưng chim lại không biết bay về đâu. Cả Cung lẫn tôi đều bị dồn vào một góc lồng vừa mổ lẫn nhau vừa đập cánh lên nan lồng. Tôi giận dữ đi đi lại trong văn phòng trong mười phút cố gắng để hiểu rõ tình hình. Lúc ấy chuông điện thoại reo và tôi nghe thấy tiếng Arnold Manson, Đại-sứ Úc, ở đầu giây. Hắn chào mừng tôi một cách vắn tắt và yêu cầu được tôi tiếp kiến ngay. Tôi viện cớ công việc bề bộn nhưng hắn không chịu thua. Hắn nói là vấn đề rất khẩn cấp và nếu tôi không thể gặp hắn, hắn sẽ buộc lòng phải đơn phương hành động. Thế là tôi phải thuận, một cách miễn cưỡng. Mười phút sau hắn đã tới văn phòng tôi. Hắn trẻ một cách đáng ngạc nhiên, mái tóc quăn dầy rậm, nụ cười vui tính và đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Cuộc thảo luận của Liên-hiệp-quốc về miền Nam Viet Nam là một vấn đề mà chính phủ hắn lưu tâm đặc biệt.

Úc-châu, cũng như Hoa-kỳ, không chấp nhận những biện pháp khống chế đối với Phật tử nhưng Úc châu đồng thời cũng không chấp nhận ý kiến lập một Ủy ban Điều tra. Ủy ban Liên-hiệp-quốc duy nhất có thể dành quyền hợp pháp nhập nội một nước có chủ quyền là Ủy-ban An-ninh Quốc-tế. Mặc dầu Cung có chấp nhận một Ủy-han về Nhân Quyền hay không, vấn đề vẫn là một sự vi phạm Hiến-chương Liên-hiệp-quốc và là một án lệ nguy hiểm cho Úc châu trong tư cách là quốc gia quản trị các Đất đai Bảo-hộ. Rõ ràng là Úc châu không muốn có một bọn người hỗn tạp gồm An-giê-ri, Hồi quốc và Ngoại-Mông phê phán về đời sống của dân mọi thời Thạch Đại ở Tân Ghi-nê.

Tôi đồng ý với hắn. Tõi trình bầy cho hắn thấy hậu quả của một cuộc thảo luận ở Liên-hiệp-quốc đối với liên hệ riêng của tôi với Phủ Tổng Thống. Tôi cho hắn biết rằng tôi dự tính gửi ngay một công điện cho Hoa-thịnh-đốn bầy tỏ sự phản đối của riêng tôi đối với kiến nghị. Tôi cũng cho hắn biết là tôi ít thấy có hy vọng làm thay đổi được chiều hướng các biến cố ở Hoa-thịnh-đốn và Nữu-ước. Đối với họ thì Cung là một kẻ ngoan cố hoàn toàn và cần phải khuất phục được ông với một cái chầy nện nếu cần. Mặc dù có vẻ trẻ tuổi, Manson là một nhà ngoại giao giỏi và chịu khó. Hắn trình bầy với tôi một giải pháp có thể thực hiện được.

“Có một cách gỡ rối cho tất cả mọi người”.

 “Cách nào, ông Manson?”

“Nếu Tổng-thống Cung chịu mời Đại Hội-đồng gửi qua một toán quan-sát-viên để nghiên cứu vấn đề Phật-giáo, ông có thể chận đứng được những kẻ đưa ra kiến nghị. Ông cũng có thể tránh được một cuộc thảo luận lâu dài, khó nuốt trôi và sẽ không còn có vấn đề một ủy-ban chính thức với tất cả những hậu quả kỳ cục của nó nữa”.

Ông có nghĩ rằng Cung sẽ chấp nhận đề nghị ấy không?”

“Tôi nghĩ rằng có thể ông ta sẽ chấp nhận”.

“Ai sẽ đưa ra ý kiến ấy cho Cung?”

“Tôi sẵn sàng làm việc ấy, nếu ông đồng ý. Chỉ nghĩ rằng nếu ông làm thì đó sẽ là một cử chỉ hữu ích”.

Đó là một ý kiến hấp dẫn làm tôi suy nghĩ trong chốc lát; nhưng sau đó tôi buộc phải bác bỏ nó.

“Nó sẽ gây ra nhiều vấn đề quá. Trước hết nó buộc tôi phải nói sai giọng của Hoa-thịnh-đốn và tôi khòng thể làm thế được; thứ nhì là Cung sẽ có lý lẽ mạnh để cho rằng, công khai chúng ta nói một điều và riêng tư lại nói điều khác. Mặt khác, Úc châu là một quốc gia nhỏ và trong vấn đề này, quyền lợi của Úc châu cũng như miền Nam Việt Nam y hệt nhau. Thế là ông cho Cung một ý kiến cả hai bên xử dụng đều có lợi cho nhau … Thôi, ông Manson, để ông đảm nhiệm việc này tốt hơn.”

“Và Hoa-thịnh-đốn sẽ phản ứng ra sao?”

“Tôi nghĩ rằng sau khi nhận được công điện của tôi có lẽ họ cũng sẽ rút lời. Nhưng tôi không hứa chắc điều gì.”

“Tôi hiểu. Tôi mừng thấy sau rốt chúng ta đã đồng ý với nhau.”

“Tôi cũng mừng lắm, ông Manson. Đó là một tia nắng nhỏ trong một ngày thật u ám. Xin ông vui lòng cho tôi biết Cung nghĩ sao về đề nghị của ông.”

“Tôi sẽ điện thoại cho ông ngay sau khi tôi nói chuyện với Cung.”

Hắn ngập ngừng giây lát đoạn hỏi một cách cố ý, “Chúng ta có thể nói chuyện riêng, không công bố độ mười phút không?”

Trong sự bộn bề của công việc và trong sự mệt mỏi, từ ngữ của hắn dùng làm tòi bực mình. Tôi nhắc nhở hắn một cách hơi đanh nọc quá lố là trong ngoại giao, sởm muộn gì mọi việc đều được công bố ra cả. Tôi lại càng bực mình hơn khi thấy hắn vẫn thản nhiên như không. Hắn chỉ cười và bình tĩnh trả lời:

“Xin lỗi. Đó chỉ là sự khác biệt thành ngữ. Thành thật mà nói tôi chẳng quan tâm đến việc có công bố hay không miễn là lời tôi nói được coi là một ý kiến riêng chứ không cần thiết là ý kiến của chính phủ tôi.”

Ở Saigon, thiên hạ ai cũng muốn nhét vào họng tôi một ý kiến riêng và tôi còn mới mẻ quá nên chẳng có ý kiến riêng gì cả. Thế nên tôi sẵng giọng hỏi hắn:

“Ý kiến của ông về cái gì mới được chứ, ông Manson?”

“Về vấn đề trừng phạt.”

“Theo chỗ tôi biết, ông Manson, thì chưa có sự trừng phạt nào được áp dụng cả.”

“Nhưng đã được nêu ra để đe dọa.”

“Tôi xin phép sửa lại lời ông nói cho đúng, ông Manson. Vấn đề trừng phạt là do báo chí đã nêu ra, chứ không phải do tôi.”

“Tôi biết điều ấy, ông Amberley, nhưng rõ ràng là đã có một lời cáo tri hay đe dọa được đưa ra cho Phủ Tổng-thống.”

“Rõ ràng như thế nào?”

“Sáng nay tôi nhận được một cú điện thoại – của ông Bộ trưởng Thương mại. Ông yêu cầu tôi hết sức cố gắng mua tại Úc châu lúa mì, gạo cùng các thực phẩm khác và, nếu được, dàn xếp hộ sự trả góp thích hợp với chính

phủ tôi. Đó là một lời yêu cầu chính thức và chúng tôi ở vào một vị trí khó xử vì chúng tôi đã cung cấp lúa mì bán chịu cho Trung cộng. Nếu chúng tôi từ chối sự yêu cầu đó, họ có thể kết tội chúng tôi là bỏ đói các bạn đồng minh mà đi nuôi kẻ thù của chúng ta.” Điều hắn vừa nói ra đã làm tôi lay chuyển và hắn biết vậy nhưng vẫn tiếp lời một cách bình tĩnh như cũ: “Tôi đã mất công tìm hiểu về tình trạng tài chính hiện nay của chính phủ Cung. Thật ra thì họ đang có một dự trữ Mỹ kim vào khoảng ba mươi lăm triệu và hệ thống ngân hàng của Pháp cũng sẵn sàng cho họ vay vào khoảng chừng đó. Do đó cứ theo mức độ chi tiêu hiện nay thì Cung vẫn có thể điều hành chính phủ trong vòng sáu tháng mặc dầu các trừng phạt được thi hành. Nếu ông đồng thời cũng cưỡng bách một sự trừng phạt về quân sự nữa thì ông sẽ bắt đầu bẳng cách rút lui tượng trưng các nhân viên hành chánh. Làm vậy sẽ không có ảnh hưởng gì đến sự diễn tiến của các cuộc hành quân. Theo ý tôi thì việc đó chỉ làm cho tinh thần quốc gia suy xụp mà hiện nay ai cũng biết là xuống thấp quá rồi.”

Điều hắn nói thật khó chịu vì quá đúng sự thật. Tôi đã hiểu rõ tại sao hắn quyết định bầy tỏ ỷ kiến cá nhân chứ không phải ý kiến chính thức. Hắn đã phải dùng cái ngôn ngữ dè dặt trong nghề nhưng vẫn có thể nói trắng ra những điều gì hắn muốn.

“Tôi xin phép hỏi ông đã lấy ở đâu ra tin tức ấy, ông Manson?”

“Nền ngoại giao Hoa Kỳ rất là công khai, thưa ông Đại Sứ. Tôi e rằng nó quá công khai nên không làm cho ai dễ thở cả. Một phần tin tức của tôi do nguồn gốc Saigon, còn thì do Hoa-thịnh-đốn qua ngả Canberra. Người Úc chúng tôi ở vào một vị trí thật ly kỳ. Chúng tôi là một quốc gia nhỏ và kém phòng thủ. Tương lai chúng tôi bị ràng buộc chặt chẽ với các biến cố ở Đông-Nam-Á. Chúng tôi đã bị lừa khéo vào lập trường ủng hộ người

Anh ở Mã-lai-Á, mà theo ý kiến riêng của tôi, sẽ  hứng tỏ là một lỗi lầm lịch sử. Chúng tôi cũng bị ràng buộc với Hoa-kỳ bởi những nghĩa vụ của hiệp ước mà chúng tôi muốn làm trọn vẹn một cách công khai cũng như riêng đối với nhau. Do những nghĩa vụ đó, tôi bó buộc phải nói thẳng với ông và rất thiết tha yêu cầu ông duyệt lại tất cả vấn đề trừng phạt và liên hệ riêng của ông với Tổng Thống Cung.”

Từ một hội viên đàn em của Tổ chức Phòng thủ Đông-Nam-Á, những lời nói ấy thật quả là mãnh liệt và cũng có lý nữa. Nhưng hắn đã không cho tôi đủ thời giờ để tâm trí nghĩ ngơi nên tôi ẩn mình vào nghi thức.

“Ông Manson, xin cám ơn ông về những điều ông vừa cho tôi biết. Xin ông tin chắc rằng tôi sẽ cứu xẻt vấn đề một cách hết sức nghiêm chỉnh.”

“Thưa ông Đại-sứ, còn một điểm nữa trước khi từ giã ông”.

“Điểm gì nữa ông?”

“Nhà sư vừa đến ẩn trốn trong tòa Đại-sử Hoa Kỳ có thể gây nên chuyện khó xử cho cả ông lẫn các bạn hữu của ông. Chắc ông thừa, biết nhà sư ấy là người lãnh đạo của một tổ chức mới thành lập gọi là Ủy-ban Toàn-quốc Bảo-vệ Phật giáo. Có vài người cho tôi biết rằng chính ông là người đã khuyến dục những vụ tự thiêu. Trong thành phố có tin đồn rằng ông là người giữ trái tim của nhà sư tử đạo đã biến mất khỏi chùa Xá-lợi trong vụ cảnh sát tấn công. Điều đó có thể đúng, có thể sai; nhưng đối với kẻ không biết gì, điều đó có nghĩa là bảo vật đó đang được Hoa-kỳ bảo vệ …

Tôi nghĩ quan trọng hơn nữa là ai cũng biết nhà sư này có những mối liên hệ với các tổ chức Phật-giáo quá khích ở Miến-điện và Tích-lan, với một vài kẻ xách động vừa bị khai trừ khỏi Tăng giới và bị người Thái giam giữ ở Bangkok. Tôi đã viết thư cho tòa Đại Sứ Úc ở Thái lan để lấy thêm tin tức về điểm này. Khi được tin, tôi sẽ vui mừng đưa lại cho ông”.

“Tôi sẽ vui lòng được tin tức ấy. Cám ơn ông đã thành thật đối với tôi, ông Manson. Tôi hy vọng chúng ta có thể tìm được giải pháp cho các vấn đề của chúng ta”.

“Tôi tin chắc chúng ta sẽ tìm ra”. Với vẻ vui tinh như thường lệ, hắn đứng dậy và chìa tay ra.

“Cám ơn ông Đại-sứ đã dành thì giờ cho tôi và xin chúc ông may mắn!”

Thế là cuộc hội kiến của chúng tòi chấm dứt với những lời bất định ấy. Tôi có cái cảm giác khó chịu là người bạn đồng nghiệp trẻ tuổi của tôi đã xử sự khá hơn tòi nhiều, một người có gấp đôi kinh nghiệm và có gấp mười lần quyền hạn hơn hắn. Một định luật căn bản của ngành ngoại giao là phải gây dựng được những người cho tin thân thiện và chính xác. Thay vì làm vậy, tôi đã xử sự một cách thô bạo đáng ghê tởm đối với một người đã giúp tôi trong nghề nghiệp. Nếu tôi không thể tin cậy được vào sự tự chủ của mình trong cuộc thảo luận với một bạn đồng minh đầy thiện chi, làm sao tôi có thể dám chắc sẽ tự chủ được trong các cuộc thương lượng quan yếu sắp tới ?

Lại một lần nữa, giọng nói nghiêm nghị của Muso Soseki cảnh cáo tôi: “Tôi nghĩ rằng nhận một nhiệm sở như vậy vào tuổi ông bây giờ thật là một sự liều lĩnh nghiêm trọng!” Có điều lạ là tôi tự biết mình đang sống với hiểm họa. Tôi đang cô đơn và dò đó dễ bị lung lạc bởi những sự biểu lộ tình cảm thân thiện. Tôi đang ở vào một vị trí có quyền lực và bởi vậy tôi dễ nghi ngờ những kẻ thách đố ý kiến hay quyền hạn của tôi. Tôi được giao trách nhiệm làm một cuộc thay đổi, nhưng trong sự dòm ngó của dư luận quần chúng. có thể tôi sẽ thích hành động như một nhà ảo thuật lôi con thỏ ra ngoài cái mũ. Nhưng tuy vậy vẫn còn nhiều những vũng tối tăm hơn, những vết rạn nứt và kẻ hở trong cái gọi là linh hồn của Maxwell Grodon Amberley. Những cái đó, tôi vẫn còn chưa sẵn sàng để thăm dò, trừ phi nếu dưới cái vỏ áo giáp của ông quan đại-thần, tôi khám phá

thấy chỉ có một người trống rỗng cũng chẳng phải là ông đồng ông cốt nữa, mà là một cái bầu đầy sỏi kêu sủng sẻng. Vả lại trốn trách khỏi sự tự kiểm thảo thật là dễ dàng khi mỗi giây phút đều thách thức tôi dấn thân vào hành động và mỗi một hành động lại buộc tôi vào một chuỗi hậu quả mới.

Tôi đang mải miết làm việc với mớ công văn buổi sáng thì Mel Adams đến với những tin tức rắc rối. Tổng-thống Cung đã quyết định xuất diện ở Quốc hội buổi chiều hôm nay. Ông sẽ đọc một bài diễn văn công khai về tình hình chiến tranh và cuộc khủng hoảng Phật giáo. Phủ Tổng-thống đã cố công thông báo cho tất cả ngoại giao đoàn và báo chí quốc tế là một bản dịch Pháp-văn của bài diễn văn sẽ được phân phát ngay trước khi Tổng thống bắt đầu nói.

Ý nghĩa của nước cờ này thật là rõ rệt. Bị thách đố ở Liên-hiệp-quốc, đe dọa công khai bởi Hoa Kỳ, Cung đang cố gắng đem tiếng nói của mình ra trước một diễn đàn công cộng. Với tư cách Tổng thống một quốc gia có chủ quyền, điều đó chẳng gì khác hơn là quyền của ông ngỏ lời với các nhà làm luật của nước mình. Là nhà lãnh đạo một quốc gia đang có chiến tranh, đó chẳng qua cũng chỉ là bỏn phận của òng để công bố cho quốc dân biết lập trường của òng một cách rõ rệt. Bởi vì tôi là nhà ngoại giao của một nước thân hữu, tôi không có duyên cớ gì để phiền trách ông và  trong tư thế của một người bảo vệ những thủ tục dân chủ, tôi còn có bồn phận phải khen ngợi ông là đằng khác. Tuy nhiên, thật ra thì tôi đang dơ cao một lưỡi kiếm trên đầu ông và nếu ông nói một lời nào làm tôi bất bình tôi sẽ có thể dùng lưỡi kiếm đó để hạ thủ ông.

Mel Adams nhìn thấu qua tư tưởng của tôi và hắn hỏi tôi một cách tỉnh táo. “Thưa ông Đại-sứ,

ông có đến Quốc-hội không?”

“Tôi phải đến đó, anh Mel.”

“Có thể sẽ là một bài diễn văn nảy lửa.”

“Nếu vậy tôi sẽ bỏ ra về.”

“Thưa ông, với tất cả lòng kính trọng của tôi, tôi nghĩ rằng ông nên cho Tổng-thống Cung biết rõ về hiểm họa đó. Với tình thế hiện nay, cả hai người đang bị xô đầy đến một cuộc đụng độ trực tiếp. Tôi nghĩ rằng ông nên tránh điều đó bằng mọi cách.”

“Anh Mel, tôi sẽ cố gắng nói với ông.”

Quả thật là tôi đã cố gắng, có chứng cớ rõ ràng. Tôi gọi giây nói vào Dinh trong khi Mel Adams vẫn còn ở trong văn phòng tôi. Tôi yêu cầu được nói chuyện với Tổng-thống vì một chuyện vô cùng khẩn cấp. Với sự lễ độ thường xuyên của người Việt Nam, người ta cho tôi biết rằng Tổng-thống đang mắc họp và đã ra nghiêm

lệnh không cho ai được quấy rầy vì bất cứ lý do gì. Chắc chắn Tổng thống sẽ gọi lại cho tôi khi buổi họp chấm dứt. Tôi bèn kêu Anne Beldon vào và đọc một bức thư lời lẽ rõ ràng và thân mật. Một viên chức của tòa Đại-sứ đã đích thân mang bức thư đó vào trong Dinh và chữ ký nhận trong sổ đưa công văn có chỉ rõ giờ nhận là mười hai giờ trưa thiếu hai mươi phút. Mười hai giờ trưa, một giờ, rồi hai giờ và tôi vẫn chưa có tin tức gì của Dinh Tổng-thống. Vào lúc ba giờ tôi cùng Mel Adams ngồi vào dẫy ghế dành cho ngoại giao của Quốc-hội và chờ đợi bản điều trần của Tổng thống Phùng Văn Cung. Khi ông bước chân lên diễn đàn, trông ông thật nhỏ thó và vô nghĩa. Tràng pháo tay chào mừng ông nghe như bồn phận chứ không có chút gì ưu ái. Có một vài người chỉ cần xuất hiện thôi cũng đủ gây cho nên những cảm xúc sâu xa như thể họ là hiện thân của quyền thế. Đôi khi, dĩ nhiên họ chỉ là những người bán thuốc rao, những kịch sĩ bẩm sinh mà trời đã phú cho họ một mánh lới lộ diện hay nam tính thừa thãi tạo nên được một ảo giác về sức mạnh tinh thần. Phùng

Văn Cung không thuộc về loại đó. Cử chỉ của ông xa vời và khuồn mẫu. Ông đọc diễn văn một cách không có gì say mê cả, lại còn đôi chút khinh khi là đàng khác, như thể òng đã nói. “Tao biết chúng bay quá mà, chẳng có mấy thẳng làm tao kính trọng cả. Vài thằng trong bọn chúng bay tao đã mua đứt, vài thằng chính do tao tạo nên và chưa chi vài kẻ trong bọn chúng bay đã toa rập với nhau để phản lại tao. Tao sẽ không sợ hãi chúng bay, hay diễn một vở kịch mua vui cho chúng bay đâu. Đây là những điều mà tao phải nói ra. Nghe thì

nghe, chẳng nghe thì thôi … “.

Bài diễn văn của ông được đọc bằng tiếng Việt. Những thanh sắc cao của ngôn ngữ Việt làm cho bài diễn văn cứng cỏi và buồn nản. Nhưng khi theo rõi bản dịch tiếng Pháp từ trang nọ qua trang kia, tôi phải công nhận rằng đó là một bài biện chứng chính trị thiệt hay. Ông mở đầu với một nhận định mau lẹ nhưng chính xác về tình hình quân sự:

« … Chúng ta là một quốc gia đang bị vây hãm. Phía Bắc là Trung-cộng và những đạo quân của Hồ-chí-Minh, người đã biến đồng bào ta thành nô lệ. Phía Tây là Cambốt và Lào đã dùng cái vỏ trung lập giả tạo để giúp đỡ và che chở cho kẻ thù của chúng ta. Phía Đông và Nam là biển cả, là nơi mà những thuyền và tầu đánh cá lần lút trong bóng tối đem vũ khí cho những kẻ phản bội trong hàng ngũ chúng ta …

“Ngay trong lúc tôi đang nói với quý vị đây, một trận chiến qui mô đang diễn ra ở Tân An, cách nơi đây ba chục cây số. Tại Bến Tre trong vùng châu thổ và Đà Nẳng, gần biên giới Lào cũng đang đánh nhau dữ dội. Quân thù của chúng ta tàn nhẫn và ác ôn đang hoạt động từng tiểu đoàn trong phạm vi biên giới của chúng ta, cách thủ đô có nửa giờ xe chạy. Chúng ta đang chiến đấu chống lại bọn chúng, vâng! Nhưng không phải là tất cả chúng ta đều đang chiến đấu. Có những người đị kết bè phái và làm nghi kế, gây rổi loạn trong dân chúng. Điều đó làm lợi cho kẻ thù.

“… Chúng ta không thể dung thứ được những việc ấy! Đứng trước một kẻ thù tàn bạo, bất cứ hành động chia rẽ nào làm hại đến sự đoàn kết quốc gia đều là một hành vi phản quốc!

“Vâng, chúng ta đang chiến đấu cho tự do, , tự do tín ngưỡng, chính trị và kinh tế! Những tự do ấy được bảo đảm bởi Hiến pháp Cộng Hòa mà tôi là người bảo vệ. Nhưng tự do không phải là một trạng thái vô giới hạn. Tự do không phải là có quyền gian dối phản bội và bạo động ngay trong những tỉnh thành của chúng ta. Chúng ta đã xày dựng được tám ngàn sáu trăm ấp chiến lược và quy tụ được ở những nơi đó gần mười triệu người để bảo vệ họ chống lại bọn Việt-cộng.

Liệu chúng ta có dám để cho mười triệu người ấy lại rơi vào cảnh hiểm nguy chỉ vì một nhóm người cuồng tín ngỗ ngược những người không cầm súng yêu sách một thứ tự do để xách động những người tốt và ngoan đạo làm loạn … ?”

Cho đến điểm này tòi không có điều chi phải cãi lại ông. Tôi thiếu tự tin nơi tôi đến nỗi tôi nhận thức được những hiểm họa của sự xử dụng tự do sai lầm và sự cần thiết phải hạn chế tự do cả nhân trong những thời ký khủng hoảng xã-hội. Tôi cũng hoài nghì đến độ cho rằng cả những người Phật tử làm chinh trị lần những người Ki-tô giáo làm chính trị và những kẻ hoạt đầu chính trị lấy rối loạn làm lợi cho họ đều có lỗi ngang nhau. Rồi  giọng đọc cứng cỏi buồn thảm của ông thay đổivà tôi nghe thấy một luận điệu trêu ngươi cay đắng.

“ … Tại đây, trên mảnh đất của chúng ta, máu đã đỗ mỗi ngày để ngăn chặn những mưu toan xâm lược bành trướng đất đai của Trung-cộng. Vậy mà tại Nữu Ước, một đô thị sống trong hòa bình, trong Đại Hội-đồng Liên-hiệp-quốc, các bạn hữu của chúng ta hay những kẻ tự nhận là bạn hữu chúng ta! – đang phạm vào một thứ gian dối khác chống lại chúng ta. Họ đã sẵn sàng bỏ phiếu thuận cho một sự vi phạm các quyền quốc gia của chúng ta và Hiến-chương Liên-hiệp-quốc bẳng sự chỉ định một Ủy ban Điều tra về vấn đề Nhân quyền. Chúng ta không sợ hãi Ủy ban này nhưng đau đớn thay, chúng ta buộc lòng phải sợ hãi các bạn hữu chúng ta. Vì vậy quan sát viên của chúng ta ở Liên-hiệp-quốc đã được chỉ thị đạt lên Đại Hội-đồng một lời mời công khai xin chỉ định một toán quan-sát-viên đến nghiên cứu và phúc trình về vấn Phật-giáo ở miền Nam Việt-Nam. Quý vị hãy nhớ rằng chúng ta đã mời họ, chúng ta không sợ điều tra tự do, chúng ta không có điều gì phải che dấu cả. Nhưng dường như các bạn hữu của chúng ta có nhiều điều phải dấu diếm bởi vì họ làm việc trong vòng bí mặt chứ không phải trong sự lương thiện của thảo luận công khai ….”

