This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sau tháng 4/1975, cả miền Nam lâm vào hoàn cảnh hết sức nghiệt ngã. Nhiều gia đình phân ly tan vỡ. Tôi, sau 10 năm tù rạc, trở về gặp người bạn cũ và kể lại chuyện này. Phần cuối của chuyện, tôi mượn triết lý “Câu Chuyện Dòng Sông” – Hermann Hesse – Phùng Thăng dịch, để nói lên cái quan niệm sống của bạn tôi.
Lâm Chương
1.
Phạm Văn Gầm nhìn đời bằng một con mắt. Từ ngày anh nhìn theo cái kiểu này thì đời cũng liên tiếp quất cho anh những đòn chí tử. Đau nhất là đòn của vợ anh. Ngón đòn ê ẩm thấu tim gan. Có lúc uất quá, anh muốn giết người. Cũng may, anh kịp dằn lòng. Nếu không, chắc đời đã nghiền nát anh rồi.
Muốn rõ ngọn ngành, phải kể dông dài đầu đuôi câu chuyện.
Gầm là tay có học, nhưng trong thời bát nháo, kẻ không dựa vào thế lực người khác ắt khó được đời trọng dụng. Chán mớ đời, lại đang tuổi động viên không chạy đàng trời nào cho khỏi. Anh vào lính Nghĩa Quân lẩn quẩn ở quê nhà. Những ngày gần cuối tháng Tư, năm 1975, tình hình quân sự rất bi đát. Những đơn vị bạn đã thoái binh từ hai ngày trước. Đồn Nghĩa Quân không còn ai yểm trợ. Bị cô thế, thằng cha trung đội trưởng Nghĩa Quân dẫn anh em chạy bỏ đồn, tìm nơi kháng cự. Trên mặt đất có nhiều đường chạy. Trời xui đất khiến thế nào lại chạy vào ngõ cụt, phía bờ sông Vàm Cỏ Đông. Chui vô khu rừng tràm. Cố thủ trong một nơi sình lầy nước đọng. Địa thế tác chiến bất lợi trăm bề. Trước mặt là đồng ruộng, sau lưng là con sông lớn. Nếu bị tấn công, rút lui ngả nào?
Nói cố thủ cho oai, chứ thật ra chả đánh đấm mẹ gì. Quân chính quy Bắc Việt đang dồn nỗ lực về thủ đô. Ở đây, chỉ còn le hoe một số du kích địa phương. Du kích đứng từ bìa làng, phóng loa kêu gọi Nghĩa Quân đầu hàng.
Trung đội trưởng nói với anh em: “Cố thủ, chờ quân mình phản công. Tên dép râu nào xông vô, bắn bể đầu cho tao.”
Kêu gọi không được, du kích dùng súng cối 60 bắn vào khu rừng tràm. Súng mới lấy được của một đơn vị thoái binh nào đó bỏ lại. Du kích chưa quen sử dụng nên trái rớt bên đông, trái rớt bên tây. Cũng có trái lọt vào rừng tràm. Chính trái đạn quái ác này văng miểng làm bị thương con mắt trái của Gầm. Vết thương không trầm trọng, nhưng do điều kiện thiếu vệ sinh nên nhiễm trùng, gây đau nhức khó chịu.
Sau mấy ngày cố thủ, hết lương thực mà viện binh không thấy, cũng không liên lạc vô tuyến được với đơn vị bạn. Túng thế, anh em Nghĩa Quân cho Gầm đi một mình ra đầu hàng, mục đích để được chữa thương. Lúc đó, anh mới biết lệnh đầu hàng đã tuyên bố từ ba hôm trước. Du kích bảo anh quay trở lại rừng tràm, báo tin này cho anh em Nghĩa Quân. Khi tất cả Nghĩa Quân chịu buông súng trở ra thì con mắt của Gầm đã vô phương cứu chữa. Một y tá địa phương giúp anh múc tròng mắt hư bỏ đi. Từ đó, Gầm nhìn đời bằng một con mắt.
Cuộc đời chung, vốn nhiều xấu xa bỉ ổi. Nhìn rõ mặt đời quá, nhiều khi lại đâm ra chán đời. Thà nhìn bằng một con mắt, may ra còn thấy đời mờ mờ hư ảo dễ thương. Gầm tự an ủi như thế, và quyết tâm làm lại cuộc đời riêng của mình. Xây dựng một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Chẳng phải Gầm vẫn mong một ngày đất nước bình yên, vất cây súng, nắm lấy tay cày bừa sinh sống hay sao? Đêm đêm, không còn nghe tiếng súng, ngủ khỏi giật mình là sướng rồi.
Việt Cộng vào, tự xưng cách mạng. Gầm là lính trơn, chỉ phải học tập chính sách mới một tuần, được cách mạng cho về làm ăn. Xóa bỏ hận thù, xóa bỏ những tàn tích cũ, cùng nhau xây dựng lại một xã hội yên bình tốt đẹp hơn. Tổ chức ngăn nắp, quy củ rõ ràng. Có nhóm, có tổ, có khóm, có phường. Người ta bảo tổ chức như thế để giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn. Cách giải thích nghe có lý có tình, nhưng thật ra là để dòm ngó kiểm soát lẫn nhau. Vợ Gầm cũng tích cực tham gia hoạt động xã hội mới. Bây giờ, chị là hội viên Hội Phụ Nữ của xã. Cứ vài hôm, lại đi họp một lần. Chẳng biết khi họp, họ nói với nhau những gì. Về nhà, trông chị phấn khởi yêu đời thấy rõ. Gầm mừng. Vợ vui là anh vui. Người đàn ông nào cũng muốn đem lại hạnh phúc cho vợ. Gầm cũng thế. Càng thương hơn nữa, chị không hề chê anh khuyết tật. Mọi người bình đẳng, theo cách nói “con người vốn quý” của cách mạng.
Niềm vui trong gia đình kéo dài không lâu. Sau này, vợ Gầm đi họp thường xuyên hơn. Lắm khi, chị đi đến khuya lắc mới về. Và chị về không phải với gương mặt tươi tắn yêu đời như anh hằng mong đợi. Chị hay kiếm cớ gây sự, mắng mỏ anh nhiều câu hỗn láo, cho rằng kết duyên với anh là một lầm lỗi lớn trong đời chị. Chuyện gối chăn, cũng không còn đậm tình chồng vợ. Chị tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt, khước từ lảng tránh ái ân.
Sau chiến tranh, đất nước lâm vào nỗi nghèo nàn cơ cực. Muốn nâng cao phúc lợi toàn dân, phải có kế hoạch lâu dài. Cách mạng phát động phong trào thi đua lao động. Làm thủy lợi, đắp đập đào mương, dẫn thủy nhập điền. Là lính Nghĩa Quân của chế độ cũ, dĩ nhiên Gầm được chọn làm đối tượng “lao động là vinh quang” của chế độ mới. Cái khẩu hiệu mới nghe có vẻ sáng ngời, nhưng đủ sức vắt cạn tinh lực con người đến chết. Ngoài việc thủy lợi như bao nhiêu người dân khác, những kẻ được liệt vào thành phần ngụy quân ngụy quyền còn được cách mạng tận tình chiếu cố, làm thêm công tác tháo gỡ mìn bẫy nơi các đồn bót cũ. Mìn chôn dưới mặt đất, ló lên cái ngòi kích hỏa như sợi râu con dế lẫn trong cỏ, khó nhìn thấy. Phương tiện dò mìn là chiếc gậy nhọn đầu, chọt chĩa khều móc theo những hàng rào kẽm gai. Trái mìn nào nổ, coi như xong. Trái nào chưa nổ, phải tìm cách moi lên và vô hiệu hóa. Đã có nhiều người bỏ mạng, hoặc sút tay gãy gọng vì công tác này rồi. Gầm may mắn, không bị hề hấn gì. Trước sự việc này, cách mạng lý luận, các anh gài mìn thì các anh phải tháo gỡ thôi. Hết chiến tranh, còn duy trì những thứ chết người đó làm chi? Cũng đúng thôi! Lý của cách mạng, bao giờ mà chả đúng? Mỗi chuyến công tác chừng mươi bữa nửa tháng. Về nhà chưa nóng đít, Gầm lại có lệnh đi công tác nữa.
Thời gian này, Gầm nghe lời đồn đãi bóng gió về chuyện lén lút lăng nhăng của vợ anh với viên xã ủy. Anh hỏi vợ. Chị lồng lên, xỉa xói vào mặt anh bằng đủ thứ ngôn từ chanh chua của mấy mụ chuyên môn ăn cắp vặt ở những khu chợ đông người. Mồm miệng nào mà đấu khẩu cho lại con vợ điêu ngoa? Gầm nhịn. Càng về sau, chị càng lộng hành công khai đi lại với viên xã ủy, coi chồng chẳng ra chi. Gầm tức, toan giết kẻ gian dâm với vợ anh, nhưng con gà thất thế, muốn vói lên mổ con chó sói là điều không dễ. Kiện thưa ư? Luật lệ địa phương nằm trong tay của viên xã ủy. Nó chưa triệt tiêu Gầm, đã là điều may. Đòi hỏi công lý là điều không tưởng. Chẳng làm gì được kẻ có quyền, Gầm quay ra chửi vợ. Chị cũng không vừa, rủa lại anh là thứ “voi một ngà, người ta một mắt”, ám chỉ tính hung dữ thể hiện qua sự dị hình. Bị chạm vào khuyết tật, Gầm đau như ngực bị đâm dao nhọn. Manh nha trong đầu Gầm ý tưởng tùng xẻo con vợ, rồi thắt cổ tự vận luôn. Cái lưỡi lê từ thời còn đi lính, chưa bén máu người. Lần này, nó sẽ được dùng để trừng trị một con đàn bà trắc nết. Gầm tưởng tượng vợ anh sẽ đau đớn rên la và quằn quại trên vũng máu. Một hình ảnh ghê khiếp quá, chưa thi hành mà anh đã rợn. Ngay vào thời chiến tranh, anh cũng không nhẫn tâm làm điều đó với đối phương, huống chi bây giờ hành sử với người đã từng cùng chung chăn gối? Nhiều đêm trăn trở, Gầm tự hỏi, con đàn bà lăng loàn hư đốn này có đáng để anh đánh đổi luôn mạng sống của mình? Câu hỏi, làm anh tỉnh thức. Lòng anh chùng lại. Sau cùng, anh quyết định bỏ đi. Có kẻ chê anh hèn nhát. Cũng có người thấu lẽ đời, cho thế là khôn. Anh ở lại, chẳng những không làm sứt mẻ được ai, nhiều khi còn nguy đến tính mạng. Viên xã ủy đâu muốn thấy một cái gai trước mắt? Gầm tự hiểu, và lánh mặt trước khi trở thành con sâu cái kiến bị chà đạp.
2.
Tôi trở lại quê nhà sau 10 năm tù rạc, nghe tin bằng hữu mỗi ngày một thêm tan tác. Người lẩn vào rừng sâu, sống đời hoang dã. Người uất khí hộc máu tươi, vì cường quyền áp bức. Người xiêu tán phương xa, biệt tăm không biết sống chết lẽ nào. Và người ở lại như Phạm Văn Gầm, nghe nói cũng thay đổi lạ lùng. Anh nhìn đời bằng một con mắt, và lui về nơi khuất lánh bên dòng sông, rũ hết sự đời, sống theo con nước.
Tôi mua bịch thuốc rê, chai rượu đế, lần dò đi thăm bạn. Tôi đến vào buổi xế chiều. Chòi trống. Tôi đứng ngóng ra sông, chờ Gầm. Gió thổi hiu hiu. Ánh tà dương đỏ rực mặt sông. Những cụm lục bình lờ lững trôi xuôi. Vài cánh cò chấp chới xa xa. Bên kia sông, rừng tràm bát ngát. Gầm về theo nước thủy triều lên. Trong cái lốt ngư ông áo vải nón mê, anh hoàn toàn lột xác khỏi con người ngày cũ. Dáng anh gầy gò, phong thái thong dong.
Thấy tôi, anh cười rộ theo kiểu ẩn sĩ đời xưa: “Gió lớn bốn phương, còn quay về quê cũ được sao?”
Tôi cũng cười vang trên bờ sông, như một giang hồ hiệp khách: “Thiên hạ đại loạn, còn an nhiên tự tại được sao?”
Chúng tôi dắt tay nhau vào trong chòi lá. Sau những thăm hỏi thông thường, tôi nói với Gầm về những ngày tù rạc của tôi. Anh bảo, còn sống trở về là may, thời thế không là dầu sôi lửa bỏng, nhưng hiểm nguy lúc nào cũng đang rình rập bên mình.
Tôi nói: “Để chữa lành một vết thương, mà chịu hãm mình cô quạnh bên một dòng sông là điều uổng phí.
Gầm bảo: ”Ở vào cái thế thúc thủ, còn vọng động tranh chấp hơn thua là chuốc họa vào thân.”
Anh cho rằng, ý nghĩa của đời sống tùy quan niệm mỗi người. Có kẻ tìm sự vui thú trong tiền tài. Có người tìm sự thỏa mãn trong quyền lực. Nhưng những thứ đó không đem lại sự bình yên trong tâm hồn. Còn anh, anh theo cái triết lý sống Ông Chài, một bài học thuộc lòng thuở nhỏ, và đọc:
Nước trong rửa ruột sạch trơn
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
Sớm doi tối vịnh vui vầy
Ngày dài đón gió, đêm chầy chơi trăng.
Tháng ngày thong thả làm ăn
Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm
Nghêu ngao nay trích mai đầm
Một bầu trời rộng, vui thầm ai hay!*
Đọc xong, Gầm cười sảng khoái, nói “Phúc tại tâm không lý đến đời”.**.
Tôi hỏi điều gì đã làm anh thay đổi quan niệm sống đến tận ngọn nguồn gốc rễ?
Anh nói, hoàn cảnh và dòng sông. Hoàn cảnh đã xô anh vào đường cùng, để từ đó, anh thấy đời là bể khổ. Dòng sông đã dạy cho anh biết thế nào là sự im lặng.
Tôi hỏi: “Im lặng mà cũng phải dạy nữa sao?”
Gầm ngó ra sông nói: “Trong im lặng mình nhìn lại được chính mình”.
Trăng đã lên cao. Ngồi trong chòi, nghe tiếng sóng vỗ ngoài bờ sông.
Tôi nói: “Dòng sông đâu chỉ im lặng, còn có tiếng sóng nữa”.
“Vâng”. Gầm nói: “Tiếng sóng như tiếng vỗ về của mẹ thiên nhiên. Đi tìm an ủi ở đâu cho xa? Ngay ở đây, bên bờ sông này đã cho ta điều đó”.
Chai rượu đế chắt đến giọt cuối cùng. Đêm đã khuya lắm. Con trăng đã xế về bên kia rừng tràm. Mọi vật chìm trong tịch mịch lặng im. Chỉ còn nghe tiếng sóng triền miên như niềm an ủi bất tận của bạn tôi trong nỗi đời hiu quạnh.
Tháng 5 năm 1975, sau ngày sụp đổ, có mấy tên bộ đội vào chơi nhà một người bà con của tôi ở Sàigòn. Trong câu chuyên huênh hoang của chúng, nhân đề cập đến vấn đề nhà tù, chúng có nói rằng “Miền Bắc không có nhà tù”. Hồi đó mấy nguời bà con của tôi, vốn ở trong Nam, ở thành phố, chưa hề có kinh nghiệm gì về Cộng sản, tin lắm, và phụ họa với chúng “Miền Bắc không có nhà tù…”
Tôi được nếm mùi “cải tạo” ở Miền Bắc từ cuối năm 1976 đến đầu năm 1980 (không kể gần một năm rưởi ở trại giam Long Thành và Thủ Đức, miền Nam), và nhận ra rằng quả thật Miền Bắc không có nhà tù, theo nghĩa thông thường của Thế Giới Tự Do, là nơi giữ kẻ có tội, làm người ta mất tự do trong một thời gian có hạn định rõ rằng. Còn các trại “cải tạo” Miền Bắc đều là những trại khổ sai rất đểu cáng, mọi người đều phải làm khổ sai trong khi ăn rất đói. Phải, Miền Bắc không có nhà tù theo tiêu chuẩn thông thường; chỉ có những trại khổ sai. Mà đã vào trại khổ sai đó thì không biết bao giờ ra được, không có thời hạn nào cả. Cái gọi là “tập trung cải tạo 3 năm”, dân Miền Bắc gọi là “tù mù”, nghĩa là ở tù mù mịt, không biết bao giờ về.
Tôi đã ở 2 trại cải tạo ở Miền Bắc: trại Quảng Ninh (gần Hòn Gay) và trại số 5 Thanh Hóa. Trại Quảng Ninh (xả Thống Nhất, huyện Hoành Bồ) tương đối khá hơn. Trại số 5 Thanh Hóa, mà tên Thiếu tá Trại trưởng có nói chính là trại Lý Bá Sơ ngày trước, nay thuộc huyện Thiệu Yên (Thiệu Hóa + Yên Định), trên phần đất Yên Định cũ, tồi tệ hơn trại Quảng Ninh. Nhưng nói chung tất cả các trai cải-tạo Cộng sản đều giống nhau ở nhiều điểm, mà hai điểm nổi bật, đối với tôi, là tình trạng đói, đói về vật chất, đói về tinh thần. Về vật chất, là tình trạng đói ăn. Về tinh thần chúng bưng bít tin tức bên ngòai và tìm đủ mọi cách để ngăn cấm không cho người ta học văn hóa. Tự điển chúng cũng tìm cách tịch thu. Học mấy câu chữ nho để viết mấy câu thơ cổ, cũng bị chúng gọi lên kiểm điểm.
Tôi may mắn thóat được cảnh ngục tù, tìm được tự do. Nhưng còn biết bao nhiêu bạn bè thân thiết, bao nhiêu người bạn đã từng cùng nhau đổ mồ hôi trên núi đá trong mùa hè nóng bức, từng cùng nhau run lẩy bẩy vì rét, vì đói trong mùa đông lạnh giá, từng cùng nhau thì thầm một vài tin tức lạc quan, từng cùng nhau bỏ ăn để chống đối chế độ trại giam quá khắc nghiệt… Những người bạn bè ấy hiện nay vẫn còn trong các trại khổ sai, có người đã nằm xuống vì không chịu đựng nổi, những người còn sống thì ngày ngày làm khổ sai và ăn đói, và chịu đựng một sự kềm kẹp dã man về tinh thần và vật chất, và không biết đến bao giờ mới thoát được ngục tù.
Tôi viết những dòng nầy cho những người bạn ấy, với niềm ước mong những người đã định cư được trên phần đất tư do đừng bao giờ quên những người ấy. Họ còn hi vọng là chúng ta, những thân nhân, những bạn bè của họ hiện ở trên phần đất tự do, sẽ làm một cái gì cho họ. Họ còn hi vong là nhân loại sẽ còn tiếp tục đặt vấn đề nhân quyền, vì không phải chỉ nói suông mà sẽ làm một cái gì cụ thể để cứu họ. Ho bị bưng bít, không biết tin tức gì bên ngoài, nhưng họ vẫn tìm một chút ánh sáng để hi vọng, qua những tin tức rất hạn chế mà họ biết được. Họ bám víu lấy hi vọng để chịu đựng đói khổ, nhục nhằn, cố sống để có một ngày mai.
Ngày mai ấy có đến với họ không? Đó là vấn đề chúng ta sẽ trả lời trong tương lai. Bài này tôi hãy nói về quá khứ. Cơn ác mộng của tôi đã thuộc về quá khứ. Nhưng hàng trăm ngàn người hãy còn sống trong cơn ác mộng ấy. Và không biết cơn ác mộng còn kéo dài bao nhiêu năm nữa. Nhưng với tôi, nó đã là quá khứ mà tôi xin ôn lại nơi đây một cách rất trung thực. Trung thực, nhưng không thể đầy đủ, vì nhiều anh em còn ở trong tù, có nhiều chi tiết tôi chưa tiện nói ra.
I – Từ Nam Ra Bắc
Cho đến đầu tháng 10-1976, tôi đã ở trại Long Thành được 16 tháng. Giữa trưa ngày 3-10, tôi đang bửa củi ở nhà bếp, bỗng có tiếng kẻng tập trung. Chúng tôi vội vã tập trung lại trong từng nhà, rồi nghe đọc tên. Chuyến ấy chỉ có 30 người, phần lớn là sĩ quan cấp Tá và một số viên chức hành chánh hàng Phó Tỉnh Trưởng trở lên. Thành phần Cảnh sát, Tình báo, và đảng phái đã được đi trước đó 1 tháng. Chúng cho 30 người chúng tôi đến trại Thủ Đức bằng một chiếc xe ca, xiềng hai người vào một cặp. Đường từ Long Thành về Thủ Đức giữa trưa vắng lặng, mặc dầu là đi trên xa lộ Biên Hòa Saigòn. Vừa đến trại Thủ Đức, chúng tôi nghe ngay tiếng hò hét của một tên cán bộ mà sau nầy chúng tôi mới biết có tên là Sáu Gô. Tên thật anh ta là gì không ai biết. Anh ta tự xưng là anh Sáu. Và anh em gọi là Sáu Gô. Anh em gọi như vậy, vì anh ta chuyên tịch thu các lon guigoz của anh em.
Chúng tôi xuống xe thì gặp ngay màn xét đồ đạc của Sáu Gô. Tất cả quần áo, đồ đạc, lon thùng, thức ăn… đều phải bày hết cả ra trên sân. Người nào có độ 3,4 lon guigoz trở lên (đây là lon đã hết sữa, dùng đựng các thứ nhà gủi lên như đường, tôm khô, bột vv…) thì thế nào cũng bị mất mấy lon. Sáu Gô trút các thứ đựng bên trong ra rồi tịch thu các lon guigoz, bảo là “cho đồ đạc các anh được gọn gàng vì phòng giam không đủ chỗ”. Một lon guigoz (lon trống, không có sữa) hồi ấy nghe nói bán được chừng 4 hay 5$ tiền mới, tức là 2000$ hay 2500$ tiền cũ. Cho nên Sáu Gô ham lắm. Nhưng màn khám xét này chỉ là sơ khởi. Trước khi ra Bắc, còn khám xét nhiều và còn tịch thu nhiều…
Chúng tôi vào trại Thủ Đức và ở đó 1 tháng. Chúng tôi gặp lại nhiều bạn bè quen từ Long Thành lên Thủ Đức trước đó. Có nhiều đợt chở ra Bắc trước rồi. Tôi gặp lại người anh ruột của tôi là Trần Ngọc Quế trước là giáo sư trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, đi cải tạo vì có chân đảng phái. Một người anh ruột nữa là Trần Huỳnh Hội, trước là Trung Tá, thì đã đến Thủ Đức từ cuối năm 1975 và được chở ra Bắc từ tháng 8 năm 76. Về sau, anh Quế ra Bắc sau tôi, ở trại Hoàng Liên Sơn rồi qua đời trong trại tù ở Vĩnh Phú. Anh Hội tôi thì ở trại Hà Nam Ninh.
Gặp mấy người bạn cũ, trên nguyên tắc thì không được hỏi nhau giữa những người ở khác phòng, nhưng chúng tôi vẫn nháy nhó, hỏi nhau vài câu ngắn.
– Đi đường có đeo Seiko không?
– Có! (Đeo Seiko tức là bị xiềng tay).
– Ở đây, thế nào?
– Ăn khá hơn Long Thành và không lao động.
Thủ Đức là trại chuyển tiếp, về tập trung tại đó để chờ ra Bắc. Chúng giữ rất kín chuyện ra Bắc nhưng một vài người được bà con đến thăm có nói riêng cho biết. Tôi gặp những người quen nhưng thuộc nhóm khác không ở Long Thành như nhóm Rạch Giá (chở từ Rạch Giá lên Thủ Đức) có anh Nguyễn Vạng Thọ (trước làm Tổng Thư Ký Bộ Tư Pháp), nhóm Chí Hoà có ông Nguyễn Mậu (Dân Biểu Quảng Tín), Đại Tá Trịnh Tiêu (Trưởng phòng 2 Quân Khu II), v.v…
Trước khi ra Bắc độ một tuần lễ, chúng khám xét đồ đạc, chuyển phòng lung tung để tịch thu một mớ đồ đạc và làm xáo trộn tất cả các nhóm quen biết, có lẽ để đề phòng những sự liên kết có thể dẫn đến hành động gì trong khi di chuyển. Rồi trước khi ra Bắc độ 3 ngày, chúng cho phép chúng tôi ai có tiền thì được nhờ chúng mua giùm thức ăn ngoài chợ Thủ Đức với giá chợ đen. Tất nhiên những cán bộ đi mua giùm thế nào cũng có khấm khá trong chuyện mua bán nầy. Nhưng chuyện đểu cáng hơn là chúng khuyến khích chúng tôi mua nước mắm, nước tương để dành ăn, rồi 3 ngày sau, khi soạn đồ đạc ra Bắc thì chúng buộc phải bỏ tất cả những thứ ấy lại, viện cớ là đi đường dễ vỡ. Tất nhiên chúng sẽ đem bán tất cả những thứ chúng tôi bỏ lại. Ngòai ra, trước hôm ra Bắc, chúng khámxét đồ đạc chúng tôi hai lần, và tịch thu mọi thứ rất bừa bải để kiếm chác. Những đồ đạc này, trong một năm rưởi, sống ở trại Long Thành, gia đình chúng tôi đã gởi đến trong những đợt chúng cho tiếp tế nhân các ngày lễ như 1-5, 2-9 và dịp Tết. Bây giờ chúng kiếm cớ tịch thu. Chúng tôi ước lượng là trong dịp này, chúng kiếm được khoảng 10 triệu đồng tiền cũ trên số khoảng 800 người cho ra Băc chuyến đó.
Khuya 30-10-1976, chúng chở chúng tôi bằng xe đến Tân Cảng rồi xuống tàu Hồng Hà. Khi lên xe, chúng tôi bị xiềng tay từng cặp một như thường lệ. Đến bến, lên tàu rồi mới được mở xiềng.
Bốn Ngày Hôi Thối
Chúng lùa chúng tôi xuống hầm tàu, đúng ra là nơi chứa hàng hoá. Tàu Hồng Hà đã cũ quá, nhiều nơi bị rỉ sét. Tàu có 3 hầm, tôi bị nhốt ở hầm giữa là hầm đông nhất. Ngoài số 800 người chúng tôi đi từ Thủ Đức, có thêm vài trăm người đi thẳng từ Long Thành đến . Những người nầy ở hầm sau đuôi tàu và khi đến Hải Phòng được chở đi Bắc Thái.
Chúng tôi xuống hầm tàu nằm kề vai nhau không còn một chỗ hở. Chúng để trong hầm tàu hai thùng gỗ nhỏ, là chỗ tiểu tiện cho 600 người trong hầm giữa (còn hầm phía mũi chứa độ 200 người)Vì không có chỗ, nhiều người phải nằm sát chỗ tiểu tiện. Bốn ngày đêm, 600 người tiểu tiện, thùng cứ đầy tràn ra, chảy khắp hầm tàu, thối um lên. Tháng mười biển động, nhiều người say sóng ói mửa. Mùi phân, mùi nước tiểu và mùi ói mửa trộn lẫn với nhau xông lên trong hầm tàu. Có hai lần chúng tôi kêu ca quá, chúng đứng trên boong tàu dòng dây xuống bảo cột thùng phân vào cho chúng kéo lên. Vì thùng quá đầy, khi kéo lên, phân rơi vung vãi, trúng ai nấy chịu, vì không còn chỗ tránh, và cũng vì say sóng quá mệt, cứ nằm mà chịu trận.
Bốn ngày đêm mà tưởng như 4 năm trong địa ngục. Tôi nằm trong hầm tàu hôi thối, thầm an ủi là mình hãy còn sưóng hơn Tôn Tẩn ngày xưa… Ngày xưa Tôn Tẩn bị Bàng Quyên chặt chân, rồi bị nhốt vào chuồng heo, Tôn Tẩn phải giả điên ăn phân heo, sau mới có cơ hội trốn thoát. Tôi ở trong hầm tàu Hồng Hà, kể ra thì hôi thối hơn trong chuồng heo, lại thêm say sóng nữa, nhưng sướng hơn Tôn Tẩn là chân không bị chặt. Thôi thế nầy cũng hãy còn phúc. Lại sắp có dịp xem tận mặt cái xứ Bắc Việt xã hội chủ nghĩa rồi. Ngày trước ở Miền Nam, nghĩ đến chuyện sống trong xã hội Miền Bắc cũng đã sợ rồi. Nay lại ra Miền Bắc mà ở tù, chứ chẳng phải ở ngoài xã hội.
Từ Hải Phòng Đến Trại Cải Tạo Quảng Ninh
Đêm chót, khoảng nửa đêm thì tàu vào sông, chúng tôi biết vì thấy tàu êm hẳn, tuy vẫn còn chạy. Rồi tàu đến bến, đậu lại, và chờ đến sáng.
Trời vừa sáng thì chúng tôi được lệnh xuống tàu.
Bác sĩ Văn Văn Của (trước từng làm Đô trưởng Sai gòn) hỏi chúng tôi có ai không đi nổi, phải khiêng, thì cho biết để sắp xếp. Phần lớn chúng tôi mệt lả vì say sóng 4 ngày đêm không ăn gì được. Nhưng nghĩ đến chuyện bước ra khỏi cái hầm tầu hôi thối nầy thì ai cũng muốn vội vàng, nên ai cũng cố gắng, rồi cũng đi được cả.
Bước xuống bến Sáu Kho, thở không khí ban mai của một ngày đầu mùa đông Miền Bắc (hôm ấy, trời không lạnh), chúng tôi thấy người dễ chịu hẳn. Đây là một khu bến dường như vừa mới xây thêm, tiện nghi chẳng có gì. Chỉ có cầu tầu trơ ra đấy. Chúng tôi được lệnh ngồi sắp hàng theo từng đội để cán bộ đếm. Đếm đi, đếm lại, rất kỹ. Rồi đến màn “đeo Seiko” (xích tay). Rồi bắt đầu lên xe.
