This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Vũ Văn Tùng tốt nghiệp Dược khoa Đại Học Y Nha Dược Sài Gòn. Chủ nhiệm Nguyệt san Đất Sống 1964 của Sinh viên Dược khoa, Tổng Thư ký Tập san Quân Y Quân Lực VNCH, Nguyệt San Truyền Sinh 1970 của Bộ Y Tế; Nguyệt San Y Tế tại Hoa Kỳ. Di tản sau 1975, hành nghề dược sĩ tại Canada và Mỹ. Hiện cư ngụ tại Little Saigon, Nam California. Tác phẩm: Hoa Đồng Nội, tập truyện (2001); Thung Lũng Hoàng Hôn, tập truyện (2003); Vườn Địa Đàng, tập truyện (2007).
Dược sĩ Đại úy Vũ Văn Tùng
Viết Về Nghiêm Sỹ Tuấn
Tôi từ nhà in trở về trường Quân Y thì nhận được điện thoại của K. (Bùi Khiết). Giọng nói vướng mắc và nghẹn ngào khiến tôi nghi ngờ những điều nhận được qua chiếc máy nhỏ: “Tùng … Tùng … Nghiêm Sỹ Tuấn chết rồi, chết ở Khe Sanh sau khi lên Đại Úy”.
Những cảm giác châm đốt, tê dại chạy trên khắp thân thể. Tôi ngơ ngác. Những hạt mồ hôi thoát vội, thấm ướt bàn tay vẫn còn vướng mực. Tôi chỉ còn nghe thoang thoảng những lời K. nói rất nhiều. Những ý nghĩ về Tuấn chiếm cứ trọn vẹn và dầy đặc trong đầu óc. Có lẽ nào, có lẽ nào Tuấn lại chết nhỉ. Tôi muốn người đối thoại phải xác nhận thật nhiều về điều vừa nói. Tôi hoàn toàn bất động lúc này. Tôi thẫn thờ đặt chiếc ống nghe về chỗ cũ. Một hồi chuông điện thoại thứ hai đến với tôi. Điện thoại của Q. (Lê Sỹ Quang) từ Hóc Môn gọi về. Khung cảnh xung quanh nhòe dần. Tôi chớp mắt thật nhiều. Thật buồn! Thật buồn! Hình ảnh hớn hở như sẵn sàng chờ đón một sự bất ngờ trong đêm mãn khóa sẽ chẳng bao giờ đến với Tuấn. Thế rồi chúng tôi chia tay.
Tôi không gặp lại Tuấn. Tôi chỉ nhận được một bức thư của anh. Chúng tôi hẹn nhau sẽ nói chuyện nhiều trong dịp Tết Mậu Thân. Những biến cố dồn dập đưa đến là nguyên nhân chính đã chiếm đoạt mất cơ hội hẹn hò. Tôi gởi thư đi và chưa nhận được thư trả lời thì tin Tuấn mất đưa tới. Tôi giở bức thư cũ và đọc đi đọc
lại nhiều lần:
Dakto, 28-12-67
Tùng
(1) … Sau đây xin tóm tắt hành trang của tôi từ ngày chia tay ở Trường Quân Y sau buổi dạ vũ đầy hơi người và phấn sáp nước hoa.
(2) Tôi bắt đầu lội từ 11-8-1966. Tới nay đã tham dự 11 cuộc hành quân hay chiến dịch. Dài nhất 78 ngày, ngắn nhất 2 ngày, có mặt tại đủ 4 vùng chiến thuật. Ba lần ở địa đầu nước Annam Cộng Hòa. Một Saut trận ở mật khu Thới Lai Cờ Đỏ thuộc Vùng 4. Một lần bị thương cũng ở Vùng 4 trong cuộc đi ngắn nhất. Ngắn nhất vì trúng đạn được về, chứ không phải chính nó ngắn có hai ngày thôi đâu. Hai tháng khập khễnh dưỡng thương ở nhà. Tái xuất giang hồ từ đầu tháng 7-67 và bây giờ mừng lễ Giáng sinh ở Kaktom sau khi leo núi xuống đèo 15 ngày ròng rã. Đã lên ăn ngủ trên mấy đỉnh 1416, 1556. Đại khái thì nhiều mệt nhọc mà cũng nhiều thích thú. Giá có nhiều hứng thì ít ra đã có 3-4 ký sự chiến trường rồi đấy. Nhưng thấy rằng kể thì nhiều, nhưng kết quả chẳng bao nhiêu, nên cứ mặc cảm anh hùng rơm, bèn thôi hết.
(3) Tôi vẫn nhận được Tập San Quân Y đều. Cũng được Tập san BV 2DCK, trong đó các bạn thở than quá xá. Đọc chỉ thêm rầu và bực mình.
(4) Sau cuộc đi này – khoảng Tết Mậu Thân, tôi sẽ về Sài Gòn. Lúc đó sẽ gặp lại các bạn và làm lại cuộc đời. Đói rách quá rồi.
Thân ái,
Nghiêm Sỹ Tuấn
Bức thư tóm tắt gần đủ cuộc sống quân ngũ của anh. Rất tiếc không được phổ biến tập nhật ký của anh đã được viết tại nơi lửa đạn trong những ngày hành quân. Tình nguyện vào đơn vị Dù, tham dự những cuộc hành quân khắp nơi. Đứng trước sự sống chết trong gang tấc thế mà anh vẫn thản nhiên và vẫn cho rằng: “kể thì nhiều mà kết quả chẳng bao nhiêu”.
Tham vọng của anh quá lớn, anh muốn nhiệm vụ hiện tại phải thật hoàn toàn. Anh không muốn ta thán trước hiện tại dù hiện tại đó là gì đi nữa. Ta thán buồn phiền chỉ khiến ta “bực mình”. Anh không tìm kiếm những sơ hở những lỗi lầm để quy trách nhiệm hay phê bình bừa bãi. Anh thận trọng từ hành động nhỏ. Tất cả tao thành một Nghiêm Sỹ Tuấn trầm lặng, không phung phí lời nói. Anh im lặng để hành động. Phải sống hay làm việc bên anh mới thấy rằng Nghiêm Sỹ Tuấn là con người hành động đúng nghĩa. Anh chấp nhận hiện tại với tất cả hăng say cuồng nhiệt đến độ quên cả bản thân mình nữa. Khi tất cả đã qua đi, anh lại giơ tay chào đón nhiệm vụ mới với tất cả những khó khăn và gai góc.
Nói thật ít, làm việc thật nhiều. Với một dáng điệu nhỏ nhắn nhưng chứa đựng một sức mạnh vô biên, một tinh thần vững mạnh, tuyệt đối không tìm thấy ở những người khác. Tất cả đặc biệt. Đặc biệt về con người Tuấn, về nếp sống, về suy tư, về hành động, về cách cư xử, khi gần anh tôi ngạc nhiên không ngờ Nghiêm Sỹ Tuấn cởi mở đến thế. Anh cười thật dễ dãi, và thẳng thắn trái hẳn với một vài lời lẽ khắc nghiệt, phê bình anh có “thái độ khinh người”. Một người bạn nói với tôi đây chỉ là một “hành động sợ hãi Nghiêm Sỹ Tuấn”. Quả thật những lời phê bình chỉ trích không ngoài mục đích hẹp hòi để cố tình tạo ảnh hưởng lấn át ngôi sao quá sáng Nghiêm Sỹ Tuấn. Anh đã có một đất đứng quá vững chắc trong lòng những người đồng lứa. Nghiêm Sỹ Tuấn xứng đáng là mẫu mực lý tưởng.
Khi tôi viết những hàng chữ này không biết bức thư gửi đi đang lưu lạc đến phương trời nào? Chắc không bao giờ đến tay Tuấn nữa. Tôi biết viết như thế này là lạm dụng người đã khuất. Nghiêm Sỹ Tuấn sinh ngày 7-2-1937 tại Hà Đông*, Bắc phần. Kể theo âm lịch thì Tuấn được 33 tuổi ta. Cũng như đa số các trẻ em miền Bắc, anh không được tới trường học từ hồi nhỏ để theo học lớp đồng ấu hay mẫu giáo. Tuy nhiên nhờ ông thân sinh, anh đã học vỡ lòng tại gia đình vào hồi 7 tuổi. Tuổi này đáng lẽ phải theo học những lớp cao hơn. Mãi đến năm 14 tuổi anh mới thực sự cắp sách đến trường. Có lẽ vì lý do muộn màng này đã khiến anh phải làm việc nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn để bù đắp vào những ngày đã mất.
Những cố gắng của anh không thừa và đến năm 1965 thì anh tốt nghiệp Y khoa Bác sĩ. Chỉ cần một con tính nhỏ đủ thấy anh đã mất 14 năm học để trở thành y sĩ. Khi bước chân tới ngưỡng cửa trường anh đã 14 tuổi và anh học ngay lớp Nhất. Như vậy Tuấn đã không học bậc tiểu học. Điểm đặc biệt là từ lúc đi học đến khi ra trường anh không hề bị rớt một khóa nào. Bảy năm Trung học và bảy năm Đại học. Hầu hết học sinh niên khóa 53-54 trường Nguyễn Trãi đều biết Tuấn. Tới niên khóa 55-56 anh đổi sang trường Chu Văn An với một phần thưởng ưu hạng về các môn: Việt văn, Hán văn, Pháp và Anh ngữ. Tôi phải mất khá lâu mới đọc hết những phần thưởng ban khen học sinh Nghiêm Sỹ Tuấn. Sinh trưởng trong một gia đình không giàu và thật đông anh em, tới trường muộn màng thế mà anh vẫn cố gắng tiếp tục nghiệp bút nghiên cho đến thành công. Quả thực là có nghị lực và ý chí. Tôi còn nhớ đến thăm Tuấn vào một ngày mưa, căn nhà đặc biệt của những gia đình Việt Nam với tất cả những thiếu thốn cố hữu của nó. Một hàng tủ gỗ thấp tựa lưng vào tường mang đầy ắp những cuốn sách ngoại ngữ, được chăm sóc và xếp đặt thứ tự. Khi chúng tôi bước vào nhà, trời đổ mưa dữ dội. Tuấn kéo ghế. Anh cười tự nhiên và nói với người em đi lấy chậu hứng mưa dột để khỏi ướt sách. Anh không mặc cảm mảy may gì hết và chúng tôi tiếp tục im lặng ngồi ngắm mưa. Những kết quả tốt đẹp trong lãnh vực học vấn của anh là do sự cố gắng không ngừng nhưng ít ai, ngay đến cả người trong gia đình, thấy anh phải vất vả chúi mũi vào sách vở. Con người trầm lặng, nghĩ nhiều hơn nói đã ảnh hưởng rõ rệt đến tất cả mọi hành động của anh. Ngoại ngữ đã lôi cuốn anh nhưng anh vẫn khiêm nhường từ việc học tới việc trình bày kiến thức ngoại ngữ. Tôi còn nhớ trong những lần đèo Tuấn trên chiếc Scooter chạy vội trong thành phố ngập lụt, nghẹt người và đã tò mò hỏi anh học ngoại ngữ với ai, như thế nào? Anh không do dự đáp tự học lấy: hai năm học một sinh ngữ và cứ như vậy suốt mười năm trời. Một lý do đã giúp đỡ anh đã có đủ điều kiện theo học tại Trung và Đại học là nhờ những học bổng của Bộ Giáo Dục và Bộ Y Tế.
Nếu không có học bổng của Bộ Y Tế tôi chắc Tuấn khó theo học Y Khoa được. Khi thi đậu xong tú tài phần hai, anh hỏi ý kiến bà thân sinh anh, muốn anh học gì. Anh đã chiều bà học Y Khoa. Có lẽ ý kiến này đã khiến bà thân sinh đã nuối tiếc nhiều sau khi nghe Tuấn tử trận ở Khe Sanh.
Những ngày còn là học sinh, trong gia đình không dư dật, anh đã hiểu thế nào là giá trị thiếu thốn cho nên anh tỏ ra luôn luôn bao dung, rộng rãi với những quân nhân thuộc cấp. Vấn đề phí phạm đồng tiền chắc không thể tìm thấy được ở anh. Thường thường anh lãnh lương để cho đi hơn là tiêu cho cá nhân anh hay đưa về nhà. Những quan niệm vị kỷ chắc sẽ cười những hành động này và không ngại ngùng tặng những lời mỉa mai. Nhưng hãy nhìn xa một chút, hãy gần gũi với những người quân nhân chất phác có lẽ vì thế nên Nghiêm Sỹ Tuấn thường lặng lẽ lấy tiền của mình giúp người. Tuy vậy chẳng bao giờ tỏ ra một dấu hiệu là làm tốt hay chứng tỏ hành động giúp đỡ vô tư cho đến khi anh mất hành động này mới được phát giác. Trong đơn vị anh có một người binh sĩ tử nạn, anh không ngần ngại đến viếng người đã khuất, tự tay treo lên chiếc máy hình của chính anh vào bàn thờ để tặng người đã khuất. Không biết lúc đó anh có cảm nghĩ như thế nào? Nhưng tôi biết chắc chiếc máy chụp hình đối với anh chỉ là một nhu cầu cần thiết để ghi lại những nơi mà anh đã đặt chân đến, trong lúc vội vã không thể ghi lại hết được tất cả những chi tiết vào trong những trang giấy nhỏ hẹp. Anh đã từ bỏ chiếc máy chụp hình. Một hy sinh hiếm có. Tôi đã tỉ mỉ ngắm nhìn những bức hình anh chụp trong cuốn album nhỏ. Tất cả những chi tiết của tấm hình được ghi chép rõ ràng, ngày giờ nơi chốn năm tháng …
Có lẽ Tuấn không dành cảm tình riêng cho một người nào. Anh cư xử một cách thẳng thắn, không thiên vị. Anh nói thẳng. Tôi chưa thấy anh phê bình một người nào trong vắng mặt. Có thể nói những ai biết Tuấn đều mến anh. Dù anh rất ít nói. Với quân đội anh đã có một ma lực lôi cuốn sự kính mến. Quả thực tình đồng đội
của anh đã vượt mức thông thường, nó bao dung rộng lớn quá cho đến khi anh hy sinh đã khiến cho mọi người mất hẳn chỗ nương tựa. Không còn gì có thể diễn tả đủ khi người binh sĩ Dù, chỉ biết anh trong hơn mười tháng trời, đã đến mộ anh hàng ngày để khóc thảm thiết như mất một người ruột thịt.
Cũng ngay trong cuộc hành quân tại Khe Sanh, khi nghe Nghiêm Sỹ Tuấn tử nạn vì đạn của địch, một người thiếu úy trong tiểu đoàn anh như điên dại, khi bắt được một Việt cộng tại trận đã căm hờn coi hắn như thủ phạm giết Tuấn, người sĩ quan nổi giận vừa khóc vừa đấm tới tấp vào mặt tên địch cho tới khi tên VC bị lòi mắt ra ngoài mà anh không hay biết gì cả. Nguyên nhân nào, sự kiện nào đã khiến người sĩ quan hành động như vậy. Nếu không phải Nghiêm Sỹ Tuấn là thần tượng của anh, của tiểu đoàn 6 Dù. Khi tình nguyện vào đơn vị Dù, anh đã tìm cớ làm yên lòng cha mẹ, “Con vào Nhảy Dù như thế này thì được gần nhà luôn luôn, nếu không, đi đơn vị khác tại nơi đèo heo hút gió thì khó về nhà lắm.” Nhưng trong bức thư anh gửi cho tôi anh đã kiêu hãnh nhắc tới vùng hỏa tuyến, vùng địa đầu của đất nước nhỏ bé. Tôi còn nhớ những ngày cuối của lớp Trưng tập 7, anh rủ tôi tình nguyện vào Dù. Tôi chở anh trên chiếc Vespa nhỏ dưới trận mưa ngập lụt cuối mùa để tới trại Hoàng Hoa Thám. Tôi đã không được nhận vì nhiều lý do. Tuấn hơi buồn vì Tuấn đã thúc giục tôi hơi nhiều. Khi mới vào đơn vị Dù, đã có nhiều huyền thoại về con người nhỏ bé này.
Trong những buổi thực tập, anh thích nhảy cao hơn cả những người quân nhân Dù chuyên nghiệp. Một thân hình nhỏ bé đu đưa như chiếc lá rụng trong cơn gió lộng đã tạo nên niềm mến phục, kính nể nơi những người quân nhân mũ đỏ. Một kỷ luật chỉ được thực hiện thi hành nghiêm chỉnh nếu người chỉ huy ý thức và thi hành một cách tuyệt đối, từ đó đem lại những ấn tượng cao đẹp cho quân nhân trực thuộc.
Với Nghiêm Sỹ Tuấn người ta thấy ngay một kỷ luật thép và đã được thi hành bằng tình thương. Chính anh đã tự mình khép vào khuôn thước, vào nghiêm minh, không cần phát biểu và đã đem những thành quả tốt đẹp trong trung đội. Nếu tất cả mọi người đều nhận rõ cương vị của mình như Tuấn chắc đất nước này đã không đến nỗi quằn quại, chìm đắm đến bây giờ. Những điều đã trình bày trên đây về Tuấn, chỉ nhằm mục đích gợi lại vài hình ảnh của người đã khuất. Chắc không hoàn toàn và còn nhiều khiếm khuyết. Quả thật con người thực, tư tưởng của anh ít ai có thể đoán chắc là hiểu biết được. Tôi còn nhớ những ngày ở Quân trường Thủ Đức đã có một lần Tuấn hãnh diện nói: “Viết thì được, nhưng có ai hiểu gì đâu” và anh cười qua khói thuốc.
Một điểm đặc biệt ở Tuấn là anh chỉ có bạn trai, tôi đã nói chuyện với anh nhiều lần nhưng chưa hề được nghe Tuấn nói về tình yêu. Con người ngoài 30 tuổi vẫn thản nhiên đơn độc. Có những dư luận cho rằng anh đã từng yêu và không được yêu. Nhưng tôi chắc đó chỉ là một suy diễn thông thường, gán ghép để cho có chuyện mà thôi. Nếu muốn hiểu anh, không gì bằng tìm lại những tác phẩm đã để lại qua những tập Tình Thương, Truyền Sinh và Gió Khơi. Những ngày sửa soạn để cho ra mắt tập Truyền Sinh khiến anh đã đóng góp và làm việc thật nhiều. Nếu có thể trong Tập san số tới chúng tôi sẽ giới thiệu những tác phẩm của anh.
Với muôn vàn trở ngại trên con đường dài, chúng tôi tưởng cùng sát cánh bên nhau nhưng anh đã ngã xuống và đất nước mất một thiên tài độc đáo. Tôi ngoảnh lại và không thấy anh.
VŨ VĂN TÙNG
[trích Tập San Quân Y Quân lực VNCH,
Tháng 8 Năm 1968]
(*) Theo Thẻ thực tập bệnh viện Nhóm B, năm thứ Ba Y khoa niên khóa 1961-1962 thì Nghiêm Sỹ Tuấn sinh tại Nam Định.
Chuyện Họa Sĩ Hòa Lan Van Meegeren bị kết tội phản nghịch vì bán tranh Cổ cho Thống Chế Đức Quốc Xã Goebels.
Dẫn.
Không có gì khó cho bằng sự giảo nghiệm tranh vẽ: đó là tranh cổ, đúng của các bậc đại tài đời xưa để lại, hay đó là tranh giả? Các triệu phú, tỷ phú không tiếc tiền với các chuyèn gia giảo nghiệm. Họ ăn rất mắc, mỗi lần giảo nghiệm một chữ ký, một tấm tranh. Vả lại một bức tranh cổ, giá cao hơn mấy lần gia tài lớn bên ta nhập lại. Nghề bán tranh bên Âu rất thịnh hành. Nhưng rốt lại, số tranh giả bên Mỹ, nhiều hơn số tranh sản xuất và có tổng kê đàng hoàng. Các vụ kiện đòi tiền giữa người mua lầm và người giảo nghiệm trật, nằm chất đống nơi các tòa án Âu châu, không làm sao kết thành án cho hết. Sau đây là một vụ án điển hình.
Ngày 29-10-1947, cách nay 21 năm, tại kinh đô Hòa Lan, nơi thành Amsterdam, có đem ra xử một tội phản nghịch, vì bị cáo đã thông đồng với nghịch, khi bán một bức tranh cổ ký tên Van Vermeer cho thống chế Đức quốc xã Gobels. Nguyên năm 1947, cuộc chiến tranh đệ nhị thế chiến Âu châu đã chấm dứt và tòa đang kết tội Gœbels cũng như bao nhiêu tưởng Đức quốc xã khác vào tội đại ác gây chiến tranh, đầu dây mối nhợ của cuộc đại sát sanh những năm ấy. Còn Vermeer là tên gọi tắt của một đại danh họa Hòa Lan, tên thật là Vermeer de Delft (Jean), cũng ký Van der Meer, sanh tại Delft (1632-1675), khi còn sanh tiền sống vô danh lu mờ, ngày nay giới hội họa công nhận là một thiên tài, để lại những tranh vô giá, như các bức «Vue de Delft » (phong cảnh bến sông Delft, nay chưng bày tại viện bảo tàng La Haye), «La Liseuse » (mỹ nhơn đọc sách), «La Dentellière » (người đẹp đan đăng ten),
« Le Peintre dans son atelier » (Hoa sĩ trong phòng làm việc). Bán một tranh cổ ra khỏi nước đã là một tội. Nay bán một bức đại danh họa cho kẻ địch thù cỡ Gœbels, thì tội nặng vô số kể, đầu rớt dưới chân đao phủ thủ kề như chơi. Vậy ta hãy nghe kể lại vụ án nầy, như sau:
Buổi sáng hôm 29-10-1947, trong một xóm nhỏ có vẻ rất xưa của thành Amsterdam người ta thấy một ông già dậy rất sớm, vừa bửng tưng, đã ra khỏi nhà, khóa cửa cái cần thận và ung dung tự tại, bước từ bước đều, hướng về tòa án; ông không vội vàng hối hả, vẫn thản nhiên bình tĩnh, tựa như chẳng có sự gì xảy đến cho mình. Nhưng nếu ai nhìn kỹ sẽ thấy lưng ông đã còm, mặt ông đã nhăn, tuy vậy mớ tóc trắng phau chạy viền trên trán cao, xem ông rất nghệ sĩ va rất phong lưu. Ông tên Van Meegeren, nay xin gọi tắt là V.M. cho dễ nhớ. V.M. vừa tới phòng số 4 là phòng xử đại hình. Một tốp phó nhòm xách máy ảnh bu lại như bầy kiến bu cục đường và các phóng viên những tờ báo lớn, cũng chạy lại không chịu thua về sốt sắng. Nhưng hai người lính gác lành nghề, đã giải thoát vòng vây và đưa khéo ông ta theo một cửa kín vào phòng xử, chỉ chỗ cho ông ngồi tề chỉnh nơi hàng bị cáo. Nơi các băng dành cho công chúng hiếu kỳ, đã có khá đông người, phần lớn là phú ông ngoại kiều vô tích sự, đang giụm năm giụm ba, nói chuyện xì-xào vì phiên tòa chưa bắt đầu.
Có nhiều mặt rat quen trong giới mỹ-thuật và chơi đồ cổ: nhà phê bình X. chuyên về tranh xưa, viên quản thủ viện bảo tàng, ông giám định có tuyên thệ, vài người buôn cổ ngoạn và không sót viên gõ búa ngà của phòng đấu giá phát mãi của đô thành.
Băng dành riêng cho nhà báo hôm nay cũng đầy chật các tay đại bút phóng viên. Xem qua cử chỉ khiêm tốn đạo mạo và nét mặt phúc hậu của ông già ngồi ghế bị cáo, tôi đâm ra ngại ngại, hay là bọn mình, luôn cả các tay lấy phòng xử đại hình làm rạp hát không tốn tiền mua vé, có phải chăng đã ngồi lộn phòng? Ông này xem hiền từ như vầy, làm gì mà tội đại hình? Đang nghĩ ngợi, bỗng có tiếng chuông reo. Cả phòng đều đứng dậy. Tiếng dõng dạc như thường lệ của thừa phát lại, tiếng bắt súng chào trong bầu không khí không có một con ruồi con muỗi dám bay, tòa bắt đầu xử.
– Ông tên là Han Van Meegeren? Ông là họa-sĩ? Ông 58 tuổi? Phải vậy không?
– Bằm, phải. Tiếng thốt nhỏ ri, nhỏ như hình vóc người đứng trước mặt tòa. Kế đó, viên lục sự bắt đầu đọc to cáo trạng. Trong phòng có tiếng xạo xự … Quan tòa phải yêu cầu công chúng giữ im lặng để tiếp tục xử.
– Ông, quan tòa hỏi, bị tố cáo là phạm tội mạo chữ ký. Theo cáo trạng, ông đã phạm tội tám lần cả thảy, sáu lần giả chữ ký của Vermeer, hai lần mạo chữ của Hooch, trên tám bức tranh nầy, phải khóng? Nói cho công chúng biết, Vermeer và Hooch là hai đại danh họa Hòa Lan của thế kỷ thứ 17.
Les disciples sur le chemin d’Emmaüs, illustration pour La Vie du Christ
La résurrection de Lazare
Rồi ông tòa dùng tay áo rộng có viền lông trắng, chỉ qua tám tấm tranh treo lung lẳng nơi vách, trước mặt quan tòa, mà sau lưng công chúng. Khi ấy mấy trăm con mắt đều chăm chú ngó theo tay chỉ, và bây giờ ai nấy mới để ý đến tám bức tranh treo nơi phòng đại hình, nay trở nên đồ tang vật, tranh tả cảnh mà treo trong phòng xử, quả không phải là đúng chỗ, vừa chướng chướng mất vẻ nghiêm trang, vừa như trơ trẽn.
Kế đó, nghe tiếng ôn tồn hiền hậu của quan tòa hỏi:
– Ông nhìn nhận các tội trạng này chứ?
– Dạ, bẩm tòa, tôi nhìn nhận.
Và lần lượt đến phiên những giám nghiệm viên và các nhân chứng khác đưa nhau ra trước vành móng ngựa khai lại đầu đuôi tự sự những gì nghe thấy trong mấy kỳ mua bán những tranh kia. Trong khi ấy, bị cáo vẫn giữ một mực điềm tĩnh lạ lùng, xác tuy ngồi đó mà hồn như ở đâu đâu.
Theo hình luật Hòa Lan, các tội ông đã phạm có thể đưa đến án mười năm tù. Nhưng ông vẫn bình chân như vại. Thỉnh thoảng nếu có ông giám định viên nào buộc tội ông quá nặng, khi ấy nếu nhìn kỹ sẽ thấy ông nhếch mép với dáng khinh bỉ ra mặt. Về phần thính giả, dường như họ lấy làm khoái trá, lát lát nghe tiếng cười khúc khích đó đây, vì không mấy thuở được nghe mấy ông đạo mạo giám nghiệm gia nầy khai ra giữa mặt tòa và giữa mặt công chúng, cái phần dốt nát bệ vệ của họ. Tưởng đâu là thánh là thần, dè đâu ngoài giấy, trong bùn với tre.
Bị cáo có vẻ buồn chán, quên mình là cây đinh của phòng xử, ý như muốn thầm trách ai đã làm mất công mất linh cho mình hôm nay như vầy! Khi các nhân chứng đã khai và bên nguyên bên bị, đã có trạng sư thay mặt, luân phiên đọc lập luận của mình, bên buộc bên cố gỡ, cãi nhau vài chập, đâu chẳng ra đâu, bỗng tòa dõng dạc tuyên bố: «Đình lại 15 ngày, sẽ đọc án». V.M. uể oải đứng dậy, bước ra khỏi tòa, vội kéo bâu áo lên, vì ngoài trời tuyết xuống trắng đường, gió thổi lạnh thấu xương. V.M. rời Pháp đình, ung dung đi đếm bước, theo đường mé kinh trở về nhà, trong trí như lúc sáng, không nao không núng.
– Nửa tháng nữa, V.M. lầm bẩm nói, mười lăm ngày nữa, tòa sẽ đọc án. Công chúng Amsterdam sẽ biết việc gì ta đã làm.
Và sau đây là việc khá ly kỳ mà V.M. đã làm và công chúng đang muốn biết.
Vào khoảng năm 1932, V.M. là một họa sĩ chưa ai từng biết danh. Ông ta sống vô tư lự, «gia tư nghỉ1 cũng thường thuờng bực trung »
1. Không ai biết mình, thì mình cũng không cần ai biết. Nhưng gẫm lại cũng tức. Bao nhiêu thằng tai to mặt lớn, có bằng cấp cao, có địa vị to, chúng có chi hơn mình? Phải làm cho chúng biết mặt. Ở đây, «trần ai vô tri kỷ», hà tất nắm nuối cho thêm nhục. Bọn bây giảo nghiệm viên, phê bình gia mỹ thuật, giám định viên, cả lũ, rồi sẽ biết ta. Nghĩ như vậy rồi V.M. nhứt đinh tạm lìa quê hương là thành phố Amsterdam, đề huề tay nắm tay, cùng người vợ trẻ, tìm nơi lập nghiệp mới. Vi V.M. nuôi một chi lớn, hy vọng đem hết tâm lực tài năng, vẽ cho được một tác phẩm xứng đáng như các tuyệt phẩm của đại danh họa Vermeer, để cho chúng nó sáng con mắt, ta không phải là phường giá áo túi cơm như chúng. Phải nhìn nhận cai dự ước của V.M. là quá vượt bực. Nhưng anh ta nuôi nấng suốt nhiều năm, dẫu nằm gai nếm mật, mà cũng quyết làm sao cho cái mộng, tuy hảo cầu phải thành sự thật cho được mới nghe. Và khi lê gót lưu vong ra nước ngoài, trên đường lang bạt kỳ hồ, V.M. không một ngày nào dám quên đại chí. V.M. tam định cư ở Roquebrune Cap Martin, gần Nice (miền Nam nước Pháp), nơi đây khí trời đầm ấm tư mùa, hoa tươi cỏ lạ không thiếu, phong cảnh xinh đẹp, lại có tòa lâu đài cổ của dòng qui tộc des Lascaris, thêm duyên.
Trước khi rời quê hương, rấn thân vào cõi lạ, V.M. gia tâm nghiên cứu đêm ngày những tuyệt phẩm của Vermeer trình bày tại viện bảo tàng ở Amsterdam và đọc ngấu nghiến những sách tham khảo về bút pháp của nhà đại danh họa nầy, vì khi đến xứ lạ làm sao tìm được các tài liệu hiếm có ấy, để khảo cứu nữa. Một ngày nọ, cũng như nhiều ngày đã trải qua trong các hiệu bán đồ lạc son chung quanh vùng Nice, V.M. xách về nhà một bức tranh cũ kỹ gói trong bọc giấy ăm-ba-la. Tranh nầy không có chút giá trị nào về mỹ thuật, nhưng
đối với V.M., đó là vật quý vô giá, vì quả là một bức tranh vẽ vào thế kỷ 17, đồng thời với các tranh tuyệt tác của Vermeer vẽ hồi xưa. Nay V.M. mua được đem về, lại phải bị bà xã làm trận, khóc lóc bỏ cơm bỏ cháo, vì cây diêm quẹt chẻ hai, xứ lạ quê người, anh không biết tiết kiệm đồng tiền, lại sanh sứa sắm thứ tranh không đáng một khúc bánh mì đỡ đói hay một bó củi hơ đỡ lạnh. V.M. dể cho trận cuồng phong qua khỏi rồi, bà xã
nguôi giận, V.M. mới òn ĩ cắt nghĩa tiết kiệm là từ đây đừng mướn tôi tớ, tự mình làm lấy, chồng xách nước quét nhà, vợ nấu ăn giặt giệm, nhờ vậy mà vợ chồng một cõi giang san, dẫu có lập kế xui mưu làm loạn cũng không một ai hay biết. Yên được bề đó rồi, V.M. sẽ lén không cho vợ thấy, o bế tẩy sạch lớp sơn dầu cũ và nhờ khéo tay, bền chí V.M. có được một tấm bố xưa, cùng một tuổi, một màu với những tấm tranh ký tên Vermeer đời trước. Cái khó đầu tiên đã vượt, thần tài đã hé cửa cho V.M. rồi đó. Trong khi ấy, V.M. mỗi ngày mỗi luyện tập theo bút pháp Vermeer và nhờ trì tâm khổ chí, chẳng bao lâu, V.M. vẽ được một bức đầu tiên giả mạo. Đó là bức Pháp gọi «les Disciples d’Emmaus» (Chúa Giê-su, sau khi Phục Sinh, hiện hình lần đầu cho các tông đồ thấy tại Emmaüs, gần Jérusalem). (Bức tranh giả nầy, sau đó được viện bảo tang Roymans Rotterdam (Hòa-lan) mua lên với một giá khổng lồ và treo suốt mấy năm trước thập mục sở thị, chỉ nghe tiếng trầm trồ khen ngợi và suốt thời gian ấy, không một ai biết đó là tranh giả).
Nay nói về phương pháp V.M. giả tranh cồ. Có thể nói là xuất thần quỉ một, ít ai nghĩ đến và không ai bắt chước kịp. Chẳng phải V.M. nhái được điệu vẽ của Vermeer và học được nét bút và các bí quyết xưa của nhà đại danh họa này, chẳng những V.M. kỹ càng đến lựa cho được một thứ bố xưa đồng một thời, một cách thức dệt với loại tranh mình muốn giả tạo, đàng này V.M. nghiên cứu cao siêu đến biết được Vermeer ba trăm năm trước quen dùng cọ vẽ kết bằng lòng con blaireau (một giống chồn phương Tây), nên va cũng sắm cho được một bộ cọ vẽ đủ cỡ lớn nhỏ kết bằng lông blaireau cho được mởi nghe. Các dụng cụ bí mật ấy, V.M. dùng rồi thì giấu rất kỹ, trong hộc tủ kín có khóa cẩn thận và V.M. không rời xâu chìa khóa phút nào. Cái tánh kỹ lưỡng và kín miệng ấy, V.M. đưa đến mức tuyệt xảo, vì muốn cho bà xã đừng nghi nan sự gì, nhiều phen
1. Nghỉ, đây viết dấu hỏi, nghĩa như hắn, y, nó (tiếng Nghệ Tĩnh).
V.M. giả vờ mời vợ vào phòng làm việc, giả đò đàm đạo thân mật để cho bà xã thấy rõ ràng mình vẽ tranh xoàng xĩnh đề giết thì giờ, như vậy dẫu có ngồi lê đôi mách cũng khỏi sợ lậu sự: mình có vẽ các bức tranh cỡ lớn.
Và nơi đây, chúng ta cũng nên biết nỗi khổ tâm của V.M., trước khi trở nên tên đại gian hùng, bán trời không chứng. chuyên giả tranh cổ đánh lừa thiên hạ, mà toàn là bọn triệu phú chuyên môn, hay bọn lắm tiền mua tranh có người bảo lãnh. V.M. nghiên cứu mỗi việc hết sức tỷ mỷ, dẫu một chi tiết nhỏ nhặt cũng không bỏ qua, ban đầu tưởng đó là những việc không quan trọng mấy, không dè sau rõ lại nhờ chú ý đề tâm từ chút nên V.M. thành công, trở nên nhà giả mạo chuyên môn, nếu không kể đó là phạm tội gian, thì rõ là một thiên tài, một bậc kỳ tài, một génie chớ còn gì nữa? Nói ra các nhà giả đạo đức sẽ cho là mình nguy biện chớ anh trộm mở được các ổ khóa bí hiểm, anh làm giấy bạc giả, anh khéo mạo chữ ký và tuồng chữ của người khác, mấy anh ấy theo tôi, đều là bực sư, bực kỳ tài trong thiên ha, hiếm vì không biết dùng tài nghề của mình cho đúng chỗ. Và nhiều khi những người lương thiện như thợ làm khóa và nhà chuyên môn vẽ giấy bạc nhà băng, cũng phải mời các sư tổ ra khỏi khám, để chỉ mách nghề hay cho mình học đạo. V.M. thắc mắc phải dùng dầu gì để vẽ y như thật màu dầu của Vermeer đã dùng cách ba trăm năm về trước. Khi tìm ra, thì V.M. là một nhà đại thông thái rồi chớ gì?
V.M. dư biết nếu dùng những thứ màu trước Vermeer đã dùng, nếu pha màu cũng dùng một thứ dầu y như Vermeer đã xài, nhứt là nếu cân đong cho thật đúng đồng cân đồng lượng như trước và khi nhại được y những lỗi tật nhỏ của Vermeer đã phạm và sau rốt làm sao cho bức tranh trở nên cổ, đồng một màu với các tranh cũ trưng bày ở các viện bảo tàng, thì chắc ăn như chơi. Nhưng V.M. vẫn muốn cho sau nầy không ai bắt tẩy mình được, nên khi tranh khô rồi, V.M. còn phải luyện nó trong một chất hóa học chỉ có một mình anh biết, đề tranh được đúng cổ. V.M. dư biết là tranh giả mà làm theo những cách ấy, coi vậy mà chỉ qua mặt vài nhà mới học chơi tranh hay các tay mơ, chở làm sao qua mặt được bọn cáo già và trong các tay lão luyện chuyên về giảo nghiệm trên trường buôn tranh quôc tế trước sau gì mình cũng phải gặp tổ sư bồ đề.