Đó là những lời lẽ thô bạo và nhìn qua những trang kế tiếp của bản văn, đủ chứng tỏ lời lễ còn thô bạo hơn thế nữa. Các nhà ngoại giao khác đang quan sát tôi chứ không phải người đang nói. Mel Adams viết vội vào mảnh giấy: “Ông đã muốn ra về chưa?” Tội nguệch ngoạc viết trả lời: “Không. cứ ngồi nghe cho xong!” Phùng văn Cung vẫn tiếp tục nói với luận điệu trêu ngươi như cũ. “… Điều lạ lùng và buồn đối với tôi là những gì mà kẻ thù của chúng ta thất bại không làm được lại đang được các bạn chúng ta làm hộ chúng.

Chúng ta, thành trì cuối cùng chống lại sự bành trướng của Cộng-sản ở Đõng-Nam-Á, đang bị đe dọa với sự rút lui viện trợ quân sự và kinh tế … Không biết họ chơi cái kiểu điên khùng gì đây? Không biết những người Mỹ chính họ nghĩ thế nào về việc này-những người đang chiến đấu cạnh quân đội chúng ta trong vùng châu thổ; những người làm việc với dân chúng trong thôn ấp để dậy cho họ cách làm ruộng tốt hơn và cách diệt trừ các tật bệnh đã làm chúng ta khốn khổ trong bao thế kỷ? Những người đó chúng ta không oán trách họ là những người bạn đích thực. Nhưng còn những kẻ khác, những kẻ nói với hai giọng lưỡi, những kẻ tuy rằng công bố một tình hữu nghị công khai nhưng lại chính họ dây phần vào những âm mưu bí mật chống lại một chính phủ hợp pháp …? Nếu họ chán ghét chiến cuộc, họ cứ việc ra đi! Họ cứ việc để lại cho chúng ta tiền bạc, vũ khí và chúng ta sẽ chiến đấu một mình! Chúng ta đã khởi đầu cuộc cách mạng của chúng ta không cần đến họ và chúng ta sẵn sàng để hoàn tất cuộc cách mạng ấy không cần đến họ, vì chúng ta yên trí các mục

tiêu của chúng ta là đúng và hy vọng vào cuộc chiến thắng sau cùng!”

Khi ông từ diễn đàn bước xuống, vỗ tay nổ lên như sấm; nhưng không biết đó là các bạn của ông đang ca ngợi ông đã dám làm hay đó là kẻ thù của ông đang hoan hô sự điên rồ của ông. Mel Adams nói một cách không vui vẻ:

“Trời đất ơi, thật là Cung đã đi đổ dầu vào lửa. Thôi ông Đại-sứ, chúng mình đi.”

Chúng tôi ra về. không khí bên ngoài nóng bức và nặng nề. Mây đen chĩu đầy sấm sét đang ùn ùn kéo đến trên cái thành phố khó thở này.

Tôi là vô sản

Lâm Chương

Post by Sơn râu 10 dec 2025

Khi về đây, tôi dự định sẽ tìm một việc gì kiếm sống qua ngày. Nhưng mọi chuyện không dễ. Cái xã nghèo đến thê lương, thế mà lại mang tên Phú Thạnh. Nghèo đến mức con chó đói nằm dài mõm ngoài hiên cũng biếng sủa khi có người đi quạ Đàn ông trai tráng không có việc, lêu bêu đầu thôn cuối xóm. Thì giờ thừa mứa, tụ năm tụ ba tán gẫu. Cuối cùng vét túi chung tiền mua vài xị rượu, nhâm nhi cho quên đời là bể khổ. 
Tôi lận lưng một số tiền nhỏ làm kế sinh nhai. Số tiền sứt mẻ dần qua những cuộc rượu, mà việc làm chẳng thấy đâu. Bù lại, tôi có thêm nhiều người bạn mới. 
Nhà Tám Nưa có giỗ. Trước mấy ngày, ông đã mời những người có mặt trên chiếu rượu. Tôi cũng được mời. Anh em bảo, Tám Nưa khỏi lo phần rượu. Mọi người sẽ đóng góp, bảo đảm uống mệt nghỉ. Về phần thức ăn, Tám Nưa cho vật con heo còi làm thịt, cắt cổ thêm vài con vịt đẹt. Xã nghèo, có người

dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo vẹ Tôi là một trong những con ruồi bay lượn trên những dĩa thức ăn. 
Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà. Cánh đàn ông ngồi ngoài sân. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an, và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Quy tụ đông người, phải có thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ, thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không bằng lòng. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá. Con người sống với nhau mà như chơi trò cút bắt. Ở đâu cũng có tiếng reo hò mừng rỡ, lẫn tiếng kêu la thảng thốt. Xã hội vừa là phường tuồng, vừa là địa ngục. 
Đang ăn, bí thư xã nói: “Nghe báo cáo có người lạ mới vào xã ta, tôi chưa biết mặt.” 
Mọi người ngó vào tôi. 
Tám Nưa kéo tôi qua bàn bí thư, giới thiệu: “Chú em đây tên là Lâm, đã trình diện bên phòng công an khi mới về xã.” 
Bí thư nói: “Mời ngồi.” 
Tôi nói: “Tôi đang ngồi bàn bên kiạ” 
“Thì ngồi xuống đây nói chuyện đã. Anh vẫn khỏe chứ?” 
“Vâng, tôi vẫn khỏe.” 
“Nhiều người cải tạo về gầy rộc đi. Anh thế là còn khá.” 
“Vâng, tôi còn khá.” 
“Anh đang làm gì?” 
“Tôi chưa kiếm được việc.” 
“Nghề nghiệp chuyên môn là gì?” 
“Thợ đụng.” 
“Thợ đụng là thợ gì?” 
“Đụng đâu làm đó. Việc gì cũng làm được.” 
“Tốt!” Bí thư bưng cốc rượu cười khà khà dễ dãi. 
Công an bàn kế bên, nói vói qua: “Ngụy các ông nhiều ma mãnh. Gớm bỏ mẹ. Sang không ra sang, hèn không ra hèn.” 
Tôi nói: “Vô sản dứt khoát là hèn.” 
“Anh nói gì thế?” 
“Tôi nói tôi hèn.” 
“Vô sản ám chỉ vào ai?” 
“Vào tôi. Tôi trắng taỵ Tôi là vô sản.” 
“Lý luận quàng xiên hay nhỉ? Khi có đủ vây cánh thì làm con ngáo ộp. Bị chặt hết tay chân thì biến thành con lươn.” 
Lời công an như một dằn mặt cảnh cáo. Tôi ngồi im. 
Tám Nưa cứu nguy: “Thôi, chào hỏi thế đủ rồi. Vị trí của chú ở đâu thì về đó.” 

TƯ BẢN BÓC LỘT 
Bữa giỗ nhà Tám Nưa cũng có cái hay cho tôi. Có người lầm tưởng tôi là kẻ sĩ. Mới đầu, người ấy nói kẻ sĩ thời nay lắm nhục nhằn hơn người xưa. Tôi quay nhìn người vừa nói câu đó, và uống cốc rượu làm quen. Người ấy nói tiếp, lấy cái thước vô hình mà đo cái nhẫn. Nhẫn càng giỏi, giá trị càng cao. Một người nhừa nhựa hơi men, hỏi sao thế? Người ấy nói, gặp sài lang hổ báo, chạy là thượng sách. Đem cái lý của con người mà tranh biện với thú dữ là rước họa vào thân. Thực khách ồn ào như giữa chợ. Những người ngồi nơi hai cái bàn ngoài cùng, không nghe những gì người ấy nói. Thế là trước khi ra về, tôi quen với người ấy. 
Người ấy tên Trần Xuân Hạnh. Trước kia, ông làm thầy giáo. Sau cuộc đổi đời, ông xoay qua nghề đào giếng. Những đứa học trò dốt nát của ông thời cũ, nhiều thằng bỏ học vô bưng làm cách mạng. Bây giờ, chúng trở về, ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Cũng may, chúng còn nhớ bài đức dục mà ông đă dạy, nên đối với ông, chúng còn chút e dè lễ độ. Chúng cho ông làm công tác dạy văn hóa bổ túc cho cán bộ, để có tiêu chuẩn gạo. Đời sống ông, vì thế, cũng dễ thở hơn nhiều người khác. 
Tôi phụ việc với ông Hạnh, năm ngày thì thạo việc. Qúa nửa trưa, ông Hạnh bảo tôi xuống giếng thay ông. Đáy giếng sâu tối u ụ Tôi nghe tiếng rền trong lòng đất như tiếng gầm núi lửa. Ngó lên thấy một khoảng trời tròn lồng khuôn mặt ông Hạnh ngó xuống. 
Tôi sợ hãi: “Cho tôi lên.” 
“Chưa làm được gì, sao đi lên?” Tiếng ông Hạnh như từ trời cao vọng xuống hang sâu. 
“Tôi ngộp thở.” 
Ông Hạnh nhằn: “Thế mà bảo việc gì cũng làm được.” 
Tôi choàng dây buộc ngang nách, hai chân chỏi vào thành giếng theo thế bích hổ du tường. Ông Hạnh nắm đầu dây kéo lên. Khi lên mặt đất, mới biết trời vần vũ chuyển mưa, rền vang sấm sét. 
Tôi nói: “Tim tôi yếu. Xuống sâu sợ gần địa ngục. Lên cao sợ đụng trời.” 
Ông Hạnh hỏi: “Chỗ nào thích hợp với mày?” 
“Lưng chừng ở cõi người.” 
“Cõi người là địa ngục trần gian đấy.” 
Nói xong, ông Hạnh chuẩn bị xuống giếng. 
Tôi nói: “Thôi đi ông ơi, trời sắp mưa. Về nghỉ.” 
Ông Hạnh nói: “Làm như mày, cám heo cũng không có mà ăn.” 
Nói thế, nhưng ông Hạnh cũng thu dọn đồ nghề. 
Trên đường về ngang qua những rẫy mía. Mía mới đặt hom, chưa kịp lên mầm. Đất cày chưa ải mặt, cỏ đă lún phún ngoi lên. Ông Hạnh chỉ những cái giếng ông đă đào lúc trước. 
Ông nói: “Vùng đất thấp, đào năm bảy thước là có nước. Vùng cao, phải đào đến mươi thước. Giếng sâu hun hút thấy mà ghệ Người chết dưới giếng, linh hồn không thoát lên được.” 
Tôi nói: “Tôi nhạy cảm lắm. Xuống giếng cứ rờn rợn sợ mình bị chết luôn ở dưới.” 
“Nếu chết, tao mời thầy pháp trục vớt linh hồn mày lên.” 
“Ông tin thế à?” 
“Tao không tin, nhưng nhiều người tin. Cũng như người ta tin rằng kẻ chết trong tù, linh hồn không ra khỏi cổng. Vì thế phải làm giấy phóng thích để giải thoát linh hồn. Tao còn nghe một chuyện động trời. Có người đi tham quan nước ngoài về kể, tư bản nó bóc lột đến cả người đă chết.” 
“Chết rồi, còn bị bóc lột gì nữa?” 
“Ấy vậy mà vẫn nói được. Người ấy bảo, tư bản Mỹ bóc lột khiếp hơn hết. Nó bắt linh hồn người chết đứng giữ cửa. Linh hồn thì vô hình nên không ai nhìn thấy, cứ thấy cánh cửa tự động mở khép khi có người ra vô” 
“Chuyện khôi hài. Ai ngu muội gì mà tin là chuyện thật.” 
“Nói mãi, cũng có người tin. Như chuyện Tăng Sâm đời xưa ở bên Tàu đấy. Lần đầu có người đến nói với mẹ Tăng Sâm rằng, Tăng Sâm giết người. Bà không tin. Lần thứ hai, cũng có người nói Tăng Sâm giết người. Bà hồ nghị Lần thứ ba, lại cũng có người nói, Tăng Sâm giết người. Bà sợ hãi, và bỏ chạy.” 
Tôi chép miệng: “Khổ thật! không biết bao giờ mới thoát được cái họa tuyên truyền ngu dân.” 
Ông Hạnh hỏi: “Mày nói cái gì?” 
Tôi lắc đầu: “Không. Chẳng nói gì.” 
Ông Hạnh nói: “Từ này về sau, mày ở trên kéo đất. Tao xuống giếng. Hồi mới gặp mày, tao tưởng mày là kẻ sĩ. Gần gũi nhau, thấy mày là thằng lừng khừng.” 

CẢI TẠO XONG RỒI 
Ngày nào cũng phải ăn, nhưng đào giếng không phải lúc nào cũng có việc. Đời sống đi dần vào thế bí. 
Ông Hạnh dẫn tôi đến ban giám hiệu phụ trách chương trình lớp đêm, nơi ông dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ. Ông giới thiệu tôi là thi sĩ, và xin dạy học để có tiêu chuẩn gạo. 
Những khi rỗi việc, tôi hay nói chuyện thơ văn với ông Hạnh. Ông cho tôi là người có kiến thức văn chương. Nhưng, thật bất ngờ khi tôi được giới thiệu là thi sĩ. Tâng bốc lắm, chỉ tổ làm hư việc. 
Người đàn ông ngồi sau chiếc bàn, môi thâm, mặt sắt, tóc hớt cua, trông không có vẻ ggì là mô phạm. Ông Hạnh cho biết trước, đây là cán bộ chỉ đạo. Ông ta kéo trễ gọng kính, giương mắt nhìn tôi như quan sát một hiện tượng lạ. 
“Thi sĩ à?” 
Tôi nói: “Ông Hạnh nói quá lời. Tôi chỉ có chút chữ nghĩa đọc sách thánh hiền.” 
Ông Hạnh nói: “Không nên khiêm tốn quá. Thành thật với nhau là hơn.” 
Cán bộ nói chậm rãi rõ ràng, nhấn mạnh từng tiếng: “Cán bộ học bổ túc văn hóa, không cần học làm thợ Chỉ cần biết bốn phép tính cộng trừ nhân chia, đọc thông công văn chỉ thị, và biết ký tên là đủ làm việc. Trong quá trình làm việc sẽ bật ra thợ Anh đồng ý không nào?” 
“Vâng, tôi đồng ý. Nhưng tôi không xin dạy làm thợ” 
“Chứ dạy về gì?” 
“Về gì cũng được, ngoài chuyện dạy làm thợ” 
Cán bộ chìa bao thuốc mời ông Hạnh và tôi. 
Trầm ngâm một lúc, ông nói: “Chúng tôi đang cần giáo viên, nhưng muốn nhận anh vào phải xét qua lý lịch. Anh về làm bản tự khai kèm theo hai người chứng, rồi mang tới đây. Chúng tôi sẽ họp ủy ban cứu xét. Một mình tôi không quyết định được.” 
“Vâng, tôi sẽ viết bản tự khai.” 
Tiêu chuẩn mười ba ký gạo hàng tháng, lấp ló ở một tương lai gần. Tình hình có vẻ lạc quan. Tôi mỉm cười ngó ông Hạnh, lòng đầy phấn khởi. 
Cán bộ hỏi, sau khi phà một hơi thuốc: “Trước kia, anh làm gì nhỉ?” 
Tôi nói: “Làm lính.” 
“Bộ đội hả? Đơn vị nào? Tôi cũng là bộ đội phục viên đây.” 
“Tôi lính Việt Nam Cộng Hòa.” 
Cán bộ chồm tới, sửng sốt: “Thế à? Sao không đi cải tạo?”
“Tôi cải tạo xong rồi.” 
Cán bộ thật vọng ngửa người ra lưng ghế: “Anh khỏi cần đến đây nạp bản tự khai. Chúng tôi không nhận đâu.” 
Tôi cố vớt vát: “Tôi nghĩ cải tạo xong là tẩy não xong, có thể góp phần xây dựng xã hội mới.” 
Cán bộ lắc đầu: “Cải tạo là hình thức trừng phạt thôi. Đầu các anh đóng băng, tẩy não thế nào được!” 

QUỐC TẶC 
Thấy tôi cũng là thằng ăn tục nói phét, ông Hạnh không còn cho tôi là kẻ sĩ nữa. Ông nói tôi là người có tài, nhưng tài năng lớn quá, không có chỗ dùng. Ông nói với mọi người như thế. Nói tới nói lui măi, tôi cũng tin mình có tài thật, dù lúc nhỏ thầy giáo xếp tôi vào loại học trò đần. 
Một lần trên chiếu rượu, ông Hạnh thắc mắc: “Chưa bao giờ xã hội ta có nhiều người uống rượu như bây giờ. Không biết tại sao?” 
Anh em ngó vào người có tài năng lớn không có chỗ dùng. 
Tôi lên gân giải thích: “Xã hội rối rắm lung tung xèng. Tương lai mờ mịt. Con người hoang mang mất hướng đi tới, nên lấy rượu trấn an tinh thần. Các ông ngày ngày cuốc đất, ngó tới ngó lui cũng không ra khỏi mấy cái bờ ruộng. Đời như thế thì bao giờ ngóc đầu lên được? Đó là nói người có ruộng. Người không ruộng, đất đâu mà cuốc? Như ông Hạnh với tôi chuyên nghề đào giếng, năm thì mười họa mới có việc. Xuống đáy giếng mà tìm tương lai, có ngày cũng gặp Hà Bá. Mặt đất đã đầy những giếng sâu hố thẳm, đi loạng quạng dễ bị sa chân xuống âm phủ. Chi bằng cứ ẩn nhẫn chờ thời. Thời cơ chưa tới, lấy rượu giải khuây.” 
Một người nói: “Tôi chịu lối giải thích này. Nhưng, bao giờ thời cơ tới??” 
Tôi lại lên gân: “Khương Thượng ngồi câu sông Vị, là chờ thời. Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, cũng là chờ thời. Còn chúng ta ư? Có khi phải chờ hết đời. Con cháu lại tiếp tục chờ nữa. Lịch sử biến thiên lúc nhanh lúc chậm. Nhanh thì năm trước năm sau đã thấy khác. Chậm thì đời này qua đời kia vẫn còn khốn khổ.” 
“Thời này cũng có nhiều người phất cờ giàu to đấy chứ?” 
“Vâng. Phất cờ giàu to thời này là tư bản đỏ. Nhưng cách dùng từ sai. Tư bản là bỏ vốn kinh doanh, để từ đó sinh ra lợi nhuận. Mấy ông kẹ nhà mình có kinh doanh gì đâu? Họ ăn tiền đút lót hối lộ, và dùng quyền lực chiếm đoạt tài sản thiên hạ thì không thể gọi là tư bản, dù xanh hay đỏ.” 
“Như thế phải gọi là gì cho đúng nghĩa?” 
“Gọi nôm na là ăn cướp. Cướp giựt lẻ tẻ đầu đường xó chợ, là cướp vặt. Cướp có hệ thống đường lối chính sách, là quốc tặc. Người dân biết mình bị cướp, mà không cưỡng vào đâu được. Thế mới kinh!” 
Cuộc rượu đêm đó, xoay quanh đề tài quốc tặc. Tôi hừng chí nói năng tự do, mất sự đề cao cảnh giác. Tàn cuộc, tôi say bí tỉ. 

ĐÈN NHÀ AI NẤY RẠNG 
Cưới vợ ba năm. Vợ chồng không rõ lòng nhau. Tôi đến tuổi cần có vợ, vợ cũng đến tuổi cần có chồng. Thế là lấy nhau. Chẳng tình yêu quái gì. 
Tôi là lính hành quân. Ba năm, những lần về phép đếm trên đầu ngón taỵ Gặp nhau là quấn lấy nhau. Vội vã vài ngày, để rồi còn chia taỵ Thì giờ đâu mà để ý những điều vớ vẩn? 
Năm đầu, vợ gọi tôi bằng anh, xưng em. Tôi gọi vợ bằng em, xưng anh. Qua năm sau, vợ gọi tôi bằng anh, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng em, xưng tôi. Năm sau nữa, vợ gọi tôi bằng ông, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng bà, xưng tôi. Theo thời gian, cách gọi vợ chồng cứ thay đổi dần như thế. Và giữ nguyên hai tiếng xưng hô “ông bà” cho đến bây giờ. Ba năm. 
Một hôm, tình cờ vợ khám phá ra tôi làm thơ. 
Vợ nói: “Có tờ báo đăng bài thơ của thằng cha nào trùng tên với ông.” 
Vợ mở trang báo, chỉ vào bài Tình Cho Em. Lời thơ sướt mướt nhớ thương. Đó là bài thơ tôi làm cho một con nhỏ người yêu, nhưng không chịu lấy tôi làm chồng. 
Tôi nói: “Bài thơ này của tôi làm cho bà, nói lên nỗi nhớ thương trong những ngày đi xa” 
Mới đầu, vợ sung sướng ra mặt. Nhưng sau đó, vợ phá ra cười. 
“Mạo nhận. Tôi không tin!” 
“Không tin hả?” Tôi không nhìn trang báo, đọc thuộc lòng vanh vách bài thơ, “Bà tin tôi là tác giả chưa?” 
Vợ ngẩn ra một lúc: “Người lỗ mãng như ông cũng làm được thơ Lạ thật!” 
“Có gì lạ đâu. Tài làm thơ của tôi giống như chiếc mũi nhọn giấu trong túi áo. Lâu ngày, nó ló ra cho bà thấy.” 
“Chẳng bao giờ nghe ông nói tiếng yêu tôi. Vậy mà làm thơ thì nước mắt chứa chan tình cảm. Thơ là giả dối!” 
Vợ không hãnh diện về người chồng biết làm thơ, dù đã có lúc gần đạt được danh hiệu thi sĩ. 
Cuộc thế bể dâu. Đời tôi cũng bầm giập đau thương khốn nạn. Mũi nhọn thụt vào trong túi áo. Thơ tịt ngòi. 
Ra hải ngoại, muốn học hành cho đỡ nhọc tấm thân, nhưng cái đầu không chịu. Nhồi nhét thứ gì vô, vài ngày sau nó đẩy ra khỏi trí nhớ. Thế là đi làm cu li. Cực tay chân, khỏe đầu óc. 
Việc làm bấp bênh. Nay có, mai không. Thất nghiệp ở nhà. Còng lưng viết chuyện cà kê dê ngỗng, viết chuyện đời mình. 
Vợ đi chợ, đem về tờ báo quảng cáo địa phương, có đăng bài văn của tôi. 
Vợ nói: “Ông bỏ làm thơ, tôi đă mừng. Bây giờ, lại thấy hí hoáy cả ngày. Không ngờ ông viết văn. Làm thơ, chắp tay sau đít, đi qua đi lại. Còn đỡ. Viết văn, bò càng ra mà viết. Khổ ôi là khổ.” 
Tôi nói: “Trong cái khổ, có cái sướng.” 
“Thất nghiệp. Đói tới nơi, không biết lọ Ở đó mà viết chuyện bá láp. Kiếp nào mới được thành danh?” 
“Từ từ, sẽ có tiếng vang.” 
“Người ta viết chuyện ma quỷ. Rùng rợn, hấp dẫn. Viết về hoàn cảnh xă hội gay cấn, tâm lý tình cảm éo lẹ Đọc mê luôn. Sách in ra, bán chạy ào ào. Lại còn thu băng đọc truyện, tiền vô như nước. Truyện của ông, tôi vừa đọc vừa ngáp. Cố gắng lắm, cũng chỉ theo dõi được vài trang thì ngủ. Bữa trước, nghe ông nói điện thoại với người bạn nào đó, rằng ông đang gom tiền in sách. Đừng làm chuyện phá sản nghen. Sách ông bán cho ma!” 
Tôi rên: “Bà ơi, tôi bất hạnh đớn đau nhiều rồi. Hãy để tôi làm theo ý thích.” 
Vợ nói: “Ý thích trong trách nhiệm gia đình. Tự do trong khuôn khổ luật pháp.” 
Tôi giơ hai tay lên trời: “Than ôi! Trên mặt đất, ai người tri kỷ?” 
Đoản văn này, dành trả lời câu hỏi của một bạn đọc: “Theo kinh nghiệm bản thân anh, đời có tí văn nghệ văn gừng làm cho gia đình dễ lục đục, hay hưng phấn hơn?” 