Xe là xe đò Miền Bắc. Chắc là xe của Công An chẳng có bao nhiêu nên phải thuê xe đò chở chúng tôi. Xe nào cũng cũ kỹ, ọp ep. Chúng ém chúng tôi lên xe, chật qua, nhiều người thở không nổi. Xe lại bị che kín bằng vải để chúng tôi không trông được bên ngoài nên càng bí hơi. Nhưng dù sao thì cũng không hôi thối như dưới hầm tàu. Nội cái màn đếm người và lên xe cũng mất đến 4 giờ đồng hồ. Lên xe xong, ngồi chật không có chỗ cựa, mà trước khi xe chạy còn phải nghe một tên cán bộ Cộng sản, hắn có thể nói hàng giờ về một vấn đề chỉ cần nói vài câu trong vài phút; và có thể nói hàng giờ về một câu chuyện mà ai cũng biết cả rồi. Về sau, càng ngày tôi càng thấm thía thấy chế độ Cộng sản Miền Bắc chẳng coi thời gian ra gì cả. Mặc dầu lúc nào cũng nói sản xuất, nói tiến bộ, nhưng thật ra họ đã mất rất nhiều thì giờ để nói những điều vô ích, và chẳng còn bao nhiêu thì giờ để làm việc. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm trì trệ kinh tế.
Chúng tôi ngồi trên xe, quá mệt mỏi, bụng đói miệng khát, chỉ mong cho xe chạy đi để đỡ mệt một chút mà cứ phải nghe giảng nội qui đi đường. Nhưng rồi cũng đến lúc xe chạy.
Xe có chạy ngang một khu phố của Hải Phòng. Mấy tấm vải che trên cửa là vải mỏng, nên chúng tôi cố nhìn ra quan sát, mặc dầu nhìn ra như thế trái nội quy đi đường đấy. Chúng tôi thấy một mớ người đi xe đạp và đi bộ. Có nhiều nhà sụp đổ, có lẽ là sụp đổ trong thời kỳ ném bom, vẫn còn để lôi thôi, chưa dọn dẹp xây dựng lại. Đường phố tồi tàn, người đi quần áo lôi thôi. Nhưng chúng tôi chỉ đi thoáng qua một khu phố của Hải Phòng, nên chưa dám kết luận điều gì. Rồi xe đến một bến phà. Qua phà, chạy một lát, lại đến một bến phà nữa. Trên xe tôi, có mấy anh người Bắc trước 1954 đã ở Hải Phòng, quen thuộc vùng này, cho biết bến phà thứ hai này chính là sông Bạch Đằng và đây là đường đi đến Quảng Yên (nay là Quảng Ninh)
Tôi nghe nói sông Bạch Đằng thì chợt nhổm dậy. Tay tôi bị xích chung với tay Đỗ Kế Cầu(trước làm Phó Tổng Thư-ký Phủ Thủ tướng) và tôi nhổm dậy, làm giật tay anh Cầu. Tôi nói với anh Cầu: “Này, sông Bạch Đằng!”. Trí óc bỗng miên man về những trang sử ngày xua. Ngô Quyền phá quân Nam Hán, Trần Hưng Đạo dẹp quân Nguyên ở nơi đây. Tôi thàm ca mấy câu trong bài Trên Sông Bạch Đằng của thời trước 1945:
“… Cờ bay chiêng trống khua quân dần lên Làm cho lui tan hết quân Nguyên Đến bây giờ mỗi khi đi trên sông Bạch Đằng…”
Nhưng chiếc xe đã xuống phà. Phà rất tồi, xe cũng tồi. Khi xuống phà, xe nhảy cái rầm, suýt nữa thì tụt xuống sông. Anh em ngồi trên xe hoảng vía vì nếu tụt xuống sông trong tình trạng xe chật và xích xiềng thế này thì chắc chắn chỉ ngồi yên chịu chết thôi. Sinh mạng của chúng tôi nào có ai coi ra gì.
Nhưng phà đã chạy. Trên dòng sông, gió mát thổi lộng vào xe làm tôi thấy dễ chịu, thấy lòng lại khoan khóai. Và lại lẩm nhẩm hát “Trên sông Bạch Đằng, quân Nam ầm reo…” Và nghĩ đến thân phận của tôi, thân phận một thằng tù, tay bị xiềng, ngồi trên chiế xe bít bùng, vẫn cố nhoài người ra để nhìn cho được dòng sông Bạch Đằng, vẫn tưởng như đâu đây còn vang tiếng loa xưa của vị anh hùng Trần Hưng Đạo, vẫn thấy mình là một người Việt Nam, một người yêu nước, cũng như cha tôi, một đảng viên VN Quốc Dân Đảng, rất yêu nước, và nhất định không chấp nhận chủ nghiã Cộng sản , và cho dù Cộng sản có nói gì, có bảo là chúng tôị bán nước hay có bảo là phải “kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội”, tôi thấy tôi vẫn một lòng yêu nước và yêu tự do, và Hồ Chí Minh là kẻ có tội nặng nhất trong lịch sử nước nhà, và dòng sông Bạch Đằng vẫn làm cho tôi xúc động, và chiếc xiềng trong tay vẫn không làm cho tôi xấu hổ, và tôi vẫn miên man nghĩ đến lịch sử oai hùng của dân tộc và nghĩ đến một tương lai tươi sáng trong tự do.
Đường đi trải đá, gồ ghề. Nhà cửa hai bên đường thấp thoáng sau làn vải che, trông cũ kỹ. Đến một ngã ba đường, thấy có mũi tên chỉ đường ghi Hồng Gai. Nhưng chúng tôi không đi Hòn Gay. Chúng tôi đi đến trại giam Quảng Ninh, xã Thống Nhất, huyện Hoành Bồ.
Trại Quảng Ninh Trong Những Tháng Đầu
Tay chúng tôi chỉ được đeo thứ “đồng hồ Seiko Bắc Việt” tức là loại xiềng chung làm bằng dây xích sắt, rồi dùng ống khóa thường mà khóa lại, chứ không được đeo thứ đồng hồ gì khác, vì tất cả các thứ đồng hồ, nhẫn v.v.,. đều phải nộp lưu ký chứ không được giữ, nên chúng tôi không biết là đã di chuyển trên xe trong bao lâu và đến trại Quang Ninh lúc mấy giờ. Trên xe, chúng có phát cho mọi người một mẩu bánh mì và một quả cam nhỏ.
Khúc bánh mì tròn, không có thịt cá gì hết, nhưng sau mấy ngày nhịn đói, ăn thấy ngon vô kể. Khi đến trại Quảng Ninh, mặt trời đã xế bóng.
Buổi tiếp xúc đầu tiên với một trại cải tạo Miền Bắc đã được sắp xếp, trình diện để chúng tôi có cảm tưởng tốt. Xe vào sân trại, có ngay cán bộ phụ trách từng đội gọi tên, nhận lãnh, hướng dẫn về phòng giam. Về đến phòng giam là nhà bếp gánh nước uống đến. Phòng giam được sắp xếp sẵn chiếu, mền, màn, trông có vẻ tươm tất. Bữa cơm đầu tiên được kể là “thịnh soạn” so với những bữa cơm tù khác. Cơm ăn dư thừa, với 2 món ăn: một món canh, một món kho. Cả hai món đều là thịt trâu. Thịt trâu cũng dư thừa, nói cho đúng ra là vì thịt trâu quá dai, nhai không nổi. Nhưng sau nầy thì thịt trâu dù dai đến đâu cũng không thể dư được, khi chúng tôi đã ở trong tình trạng quá đói. Còn đây là tuần trăng mật. Còn đang ở giai đoạn trình diện, chúng tôi ăn được hai bữa thịt, thì bắt đầu vào bữa cơm bình thường, tức là cơm độn, ăn với chút canh thôi. Canh rau cải nấu với muối. Nhưng giai đoạn nầy vẫn còn khá. Mỗi tuần có 2 bữa thịt. Mỗi tháng có một bữa ăn chè ngọt. Thỉnh thoảng lại có phát bánh biscuits ăn thêm. Tình trạng nầy kéo dài được vài tháng. Mùa đông năm đó (năm 76) được kể là mùa đông rét nhất trong mấy chục năm. Nhưng dù rét, chúng tôi vẫn thấy đây là “tuần trăng mật” với trại cải tạo Miền Bắc. Chúng tôi chưa phải đi làm lao động. Cán cư xử cũng khá. Mấy anh tù hình sự phụ trách nhà bếp khi đưa cơm nước đến phòng tìm cách nói riêng vài câu: “Mấy chú thế nầy là sướng lắm đấy. Không dễ gì không lao động mà lại được ăn uống khá thế nầy đâu. Tụi cháu thì khổ lắm.”
Lễ Noël năm đó chúng tôi được ăn một bữa ngon, có thịt trâu. Họ cho ăn vào ngày 25-12 chứ không phải tối 24, chúng tôi chẳng hiểu có phải chúng cho ăn Noël hay không. Chúng tôi lấy làm lạ lắm vì chế độ Cộng sản làm gì có cho ăn Noël. Những năm sau này, năm 1978, 1979, đêm Noël, chúng tìm đủ mọi cách ngăn cản không cho chúng tôi tưởng niệm ngày Chúa Giáng Sinh, có người chỉ hát thánh ca trong đêm 24-12 mà bị cùm chân trong phòng kỷ luật. Vậy không lẽ gì chúng lại cho ăn Noël trong năm 1976. Nhưng điều chắc chắn là tối 25-12-76 chúng tôi có được ăn một bữa ăn ngon, khác ngày thường.
Môt bữa khác cũng làm chúng tôi ngạc nhiên là bữa ăn ngày 20-1-1977. Bữa ăn này có vừa thịt trâu vừa thịt heo, đó là điều rất đặc biệt. Trong năm, chỉ có những dịp lễ 1-5, 2-9 và Tết Nguyên Đán là có thể có vừa thịt trâu vừa thịt heo. Tôi nói “có thể” thôi, chứ không phải là chắc chắn đâu. Vậy mà ngày 20-1-1977, chúng cho ăn một bữa “thịnh soạn”. Khác với hồi ở trại Long Thành mỗi lần có một chút thịt trong bữa ăn nhân dịp lễ gì đó, là chúng tuyên bố trước, nói dài dòng về ý nghĩa bữa ăn, nhắc đến “ơn Bác ơn Đảng” tùm lum mà chỉ được ăn có tí xíu. Và 20-1-1977, chúng giữ hoàn toàn im lặng, chỉ tự nhiên thấy có bữa ăn đặc biệt thì chúng tôi cứ ăn mà thôi.
Nhưng ở trong tù, chúng tôi rất nhạy cảm. Một hiện tượng nhỏ gì cũng để ý, phân tích. Và thường thì sự phân tích rất chủ quan. Chẳng hạn, có người lưu ý rằng ngày 20-1-1977 là ngày ông Carter lên nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ (chính có sự lưu ý nầy mà tôi nhớ bữa ăn 20-1-1977). Chúng tôi có cười nhau về nhận xét nầy. Chẳng lẽ Cộng sản Bắc Việt lại cho,chúng tôi ăn ngon nhân ngày ông Carter nhậm chức. Nhưng mặc kệ, hãy cứ biết được một bữa ngon đã. Ở tù Cộng sản , dễ gì kiếm được một bữa ăn có vừa thịt trâu vừa thịt heo. Những năm sau nầy, chúng tôi mong đỏ mắt, nằm ngủ mơ tưởng miếng thịt trâu thịt heo như thế bao nhiêu lần mà không có đấy. Có lẽ những người ăn uống no đủ nghe nói chuyện nằm mơ tưởng miếng thịt trâu thì lấy làm lạ lắm. Có thể cho là tôi phóng đại câu chuyện, hoặc cho là chúng tôi hèn kém, có đói thì đói chứ lạm gì đến nỗi nằm mơ miếng thịt. Nhưng khi đã đói, đói tháng nầy qua tháng khác, năm nầy qua năm khác, mới có thể hiểu được “tâm sự” nầy.
Nhưng món ăn vật chất không làm chúng tôi phấn khởi bằng món ăn tinh thần mà sau đó chúng tôi có được. Đó là bài báo trong tờ Nhân Dân chửi bài diễn văn của Tổng Thống Carter, và sau đó, bài báo chống đỡ vấn đề nhân quyền. Hồi đó, vấn đề nhân quyền chưa được rầm rộ như sau này, nhưng với chúng tôi, đó là lần đầu tiên chúng tôi được biết chắc rằng thế giới có nhắc đến chúng tôi, những kẻ ở trong ngục tù Cộng sản . Phải có ở trong hoàn cảnh tăm tối, tin tức bị hạn chế, bưng bít, cuộc sống ngục tù không biết kéo dài đến bao giờ, không biết bên ngoài có chuyện gì xảy ra, không biết có ai còn nhớ đến mình, mà bỗng đọc được trên báọ của chính Cộng sản vì phải chống đỡ dư luận thế giới, hé lộ cho thấy một chút tin tức bên ngoài, khiến chúng tôi như kẻ nằm trong đêm tối chợt nhìn thấy một chút ánh sáng le lói đầu xa. Chắc là Tổng Thống Carter, khi đọc bài diễn văn nhậm chức năm 1977, có vài câu nói về nhân quyền, nói đến những người đang bị áp bức “ở bất cứ nơi đâu”, không ngờ rằng những câu đó lai có tác dụng thắp lên trong lòng những kẻ ở trong ngục tù núi rừng Bắc Việt một tia hi vọng. Mà chúng tôi có được đọc bài diễn văn ấy đâu. Chúng tôi chỉ đựọc đọc vài dòng trích dẫn mà báo Nhân Dân trích ra khi công kích nội dung bài diễn văn ấy mà thôi. Có lẽ khi đọc đến đoạn này nhiều người sẽ cho là chúng tôi ngây thơ . Ai lại nằm trong tù mà tin tưởng vào diễn văn của những ông chính khách! Tất nhiên lúc đó chúng tôi chẳng phải ngây thơ mà cho rằng chúng tôi sẽ được trả tự do khi thế giới đặt vấn đề nhân quyền. Nhưng sống trong tình trạng mù mịt, tối tăm trong ngục tù Cộng sản , chúng tôi cần có những chỗ bám víu về tinh thần, như người sắp chết đuối thấy một mảnh gỗ nhỏ không đủ làm phao cũng cứ bám lấy. Thực ra, trong mấy năm qua, chúng tôi có những hi vọng thật, chứ không phải giả tạo. Chúng tôi đã nhìn thấy sự ruỗng nát và thế bí của Cộng sản Việt Nam, và chúng tôi tin rằng chúng sẽ sụp đổ. Đây là một vấn đề mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong những đoạn khác. Dù sao, vấn đề nhân quyền nêu lên đầu năm 1977 là tia sáng đầu tiên trong những ngày ở tù xứ Bắc.
Trại Quảng Ninh, với bộ mặt trình diện ban đầu không đến nỗi đáng ghét, vốn là một trại nhà binh cũ của Pháp hồi trước 1954. Trại nầy không cách xa Vạt Cháy lắm, có lẽ chỉ chừng năm ba chục cạy số gì đó. Có một số anh từng học khóa Vạt Cháy, từng là quân nhân ngoài Bắc trước 1954 biết vùng nầy. Trại nằm trong một thung lũng nhỏ, chung quanh toàn là núi rừng. Mùa đông năm 76, có lúc trời lạnh đến 4o bách phân mà chúng tôi không có áo ấm, có tất cả baọ nhiêu áo quần đem theo đều mặc hết cả vào, kể cả áo mưa; khăn quàng quấn đầy đầu đầy cổ mà vẫn rét.
Tết năm đó, chúng tôi ăn Tết cũng khá. Mỗi người được phát 2 cái bánh chưng nhỏ, một ít bánh ngọt và kẹo. Thịt trâu thịt heo trong mấy ngày Tết cũng khá.
Trước Tết chúng tôi được phép viết thư về nhà xin quà tiếp tế gửi ra, nhưng được lệnh tuyệt đối không được viết câu gì tỏ ra mình đang ở miền Bắc, nếu trong thư có câu gì lộ ra như thế thì thư sẽ không được chuyển đi. Mùng 2 Tết, chúng tôi nhận được quà gia đình.
Nhưng đến sau Tết Nguyên Đán, tình hình bắt đầu xuống dần. Mức ăn hạ xuống từ từ. Bắt đầu sắp xếp làm lao động, khởi sự là đập đá. Lúc đó, trên báo Nhân Dân, chúng tôi thấy Cộng sản Việt Nam cứ lải nhải đòi Mỹ thi hành điều 21 hiệp định Paris, đòi 3 tỷ 2 đô la. Một bữa kia có tên cán bộ ngồi nói chuyện với chúng tôi, có nói nếu không có 3 tỷ 2 thì các anh đi “tuốt” hết. Chúng tôi không hiểu việc chúng tôi được cho ăn uống khá khi mới ra Quảng Ninh có liên hệ gì đến việc 3 tỷ 2 đô la không, nhưng quả thật là sau đó, tình trạng chúng tôi ngày càng tồi tệ. Dù thế nào, chúng tôi cũng chẳng muốn Cộng sản Bắc Việt có 3 tỷ 2. Chẳng ai muốn cho kẻ cướp đã xé hiệp định Paris chiếm Sàigon, huênh hoang tuyên bố “chiến thắng hoàn toàn, triệt để, toàn diện và vĩnh viễn” rồi lại được đối phương đưa tiền để tiếp tục đi ăn cướp chỗ khác!
Ông Trần Huỳnh Châu sinh năm 1937 tại Nha Trang. Thời chiến tranh trước năm 1954 ông theo gia đình tản cư về nguyên quán tức vùng rừng núi Quảng Nam. Tới năm 1952 ông trốn về vùng do chính quyền Quốc Gia kiểm soát, trở lại Nha Trang rồi vào Ba Ngòi làm giáo viên ở một trường tiểu học tư thục. Một năm sau, ông trở về Nha Trang, tiếp tục theo học trường Võ Tánh cho đến khi đổ văn bằng Tú Tài phần nhất. Vào Sài Gòn theo học trường Chu Văn An rồi thi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm 1958.
Vốn thuộc gia đình cách mạng nên Trần Huỳnh Châu luôn luôn có những tư tưởng và hành động tích cực trong tâm niệm là phải làm một cái gì cho tổ quốc. Cho nên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã được nhiều người chú ý. Một năm sau khi tốt nghiệp, Trần Huỳnh Châu đã giữ một nhiệm vụ rất quan trọng, đó là Chánh sự vụ Sở Thông Tin Đô Thành. Ba năm sau, ông được cử làm Phó Tỉnh Trưởng Quảng Ngãi. Năm 1968, ông nhập ngũ theo lệnh động viên vào khóa 3/68 Trường Bộ Binh Thủ Đức. Khi nhận cấp bậc chuẩn úy trừ bị, ông lại được biệt phái về Bộ Nội Vụ để đi làm Phó Tỉnh Trưởng Kiến Hòa. Tên tuổi ông trong giới hành chánh mỗi ngày một nổi bật và được coi là một trong những cán bộ trẻ có tài. Năm 1973, ông được mời giữ chức Tổng Thư Ký Bộ Nội Vụ.
Khi miền Nam lọt vào tay Cộng sản , Trần Huỳnh Châu bị bắt đi “cải tạo” ở trại Long Thành từ tháng 6/1975 đến tháng 10/1975. Ông bị đưa ra Bắc tháng 11/1975, lao động khổ sai ở Quảng Ninh. Tới tháng 8/1978 Cộng sản chuyển ông vào trại cải tạo Lý Bá Sơ ở Thanh Hóa.
Tháng 4/1980 ông mang được một người con trai lên chín tuổi, bỏ vợ và hai người con ở lại, dùng thuyền vượt biển tới Thái Lan. Với uy tín của ông, đồng bào trong trại tị nan Sonkhla đã đề cử ông giữ chức vụ trưởng trại. Cũng chính trong thời gian này, ông đã dành thì giờ để viết tập hồi ký này. Nhưng tập Hồi ký này lại được hoàn tất ở trại tị nạn Ga Lang (Nam Dương) và ngay sau đó đã được chuyển sang Hoa Kỳ, giao cho Ban Chấp hành Hội Cựu Sinh Viên Quốc Ga Hành Chánh để tùy hoàn cảnh mà phổ biến.
Tập Hồi Ký của ông Trần Huỳnh Châu do Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh và Tạp chí Tiểu Thuyết Nguyệt San hợp tác ấn hành bằng Vịệt ngữ. Hiện (1981) Hội này đang gấp rút dịch sang Anh ngữ để giao cho một tổ chức quốc tế, mục tiêu là tranh đấu cho nhân quyền, xuất bản và phổ biến khắp thế giới.
Từ cuối thu ‘75 đến đầu xuân’76, sau khi đã sắp đặt xong guồng máy bạo lực chuyên chính trên toàn lãnh thổ Miền Nam, bầy đao phủ đỏ ở Hà-nội lập tức bắt tay vào thực hiện một loại biện pháp hành hạ và trả thù dân chúng Miền Nam, trong đó lớn lao và thâm độc mọi rợ nhất là cuộc di chuyển hàng trăm ngàn trí thức, chính khách, nghệ sĩ, sĩ quan, công chức quốc gia từ những trại tập trung miền Nam ra những trại tù khổ sai miền Bắc.
Tàn nhẫn không thua gì vụ đày ải hàng triệu thường dân Nga vô tội tới địa ngục Siberie thời Staline; thú vật không kém gì vụ lùa đẩy sáu triệu người Do Thái Âu Châu tới những lò nấu xác của phát xít Đức thời Đệ Nhị Thế Chiên, cuộc chuyển tù vĩ đại từ Nam ra Bắc khởi sự từ mùa đông ’75 đen tối ở Việt Nam cũng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử tội ác của loài người.
Không được gặp mặt thân nhân trước phút đội gai đi vào con đường khổ hình thăm thẳm của phát vãng biệt xứ vô thời hạn, hai người một còng, từng đoàn, từng đợt tù nhân của chế độ mới, trong mùa nắng đầy đọa, bị đẩy xếp lên những đoàn công-voa, những xe tải bít bùng, những toa tàu đóng kín, đi suốt đêm ngày, đi suốt miền Trung, tới những đia ngục trần gian miền Bắc, đói khát, ngã bệnh một số tù nhân bỏ mình ở dọc đường. Một số tới nơi ít ngày rồi chết. Với phần còn lại, là những tháng năm khổ hình dằng dặc bắt đầu.
Thiết lập phần lớn ở những vùng rừng núi hoang dậm lam chướng nhất trong đó có những trại tù đã rùng rợn nổi tiếng của thực dân và đế quốc để lại, mỗi trại “tập trung cải tạo” của Cộng sản ở miền Bắc là một đáy thẳm âm ty tách rời hẳn với thế giới loài người. Ở những cõi âm này không có tự do, không có ánh sáng. Không có hy vọng, không có ngày mai. Ở những công trường của khổ sai lạo động này, “nhân đạo” là một danh từ tối thậm vô nghĩa, nhân phẩm bị nghiền nát, nhân tính là kẻ thù. Và tồn tại và sống sót và trở về được là một phép lạ, một kỳ diệu.
Loài người sẽ chẳng bao giờ có nổi một ý niệm về những nơi chốn giam cầm khủng khiếp ở “thiên đường Xã Hội chủ nghĩa Liên Xô”, nếu không có Khu Ung Thủ, Quần Đảo Ngục Tù của Soljenetsyne . Cũng vậy, mặc dầu chỉ thu gọn vào hơn 190 trang sách và đó là điều đáng tiếc nhất của thiên hồi ký nầy, chúng ta sẽ chẳng bao giờ thấy được sự thật hãi hùng của những trại tập trung của Cộng sản ở miền Bắc, nếu không có những thiên hồi ký như Những Năm Cải Tạo ở Bắc Việt này của Trần Huỳnh Châu.
Thời đại chúng ta, nếu thiên đường vẫn chỉ là ảo tưởng và thần thánh đã chết, ngược lại địa ngục lại có thật, lại có thật những thể chế chuyên chính xây cất trên những địa ngục của người mà chuyên chính vô sản ở Việt Nam hiện nay và hệ thống lao tù của nó là hiện thân kinh hoàng nhất.
Đi theo Trần Huỳnh Châu từng bước một, trên con đường khổ hình của ông, đi theo Trần Huỳnh Châu, từng bước một, từ những trại giam ở Thủ Đức, Long Thành miền Nam tới những trại tù Quảng Ninh, Lý Bá Sơ ở miền Bắc, do đó không chỉ là một chia xẻ đau lòng và phẫn uất với cảnh ngộ tù nhân Trần Huỳnh Châu và hàng trăm ngàn đồng bào ta còn bi đọa đày ở những nơi chốn tác giả thiên hồi ký này vừa may mắn ra thoát, mà còn để thấy được trọn vẹn trong một lần, cái địa ngục Mác-xít vĩ đại chưa triệt hủy được đi trên trái đất này, trong đó có cái địa ngục chủ nghĩa, địa ngục chuyên chính mà năm mươi triệu đồng bào Nam Bắc chúng ta đã bị đọa đầy từ sáu năm nay./.
Mai Thảo
TỰA
của Vũ Khiêm
Khi Đỗ Tiến Đức điện thoại yêu cầu tôi thay mặt cho Hội Cựu Sinh-Viên Quốc Gia Hành Chánh viết lời đề tựa cho tập Hồi Ký Những Năm “Cải Tạo” Ở Bắc Việt của Trần Huỳnh Châu, tôi không hiểu vì sao anh em lại dành cho tôi vinh dự này. Nhưng Đỗ Tiến Đức bảo là vì tôi thân với Trần Huỳnh Châu hơn nên phó thác cho tôi việc này. Dĩ nhiên là tôi vui lòng nhận lãnh, chẳng phải vì Trần Huỳnh Châu không có những người bạn thân khác ở Hoa Kỳ – mà thật ra Anh có nhiều lắm – mà vì tôi muốn nhân danh một người bạn đã quen Trần Huỳnh Châu từ 25 năm nay và nhân danh một người tỵ nạn đến đây từ năm 1975 để giới thiệu tập Hồi Ký này cho tất cả bạn đọc, vì tôi nghĩ nó chí tình hơn và vô tư hơn là giới thiệu của một trong những bạn đi sau và đã từng bị Cộng sản giam giữ kẻo bạn đọc có thế nghĩ rằng vì cùng chung cảnh ngộ nên ca ngợi lẫn nhau.
Khi nhận được tập bản thảo viết tay của tập Hồi Ký, tôi thật bồi hồi xúc động vì biết rằng nội dung của nó chắc chắn đã được viết ra bằng tim, bằng óc và với nhiều nước mắt. Tôi cố đọc ngấu nghiến cho xong tập Hồi Ký để có một cảm nghĩ tổng quát hầu viết lời giới thiệu. Thú thật, tôi đã nhiều lần không cầm được nước mắt dù là mới chỉ đọc lướt qua, bởi vì mỗi trang, mỗi cảnh ngộ đều là những hình ảnh sống về những sự đau đớn, quằn quại, khắc khoải của những người thân yêu của tôi và chắc chắn cũng là những người thân yêu của nhiều bạn đọc. Tôi phải nhìn nhận rằng Trần Huỳnh Châu là một con người can đảm, bởi vì những người bị tù Cộng sản được thả ra hoặc trốn thoát được ra mà sau này đến được Hoa kỳ, ít có ai còn đủ can đảm ngồi viết lại tất cả chuỗi ngày đau khổ của mình. Một số tuy có viết nhưng chỉ đủ đăng một vài kỳ báo và mốt số khác chỉ có thể ngồi kể lại những giai thoại đau thương chứ không viết ra được. Điều can đảm hơn nữa là Trần Huỳnh Châu vẫn còn kẹt vợ con ở nhà vì anh ra đi chỉ mang được một đứa con. Nhưng anh không hề sợ hãi. Lập trường của Trần Huỳnh Châu rất vững là đối với Cộng sản thì không có vấn đề tình cảm. Khi chúng đã muốn hại vợ con mình thì dù có van lạy hay tìm cách nịnh bợ thì chúng vẫn hại vợ con mình như thường. Còn nếu chúng đã không dám thì dù có chửi cha chúng lên chúng cũng không dám. Đối với Cộng sản , chỉ có tranh đấu chứ không có lùi bước. Tranh đấu bằng mọi cách, tranh đấu cho đến khi nào toàn bộ chế độ của chúng phải sụp đổ mới thôi chứ không có chuyện do dụ, lừng khừng.
Tôi không ngạc nhiên khi thấy Trần Huỳnh Châu có lập trường vững chắc như vậy vì Anh vốn xuất thân từ một gia đình cách mạng miền Trung. Thân phụ Anh là cựu nghị sĩ Trần Cảnh dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa.
Đọc tập Hồi Ký Ngục Tù của Trần Huỳnh Châu, tôi có cảm tưởng như đọc cuốn Hồi Ký Ngục Tù cuả Gary Powers, người phi công Mỹ lái máy bay U-2 đã bị bắn rồi trên không phận Nga Xô 22 năm trước đây, rồi bị KGB cầm tù 5 năm rồi mới được trao đổi với Đại Tá Abel, trùm gián điệp của Nga.
Hai tập Ngục Ký tựa tựa giống nhau về tâm tư của người bị giam giữ trong những chuỗi ngày khắc khỏai đợi chờ, nhưng có một điều khác giữa hai Hồi Ký đó là Gary Powers đã đợi chờ trong hy vọng vì biết chắc thế nào cũng có ngày được trả tự do, còn Trần Huỳnh Châu và các bạn đồng tù đã đợi chờ trong tuyệt vọng vì biết chắc rằng Cộng sản không bao giờ có ý định trả tự do cho ai cả trừ phi chúng bị bó bụộc phải tha một ít người để lấp liếm tội ác đang bị thế giới cáo buộc hoặc trong trường hợp chúng thật cần thiết đến mình.
Tôi hồi tưởng lại ngày mới sang đây, trong một lần trao đổi thư tín với một người bạn Mỹ đang làm việc tại Quốc Hội Hoa Kỳ, người đó viết cho tôi đại ý rằng “trước đây nhiều người nói nếu miền Nam Việt Nam sụp đổ thì thế nào cũng có tắm máu. Nhưng tin tức cho biết rằng đã không có tắm máu ởViệt Nam sau khi Cộng sản nắm quyền. Vì thế rất khó mà thuyết phục các nhà lập pháp làm điều họ muốn, vì đối với họ, sự giúp đỡ những người ty nạn thuần túy là vì lý do nhân đạo…” (ngụ ý là nếu người tỵ nạn không chạy sang Mỹ thì cũng đâu có chết vì đâu có ai giết họ!)