Cho nên về sau, V.M. phát minh được một thứ dầu tự minh chế luyện và khi lấy dầu ấy vẽ tranh, đến lúc hơ tranh ấy trong lò điện mà cũng tự anh chế ra, thì tranh sẽ có vẻ cổ đến ba trăm năm, giống như các tranh cồ tự nhiên của thời đại «tam bách niên tiền» mà V.M. cố bắt chước. Như vày chưa phải thiên tài à? Nhưng đến đây V.M. vấp phải một vấn đề gần như nan giải. Số là dầu cây gai (huile de lin) và dầu trái thầu (huile de pavot) mà thường các họa sĩ năng dùng, khi cho vào lò điện, với sức nóng vừa vừa thì còn chịu nổi, bằng gặp lửa nóng quá độ một chút thì mấy lớp sơn vẽ bằng hai thứ dầu này sẽ sủi bọt và phai màu, biến ra màu khác. Cho nên V.M. phải cần thận và chính anh ta tìm lại được đủ các màu và dầu sơn của ‘Vermeer dùng đời trước. Nói tỷ dụ nghe choi và không phải để bắc cầu cho các cha ngày nay: muốn có màu xanh da trời, danh từ chuyên môn gọi «bleu Vermeer» thì V.M. chế bằng loại ngọc bích lapis lazuli, màn hoàng anh chế bằng một thứ mủ cây pha với thổ hoàng (le jaune s’obtient avec une résine durcie et de l’ocre) và nhiều màu khác, xin dùng tiếng Pháp cho đừng lầm lạc (.. une terre additionnée d’oxyde de fer, du rouge de cinabre, du blanc de plomb, etc). V.M. xây lén trong phòng làm việc, chính bà xã cũng không ngờ, một lò kín giữa một tủ sách lớn, lò nầy chạy bằng điện lực, làm bằng nhiều phiến đá không sợ lửa ráp lại, có máy gia giảm nhiệt độ, cũng do tay khéo léo của anh ta tự chế.
Nhưng kể về sự phát minh thần diệu của V.M. thì có lẽ là tìm ra một chất dầu dùng pha màu để vẽ mà không kỵ lửa, nóng đến độ nào màu cũng không đổi sắc và đó là huile de lilas (theo tự điển Đào Duy Anh là dầu Tử Dinh Hương, cây xoan). Nhưng sự phát minh dùng dầu huile de lilas đem lại V.M. một rắc rối ngộ nghĩnh bất ngờ. Đó là dầu xoan vẫn có mùi thơm tử-đinh-hương (lilas). Bỗng nhiên trong phòng làm việc của V.M., ngày như đêm phảng phất mùi lilas đặc-biệt ấy và đề đánh lạc dấu bà xã cũng như vài bạn thân, V.M. giả chước thinh không đâm ra say mê mùi lilas và từ ấy luôn luôn trên bàn làm việc đều có bình hoa xoan tươi thay mới không bao giờ dứt. Bước đầu xuân năm 1936, V.M. kết thúc cuộc thí nghiệm hơ tranh vẽ bằng dầu lilas chế với phénol và formaldéhyde. Nhắc lại, V.M. chọn bố đúng thời đại (thế kỷ 17) là để đồng thời với Vermeer. Nên nhớ, đó là một điều kiện rất quan trọng, vì người chơi tranh có kinh nghiệm năng giảo nghiệm giả chơn bằng cách đếm từ tao từ sợi bố của các bức họa cổ.
Tỷ dụ như bức chánh thức gọi «Résurrection de Lazare» (Sự hồi sinh của Lazare do chúa Giê-su hóa phép). Ai ai cũng biết bức tranh kiệt tác này, Vermeer vẽ vào lúc tuổi đôi mươi, tức lối năm 1650. Bức chánh (thiệt) khá rộng, cỡ 1, 10 X 0, 90. Khi giả tạo, V.M. tìm mua được một tấm tranh cùng một cỡ và một thời đại. Mua được rồi, mang về phòng, nội cách tháo, cũng trần ai. Không dám làm gãy hay trầy đầu một cây đinh cũ. Sau nầy đóng lại, sai một chút xíu cũng không được. Thậm chí mấy tấm da cắt vuông vuông để chêm lót cây dinh cung giữ y chỗ nào theo chỗ nấy, không sơ sót. Khi gỡ tấm bố ra khỏi khuôn tranh rồi, thì V.M. lấy bố ấy căng trên một tấm ván ép thật bằng phẳng, đoạn khởi sự cạo chùi lớp sơn vẽ cũ cho thật sạch và không động chạm gì đến mặt tấm bố. Ban sơ, V.M. làm y như mấy tên học trò bị sơn dính tay, nay lấy đá bọt thấm nước cọ mài cho sạch vết. Nhưng nhớ phải cọ hết sức nhẹ, không khéo lỡ tay, trầy da mặt bố một chút xíu, cũng lộ tay. Phải làm làm sao cho sau này đừng thấy dấu sơn cũ hoặc dấu trầy trên mặt bố, vì các giảo nghiệm gia thường dùng quang tuyến (rayon X) rọi vào từng mỗi phân vuông, nên không phải giả ngộ dối trá với họ được. Lúc chùi tấm tranh cũ này, chỗ sơn nào V.M. cũng tẩy êm thắm, duy đến những chổ trưoc vẽ bằng phấn chì, thì V.M. gặp một trở ngại bất ngờ. Nguyên hồi thế kỷ 17, các họa sĩ đời đó quen dùng phấn chì (blanc de plomb) vẽ thay màu trắng, nay thứ blanc de plomb nay, sau ba trăm năm, dính khắn vào bố, cọ mài cách mấy cũng không sạch. V.M. thấy vậy, đành chừa chỗ trắng trên tấm bố cũ. Nhưng như đã nói, V.M. là người đa mưu túc trí, nên sau đó khi vẽ thiệt thọ, V.M. đã có một sáng kiến tài tình là cũng vẽ trắng lại y như cũ mấy chỗ bôi không ra, thành thử mấy chỗ đó vẫn tiệp màu, con mắt thường không sao biết được. Tuy vậy vẫn còn một chỗ có vết trắng trộng cỡ đầu ngón tay út. V.M. không làm sao lấp khuất được, túng thế, V.M. dùng màu tiệp nhau phết nhẹ lên trên và đây là chỗ yếu nhứt trên bức tranh giả tạo phen nầy, may thời các giảo nghiệm gia sơ ý không rọi quang tuyến X, khiến nên khi bắt V.M. ra xử, chỗ đó vẫn không đá động đến, vì có ai ngờ chỗ vẽ màu trắng mà lại có ẩn tàng một vệt màu trắng cũ, cạo không ra.
Khi V.M. đánh lại lớp sơn nền xong rồi, V.M. mới khởi sự bắt tay qua phần khó nhứt của bức tranh là vẽ cho đủ mặt các tông đồ của Chúa, gọi «les Disciples d’Emmaiis ». Nhắc lại Emmaus là một ấp nhỏ bé tại xứ Judée-co, ở gần thành cổ tich Jerusalem và theo Kinh Thánh dạy, đây là nơi Chúa Giêsu xuất hiện lần đầu cho các môn đệ ngài thấy, sau buổi Phục sinh. Phần quan trong nhất, làm cho V.M. bối rối vô ngần là làm sao diễn tả cho thật thần tình gương mặt của Chúa. Các phần kia, V.M. lần lượt đã vẽ một cách thoát thần, nào nét mặt kinh tởm, nào nét kinh sợ, nào nét lấm lét của đám đệ tử, nhưng đến khi muốn hiện rõ gương mặt đặc biệt của Chúa lúc ấy, làm sao cho đúng với hai chữ «xuất thần», thì V.M. ngã lòng, gần như thúc thủ, không biết giải quyết thế nào cho ổn thỏa, khổ tâm nhứt là nay cách biệt Amsterdam đã lâu, bức tranh chánh, bức tranh mẫu ấy, hiện không có trước mặt, thì làm sao vẽ nổi nét mặt siêu phàm thoát tục của Chúa do ngòi bút thiên tài của Vermeer đã phác họa rồi. V.M. có nhớ mạy mạy trong trí, nhưng khi vẽ lên tờ bố khác thì không bằng bụng chút nào. Đã vẽ phác họa mấy lần mà không xong, vẽ esquisse hay essai rồi cũng thất bại, khi thất vọng đã thấy trước mắt, bỗng một buổi sáng sớm, vừa mở cửa dòm ra đường cái, V.M. giựt mình như quả có thần linh xuất hiện. Từ xa lù lù đi lại một tên khất tử Ý-đại-lợi hình như muốn tiến đến xin một khúc bánh mì cũ để gặm đỡ đói. Áo quần tuy tơi tả, nhưng nhìn nét mặt thì quả là gương mặt thanh thản bình dị, tha thứ, vừa xót thương vừa quảng đại, một gương mặt siêu phàm mà V.M. đang moi óc suốt mấy tuần nay mà không sao vẽ lên tranh được.
V.M. lật đật mời anh khất sĩ vào phòng vẽ, đóng cửa lại, cho ăn cho uống tử tế và chỉ trả tự do cho chú chàng sau ba ngày bắt ngồi làm mẫu để V.M. vẽ đủ kieu chơn dung, nói rằng: «để nghiên cứu và vẽ chơi chớ không có ý gì khác». Khi đưa anh miễn tử lưu linh ra cửa, V.M. tặng anh một bộ y phục ấm lành lẽ và bất ngờ nhứt cho anh khất sĩ, là rờ trong túi có thêm một ngàn quan tiền nặng nặng, làm anh chàng giựt mình không biết là chièm bao hay tỉnh.
– Phiền bác đừng bảo tin cho phường vạn bác hay, vì nếu họ kéo đến thì tôi chỉ còn cách dọn nhà đi nơi khác.
Một tuần lễ sau, đem kỹ từ bắt tay vào việc đen đỏ là đã sáu con trăng tròn trặn, V.M. đã hoàn thành một kiệt tác nữa. V.M. lấy làm bằng lòng khi thấy bức tranh mạo tể này, từ biết cầm cọ vẽ đến nay, anh chưa họa bức nào được hoàn mỹ như vậy. V.M. vừa lấy bút, vừa huýt sáo, nhái chữ ký của nhà đại danh bọa đã từ trần từ ba trăm năm trước: I. MEER, tức Vermeer đó. Bảy giờ đến lượt làm một công việc rất khó khác nữa, là hơ bức tranh trong lò điện, để giả cổ, tức là làm cho tranh mới có màu cũ như tranh ba thế kỷ trước. V.M. lấy dầu lilas đánh một lớp mỏng trên mặt tấm tranh và có pha thêm chút đỉnh nhựa cây thay thế cho màu sơn. Anh vừa thoa dầu, mà lòng kôon xiết hồi hộp, ngực đánh nghe thình thịch. Công trình đến đây kể như thành tựu, nhưng lo một nổi đặt nó vào lò điện không khác thằng Poucet đi đôi hia bảy dặm, tấm tranh sẽ có màu cũ «Tam bách niên tiền» như mong muốn, hay chảy thành một tấm bố không hồn chẳng đáng một đồng xu?
Không biết dầu lilas và các loại thuốc màu dùng vẽ tranh nầy, có chịu nổi sức nóng 110 độ nầy chăng? Hay sẽ biến ra màu khác sắc khác, thì chết một của Tứ! Không tiếc cho công trình gam go trong sáu tháng sẽ bay trôi theo hơi, khói; chỉ ngại việc bất thành thì mình rõ là một tên vô dụng chi nhơn. Trước đây, mỗi lần pha một thứ màu để vẽ, V.M. đều thận trọng từ chút, nay nếu lúc đó có sơ sót chỗ nào, thì lát nữa hơi nóng của lò điện sẽ làm cho lộ ra: «xin Trên Cao phù hộ cho tôi!»
V.M. trong bụng sợ nhất là cái đốm trắng hôm trước không dám tẩy thật sạch, nay gặp sức nóng sẽ đậm màu hơn hay trở ra vàng vàng thì người ta cũng biết ngay, khổ quá! Lại nữa, như mấy chổ chấm thanh lục, tuy biết dư là dúng phương pháp của Vermeer hồi trước, nhưng cũng chưa chắc gì nó không biến thể, khi gặp sức nóng 110 độ trong lò. Nghĩ tới nghĩ lui, khổ ơi là khổ! Suốt hai giờ, V.M. cho điện chạy, rồi đi qua đi lại trong phòng, tay vẫn cầm một đồng hồ quả quit và canh chừng từ phút từ giây. Khi tắt điện, lấy tranh ra, V.M. thở nhẹ nhỏm, vì toàn tấm tranh xuống màu và ăn đều, toàn diện cổ như ý muốn. Khéo quả, hay quá, may phước quá! Cám ơn Trên Cao còn độ! Và chính V.M. khi nhìn tấm tranh cũng phải tấm tắc mình khen lấy mình: bức tranh này quả không thua thần bút Vermeer chút nào. Quả không chỗ nào chê! Như vầy, không ai dám nghi ngờ tranh giả đâu mà ngại! Nhưng vậy, cái khó chưa phải là hết. Cứ bình tỉnh mà xét, tấm tranh như vầy có vẻ còn sắc sảo quá. Nếu để như thế mà vội đem trình bọn giảo nghiệm cú vọ kia, thì chúng nó ăn thịt mình ngay. Bây giờ còn phải làm sao cho da trỗ rạn và cũ mèm thêm chút nữa, bổ túc những cái tinh vi mà lò điện kia không tạo ra được. Nghĩ rồi V.M. mới chế ra một ống tròn bằng thiếc Cao Bằng, bề kinh tầm độ sáu tấc Tây, hình giống cái hũ lô cán đường, đặt cái ống trên bàn viết, rồi cột sát tấm tranh kia ôm tròn cái ống rồi lấy tay vuốt nhẹ nhẹ và đều đều, vuốt hết sức kỹ, khiến cho lớp sơn dầu nứt rạn ra theo chiều ống thiếc, giống hệt tranh cổ lâu năm phải nứt và V.M. cũng không dám làm nứt quá nhiều, e mất tự nhiên thì bọn giảo nghiệm ma quái kia sẽ bắt được mối gian xảo của mình. Phương pháp của V.M. dùng tỏ ra rất hiệu nghiệm. Tấm tranh lấy từ ống ra, trên mặt trỗ lăn tăn lấm tấm lằn nứt mịn và đều giống y lằn nứt thường thấy trên tranh cổ.
Muốn để sau này có bằng chứng rằng tranh này của mình sảng tác cho không phải của ai vào đây, V.M. bèn lấy kéo cắt rọc một chút bìa và cất kỹ làm dấu tích. Xong rồi V.M. mới gắn bức tranh trở lại khuôn cũ của nó, nhưng phải dùng lưỡi cưa thợ mộc rà lại bốn góc khuôn, cho thật khít khao, vì tấm bố đã teo đôi chút khi bị hơ nóng trong lò điện; đoạn V.M. lấy đinh cũ và da cắt vuông cũ đóng lại đâu vào đó, xem giống hệt bức tranh lâu đời không hầy hấn chút nào, vì V.M. là tay kỹ lưỡng, trả đinh và da chỗ nào về chỗ nấy, không cho thấy dấu cạy dấu tháo nào cả. Tranh gắn y vào khuôn của nó rồi, V.M. lại lấy mực Tàu bôi khắp mấy chỗ da rạn và khi mực khô thì mấy lằn rạn càng giống những kẽ rạn lâu đời bị bụi bặm bám vào kẽ sâu và đến đây là đã đến phần chót của các công việc giả một bức tranh cổ mà V.M. đã thực hành. Cách vài bữa sau, V.M. lên đường đi bán tranh. V.M. đáp tàu hỏa lên Paris, là nơi đô hội, đủ mặt các nhà sưu tầm cổ ngoạn, chơi tranh mắc tiền và đều là hạng triệu phú, tỷ phú thập phương. V.M. đem theo chỉ một mớ y phục đổi thay, không quên cái bàn chải răng và cây dao cạo, còn bức tranh căng nhứt thì gói kỹ trong lớp giấy ămbala thật dày. Vừa đến Paris, V.M. đi ngay lại ngân hàng lớn, ký thác bức tranh cho yên nơi yên chỗ rồi mới tìm phòng tá túc.
Qua bữa sau, V.M. tìm được văn phòng viên chưởng khế từng quen năm trước. Chào hỏi xong, V.M. thong thả thuật lại cho viên chưởng khế nghe câu chuyện đã đưa anh đến tìm, mà anh đã sắp đặt trước như vầy:
– Thưa chưởng khế, ông dư biết chúng tôi là hàng họa sĩ vô danh, nếu chỉ sanh nhai bằng cây cọ, thẻ màu,
thì không bao giờ đủ sống. Bụng đói chân phải chạy cho nên chúng tôi phải sống thêm nghề phụ, hoàn toàn lương thiện, là chúng tôi chuyên lùng kiếm tranh xưa mai một; nếu may thời gặp, mua lên bán lại thì cũng có đồng ra đồng vào, đỡ khổ. Hiện nay tòi được may mắn lạ lùng, có lẽ là ân huệ của ông bà để lại, hoặc trời nhỏ phước, hoàng thiên bất phụ thiện tâm nhơn. Tôi đến nhờ ông sẳn lòng giúp tôi bán một bức tranh thế kỷ 17, thuộc loại quí phẩm hạng quốc tế cũng nên. Ngừng một lát để chờ phản ứng của vị chưởng khế, nhưng không thấy nói gì, V.M. lại kể tiếp:
– Thưa ông, tôi quả quyết tranh tôi nói đây là một bức quí vô giá, đó là tranh cổ ký Vermeer, bấy lâu lưu lạc không ai thấy. Một gia đình vọng tộc, tôi xin giấu tên, có nhờ tôi xem giúp và cho ý kiến một bộ tranh do tổ tiên đề lại. Gia đình ấy bằng lòng bán đứt cho tôi một bức mà hiện tôi đã gởi cất tại ngân hàng Mỗ. Tôi dám cam đoan với ông, đó là tác phẩm mai một của Jan Vermeer một nhà đại danh họa Hòa Lan của thế kỷ 17, giá đáng ngàn vàng.
Có lẽ chưởng khế sẽ hỏi tại sao tôi không bán ên, tức nhiên có lợi nhiều, thay vì phải đến đây nhờ ông cho thêm phí tổn? Thưa chưởng khế, thú thật vì tôi mua nó mà hết vốn, nên nay cần bán gấp là một lẽ. Một lẽ khác nữa, chắc ông dư rõ, là giữa các chuyên môn giảo nghiệm và nhóm họa sĩ, ít có thuận thảo nhau lâu và không giấu gì ông, tánh tôi thì nóng, vì ăn ngay nói thật nên ít có cảm tình với họ. Nếu nay tôi đến ngay thương thuyết thì hỏng ngay. Nên tôi tưởng phải nhờ ông giúp cho một tay đắc lực, mà chắc ăn hơn. Tốn kém bao nhiêu có hệ gì. Bọn giảo nghiệm ở đây, ở Paris nầy, tôi đều quen biết hết. Hiềm gì tôi đả kích họ đã nhiều, cho nên ác cảm khó quên; ngày nay nếu tôi bổn thân xách bức tranh đến cầu họ giúp cho giấy chứng chỉ thì cũng bằng trong Tam Quốc, Lỗ Túc sách Kinh chân. Họ đâu có khứng, không chừng họ lại đặt điều kiếm chuyện, nghi kỵ nọ kia, gây rắc rối cho tôi thì có. Cho nên trong vụ nầy, chưởng khế giúp giùm tôi và cần thận hơn hết là không nên hài danh tánh tôi trong tờ mua bán. Như vậy chưởng khế sẵn lòng với tôi chứ»?
Ông chưởng khế ưng thuận, V.M. ra về đã yên tâm một phần. Cách vài bữa sau, nhơn đọc báo, V.M. thấy tin ông Bredius là nhà giảo nghiệm danh tiếng ở Hòa Lan hiện có mặt ở Paris. V.M. lật đật xách tờ báo trở lại tìm chưởng khế và yêu cầu đem tranh nhờ Bredius giảo nghiệm vì dịp may ít có. Chưởng khế nghe theo lời, tức tốc lãnh tranh nơi ngân hàng, bổn thân đem đến tìm ông Bredius và hai mươi bốn giờ sau là có giấy chứng của Bredius nhìn nhận tranh nọ là tranh cồ, chính do Vermeer, thế kỷ 17, sáng tác. Đã có chứng chỉ hợp thức, thêm chưởng khế nay là người đầy đủ uy tin, nên tranh bán cấp kỳ. Người mua không ai xa lạ, vốn là viện bảo tàng Boymans, ở Amsterdam (Hòa Lan), giá mua là 58.000 livres. Trừ ra tiền xe pháo, tiêu nghệ, tiền hoa hồng Bredius và hoa hồng chưởng khế, V.M. còn 40.000 livres: giàu rồi! Tranh được giao phó cho chuyên gia sửa chữa vào bế lại những chỗ trầy do V.M. tạo ra cho thật đúng cổ, rồi đem về Hòa Lan trưng bày tại viện bảo tàng quốc-gia, suốt mấy năm trường, trân trọng như một «quốc-gia chi bảo». Viện bảo tàng cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa và lấy làm mừng mua được vật báu. Trong khi ấy, V.M. tưởng mạo tể thành công như vậy là đủ, lòng dặn lòng không tái phạm làm chi. Bây giờ không ở Roquebrune nữa, có tiền rồi, dọn lên Nice ở cho sướng thân. Nhưng cổ nhân đã nói: «Ăn quen, nhịn không quen», ít lâu V.M. bắt bén, tự hỏi: «Sao không giả tạo tranh cổ khác»? Phen nầy đã thành thạo lắm rồi, nên bắt qua nhái nghệ thuật của Frans Hals và của de Hooch, đều là đại danh họa thế kỷ 17 của nước Hòa Lan. V.M. hăng hái làm việc không nghỉ tay và suốt mười hai tháng nỗ lực, tạo được sáu tranh mạo tễ khác:
Hai bức kể như kiều tập (échantillons), V.M. nhái điệu de Hooch và bản cho hai sưu tập gia ở Rotterdam, gọi đề làm quen. Sau hai nhà nầy thích quả, nên mua thêm của V.M. hai bức ký Vermeer, mà không biết là giả. Hai bức tranh nầy bán, không ký công tra, nên số thu định lối 68.000 livres. Cứ tính theo tỷ lệ số tiền bán tranh kỳ nhứt thì phen này, phần cua V.M. cũng không dưới 40.000 livres. Tháng tám năm 1939, bên Âu châu xảy ra cuộc đệ nhị thế chiến. Mây đùn sát khi, máu chảy tràn đồng. Lại một phen người giết người, đồ hại sanh linh. Khi giặc chưa khởi, V.M. cùng vợ đáp tàu hỏa, về thăm cố hương là Rotterdam. Nghe tin khai chiến, cũng chưa sợ. Định bụng rằng phen nay bạo phát bạo tàn, chuyến nầy sẽ mau điều đình và không dây dưa đâu. Vợ chồng sẽ trở về nhà, ở Cote d’Azur, việc gì mà lo? Sáu tháng sau, giặc đã không dứt, càng bành trướng thêm. Hòa Lan bị chiếm, dân chúng phải sống kham khổ thiếu thốn dưới gót sắt bách thắng của quân Đức. Sự sản của V.M. đang vững vàng đồ sộ, bổng bị tê liệt bất ngờ. Được bao nhiêu thì tiêu pha hoang phí, tính cho vô tận: mua một tòa lâu đài cổ ở Nice, tu bổ cho vừa con mắt, đến gần cạn túi, nay thinh khổng thinh không kẹt ở đây làm vầy, khổ chưa? Dẫu muốn bán hết sự nghiệp ở Pháp, qui nhứt thống về Hòa Lan, nay cũng không kịp. Chỉ còn một phương duy nhứt, giải thoát được cơn nguy, ấy là mạo chế tranh cổ thêm nữa. Nhưng hãy nói nho nhỏ, đừng cho ai biết!
V.M. bây giờ đã trở nên một tay xảo thủ, việc giả tạo tranh cổ đã trở thành một nghề chuyên môn. Chớ chi vẽ thực và ký thực tên mình, thì đâu có chuyện. Nhưng ngựa quen đường cũ, phải giả tranh cổ mới bán tiền nhiều hơn. V.M. vẽ thêm năm bức ký Vermeer giả nữa và lấy đề tài trong Thánh kinh, để dễ bề nói dối, vì V.M. biết không ai hiểu biết đời sống của Vermeer cho bằng mình, đã từng thích giúi vào vẽ, treo tóc lên rường khi tham khảo và nghiên cứu năm xưa về nhà danh họa trứ danh nầy, nhứt là khoảng đời của Vermeer, từ thanh xuân đến lão mai, sách vỡ nói rất lờ mờ, lại càng dễ cho V.M. lựa chọn đề tài và dễ bề nói khoác cho trôi việc dối trá của mình làm. Vẽ rồi năm bức, V.M. lại vẽ thêm một bức, gọi Cène. Nguyên Cene la tên cảa mot bức họa thật lớn của Leonard de Vinci vẽ năm xưa trong vách phòng ăn của tu viện Santa Maria delle Grazie, tại thành Milan ở Ý đại Lợi. V.M. dám nghĩ đến việc họa bức nầy thì cái kiêu ngạo của anh ta đã lên tới tuyệt đỉnh, vì dám sánh tài mình với bực hậu tổ nghề hội họa Tây phương. Nhưng khi V.M. có ý định rồi thì đem ra thực hành ngay. V.M. đem hết tài nghề và sở trường để vào đó, dường như muốn cho ngày sau đời biết tài mình cũng do bức tranh đại họa này. Khi bắt tay vẽ Cène được vài tháng, thì V.M., nguyên là người kỹ lưỡng, bèn nghĩ lại rằng: «Nếu mình vẽ phóng ứng như vầy, e có chỗ sơ hở. » Nghĩ như vậy, nen V.M. ngưng vẽ bức tranh lớn ấy để vẽ trong bố cắt rời, từng nét mặt và từng chi tiết nhỏ của mỗi nhơn vật, tức làm esquisses và quyết vẽ sao cho tuyệt diệu hơn bức «các tông đồ tại Emmaüs » cho được mới nghe. Khi muốn vẽ lại “đầu cổ chúa Gie-su”, V.M.phóng họa ra nhiều kiểu đề tìm lựa kiểu nào ưng ý nhất. Có một kiểu «gương mặt Chúa », khi vẽ rồi, đem làm cho cũ trong lò điện, lúc lấy ra, V.M. ưng ý quá nên khoe với một nhà buôn đồ cổ, dối rằng đó là phác họa cổ của chính họa sĩ Vermeer đời xưa đã vẽ cho một bức tranh nào mà nay ông đã quên tên.
Ông nầy nghe nói, mê quá nên cố nài cho được. Không dè vài tháng sau, V.M. trở lại nài nỉ hết lời rằng nay ông vừa tìm được một bức tranh lớn gọi Cène và ông nhớ ra rồi, vậy cái mẫu gương mặt kia, xin cho ông chuộc lại, giá nào cũng được, miễn sao ông được trọn bộ là toại nguyện. V.M. làm hộp như vậy, để sự việc ấy đồn ra, nên năm 1940, có một triệu phú sai giảo nghiệm viên đến mua vừa tranh lớn Cène, vừa tranh nhỏ esquisse, với một giá mắt kinh khủng: 215.000 livres. Một lần nữa, và mặc dầu chiến tranh, V.M. trở nên giàu sang như cũ. V.M. lấy tiền bán tranh, tậu nhà mua phố, lập lại một sự nghiệp kể dến trên năm chục bất động sản có lợi tức. Và trong nhiều tháng dài va sống phong lưu nhàn hạ, không làm gì động đến móng tay, gọi đề xả hơi, bù lại những năm lận đận, anh ta thường nhắc và cho rằng trần ai vô tri kỷ. Vào cuối năm 1940, V.M. bắt đầu cầm cọ và vẽ lại. Trong mười tám tháng, ông vẽ xong được ba bức tranh mạo tễ nửa và đây là ba tác phẩm sau chót của V.M. Nhưng lạ thay, nay đã giàu sang, có tiền nặng túi, thì tài nghề lại nhụt đi. Ba bức tranh sau rốt này, kém phần độc đáo và thua xa những bức khi xưa vẽ trong cảnh cơ hàn, ăn bánh mì mốc. với bánh sữa rẻ tiền. Chớ chi V.M. bán mấy bức tranh này trước cuộc đệ nhị thế chiến, thì ắt đã qua trót lọt và chưa bị lộ tầy. Nghĩ ra trời cũng hết sức chìu tên đại bợm này, nên khiến cho bấy lâu, không ai đề ý mà hỏi va vậy chớ trong một thời gian cũng không lâu gì mấy, từ năm 1932 đến năm 1940, mà làm gì va đào ở đâu ra và có hoài hoài những tranh cổ quí giá đến thế? Cuối năm 1943, V.M. bắt tay tạo bức tranh giả thứ tám của ông, bức tranh nầy cũng là một tuyệt tác của ông mà cũng là bức tranh xui xẻo sẽ đưa ông đến cửa tụng đình và vì sao ông lựa đề tài quái gở «Christ et la femme adultère » (Chúa Cứu thế và con dâm phụ). Người mua bức tranh nầy là vai tả phụ hữu bật hét ra lửa của Hitler, tức Thống chế của Đức quốc xã, tức ông Gobels. Nói cách khác, bức tranh đã đem lại cho V.M. ba chữ «Chấn Gia Thinh». V.M. danh nổi như cồn. Tranh này là tranh thứ sáu, giả tạo, mang chữ ký của Vermeer.
Christ et la femme adultère
Nói tuyệt tác, thật tình chưa đúng, vì tranh vẽ hối hả trong hai tháng thôi, nên nhiều chỗ còn để cho thấy sự hấp tấp của va và đã mất hết những nét tỷ mỷ kỹ càng, những chú ý cẩn thận của buổi đầu tiên, khi vẽ bức «les Disciples d’Emmaus » hay bức Cene.
V.M. vẽ tranh này đúng trên một tấm bố thế kỷ 17, nhưng đã làm biếng, không cạo lớp sơn cũ sạch sẽ như mấy lần trước, cho nên sau này khi rọi quang tuyến X, thì thấy rõ lớp sơn cũ và lớp sơn mới chập chồng nhau, và khi hơ nóng giả cổ trong lò điện, hai thứ sơn cũ mới ấy khắn nhau lại, cạo không ra. Sở dĩ tranh như vậy mà vẫn bán được, là chứng tỏ sự thiếu sót chuyên môn đáng trách, sự thiếu lương tâm nghề nghiệp của bọn trung gian môi giới giữa ông Thống chế Gobels, đã giàu quyền lực lại không thiếu gì tiền, với một họa sĩ phong lưu có địa vị lớn. Bọn môi giới ấy, bởi ham tiền, đã mất lương tâm. Nguyên do cuộc mua bức tranh ấy, là Thống chế Miedl được bộ hạ báo tin ở nhà V.M. có một bức tranh cổ quí giá. Miedl thật tình muốn tấn ơn nên nhắn với người giới thiệu thường đi mua cổ ngoạn cho Gœbels hay. Miedl không có ăn nhậu gì trong cuộc mua chác nầy, nên nếu buộc tội ông thì oan lắm. Ai ai ngày nay cũng biết khi Gœbels bị hạ bệ và tịch thu tài sản thì sự nghiệp của va không biết đến mấy tỷ mà nói, người đồn còn nhiều thùng chứa đồ cô-léc-xông vô giá nằm dưới đáy biền, tìm chưa ra, vì ý Gœbels tích tụ của báu là đề sau nầy dùng nó mà dựng cơ đồ đại sự, phục quốc hưng bang chớ không vừa. Trong vụ này, khi người trung gian thân tín về phúc trình thì Gœbels xuất tiền trả ngay, số tiền xộn xện lên đến 165.000 livres chớ không vừa. Kên kên quạ quạ thì ăn trên rừng, lòng tong cá chốt thì rỉa rứt dưới nước, tiền còm-mi-xông cúng đủ mọi mặt cô hồn các đảng rồi, chỉ tồn V.M. cũng còn lại 120.000 livres trong áp-pbe này. Trong hồ sơ lý lịch nơi tòa ản, thì vào đầu năm 1944, thân thế và sự nghiệp của V.M. có thể tóm tắt như sau:
– V.M. sống độc thân, vì đã ly dị vợ; người vợ tào khang, «tấm mẳn có nhau buổi hàn vi»;
– Tranh của V.M. giả mạo, trưng bày trong viện bảo tàng quốc gia Hòa Lan: những người giàu kinh nghiệm của các nước tới chơi, đều trầm trồ khen là tuyệt diệu;
– Tài sản, của chìm của nồi, nếu tính ra tiền, thì to tác không chỗ nói.
– V.M. không có con.
V.M. đang vẽ bức thứ 9, giả tạo tranh Vemeer nữa. Phen nầy va tính kiếm độ 1.000 livres để nhập vào két sắt.
Nhưng lúc ấy, V.M. đã năm mươi lăm tuổi đầu mà tóc đã muối tiêu, da nhăn, má cóp: già nhiều hơn số tuổi, cũng vì nay lắm tiền nên sanh sứa: đêm thì thức khuya trác táng, ban ngày thấm mệt, phải dùng bạch phiến, trước để tìm thêm khoái lạc, sau tìm yên-sĩ-phi-lý-thuần (inspiration) để có tơ-lơ-mơ, làm việc thêm hăng hái. Dẫu cho máy bằng sắt cũng phải mòn: vì vậy V.M. vướng bịnh đau tim mà chưa hay. Bây giờ chỉ còn có hai món giúp V.M. gượng sống: một là bạch phiến, hai là làm việc. Hai lẽ bổ túc nhau trong vòng lần quẩn: làm việc, tức giả tranh cổ bán cho thật mắc để có tiền mua ma túy va chích, nuốt, thầu ma túy, để có sức, có sáng kiến tìm ra tiền. Nhưng lúc ấy vừa hết giặc. Quân đội Đồng minh Anh Mỹ đổ bộ, giải thoát Hòa Lan khỏi ách chiếm đóng của bọn Đức quốc xã. Hitler đã binh bại, mạng cùng và tự tử. Mùa thu năm 1947, quân đội Đồng minh, khám xét đại bản doanh Berchtesgaden là chỗ an sau cùng của Hitler, gặp được bức tranh «Chúa Cứu-thế và con dâm phụ» lại cũng tìm được luôn tờ mua bán năm trước giấu trong vài thùng lớn chứa đồ báu vàt của Gœbels bỏ lại trong khi thoát thân, đào tỵ. Nhắc lại, trong tuần tháng năm năm 1945, có hai hiến binh đến tận nhà V.M. ở khu Keizergracht, tại Amsterdam, để hỏi chủ nhân vài tài liệu không quan trọng lắm. Hai công sai rất rụt rè lễ phép, phần khớp vì nhà cửa sang trọng, phần thấy một ông già đạo mạo, có vẻ tiên phong đạo cốt, phú quí như vầy há đâu phạm pháp cho đành. Nhưng cũng phải lấy khẩu cung cho có lệ và chi muốn ông nói cho biết, mách giùm cho mình tìm ra manh mối ai đã bán một bức tranh cổ và quí cho một tên thù nghịch hạng nặng, nặng cỡ một Nazi bự như Gœbels, tàn sát không biết mấy triệu sanh linh.
– Thưa ông, một hiến binh hỏi, ban sơ ông gặp và mua bức tranh cổ ký Vermeer bán cho Gœbels ấy, ở tại đâu?
Nhưng V.M. đã hết thời, khiến cho thần khẩu giục trả lời liền:
– Tại Ý Đại Lợi, trước khi xảy ra trận giặc vừa rồi. Nhưng tôi không nói gì nhiều hơn nữa được, vì tôi đã trót hứa với chủ cũ giữ giùm thể thống của ông, vốn là một vọng tộc nay đã suy vi.
Hai hiến binh cười thầm mà không nói lời gì và xin cáo lui. Họ vừa bước ra khỏi cửa, V.M suy nghĩ và hối lại
không kịp, vì lời khai của mình ban nãy, làm sao lấy lại được, khi không mình tự trói mình nạp cho mật thám.
«Hai tên lính ban nãy, V.M. nói thầm đủ mình nghe, thuộc đội thám quân chánh trị. Chúng nó đã biết tranh ấy bán cho một tên A-lơ-măng. Thế mà mình nay lại khai tranh ấy trước mua tại Ý-đại-lợi, tức một nước thù nghịch khác của Đồng minh. Như vậy, minh sẽ bị buộc vào tội tư thông ngoại quốc, thông đồng với bọn phát-xich Ý và bọn Đức-quoc-xa Nazi. Cha ơi! Tội này nặng biết chừng nào! »
Và cái độ tội trọng ấy, chẳng bao lâu cơ quan cảnh sát đã tìm ra manh mối. Vừa qua ngày sau, V.M. bị mời ra trình diện Sở Cẩm với tội phản quốc. Thầy thẩm sát viên xuýt ngã người trên ghế ngồi, khi nghe V.M. mắng xối xả cho một hơi:
– Tôi thật tình tội nghiệp cho ông! Ông quả là đồ ngu, không biết gì hết! Tôi có dại gì bán tranh qui chánh Vermeer cho bọn A-lơ-măng? Chánh phủ đáng lẽ dựng hình đồng cho tôi mởi phải! Kỳ công lấy tiền Đức-quốc xã tôi xài! Ừ! Chinh tôi đây, Van Meegeren đã vẽ tranh đó và ký tên I.Meer đó chứ ai? Gœbels nó mua với giá bạc triệu một tấm tranh xoàng xĩnh do tên này vẽ ra. Và suốt tám năm nay, suốt tám năm trường, Van Meegeren nay đã phỉnh gạt mấy thằng thầm định viên bất tài của Chánh phủ đó! Tôi nói cho ông biết, chúng nó toàn là đồ ngu dốt, không biết gì về nghề nghiệp, mà làm mặt song tàn, chỉ giỏi vơ vét tiền còm.