Tháng tư nhớ… tháng tư

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 10 Dec 2025

“Ầm… Ầm.” 
Tiếng nổ của hai trái hỏa tiễn làm vang rền bầu trời cư xá Ngân Hàng. Khói lửa bay ngút trời. Tiếng động cơ trực thăng, tiếng súng và tiếng kêu khóc của con người nhào trộn thành một thứ âm thanh khủng khiếp. Trên kênh Tẻ không còn đến một chiếc xuồng con lảng vảng, không phải vì thế mà dòng sông êm đềm trôi. 
Hôm đó là ngày 26 tháng 4 năm 1975! 
Sài Gòn chưa mất nhưng Sài Gòn đang thoi thóp, Sài Gòn đang nghẹt thở yếu dần, Sài Gòn đang bấn loạn với hàng trăm người hàng ngàn người cùng xe cộ, và những bước chân vội vàng rời bỏ Sài Gòn. 
Mọi người tìm đường chạy ra khỏi thành phố và trên cầu Tân Thuận, hướng về Nhà Bè kẹt cứng. Tôi ngược dòng người khi đến giữa cầu thì tiếng máy cạch cạch của hai con “óc nóc” đang ngự trị và làm chủ bầu trời với những âm thanh muốn làm vỡ toang màng nhĩ. Tôi đứng trên chỗ cao nhất của cầu Tân Thuận giương mắt nhìn hai con “quạ sắt” đang hoành hành bầu trời cư xá Ngân Hàng. Tiếng máy ầm ầm từ hai chiếc trực thăng lấn át và nhận chìm những tiếng động cơ xe hơi uể ỏa nằm tê liệt trên cầu. 
Hai con “quạ sắt” rà trên khu dừa nước như hai con chim bói cá đang găm mắt rình mồi. Những cánh chong chóng quay tít tạo thành một vòng tròn mờ ảo trên đầu. Rặc một tiếng, đuôi trực thăng đổi chiều đẩy khối sắt nhào về hướng phát ra mảnh khói xanh, và, xẹt xẹt hai quả rocket từ dưới bụng con “chim sắt” phóng ra nhắm vào hàng dừa nước trước mặt. Hai vệt khói trắng chưa kịp tan biến trên nền trời thì những thân cây dừa nước bắn tung lên khỏi mặt đất và hai tiếng nổ ầm ầm long trời lở đất. Hai chiếc trực thăng quay đầu trở lại quần thảo trên bầu trời, tiếng đại liên cạch cạch cạch nhả ra từ hai con “chim sắt” cày nát khu dừa nước và những cây bình bát. Tiếng súng vừa dứt thì xẹt xẹt những quả rocket còn lại dưới bụng tiếp tục phóng đi, những đường khói trắng được kẻ chi chít lên nền trời, và liên tục những tiếng nổ chát tai, để lại những cột khói, lửa. Và mặt nước trên con rạch Dừa sóng dậy cuồn cuộn. Nhả hết “bầu tâm sự”, hai con “chim sắt” quay đầu bay về hướng cầu chữ Y. Để lại những ngọn dừa nước, những cây bình bát bên cạnh cư xá Ngân Hàng bốc cháy. 
Bóng người và tiếng súng cũng im đi. Bên tai tôi chỉ còn nghe tiếng máy ầm ì của đoàn xe nhúc nhích từng ly bò qua cầu Tân Thuận. 
Ngày 26 tháng 4, dưới chân cầu Tân Thuận phía bên kho 11, Khánh Hội, con đường bị chận lại không cho người vào thành phố. Tôi mò lên cảng Kho 5 và bến Bạch Đằng nơi có nhiều tàu bè để tìm đường đi. Nhưng không qua được, tôi quay đầu trở lại. 
Nhà tôi nằm trên Tỉnh Lộ 15. Con đường Tỉnh Lộ 15 từ Sài Gòn về Nhà Bè bắt đầu từ ngày 24 tháng 4 người và xe cộ chạy tấp nập. Những chiếc xe Peugeot 203 màu đen bóng chở những gương mặt xa lạ, lớn bé già cả trai gái với những vali ngỗn ngang đua nhau về Nhà Bè. 
Những ngày dầu sôi lửa bỏng ở Sài Gòn các trường đại học đóng cửa, tôi thường ghé thăm Lim và nói chuyện ra đi. Tôi chơi thân với Lim và Lim là em trai của Phương. Nhà Phương cách nhà tôi hai cái vườn và năm đó Phương học ở đại học Văn Khoa. Phương và Lim còn có người chị tên Na, chị Na đang theo học Sinh Lý Sinh Hóa ngoài Thủ Đức, mộng vào trường Y khoa Sài Gòn. Bình nhật tôi thường qua chơi với Lim. Mỗi lần qua chơi Phương hay bẻn lẻn lúc gặp mặt tôi. Phương có cái bớp trên má, mà mỗi lần ra nắng cái bớp xanh lại hiện lên rõ hơn, hay có lẽ cái nắng làm cho da mặt Phương hồng thêm, cho nên cái bớp xanh nổi bật ra. Đôi mắt Phương đen long lanh, và nụ cười của Phương càng làm tăng thêm vẽ đẹp đôi mắt, mỗi lần Phương cười nhìn tôi. Nhưng tâm hồn Phương rất hồn nhiên, những lần gặp mặt đột ngột Phương chỉ “chào anh” thật nhỏ rồi cuối mặt, chân đá những hạt bụi bên đường bước đi thật lẹ. 
Hôm nay tôi đến tìm Lim. Ông Tri Phương, ba của Lim nói: 
– “Cho bác gởi con Phương và Lim cho cháu.” 
Tôi mở miệng nói “dạ” như cái máy! 
Làm như tôi đã rành đường đi nước bước lắm! Nhưng chỉ trong một thoáng, tôi nhìn Phương và trong đôi mắt hoài nghi của Phương hình như nàng đang nói: “Anh có biết đường không mà làm tài lanh đó!” 
Hôm đó tôi rất mạnh dạng. Tôi đến nắm tay Phương và nói: 
– “Sửa soạn đồ đi, mình xuống Nhà Bè ngay bây giờ.” 
Nói xong tôi liền rời nhà Phương chạy về lấy túi hành trang đã có sẳn. 
Trên đường về nhà tôi thầm nói: “Ít ra ông Tri Phương còn có chút mạo hiểm. Chứ có đâu như Mẹ và người anh cả tôi, lúc nào cũng nói: Mầy chỉ là thằng sinh viên, làm gì mà sợ, đi cho chết sao.” 
Tôi vẫn biết mình chỉ là một tên sinh viên cột gà chưa chặt, nhưng sao tôi vẫn muốn đi. Câu nói: “Các con làm gì thì làm nhưng đừng bao giờ làm cộng sản” của Cha tôi hồi còn sinh thời, lúc này thường quanh quẩn trong đầu tôi. Chắc chắn trong câu nói của Cha tôi có điều gì to lớn lắm nên đã hằn sâu trong tâm khảm của ông. Nhiều ngày nay tôi năng nỉ Mẹ và các anh cho tôi đi. Nhiều khi sự chống đối quá quyết liệt và tôi đã nói: 
– “Con chấp nhận cái chết, nếu không thì 20 năm sau con sẽ trở lại.” 
Có nghĩa là tôi đã đánh đồng sinh mạng bằng 50 phần trăm sống và chết, khi quyết định ra đi. Cuối cùng Mẹ tôi đành nói: 
– “Thôi, nếu con nói như vậy thì cứ tìm đường đi đi, để sau này con không trách móc ai.” 
Những ngày này đâu đâu cũng bàn tán chuyện ra đi và trên dài phát thanh còn loantin có những đoàn người ra đến biển thì bị bắn chết hoặc bị bắt trở về ngồi tù. Những lời đồn làm hoang mang nhiều người và gây ra sợ sệt. Vì vậy mà Mẹ tôi, người anh cả và người Cậu cứ nghĩ rằng: “Đất nước hết chiến tranh, chính quyền sẽ giúp cho dân làm ăn giàu mạnh, chứ có ai bắt bớ hành hạ đâu mà đi vào chỗ chết.” Cho nên không hưởng ứng chuyện ra đi. 
Tôi lấy túi hành trang, vỏn vẹn chỉ có bộ sách Toán Lý Hóa, cuốn Giải Tích, cuốn tự điển Anh- Việt Việt- Anh của Lê Bá Kông, một cây sáo trúc và khoảng mười gói mì ăn liền. Trong nhà lúc này vắng tanh, chỉ có Mẹ và đứa em gái út lẩn quẩn nhìn ra đường. Tôi ôm Mẹ hun lên trán một cái và nói: 
– “Con đi nhe Mẹ.” 
Chỉ bấy nhiêu thôi rồi tôi đến xoa đầu đứa em gái: 
– “Ở nhà ngoan, anh đi.” 
Mẹ tôi buồn, nhìn tôi và chỉ nói được mấy tiếng: 
– “Con đi thật sao!” 
Rồi đưa mắt nhìn theo. 
Tôi đi bộ trở lại nhà Phương. Phương và Lim đã sửa sọan xong hành lý, mỗi người gọn gàng chỉ một vali nhỏ, tôi không biết đựng những gì trong đó. Phương nói với tôi: 
– “Chị Na cũng đi luôn nhe anh.” 
Tôi trả lời gọn: 
– “Ừ, đi luôn.” 
Chúng tôi rời nhà Phương xuống Nhà Bè. Hỏi thăm và tìm hết mọi nơi nhưng tuyệt nhiên không thấy dấu vết gì về những chiếc tàu thủy đậu ngòai sông Nhà Bè để bốc người đi! Thất vọng, ảo nảo. Chúng tôi quanh trở về. Tôi nói với Phương: 
– “Hết đường rồi, cảng Sài Gòn và bến Bạch Đằng thì bị cô lập, sông Nhà Bè cũng không có tàu bè nào đậu đó. Chắc anh không giúp được gì đâu, thôi chắc mình nằm đây chờ trận.” 
Phương cũng buồn nhìn tôi ra về. Thì ra mấy ngày nay tin dưới Nhà Bè có những chiếc tàu thủy cập bến chờ bốc người đi chỉ là lời đồn, và cũng vì những lời đồn đó mà mấy ngày nay Tỉnh Lộ 15 người xuống Nhà Bè nườm nượp! 
Mấy ngày này tôi nao ức được đi nhưng không biết đi bằng cách nào, và tôi thường ra bờ sông Sài Gòn ngồi nhìn. 
Tôi nhớ về Tân Thuận ở được vài ba năm thì Cha tôi qua đời. Sau ngày đưa Cha tôi về quê an táng ở Núi Đồi, Mẹ tôi mua khu đất của ông Tri Phương ngoài mặt Tỉnh Lộ 15, xây lên căn nhà và anh tôi mở tiệm sửa xe ở đó. Ngoài những giờ học tôi phụ anh Hạnh sửa xe. Năm tháng trôi qua, tôi lớn lên ở đó, sau ngày đỗ Tú Tài tôi vào đại học Khoa Học Sài Gòn thì Phương cũng vào trường đại học Văn Khoa. Ông bà Tri Phương làm nghề buôn bán vật liệu xây cất và đặt tên cửa hiệu Tri Phương. Tôi biết chữ Phương lấy từ tên của người con gái giữa, chị của Lim. Ông Tri Phương người quê Long Xuyên, An Giang về lập nghiệp nơi đây từ đầu thập niên 60. Bà Tri Phương người xề xòa, hiên lành, những buổi chiều tối bà luôn ra trước sân đốt vài ba cây nhan vái bốn phương tám hướng. Sau này bà Tri Phương thường qua chơi trò chuyện với Mẹ tôi. 
Những ngày cuối tháng Tư ngồi trên bờ sông Sài Gòn nhìn về bầu trời Thủ Thiêm lúc nào cũng có khói lửa chiến tranh nghi ngút. 
Trưa 29 tháng 4 tôi ra căn cứ chuyển vận Hải Quân kho 18 ở Tân Thuận Đông chơi và xem tình hình. Đến cổng kho 18 tôi thấy nhiều người hôi của đang khuân vát những thùng đồ từ kho 18 ra. Tôi men theo bờ rào xuống căn cứ chuyển vận. Đi cùng tôi có người anh bà con, Điện, theo tôi tìm đường đi. Những ngày này Điện bám sát tôi. Khi đến cổng vào căn cứ chuyển vận Hải Quân thì những người lính Lôi Hổ, mặt mày hung tợn, tóc dài quá bờ vai, đầu đội nón tai bèo, ôm súng lên đạn két két chỉa vào tôi và Điển quát: 
– “Trở ra ngay, không tao bắn chết bây giờ.” 
Nhìn những con mắt sát thủ hằng ngày sống ở rừng sâu, đối với những người lính Lôi Hổ này: chết là chuyện thường. Tôi liền cùng Điện quay đầu trở lại. Trên đuờng trở ra tôi thấy những chiếc xe Peugeot chở đầy người kéo nhau đi vào căn cứ chuyển vận. Nhưng tôi thì vác túi hành trang đi ra, lòng buồn dịu vợi! 
Trở lại nhà tôi ngồi nhìn dòng xe nối đuôi chạy về Nhà Bè. 
Chiều 29 tháng 4 tôi lên nhà Lim tìm Phương nhưng không thấy chị em Phương ở nhà. Tôi bước ra khỏi nhà Phương về nhà cùng Điện trở lại kho 18 xem người ta hôi của. Những ngày này lúc nào rời nhà trên vai tôi cũng mang túi hành trang với những cuốn sách. Khi đến kho 18 tôi nhìn xéo về cổng căn cứ chuyển vận, một điều làm tôi rất ngạc nhiên: Những người lính gác cổng đã bỏ trống cửa ngõ! Tôi nhìn chung quanh thấy anh Hát đang đứng nhìn đám người khiêng đồ từ kho 18. Anh Hát là Thiếu Úy bộ binh QLVNCH từ Quảng Trị vừa về. Tôi kêu anh Hát và Điện lần mò tới cổng vào sân tàu và không thấy một ai ngăn cản. Ba đứa tôi đi thẳng luôn, và trước mặt là ba chiếc tàu Hải Quân đổ bộ chứa đầy dân và những người lính Lôi Hổ. Cảnh người nhôn nháo trèo lên tàu, la ó ồn ào như bầy ong vỡ tổ. Bên lề đường những chiếc xe Peugeot không người, cửa mở tung, xe Lambretta, Vespa, và Honda 67 đỏ chói nằm la liệt đầy đường. Thì ra đây là những chiếc xe mà mấy ngày nay chạy tấp nập trên Tỉnh Lộ 15. Mọi người vứt bỏ xe cộ bên đường leo lên tàu. Tôi mạnh dạng bước đến và leo lên tàu rồi anh Hát và Điện cũng bước lên tàu. Thì ra lúc này những người lính gác cổng đã rút lui lên tàu để cùng đi với gia đình. Trên tàu đông nghẹt lính Lôi Hổ và gia đình, tôi hoàng toàn xa lạ, nhưng lòng thầm vui. 
Nhìn lên bờ, xa xa tôi thấy bóng dáng của đứa em gái trên bãi cỏ, tôi liền gọi thật lớn: “Đào.” Đứa em tôi chạy lại. Rồi một lát anh Hai tôi cũng chạy lại bên chiếc tàu há miệng. Cả hai chỉ đứng trên bờ nhìn ba người tôi trên tàu. 
Trong túi hành trang tôi không có gì để uống và lúc đó tôi thấy khác nước, tôi liền bảo đứa em gái lấy cho tôi ca nước. Nó chạy đi và thật lẹ sau đó trao cho tôi một canh nylon đầy nước. Tôi muốn dẫn đứa em đi theo, nhưng nghĩ tới những nguy hiểm trước mặt và những tin tức từ đài phát thanh mấy hôm nay, tôi đành làm thinh. Đứa em trao cho tôi canh nước xong trở lại trên bờ với người anh cả. 
Trời lúc đó khỏang 8 giờ tối. Tôi, anh Hát và Điện đang đứng cùng đoàn người lô nhố trên tàu. Ba chiếc tàu và cả ngàn người chen lấn trên đó, xì xầm như phiên chợ. Tự nhiên anh Hát nắm tay tôi và nói: 
– “Ở nhà chỉ có tao và mầy là hai người biết chuyện và lo cho gia đình, bây giờ nếu cả hai cùng đi thì ai lo cho gia đình đây. Thôi mầy đi đi, tao trở lại.” 
Vừa nói xong anh Hát nhảy xuống tàu trở lại trên bờ cùng Đào và anh Hai. Tôi không kịp nói lời nào, chỉ biết nhìn hai anh và đứa em. Tôi đang do dự về lời nói của anh Hát thì chiếc tàu đã bị chặt đức giây neo, từ từ de ra dòng sông. Tôi ôm túi hành trang nhìn hai ngươi anh, đứa em, và con tàu cứ lùi dần ra xa. Lúc đó là 8 giờ 20 phút tối 29 tháng 4. Chỉ trong vòng 25 phút sau khi tôi bước chân lên tàu, con tàu chặt neo! Tôi đưa tay lên vãy chào. Trong giây phút hình ảnh của ba người thân mờ dần trong bọt nước, rồi mất hẳn. Bóng tối trùm xuống, trong cái chớp mắt tôi nghĩ đến Phương, nhưng, xa rồi! Con tàu quay đầu về hướng biểnĐông. Và tôi, bắt đầu cuộc phiêu lưu.

Những năm “cải tạo” ở Bắc Việt

vietmessenger.com

Trần Huỳnh Châu

Post by Sơn râu 10 Dec 2025

Phần 3: Đói

Cái làm chúng tôi khổ cực nhất trong thời gian ở tù là ĐÓI. Đói triền miên. Đói ngày đói đêm. Đói sáng đói chiều. Đói ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Ăn xong bữa ăn, chúng tôi ngẫm nghĩ không biết đã ăn chưa. Nếu chưa ăn sao mình lại rửa chén. Nếu ăn rồi sao bụng vẫn đói thế này.

QUY CHẾ

Theo quy chế, mỗi đầu người chúng tôi được hưởng khẩu phần là 15 ký gạo. Tiền mỗi tháng là 15$ cho lương thực và thực phẩm (tức là gạo cấp phát sẽ tính thành tiền để trừ vào số 15$ nầy). Ngoài ra, mỗi tháng mỗi người còn có 3$ để mua những thứ lặt vặt như khăn mặt, bản chải răng, xà-phòng, kem đánh răng, thuốc lá v.v…Cộng sản phân biệt hai chữ Lương Thực và Thực Phẩm: Lương thực là thức ăn chính để ăn cho no (chất bột) như gạo, bắp, khoai, sắn, mạch. Còn thực phẩm là thức ăn trong bữa cơm như thịt, cá, rau…Rau cũng được phân biệt rau thường (như rau muống, rau dền…) và rau cao cấp (như cải bắp, su hào…). Khi ăn độn, các loại lương thực nhu bắp, sắn, khoai, mạch, bột mì…đều được quy ra gạo theo những tiêu chuẩn định sẵn. Lâu quá, nay tôi không còn nhớ rõ các tiêu chuẩn nầy. Trước kia, tôi có ghi chép cả, nhất là trong cuộc đấu tranh cuối năm 1978, nhưng sau đó, các tài liệu đã bị tịch thu, và khi về thì tất cả các tài liệu ghi chép và sách in đều bị tịch thu cả, nên nay không còn nhớ chi tiết. Đại khái, bột mì và mạch chỉ được tính ngang với gạo. Sắn thì theo tiêu chuẩn 1 gạo 3 sắn. Ví dụ, mỗi ngày ăn 500g gạo, nếu hôm nào ăn sắn (khoai mì) thì ăn 1,500g sắn. Nhưng vào chi tiết thì còn nhiều rắc rối. Trong cuộc đấu tranh về vấn đề lương thực tại phân trại B, trại số 5 Thanh Hoá, chúng tôi phải đặt nhiều vấn đề (sẽ nói rõ trong mục nói về cuộc đấu tranh này). Chẳng hạn 1,500g sắn nhưng là sắn như thế nào. Ban đầu chúng cân cả những khúc sắn đã thành rễ, toàn là xơ cứng không thể nào ăn được, và cân xong mới lột vỏ. Ai cũng biết vỏ sắn dầy như thế nào và lột xong thì hao như thế nào. Mức độ nở của gạo khi nấu thành cơm là 2,2 đến 2,5. Nấu hấp kiểu cơm thố có thể lên tới 2,7 (tính trọng lượng, ví dụ nấu 200g gạo thì được 440g đến 500g cơm). Khoai sắn nấu không nở, và chất bổ kém, nên phải tính 1 gạo 3 sắn là vì thế. Hồi mới vào tù, chúng tôi chẳng bao giờ biết đến những con số nầy. Dân miền Nam ra miền Bắc, nghe nói chế độ 13 kí, 15 kí, 18 kí, chẳng biết là thế nào. Ở trong Nam có ai để ý là mỗi tháng đã ăn bao nhiêu ký đâu. Trong gia đình, đến bữa ăn cứ xúc gạo nấu, ăn no thì thôi, chứ có ai để ý gạo nở bao nhiệu, mỗi tháng bao nhiêu kí. Nhưng ra đến ngoài Bắc, trong thời gian đói khổ, ai cũng phải tính toán trong đầu từng hột cơm, từng hột gạo. Toán làm bếp cân đi cân lại để gạo theo nhà nước ấn định là như thế nào. Nhưng đó chỉ là quy chế. Phải nắm quy chế mới có thể đặt vấn đề với cán bộ. Quy chế đã chẳng khá gì, thực tế lại còn thê thảm hơn nhiều.

LƯƠNG THỰC

Trong khi các nước đều đã tiến đến chỗ ăn thịt, cá, rau và chỉ ăn rất ít chất bột như cơm, bánh mì, thì Cộng sản Việt Nam vẫn không giải quyết nổi vấn đề gạo, dù phải dùng cả sắn, khoai, bắp để quy ra gạo.

Trên nguyên tắc, chúng ấn định cho chúng tôi khẩu phần là 15 ký mỗi tháng. Với những người ăn uống đầy đủ hàng ngày có thịt, cá, có bơ sữa, thì 15 ký mỗi tháng thường là đủ rồi. Nhưng với chúng tôi thì khác. Có lúc chúng tôi chỉ ăn sắn với muối. Thông thường thì ăn sắn hoặc mạch với một chén canh nhỏ, canh rau nấu với muối. Bột ngọt cũng không có mà bỏ vào canh – cán bộ Cộng sản cho biết bột ngọt, mà chúng goi là mì chính, là tiêu chuẩn “bồi dưỡng” rồi đấy -, không dám nói đến tôm, cá, thịt. Ăn như vậy, mà đị làm lao động nặng, thì 15 ký mỗi người chẳng thấm vào đâu. Mà nào có phải 15 kí! và nào có phải là gạo!

Thỉnh thoảng có một bữa cơm. Trong cuộc đấu tranh năm 1978, chúng tôi đem xuống bếp cân thử lại cơm thì tính ra mỗi người, một bữa ăn chính chỉ được từ 350g đến 400g cơm. Mỗi ngày hai bữa ăn chính là 800g. Phần ăn sáng, nếu là ăn cơm, chỉ được nửa chén cơm nhỏ mỗi người, tính ra chỉ độ 50g đến 100g cơm. Trung bình mỗi ngày, nếu là ăn cơm, chúng tôi chỉ được chừng 800g hay khá lắm là 900g cơm, tức là tương ứng với chừng 350g đến 400g gạo. Như vậy tính ra chúng tôi chỉ được ăn khoảng từ 10 đến 12 ký gạo mỗi tháng chứ chẳng bao giờ đủ 15 ký cả.

Nhưng đây, vẫn còn là những tính toán có tính cách lý thuyết. Thực tế thì có mấy khi chúng tôi được ăn cơm đâu. Thời gian ở trại Quảng Ninh, chúng tôi được phát mỗi ngay hai bữa (không có ăn sáng), thường là bánh mì. Trại Quảng Ninh gần Hòn Gay là khu kỹ nghệ, được ưu tiên tiếp tế. Và năm ’77, ’78 các nước tự do có giúp đỡ nhiều bột mì, nên chúng tôi thường được ăn bột mì. Chúng tôi không biết mỗi chiếc bánh được làm bằng bao nhiêu grammes bột mì, nhung chúng tôi thấy là bữa chúng tôi phải ăn có ba cái bánh mới no được, trong khi chỉ được phát một cái.

Lúc đầu, trại Quảng Ninh có lò nướng bánh mì nên chúng tôi được ăn bánh mì nướng. Đến cuối năm 1977, lò nướng bánh mì bị hư, nên chỉ làm bánh bao hấp mà thôi (dĩ nhiên là bánh bao không có nhân). Mùa hè năm ’77 ở Quảng Ninh chúng tôi đã thấy là đói lắm rồi, và ai cũng sút ký ghê gớm. Trước khi đi ở tù, tôi cân được 66 ký lô, đến mùa hè năm ’77 ở Quảng Ninh, tôi chỉ còn 45 kí. Vậy mà khi đến vào Thanh Hóa, chúng tôi thấy trại Quảng Ninh hãy còn khá lắm. Trại số 5 Thanh Hóa mới là tồi tệ. Mùa đông năm 78 tại Thanh Hoá, tôi chỉ còn 40 kí. Ngay hồi ở Quảng Ninh, nhờ đợt tiếp tế nhân dịp 2-9-77, chúng cho gia đình chúng tôi gởi quà ra khá nhiều, phần đông nhận được từ 30 đến 50 ký thức ăn khô nên mới gượng lại được qua năm 78. Nếu không có đợt tiếp tế đó thì một số lớn chúng tôi đã qụy ngay từ cuối năm ’77 tại Quảng Ninh.