Ôi! tôi biết làm sao để nói cho người bạn đó hiểu rằng sống dưới chế độ Cộng sản , được tắm máu còn sướng hơn là chết dần chết mòn trong những trại tù heo hút nơi rừng thiêng nước độc trong lúc vợ con vẫn mòn mõi đợi chờ, và trong nhiều trường hợp vẫn tiếp tục thư từ và gửi qua tiếp tế khi chồng, cha mình đã ra người thiên cổ từ lâu!
Tôi biết làm sao để làm cho nhiều người Mỹ khác tin được rằng chế độ Cộng sản chẳng qua chỉ là một nhà tù vĩ đại trong đó cán bộ Cộng sản là cai tù và tất cả mọi người dân già trẻ lớn bé, đều là những tên tù khổ sai trong suốt cả cuộc đời. Chỉ có những ai đã từng sống dưới chế độ Cộng sản mới tin được những điều có vẻ phi lý đó. Riêng cá nhân tôi mới chỉ sơ sơ nếm mùi Cộng sản có một năm ở Hà Nội từ năm 1954 qua năm 1955 đã phải tìm cách trốn vào Nam nên cũng biết qua thế nào là sự bạo tàn của Cộng sản .
Tập Ngục Ký của Trần Huỳnh Châu không phải là một áng văn chương, vì đây không phải là một cuốn truyện hay tiểu thuyết sáng tác qua kinh nghiệm của đời mình. Đây là một Bản Cáo Trạng, một Chứng Liệu Sống về những tội ác tày trời của tập đoàn Cộng sản Việt Nam mà chắc chắn sau này lịch sử Việt Nam sẽ nghiêm khắc lên án. Tập Ngục Ký của Trần Huỳnh Châu sẽ góp phần không nhỏ trong việc cảnh tỉnh những ai trong thế giới tư do còn tin rằng Cộng sản dù sao cũng vẫn là người. Không! Trăm ngàn lần không! Tập đoàn Cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn mất hẳn nhân tính. Họ chỉ là những người khát máu không hơn không kém. Nhưng thôi, lên án Cộng sản thì có viết cả đời cũng không tố giác hết tội ác của chúng. Hãy để nhũng người đọc Hồi Ký Ngục Tù tự tìm hiểu lấy xem con người Cộng sản dã man hay còn nhân đạo. Vì vậy, thay mặt Hội Cựu Sinh Viễn Quốc Gia Hành Chánh, tôi long trong giới thiệu tập Hồi Ký Những Năm “Cải Tạo” Ở Bắc Việt của Trần Huỳnh Châu, một cựu nghệ sĩ (lúc thiếu thời Anh đã từng dạy đàn để sinh sống), một cựu Hành Chánh gia nguyên Tổng Thư Ký Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hoà, một cựu Chiến sĩ Cách Mạng Việt Quốc và là một cựu Tù Nhân Khổ Sai của chế độ Cộng sản bạo tàn, đã trốn thoát được đến bến Tự Do.
Ngày 1 tháng 6 năm 1981 Vũ Khiêm (Cựu Sinh viên QGHC, Ban Đốc Sự, Khoá 7)
Sanh làm người Việt Nam là người có một diễm phúc không dân nước nào khác có. Tiếc thay cho người Việt Nam không biết tận hưởng. Tỷ như người đạo Hồi (mahométan) một ngày phải đọc kinh không biết mấy lần, lại nữa khi giữ đạo kỹ, thì không được ăn thịt con thú nào mà không phải do mình cắt cổ? Như vậy làm sao hưởng bít tết của Tây, làm sao xực mì của Tầu và xơi phở Bắc? Đến như người Việt chúng ta, vẫn hàm bà lằng xán cấu, tức nói ra tiếng Việt là bất luận tất cả những gì trước mắt, (xán cấu là đánh trống Bắc cấu). Người phương khác, vẫn câu nệ và không dám thưởng thức món ăn lạ, ăn vào là đau tức thì, trái lại người Việt ta, tôi cho là có một bao tử trời cho, ăn thức gì cũng tiêu hóa ngay như người Việt khi ở Lào ăn mắm Lào, ăn luôn con gián đất bỏ trong hũ muối, qua xứ Chùa Tháp, ăn bò hóc và lua bún nấu theo Khơ Me và khen lạ miệng hơn phở nước ta. Như vậy mà miệng còn than nghèo, đúng là nghèo không biết phận và có hạnh phúc trong tay mà không biết hường. Nói về lễ tết, người dân Việt sanh ở trong Nam, có bao nhiêu Tết!
– Theo như tôi hiểu, không thể nói được và không thể kể ra cho hết, ta dã có tật ham lấy của người làm ra của mình (nhứt là trong làng văn).
– Tết Tây, đã có từ khi Tây qua đây, rồi khi Tầy đi rồi, cũng còn nắm níu ăn tết theo họ mà vẫn noi ăn tết mới theo mình!
– Tết ta là tết cũ theo tục lệ ông bà để lại, tôi không cần nới dông dài.
– Tết theo Miên, khi ở xóm Miên hoặc ở gần người Miên, và tiếng Miên: Chôl chnăm, đúng là “vào năm mới”.
– Rồi người Tau là người bày ra lễ tiết, từ tiết biến ra tết và bánh tét, cũng làm bánh tết, về từ nầy, tôi cũng không dám đi sâu vào, vì dốt và vì còn nhiều người thông thạo hơn nhiều. Vả lại ai dã từng không ăn tết, và mình đây có hơn ai mà dám đại ngôn múa bút. Nhưng đã gần ngày tết đến và cái già sồng sộc theo sau, âu cũng nói về tết chơi dể giúp vui ba bữa. Xin lược bỏ những tết còn đỏ lấm lói, những tết mình còn quên cái chi trong giẻ tả, nào có thơm tho gì? Lại những cái tết không tiền, tết thi rớt, tết cháy túi, tết đau ốm, tết chồng một mâm vợ một thúng, tết bị giặc Thổ rượt khi Tây chạy thua (1945/46), cũng không dám nói về tết ở dất Bắc và chỉ xin nhắc lại nghe chơi những tết vui vui trong nầy, gọi dâng chút tư liệu xoàng cho những người trên trước. Xét ra chúng tôi ở đất Nam nầy, còn nhớ thuờ xưa trong xứ ít được thái bình lâu dài, cho nên ít trọng về khăn áo và chỉ thích “ăn và ăn” đãi bạn, mình ăn thì hết, bạn ăn thì còn. Nói về khăn trên đầu đã khác, ngoài kia xếp chữ Nhứt, ở đây xếp chữ “Bát”.
Về dọn dẹp nhà cửa, trên kia đào hồng mai trắng, ở đây mai vàng đã là quí nhưng kể về quà tết, thì ở Bắc ở Trung, lễ vật phải có mâm dâng, còn trong nầy rất xí xóa tay xách cặp gà cặp vịt cho điền chủ, ở dất phèn nào có sẵn mâm. Hiện nay giới cải lương ca hát, đang lâm cảnh vắng khách, tôi xin kể ở Sốc Trăng nhau rún, gánh hát Tiều vào sáng mồng một thường bày đi hát dạo, đờn hối hả chờ chủ nhà trao gói “cung hỉ chào chia” và đó là cung hỉ tẩu thực. Và tại sao ta không diễn trò ấy lại?
Lúc Tây còn ở dây, dịp Tết, chúng thường bày ra trồng cột treo du bầu, du tiên, bày trò cạp chão, nhảy trong bao bố, té đùn cục cho chúng cười và ban tiền thưởng, ngày nay nhớ mà tủi chớ lúc ấy, có tiền là đủ quên mọi việc. Vui nhứt là bàn bầu cua cá cọp trải dưới đất, còn người lớn thì thức đêm ba mươi cho tới sáng rằng vừa chơi bài vừa chờ năm mới con thú nào hiện ra.
Năm Tân hợi (1911) ở Sốc Trăng tôi được chứng kiến người Tàu cắt đuôi, bỏ tục thờ ma và mở màn dành tiền làm việc xã hội, khai trường lập nhà thương nhà dưỡng lão, bằng cớ nay còn đồ sộ nào Nguyễn Trãi nào Nguyễn Tri Phương, nào nhà nuôi bịnh của bang Quảng Đông nào nhà từ thiện có hai chữ CHÍNH bút tích do thống chế Tưởng Giới Thạch đề tặng làm kỷ niệm, họ ở đây làm giàu mà làm như vậy cũng là cách biết ơn và ta chẳng nên và chẳng khá nên quên.
Tục dựng nêu trong nầy không theo nữa, duy tục mồng năm sau tết cúng cháo cá ám luộc nguyên con, phải chăng lấy theo tục vua Lê dãi lính năm xưa?
Giấy tiền vàng bạc đốt cho tổ tiên quá văng nay cũng dã bớt và đốt rất ít, duy tục đốt pháo, từ Giải phóng vào, sao đốt quá xá, và để chờ xuân Giáp Tuất 1994 nầy, đã có lời khuyên, có giảm được hay chăng. Đồng bào bị lụt lũ, thiên tai sớng thần, kè có ăn tưởng nên nhớ người sống hơn ma cỏ. Năm
1919-20 tôi gặp trên Sài Gòn phong trào tẩy chay hàng Tàu hàng Bombay và tết năm ấy lân múa thì rất ít múa mừng cho Tàu khách thì nhiều, duy xảy ra chém lộn và từ đây cấm pháo, lân còn món gì để nhớ câu “lân ăn pháo đánh quyền?”
Cơn cái ngày xưa lạy mừng tuổi cho cha mẹ ông bà, được lì xì (lợi thời) chỉ là gói giấy đỏ trơng có gói một cắt bạc và một xu đồng (0$11), nay trẻ ít lạy và đòi những bạc ngàn hay mười ngàn, và trẻ lớn trộng lại chưa vừa lòng lại đua đời sắm xe Honda Hon điếc, xúm nhau làm lếu đi cướp giựt đâm chém, xảy ra án mạng, tòa án điên đầu khó xử, xã hội bất ổn và nên trách cha mẹ ham làm giàu đã bỏ lún không dạy con, còn thầy nơi trường vẫn bất lực.
Phong tục càng ngày càng dễ dãi, cẩu thả càng thêm gương bắn súng theo kép Mỹ, hóa ra phát minh vidéo, v.v .. ,lợi không kịp mối hại càng nhiều.
Những năm 1931, kinh tế khủng hoảng, chủ điền sạt nghiệp, sinh viên đi Pháp bỏ học trở về, ở dây thi đậu tú tài cử nhơn càng đông, không có chỗ làm sanh ra bất mãn và trong xứ tỉnh ngộ, chống Tây và lính Nhựt ùa vào, tết nhứt mất vui. Năm Giáp Thân (1945) cách mạng và Nhựt lật dổ đô hộ Pháp, toàn quyền Decoux vào tù và từ đó cho đến ngày nay đồng bào có mặt ở đây, tôi có cần gì vô duyên kể lể.
Càng già càng thấy sự tết. Không phải tại sợ chết, ai đâu lại khởi, duy ngày tết, theo tôi chỉ vui cho tuổi xuân, cho gái ngày nay sắc đẹp trang sức càng tăng, còn già thì phải chạy tiền cho ra cho có để cho cháu con hỷ hạ nhưng đồng bạc giấy ngày nay nhẹ quá, viết như vầy, may lắm được đôi trăm ngàn, tưởng là nhiều nhưng giá sinh hoạt leo thang vùn vụt, viết mửa máu không đủ ăn, tết ôi là tết!
Theo tôi, cũng nên đơn giản và vì giấy còn thừa xin hỏi “sao ta có tết quá nhiều”, Noel của Da tô, ăn thịt chó đêm Giáng Sinh ở Chợ Quán có còn chăng, đèn ngôi sao quá nhiều. Tết Tây rồi qua tết ta, chợ búa giá theo không kịp, cái vui không cần phải đốt pháo chỉ điếc tai và rủi ro còn hỏa hoạn cháy nhà, lúc nhỏ đêm không ngủ được chỉ trông mau sáng để dốt pháo, nay về già chỉ muốn thanh tịnh, ai đốt pháo chỉ trông mau dứt nghe tiếng nổ, pháo ngày nay nổ chát chúa, lại thêm dư thuốc súng nên chế làm lựu đạn, quắng vào sông biển để bắt cá, nhưng quên cái hại cá con cá trứng cũng không còn, ngày mai có cá đâu cho kẻ đến sau? Một câu chúc tết cho vui: một ngưoi treo hai câu: “Phú quí năm ni lai tú xuýt (cout de suite), đối lại “Bần cùng năm ngoái phú lai căn” (foutre le cam). Một anh khác không chịu thua, chê còn dài, anh viết vòn vẹn và treo nơi ngạch cửa “Tăng Phú” (t’en foudre!).
Bùi Khiết sinh năm 1940 tại Hà Nội, trung học Chu Văn An, tốt nghiệp Dược Sĩ 1965. Phục vụ Bệnh viện Dã chiến Kontum, Viện Thí Nghiệm Trung Ương, QYV Trần Ngọc Minh, biệt phái Bộ Y Tế VNCH tới 1975. Tù cải tạo tới 1977, vượt biển tới Mã Lai. Định cư ở Nam Califonia, trở lại hành nghề Dược sĩ, nghỉ hưu 2016. Nguyên chủ biên báo Đất Sống / Dược Khoa, cộng tác với các báo Tình Thương Y Khoa, Tập san Quân Y Quân Lực VNCH, Chủ bút Tập san Y Tế tại Hoa Kỳ.
Dược sĩ Đại úy Bùi Khiết 2018
Bỗng Một Trường Hợp Hiện Ra
Mười hai năm về trước, hồi còn học ban tú tài ở trường Chu Văn An, tôi có nghe tên Nghiêm Sỹ Tuấn. Đó là một học trò nổi tiếng giỏi và “gạo”. Nghiêm Sỹ Tuấn đã gây bão tố cho lớp người đồng học, nhưng không có tôi trong số người đó. Bởi vì tôi không thích những người học gạo và chủ quan cầm mình trong tư tưởng vay mượn … Nên tên tuổi Tuấn đến với tôi rồi thoáng qua và tôi cũng không hề biết người học trò này dù lớp học anh chỉ cách lớp tôi một vách gỗ thật trống trải. Những mùa thi thoáng qua, chúng tôi lớn dần theo chồng sách và cá tính mỗi ngày một hiển hiện rõ rệt. Tôi theo ngành Dược. Tuấn ngành Y. Thuở đó Đại học Y Dược còn hỗn hợp, tôi thường nghe tên Tuấn được nhắc nhở sau những kỳ thi, những ngày bãi trường trước ngưỡng cửa lớp hay ở một gốc cây trong sân. Bạn bè tôi được nghe về Tuấn nhờ ở những kỳ thi khóa hai, học chung với họ. Tuy vậy tôi cũng chưa biết mặt anh và chẳng nghĩ tới làm quen với anh. Bây giờ thật ân hận về chủ quan nông nổi này.
Ngày đầu tiên gặp Tuấn, do sự rất tình cờ, tờ báo Đất Sống của chúng tôi cùng in với báo Tình Thương ở một nhà in. À tưởng ai, chính người này cùng Lê Sỹ Quang cắt cái kyste sébacé ở vai trái tôi. Vẫn khuôn mặt lãnh đạm, vầng trán gồ cao bướng bỉnh, mái tóc xõa xuống gợi lên một hình ảnh thật cô liêu, tôi liên tưởng tới một Tuấn cô đơn, một tâm hồn khắc khoải. Trần Xuân Dũng giới thiệu tôi với Tuấn. Dũng với tôi là đôi bạn học thuở nhỏ và trường chúng tôi ở phố hàng Vôi, bên phải hồ Hoàn Kiếm nếu đi ngược từ chợ Hôm lên, ngôi trường tiểu học nhỏ nhưng khá cổ kính. Dũng là hình ảnh của tôi thuở thiếu thời. Khoảng thời gian dịu ngọt thơ mộng. Tóm lại Tuấn đến với tôi giữa lúc xáo trộn, các biến cố lịch sử trọng đại xuất hiện dồn dập. Sự xuống đường của sinh viên. Dây thép gai chăng cùng khắp phố. Đô thành nóng bỏng và ngất ngây với những đòi hỏi. Tuấn vẫn thản nhiên, anh chẳng có ý kiến gì với bè bạn. Như một con ngựa rong ruổi trên đường riêng của mình, anh câm nín. Nhưng thực ra anh có một lập trường rõ rệt, phản đối mọi cuộc xuống đường, dù ở phe nhóm tôn giáo nào. Muốn cách mạng ư? Trước hết cách mạng bản thân mình trước đã. Tâm sự đó gói ghém trong tác phẩm của anh. “Biến loạn khởi đầu bằng cuộc xô xát trước cửa hàng của phú thương. Trên bục gỗ cao để diễn tuồng ngày hội, một thanh niên tóc rối râu xồm, nước da xanh mét, giậm chân vung tay nói những lời ngô nghê khó hiểu. Lắng nghe thì thấy như: Tôi là chủ, các ông là chủ … Chúng ta là chủ. Lại thấy như, nó đánh ta, ta phải diệt nó. Dân chúng nghe mà bỡ ngỡ ngẩn ngơ, nhưng vì hiếu kỳ tụ lại mỗi lúc một đông.” (1)
Tôi được xem bài này trên tờ sửa morasse. Thuở đó tôi chưa biết nhiều về Tuấn nên rồi, sau cái bắt tay xã giao, mọi sự lại rơi vào quên lãng. Ngày vào Thủ Đức, tôi mới thật sự quen Tuấn. Anh có một cá tính rõ rệt. Một người lý tưởng và nhiều tài năng. Hình như mẫu người quân tử Đông Phương là hình ảnh bất diệt ở anh. Giữa một xã hội vật chất đang lên, tâm hồn tinh thần lần lần đi xuống. Anh là một trong những người cuối cùng chống đối lại. Anh gắng chịu mọi áp lực từ người thân, bạn bè tới chính mình. Triết lý sống của anh là chiến đấu, kỷ luật và vị tha. Anh luôn luôn đề cao kỷ luật và trật tự. Hai danh từ này là kinh nhật tụng của anh. Bạn bè nhiều người không thích cho là gàn. Nhưng con ngựa có đường riêng đó bỏ ngoài tai tất cả, vinh hoa an phận chỉ là những chiếc lá úa héo trong vườn hoa chiến đấu nhọc nhằn. Tôi thấy mến Tuấn ở nhiều điểm. Anh đích thực là một kẻ sĩ của Khổng giáo. Nhất định không thể là đạo đức giả. Những buổi hành quân, tập trận, anh luôn luôn tự khép mình vào kỷ luật, sống trọn vẹn không khí nhà binh, nên bị nhiều người chỉ trích hoặc hiểu lầm. Tuấn chỉ biết cúi đầu theo ý nghĩ của mình nên anh trơ trọi và hoang vắng như một bóng dừa trên biển cát. Một pho tượng tĩnh tọa trong khu hỏa hoạn. Tôi thường bắt gặp Tuấn tản bộ trong mỗi buổi chiều. Áo quần treillis thẳng nếp và đôi giày Saut bóng tới độ soi gương. Dáng Tuấn đi thật thẳng nhưng hơi khệnh khạng. Phải tinh ý lắm mới nhận ra nụ cười cởi mở, trên khuôn mặt lãnh đạm của anh.
Có người bảo Tuấn quá khắc khổ. Tôi thì không tin như vậy. Một người viết văn, làm thơ, đọc sách với đủ cầm kỳ thi họa cùng những nghiện ngập của một người làm việc nhiều về tinh thần như thuốc lá, cà phê, biết thả hồn theo tiếng nhạc của mình thì không thể nào là khắc khổ được. Có chăng là Tuấn tự rèn lối sống theo lý tưởng vạch sẵn không phù hợp với lối sống mọi người chung quanh mà thôi. Những ngày ở quân trường làm tôi hiểu Tuấn hơn và anh lấy làm thích thú khi tôi so sánh khoảng đường đá củ đậu lổn nhổn như một thực tại rách nát hồi đó. Giữa chúng tôi có đôi chút dị biệt về chính trị, về chiến tranh, về tình yêu. Dù dị biệt nhưng tôi không thể phủ nhận bản chất trung thực của kẻ sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn. Ngày cuối cùng ở quân trường, tôi, Vũ Văn Tùng, Lê Sỹ Quang, Trần Xuân Dũng nẩy ý kiến ra một tờ báo lưu niệm. Đầu tiên định quay ronéo. Nhưng một buổi tình cờ xuống phòng đọc sách quân trường, thấy Sinh viên Sĩ quan Thủ Đức có những tờ báo in khá xuất sắc. Vì lẽ đó chúng tôi quyết định phải là báo in đàng hoàng. Bên ly coca có đá nổi phềnh và bọt hơi reo nhẹ, chúng tôi chợt nhớ tới Nghiêm Sỹ Tuấn và Tôn Thất Chiểu. Chiểu vì lý do riêng đã chẳng đóng góp được gì. Thế là cả bọn tìm Tuấn. Ở một căn phòng cuối dẫy, Tuấn ngồi yên trên giường giữa bóng tối buông rộng. Trong khoảng đen nổi bật vẻ linh hoạt của đôi mắt. Tuấn hân hoan nắm chặt tay chúng tôi khi nghe tin ra báo. Tuấn mất hết dáng dấp điềm đạm của ngày nào áo xanh hồ thủy cặm cụi trên vết thương của tôi. Giờ chỉ thấy vẻ nồng nhiệt của một nghệ sĩ. Từ đó mỗi lần gặp nhau chuyện nổ như bắp rang: chuyện về tên báo, về bài vở, về số trang, cách trình bày … Có rất nhiều tên được nêu ra với đầy đủ ý nghĩa. Chuyển Hướng, Phóng Sự Lên Đường hoặc Xếp Bút Nghiên. Cuộc bàn cãi thật ồn ào, thật lâu nhưng chưa đưa tới kết quả nào cả. Một hôm trong ngày nghỉ xả hơi, Tuấn bảo:
– Tao mới nghĩ ra một tên cho tụi mày: Truyền Sinh. Truyền Sinh, ừ nhỉ! Tên báo hợp tình hợp lý quá. Truyền Sinh là mang sự sống đi, mang một thứ sinh khí một giao cảm tới. Tên báo được truyền ra trong sự vui mừng của một sản phụ đẻ khó lại sinh con trai. Niềm hân hoan của hai người bạn thâm giao bặt tin bất chợt gặp lại. Dũng đâu lo cái bìa đi. Tùng chạy tiền, Ngô Thế Quý với tập tài liệu mật được công bố. Lại có cả ông Babilac mập và trắng Lê Sỹ Quang như đứa bé bụ sữa viết bài nữa. Nhớ lại lúc ở một hành lang hút dài, tôi rút tập bản thảo của mình đưa cho Tuấn khuôn mặt tôi bi thảm làm sao vì sợ bị kiểm duyệt. Tuấn an ủi tôi, anh thả tầm mắt nhìn người lính đẩy máy cắt cỏ. Anh bảo tôi anh dịch một truyện ngộ lắm: Đất chẳng trở về.
Tuấn ơi! Đất cũ còn đây, mà Tuấn thì không bao giờ về nữa. Tuấn đã đi rồi, anh đã tìm thấy Mùa Xuân bên đất lạ chưa hả Tuấn? Bài vở xong chúng tôi mang in, vẫn nhà in Tương Lai quen thuộc, Tuấn bỏ nhiều thì giờ lo việc ấn loát. Anh chạy tới chạy lui, chọn mẫu chữ, lo cách trình bày. Anh bỏ mọi công việc trong lúc bè bạn tìm mọi thú vui giải trí cho bõ lúc bị kìm tỏa ở Thủ Đức. Đất chẳng trở về. Nissim Aloni Gilberte Sollacaro. Người ăn cơm một mình, Para Bellum. Ý thức hành động. Việt Nam đi về đâu? Cách mạng, dân chủ, độc lập. Hàng rào danh từ. Bác nông phu hiền lành đã gục ngã vì bị lôi cuốn trong một hành trình phiêu lưu mà trong thâm tâm bác chỉ yêu vợ con, mảnh vườn xanh um cây cỏ và con bò sữa hiền như bụt. Nhân danh những danh từ bác bị hy sinh. Sao lại vô lý như vậy? Ai cứu bác đây? Nghiêm Sỹ Tuấn chấp nhận trọng trách này. Mùa xuân đối với anh không phải là một kinh đô phồn hoa mà là đồng mạ xanh rì dải nước phù sa loáng ánh mặt trời vậy. Ít người học thức trong chúng ta được gần gũi với nông dân để thấy sự vất vả, hy sinh vô bờ bến cho tổ quốc của họ.
Tâp San Đại Học Quân Y Việt Nam
REVUE DE L’ECOLE DE SANTE MILITAIRE DU VIET-NAM
REVIEW OF MILITARY MEDICAL SCHOOL OF VIETNAM
TÔ – QUỐC
NHÂN-LOAI
SỐ DẶC BIỆT THÁNG MUỜI 1961
Số 1+2
Bìa Tập San Đại Học Quân Y Việt Nam,
Số 1&2 Tháng Mười 1961
[tư liệu BS Trần Xuân Dũng]
Trước khi lên đường, khóa chúng tôi tổ chức dạ vũ chia tay.
Tuấn đề nghị mấy người làm báo mặc quân phục đại lễ. Tôi chiều ý Tuấn. Đêm của vui nhộn và đèn màu. Tôi thấy Tuấn len lỏi từng bàn mang tặng từng người từng tờ báo. Bao nhiêu là ý nghĩ tâm huyết được gửi gắm. Tuấn say mê công việc ấy cho tới lúc mọi người ra sàn nhảy. Tờ báo màu lợt lạt bên cạnh ly nước ngọt uống dở nằm từng dẫy. Chưa bao giờ có một trơ trẽn như trơ trẽn này. Ảo tưởng hào khí một Kinh Kha mang chí lớn ra đi, mà buổi tiễn hành có đầy đủ thi vị của rượu, thơ, của gươm lẫn giọng tiêu nức nở của Cao Tiệm Ly bên bờ sông Dịch. Tuấn không bao giờ thấy được. Thực tế chỉ có nhạc Pop, Rumba, Slow, những du hý của người ngoại cuộc.
Tôi không biết nhảy. Tuấn nói ngay thẳng và không mặc cảm như vậy. Ngồi trước ly nước cam, giọt nước đọng đầy ven ly, anh trầm ngâm, nửa như suy tư, nửa như chăm chú vào đám người trên sàn nhảy. Tôi không biết anh đã nghĩ gì. Đêm đó Tuấn về lúc nào tôi không rõ nữa. Tuấn tình nguyện vào binh chủng Nhảy Dù. Anh muốn đóng góp thực sự cho tổ quốc bằng hành động. Từ đó mỗi người mỗi hướng. Tôi thu xếp hành trang đi Kontum. Dũng vào TQLC, Tùng về Cà Mau, bạn bè phiêu bạc mọi nẻo. Ở Kontum thỉnh thoảng tôi được vài tin tức về Tuấn. Tuấn đi hành quân hoài! Một buổi mưa rừng rũ rượi, gió thốc tứ bề. Ngồi buồn Chiểu mang guitare và nhạc hát cho tôi nghe. Bản nhạc viết tay của Tuấn Feuilles Mortes, Bésamé Mucho, Về Miền Trung và nhiều bản khác tôi không nhớ hết. Sống với Chiểu [Tôn Thất Chiểu] tôi nghĩ về Tuấn. Hai con người. Hai khác biệt nhưng đều dễ thương. Lần nghỉ phép về Sài Gòn tôi đến thăm Tuấn. Tình cờ chúng tôi gặp nhau. Nhà Tuấn ở một khu hỗn tạp vùng Dakao. Nửa năm cách trở bây giờ mới mặt thấy mặt. Anh siết chặt tay tôi. Niềm vui tưởng như đã vỡ. Trên bàn trang sách của Tư Mã Thiên còn bỏ ngỏ, sát tường tủ sách cao vời vợi, truyện của Dostoevsky bên sách của Khổng, Triết học của Kant. Nghiêm trang giữa chồng tiểu thuyết thời danh. Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức và chữ Hán hòa đồng thành khối. Tự nhiên tôi liên tưởng tới một lý tưởng trong sạch, và rắn chắc như kim cương. Vì mắc bệnh chủ quan nên tôi coi Tuấn là cây hoa quý giữa một vùng cỏ dại này. Xin những người không đồng quan điểm tha thứ cho tôi khi ca tụng một người mới nằm xuống, đã làm những công việc mà chúng ta không làm. Nhưng rồi một buổi chiều, đường dây nói từ TQLC của Trần Xuân Dũng báo tin cây hoa quý đó không còn nữa. Hoa đã tàn héo ở một hoang địa Khe Sanh. Nghe xong tôi thấy mình bải hoải, nước mắt như ứa lên. Thế là xong, thế là Tuấn đi, vĩnh biệt hết thẩy. Hai lần bị thương ngoài mặt trận không làm Tuấn lùi bước. Làm gì có chuyện quá tam ba bận. Trên chiếu bạc cuộc đời, Tuấn đã xả láng. Nhưng vận nước đen đủi từ hơn 20 năm nay vẫn chưa thay đổi và Tuấn mất hết. Tuấn thua lỗ đến nỗi khiến bạn bè thấy ngẩn ngơ tiếc hận.
Một lần cuối cùng gặp Tuấn ở bệnh viện Cộng Hòa, vào khoảng mùng 6-7 Tết gì đó, tiểu đoàn anh hành quân lùng địch ở mạn này. Đầu xuân xác pháo còn bay. Tuấn chạy ra nắm lấy tay tôi. Chúng tôi hàn huyên bên một ngôi nhà sụp đổ. Anh hỏi thăm bạn bè, trong lúc đó những người lính Dù len lỏi từng ngõ ngách. Tuấn bảo đang ở Cao Nguyên thì được lệnh về giải cứu thủ đô. Tết rồi Sài Gòn vui chứ, chúng tôi cùng cười. Vâng, vui lắm, có rượu ngon và nhiều người đẹp, có pháo và xe hoa không tưởng tượng được. Câu chuyện bỏ lửng khi đoàn quân được lệnh lên đường. Đấy là lần chót tôi gặp Tuấn nếu không kể lúc gác quan tài anh sau này.