Lính nghe đầy tai và chép không muốn kịp, nhưng lính vẫn không tin. Định cho ông già này, mất trí nói xàm.
Rồi họ lại nghi cho ông gia đặt chuyện như vậy đề dễ bề chạy tội «thông đồng quân địch, phản nghịch quốc gia ». Sau một đêm bị cầm lại bót, mà V.M. ngủ vùi như chết, rạng ngày, tới giờ làm việc, V.M. buộc Sở Cẩm viết tờ biên bản, đề ông khai hết tự sự, đầu đuôi gốc ngọn, ông nói đó là lời sảm hối của ông, mặc cho Tòa giảo nghiệm lại lời khai nầy.
Tờ biên bản viết xong, ông kỷ tên rành rẽ. Điều tra lại, thì tội phản quốc không đứng vững. Tòa lấy làm bối rối không biết dựa vào điều khoản nào mà buộc tội ông già nầy. Sau đó có một ông tòa tìm ra một sáng kiến khá ly kỳ. Ông đòi V.M. ra hầu, và hỏi:
– Nếu ông khai rằng chính ông vẽ được bức tranh « les Disciples d’Emmaüs » đó, vậy chớ ông có thể vẽ một tấm copie thứ hai tranh ấy lại được chứ?
– Sao lại vẽ copie? V.M. thưa. Tôi có thể thi thố tại đây tài nghệ của tôi cho quí tòa biết sức. Miễn ban cho tôi đủ phương tiện: một tấm bố cũ y như ý tôi chọn, đồ nghề thì lấy tại nhà tôi, và tôi sẽ vẽ lại trước mặt ai cũng được, một bức tranh theo nét bút Vermeer, cho ai đó là chuyên môn chứng kiến và giỏi phân biệt giả chơn! Như vậy, quí tòa bằng lòng chứ?
Tự nhiên tòa sẳn lòng chấp nhận lời yêu cầu của bị cáo. Tháng tám năm 1945, V.M. biểu diễn tài nghệ trước mắt sáu chuyên viên nhân chứng thay mặt đủ các nguyên cáo trong vụ án ly kỳ nầy. Đó là bức giả tạo thứ 9 tranh Vermeer. Phải nói, V.M. vẽ liên tiếp không nghỉ tay phút nào, ngoài giờ nghỉ ngơi cơm nước. Lính thay phiên canh gác, các nhân chứng cũng không nới phòng làm việc một giây phút nào. Một lần nữa, V.M. chọn một đề tài rút trong Thánh Kinh, và cũng dùng bố cũ của thế kỷ 17 kiếm được. Màu và dầu sơn thì từ nhà đem lại, đủ cả lò điện để hơ giả cổ, bút cọ bằng lông blaireau và ống thiếc tròn đề làm da rạn nhái rạn tranh xưa.
Đề tài bức tranh là «le Seigneur enseignant dans le Temple» (Chúa dạy học trong Thánh-đường).
Đến tháng mười, thì bức tranh hoàn thành. Các giám định viên và nhân chứng thảy đều công nhận đúng là tuyệt tác, giá trị không thua mấy tranh giả tạo trước. Người họa sĩ có thiên tài mà không ai biết thưởng thức. Túng nước phải liều nay chúng bay sáng con mắt ra thì đã muộn. Thiên tài phải chịu tù, nhưng cao vọng cũng thỏa mãn.
Luật lệ xứ Hòa Lan rất chậm. Phải đợi hai năm nữa mới kết thành án. Tòa buộc V.M. về tội gì? Chỉ có một lần, V.M. có nói duy nhứt một câu: «A mon avis, ce ta-bleau est un-Vermeer ». (Theo ý kiến tôi, tranh này là đúng của Vermeer.) Nhưng bao nhiêu ấy kbông đủ yếu tố buộc tội. V.M. còn có nói những câu na ná như vầy: «Đày là một bức tranh. Các ông nghĩ sao? Định trả bao nhiêu giá tiền bức tranh ấy? » Cũng không đủ để kết án V.M. Sau rốt, tòa phải dựa theo mặt luật sẵn có, tuyên án hư vầy: «Vì mỗi tám bức tranh đều ký tên khi là Vermeer, khi là de Hooch, vậy Van Meegeren phạm tội giả mạo tám chữ ký: Một năm tù ở. »
Không nghe nhắc chuyện tranh giả tranh thiệt, chỉ nghe nói «giả mạo chữ
ký ». Đúng mười lăm ngày sau, V.M. lê chân đến hầu tòa cũng với vẽ thản nhiên của một người bị khuẩy rầy trong tuổi già bóng xế. Án tòa «một năm tù» là nể bị cáo, kém sức khỏe rõ rệt. Tuyên án rồi, tòa chưa cho lịnh bắt giam và cho phép V.M. về nhà đợi lịnh.
Chiều hôm nghe đọc án, về nhà, V.M. lên cơn đau tim dữ dội. Một tháng sau bịnh tái phát. Kỳ nầy ông tắt hơi luôn, chưa kịp thì hành án tòa. Sống làm chi nữa? Mà gượng sống để làm chi? Sống giữ tam tùng thì trọn đời làm con gánh nước, con đòi, con ở. Thây kệ, làm như người ta, mà một thuở lên xe, ở nhà lầu, rồi tới đâu hay tới đó. V.M. muốn lương thiện, mà cất đầu không nổi. Thà làm như đã làm, một thằng gian, mạo chữ ký, mà tiếng tăm chấn động hoàn cầu. Vermeer, de Hooch, hai ông với tôi, khác nhau chỗ nào?
Kết luận.
– Thế gian lắm sự bất công. Cũng thì một bức tranh, khi ký tên thật của mình là họa sĩ vô danh, thì thiên hạ chê nhiều khen ít. Bức tranh ấy, dưới góc nếu có chữ ký họa sĩ đại danh, thì thiên hạ đua nhau giành giựt.
Giữa kẻ mua người bán, nước văn minh, thường có người đứng trung gian đề thẩm định giá. Cố nhiên phải trả tiền công. Trong khi ấy, người chơi tranh cổ giả và người giả tranh cổ, mãi còn. Tranh mua rất mắc tiền. Đợi cho tác giả nổi danh, có lẽ người mua đã chết trước. Tranh rất bề bộn. Kén chổ treo và tranh cỡ Picasso mà treo dộng đầu, chỉ để cho người đời đàm tiếu. Lấy làm giẻ chùi thì tiếc, cất trên gác sợ chuột nó khoét. Không bằng đồ sành, đồ sứ. Gặp giả, tao lấy mày làm mẻ kho, tao nướng trên lửa nóng, cho cháy da xám mặt. Mầy rên sèo sèo, tiền mất mà tao có bài học khôn.
Cái làm chúng tôi khổ cực nhất trong thời gian ở tù là ĐÓI. Đói triền miên. Đói ngày đói đêm. Đói sáng đói chiều. Đói ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Ăn xong bữa ăn, chúng tôi ngẫm nghĩ không biết đã ăn chưa. Nếu chưa ăn sao mình lại rửa chén. Nếu ăn rồi sao bụng vẫn đói thế này.
QUY CHẾ
Theo quy chế, mỗi đầu người chúng tôi được hưởng khẩu phần là 15 ký gạo. Tiền mỗi tháng là 15$ cho lương thực và thực phẩm (tức là gạo cấp phát sẽ tính thành tiền để trừ vào số 15$ nầy). Ngoài ra, mỗi tháng mỗi người còn có 3$ để mua những thứ lặt vặt như khăn mặt, bản chải răng, xà-phòng, kem đánh răng, thuốc lá v.v…Cộng sản phân biệt hai chữ Lương Thực và Thực Phẩm: Lương thực là thức ăn chính để ăn cho no (chất bột) như gạo, bắp, khoai, sắn, mạch. Còn thực phẩm là thức ăn trong bữa cơm như thịt, cá, rau…Rau cũng được phân biệt rau thường (như rau muống, rau dền…) và rau cao cấp (như cải bắp, su hào…). Khi ăn độn, các loại lương thực nhu bắp, sắn, khoai, mạch, bột mì…đều được quy ra gạo theo những tiêu chuẩn định sẵn. Lâu quá, nay tôi không còn nhớ rõ các tiêu chuẩn nầy. Trước kia, tôi có ghi chép cả, nhất là trong cuộc đấu tranh cuối năm 1978, nhưng sau đó, các tài liệu đã bị tịch thu, và khi về thì tất cả các tài liệu ghi chép và sách in đều bị tịch thu cả, nên nay không còn nhớ chi tiết. Đại khái, bột mì và mạch chỉ được tính ngang với gạo. Sắn thì theo tiêu chuẩn 1 gạo 3 sắn. Ví dụ, mỗi ngày ăn 500g gạo, nếu hôm nào ăn sắn (khoai mì) thì ăn 1,500g sắn. Nhưng vào chi tiết thì còn nhiều rắc rối. Trong cuộc đấu tranh về vấn đề lương thực tại phân trại B, trại số 5 Thanh Hoá, chúng tôi phải đặt nhiều vấn đề (sẽ nói rõ trong mục nói về cuộc đấu tranh này). Chẳng hạn 1,500g sắn nhưng là sắn như thế nào. Ban đầu chúng cân cả những khúc sắn đã thành rễ, toàn là xơ cứng không thể nào ăn được, và cân xong mới lột vỏ. Ai cũng biết vỏ sắn dầy như thế nào và lột xong thì hao như thế nào. Mức độ nở của gạo khi nấu thành cơm là 2,2 đến 2,5. Nấu hấp kiểu cơm thố có thể lên tới 2,7 (tính trọng lượng, ví dụ nấu 200g gạo thì được 440g đến 500g cơm). Khoai sắn nấu không nở, và chất bổ kém, nên phải tính 1 gạo 3 sắn là vì thế. Hồi mới vào tù, chúng tôi chẳng bao giờ biết đến những con số nầy. Dân miền Nam ra miền Bắc, nghe nói chế độ 13 kí, 15 kí, 18 kí, chẳng biết là thế nào. Ở trong Nam có ai để ý là mỗi tháng đã ăn bao nhiêu ký đâu. Trong gia đình, đến bữa ăn cứ xúc gạo nấu, ăn no thì thôi, chứ có ai để ý gạo nở bao nhiệu, mỗi tháng bao nhiêu kí. Nhưng ra đến ngoài Bắc, trong thời gian đói khổ, ai cũng phải tính toán trong đầu từng hột cơm, từng hột gạo. Toán làm bếp cân đi cân lại để gạo theo nhà nước ấn định là như thế nào. Nhưng đó chỉ là quy chế. Phải nắm quy chế mới có thể đặt vấn đề với cán bộ. Quy chế đã chẳng khá gì, thực tế lại còn thê thảm hơn nhiều.
LƯƠNG THỰC
Trong khi các nước đều đã tiến đến chỗ ăn thịt, cá, rau và chỉ ăn rất ít chất bột như cơm, bánh mì, thì Cộng sản Việt Nam vẫn không giải quyết nổi vấn đề gạo, dù phải dùng cả sắn, khoai, bắp để quy ra gạo.
Trên nguyên tắc, chúng ấn định cho chúng tôi khẩu phần là 15 ký mỗi tháng. Với những người ăn uống đầy đủ hàng ngày có thịt, cá, có bơ sữa, thì 15 ký mỗi tháng thường là đủ rồi. Nhưng với chúng tôi thì khác. Có lúc chúng tôi chỉ ăn sắn với muối. Thông thường thì ăn sắn hoặc mạch với một chén canh nhỏ, canh rau nấu với muối. Bột ngọt cũng không có mà bỏ vào canh – cán bộ Cộng sản cho biết bột ngọt, mà chúng goi là mì chính, là tiêu chuẩn “bồi dưỡng” rồi đấy -, không dám nói đến tôm, cá, thịt. Ăn như vậy, mà đị làm lao động nặng, thì 15 ký mỗi người chẳng thấm vào đâu. Mà nào có phải 15 kí! và nào có phải là gạo!
Thỉnh thoảng có một bữa cơm. Trong cuộc đấu tranh năm 1978, chúng tôi đem xuống bếp cân thử lại cơm thì tính ra mỗi người, một bữa ăn chính chỉ được từ 350g đến 400g cơm. Mỗi ngày hai bữa ăn chính là 800g. Phần ăn sáng, nếu là ăn cơm, chỉ được nửa chén cơm nhỏ mỗi người, tính ra chỉ độ 50g đến 100g cơm. Trung bình mỗi ngày, nếu là ăn cơm, chúng tôi chỉ được chừng 800g hay khá lắm là 900g cơm, tức là tương ứng với chừng 350g đến 400g gạo. Như vậy tính ra chúng tôi chỉ được ăn khoảng từ 10 đến 12 ký gạo mỗi tháng chứ chẳng bao giờ đủ 15 ký cả.
Nhưng đây, vẫn còn là những tính toán có tính cách lý thuyết. Thực tế thì có mấy khi chúng tôi được ăn cơm đâu. Thời gian ở trại Quảng Ninh, chúng tôi được phát mỗi ngay hai bữa (không có ăn sáng), thường là bánh mì. Trại Quảng Ninh gần Hòn Gay là khu kỹ nghệ, được ưu tiên tiếp tế. Và năm ’77, ’78 các nước tự do có giúp đỡ nhiều bột mì, nên chúng tôi thường được ăn bột mì. Chúng tôi không biết mỗi chiếc bánh được làm bằng bao nhiêu grammes bột mì, nhung chúng tôi thấy là bữa chúng tôi phải ăn có ba cái bánh mới no được, trong khi chỉ được phát một cái.
Lúc đầu, trại Quảng Ninh có lò nướng bánh mì nên chúng tôi được ăn bánh mì nướng. Đến cuối năm 1977, lò nướng bánh mì bị hư, nên chỉ làm bánh bao hấp mà thôi (dĩ nhiên là bánh bao không có nhân). Mùa hè năm ’77 ở Quảng Ninh chúng tôi đã thấy là đói lắm rồi, và ai cũng sút ký ghê gớm. Trước khi đi ở tù, tôi cân được 66 ký lô, đến mùa hè năm ’77 ở Quảng Ninh, tôi chỉ còn 45 kí. Vậy mà khi đến vào Thanh Hóa, chúng tôi thấy trại Quảng Ninh hãy còn khá lắm. Trại số 5 Thanh Hóa mới là tồi tệ. Mùa đông năm 78 tại Thanh Hoá, tôi chỉ còn 40 kí. Ngay hồi ở Quảng Ninh, nhờ đợt tiếp tế nhân dịp 2-9-77, chúng cho gia đình chúng tôi gởi quà ra khá nhiều, phần đông nhận được từ 30 đến 50 ký thức ăn khô nên mới gượng lại được qua năm 78. Nếu không có đợt tiếp tế đó thì một số lớn chúng tôi đã qụy ngay từ cuối năm ’77 tại Quảng Ninh.
Tháng 8 năm 78, sợ Trung Cộng tấn công mà Quảng Ninh là tỉnh biên giới, chúng cho chúng tội vào Thanh Hoá. Mùa đông năm ’78 là thời kỳ đói nhất của chúng tôi. Phân trại B trại số 5 Thanh Hoá là nơi đểu cáng nhất trong vấn đề lương thực. Mấy tháng đầu, còn một ít bột mì, chúng phát cho chúng tôi cục bột luộc. Không có men dậy bột, toán làm bếp chỉ nhồi bột rồi bỏ vào chảo nước sôi mà luộc. Mỗi bữa chúng tôi nhận được cục bột luộc bằng nửa bàn tay, bề dày khoảng hai phân. Đây là khẩu phần bữa ăn chính, ăn để đi làm lao động đấy! Bột mì luộc ăn rất đói nhưng chất bổ còn khá. Hai thứ đáng sợ là sắn (khoai mì) và mạch.
Mạch là một loại hạt trông giống như bo bo, nhưng thực ra không phải bo bo. Có lẽ ở ngoại quốc người ta dùng cho ngựa ăn. Ở phân tại B trại số 5, mạch không sẩy ra, cứ để nguyên vỏ thế mà nấu. Mấy năm trong tù ăn uống thiếu thốn lại không hề được chữa răng, phần lớn đau răng cả, đến bữa cơm ngồi vừa nhai mạch vừa khóc. Mạch nấu cả vỏ cứng quá, không nhai thì không nuốt được, nhai thì đau răng đau nướu không chịu nổi. Dù có nhai kỷ, ăn vào bao nhiêu cũng đi tiêu cả ra bấy nhiêu, vì toàn là chất bã. Có lẽ dạ dày ngựa thì nó tiêu hóa nổi còn dạ dày người, ăn vào bao nhiêu nó tụt đi cả bấy nhiêu. Đi tiêu rất khoái, rất là thông suốt. Nhưng tiêu xong, trong bụng không còn một chút hơi, người không còn khí lực. Ăn mạch, chúng tôi vẫn nói với nhau “thức ăn dành cho súc vật, chúng đem cho mình ăn mà cho ăn đói chứ có phải đủ no đâu.”
Sắn thì ăn vừa đói vừa nặng bụng. Vẫn chẳng bao gìờ đủ no. Bữa ăn chính, đem chia ra mỗi người được vài khúc sắn. Có lúc chúng bắt nấu cả vỏ. Vỏ sắn có chất độc, ông bà tổ tiên chúng ta đã biết từ xưa, nên mỗi lần luộc sắn, ông bà chúng ta đều lột sạch vỏ sắn, có khi còn đem ngâm nước mấy tiếng đồng hồ rồi mới đem luộc. Còn bây giờ, với đám Cộng sản mà miệng vẫn nói “cuộc cách mạng kỷ thuật là then chốt” thì chúng để nguyên vỏ sắn mà luộc, luộc xong nước đỏ lòm, nhiều người đói quá ăn luôn cả vỏ, bị ngộ độc, ói mửa tiêu chảy tùm lum. Chúng tôi kêu ca thì chúng cho lột vỏ mới luộc, nhưng là lột vỏ sau khi cân, nên khẩu phần của chúng tôi lại càng thê thảm.
Mùa thu hoạch sắn, để sắn lâu thì bị hư, nên chúng bắt chúng tôi ăn sắn dài dài. Mùa đông ’78 ở phân trại B trại số 5 Thanh Hóa, thường chúng tôi phải ăn toàn sắn, một tuần chỉ chen vào chừng hai bữa mạch, có khi mười ngày, nửa tháng mới có một bát cơm hoặc bắp.
Lối ăn độn trong trại giam, không phải là nấu cơm trộn với bắp hay trộn với sắn đâu. Sắn cứ luộc nguyên củ rồi đem cả giỏ lên cho từng đội chúng tôi chia nhau. Bữa nào ăn sắn là toàn sắn, ăn mạch là toàn mạch, ăn bắp là toàn bắp. Lâu lắm mới có một bữa cơm, xúc muỗng cơm cho vào miệng, chưa kịp nhai thì như cơm bị dạ dày ở dưới vốn đói quá, hút tụt xuống cổ họng ngay. Muốn kéo dài bữa cơm, để kéo dài sự sung sướng, mà không kéo dài nổi. Chưa gì đã thấy hết cơm rồi. Và anh em lại bảo nhau: ‘‘Sao dường như cơm nó đi đâu mất rồi, nó không ghé lại dạ dày lâu lâu một chút cho mình có cảm tưởng no. Dường như vừa vào miệng nó đã tụt xuống dạ dày, vừa đến dạ dày, nó lại tan biến đi đâu mất.”
Chỉ có sắn là có vẻ ghé lại trong ruột khá lâu.
Ăn sắn cả tuần, dạ dày tuy vẫn đói mà ruột thì lại cứ nằng nặng, trì trì. Đi tiêu xong, thấy ruột vẫn cứ nằng nặng. Nhưng vẫn đói và vẫn mong phát sắn nhiều một chút – đàng nào cũng phải ăn sắn thì vẫn mong cho có sắn đủ no -, nhưng vẫn không bao giờ được phát nhiều, không bao giờ được ăn no, trừ ra ba bữa Tết. Ôi, sao một năm lại chỉ có một lần Tết. Mà Tết Cộng sản nó chỉ cho ăn đến mùng hai thôi. Mùng ba lại phải lao động, và ăn bình thường, nghĩa là ăn đói rồi!
HỤI CƠM, HỤI SẮN
Đói quá, chúng tôi cứ loay hoay tính toán cách ăn. Ông bà ta có nói ”khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Vậy phải tìm cách ăn thế nào cho “khéo”.
Ở Quảng Ninh, chúng phát hai bữa ăn, có người chia làm bốn bữa. Hai cái bánh mì, mỗi lần chỉ ăn nửa cái thôi. Nửa cái lúc sáng thức dậy, nửa cái buổi trưa, nửa cái buổi chiều, nửa cái trước khi đi ngủ. Trước khi đi ngủ, ăn nửa cái bánh mì là để cho bụng đỡ cồn cào, dễ ngủ. Nhưng rồi thấy không ổn, vì lúc ăn đã chẳng ra gì mà rồi lúc nào cũng đói. Bèn thay đổi cách ăn. Mỗi bữa ăn, ăn ba phần tư cái bánh mì. Góp lại hai cái một phần tư mỗi bữa. Thì có được nửa cái bánh mì ăn sáng. Ăn kiểu nầy thì tối đi ngủ rất khó vì chưa ngủ được bụng đã đói cồn cào, nằm trăn trở tưởng tượng củ sắn củ khoai mà thở dài.
Lại có người chủ trương nó phát lúc nào ăn lúc ấy. Đại diện cho môn phái nầy là anh Trạng Khanh Hưng, trước là Trung tá. Anh Hưng chủ trương rằng lúc nào cũng đói thì bất cứ lúc nào nó phát cái gì là cho hết vào bụng ngay, càng sớm càng tốt, không cần tính toán gì cả. Vì thế khi nó phát canh trước thì anh cầm chén canh húp luôn, hết sạch. Rồi đến khi phát bánh mì, hay cơm, hay mạch, anh chỉ ăn trơn như thế. Anh bảo một chén canh tí-tẻo như thế thì ra cái gì mà đợi ăn với bánh mì. Cứ húp luôn cho nó tiện việc. Đói thế này thì cơm lạt ăn mấy tô cũng hết, cần gì thức ăn. Ăn kiểu này khỏi phải cất để dành nhưng buổi sáng rất đói. Nhất là sáng mùa đông xứ Bắc, trời rét căm căm, thức dậy không ăn sáng đi chân đất làm lao động cho tới trưa. Đó là ở trại Quảng Ninh.
Trại Thanh Hóa thì có phát ăn sáng nhưng lại trừ vào phần ăn trưa và ăn tối.
Rốt cuộc ăn kiểu nào cũng đói. Hôm nay đói, ngày mai cũng đói. Tháng giêng đói, tháng hai cũng đói. Năm ’77 đói, ’78 cũng đói. Chao ôi, đói liên miên như thế mới có thể biết được cái đói nó khổ sở như thế nào, nó dằn vặt con người như thế nào.
Chúng tôi lại “phát huy sáng kiến” về cách ăn. Chúng tôi bày ra trò hụi cơm, hụi sắn. Thời gian sau đợt đấu tranh tại trại số 5 Thanh Hóa, sang đầu năm ’79, có lúc chúng cho ăn liên tiếp được hai tuần lễ cơm trắng, buổi sáng ăn sắn. Tuy khẩu phần không gia tăng, nhưng được ăn cơm liên tiếp hai tuần là chuyện hi hữu ắm. Khẩu phần không gia tăng nên chúng tôi vẫn đói. Để đánh lừa dạ dày, chúng tôi chơi hụi cơm, hụi sắn.
Nhóm ăn của chúng tôi có năm người. Mỗi bữa, mỗi người xúc một muỗng cơm trong phần cơm của mình để sang phần cơm của người “hốt hụi”. Mỗi bữa có bốn người bớt chút cơm nhưng có một người thêm đưoc bốn muỗng cơm. Chao ôi bốn muỗng, nhìn ca cơm đầy hơn mỗi ngày, trong lòng sung sướng làm sao! Nhưng bữa khác lại phải trả nợ.
Còn hụi sắn thì thường chơi trong vòng ba người thôi. Một hụi gồm những người láng giềng, nằm kế tôi là nhóm ba người gồm Nguyễn Xuân Liêm (trước từng làm Tổng Giám đốc Công vụ), Trần Ngọc Diên (trước là Sứ thần Ngoại giao ở Washington D.C.), và Khổng Vĩnh Thành (trước là Chủ Tịch Hội đồng Thị xã Đà Lạt). Mỗi người luân phiên nhịn hai bữa sáng thì có một bữa sáng “huy hoàng” ăn cả ba phần. Bữa sáng có ba phần sắn tuy không no, nhung thế cũng sung sướng lắm rồi. Nhưng hai bữa sáng kia thì nằm co nhịn đói, uống nước lã.
Chao ơi, ông bà ta nói “khéo ăn thì no” mà sao sống với Cộng sản, tính toán trăm phương nghìn cách để thực hiện chữ “‘khéo ăn” vẫn cứ đói. Ông bà ta hồi trưóc có ngờ đâu Cộng sản nó lại ấn định khẩu phần ăn tồi tệ đến thế. Ngày xưa, tuy kinh tế còn lạc hậu, ông bà ta dù có thiếu thốn cũng có thể “khéo ăn thì no”. Đến khi cái thứ Cộng sản nắm chính quyền, miệng nói giải phóng, nói sản xuất, nói tiến bộ, nói của cải dư dùng, mà sao, phải ăn thức ăn của súc vật mà vẫn thiếu, và thiếu quá, thiếu đến nổi chúng tôi có tính toán cách ăn như thế nào thì chung quy vẫn đói, đói triền miên, đói kinh hoàng, nếu không có gia đình gởi thêm thực phẩm thì chắc chắn hầu hết chúng tôi đã gục ngã trong cái trại khổ sai Miền Bắc rồi.
THỰC PHẨM
Tôi dùng chữ thực phẩm theo nghĩa Cộng sản dùng, tức là những thức ăn để ăn với cơm (hay với sắn, mạch, bánh mì…)
Tùy theo mùa rau, có rau gì ăn rau nấy. Mùa hè ăn rau muống, mùa đông ăn rau cải. Khi thiếu hụt thì ăn muối. Canh sắn, canh khoai lang được coi như “huy hoàng” lắm, vì có tác dụng đỡ đói một chút. Canh toàn rau với muối. Sáng rau muống nước muối, chiều nước muối rau muống.
Rau là của tù nhân trồng. Thu hoạch rau đem về nhà bếp, đem cân rồi tính thành tiền.Tiền ấy là gì? Đó là tiền 15$ hằng tháng của mỗi tù nhân, dùng để trả tiền rau đó. Cho nên nhà nước Cộng sản , tiếng là quy định mỗi tháng chi tiêu cho một tù nhân 15$, nhưng không phải chi tiêu gì. Tiền đó để mua rau, mua sắn. Mà rau, sắn, cả lúa gạo nữa, cũng đều do tù nhân trồng trọt làm ra. Ngoài ra tù nhân lại còn đập đá, sản xuất đá dăm, đá ong, đục gạch, làm lò rèn v.v… Tiền bán những thứ nầy được bao nhiêu, không tên tù nào được biết. Trước kia ngay cả số tiền 15$ hằng tháng, chúng tôi cũng đâu có biết. Đấu tranh, hỏi mãi mới được “bật mí” ra. Thì hóa ra, tiền 15$ chỉ là động tác kế toán mà thôi, chứ không phải nhà nước chi tiêu cho tù nhân. Hơn nữa, nó lại có tác dụng có giới hạn số lượng thực phẩm. Có lúc mấy đội trồng rau trồng có kết quả nhiều, thì trái lại, gọi người ngoài, gọi các đơn vị quân đội đến, bán bớt đi. Cán bộ giải thích rằng tiêu chuẩn chỉ có 15$ mỗi tháng không đủ tiền mua hết số rau về nhà bếp. Ấy thế, mình sản xuất ra là sản xuất cho nhà nước, còn tiêu chuẩn ăn do nhà nước ấn định là việc khác.
Ăn thì vẫn đói, sản xuất thì phải cho nhiều để ban Giám thị tổng kết, báo cáo lên Cục Trại Giam rằng trại đã làm lợi cho nhà nước bao nhiêu tiền. Một mặt thì nhà nước vẫn kể công rằng phải chi cho mỗi người một tháng 15$! Ơn Bác ơn Đảng mới có mà ăn đấy! Đảng cho ăn mức nào thì ăn mức ấy, chỉ có thể sụt xuống, chứ không thể tăng lên. Khi nào thiếu rau, ăn muối, thì bảo là “tại các anh lao động kém, không đủ rau”. Nhưng khi sản xuất nhiều thì nhà nước đem bán đi, vì “không thể ăn quá tiêu chuẩn được”. Mà tiêu chuẩn có phải nhiều nhặng gì cho cam. Mỗi người chỉ có một chén canh rau với muối.
Thế mà đói quá, ăn chén canh rau với muối cũng thấy ngon lạ lùng. Ỏ nhà, nếu vợ nấu canh rau muống bỏ muối thôi, không có chút bột ngọt, không có chút thịt cá, và ăn với khoai mì, thì chắc người chồng nào cũng cự nự vợ. Trước ngày sụp đổ 30-4-75, chỗ góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ, Sàigòn, có người bán khoai mì hấp, rắc dừa, lá dứa thơm phức, mua 50$ (tiền cũ) về ăn no không hết, mà có ai mua đâu. Nay đi ở tù xứ Bắc Việt, Cộng sản nó cho ăn canh rau nấu muối, ăn với khoai mì, mà sao ngồi ăn thấy ngon đến mê mẩn. Ăn cái gì cũng ngon, chỉ có thiếu lượng chứ không ai cần đến phẩm chất. Đọc sách báo của Cộng sản , chúng luôn luôn tự đề cao, rằng chế độ xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là hơn hẳn. Quá đúng, chỉ có dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Mác Xít – Lê Nin Nít, ăn khoai sắn mới thấy ngon đến thế. Khoai lang, khoai mì, canh rau nấu muối là những thứ mà trong chế độ tự do chẳng ai thèm ăn thì trong chế độ Cộng sản , người ta ăn thấy ngon đến mê mẩn. Hơn hẳn là thế đấy!
Hồi ở phòng số 4 trại Quảng Ninh, mùa hè năm ’77, chúng tôi có trồng riêng cho đội trên miếng đất nhỏ phía sau phòng giam mấy cây ớt, mấy cây cà chua. Vì canh nhà bếp phát ít quá, thỉnh thoảng có người bứt vài nhánh đọt ớt đem nấu canh, thấy ăn được. Còn mấy cây cà chua, vì không ra trái, đội quyết định nhổ đi để lấy chỗ trồng ớt. Tôi cùng với Lê Thanh Châu (trước là Tổng Giám đốc Khai Hoang Lập Ấp), Tranh Chánh Nhựt (Chủ tịch đảng Dân chủ, quận bộ Bình Chánh) và Nguyễn Ngọc Xuân (Thiếu Tá) bàn nhau lấy lá và đọt cà chua nấu canh. Nấu xong, chúng tôi múc được mỗi người một lon guigoz và hân hoan nói với nhau rằng hôm nay được bữa canh ăn no. Nhưng đến khi ăn được phân nửa, chúng tôi đứa nào cũng thấy buôn nôn, đau đầu. Bèn thôi không dám ăn tiếp. Thế mà cũng khó chịu trong người cả ngày hôm ấy. Sau đọc trong một cuốn sách Đông-y, mới biết rằng lá ớt thì ăn được và có thể trị lải kim, còn lá cà chua thì có chất độc, ăn nhiều bị ngộ độc nguy hiểm.
Nói cho đúng, lâu lâu cũng có một bữa thịt. Cả trại cả ngàn tù (kể cả tù hình sự), làm một con heo chừng bảy, tám mươi kí. Đó là heo sống. Làm thịt ra thì được chừng 40, 50 ký thịt, tính ra mỗi người được 50 grammes. Xương và lòng bỏ vào nấu canh, thịt thì đem kho. Chao ôi, buổi sáng ra đi làm lao động khổ sai mà thấy nhà bếp đi bắt con lợn về, là cả buổi lao động chỉ mơ tưởng miếng thịt lợn. Mỗi người được một miếng thịt kho nhỏ chụt, ngồi ngậm mãi mới dám cắn một miếng nhỏ, chỉ sợ nó hết. Nhưng cũng như cơm, nó hết quá nhanh chóng. Mới cho vào miệng, nó đã tụt vào cổ họng rồi tan biến mất tiêu. Thế là hết bữa thịt, và lại bắt đầu mơ tưởng thịt.
Khoảng cách thời gian giữa hai bữa thịt là tùy mỗi giai đoạn. Hồi mới ra Quảng Ninh, tuần nào cũng có. Qua năm ’77, suốt mấy tháng hè, chỉ được ăn bữa thịt 1 tháng 5 (Lễ Lao Động), rồi ăn chay mải cho đến bữa thịt 2 tháng 9 (Quốc khánh Cộng sản Bắc Việt), tính ra đến bốn tháng. Thời gian ở Thanh Hóa thì chừng một tháng một lần, có khi hai tháng một lần. Sau cuộc đấu tranh cuối năm ’78, qua năm ’79 một mặt chúng đàn áp, giam kỷ luật, cùm chân, bắt lao động nặng hơn, nhưng cũng có cho ăn thịt khá hơn, có khi mỗi tháng được hai lần.
Hơn ba năm trong trại giam ở Bắc Viêt, tôi được ăn trứng bốn lần, mỗi lần mỗi người một quả trứng vịt luộc. Cầm quả trứng vịt luộc trong tay, cứ hít nó mải mà không dám ăn, vì thấy quý quá. Trứng vịt ở Miền Bắc nhỏ hơn trứng gà Mỹ trong Nam. Ở cái xứ đói thì vịt cũng đâu có gì mà ăn, làm sao đẻ trứng lớn cho được.
Mỗi lần ăn trứng, ăn thịt, số tiền 15$ dành cho lương thực và thực phẩm lại bị hụt đi vì cán bộ bảo là mua ở các hợp tác xã không có, phải mua ngoài theo giá tự do (tức là giá chợ đen). Tiền hụt thì lại phải bớt rau đi, dù có trồng rau được nhiều cũng phải ăn muối để khỏi quá tiêu chuẩn.
3$ TIÊU VẶT và TIỀN LƯU KÝ
Mỗi tháng chúng tôi có được ngân khoản 3$ mỗi người để mua những thứ lặt vặt cần dùng. Tuy nhiên không phải ai muốn mua gì thì mua. Tiền do trại quản lý, mỗi tháng trại thấy thứ gì mua được thì mua để cấp phát. Thường được cấp phát nhất là thuốc lào. Người không hút cũng được cấp, như thế gọi là “phân phối công bằng xã hội chủ nghĩa”. Thỉnh thoảng có cấp bột giặt. Lâu lâu có phát mỗi người 200g đường. Tiêu chuẩn đường là mỗi tháng 200g đấy, nhưng không bao giờ chúng tôi được nhận đủ. Hồi ở Quảng Ninh, mỗi tháng có cho ăn một lần chè ngọt, cũng có tháng không có. Và mỗi lần nấu chè, tính theo mức độ ngọt của chè, chúng tôi ước lượng mỗi người chỉ được độ 50 đến 100g đường. Thỉnh thoảng, chúng tôi có nấu chè bằng đường của gia đình gởi ra nên chúng tôi có kinh nghiệm trong việc tính toán số đường. Vào đến Thanh Hóa, không có ăn chè, nhưng vài ba tháng có phát đường một lần. Trước cuộc đấu tranh năm ’78 thì số đường phát ra thiếu rất nhiều, vài ba tháng mới phát mỗi người được 100 đến 150g. Qua năm ’79, sau cuộc đấu tranh, trung bình chừng ba tháng chúng tôi được phát mỗi lần khoảng từ 200 đến 300g mỗi người. Tưởng nên nhắc lại rằng, trước kia, tại các Trung Tâm Cải Huấn của ta, buổi sáng, thường ăn cháo với đường, nên không ai bị thiếu chất ngọt.
Tiền riêng của chúng tôi do gia đình gởi ra thì chúng tôi không được giữ mà phải nộp lưu ký. Ban Tài chánh của trại có cấp cho mỗi người một phiếu lưu ký có ghi số tiền gởi. Đồng hồ, nhẫn, và các thứ quý vật cũng phải gởi lưu ký. Quần áo riêng của mình cũng phải đóng dấu, sơn chữ vào. Mục đích của các biện pháp nầy là để chúng tôi có trốn trại thì tiền bạc không có, quần áo rõ ràng là thằng tù, không thể giả dạng thường dân mà di chuyển được.
Trên nguyên tắc, chúng tôi có thể xin rút tiền lưu ký để mua những thứ cần dùng. Nhưng thực tế thì không mấy khi chúng tôi được rút tiền. Một năm chỉ được rút tiền một hai lần. Tất nhiên chúng tôi chỉ được nhận hàng thôi. Chúng tôi luôn luôn xin mua thức ăn: đường, mít, khoai lang, khoai mì, bánh kẹo… mua giùm chúng tôi, vì đi mua như thế (luôn luôn mua gía chợ đen) cũng có được tý chút. Nhưng quả thật Miền Bắc không có gì để mua, mặc dầu chúng tôi sẵn sàng chấp nhận bất cứ giá mua mắc mỏ như thế nào. Và các trại giam dầu ở vùng núi rừng hẻo lánh, xe cộ di chuyển rất là thiếu thốn, nên càng chẳng có gì để mua. Hơn ba năm ở Miền Bắc tôi tiêu chưa đến 100$, đó là đã trả tiền giùm cho nhiều anh em không có tiền trong những đợt cho mua hàng. Tiền riêng cho cá nhân tôi thì chỉ độ $50. Tiền có đấy, mà đành chịu đói khi gia đình không gởi quà ra được.