Tháng 8 năm 78, sợ Trung Cộng tấn công mà Quảng Ninh là tỉnh biên giới, chúng cho chúng tội vào Thanh Hoá. Mùa đông năm ’78 là thời kỳ đói nhất của chúng tôi. Phân trại B trại số 5 Thanh Hoá là nơi đểu cáng nhất trong vấn đề lương thực. Mấy tháng đầu, còn một ít bột mì, chúng phát cho chúng tôi cục bột luộc. Không có men dậy bột, toán làm bếp chỉ nhồi bột rồi bỏ vào chảo nước sôi mà luộc. Mỗi bữa chúng tôi nhận được cục bột luộc bằng nửa bàn tay, bề dày khoảng hai phân. Đây là khẩu phần bữa ăn chính, ăn để đi làm lao động đấy! Bột mì luộc ăn rất đói nhưng chất bổ còn khá. Hai thứ đáng sợ là sắn (khoai mì) và mạch.

Mạch là một loại hạt trông giống như bo bo, nhưng thực ra không phải bo bo. Có lẽ ở ngoại quốc người ta dùng cho ngựa ăn. Ở phân tại B trại số 5, mạch không sẩy ra, cứ để nguyên vỏ thế mà nấu. Mấy năm trong tù ăn uống thiếu thốn lại không hề được chữa răng, phần lớn đau răng cả, đến bữa cơm ngồi vừa nhai mạch vừa khóc. Mạch nấu cả vỏ cứng quá, không nhai thì không nuốt được, nhai thì đau răng đau nướu không chịu nổi. Dù có nhai kỷ, ăn vào bao nhiêu cũng đi tiêu cả ra bấy nhiêu, vì toàn là chất bã. Có lẽ dạ dày ngựa thì nó tiêu hóa nổi còn dạ dày người, ăn vào bao nhiêu nó tụt đi cả bấy nhiêu. Đi tiêu rất khoái, rất là thông suốt. Nhưng tiêu xong, trong bụng không còn một chút hơi, người không còn khí lực. Ăn mạch, chúng tôi vẫn nói với nhau “thức ăn dành cho súc vật, chúng đem cho mình ăn mà cho ăn đói chứ có phải đủ no đâu.”

Sắn thì ăn vừa đói vừa nặng bụng. Vẫn chẳng bao gìờ đủ no. Bữa ăn chính, đem chia ra mỗi người được vài khúc sắn. Có lúc chúng bắt nấu cả vỏ. Vỏ sắn có chất độc, ông bà tổ tiên chúng ta đã biết từ xưa, nên mỗi lần luộc sắn, ông bà chúng ta đều lột sạch vỏ sắn, có khi còn đem ngâm nước mấy tiếng đồng hồ rồi mới đem luộc. Còn bây giờ, với đám Cộng sản mà miệng vẫn nói “cuộc cách mạng kỷ thuật là then chốt” thì chúng để nguyên vỏ sắn mà luộc, luộc xong nước đỏ lòm, nhiều người đói quá ăn luôn cả vỏ, bị ngộ độc, ói mửa tiêu chảy tùm lum. Chúng tôi kêu ca thì chúng cho lột vỏ mới luộc, nhưng là lột vỏ sau khi cân, nên khẩu phần của chúng tôi lại càng thê thảm.

Mùa thu hoạch sắn, để sắn lâu thì bị hư, nên chúng bắt chúng tôi ăn sắn dài dài. Mùa đông ’78 ở phân trại B trại số 5 Thanh Hóa, thường chúng tôi phải ăn toàn sắn, một tuần chỉ chen vào chừng hai bữa mạch, có khi mười ngày, nửa tháng mới có một bát cơm hoặc bắp.

Lối ăn độn trong trại giam, không phải là nấu cơm trộn với bắp hay trộn với sắn đâu. Sắn cứ luộc nguyên củ rồi đem cả giỏ lên cho từng đội chúng tôi chia nhau. Bữa nào ăn sắn là toàn sắn, ăn mạch là toàn mạch, ăn bắp là toàn bắp. Lâu lắm mới có một bữa cơm, xúc muỗng cơm cho vào miệng, chưa kịp nhai thì như cơm bị dạ dày ở dưới vốn đói quá, hút tụt xuống cổ họng ngay. Muốn kéo dài bữa cơm, để kéo dài sự sung sướng, mà không kéo dài nổi. Chưa gì đã thấy hết cơm rồi. Và anh em lại bảo nhau: ‘‘Sao dường như cơm nó đi đâu mất rồi, nó không ghé lại dạ dày lâu lâu một chút cho mình có cảm tưởng no. Dường như vừa vào miệng nó đã tụt xuống dạ dày, vừa đến dạ dày, nó lại tan biến đi đâu mất.”

Chỉ có sắn là có vẻ ghé lại trong ruột khá lâu.

Ăn sắn cả tuần, dạ dày tuy vẫn đói mà ruột thì lại cứ nằng nặng, trì trì. Đi tiêu xong, thấy ruột vẫn cứ nằng nặng. Nhưng vẫn đói và vẫn mong phát sắn nhiều một chút – đàng nào cũng phải ăn sắn thì vẫn mong cho có sắn đủ no -, nhưng vẫn không bao giờ được phát nhiều, không bao giờ được ăn no, trừ ra ba bữa Tết. Ôi, sao một năm lại chỉ có một lần Tết. Mà Tết Cộng sản nó chỉ cho ăn đến mùng hai thôi. Mùng ba lại phải lao động, và ăn bình thường, nghĩa là ăn đói rồi!

HỤI CƠM, HỤI SẮN

Đói quá, chúng tôi cứ loay hoay tính toán cách ăn. Ông bà ta có nói ”khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Vậy phải tìm cách ăn thế nào cho “khéo”.

Ở Quảng Ninh, chúng phát hai bữa ăn, có người chia làm bốn bữa. Hai cái bánh mì, mỗi lần chỉ ăn nửa cái thôi. Nửa cái lúc sáng thức dậy, nửa cái buổi trưa, nửa cái buổi chiều, nửa cái trước khi đi ngủ. Trước khi đi ngủ, ăn nửa cái bánh mì là để cho bụng đỡ cồn cào, dễ ngủ. Nhưng rồi thấy không ổn, vì lúc ăn đã chẳng ra gì mà rồi lúc nào cũng đói. Bèn thay đổi cách ăn. Mỗi bữa ăn, ăn ba phần tư cái bánh mì. Góp lại hai cái một phần tư mỗi bữa. Thì có được nửa cái bánh mì ăn sáng. Ăn kiểu nầy thì tối đi ngủ rất khó vì chưa ngủ được bụng đã đói cồn cào, nằm trăn trở tưởng tượng củ sắn củ khoai mà thở dài.

Lại có người chủ trương nó phát lúc nào ăn lúc ấy. Đại diện cho môn phái nầy là anh Trạng Khanh Hưng, trước là Trung tá. Anh Hưng chủ trương rằng lúc nào cũng đói thì bất cứ lúc nào nó phát cái gì là cho hết vào bụng ngay, càng sớm càng tốt, không cần tính toán gì cả. Vì thế khi nó phát canh trước thì anh cầm chén canh húp luôn, hết sạch. Rồi đến khi phát bánh mì, hay cơm, hay mạch, anh chỉ ăn trơn như thế. Anh bảo một chén canh tí-tẻo như thế thì ra cái gì mà đợi ăn với bánh mì. Cứ húp luôn cho nó tiện việc. Đói thế này thì cơm lạt ăn mấy tô cũng hết, cần gì thức ăn. Ăn kiểu này khỏi phải cất để dành nhưng buổi sáng rất đói. Nhất là sáng mùa đông xứ Bắc, trời rét căm căm, thức dậy không ăn sáng đi chân đất làm lao động cho tới trưa. Đó là ở trại Quảng Ninh.

Trại Thanh Hóa thì có phát ăn sáng nhưng lại trừ vào phần ăn trưa và ăn tối.

Rốt cuộc ăn kiểu nào cũng đói. Hôm nay đói, ngày mai cũng đói. Tháng giêng đói, tháng hai cũng đói. Năm ’77 đói, ’78 cũng đói. Chao ôi, đói liên miên như thế mới có thể biết được cái đói nó khổ sở như thế nào, nó dằn vặt con người như thế nào.

Chúng tôi lại “phát huy sáng kiến” về cách ăn. Chúng tôi bày ra trò hụi cơm, hụi sắn. Thời gian sau đợt đấu tranh tại trại số 5 Thanh Hóa, sang đầu năm ’79, có lúc chúng cho ăn liên tiếp được hai tuần lễ cơm trắng, buổi sáng ăn sắn. Tuy khẩu phần không gia tăng, nhưng được ăn cơm liên tiếp hai tuần là chuyện hi hữu ắm. Khẩu phần không gia tăng nên chúng tôi vẫn đói. Để đánh lừa dạ dày, chúng tôi chơi hụi cơm, hụi sắn.

Nhóm ăn của chúng tôi có năm người. Mỗi bữa, mỗi người xúc một muỗng cơm trong phần cơm của mình để sang phần cơm của người “hốt hụi”. Mỗi bữa có bốn người bớt chút cơm nhưng có một người thêm đưoc bốn muỗng cơm. Chao ôi bốn muỗng, nhìn ca cơm đầy hơn mỗi ngày, trong lòng sung sướng làm sao! Nhưng bữa khác lại phải trả nợ.

Còn hụi sắn thì thường chơi trong vòng ba người thôi. Một hụi gồm những người láng giềng, nằm kế tôi là nhóm ba người gồm Nguyễn Xuân Liêm (trước từng làm Tổng Giám đốc Công vụ), Trần Ngọc Diên (trước là Sứ thần Ngoại giao ở Washington D.C.), và Khổng Vĩnh Thành (trước là Chủ Tịch Hội đồng Thị xã Đà Lạt). Mỗi người luân phiên nhịn hai bữa sáng thì có một bữa sáng “huy hoàng” ăn cả ba phần. Bữa sáng có ba phần sắn tuy không no, nhung thế cũng sung sướng lắm rồi. Nhưng hai bữa sáng kia thì nằm co nhịn đói, uống nước lã.

Chao ơi, ông bà ta nói “khéo ăn thì no” mà sao sống với Cộng sản, tính toán trăm phương nghìn cách để thực hiện chữ “‘khéo ăn” vẫn cứ đói. Ông bà ta hồi trưóc có ngờ đâu Cộng sản nó lại ấn định khẩu phần ăn tồi tệ đến thế. Ngày xưa, tuy kinh tế còn lạc hậu, ông bà ta dù có thiếu thốn cũng có thể “khéo ăn thì no”. Đến khi cái thứ Cộng sản nắm chính quyền, miệng nói giải phóng, nói sản xuất, nói tiến bộ, nói của cải dư dùng, mà sao, phải ăn thức ăn của súc vật mà vẫn thiếu, và thiếu quá, thiếu đến nổi chúng tôi có tính toán cách ăn như thế nào thì chung quy vẫn đói, đói triền miên, đói kinh hoàng, nếu không có gia đình gởi thêm thực phẩm thì chắc chắn hầu hết chúng tôi đã gục ngã trong cái trại khổ sai Miền Bắc rồi.

THỰC PHẨM

Tôi dùng chữ thực phẩm theo nghĩa Cộng sản dùng, tức là những thức ăn để ăn với cơm (hay với sắn, mạch, bánh mì…)

Tùy theo mùa rau, có rau gì ăn rau nấy. Mùa hè ăn rau muống, mùa đông ăn rau cải. Khi thiếu hụt thì ăn muối. Canh sắn, canh khoai lang được coi như “huy hoàng” lắm, vì có tác dụng đỡ đói một chút. Canh toàn rau với muối. Sáng rau muống nước muối, chiều nước muối rau muống.

Rau là của tù nhân trồng. Thu hoạch rau đem về nhà bếp, đem cân rồi tính thành tiền.Tiền ấy là gì? Đó là tiền 15$ hằng tháng của mỗi tù nhân, dùng để trả tiền rau đó. Cho nên nhà nước Cộng sản , tiếng là quy định mỗi tháng chi tiêu cho một tù nhân 15$, nhưng không phải chi tiêu gì. Tiền đó để mua rau, mua sắn. Mà rau, sắn, cả lúa gạo nữa, cũng đều do tù nhân trồng trọt làm ra. Ngoài ra tù nhân lại còn đập đá, sản xuất đá dăm, đá ong, đục gạch, làm lò rèn v.v… Tiền bán những thứ nầy được bao nhiêu, không tên tù nào được biết. Trước kia ngay cả số tiền 15$ hằng tháng, chúng tôi cũng đâu có biết. Đấu tranh, hỏi mãi mới được “bật mí” ra. Thì hóa ra, tiền 15$ chỉ là động tác kế toán mà thôi, chứ không phải nhà nước chi tiêu cho tù nhân. Hơn nữa, nó lại có tác dụng có giới hạn số lượng thực phẩm. Có lúc mấy đội trồng rau trồng có kết quả nhiều, thì trái lại, gọi người ngoài, gọi các đơn vị quân đội đến, bán bớt đi. Cán bộ giải thích rằng tiêu chuẩn chỉ có 15$ mỗi tháng không đủ tiền mua hết số rau về nhà bếp. Ấy thế, mình sản xuất ra là sản xuất cho nhà nước, còn tiêu chuẩn ăn do nhà nước ấn định là việc khác.

Ăn thì vẫn đói, sản xuất thì phải cho nhiều để ban Giám thị tổng kết, báo cáo lên Cục Trại Giam rằng trại đã làm lợi cho nhà nước bao nhiêu tiền. Một mặt thì nhà nước vẫn kể công rằng phải chi cho mỗi người một tháng 15$! Ơn Bác ơn Đảng mới có mà ăn đấy! Đảng cho ăn mức nào thì ăn mức ấy, chỉ có thể sụt xuống, chứ không thể tăng lên. Khi nào thiếu rau, ăn muối, thì bảo là “tại các anh lao động kém, không đủ rau”. Nhưng khi sản xuất nhiều thì nhà nước đem bán đi, vì “không thể ăn quá tiêu chuẩn được”. Mà tiêu chuẩn có phải nhiều nhặng gì cho cam. Mỗi người chỉ có một chén canh rau với muối.

Thế mà đói quá, ăn chén canh rau với muối cũng thấy ngon lạ lùng. Ỏ nhà, nếu vợ nấu canh rau muống bỏ muối thôi, không có chút bột ngọt, không có chút thịt cá, và ăn với khoai mì, thì chắc người chồng nào cũng cự nự vợ. Trước ngày sụp đổ 30-4-75, chỗ góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ, Sàigòn, có người bán khoai mì hấp, rắc dừa, lá dứa thơm phức, mua 50$ (tiền cũ) về ăn no không hết, mà có ai mua đâu. Nay đi ở tù xứ Bắc Việt, Cộng sản nó cho ăn canh rau nấu muối, ăn với khoai mì, mà sao ngồi ăn thấy ngon đến mê mẩn. Ăn cái gì cũng ngon, chỉ có thiếu lượng chứ không ai cần đến phẩm chất. Đọc sách báo của Cộng sản , chúng luôn luôn tự đề cao, rằng chế độ xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là hơn hẳn. Quá đúng, chỉ có dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Mác Xít – Lê Nin Nít, ăn khoai sắn mới thấy ngon đến thế. Khoai lang, khoai mì, canh rau nấu muối là những thứ mà trong chế độ tự do chẳng ai thèm ăn thì trong chế độ Cộng sản , người ta ăn thấy ngon đến mê mẩn. Hơn hẳn là thế đấy!

Hồi ở phòng số 4 trại Quảng Ninh, mùa hè năm ’77, chúng tôi có trồng riêng cho đội trên miếng đất nhỏ phía sau phòng giam mấy cây ớt, mấy cây cà chua. Vì canh nhà bếp phát ít quá, thỉnh thoảng có người bứt vài nhánh đọt ớt đem nấu canh, thấy ăn được. Còn mấy cây cà chua, vì không ra trái, đội quyết định nhổ đi để lấy chỗ trồng ớt. Tôi cùng với Lê Thanh Châu (trước là Tổng Giám đốc Khai Hoang Lập Ấp), Tranh Chánh Nhựt (Chủ tịch đảng Dân chủ, quận bộ Bình Chánh) và Nguyễn Ngọc Xuân (Thiếu Tá) bàn nhau lấy lá và đọt cà chua nấu canh. Nấu xong, chúng tôi múc được mỗi người một lon guigoz và hân hoan nói với nhau rằng hôm nay được bữa canh ăn no. Nhưng đến khi ăn được phân nửa, chúng tôi đứa nào cũng thấy buôn nôn, đau đầu. Bèn thôi không dám ăn tiếp. Thế mà cũng khó chịu trong người cả ngày hôm ấy. Sau đọc trong một cuốn sách Đông-y, mới biết rằng lá ớt thì ăn được và có thể trị lải kim, còn lá cà chua thì có chất độc, ăn nhiều bị ngộ độc nguy hiểm.

Nói cho đúng, lâu lâu cũng có một bữa thịt. Cả trại cả ngàn tù (kể cả tù hình sự), làm một con heo chừng bảy, tám mươi kí. Đó là heo sống. Làm thịt ra thì được chừng 40, 50 ký thịt, tính ra mỗi người được 50 grammes. Xương và lòng bỏ vào nấu canh, thịt thì đem kho. Chao ôi, buổi sáng ra đi làm lao động khổ sai mà thấy nhà bếp đi bắt con lợn về, là cả buổi lao động chỉ mơ tưởng miếng thịt lợn. Mỗi người được một miếng thịt kho nhỏ chụt, ngồi ngậm mãi mới dám cắn một miếng nhỏ, chỉ sợ nó hết. Nhưng cũng như cơm, nó hết quá nhanh chóng. Mới cho vào miệng, nó đã tụt vào cổ họng rồi tan biến mất tiêu. Thế là hết bữa thịt, và lại bắt đầu mơ tưởng thịt.

Khoảng cách thời gian giữa hai bữa thịt là tùy mỗi giai đoạn. Hồi mới ra Quảng Ninh, tuần nào cũng có. Qua năm ’77, suốt mấy tháng hè, chỉ được ăn bữa thịt 1 tháng 5 (Lễ Lao Động), rồi ăn chay mải cho đến bữa thịt 2 tháng 9 (Quốc khánh Cộng sản Bắc Việt), tính ra đến bốn tháng. Thời gian ở Thanh Hóa thì chừng một tháng một lần, có khi hai tháng một lần. Sau cuộc đấu tranh cuối năm ’78, qua năm ’79 một mặt chúng đàn áp, giam kỷ luật, cùm chân, bắt lao động nặng hơn, nhưng cũng có cho ăn thịt khá hơn, có khi mỗi tháng được hai lần.

Hơn ba năm trong trại giam ở Bắc Viêt, tôi được ăn trứng bốn lần, mỗi lần mỗi người một quả trứng vịt luộc. Cầm quả trứng vịt luộc trong tay, cứ hít nó mải mà không dám ăn, vì thấy quý quá. Trứng vịt ở Miền Bắc nhỏ hơn trứng gà Mỹ trong Nam. Ở cái xứ đói thì vịt cũng đâu có gì mà ăn, làm sao đẻ trứng lớn cho được.

Mỗi lần ăn trứng, ăn thịt, số tiền 15$ dành cho lương thực và thực phẩm lại bị hụt đi vì cán bộ bảo là mua ở các hợp tác xã không có, phải mua ngoài theo giá tự do (tức là giá chợ đen). Tiền hụt thì lại phải bớt rau đi, dù có trồng rau được nhiều cũng phải ăn muối để khỏi quá tiêu chuẩn.

3$ TIÊU VẶT và TIỀN LƯU KÝ

Mỗi tháng chúng tôi có được ngân khoản 3$ mỗi người để mua những thứ lặt vặt cần dùng. Tuy nhiên không phải ai muốn mua gì thì mua. Tiền do trại quản lý, mỗi tháng trại thấy thứ gì mua được thì mua để cấp phát. Thường được cấp phát nhất là thuốc lào. Người không hút cũng được cấp, như thế gọi là “phân phối công bằng xã hội chủ nghĩa”. Thỉnh thoảng có cấp bột giặt. Lâu lâu có phát mỗi người 200g đường. Tiêu chuẩn đường là mỗi tháng 200g đấy, nhưng không bao giờ chúng tôi được nhận đủ. Hồi ở Quảng Ninh, mỗi tháng có cho ăn một lần chè ngọt, cũng có tháng không có. Và mỗi lần nấu chè, tính theo mức độ ngọt của chè, chúng tôi ước lượng mỗi người chỉ được độ 50 đến 100g đường. Thỉnh thoảng, chúng tôi có nấu chè bằng đường của gia đình gởi ra nên chúng tôi có kinh nghiệm trong việc tính toán số đường. Vào đến Thanh Hóa, không có ăn chè, nhưng vài ba tháng có phát đường một lần. Trước cuộc đấu tranh năm ’78 thì số đường phát ra thiếu rất nhiều, vài ba tháng mới phát mỗi người được 100 đến 150g. Qua năm ’79, sau cuộc đấu tranh, trung bình chừng ba tháng chúng tôi được phát mỗi lần khoảng từ 200 đến 300g mỗi người. Tưởng nên nhắc lại rằng, trước kia, tại các Trung Tâm Cải Huấn của ta, buổi sáng, thường ăn cháo với đường, nên không ai bị thiếu chất ngọt.

Tiền riêng của chúng tôi do gia đình gởi ra thì chúng tôi không được giữ mà phải nộp lưu ký. Ban Tài chánh của trại có cấp cho mỗi người một phiếu lưu ký có ghi số tiền gởi. Đồng hồ, nhẫn, và các thứ quý vật cũng phải gởi lưu ký. Quần áo riêng của mình cũng phải đóng dấu, sơn chữ vào. Mục đích của các biện pháp nầy là để chúng tôi có trốn trại thì tiền bạc không có, quần áo rõ ràng là thằng tù, không thể giả dạng thường dân mà di chuyển được.

Trên nguyên tắc, chúng tôi có thể xin rút tiền lưu ký để mua những thứ cần dùng. Nhưng thực tế thì không mấy khi chúng tôi được rút tiền. Một năm chỉ được rút tiền một hai lần. Tất nhiên chúng tôi chỉ được nhận hàng thôi. Chúng tôi luôn luôn xin mua thức ăn: đường, mít, khoai lang, khoai mì, bánh kẹo… mua giùm chúng tôi, vì đi mua như thế (luôn luôn mua gía chợ đen) cũng có được tý chút. Nhưng quả thật Miền Bắc không có gì để mua, mặc dầu chúng tôi sẵn sàng chấp nhận bất cứ giá mua mắc mỏ như thế nào. Và các trại giam dầu ở vùng núi rừng hẻo lánh, xe cộ di chuyển rất là thiếu thốn, nên càng chẳng có gì để mua. Hơn ba năm ở Miền Bắc tôi tiêu chưa đến 100$, đó là đã trả tiền giùm cho nhiều anh em không có tiền trong những đợt cho mua hàng. Tiền riêng cho cá nhân tôi thì chỉ độ $50. Tiền có đấy, mà đành chịu đói khi gia đình không gởi quà ra được.

Mùa đông năm ’78, tôi chỉ còn 40 kí, (so với trước khi vào tù là 66 kí) đúng là da bọc xương (tôi cao 1.70 m). Những người nhỏ nhắn, ăn ít thì còn đỡ sụt kí. Những người cao to như anh Nguyễn Đình Xương chẳng hạn (trước là Tổng Quản trị Phủ Tổng Thống), nay chỉ còn da bọc lấy xương, trông thật thê thảm. Nhưng phía chúng tôi vẫn còn khá hơn phía tù hình sự. Tù hình sự, mà gia đình họ cũng đói kém vì đời sống xã hội Miền Bắc là đói kém, chẳng thể nhận được quà của gia đình khá nhiều như chúng tôi, nên hầu hết đều gầy đói thảm thương. Tôi đã thấy trong bệnh xá phân trại B trại số 5 Thanh Hóa những người tù hình sự trông như những bộ xương bò sang khu chúng tôi tìm kiếm vỏ khoai trong các đống rác. Nhưng vỏ khoai cũng chẳng mấy khi kiếm được. Chỉ có những ông già bên phía chúng tôi mà suốt đời chẳng bao giờ ăn khoai cả vỏ và nhất định “giấy rách vẫn giữ lấy lề” mới có đủ can đảm bóc vỏ khoai cho vào đống rác. Còn hầu hết chúng tôi đều ăn khoai cả vỏ. Bụng không có chút hơi, người không còn khí lực, một chút vỏ khoai cũng qúy giá vô ngần. Cộng sản chê tư bản là dùng tiền bạc để mua chuộc sai khiến con người. Nhưng dù sao thì tư bản có dùng tiền bạc cũng là để dẫn dụ những người đã ăn no rồi mà còn thích rượu ngon gái đẹp nhà lầu xe hơi. Còn Cộng sản thì nắm ngay bao tử con người, để cho người ta đói đến mức cái vỏ khoai cũng qúy, muốn có cái vỏ khoai để ăn cũng phải chịu cho Bác và Đảng sai khiến, và phải luôn miệng “ơn Bác ơn Đảng” để được ăn khoai sắn cả vỏ mà bụng vẫn luôn luôn đói, người vẫn luôn luôn gầy, đời sống vẫn luôn luôn là nô lệ thôi.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 10 Dec 2025

9. Đại úy HCQY Trần Đạt Minh

Trần Đạt Minh Trung học Taberd, cựu cầu thủ bóng đá đội tuyển Taberd. Sinh viên Luật khoa. Tốt nghiệp Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Tốt nghiệp Sĩ Quan Hành Chánh Quân Y VNCH. Tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù 1967. Cấp bậc cuối cùng Đại Úy Hành Chánh Quân Y Nhảy Dù. Ty nạn tại Hoa Kỳ từ 1975. Hiện sống tại Irvine, Orange County, Nam California.