Anh đã nằm xuống quá vội, nhưng nếu ý Chúa đã muốn như vậy, chúng tôi chỉ còn biết cúi đầu cầu nguyện trong nỗi tiếc thương.(2) Nhưng nếu được gặp Chúa tôi sẽ hỏi: Dưới mắt Thượng Đế chúng con phải làm gì? Hãy tha thứ lỗi lầm cho nhau. Thượng Đế sẽ thương yêu chúng con. Còn gì tuyệt vời hơn tình yêu trong
tâm hồn chúng con. (3) Nhưng sao chúng con quá đọa đày thế này, thưa Chúa. Người bạn con về với Chúa đã nói được gì với Người, Nghiêm Sỹ Tuấn ơi!
BÙI KHIẾT
[trích Tập San Quân Y Quân lực VNCH 1968]
(1) trích “Những người đi tìm mùa xuân”, Tình Thương số 2, Xuân Giáp Thìn 1964.
(2) trích điếu văn của những người bạn cũ Chu Văn An.
(3) trích Dưới Mắt Thượng Đế, bản dịch của Nghiêm Sỹ Tuấn, Nguyễn Vĩnh Đức. Tình Thương Số 2, Xuân 1964.
Tiếng cồng vẫn còn rên rỉ khi chiếc xe cắm quốc kỳ của chúng tôi tiến trong thành phố về đêm, Rồi bỗng nhiên tiếng cồng im bặt và chúng tôi nghe thấy tiếng súng nỏ ở phía xa. Mel Adams chỉ những quân lính đứng gác dọc hè phố, những xe vận tải đậu ở mỗi ngã tư và nói:
“Cung là một chiến thuật gia giỏi thật. Tất cả thành phố chắc cũng được bố trí như vậy”.
Harry Yaffa đang đứng đợi chúng tôi tại cổng tòa Đại sứ. Hắn nhẩy vội vào trong xe và đóng sập cửa lại. Trông hắn có vẻ mệt đừ và phờ phạc. “Họ đang tấn công chùa Xá Lợi và ba, bốn chùa khác trong thành phố. Tôi vừa nhận được tin từ Huế, Đà Lạt và Đà Nẵng điện thoại về Các nơi đó cũng bị tấn công như vậy. Thưa ông Đại sứ, ông nên đích thân đến quan sát vụ này.”
“Đồng ý”.
“Tòi không đồng ý, thưa ông Đại sứ”. Lần đầu tiên từ khi đến đây tôi mới thấy Mel Adams sống động. Giọng hắn nói cứng cỏi và đột ngột. “Tôi nghĩ như vậy là kém ngoại giao. Làm vậy, ông phải công khai tuyên án không chút dè dặt ngoại giao nào nữa. Báo chí sẽ có mặt tại đó. Ông không thể tránh khỏi bị chụp hình mà ông sẽ bị chụp hình như một người thụ động đứng coi sự hành hung của cảnh sát. Tôi nghĩ như vậy là điều không hay”.
Harry Yaffa lạnh lùng hỏi, “Liệu có tệ hơn là đến Phủ Tổng thống ngày mai với tin tức sao lại không? Ông Cung đã soạn ra tấn tuồng nhỏ này chỉ vì muốn cho ông Đại Sứ xem thôi. Thôi đi! Mel ơi! Phủi sạch mạng nhện đi. Đâu phải là chuyện ngoại giao ý nhị. Đây là chiến tranh.”
“Tòi đã nói rõ lập trường của tôi,” Adams cứng cỏi đáp. “Dẫu là chiến tranh đi nữa, ông cũng cần có chỗ để bố trí lực lượng. Làm như thế, ông hết chỗ cựa quậy.”
Đã đến lức tôi phải can thiệp. Tôi cần phải giữ thể diện cho cả hai người.
“Anh Mel, đó là một sự nguy hiểm, anh trình bày thật có lý, quyết định là ở tôi. Thôi chúng ta đi”.
Câu nói chưa ra khỏi miệng tôi thì Bill Slavich đã nhấn mạnh ga, quẹo gấp một góc phố trên hai bánh và tiến thẳng về phía chùa với tốc độ tối đa. Tiếng súng bây giờ nhiều hơn và khi lại gần, chúng tôi có thể nghe thấy những tiếng la hét, kêu gào và tiếng xôn xao tức giận của đám đông tụ tập. Các ngả tiến về phía chùa đều bị những rào gỗ ngăn chặn và do cảnh sát dã chiến võ trang với trung liên và súng phóng lựu đứng gác. Một đám đông tụ tập ở các rào cản và quân đội đang đẩy họ trở lui với báng súng. Khi xe chúng tôi thắng gấp lại có hai người cảnh sát chạy tới. Rồi họ nhìn thấy lá cờ cắm trên xe và rút lui. Yaffa và tôi trèo lên mui xe để nhìn qua lớp người.
Cổng chùa đã bị phá toang và bên trong có xe thùng cảnh sát đậu. Chúng tôi quan sát thấy cảnh sát đang xô đẩy một toán sư sãi về phía những xe thùng. Các sư sãi đều tơi tả và đầy thương tích. Một nhà sư bị chẩy máu nhiều do vết thương trên sọ. Sau lưng họ một ni cô đang kêu thét lên và vật lộn trong tay một sĩ quan cấp úy. Chúng tôi nghe thấy tiếng la từ một tầng lầu cao và nhìn lên, chúng tôi thấy một người mặc áo vàng nhẩy từ cửa sổ xuống sân dưới. Từ phía bên trong chùa lại có nhiều tiếng súng nổ và những tiếng nổ ục của lựu đạn cay. Đám đông la hét chửi rủa lính gác.
Hai người phóng viên sóng đôi rời khỏi đám đông và vội vã tiến lại phía chúng tôi. Một người dơ cao chiếc máy ảnh và dùng đèn flash chụp tôi đứng trên mui xe. Bạn hắn tự giới thiệu:
“Tôi là Cavanna, phóng viên hãng thông tấn Associated Press. Có phải ông là ông Amberley?”
“Đúng vậy”.
“Ông có điều chi bình luận về những diễn biến tối nay?”
“Có. Tôi đã thấy bạo động và tàn ác. Là một đại diện của Hoa-kỳ, tôi rất tiếc sự việc đã xây ra. Tôi không có điều gì bình luận thêm cho tới khi tôi có thì giờ thảo luận về vấn đề này với Tổng thống Cung”.
“Sáng nay một nhà sư đã tự thiêu trước mắt ông. Còn đêm nay thì xảy ra vụ này. Đày là ngày đầu tiên ông nhậm chức Đại sứ tại miền Nam Việt Nam.Thưa ông Đại sứ, ông có điều chi bình luận về sự sắp đặt thời gian ấy?”
“Tôi sẽ đưa ra lời bình luận tại buổi họp báo vào hai giờ chiều mai. Còn bây giờ, thế là đủ rồi”.
Tại các rào cản lại có một sự náo nhiệt bạo động mới. Một vỏ chai được liệng tới rồi tiếp theo là một trận mưa rào những gậy gộc và đá. Cảnh sát từ phía sau rào cản tiến lèn và đẩy lui những người đứng xem về phía sau. Họ làm việc đắc lực một cách tàn nhẫn. Lại có thêm nhiều sọ vỡ và một thiếu nữ trẻ bị đẩy sấp xuống rồi bị đám đông rút lui dẫm bừa lên. Cảnh sát nâng cô ta dậy và khiêng đem về luôn những xe thùng. Đám đông
đang từ từ bị đẩy lui về phía xe chúng tôi.
Yaffa kêu lên, “Thôi bọn mình chuồn đi. Đi theo tôi.”
Hắn đưa chúng tôi ngồi vào xe thật mau lẹ và xe chúng tôi chuyển bánh quẹo qua góc phố gần đấy tiến vào sân trụ sở U.S.A.I.D. ngay bên cạnh đất nhà chùa. Nhân viên ngụ tại trụ sở đều mặc quần áo ngủ kéo đầy ra ngoài. Một thiếu phụ trẻ đang băng bó những vết thương cho một nhà sư mặt bị lưỡi lê đâm toạc. Một nhà sư khác ngồi nép mình vào bức tường cuối vườn, rên rỉ và lấy tay xoa bóp hàm dưới bị bể. Một nhân viên U.S.A.I.D. tiến lại gần tôi. Hắn ta tức giận và bị xúc động.
“Thưa òng Đại Sứ, họ đang giết người ở trong đó. Giết người không ghê tay! Chúng ta có ngăn chặn được không?”
Harry Yaffa đốp chát lại, “Không, chúng ta không cản được. Vậy cử bình tĩnh. Đem hai nhà sư kia vào bên trong, chỉ thị cho lính gác là nếu có ai phá rào vào đây thì nổ súng trước rồi hỏi sau. Kèu Đại tướng Tolliver cho ông biết chuyện đã xẩy ra và xin ông cho một bác sĩ đến đây ngay cùng với một toán lính gác nữa.” Rồi hắn quay lại phía tôi. “Thưa ông Đại-sú, nếu ông đã xem đủ rồi, chúng ta nên quay về tòa Đại Sứ.”
Tôi đã xem quá đủ. Sự bạo hành vô lý của quang cảnh vừa rồi làm tôi bất mãn. Tôi sôi sục vì tức giận. Tôi quay lại nói với Mel Adams.
“Anh ở lại đây, anh Mel! Hãy thâu lượm tất cả tin tức anh có thể lấy được về vụ này và báo cáo cho tôi sáng sớm mai Hai vị tu sĩ này được sự che chở của Chánh phủ Hoa kỳ. Nếu ai muốn hỏi gì, phải hỏi tòa Đại Sứ.”
Adams gật đầu và nhắc thêm tôi “Thưa ông Đại Sứ, có lẽ mình thông báo cho tất cả các tòa Đại Sứ khác biết về việc đã xẩy ra thì hay lắm.”
“Tôi sẽ lo việc ấy,” George Groton nói: “Thưa ông Đại Sứ, ông có cần thêm nhân viên lại làm việc không?”
“Có chứ. Kêu cho tôi cô Beldon và nhân viên nòng cốt. Trong vài giờ nữa chúng ta sẽ có nhiều việc lắm.”
“Còn anh sẽ làm gì, anh Yaffa?”
“Tôi có công việc riêng,” Yaffa nói một cách cứng cỏi. “Bill Slavich sẽ đưa ông về. Tôi sẽ ghé lại tòa Đại sứ sớm nhất nếu có thể.”
Trên đường về qua những đường phố đầy lính gác, tôi cố nén cơn giận và bình tĩnh duyệt lại những biến cố trong vòng mười hai tiếng đồng hồ vừa qua. Thật rõ ràng là những biến cố đó đã được tính toán để làm tôi mất uy tín và đưa tôi vào một thế yếu khi phải thương lượng với Tổng thống.
Tôi sống ở Á-châu đã khá lâu để hiểu cái “thể diện”, hay nói một cách khác, sự phô trương quyền lực trước quần chúng để thay cho uy tín cá nhân, quan hệ đến thế nào. Việc tôi được bổ nhiệm làm Đại sứ là một đòn nặng đánh vào uy tín cá nhân của Tổng Thống Cung. Bởi vậy cho nên như một người Á đông chính cống, ông phải dìm tội xuống để biểu lộ tư thế của ông. Nhưng ngoài việc gây khó dễ cho tôi, còn nhiều chuyện khác nữa, nên tôi cần phải sáng suốt, không thể nhận định một cách hấp tấp được. Tổng thống Cung là một chinh trị gia quá khôn ngoan nên không thể nói ông đã phô trương bạo lực thỉ vì mục đích muốn phô trương bạo lực. Phải nhớ rằng hành động của ông bao giờ cũng phù hợp với con người của ông người đã lãnh đạo xứ sở sau sự thảm bại ở Điện-biên-phủ, người đã định cư gần một triệu người ty nạn miền Bắc, đã làm hồi sinh nền kinh tế quốc gia và bẻ gầy thế lực của Bình-xuyên – bọn thủy khấu đã kiểm soát năm ngàn binh lính và toàn thể lực lượng cảnh sát công an Saigon. Òng đã thoát khỏi hàng chục âm mưu và nắm lại được quyền kiểm soát nhiều giáo phái võ trang, nhiều lãnh chúa phong kiến và quân nhân mưu phản. Chính ông đã kêu gọi Hoa kỳ huấn luyện và thống nhất quân đội, đồng thời viện trợ qnân cụ cần thiết để chiến đấu chống bọn du kích của Hồ-chí-Minh. Ông cũng vừa là một triết gia vừa là một chiến lược gia chính trị. Vậy không thể bảo ông đã hành động vì một lý do không đáng kể.
Không một người đầy đủ lý trí nào mà lại muốn thắng một trận giặc bằng cách tung ra một cuộc đàn áp tám mươi phần trăm dân chúng của mình. Bởi vậy ít nhất ông cũng phải có một lý do xác đáng nào đó để biện minh cho hành động chống các nhà sư là tinh hoa của tín ngưỡng Phật giáo. Tôi nhớ đến tài liệu tồi đã nghiên cứu trong hồ sơ mà Festhammer đưa cho tòi. Đó là một bản báo cáo của CIA nói về sự xâm nhập của cán bộ Cộng sản vào hệ thống sư sãi của Phật giáo. Bản báo cáo gồm những hoạt động ở Thái Lan, Lào, Cam-bốt và Việt-nam. Báo cáo nói rằng ở Thái Lan, Phật giáo thuộc phái Tiểu-thừa, sư sãi đều được tập trung dưới sự bảo trợ của Hoàng gia nên có thể kiểm soát được sự xâm nhập của Cộng-sản. Trong hệ thống Đại thừa, lỏng lẻo và tản mát hơn, sự kiểm soát rất là khó. Các nhà sư trẻ và quá khích đã bắt đầu tiếm quyền của những vị sư già và chân tu hơn. Chiếc áo cà-sa vàng là một vỏ che đơn giản và an toàn cho sự lũng đoạn trong các chùa chiền và trong dân chúng. Đó là luận cứ của Cung và ông ta có thể đem ra biện minh một cách hùng hồn ở bất cứ một diễn đàn nào. Sau những vụ rối loạn ở Huế mà kết quả là chín người bị quân chính phủ giết chết, các nhà sư đã tổ chức những cuộc mit-tinh công khai và đọc những bài diễn văn nẩy lửa kết án chính phủ. Trong một nước đang có chiến tranh, không thể tha thứ được sự phá rối trật tự công cộng như vậy. Ngay ở điểm này nữa, chứng cớ dường như có thể biện minh cho những biện pháp an ninh mạnh. Nhưng còn bạo lực như tôi đã thấy ở chùa Xá Lợi là một sự điên rồ về chính trị không thể tha thứ được và với tư cách ông đại sứ Hoa-kỳ, tôi có bổn phận phải tách rời tôi và xứ sở tôi khỏi sự điên rồ ấy.
Khi chúng tôi về tới tòa Đại sứ, một sự ngạc nhiên khác đang chờ đợi tôi, Một nhà sư đứng tuổi đã trốn thoát khỏi trong gang tấc và lính gác thủy quân lục chiến đã phải chĩa súng ngăn cản người cảnh sát đang đuổi theo. Nhà sư nói được tiếng Pháp nhưng không biết nói tiếng Anh. Tôi ngồi tiếp chuyện ông gần một tiếng đồng hồ trong khi Anne Beldon ghi chú lời ông thuật lại vụ tấn công chùa. Tôi nhận thấy ông không phải là một nhân vật đáng kể. Ông có vẻ nông cạn, tầm thường và hiểu biết rất ít, Ông kể cho tôi nghe diễn tiến vụ tấn công chùa từng giai đoạn một nhưng khi tôi hỏi ông về tính chất, lịch sử. tổ chức, thái độ và những vấn đề khó khăn của Phật giáo Việt-Nam thì ông lại không thể cho tôi biết gì hơn nhữug điều mà ai nấy cũng đều biết xen lẫn với sự nguyền rủa gia đình Cung một cách thậm tệ. Tôi không thể hình dung nhà sư này trong vai trò tử đạo nhưng ông có vẻ là một người chuyên sách động. Tự nhiên tôi đem đối chiếu sự nguyền rủa cay độc của ông với cái kỷ luật tự thân cao thượng của nhà sư Muso Soseki. Tuy nhiên ông cũng cho tôi biết hai sự kiện quan trọng. Cảnh sát lúc đến tấn công đã chuẩn bị sẵn một danh sách. Bất cứ nhà sư nào có tên trong danh sách đều bị kết tội cấu kết với Cộng sản. Cảnh sát cũng đã chiếm đoạt hộp đựng tro của nhà sư đã tự thiêu sáng nay, nhưng còn trái tim cháy đen đựng trong một cái bình đã biến đâu mất, Rõ ràng là Cung, một tín đồ Thiên chúa giáo am hiểu, đã không muốn có ai tử đạo trên ngưỡng cửa nhà mình.
Sau đó điện thoại từ các nơi khác bắt đầu gọi về. Ở Huế, binh sĩ đã phá phách một ngôi chùa và ăn cắp hết của cải trong điện thờ. Từ một cây cầu dẫn đến một ngôi chùa khác, đã xây ra một trận đánh ác liệt. Có ba mươi người chết và hàng trăm bị thương. Tổng kết ước lượng có gần một ngàn người đã bị bắt tại các nơi trên toàn quốc. Tôi thảo một bức công điện dài gửi cho Hoa Thịnh Đốn và nhiều công điện khác gửi cho các đại diện Hoa Kỳ ở Lào, Cam Bốt và Thái Lan. Tới sáu giờ sáng chúng tôi hãy còn làm việc và chúng tôi nghe thấy chính tiếng Tổng thống Cung trên đài Saigon. Ông công bố trình trạng khẩn trương và thiết quân luật trèn toàn quốc. Òng trao cho quân đội toàn quyền truy tầm, bắt giữ người tình nghi. Lệnh giới nghiêm và kiểm duyệt toàn bộ những liên lạc trong và ngoài nước được ban hành. Trước khi ông dứt lời thì Yaffa bước vào và báo tin rằng Saigon đã bị quân từ tiền tuyến kéo về trấn đóng, các cửa ngõ thành phố đều bị đóng kín. Liên lạc đien thoại khắp nước bị cắt đứt. Hệ thống liên lạc của chúng ta vẫn hoạt động nhưng một cách chính thức thì Việt-nam đã bị cô lập với thế giới bên ngoài.
Mọi sự việc đều xảy ra quá mau lẹ và quá đầy đủ nên chắc phải được đặt kế hoạch từ lâu, trước khi tôi đến. Bởi vậy tòi phải coi như đó là một biện pháp để ngăn chặn một sự đe dọa thực sự đối với chính quyền. Còn hậu qnả ra sao, tôi chỉ có thể ước đoán. Và bây giờ thì tôi phải hành động. Anne Beldon mang đến cho tòi đồ điểm tàm có cà phê đen và bánh bích quy mặn. Tôi cạo râu một cách vội vã với một dao cạo đi mượn và lên đường đến dinh Tổng Thống cùng với Mel Adams và ông Giám đốc Nghi lễ của tôi. Tất cả đường xá dẫn tới
Dinh đều được kiểm soát bởi một hệ thống điếm canh và rào cản. Chúng tôi phải mất mười lăm phút mới qua khỏi hàng rào lính canh đầu tiên. Mặc đầu vậy, trong Dinh vẫn còn một vẻ yên tĩnh trang nghiêm. Một thư ký người Việt đến giải thích với chúng tôi với sự lễ độ rõ rệt là chúng tôi đã đến sớm trước giờ hẹn một tiếng đồng hồ và Tổng Thống vì công vụ bề bộn bất thường, đã buộc lòng phải để chúng tôi chờ đợi trong chốc lát.
Mel Adam giải thích một cách lạnh lùng rằng bởi lý do Hoa Kỳ có dính líu trong tình trạng khẩn cấp này nên việc ông Đại Sứ đến sớm là do lòng cung kính đặc biệt đối với Tổng thống. Người thư ký nói để chúng tôi yên lòng rằng Tổng Thống đã hiểu biết điều ấy và cố gắng tiếp chúng tôi thật sớm.
Trà và thuốc lá đã được dọn ra mời chúng tôi trong lúc ngồi chờ. Thời gian chờ đợi cũng là một vấn đề thể diện cho nên tôi đã tính thầm một giới hạn là mười phút, sau đó tôi sẽ kiếu từ. Đúng tám phút mười lăm giây sau, tôi được đưa vào diện kiến Phùng Văn Cung. Ông là một người nhỏ bé. nước da nâu và thấp hơn tôi một đầu người. Ông vận bộ đồ tuýt so trắng tinh với cà vạt lụa mầu xám cài hột kim cương. Nước da ông bóng mịn, mắt sáng và vui cười; trõng ông như vừa mới tắm gội xong mà có lẽ ông cũng vừa tắm gội xong. Ộng chào hỏi tôi một cách trịnh trọng bằng một thứ tiếng Pháp nặng giọng của người Việt Nam. Một người
hầu cận bưng trà tới và trong khi chúng tôi dung trà, ông hỏi thăm sức khỏe tôi và bầy tỏ hy vọng rằng cuộc hành trình của tôi được êm đẹp. Trong khi nói ông luôn luôn nở một nụ cười. Cặp mắt sáng và khôn ngoan của ông cố tìm trên vẻ mặt tôi xem có chút cảm xúc nào không. Ông nói về vị cựu đại sứ một cách ưu ái và nhờ tôi chuyển hộ lời chào và vấn an. Ông khen ngợi tôi về công việc tôi làm ở bên Nhật và ngỏ ý chia buồn với tôi về việc nhà tôi qua đời bên ấy. Ông cho tôi biết rằng ông đặc biệt quan tâm đến sự kiện tôi là một người học đạo Phật theo đường lối Zen. Ông tin chắc rằng như vậy tôi sẽ hiểu biết rõ hơn về tình hình khó khăn tại miền Nam Việt Nam. Thế là gậy ông lại đập lưng ông. Tôi không dè ông am hiểu nhiều đến như vậy. Ông không hề lộ vẻ đắc ý, trái lại vẫn dịu dàng tiếp tục phần khai từ của ông. Ông tin rằng tôi hài lòng
về chức vụ mới đảm nhiệm và nếu tôi cần việc gì riêng tư, xin đừng e ngại gọi thẳng cho ông hoặc bất cứ nhân vièn nào trong bộ tham mưu của ông. Ông ngỏ ý tiếc rằng tôi đặt chân đến xứ này không đúng vào một ngay tốt đẹp hơn nhưng ông chắc tôi thông hiểu tình trạng khẩn cấp của xứ sở này. Tôi trả lời không chắc chắn là đã hiểu rõ lắm. Trái lại, tôi đang cần ông chỉ dẫn cho tôi. Tới đó là chấm dứt những sự xã giao lịch thiệp và chúng tôi đi thẳng vào thực chất của cuộc hội kiến. Cung ngả người về phía sau ghế, chắp hai tay trên phía ngực và thao thao trong một cuộc thuyết trình thật hùng biện.
“Thưa ông Đại Sứ, ông từ một quốc gia đang hòa bình đến một quốc gia đang có chiến tranh. Đây khòng phải là một buổi lễ uống trà của người Nhật. Đây là vấn đề sống còn của chúng ta. Chúng tôi đang bị đe dọa từ bèn ngoài và phá hoại từ bên trong. Chúng tôi ước lượng có đến ba mươi ngàn quân Cộng sản được huấn luyện kỹ càng đang hoạt động trong nước chúng tôi. Bọn chúng được sự hỗ trợ của sáu mươi ngàn du kích và cán bộ. Những cán bộ này đã được huấn luyện để xử dụng mọi phương tiện, dù phương tiện nào, xâm nhập hàng ngũ chúng tôi, reo rắc sự phản bội và phá rối trật tự. Có một vài tu viện Phật giáo đã biến thành những cơ sở chỉ huy cho hoạt động tình báo và xâm nhập. Ở vào địa vị tôi, ông sẽ làm thế nào? Cứ để mặc chúng tự do sinh sôi nảy nở ? Cứ để cho chúng thi hành công tác của Hồ chí Minh dưới cái vỏ cà sa vàng? Cứ để chúng mang súng đạn và tin tức tình báo trong các giỏ đi ăn xin? Chắc ông Đại sứ cũng không đến nỗi ngây thơ đến thế … Tôi. biết rằng báo chí ngoại quốc viết về tôi như một kẻ chủ trương đàn áp. Điều đó không đúng sự thật. Tòi có điên rồ đàu mà lại khuyến khích những sự tranh chấp tôn giáo trong một nước đang có chiến tranh. Tôi cũng được biết một số công chức và cộng sự viên của tôi đã phạm lầm lỗi. Vụ bạo động đầu tiên ở Huế là một trong những lỗi lầm ấy. Tôi xin thẳng thắn công nhận và đã chuẩn bị để sửa chửa. Tôi đã sẵn sàng hòa đàm hữu nghị với Đại hội đồng Phật giáo. Tôi có yêu cầu họ liệt kê cho tôi những điều thống khổ và những gì mà họ coi là yêu sách chính đáng. Nhưng ông hãy xét xem họ đã làm gì? Trước hết họ đòi hỏi tôi một lời tự thú nhận trách nhiệm cá nhân mà mục đích duy nhất là làm nhục và hạ uy tín tòi. Tôi từ chối điều đó nhưng tôi vẫn sẵn sàng thảo luận về những vấn đề của họ. Mặc dầu các cuộc thương thuyết đang diễn tiến, có một vài nhà sư quá khích đã kêu gọi lật đồ chính phủ trong những buổi mít tinh công khai …Dù trong thời bình cũng không có nước nào cho phép một sự vô trật tự công khai như vậy. Liệu ông có cho phép điều ấy xẩy ra ở Little Rock, Birmingham và Hoa Thinhđốn không? Dĩ nhiên là không! Liệu ông có mong tôi cho phép điều ấy xảy ra trong một nước đang đổ máu vì chiến tranh khuynh đảo không? Nếu tôi để yên, thì tôi sẽ không trung thực với trách nhiệm của tôi nữa”.
Đó là luận cứ mà tôi biết thế nào ông cũng trình bầy ra, và lời lẽ òng giãi bày có vẻ rất thuận tai. Tôi cố gắng giữ vẻ bình thản để nói cho ông biết những cảm nghĩ của tôi về vấn đề đó.
“Thưa Tổng Thống, trên đại cương, tôi xin đồng ý với ngài ở điểm một nước đang có chiến tranh không thể tha thứ được sự rối loạn nội bộ. Nhưng đêm qua tôi đã dự kiến cuộc tấn công chùa Xá Lợi”.
“Thưa ông Đại Sứ, tôi biết. Tôi đã biết sau đó nửa giờ. Tôi cần phải thưa với ông rằng sự hiện diện của ông khi ấy là một sự thất thố trên phương diện ngoại giao”.
“Trái lại, thưa Tổng Thống! Tôi đến đây với tư cách đại diện cho chính phủ đồng minh của ngài trong cuộc chiến tranh này. Tôi có bổn phận phải tự mình tìm hiểu tình hình càng đầy đủ càng tốt. Đêm qua tôi đã thấy sự tàn bạo tệ hại nhất sự tàn bạo có tính toán và không cần thiết! Và điều đó, thưa Tổng Thống, tôi xin phép nói ngay là một điều thất thố về phương diện ngoại giao! Trong vòng mười tiếng đồng hồ qua, sự tàn bạo đó đã lan tràn khắp nước. Đố ai biết được thế giới bên ngoài sẽ phản ứng ra sao”.
“Ông nói đến thế giới bên ngoài! Thưa ông Đại Sứ, thế giới bên ngoài đối với chúng tôi xa cách như mặt trăng! Chúng tôi là một bán đảo của miền Đông Nam Á. Chúng tôi là một dân tộc bị quá phân. Bóng tối của Trung Hoa đã đè lên chúng tôi hàng bao thế kỷ nay. Trung Hoa đã chiếm đóng nước chúng tôi trước đây và bây giờ chúng lại muốn chiếm đóng nữa. Biên thùy thế giới của chúng tôi, thưa ông Đại Sứ, là biển cả và Trung Hoa. Còn về phía Tây, bất quá chỉ nhìn xa được đến Miến Điện … Thử hỏi có ai khóc cho chúng tôi ở Sydney, Ba-lê hay Luân-đôn?”
“Thưa Tổng-thống, có người Mỹ khóc cho nước Ngài.” Tôi nói một cách cay đắng. “Họ đổ mồ hôi ra để trang trải cho nước ngài. Họ chết cho ngài ở đây, ngay trên uước ngài! Vậy ngài đã nguyền rủa họ và nguyền rủa cả tôi nếu ngài nói như vậy.” Lời tôi vừa nói đã làm ông chuyển động và cũng làm ông xấu hổ nữa. Ông quá thông minh nên không thể không nhận biết. Ông nói một cách trầm lặng.
“Xin lỗi. Tôi đã nói nhiều hơn điều tôi muốn nói … Tôi xin ghi nhận món nợ của chúng tôi đối với Hoa Kỳ. Nhưng khi giúp đỡ chủng tôi, quý ông không được đòi hỏi bắt chúng tôi lệ thuộc hay phê phán chúng tôi theo những tiêu chuẩn riêng của quý ông.”
“Thưa Tổng-thống, bởi vì chúng ta là bạn hữu nên thế giới phê phán chúng ta như một. Ngay như dân của ngài thế nào cũng trách cứ chúng tôi về vụ tấn công đẫm máu đêm qua.”