Mùa đông năm ’78, tôi chỉ còn 40 kí, (so với trước khi vào tù là 66 kí) đúng là da bọc xương (tôi cao 1.70 m). Những người nhỏ nhắn, ăn ít thì còn đỡ sụt kí. Những người cao to như anh Nguyễn Đình Xương chẳng hạn (trước là Tổng Quản trị Phủ Tổng Thống), nay chỉ còn da bọc lấy xương, trông thật thê thảm. Nhưng phía chúng tôi vẫn còn khá hơn phía tù hình sự. Tù hình sự, mà gia đình họ cũng đói kém vì đời sống xã hội Miền Bắc là đói kém, chẳng thể nhận được quà của gia đình khá nhiều như chúng tôi, nên hầu hết đều gầy đói thảm thương. Tôi đã thấy trong bệnh xá phân trại B trại số 5 Thanh Hóa những người tù hình sự trông như những bộ xương bò sang khu chúng tôi tìm kiếm vỏ khoai trong các đống rác. Nhưng vỏ khoai cũng chẳng mấy khi kiếm được. Chỉ có những ông già bên phía chúng tôi mà suốt đời chẳng bao giờ ăn khoai cả vỏ và nhất định “giấy rách vẫn giữ lấy lề” mới có đủ can đảm bóc vỏ khoai cho vào đống rác. Còn hầu hết chúng tôi đều ăn khoai cả vỏ. Bụng không có chút hơi, người không còn khí lực, một chút vỏ khoai cũng qúy giá vô ngần. Cộng sản chê tư bản là dùng tiền bạc để mua chuộc sai khiến con người. Nhưng dù sao thì tư bản có dùng tiền bạc cũng là để dẫn dụ những người đã ăn no rồi mà còn thích rượu ngon gái đẹp nhà lầu xe hơi. Còn Cộng sản thì nắm ngay bao tử con người, để cho người ta đói đến mức cái vỏ khoai cũng qúy, muốn có cái vỏ khoai để ăn cũng phải chịu cho Bác và Đảng sai khiến, và phải luôn miệng “ơn Bác ơn Đảng” để được ăn khoai sắn cả vỏ mà bụng vẫn luôn luôn đói, người vẫn luôn luôn gầy, đời sống vẫn luôn luôn là nô lệ thôi.
Hà Ngọc Thuần sinh năm 1940 tại Hà Nội, di cư vào Nam 1954, Trung Học Chu Văn An, Sài Gòn. Tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn 1966, trong ban biên tập báo SVYK Tình Thương, Khóa 13 Quân Y Hiện dịch, phục vụ qua các đơn vị: Đại đội 11 Lựa Thương, Quân Y Viện Tây Ninh, Viện Bài Lao Ngô Quyền, đơn vị cuối cùng là Tổng Y Viện Cộng Hòa. 1975 di tản bằng tàu qua Subic, Guam, chọn định cư Úc Châu, hành nghề Y khoa và hiện sống ở Brisbane.
Người Thư Sinh Muôn Thuở.
Sau 50 Năm Nhớ Về Nghiêm Sỹ Tuấn
A book is a bit like an iceberg. The author’s name is on the cover, but ninety percent is below the surface, with the names of many others who deserve credit.
Michael Ruse; Darwinism and Its Discontents -2006
1.
Nghiêm Sỹ Tuấn sanh năm 1937, vào một ngày đầu năm. Tính theo âm lịch Anh thuộc tuổi Bính Tý, tuổi con Chuột, không phải năm Đinh Sửu, tuổi con Trâu, như những người sanh sau ngày Tết Nguyên Đán. Sau này khi viết văn Anh lấy bút hiệu là Yển Thử. Thử là Con chuột. Nhưng khi hỏi Anh là Yển Thử có ý nghĩa đặc
biệt nào và vì lý do nào Anh lại chọn bút hiệu đó, thì Anh chỉ cười mà không giải đáp. Lẽ cố nhiên chúng ta phải biết hai chữ yển và thử này viết sang chữ Hán như thế nào thì mới có thể nói chuyện tìm kiếm trong tự điển Đào Duy Anh hay tự điển Thiều Chửu. Đây là một bí mật mà Anh đã mang theo về bên kia thế giới. Quý vị thông thạo chữ Hán có thể đoán biết được, nhưng dù có đoán đúng chăng nữa cũng chỉ là “đoán” mà thôi.
Sau này tôi, Hà Ngọc Thuần, người viết bài này, được kể như một người bạn thân trong số những người bạn thân của Anh, định cư tại Úc Đại Lợi là xứ sở của những con Kangaroo. Kangaroo, tiếng Việt, hay tiếng Hán Việt, dịch là đại thử. Tôi không đủ kiến thức khoa học để biết con chuột và con Kangaroo giống nhau hay khác nhau như thế nào, nhưng nói một cách đại khái thì con Kangaroo lớn lắm và hình thù như thấy trong tranh ảnh thì có hơi giống con Chuột một phần nào nên gọi nó là đại thử thì thật là phải.
Nhưng cũng mới sau này, một người bạn khác là ông Đỗ Thông Minh, gốc là người Việt Nam nhưng cư ngụ tại Nhật đã lâu năm, có soạn từ điển Việt Nhật – Nhật Việt song ngữ, rất lớn, cho biết “đại” ở đây là “cái túi”, không phải là “lớn”; phải là người có biết đọc chữ Hán mới phân biệt được. Đại thử, như vậy không phải là một bí mật, như là “yển thử” nói trên, mà là một điều lầm lẫn mà nhiều người (trong số đó có tôi) đã phạm. Cũng tại chúng ta đã quen dùng chữ abc cũng gọi là “quốc ngữ”, mà không còn dùng chữ Hán như người Nhật vẫn còn dùng một số kanji xen lẫn với chữ viết của họ. Sách học tiếng Nhật có tới 2000 chữ Hán hay kanji (Hán tự), hay nhiều hơn thế.
Quý bạn đọc tới đây xin đừng mất kiên nhẫn; xin đọc tiếp tục. Sau đây tôi sẽ cho biết Nghiêm Sỹ Tuấn là nhà Nho học hay Hán học, có thể là cỡ lớn nếu giờ này Anh còn sống trên trần gian. Tôi nghĩ là nói quanh co về mấy chữ Hán này là nhập đề rất thích hợp để mở đầu một bài tưởng niệm Nghiêm Sỹ Tuấn. Và nếu còn sống
Anh đã nói cho tôi biết thế nào là yển thử, thế nào là đại thử, vân vân …
2.
Nghiêm Sỹ Tuấn học chữ Hán có thể từ ông nội, hoặc có thể từ ông ngoại. Có thể cả hai Cụ là những nho sinh đã dự kỳ thi cuối cùng tại Nam Định năm 1915, như Nguyễn Tuân đã tả trong Vang Bóng Một Thời, nhưng có thể là đã không đỗ, và 30 năm sau, năm 1945, vẫn còn sống trong thanh bạch, vẫn còn nhớ chữ Hán, vẫn còn thương chữ Hán, vẫn còn muốn dạy chữ Hán và môn sinh chẳng ai khác lạ hơn là cậu cháu trai đầu lòng Nghiêm Sỹ Tuấn. Trước năm 1954 những ngày còn ở Hà Nội, tôi không có dịp đến nhà Anh; sau này những ngày ở Sài Gòn, tôi có dịp lại thăm Anh luôn, có khi ngồi nói chuyện rất lâu, nhưng không bao giờ thấy bóng dáng Cụ Nội hay Cụ Ngoại. Gia đình Anh theo Công Giáo, hay Ky Tô Giáo, nên không có bàn thờ tổ tiên ở giữa nhà và cũng không có hình ảnh treo trên tường. Tôi không thể biết được Cụ đã dạy ra sao, Anh đã học ra sao, nhưng chỉ biết là Anh khá giỏi, có thể là rất giỏi. Khoảng năm 1963-1964 Anh đã thông-thạo Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Nam Hoa Kinh của Trang Tử và Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung … qua bản chữ Hán và đã nhiều lần chỉ cho tôi những chỗ sai lầm của Từ Điển Đào Duy Anh.
Cố nhiên tôi rất lấy làm sợ hãi. Những sách vở đương thời nói về Lão Trang, Anh coi như không đáng đọc (!). Tôi càng lấy làm sợ hãi bội phần. Hai bản dịch của Nhượng Tống, cuốn Nam Hoa Kinh vừa nói trên và cuốn Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ thì gần như là Anh thuộc nằm lòng. Riêng cuốn Kinh Thư, bản dịch cũng của Nhượng Tống, thì Anh cũng công nhận là dịch chưa thoát với rất nhiều chỗ khó hiểu.
3.
Thân-phụ của Anh là Ông Nghiêm Sỹ Phụng, tên của Bà Thân mẫu thì tôi không biết. Cả hai vị tôi ít có khi gặp, nhưng đều có vẻ hòa nhã mà nghiêm trang. Hai Ông Bà không có dịp nào trực tiếp nói chuyện với tôi một vài câu, nhưng cũng có thái độ quý mến vui vẻ.
Ông Nghiêm Sỹ Phụng làm việc tại một cơ quan của Mỹ nhưng lương bổng không nhiều. Gia-đình có liên hệ bà con xa với Ông Nghiêm Văn Trí, nguyên Tổng Trưởng Quốc Phòng trong Chính Phủ Nguyễn Văn Tâm từ ngày 06.06.1952 đến 08.01.1953. Năm 1954 khi di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn, gia đình của Tuấn có cư ngụ tạm một thời gian tại nhà riêng của Ông Nghiêm Văn Trí tại đường Hai Bà Trưng (đường Paul Blanchy cũ), Sài Gòn. Theo Tuấn cho biết, trong gia đình của Ông Nghiêm Văn Trí này, dù là ở nhà, trong mọi trường hợp mọi người đều luôn luôn nói tiếng Pháp. Chắc là một người thành đạt trong xã hội Nam kỳ, nhưng thành tích chính trị không ai được rõ. Sách báo cũng ít có tài liệu về chính khách Nghiêm Văn Trí.
4.
Nghiêm Sỹ Tuấn là Anh lớn của chừng 10 anh chị em, tôi không biết hết, trừ người em trai sát với Tuấn, học sau chúng tôi một hay hai lớp, tên là Nghiêm Sỹ Anh. Sau này tôi đã trao lại cuốn Nhật ký của Tuấn cho Nghiêm Sỹ Anh, vào khoảng năm 1972 hay 1973. Cuốn này tôi nhận được từ Bác Sĩ Lê Văn Châu, là Thi Sĩ
Trang Châu, Khóa 12 sinh viên Quân Y hiện dịch, y sĩ thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù. Cũng Bác Sĩ Lê Văn Châu năm 2017 khi tái-bản tác phẩm đầu tay “Y Sĩ Tiền Tuyến” tại Canada đã gửi tới Úc Châu một bản cho tôi vì tôi, 50 năm xưa, đã là bạn thân của Nghiêm Sỹ Tuấn.
Tuấn có tài khéo về thủ-công, một năm hai lần làm đèn ngôi sao cho các em vào dịp Tết Trung Thu và Lễ Sinh Nhật. Có một năm Anh dùng bìa cứng cắt hình Chúa Hài Đồng trong cảnh tượng Hang Bê-Lem, đèn nến sáng trưng, rất ấm cúng và đẹp mắt. Nguyễn Tuân tả một cảnh thu muộn trong “Vang Bóng Một Thời” có lẽ cũng chỉ đẹp đến thế.
5.
Chúng tôi cùng học 3 năm tại trường Trung Học Nguyễn Trãi Hà Nội 1951-1954 và 3 năm tại trường Trung Học Chu Văn An Sài gòn 1955-1958. Riêng năm 1954-1955 Tuấn học trường Nguyễn Trãi Sài Gòn, còn tôi chuyển sang trường Trần Lục (học nhờ trường Tiểu Học Nguyễn Đình Chiểu tại Tân Định) cho gần nhà. Chính nhờ vậy mà được học Việt Văn với Thầy Doãn Quốc Sỹ (sau này Thầy trở thành nhà văn nổi tiếng tại miền Nam) và tôi đã học được nhiều từ Thầy Doãn Quốc Sỹ. Dường như chỉ khi học lớp Đệ Ngũ B4 và lớp Đệ Nhất B3 là Tuấn và tôi học cùng lớp.
Sức học của Anh đều đặn về đủ các môn. Việc học của Anh bị gián đoạn, như trường hợp những người cùng lứa tuổi, vì cuộc chiến khởi đầu ngày 19.12.1946 và cuộc tản cư trước đó. Đáng lẽ Anh phải học trên tôi ba lớp. Bởi vậy, thái độ của Anh có cái vẻ điềm đạm của một người lớn tuổi không ganh đua với lớp sau. Tuy nhiên cho đến khi học hết hai phần Tú tài, Tuấn không có đậu Ưu hay Bình và cũng không bao giờ nộp đơn xin du học tại Mỹ, Âu Châu hay Úc Châu. Việc Anh chọn Y Khoa với học trình 7 năm cũng là một ngạc nhiên; đáng lẽ Anh phải chọn một ngành với học trình ngắn hơn, để sớm đi làm có tiền lương giúp đỡ Bố Mẹ, nuôi các em. Gia đình và cá nhân của Tuấn có những điều tôi không thể biết mà cũng không nên hỏi để bắt buộc Anh phải giải thích. Những người bạn của Tuấn tôi cũng không biết hết. Có lẽ trong số đó có Nguyễn Thanh Giản, em trai của Bác Sĩ Nguyễn Thanh Giá. Giản cũng là người kín đáo ít nói, sau này cũng có làm thơ và viết văn và từng đảm nhiệm chức vụ Chủ Tịch Hội Văn Bút tại Hoa Kỳ. Theo bạn Giản thì người bạn thân hơn cả của Tuấn là một anh bạn tên Mậu, tôi không nhớ rõ họ. Anh Mậu này cùng học trường Trần Lục năm 1954-1955 nên tôi cũng có biết chút ít; tuy khác lớp (đệ tứ) nhưng Anh Mậu là Trưởng Lớp và có hoạt động trong trường. Tuấn và Mậu gặp nhau ở lớp Đệ Tam B6 trường Chu Văn An và cùng là người Công-giáo. Cùng một đức tin, có lẽ hai anh Mậu và Tuấn có những trao đổi trong những ý kiến, những quan niệm hay những nhận định, khác biệt với những anh em khác.
6.
Anh học 7 năm Y khoa không vấp váp; với sức học của Anh có lẽ Anh có thể trúng tuyển nhưng Anh không dự kỳ thi nội trú bệnh viện. Trong những bạn cùng khóa từ Trung Học Chu Văn An thì Nguyễn Hoàng Hải là người thành công nhất trong y nghệ. Nguyễn Hoàng Hải thi đậu nội-trú, trở thành y sĩ giải phẫu, được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng Bệnh Viện 2 Dã Chiến và tới cuối năm 1974 được thăng cấp Y Sĩ Trung Tá hoàn toàn nhờ khả năng, công lao và thành tích của một người Quân Y Sĩ.
Cho đến giữa năm 1965, lúc đã chấm dứt học trình 7 năm, dường như Tuấn cũng chưa được Thầy nào bảo trợ đề tài Luận án Tiến sĩ Quốc Gia. Chuyện đó càng khó khăn hơn khi Anh đã “ra trường” và bận rộn với đời lính chiến. Những bạn lớp sau kể từ 1965 trở về sau được hưởng ít nhiều dễ dãi hơn, vì quả thật số sinh viên hoàn tất học trình tăng lên rất nhiều trong khi thành phần giảng huấn không thay đổi.
Trong thời sinh viên, Anh có xin học bổng của Bộ Y Tế và cũng có chút tiền mua sách. Năm thứ nhất Anh mua một bộ Anatomie của Testut; mấy năm sau Anh mua một bộ Pratique Neurologique mà soạn giả là một bậc Thầy của ngành Neurologie của Pháp. Anh không có ý thích hay ý hướng hẳn về một bộ môn nào, nhưng rất thán phục Thầy Trần Quang Đệ khi Thầy giảng dạy bài le Péritoine (Phúc Mô) và Thầy Đặng Văn Chiếu với bài LCR liquide céphalo-rachidien (Dịch Não Tủy) coi như những bài giảng tuyệt vời trong y học mà Anh đã nhận được trong thời sinh viên.
7.
Ngoài Việt ngữ, Pháp ngữ, Anh ngữ và chữ Hán, Tuấn học thêm Đức ngữ và tiếng La Tinh. Đức ngữ thì cố nhiên là học theo cuốn “Deutsche Sprachlehre fur Auslander” của Schultz & Griesbach; Anh đã học xong cuốn bìa xanh là cuốn cao cấp hơn, trong khi tôi còn lúng túng với cuốn bìa tím trình độ thấp hơn tuy cùng là Grundstufe. Còn tiếng La-tinh tôi không biết Tuấn học theo sách nào. Anh có đọc cuốn Éthique của Spinoza, bản La-tinh Pháp ngữ đối chiếu của Charles Appuhn. Sau 1975 tại Úc tôi hì hục làm photocopy trọn bộ cuốn sách này, rồi có mua thêm bản dịch tiếng Anh và vài cuốn sách bình luận. Tuy-nhiên tôi chưa bao giờ đọc quá được vài trang; phải chờ khi sau này có thời giờ thật là rảnh rỗi. Tuấn mong muốn tìm được một cuốn khảo cứu về Spinoza của Alain. Khi tôi mua cuốn sách này thì vẫn nhớ tới Anh – và mua cũng chỉ vì nhớ tới người Bạn Cũ. Sách mua vẫn để đấy chờ một ngày nào đó … Để tự bào chữa tôi thường dựa vào lời khuyên của Lâm Ngữ Đường, là đã không thích sách nào thì chẳng nên đọc sách đó, nhất là khi đọc mà không hiểu, như trường hợp tôi đọc Spinoza. Lời khuyên này nếu không thật là của Lâm Ngữ Đường thì cũng là của một Thầy nào đó, xin quý vị tùy nghi tìm kiếm.
8.
Tuấn viết đẹp và vẽ đẹp. Không thấy Tuấn nói nhiều về hội họa, nhưng nói về “dessiner” nghĩa là “vẽ bằng nét bút” thì Tuấn vẽ rất là sạch sẽ. Xin đề nghị dịch là “tuyến họa”, khác với tranh vẽ bằng màu nước (watercolours), pastel hay sơn dầu (oil paintings). Và Tuấn chép nhạc cũng rất đẹp. Tuấn có chép cho tôi hai bài hát. Vào năm 1953 thì khó mà mua được bản nhạc in của nhà xuất bản Tinh Hoa, cho nên thay vì chạy nhảy thì chúng tôi chịu khó ngồi chép bài nhạc. Một là bài “Con Đường Vui” của Phạm Duy và Lê Vy. Bài này mới đây Anh Em Cựu Học Sinh Trần Lục đồng ca trong dịp hội ngộ 60 năm, 1958- 2018, có thấy trên mạng. Thấy quang cảnh mọi người ca hát rất là hăng hái và hân hoan, tôi cũng vui theo, chỉ vì tôi học trường Trần Lục năm 1954-1955 nên không được mời. Bài thứ hai là bài “Cành Hoa Trắng” của Phạm Duy, cả lời lẫn nhạc. Về bài “Cành Hoa Trắng” này có hai điều nên nói. Ông Phạm Duy viết bài này với 4 dấu giáng (bémol), âm giai Fa thứ, rất là khó cho người mới học nhạc và rất là khó cho người đệm đàn tây ban cầm, cũng mới học. Và nàng tiên Giáng Hương trong bài hát, phải viết là Ráng Hương mới đúng theo tự vị Thiều Chửu. “Ráng” có nghĩa là màu đỏ, Giáng Hương dịch sang tiếng Pháp là l’Encens Vermeil, theo Phạm Duy Khiêm trong Légendes des Terres Sereines. Sở dĩ có sự nhầm lẫn là vì người Tàu không có đọc được phụ âm R, không có tiếng “ráng” và trong tiếng Tàu cũng không có tiếng “dáng”, vốn chỉ có trong tiếng Việt. Viết đẹp và chép nhạc đẹp thì tôi nhường Tuấn vài bước, hay đúng hơn, nhiều bước. Năm 1965 khi đi thực tập tại Clinique Médicale Bệnh Viện Nguyễn Văn Học Gia Định, mỗi lần tôi đọc xong bản Observation Clinique, BS Nguyễn Thế Minh thường khen là “très belle écriture!”. Lúc đó Đặng Vũ Vương là Nội Trú. Đôi khi, tôi cũng nghi hoặc. Có lẽ bài quan sát bệnh lý dở quá, không có gì đáng khen nên Thầy Minh nói tới chữ viết đẹp. Nhưng nghĩ lại, lúc đó tôi là sinh viên năm thứ 5 thực tập, không có gì xuất sắc, không có gì đáng quý mến, không có gì đáng sợ hãi đến mức Bác Sĩ Nguyễn Thế Minh phải khen lấy lòng, hoặc là khen cho vui.
Chuyện đáng bỏ qua, nhưng nếu Nghiêm Sỹ Tuấn mà viết bài quan sát bệnh lý thì Bác Sĩ Nguyễn Thế Minh còn phải khen ngợi nồng nhiệt hơn nữa về chữ viết đẹp.
Về hội họa thì Tuấn không mấy khi nói tới. Tôi nhờ có Anh Bạn Đàm Xuân Khôi quen biết với Họa Sĩ Ngọc Dũng nên cũng biết đôi chút, chúng tôi mượn sách của Ngọc Dũng, trong đó có mấy cuốn nói về Ingres, về Renoir. Khôi rất thích cuốn sách về Renoir và ngày nay đã có một phim màu về Renoir bố, Auguste, giới thiệu Renoir con, Jean, là một chuyên viên điện ảnh. Khi nhập ngũ Khôi cũng chọn một binh chủng nhiều gian nguy là Thủy Quân Lục Chiến, không kém gì Tuấn chọn Nhảy Dù. Sau 1975 Khôi định cư tại Florida và trở thành một cardiologist rất thành công. Khôi qua đời năm 2011. Một cuốn khác là về Maurice Utrillo, người họa-sĩ chuyên vẽ phong-cảnh thành phố Paris, mùa đông, lạnh lẽo, quạnh quẽ và rất buồn. Không phải Paris kinh thành hoa lệ với Montmartre, với Moulin Rouge … Từ Utrillo sau này tôi được biết tới Bùi Xuân Phái với những bức tranh phố cổ Hà Nội, nhưng ngay những ngày đó đã có tranh của Bernard Buffet gởi sang Sài Gòn triển lãm với những bố cục và đường nét rất đặc biệt. Sau này tôi gặp vài người Pháp hỏi về Buffet về sau ra sao thì chỉ được cho biết là ông này rất nhiều tiền vì tranh được nhiều người hâm mộ. Tuy nhiên Buffet đã tự tử vì bệnh Parkinson; bệnh run tay đối với người họa sĩ thì cũng tương đương với bệnh điếc tai đối với người nhạc sĩ như trường hợp Beethoven.
“Quelque belle que soit la comédie … ” Tuấn có lần đưa bức tranh “Về Yêu Hoa Cúc” treo lên tường, ngay nơi bàn học. Bức họa chỉ vẽ một người thiếu nữ, mặc áo dài kiểu Việt Nam, màu vàng. Tôi có ngớ ngẩn hỏi “sao lại về yêu hoa cúc” thì Anh chỉ cười không trả lời. Lúc đó tôi chưa được biết bài thơ của Nguyên Sa và bài hát của Ngô Thụy Miên. Về sau tôi có tìm hiểu thêm và hỏi nhiều người tác giả bức tranh đó là ai; cuối cùng thì bạn Bác Sĩ Nhạc Sĩ Phạm Anh Dũng cho biết đó chỉ là tranh vẽ trên bìa sách, hoặc là trên bao sách, cuốn sách cùng tên “Về Yêu Hoa Cúc” của Duyên Anh.
9.
Trở về với âm nhạc thì Tuấn có phần khá hơn. Anh học vĩ cầm từ ngày còn ở Hà Nội với Thầy là Lưu Quang Duyệt là một vị cao tuổi tới 1953-1954 vẫn mặc quốc phục Việt Nam, mặc dù dạy một món nhạc khí rất Tây phương là vĩ cầm và thêm vào đó, dương cầm. Tại Sài Gòn, Anh tiếp tục học với Thầy Nguyễn Khắc Cung, đã một lần trình diễn cùng với các học trò khác của Thầy tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Là tín đồ Thiên Chúa Giáo, Anh biết nhiều về J.S. Bach và nhạc đại phong cầm (orgue). Nhân khi bàn chuyện caractérologie của René Le Senne, Tuấn nhất định không thể đồng ý phân loại J.S. Bach vào loại “flegmatique” – non E A S – viết tắt của non Émotif Actif Secondaire. Với 20 đứa con sanh ra với 2 bà vợ, Tuấn cho là J. S. Bach không thể nào là người non-émotif được. Anh theo dõi chuong trình Nhac Cổ Điển Bình Giải của Đai Phát Thanh Sài Gòn một cách đều đặn và học hỏi được khá nhiều. Anh có ghi lại nhan đề của tất cả nhạc phẩm đã được bình giải. Chúng tôi cũng chuyền tay nhau cuốn sách Histoire de la Musique của Émile Vuillermoz, tuy là sách bỏ túi nhưng cũng khá đầy đủ. Chúng tôi, gồm cả Đàm Xuân Khôi, Lê Sỹ Quang và đôi khi Bác Sĩ Nguyễn Thế Minh là khán thính giả lui tới Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Goethe Institut. Bác-Sĩ Nguyễn Thế Minh cũng là một vĩ cầm thủ có hạng, như nhiều người biết, và chắc chắn có tâm hồn nghệ sĩ. Lúc đó là thời của Toscanini và Herbert Karajan, của Van Cliburn … Mới từ Pháp du học về âm nhạc về nước phục vụ thì có Thầy Michel Nguyễn Phụng, Ông Bà Nguyễn Khắc Cung, Ông Bà Đỗ Thế Phiệt …
10.
Tuấn có lẽ không đọc nhiều về triết học, ngoài cuốn Spinoza nói trên, như tôi biết. Có lẽ Anh cũng đọc nhiều Propos của Alain. Có lẽ Anh đã thấm nhuần đạo học của Đông phương nhiều và có lẽ Anh đã nhận những Giáo huấn của Đạo Thiên Chúa nên Anh không đọc sách triết học thời thượng như triết lý hiện sinh, không
tìm hiểu về Heidegger hay Jean-Paul Sartre …
Nhưng về văn học Tuấn đọc khá rộng. Với số tiền học bổng của Bộ Y Tế, Anh cũng tìm mua cho được trọn bộ tác-phẩm, loại bìa cứng, của Tolstoy và của Dostoevsky dịch sang tiếng Pháp, khá đắt tiền. Năm 1975 có lẽ hai bộ sách này đã bị đốt. Anh cũng đặc biệt thích cuốn Le Grand Meaulnes của Alain-Fournier, mà nhà văn Mặc Đỗ đã dịch thành cuốn “Anh Môn”. Ngoài ra về những sách khác, có lẽ đại loại tủ sách của Anh cũng giống như tủ sách của anh em cùng thời. Cũng có Bác Sĩ Zhivago, cũng có Dịch Hạch và cũng có Lão Ngư Ông và Biển Cả.
11.
Cuối năm 1963, sau biến cố chính trị ngày 1 tháng 11, một số sinh viên Y khoa gặp nhau để “làm” một tờ báo. Người khởi xướng có lẽ là Bác Sĩ Trần Xuân Ninh, vớí ý nguyện đặt tên báo là “Thông Reo”. Tên báo “Thông Reo” này về sau không được chấp nhận. Người em của Bác-Sĩ Trần Xuân Ninh là Bác Sĩ Trần Xuân Dũng lôi kéo Nghiêm Sỹ Tuấn và tôi cùng tới một buổi họp có tính cách phát động khởi đầu. Tới nơi thì gặp thêm Phạm Đình Vy, Nguyễn Vĩnh Đức, Lê Văn Châu tức Trang Châu, Đặng Vũ Vương, Lê Thành Ý (tức Liza) và nhiều Anh Em khác. Tôi nhớ không rõ nên không thể ghi hết tên của Anh Em có mặt trong buổi họp đầu tiên này. Tuy nhiên xin được phép nhắc lại một nhận xét của Bác-Sĩ Trần Xuân Dũng trong cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” mới xuất bản năm 2018, là có ba người đã từng điều hành tòa soạn hoặc ở trong ban biên tập Nguyệt San Tình Thương đã đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật: Lê Văn Châu năm 1969 với “Y Sĩ Tiền Tuyến”; Ngô Thế Vinh năm 1971 với “Vòng Đai Xanh” và Trần Xuân Dũng năm 1998 với “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến”. Trong phiên họp đầu tiên bạn Phạm Đình Vy nhận làm chủ nhiệm. Thân phụ của Anh là Giáo Sư Phạm Đình Ái, lúc đó là cố vấn của Thiếu Tướng Đỗ Mậu. Chủ bút là bạn Nguyễn Vĩnh Đức. Tên báo sau khi thảo luận lấy là “Tình Thương”. Kinh phí ấn loát sơ khởi là 40 ngàn đồng do Luật Sư Trương Đình Dzu gửi tặng, nhờ đó ban biên tập có tòa-soạn để cùng nhau làm việc.
Với số ra mắt Anh Em trong Ban Biên Tập xin Thầy Khoa Trưởng Phạm Biểu Tâm một bài. Thầy viết một bài gửi tới Anh Em, trong đó Thầy nói qua nói lại một vài điều thông thường, nhưng có nhắc nhở trong đoạn kết là “làm gì thì làm, Anh Em chớ có để Tình Thương biến thành Tình Tiếc”. Anh Em đọc bài của Thầy có hơi sững sờ và bối rối. Mọi người bàn cãi. Có nhiều ý kiến, nhiều giải pháp. “Nhưng đối với Thầy, đã xin bài mà không đăng bài là không được. Có bài rồi mà đòi sửa bài thì không biết chuyện sẽ tới đâu. Chúng ta nên chấp-nhận và chỉ có thể chấp-nhận. Thầy đã có lời răn dạy thì chúng ta nhận lãnh. Miễn là đúng như lời Thầy nói, chúng ta sẽ không để cho Tình Thương biến thành Tình Tiếc. Đó là chuyện của chúng ta và chúng ta rất nên cẩn thận về sau này. Đó là ý kiến sau cùng của tôi, đúc kết ý kiến của Anh Em trong ban biên tập đã thảo luận. Mọi người cũng đành đồng ý. Rồi bài của Thầy được đăng nguyên vẹn. Rồi cũng không có tiếng vang hay phản ứng nào đáng kể. Mọi người thở ra nhẹ nhõm với trở lực đầu tiên đã vượt qua trong số báo đầu tiên.(1)
Nhờ việc nhỏ Tình Thương Tình Tiếc này tôi có một chỗ ngồi vững vàng trong ban biên tập, cộng thêm với bản dịch “Bản Tuyên Ngôn Leysin” sẽ nói dưới đây. Thật tình là tôi không có khả năng viết văn làm thơ, và nếu có chăng nữa thì cũng không đáng kể. Thời gian làm báo không biến tôi thành văn nghệ sĩ, nhưng cũng giúp cho tôi học hỏi được nhiều, như là làm một cái “maquette” cho một số báo, viết một cái “chapeau” trên đầu một bài tham luận có vẻ quá khích, hay làm một cái “vignette” khi trang báo có một khoảng trống
trơ trọi. Ngoài ra tôi còn học được nghề “thầy cò” là việc sửa lỗi những bản vỗ tại nhà in. Cũng trong nghề “thầy cò” này, Tuấn làm việc rất chăm chỉ và nghiêm túc, và rất được tín nhiệm.
12.
Người có cảm tình nhiều nhất với Nguyệt san Tình Thương là Giáo-Sư Trần Ngọc Ninh, chuyên khoa giải phẫu chỉnh trực, chuyên khoa giải phẫu nhi đồng và chuyên khoa giải phẫu kích xúc (traumatologie). Năm 1961 Thầy đơn thương độc mã qua Pháp thi cho được Thạc sĩ, bởi vì giáo sư Thạc sĩ mới được tham dự Hội Đồng Khoa và mới được có tiếng nói trong việc điều hành Trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn. Những kỷ niệm về kỳ thi này chính Thầy đã ghi lại trong một cuốn hồi ký. Thầy đã có những ưu tư về việc chữa bệnh, về việc học và dạy học; Thầy đã viết hai bài châm biếm, một bài gọi bộ Y Tế là bộ “Ỳ Tệ” và một bài nói việc học Đại Học lúc bấy giờ là “học đại”, “đại” ở đây không có nghĩa là “lớn” mà có nghĩa là “bừa bãi”, không có tôn chỉ hay đường hướng rõ rệt. Thầy cũng có lòng ưu ái đưa cho Tình Thương đăng dần cuốn tiểu thuyết “Nuôi Sẹo” của Triều Sơn vốn là một người bạn thân của Thầy từ thời niên thiếu.
Thầy có viết một bài ghi nhận một cuộc đối thoại hay hội thoại tưởng-tượng về giáo dục, giữa Platon, Socrates, Trang Tử và James Conant (1893-1978, người từng là Viện Trưởng Đại Học Harvard). Khi được đọc bản thảo bài này thì Nghiêm Sỹ Tuấn không đồng ý. Anh gặp Thầy Ninh xin nói chuyện lại và Thầy, cuối cùng, chịu sửa lại là Tuân Tử, thay vì Trang Tử. Thầy Ninh không phải là người kiêu ngạo như nhiều người thường lầm tưởng. Năm 1965 khi Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thành lập nội các chiến tranh, Thầy được mời tham chính. Thầy có hỏi ý kiến Anh Em Tình Thương. Lẽ cố nhiên là Anh Em hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng thành tích của Thầy trong chức vụ Tổng Ủy Viên Văn-Hóa Giáo Dục thì không thấy nói đến nhiều.
Thứ đến là Thầy Ngô Gia Hy, chuyên khoa Gây Mê và chuyên-khoa giải phẫu tiết niệu cũng có vài bài đóng góp. Thầy là Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Sài Gòn, nối tiếp Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, lấy lại trường Y Khoa đem về vị trí cũ, sau thời gian ngắn trường được đặt trực thuộc Phủ Thủ Tướng và điều hành bởi một ủy ban 5 người. Thầy cũng là thành viên của Thượng Hội Đồng Quốc Gia. Những bài viết của Thầy tôi không nhớ rõ. Khi Thầy đã ngoài 80 tuổi, Thầy có lên tiếng một lần cuối cùng, nhắc nhở những người thầy thuốc lớp sau nên tôn trọng y đức. Đó là những điều tôi được nghe, trước khi Thầy qua đời tại Việt Nam; đó là tiếng nói của một lớp sĩ phu đáng kính của một nước Việt Nam văn hiến đã không còn nữa vì lỡ nằm trong “thế gọng kềm của lịch-sử”. Chưa biết đến bao giờ phượng hoàng sẽ trỗi dậy từ đám tro tàn, nhưng chúng ta chờ đợi và không bao giờ tuyệt vọng.
Đặc biệt có Giáo Sư Nguyễn Đình Cát, chuyên môn nhãn khoa, đã đóng góp cho Tình Thương với những bài mệnh danh là “ca dao vệ sinh”, cùng làm với Bác Sĩ Nguyễn Gia Quýnh. Đây là những bài giảng-dạy y học cho phổ thông đại chúng, lời lẽ nôm na, đặt theo thể lục bát có vần có điệu cho dễ nhớ. Thầy có bút hiệu là Cát Minh. Không biết tìm được ở đâu, Nghiêm Sỹ Tuấn cho biết Thầy có bút hiệu nữa là Tú Gân: cùng với Tú Xương (Trần Tế Xương), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) và Tú Nạc (?) bốn vị hợp thành đủ bộ một đĩa thịt gà (!). Khám-phá này của Nghiêm Sỹ Tuấn không có nhiều hưởng ứng. Tôi xin ghi lại đây vì ít người biết, và cũng vì chuyện này cần kiểm chứng đàng hoàng.
13.
Trong số báo Tình Thương đầu tiên, đóng góp của tôi là bản dịch một tài-liệu mệnh-danh là “Declaration of Leysin”. Đây là bản đúc kết những thảo luận trong một họp mặt sinh viên quốc tế, họp tại Leysin năm 1963, đưa ra đường lối và chương trình hoạt động cho các hiệp hội sinh viên. Leysin có lẽ là một thành phố hay một tỉnh tại Thụy Sĩ, nay là một trung tâm du lịch. Ngày nay tôi đã quên hết, nhưng lúc đó Nguyệt San Tình Thương, nhờ tài liệu đó có vẻ nghiêm trang, đứng đắn, có đường lối đấu tranh ôn hòa, không chủ trương biểu tình bạo động và có vẻ như sẵn sàng vượt ra khuôn khổ quốc gia để góp mặt nơi quốc tế.