[Nguồn: Diễn Đàn QYND]

Trận Khe Sanh – Ngày Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn Tử Trận

TRẦN ĐẠT MINH

Ghi Chú:

Hai bài viết ở hai thời điểm khác nhau tuy cùng một tác giả Trần Đạt Minh, Đại úy Hành Chánh Quân Y TĐQY/ SĐND, nhưng do tính cách bổ sung nên cả hai phiên bản / versions được chọn đăng nguyên vẹn trong Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn này.

Ghi chú của Đại úy Trần Đạt Minh, SQ Hành Chánh Quân Y, TDQY/SDND: TRƯỜNG HỢP HY SINH CỦA Y SĨ TRUNG ÚY NGHIÊM SỸ TUẤN

[http://www.geocities.ws/qynhaydu/nstuan.html]

Trong trận do BS Trần Đông A và tôi cùng với một Toán Tản Thương đóng tại Làng Vây; khi nghe tin BS Nghiêm Sỹ Tuấn bị tử thương, tôi được lệnh của BS Hoàng Cơ Lân đưa BS Trần Đông A vào vùng hành quân bổ sung cho TĐ6ND. Trước khi lên trực thăng, BS Trần Đông A khóc và nói với tôi: Nếu moi có mệnh hệ gì thì toi ráng đưa xác moi về gia đình. Lúc đó tôi cũng mất tinh thần rồi vì địch pháo kích nặng nề lắm không biết nếu mình bị “dính” thì ai đưa xác về Saigon.

Khi BS Trần Đông A đi một lúc thì trực thăng đem xác BS Nghiêm Sỹ Tuấn về. Chúng tôi thay cho BS Nghiêm Sỹ Tuấn một bộ Hoa Dù màu đỏ. Tôi còn nhớ BS Nghiêm Sỹ Tuấn trong người có mặc một cái quần đùi màu đỏ. Chúng tôi liệm Nghiêm Sỹ Tuấn vào một túi xác mới để kính trọng người Anh Hùng Quá Cố và đưa ra Huế.

Trong trận đó thương binh Nhảy Dù đưa về căn cứ TQLC /Hoa Kỳ ở Làng Vây nhiều lắm, chúng tôi làm việc mờ cả người.   Độ một tuần sau BS Trần Quý Nhiếp vào vùng Hành Quân thay BS Trần Đông A. BS Trần Quý Nhiếp rất hiên ngang lên trực thăng còn hẹn tôi sau hành quân sẽ gặp nhau tại Huế để ăn nhậu. Cử chỉ và hành động của BS Trần Quý Nhiếp làm cho anh em chúng tôi rất kính phục và cảm động (cũng giống như cảnh đưa tiễn Kinh Kha trên sông Dịch) vì thế đến ngày hôm nay khi nghĩ đến BS Trần Quý Nhiếp tôi luôn luôn thương mến và kính trọng người Y sĩ trẻ tuổi hào hoa và hiên ngang ấy. Bây giờ mấy chục năm đã qua, nhớ lại các kỷ niệm xưa buồn có, vui có thật là xúc động, BS Trần Đức Tường nếu gặp BS Trần Quý Nhiếp cho tôi gởi lời kính thăm.

Trần Đạt Minh

Chuyện xảy ra đã trên 50 năm nên thời gian không đúng lắm. Tôi được lệnh của Đơn vị trưởng chuẩn bị hành quân, thành lập một toán cấp cứu gồm có BS Trần Đông A làm Y sĩ trưởng lo điều  trị lựa thương, tôi thì lo liên lạc với Hoa Kỳ xin tản thương và thêm 10 y tá giúp sức. Chúng tôi sẽ đóng chung với đơn vị Quân Y TQLC / Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Nhiệm vụ là yểm trợ cho 3 Tiểu Đoàn Nhảy Dù trong đó có Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù / TĐ6ND để giải tỏa Làng Vây và Khe Sanh. Trước ngày hành quân, chúng tôi gặp Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn đáo nhiệm TĐ6ND, đáng lẽ ra BS Tuấn được hoán chuyển về Bệnh xá Đỗ Vinh và BS Trần Quý Nhiếp sẽ ra thay y sĩ trưởng TĐ6ND nhưng vì lý do gì đó BS Nhiếp không ra kịp nên BS Nghiêm Sỹ Tuấn phải ở lại TĐ6ND chờ BS Nhiếp.

Từ trái qua phải: các Y sĩ Trung úy Nguyễn Đức Vượng, Nguyễn

Văn Thắng, Bùi Cao Đẳng, Vĩnh Chánh, Nguyễn Thành Liên,

Y sĩ Thiếu Tá Tiểu Đoàn phó TĐQYND Trần Quý Nhiếp, Lê

Quang Tiến, Nguyễn Tấn Cương, Dược sĩ Khánh – Khóa Quân

Y Nhảy Dù 1974; BS Trần Quý Nhiếp là người ra thay thế BS

Nghiêm Sỹ Tuấn TĐ6ND. [Tư liệu BS Vĩnh Chánh]

Chúng tôi đóng chung với Quân Y (Quân Y Hoa Kỳ) tự đào hầm trú ẩn. Vấn đề ăn uống tôi ngoại giao với Mỹ nên anh em y tá không phải lo việc này, làm họ vui vẻ vì hành quân có Trung úy Minh đi theo là no đủ … Trước khi hành quân, Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn nói với tôi là sau khi hành quân sẽ đưa nhau đi trên đò sông Hương. Đóng quân được một ngày thì nghe tin TĐ6ND đụng nặng. Một sĩ quan Quân Y của Mỹ gọi tôi lên vì có điện thoại của Bác sĩ Cố vấn Sư Đoàn Nhảy Dù muốn gặp. Lúc nghe điện thoại tôi mới biết là Đơn vị trưởng Sư Đoàn Quân Y Nhảy Dù lệnh cho tôi bất cứ giá nào cũng phải tìm phương tiện đưa Bác sĩ Trần Đông A vào TĐ6ND Hành quân và đem xác BS Nghiêm Sỹ Tuấn về, lúc đó tôi mới biết BS Nghiêm Sỹ Tuấn đã tử trận. BS Trần Đông A lúc đó đã mất tinh thần và tức tối cho là tại sao Đơn vị trưởng không ra lệnh cho ông mà lại ra lệnh cho tôi.

Tôi bảo Y tá chuẩn bị hành trang và cùng ông Trần Đông A nhảy vào mặt trận. Đến nơi, tiếng súng đạn vẫn còn liên hồi. Xác BS Tuấn nằm cạnh hố cá nhân có y tá bên cạnh. Tôi đẩy BS Trần Đông A xuống trực thăng và đưa xác BS Nghiêm Sỹ Tuấn và thương binh lên tàu, đến phiên tôi lên trực thăng, tên xạ thủ Đại liên không cho tôi lên tàu. Tôi nhanh trí nói tao mới đưa bác sĩ vào thay thế và phải đưa xác bác sĩ tử trận về làm autopsy, tên xạ thủ ngu ngơ cho tôi lên tàu. Tôi quên nói là BS Trần Đông A trước khi xuống trực thăng còn nghẹn ngào nói với tôi: Nếu moi tử trận thì toi cố gắng đem xác moi về. [BS Trần Đông A hiện giờ là Dân biểu Quốc hội của Cộng sản Việt Nam]. Anh A, nếu Anh đọc được bài viết của tôi, tôi xin Anh nhớ là Nhảy Dù không bao giờ bỏ xác đồng đội, dù phải tan xương nát thịt chúng tôi cũng phải đem xác đồng đội về với gia đình họ.

Về đến căn cứ TQLC Hoa Kỳ, chúng tôi lo tắm rửa cho Anh Tuấn. Tôi lại được lệnh xin trực thăng đưa xác về Phú Bài rồi xin phương tiện C130 đưa về Tân Sơn Nhất, khi đến nơi có Đại đội Xe Hồng thập tự đưa xác Anh Tuấn về Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa. (1) Tôi lại phải đến gia đình Anh Tuấn báo tin buồn. Tôi bất mãn, vì mất ăn mất ngủ mấy ngày, quân phục không được thay, không được nghỉ ngơi, trong khi ông Phụ tá Hành Chánh Tiểu Đoàn Quân Y Nhảy Dù, quân phục sạch sẽ thơm tho nhàn hạ thì không làm việc đó.

Tôi đến nhà Anh Nghiêm Sỹ Tuấn vừa báo tin thì sóng gió nổi lên ngay. Họ cho là chúng tôi phe đảng bất công, giữ BS Tuấn ở Tiểu đoàn Tác chiến quá lâu nên con của họ phải tử trận. Tôi buồn bã thất thểu ra về, nghĩ là mình đã liều thân phóng mình vào lửa đạn để đem Anh Tuấn về mà còn bị những lời xỉ vả oan uổng này. Cô em Anh Tuấn, mỗi lần tôi đến thăm đều rót cho tôi ly nước trà, nhìn tôi oán hận. Có lần tôi nói đùa khi cô lập gia đình có ý chọn người chồng tương lai là bác sĩ hay là giáo sư như các Anh khác của cô. Cô nói cô không thích nhà binh, chồng cô không được xa cô, không vất vả như Anh Nghiêm Sỹ Tuấn nhưng phải có học hơn cô nghĩa là có bằng đại học. Tôi nói đùa với cô là tôi bị rớt đài rồi, cô an ủi tôi: Thì anh cố cầu nguyện đi thì anh sẽ có được hy vọng.

Như tôi đã kể, tôi cũng là thân tình với gia đình Anh Nghiêm Sỹ Tuấn, nhưng bây giờ thì không còn gì vì tôi đến với họ chỉ toàn là đem tin buồn thêm cho gia đình thôi.

Anh Tuấn ít giống như các Y sĩ TĐND. Anh không có vẻ oai phong ngang tàng đầy quyến rũ như các Y sĩ QYND khác. Anh là một thư sinh, như một giáo sư triết học. Tôi quý mến Anh. Mong được làm bạn với Anh nhưng bây giờ thì hết rồi. Tôi luôn luôn nhớ đến Anh, đến gia đình Anh trong đó có tất cả mọi người mà tôi quý mến. Thời gian qua mau, bây giờ sống trên đất Mỹ, lại là kẻ vô tổ quốc sống nhờ ở đậu, nghĩ đến cuộc chinh chiến đã qua mong sao nó chỉ là giấc mộng.

TRẦN ĐẠT MINH

Orange County, 2018

1. Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận ở Khe Sanh, trong khi linh cữu chưa về đến Sài Gòn, Bác sĩ Lê Văn Châu tức nhà văn Trang Châu gốc TĐ6ND là người đầu tiên được chỉ định đến báo tin cho gia đình Nghiêm Sỹ Tuấn. Linh cữu Nghiêm Sỹ Tuấn từ Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương Huế được đưa về Tân Sơn Nhất, quàn ở Sài Gòn, chứ không đưa về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Nghiêm Sỹ Tuấn sau đó được an táng tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Sài Gòn.

Những năm “cải tạo” ở Bắc Việt

vietmessenger.com

Trần Huỳnh Châu

Post by Sơn râu 9 Dec 2025

Phần 2: Những người Phục Quốc bị đày ra Bắc

Tháng 4 năm 1977 trại chúng tôi đón tiếp một số khách mới, từ Miền Nam ra. Tối hôm ấy, khoảng 8 giờ, chúng tôi thấy khoảng mười chiếc xe đò chạy vào sân trại. Trước đó, một số tù hình sự đã được di chuyển đến nơi khác để có phòng trống.

Sân trại được thắp đèn sáng lên. Chúng tôi leo lên sập, nhìn qua cửa sổ để quan sát. Nhìn thấy từng cặp đeo “đồng hồ Seiko” từ trên xe bước xuống, chúng tôi biết đây là những người đồng cảnh ngộ với chúng tôi rồi. Ở trong tù, lúc nào chúng tôi cũng muốn gặp người mới đến để hỏi xem có tin tức gì bên ngoài không. Tin tức bên ngoài cũng cần thiết cho chúng tôi sống như là cơm nước. Nhưng tối hôm ấy, chúng tôi không được tin tức gì vì anh em mới đến được dọn vào các buồng khác. Trưa hôm sau, chúng tôi hỏi nhỏ mấy người làm bếp lúc đưa cơm thì được biết đó là những người trong Nam mới ra. Sự ngăn cách các buồng giam làm chúng tôi chưa hỏi gì thêm được. Nhưng đến đêm hôm sau, chúng tôi nghe tiếng hát đồng ca bài “Việt Nam Việt Nam” từ bên phòng giam của những người mới ra, vọng lại. Phía chúng tôi tuy cũng có hát nhạc Miền Nam cũ, nhưng thường chỉ hát nhỏ với nhau thôi, không dám hát lớn. Nay nghe những người mới ra hùng dũng hát lớn như thế, chúng tôi khoái lắm. Nhưng vẫn chưa nói chuyện với nhau được.

Phải đợi đến một đêm Văn nghệ sau đó vài tuần, mới có cơ hội nói chuyện nhiều. Khi ra sân trại (sân nầy vẫn nằm trong vòng rào), chúng đã ngăn cách từng buồng phải ngồi riêng rẽ, cấm liên lạc nói chuyện với nhau. Nhất là số mới ra, lại ngồi hẳn ra một khu riêng biệt. Nhưng rồi chúng tôi cũng liên lạc với nhau được bằng cách nháy nhau đi tiểu. Vào đi tiểu nói chuyện lâu quá sợ chúng để ý thì kéo nhau về chỗ ngồi, cứ làm như là hai người ở cùng buồng. Nói chuyện đủ rồi thì một người lại đứng lên đi tiểu, khi trở ra về chỗ đúng của mình, là xong. Nhưng cũng không phải dễ. Đêm tối lờ mờ, bọn cán bộ không nhận mặt được nhưng còn bọn “antenne” (bọn làm tay sai dòm ngó anh em báo cáo với cán bộ). Chúng nó dòm ngó dữ lắm.

Những tin tức chúng tôi nhận được đêm hôm đó thật vui. Bây giờ nghĩ lại, chúng tôi thấy là mình cũng chỉ lạc quan tếu. Theo những tin tức đêm hôm đó anh em Phục Quốc trong Nam ra nói thì chúng tôi tưởng như có thể chiếm lại Miền Nam trong vòng vài tháng nữa thôi. Anh em say sưa nói về những hoạt động của Phục Quốc ở Miền Tây, ở Nha Trang, ở Sàigòn v.v…. Tôi đã gặp những em học sinh còn trẻ hăng hái nói về phong trào chống Cộng trong học sinh, sinh viên Sàigòn. Tôi nghe các em nói, thấy khí thế hăng hái của các em mà xấu hổ cho đám chúng tôi. Phía chúng tôi đại đa số là công chức, quân đội, cảnh sát, tình báo, là những thành phần đã từng có chức quyền khi trước, vậy mà khi đi ở tù chẳng tỏ ra có chí khí gì, phần lớn vẫn giữ tinh thần công chức thụ động và ngoan ngoãn, một số thì rất tồi bại. Tôi cũng biết là trong trại tù Cộng sản không dễ gì chống đối, nếu chống đối thì cái chết coi như cầm chắc trong tay; tuy nhiên chúng ta vẫn có thể giữ vững tư cách con người, tu luyện ý chí bất khuất mà chúng không thể làm gì được. Hoặc ít ra thì đa số chúng tôi cũng phải có những nhận định sâu sắc về Cộng sản, nuôi ý chí đấu tranh để sẵn sàng hoạt động khi có cơ hội: Nhưng phải nhận rằng đa số chúng tôi không được như vậy đâu.

Tôi có gặp 2 em học sinh thấy còn ít tuổi quá, tôi hỏi vì sao hai em lại bị bắt và đưa ra đến ngoài nầy. Hai em hãnh diện trả lời: ‘‘Chúng cháu xử tử Hồ Chí Minh”. Tôi hỏi xử tử như thế nào. Hai em kể lại:

“Hôm đó chúng cháu đang học tại trường, gặp giờ nghỉ vì không có giáo sư, thấy bức ảnh HCM treo trong lớp đáng ghét quá; chúng cháu gỡ ra để trên bàn rồi lập phiên tòa để xử tội. Cháu làm Chánh án, thằng nầy làm Biện lý, một thằng nữa làm Luật sư. Biện lý buộc tội HCM, Luật sư biện hộ. Cuối cùng, cháu tuyên án Hồ Chí Minh phạm tội phản quốc, phải xử tử. Thế là chúng cháu xé nát ảnh Hồ Chí Minh để thi hành án tử hình. Ông Hiệu trưởng nghe chuyện, chạy đi báo Công an đến bắt chúng cháu. Sau một thời gian ở trại Lê Văn Duyệt Gia Định, hai đứa chúng cháu (Chánh án và Biện lý) bị đưa ra Bắc, còn thằng đóng vai Luật sư thì đuợc tiếp tục ở tù trong Nam”

Thành phần Phục Quốc đưa ra trại Quảng Ninh chuyến đó gồm, phần lớn là học sinh, sinh viên. Về tôn giáo, tôi biết có 5 Linh mục Công giáo, và một số Thượng toạ, Đại đức Phật giáo. Giới trẻ trong số nầy, dù đang ở trong trại tù Bắc Việt, vẫn giữ được khí thế. Trong phòng giam, anh em vẫn tổ chức các nhóm sinh hoạt mỗi đêm, đàm luận tình hình, giữ vững tư tưởng chống Cộng, ca hát những bản nhạc Miền Nam cũ. Anh em hát ca những bản nhạc chống Cộng như bản Cờ Bay (ca ngợi Quân lực VNCH chiếm lại Cổ thành Quảng Trị), bản Trên Đầu Súng, v.v… Cán bộ trại giam ít khi muốn vào các phòng giam của anh em Phục Quốc vì anh em hay nói xiêng xỏ hoặc hỏi những câu mà cán bộ không trả lời được. Ví dụ trên phòng giam nào cũng có đề “Trật tự, Vệ sinh, Văn minh, Lịch sự”. Khi cán bộ vào, anh em chỉ khẩu hiệu nầy và hỏi cán bộ:

– Chúng tôi không được cấp phát xà-phòng, bàn chải răng, kem đánh răng, vậy phải làm sao để “Văn minh, Vệ sinh” đây?

Cán bộ trại giam chỉ còn biết lẩn đi, vì biết rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Miền Bắc cái gì cũng thiếu, trên nguyên tắc thì trại giam có cấp phát những thứ ấy, nhưng trong thực tế thì một ống kem đánh răng nhỏ cả năm mới được phát một lần, làm sao dùng đủ. Anh em Phục Quốc mới được đưa ra Bắc, mấy tháng liền không được cấp phát gì cả, mà chúng không giải quyết được. Anh em cứ làm như ngay tình, thắc mắc:

– Hồi chúng tôi ở trong Nam, được học tập, được biết qua sách báo, rằng chế độ xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là hơn hẳn, và Miền Bắc đã thực hiện chế độ xã hội chủ nghĩa trên 20 năm nay rồi, chắc chắn là kinh tế rất tốt đẹp, cái gì cũng có, đây chắc là cán bộ ăn chận của chúng tôi đấy.

Người khác giả vờ đả lại:

– Không đâu, cán bộ là con người xã hội chủ nghĩa, ta là con người ưu việt, đâu có ăn chận bao giờ.

– Thế thì tại sao xã hội chủ nghĩa là nhân đạo, kinh tế, xã hội chủ nghĩa là tốt đẹp, cán bộ xã hội chủ nghĩa là trong sạch, mà chúng ta lại phải cải tạo một cách đói khổ, dơ bẩn, thiếu thốn thế này?

– Thôi bạn ơi, đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm.

Cứ thế, kẻ tung người hứng, cán bộ Cộng sản đành phải lẩn đi vì không sao đối đáp nổi. Nhưng tất nhiên, không phải chúng để yên như thế. Về sau, chúng tách những anh em này ra, đem vào trại Cẩm Thủy (Thanh Hóa), và đàn áp dã man.

Lễ Phật Đản Năm 1977

Hồi mới đến trại Quảng Ninh, tôi ở phòng số 3, sau qua, phòng số 6, rồi phòng số 4, cuối cùng là số 2 trước khi chuyển trại vào Thanh Hóa. Ngày Phật Đản năm 1977, tôi ở phòng số 4. Phòng nầy chứa khoảng 70 người, do anh Nguyễn Phi Thăng (trước là Thiếu tá Cảnh sát), làm Buồng trưởng. Kế cận phòng nầy là một phòng nhỏ dùng làm Trạm xá, để cho các người bệnh trong trại đến nằm, dưới sự trông nom của bác sĩ Văn văn Của (cựu Đại tá Đô trưởng Sàigòn). Tuy là có bác sĩ của ta trông nom nhưng chẳng có thuốc men gì, bác sĩ Của thường chỉ chữa bệnh bằng châm cứu. Phòng nầy chỉ đủ chỗ cho chừng 5 người bệnh.

Gần ngày Phật Đản có một vị Đại đức sang trạm xá nằm chữa bệnh. Tôi rất tiếc là, qua mấy năm, tôi đã quên tên vị Đại đức nầy, chỉ nhớ là người Miền Trung. Vị Đại đức nầy còn giữ được một bộ áo cà sa, mõ, và một bức ảnh Đức Phật cỡ nhỏ. Trạm xá với phòng số 4 coi như một phòng vì được phát cơm canh chung. Chỉ đến tối mới khóa cửa riêng, không liên lạc được với nhau. Phòng số 4 chúng tôi lúc đó có Bùi Tường Huân và Hoàng Xuân Hào (cựu Nghị sĩ) vốn là Phật giáo, cùng với tôi bàn nhau tổ chức lễ Phật Đản đơn giản trong phòng giam, nhân dịp có vị Đại đức đAng nằm ở Trạm xá. Chúng tôi nói nhỏ với một số người, nhưng phần lớn đều tỏ vẻ ngại ngùng vì sợ bị báo cáo. Nội quy trại giam ghi rõ là cấm sinh hoạt tôn giáo, cấm giảng đạo, cấm tuyên truyên tôn giáo. Đến ngày lễ Phật Đản, ngoài 3 chúng tôi, có được thêm 2 người dự. Tất cả là 5 người, với vị Đại đức là 6. Chúng tôi tổ chức vào buổi trưa, tại phòng ngoài của Trạm xá. Tiếng mõ, tiếng kinh buổi trưa hôm ấy đã ghi vào lòng chúng tôi một kỷ niệm êm đềm. Tôi không hẳn là người Phật giáo – tôi tin có Thượng Đế, thờ cúng ông bà, yêu cảnh chùa và yêu cảnh nhà thờ. Tiếng mõ tiếng kinh trong trại giam Cộng sản quả thật là chuyện hi hữu. Anh Buồng trưởng Nguyễn Phi Thăng nằm trong phòng số 4 chắc có nghe tiếng kinh tiếng mõ, nhưng giả vờ ngủ để khỏi phải báo cáo sự việc cho cán bộ.

Bác sĩ Của nằm ngay phòng trong của Trạm xá, chắc cũng giả vờ ngủ. Niệm kinh xong, vị Đại đức giảng một bài giảng ngắn cho chúng tôi đại ý cho rằng với quan niệm Sắc – Không của Phật giáo thì dù ở tù hay ở ngoài cũng chẳng có cái gì ràng buộc ta được. Chúng tôi chúc nhau nhân ngày Phật Đản rồi sau đó Đại đức tâm sự với chúng tôi rằng, nếu tình hình thay đổi, Cộng sản sụp đổ, Đại đức ước mong có cơ hội lập một ngôi chùa trên vùng núi đồi nầy để ở laị đây trụ trì cho đến mãn đời. Buổi lễ Phật Đản chỉ đơn sơ có thế. Nhưng đó là buổi lễ Phật Đản ghi khắc sâu đậm nhất trong lòng tôi. Bài kinh, bài kệ đều rất ngắn, không có cơm chay, không có chè, chẳng có trái cây, chỉ có hình Đức Phật, một tấm hình thật nhỏ, ba cành hoa thật nhỏ mà chúng tôi hái được đâu đó phía sau buồng giam cầm, trong một chiếc lọ thật nhỏ nguyên là lọ thuốc Tribevit. Có thế thôi, nhưng trong lòng chúng tôi đều thấy lâng lâng, nhẹ nhàng thanh thóat, và trong cuộc đời sắc sắc không không nầy, lý thuyết Mác Xít và gông cùm Cộng sản như có đấy mà như không có, đã không ràng buộc nổi chúng tôi, không vấn vương nổi chúng tôi, mà ngược lại, còn làm chúng tôi thấy thương hại cho những người Cộng sản mê mụội không sao có thể hiểu được những kẻ đang ở trong trại giam của chúng lại hình dung thấy một kiểng chùa trên núi đồi xã Thống Nhất huyện Hoành Bồ sẽ thay thế trại giam.

Ngày Quân Lực 19- 6-1977

Sáng 19-6-1977, chúng tôi thức dậy, thì nghe từ phía phòng giam Phục Quốc tiếng hô “Nghiêm! Chào cờ!”, rồi nghe hát Quốc ca của chúng ta “Này công dân ơi…”. Tôi cùng anh Nguyễn Ngọc Xuân (trước là Thiếu tá Quận trưởng Hoài An, Bình Định), nhìn nhau bồi hồi cảm động.