Bỗng nhiên ông giận dữ. Ông cầm một tập ảnh ném qua mặt bàn cho tôi. “Ông sợ máu lắm sao, ông Đại Sứ? Nó làm ông lộn mửa? Ông hãy xem những tấm hình này để biết một vài vụ đẫm máu khác đó là điều xẩy ra khi bom Việt cộng nổ ngay giữa chợ! Ông hãy xem bọn Cộng sản tàn sát cả một gia đình dưới miệt quê dám chống đối chúng như thế nào! Ông hẩy xem bình ảnh một người đàn bà có chửa bị bọn chúng lấy lưỡi lẻ khoét bụng ra sao! Liệu tôi có thể đối xử ngọt ngào được với bọn đã mưu đặt ra những vụ ấy rồi lại giả nhân nghĩa trốn tránh nơi cửa Tam Bảo không..? Đây là Á châu chứ không phải Genève hay Manhattan! Ở đây người nắm giữ quyền bính phải là người hùng có võ trang một người biết lấy máu trả nợ máu. Tôi theo đạo Thiên chúa. Cũng như ông, tôi đâu có ưa thích gì máu. Nhưng tôi hiểu rõ dân tộc tôi hơn ông.”
Những tấm hình ấy làm tôi muốn lộn mửa. Tôi gấp tập ảnh lại và đưa trả ông. Đồng ý với ông thật quá dễ nhưng tôi không dảm. Bằng mọi giá tôi phải kéo òng ra khỏi con đường nguy hiểm nàv.
“Thưa Tổng Thống, chính bởi ngài là người theo KiTô giáo nên ngài không thể để cho sự tàn bạo vô lý xảy ra như tôi đã chứng kiến đêm qua. Chắc ngài cũng nhìn thấy rõ. Đó là tiếp thêm một khí giới khác cho Việt-cộng. Ngài là một tín ngưỡng thiểu số đàn áp đa số. Ngài muốn mở một cuộc thánh chiến với mọi Phật tử Á châu? Nếu vậy ngài sẽ được toại ý, tôi xin hứa chắc. Và báo chí thế giới sẽ kết tội ngài như một kẻ cuồng tín mù quáng.”
“Báo chí thường hay nói láo, thưa ông Đại-sứ! Và cho rằng họ có nói sự thật đi chăng nữa thì họ cũng chẳng điếm xỉa gì đến hậu quả!”
“Họ đàu có thể nói láo được về vụ đẻm qua, thưa Tổng Thống. Cả tôi cũng vậy. Chiều nay khi báo chí hỏi tôi, tõi sẽ nói sự thật mà sự thật sẽ kết tội ngài và chính quyền của ngài. Còn hơn thế nữa, nó sẽ gây một tiếng vang ở bèn Mỹ. Người Mỹ sẽ hỏi tại sao họ lại mất tiền mua võ khí cho ngài và gửi con cái họ sang chiến đấu cạnh ngài. Tôi sẽ trả lời họ ra sao? Tôi sẽ ăn nói ra sao với Bộ Ngoại giao và Tổng Thống của tôi?
“Thì ông cứ cho họ biết hết sự thật! Cứ để họ phát hành những tấm ảnh kia! Cứ cho biết rằng nửa số cán bộ phá hoại nằm trong các chùa chiền là do cơ quan tình báo của chính quý ông cung cấp tên tuổi. Ông cứ đáp trực thăng đi coi tận những nơi đang có cuộc chiến tranh thực sự trong các thôn xóm và ấp chíến đấu, nơi những người Thượng ở phía Bắc và người dân vùng châu thổ ở phía Nam. Hãy bỏ qua những đô thị, nơi mà dân chúng bị lệch lạc và đầu độc của những ý tưởng phù phiếm cho Pháp để lại hay mượn trong báo chí Mỹ. Dầu cho Saigon, Huế và Đà Lạt có bị thất thủ nội trong một đêm, chúng tôi vẫn còn chiến đấu. Ông đừng để ai đánh lừa! Tôi vẫn còn làm chủ tình thế và tôi không sợ hãi đâu. Chúng tôi sẽ qua khỏi những cơn bệnh này bất chấp cả báo chí thế giới. Sau Điện biên Phủ, tôi đã tái thiết lại đất nước này. Tôi sẽ tiếp tục xây dựng có ông hay không cũng vậy!”
Tự nhiên tôi thấy cảm phục sự can đảm bướng bỉnh của con người ấy. Ông ngồi trên một thùng thuốc súng. Lưỡi lê chĩa trước ngực và sau lựng ông mà ông vẫn sẵn sàng chiến đấu. Nhưng tôi có nhiệm vụ phải đưa ra một cảnh cáo. Tôi nói một cách rõ ràng và chính xác.
“Thưa Tổng-thống, tôi xin ngài đừng cầu viện thần linh. Chính phủ tôi đã ủy thác cho tôi gửi đến ngài một thông điệp. Nếu ngài không chuẩn bị chấm dứt những sự chia rẽ giữa tín đồ Ki Tô giáo và Phật tử, giữa các tướng lãnh và các nhà cầm quyền, thì có thể ngài sẽ phải chiến đấu một mình không tiền bạc, không võ khí hay quân đội Mỹ gì hết!”
Tôi ngạc nhièn thấy ông đón nhận một cách bình tĩnh. Cặp môi ông ním và soắn lại thành một nụ cười. Ông hỏi một cách mềm mỏng:
“Ông thật sẳn sàng đi xa đến thế sao, ông Đại Sứ? Ông có thật sự sẵn sàng rút lui khỏi đây và để cho Cambốt, Lào và Thái Lan sụp đổ như đống bài lá? Đây là chỗ đứng cuối cùng của ông ở Á châu. Liệu ông có sẽ bỏ rơi nó bởi vì tôi không thể hứa với ông một điều không ai làm nổi? Ông đòi hỏi đoàn kết chấm dứt những sự chia
Rẽ! Lậy Chúa, thưa ông Đại Sứ, sao ông có thể khờ dại đến vậy! Là một quốc gia. chúng tôi già hơn Hiệp Chủng Quốc cả ngàn năm vậy mà chúng tôi cũng chưa đoàn kết được! Tất cả tổ chức xã hội chúng tôi đang hướng về sự tan rã, sự chia rẽ và biến thành những thành trì quyền bính nhỏ. Cũng như người Ý trước thời Garibaldi, chúng tôi đến nay chỉ có một ý thức bán khai về sự thống nhất quốc gia chúng tôi có những mười bốn triệu ngườiViệt, Thái, Mường, Yao, Mèo, Tầu, Khờme và Chàm. Ông đừng trông cho một phép lạ nơi tôi. Vậy ông có sẵn sàng bán đứng dân tộc chúng tôi vì ông không thấy phép lạ ấy?”
“Tôi được chỉ thị thông báo cho ngài biết rằng chúng tôi sẵn sàng làm như vậy, thưa Tổng Thống.”
Ông nhún vai rồi lại mỉm cười. “Được, ít nhất chúng ta cũng biết rõ lập trường của nhau. Xin ông thông báo cho chính phủ ông hay rằng tôi sẽ cứu xét một cách rất nghiêm chỉnh lời cáo tri mà ông vừa đem đến cho tôi. Ông có thể tin cho họ biết rằng tôi phản đối kịch liệt cái mà thật sự ra là một tối hậu thư chính trị. Ông cũng cho họ hay rằng tôi biết cơ quan C.I.A. của ông hàng ngày vẫn tiếp xúc với một vài phần tử chống đối đang muốn lật đổ chính quyền hợp pháp của nước này và đưa ra một chính phủ quân nhân.
Ông cũng có thể nói rằng tôi yêu cầu được chính thức thông báo để biết ông Đại Sứ hay CIA là đại diện thật sự và hợp pháp của chính phủ Hoa Kỳ.”
Đó là một đòn thật khôn ngoan, làm tôi chưng hửng. Tôi liền trả miếng một cách mãnh liệt!
“Thưa Tổng-thống, tôi có thể trả lời ngài ngay ở đây và ngay bây giờ là tôi và chỉ có mình tôi thôi, là đại diện chính thức của chính phủ Hoa Kỳ”.
“Tôi rất hài lòng nghe ông Đại-sứ nói vậy. Nhưng có lẽ ông Đại-sứ muốn nghiên cứu một bản báo cáo mà tôi sẽ gửi cho ông, về hoạt động của CIA?
“Thưa Tổng thống, tôi sẽ sung sướng được nghiên cứu bản báo cáo ấy và tôi cam đoan sẽ đệ ngay một bản lên thượng cấp tôi ở Hoa Thịnh Đốn.”
“Được lắm. Tôi muốn biết cả ông lẫn họ sẽ bình luận ra sao. Còn một điểm khác nữa, ông Đại Sứ. Tôi được tin rằng ba nhà sư ở chùa Xá Lợi đã tìm đến ẩn náu với người Mỹ. Tôi rất muốn được biết ông sẽ tính sao với họ.”
“Chúng tòi tính sẽ che chở cho họ cho đến khi nào được chính thức đảm bảo là họ sẽ không bị hãm hại sau khi rời khỏi nơi trú ngụ của chúng tôi.”
“Tôi sẽ nghĩ lại về việc này, thưa ông Đại Sứ. Có thể tôi sẽ quyết định để họ ở lại với quý ông. Có thể lâu ngày ông sẽ thấy họ là một chướng ngại. Còn một vấn đề chót. Cuộc họp báo của ông đã được loan báo vào hai giờ chiều nay. Òng có dự định tiết lộ lời lẽ trong tối hậu thư của ông vào dịp này khòng?”
“Hiện nay thì chưa, chúng tôi mong muốn sẽ không buộc phải tiết lộ nó ra chút nào cả. Chắc chắn ngài có đủ thời giờ để cân nhắc. Tôi sẽ sẵn sàng đón chờ ngài bất cứ lúc nào ngài muốn gọi tôi đến.”
“Xin cám ơn ông Đại-sứ.” Ông đứng dậy và chìa tay.” Tôi chỉ xin nói thêm là tôi rất sung sướng được gặp òng và tôi hy vọng rằng cuộc gặp gỡ này sẽ là bước đầu để cho quý quốc và nước tôi hiểu biết nhau một cách tốt đẹp hơn”.
“Thưa Tổng Thống, phần tôi cũng hy vọng như vậy. Tôi thực hết lòng hy vọng như vậy.”
Tôi rời khỏi Dinh Tổng Thống trong một trạng thái vô cùng giao động. Tôi cần có thì giờ và sự khuyến cáo khôn ngoan để tìm ra lẽ phải trong cái mớ ý tưởng hỗn độn mà cuộc hội kiến với Cung đã gieo vào đầu óc tôi. Bởi vậy tôi quyết định không trở về tòa Đại Sứ và đem Mel Adams về nhà để nói chuyện riêng. Cả hai chúng tôi đều mệt đừ người vì công việc đêm rồi nên chúng tôi đi tắm. Tôi đưa Mel Adams mượn một áo sơ-mi sạch rồi chúng tôi ngồi trong phòng làm việc ôn lại những điểm chính của cuộc hội đàm với Cung.
Tôi nhận thấy Adams là một nhà cố vấn sáng suốt và thẳng thắn. Hắn không tìm cách che dấu những sự nghi ngờ của chính mình và hắn cân nhắc mỗi vấn đề với sư vô tư đáng khen.
“…Thưa ông, về một điểm tôi thấy phải đồng ý với Cung. Thật ra chúng ta đã đòi hỏi một phép lạ nếu chúng ta muốn ông đoàn kết được xứ sở nội trong một đêm. Khi ông đi thăm các thôn ấp ông sẽ thấy cái tổ chức gia đình, bộ lạc chặt chẽ và chuyên đoán đến mực nào. Theo truyền thống lịch sử, họ bao giờ cũng ngờ vực những kẻ ngoại cuộc, mặc dù là ông tướng, nhà cai trị hay ngoại nhân như chúng ta. Phật giáo tự nó cũng có thể là một ảnh hưởng chia rẽ bởi vì nó chấp nhận nhưng không thể thống nhất được tất cả các khuynh hướng dư luận và hành động. Tây phương chúng ta coi Phật giáo như môt tôn giáo của chiêm ngưỡng và thầm lặng nhưng trong Phật giáo cũng có những truyền tính bạo động nữa. Phật giáo bao giờ cũng có những môn phái nhập thế và đôi khi sự nhập thế biến hóa thành những biểu hiện kỳ lạ. Ông đã thấy những điều xẩy ra với môn phái Soka Gakkai bên Nhật … Tôi phải đồng ý với chứng cớ là cũng có một sự khuynh đảo phát xuất từ các chùa. Nhưng khuynh đảo là một danh từ tô mầu. Đối với rất nhiều người Việt thì Hồ Chí Minh là Bác Hồ nhà ái quốc cao thượng và cách mạng đã thành công, trong khi Phùng Văn Cung là một tên phản động được sự ủng hộ của tư bản Mỹ …
“Cả chúng ta nữa cũng góp phần vào sự tan rã. Chúng ta quá duy thực. Chúng ta đòi hỏi cái kết quả ngắn hạn và thường không đủ kiên nhẫn để tìm hiểu những hậu quả về sau. Chúng ta tra định nghĩa sự vật bằng những danh từ chính xác và sự định nghĩa ấy phản lại ta, đưa ta vào những lập trường cố định khòng sao rút ra được.
Cũng như Kim Môn, Mã Tổ và truyền kỳ về hai nước Trung Hoa. Đó cũng chỉ là một truyền kỳ nhưng chúng ta đã tạo ra nó và bị kẹt luôn vì nó. Đó là lý do tại sao tôi không ưa Harry Yaffa. Hắn là một chuyên viên tình báo thượng thặng. Nhưng lúc nào hắn cũng quá sẵn sàng để hành động: hắn không có ý thức gì về lịch sử, về liên tục hay về hậu quả cả. Cứ đưa cho hắn một hoàn cảnh nào đó là hắn sẽ cố công thay đổi nó liền. Mà hắn cũng được tổ chức để làm như vậy nữa. Khi một hành động thất bại là hắn lại sắp đặt một hành động khác ngay, nội trong một đêm.
“Hành động! Hành động! Chúng ta là một dân tộc đã được giáo dục để hành động. Hãy đứng lên và tiến bước! Hãy đi về miền Tây, hỡi người trai trẻ! Nơi các đồi núi phía ấy có đầy vàng! Ông đã biết phương Đông. Ông cũng biết sự huyễn dụ ấy nó phản phúc như thế nào. Và đối với người dân quê nơi đồng ruộng thì hành động có nghĩa gì? Cộng-sản đến, mang theo luôn cả một triết lý nhưng còn chúng ta thì hứa hẹn gì sau khi im tiếng súng? Dân chủ ư? Tự quyết ư? Ai cũng quên mất rằng chính tổ tiên mới là người thực sự nắm quyền bính của bộ lạc. Và với họ, thì làm sao mà đưa lá phiếu đến được? “Đã nhiều lần tôi tự hỏi, nếu ở vào địa vị ông Cung, tôi sẽ làm gì? Thứ thật rằng tôi cũng không biết chắc phải làm gì. Làm sao mà đả phá được cái đầu óc quan liêu, lãnh chúa nơi các tướng lãnh? Nếu cho họ thêm một miếng bánh, họ tưởng họ có quyền đòi một miếng to hơn. Phân chia quyền bính và thế lực một cách bình đẳng đâu có cứu vãn được thể diện. Ông vẫn còn phải chứng tỏ rằng ông quan trọng hơn anh hàng xóm. Trên phương diện chính trị thì phương pháp chia để trị của Cung là hợp hơn cả. Trên phương diện quân sự thì dĩ nhiên nó đưa đến sự bê bối như hiện nay”.
“Hãy xem vấn đề Phật giáo. Tôi tin rằng ông Cung thành thật muốn thương thuyết với họ. Nhưng ông sợ rằng khi chìa bàn tay ra thì họ sẽ muốn đớp luôn cả cánh tay ông đi. Các nhà sư trong chùa chiền đâu có chiến đấu trong cuộc chiến tranh này; nghề nghiệp của họ miễn cho họ việc đó. Cho nên theo ông Cung thì họ không có quyền gây mầm xáo trộn trật tự công cộng có hại cho người chiến sĩ đang chiến đấu khổ cực trong vùng châu thỏ … Về điểm này nữa, đó cũng là một quan điểm hữu lý.” Hắn cười một cách không lấy gì làm sung sướng và tự rót lấy một tách cà phê nữa. “Thưa ông, ý kiến của tôi không lấy gì làm xây dựng cho lắm, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải tìm hiểu tình hình rất kỹ lưỡng trước khi dấn thân vào một cuộc đổi thay. Ông đã hạ tối hậu thư. Kết quả bày giờ ra sao?”
“Ông Cung sẽ suy nghĩ về vấn đề này; sau đó ông sẽ tiếp xúc với tôi.”
“Riêng òng trông đợi ông Cung sẽ làm gì?”
“Anh Mel, nếu anh hiểu kiểu tôi nói thì tôi nghĩ rằng bây giờ òng phải làm một cử chỉ rõ rệt và công khai để mời Phật giáo thương thuyết hữu nghị và chấn chỉnh lại ngay những điều thống khổ thực sự của họ. Tôi nghĩ rằng ông phải thả ngay những sinh viên và sư sãi đang bị giam cầm. Sau đó ông mới có thể bắt mọi người tuân theo pháp luật và trật tự được.”
“ Theo ông, tôi không tin rằug ông Cung sẽ làm nổi như vậy. Dầu sao ông cũng không thể làm hết tất cả mọi việc ấy được.”
“Tại sao không?”
“Bởi vì bạo động chưa chấm dứt hẳn. Ở trong Dinh, tôi nghe nói sẽ còn nhiều vụ rối loạn nữa.”
“Do ai làm? Phật-tử?”
“Không, do sinh viên làm. Nội nhật ngày hôm nay họ sẽ bắt đầu biểu tình và như vậy lại có một vụ đẫm máu nữa: lại thêm dùi khui, thêm đạn, thêm bắt bớ, không hiểu rồi sẽ ra sao?”
“Hoa-kỳ lại công khai phản đối một lần nữa.”
“Rồi để sĩ quan của Đại tướng Tolliver phải dẫn quân lính Việt Nam đi hành quân, Phật tử cũng như tín đồ Thiên chúa giáo, trong khi con cái họ vào tù! Đẹp nhỉ? “
“Vậy ta hãy xét đến dự án của Yaffa. Cho là chúng ta hỗ trợ một cuộc đảo chính. Cung ra đi. Ai sẽ cai trị xứ sở? “
“Một hội đồng tướng lãnh.”
“Lại các ông lãnh chúa nữa.” *
“Vâng, nếu ông muốn nói vậy.”
“Các hội đồng tướng lãnh có tiếng là không được vững bền.”
“Tôi đồng ý với Yaffa cho rằng các tướng lãnh sẽ đoàn kết hơn nếu không có Cung cầm cương nẩy mực.”
“Còn anh nghĩ sao, Mel?”
“Khó tin lắm.”
“Liệu họ có đoàn kết nổi quân đội không?”
“Việc này tôi cũng không tin được.”
“Nâng cao tinh thần chiến đấu có được không?”
“Khó nói chắc.”
“Họ có cai trị nổi xứ này không?”
“Với quân đội, có lẽ họ điều hòa được một cách tốt đẹp hơn. Nhưng còn việc họ có cai trị nổi, gây phấn khởi nổi cho quân đội và đem quân đội ra khỏi sự thất vọng và ngờ vực hay không, tôi không biết. Tôi không tin rằng một tưởng lãnh nào trong bọn họ hay tất cả các tướng lãnh có thể làm nổi điều mà Cung đã làm được sau Điện Biên Phủ. Tôi không tin rằng có một tướng lãnh nào trung thực như Cung hay, có ý thức đạo đức như Cung đã có. Kể ra thì cũng lạ. Đấy là điểm mà Bác Hồ mạnh nhất ở miền Bắc. Họ Hồ là một nhà lãnh đạo cách mạng với một triết học Mác-xít đã hoàn toàn khai triển. Cung cũng là một triết gia; nhưng cái chủ thuyết Nhân vị mà ông đã mượn của người Pháp không được nhân dân hưởng ứng vì đó là một sản phẩm tế nhị của giống Gôloa. Tòi nghĩ rằng nó chẳng có ý nghĩa gì đối với quảng đại quần chúng cả. Nếu Cung là một chính trị gia xuất thân từ đám thường dân, có tài và có hấp lực cá nhân khả dĩ hướng dẫn được quần chúng thì ông có thể bắt họ nghe theo Kant, Hegel, Aquinas hay quỉ quái đại nhân gì nữa cũng được bởi vì dân chúng đã biết đến thành tích của ong va kinh trong thanh tích ay. Nhưng ông lại không có cái huyền lực ấy. Ông chỉ là người sống đơn độc, một nhà độc tài, một tín đồ Thiên Chúa giáo và điều này cũng chẳng giúp ích gì cho ông.”
“Vậy tôi yêu cầu anh biểu quyết: Cung hay là một Hội đồng tướng lãnh? Anh sẽ chọn lá phiếu nào?”
“Thưa ông tôi cũng chẳng biết nữa,” Mel Adams lặng lẽ nói. “Tòi rất mong mình biết được. Có lẽ tôi đã bị lôi cuốn theo một nỗi tuyệt vọng âm thầm giống như chính người Việt vậy. Có lẽ lẽ Yaffa nói đúng khi hắn kết tội tôi là bất định và bất động. Xin ông hiểu cho rằng không phải vì tôi sợ hãi, chỉ tại tất cả những hành động của chúng ta đã buộc chúng ta theo một con đường không dẫn đến đâu cả … “Hắn dứt lời và ngồi một lúc trong im lặng; mắt nhìn xuống những mu bàn tay dài và dễ kích động của mình. Tôi cảm thấy một nỗi đau đớn vì thương hại cho hắn bởi vì sự bất định của hắn cũng giống như của tôi. Tôi cũng cảm thấy một sự kính nể nữa bởi vì hắn đã sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm về sự bất định của mình. Sau cùng hắn ngửng đầu nhìn tôi với đôi mắt u buồn. “Thưa ông, toi muon trình bày với ông vài điều. Sau khi nghe tôi nói ra, có thể ông muốn chặt đầu tôi. Tôi sẽ sẵn lòng dâng đầu tôi trên một khay bạc. Đại tướng Tolliver là người Mỹ duy nhất ở đây có được một mớ chỉ thị lương thiện. Ông được lệnh chiến đấu trong một cuộc chiến không thể thắng được nhưng chẳng có ai trông đợi ông thắng trận cả. Với òng và với Ngũ giác đài, chỉ là một trận trì hoãn chiến. Nếu người Việt chia rẽ nhau, ông chiến đấu với một quân đội chia rẽ; nếu họ đoàn kết được với nhau ông chiến đấu với một quân đội đoàn kết và trách nhiệm tối hậu không phải đổ lèn đầu ông mà là Bộ Tổng Tư Lệnh QĐVNCH. Với chúng ta thì lại khác. Hoa thịnh đốn đang yêu cầu chúng ta can thiệp trực tiếp vào chính quyền của nước này. Ông đã đến đây với một tối hậu thư mà lời lẽ thật ra nói rằng, mày phải làm cái này cái nọ, nếu không chúng ông sẽ cho mày phá sản và triệt thoái sự yểm trợ quân sự đi. Trên một đẳng cấp khác, CIA cũng can thiệp vào nữa. Chúng ta đang làm tất cả những điều ấy nhân danh dân chủ và tự quyết. Nhưng sự thật là một nước cờ chính trị và quân sự để ngăn chặn Trung Hoa và giới hạn sự lan rộng của các cuộc cách mạng bản xứ, những cuộc cách mạng bắt rễ từ sự bóc lột thực dân, sự bạo ngược của lãnh chúa và sự thối nát trong chính qnyền.
“Thưa ông, tôi xin nói thẳng là những người duy nhất trong nước này thật sự biết mình chiến đấu cho cái gì chính là những tín đồ Thiên chúa giáo. Nếu nước này trở thành Cộng sản, họ biết rằug Giáo hội của họ sẽ bị quét sạch trong một nửa thế hệ, trong khi Phật giáo sẽ ngã theo như họ đã từng làm ở Trung Hoa. Đó là lý đo tại sao tôi hiểu Tổng Thống Cung và thông cảm với ông mặc dầu tôi biết những lỗi lầm ông đang mắc phải. Đó cũng là lý do tại sao tôi cho rằng chúng ta cũng đang phạm một lỗi. Chúng ta đang tìm kiếm một người mới và một chính sách mới nhưng chúng ta vẫn không biết chúng ta muốn gì. Thành thử chúng ta đi ủng hỗ anh nài thay vì con ngựa. Và bởi vì chúng ta hấp tấp nên chúng ta vớ lầm phải auh nài khác. Đó là điềm mà tự tôi thấy bất đồng ý kiến với chính sách của chúng ta ở Đông Nam Á. Tôi là một công bộc của chính sách ấy và tôi cố gắng làm một công bộc tốt, lương. thiện, nhưng tôi không còn tin tưởng ở chính sách ấy nữa.”
Đó là một lời thú nhận đau lòng của một người đã phục vụ lâu năm trong ngành.
Tôi coi như đã được một lời khen tặng vì hắn đã chọn tôi để thổ lộ sự thú nhận ấy. Thật từ tốn, tôi hỏi hắn một câu khác:
“Anh Mel, nếu anh được yêu cầu qui định chính sách, anh sẽ qui định như thế nào?”
“Tôi sẽ trung lập hóa. Tôi sẽ trung lập hóa trong lúc chúng ta còn đủ sức mạnh để mặc cả. Sau đó tôi sẽ rút lui và để cho nước này tự quyết định lấy tương lai của mình.”
“Và để cho Bác Hồ lên nắm quyền trong một hay hai năm sau? “Mel Adams nói một cách huỵch toẹt.
“Bây giờ ông ta cũng đang nắm quyền rồi bởi vì người thật sự muốn đoàn kết xứ sở lại không có tài làm nổi; bởi vì chúng ta bị phá sản về đủ mọi thứ, ngoại trừ võ khí, người và tiền bạc; bởi vì khi mặt trời lặn đi thì người dân quê nơi đồng ruộng chẳng thấy đuốc soi ở đâu cả mà chỉ thấy sự tối tăm của nỗi chán chường nơi chính mình … Vậy bây giờ, thưa ông, nếu ông muốn tôi từ chức, tôi sẽ từ chức.”
“Anh Mel, anh có muốn từ chức không?”
“Không, tôi không muốn.”
“Vậy anh muốn làm gì?”
“Tôi nghĩ rằng tôi vẫn có thể giúp ích được: ở đây dẫu chỉ là một tiếng nói đối lập. Tôi nghĩ rằng ông có một cơ hội có lẽ mỏng manh để làm Cung thay dổi và bảo tồn được những thắng lợi mà ông đã tạo ra. Nhưng sẽ không dễ dàng đâu vì lũ chó săn sẽ sủa theo gót ông để âm mưu một cuộc đảo chính và bắt đầu một thời đại mới. Tôi muốn chơi ván bài lương tâm trong một thời gian. Tôi muốn kiểm soát lại những tin tức họ đưa lại cho ông và chỉ cho ông thấy sự thật chôn dấu ở đâu.”
“Anh Mel, đó là một vai trò bạc bẽo. Cả tôi, tôi cũng không bảo đảm là sẽ biết ơn anh đâu.”
“Thưa ông, đây không phải vấn đề ơn huệ, chỉ là vấn đề tự trọng của riêng mình tôi thôi. Nếu Cung xuống, họ sẽ giết ông ta. Thà tôi cứ đánh ván bài lương tâm còn hơn là đóng vai một tên sát nhân chính tri.”
22. Nhớ Mẹ và nhớ chùa Khme Watt Xà Lôn ở gần làng Đại Tâm, tỉnh Sốc Trăng.
Tôi năng đọc tờ Sài Gòn Giải Phóng và nay gặp trong số 151, tr.12, có bài của Nguyễn Hữu Hiệp, nói về “Đàn Dơi ở Chùa Mã Tộc”. Lòng bỗng xúc động nhớ một cảnh chùa Thổ cũng ở tinh nhà Sốc Trăng, chùa nầy có phần cổ kính và phong phú không thua chùa Mã Tộc, vậy xin nhắc lại theo trí nhớ, vì sao biết dời, vật nay biến đổi không ngừng, cảnh tôi thấy năm trước, nay có còn chăng? Và đó là chùa Xà Lôn, trên con đại lộ quốc gia Thăng Long Minh Hải, chùa nầy cách làng Đại Tâm (Tài Sum, Xoài Cả Nả) độ chừng hơn bốn cây kí lô mét ngoài và tôi kể mấy địa danh lạ tai nầy, mấy ông mới có biết đến chăng!
Trước tiên, xin mạn phép hỏi mấy nhà cai trị cầm quyền ở tỉnh nhau rún của tôi và xin hỏi lẽ nào viết tên tỉnh, chữ Sốc, bỏ mất dấu và còn Sóc Trăng!
Tôi vả lại là người đã lỗi thời, quá già, nay 93 tuổi, chết nay chết mai chưa biết, nhưng vẫn biết hồi đời Tây còn ở đây, chúng viết Sóc Trăng, để gần như tiếng Pháp, còn dân chúng vẫn viết Sốc Trăng chữ Sốc có dấu mű, và đó là dựa theo tiếng Khmer Srock Kleang, người Tiều nói Khắc làng và cổ nhơn ta âm ra Sốc Trăng, chữ Sốc, xưa nay đã nhìn nhận là “làng Cao Miên”, mấy người mới, đáng lẽ nên giữ y và viết theo như cũ còn căn nguyên “đi đổi Sốc” là đi trao đổi buôn bán với người Miên trong Sốc, cũng như “đi Buôn” là đi trao đổi mua bán với người đồng bào Thượng và Buôn là làng Thượng (Buôn Mê Thuột).
Viết Sóc Trăng, tôi hiểu Sóc là mồng một, và làm sao mồng một có trăng? Sửa đổi cho hay cho có lý thì cũng nên, chớ đổi mất dấu mũ, tôi ở xa không dám cãi, nhưng tôi vẫn buồn. Chuyện cũ nhắc lại, tỷ như “cửa Trấn Di” tôi đã nói trong một bài báo nay không nhắc lại, Trấn Di đối với cửa Định An bên phía Trà Vinh, bên phía Sốc Trăng là cửa Trấn Di, mà nay cứ gọi cửa Trần Đề, khiến trẻ em hậu sanh lâu ngày hiểu lầm hiểu sai, tôi cho là tại người cầm đầu trong tỉnh không tôn trọng tên địa danh cũ và vẫn toan đổi mới.