Cũng trong số báo đầu tiên tôi viết một bài ngắn nhan đề là “Dựng” như là tiếng nói đầu tiên xác-nhận sự hiện hữu cũng như lập trường của Nguyệt San Tình Thương. Cố-nhiên là có sự “thông qua” của các bạn Phạm Đình Vy, Nguyễn Vĩnh Đức … Theo tôi được biết số báo này còn lưu-trữ trong Collection Wason của Cornell University, New York. (2) Tuấn và tôi cùng nhau dịch sang tiếng Việt cuốn “Lịch-Sử Y-Học” (The Story of Medicine) của Kenneth Walker (1882-1966). Sách xuất bản năm 1955, nguyên viết bằng tiếng Anh, nhưng có bản dịch bằng tiếng Pháp. Chủ ý của chúng tôi rất thực tế, là bài vở gửi tới từ bên ngoài cùng với những bài viết từ bên trong (của ban biên-tập) chắc chắn là không đều đặn và có thể không đủ một số báo với số trang đã định sẵn. Trong trường hợp thiếu bài đó thì cứ việc đăng bài dịch “Lịch Sử Y Học”. Sau này tôi đã cố gắng dịch hết cuốn sách, nhưng bản thảo nay đã mất. Cũng trong ý hướng đó Nghiêm Sỹ Tuấn hợp sức cùng với Nguyễn Vĩnh Đức dịch những truyện ngắn “Dưới Mắt Thượng Đế” nguyên văn tiếng Đức, “Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott” của Hans Killian xuất bản năm 1957, với bản dịch tiếng Pháp “Sous le Regard de Dieu” của Max Roth. Trong khi cộng tác, trước sức học, sự hiểu biết, lối sống và cư xử đàng hoàng của Tuấn, Bạn Nguyễn Vĩnh Đức trong tình quý mến và cảm phục, đã tặng Tuấn mỹ danh “Người Thư Sinh Muôn Thuở”. Có lẽ không gì đúng và không gì hay hơn đối với Nghiêm Sỹ Tuấn.
Riêng với tôi, chúng tôi dự định cùng chung sức dịch Les Faux Monnayeurs của André Gide, và đồng thời cuốn Arrowsmith của Sinclair Lewis. Tuy là vừa dịch vừa học hỏi, nhưng tham vọng có hơi thái quá, chúng tôi chỉ thực hiện được vài trang và sau đó bỏ dở.
14.
Tuấn học hết Năm Thứ Sáu Y Khoa vào hè năm 1965. Như các bạn cùng lớp, Anh được trưng tập vào quân đội và được huấn luyện để trở thành một Quân Y sĩ. Khi tốt-nghiệp Khóa 7 Trưng tập, Tuấn đã cùng với Anh Em xuất bản một đặc san lấy tên là “Truyền Sinh”, dịch nghĩa “Reproduction” của Anh và Pháp ngữ. Người Tàu dịch là “phồn thực”, hàm ý việc sinh đẻ cần được nhiều, như chúng ta thường nói “sinh sản”, hay là “đẻ thêm lắm việc”. “Truyền Sinh” không diễn tả được cái ý “sinh sôi nẩy nở” đó nên cũng không mấy người đồng ý dùng để dịch “reproduction”. Những người cùng góp sức thực hiện tờ Đặc San là Lê Sỹ Quang, Trần Xuân Dũng, Dược Sĩ Bùi Khiết và Dược Sĩ Vũ Văn Tùng. Đó là một số báo trình bày rất đẹp và nhã, bài vở khá nhiều và có những bài thật hay. Không biết có ai còn giữ được một số làm kỷ niệm?
15.
Việc Anh chọn binh chủng Nhảy Dù là một điều làm mọi người ngạc nhiên. Binh nghiệp của Anh kéo dài chừng 2 năm từ 1966 đến 1968. Trong trận Khe Sanh Anh bị tử thương. Đám tang cử hành tại Sài Gòn. Khi nhận được tin Anh chết tôi đang sửa soạn trở về nhiệm sở tại Phước Long (Bà Rá) sau khi đã vắng mặt vài ngày và cố nhiên không thể có mặt trong tang lễ. Theo lời được nghe kể lại, Cụ Nghiêm Sỹ Phụng rất là xúc- động và nhất-định từ chối cấp bậc Đại Úy, đúng ra là Y Sĩ Đại úy, mà Anh được truy tặng. “Con tôi không phải là Đại Úy, con tôi là Bác-Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn … ” Chúng ta có thể thông-cảm với nỗi đau lòng trong cơn tang tóc, của người Cha mất đứa con đầu lòng, mới vừa tốt nghiệp, mới bắt đầu sự nghiệp, mới bắt đầu nhận lãnh trách nhiệm ngoài đối với xã hội, trong đối với bố mẹ già và các em nhỏ còn thơ dại.
Lần chót tôi còn liên lạc với gia-đình Tuấn là khoảng năm 1972, tại Viện Bài Lao Ngô Quyền Thủ Đức, khi Nghiêm Sỹ Anh tới thăm và tôi đã trao lại di vật là cuốn Nhật Ký của Tuấn, gửi lại gia-đình. Cuốn này là do bạn Trang Châu trao tay lại.
16.
Giờ này nói tới văn nghiệp của Nghiêm Sỹ Tuấn, tôi không còn tài liệu nào trong tay. Tất cả chỉ có những số báo Tình Thương (mà Anh Em tại Hoa-Kỳ đương cố gắng thu thập), một tờ Đặc San Truyền Sinh 1966, và một cuốn “Nhật-Ký”; gọi thế thôi nhưng thật ra đây chỉ là một cuốn vở chúng ta gọi là scrapbook, một cuốn giấy nháp trong đó không có ghi nhận hay sơ thảo nào đáng kể, trừ một bài lục bát bắt đầu với câu “Rộn ràng chim hót rừng thưa” …
Rất tiếc là tôi không nhớ hết. Tuấn viết truyện ngắn “Những Người Đi Tìm Mùa Xuân” trong đó có thể thấy ảnh hưởng của Vũ Khắc Khoan với Thần Tháp Rùa. Đây là tác phẩm đầu tay và ưng ý của Anh. Sau đó có bài “Người Ăn Cơm Một Mình” là nỗi niềm băn khoăn và lời tự bào hữa của Tuấn khi Anh khó có thể hòa mình trong một đám đông ồn ào xáo trộn. Cuối cùng là một bài phiếm luận về văn-hóa “khâu đít chuột” (sic), trong đó Anh không đồng ý với việc ồ ạt dịch văn ngoại quốc – dù là những danh phẩm quốc tế trong kho tàng văn hóa chung của nhân loại, – mà phải có những sáng tác của người Việt, cho người Việt, bởi người Việt, viết bằng tiếng Việt. Mà lại phải “hay” nữa! Tuấn đôi khi cũng có những đòi hỏi tuyệt đối như thế, và Tuấn cũng đã gặp nhiều khó khăn vì thế. Anh có chừng 5 hay 10 bài thơ tứ tuyệt và thơ 28 sao, giống như thơ Trần Xuân Dũng; một số đã được in và một vài bài còn đang trong vòng tìm chữ tìm vần sửa đổi. Nhiều Anh Em còn nhớ mỗi người vài bài, và tới đây tôi xin được mọi người giúp sức. Có thể là bạn Ngô Thế Vinh sẽ góp nhặt tất cả thành một sưu-tập.
17.
Nghiêm Sỹ Tuấn từ giã bạn bè đã năm mươi năm. Cách đây chừng năm hay sáu năm Nguyễn Vĩnh Đức, Chủ Bút Nguyệt San Tình Thương, cũng đã ra đi. Mới đây là Phạm Đình Vy, Chủ Nhiệm Nguyệt San Tình Thương, qua đời tại Pháp. Anh em Tình Thương còn lại tản mát nơi hải ngoại. Lê Thành Ý, Trang Châu, Nguyễn Thanh Bình, Trần Mộng Lâm tại Canada. Đặng Vũ Vương, Nguyễn Hoàng Hải, Đỗ Hữu Tước, Ngô Thế Vinh tại Hoa Kỳ, Trần Xuân Dũng và tôi tại Úc … (Lý Lê Trần và còn ai nữa?)
Trong niềm thương nhớ và thương mến đối với Nghiêm Sỹ Tuấn chúng ta đã tìm lại những kỷ niệm từ một thời xa xưa, một thời đầy tin tưởng, một thời đầy nhiệt huyết. Đã tới lúc chúng ta phải trả lại Nghiêm Sỹ Tuấn về nơi Anh yên nghỉ. Tôi xin kết thúc nơi đây với mấy câu thơ của Tế Hanh trong bài “Vu Vơ” hay “Những Ngày Nghỉ Học”. Đây là lời một cậu học trò nhỏ rảnh rỗi tới nhà ga xe lửa chơi, và nhìn cảnh người đi kẻ ở. Bài thơ có lẽ thích hợp với bài viết của một người học trò về một người học trò khác, Người Thư Sinh Muôn Thuở Nghiêm Sỹ Tuấn.
Kẻ về không nói bước vương vương
Thương nhớ lan xa mấy dặm trường
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương.
Y sĩ Đại úy HÀ NGỌC THUẦN
Brisbane Úc Châu. Tháng 10 năm 2018
(1) Bài viết của GS Phạm Biểu Tâm, nhan đề “Tình Thương và Chúng Ta”, được Thầy viết sau một khóa Hội thảo các Khoa trưởng Đại Học Y Khoa Đông Nam Á, cuối năm 1963 tại Manilla, và gửi đăng trên TT, không phải số ra mắt mà là số 3-4 tháng 3 và tháng 4 năm 1964.
Trên mặt trận quân sự đó là một ngày đầy thảm họa. Trận đánh ở Tân An đã thất bại lớn. Lối ba trăm Việt-cộng đã đụng độ với bốn trăm quân lính chính phủ có trọng pháo và đại liên yểm trợ. Đó là một trận chiếm đẫm máu dàn rộng trên sáu dậm vuông toàn ruộng lúa và vườn trải cây. Bọn Việt cộng đã để lại ba mươi lăm xác chết và mười hai bị thương nặng. Quân lính Cộng-hòa đã mất bốn mươi tám tử thương và trên sáu mươi bị thương nặng. Họ cũng bị mất ba đại liên, một móoc-chê và hơn tám mươi súng cá nhân do Mỹ chế tạo. Số vũ khí tịch thu được của Việt cộng ít hơn nhiều và phần lớn gồm những món vũ khí phẩm chất xấu của Trung-cộng và Tiệp-khắc. Kết quả của trận đánh là thêm một chiến thắng đáng kể cho bọn du kích mà báo cáo đã cho biết là đang tập trung gần Saigon hơn. Về phía Bắc gần biên giới Lào đã xẩy ra một thảm kịch ghê gớm hơn. Một chiến đấu cơ phóng pháo T-28 với một phi công Hoa-kỳ và một phi hành viên người Việt đã rớt ngay trong khu vực của bọn du kích. Tức thì một toán cứu trợ mười hai người trên hai trực thăng của Thủy quân Lục chiến được gửi đi từ Đà-nẵng. Họ bay thấp dọc thung lũng một con sông và cả hai bị súng từ hai bờ phía dưới bắn trúng. Một chiếc rởt ngay xuống lòng sông, còn chiếc kia lết qua được một ngọn đồi và lộn nhào xuống rừng.
Một toán cứu trợ thứ nhì gồm sáu trực thăng do phi công Hoa Kỳ lái và có xạ thủ người Việt đã tới nơi bị nạn. Cả toán này cũng bị dưới đất bắn lên dữ dội và có hai người bị thương, một tử thương nhưng họ đã dùng rốc-kết, na-pan và đại liên làm bọn du kích chạy tản mát. Khi đáp xuống cạnh hai chiếc trực thăng bị phá hủy, họ thấy cả mười hai người đã chết. Họ đã đem được xác về Đà Nẵng và ngày mai những xác này sẽ được chở về Saigon để chôn cất. Chính Đại-tướng Tolliver đã đem tin này đến cho tôi. Gương mặt gân guốc, già nua của ông căng thẳng vì tức giận và ông nguyền rủa sự vô ích đẫm máu của toàn thể tình hình.
« … Thế là trong khi cái tên Tổng Thống còn tân và nửa rồ nửa dại kia đứng tại diễn đàn Quốc hội mà gào lên sự phản bội, trong khi Hoa Thịnh Đốn còn đang be be cái giọng với trừng phạt và rút lui, thì bọn lính của tôi bị bắn rơi từ trên trời xuống và những tên lính Việt khốn nạn ngớ ngẩn đáng thương kia đổ máu như heo bị chọc tiết trong các thửa ruộng. Thế vẫn chưa đủ đâu, thưa ông Đại sứ!
Chưa đủ phần nửa đâu! Tôi sẽ nói cho Hoa Thịnh Đốn biết! Tôi sẽ nói cho các ông Tướng bự ở Ngũ giác đài biết và tôi sẽ nói cho Tổng Thống Cung và toàn thể cái thế giới khốn nạn này biết! Ngày mai khi họ đem xác những
lính của tôi về đây, tôi sẽ làm lễ quân táng cho họ để thiên hạ mở con mắt ra mà coi! Tất cả phóng viên báo chí ở Saigon đều sẽ có mặt và cả bọn chụp hình quay phim nữa, dầu rằng tôi có phải di súng vào ngực bắt họ đến chăng nữa. Dẫu sao và thể nào tôi cũng nói cho thiên hạ biết cái cuộc chiến tranh chó đẻ này có nghĩa như thế nào đối với những thằng phải cầm súng chiến đấu!… Tôi cũng muốn ông có mặt ở đó nữa, ông Đại sứ. Ông là đại-diện cho Tổng Thống chúng ta. Tôi cần có ông.»
« Đại tướng, tôi sẽ đến dự.»
«Thế còn Phùng Văn Cung? Họ cũng là những tử-sĩ của ông ta nữa!»
«Tôi không thể nhân danh ông mà nói được. Trong lúc này, tôi cũng không chắc có thể nói được với ông hay không nữa … »
Thế rồi bỗng nhiên tôi nghĩ ra được rất lạnh lùng và đểu cáng một cách dùng những người chết để thâu lợi và để giải quyết cái vấn nạn do bài diễn văn của Cung đọc ở Quốc hội đã tạo ra. Tôi không muốn thảo luận về việc này với ai vì sợ lại bị bối rối bởi những ý kiến phản nhau. Hiện giờ đầu óc tôi nghĩ rất sáng suốt và tôi thấy có một cách chấm dứt sự cãi lộn rùm beng về chính trị này một cách mau lẹ và rất có thể làm được. Tôi đến thẳng văn phòng và đích thân gọi điện thoại cho Tổng-thống Cung.
Lần này thì không có sự chậm trễ nữa. Ông trả lời mau mắn, lễ độ và thân thiện, như một người đã đánh tan được sự xúc phạm đến danh giá của mình và giờ đây có thể tự tỏ ra mình đại lượng. Tôi không đả động gì đến diễn văn của ông tại Quốc-hội nhưng chỉ tóm lược lại những phúc trình mà tôi đã nhận được của Đại-tưởng Tolliver. Ông cho tôi biết là bộ tham mưu quân sự
riêng của ông cũng vừa cho hay những tin tức tương tự. Ông chính thức bầy tỏ cảm tình và yêu cầu tôi chuyển đạt lời chia buồn của riêng ông tới quyến thuộc những người tử nạn. Rõ ràng là ông đã bị xúc động sâu xa. Tôi xin ông cho phép tôi được hội kiến ngay mặc dầu đã muộn giờ rồi.
Tôi ngạc nhiên thấy ông thuận không chút ngần ngại và đề nghị tôi đến dùng cơm tối tại Dinh. Ông nói là sẽ chỉ có tôi với ông thôi và ông lấy làm mừng rỡ có cơ hội làm quen với tôi một cách thân mật hơn.
Thật là vượt quá điều tôi đã hy vọng. Tôi cũng phải thú nhận rằng ông đã làm cử chỉ ấy với một sự ưu ái vô ngần mặc dầu tính tôi hay hoài nghi, tôi cũng khòng thể nào tin được đó chỉ là chuyện tính toán. Mặc dầu những thảm kịch đã xây ra trong ngày, tôi lại bắt đầu thấy vui. Tôi là một ngoại giao đã khá lâu đời để hiểu rằng đường lối hay nhất để giải quyết một vấn đề là tạo ra một cuộc khủng hoảng để nó tự giải quyết lấy nó cũng như giông tố làm mưa rơi để tẩy sạch bầu không khí ung nhọt đi. Các lời tuyên bố công khai đã được nói ra; cả hai bên đều đã xả được nỗi bực tức xấu xa của mình. Máu đã đổ ở trên núi và dưới các đồng lầy. Cùng nhau tưởng nhớ đến người chết, có lẽ cả hai chúng tôi có thể cùng khám phá ra được sự bình tĩnh và tỉnh trí để phục vụ cho người sống.
Anne Beldon bước vào để báo cho tôi biết rằng báo chí đang chờ đợi tôi bình luận về bài diễn văn của Cung đọc tại Quốc hội. Tôi đọc cho nàng ghi một lời tuyên bố để phát ra cho báo chí nói rằng tôi đang nghiên cứu nội dung của bài diễn văn và tôi muốn dành mọi lời tuyên bố cho đến sau khi nghiên cứu xong. Trên bàn giấy tôi có một mảnh giấy của Harry Yaffa. Hắn nói sẽ đi ra ngoài cho tới sáu giờ tối nhưng muốn nói chuyện với tôi khẩn cấp. Tôi nhắn lại là tôi sẽ gặp hắn tại nhà tôi khoảng từ mười một giờ đến nửa đêm. Tôi mừng thầm là không phải nói chuyện với hắn trong lúc này. Tôi đã có quá nhiều điều gợi đến chết chóc và Yaffa đã bắi đầu trông càng ngày càng giống như một ông chủ hãng xe đòn lịch sự.
Sau cùng Mel Adams đem đến cho tôi bản tóm lược bài diễn văn của Cung để gửi kèm đi với bức điện mật mã cho Hoa-thịnh-đốn. Tôi bảo hắn gửi bản văn ấy đi như một tài liệu thông thường chỉ thêm vào lời báo cáo là tôi đã dàn xếp ngay một cuộc gặp gỡ với Tổng-thống Cung. Nếu có gì khẩn cấp phải báo cáo, tôi sẽ dùng công điện mã hóa và nhàn viên trực đêm sẽ gửi đi; nếu không, có thể hoãn lại được mười hai tiếng đồng hồ, « Thưa ông, đó là một ý kiến hay», Adams nói một cách khô khan. « Tôi nghĩ rằng chúng ta đã ăn quá nhiều những món « phản ứng mau lẹ» và «phản đối mãnh liệt.» Chúng ta cần có thì giờ nghỉ ngơi để sửa lông sửa cánh. Chúng ta đã điều hành công việc này như một cuộc đá gà quá lâu rồi!» Tôi không có điều gì để hưởng ứng lời nói khôn ngoan ý nhị ấy nên tôi cho đóng cửa văn phòng để đi về nhà tắm rửa, cạo râu và thay quần áo đi dự bữa cơm tối. Lúc xe chúng tôi đang trên đường đi tởi Dinh, hãy còn một tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ giới nghiêm. Phố xá hãy còn linh gác nhưng trên các vỉa hè đã có nhiều người qua lại hơn trước. Các bar và tiệm ăn đều mở cửa và các cô gái ăn sương đã lên đường tuần tiễu trong các xe xích-lô và taxi. Ở Saigon, đức hạnh là một vấn đề luật lệ của chính phủ. Người ta chỉ có thể ngồi uống rượu với một cò chiêu đãi viên chứ không được nắm tay cô. Khiêu vũ công khai là một tội công xúc tu sỉ. Những bài ca yêu đương đều bị cấm như những lời xúi dục phạm tội đối với nền đạo đức. Các nhà chứa gái đều bị đóng cửa; giờ đây, nghề này được tiếp tục trên căn bản thỏa ước riêng và các mụ đầu nậu đã chuyển sang các nghề làm ăn khác.
Các ngả đường đi đến dinh vẫn còn được canh gác chặt chẽ và các mũi súng phòng không thận trọng chĩa lên nền trời đen tối. Tuy nhiên lần này chúng
tôi không phải chờ đợi lâu; lính gác vẫy tay cho chúng tôi đi qua không cần hỏi han và trên bực thềm Dinh, một vị phụ tá của Tổng Thống đang chờ để nghênh đón chúng tôi với sự lịch thiệp quá lộ liễu.
Cung tiếp tôi trong phòng khách riêng của ông, một căn phòng khoáng đãng nhưng lịch sự với các tường bọc gỗ trắc và đồ đạc theo kiểu thanh nhã của người Thụy-điển do các tiểu công nghệ gia Việt Nam đóng. Những bức tranh treo tường cũng được. lắm một bức tuyệt hảo của Rousseau, một bức của Gaugin thời sống trên các hải đảo, một bức tranh Ki-tô cứu thế của Rouault và một bức bình phong rộng lớn và tuyệt đẹp bằng gỗ trạm trổ cảnh Thiên-chúa Giáng sinh của một điêu khắc sư bản xứ. Tôi ngỏ lời khen tặng ông về khiếu thẩm mỹ của ông và ông nhận với một nụ cười và một lời bông đùa khô khan.
«Người Pháp là những nghệ sĩ giỏi, thưa ông Đại-sứ. Nhưng họ kém thành công trong vai trò quan cai trị thuộc địa.»
Một người hầu cận bưng đồ uống ra-whisky cho tôi và một ly nước trái cây cho Cung. Chúng tôi nói chuyện tầm phơ trong ít lâu và điều thấy rõ là mặc dầu ông cố gắng hết mình để tỏ ra khả ái, bản chất của ông vẫn là nhút nhát và gượng ép trong xã giao. Nếu muốn bữa ăn của chúng thành công được một nửa, tôi phải giữ thế chủđộng mới được. Tôi ngỏ lời với ông muốn xin một đặc ận cá nhân.
« Việc gì thế, ông Đại-sứ?»
« Thưa giản dị lắm. Ngài và tôi đều trải qua một ngày mệt nhọc. Tôi muốn hưởng bữa ăn này với ngài và gác mọi công chuyện cho đến sau khi dùng cà-phê.»
Vẻ mặt ông tức thời tươi lên và lần đầu tiên tôi thấy có sự ấm áp trong giọng nói của ông.
«Tôi cũng mong muốn vậy. Trong cái nghề của chúng ta, muốn yên nghỉ thật là khó khăn và đôi khi nguy hiểm nữa. Vả lại bản chất tôi vốn là cô
độc và tôi chưa bao giờ biết nói chuyện dễ dàng cả. »
«Thôi, xin Tông-thống! Tôi chẳng bao giờ dám nói là ngài thiếu hùng biện cả? »
Nghe tôi nói vậy, ông cười lên tiếng và băng giá cũng tan luôn. Ông bắt đầu nói, mới đầu còn ngập ngừng rồi sau thao thao và sống động, về những ngày còn là sinh viên ở Ba Lê, những ngày tự lưu đầy ở Hoa-kỳ và đời sống của ông trong một gia-đình quan lại cổ khi còn nhỏ. Ông không thiếu óc khôi hài nhưng óc khôi hài ấy có tính cách đối chọi và đôi khi châm chọc nữa óc khôi hài của một người nhìn thấy nhiều ác ý hơn là điên rồ trong tấn hài kịch của loài người và it phẩm giá hơn là sự thoái hóa trong tấn bi kịch của điều kiện làm người. Òng thiếu sự nồng nhiệt nên không thể là một người không tưởng, nhưng ông là một nhà quan sát người rất giỏi và cũng là một nhà nghiên cứu thời cuộc rất am hiểu. Về đàn bà, ông tự nhận một cách đáng thương là không biết gì và tôi đoán chừng là ông sợ đàn bà. Ông có thái độ lạnh lùng phủ nhận sắc dục quá độ của người không chịu lấy vợ và thật dễ hiểu rằng thái độ ấy không làm cho ông thân thiết được với người Á-Đông, những người đã tự lâu đời dễ dãi với những liên hệ sắc dục và lấy sự khỏe mạnh về sắc dục của ông vua, ông chúa làm điều vinh dự của toàn dân. Bữa cơm ông thết tôi thật ngon; các rượu uống tuyệt hảo; nhưng tôi để ý thấy ông ăn rất ít và không uống chút rượu nào. Tuy nhiên điều làm tôi ngạc nhiên nhất là ông đã làm dấu thánh giá một cách khá tự nhiên và đọc kinh trước khi ăn. Khuynh hướng tòn giáo của cá tính ông làm tôi chú ý và tôi cố gắng làm ông nói ra bằng cách gợi những kinh nghiệm của tôi trong đạo Zen. Òng hỏi tôi một cách sát sạt và tỏ ra có một sự hiểu biết rộng rãi và chính xác về những hiện tượng soi sáng tâm linh trong các tôn giáo Đông và Tây. Ông nói thêm, một cách đáng buồn, rằn ông chưa bao giờ cảm thấy cần phải đi tìm những kinh nghiệm tương tự. Rồi ông nói một điều làm tôi vô cùng chú ý.
« … Đó là vấn đề trạng thái tinh thần, thưa ông Đại-sứ và mức độ bất mãn mà cá nhân cảm thấy với chính mình hay với khung cảnh xã hội mà mình là thành phần. Chẳng hạn như người Ấn-độ có tinh thần nồng nhiệt hơn là người Trung-hoa. Hắn phải sống trong một chế độ giai cấp cách biệt một cách cứng nhắc và võ đoán, trong khi xã hội Trung-hoa tùy thuộc vào sự liên tục tự nhiên của gia đình. Thế nên ở Ấn-độ ông thấy tôn giáo thần bí và siêu hình được khai triển, mà kết quả là sự gạn lọc cùng cực của Phật-giáo nguyên thủy.
«Điểm chính yếu ở Trung-hoa là tính chất thuần túy thực dụng của đạo Khổng. Bên Nhật thì tổ chức xã hội cứng rắn và phức tạp hơn cho nên có
những áp lực đối với cả nhân mãnh liệt hơn. Do đó, ông lại thấy ở bên ấy một sự gạn lọc cùng cực của tình cảm, cả nghệ thuật lẫn tôn giáo. Người
Việt-nam chúng tôi giống người Trung-hoa nhiều hơn; thế nên, với chúng tôi Phật giáo thuần túy đã thoái hóa thành một sự pha trộn của tôn-giáo
bình dân với lễ nghi của phái Đại-thừa, trong khi đó thì Thiên-chúa-giáo của chúng tôi ngả về một hình thức quá La-tinh. Chính tôi ít cỏ cảm tình với tính chất đơn giản trực giác của giáo điều mà lẽ ra tôi phải có nhiều. Bản chất tôi là một người Pharisee (1), một người theo thuyết Jensen (2) và ngay đến cái kỷ luật của lý trí và kinh nghiệm cũng không thay đổi được tôi nhiều … Người ta gọi tôi là nhà Đại-Thừa-Sai – nhưng muốn vậy phải là người có khuynh hướng tàn bạo và tôi đâu có tàn bạo».
« Thưa Tổng-thống, ngài thấy làm một người bao dung có khó khăn lắm không? »
«Không … không hẳn là khó khăn. Với tư cách riêng là một giáo dân Ki-tô, tôi rất sẵn sàng để cho mọi người tự hành tội mình theo cách mình muốn, nhưng trong đời sống công cộng-đặc biệt là trong đời sống công cộng ở Á-châu – ai cũng chỉ kính trọng người hùng mạnh mà thôi.»
(1) Tín đồ của một giáo phái Do-thái cổ xưa, rất mực tôn trọng luật lệ thành văn nhưng đồng thời cũng chấp nhận những luật lệ phép tắc cổ truyền.
(2) Nhà thần học người Hòa-lan, thế kỷ 17, tin tưởng ở thuyết tiền định và phủ nhận ý chí tự do.
«Như vậy thì người hùng mạnh cũng phải gắng làm cho mọi người yêu mến mình nữa chứ? »
Ông suy ngẫm về vấn đề ấy trong chốc lát đoạn ngập ngừng trả lời. «Đó là vấn đề cá nhân đối với tôi … Tôi luôn luôn cảnh giác về điều ấy …
Chính tôi không ưa người ta đụng chạm tôi và cái ý tưởng đi xoa đầu trẻ con trong làng và hôn hít các cô gái và các bà già quê mùa đối với tôi thực là xa lạ … Tôi biết rằng tôi có bổn phận làm thế. Nhưng không có tài nên tôi biết nếu có làm cũng vụng về lắm.»
Không biết lúc ấy ông là người thế nào nhưng chắc chắn ông không phải là một người cuồng tín và tôi chỉ còn biết kính phục ông đã tự bộc lộ bản chất mình một cách lương thiện. Ông cũng không phải là một người điên dại, mặc dầu sự tôn sùng lý trí theo kiểu Gô-loa của ông rất có thể sẽ phản lại ông, cũng như nó đã phản lại chính những người Gô-loa, bằng cách làm ông phạm phải những điều rồ dại tầy trời. Khi ăn xong, ông dẫn tôi tới một sân thượng nhìn xuống một khu vườn có tường cao vây kín. Trên tường có chăng giây thép gai và mỗi góc đều có chòi gác với người lính võ trang đứng, dáng đen xẫm và thê lương trên nền trời. Không khí ấm áp, yên tĩnh và đầy mùi hương hoa nhài. Cà-phê được dọn ra và một ly cô-nhắc đem tới cho tôi. Cung châm một điếu xì-gà hút, sự xa hoa đầu tiên tôi thấy ông dùng. Rồi ông ngồi ngả người về phía sau quan sát tôi qua những làn khói thuốc cuồn cuộn bay. Đôi mắt ông giờ đây như có màn che, vẻ mặt biến thành một thứ mặt nạ của ông vua học giả; giọng nói ông bỗng có những thanh sắc trịnh trọng, diều cợt của một ông quan.
«Thế là cuộc nghỉ ngơi ngắn của chúng ta đã chấm dứt, thưa ông Đại-sử. Chúng ta trở lại công việc thôi. Vị trí của chúng ta bây giờ ra sao?
«Nguy ngập lắm-cho cả hai chúng ta! »
«Vậy thì sao? »
«Vậy thì, thưa Tổng-thống, tôi sẽ trình ngài sự thật, có thế nào tôi xin nói thế. Với tư cách Đại-sứ của Hoa-kỳ, ngày mai đây tôi sẽ chuyển đạt lên ngài một văn thư chính thức phản kháng những lời buộc tội bất công và vô căn cứ mà ngài đã đưa ra chống lại nước tôi tại Quốc-hội. Tối nay đây, với tư cách riêng, tôi xin nói để ngài rõ là tôi không tán thành những sự trừng phạt mặc dầu tôi sẽ phải đưa ra nếu tôi được chỉ thị hoặc nếu tôi, cảm thấy buộc lòng phải làm như vậy. Tôi cũng xin nói để ngài rõ là tôi không tán thành sự vận động mới rồi ở Liên-hiệp-quốc và tôi nghĩ rằng ngài đã đối phó lại rất hay bằng cách mời mọc sự điều tra công khải … Nói như vậy để tôi cũng xin thưa với ngài rằng hồi chiều nay ngài đã đi quá xa.
Ngài tuyên bố những điều mà ngài sẽ thấy rằng rất khó mà rút lại được. Có thể là ngài đã làm thương tôn mối giao hảo giữa ngài và chúng tôi quá nhiều làm chúng tôi không bao giờ có thể hàn gắn lại được nữa. Tôi muốn hàn gắn mối giao hảo đó, xin ngài tin tôi! Tôi sẵn sàng cộng tác với ngài về mục đích ấy. Nhưng ngài phải giúp tôi mới được.»
«Ông đề nghị tôi giúp bằng cách nào, ông Đại-sứ? »
«Tôi nghĩ ngài sẽ đồng ý rằng việc đó đòi hỏi một cử chỉ một cử chỉ của đôi bên và công khai, để cứu vẫn thể diện của chính phủ ngài và chính phủ tôi.»
«Cử chỉ là những điều nguy hiểm, thưa ông Đại-sứ. Mỗi cử chỉ là một ký hiệu mà ký hiệu đối với mỗi dân tộc đều có ý nghĩa khác nhau. Ở bên Mỹ, hôn nhau là sự chào hỏi thông thường. Ở bên Nhật một nước mà ông đã biết rõ nó lại là một sự công-xúc tu-sỉ. »
« Có vài cử chỉ mà tất cả chúng ta đều quen thuộc. Chẳng hạn như lòng tôn kính đối với người chết. »
« Xin đồng ý: Và ông đề nghị cử chỉ nào? »
« Ngày mai xác nhữug Thủy-quân Lục-chiến của chúng tôi và những chiến hữu Việt Nam của họ se được phi cơ đưa từ Đà Nẳng vào Saigon. Ở phi trường sẽ có một cuộc tiếp đón đầy đủ lễ nghi quân cách. Sau đó là lễ
mai táng, nghi thức tùy theo tôn giáo của mỗi người. Tôi xin yêu cầu ngài cùng tôi đến phi trường và cùng dự lễ mai táng. Làm như vậy, thì chúng ta cũng có thể mai táng công khai luôn những mâu thuẫn giữa hai bên.»
Ông mỉm một nụ cười mỏng manh với tôi và gật đầu ưng thuận. «Ông là một nhà ngoại giao giỏi đó, ông Đại-sứ. Tôi có lòng kính trọng ông lắm. »
«Thế là ngài đã ưng thuận? »
« Tôi đâu có nói thế. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải cứu xét rất kỹ lưỡng cái ý nghĩa của hành động công khai ấy và luôn cả những hậu quả của nó nữa. Trước hết, buổi lễ này sẽ do Bộ Tư-lệnh Quân-lực Hoa Kỳ tổ chức và điều khiển, có đúng không? »
« Đúng. »
« Nhưng đây là cuộc chiến của chúng tôi, đúng vậy không? Quân sĩ Hoa Kỳ đến đây với tư cách cố vấn chứ không phải chiến binh. »
« Dù ngài gọi là gì nữa, họ vẫn bị thiệt mạng như thường. »
« Nhưng đúng lý ra là chúng tôi có bổn phận phải tổ chức lễ nghi quân cách thay vì người Hoa-kỳ chứ?
« Thưa Tổng-thống, nếu ngài sẵn lòng tổ chức, tôi có thể nói là chúng tôi sẽ xin ưng thuận. »
«Nhưng giả thử tôi tổ chức lễ nghi đó rồi sao?»
«Thì thiên hạ sẽ hiểu đó là một cử chỉ đại lượng và xác nhận tình hữu nghị vững bền của chúng ta.»
«Ở Hoa-kỳ, thì có lẽ vày, vì dân chúng giầu tình cảm và dễ xúc động. Nhưng ở đây, ông có biết điều gì sẽ xây ra không?»
«Điều gì vậy, thưa Tổng-thống?»
«Trong các làng mạc, trong các chợ búa ở thị thành, họ sẽ đem bàn tính ra. Họ sẽ đếm, bằng cách gầy những khoen gỗ-và chặc lưỡi nữa! Họ sẽ nói, ở Đà Nẵng có mười người Mỹ và hai người Việt chết thì Tổng-thống ông ấy làm lễ lớn và khóc ở đám táng. Còn ở Tân An có bốn mươi tám người Việt chết thì ông lại không thắp được lấy một nén hương cho họ … ông thấy không! Tổng Thống ông ấy là người Công giáo – ông là cái càng cùm kẹp cứng lấy chúng mình để chịu cảnh nô lệ ngoại bang.»
«Ngài có thật sự tin rằng điều ấy sẽ xẩy ra không?»
«Tôi biết lắm. Một vài ông tưởng của tôi sẽ làm cho điều ấy xảy ra. Các áo cà-sa vàng sẽ xầm xì về điều ấy từ nhà nọ sang nhà kia khi họ vác bát đi xin ăn. Bọn Việt-cộng sẽ in truyền đơn đi ném tại các thôn xóm ban đêm.»
«Nhưng ngài có thể trả lời được họ chứ?»
«Bằng cách nào?»
«Ngài hãy làm cho cử chỉ ấy được trọn vẹn. Ngài sẽ cùng tôi đi khắp trong nước. Dùng trực thăng bay từ ấp này qua ấp kia. Để cho họ nghe thấy tiếng ngài nói và cảm thấy sự hiện diện của ngài. Ngài có thể lấn át được tiếng xầm xì bàn tán và làm cho những kẻ âm mưu phải hổ thẹn!»
Trong một vài khoảnh khắc, tôi tưởng đã làm ông xiêu lòng. Ông ngồi đấy, đôi mắt hé mở, đầu rụt ngả trên ngực, đăm đăm nhìn ngọn xì-gà cháy đỏ rồi một cách từ tốn, ông ngửng đầu lên và nhìn tôi. Giọng nói ồng êm ái và đượm một vẻ ái ngại.
«Vậy mà ông vẫn chưa hiểu! Cái càng cua! Ông có biết ý nghĩa của nó như thế nào trong cái xứ này không, ông Đại-sứ ? Nó tượng trưng cho người ngoại bang bóc lột và thằng bù nhìn phục vụ cho quyền lợi của chúng. Cái kỷ ức của sự thống trị thực dân đã ăn sâu như cái gai đâm trong da thịt dân tộc chúng tôi. Tôi không thể cùng ông đi diễn hành trong một trực thăng Hoa-kỳ được. Nhưng nếu trực thăng là của tôi và ông là khách của tôi mời ông thấy sự khác biệt chứ?
Bất kể tôi nhận sự giúp đỡ gì của ông, tôi vẫn phải luôn luôn tỏ ra độc lập mặc dầu là đối với ông dường như tôi có vẻ bướng bỉnh và bất chấp dư luận ngcại quốc. Không có cách nào khác để hy vọng bảo tồn được tự do, hòa bình và độc lập trong quốc gia này cả!»
«Vậy thì vì tình thương, thưa Tổng-thống, xin ngài đích thân đi với nhân viên của ngài! Xin ngài hãy đi đến các thôn ấp! Xin ngài hãy tự công bố chúng tôi là bạn chử không phải là kẻ thù của ngài. Ngài không thể cứ tiếp tục giam hãm mình một nơi như một nhà tu sắt đá nguyền rủa kẻ đem bánh đến cho mình trong khi kẻ thù tạo nên những truyền-kỳ để chế diễu mình!»