Hôm sau chíng tôi được biết là anh em Phục Quốc đã tổ chức chào cờ, tưởng niệm chiến sĩ Quân lực VNCH, rồi có một bài nói về ý nghĩa ngày Quân Lực. Theo anh em Phục Quốc nói lại thì ngày Quân Lực được xem như ngày Quốc Khánh, vì lẽ có nhiều nhóm Phục Quốc, nhất là nhóm Công giáo, không đồng ý ngày Quốc Khánh là 1-11.

Hôm đó nghe bên Phục Quốc hát Quốc ca kỷ niệm ngày Quân Lực, anh em chúng tôi thuộc các phòng số 6, số 5 ném bánh kẹo và thuốc lá sang phòng số 7 là một trong những phòng giam anh em Phục Quốc. Bánh kẹo, và thuốc lá trong trại giam Cộng sản là nhữg thứ còn quý hơn vàng. Ném sang tặng nhau như thế là cử chỉ bày tỏ sự quý mến đến mức tột bực rồi đấy. Phòng số 4 chúng tôi ở xa, không thể ném bánh kẹo sang được, chỉ biết nghe Quốc ca và nhìn nhau bồi hồi cảm động, và khâm phục lòng dũng cảm của anh em Phục Quốc.

Sau vụ này, Cục Trại Giam (thuộc Bộ Nội Vụ, Hà-nội xuống giải quyết. Chúng chọn lựa một số ít trong hàng ngũ Phục Quốc để lại Quảng Ninh. Còn phần lớn anh em Phục Quốc cùng với một số ít chọn trong thành phần phía chúng tôi, được di chuyển vào Thanh Hóạ, trại Cẩm Thủy, thư từ gọi đề số 90A (về sau chúng tôi cũng vào Thanh Hóa nhưng ở trại số 5, thư từ gởi đề 50A).

Năm vị Linh mục Công giáo ở lại Quảng Ninh, nhưng ở biệt giam trong phòng kỷ luật. Phòng số 4 chúng tôi hai người ra đi là anh Bùi Tường Huân và anh Trịnh Tiếu. Anh Nguyễn Vạng Thọ cũng ra đi trong đợt nầy .

Lúc đó là mùa hè năm 1977.

Sau nầy, chúng tôi nghe những người đã ở trại Cẩm Thủy kể lại là anh em Phục Quốc vào đến trại nầy vẫn tiếp tục đấu tranh nhưng bị đàn áp dã man, chúng phân tán, giam kỷ luật, cùm chân, bỏ đói. Về sau, anh em đành phải chịu làm khổ sai và kép kín tâm tư để sống còn chờ qua cơn đàn áp.

Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 9 Dec 2025

Nhớ:

– Thầy cũ, ông Bernard BOUROTTE, Xin thành kính dâng quyển này in lần đầu 3.700 cuốn đề tưởng niệm 3.700 lần. Ông dạy môn sử-dịa tại trường Chasseloup-Laubat (Saigon) trong ba năm: 1920 đến 1923. Ông đào luyện nhiều thế hệ sanh viên ở Sài-gòn, Huế, Hà-nội, Phnom-penh, rồi Sài-gon.

Kể về sử Việt, sử Miên, ông là người biết nhiều hơn ai … Ông về mất tại quê nhà ở Les Sept Pommiers, tinh Lisieux (Calvados, Pháp) ngày 11-10-1968; vợ là bà Andrée Bourotte mất trước ông, ngày 15-12-1967.

Tội nghiệp vợ chồng già, không con nối hậu, bà đi ông ở lại làm gì?

Nhớ ơn dạy dỗ hết lòng, nhớ hai ngày 8 và 9 tháng 6 năm 1963, sống với hai ông bà tại nhà cồ Lisieux, như trong giấc mộng. Tưởng niệm muộn nhưng chí thành.

                                                  Ngày 9- 6- 1972

                                                  V. H. S.

Tự

Sách không đề tựa, trơ trẽn như người thiếu mũ khăn; phải có “nón ” đề hợp lễ khơi màu. Ra đi hăng hái bao nhiêu, – tôi muốn nói khi bắt tay soạn tập nhỏ này, – nay về tới mức, chán chê buồn buồn, khó nói, buồn thiu buồn thiu, thiếu điều buồn đứt ruột. Sách! Mầy thà chết yều! Giá giấy lên, nhơn công mắc, hình dở mà tính giá ghê hồn, còn gì nữa? Chỉ tội nghiệp thân sách, làm vật tặng hảo, không đem được đồng xu cạo gió. Một xa-xí- phầm dư thừa, “có cũng chợ đông, không thì chợ cũng nhóm, không không bữa nào».

Duy tác giả là khồ: đe dọa chập chòng, hứng đâu còn mà tiếp tục viết? Ngồi không, tính sổ: Hiếu-cổ đặc-san, đến nay, ra được sáu số: cũng thọ đấy nhỉ?

Mọi việc êm đẹp, đều nhờ ơn một người, – ông Cò-Trung-Ngươn. Nếu nói làm vậy, quý vị thấy nhàm tai, xin miễn đọc bài tựa và cứ nhảy qua trương khác. Tập số 6 nay, lựa nhan đề là “Cuốn sồ tay của người chơi Cổ-ngoạn “. Phần đầu, nêu ra vài ba món từng nghiên cứu; phần sau chừa đề ba-hoa chung quanh vài kinh-nghiệm riêng. Sách được dày, tiền nhuận-bút sẽ sưởi ấm mấy ngày chót của tiết đông-thiên muộn.

Tóm lại: trong ba tập đầu, tôi dọn đường cho thấy cái vui của thú chơi cồ-ngoạn.

Tập 4 và tập 5 là phần chuyên-môn, tuy khô khan nhưng rất quan trọng, người nào đọc để chơi sẽ thấy thêm nhức đầu, tốt hơn đừng đọc. Người nào muốn học, phải dày công nghiền ngẫm. Chừng nào nhập thần, họa may sẽ hiều chút ít về đồ xưa. Phải lậm, phải mê, mới biết.

Tập 6, như tên đã gọi, cho biết thêm: Thế nào là cổ vật? Thế nào là thực hành?

Tập 7, nếu tiếp tục xuất bản, như đã nói trước, sẽ là cây violon d’Ingres, cây vĩ cầm sở trường: “Khảo về đồ sứ men lam Huế”.

Tập 8 là tập hồi-ký: “Hơn nửa đời Hư”. Không viết cũng được, vì mấy ai khoe thẹo? Mấy ai khai tệ việc mình, không bán lúa giống cũng mắc tội bày điều đặt chuyện.

Tập 9, nhan đề là “Một bộ môn sưu tập trong hai năm”, vừa tặng người tri kỷ, vừa kết thúc, vạch thêm chi tiết “thú vui chơi ấm chén ” và tìm hiều đồ sứ cồ đất Thần-kinh. Bác-sĩ, dược-sư, có sách dâng đến tận nhà, mình thua đã đành. Lại thua luôn anh lái xích-lô máy khi anh ăn điểm-tâm, thấy mà lé mắt. Trót lựa một nghề thua hết cả thiên-hạ, có khi mửa máu không đủ bôi tờ giấy lộn. Gẫm lại lúc nhỏ không chọn nghề bác-sĩ, tại sợ thây ma. Tuy không làm dược-sư, chớ nghệ-thuật biết mặt hoa lá, có kém ai, từ hoa biết nói đến hoa có gốc rễ.

Nhưng lỡ sanh xứ phèn, muốn làm thi-sĩ cũng không xong, vì tên cây cỏ miền Nam toàn là tục-tĩu. Dây gì dây thúi địt? Hoa gì hoa cặc chó? Cây gì cây dái ngựa? Ông thần thơ cũng phải chạy. Người phu xe là sướng nhất: quần đùi, xà-lỏn, lù coi cũng không ai nói.

Cái số « không gia cư nhất định”, khiến nhà ở một chỗ, không dời nửa tấc dất, thế mà bấy lâu mang số 5 đường Nguyễn-Thiện- Thuật, bỗng đầu năm đồi làm số 11, nay mới mấy ngày rày, sửa lại số 9/1. Vậy xin rao khắp bà con cô bác, coi chừng kẻo lộn nhà. Lỗi không phải tại tôi. Chán nản vì bác-sĩ bắt ăn cơm cữ muối.

Thế mà giá thử giờ phút này lão thần lòi ba sườn tay cầm lưỡi hái đến, sẽ bắt lão xóc giùm bó củi lên vai, chờ viết xong vài ba tập nữa, như lão không chờ được thì hãy đi chỗ khác, tôi không cần biết. Đời đã đảo ngược từ lâu, không phải mới. Sách đã hoàn thành lâu hoắc, nay mới làm bài tựa.

Cẩn tự,

Gia định, ngày 6 tháng Giêng tây năm 1972

(20 tháng mười một năm Tân-hợi).

Vân-Đường-Phủ, Đất-cổ-trai

Vương-Hồng-Sển.

Chương 1

Lời tự thuật của một cô tân thời có chồng mê dĩa hát.

(Riêng tặng các cô có chồng ham thích sưu tập)

Tôi có chồng năm 23 tuổi, vừa ra trường Đại bọc Văn Khoa Huế, cũng vừa buông cuốn sách. Tưởng thảnh thơi vài năm để chọn lựa, ai dè số kiếp, biết làm sao? Trang lứa của tôi, có đứa đã tay bồng tay ẳm, vì chúng nó có bóng sắc, tóc thề chưa chấm vai, chồng đã cưới. Không phải tôi xấu xí, nhưng vì cha mẹ dư ăn, kén rễ, bọn đào mỏ đều bơ. Mảng theo chữ với nghĩa mà cái xuân thỏn mỏn, gặp anh nầy thì té ra mình già kén kẹn hom, không lấy trai tơ lại đụng phải một anh lừa xương nhả sạn, nghe đâu anh đã một lần thay vợ. Tôi không tủi phận lại còn cả khuyên chị em nèn lựa bạn đi đường trộng tuồi và già kinh nghiệm, vì mẹ tôi thường nhắc thứ trai tân là ngỗng đực, thà chồng có tuổi, vững lèo lái và biết càng trọng vợ hơn. Tôi xin thêm: chắc yên thân hơn. Về sự yên thân thì khỏi nói, ảnh có sự nghiệp sẵn, có ba cái ô-tô, nhà chánh ở Sài gòn, nhà mát ở Long Hải, duy mỗi lần ra đó đều gặp ma xin tiền, nên nhà có hai mà ở một. Vả lại tôi thường ngồi xe, ít khi ở nhà. Liễu yếu dựa bóng tùng, gọi yên thân nghe chướng chướng, vì tôi ví thân như liễu, e không đúng danh từ, tôi đánh tơ-nít một cây, bơi lội như rái và khi tôi lái xe thì phải biết. Muốn mua một bao diêm, tôi xẹt một cái vù, bất chấp đèn xanh đèn đỏ, duy đừng ai hỏi tôi có biết đi chợ không, vì đi chợ là cái thá gì, trong khi trong nhà đã có ba người hỏa-đầu-quân, một nấu đồ Tây hạng đeo dây cordon, không phải huy chương Bắc đầu, nhưng chánh thị là đầu bếp giỏi (cordon bleu), một thiện nghệ đồ Tàu và chị vú già, đừng tưởng lơ mơ, khéo trở bữa từ bún bò, bún thang đến bò giá tréo, vịt ba món: xương khía, cô làm dồi nhấp nháy, nhứt là bộ lòng chưng ăn với ghém bắp chuối hột, ôi cha, nhắc đến mà thèm chảy nước miếng! Chừng nào ba người ấy đồng hè thôi một lượt, có lẽ chừng ấy tôi phải xách rổ, á mà quên, còn nhà hàng quán nhót, lại nữa ai bỏ tật ngủ nướng cho mình?

Quả là nói chuyện trời nghiêng đất méo. Quên giới thiệu: chồng tôi có tật hút pip. Pip có trên một trăm ống, một bộ môn không ai có, đến anh chà Ismael còn chạy mặt nữa là. Hương gây mùi nhớ, biết hút mà thay đổi pip hoài hoài thì hút ống điếu cối thêm vẻ oai nghi, riêng chồng tôi khi ngồi chễm chệ nơi văn phòng, miệng ngậm ống kéo nghe bắp bắp, cái píp trơn láng làm cho cái trán bớt sói, hay là anh khéo lựa mình như đã lựa ống điếu!

Chồng tôi ưa sưu tập dĩa hát. Trong nhà đã có đủ thứ máy tinh vi, từ cái phát thanh National, đến cái truyền hình Sanyo, máy thâu băng và máy hát rất kim thời, ảnh để chật một phòng rộng lớn, khi tôi viết đến đây, tôi tưởng tượng những người đọc văn tôi, ắt thèm thuồng địa vị của tôi, hạnh phúc của tôi, nhứt là nếu độc giả ấy là một mãng phụ chẳng may phòng không chích bóng hay một cô tân khoa đang kén cá chọn canh, làm sao khỏi thèm thuồng cảnh ấm êm, sau buổi cơm tối, chàng ngồi phì phà ống cối, nàng ngồi mơ mộng xem báo có hình màu, quanh quần bên tiếng hat du dương từ các máy ấy phát ra. Nhưng hãy khoan hối hả, hãy để tôi nói hết rồi sẽ biết.

Chồng tôi ham sưu-tập dĩa hát cũ, từ dĩa Cô Ba Ngoạn, tuỗng giễu “lên ăn tiệm tiên lầu biểu xào tô mì thổ-thần » đến dĩa ông Huỳnh Trí Phú, «Cô Hai Huê làm Nguyệt-Kiều xuống tóc đi tu», tôi thì tân thời thấy dĩa Cô Bảy Phùng Há nhại Joséphine-Baker bài «hai mối ân tình» (Zè-đờ zà múa: J’ai deux amours), mình muốn nghe hết sức, năn nỉ ảnh, ảnh lại ép nghe hát bội: «lùng tùng phèng là lùng tùng phèng»! Nay tôi nói rồi, ai có muốn nhào vô thì tôi xin mời. Từ ba năm nay, tôi sống trong cảnh đó, Thiên-thai hay là địa ngục?, cũng khó nói cho thông. Đang ngủ lim dim thì cây kèn song-hỷ phát lên rồi giọng hát khách gần bể nhà. Nằm suy nghĩ một chút cũng không được, cũng tại vì có chồng mê sắm dĩa hát xưa! Nói chí phải, khi cưới tôi thì ảnh đâu có như vầy nè! Nói chi đáng, cũng tại mình hết thảy. Khi hai đứa tôi lấy nhau, chồng tôi là một người ham trồng hoa lan và là người giàu hoa lan bực nhứt bực nhì trong vùng Sài Gòn lên tận Thủ Đức và Đà Lạt. Một giống lan lạ ở bên Xiêm bên Tây, hễ người ta có thì ảnh cũng phải có, tiền rừng bạc biển chôn vào mấy kiểng hoa giụm miệng lại như một bài thơ «hàm tiếu», khen cho trời già cũng biết nịnh đầm. Riêng tôi thì ưa thể thao, nhưng cũng ham thích cho chồng tôi chọn thú tiêu khiển chơi hoa lan, vì nó cầm chơn người đàn ông ru rú dưới giàn hoa tối ngày và dẫu nó đẹp cách mấy, cũng không biết giựt chồng như nhiều thứ lan hai cẳng. Khi lên xe hoa, mẹ tôi đã dặn: đừng cho chồng hút xái, mê gái mê l., chơi hoa có lợi nhiều hơn là có hại.

Quanh năm hạnh phúc lạ lùng trôi như nước chảy dưới cầu, tôi yên trí, ngày ngày cùng chị em bạn gái, đua nhau xách xe đi tắm bích-xinh, phơi nắng hay tranh giải quần vợt, trong khi chồng tôi vẫn run rút «môn trung bất xuất», – một cây kéo cắt kiểng cầm tay, một nón lá che đầu, bắt sâu tỉa lá, không làm chánh trị, cũng không nhập hội nầy bội kia … Hoan hô thú chơi lan đã giúp tôi không biết cái ghen là gì!

Chúng tôi kết hôn với nhau tính đã ba năm tròn, mà tôi chưa được cái vui «đi thử thỏ». Cuối năm Kỷ-dậu (1969), chồng tôi bỗng cho tôi một cái vui bất ngờ là mua cho tôi một biệt thự trên Đà Lạt. Chừng trao tờ bằng khoán, tôi thấy tôi đứng tên một mình, hỏi, mới biết cái nhã ý của chàng là mua làm quà biếu tôi, cho mua xoàn mua cẩm thạch hoài vô ích: «Miễn anh mãn đời được ở cạnh bên em», lời nói chí tình khiến tôi cảm động và thêm khắng khít.

Hôm lên nhận nhà, tôi mới rõ dây oan trái và số kiếp con người có khi bé bỏng còn nhỏ hơn đầu kim mối chỉ.

Đời sống hai đứa tôi bỗng thay đổi cũng vì mua cái biệt thự ở Đà Lạt này. Lão chủ cũ nhận tiền rồi ra đi mình không, để lại trọn vuông nhà, hoa viên chậu kiểng luôn và thập vật từ khí tế nhuyễn, không lấy đi món nào, trong số nên để ý một cái máy hát cũ hiệu Columbia, thứ hai dây thiều, lại với mấy chục chồng dĩa hát chứa đầy một tủ lớn. Lúc ấy tôi vẫn tưởng đó là những dấu tích gàn, vô thưởng phạt, của một ông già quen sống độc thân ích kỷ, tôi không dè đó là một thứ bùa ngải ma quái đã ếm vợ chồng tòi, khiến bỗng lần hồi thay đồi tánh tình và cũng gàn ương như lão không mấy chốc.

Từ lên Đà Lạt chuyến ấy, không biết bão to ở đâu mà mưa gió lu bù, không thể ló mũi ra đường được, thành thử hai tôi đành nằm nhà, và không biết làm gì đề giết thì giờ, tối hôm đầu, chúng tôi lấy dĩa hát ra lau sạch sẽ, đặt lên cái mâm tròn có lót nỉ xanh, lên dây thiều và cho máy chạy.

Cái máy bởi lâu ngày ít dùng nên đóng mốc, nhưng vốn là thứ có đến hai dây thiều nên rất mạnh, chừng thấm dầu, nó chạy ngon lành, còn có nước bụm tai. Ban đầu tôi nghe ri rỉ như tiếng mèo kêu, rồi kế tiếp đến tiếng rột rột như ai xóc miềng sành miềng chén, rồi bỗng đâu tiếng the thẻ như dưới âm phủ kêu vọng lên: «Đây là dĩa của thầy Nam Tu ở tại Mỹ-tho, hát cho hãng Pathe-phono nghe chơi: tuồng Phan Đường, lớp Tiết-Cương tế Thiết-Khưu-Phần ».

Tôi lật đật gọi chồng xin tắt máy, không biết có cái gì đang nạo óc già óc non, nhức đầu quá chịu không nổi.

Nhưng một lần đầu, tôi nghe chồng tôi cãi lại: «Dĩa hay hòng muốn chết, không cho tôi nghe thì tôi lấy xe xuống câu-lạc-bộ Bờ Hồ đánh phé với ông XX Cái ông làm sao tôi vừa nghe nhắc tên, bỗng hết nhức đầu ngay và thà để chồng tôi tiếp tục hát máy, hơn là để cho đi đánh đôi đánh đọ với một người đủ tật xấu, giỏi chửi thề, giỏi cá ngựa, xì-phé và tán gái là số một, thêm có tài uống Whisky thay nước lạnh nước trà.

Ở Đà Lạt được một tuần, vợ chồng tôi trở về Sài Gòn, nhưng mấy dĩa hát và cái máy Columbia cũng tháp tùng về theo; tôi phải ngồi trước với ảnh, mua một nhánh lai-dơn cũng không được, vì trọn thùng sau đều dành cho cái máy hát và những dĩa là dĩa.

Rồi cũng kể từ ngày ấy, đường lối tự do của tôi mất lần từ nào không hay, tôi bớt đi lội và bớt đi đánh vợt, trái lại phải theo ông chồng và chiều ý ông để giữ cho vui cửa vui nhà. Tôi biết đủ hết các tiệm lạc-son có trữ và bán dĩa hát máy cũ, như đường Trần-Quý-Cáp có Chệc dơ nhứt đời, trước ở túp lều ọp ẹp thì dơ dáy đã đành, nay có tiền xây cất nhà lầu, mà dơ vẫn còn dơ; anh tích trữ từ cái ống khói đèn đến cái dĩa chữ Thọ, cái nào cũng đầy bụi bặm, còn những dĩa hát anh để trên lầu, trong xó kẹt, phải chen vào và đừng sợ mấy con nhện và bầy gián tanh hôi thì mới hòng vói tới lấy ra đem lựa. Ở đường Hai Bà Trưng, qua khỏi dốc Cầu Kiệu, có hai tiệm ngó mặt nhau, mà chủ nhà không thuận với nhau, tuy vẫn người đồng hương tỉnh Phước-kiến qua đây, cũng vì tranh giành mối hàng, một anh tôi gọi Chệc cười, vì mình trả giá nào anh cũng nhe răng làm ngoại giao, đúng giá mới thôi cười lấy giấy gói món đồ trao và nhận tiền rồi thì cười trở lại. Còn tiệm kia, người chủ họ Hồng, đã có treo tấm biển đề hai chữ mạ vàng «CHÍ-THÀNH», mà thật anh nhờ cần cù chí thú làm ăn, mà thành sự nghiệp. Tuy anh là chủ tiệm mà những việc nặng nhọc, khiêng ván khênh tủ, anh vẫn phụ lực cùng bạn ở, chẳng bao giờ nệ hà, nên tôi tớ chẳng bao giờ sanh nạnh. Anh siêng đi tỉnh kiếm hàng, nên nhà anh tuy lạc-son mà có bán đủ thứ. Từ tủ thờ tủ cần của các đại gia suy sụp đến chén xưa dĩa cổ, nhưng chúng tôi chỉ hỏi mua dĩa hát. Và sau mấy năm biến cố, anh chỉ tìm được dĩa cải lương và dĩa hát Tây, còn dĩa hát bội, ít khi gặp còn toàn hảo. Khu Trường-tiền, ở via hè đường Công Lý, ngang nhà thuốc Diệu-Tâm, có một cô tạo được một quán xinh xinh bán dĩa hát nửa sạc, nhưng nơi đây chúng tôi ít mua được dĩa nào vừa ý, vì cô bán toàn dĩa nhạc jazz hay dĩa nhạc phòng trà, mà chồng tôi đã có máy thâu thanh và truyền hình tối tân, nên đâu thích loại dĩa ấy. Chẳng bao lâu vì ít vốn, thuế tiền chỗ nặng, thêm cạnh tranh không lại người Tàu, nên nay quán của cô đã sang chủ khác và quán nầy nay bán sách cũ chớ không bán dĩa hát xưa. Có một hiệu Tân-Phước-Hoa ở tận trong Chợ Lớn mới, ngang bến xe đò đường Cần Đước, lóng trước bán dĩa hát nhiều, nay chê lời ít không đủ bù phí tổn đi mua, nên không bán nữa. Mấy nhà nầy, giữ nguyên tắc không sắm máy hát và bán dĩa với điều kiện «mua rồi không trả lại» họ không bao giờ biết dùng cây chồi lông gà quét bụi, cũng không sẵn nước rửa tay, khiến nên mỗi lần đi thám hiểm, chúng tôi cụ bị theo cam tươi để giải khát, và chuối ngon để đỡ lòng, vì chỉ có hai thức ăn ấy, nhờ có vỏ nên không sợ nhiễm độc của những bụi xập-kỷ-nình (thập-kỷ-niên) của dĩa hát tang trữ nơi các nhà tôi đã kể.

Nhiều khi với vài bạn cũng lậm dĩa hát như chồng tôi, bèn rủ nhau xuống tận Mỹ (mà là Mỹ Tho) và lên tận Tây (mà là Tây Ninh), nhưng phần nhiều đều thất vọng, vì hai nơi giàu lúa và giàu cao-su, sau mấy năm chiến tranh không dứt, nay chỉ còn máy truyền hình và rất nhiều radio xách tay, các dĩa hát và máy hát xưa đã làm mồi cho binh lửa loạn ly, người và sinh mạng còn không yên, huống chi gia tư tế nhuyễn.