Tôi cũng không hơi đâu cãi vã làm chi, và viết bài nầy, chung qui chỉ vì nhớ mẹ, và nhớ chút chuyện xưa, kể lại đây, giúp vui độc giả và người bản xứ, và nghe hay không tôi cũng không ép. Và xin cáo lỗi đã quá lần thẩn dài dòng. Mẹ tôi sanh năm Mậu dần 1878, mất năm Quí Sửu 1913, cách nay đã tám chục năm, vong hồn ắt đã đi đầu thai lớp khác và nơi mộ phần ở Sốc Trăng có lẽ quan tài đã mục, nắm xương đã hóa đất, nhưng con đây vẫn nhớ mẹ rành rành không quên, và tình mẫu tử, con còn tấc hơi thở nào, vẫn còn nhớ mẹ. Và quên làm sao dược, trong khi mẹ nằm xuống, thì con đây vừa tuổi đến mười một (11 niên), tấm thân cô quạnh, vừa biết ơn mẹ thì mẹ đã không còn.
Con nhớ lại, Ba của con, tánh nghiêm, con sợ lấm lét, mỗi việc con đều trông cậy và nhông nhẽo với mẹ, xin xu xin tiền ăn bánh cũng xin với mẹ, bị thầy giáo trong trường giọi u đầu, khi tắm mẹ hỏi, thì cũng học lại với mẹ, thằng cha thầy giáo dạy lớp tư nhì (cours préparatoire) tên Phan Thanh Viên, biết cha mẹ có tiền, nên giọi đầu con để ép Ba đứng ký tên bảo lãnh cho Viên vay bạc năm chục đồng (50$00) nơi tiệm chà chetty rồi cuối năm ấy, Viên xin đổi về tinh Bến Tre để số nợ lại cho cha tôi trả thế, Vân giữ về mô phạm mà đã lỗi với đạo làm thầy và phận sự làm người ngay thẳng như vậy không trách nay con nhắc tên thầy Viên ra và đính chánh Viên nầy không phải thuộc dòng họ quan Phan Kinh lược kia đâu và nay con bồi hồi nhớ mẹ và thầm trách năm 1913, Sốc Trăng còn quá nhà quê, dân trong tỉnh không dám chụp hình thâu ảnh để lại vẫn cứ tin máy ảnh sẽ hớp hồn người đứng cho chụp hình và thuốc men đời đó dở quá, mẹ nằm chỗ, rồi dau kiết, và thuở dó cứ nói “người nằm chỗ dau kiết, vô phương trị”, rồi cứ mời thầy Miên (Kơ me) đến đọc thần chú và thầy nhậu nhẹt cho no nê rồi nhận tiền cúng trở về sốc về làng, tên thầy bùa thầy ngãi đời đó, làm nghề ác ôn như vậy mà dược nhiều tiền hơn các bác sĩ chuyên khoa ngày nay và hồi đó dân tình còn quá dị đoan, mẹ tôi mất vào tuổi 33, lại biên trên giá triệu cước lên tuổi tam thập ngũ, để tránh tuổi Nhan Hồi và tôi vừa mười một, mất mẹ, bơ vơ mà không biết kêu chiu chít như gà và vẫn khóc thầm và phải tập bớt sợ và làm quen với người đào tạo ra mình và từ đó, mẹ đã mất, chỉ còn nương dựa vào cha và cha sanh mẹ đẻ, nay vẫn mừng cả hai làm tròn bổn phận duy Sển nầy thiếu sót chưa bồi bổ công sanh thành, và nay làm được chút gì gọi hữu ích cho xã hội thì cả cha lẫn mẹ vẫn không còn và câu “ơn cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như Đông Hải” quả là thấm thía.
Nhắc lại đã mồ côi mẹ rồi, mới học vào đời. Ba tôi rất tốt, nghiêm, ít nói nhưng rất mực thương con. Duy tiền mua bánh tại trường, vẫn bị thằng bạn lớn tuổi và to con hơn ăn hiếp Cái bánh xầy giá một xu (0$01) mua vào giờ ra chơi, nước mắm vừa chan, miếng ớt cay còn đó mà con tép ngon lành của cái bánh đã có thằng Chín con của thầy đội mã tà ăn giùm, không cho nó cắn thì nó đón đường đánh đá, chi bằng thí một miếng tuy chưa học tới gương Hàn Tín lòn trôn …
Năm 1912, lên lớp Tư nhứt (cours élémentaire) khỏi được tay thầy ác ôn Viên và may gặp thầy Dương, tánh hiền, về sau tôi gặp nơi Đại học Văn khoa Sài Gòn tôi chấm đậu một sinh viên tên Danh họ Nguyễn và đó là con thầy cũ tôi trả ơn muôn một. Kỳ bãi trường lớn, nghỉ học sáu chục ngày, bỗng cậu Hai tôi ở Xoài Cả Nả, ra nói với Ba tôi và lãnh tôi về làng quê mẹ, sắm sửa cạo đầu, cạo luôn cặp chưn mày, dể kịp ngày mai, ngày lành tháng chạp, lên chùa Xà Lôn, xuất gia đầu Phật, cậu tôi cắt nghĩa, nay tuổi đủ mười hai (thập nhị tuế), phải tu tắt đủ một ngọ (hại mươi bốn giờ) gọi báo hiếu theo lễ tục đàn thổ, trả ơn cho mẹ, để hồn mẹ sớm được siêu thăng, hoặc đầu thai qua lớp khác. Tôi hỏi cậu, không thuộc kinh kệ làm sao tu, cậu trả lời: “Cứ quì trước bàn Phật có một sư cả một ông sãi cả người Miên quì kế bên và đừng sợ, cứ sãi đọc chữ nào thì nhái y lại chữ ấy và đó là tu vậy”. Tôi hỏi với, còn cạo chưn mày là nghĩa gì, cậu tôi đáp: Tục người tu theo Miên, chưn mày là dấu ám hiệu cho việc tỏ tình với gái, nên phải cạo sạch bét cho khỏi bụng tà, còn tóc cạo trơn tru, nội hai tháng bãi trường đủ thì giờ cho tóc mọc.
Nhờ vậy, tôi được biết cảnh u tịch thiêng liêng của chùa Xà Lôn nầy. Năm trước đây, cách nay chừng bốn hay năm năm, tôi có dịp trở về Sốc Trăng viếng chùa Xà Lôn thì đã đổi thay cảnh vật không như vào năm 1912 kia nữa. Chùa cũ có lẽ lâu niên nên hư tệ và đáng trách người Miên không biết tồn cổ và đã ham theo mốt mới nên chùa Xà Lôn như tôi thấy lúc viếng, đã không còn cảnh như cảnh năm 1912.
Năm 1912, tôi bị cạo trọc lóc vừa tóc vừa chưn mày, lại bị trọn một ngày, hại mươi bốn giờ, cởi bỏ áo quần và mặc vào mình một áo sãi con màu vàng nghệ, không có áo lót và dưới thân không mặc quần, lạnh buốt phát run trọn một đêm nằm trên vạt tre ọp ẹp của nhà sàn cao cẳng là nhà tiếp khách của chùa, nhưng cũng may, với tuổi thơ, cơn ngủ đến không kịp đỡ và đã ngủ thẳng ống đánh một giấc ngon lành quên cả trời đất, rạng ngày hiện ra một cảnh thần thông biến ảo, nửa tin rằng thật nửa ngờ chiêm bao, – viết đến dây bỗng có khách đến nhà, lại phải tiếp và khi khách về thì bao nhiêu hứng đã mất, nay viết nối, bời rời như cơm nếp mắc mưa, – cảnh lạ lùng thấy có một lần đó (lúc 2 tuổi đầu và nay thuật lại như trên phim hát bớng … (viết tiếp ngày 7-12-1993).
Sáng sớm ngày vào tu tắt “một ngọ”, tôi bị đánh thức lối trời chưa rạng, tôi nghe ồn ào như nhóm chợ, điếc tai tiếng chim kêu chát chúa trên đầu, tôi vừa say ke, con mắt nhắm con mắt mở, bước ra khỏi nóc nhà khách thì thấy trên cao ngoài sân chùa không biết muôn thiên chim diệc đứng trắng xóa trên một sàng lớn như sân phơi lúa do nhánh và lá những cây cổ thụ điệp to (cây phượng của người Bắc), những nhánh và lá ấy chim diệc đã bẻ đã uốn lại từ hồi nào và làm nên sân phơi lúa như tôi nói đây và trên sân ấy, chim nhỏ chim con vừa mới nở đã rộn rịp như buổi nhóm chợ đông, tôi đang bần thần ngủ say thì thoạt thấy một sãi nhỏ, mặc áo màu vàng nghệ như tôi, tay cầm một cây tre dài, đầu ngọn chẻ ra làm hai và sãi con nầy vừa cầm cây tre lúc lắc, tiếng nghe lộp cộp lạc cạc vài tiếng như ra lịnh bắt im và tức thì, tiếng ồn ào im bặt, cảnh trí lặng trang và cậu tôi đã kéo tay tôi đưa vào quì gối trước bàn thờ Phật và kế bên tôi có ông sãi cả, trụ trì Watt Xà Lôn đang đọc kinh và tôi đang nhái lại và nay tôi chỉ nhớ có hai tiếng “Na mô” y như tiếng “Nam mô” của mình, còn bao nhiêu tiếng kinh kia tôi đã quên mất hết cả, chỉ biết và xin cải chính, sãi Miên không dùng chuông mõ và chỉ dùng tiếng trống ra hiệu lịnh trong chùa (những gì các sách báo ta thuật rằng chùa Phụng Sơn Tự ở Phú Lâm, trước có đào gặp chuông đồng của Kơ me, những tin như vậy là sai bét và nên đừng dùng đừng tin theo nữa), ấy với tuổi 12, tôi nhại ông sãi chùa Watt Xà Lôn, là tôi đã thành tâm cầu nguyện cho vong hồn mẹ tôi sẽ được siêu thăng tịnh độ và tôi đã trả được chút nào công mẹ tôi đã mang nặng đẻ đau. Ngày nầy, hôm nay, 7-12-1993, tôi đinh ninh hồn mẹ đã khỏi vòng khổ hải và chỉ duy còn một tôi, 93 tuổi, đang nhớ mẹ và mẹ đã không còn ngót tám chục năm rồi (1913 – 1993). Nói tắt lại, kinh trong chùa vừa tụng xong, một sãi cơn khi nãy, vừa ló đầu ra khỏi chùa và bước ra sân thì tức nhiên trên sàng điệp cao, tiếng diệc ồn ào trở lại như cũ, như vậy xin hỏi có linh thính hay linh thiêng thật không và độc giả ngày nay, giàu duy vật hơn duy tâm, có tin lời tôi thuật đây cùrg chăng? Tôi kể tiếp, sãi Miên, khi tụng hay đọc kinh, vẫn có dùng một quạt tròn có cán để che trước mặt cốt để chú tâm vào kinh và không tà tâm ngó liếc những gái những phụ nữ Miên đang quì trước bàn đức Phật. Tôi thuật dài dòng vừa tới đây thì có khách Việt kiều đến nhà nữa, và cái số tôi khi viết phải viết dứt đoạn mà cũng may, với tuổi 93 nầy, trí còn đủ minh mẫn và viết cũng chưa lộn xộn gì lắm (viết tiếp ngày 8-12-1993).
Ở chùa Miên Watt Xà Lôn nầy năm 1912 hay 1913 chim diệc đến tụ tập và làm ổ thật nhiều, số trên muôn thiên nhưng làm sao thống kê gì dược! Và thật kỳ diệu, chim diệc làm ổ trên cao, khi nào chim con rủi tớt xuống thì các sãi Miên sẽ lấy tre làm sàng nhỏ để chim con lên trên sàng ấy và đưa lên cao thì trên cao đã có chim lớn hay chim mẹ gắp để vào ổ như cũ, và đến đây tôi xin nói về tục người Miên tu nơi chùa, vẫn không trai lạt như sãi chùa Việt của ta và sãi Miên chỉ mỗi ngày thời một ngọ vào giờ trưa, và thức ăn là ăn của bố thí của người trong sốc trong xóm, sáng sớm mỗi sãi mặc áo màu vàng nghệ, rồi kéo nhau rời chùa xuống xóm và đứng sắp hàng dài, trước bụng mỗi sãi vẫn thủ một “bình bát” (tiếng Miên tôi còn nhớ là “tâu bâng bát” (đi xin cơm của tín đồ bố thí “khất thực như ta”), nhưng khất thực Miên hết sức dễ dãi, là dân cho món gì thì nhận đem về và xơi luôn món nấy, cho món chay thì tốt, cho món mặn cũng thực luôn không chối từ, mặc dầu không sát sanh nhưng nếu người trong xóm lén lượm chim diệc rớt rơi của chùa, đem về xào xáo rồi dâng cứrg cho sãi đi bâng bát, thì sãi vẫn đưa bình bát ra nhận, và như vậy sướng quá, xin cho tôi nói hỗn, nếu sãi có lòng bất chánh, cứ lựa nhà giàu đến xin cơm, thì tha hồ có rô ti, bít tết, chớ nào muối hột cá hôi … và dầu có tội sát sanh, thì đã có người dân cùng gánh chịu, sãi Miên tu như thế ấy và tôi chỉ tu có một ngày, chớ chi tu luôn cho đến ngày nay và vẫn còn sống như vầy có lẽ đã gần thành “chánh quả”! Nam mô! vô lượng Phật!
Chim diệc ở tỉnh Sốc Trăng, tôi còn nhớ có một năm xưa nọ, vào thời chủ tỉnh Tây tên Esquivillon cai trị nơi dinh quan Bố và cũng dinh Tòa Bố (tờa hành chánh) vẫn có rất nhiều chim diệc dến ở, ban đầu Esquivillon rất thích có người nịnh quan là minh chánh nên có chim đến chầu chực, duy về sau chim diệc sanh ra con mạt (mạt diệc) quá nhiều và bay xuống cắn ngứa, sanh ghẻ chốc, Esquivillon không chịu đựng nổi và phải bày ra đốt gỗ cho có khói, làm đống un nơi dinh và nơi tòa bố thì mới bớt có mạt và đã đốn mé bớt nhánh đuổi diệc bay đi nơi khác, và trong khi ấy, rời Watt Xà Lôn, về sau, mải ham tiền đã đốn bán các cổ thụ nơi chùa và cất chùa lại theo mốt mới, cột gỗ lớp xưa đã mục, sau thay thế bằng cột đúc xi măng và cột gỗ xưa vẫn có lớp sơn mài khéo đẹp, nay lại thay lớp sơn (laque), bằng mảnh kiếng mảnh gương, chói sáng hoa mỹ thật, đó là theo ý của sãi Miên tân thời, chớ lấy theo khoa tồn cổ và khảo cổ học, thì chùa Xà Lôn đã bớt cảnh phong quang cổ kính năm xưa và đáng tiếc.
Chùa Xà Lôn khi tôi đến tu một ngày thời đó, trên cao có chim diệc làm ổ, còn dưới ao nước chung quanh chùa vẫn có rất nhiều cá, loại cá bông sống lâu năm không ai dám câu dám bắt nên thật lớn vóc, gọi cá “tổ nái”, nhiều con lớn to đến như cái gối ôm và mình dài gần một mét (un mètre), có lịnh trên của vua Miên gởi xuống, ra lịnh ngư điểu sinh trong vùng chùa, cấm sát có người thuật cá bông nào lén câu (người câu trộm không dùng cần câu, và cột dây nhợ có tra lưỡi và cầm dây trong tay, nhiều khi cá cắn câu, giựt kéo quá mạnh, người câu lén té xuống nước, bị bắt thì bị đòn mà chẳng dám rên than.
Lúc tôi còn thơ ấu, và khi còn ở nhà Ba tôi ở thành phố Sốc Trăng, thì trong tính còn nhiều chùa Miên kiên cố và có danh, như ở Phú Nổ có chùa gọi Chùa Bốn Mặt (Watt Prha Buông Mutt) có một cổ Phật thời Angkor- Watt, và nơi vùng Thạnh Thới An, có chùa gọi Watt Bâng Sroc (địa danh nầy tôi viết chưa đúng), thuở ấy trụ trì sãi cả, tuổi nghe như đến trăm (bá niên) vua Cao miên ban sắc phong được mặc áo màu đỏ (luck Cà hom), ngự võng điều và dân Miên khi gặp ngài thì vẫn móp lạy kính cần, thậm chí dường như vua Miên cũng có thể lạy chào sãi vương, ý nghĩa không phải lạy người tu hành mà vẫn lạy sắc áo là áo đức Phật.
Bài nầy đã khá dài, tôi không muốn lợi dụng lòng nhẫn nại của độc giả, và xin tóm tắt, báo Sài Gòn Giải Phóng số 151 (4-12-1993) vẫn viết Sốc Trăng, Sốc không dấu mũ và trang 10 kể “Mở hội cúng trăng” tôi tiếc tuổi già không về chung dự và đọc báo biết đồng bào người Kơ Me trong tỉnh và các tỉnh lân cận Kiên Giang, Cần Thơ đều đem ghe ngo đến tranh tài, và những lễ ấy tôi xin múa bút: đầu mùa mưa, người Kơ me ở Sốc Trăng vẫn có lễ Chòl Psa (vào mùa là đua ghe rước nước để làm mùa) lễ nầy trùng hợp với lễ Cầu An (Kỳ Yên) của ta và khi hết mùa, như hiện nay, Miên làm lễ Chênh Psa (ra mùa, đưa nước trở về nguồn) và ngắt lúa mới đâm chày đâm cối vui làm “cốm giẹp” và gọi lễ ấy là “Ooc om bóc”. Đến đây tôi không dám nói nhiều, tôi chẳng qua là một đứa con của tỉnh Sốc Trăng, mà đã vong bản, nay phải la nơi nhau rún và từ năm 1947, chạy lên Gia Định nầy và trụ nơi đây luôn và đã quên lần tiếng Miên, là tiếng Mẹ Đẻ mà nay tôi không nói được nữa (duy còn hiểu sơ sơ tiếng mất tiếng còn, vì mãng đeo đuổi học tiếng Tây, nay tiếng Tây cũng thiên bất đáo, địa bất chí .. thiệt là uổng kiếp.
(viết 3 ngày 6, 7, 8 Décembre 1993)
(viết ngày 9-12-1993, có tin bão gió lớn từ Phi Luật Tân kéo qua)
Những dấu tích cũ ở Sài Gòn, ngày nay đã phá mất và tiếc đã muộn. Hơi gió Tết đã thổi, trời sáng nầy âm u, nha khí tượng báo tin phải đề phòng mà đề phòng cái gì chứ? Gió lớn sập nhà thì rán chịu, việc của ông trời, ổng làm là mình chọc cho ổng giận, và bão tố, động đất chỗ nầy, sóng thần chỗ kia, theo tôi đều là thiên tai, khi biết để tránh thì đã trễ. Hiểu theo tôi, một cách ngu tối, tuy vậy mà sướng hơn. Ngày xưa, khi có lũ lụt, mất mùa, ôn dịch hoành hành, thảy thảy đều qui cho vua thất đức. Nay vua đã không còn, qui tội cho ai? Mảng dựa theo khoa học, thiên lôi đánh cắt nghĩa đó là điện khí chạm nhau. Dân mất lòng tin hóa ra ngỗ nghịch. Học trò hết sợ thầy giáo, cắt nghĩa thầy giáo vẫn có được trả lương cha mẹ sanh thành, ơn đẻ đau dạy nhọc không lo trả, đành nào cắt nghĩa “mượn bụng mẹ nằm trong ấy chín tháng mười ngày?”, thôi, đừng tiếp nối như vậy nữa.
Ba ngày gần Tết, hãy nhớ tiếc vài chuyện cũ, nhắc lại để cắn hột dưa đỡ buồn.
1. Chuyện thứ nhứt: Tại sao phá bỏ đường xe lửa nối liền Sài Gòn xuống Mỹ Tho. Mà Mỹ Tho đã mất, bây giờ là Tiền Giang kia mà! Chớ chi đừng phá, chẳng là có thể đi về xứ cây trái, rẻ tiền hơn ngày nay, xe ô tô giành giựt!
2. Chuyện thứ nhì: Lại đã phá đường xe điện chạy từ Cầu Ông Lãnh lên Lái Thiêu, Thủ Dầu Một. Nếu còn, sầu riêng, măng cụt v.v .. đâu có cao giá như hiện nay và nhà, vi la của hãng ô tô ray của Tây ở Gò Vấp, khi Tây rút lui, bán giá rẻ rề mà bền chắc hết chỗ chê, thảy đều phá bỏ, hoặc dã đổi qua tay chủ khác, chẳng qua và theo tôi hiểu, ấy là tội của kẻ đi sau. Tôi không kể tên ra. Chỉ nhớ mụ Nhu, hùn vốn, hoặc xuất tiền ăn cắp quỹ viện trợ Mỹ, lập hãng xe ô tô buýt và muốn được độc quyền vơ vét của dân đen, nên đã giết chết những xe nói trên đây.
Khi tôi mới chạy lên đất Sài Gòn nầy, từ 1919 đến1923, tôi học trường Chasseloup – Laubat, buổi đó nơi đường Trần Quang Khải, lúc đó vẫn có một đường sắt nhỏ và có một xe lửa nhỏ, nối liền chợ Tân Định qua chợ Đa kao. Ban đầu, xe chạy không lấy tiền, gọi là xe chạy thí, nhưng trẻ nít leo lên ngồi chật ních, đuổi không chịu xuống, Tây phải bày ra thâu tiền xe và thâu bao nhiều mỗi chuyện: un sou (một đồng xu), như vậy mà mời được trẻ bớt đi.
Trở lại xe lửa, tàu hỏa của người Bắc.
– Đi Mỹ ăn mì, Mỹ đây là Mỹ Tho, ở Chợ Giữa có tiệm Tàu bán mì ngon số dách (số 1). Mỹ, chưa phải là Tiền Giang và Tiền Giang còn mì ngon không! Mỹ cũng không phải là Mỹ quốc U.S.A. Nay gọi Tiền Giang giết chết Mỹ (Mỹ Tho).
– Lên Lái Thiêu, ăn măng. Măng đây là măng cụt, tiếng Pháp là mangoustan, tôi tìm ra mangoustan, phải chăng là mangue d’Indoustan, nói ríu lại. Bỏ qua việc từ ngữ làm tàng ấy, kể chơi ngày trước lên Lái Thiêu, đi bằng xe điện chỉ tốn vài cắc (vài mươi xu) và có lệ vào vườn măng, bỏ ra một đồng bạc (1$00) nhưng đồng bạc ngày trước ấy, giá trị ngày nay tôi tưởng hơn một trăm ngàn tiền giấy hiện thời (100.00 đồng) về chiều đếm đủ một trăm trái, xin chớ quên giá trả chỉ Nhứt ngươn (1$00) vì có lệ buổi đó, khi khách đến vườn măng, trả tiền xong, chủ vườn cho tha hồ ăn líp (libre) ăn tại dưới gốc, bao nhiêu đều không kể và măng cụt có hai thứ, thứ măng đúng lứa, ngọt thanh và thứ măng non, hái xuống, bẻ vỏ ra, da màu ửng hồng thịt trong ngần như da đứa gái cập kê, cắn đụng răng, vừa dòn vừa ngọt vừa đầu lưỡi thanh thanh, khỏi trả tiền sướng quá, măng non tôi tưởng người nào từng nếm, trời đất cũng còn quên và ngày nay, xin hỏi măng cụt mỗi trái giá bao nhiêu và tôi nào còn tuổi còn rărg để biết! Ôi? Tuổi chẳng chờ ta! Và còn gì mà mến tiếc, muốn lột da sống đời? Lái Thiêu buổi đó, có làng tên gọi Ba Ri Tân Qui. Làng nầy còn hay đã đổi tên khác rồi. Nơi làng ấy có chiếc cầu treo và có sầu riêng ngon có tiếng. Lại có bưởi nhỏ trái và ngọt. Bọn Ba Tàu lên mua đem về Sài Gòn lấy giấy bạch bao ngoài, lấy dây nhợ dỏ cột treo lủng lắng vào dịp tết trung thu và bày đặt gọi bười ấy từ bên Tầu chở qua, bán giá cắt cổ (cắt cổ là giá bốn hay năm cắt bạc (0$40, 0$50) mỗi trái), trong khi bưởi đỏ bưởi lớn trái, giá chưa tới mười xu, thế mà đồng bào ta vẫn tin và vẫn mua rầm rầm và nay tôi nhắc lại vào năm 1919 ấy có phong trào “tẩy chay si noa” tẩy chay vốn là tiếng Quảng, nói qua Hán tự là Để chế, mà nói Để chế, có ai hiểu nổi, họa chăng có ông trời của Tàu biết hay chăng. Tôi nói bắt quàng và nhớ lại Lái Thiêu, nay gọi Sông Bé và bao nhiêu địa danh ở đây, nay đều đổi gọi theo tiếng mới, thiết tưởng đến đời mấy đứa cháu nội ngoại của tôi khi lớn lên và hiểu chút nào được thì tất cả tiếng nói giọng Miền Nam nầy dã bị Bắc Việt hóa mất hết rồi, không khác bên Tây địa tiếng Provencal, langue d’oc, langue d’oil gì gì đó thay thế nhau và thuở nào, cách nay chưa đầy nửa thế ký, có tên TÂN nào đó dựa hơi Tây khủng bố đồng bào Bắc ép nói Tân Sơn Nhứt, người nào nói “Nhất” thì bị “mò tôm” và hiện nay, phong trào ấy trở ngược dòng lại và mở tờ báo chí lại nghe và đọc viết Tân Sơn Nhất và chữ Nhứt” của tôi đã bị hạ bệ và hết xài rồi, buồn vậy thay và còn đâu tiếng địa phương, Bắc gọi “Mặt giăng” và Nam nói “Mặt trăng” và trong khi ấy trong các từ điển Bắc Trung Nam, chữ “trăng” mới là đúng chánh tá kia chớ? Tiếc vậy thay và xin hỏi vào trong nầy, ăn cơm trắng, uống nước Trị An, nước Đồng Nai hay nước Cửu Long, làm sao gọi nước Hồng Hà cho được và thử nghĩ núi Châu Thới ở Biên Hòa, ép gọi Chu Thái Sơn mà dân ở dây biết núi đó ở nơi nào hay sao và thử đừng nới “xe ô tô, xe hơi” và ra đường nói “mi gọi cho ta một “tự động xa”, rồisẽ cóxe ô tô mã binh chạy lại rước hay chăng?
Tô dây là một kẻ lẻ loi không theo đảng nào, nhưng cũng không biết nịnh bợ, tôi tiếc lấy tôi và cứ xin để cho tôi cứ tiếc, và tôi hiện đã tiếc: Ở đây, ở Thành phố Hồ Chí Minh và cùng khắp các tỉnh tôi biết được thì đều có nào
đường Chi Lăng, nào đường Bạch Đằng, v.v .. và v.v .. và như vậy, chỗ nào là Chi Lăng và Bạch Đằng cổ tích và thét rồi đều là Chi Lăng và Bạch Đằng hàm bà lằng tất cả hay sao và đâu là thiệt và dâu là giả tạo?
Trở lại Sài Gòn cũ, tôi tiếc đường và xe điện của Tây cũ, chạy đường nay gọi là đường Trần Hưng Đạo, thì đời Tây gọi Boulevard Gallieni và xe điện đường đó nối liền Sài Gòn vô Chợ Lớn, chỗ ngồi có ba hạng, hạng nhứt, có lót nệm và trải da trắng phếu, hạng nhì chỗ ngồi ván ép đánh vẹt ni vàng bóng và hạng ba chở hàng hóa, hoa quả rất tiện, còn dọc theo mé sông có xe gọi đường Route Basse (đường thấp, đường dưới), xe điện nầy chạy từ ga Bình Tây ra ga Chợ Lớn và kéo dài ra chợ Bến Thành và nối liền chạy ngang Sở Ba Son để chạy tuốt lên tận Gò Vấp, và khách lên xe xuống xe giá rất rẻ mà muốn đi tới nơi nào cũng dược và rất tiện, khỏi sắm xe đạp như nay chỉ cho bề bộn … và tôi còn nhớ tích một ông thợ già nhà ở Gò Vấp mỗi ngày và tuần lễ nào cũng y như tuần nấy, mỗi sáng và mỗi buổi chiều, ông đều nhờ xe điện mà đi đi về về và ông có tục mỗi lần lên xe hết thảy bộ hành đều thấy ông ngậm xì gà và sau rốt mới rõ lại ông chỉ xài có một điếu xì gà ấy trọn một tuần nhựt, mà không ai biết, cứ lên xe ông quẹt và châm và để cho thuốc xì gà của ông tự nhiên tắt, và về sau khí rõ tự sự, ông mới được tặng là “ông Xì gà tuần”.
Khi xe diện của Tây không cho chạy nữa thì có xe ô tô buýt thay thế và đường xe lửa Mỹ Tho cũng dẹp mất, nhưng xe đò ban đầu thấy gọn và tiện, tỷ như mấy ông mấy thầy ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu v.v .. đều có thể mua giấy tháng và có xe đò đưa rước để sáng lên xe ra Sài Gòn chiều lên xe trở về nhà, buổi trưa nán ở lại sở đạm bạc một tô hủ tíu dỡ lòng, như vậy có phải là rất tiện và rất dỡ túi cho dân hay chăng và đến ngày nay, ban sơ cũng có xe mới xe đò rất dẹp và rất nhẹ giá thay thế nhưng lần hồi sanh tệ, trẻ mất dạy lên xe, móc xé nệm tả tơi và thét rồi sanh tệ thêm nữa, nạn móc tứi nạn xe buýt chạy bất kể giờ giấc và mất trọng nếu không nói là coi rẻ khách bộ hành, như tôi nay, rất sợ xe buýt, còn xe lam, xe xích lô, thì lại sợ nỗi khác.
Lúc tôi làm nơi dinh thống đốc, người đầu phòng chủ của tôi là một quan đốc phủ nhà ở Phú Lâm, ông rất trong sạch thanh liêm, ông sáng đón xe lửa từ Mỹ Tho chạy lên, ông lên xe ra tới ga Bến Thành, ông xuống xe thả bộ vào dinh, đến chiều ông thả bộ trở lại ga mua vé lên xe Mỹ Tho trở về Phú Lâm tới nhà, những ảnh gương mẫu ấy nay không còn, thật là đáng tiếc.