«Tôi không thể rời nơi này đi đâu được, ông Đại-sứ và ông cũng biết như vậy!»
«Lậy Chúa, tại sao không?»
« Bởi vì đây là trụ sở của chính phủ và nếu tôi rời khỏi, nơi này có thể nội trong một đêm rơi vào tay những kẻ phản nghịch và mưu phản.» Ông lấy bàn tay nhỏ nhắn chỉ các chòi canh và bóng đen của các lính canh. «Họ đứng đó không phải để làm cảnh đâu, thưa ông. Từ trước đến giờ đã có nhiều vụ mưu sát tôi và nhiều nỗ lực để àm mưu lật đổ tôi. Ngay trong
giờ phút chúng ta ngồi đây, có nhiều kẻ ở địa vị cao đã thề thốt trung thành với tôi, hiện đang âm mưu với nhạu. Ông phải biết rõ điều đó bởi vì các cuộc âm mưu hiện đang đươc tạo nên ngay trong tòa Đại-sứ của ông.»
« Thưa Tổng-thống, ngài không có quyền nói như vậy. »
« Tại sao không? Tôi đã cho công chúng rõ việc ấy rồi. » Ông ngồi thẳng người lại và cầm xì-gà xỉa vào ngực tôi. «Vậy thì được lắm! Tôi sẽ làm một cuộc mặc cả với ông. Ngày mai tôi sẽ dự đám tang với ông. Tôi sẽ cùng ông
đi khắp nước và tuyèn bố rằng chúng ta đã giải quyết xong các mâu thuẫn. Tôi sẽ cho thả những tên Phật-tử xách động và các sinh viên với một điều kiện!»
« Tôi xin nghe. »
« Là ông Harry Yaffa phải rời khỏi nước trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ.»
« Đó là một điều kiện không thể chấp nhận được. »
« Sao vậy? » « Bởi vì làm như vậy sẽ là công khai xác nhận rằng Hoa-kỳ đang âm mưu chống chính phủ. Nếu hôm nay ngài không đưa ra lời kết tội tại Quốc-hội thì tôi cũng có thể thu xếp cho Yaffa thuyên chuyển đi được. Nhưng giờ đây ngài đã làm cho điều ấy không thể thực hiện được! Tôi rất tiếc, rất lấy làm tiếc. »
«Tôi cũng rất lấy làm tiếc cho ông. Ông Đại-sứ.»
« Tại sao lại tiếc cho tôi?»
« Bởi vì, mặc dầu tôi mến ông rất nhiều và kính trọng kinh nghiệm của ông rất. nhiều, tôi thấy ông là một người không quả quyết. Tôi cũng nghĩ ông là một người rất đau khổ. Ông biết rõ sự thật, nhưng ông không dám chấp nhận những hậu quả của nó. Ông không thú nhận việc đó với tôi, không sao – đó là vấn đề ý tứ ngoại giao. Tối nay tôi đã gắng hết sức tự biểu lộ với ông một cách thành thật, tôi đã để ông thấy rõ những nhược điểm và sức mạnh của tôi. Tôi cho rằng ông cũng đã hiểu rõ. Nhưng ông chưa sẵn sàng chấp nhận – nói chi đến việc đánh cá theo những điều đó. Tôi rất hiểu rõ ông, òng Amberley. Ông là một người thông minh, trí thức. Sở dĩ tôi hấp dẫn ông là vì ông thấy tôi là một người lưu tâm đến những giá trị tâm linh, có làm lỗi nhưng lại đủ lương thiện để biết lỗi … Vậy mà mặc dầu biết thế, ông vẫn không muốn cho tôi một dấu hiệu tin tưởng hay tin cậy cá nhân nào. Ông nghi ngờ rằng tôi có thể có lý nhưng ông lại muốn duỗi ra trong trường hợp sai lầm. Ông giống như người đánh sóc đĩa lại muốn đặt luôn cả chẵn lẫn lẻ. Ông đòi hỏi một sự toàn bích không thể có được. Ông muốn một giải pháp đơn giản cho một vấn đề đã lâu đời và phức tạp. Ông không thể có được những thứ ấy trên thế gian này đâu. Ông muốn có một tên bù nhìn nhẩy múa
theo điệu nhạc của ông? Có ngày ông cũng sẽ tạo được cho ông một tên. Nhưng ông sẽ thấy rằng, cũng giống như thẳng Cuội, nó sẽ ăn gian nói dối và cái mũi đánh hơi lợi lộc của nó càng ngày càng dài ra. Ông gọi tôi là một nhà sư, một nhà tu kín. Có lẽ tôi như vậy thật. Nhưng tôi vẫn có một lương tri, mặc dầu nó không giống của ông, mặc dầu nó không mềm dẻo bằng lương tri của ông Harry Yaffa … »
« Thưa Tổng-thống, tôi có thể thưa với ngài một điều ngay bây giờ?»
« Ông là khách của tôi. Ông có quyền ăn nói tự do. »
« Vậy thì tôi xin phép thưa với ngài vài điều về Harry Yaffa. Tôi cũng chẳng ưa thích gì hắn. Tôi không thích nghề nghiệp hắn làm, nhưng đó là một nghề nghiệp mà tất cả chúng ta đều xử dụng bởi vì cần có nó. Trên phương diện cá nhân tôi thấy hắn thiếu cảm tình. Nhưng mặc dầu ngài hay tôi nghĩ gì về hắn, hắn đã giúp nước này một cách đắc lực. Không có hắn, chương trình ấp chiến lược của ngài có lẽ đã không tiến triển được xa bằng hiện nay. Ngài cũng không có được những toán Biệt kích Nùng hay những thuyền hải-tuần ở bờ Biển Đông. Không có những điệp viên của hắn ở Cam-bốt và Lào, ngài sẽ không thể kiểm soát nổi sự buôn lậu vũ khí trên sông Cửu Long … Còn điểm nữa, thưa Tổng-thống. Nếu có những âm mưu
chống lại ngài và tôi tin chắc rằng có thì đó là do chinh người Việt Nam. Nếu Ngài bị truất phế, ai sẽ nắm quyền lãnh đạo tại Dinh Gia-Long? Chắc chắn khòng phải là Harry Yaffa!
Ngài nói tôi đòi hỏi một sự toàn bích không thể có được trong mỗi giao hảo giữa chúng ta. Phải chăng là ngài cũng đang đồi hỏi một sự toàn bích cũng không thể có được như vậy? Ngài được võ trang, nuôi dưỡng và trang bị bởi Hoa-kỳ, một nước mà nền chính trị vốn nhạy cảm với dư luận quần chúng nhất thế giới. Vậy mà ngài đã khiêu khích chúng tôi, chửi bới chúng tôi và kết tội chúng tòi là phản bội ngay giữa công chúng. Chửi cho xả hơi rồi ngài lại đòi hỏi các công dân của chúng tôi đưa cho ngài thêm tiền, thêm vũ khí!
Thưa Tổng-thống, ngài là người có lý trí! Nhưng chuyện ngài làm là sự điên khùng! Dẫu là Quốc hội của chúng tôi cũng không kiểm soát nổi một trăm tám mươi triệu dân. Ngài đang cần đến họ như thế mà ngài lại đi khiêu khích họ như ngài đã làm hôm nay! »
«Liệu tôi có cần phải quỳ lậy họ không, ông Đai-sứ? Liệu tôi có cần phải ngả nón cầm tay đi xin như người ăn mày không, chỉ vì tôi đang giữ tuyến đầu cho Hoa-kỳ ở Á-châu? Tôi có bảy trăm triệu người Trung-hoa ở ngay cửa hậu nhà tôi! Tổi vẫn khiêu khích họ nhưng tôi vẫn còn đứng vững và chiến đấu cơ mà! Ông Đại-sứ, xin đừng quên đầu đuôi câu chuyện này. Chính là người Mỹ các ông đã đưa ra lời phản đối công khai đầu tiên về một hoàn cảnh mà các ông chỉ biết được có một nửa. Chính là các ông đã đưa ra sự đe dọa đầu tiên về những trừng phạt. Và đó là lỗi lầm lớn của các ông. Làm sao mà các ông có thể đe dọa nổi một kẻ đã vui lòng chịu chết?»
« Thưa Tổng-thống, như vậy có nghĩa là ngày mai sẽ không có sự hiện diện của ngài tại phi trường? »
«Tôi sẽ không đến, không thể đến được. Nhưng tôi sẽ cử ông Bộ-trưởng Ngoại-giao và nhân viên Bộ Tổng Tham-mưu đại diện cho tôi.»
« Ngài cũng không cùng tôi đi thăm viếng các khu vực quân sự nữa? »
« Còn Yaffa ở tại đây – thì không! »
« Ngài có sẽ chỉ thị cho thả các nhà sư và sinh viên đang bị giám giữ không? »
«Khi các cuộc điều tra của chúng tôi hoàn tất, mỗi trường hợp sẽ được tái xét tùy theo những dữ kiện của nó ».
« Với sự cam kết của thiện chí riêng cá nhân tôi và lòng mong muốn giải thích một cách thuận lợi cho ngài với Hoa-thịnh-đốn và với báo chí thế
giới – liệu ngài có cứu xét hay đưa một cử chỉ nào để hàn gắn sự sứt mẻ
đó? »
« Òng có đề nghị gì không? »
« Tôi nghĩ rằng nỏ phải xuất phát tự nơi ngài mới được, thưa Tổng-thống.»
« Trong lúc này tôi không thể đưa ra được điều gì. »
« Vậy là chúng ta lại lâm vào ngõ bí? »
« Đó là chính ông nói vậy, không phải tôi ».
« Vậy thì thưa Tổng-thống, tôi xin cáo biệt ngài. Xin cám ơn ngài đã cho ăn một bữa ngon ».
« Chào òng Đại-sứ. »
« Kính chào Tổng-thống. »
Lúc tôi bước ra khỏi Dinh đi vào đêm tối dầy đặc mây mù, sự khôi hài vĩ đại của hoàn cảnh khi ấy làm tôi sững sờ. Khôi hài là hai người đã tỉnh ngộ vì tai họa lại có thể ngồi ăn cơm với nhau sần sàng để hàn gắn những mâu thuẫn và một tiếng đồng hồ sau lại có thể đầy nhau tới một cuộc cãi lý vô ích có thể làm thiệt mạng một triệu người và thay đổi hẳn lịch sử của những bán đảo Á-châu. Tôi giận dữ một cách cay đắng và buồn thảm. Càng nghĩ tôi lại càng thấy lời Cung phê phán về tôi như một lời chửi rủa có tính toán. Tôi có thể chấp nhận Muso Soseki chửi tôi bởi ông là thầy tôi về đường học đạo giải thoát, nhưng nghe con người ấy chửi tôi quả là một sự trắng trợn không thể tha thứ được và tôi không chịu nghe chửi như vậy. Với trạng thái tâm hồn đen tối như vậy tôi về tới tòa Đại-sứ và đọc một bức điện văn then chốt gửi Festhammer:
TỐI NAY TỔI ĐÃ DÙNG CƠM VỚI TỔNG THỐNG CUNG VÀ ĐƯA RA LỜI PHẨN ĐỐI MÃNH LIỆT VỀ BÀI DIỄN VĂN QUỐC HỘI-ĐÃ
ĐỀ NGHỊ CỬ CHỈ HÒA GIẢI ĐẦU TIÊN LÀ ÔNG HIỆN DIỆN ĐÁM TÁNG NHÂN VIÊN PHI HÀNH TRỰC THĂNG HOA-KỲ NGÀY MAI VÀ SAU ĐÓ CÙNG TÔI THĂM VIẾNG CÁC CHIẾN TRƯỜNG. TÔI ĐÃ ĐỀ NGHỊ HỢP TÁC HOÀN TOÀN ĐỀ TÁI THIẾT LẬP GIAO HẢO VÀ CỨU VÃN ĐƯỢC THẺ DIỆN CHO ÔNG VỚI BÁO CHÍ. ÔNG KHƯỚC TỪ NHƯỢNG BỘ ĐIỀM NÀY HAY BẤT CỨ ĐIỂM NÀO KHÁC. DO ĐÓ TÔI ĐỀ NGHỊ XỬ DỤNG QUYỀN LỰC DÀNH CHO TÔI VÀ CẮT ĐỨT MỌI VIỆN TRỢ KỀ TỪ 1200 GIỜ THỨ TƯ MÙNG CHÍN – ĐANG CHỈ THỊ TOLLIVER CHUÂN BỊ RÚT LUI NHÂN VIỀN
QUÂN SỰ ĐỢT ĐẦU – BÁO CÁO ĐẦY DỦ GỬI SAU – AMBERLEY.
Tôi kêu điện thoại cho Đại-tướng Tolliver và báo cho ông biết tin. Ông lầm bầm một cách không vui sướng và cho tôi một mẫu tin khác cho ngày làm việc của tôi được trọn vẹn: nhân viên của Phái bộ Quân sự Úc ở miền núi phía Bắc đã biết được danh tính của hai tiểu đoàn Việt-cộng mới và một tiểu đoàn khác đã được truy danh tính một cách chắc chắn do cuộc thẩm vấn tù binh sau trận Tân-an. Bác Hồ và đại kế-hoạch-gia quân sự của ông là Đại tướng Giáp đang triệt để lợi dụng các sự xáo trộn ở miền Nam và hoạt động đại quy mô của Việt-cộng có thể sắp xẩy ra ở khắp các khu vực. Tôi bảo Tolliver tôi muốn đi viếng thăm ngay các khu vực chiến trường. Điều đó lại làm ông kém vui hơn và ông đã mất mười phút tả cho tôi nghe các sự nguy hiểm. Tôi để ông nói xong rồi bảo ông tôi cần phải đi, dù chỉ đề cho Cung tiêu hóa xong liều thuốc của ông ta và suy nghĩ về một sự thay đổi lòng đạ.
Sau đó tôi trở về nhà rièng và thấyAnne Beldon đang thù tạc Harry Yaffa ăn trễ với cà-phê và bánh ngọt. Tôi cảm thấy nhói lên một nỗi ghen tuông khi thấy cảnh thân thuộc ấy và cũng do sự yếu đuối, tôi yêu cầu Anne ngồi lại
và ghi chép về cuộc thảo luận giữa chúng tôi.
Yaffa cũng đã gặp phải nhiều rắc rối. Luận điệu thách đố của bài diễn văn Cung đọc tại Quốc-hội đã làm cho những người âm mưu khiếp sợ. Họ tin rằng đó là dấu hiệu ông đã thắng trận ngoại giao với Hoa-kỳ và tự thấy mình đủ vững mạnh để đứng một mình. Ngoài ra cũng có những tin bị tiết lộ và cả phản bội trong hàng ngũ của họ nữa. Đã có nhiều viên chức cao cấp bị công an canh chừng công khai. Hai tướng lãnh trong chức vụ chỉ huy đơn vị đã bị thuyên chuyển về Saigon giữ chức vụ hành chánh để bị đặt trong tình trạng bất động và hết liên lạc với đơn vị của họ. Tựu chung là nếu muốn phong trào chống đối khỏi tan rã thì nhóm người âm mưu sẽ cần phải có một dấu hiệu rõ rệt và chắc chắn về sự ủng hộ của chúng ta.
Sự tin tưởng của chính Yaffa dường như đã tan biến mất, kể cũng lạ. Hắn nóng nẩy và thiếu thoải mái, tựa hồ như tất cả bài toán kỹ lưỡng của hắn đã trở thành vô nghiệm. Hắn tươi lên đôi chút khi tôi cho hắn biết rằng các sự trừng phạt sẽ được thi hành trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Tôi cũng kể cho hắn nghe việc Cung đã đòi ỏi trục xuất hắn khỏi xứ và tôi đã khước từ. Nghe vậy, hắn gần như vui vẻ trở lại và nói với tôi rằng sự chấp thuận của cá nhân tôi đối với hắn rất quan trọng. Tôi thì tôi thầm nghĩ rằng việc đó chẳng đáng giá non vàng núi bạc gì nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận sự giả tạo đó bao lâu nó còn thuận lợi cho những mục đích của tôi.
Rồi bởi vì tôi vẫn còn tức giận với chính tôi và với Cung nên tôi đột ngột quyết định một việc khác.
« Anh Yaffa, tôi sẽ cho anh biết chuyện này và cô Beldon sẽ ghi chép lại. Anh với tôi mỗi người sẽ có một bản và tôi sẽ gửi một bản về Hoa-thịnh-đốn. Nếu tôi nói không được rõ, xin anh cho tôi biết và tôi sẽ sửa đổi lại bản văn theo ý anh nhưng một khi đã thành giấy trắng mực đen tôi muốn anh triệt để làm theo trong những giới hạn của nhiệm vụ giao phó. Nếu anh đi ra ngoài những giới hạn ấy, anh sẽ chịu trách nhiệm với tôi. Rõ chưa? »
« Thưa rất rõ, ông Đại-sứ. »
« Được! Cô Anne, chúng bắt đầu từ đây!
Trong lúc này rõ rệt là Tổng-thống Cung không có ý định thay đổi thái độ đối với Phật giáo. Cũng rõ rệt là ông sẽ không rút lại những lời tuyên bố đầy chủ ý và phá hoại tại Quốc hội. Bây giờ phải chờ xem ông có thay đổi thải độ hay không sau khi chúng ta cưỡng bách những sự trừng phạt. Nếu ông không thay đổi, có lẽ chúng ta phải cứu xét việc có thể yểm trợ một chính phủ khác có khả năng hơn để thống nhất đất nước và điều khiển chiến tranh … »
« Được không, anh Yaffa? »
« Được » Harry Yaffa nói.
« Bởi vậy, với tư cách Đại sứ Hoa Kỳ, tôi sẵn sàng cho phép sự tiếp xúc và tham khảo ý kiến với những người nào tỏ ra có thiện chí và khả năng thành lập một chính phủ thay thế nếu và khi nào thấy cần thiết. Tuy nhiên tôi không thuận việc chính thức hay mặc nhiên chấp thuận bất cứ hành động nào để lật đổ chế độ hiện tại chừng nào tôi chưa có đầy đủ tin tức về những
nhân vật tham gia và những phương pháp họ dự định xử dụng và chừng nào tôi chưa được Hoa-thịnh-đốn ưng thuận … »
« Được » Harry Yaffa nói.
« Tòi ủy thác cho ông Harry Yaffa nói rõ cho các người mà ông tiếp xúc biết rằng bất cứ trong trường hợp nào chúng tôi cũng không thể chấp
thuận một vụ ám sát chính trị. Tôi cũng ủy thác ông đòi hỏi cho được sự cam kết rằng trong trường họp có cuộc đảo chánh mà mặc dầu chúng tôi đã mặc nhiên ưng thuận, cá nhân của Tổng-thống Cung và nhân viên Nội-các của ông sẽ phải được bảo vệ … Ông Yaffa đã cho tôi biết rằng mặc dù có sự cam kết ấy, ông cũng không thể đích thân đảm bảo sự cam kết ấy sẽ được tôn trọng. Đó là một sự thoái thác hợp lý, nhưng điều đó không cho phép ông phủ nhận nhiệm vụ hết sức nỗ lực thi hành chính sách của chúng ta trong vấn đề này … Như vậy có được công bằng không, anh Yaffa? »
« Thưa ông Đại-sứ, theo ý tôi không thể gọi là công bằng được, nhưng tôi sẽ chấp nhận. »
« Sau hết, sự chấp nhận của chúng ta đối với bất cứ hành động nào nhằm truất phế chính phủ Cung sẽ được gọi bằng một ám danh, thỏa thuận trước giữa ông Yaffa và tôi. Chừng nào chưa có ám danh đó, Hoa Kỳ không thể
bị coi là đã cam kết ung hộ một chế độ mới …
Cô Anne, đây là một tài liệu Mật và các nơi nhận chỉ có tôi, ông Yaffa và Hoa-thịnh-đốn mà thôi.»
« Xin cám ơn ông Đại – sứ », Harry Yaffa nói với sự ưng thuận nhẹ nhõm. « Đó là một bước tiến trong hướng đi đúng – và ít nhất thì tôi cũng không còn hành động đơn độc nữa. Khi nào ông sẵn sàng tiếp chuyện với các tướng lãnh, xin cho tôi biết để tôi dàn xếp các cuộc gặp gỡ. »
« Tôi dự tính rời khỏi Saigon vài ngày để quan sát tình hình chiến sự. Nếu có người nào anh muốn tôi gặp trong các cuộc du hành, anh làm ơn cho tôi
biết. »
«Thưa ông Đại sứ, ngày mai ông có thể gặp một người, nếu ông muốn. Tên người đó là Trung-tướng Trân-hưng-Đạo. Ông ta sẽ đại diện cho Quân đội tại đám táng sáng mai. Đại-tướng Tolliver có lẽ sẽ mời ông ta về Bộ Tư-lệnh uống rượu sau buổi lễ. Hiện nay ông ta giữ chức vụ Phụ tá Tham mưu – trưởng, nghĩa là theo đường lối cai trị của Cung, chẳng có nghĩa lý gì cả. »
« Mình có thể tin ông ta được không, anh Yaffa? »
« Thưa ông, mình nên nói thế này thì hơn. Địa-vị của ông ta trong chính quyền rất là bất trắc. Ông đang tìm một sự thay đổi. Ông cho rằng chúng ta là những người có thể cho ông một cơ hội tốt. Sau đó thì ông chỉ việc lựa lời nói, tùy ý. »
Khi hắn đã đi khỏi, với sự hăng hái và tin tưởng một lần nữa, Anne Beldon ngỏ ý pha cà-phê mới cho tôi nhưng tôi tự rót một ly whisky uống rồi bắt đầu đọc cho nàng ghi lại bản tóm lược cuộc đối thoại giữa Cung và tôi.
Đã lâu năm hành sự trong ngành, tôi có một trí nhớ rất tốt về các lời nói và nhận biết rất tinh tường các nhịp điệu và uẩn ý của lời nói. Do đó, khi tôi chắp nối lại cuộc đàm thoại để ghi tốc ký, tôi tự thấy bắt buộc phải kết luận một cách khác hẳn cải kết luận đã đưa đến việc gửi công điện cho Festhammer và cam kết một cách nguy hiểm với Harry Yaffa.
Dĩ nhiên là tôi có thể biện minh cho hai hành động trên và không ai dám nghi ngờ sự phê phán của tôi được. Tôi là một người luôn luôn sẵn sàng
có mặt – con người đầy kinh nghiệm và liêm khiết, nhà thương thuyết lịch thiệp không bao giờ để tính tình lấn phần hơn trong sự phê phán. Nhưng trong cái giờ cuối cùng của một ngày đầy tai họa ấy, tôi biết là tôi đã tự
lừa dối tôi. Tôi đã làm một cuộc giải đoán cứu vãn được sự kiêu ngạo của tôi và kết tội tôi là đã gian lận. Cung đâu có chửi rủa tôi; tôi mới đích thực là kẻ bất định, kẻ không dám đánh cá với sự thật mà mình đã nhìn thấy nhưng lại cố trốn tránh nó, với sự xử đoán hoạt đầu.
Phùng Văn Cung đã hết sức thành thật với tôi ông đã cho tôi thấy những khuyết điểm cá nhân và những điều khó xử trong công việc của ông. Ông đã yêu cầu tôi tin nơi ông, nhưng tôi đã đòi hỏi cho kỳ được ông phải rút lại lời
nói một cách công khai và ngay tức khắc nghĩa là một sự hành quyết công khai sẽ làm cho uy tín người lãnh đạo quốc gia của ông bị triệt hạ ngay. Ông đã không yêu cầu tôi biện minh cho những sự bất thiện toàn của ông mà chỉ xin tôi cố chịu đựng vì sợ có những lỗi lầm lớn hơn. Còn tôi? Tôi đã không chịu khó kiên nhẫn, tôi đã kêu gào đòi hành động và thay đổi mau lẹ. Tôi đã mưu toan làm một cuộc đảo chính của riêng tôi. Này, coi đây!
Tôi là kẻ lạ mặt mới đến, nhưng hãy coi tôi đã làm được trò lạ gì! Một con thỏ trắng, hai con bồ câu còn sống, một khăn quàng cổ, một chùm nho, một màng trinh và một phép mầu một nhà độc tài đã cải hóa khôn ngoan hơn cả Thánh Thần!
Bản văn tôi chưa đọc xong nhưng lời lẽ đã như phèn chua trên đầu lưỡi nên tôi uống luôn thêm hai ly whisky nữa để cho trôi cái vị ấy đi. Nhưng đầu tôi thì đặc những bông gòn còn đôi bàn tay thì run rẩy. Rượu và một ý nghĩ khác chợt đến làm tôi choáng váng. Tôi đã yêu cầu ông Cung rút lại lời tuyên bố tại Quốc-hội. Nhưng làm sao mà tổi rút lại được những lời giả trá tế nhị mà tôi đã gửi về Hoa-thịnh-đốn? Sau cùng Anne Beldon gấp cuốn tập lại và khẽ nói: «Ông Đại-sứ, ông nên đi nghỉ. Ông đã làm việc mệt nhọc suốt ngày và còn ngày mai nữa».
«Tại sao lại ngủ để đùa với ác mộng? »
«Nếu ông muốn, tôi sẽ lấy cho ông một viên thuốc ngủ».
«Tôi không bao giờ dùng thuốc ngủ cả. Tôi đã uống một lần và thấy cứ muốn uống thêm, thật dễ sợ. Tôi muốn đi dạo một chút. »
Nàng cười một cách bao dung và lắc đầu. «Có chỗ nào mà đi. Thành phố thì đang thiết quân luật. Đi chưa được một trăm thước có lẽ ông đã bị lính bắn rồi.»
« Còn khu vườn. »
« Ông sẽ làm cho hệ thống báo động kêu lên. »
« Đó là một ý tưởng hay ho! Một khu vườn là một vật đáng yêu, Thượng-Đế dậy như vậy! Đặc biệt là khi mình trồng toàn giây bẫy và mắt quang điện … Cô có cho rằng có một con chim cu trong vườn không? »
« Một con chim cu? »
« Đó là một câu đố, cô Anne. Tối nay tôi đã tìm thấy câu trả lời … Xin lỗi đã giữ cô lại quá khuya. Thôi chúng ta đi nghỉ. »
Xuống dưới chân cầu thang tôi loạng choạng suýt ngã và nàng đưa một bàn tay ra để giữ cho tôi đứng vững. Tôi cẩn thận không dám đụng vào người nàng vì ngày mai đây tôi lại phải trở thành ông Đại-sứ ..
Đám táng của những nhân viên phi hành trực thăng là một vở kịch đáng chú ý về mọi mặt. Tôi là một diễn viên trong vở kịch đó và tôi hết lòng ngợi khen sự đạo diễn của Đại-tướng Tolliver. Đúng mười giờ ba mươi phút, tôi phải rời tòa Đại-sứ với các thuộc viên và vị tùy viên quân sự của tôi. Tôi sẽ tới phi trường lúc mười giờ năm mươi và đi duyệt toán lính chào danh dự tại sân bay. Mười một giờ chiếc phi cơ vận tải sẽ đáp xuống và quan tài sẽ được khiêng ra. Một vị tuyên úy quân đội sẽ đọc lời Tiễn biệt. Tôi sẽ đọc một bài diễn văn ngắn nhân danh Tổng-thống Hoa-kỳ rồi sau đó cùng ngồi với Đại-tướng Tolliver trong đoàn xe đi về nghĩa trang.
Tuy nhiên cũng giống như chuyện thường hay xảy ra trong kịch trường, cái tấn tuồng ở hậu trường còn có ý nghĩa nhiều hơn là cái tấn tuồng diễn trước ánh đèn sân khấu. Lúc chín giờ rưỡi, Mel Adams báo tin cho tôi biết rằng ông Bộ trưởng Ngoại-giao Việt Nam sẽ không có mặt tại buổi lễ ở phi trường. Ông đã bị đau bất thần đêm qua và bác sĩ bắt ông nằm nghỉ. Ông ta cho gửi tới lời thành thật cáo lỗi và những cảm tình chân thật. Vì khòng thấy nói có ai thay thế, nên rõ ràng là tất cả Bộ Ngoại-giao chắc cũng đang mắc phải cùng chứng bệnh trúng-thực ngoại-giao đó.
Chín giờ bốn mươi lăm Đại-tướng Tolliver kêu điện thoại cho tôi hay rằng vị tư-lệnh địa-phương tại Đà-nằng đã thu nhận xác chết của đoàn viên phi hành người Việt và ông đã được lệnh đem chôn cất họ tại Đà-nẵng với lễ nghi tối thiểu.
Nào đã hết đâu. Toán lính chào danh dự Việt Nam cho cuộc tiếp đón tại phi trường đã bị rút về và các đại diện chính thức của Việt Nam Cộng hòa chỉ còn có vị Phụ-tá Tham-mưu-trưởng và sĩ quan tùy viên của ông.
Tất cả chuyện đó rất là Á-đông tính và rất là hữu hiệu. Đùng một cái chúng tôi bị cô lập với dân chúng, với chiến tranh và với các chiến hữu của chúng tôi. Phương vị của chúng tôi được qui định còn chính xác hơn là bất cứ hiệp ước nào. Chúng tôi là những chủ nhà băng, những người tiếp tế vật liệu, những cố vấn quân sự. Những sự tổn thất của chúng tôi thật là đáng tiếc nhưng chỉ là một biến cố nhỏ trong cuộc đấu tranh đến mất còn của một quốc gia. Nếu chúng tôi muốn làm vụ chết chóc này thành một thứ bi kịch, thì đó là việc riêng của chúng tôi. Đại-tướng Tolliver rất giận dữ, mà giận dữ là phải. Còn riêng tôi, tôi dung dưỡng một sự đắc ý thầm kín. Thế là đã có sự biện minh cho hành động chính trị của tôi, nếu không phải là sự giải thoát đích thực cho lương tri bất an của tòi. Vậy mà khi tôi đứng trên sân bay nhìn chiếc phi cơ đồ sộ giãi dầu phong sương từ từ đỗ lại, tôi cảm thấy mủi lòng không cầm nổi nước mắt vì sự đơn giản tàn nhẫn của giờ khắc ấy.
Có tất cả thẩy mười chiếc quan tài bằng gỗ rừng xấu do thợ quê đóng. Đó là những tấm áo quan mộc. khòng có sơn dầu, khòng chạm trổ, trên mỗi nắp ván đều có một tên người và số quân khắc vào gỗ bẳng sắt nung đỏ. Quan tài được khiêng từ phi cơ xuống trên vai những người trai trẻ lỳ lợm, mặt mũi lởm chởm những râu ria như những anh hùng của một chuyện truyền-kỳ bạo động cổ xưa.Bọn lính đứng chờ để tiếp đón quan tài trông gọn gàng và sạch sẽ, vũ khí của họ sáng loáng trong ánh nắng buổi sáng. Nhưng những chàng trai trẻ đều mặc chiến phục và đồ trang bị bằng da và vải, súng lục đeo bên hông và dao găm giắt cao trên ngực. Má họ xương xẩu. mầu da xạm đen vì nắng và sốt rét rừng; mắt họ trông thiếu ngủ và buồn thảm. Họ bước đi một cách chậm rãi và hiên ngang có vẻ ngạo mạn đối với những kẻ đến viếng chào chiến hữu của họ một cách muộn trễ. Giữa hàng lính dàn chào có mười cỗ xe kéo đại bác, đứng cạnh mỗi cỗ xe là một trung-sĩ người da đen. Bọn người trai trẻ đặt những quan tài trên lòng các cỗ xe và những người trung-sĩ da đen trải lên mỗi quan tài một lá cờ Hoa Kỳ. Sau đó bọn người trai trẻ sắp hàng bốn người mỗi bên một chiếc quan tài như thể họ xác nhận quyền sở hữu đối với những người chết của họ. Máy quay phim kêu xè xè, các nhiếp ảnh viên chạy đi chạy lại một cách hỗn xấc trong khi vị tuyên úy tiến lên để đọc kinh Tiễn biệt. Tôi không nghe thấy những lời ông đọc vì tôi còn đang mải sắp đặt những lời nói của tôi và đồng thời phấn đấu với một tội lỗi nhói bén về sự giả nhân nghĩa của tôi.
Những người trai trẻ đã chết một cách hung bạo và sẽ được chôn cất ở đất khách quê người với tiếng súng và tiếng kèn. Đó là những người trai trẻ! Không phải là tôi, không phải là Tolliver, không phải là Cung, không, phải là Harry Yaffa mà là những người trai trẻ, những người thừa kế của quá khứ, những người tạo nên tương lai, những người có thể sinh con đẻ cái, gây dựng vườn tược, mở những cánh cửa mới vào kiến thức, nhìn thấy những viễn ảnh trên vùng núi non mà chúng ta đui mù không thấy được. Giờ đây họ lại là những kẻ đui mù và bị đất bùn làm câm miệng. Chỉ còn có những loài sâu bọ sinh sống trên ruột gan họ và những đóa hoa miền nhiệt đới mọc dầy đặc trên trái tim họ … Chúng ta đã tổ chức canh xác đêm cho họ, nhưng những kẻ hoạt đầu chinh trị như tôi đã biến cuộc lễ đó thành một sự nhạo báng.
Tôi rất thành thạo trong lễ nghi và tôi đã chuẩn bị một bài diễn văn chững chạc và đơn giản ca ngợi những kẻ đã chết cho chính nghĩa cao đẹp. Bỗng nhiên tôi biết là tôi không thể đọc bài điếu văn ấy ra được. Nếu tôi cố gắng,
những lời nói sẽ làm tôi nghẹn thở mất. Cha tuyên úy cầu nguyện vừa xong và kêu tôi lên trước máy vi-àm. Tôi nghe thấy một giọng nói không phải của tôi đọc lên một bài diễn văn khác trong khi các bóng đèn flash nỏ lốp đốp và các phóng viên cắm cổ ghi chép.
« … Tôi lấy làm hổ thẹn ngày hôm nay. Tôi hỗ thẹn là vì chúng ta phải tự tay chôn cất lấy người chết của chúng ta, như những quân thù, trong một xứ mà chúng ta đã được mời đến với tư cách bạn hữu và đồng minh. Tôi hổ thẹn là vì đồng tiền chúng ta chi ra, phi cơ và võ khí chúng ta mang đến đây, dường như được quí trọng hơn là những người cầm súng chiến đấu và chết xa quê hương như vậy.,. Thật là điều đáng buồn và khủng khiếp đối với tôi khi thấy ngay giữa cuộc chiến tranh để tự tồn này lại còn có những sự xáo trộn trong dân chúng, những sự tranh chấp về tôn giáo và sự tàn bạo trong các xà lim của cảnh sát công an và những trại giam. Những điều đó là cả một sự nguyền rủa đõi với những người trong chúng ta đã chết đi và đối với các chiến hữu đã chết của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà chúng ta không được phép kính điếu ở đây hôm nay … Giờ đây họ không còn nói được nữa; họ trông cậy ở chúng ta nói lên cho họ. Vậy mà chúng ta cứ mất công thảo luận công khai và cãi cọ riêng tư, đưa ra những lời buộc tội nhau đã được dự tính để báo chí hàng hàng ngày đăng lên trang đầu. Tôi lấy làm hổ thẹn vì tôi, là người do Tổng-thống chúng ta đưa sang để đem lại hòa thuận và hiệp ý, thì lại dấn thân vào những sự rắc rối vô hiệu quả. Giờ đây, trước mặt những người đã khuất, tôi nguyện sẽ hết sức cố gắng để gột rửa sự tủi nhục đó. Tôi khẩn cầu những người đang cầm vận mệnh đất nước này hãy cùng tôi đạt lấy cứu cánh đó … Xin Thượng Đế giúp đỡ tất cả chúng ta! »
Khi tôi từ máy vi-âm bước xuống, Đại-tướng Tolliver thì thầm với tôi
« Thưa ông Đại-sứ, thật là tuyệt diệu. Đội ơn Chúa đã có kẻ dám có gan nói
lên sự thật cho bọn khốn nạn đó nghe! »
Ông đã không hiểu rõ tôi nói gì; hay nói cho đúng hơn, do một tiểu xảo tự dối mình của bản năng, tôi đã khước từ không nói rõ ra. Cung vẫn còn là kẻ gian. Tôi vẫn còn là người anh hung bạch y, không sợ một ai không ai dám phiền trách. Nhưng giờ đây nói ra điều tôi đã biết trong trái tim bí ẩn của tôi thì đã quả muộn: nghĩa là, mặc dầu những lời cao đẹp tôi thốt ra, mặc dầu đức hạnh của tôi dã bị xuyên tạc, tôi cũng là một kẻ khốn nạn như họ.
Duyên Anh – Tuổi trẻ, Mộng và Thực là khảo luận công phu của Huỳnh Phan Anh xuất bản giữa mùa hè đỏ lửa năm 72 khi cường độ chiến tranh lên đến mức ác liệt nhất. Cũng là lúc Duyên Anh thành công nhất. Nhiều tác phẩm của Duyên Anh quay thành phim Nhà Tôi, Trần Thị Diễm Châu, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang với các diễn viên La Thoại Tân, Hùng Cường, Băng Châu, Trần Quang… Duyên Anh còn trông coi tuần báo Tuổi Ngọc rồi sau này thêm Ngàn Thông. Duyên Anh có sách bán chạy vượt qua Mai Thảo, Lệ Hằng, kể cả tủ sách Trăng Mười Sáu của Nhã Ca. Một hiện tượng mà Huỳnh Phan Anh phân tích. [Trần vũ]
Huỳnh Phan Anh
Trường hợp Duyên Anh
Duyên Anh là một trường hợp. Đúng hơn ông là một hiện tượng trong số những hiện tượng văn nghệ nổi bật nhất trong khung cảnh văn nghệ tại đây trong vòng 10 năm nay. Người ta có thể chống Duyên Anh trên một vài khía cạnh hay trên toàn thể sự nghiệp văn chương của ông, nhưng người ta không thể không thừa nhận Duyên Anh là một hiện tượng vượt ngoài lề lối thông thường nhờ ở sự thành công cũng như ở thế đứng vững chắc của ông đối với người đọc. Có thể nói Duyên Anh đã thành công và giữ vững sự thành công của mình bền bỉ hơn bất luận một tác giả nào khác đương thời tính đến bây giờ nhờ ông đã biết, một cách nào đó, tự tạo cho mình thành một hiện tượng, một trường hợp đặc biệt. Hoặc chính sự thành công của Duyên Anh đã biến ông thành một hiện tượng của đám đông.