Một buổi chiều thứ bảy kia, chồng tôi tự lái xe đi đến chạng vạng tối mới về nhà, cơm nước cầm chừng, ông chỉ mê một cuốn mua được tại nhà sách Xuân-thu đường Tự-Do, xem lại đó là cuốn sách mẫu rao hàng «Hãng dĩa Béka năm 1938». Cuốn sách giẹp lép mà ổng xem nặng hơn tôi và khi lên lầu trong phòng ngủ chỉ có sự hiện diện của nó. Tôi liếc thấy:

– dĩa cô Hai Đá ca Vọng-cổ: Gió bạt lạnh lùng (Béka);

– dĩa «Thương ai? » điệu «Tương-tư» và dĩa «Đêm khuya» điệu xàng xê do cô Ngọc Nữ ca, có kìm và violon phụ họa (Béka);

Rồi nào Bóng trăng tròn vạnh, Sầu chong trắng dĩa, Cách trở sông Tương, Tiếng chuông Linh-Mụ, khi Bòng Mạc, khi Sa Mạc, khi hò Mái Đẩy, khi Nam Bình, khi Nam Ai, lại có dĩa hát-bội gánh Huỳnh-trí-Phú, trọn bộ bốn dĩa tuồng San-Hậu, hay nhứt là lớp cô Hai Huê thủ vai bà Nguyệt kiều xuống tóc đi tu …

Chồng tôi đã ngủ mòm, tôi vội lấy đọc bài quảng-cáo dĩa điệu « xang xừ-líu » của Diệp-văn-Kỳ, (con ông Diệp văn-Cương) soạn,

a) mặt trước, « Trong đời mấy mặt chơi »:

« Trong đời mấy mặt chơi?

« Đủ âu yếm lã lơi, cuộc say trận cười?

« Nào giai nhân, chói môi đào má hạnh,

« Phấn điềm, hồng trang, giống tiên điện Hàn.

« Người chung tình, kẻ thanh thú,

« Mùi hương trời, dễ yêu dấu,

« Khi câu ca, tiếng hát,

« Khi chén rượu đầy vơi, thế mới phong lưu.

Tôi hết buồn ngủ, rán đọc tiếp:

b) mặt sau, « Con người phải mua vui »:

« Con người phải mua vui,

« Để tiêu khiển chút chơi, giải khuây sự đời.

« Làng tao nhơn, với cung đàn chén rượu,

« Cái cảnh phù sanh, có chi lụy mình,

«Nào công hầu, những khanh tướng,

«Gò đất vàng, nắm xương trắng,

« Trăm năm trong thấm thoát,

« Như giấc mộng Huỳnh-lương; nghĩ chẳng ra chi! Tôi muốn đọc tiếp, mà mi mắt chống hết lên; nhứt định sáng ngày xúi ảnh tìm cho ra dĩa nầy, mắc thế mấy cũng mua. Vốn tôi không ưa dĩa hát cũ, vì nó kêu rè rè, nhưng tôi lại thích câu ca cũ đượm mùi văn chương. Không chi tôi cũng có chứng chỉ cử nhân, và ý tôi muốn viết tiếp thầy tôi về «Năm chục năm mê hát». Sáng ngày tôi nói ý định cho chồng biết, bộ mặt ảnh bỗng sáng như hoa vông mới nở và buổi chiều giờ ăn cơm, tôi nhận được một chiếc cà-rá kim-cương, với điều kiện cùng nhau tát cạn biển đông, vừa mò kim máy hát và mò mấy mặt tròn tròn đen đen, giẹp giẹp, chứa giọng các cô đào hát bội: «Lưu Kim Đính hạ san do cô cô Ba Cang hát khách qua Nam»; «đào Sáu Sen hát Nam ai sang Nam xuân, vai vợ Trần Nhựt Chánh dắt mẹ đi tìm chồng »; đào Hai Quyên vai công tử bột hát giọng trọ trẹ, trong tuồng «Lục Phụng Dương đả Bàng-Bưu», nhưng thú thật kim-cương vẫn quyến rũ tôi hơn mấy dĩa nầy nhiều.

Thật tình tôi rất ghét dĩa hát đã cũ, nếu sang băng nhựa thì còn khá, nhưng kể về văn chương thì dĩa hát xưa câu văn đặt để thâm trầm, khi hát lên chát chúa tôi không nghe được nên không thích, bằng như được ai chép ra giấy và cắt nghĩa rành mạch, thì tự nhiên nó thấm vào xương tủy; ai không thích không mê văn hát bội thì chưa phải đúng là người Việt Nam! Chồng tôi thường nói lục-lạo mãi ở Sai-gòn thì khó tìm được dĩa hay, phải có công đi đó đi đây, trên những vùng có nhiều người thành thạo về nghề hát bội xưa và những nhà sưu tập dĩa cũ thì họa may, xin phép thâu băng để dành những tài liệu cũ này, chớ hững hờ thì không bao lâu sẽ mất hết những gì là di tích nền văn hóa cổ truyền của ông cha ta đề lại.

Chồng tôi ước ao được người giới thiệu, ra Phước Tuy xin ông Đốc-phủ L. cho nghe những dĩa hát thật cũ có ghi giọng hát của Bà Chung, Bà Bồn là hai đào biết rành chữ Nho và đã hát cho ông Diệp-văn-Cương nghe, lúc người nghỉ dạy đức vua Đồng Khánh ở Huế và lui về Sài Gòn nhận vai giáo sư Việt-văn trường Xách-lu. Tòi viết một câu nhỏ như trên mà phạm không biết bao nhiêu lỗi về danh từ dùng sai thời đại, vì phải nói dạy langue Annamite, chớ trước đây Việt-văn là gì, ai biết, và trường Xách-lu, nay đã lu mờ. Có báo viết « Sách-lu » càng thêm tệ, phải gọi chánh danh đúng tên theo Tây đã đặt là trường Chasse-loup-Laubat, có lẽ phải hơn. Thú thật, lúc ấy tôi ngồi nghe mà như vịt nghe sấm, chớ lúc ấy ai nói tôi mê dĩa hát như chồng thì ai đó lầm to. Và tôi đâu có chịu.

Sở dĩ chồng tôi lậm vì dĩa hát bội, thật ra không phải tại vụ mua nhà trên Đà Lạt, rồi bị ếm bởi mấy cái dĩa tròn tròn giữa rún có khoét lỗ và chung quanh lỗ có dản giấy chữ vàng, hiệu Béka, Columbia, Pathé (xưa hơn cả) hay La voix de son maitre, tôi gọi tắt «con chó», vì có in hình con cẩu ngồi lắng nghe tiếng của chủ từ trong ống loa vọng ra.

Tôi nhở lại chồng tôi bắt đầu mê nghe dĩa hát xưa là từ ngày làm quen với ông Năm, mỗi lần đến nhà vẫn kể truyện xưa tích cũ và nhắc lại những giọng phù trầm của đào kép dĩ vãng, chồng tôi sẵn có tánh ưa sưu tập văn chương, nên muốn thâu thập lại những gì thuộc văn-hóa ngày xưa, chờ lão Mai, thì khó trông cậy vào lão rồi. Lão già Năm có văn nói thật cám dỗ, khiến nên chồng tôi là một thể tháo gia, nay cũng it ra sân chơi đánh vợt và rảnh được phút nào là lái xe đi lục lạo các tiệm lạc-son, hoặc đi hỏi thăm chỗ nào có bán dĩa hát cũ thôi dùng. Từ ngày biết sưu tập dĩa, tôi có mở một cuốn sổ tay, biên giá và sở phí những dĩa mua được, tuy vậy cứ mỗi tháng cộng sổ, tôi thấy ít hao tốn hơn lúc chúng tôi lai vãng nhà ca-lâu tửu-quán, câu-lạc-bộ và bích-xinh, nhứt là nhà xec tây đường Hồng-thập-tự. Chúng tôi biết thêm được vài tỉnh miền Hậu-giang, Sa-đéc, Vĩnh-long và biết được nhiều thú vui rẻ tiền; nem khóm Bến-lức, nem Cai-lậy, trái cây ngon tươi xứ Vãng, cam quít Cái-Tàu, nghĩ ra mấy cái dĩa đen đen mặt giẹp ấy dạy chúng tôi về môn sử-địa nhiều hơn mấy ông giáo chầu xưa tại trường, nói không phải để vong ân các thầy Đại-học.

Cũng từ đó trên chiếc xe đỏ Fiat-sport của chúng tôi, phải tích trữ luôn luôn một nải chuối chín bói, mấy trái dừa xiêm lột vỏ sẵn và vài cái khăn nhỏ có thấm dầu Cologne, vì mỗi lần đi thám hiểm các tiệm lạc-son, thì không biết được trước giờ nào sẽ về đến nhà, cái cảnh ăn dạo mì chú Dầu Sa-đéc, cơm thố Mỹ-tho, bì-bún Chợ Bún là thường. Có lúc ra đi là định mua dĩa hát, mà bận về chở nhóc xe nào khóm nào sầu riêng, măng-cụt; có một chuyến đi Gò-vấp lại chở về một tá gà con Mỹ lông đỏ, nếu Hạnh-phúc biết nói, thì tiếng kêu chiu-chít của mấy chú chưa mọc lông cánh nầy là đúng cái vô tư lự và không biết có ngày mai của hai chúng tôi. Tại nhà tôi có nuôi một con gà mái, nó đang ấp trứng trên nệm ghế sa-lông. Mai nầy có khách đến dùng cơm tối, không biết phải dời chị ta đi đâu bây giờ? Nhiều bữa gặp ngày hên, mua được dĩa ước ao, về tới nhà chưa kịp cởi giày thay áo, anh tôi đã đặt dĩa mới mua cho máy chạy thử vài tua. Tiếng kèn song-hỷ thổi đưa hơi bài hát khách « … trảm Nhan-Lương, tru Văn-Xủ … » chưa dứt câu, anh tôi đã lấy dĩa xuống, phủi bụi

kỹ lưong rồi đem cất. Tôi không nhịn được, xin để nghe cho hết bài; nhưng anh tôi nói: «Nghe bấy nhiêu đủ rồi, đây là lớp Quan-Công đưa anh là Lưu Hoàng-Thúc phó hội Chân-Du; để khi khác; hát lắm nó trầy đi, uồng lắm! »

Rồi chồng tôi bất chấp tôi bực tức, ung dung lấy keo dán số mục-lục thứ tự, lấy mực vàng tô lại cái nhãn hiệu giữa rún, phủi tay huých sáo miệng, trọn ngày nhân viên lên xin việc gì cũng chấp thuận, chỉ có tôi là phân vân, không biết có nên ghen với cái dĩa mặt đen kia hay không? Từ ngày anh tôi sanh bịnh mê dĩa hát cũ, tôi phải nhượng một gian phòng gần phòng sách, trước đây dành cho bà con thân quyến lục-tỉnh lên đây ở tạm, nay anh tôi dọn thành phòng âm thanh và chứa dĩa hát và những băng nhựa thâu lại các bài bản xưa hiếm có, vừa cổ nhạc cũng như tân nhạc. Nếu không có gì trở ngại, một ngày gần đây chánh-phủ muốn lập trường «quốc dân âm-nhạc học-hiệu» (Conservatoire national de musique et de déclamation), tôi chắc phải cần dùng đến những tài liệu vô giá nầy. Tạm thời, tôi phải chịu cảnh cô-liêu chích bóng, vì có chồng cũng như không chồng, mọi việc ảnh đều giao hết cho tôi quyết đoán, tối ngày ảnh chi lo vặn nước lavabo trong phòng trữ dĩa, bồn thân rửa từ cái dĩa cho sạch lớp bụi «phong-trần» cũ, rửa rồi lau sạch không để cho tên bồi phòng phụ giúp, rồi lấy va-do-lin quet nhẹ lên hai mặt, o bế lại cái nhãn hiệu kẻ chữ vàng cho thêm đẹp, rồi lấy giấy mịn lót hai bên và cho cái dĩa cưng lên kệ tủ, đứng gần bên những dĩa khác, và những tập ảnh chứa hình các đào kep trứ danh Đông-Tây, từ Maurice Chevalier, Josephine Baker, Lý-Lệ-Hoa, Năm Phỉ, Tư Sang không quên cô Bảy Phùng-Há, Ái Liên, Tư Út, Năm Châu, chi đến Bạch-Tuyết, Ngọc-Giàu, Bảy Thông, Tư Thạch, Tám Thâu, cô Sáu Ngọc Sương, gần đủ mặt. Tôi vốn không mê tín dị đoan, thuyết luân hồi tôi cũng thờ ơ, mà tôi dám chắc anh nầy có mắc nợ các hồn ma ấy, khiến nên có tiền mà không tận hưởng, anh đi làm cái việc mất công mất linh này, thậm chí có nhiều nghệ sĩ vẫn còn sống nhăn, anh vẫn không quen biết, nhưng những người nào có vô dĩa, đều được anh thờ trong phòng riêng này.

Trên một cái bàn dài mặt đá vân thạch, anh sắp đủ thứ bàn chải lông, giẻ lau thật mềm, da nai-thuộc «peau de chamois», bông đá và mấy bộ hộp đựng kim hát máy, nay đã không còn bán mà không biết anh kiếm ở đâu ra từ kim sa-phia đến kim thép Béka, khi trước hát rồi là vụt bỏ, nay anh bắt tôi mài từ cây và không dám bỏ mất cây nào. Anh nói mài kim, tiết kiệm được tiền mua acétone để sơn móng tay và thay vì mất ngày giờ giũa móng, nay giũa kim chẳng là có ích hơn? Anh có cây kéo bén và một lọ keo tốt, tôi động đến không được, và anh thích thú ngoi cả buoi dài o bế từ cái mác (marque) cũ, hay những chữ lu mờ nhãn hiệu, anh nhái y hệt không sai một nét, còn khéo hơn họ sửa vé số và giả giấy bạc nhà băng.

Thét rồi nhà nào bán đồ lạc-son anh cũng đều quen, các tiệm cầm đồ cũ từ Bà Chiều vô chợ Phú Lâm anh đều

thuộc nằm lòng, chỗ nào còn giữ dĩa hát xưa anh đều rõ, anh chiu cực xuống đến Can Thơ nài dĩa hát của tướng Năm Lửa, lên tận đầu cầu tòa bố Sa Đéc tìm nhà Tư Hạnh là đại lý các hãng dĩa chầu xưa hỏi thăm nài những dĩa và hộp kim còn sót lại và anh không tiếc tiền đăng quảng cáo trên nhiều tờ báo, với câu vắn tắt «Ở số nhà 11 đường Ng.Th.Th. Gia Định, bằng lòng mua dĩa hát máy cũ: Giá cao». Báo hại tôi, chuyện nhà làm không hết, mà còn nhận tiếp và trả lời điện thoại, từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều, mỗi mươi, mươi lăm phút là có gọi:

– Tôi còn ở trên gác một chồng dĩa Thầy Năm Tú, mà phải giá bao nhiêu, tôi mới bằng lòng bán: của ông

bà đề lại.

– Tôi đi Lục Tỉnh có góp được nhiều dĩa hát bội còn như mới. Mời ông đến nhà, lựa và nói chuyện giá cả.

– Tôi mới di cư vào đây, có dĩa chầu mới do cô Mộng Hoàn hát, hay lắm. Xin mời cứ đến thương lượng.

Nguyên tôi thưở nay chỉ ưa thể thao, nay buộc tôi làm những việc như ép lòng nhiều khi tôi muốn liệng cái

ống nói xuống đất, vì đã sôi gan nhiều lần, nhưng nghĩ lại mình là con nhà gia giáo, rồi giằn xuống cho thuận vợ thuận chồng … Hôm nay nghe nhắc tên cô đào Đàm Mộng Hoàn, tôi bổng nhớ lại nguyên văn bài hát cũ của thầy dạy ở Đại Học Huế, kể chuyện ông Phó Bảng Nguyễn can Mộng, tới làm cua (faire la cour), có đề bài thơ như sau dưới bức ảnh chung trong phòng Đàm thị:

«Nghĩ-ngợi chi mà đứng mãi đây?

« Chẳng cuời, chẳng nói, điệu như ngây.

«Ngẫm cơ thế sự vòng quay mãi,

« Vì chữ chung-tình, mộng vẫn say.

« Thân phận liễu bồ, tờ giấy trắng,

«Nếp nhà băng tuyết, kiếp tu đày.

« Này trăng đây nước, hoa trong kinh,

« Thưởng đến tinh thần đã mấy tay?

Tôi còn nhớ thầy Viet văn có nhấn mạnh hai câu:

«Ngẫm cơ thế sự Vòng quay mãi,

« Vì chữ chung tình Mộng vẫn say.

và thầy cắt nghĩa: Vòng là nghĩa chữ Hoàn là tên cô đào, Vòng tức Hoàn, đối với Mộng là tên ông Phó-Bảng, mà cũng chữ đầu trong tên cô Đàm, vừa có sắc vừa có tài. Tôi tưởng đã quên hết những gì học trong trường, dè đâu hôm nay nhờ mấy cái dĩa, nhớ lại ông Phó Bảng năm xưa gò gập từ câu đến thế, là có dụng ý rồi; tôi lại thấy ra đời còn học mãi và trong lòng bớt khinh mấy cái dĩa tròn mặt đen, giữa rún có xoi lỗ tròn và biết nói tiếng người. Tôi ghi chép hết tất cả các tin tức và chiều nào cũng chờ chồng về, trình bày minh bạch, ông nhà tôi lên chưn, lại ra lịnh vắn tắt, oai còn hơn ông tướng cầm binh ra trận. Nhưng cũng nhờ dịp này mà chúng tôi thám hiểm nhiều nhà trong xó hóc và tôi mới biết được đồng bào tôi nghèo quá, thiếu thốn mọi bề. Tôi tưởng đến những đêm gió lạnh bão bùng, mình ăn no mặc ấm, sanh sứa mua chơi xa xỉ, trong khi những đồng bào đáng thương nay chỉ có hai mái thiếc cũ che cầm chừng, cửa phèn trống trước trống sau, từ ấy tôi thêm một công việc hữu ích là mỗi lần ra đi cho chồng mua dĩa, tôi ôm mền cũ, áo quần cũ đem theo và phân phát cho những người tôi được chứng kiến nỗi cơ hàn. Tôi làm được những điều ty tiểu ấy, mà thấy nhẹ bớt tấm lòng và thấy việc ra khỏi nhà đi mua lếu cũng chưa phải là cực vô ich. Chuyến xuất hành nào mà không mua chác được món nào, thì bữa ấy chồng tôi mặt nặng như treo chì, không nói năng, tôi cũng tránh tiếp xúc, và hai đứa đi ngủ sớm.Bữa nào may thời mua được dĩa lạ chưa có, thì ảnh huýt sáo chịu không nổi, vì dở khẹt. Bữa ấy chắc chắn tôi được một ngày mát mẻ, dẫu tôi trở chứng, chồng tôi cũng nhịn thua. Tôi nghĩ lại, nên cho ảnh mua sắm cho phỉ tình, cản trở làm chi cho sanh sự bất hòa, ngoại giao căng thẳng. Tôi lại thấy từ đây, hạnh-phúc trong gia đình không tùy hai tôi, mà vẫn tùy nơi mấy miếng nhựa đen vành tròn, có lằn chỉ chạm sâu cả hai mặt, khi còn lành lẽ thì giúp vui xã-hội, khi cũ rồi biết cà lăm nói đi nói lại như mấy mẹ chồng già và khi nứt bề, đâm nát ra bụi, lấy cầm máu đắp lên vết thương, cho lương-y cũng đỡ. Chồng tôi nay như cái máy, không sống bằng ngũ giác và chỉ thâu thập âm thanh bằng hai tai rất thính: sự tiến bộ của văn minh là như vậy hay sao?

Bao nhiêu bạn bè cũ, chồng tôi đều lánh xa. Bao nhiêu tập quán trước, cũng bớt: ít ngồi nhà hàng tán dóc, nghỉ việc đi đánh phé sáng đêm, và tôi cũng đỡ việc thức canh giờ yề. Ngày chúa nhựt, đi chầu lễ về, hai tôi thả một vòng đường Tự-Do chiếu lệ, rồi lat đật chạy xe về nhà tiếp rước đám bạn mới: nhóm chuyên môn về dĩa hát xưa. Họ tề tựu lại nhà chúng tôi, để khoe của: người này mới mua được bộ dĩa cô Tư Sạng ca bài « Mẹ dạy con thuở về nhà chồng »; người khác khoe mình chỉ tốn có một cái ống điếu cối đầu bằng ngà, đổi được trên sốc, bộ dĩa xưa Cô Mười-Hai ca Tứ-Đại lớp Bá-Lý-Hề, sau mười chín năm xa cách, nay vợ chồng mới thấy mặt nhau. Cũng vì cách đặt để bài ca xưa nầy, nghe nói do ông Kinh-lịch Quờn ở Vĩnh Long soạn, mà nước trà vơi hết mấy bình và bánh trái trong nhà ráo trọi. Ông già Năm bắt bẻ, rằng theo «ông già gân » nào đó, thì :

1) Câu 9 lớp xang dài: « Kẻ chân trời người góc biển, đôi đứa mình tương tri bất kiến », – bai chữ “ tương tri” vô nghĩa, và nên sửa lại «tương tư», nghe hữu lý hơn. Ông Năm hớp một ngụm trà rồi tiếp: «Có lẽ hai chữ nầy, tác giả viết đúng là «tương tư », nhưng vì tam sao thất bổn, nên trong bộ Thành ngữ điển tích, bản in kỳ 2 trương 27, vẫn in « tương tri », chữ tri và chữ tư rất gần, dễ lầm và nay nên sửa lại « tương tư » mới đúng văn cồ nhân;

2) Còn như lớp chót, ông Năm tiếp, hai câu rốt, để dứt bài ca, là:

« Giữa tiệc trung, sóng gợn đoanh tròng,

« Quăng ly rượu, khóc cùng người tình chung. Òng già Năm nhịp nhịp cẳng, bẻ rằng: đã « tiệc trung » mà còn thêm chữ « giữa » thì trùng nghĩa và thừa đi một chữ, và nên đổi lại: «Chốn tiệc trung, sóng gợn đoanh tròng,

« Quăng ly rượu, khóc cùng người tình chung.Vã lại, ông tiếp, chữ « chốn », nhấn mạnh dây đờn và gân giọng ca, bao nhiêu nghệ thuật ở chỗ đó, bao nhiêu dụng ý của người cô phụ hàm oan, đều gởi vào một chữ ấy thôi, dằn một tiếng mà « xót dạ anh bùng » là thế, người ca vô ý để mất ý nghĩa câu văn hay, cũng tại tánh người mình ưa sửa văn thiên hạ. Làm như chỉ có minh mới biết làm văn mà thôi. Cử tọa tán thưởng bằng một tràng vỗ tay, coi lại hai dĩa nho tươi và bòn bon, đã không còn trái nào. Tội nghiệp ông Năm được khen, cao hứng đến quên. ăn, và tiếp kể chuyện với giọng móc họng thường ngày: «Tôi không phải nhà tâm lý. Hai bài ca xưa vô dĩa về tích Bá-Lý-Hề in trong bộ « Thành-ngữ-đien-tich » đều hay đáo để, người đời nay đặt không lâm ly đến bực đó được và đều cho đó là hai « bản thầy ». Nhưng nói để bỏ qua và xin lỗi cổ nbân tiền bối, không biết lỗi bởi đâu, mà hai bài trong như ngọc chuốt, lại để lọt hai bột đậu sượng, đó là:

1.- Về bài Văn thiên tường, (Kinh lịch Quờn, 1916-1917), câu 14 và 15, 16:

14) « Thương ai cái thân sao lưu lạc, lang quân người Bá Lý Hề, vưng chịu chuộc về Tần.

15) « Ngày hàng ngày càng trông, tay dắt con trẻ,

16) « Bể xanh mây giăng chơn trời, bóng ác đương chen, màu khói tỏa, vẻ cảnh trời buồn xo.

2.- Về bài Tứ-Đại, trong Thành-ngữ điền-tích ghi tác giả khuyết danh, (tr. 28) nhưng tôi định cũng cùng một ông Kinh lịch Quờn đặt chớ không ai vô đó, như trong lớp xang vắn, từ câu 24 đến câu 29:

24) « Hỡi nợ duyên! thế khi chàng công danh đắc lộ,

25) « Thêm nhiều cô hầu, nên lấp thảm tình sâu.

26) « Chẳng nhớ những hồi cháo rau, đoạn tình nhau trong buổi sang giàu.

27) «Gắng gượng ôm trẻ con;

28) «Lặn suối trèo non, bước qua đường, xin ăn theo buổi;

29) «Dò lần qua Tần, cho tận mặt Bá lang;

Đến đây, ông Năm nói: «Văn lâm ly bi đát, mỗi lần nghe ca tôi khôn cầm giọt lụy, nhưng tôi là thằng hai lần bị vợ bỏ rơi, tôi đâm dạ hồ nghi: ông Bá Lý Hề, lúc nghèo, từ giã vợ, nhà có một con gà, chớ không có củi, phải chẻ cánh cửa, nấu một bữa cơm tiễn chồng, tình nghĩa thương nhau như vậy là tột bực, (câu 31: «Khi đưa nhau, phải chẻ cánh cửa hấp gà», mỗi lần ca, ruột tôi như dao cắt), thế mà hai lần như kể trên đều có nhắc «tay dắt con trẻ» và «gắng gượng ôm trẻ con», thêm nữa, bài Văn thiên tường, câu 29 còn nhắc một lần nữa: «Tay ôm con, theo đường kiếm ăn dò bước qua Tần ». Hễ ôm con là con còn nhỏ, nhưng căn cứ theo sử và theo nhà khảo cứu mà tôi quên tên, ông Bá Lý Hề xa nhà 19 năm mà bà Bá Lý Hề, «tay ôm con», «tay dắt con», tôi xin hỏi: «Con nhà ai đó? Cái nghề viết văn, cao hứng, muốn cho thêm lâm ly, mà quên thời gian, đứa trai 19, 20 tuồi mà dám nói «tay ôm con», không sợ phạm tội ngoại tình!