Nay còn lại những gì độc giả vẫn biế hơn tôi, nói chi cho tốn giấy. Cái tệ nạn ngày nay một phần theo tôi là người quá đông, xe quá nhiều, còn đàng xá thì hóa ra quá hẹp, thêm nạn bít cổng, đào xé nát mặt đường và cứ đốn cây che mát và mở đồng hai bên lề thêm rộng, ngoài ra học sanh, sanh viên, đông nghẹt và ít biết tránh khách già đi bộ và tội nghiệp thay cho người tàn tật xê dịch làm sao! Ngoài ra, còn vấn đề cầu kỳ, cái thì quá cũ kỹ, có từ đời Tây nay đã mục chưn rệu mặt, cái tuy mới xây bằng xi măng cốt sắt nhưng làm sao chở nổi những xe xăng xe tải quá to quá nặng nề, cầu sập, v.v .. , tiền đâu cho kịp sửa chữa? Quả là nan giải và khó vậy thay cho người đứng đầu trong nước? Và giỏi gì cái viết nói vô can?
Nguyễn Thanh Giản sinh năm 1940, tỉnh Thái Bình, Bắc phần, trung học Chu Văn An, tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1965, Bác sĩ Quân Y Quân Lực VNCH 1965-1975. Tù cải tạo 1975-1977. Định cư Hoa Kỳ 1983. Viết văn với bút hiệu Hải Đăng, tác phẩm đã xuất bản: Kỷ Niệm Trên Đồi (tập truyện) 1994; Nỗi Đau của Mẹ (tập truyện) 1998; Kể Bên Bếp Lửa (truyện dài) 2003. Mất năm 2015.
Ngày được tin Bác sĩ Nghiêm Sĩ Tuấn tỉnh nguyện đi binh chủng Nhảy Dù, một người ban chung lớp nói với tôi:
_Thằng Tuấn mà đi Nhảy Dù thì chắc dù nó bay lên chứ không xuống đâu! Tôi mỉm cười nhưng không ngạc nhiên vì biết anh nhỏ con, cao có 1.58 mét và nặng chỉ có 40 ký. Tuy nhiên vì đã chơi thân với nhau kể từ khi còn trung học và suốt 7 năm đại học nên tôi biết rõ anh có lý do để chọn binh chủng Nhảy Dù, một binh chủng chiến đấu anh dũng và có kỷ luật cao. Ngay từ khi còn ngồi ghế trung học, chúng tôi cũng đã có những đêm thức trắng bàn luận với nhau, nào là văn chương triết lý, như là vận nước lâm nguy, nào là ước vọng của những người trai thời loạn. Cái hoài bảo của chúng tôi thời đó thật là to lớn quá, cái lý tưởng tuyệt vời quá, những cả hai chúng tôi đều băn khoăn trong lòng là không biết mình sẽ làm được cái gì?
Thế rồi ra trường, mỗi đứa được điều động đi một ngã. Lần cuối cùng tôi được gặp Tuấn là ở quận Cam Lộ, thuộc tỉnh Quảng Trị. Lúc đó người ta đang xây dựng một hàng rào điện tử gọi là hàng rào McNamara để ngăn chận Cộng quận từ Bắc xâm nhập vào Nam. Người dân ở quanh đó bị bắt buộc phải đời đi nơi khác.
Họ được tạm cư ở những trai làm bằng lều vải do Mỹ cung cấp. Trên một khu đất rộng, những căn lều vải được cất lên san sát, Mùa hè với những cơn gió Lào thổi về như thiêu đốt và mặt đất cát nóng bỏng. Thực phẩm và nước uống cũng do trực thăng hoặc những đoàn xc Mỹ chở tới, Tôi được giao nhiệm vụ coi sóc sức khỏe của đồng bảo ở các trai này, goi là công tác Dân Sư Vụ. Bộ Chỉ huy của tôi đóng ở Đông Hà, mỗi sáng tôi được chở tới Cam Lộ để khám bệnh cho đồng bào đến chiều lại về vì ở Đông Hà an ninh hơn. Nhưng thường thì buổi chiếu tôi không muốn về. Tôi muốn ở lại cùng với anh em y tá của tôi một phần, một phẩn nữa tôi muốn sống thật gần gũi với những người dân quê lam lũ. Nhiều người dân ở trong các lều thấy tôi đến thăm ho buổi tối, tăng thuốc bổ hay cho trẻ em vài cái kẹo, ho rất quý. Tôi thường nói chuyện, tâm sự với họ tới khuya. Quan hệ giữa tôi và đồng bào ở đó trở nên thân mật, có lần tôi bị ốm phải về Quảng Trị tĩnh dưỡng mấy ngày. Đến khi trở lại họ thăm hói tôi một cách ân cần. Một người dân chất phác hỏi:
– Bác sĩ đau làm chúng tôi nhớ bác sĩ quá. Bác sĩ không đi khám bênh được sao không nhờ bà bác sĩ khám giùm?
Tôi cho họ biết vợ tôi không phải là bác sĩ nên đâu có biết khám bệnh, thì họ đồng thanh nói:
– Thì ông chỉ cho bà cách khám bệnh và cho thuốc cũng được chớ có sao!
Những người dân quê này thật hiển lành chất phác và dễ thương quá, họ không hiểu thế não và phải học ra sao để làm bác sĩ. Tôi đành giải thích theo lối họ:
– Đồng ý tôi có thể dạy vợ tôi cách khám bệnh nhưng vợ tôi phải học rất siêng năng. Tối nào cũng phải thức ít nhất 12 giờ đêm để học bài, nếu không thuộc tôi phải dùng roi đét vào đít. Cứ như thế 7 năm thì bà ấy mới có thể chữa bệnh được!
Mọi người cười ồ lên có vẽ hiểu. Tôi thương những người dân quê này quá, họ chẳng khác nào gia đình của tôi, nhưng tôi chỉ có thể ở với họ một thời gian ngắn rồi sẽ ra đi. Chiến tranh vẫn kéo dài, ngày một thêm ác liệt, rổi tai họa nào sẽ giảng lên đầu họ? Tôi làm sao có thể chia sẽ với ho mãi được! Một buổi chiều, tôi đang đùa giỡn với đẩm trẻ con thì Tuấn ở đâu đi tới. Anh mặc bộ đồ Dù khá mới, da dẽ đã sạm nắng, đầu tóc vẫn hớt kiểu móng lừa. Tiểu đoàn anh đi hành quân ở Cùa mới về. nghe nói tôi ở đây nên anh tới thăm. Thấy tôi, anh nói giỡn:
– Bác sĩ không lo khám bệnh lại đi giỡn với trẻ con.
Tôi mới anh vào trong lều mở nước ngọt mời anh và các y tá uống. Đêm hôm đó, trong căn lều vải giữa đồng khô cỏ cháy chúng tôi được địp nằm bên nhau ôn lại những ký niệm xa xưa, thời còn cắp sách tới Đệ Tam B6, Đệ Nhi B6 của trường Chu Văn An đã gần mười năm về trước. Chỉ khác là lần này chúng tôi nằm ở vùng tiền tuyến, tiếng đạn nổ chung quanh như nhắc nhở rằng những chết chóc điêu linh của cả dân tôc vẫn là một thực thể không biết đến ngày nào mới chấm dứt. Sáng hôm sau, tôi bắt đầu một ngày làm việc mới thì gặp trường hợp một em bé bị sưng ruột đư. Tuấn cũng nắn bụng em bé và đồng ý với sư chẩn đoán của tôi, Đứa bé cần được đưa đi nhà thương để mổ ngay. Nhưng vừa nghe tới chữ mổ là cha mẹ nó ẳm chạy ra ngoài ngay. Họ cho mổ là việc ghê gớm lắm, con họ bị đem đi mổ chắc là sẽ chết và thân xác không vẹn toàn, có khi không được trả xác về nhà nữa là khác. Trong đầu họ nghĩ đến ông thầy thuốc Nam, ông y tá quen thuộc hay cùng làm là ông thẩy pháp có thể cứu được đứa bé. Tôi bối rối chưa biết xử trí ra sao, anh em y tá định giữ bé lại nhưng mẹ nó đã lanh lẹ ẳm chạy về lều. Tuấn nói với tôi:
– Để tao khám bệnh thế mày bữa nay. Mày đã quen với dân chúng ở đây rồi, hãy đến tận nơi giải thích cho họ: chỉ có cách giải phẩu mới cứu được đứa bé mà thôi. Tao biết mày có tài thuyết phục hay lắm mà.
Tôi tới tận lều giải thích mãi cha mẹ đứa bé vẫn không nghe. Sau phải nhờ nhiều người quen nói thêm vào, cha mẹ đứa bé mới đồng ý đem nó đi Quảng Trị với điều kiện tôi cũng phải đi theo và cha mẹ nó thì luôn luôn ở bên cạnh. Tôi bèn gọi máy bay trực thăng tản thương rồi tất cả cùng đi. Chỉ một tuần lễ sau đứa bé bình phục hoàn toàn nhưng lúc đó Tuấn đã xa tôi rồi. Tôi còn nhớ đêm trước hôm chia tay Tuấn nói với tôi:
– Cuộc chiến này nếu không làm sáng tỏ được là chúng ta chiến đấu cho tự do dân chủ thì rất nguy. Nó sẽ trở thành cuộc chiến của những thằng ở thành phố đánh nhau với những thằng ở miền quê. Những thằng ở thành phố tinh khôn hơn nhưng chỉ là thiểu số, miền quê trông có vẻ khờ khạo nhưng nắm giữ hầu hết tiềm lực của dân tộc. Mày tranh thủ được nhân tâm dân chúng miền này là rất tốt. Nếu bên mình mà làm được như vậy thì bọn Việt cộng sẽ thua nhanh chóng. Cuộc chiến đã trở thành cuộc tranh thủ nhân tâm, mình không làm thì bọn Việt cộng tinh ranh sẽ làm và sự sụp đổ của miền Nam sẽ là điều không tránh khỏi. Sự tiên đoán của Tuấn đã xảy ra. Ngày miền Nam sụp đổ, anh không còn nữa nên tránh được cái tủi nhục của những người bại trận. Còn chúng tôi lũ lượt kéo nhau đi từ nhà tù này tới nhà tù khác …
Tuy nhiên lời tiên đoán của Tuấn đến bây giờ lại sắp được chứng nghiệm một lần nữa. Chiến thắng của Việt cộng tôi cho chỉ là tạm thời, nếu họ không biết thay đổi chính sách. Vì khi huyênh hoang với chiến thắng, họ quên mất bài học cũ, bài học chinh phục nhân tâm. Và cho đến nay, hầu hết những người tượng trưng cho sức mạnh dân tộc đã quay lưng lại với họ. Những thể chế chính trị rồi sẽ qua đi nhưng tình bạn của chúng tôi vẫn còn mãi mãi. Dù Tuấn đã chết gần ba mươi năm, nhưng năm nào vào những kỳ họp bạn chúng tôi vẫn không quên anh. Năm nay các bạn bên nhà tổ chức tất niên thật linh đình, họ quay cả video gửi qua cho tôi: sau phần nhắc nhở công ơn các thầy cô cũ, tới phần tưởng niệm các bạn cùng lớp đã ra đi. Anh Trần Quang Nhiếp đã nhắc đến tình bạn của chúng tôi và Nghiêm Sỹ Tuấn như sau:
Tuấn thân mến,
Hôm nay theo truyền thống 3B6, 2B6, bọn tao lại họp mặt vui chơi trong đầu năm mới. Năm nay xôm tụ hơn mọi năm vì Giản, Mậu, Thuần gửi tiền về nhiều. Vui với nhau nhưng vẫn nhớ tới những thằng đã ra đi. Ra đi về nơi vĩnh hằng chưa hẳn đã là điều bi thảm nhưng không có mày thì cũng không vui trọn vẹn. Hơn ba mươi năm trời rồi nhưng cuộc vui họp mặt đầu năm chúng tao vẫn giữ. Hai mươi mấy năm rồi mày đã vui với nấm mộ cỏ xanh, bọn tao vẫn không quên. Cây điệp già ngoài sân trường Chu Văn An vẫn còn đó, mái trường cũ kỹ vẫn còn đó. Nước chảy qua cầu có đến hàng tỉ mét khối rồi, thằng nào cũng xế bóng, kể cả thằng Kim Anh em út, râu tóc nó đã lơ thơ sợi bạc. Có thằng đã có rể, có cháu. Vậy mà bọn tao vẫn cảm một điều rất thật là mình vẫn còn trẻ lắm, vẫn còn là chú học sinh Chu Văn An phá phách năm nào với nhiều kỷ niệm.
Tao còn nhớ hồi ở 3B6, thằng Trí ngồi ở cuối lớp chọc mày. Mày ngồi ở giữa lớp trừng mắt nhìn nó, thế là hai đứa đấu mắt với nhau đến hai ba phút mới thôi. Ra trường Y khoa mày cũng đấu mắt với cuộc đời như vậy. Tao lại còn nhớ tới cái đầu tóc mày ngày đó, cắt theo kiểu móng lừa. Thầy Tuyên trong lúc cao hứng đã gọi
mày là thằng Bờm, cả lớp cười ầm lên. Thế là cái tên thằng Bờm dính với mày cho đến tận bây giờ. Ba mươi lăm năm, thời gian trôi qua mau kinh khủng. Người ta ở đời, đầu đội trời chân đạp đất, bọn tao cố gắng chống trời nhưng phần lớn bọn tao mất mát nhiều. Có thằng trắng tay ở cái tuổi năm mươi. Có thằng phải làm lại cuộc đời từ con số không. Ấy thế mà hôm nay gặp nhau bọn tao vẫn vui, chắc mày ở đâu đó trong trời đất cũng vui chung với tụi tao phải không Tuấn?
Tuấn thân mến,
Tao nhớ lại cái ngày 13 tháng 8 năm 1968, Nhã lại nhà tao với đôi mắt đỏ hoe báo tin mày chết mà sao lòng tao lúc đó vẫn dửng dưng. Tao vẫn không tin chuyện đó xảy ra. Mày đi xa, nay đây mai đó nhưng vẫn thường viết thư cho tao, lâu lâu lại có lá thư của mày ở đâu đó gửi về. Có lần mày viết thư về bảo cái ba lô của mày lỗ chỗ thủng vì đạn, những bài thơ tao gửi cho mày cũng bị đạn xé. Lúc đó hình như mày đang ở Phù Cát thì phải, tao đã thở phào nhẹ nhõm. “Không sao, không sao miễn là mày còn sống, còn viết thư cho tao là được.”
Tao cũng còn nhớ ngày mày được nghỉ phép lại nhà tao chơi, chân đi cà nhắc, miệng phì phèo điếu Bastos xanh quen thuộc. Tao hỏi sao vậy? Mày nói bị ở đầu gối, nhẹ thôi, nhưng không sao, không sao, vẫn còn vác xác đi thăm mày mà. Thế rồi mày lại ra đi, tao không biết đi đâu. Hai ba tháng không nhận được thư mày, rồi Nhã đến báo tin mày chết ở Khe Sanh. Thế có vô lý không! Nhã về rồi, tao ngồi một mình đọc lại những bài thơ tao gửi cho mày, có một bài lục bát ngắn, mười câu thôi, sao nó lạ quá. Có cái gì đó khó giải thích giữa bài thơ và cái chết của mày. Một điềm báo trước chăng? Tao đọc lại mày nghe nhé:
Lòng trai ra đã khi nào
Ngoảnh trông lại thuốc cháy bao nhiêu tàn
Mày xiên mũi dọc vai ngang
Mắt xâm yêu đã nhuốm vàng khói xanh
Hỡi đêm quỷ nhập tàn canh
Máu ta có chảy lạnh tanh chiến hào
Hoả châu có nổ trên cao
Hãy đưa ta một chén trào rượu cay
Rồi ta súng đạn cầm tay
Rừng sâu đất hiểm lại bày cuộc chơi
Tuấn ơi, mày đã bỏ cuộc chơi hơn 20 năm rồi. Cái quạt mo, thằng Bờm có cái quạt mo. Cái mộng văn chương của mày đó, mày cũng để lại cho đời. Hôm nay tưởng nhớ mày, tao xin được đại diện bạn bè nơi đây đọc cho mày nghe một bài thơ tao viết khi mày nằm xuống:
Sáng nay mưa đầu mùa
Nhà ngươi nằm dưới mộ
Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi
Xanh um từng đám cỏ
Ta nghe hơi thở ngươi
Vẫn dồn lên mặt gỗ
Ôi núi rừng Khe Sanh
Giao thông hào còn đó
Người yêu có khóc chăng?
Hỡi thằng ba mươi tuổi
Những bài thơ cổ phong
Có mang về chín suối
Ngươi chết như giỡn chơi
Cần chi vài giọt lệ
Tặng ngươi một đóa hồng
Trên nấm mồ nhân thế.
Tuấn ơi, quả thật mày chết như giỡn chơi, đâu có cần vài giọt lệ xót thương của bất cứ ai, kể cả của bọn tao là bạn mày. Bọn tao chung vui hôm nay không quên các bạn như Phan Văn Hùng, Trần Tử Tư, những đứa cùng lớp với mình nay không còn nữa. Tình bạn của chúng ta có lúc tưởng như phai nhạt theo năm tháng, có lúc gặp nhau chỗ này, khi gặp nhau chỗ khác và rất đỗi vô tình. Nhưng thật ra không phải vậy đâu, nó tiềm ẩn đó thôi. Hứa với mày là bọn tao vẫn giữ mãi, giữ mãi cái tình bằng hữu 3B6, 2B6 đáng quý của chúng ta, cho dù Giản, Mậu, Thuần cùng một số những đứa khác hiện đang sinh sống ở xứ người, đúng như mong muốn của bọn mình ngày nào cách đây ba mươi lăm năm dưới gốc điệp già giữa sân trường Chu Văn An thân yêu.
Hồi ký Vượt Ngục của Dương Phục được viết từ năm 1983 Ký sự này được chuyển sang Anh ngữ với tựa đề “Escape” với phần viết thêm của tác giả về giai đoạn tiếp theo sau cuộc vượt ngục, rồi đến vượt biển, gặp hải tặc, đến trại tỵ nạn, rồi sang Mỹ và trở lại biển Đông cứu người vượt biển của Dương Phục. Ký sự Escape đã đoạt giải thưởng Báo Chí “Distinguished Service Awards” của Hội Ký Giả Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ Sigma Delta Chi năm 1987.
Định cư tại San Diego, California từ năm 1980, ông Dương Phục di chuyển sang Houston hồi cuối năm ngoái, và hiện là Giám đốc đài Phát Thanh Little Saigon Radio tại Houston, phát thanh mỗi ngày từ 7 giờ sáng tới 4 giờ chiều trên luồng sóng 1070 AM.
Trước 1975, ông Dương Phục từng là trưởng ban tin tức và phóng sự tại Đài Phát Thanh Quân Đội ở Saigon và từng tham dự hầu hết các trận đánh sôi động tại khắp chiến trường miền Nam, miền Trung, Cao nguyên và Lào. Ông cũng từng cộng tác với các báo Chính Luận, Sóng Thần, Tin Sống… Năm 1973, khi Hiệp định ngưng bắn được ký kết ở Paris, ông là thành viên của Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên. Sau khi vượt biên vào cuối năm 1979, ông đã tích cực hoạt động trong nhiều công tác cứu người vượt biển. Cuối cùng, cũng cần nhắc lại, ông Dương Phục là phu quân của nhà báo Vũ Thanh Thủy.
Tôi còn nhớ hôm đó là ngày 19-5-77. Tất cả trại, bị lùa ra cánh đồng cỏ tranh phát quang. Đám cỏ tranh rậm cao ngang đầu, ngay sát đường cái. Chúng tôi vừa cuốc đất vừa có thể nhìn những người dân đi lại và các chuyến xe đò từ Long Khánh đi Cẩm Mỹ — Cẩm Đường chạy ngang. Tôi cố ý tìm đám cỏ tranh ngay sát lề đường, vừa cuốc vừa ngóng các chuyến xe đò, vì tôi biết hôm trước thế nào Thủy cũng lên. Tuần trước, vợ chồng tôi đã liên lạc được với nhau qua cái lá thư chui nhét trong cái gói quà trong đợt thăm nuôi của mấy người bạn. Dân cải tạo thường dùng cách này để hẹn vợ lên đón đường, đi lao động, rình những lúc vệ binh lơ là, có thể sáp lại nói chuyện được dăm phút và tiếp tế đồ ăn. Mãi gần đến trưa, trời nắng gắt, một chiếc xe đò từ Long Khánh lên, dừng lại tại ngã ba Cẩm Đường ngay trước quán cóc bên đường. Một vài người bước xuống, mặc dù cách khá xa, tôi nhận ngay ra Thủy trong bộ bà ba nâu, tay xách giỏ; mặc dù đã biết trước buổi hẹn, tôi chết trân trong cơn xúc động chợt ùa đến khiến tôi như cứng người lại đứng nguyên một chỗ. Thủy đi dọc theo giao thông hào ngăn giữa bờ đường và đám cỏ tranh, mắt dáo dác nhìn tìm trong đám cải tạo đang cuốc đất. Tôi biết Thủy không thể nào nhận ra tôi trong đám người lố nhố đứng trải khắp bãi cỏ. Tôi nhìn quanh tìm đám vệ binh, nhìn thấy một tên nón cối đứng trên mô đất cao theo dõi quan sát toàn bãi lao động. Tôi kéo lê chiếc cuốc băng qua bãi trống, đi về phía băng qua bãi trống, đi về phía Thủy. Tôi biết chắc không thể thoát khỏi cặp mắt của tên vệ binh đứng trên mô đất. Thủy nhìn thấy tôi, khi chúng tôi cách nhau một đám cỏ tranh. Thủy khựng lại, chúng tôi nhìn nhau, xúc động đến độ không có một phản ứng nào, dù một cử chỉ bày tỏ đã được nhìn thấy nhau sau hai năm chia cách. Tôi thấy mắt Thủy nhìn xéo sau lưng tôi như báo động. Tôi quay lại, tên vệ binh đang leo xuống mô đất. Tôi quăng cuốc, chạy nhanh về phía Thủy, nhảy xuống giao thông hào, khom người khuất sau đám cỏ tranh. Thủy ngồi xuống lề đường, tôi thấy môi Thủy mấp máy định nói điều gì, lại ngước lên nhìn về phía sau tôi, cuối cùng chỉ nói:
– Có ít đồ ăn đem cho bố. Thủy đẩy túi bao cát lăn xuống rãnh hào, móc túi lấy bao thuốc lá Vàm Cỏ, một điếu thuốc rời cầm ngoài giọng rất vội: – Trong thuốc này có thư rất quan trọng, cẩn thận nghe. Tôi cầm nhét vội vào túi áo, hỏi: – Con khỏe không? Thủy gật đầu: – Con ngoan lắm. Tôi nhoài người vỗ vỗ vào tay Thủy: – Mẹ sao, khỏe chứ, cố cố lên nhé. Thủy cười cười – Đừng lo, mẹ con bình an, đầy đủ lắm, nhận được quà tiếp tế của ba mẹ gửi về. Chỉ cần bố phải cố giữ sức khỏe. Bỗng có tiếng động sau lưng tôi, một giọng nói nhỏ của người bạn cùng tổ báo động: – Nhanh lên, tên vệ binh đang tới gần đó. Thủy đứng lên và nói vội: – Chiều mẹ trở lại. Và quay bước nhanh sang lề đường bên kia, đi ngược về phía ngã ba. Tôi cầm túi đồ ăn, định dúi vào bụi cỏ, thì tên vệ binh trờ tới quát: – Đứng lên, đem cái túi đó lên đây. Tôi bước lên khỏi rãnh hào, tên vệ binh giựt lại cái túi bao cát, trợ mắt sừng sộ. – Ai cho phép anh hả? Hắn mở túi, dốc ngược xuống, hai lon guigoz, và vài túi nylon đựng đường thẻ, muối vừng đổ xuống đất. Tôi liếc nhìn quanh, các bạn bè đều dừng tay cuốc, chăm chú theo dõi. Từ xa, tên quản giáo Bút xăm xăm bước nhanh, đến gần tôi, bất thình lình hắn vung tay đấm xối xả vào mặt tôi. Tôi ngã xuống đất, chịu thêm một cú đá mạnh vào ngang sườn. Tên Bút gằn giọng: – Đứng dậy, cởi hết quần áo, móc túi áo túi quần ra. Tôi lồm cồm bò dậy, giả vờ như đang đau lắm, cố tình chống tay xuống đất đứng lên chầm chậm, trong lúc cố suy nghĩ tìm cách thủ tiêu điếu thuốc lá Thủy nói có thư quan trọng nhét trong đó. Tôi bắt đầu cởi quần trước, thật chậm. Bút quay lại tên vệ binh ra lệnh: – Xem trong túi đồ ăn có gì không? Tên vệ binh mở nắp lon guigoz đổ dốc mớ thịt kho mặn tung xuống đất, xé bao nylon muối vừng. Lợi dụng lúc chúng đang chú ý kiểm soát mớ đồ ăn, tôi lùa tay vào túi áo, kẹp trúng điếu thuốc, vòng tay ra sau lưng búng mạnh ra sau. Tôi tiếp tục cởi áo quăng xuống đất. Bút nhặt lên, lần tay vào từng ve quần áo, móc các túi, lấy ra bao Vàm Cỏ. Bỗng sau lưng có tiếng một tên vệ binh khác: – Anh Bút xem này. Tôi quay lại, tên này đang cúi nhặt điếu thuốc gẫy rời, móc ra một tờ giấy mỏng nhỏ. Bút nhào tới, cầm lấy đọc. Người tôi căng ra hồi hộp “không biết Thủy viết gì trong đó.” Bút quay lại nhìn tôi, mắt trợn ngược, môi run lên, hắn giựt khẩu súng của tên vệ binh, chĩa ngay ngực tôi, mặt đanh lại. – Mày dám mưu đồ chống Cách Mạng. Tôi nghĩ nhanh, không lẽ hắn bắn mình ngay tại đây, và nhô người tới trong phản ứng tự vệ. Bút nhào tới, quay báng súng xuống, dọng thẳng vào mặt tôi. Tôi giựt người ra sau, báng súng quất mạnh vào vai, ngã bật xuống đất. Tôi nghe giọng Bút run lên “Trói nó lại, đem về trại.” Tên vệ binh nắm tóc tôi kéo ngược lên, bẻ quặt hai tay tôi ra sau, trói bằng sợi dây điện. Hán quát “Đi!”
Tên vệ binh áp tải tôi về trại đúng lúc tiếng kẻng báo hết giờ lao động sáng. Hắn đẩy tôi chúi xuống gần chuồng heo, bước vào căn nhà tôn đặt văn phòng chỉ huy trại. Lát sau, tên Tuất chính trị viên tiểu đoàn bước ra. Tên này mắt lé, mặt đen xám, tôi vẫn nhận ra mặt hắn tái đi tức giận. Tuất lầm lì không nói tiếng nào, mở trói và dùng chiếc còng sắt xích tay tôi vào thành chuồng heo và bỏ đi. Đám cải tạo lần lượt vác cuốc về trại sau giờ lao động. Tôi nhìn thấy những người bạn thân trong nhóm “Ca Cóng” hàng ngày, Kỷ, Nghĩa, Nguyện, Tá Anh, Lưu Khương nhìn tôi ái ngại. Tá Anh đứng lại tần ngần qua hàng rào kẽm gai, tay phác một cử chỉ vô nghĩa. Thật lâu sau giờ cơm trưa, tôi vẫn đứng đó, đói vã người đau ê ẩm. Không thấy tên nào đá động gì tới tôi. Chắc bọn chúng đang bàn các xử trí. Tôi cố trấn tỉnh, nhắm mắt cố để đầu óc nghỉ ngơi không suy nghĩ, để chuẩn bị đối phó tình thế sắp tới. Tôi bỗng chợt nhớ ra Thủy hẹn — “Chiều nay trở lại bãi lao động”. Bụng bỗng đau quặn cơn đau râm ran khắp người. Toàn thân cồn cào trong cơn hoảng hốt lo sợ. Thủy trở lại thế nào cũng bị bọn cán bộ vây bắt, tôi không rõ Thủy viết gì trong lá thư chui đó, nhưng chắc chắn rất trầm trọng nên chúng mới hung dữ với tôi như vậy. Tôi cuống cuồng nghĩ tới việc phải liều mạng, làm thế nào để báo động cho Thủy? Gần đến giờ lao động chiều, tên Bút, từ cổng trại đi sang “Khung” theo sau là tá Anh vai vác ba lô dài. Tôi nhận ra túi đồ của tôi đựng chăn màn và vật dụng cá nhân. Tá Anh nằm ngủ cạnh tôi, chắc bị chúng trưng dụng khuân đồ đạc của tôi sang “Khung” để chúng lục soát. Bút ra lệnh cho tá Anh: – Lấy chăn trải ra, đem hết đồ đạc trong túi bày ra từng món. Tá Anh lôi ra từng món lỉnh kỉnh bày la liệt trên tấm chăn, trong đó có cả hình vợ con tôi và một xấp thư từ dày của Thủy gửi cho tôi trong hai năm qua. Bút quay ra đứng nói chuyện với tên Tuất cách đó một quãng xa. Tá Anh cúi xuống tiếp tục bày hàng, không nhìn tôi, và nói thật nhỏ: – Hồi nãy ở ngoài bãi, Bút tập trung các đội lại, đọc lá thư của vợ ông, bả dặn ông chuẩn bị vượt trại, bả đã móc nối được chuyến vượt biên tháng tới, đã có giấy tờ giả và chỗ trốn cho ông ở Saigon. Tá Anh ngẩng lên nhìn về phía hai tên Bút và Tuất vẫn đang đứng nói chuyện, quay lại nhìn tôi: – Tình trạng ông nguy lắm, cố tìm cách thoát, tụi nó dám xử ông như Ngô Nghĩa lắm. Tá Anh dợm đứng lên. Tôi nói nhanh: Hồi nãy bà xã tôi hẹn chiều trở lại bãi. Lát nữa đi lao động, ông cố làm cách nào ra hiệu báo động cho bả biết chuồn lẹ trước khi tụi nó bắt bả. Tá Anh ngẩn ngơ lẩm bẩm: – Bà trở lại thì nguy. Tôi sẽ cố, ông cũng phải cố bình tĩnh. Tá Anh quay lại chỗ hai tên cán bộ báo cáo đồ đạc của tôi và lầm lũi đi về trại. Bút và Tuất đến lục soát sờ nắn từng món. Xong cầm xấp hình và thư của Thủy đi vào văn phòng trại. Chúng bỏ mặc tôi đứng bên chuồng heo tới chiều. Sau giờ lao động, Tuất quay lại mở còng, dẫn tôi vào văn phòng trại. Tên thủ trưởng trại ngồi sẵn đó, trên bàn một xấp hồ sơ khai báo của tôi khi mới nhập trại. Tên thủ trưởng tra hỏi về lý lịch. Tôi lập lại y hệt như những lần khai báo trước. Cuối cùng, hắn đưa cho tôi một xấp giấy trắng và một cái bút. – Anh viết khai báo tất cả mưu đồ trốn trại. Thành thật thì sẽ được giảm tội. Cố tình man trá, cách mạng sẽ xử trị đích đáng, nghe rõ không? Cuối cùng, Tuất đem nhốt tôi vào conex, cạnh hàng rào sát kho thực phẩm. cái conex cũ rỉ của quân đội Mỹ để lại, chỉ vừa một người nằm, cửa không có khóa. Chúng dùng một dây sắt cứng luồn qua hai lỗ thủng, cuốn vòng bên ngoài bằng hai khoen và khóa bằng chiếc còng sắt bấm vào khoen. Sàn conex nhớp nháp, lạnh ngắt. Tôi ở đó, trong cái cũi sắt khốn khổ đúng 9 ngày, trước khi vượt thoát. Trong 9 ngày đó, tôi đã tự hứa, nếu may mắn thoát được, sau này tôi sẽ nhớ mãi những ngày khốn khiếp này. Và tôi đã không quên.