Duyên Anh là trường hợp cho thấy sự thành công, tiếng tăm hay thế giá của một nhà văn không chỉ giới hạn trong phạm vi văn nghệ. Trái lại chúng luôn tìm cách vượt ra ngoài khuôn khổ để vươn tới những không gian khác, những không gian của đời sống xã hội. Đối với số lượng độc giả đông đảo, nhất là giới trẻ, tác phẩm của Duyên Anh đã trở thành một thứ huyền thoại. Duyên Anh đã trở thành một tên gọi quen thuộc, một hình ảnh thân mật, tất cả gắn liền vào những khung cảnh, những giá trị, những lý tưởng, những giấc mơ hiền hòa dung dị của những linh hồn không tên tuổi. Tức là nói tới cái thế giới chan hòa mộng và thực trong đó con người luôn nhìn đời qua lăng kính của kỷ niệm và mộng tưởng …
Duyên Anh đã tạo cho mình một số độc giả quan trọng. Xét trên phương diện nào đó, người ta có thể không quan niệm được sự thành công có tính cách khác thường, vượt bực của ông, cũng như chính ông đã cho rằng ông may mắn. Nhưng sự kiện hiển nhiên là sự thành công đó đã nói lên tính cách phù hợp của tác phẩm ông đối với tâm hồn đầy ước vọng của người đọc. Và Duyên Anh chính là trường hợp điển hình của một nhà văn viết cho một loại người đọc, cho một đám đông mà ông có thể mường tượng được, tức là viết cho một đối tượng rõ ràng. Ở đây, nhà văn không còn, trong một phút ngông cuồng, bảo mình không cần viết cho ai hoặc không cần biết ai sẽ đọc mình. Hắn viết để được đọc, hay đúng hơn, hắn viết cho người đọc của hắn.
Hơn một người đã gọi Duyên Anh là nhà văn của tuổi trẻ, căn cứ vào số độc giả trẻ tuổi vẫn mua sách của ông, vẫn đọc ông. Lứa tuổi đọc và thích Duyên Anh, đó cũng là lứa tuổi Duyên Anh vẫn thường đề cập tới trong chính tác phẩm của ông. Dường như Duyên Anh có tham vọng viết về và cho lứa tuổi đó. Và ông đã thành công. Đối với một số đông độc giả, đọc Duyên Anh trở thành một nhu cầu. Duyên Anh trở thành một thứ thời trang văn nghệ. Một hiện tượng của đám đông. Đó là trường hợp của một số nhà văn có sách bán chạy nhất, trường hợp của những “bestseller”: trường hợp nổi bật nhất nói lên mối tương quan tất yếu giữa nhà văn và xã hội, nói lên vai trò và tác dụng của văn nghệ trên và trong đời sống xã hội. Văn nghệ không còn là sở hữu riêng tư của một thiểu số. Nó luôn tìm cách xâm nhập rộng rãi vào đời sống. Nó tìm đến đám đông. Nó ở lại với đám đông. Nó nhằm đáp lại những yêu cầu sâu xa hay gần gũi nhất của đám đông thể hiện qua những làn sóng độc giả ào ạt chạy theo một tác giả, một tác phẩm. Giữa văn nghệ và cuộc sống, không còn ngăn cách, chia lìa. Văn nghệ đã gia nhập vào cuộc sống. Và cuộc sống đã tìm thấy ở văn nghệ một tâm hồn bạn thân yêu, trìu mến. Ở đây, không còn vấn đề dấn thân hay không dấn thân. Nhà văn nào không dấn thân trong tác phẩm mình. Và tác phẩm nào không dấn thân trong xã hội. Ngay cả tác động viết đã bao hàm một thái độ, một sự chọn lựa. Viết tức là ném ra một lời kêu gọi tới tha nhân. Tức là, đã từ bỏ tháp ngà của mình, đã tham dự, đã nhập cuộc. Trong một tác phẩm, dù tiêu cực cách mấy, dù viễn mơ đến đâu, người đọc cũng có thể bắt gặp những bóng dáng, mờ ảo hay đậm đà, của một xã hội, một thời đại. Nhà văn có thể ném vào tác phẩm mình những hình ảnh hay những ưu tư của thời đại theo một cách thế riêng của hắn, tùy thuộc vào những rung động mà hắn bắt được.
Có thể văn nghệ không có bổn phận tối hậu phải thể hiện tất cả những gì làm nên thực tại xã hội. Nhưng tùy theo nhãn quan của mỗi người, ta có thể tìm thấy, qua tác phẩm, hình ảnh của một xã hội hay một thời đại đang thì thầm lên tiếng.
Trong ý nghĩa đó, hiện tượng văn nghệ, điển hình là hiện tượng “bestseller” trong văn nghệ bao giờ cũng thể hiện một hình ảnh đậm nét của chính xã hội đó. Nó nói lên một lối sống, một niềm tin hay một mối ưu tư đang trở thành một thứ mẫu số chung trong tâm hồn thời đại. Và cũng trong ý nghĩa đó, hiện tượng Duyên Anh, tiên quyết là một hiện tượng văn nghệ, cần được nhìn ngắm như một hiện tượng bắt đầu từ đó, nhờ đó người ta được phép nói tới một giòng sống rộng lớn hơn.
Văn nghệ như một huyền thoại
Duyên Anh không phải là một trường hợp duy nhất dù ở đây, hay một nơi nào khác. Người ta chỉ cần nhớ André Gide với Les Nourritures Terrestres, nhớ thế hệ các nhà văn hiện sinh với các tác phẩm thuộc loại “buồn nôn”, nhớ Françoise Sagan với những cơn thịnh nộ chống lại hình thức chủ nghĩa cùng những tập quán mỏi mệt… Đó là những hiện tượng văn nghệ của Pháp, những hiện tượng đã từng lôi cuốn một số đông đảo quần chúng ồ ạt chạy theo và cũng đã từng gây nhiều ảnh hưởng sâu đậm vào chính trật tự xã hội và phong tục thời đại. Tác phẩm của Gide đã từng là cơ hội bùng dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân tại Pháp vào những năm đầu thế kỷ này… từ việc thi nhau đọc sách các nhà văn hiện sinh con đường không mấy xa xôi gì cho lắm. Tại Việt Nam chúng ta cũng không thiếu gì những hiện tượng đã từng gây nhiều âm vang sôi nổi: hiện tượng Trịnh Công Sơn, hiện tượng Phạm Công Thiện v.v. mỗi hiện tượng làm bá chủ một thời để rồi sau đó lắng chìm trong lãng quên, trở về với vị trí khiêm nhường của nó, nhường chỗ cho một hiện tượng khác, hợp thời hơn, thích ứng hơn với những đòi hỏi của thời đại tự chúng cũng không ngừng đổi thay.
Có những tác giả chỉ để khám phá, xưng tụng vào một thời nào đó. Người ta đua nhau tìm đến những tác giả, những tác phẩm “riêng” của mình. Nhà văn trở thành linh hồn của thời đại. Hắn thể hiện những ưu tư, những xao xuyến, những hy vọng, những ảo tưởng… của thời đại hắn. Người đọc tìm đến hắn, điều này cũng có nghĩa là tìm hình ảnh của chính mình. Đọc đâu phải chỉ để thỏa mãn những nhu cầu thẩm mỹ. Đọc còn để đáp lại những đòi hỏi… Và văn nghệ đôi khi cũng không khác gì… Nếu có lúc người ta thi nhau mini-jupe thì cũng có lúc người ta tranh nhau đọc Sartre, Sagan… tranh nhau đuổi bắt những hiện tượng lộng lẫy hào quang đó, không ngần ngại biến họ thành những huyền thoại để chiêm ngưỡng. Trong trường hợp này vấn đề không còn là tìm hiểu xem họ có xứng đáng đón nhận vinh dự đó xét trên bình diện giá trị, cho dù là giá trị thuần túy văn nghệ. Có những sự thành công không thể (chỉ) giải thích bằng những quy luật hay những phạm trù thuần túy. Có những sự thành công làm át cả những tiếng nói phê bình chân chính nhất. Bởi văn nghệ đã rời bỏ tháp ngà chật hẹp của nó. Văn nghệ đã xuống đường, tan biến vào đám đông, gia nhập vào đời sống thường nhật. Văn nghệ bắt tay mật thiết với nền văn hóa mệnh danh là ồ ạt và mãnh liệt chưa từng có. Văn hóa đại chúng như tên gọi của nó, là nền văn hóa có đối tượng là đại chúng, nền văn hóa của thời đại trao đổi và tiêu thụ, nền văn hóa của con người trung bình với những ước muốn đơn sơ và gần gũi nhất của hắn. Đó là nền văn hóa của đời sống thường nhật, với những khuynh hướng, những nhu cầu quen thuộc: Tình yêu, hạnh phúc, phiêu lưu, nhục dục, mơ mộng v.v.
Hiện tượng những nhà văn có “sách bán chạy nhất” (bestseller), dù có đáng nghi ngờ về giá trị nội tại của nó bao nhiêu đi chăng nữa đã là một chỉ dấu cho thấy văn nghệ ngày một hướng về đám đông, trở thành sản phẩm của đám đông. Ở đây nhà văn không thể nói như một tác giả đã từng nói: “Tôi viết để tìm hiểu tại sao tôi viết” hoặc “Tôi viết cho một độc giả hãy còn vô danh”. Nhà văn không còn chút thắc mắc hay nghi ngờ về công việc của mình. Hắn viết như đang đứng trước một đám đông. Hắn biết đám đông ấy mong đợi gì ở hắn. Hắn đồng thời cũng thừa biết hắn sẽ mang đến cho đám đông những gì.
Văn nghệ có thời đáp ứng đúng nhu cầu “tiêu thụ” của người đọc. Ở đây tôi muốn nhắc tới trường hợp của một tác giả thời trang xuất hiện vào những ngày gần đây và vẫn còn đang tiếp tục lôi cuốn. Đó là trường hợp của Erich Segal, nhà văn Hoa Kỳ với tác phẩm Love Story. Cuốn sách mỏng manh vừa ra đời tức thì đã đứng vào hàng đầu trong số sách bán chạy nhất. Riêng tại Hoa Kỳ, hàng chục triệu quyển đã được bán đi. Tại Pháp và đây là điều lạ, bản dịch cuốn Love Story là sách bán chạy nhất trong suốt nhiều tuần lễ. Cuốn sách được quay thành phim. Cuốn phim cũng đã gặt hái thành công phi thường, có thể nói năm 1970 là năm của Love Story, năm của hiện tượng Erich Segal. Sự thành công quá đáng của một cuốn sách đã không khỏi gây kinh ngạc cho một số nhà phê bình cũng như một số độc giả khó tính. Có gì đâu. Đó chẳng qua chỉ là một câu “chuyện tình” với một chút lãng mạn, một chút lý tưởng, một chút bi thảm… mà có thể nói bất luận một tác giả nào ở vào thời đại nào và ở đâu cũng có thể viết được. Một câu “chuyện tình” tầm thường kể lại bằng một giọng văn cũng tầm thường không kém. Tóm lại, đó là một quyển sách tầm thường nếu không muốn gọi là ấu trĩ, một cuốn sách mỏng manh về đủ mọi phương diện. Đem sánh với Le Grand Meaulnes của Alain Fournier, với Le Diable Au Corps của Raymond Radiguet, và xa hơn, với Adolphe của Benjamin Constant là những tác phẩm cùng loại, Love Story hầu như chỉ là những tiếng nói bập bẹ, không đáng kể. Ngay tại Việt Nam, tủ sách văn nghệ tiền chiến của ta cũng không thiếu gì những tác phẩm lãng mạn, trữ tình, đủ sức làm lu mờ Love Story về nội dung cũng như về hình thức phô diễn.
Một nhà phê bình có lẽ sẽ thất vọng khi làm công việc thẩm định giá trị nội tại của Love Story trên bình diện văn chương và nếu chỉ đứng trên bình diện thuần túy văn chương hay tư tưởng người ta sẽ khó lòng giải thích sự thành công của cuốn sách. Muốn tìm hiểu, giải thích hiện tượng Love Story, có lẽ người ta phải vượt ra ngoài phạm vi văn nghệ và ngắm nhìn nó dưới những lăng kính khác: tâm lý học, xã hội học v.v. đặt nó vào khung cảnh và tình cảm sống thực của con người thời đại.
Trong viễn tượng này, sự thành công của Love Story sẽ không còn gì khó hiểu hay đáng kinh ngạc. Mọi người đều biết rằng xã hội Âu Mỹ đang trải qua những cuộc khủng hoảng trầm trọng không ngừng phá phách, lay ngã những thành trì giá trị đã trở nên lỗi thời, lạc hậu. Nào hiện sinh, nào beatnik (beat generation), nào hippy, bao nhiêu phong trào đã ào ạt nổi dậy, lôi cuốn từng làn sóng thanh niên đang thất vọng và bất mãn, kêu gọi họ làm một cuộc cách mạng. Có thể nói rằng chưa bao giờ hai tiếng cách-mạng lại thịnh hành hơn trong những năm tháng gần đây, thịnh hành hơn hết là tại những xã hội dư ăn, dư mặc, nơi con người có quá nhiều tiền không biết tiêu vào đâu, có quá nhiều thì giờ không biết để làm gì. Người ta hô hào cách mạng, giải phóng. Kêu đòi tự do. Thứ tự do mới mẻ nhất có lẽ là tự do tình dục, cho phép con người ngang nhiên quay lưng trước mọi ràng buộc, mọi thôi thúc của truyền thống và tập tục.
Chính trong bầu không khí ngột ngạt của phá phách và bạo động, của hỗn loạn và tan vỡ, cuốn Love Story như một luồng gió mát thổi qua những tâm hồn đã sớm cằn cỗi, chai lì, làm sống lại những tình cảm thơ mộng chừng đã bị đốt cháy tan hoang. Người ta tiếp nhận lấy nó, đọc nó, rung động với nó, sống với nó: một dịp để ru hồn mình trong một giấc mơ đẹp lành, thanh cao, lãng quên thực tại đầy khói bụi cay xè đang vây phủ bốn bề. Tức là, một cách nào đó, chống lại chính cái thực tế phũ phàng đó, dù chỉ chống lại bằng ý thức ma thuật, bằng ngụy tín. Phải chăng Erich Segal đã thành công vì đã dám nói lên một niềm hy vọng giữa lúc mọi người hầu như đã đánh mất hy vọng, vì đã dám mơ mộng giữa một thời đại trắng trợn, thô bạo. Chỉ có vậy. Quyển sách của Segal được tiếp đón nồng nhiệt, sự kiện này có lẽ đã không nói với ta điều gì khác hơn là tâm trạng của con người thời đại, muốn xoay chiều, muốn đổi hướng, muốn quay về với những khát khao và mộng tưởng êm đềm, trong sáng liên quan tới tình yêu, hạnh phúc… Đó cũng là những khát khao và mộng tưởng muôn đời của con người thường nhật, con người trung bình, con người mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu: trong đám đông, ngoài đường phố… Kỳ lạ, càng sống trong thực tế phũ phàng, thô bạo, con người càng thấy cần có những phút giây để mơ mộng, để than vãn, để rên rỉ… Bởi vậy, sách báo phụ nữ với những chuyện tình lẩm cẩm đã và tiếp tục còn là món ăn tinh thần bền bỉ của đám đông ở bất luận một xã hội nào. Những vở tuồng cải lương, những cuốn phim tình cảm vẫn tiếp tục thu hút một số khán giả đông đảo vẫn thích thả hồn vào cái thế giới làm nên, họ thừa biết, trừ những hình ảnh giả tạo, cái thế giới không hề có thật. Người ta kể rằng mới đây, cuốn phim Mourir d’Aimer (Chết vì yêu) của đạo diễn André Cayatte đã làm cho nước Pháp rơi lệ. Khán giả đã bước ra khỏi khán phòng tối với đôi mắt đỏ hoe, với mù-xoa ướt đẫm. Người ta xúc động vì câu chuyện tình ngang trái giữa bà giáo trung học Gabrielle Russier và cậu học trò đệ tam Christian, câu chuyện tình đã kết thúc bằng cái chết của người đàn bà dưới cái nhìn lạnh nhạt của những ông quan đạo mạo đại diện cho những thành trì của truyền thống và đạo lý xã hội.
Hay thật ra người ta xúc động vì cần phải xúc động, một cách nào đó, để phỉnh gạt chính mình, để thấy tâm hồn mình yên ổn hơn sau đó: tình yêu vẫn còn, tình yêu chưa chết hẳn trong thời đại nhiễu nhương, tao loạn này. Vâng, con người thời đại vẫn cần mơ mộng và ảo tưởng để sống và để thấy đời còn đáng sống. Thế kỷ này không chỉ có chiến tranh Việt Nam, không chỉ có những cuộc tàn sát ở Biafra, không chỉ có kỳ thị chủng tộc tại Mỹ, không chỉ có bạo động và phá phách, không chỉ có mệt mỏi và tuyệt vọng… Còn cái gì khác hơn tất cả những thứ đó. Phải có cái gì khác hơn tất cả những thứ đó. Nếu không, phải tạo cho bằng được, nếu cần bằng hư tín và ảo tưởng. Tại sao không, khi người ta muốn sống và muốn nhìn về tương lai với một màu hồng yêu dấu. Tôi biết tại sao cuốn chuyện tầm thường kia của Segal đã được “tiêu thụ” như một “món hàng” của thời đại. Người ta biết tại sao những tâm hồn yếu đuối vẫn thích sụt sùi trên trang báo phụ nữ. (còn tiếp)
HPA (Sàigòn, 1972)
Trần Vũ đánh máy lại tháng 4-2024, từ khảo luận Duyên Anh, Tuổi Trẻ, Mộng và Thực của Huỳnh Phan Anh in tại Sàigòn năm 1972, Nxb Vàng Son, Chương II. Vì số trang giới hạn, bản in trên tuần san Trẻ là bản cắt ngắn.
New Look Tân Hình Thức của truyện ngắn Ngọn Núi Khuất Hình
Hay 24 khúc thơ xuôi chiến tranh Việt Nam
Post by Sơn râu 12 Dec 2025
Quân Biên Phòng – táo Mỹ đỏ rợp. Những trái táo chín muồi rực rỡ thơm đến nỗi các sĩ quan trực ban đều say – gương mặt họ đờ đẫn.
Chuẩn úy Nguyễn Xuân được giao nắm trung đội 1 của đại đội lực lượng đặc biệt người Thượng lúc trước thuộc biệt khu 44 dưới quyền trung tá Phạm Văn Phú.
Ông đi đóng tiền đồn đầu mùa mưa.
Lính biên phòng xoã tóc không dấu tiếng cười khi trông thấy viên chuẩn úy nhỏ bé thấp người – trắng nhụy cúc.
Lễ bàn giao diễn ra ngắn ngủi.
Thiếu úy Ðỗ Thế Vân, trung đội trưởng cũ, hối hả về thành phố.
Nguyễn Xuân hấp tấp trốn xuống hầm chỉ huy. Ông bấu mười ngón tay vào bao cát – ghìm tiếng cười của đám lính chế riễu.
2. Ngày đầu trên tiền đồn Nguyễn Xuân bắt gặp gương mặt rừng rú – dị hợm. Da kẻ nhìn qua kẽ hở châu mai bủng như da một cụ già nằm yên một chỗ.
Nguyễn Xuân chồm dậy – bộ áo trận trên mình ông ướt đẫm.
Nguyễn Xuân chồm dậy – cơn mưa hắt ướt tăng xê suốt đêm làm thành vũng nước đọng.
Buổi sáng trái núi chói loà trước cửa hầm như ánh mắt của một tên khổng lồ giận dữ.
3. Trung đội nấu cơm sáng trộn muối vừng.
Chuẩn úy Xuân thanh sát vũ khí và quân số. Ông thi hành đúng nguyên tắc bài bản đã học ở trường võ khoa. Toàn trung đội chỉ có một trung liên BAR, một súng cối 60, mười bốn carabine M-1 và hai AR-15.
Nguyễn Xuân gọi về đại đội than phiền.
Bên kia máy – đại úy Phạm Văn Tươi văng tục rồi cắt đường giây – Mùi táo chín lên men tỏa lan qua ống nói nồng nặc đến mức viên chuẩn úy ngửi thấy và nôn mửa.
4. Vụ vô kỷ luật đầu tiên xẩy ra sau trận bão.
Núi rừng cao nguyên lở đất lấn xuống căn cứ.
Bãi mìn chính bị lấp, hai rào kẽm gai gió cuốn bay – các rãnh mương ngập nước.
Nguyễn Xuân cho gọi thượng sĩ Chey – trung đội phó trình diện.
– Thượng sĩ cho khai rãnh.
– Nhiệm vụ của trung đội là theo dõi thiên nhiên – thú vật – con người.
– Nhiệm vụ của thượng sĩ là dẫn lính đi khai rãnh !
Nguyễn Xuân quát – gương mặt ông đỏ như quả táo Mỹ ở Dakto.
Không có tiếng trả lời của thượng Chey. Chỉ có tiếng đọng ngầm của vực thẳm mà Nguyễn Xuân nghe rung chuyển dưới lòng đất. Thượng Chey ném đôi mắt âm u xuống vực núi. Ðến chiều các hầm chìm vẫn ngập nước.
5. Thằng Ngân theo làm cho Xuân, cầm máy – lính Việt duy nhất.
Trung đội 1 tập trung lính Thượng và Miên.
Suốt tuần lễ – Ngân tát nước. Mỗi nón sắt múc đi – một trận bão ào xuống.
Chuẩn úy Xuân lội trong hầm chỉ huy. Ông không bước ra khỏi tăng xê từ lúc va chạm với thượng Chey.
Buổi trưa thằng Ngân hay thấy ông nằm thả nổi trên mặt nước.
Buổi chiều Nguyễn Xuân dán mắt vào khe hở châu mai theo dõi trái núi giống đầu gã khổng lồ – nửa mình bị chôn sống.
Quả núi phơi mặt dữ dằn – nhìn viên chuẩn úy khiêu khích.
Qua ánh lửa – ông trông thấy những quả táo Mỹ rụng lấp hầm.
Ðôi lúc là những ánh điện thành phố nhấp nháy – giữa khoảng sương mù dầy dặc.
Ðôi lúc – một tiệm nhẩy heo hút sát phi trường.
Ðôi lúc chuyến G.M.C đi từ Pleiku lên Kontoum thắng gấp trước bộ tư lệnh đầy những quả táo đỏ.
Tất cả những thùng phuy táo lính Biệt Ðộng Quân lăn về trại gia binh – Nguyễn Xuân đều trông thấy rõ.
Có khi trong giấc ngủ.
Có khi trong trí nhớ.
Nhưng ông không tài nào
mơ được khoảng thời gian trước nhập ngũ.
Viên chuẩn úy hay thức giấc giữa hoang vắng – trong tiếng cú rúc.
Chung quanh – im bặt
những người lính đã bỏ đi biến mất.
7. Tuần nắng đầu tiên – thằng Ngân đẩy ông ra khỏi hầm.
Nguyễn Xuân bị loá.
Ngọn núi rõ như tấm kính soi một gương mặt chai xạm – lồi lỏm hố sâu.
Gần trưa – trái núi hóa cam.
Không phải màu nắng nhưng cam sần của những quả cam Mỹ to lớn – dị thường.
Lính Miên cởi trần giặt dũ.
Một đám Thượng sàn nếp nấu rượu – chuẩn úy Xuân leo lên trần tăng xê nhìn bốn phía.
Lần đầu tiên ông khám phá ngọn núi trước mắt đan dầy bạch dương y hệt đài nguyên trong những tấm hình chụp cảnh Bắc Bán Cầu. Sườn núi trải rộng như thảo nguyên bên Nga Sô Viết dựng ngược.
Chuẩn úy Xuân sống một đam mê mới. Ông cho dựng bao cát lập đài quan sát – bỏ hàng giờ lục tìm bóng kẻ thù.
Nguyễn Xuân nhìn ống nhòm nhiều đến nỗi thuộc từng hốc đá
bụi cây
và đặt những tên trữ tình cho các đường hẻm chẻ đôi vách núi.
8. Một sáng – thượng Chey bất ngờ lên đài.
Trước khi viên chuẩn úy kịp phản ứng – gã thượng sĩ trỏ xuống hẻm Thanh Xuân :
– Ðó.
Bóng người chạy trong ống kính – Nguyễn Xuân quát thằng Ngân:
– Nạp trung liên !
Tia đạn vãi vạch thẳng.
Tiếng súng dội vào núi – giã xuống đá.
Chuẩn úy Xuân bắn cho tới lúc – thượng Chey kềm cổ tay :
– Bắn nữa hết đạn.
Gương mặt gã thượng sĩ tối lầm lì.
Xuân cũng nhận ra tầm bắn quá xa – ông gọi pháo – chỉ nhận được những câu văng tục của đại úy Phạm Văn Tươi.
Thằng Ngân gác ống nói.
Ðầu lưỡi u ám của thượng Chey – lướt khẽ giữa hàm răng cáu bẩn – đầy chế riễu ở đám lính.
9. Mùa mưa quả núi sa xuống vực nắng úa sầm và mây đùn thành chiếc nón che gã khổng lồ phủ lấp tăng xê thành một hố ao. Nguyễn Xuân bắt đầu viết nhật ký. Ông chép ngay trên trần hầm có lúc nhúng mười ngón tay vào sơn vẽ mười ngọn núi lên vách. Những dẫy núi chi chít. Thằng Ngân hay thấy ông lặn xuống đáy áp tai nghe nhịp thở của đất hoặc ngóng những sóng cây lượn qua rào kẽm gai.
Bãi mìn không chận được ngọn núi.
Nón sắt cháy cong ánh lửa tắt ngấm.
Những giấc mơ của Nguyễn Xuân bắt đầu trống rỗng.
10. Trung đội về Dakto sau một tháng ở tiền đồn.
11. Chuẩn úy Xuân biết đàn bà lần đầu tiên – dịp Quốc Khánh.
Táo Mỹ sai – đơm kín mít không một hột mưa tia nắng nào có thể lọt qua kẽ lá. Bộ tư lệnh tiền phương phát kiến chiến thuật mới: Lựa những quả táo thơm, chích thuốc chuột rồi rãi khắp rừng núi. Táo thuốc chuột trổ nhanh đến mức lính không kịp hái. Nguyễn Xuân về hậu cứ sửng sốt khám phá bản doanh liên đoàn biệt động quân khô ráo. Bên ngoài thị trấn tầm tã.
Lễ duyệt binh – các đơn vị đeo giây biểu dương.
Sau quốc thiều – thượng Chey yêu sách Nguyễn Xuân dẫn lính xuống xóm theo truyền thống đơn vị sau mỗi kỳ đóng tiền đồn.
Nguyễn Xuân giận run – cố kềm mười đầu ngón tay để lính đừng trông thấy.
Giọng nói thượng Chey âm u – tiếng rừng.
Ðám lính vây quanh chờ đợi – cho tới lúc viên chuẩn úy không thể thoái thác.
12. Chuẩn úy Xuân không kể với ai lần xuống xóm đầu tiên.
Không kể mùi đàn bà đầu tiên ông ngửi thấy mùi dầu thốt nốt con điếm thoa khắp mình.
Không kể hai núm vú lửng lơ giữa chuỗi bùa Kà Tha kết bằng chỉ ngũ sắc.
Thằng Ngân trông thấy ông ra khỏi nhà thổ trước tiên.
hấp tấp như chạy
Về đến trại
dù khô ráo
vẫn phủ poncho che đáy quần ướt đẫm.
13. Trung đội 1 trở ra tiền đồn sau trận đánh vùng tam biên.
Chuẩn úy Quách Ngọc Loan, sĩ quan đồng khoá với Nguyễn Xuân – tử trận.
Trung đội 2 của Quách Ngọc Loan – chết quá nửa.
Ðại úy Tươi lồng lộn trước phóng đồ hành quân. Mọi hy vọng về chiến thuật L-C-R
17. Những ngày sau khi trung úy Trang trở về liên đoàn, các tấn táo phủ núi bắt đầu thối hoăng, mùi hôi thối bốc lên trên nền táo đỏ gấc. Nguyễn Xuân thay đổi. Mỗi sáng ông đứng trên nóc hầm hít thở, thu vào lá phổi cái mùi thum thủm lợm giọng khiến toàn trung đội phải bịt băng cá nhân che mũi.
Rừng xác xơ – Núi hấp hối đợi chết.
Nguyễn Xuân chạy bộ khoẻ khoắn qua các đường hào. Ông lấy cây khều xác táo vụn vướng ngoài rào kẽm gai bỏ vào hòm đạn đại liên trộn đường làm mức. Nguyễn Xuân không ăn gì khác ngoài các món táo ông chế biến. Ông vẽ khắp hầm chân dung ngọn núi lở những đốm ghẻ chảy mủ. Xuân treo tranh triển lãm chiến tích. Thằng Ngân mỗi ngày vào hầm quét dọn rác rưởi bắt gặp viên chuẩn úy nhai lõi táo kích thích.
– Chiến thắng trong tầm tay.
Ông trỏ ngọn núi méo mó.
Tiền đồn sang tuần lễ thứ ba nổi như một ốc đảo. Xác táo tím bầm chung quanh. Cánh rừng và ngọn núi chìm dưới rác biến mất. Nguyễn Xuân tin đã chiến thắng. Ông trở nên kích động, quát tháo lính, ném trung đội ra khỏi rào lục soát. Nguyễn Xuân hung dữ đột ngột khiến thượng Chey im lặng và thằng Ngân mỗi khi bưng mức vào hầm đâm rụt rè. Nguyễn Xuân cho ném lựu đạn xuống các hang và bắn súng cối xuống những hẻm núi chưa bị táo lấp. Buổi sáng trung đội lôi dưới thảm táo rữa một xác du kích, viên chuẩn úy hối hả báo cáo về đại đội – ông cúp máy trước khi đại úy Tươi kịp văng tục.
18. Cánh rừng hồi sinh bất ngờ sau trận mưa cuối năm. Những giọt nước trắng nở hoa. Dẫy núi tươi tốt xanh hực. Nguyễn Xuân sưu tập bướm trong hầm. Thằng Ngân thấy ông dán các cánh bướm lên vách. Những lúc quang, ông lên đài quan sát nhìn hẻm Thanh Xuân. Hẻm núi chẻ sâu giữa đất đá. Ngọn núi rậm hẵn. Viên chuẩn úy bỏ nửa ngày theo dõi sự nẩy chồi của lá. Theo dõi những con nhộng hóa bướm. Mỗi đọt lá nhú, mỗi con nhộng hóa thân kích thích ông trong ống nhòm. Ông ngắm mải miết bụng núi thoai thoãi, đùi núi xoãi, thung lũng phẳng, cánh rừng dầy và quả đồi ở lưng chừng thung lũng mỗi ngày một tròn trịa. Buổi tối Nguyễn Xuân lắng nghe núi khó ngủ trăn trở. Ðêm đám lính Miên thắng đường thốt nốt, viên chuẩn úy uống ba bát. Ông đột ngột thèm ngọt, đến mức mút các xác bướm, cố rút mật từ bụng nhộng đã khô. Ngày trung đội về Dakto, Nguyễn Xuân ra khỏi tăng xê, ông chóa mắt. Ðỉnh núi sáng gương. Ðỉnh núi mới mẻ tươi như không phải ngọn núi ông thường trông thấy. Một chuỗi bùa Kà Tha xanh đỏ lấp lánh treo ngang núi. Viên chuẩn úy say mê ngắm cho đến lúc cầu vòng ngũ sắc tan biến vào giải mây chưa khô lượn dưới gầm nắng.
19. Chuẩn úy Xuân làm tình lần đầu tiên trên căn gác dằn tôn của nhà thổ.
Ông thôi sợ – kích thích ham muốn tột bựt.
Viên chuẩn úy nằm đè – lên mình con điếm.
Ông chống hai tay như hít đất.
Mỗi khi thả người ấn xuống – ông đếm như vẫn thường làm ở trường võ khoa.
Thông thường đến hai trăm ông ngừng lại – để thở.
Rồi tiếp tục.
Xuân làm tình – say mê.
Ông không ra khỏi nhà thổ, ở suốt tuần với điếm. Ông làm tình suốt buổi sáng, suốt buổi trưa, suốt buổi chiều và cả buổi tối. Mồ hôi ông chảy tháo, hai bắp chân săn, hai bắp tay trở nên rắn, thân thể nở. Ông không còn là viên chuẩn úy nhỏ bé da trắng – nhụy cúc.
Lắm lúc Xuân thực tập bài tập đâm lưỡi lê – của quân trường.
Lắm lúc Xuân thực tập bài tập đâm lưỡi lê – của mình.
Và thoả mãn.
Con điếm cắn chuỗi bùa Kà Tha kêu những tiếng Miên tục tiễu.
Ðại úy Tươi phải cho lính gọi ông trở ra tiền đồn.
21. Thằng Ngân chết trong hẻm núi Thanh Xuân. Một tháng sau Nguyễn Xuân hãy còn nghe nó gọi ông suốt đêm. Thằng Ngân rên giữa rừng. Giọng trong trẻo, kêu la, lúc khóc, khi ai oán, khi kể lể và gọi tên Nguyễn Xuân. Viên chuẩn úy lùa lính khỏi đồn, rừng núi hoang vu, xác thằng Ngân biến mất. Mưa núi lạnh lẽo, đêm kín bưng, chuẩn úy Xuân run rẫy về hầm. Buổi chiều thằng Ngân vào hẻm Thanh Xuân tìm bướm đạp mìn, du kích buộc nhử ở bìa rừng. Thượng Chey không cho Nguyễn Xuân dẫn lính rời đồn. Suốt đêm thằng Ngân rên. Suốt đêm thượng Chey tấn cửa. Nguyễn Xuân nổi điên. Tiền đồn vây chính ông. Bãi mìn định hướng chực nổ. Rào kẻm gai tủa. Lựu đạn trái sáng. Ðôi mắt thượng Chey sắc nhọn. Nguyễn Xuân phát cuồng trong tăng xê. Ông vẽ gương mặt thằng Ngân lúc sống. Vẽ đôi mắt cố thiếu úy Loan lúc chết. Vẽ những quả táo, những dẫy bao cát chồng chất và ngọn núi. Nguyễn Xuân uống xăng phun lửa. Ông khà lửa ra ngoài kẻ hở châu mai đốt rừng. Ðám cháy lan khắp triền núi. Lửa nhảy múa. Ðến sáng gương mặt kẻ nhìn Nguyễn Xuân xanh nhớt.
22. Ðứa con gái cắn bùa Kà Tha kêu đau. Nguyễn Xuân lật nó nằm xấp. Ông làm tình hung bạo. Con điếm không ngớt la. Nguyễn Xuân hung hãn. Ông trông thấy mảng lưng ngăm của đám lính Miên, trông thấy gương mặt thằng Ngân rên.
23. Tiểu đoàn phóng ra cuộc hành quân lớn. Bốn đại đội quần núi. Ðại úy Tươi quát tháo ở bộ chỉ huy. Ðám lính tan vào cỏ tranh. Nguyễn Xuân theo dấu vết thượng Chey. Cánh rừng đan lưới. Những giây mây buông tứ phía. Rừng gai cứa áo trận rách bươm. Ngọn núi chạy theo bước chân Nguyễn Xuân dẫm trên đất. Ông tra đạn. Bóng thượng Chey rõ, mất, rồi lại hiện ở chân núi. Gốc mai rừng vàng hoe. Nguyễn Xuân vãi đạn. Ông bắn tới tấp giữa lưng áo cho đến lúc nhận ra vừa chặt gốc mai. Thượng Chey biến vào hẻm Thanh Xuân. Sườn núi san sát. Nguyễn Xuân chạy giữa hai vách núi xô đẩy. Ông trông thấy gương mặt gã khổng lồ sau kẻ lá. Một sóng mũi gẫy, chiếc cầm thô, bóng thượng Chey băng băng. Núi lăn, rừng chạy. Núi đồi chuyển động trồi những gốc đài dương bám giầy Nguyễn Xuân. Ông phát quang bằng lựu đạn lân tinh. Ngọn núi kêu rú. Tiếng nổ ầm phát lửa. Nguyễn Xuân nghe tiếng chân thượng Chey vang dội, tiếng ù ù của trực thăng quần, tiếng những quả táo Mỹ bắn túa xuống rừng rớt chung quanh. Xuân cảm giác ông không thể chết, bất tử. Ông phóng nhịp nhàng như con báo. Hai bắp đùi Xuân dẻo dai kỳ lạ, ông tung mình qua những mô đất, thoắt trên một phiến đá, thu mình cạnh gốc cây, trườn qua những rễ rừng. Ánh mắt ngọn núi rõ dần dần. Một lúc Nguyễn Xuân ngỡ bắn hạ thượng Chey, ông đến gần nhận ra xác hoãng. Dốc núi thẳng. Nguyễn Xuân trèo. Ông kéo cơ bẫm bắn tưới lúc không còn thấy vách núi trước mắt. Dẫy núi gầm, những nhánh dương gẫy. Khói tan, Nguyễn Xuân chợt nhận ra đỉnh núi biến mất, chung quanh trống trải chỉ có những đám mây trôi và thung lũng bát ngát.