Hộp trà Thiết Quan Âm mang lên từ Hồng Kông đem về, không còn một cộng. Tôi không tiếc, chỉ tiếc câu chuyện ông Năm kể không được kéo dài. Nếu vậy mấy cái dĩa đen có rún ngay ở giữa, cũng có chỗ xài được và thú thật, từ khi thôi học lấy chồng, tôi mới được nghe một buổi nói chuyện có chút ít văn chương.

Cái thú đi ngửi bụi lựa dĩa hát cũ tiệm lạc son bây giờ mới thấy có chút nghĩa. Tự nhiên người ngồi nghe đã thâu vào băng nhựa đâu có hiểu nó như tôi. Có lệ trưa chúa nhựt nào cũng có tiệc «tứ hữu», bốn người quen nhau trong những khi lựa dĩa dơ trong hóc tối, làm cái việc không thua gì mấy chị tay xách giỏ rách, tay cầm cây sắt đâm quơ trong thùng rác lượm lon sữa bò. Đâu có như lão Mai ngồi ô tô láng bóng và chờ người tâng bốc, mà cũng gọi là làm Văn hóa!

Tiệc rồi qua pbòng khách, nghe các dĩa lạ thàu lượm trong tuần. Nghe rồi thâu băng, còn dĩa chánh, nhà tôi cất giữ. Có nhiều dĩa cũ mèm, tiếng kêu the thé như tiếng dưới âm phủ. Có dĩa khác nghe ò o, là lúc thâu dĩa, không kỹ, đề tiếng động cơ máy bay vô lọt phòng ghi âm. Nhưng họ đều để vậy, cho thấy buổi thâu băng lúc phôi thai và buổi trong nước chiến tranh còn dai dẳng. Họ chê kim thép mau hư dĩa, họ nói kim sa phia, tuy nhỏ giọng, mà với cái ống loa, nó bắt mình nhớ ông bà ông vải năm xưa, cỡ giặc kỳ đầu, 1914 mà xưa thấy mẹ.

– Một ông bác sĩ, nói với giọng dạy các cô y tá ở nhà thương: «Dĩa không nên hát mỗi lần hơn mười phút đồng hồ. Không vậy thì dĩa hư mòn hết».

– Một kỹ sư nhỏ tuổi cãi lại: «Dĩa cũ coi vậy mà bền. Hát rồi có đủ ngày giờ nguội lại. Không thì đâu có

dĩa cũ còn lại đến ngày nay. »

Một người chen vô, nói:

– Tôi nói ăn thua tại kim bén hay kim tà.

Nói câu ấy, rồi cả đám cười xòa, không biết tại câu tối nghĩa, hay tại họ nghe vấn đề nầy mà hiểu qua vấn đề khác. Các đề tài đều được đem ra bàn luận, không sắp đặt trước mà cũng không câu chấp trật tự, như vậy mà cởi mở và vui vui. Không khí luôn trẻ trung và bình đẳng:

– Hồi trước Nguyễn tùng Bá đờn kìm hay. Du côn Ba son thổi ống tiêu bằng đồng; khi đánh lộn thì đó là một binh khí lợi hại. Tám Thưa ca hay. Tư Út ca còn hay hơn nữa, lúc gần chết, thủ vai Nhữ Nam Vương Trịnh Ân, hát xuất thần. Trước kia, thầy Bảy Thông, Tám Cang, cô Cúc tuy ca xưa mà hay theo lối xưa. Bây giờ có Út Trà Ôn, Thành Được, mà người biết nghe còn tiếc giong Tư Thạch, Tư Út. Duy các cô giải Thanh Tâm bây giờ đề chữ nghe êm lắm, may thời là minh gần thành Phật thành ma! Cô Ngọc-Giàu ca mùi …

Nói đến đây có người cắt ngang câu chuyện và hỏi qua hát bội.

– Về hát bội, ngày xưa có Sáu Ất thủ vai Quan Công là xuất sắc. Có một người tên Hành, chuyên về vai Trương Phi. Thậm chi lớp đó, trong gánh hỏi với nhau: «Tối nay ai làm Hành? », có nghĩa là tối nay ai thủ vai Trương Phi, lớp Thủ cổ Thành. Cô Tám Tri ăn đứt vai Vương Tư Đồ xảo thủ liên hườn kế. Còn về vai đào, nên tìm dĩa cô Sáu Sền ở Trà Vinh hát lớp làm vợ Trần Nhựt Chánh dắt mẹ đi tìm chồng, và vai Lưu Kim Đinh giải giá Thọ Châu. Đặc biệt nhứt là gánh cô Ba Ngoạn, có cô Năm Nhỏ, khi thì diễn lớp ông Trượng ghẹo Tiên Bửu, một mình cô có hai giọng, vai mang hình nhơn đeo trên lưng, khi thì hát giọng ông già (Lão Trượng), khi thì che mặt, hát giọng con gái lanh lảnh, làm cô lái đò Tiên Bửu trả lời cho lão già dê; nhưng tuyệt xảo, ngày nay không ai bì kịp là khi cô một mình đóng năm vai khác nhau mà cả thảy đều xuất sắc vô song địch. Bây giờ muốn diễn lại tuồng Ngũ biến báo phu cừu của cô thì phải cần dùng đến năm cô đào khác nhau, tỷ như:

– vai đào điên (cô Hai Nhỏ, đã mất):

– vai giả cùi (cô Năm Sa Đéc);

– vai giả lão-trượng (cô Ba Út):

– vai giả Sơn-đông mãi võ (cô Cao Long Ngà):

– vai đào thích khách, đánh gươm (cô Năm Đồ).

Năm cô đào ấy diễn đủ năm lớp ruột của cô Năm Nhỏ mà chưa chắc hay hơn cô nầy. Tôi ngồi nghe khín, bụng nghĩ thầm: Thôi như vậy cũng đỡ khổ, mấy ông nầy mảng lo sưu tập dĩa mà quên chạy theo mấy cô nhót. Xin đề họ yên. Nhớ lại đã lâu không mời các bạn cũ gọi là «phàn dậu» (phạn-hữu, bạn quen nhau thích nhau trong buổi cơm buổi nhậu), tòi nài ép lắm, chồng tôi mới chịu mời, nhưng bữa cơm tẻ lạnh làm sao. Qua tuần cà phê, kéo nhau qua sa lông, người bạn hát cho nghe bản giựt gân, người muốn bản nhắm mắt rà rà lết lết, chồng tôi cười ngó bạn một cách tội nghiệp và bắt nghe một hơi mười bản hát bội và cải lương xua, báo hại mấy ổng ấy rút lui có trật tự và từ ấy không bén mảng đến nhà chúng tôi nữa. Chồng tôi đã đồi tánh rất nhiều, đã ly dị gần trọn nhóm bạn đồng nghiệp, đồng song, cũng vì mấy dĩa hát cũ, kiếm mua đề thâu băng nhựa, và làm cò-lét-xong. Tôi khuyên khéo chồng tôi không nên vì mấy dĩa hát mà bỏ hạnh-phúc, mua lắm hao tiền, anh em bạn cũ xa lìa, không ấm êm như mấy năm chưa chơi dĩa hát.

Chồng tôi ra chiều suy nghĩ, rồi nói:

– Anh xin lỗi em đó. Từ đây chúng ta đổi chương trình lại. Nhưng đổi chương trình để thức khuya đi la lết ở phòng trà ca tân-nhạc có khiêu vũ, thoát y, tôi lại thấy nguy hiểm hơn đi ăn bụi lạc-son. Qua tuần thứ ba, chính tôi đề nghị ở lại nhà nghe dĩa hát thâu băng cho đỡ tiền nước cam. Rồi tôi lại phải cám ơn chồng đã chiều ý mình. Tôi đã thua trí ông chồng tôi rồi đó. Tôi phải nhìn nhận nhà tôi có sưu tập được một số dĩa có giá trị. Có bộ Mạnh Lệ Quân thoát hài, cô Bảy Phùng Há làm Lịch thừa tướng, đối đáp với ông vua dê Nguyễn Thành Tôn (kép Tư Út đóng), nhưng không khi nào tôi nghe được trọn bộ và anh thừa dịp lấy đó nhem tôi như nhem trẻ nhỏ bằng me chua. Ngày ngày anh càng lậm, lấy kiếng chiếu đại ra săm soi, dùng bàn chải lông quét nhẹ nhẹ; lấy vẹt ni sơn lại cái « mác » rồi cũng cất vào tủ, không dám lấy ra hát, như vậy hỏi mua để làm gi? Có nhiều cái dĩa, tiếng nhỏ ri như dế kêu, lại có cà khọt cà khẹt như ông già tám mươi thức dậy buổi sáng, nhưng vậy mà anh hãnh diện nhứt, vì có ai hỏi, anh cũng đáp gọn lỏn: «Tôi đã có rồi»!

Thét rồi, phong lan anh cũng dẹp một bên, sách quí anh cũng xem bằng thường, đồ trân ngoạn cũng không ham, anh chỉ ham và sưu tập dĩa hát cũ.

Chồng tôi lục đục ở nhà mãi, tiệc tùng sang trọng cũng thối thác không dự, đám cưới đám tiệc vui, anh gởi tiền mà không đi, chồng tôi nay chỉ biết chung tình với mấy miếng tròn tròn giẹp giẹp mà tôi muốn ghen cũng không được. Xin hỏi có ông nào lậm vì dĩa hát cũ hơn chồng tôi chưa? Một hôm, nhờ người mách bảo, chồng tôi mua được ở xóm chợ Đũi, một bộ dĩa hát bội bốn thứ, nghe đâu của con quan Thủ tướng họ Phan, nay cha con đều đã qua đời, mua được ảnh lái xe về, tôi thấy cái mặt sáng và vui còn hơn mặt hột xoàn tám ly nước trắng. Tôi đọc trên nhãn hiệu: «Tuồng Ngũ hồ bình Tây, của Cụ Tú Nhơn An Nguyễn-Diêu soạn ». Tôi đã được đọc bản tuồng nay của hai ông Trần Văn Hương và Lê Ngọc Trụ sao chép và trình bày. Nay tôi gặp bộ dĩa hát do chồng tôi mua được, hai đứa tôi đều mừng như nhau. Trọn bữa trưa, ăn cơm rồi, hai đứa không ngủ. Chồng tôi ghi vào số mục lục, lấy phiếu dán keo đề số, xong rồi thì hai tay đã tèm lem, rờ đâu dính đó. Để giúp chồng tấm ơn và làm vui cho chồng, tôi làm tài khôn. bắt ghế cao, một tay ôm chồng dĩa bốn cái, chơn

thì bước lên nấc thang lanh lẹ cho xứng mặt thể tháo gia nữ anh tài. Nhưng tôi lật đật lưỡi đưỡi thế nào, muốn làm cho mau để được tiếng khen, tôi bỗng hụt chân, đánh rột một cái, quăng trọn cái bàn tọa xuống gạch, đưa bốn cẳng lên trời, chồng dĩa ôm trong tay cũng rớt xuống theo, nghe cái rảng, thôi rồi công chúa Thoại Ba, nguyên soái Địch Thanh và tiên phuông Lưu Khánh gì cũng đi đời nhà ma.

Tôi quên đau, rán vói chụp cái dĩa đang quây vòng vòng, nhưng vói làm sao tới? Tôi đau khắp mình mẫy nhứt là nơi bàn tọa, tòi đang nằm chờ tỉnh hồn, thì tôi thấy mặt chồng tôi dòm sát mặt tôi, mét xanh như tàu lá, cắt không có chút máu. Trong lòng tôi vừa buồn, vừa tức, tự trách mình quá dở và mối xúc cảm quá mạnh làm cho nước mắt tôi đi đâu mất hết. Tôi định chồng tôi sẽ làm tôi một trận lớn như B.52 dội chiến trường Campuchia. Nhưng tôi chỉ thấy chồng tôi bụm mặt khóc, miệng hỏi: «Mình đau chỗ nào? Đã bảo đừng làm gì hết. Đề đó cho tôi. Tại mình không nghe tôi, nên mới có sự này. Trời hỡi trời!. Biết bao giờ mới mua lai được nữa? » Tôi té đau mà quên khóc. Nay thấy anh nầy khóc mà nước mắt tôi tuôn trào. May trong phòng không có ai, nên cũng đỡ mắc cỡ. Chồng tôi đỡ tôi dậy rồi lại cuối xuống vừa ho vừa lượm mấy mảnh vụn dĩa hát.

Tôi không dám nói một lời nào. Nhưng cũng từ ngày ấy, đến phiên tôi xách xe chạy như điên, bỏ hết tơ nít, tắm bích xinh; mỗi ngày dạo lên dạo xuống không biết mấy chục lần qua các tiệm lạc son quen. Xì bo của tôi bây giờ là thế. Tôi có tự ái của tôi. Tôi muốn không ai được phép nói tôi chỉ là đàn bà biết làm bể dĩa, dĩa đây là dĩa hát chớ không phải dĩa trà xưa.

Nhờ chịu trả giá cao và khéo nói, Chệc Cười đã tìm cho tôi ba dĩa «Lạc-Thợn » số 2,3,4. Nghĩ cũng nực cười, bây giờ tôi lại lậm nặng với dĩa tuồng Ngũ Hỗ Bình Tây và ai biết ở đâu có dĩa số 1, xin làm ơn mách giùm.

Tôi đã suy xét cạn cùng. Thà có một ông chồng mê dĩa hát cũ, gàn thật, nhưng biết an phận thủ thường, còn hơn mấy ông hôi Whisky, nói tục, ham ăn chả lén và động động là nhảy dù. Vái trời cho tôi tìm được dĩa số 1 tuồng Lạc Thợn. Mặc ai cười mình ương; gái tân thời gì mà đi làm cò léc xio no? Nhà tôi là nhà nề nếp, ghét sự đổi trắng thay đen. Có chồng phải chiều chồng, mới được bầu tròn ống thẳng. Tôi đã xét kỹ. Lúc còn non nớt không biết gì thì chẳng nỏi làm chi. Nay đã chịu chút ít tuổi đời, thì phải kiếm một cây violon d’Ingres đề làm đích.

1 Một đời trống rỗng là đời nguy hiểm dễ hư, không bài bạc, ngồi lê đôi mách, cũng dễ lạc vào đường tội lỗi. Người đàn bà Âu Mỹ, có chồng tỷ phú, lại thường dấn thân làm việc xã hội, đến gần đồng bào nghèo. Tân thời hay thủ cựu đều là hai danh từ rỗng tuếch. Bây giờ tôi muốn cho chồng tôi trở lại với cây vợt tơ nít và ở nhà cầm kéo dưỡng phong lan. Để cho tôi chạy bận, tìm dĩa hát với mớ mùng mền áo cũ cho chị em cơ hàn. Dẫu tôi may thời gặp dĩa số 1 tuồng Lạc Thợn, nhiệm vụ cũng chưa hết. Nay tôi lại có cao vọng tìm hiểu tiếng hát xưa nay. Tối muốn viết và tập viết. Có người thích đi du lịch. Người khác ham săn thú, hay lội bắt cá dưới biển sâu. Ngẫu nhiên, tôi không lựa nghề, mà gặp nghề đi săn dĩa hát cũ. Phải nỏi là «cái thú», phải hơn.

17/12/1971

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 9 Dec 2025

Viết Về Nghiêm Sỹ Tuấn

TRẦN MỘNG LÂM

Không hiểu sao, mỗi khi nói về anh Nghiêm Sỹ Tuấn, tôi lại luôn luôn liên tưởng đến một danh nhân khác của Việt Nam: Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cả hai người đều sống tại Việt Nam trong thời kỳ Nam-Bắc phân chia, cả hai người đều là những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng tới văn hóa của dân tộc, nhưng điều kỳ lạ nhất là họ đều là những nhà tiên tri. Cụ Trạng Trình thì ta không còn lạ gì với những lời Sấm của cụ, còn Nghiêm Sỹ Tuấn thì trong một tác phẩm của anh, bài Những Người Đi Tìm Mùa Xuân, anh có đề cập tới một quốc gia, một lý thuyết không tưởng, nói đem lại Hạnh Phúc cho toàn dân, kết cục chỉ là, xin quý vị cùng tôi đọc lại:

“Biến loạn nổ bùng, lan nhanh như vết dầu loang trên giấy bản. Lần lượt, kho lương rồi kho vũ khí phủ Nguyên Soái, phủ Thủ Tướng rồi đến Hoàng Cung, loạn quân xông vào chiếm giữ. Bị tấn công bất chợt, binh lính trở tay không kịp, đều phải bỏ giáp quy hàng. Nguyên Soái lúc ấy đang dự cuộc chọi gà, Thủ Tướng đương hầu cờ Thiên Tử, nhà phú thương đương đánh Tổ Tôm và cố nhiên thi sỹ đang ngâm thơ, nàng nghệ giả đang múa hát. Dân chúng thừa cơ đốt phá, tràn vào cung điện, dinh thự như nước vỡ bờ. Trong đám gươm đao hỗn loạn, Vua, Hoàng Hậu, Nguyên Soái bị bằm nát như tương. Người ta sục sạo tìm giết Thủ Tướng, reo hò treo cổ phú thương. Có kẻ nói Thủ Tướng đã trốn thoát ra nước ngoài … “

Cảnh nào đây? Nếu không là Việt Nam trong những ngày sắp tới? Chế độ nào đây? Nếu không phải chế độ Cộng Sản mà tác giả đã mô tả như một thời Vua Chúa xa xưa? Anh Nghiêm Sỹ Tuấn là học sinh Chu Văn An, cùng trường nhưng không hiểu có cùng lớp với người anh ruột của tôi, anh Trần Mộng Hùng hay không. Trong nhóm bạn của anh Hùng, hay đến nhà tôi chơi thuở các anh còn ở Trung học, tôi có thể kể mấy người: Nghiêm Sỹ Tuấn, Mạnh Xuân Văn và hình như có cả Lê Sỹ Quang. Anh Hùng là người anh sát tôi, nên chỉ hơn tôi 3 tuổi. Mấy người bạn của anh, chắc cũng cùng tuổi, họ sinh vào những năm 1939 hay 1940. Tuy khoảng cách tuổi tác rất ít, nhưng giữa nhóm người này và tôi, quá xa. Thời ông anh tôi, trường còn dạy Hán Văn (Cổ Văn) năm Đệ Thất, nên mấy người này biết, không nhiều thì ít, chữ nghĩa của thánh hiền. Hồi tôi vào Trung Học tại trường Nguyễn Trãi Hà Nội, môn Cổ văn bị bỏ. Sau này khi trường chuyển vào Nam, tôi cũng chưa hề học tới Tam Tự Kinh (Gia – nhà, Quốc – nước, Tử – mất, Tồn – còn, Tiền – trước, Hậu – sau, Tử – con, Tôn – cháu v.v … ). Bởi vậy cho nên, hồi mới lớn, trong khi tôi đang còn say mê Sylvie Vartan (La plus belle pours aller danser), Françoise Hardy (Et mon amie la Rose), thì mấy ông anh tôi hay nói tới những chuyện đứng đắn hơn, như là sĩ phu, người quân tử, đến nỗi mấy đàn em chúng tôi xếp các anh vào nhóm các ông cụ non. Tôi không biết các ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm người ra sao, nhưng trong trí tưởng tượng của tôi, chắc anh Nghiêm Sỹ Tuấn cũng hao hao như vậy. Các anh không biết đến quần áo, đến thời trang và cách cắt tóc cũng, nói xin lỗi, chúng tôi xếp vào loại người hơi nhà quê.

Một sự tình cờ, nhóm những người anh nói trên, khi lên Đại Học, họ đều chọn Y Khoa, trừ anh Hùng tôi vào Nha Khoa. Mấy năm sau, tôi cũng theo chân các anh vào trường Y. Lúc này là vào những năm đầu của thập niên 60. Khi tôi lên năm thứ 3, thì tình hình Việt Nam trở nên sôi động. Sau nhiều năm tương đối ổn định, chính quyền ông Ngô Đình Diệm gặp sự chống đối mãnh liệt, kể từ khi có cuộc tranh đấu gọi là chống sự Đàn áp Phật giáo, với vụ Thích Quảng Đức tự thiêu, bà Trần Lệ Xuân đi giải độc tại Mỹ, ông Thích Trí Quang, ông Thích Tâm Châu, ông Mai Thọ Truyền …

Toàn những nhân vật mà sau này tên tuổi đi vào lịch sử, vang bóng một thời, thời của chúng tôi, khi còn ở đại học. Thành thật mà nói, tôi sống tại Sài Gòn, nơi trung ương, nên với sự thành thực, không thấy đàn áp gì cả, chỉ là, các bàn tay lông lá ở phía sau. Tình hình ngoài Trung thì tôi không biết, nên không dám nói. Ông Diệm bị lật đổ, sinh viên thở phào, vì có thể tiếp tục học hành, sau những vụ bãi khóa làm chúng tôi phải nằm nhà, tuy rằng lúc đó tôi cũng như một số các bạn như Phan Hữu Thành, Nguyễn Phúc Bình … chủ trương không nên đem chính trị vào học đường, như Trương Thìn, Huỳnh Tấn Mẫm. Sinh viên Y Khoa sau vụ này, ý thức được là nếu chúng tôi không quan tâm đến Chính Trị, thì Chính Trị một lúc nào đó, sẽ quan tâm đến chúng tôi. Tờ báo Tình Thương của Y Khoa ra đời. Chỉ đến lúc này tôi mới chú ý đến anh Nghiêm Sỹ Tuấn và những bài viết của anh. Lúc này tôi đã có đủ chín chắn để hiểu được một chút tâm tình của người đàn anh, luôn luôn muốn đi tìm Một Mùa Xuân vĩnh cửu cho nhân loại nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng. Tôi cũng có hân hạnh được đứng chung với anh trong tờ Tình Thương nhưng những bài viết của tôi thời bấy giờ vẫn chỉ dưới mặt đất với những nỗi thống khổ của người dân nghèo phải bán máu lấy tiền nuôi con, hay những cái chết của trẻ em trong Bệnh viện Nhi Đồng (Tại sao em chết?) trong khi anh Nghiêm Sỹ Tuấn luôn luôn có những bài viết để mổ xẻ, tìm giải pháp cho những vấn đề to lớn hơn. Nhờ những bài viết của anh, tôi ý thức được thế nào là Chính Trị và sự quan trọng của nó đối với Hạnh Phúc của đa số thầm lặng, luôn luôn bị bóc lột bởi một thiểu số nhân danh lý thuyết này, tư tưởng nọ nhưng sau cùng, tất cả chỉ là bánh vẽ. Lý thuyết Cộng Sản và cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay cũng không thoát ra được chân lý đó.

Chiến tranh trở nên ác liệt tại miền Nam với sự tấn công của phương Bắc, với những thanh niên miền Bắc vượt Trường Sơn, theo đường mòn Hồ Chí Minh đi giải phóng miền Nam để tránh việc mất nước về tay Mỹ. Éo le thay, chính họ đã xả thân xây dựng con đường cho Trung Cộng thôn tính Việt Nam ngày nay. Những cô cậu Quàng Khăn đỏ hồi đó ngày nay còn sống sót (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm) có tỉnh ngộ ra chưa, hay đợi tới phút cuối cùng như An Dương Vương đợi thần Kim Quy nói cho biết là kẻ thù là người ngồi kế bên mình? Dù sao chăng nữa, thì bom rơi, đạn nổ giữa những người Việt Nam với nhau đã cuốn theo Nghiêm Sỹ Tuấn vào cuộc chơi xương máu này. Cái mà tôi ngạc nhiên chút ít là không hiểu tại sao anh lại chọn binh chủng Nhảy Dù, khi anh người nhỏ bé, nho nhã, không thuộc loại chịu chơi như những ông sĩ quan Mũ Đỏ. Anh gần như lạc lõng nơi chiến địa với vóc dáng của một nhà nho, mà khí giới chỉ là ngọn bút.

Sau Tết Mậu Thân, đến lượt tôi khoác chiến y. Sau khi thụ huấn về quân sự tại trường Võ Bị Đà Lạt xong, chúng tôi về Sài Gòn chờ ngày chọn nhiệm sở ra đơn vị, trong thời gian chờ đợi đó, một hôm, tôi nhận được lệnh đi gác xác một đồng nghiệp vừa tử thương. Hỡi ôi, tôi vẫn còn lạnh người sởn gai ốc đến ngày hôm nay khi nghe tên người đàn anh: Nghiêm Sỹ Tuấn. Đêm hôm đó, quân phục chỉnh tề, tôi đứng nghiêm cạnh quan tài của anh hồi 2 giờ đêm, giàn giụa nước mắt, muốn xỉu mấy lần. Anh Tuấn ơi, sao anh lại bỏ đi giữa khi chúng ta vẫn còn chưa tìm được Một Mùa Xuân cho Dân Tộc, cho đất nước chúng ta.

Nửa Thế Kỷ đã qua kể từ khi chúng tôi không còn thấy nhau nhưng tôi vẫn không quên được anh, cũng như các anh khác. Họ cũng đã người trước, người sau theo anh về miền Tiên Cảnh. Đêm hôm nay, chỉ còn có tôi ngồi viết về các anh … chua xót vô cùng. Anh đi có bao giờ nhìn lại, chỉ còn tôi, còn tôi, im lặng đến tê người. (Phú Quang)

TRẦN MỘNG LÂM

Montréal, 28.08.2018