* *
Ngày thứ nhất – buổi sáng sớm, tên vệ binh mở cửa cho tôi đi cầu. Tôi nhìn quanh, cố ghi nhớ các lối đi và các hàng rào kẽm gai bao quanh trại. Tôi quyết định liều trốn, nếu không chúng sẽ xử bắn giống như Ngô Nghĩa ở Trảng Lớn, Tây Ninh. Vấn đề là phải có một thanh sắt nhỏ để phá cửa. Cái lối khóa của chúng, chỉ cần một thanh kim loại cứng lách vào và dùng sức xoắn mạnh nhiều vòng, sợi dây sẽ nóng lên và đứt. Tôi chỉ nhặt được cạnh nhà cầu hai cái đinh sắt dài, quá ngắn để dùng tay làm thế xoắn. Tuy nhiên, tôi vẫn nhặt bỏ túi phòng hờ. Buổi chiều, tên Tuất đến dục nộp bản tự khai, tôi viết loanh quanh cho đủ ba trang giấy, không nhận cũng không chối tội “chống phá cách mạng.” Ngày thứ hai – Ngay sau khi mở cửa cho đi cầu buổi sáng, tên Tuất lôi tôi lên văn phòng trạị Lần này, có một tên cán bộ lạ mặt, có vẻ cao cấp hơn cán bộ trại. Tuất đứng nghiêm người, “Báo cáo đồng chí làm việc”, rồi bỏ đi. Tên cán bộ này tỏ ra là một tay thẩm vấn chuyên nghiệp. Hắn đi qua đi lại trước mặt tôi, sau một câu hỏi, hắn tát mạnh vào mặt tôi. Tôi chịu trận đòn tới tấp suốt buổi tối với những câu trả lời lập đi lập lại, bắt tôi khai tên các bạn tù cùng âm mưu trốn, tổ chức làm giấy tờ giả và địa điểm sẽ lẩn trốn tại Saigon. Tôi lì đòn, trả lời cứng ngắc “Không biết”. Cuối cùng, hắn dùng thanh gỗ cũ, đầu lởm chởm các mũi đinh rỉ sét, quất liên tiếp vào vai và lưng tôi. Trước khi thả tôi về lại conex, hắn nói: – Chúng tao đã bắt được vợ mày chiều hôm qua. Nếy mày thành thật khai báo, vợ chồng mày sẽ được giảm tội. Nếu không vợ mày sẽ bị đòn thay mày. Lời nói này quất mạnh vào tôi còn hơn trận đòn. Tôi choáng váng, xây xẩm, cúi gầm người xuống đất, cố tránh không nhìn tên cán bộ, dấu cơn uất hận để khỏi chồm người lao vào tên khốn kiếp này. Tên Tuất bước vào lôi tôi vào conex vừa lúc trời chạng vạng tối. Tôi nằm vật xuống thiếp đi. Tỉnh dậy, chắc đã khuya lắm, tôi thức tới sáng, bồn chồn đau đớn nghĩ tới Thủy giờ này đang trong một phòng giam nào đó, và bé An ở nhà không biết có ai trông coi? Tôi vẫn tự hào là người có ý chí mạnh để đối phó với bất cứ một hoàn cảnh nào. Lần này, quả thật tôi muốn xụm trước sự bất lực của chính mình. Ngày thứ 3 tới ngày thứ 9 – Mọi việc diễn tiến mỗi ngày lập lại với những câu hỏi tương tự, với những trận đòn thay đổi kiểu đánh. Có lần tên cán bộ nổi cơn hung, phang cả điếu thuốc lào vào đầu tôi. Tôi lăn ra vờ bất tỉnh để khỏi bị đòn tiếp. Có lần tên Tuất nói với tôi: – Cách mạng đã trừng trị nhiều tên cứng đầu hơn mày. Đợi đến lúc đem ra bãi, mới cuống lên van lạy. Bấy giờ, tôi biết chắc, dù khai báo thế nào, trước sau chúng cũng cho tôi “ra bãi” như trường hợp trốn trại của Ngô Nghĩa trong cùng thời gian tôi ở Trảng Lớn. Chúng cố khai thác về âm mưu vượt trốn ở trại và những tổ chức làm giấy tờ giả bên ngoài mà chúng nghi là tôi biết. Thật sự tôi không biết gì cả, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn giả vờ nói hớ ra vài câu cho chúng tưởng tôi có biết để chúng kéo dài cuộc điều tra. Khi nào biết không còn khai thác được gì thêm, chắc chắn chúng đem tôi ra xử tử. Tôi vẫn chưa nghĩ ra cách nào tìm được thanh sắt bẻ khóa cửa. Nhưng tôi vẫn mãnh liệt tin tưởng thế nào cũng thoát, cảm thấy tinh thần và thể xác mình còn đủ mạnh. Tôi làm bộ bệnh hoạn yếu đuối, lúc nào cũng cố tình đi lết một chân. Chúng tưởng tôi bị nhốt lâu tê chân, không cử động được. Thỉnh thoảng, tôi giả vờ ngất xỉu mỗi khi tên cán bộ điều tra hung hãn quá, để khỏi bị cú đòn quá nặng. Nhưng cũng có lần, mặc dù đã vờ xỉu, hắn vẫn đổ nước thuốc lào vào mặt tôi, giựt tóc dậy đánh tiếp. Đêm thứ tám trong cũi sắt, trời mưa xối xả, hắt đầy nước qua kẽ hở conex. Người tôi ướt sũng, run lập cập, ngồi co ro suốt đêm. Sáng hôm sau, khi tên vệ binh mở cửa, tôi bỗng nhìn thấy một thanh sắt dẹp, nhắn, ai vứt ngay sát hàng rào gần conex. Khi đi cầu về, tôi xin phép tên vệ binh cho cởi quần áo ướt để phơi. Hắn nói “Được”. Tôi vội đi ngay sát rào, cởi áo quần phơi trên rào kẽm gai ngay trên thanh sắt. Tôi chỉ mặc một chiếc quần đùi khi lên văn phòng trình diện tên cán bộ để lãnh trận đòn cuối cùng bị quất bằng dây điện. Buổi chiều, tôi xin ra hàng rào lấy quần áo. Tên vệ binh đứng sau lưng tôi quãng xa. Tôi vờ làm rơi chiếc áo phủ lên thanh sắt, cúi xuống nhặt, tôi cuốn luôn thanh sắt cầm về conex. Khi tên vệ binh đã khóa cửa bỏ đi, tôi giở ra nhìn kỹ và nhận ra đây là thanh sắt ngang hông “porte bagage” xe đạp, vừa đủ cứng và đủ dẹp để luồn vào sợi dây sắt khóa cửa. Tôi mừng rỡ và hồi hộp nghĩ đến chuyện đào thoát đêm nay, trước khi quá muộn. Tôi cũng biết, nếu bại lộ, chắc chắn chúng sẽ bắn ngay tại chỗ. Đêm đó, khoảng nửa khuya, trời cũng mưa gió ào ào như đêm trước. Tôi bắt đầu luồn thanh sắt vào dây chằng cửa, nắm hai đầu, bắt đầu xoắn. Tiếng cánh cửa đập vào thành conex kèn kẹt. Cũng may mưa đang dồn dập rơi ào ào trên nóc conex, nên tôi mạnh dạn cong người dùng hết sức bẻ. Loay hoay khoảng một tiếng đồng hồ, vòng dây sắt mới bắt đầu xoắn lại theo chiều quay của thanh sắt, tôi quay thật mạnh nhiều vòng, dây sắt đứt tung ra. Tôi ngồi bệt xuống sàn nghỉ mệt. Trời mưa lạnh, nhưng người tôi toát mồ hôi dầm dề. Gần sáng, trời lạnh. Tôi bắt đầu đẩy cửa conex bước ra ngoài, nằm sát đất và bò một hơi băng ngang dãy nhà họp của bọn chỉ huy trại. Đến bãi trồng khoai mì, tôi ngồi dậy, khom lưng chạy lẫn giữa hai luống khoai dẫn ra con đường mòn tôi vẫn đi từ trại ra bãi lao động. Trời tối đen, nhưng tôi đã quá quen thuộc con đường này. Tôi chạy thật nhanh qua bãi đất trống, dẫn tới bãi cỏ tranh, tiếp tục chạy đến giao thông hào cách đây 9 ngày, vợ chồng tôi gặp nhau. Tôi nhảy xuống rãnh hào, nằm dài ra, tim đập mạnh, vừa mệt vừa hồi hộp. Tôi đã thoát khỏi vòng trại, nhưng còn nhiều bất trắc, và phải rời khu vực này càng xa càng tốt. Tôi biết khu vực dân cư quanh trại cải tạo là làng Công Giáo của dân miền Bắc di cư. Chắc tôi sẽ dễ tìm được sự giúp đỡ. Trời tờ mờ sáng, tôi nghe tiếng những người dân nói chuyện rầm rận trên đường cái. Tôi nhỏm dậy, leo trên đường, đứng thẳng người, đi ngược về phía chợ Long Giao. Phía Trước tôi, lác đác vài bạn hàng đang quảy gánh ra chợ. Ra tới gần chợ, trời đã sáng rõ. Từ đàng xa, tôi nhìn thấy bến xe Lam bên cạnh các sập chợ. Bỗng những chiếc nón cối lố nhố chung quanh xe. Tôi hoảng hốt, rẽ tắt ngang hông một căn nhà bên lề đường, vòng qua vườn sau nhà này, dẫn ra đường nhỏ giữa làng dân cư. Tôi không thể xuất hiện ở khu vực chợ giờ này. Đám bộ đội đang chờ xe Lam đi Long Khánh có thể từ những trại khác và không biết mặt tôi, nhưng sau 9 ngày nằm cũi, râu ria tôi mọc dài, quần áo nhớp nháp tả tơi, rất dễ bị nhận ra là dân cải tạo trốn trại. Tôi rảo bước trên con đường trong làng, bọc sau lưng chợ, qua khu xóm bên kia. Tôi nghe thấy tiếng đọc kinh ê a vọng ra từ một căn nhà ven đường. Tôi quyết định xông bừa vào. Người đàn bà đang lần tràng hạt giật mình nhìn lên. Tôi nói nhanh: – Thưa bác, cháu là cải tạo vừa trốn khỏi trại. Bà cụ bật đứng dậy: – Giê Su Ma, lậy Chúa tôi, thế cậu định đi đâu đây? – Cháu cũng chưa biết. Thưa bác, ở đây có đường xe về thẳng Saigon không? – Cậu phải ra đường cái, đón xe Lam lên Long Khánh, từ đó có xe đò về Sàigòn. Cậu phải đi nhanh lên, quanh quẩn ở gần đây nguy lắm. – Thưa bác, cháu không có tiền, xin bác giúp cháu … Bà cụ tần ngần ái ngại: – Tôi chỉ có một đồng để cậu đi xe Lam, cậu cầm tạm… Thôi đi bình an nhá. Tội nghiệp quá, Chúa che chở cho cậu.
Tôi cầm một đồng, nói “cám ơn” và quay lại tìm lối ra đường cái. Đành liều vậy, không có cách nào hơn, cứ ra được tới Long Khánh rồi sẽ tính sau. Tôi đứng lấp ló ngoài đường, vẫy bừa chiếc xe Lam đang trờ tới. Xe vượt qua và ngừng lại cách tôi một quãng. Tôi chạy tới, nhào đại lên xe, chui vào ngồi cạnh một người đàn bà, không nhìn những người khác. Xe rồ máy, vưa đúng lúc tôi nhận ra tên vệ binh ở trại, ngồi góc trong cùng băng ghế. Hắn cũng vừa nhận ra tôi, mắt trợn tròn, há hốc mồm kêu: “Ơ! Ơ! mày …” Hắn chồm tới, hai tay nắm vai tôi hét lớn: – Xe Lam! Đỗ lại! Đỗ lại! Tôi hất tay hắn ra và dùng hết sức tống mạnh cú đấm vào mặt hắn, và lao ra khỏi xe Lam. Đầu tôi đập xuống mặt đường. Tôi tiếng xe Lam thắng gấp, tiếng tên vệ binh la hét ầm ĩ. Tôi chồm dậy, chạy thục mạng vào xóm nhà ven đường, vừa nhẩy bừa qua một hàng rào kẽm gai tọt vào vườn sau của một căn nhà. Người đàn bà đang ngồi giặt trong vườn, giựt thót người, giơ tay làm dấu thánh giá, kêu lên: – Chúa ơi! … Tôi chạy ngang người bà, xong bước vào nhà, vừa nói: – Cho tôi trốn tạm, tụi nó đang đuổi theo … Tôi nhảy tới chiếc giường thấp ở góc nhà, nằm ép xuống đất, lẩn vào tận sát vách, nằm im trong thế áp ngực xuống đất. Tôi nghe tiếng tôi thở dốc và tiếng tim đập thình thịch. Lát sau, tiếng chân chạy thình thịch và tiếng tên vệ binh hỏi: – Có thấy tên cải tạo qua đây không? Tiếng người đàn bà run bắn: – Không, không, tôi không thấy … Tiếng chân tên vệ binh chạy về hướng khác. lát sau, tiếng người đàn bà nói nhỏ ngay trên đầu tôi: – Ra đi, chui ra đi … Tôi lần ra, đứng dậỵ, chưa kịp nói “cám ơn”, người đàn bà đã cầm lấy tay tôi, nói lắp bắp: – Tôi thương các cậu cải tạo lắm. Nhưng xin cậu cũng thương tôi, cậu hiểu chứ. Tôi không thể chứa cậu được, nguy hiểm lắm… Mặt bà tái xanh, nắm tay tôi, lắc lắc, Tôi nói vội: – Vâng, cháu không dám phiền bác. Nhà có bộ quần áo đàn ông nào không, xin bác cho cháu thay … Bà nhìn bộ đồ quân đội VN cũ rách bươm của tôi, lắc đầu, giọng run lên như muốn khóc: – Cậu phải đi ngay, đi ngay đi … Bà rút tay lại, lùi lại. Tôi quay ra lối trước. còn nghe giọng bà nói với theo: – Xin Ơn trên phù hộ cậu … Xin Chúa tha tội cho con. Tôi bấn loạn không biết chạy đâu. Chắn chắn tên vệ binh còn quanh quẩn đâu đây, chắc chắn nhiều tên khác sẽ ùa tới bao vây khu vực này. Tôi bỗng nghe tiếng chuông nhà thờ vang lên. Tôi quay lại đi nhanh về phía người đàn bà. Bà mở to mắt, hai tay chắp lại trước ngực, kêu nhỏ: “Lạy Chúa Tôi, lạy Chúa tôi …” Tôi hỏi: – Bác chỉ cho cháu đường tới nhà thờ. Bà chỉ về hướng tay trái: – Cậu di lối này, đến ngã ba rẽ phải, cứ đi thẳng đến bãi đất trống, cậu sẽ nhìn thấy nóc nhà thờ. Tôi nói “cám ơn”, giơ tay vỗ vỗ vào lưng bà, quay ra cổng và cắm đầu chạy theo lối bà chỉ. Tôi chạy ào vào nhà thờ. Tiếng đọc kinh râm râm, những người ngồi hàng ghế sau quay lại. Tôi sấn tới hỏi lớn: – Cha ở đâu, xin các bác làm ơn chỉ giúp … Mọi người kinh ngạc, ngẩn người nhìn tôi, không ai trả lời. Các người ngồi ghế trước cũng quay lại, tiếng đọc kinh nhỏ hẳn. Một thanh niên ở hàng ghế trên đứng dậy, tiến đến bên tôi nói: – Cha đang ở nhà xứ phía sau nhà thờ, anh đi lối này … Tôi chạy tuốt lên phía trên, nhìn thoáng lên tượng Chúa trên cao, vọt ra phía cửa hông, vòng ra phía sau. Cửa nhà xứ đóng hờ, tôi đẩy cửa bước vào. Nhà khá rộng, có nhiều phòng. Tôi bước vội vào phòng cuối cùng, cạnh phòng tắm. Căn phòng chỉ có một giường nhỏ, một bộ bàn ghế, một tủ đứng to cao đựng áo lễ. Tôi nhìn quanh, chỗ an toàn nhất vẫn là gầm giường, tôi lại lăn người nằm sấp, sát vách tường. Lát sau, tôi nghe tiếng bước chân chậm chạp bước vào phòng, nhìn qua chân giường, tôi thấy phần dưới của chiếc áo dòng đen. Tôi không biết có nên chui ra gặp Cha lúc này không, tôi lo ngại sự đột ngột làm Cha hốt hoảng. Một con chó chạy vào phòng, chúi mũi xuống gầm sủa ầm lên. Không có cách nào khác, tôi chui ra, đứng lên nhìn cha chờ đợi. Nét mặt của cha chỉ thoáng ngạc nhiên, nhưng vẫn bình thản. Tôi nói: – Con là cải tạo trốn trại, bọn vệ binh đuổi con gấp quá, phải chạy vào đây. Con xin Cha giúp con, cho nấp tạm chỗ nào, rồi con sẽ tìm cách đi chỗ khác sau. Cha giúp con, chúng bắt được con sẽ bắn con ngay. Cha nói giọng khàn đặc: – Được, cứ ở đây. Cha quá già, chắc phải khoảng trên 80 tuổi, mặt nhăn nheo, giọng yếu ớt. Cha không nói gì thêm, không hỏi tôi câu nào, từ từ đi đến tủ áo, lấy chiếc áo lễ, choàng vào người, ra khỏi phòng lên nhà thờ làm lễ. Tôi nghĩ chắc cha già không nắm vững mức độ trầm trịng; bọn vệ binh trại giờ này đang túa ra bao vây và lục soát khu vực này, chắc nhà thờ phải là nơi chúng chú ý nhất. Tôi nghĩ phải tìm nơi trú ẩn nào an toàn hơn cái phòng trống trải này. Tôi quan sát tủ áo lễ cao quá đầu, hơn nửa phần trên bằng kính trong suốt, phần còn lại bằng gỗ kín; trong tủ treo đầy áo lễ dài. Tôi mở tủ, bước vào, ngồi bệt xuống, thu người nằm gọn trong phần dưới được che kín, bên ngoài không thể nhìn thấy. Tôi cố hết sức thu gọn hai chân, hai vai chụm xuống, đầu bật ngửa ra sau, phần ót tựa vào bả vai, phần đỉnh tựa vào vách tủ, cố thu gọn cái đầu sát xuống để khỏi nhô lên trên cửa kính. Trong tư thế đó, tôi thiếp đi lúc nào không biết. Tỉnh dậy, tôi nghe tiếng ho của Cha già, tôi chắc cha không biết tôi nằm trong này, tôi đẩy cửa bước ra, chợt khựng lại vì trong phòng, ngoài Cha già còn có một người đàn bà đứng tuổi. Bà nhìn tôi, không hề tỏ vẻ ngạc nhiên, có lẽ Cha đã nói với bà về tôi. Cha nói: – Nằm trong ấy sao chịu được. Thôi cứ ra nằm giường nghỉ đi. Tôi nói như thuyết phục Cha: – Xin Cha cứ để con nằm trong tủ. Con sợ chúng sẽ lục soát ở đây. Cha gật đầu, kể lại hồi nãy chúng đã lục soát rồi, chúng vào một số nhà ở ven đường cái, đến khám xét nhà thờ nhưng chúng không vào nhà xứ. Cha hỏi U già có gì cho tôi ăn không? U già gật đầu. Cha nói: – Anh theo U Nhàn xuống nhà dưới ăn cơm. U Nhàn vội nói: – Thôi để con đem lên đây, dưới đó có nhiều người hay ra vào. Cha gật đầu, rồi bỏ ra phòng ngoài. Cha không hề hỏi tôi định ở đây bao lâu và dự định thoát khỏi vùng này bằng cách nào. U Nhàn đem cho tôi một tô cơm lớn và một bát canh nóng. Ăn xong, tôi vội chui trở vào tủ, nằm lại trong tư thế chân cong, đầu quẹo và cố dỗ dành giấc ngủ. Khi tôi thức dậy, trời đã tối, tôi nghe tiếng nói chuyện trong phòng. Giọng Cha và một giọng đàn ông khác. Tôi khẽ nhích người, nhô đầu lên phần cửa kính, ánh đèn tối tù mù, nhưng tôi vẫn nhận ra một vị linh mục trẻ đang ngồi ăn cơm với Cha già. Hai Cha đang nói chuyện liên quan đến sinh hoạt giáo xứ, tôi đoán Cha trẻ là phó xứ của Cha già. Ông khoảng 40 tuổi, nét mặt rất trí thức và có vẻ đẹp khắc khổ, giọng nói trầm ấm, mạch lạc tương phản với Cha già hiền lành chậm chạp. Tôi hy vọng nếu có dịp nói chuyện với Cha trẻ, chắc có thể được Cha giúp tìm cách đưa ra khỏi vùng đất nguy hiểm này. Tôi không nghe hai Cha nhắc đến tôi trong suốt bữa ăn. Cha trẻ có vẻ không biết việc tôi trốn ở đây. Tôi đoán, chắc Cha già chỉ cho mình U Nhàn biết.
Xong bữa ăn, Cha trẻ chào đi ra khỏi phòng, tôi chắc Cha trẻ ở phòng bên cạnh. Cha già đến bên tủ gọi tôi: – Anh ra ăn cơm. Cha để phần cho tôi vài miếng thịt heo và một đĩa rau, tôi ăn bằng bát và đũa của Cha. U Nhàn vào phòng cùng với Cha và tôi bàn việc giúp tôi thoát khỏi vùng này. Cha già đề nghị sáng sớm mai, năm giờ sáng đã có xe Lam chạy về Long Khánh, tôi nên đón chuyến sớm nhất, từ Long Khánh đi xe đò về được Hố nai là an toàn. Cha đưa cho tôi tiền xe. U Nhàn dặn tôi phải dúi tiền cho lơ xe đò để đi chui. U Nhàn nói: – Nhưng anh phải đi tắm, cạo râu, thay quần áo đi đã. Cha cho tôi bộ quần áo của Cha, khá chật nhưng tôi vẫn cố mặc vào. Đêm đó, tôi được ngủ một giấc ngon lành trên chiếc giường nệm, Cha nhường cho tôi và ra nằm ngoài phòng khách. Sáng hôm sau, tiếng chuông nhà thờ làm tôi thức dậy, tôi sửa soạn vội vã. Không thấy Cha già đâu, chắc Cha đã lên nhà thờ chuẩn bị lễ sáng sớm. Cũng không thấy U Nhàn để chào từ giã. Tôi đi ngang phòng tắm, mở cửa sau, đi vòng ra phía trước, trời đã chạng vạng sáng, tôi lẻn tìm lối ra đường cái đón xe Lam. Lát sau, chuyến xe chạy tới, từ đằng xa, tôi thấy loáng thoáng mấy cái đầu nón cối trên xe, tôi thụt lui, nấp sau gốc cây, chờ cho xe đi qua. Không thể đứng đón xe kiểu này, quá nhiều bất trắc biết đâu không chạm trán ngay một tên vệ binh khác biết mặt tôi như sáng hôm qua. Vả lại biết đâu bọn chúng không trải những trạm kiểm soát xe Lam dọc đường từ đây lên Long Khánh. Tôi quay trở lại nhà xứ, đi vòng theo lối cũ vào cửa sau nhưng cánh cửa đã khóa. Tôi nghe tiếng lục đục trong phòng tắm, tôi đu người bám vào hai lỗ hở, nhìn vào thấy Cha trẻ đang đánh răng, tôi khẽ gọi: – Cha mở cửa sau cho con. Tôi tụt xuống, ra đứng ở cánh cửa chờ. Tiếng lách cách mở khóa, cánh cửa hé mở. Cha trẻ ló đầu ra thấy tôi, Cha ngẩn người kinh ngạc: – Anh là ai? Chuyện gì vậy? – Con là cải tạo trốn trong phòng này từ hôm qua. Tôi vưa nói vừa lách người vào. Cha trẻ bỗng dang hai tay ấn vào vai tôi, đẩy mạnh ra ngoài, tôi chồm tới, nghe tiếng khóa cửa phía trong, tôi đập cửa kêu gọi: – Cha già đã cho con nấp trong tủ áo từ hôm qua, sáng nay cho con tiền xe nhưng con không đón được, nên mới trở lại. Xin cha mở cửa cho con. Không nghe thấy tiếng trả lời, chỉ nghe tiếng chân lui xa. Tôi vòng ra lối trước gõ cửa, bên trong hoàn toàn im lặng. Tôi không biết U Nhàn ở đâu để tìm. Tôi đành đi lên nhà thờ, còn sớm nên chỉ lác đác vài người đi lễ ngồi hàng ghế trên. Cha già đang ngồi trong tòa giải tội. Tôi đi thẳng lên đến gần Cha, tôi quỳ xuống, nói nhỏ qua cửa lưới: – Con không đi được, xin cha cho con trở lại phòng cũ. Cha già đứng dậy, đi vòng qua tòa giải tội, không nhìn tôi. Cha từ tốn đi ra khỏi nhà thờ, xuống nhà xứ. Tôi đi theo sau lưng, Cha mở cửa cho tôi vào, không nói với tôi một tiếng. Tôi bước vào, nghe tiếng khóa cửa bên ngoài. Tôi lại chui nằm lại trong tủ. Sau giờ lễ, Cha già trở lại phòng, tôi nghe tiếng Cha nói chuyện bình thản với một người nào khác. Cha nói Cha bị mệt và nhờ người kia sáng sớm mai đem xe chở dùm Cha lên bệnh viện Hố Nai. Tôi nằm đó tới trưa. U Nhàn gõ cửa, đem cho tôi một bát xôi. U lặng lẽ không hỏi tôi một câu nào, nét mặt đầy ái ngại lo âu. Tôi ở trong tủ suốt ngày. Đến tối, tôi lại thấy Cha trẻ vào ăn cơm với Cha già. Hai Cha vẫn nói chuyện bình thản về công việc Giáo Xứ. Không ai nhắc tới tôi. Cha trẻ vẫn nói chuyện công tác Họ Đạo, giọng trầm ấm, linh hoạt nồng nhiệt như tối hôm qua. Chắc chắn, Cha trẻ không sao ngờ được tôi đang nấp trong tủ chỉ cách có hai bước. Sau bữa cơm Cha già lại gọi tôi ra ăn. Cha chỉ nói vắn tắt với tôi sáng sớm Cha đi Hố Nai bằng xe nhà, tôi cứ việc theo Cha ra xe, ngồi cạnh Cha và đừng nói chuyện gì với người lái xe. Mờ sáng hôm sau, đúng như lời Cha dặn, chiếc xe La Dalat chờ sẵn ngay trước nhà xứ. Tôi ngồi cạnh Cha già ở băng sau, phía trước thêm một người đàn ông ngồi cạnh tài xế. Chiếc xe rời Giáo xứ Long Giao chạy về Hố Nai êm xuôi. Dọc đường, Cha già lim dim ngủ, không nói với ai tiếng nào tôi cũng im lặng suốt chuyến đi. Chỉ có hai người ngồi trước thỉnh thoảng nói chuyện nhỏ. Cả hai đều không quay lại, hỏi tôi một tiếng. Chắc họ cũng được Cha già căn dặn. Xe dừng lại trước bệnh viện Sao Mai. Tôi xuống xe, định nói vài lời từ giã cha nhưng không sao mở miệng được. Cha từ tốn cầm tay tôi, giọng mệt mỏi chậm chạp: – Thôi, con đi bình an. Chúa sẽ che chở con. Tôi biết bây giờ nếu tôi nói bất cứ điều gì, tôi sẽ bật khóc. Tôi chỉ gật đầu chào Cha và quay lưng rảo bước bên lề đường, đi về phía chợ Sặt. Tôi chợt nhớ tôi chưa hề biết tên Cha. Tôi quay lại xe, thở hổn hển. Cha nhìn tôi chờ đợi. – Thưa Cha, con chưa được biết tên Cha. Lần đầu tiên, tôi thấy Cha cười: – Cha tên Trác. Con tên gì? Tôi nói tên và lần này không sao cầm được nước mắt…
* Cha Trác đã mất tại Long Giao, Long Khánh năm 1982
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.