24. Cố thiếu úy Nguyễn Xuân chết trong trận đánh.
25. Ngọn núi qua mùa khô – chảy hết nước.
Tiền đồn tiếp tục mưa lũ ngày chuẩn úy Thế Hương
– mười chín tuổi
– tốt nghiệp liên trường võ khoa
– nhận trung đội.
Viên chuẩn úy mới
– trẻ
– trắng
– nhụy cúc.
17/11/95
* version văn xuôi cựu hình thức của truyện ngắn “táo Mỹ và những nhụy cúc” đã đăng trên Hợp Lưu năm 95.
Tháng 4 năm 1977 trại chúng tôi đón tiếp một số khách mới, từ Miền Nam ra. Tối hôm ấy, khoảng 8 giờ, chúng tôi thấy khoảng mười chiếc xe đò chạy vào sân trại. Trước đó, một số tù hình sự đã được di chuyển đến nơi khác để có phòng trống.
Sân trại được thắp đèn sáng lên. Chúng tôi leo lên sập, nhìn qua cửa sổ để quan sát. Nhìn thấy từng cặp đeo “đồng hồ Seiko” từ trên xe bước xuống, chúng tôi biết đây là những người đồng cảnh ngộ với chúng tôi rồi. Ở trong tù, lúc nào chúng tôi cũng muốn gặp người mới đến để hỏi xem có tin tức gì bên ngoài không. Tin tức bên ngoài cũng cần thiết cho chúng tôi sống như là cơm nước. Nhưng tối hôm ấy, chúng tôi không được tin tức gì vì anh em mới đến được dọn vào các buồng khác. Trưa hôm sau, chúng tôi hỏi nhỏ mấy người làm bếp lúc đưa cơm thì được biết đó là những người trong Nam mới ra. Sự ngăn cách các buồng giam làm chúng tôi chưa hỏi gì thêm được. Nhưng đến đêm hôm sau, chúng tôi nghe tiếng hát đồng ca bài “Việt Nam Việt Nam” từ bên phòng giam của những người mới ra, vọng lại. Phía chúng tôi tuy cũng có hát nhạc Miền Nam cũ, nhưng thường chỉ hát nhỏ với nhau thôi, không dám hát lớn. Nay nghe những người mới ra hùng dũng hát lớn như thế, chúng tôi khoái lắm. Nhưng vẫn chưa nói chuyện với nhau được.
Phải đợi đến một đêm Văn nghệ sau đó vài tuần, mới có cơ hội nói chuyện nhiều. Khi ra sân trại (sân nầy vẫn nằm trong vòng rào), chúng đã ngăn cách từng buồng phải ngồi riêng rẽ, cấm liên lạc nói chuyện với nhau. Nhất là số mới ra, lại ngồi hẳn ra một khu riêng biệt. Nhưng rồi chúng tôi cũng liên lạc với nhau được bằng cách nháy nhau đi tiểu. Vào đi tiểu nói chuyện lâu quá sợ chúng để ý thì kéo nhau về chỗ ngồi, cứ làm như là hai người ở cùng buồng. Nói chuyện đủ rồi thì một người lại đứng lên đi tiểu, khi trở ra về chỗ đúng của mình, là xong. Nhưng cũng không phải dễ. Đêm tối lờ mờ, bọn cán bộ không nhận mặt được nhưng còn bọn “antenne” (bọn làm tay sai dòm ngó anh em báo cáo với cán bộ). Chúng nó dòm ngó dữ lắm.
Những tin tức chúng tôi nhận được đêm hôm đó thật vui. Bây giờ nghĩ lại, chúng tôi thấy là mình cũng chỉ lạc quan tếu. Theo những tin tức đêm hôm đó anh em Phục Quốc trong Nam ra nói thì chúng tôi tưởng như có thể chiếm lại Miền Nam trong vòng vài tháng nữa thôi. Anh em say sưa nói về những hoạt động của Phục Quốc ở Miền Tây, ở Nha Trang, ở Sàigòn v.v…. Tôi đã gặp những em học sinh còn trẻ hăng hái nói về phong trào chống Cộng trong học sinh, sinh viên Sàigòn. Tôi nghe các em nói, thấy khí thế hăng hái của các em mà xấu hổ cho đám chúng tôi. Phía chúng tôi đại đa số là công chức, quân đội, cảnh sát, tình báo, là những thành phần đã từng có chức quyền khi trước, vậy mà khi đi ở tù chẳng tỏ ra có chí khí gì, phần lớn vẫn giữ tinh thần công chức thụ động và ngoan ngoãn, một số thì rất tồi bại. Tôi cũng biết là trong trại tù Cộng sản không dễ gì chống đối, nếu chống đối thì cái chết coi như cầm chắc trong tay; tuy nhiên chúng ta vẫn có thể giữ vững tư cách con người, tu luyện ý chí bất khuất mà chúng không thể làm gì được. Hoặc ít ra thì đa số chúng tôi cũng phải có những nhận định sâu sắc về Cộng sản, nuôi ý chí đấu tranh để sẵn sàng hoạt động khi có cơ hội: Nhưng phải nhận rằng đa số chúng tôi không được như vậy đâu.
Tôi có gặp 2 em học sinh thấy còn ít tuổi quá, tôi hỏi vì sao hai em lại bị bắt và đưa ra đến ngoài nầy. Hai em hãnh diện trả lời: ‘‘Chúng cháu xử tử Hồ Chí Minh”. Tôi hỏi xử tử như thế nào. Hai em kể lại:
“Hôm đó chúng cháu đang học tại trường, gặp giờ nghỉ vì không có giáo sư, thấy bức ảnh HCM treo trong lớp đáng ghét quá; chúng cháu gỡ ra để trên bàn rồi lập phiên tòa để xử tội. Cháu làm Chánh án, thằng nầy làm Biện lý, một thằng nữa làm Luật sư. Biện lý buộc tội HCM, Luật sư biện hộ. Cuối cùng, cháu tuyên án Hồ Chí Minh phạm tội phản quốc, phải xử tử. Thế là chúng cháu xé nát ảnh Hồ Chí Minh để thi hành án tử hình. Ông Hiệu trưởng nghe chuyện, chạy đi báo Công an đến bắt chúng cháu. Sau một thời gian ở trại Lê Văn Duyệt Gia Định, hai đứa chúng cháu (Chánh án và Biện lý) bị đưa ra Bắc, còn thằng đóng vai Luật sư thì đuợc tiếp tục ở tù trong Nam”
Thành phần Phục Quốc đưa ra trại Quảng Ninh chuyến đó gồm, phần lớn là học sinh, sinh viên. Về tôn giáo, tôi biết có 5 Linh mục Công giáo, và một số Thượng toạ, Đại đức Phật giáo. Giới trẻ trong số nầy, dù đang ở trong trại tù Bắc Việt, vẫn giữ được khí thế. Trong phòng giam, anh em vẫn tổ chức các nhóm sinh hoạt mỗi đêm, đàm luận tình hình, giữ vững tư tưởng chống Cộng, ca hát những bản nhạc Miền Nam cũ. Anh em hát ca những bản nhạc chống Cộng như bản Cờ Bay (ca ngợi Quân lực VNCH chiếm lại Cổ thành Quảng Trị), bản Trên Đầu Súng, v.v… Cán bộ trại giam ít khi muốn vào các phòng giam của anh em Phục Quốc vì anh em hay nói xiêng xỏ hoặc hỏi những câu mà cán bộ không trả lời được. Ví dụ trên phòng giam nào cũng có đề “Trật tự, Vệ sinh, Văn minh, Lịch sự”. Khi cán bộ vào, anh em chỉ khẩu hiệu nầy và hỏi cán bộ:
– Chúng tôi không được cấp phát xà-phòng, bàn chải răng, kem đánh răng, vậy phải làm sao để “Văn minh, Vệ sinh” đây?
Cán bộ trại giam chỉ còn biết lẩn đi, vì biết rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Miền Bắc cái gì cũng thiếu, trên nguyên tắc thì trại giam có cấp phát những thứ ấy, nhưng trong thực tế thì một ống kem đánh răng nhỏ cả năm mới được phát một lần, làm sao dùng đủ. Anh em Phục Quốc mới được đưa ra Bắc, mấy tháng liền không được cấp phát gì cả, mà chúng không giải quyết được. Anh em cứ làm như ngay tình, thắc mắc:
– Hồi chúng tôi ở trong Nam, được học tập, được biết qua sách báo, rằng chế độ xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là hơn hẳn, và Miền Bắc đã thực hiện chế độ xã hội chủ nghĩa trên 20 năm nay rồi, chắc chắn là kinh tế rất tốt đẹp, cái gì cũng có, đây chắc là cán bộ ăn chận của chúng tôi đấy.
Người khác giả vờ đả lại:
– Không đâu, cán bộ là con người xã hội chủ nghĩa, ta là con người ưu việt, đâu có ăn chận bao giờ.
– Thế thì tại sao xã hội chủ nghĩa là nhân đạo, kinh tế, xã hội chủ nghĩa là tốt đẹp, cán bộ xã hội chủ nghĩa là trong sạch, mà chúng ta lại phải cải tạo một cách đói khổ, dơ bẩn, thiếu thốn thế này?
– Thội bạn ơi, đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm.
Cứ thế, kẻ tung người hứng, cán bộ Cộng sản đành phải lẩn đi vì không sao đối đáp nổi. Nhưng tất nhiên, không phải chúng để yên như thế. Về sau, chúng tách những anh em này ra, đem vào trại Cẩm Thủy (Thanh Hóa), và đàn áp dã man.
Lễ Phật Đản Năm 1977
Hồi mới đến trại Quảng Ninh, tôi ở phòng số 3, sau qua, phòng số 6, rồi phòng số 4, cuối cùng là số 2 trước khi chuyển trại vào Thanh Hóa. Ngày Phật Đản năm 1977, tôi ở phòng số 4. Phòng nầy chứa khoảng 70 người, do anh Nguyễn Phi Thăng (trước là Thiếu tá Cảnh sát), làm Buồng trưởng. Kế cận phòng nầy là một phòng nhỏ dùng làm Trạm xá, để cho các người bệnh trong trại đến nằm, dưới sự trông nom của bác sĩ Văn văn Của (cựu Đại tá Đô trưởng Sàigòn). Tuy là có bác sĩ của ta trông nom nhưng chẳng có thuốc men gì, bác sĩ Của thường chỉ chữa bệnh bằng châm cứu. Phòng nầy chỉ đủ chỗ cho chừng 5 người bệnh.
Gần ngày Phật Đản có một vị Đại đức sang trạm xá nằm chữa bệnh. Tôi rất tiếc là, qua mấy năm, tôi đã quên tên vị Đại đức nầy, chỉ nhớ là người Miền Trung. Vị Đại đức nầy còn giữ được một bộ áo cà sa, mõ, và một bức ảnh Đức Phật cỡ nhỏ. Trạm xá với phòng số 4 coi như một phòng vì được phát cơm canh chung. Chỉ đến tối mới khóa cửa riêng, không liên lạc được với nhau. Phòng số 4 chúng tôi lúc đó có Bùi Tường Huân và Hoàng Xuân Hào (cựu Nghị sĩ) vốn là Phật giáo, cùng với tôi bàn nhau tổ chức lễ Phật Đản đơn giản trong phòng giam, nhân dịp có vị Đại đức đAng nằm ở Trạm xá. Chúng tôi nói nhỏ với một số người, nhưng phần lớn đều tỏ vẻ ngại ngùng vì sợ bị báo cáo. Nội quy trại giam ghi rõ là cấm sinh hoạt tôn giáo, cấm giảng đạo, cấm tuyên truyên tôn giáo. Đến ngày lễ Phật Đản, ngoài 3 chúng tôi, có được thêm 2 người dự. Tất cả là 5 người, với vị Đại đức là 6. Chúng tôi tổ chức vào buổi trưa, tại phòng ngoài của Trạm xá. Tiếng mõ, tiếng kinh buổi trưa hôm ấy đã ghi vào lòng chúng tôi một kỷ niệm êm đềm. Tôi không hẳn là người Phật giáo – tôi tin có Thượng Đế, thờ cúng ông bà, yêu cảnh chùa và yêu cảnh nhà thờ. Tiếng mõ tiếng kinh trong trại giam Cộng sản quả thật là chuyện hi hữu. Anh Buồng trưởng Nguyễn Phi Thăng nằm trong phòng số 4 chắc có nghe tiếng kinh tiếng mõ, nhưng giả vờ ngủ để khỏi phải báo cáo sự việc cho cán bộ.
Bác sĩ Của nằm ngay phòng trong của Trạm xá, chắc cũng giả vờ ngủ. Niệm kinh xong, vị Đại đức giảng một bài giảng ngắn cho chúng tôi đại ý cho rằng với quan niệm Sắc – Không của Phật giáo thì dù ở tù hay ở ngoài cũng chẳng có cái gì ràng buộc ta được. Chúng tôi chúc nhau nhân ngày Phật Đản rồi sau đó Đại đức tâm sự với chúng tôi rằng, nếu tình hình thay đổi, Cộng sản sụp đổ, Đại đức ước mong có cơ hội lập một ngôi chùa trên vùng núi đồi nầy để ở laị đây trụ trì cho đến mãn đời. Buổi lễ Phật Đản chỉ đơn sơ có thế. Nhưng đó là buổi lễ Phật Đản ghi khắc sâu đậm nhất trong lòng tôi. Bài kinh, bài kệ đều rất ngắn, không có cơm chay, không có chè, chẳng có trái cây, chỉ có hình Đức Phật, một tấm hình thật nhỏ, ba cành hoa thật nhỏ mà chúng tôi hái được đâu đó phía sau buồng giam cầm, trong một chiếc lọ thật nhỏ nguyên là lọ thuốc Tribevit. Có thế thôi, nhưng trong lòng chúng tôi đều thấy lâng lâng, nhẹ nhàng thanh thóat, và trong cuộc đời sắc sắc không không nầy, lý thuyết Mác Xít và gông cùm Cộng sản như có đấy mà như không có, đã không ràng buộc nổi chúng tôi, không vấn vương nổi chúng tôi, mà ngược lại, còn làm chúng tôi thấy thương hại cho những người Cộng sản mê mụội không sao có thể hiểu được những kẻ đang ở trong trại giam của chúng lại hình dung thấy một kiểng chùa trên núi đồi xã Thống Nhất huyện Hoành Bồ sẽ thay thế trại giam.
Ngày Quân Lực 19- 6-1977
Sáng 19-6-1977, chúng tôi thức dậy, thì nghe từ phía phòng giam Phục Quốc tiếng hô “Nghiêm! Chào cờ!”, rồi nghe hát Quốc ca của chúng ta “Này công dân ơi…”. Tôi cùng anh Nguyễn Ngọc Xuân (trước là Thiếu tá Quận trưởng Hoài An, Bình Định), nhìn nhau bồi hồi cảm động.
Hôm sau chíng tôi được biết là anh em Phục Quốc đã tổ chức chào cờ, tưởng niệm chiến sĩ Quân lực VNCH, rồi có một bài nói về ý nghĩa ngày Quân Lực. Theo anh em Phục Quốc nói lại thì ngày Quân Lực được xem như ngày Quốc Khánh, vì lẽ có nhiều nhóm Phục Quốc, nhất là nhóm Công giáo, không đồng ý ngày Quốc Khánh là 1-11.
Hôm đó nghe bên Phục Quốc hát Quốc ca kỷ niệm ngày Quân Lực, anh em chúng tôi thuộc các phòng số 6, số 5 ném bánh kẹo và thuốc lá sang phòng số 7 là một trong những phòng giam anh em Phục Quốc. Bánh kẹo, và thuốc lá trong trại giam Cộng sản là nhữg thứ còn quý hơn vàng. Ném sang tặng nhau như thế là cử chỉ bày tỏ sự quý mến đến mức tột bực rồi đấy. Phòng số 4 chúng tôi ở xa, không thể ném bánh kẹo sang được, chỉ biết nghe Quốc ca và nhìn nhau bồi hồi cảm động, và khâm phục lòng dũng cảm của anh em Phục Quốc.
Sau vụ này, Cục Trại Giam (thuộc Bộ Nội Vụ, Hà-nội xuống giải quyết. Chúng chọn lựa một số ít trong hàng ngũ Phục Quốc để lại Quảng Ninh. Còn phần lớn anh em Phục Quốc cùng với một số ít chọn trong thành phần phía chúng tôi, được di chuyển vào Thanh Hóạ, trại Cẩm Thủy, thư từ gọi đề số 90A (về sau chúng tôi cũng vào Thanh Hóa nhưng ở trại số 5, thư từ gởi đề 50A).
Năm vị Linh mục Công giáo ở lại Quảng Ninh, nhưng ở biệt giam trong phòng kỷ luật. Phòng số 4 chúng tôi hai người ra đi là anh Bùi Tường Huân và anh Trịnh Tiếu. Anh Nguyễn Vạng Thọ cũng ra đi trong đợt nầy .
Lúc đó là mùa hè năm 1977.
Sau nầy, chúng tôi nghe những người đã ở trại Cẩm Thủy kể lại là anh em Phục Quốc vào đến trại nầy vẫn tiếp tục đấu tranh nhưng bị đàn áp dã man, chúng phân tán, giam kỷ luật, cùm chân, bỏ đói. Về sau, anh em đành phải chịu làm khổ sai và kép kín tâm tư để sống còn chờ qua cơn đàn áp.
Trần Hoài Thư bút hiệu, tên thật Trần Quí Sách, sinh năm 1942 tại Đà Lạt, trung học Quốc Học Huế, đại học Sài Gòn; GS trung học Trần Cao Vân Quảng Tín. 1967, khóa 24 SQTB Thủ Đức Phục vụ 4 năm tại đại đội Thám kích Sư đoàn 2, bị thương 3 lần. Sau đó làm phóng viên chiến trường vùng IV. Sau 1975, tù cải tạo hơn 4 năm, 1980 vượt biển, định cư tại Mỹ, tốt nghiệp Cao Học Toán Ứng Dụng. Làm cho công ty điện toán IBM trước khi nghỉ hưu.
Viết Về Nghiêm Sỹ Tuấn
TRẦN HOÀI THƯ
Đã cộng tác với Bách Khoa, Văn, Văn Học, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức … Tác phẩm: Trước 1975, Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang, Những vì sao vĩnh biệt, Ngọn cỏ ngậm ngùi, Một nơi nào để nhớ. Sau 1975: 16 Tập truyện, Tạp bút và 7 Tập Thơ. Từ 2001, cùng Phạm Văn Nhàn sáng lập tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Trần Hoài Thư đã có công phục hồi bộ báo Tình Thương từ Thư viện Đại học Cornell.
I. Chuyện làm số báo 83
Bạn xa:
Bạn hỏi tôi, vậy thì “10 khuôn mặt văn nghệ chết trận” chủ đề của số báo 83 này có gì đặc biệt? Tôi xin trả lời: Có chứ. Một Nghiêm Sỹ Tuấn, người y sĩ tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, với ba bài tiêu biểu 3 lãnh vực khác nhau. Một thuộc lãnh vực sáng tác. Một thuộc nhận định biên khảo. Và một thuộc dịch thuật. Ông thông thạo Đức ngữ, dù trẻ nhưng bảo thủ. Có một chuyện bên lề là khi sưu tập về tác giả Nghiêm Sỹ Tuấn, tôi may mắn có một người bạn đồng hành. Đó là nhà văn / bác sĩ Ngô Thế Vinh. Chúng tôi đã chia nhau đánh máy bài vở. Cả hai chúng tôi đều chỉ gõ bằng hai ngón. Và tôi nói đùa là 4 ngón chúng ta họp lại gõ đại hồng chung để kêu cố bác sĩ Tuấn về hầu giúp chúng ta có được hình ảnh bài vở tư liệu về ông!
Và đây là một tấm hình quý giá của Nghiêm Sỹ Tuấn, chụp lúc ông là sinh viên y khoa năm cuối, để chúng ta thấy hình ảnh một ông đồ hơn là một sinh viên y khoa và sau này là trung úy y sĩ Nhảy Dù:
Rồi đến nhà thơ Trầm Kha – bút hiệu của cố đại úy hải quân Nguyễn văn Đồng, người nằm xuống trong trận hải chiến Hoàng Sa. Chỉ có tạp chí này mới đăng tất cả 6 bài thơ quý hiếm của Trầm Kha – trong số có hai bài lục bát. Bạn sẽ có dịp đọc những câu mà hồn phách của Lục Bát và của ngôn ngữ như nhập vào từng chữ một cách diệu kỳ!
Ví dụ 2 câu sau đây của Trầm Kha tôi rất tâm đắc:
Lưng ngàn tóc có xanh mây?
Em ơi! Áo phủ cho gầy thời gian!
Rồi đến Nguyễn Phương Loan, người pháo thủ chết ở Pleime, thơ làm nhiều nhưng thơ bay vào cát bụi và hư vô. Toi quen NPL, và từng ngưỡng mộ NPL qua những bài thơ mà tôi được đọc trước đây. Tôi muốn NPL có mặt trong số báo này. Vì NPL là một thi sĩ. Nhưng biết tìm thơ NPL ở đâu? Lục thư mục Cornell thấy họ có lưu trữ tạp chí Sóng số 1 xuất bản lúc NPL làm thơ ký tòa soạn. Mừng quá, vội làm thủ tục mượn qua Interlibrary loan, nhưng thư viện cho biết là có người khác đã mượn trước rồi! Nhưng may mắn tôi tìm được hai bài đăng trên báo Tình Thương! Rồi một Doãn Dân, với giấc mơ tập truyện Bàn tay cho Yến. Anh mong được mấy ngày phép để về Saigon nhìn mặt mũi đứa con tinh thần của mình, nhưng giấc mơ ấy đã bị vụn vỡ tan tành cùng với thịt da banh ra như xác pháo trên đường Huế-Quảng Trị vào mùa hè năm 1972. Thêm một lần Bàn tay cho Yến có mặt, để bạn thấy ngòi bút của người cựu sĩ quan Sư Đoàn 22 BB, được đổi về Saigon nhưng sau đó bị đày ra Sư Đoàn 3 ngoài Quảng Trị. Một Song Linh, một sĩ quan của tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến. Tôi đã tìm được bài đầu tiên trong đời viết văn của anh và bài cuối cùng trước khi anh nằm xuống. Bài đầu đăng trên Sáng Tạo và bài cuối đăng trên Khởi Hành. Mặt khác có một bài viết của Tuấn Huy về cái chết của Song Linh rất cảm động. Tôi đã đánh máy bài này. Vừa gõ vừa rưng rưng.
THƯ QUÁN BẢN THẢO
Số 83 tháng 1-2019
chủ đề: 10 khuôn mặt văn nghệ hy sinh trong chiến trận
(5) TRÂN NHƯ LIÊN PHƯƠNG (6) – Nhc si DZUNG CHINH. (7) HOÀI LỮ
PHƯONG (6) * Nhạc si DEUNGCHINH21 HO
(8) DOÂN DÂN · (9) NGUYỄN PHƯƠNG LOAN. (10) SONG LINH
Sáng tác đóng góp của Nguyễn An Bình, Ngọc Bút, Tô Thấm Huy, Trần Vạn Giá, Uyên Hà, Trang Luân, Trần Dzạ Lữ, Phạm văn Nhàn, Nguyễn thị Liên Tâm, Lê văn Trung, Viêm Tịnh, Cái Trọng Ty, Cam li Nguyễn thị Mỹ Thanh, ..
Bìa Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 83 tháng 01.2019 với chủ đề: 10 khuôn mặt văn nghệ hy sinh trong chiến trận, trong đó có Y sĩ Trung úy Nhảy Dù Nghiêm Sỹ Tuấn.
[tư liệu Trần Hoài Thư]
Một Hoàng Yên Trang / Trần Như Liên Phượng, một thầy giáo gầy guộc như lau sậy, vậy mà vẫn chấp nhận vào nơi gió cát, đầu quân vào đơn vị tác chiến. Không phải vì muốn trở thành người hùng, nhưng vì cái tiết tháo của kẻ sĩ! Và truyện “Lên Đường” chỉ gởi đến tòa soạn Văn Học hai ngày trước khi anh nằm xuống!
Hằng năm ở Huế có truyền thống ngày lễ “Cúng âm hồn” hay “Cúng cô hồn”. Ít ra người sống vẫn còn nhớ đến những cô hồn vất vưởng, không nấm mồ, bị bỏ quên, xiêu lạc …
Câu hỏi: Còn những người làm văn nghệ của miền Nam chết trận thì sao? Có liệt họ vào hàng ngũ “cô hồn” được không?
Câu trả lời là KHÔNG!
Họ hữu danh chứ không phải vô danh. Họ đã có một thời mà tên tuổi, thơ, văn, nhạc của họ thấm đẫm vào trái tim người. Thơ họ vẫn còn đó, văn họ vẫn còn đó. Tên tuổi họ vẫn còn đó mà.
Họ có xứng đáng là khuôn mặt văn nghệ không?
Xứng đáng!
Giả dụ họ chưa chết. Doãn Dân được bình an sống ở Saigon. Giả dụ Song Linh về làm bên cạnh Du Tử Lê, Tô Thùy Yên vì anh nổi tiếng ngay từ thời Sáng Tạo. Giả dụ Hoàng Yên Trang / Trần Như Liên Phượng nhịn đói vài ngày để lúc khám nhập ngũ được hoãn dịch. Giả dụ Nghiêm Sỹ Tuấn sau hai lần bị thương có đầy đủ điều kiện để từ giã chiến trường trận mạc và đồng đội tiểu đoàn 6 Nhảy Dù … Giả dụ Hoài Lữ (Lữ Đắc Quảng) – em ruột của tướng Lữ Lan – nhờ vào bóng của anh. Mới 19 tuổi đã xuất bản tập thơ. Thơ được báo Mai dành hết sức trang trọng. Giả dụ Nguyễn Phương Loan còn sống chịu làm thơ đăng báo, giả dụ Phan Huy Mộng không tình nguyện vào Biệt Động Quân … thì chắc chắn chúng ta sẽ có thêm tác phẩm, có thêm những áng thơ văn hay nhạc bất hủ để đời.
Cái chết của họ được vinh danh, chẳng lẽ về mặt văn nghệ, sự đóng góp của họ cho văn chương miền Nam không được vinh danh hay sao?
Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi thực hiện số báo này. Bạn có đồng ý không?
III. Niềm hối lỗi muộn màng
1.
Trong bất cứ thời nào, ở đâu, có lẽ thành phần bác sĩ, y sĩ, nôm na là thầy thuốc, là thành phần được trọng vọng và được ưu đãi nhất. Bởi vậy, có lẽ niềm ao ước của bậc làm cha mẹ, là không ít thì nhiều mong con trong tương lai trở thành một bác sĩ. Không phải ở VN ta, mà cả quả đất này cũng nên. Tôi đọc ở đâu đó, bên Nhật, các bậc cha mẹ mang bông hoa đến ngoài trường y khoa và cầu khẩn khấn vái Đấng quyền năng ban may mắn cho con mình được trúng tuyển.
Một câu hỏi là họ có phải là “kẻ sĩ”?
Thú thật, trong thời chiến, tôi có cái nhìn hơi khe khắt về đội ngũ trí thức, dĩ nhiên trong đó có thành phần y sĩ, bác sĩ này. Ngay bản thân tôi, được Quân Y viện Ban Mê Thuột chuyển về Cộng Hòa hai lần để giám định về mắt và tai, cũng phải trở lại mặt trận, tiếp tục mang lại cái kính cận dầy có buộc sợi dây lưng quần đàn bà.
Nhưng mà không sao, nhờ vậy tôi mới trở thành nhà văn và viết về chuyện chiến trường mà không hổ thẹn là viết “phịa”! Không phải tôi vơ đũa cả nắm. Vẫn có những vị bác sĩ, y sĩ mà tôi nể vì, ngưỡng phục. Ví dụ bác sĩ Hà Thúc Nhơn chẳng hạn.
2.
Nhưng từ khi thực hiện chủ đề báo Tình Thương, tiếng nói của sinh viên Y Khoa Saigon vào những năm 64, 65, 66, 67 tôi có cơ hội để mở tầm nhìn về cái thế giới “chuẩn y sĩ này hơn. Nó giúp tôi thấy rõ về vai trò của kẻ sĩ trong một xã hội mà quyền lực là súng đạn và kỷ luật, để thấy thế nào là nhiệt huyết của tuổi trẻ trí
thức ở thành phố. Dù là tờ báo sinh viên y khoa, nhưng nó là tờ báo rất có uy tín ngoài công chúng thời bấy giờ. Nó có mặt ở các sạp báo ở thủ đô và cả toàn quốc. Có tòa soạn riêng. Làm việc trên tinh thần dân chủ và “Team work”, “team brain“. Dám viết, dám nói. Tôi không thể đếm bao nhiêu trang bị bôi đen, cả trang hay một phần và khi ra trường, những người trong nhóm chủ trương lại chọn những binh chủng dữ dằn nhất và đầu quân:
Chủ nhiệm Phạm Đình Vy đi Thủy quân lục chiến, Chủ bút Ngô Thế Vinh (từ số 9 … ) về Biệt Cách dù, Tổng thư ký tòa soạn Trần Xuân Dũng (từ số 1 đến số 8) về TQLC, Thư ký tòa soạn Nghiêm Sỹ Tuấn (từ số 1 đến số 13) và Trang Châu (từ số 14) cùng về Nhảy Dù …
Và một người trong nhóm chủ trương ấy đã nằm xuống tại Khe Sanh. Đó là bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn.
3.
Nghiêm Sỹ Tuấn giữ chức vụ Thư ký tòa soạn đúng một năm từ số 1 (tháng 1 năm 64) đến số 13 (tháng 1 năm 65) …Ông ít sáng tác, nhưng nghiêng nhiều về nhận định, biên khảo và dịch thuật. Rành tiếng Đức nên ông và Nguyễn Vĩnh Đức (rành tiếng Pháp) cùng hợp tác dịch tập truyện Dưới Mắt Thượng Đế qua hai bản: Một bản tiếng Đức (nguyên bản) và một bản tiếng Pháp. Khó có một bản dịch nào lại thận trọng và kỹ lưỡng như vậy.
Văn dịch của hai dịch giả rất trong sáng, dễ hiểu mặc dù tác phẩm đề cập nhiều đến vai trò thầy thuốc và cõi siêu hình … Chúng tôi đã đánh máy truyện ngắn Tờ Di Chúc của tập truyện dịch “Dưới Mắt Thượng Đế” để quý bạn đọc thấy được sự dễ hiểu và trong sáng này.
Ngoài ra, ông cùng với Hà Ngọc Thuần dịch tác phẩm Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker.
Trong lúc ông là sinh viên, ông có một bài tản mạn về nỗi đau đớn của con người, và bổn phận của người y sĩ:
… Do đó, y-học luôn-luôn tìm mọi cách để hoàn-tất công cuộc khắc phục đau đớn thể-xác, khởi từ những giây phút đầu tiên của đời sống nhân-loại trên mặt trái đất. Và nếu thuở xưa, làm hết đau đớn được coi như một việc “thiêng liêng”, thì ngày nay, làm hết đau đớn lại chính là bổn phận thiêng liêng tối-thiểu của người y-học)
(Xin đọc bài Niềm Đau Nỗi Khổ của Nghiêm Sỹ Tuấn đăngở phần sau)
Và ông đã thực hiện cái bổn phận thiêng liêng tối thiểu ấy, không phải từ phòng mạch, bệnh viện, mà ngay ngoài mặt trận. Tôi đọc được trên Internet, hai người bạn học cũng cùng binh chủng Dù với ông kể lại về cái chết của ông như sau:
“Anh hy sinh khi đứng dưới hố cá nhân săn sóc vết thương cho một thương binh nằm cáng trên miệng hố. Anh chết liền (khoảng 6 giờ chiều) khi cuộn băng (bandage) còn cầm trên tay!” (BS Trần Đức Tường, Y sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 3 ND)
… Tin dữ từ mặt trận đưa về. BS Nghiêm Sỹ Tuấn học cùng lớp, là BS dân y trưng tập, tình nguyện về TĐ6ND, cũng chỉ còn một tháng nữa là mãn nhiệm kỳ phục vụ cấp Tiểu đoàn bị tử trận tại Khe Sanh khi đang săn sóc thương binh. Anh đã 2 lần bị thương, một ở Dakto, một ở Cao Lãnh. (Trần Đoàn – Y sĩ trưởng tiểu đoàn 2 ND).
4.
Cái chết của người y sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn có lẽ chỉ được nhắc nhở tưởng tíếc qua đồng đội đồng môn và bạn hữu, đặc biệt trong giới y khoa. Nhưng không phải ông chỉ là y sĩ, mà còn là nhà văn và dịch giả, là người thư ký đầu tiên của tạp chí Tình Thương. Trong ba-lô của ông có lẽ có nhiều bản thảo. Không biết sau khi ông nằm xuống những bản thảo kia trôi dạt ở đâu hay là theo chủ của chúng cùng xuống tuyền đài. Chúng tôi chỉ biết dựa vào những số báo Tình Thương để viết về ông. Và chỉ biết dùng hai ngón tay gõ vào trái tim mình như thể gõ vào chuông vào mõ, vào đại hồng chung của chốn không cùng cho một khuôn mặt văn nghệ nằm xuống trong chiến tranh.
IV
Theo lời kể của bạn bè, bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn có nhiều cơ hội để từ giã mặt trận, nhưng ông vẫn sát cánh bên đồng đội của ông. Có một lần ông được đề bạt đi học khóa chuyên môn về giải phẫu một năm, nhưng ông yêu cầu sau khi mãn khóa phải cho ông về phục vụ tại Bệnh viện Đỗ Vinh của Nhảy Dù ông mới chấp nhận. Thấy cấp trên không bảo đảm, ông từ chối. Vì sao vậy? Tôi bỗng hỏi tôi. Vì sao? Tại sao bốn năm trời tôi lại có mặt ở đơn vị thám kích? Có phải: “Sống bên em chết bên bạn?” Em nào? Một người yêu bé nhỏ ở hậu phương? Hay cũng có thể là em gái giang hồ tìm quên sau khi về dưỡng quân ở hậu cứ. Bạn nào? Có phải là bạn bè đồng đội của mình. Có phải là những hạ sĩ, binh nhất, binh nhì, là trung sĩ, trung sĩ nhất, là chuẩn úy, thiếu úy … những người đã cùng chia sẻ với mình trong cơn hoạn nạn nguy khốn hay cùng chung với nỗi vui nỗi buồn. Cần gì cái chết nhẹ như lông hồng hay da ngựa bọc thây. Những ví von rập khuôn từ đâu, được mấy ngài nho sĩ thổi phồng, để trở thành những ví von không tưởng. Cả một đất nước hết chiến tranh này tiếp đến chiến tranh khác triền miên và biết bao kẻ đã tham dự, bộ không tìm ra một câu thâm trầm ý nghĩa sao.
“Sống bên em chết bên bạn”, câu nói nằm lòng của người lính trận. Nhớ lắm những chén rượu dưỡng quân: “Tôi hỏi ông thầy, bạn bè là cha mẹ hay vợ con là cha mẹ. Khi ông thầy tử trận ai mang xác ông thầy? Khi ông thầy bị thương ai cõng ông thầy?” Biết rằng, họ khích rượu mình, họ muốn mình cho chó ăn chè, hay họ muốn thử mình, nhưng cũng phải nâng chén mà nốc. Bởi vì chỉ có họ mới là cha mẹ, mới hiện diện bên mình trong khi lâm nạn. Bởi vì chính mồ hôi của họ là mồ hôi của mình. Máu của họ là máu của mình. Nước mắt của họ là nước mắt của mình. Không ai hiểu mình bằng họ và không ai hiểu họ bằng mình. Đâu cần huynh đệ chi binh khi mặt trời thì xa ngàn dặm khi mặt trăng thì không bao giờ soi gần những thân phận thấp hèn. Ngôn ngữ chữ nghĩa đâu cần phải là nho chùm, mượn điển tích này điển tích nọ, mà là ngôn ngữ từ trái tim, đọc lại người trong cuộc tự nhiên phải xôn xao xúc động. Đó là một thứ ngôn ngữ ngang tàng và đầy bi tráng được phát sinh từ sự thật, chứ không phải từ những hư tưởng viển vông của những tay thi sĩ văn sĩ nhạc sĩ chưa nếm mùi tân khổ là gì.
“Sống bên em, chết bên bạn”. Đã quá thừa hiểu miệng lưỡi của những kẻ lợi dụng xương máu của họ để vinh thân phì gia, để có những kẻ hầu hạ mà không trả tiền công, hay có những cận vệ súng ống rình rang còn hơn lãnh chúa. Đã quá biết những giọt nước mắt cá sấu. Đã quá phẫn nộ vì những bất công:
Hầu hết những “celebrity chef” – những thợ bếp danh tiếng sở hữu những nhà hàng hay xuất hiện hay dẫn các sô truyền hình quen thuộc, ra sách nấu ăn là những đầu bếp tài ba. Từ Anthony Bourdain, Wolfgang Puck cho đến Rachael Ray, Gordon Ramsay, mỗi người có những con đường riêng biệt dẫn đến tên tuổi và sự hấp dẫn của mình. Chỉ có Salt Bae, một đầu bếp nổi danh không phải vì khả năng làm bếp thiên khiếu, chẳng xuất hiện trên sô truyền hình hay viết sách rình rang, chỉ mỗi điệu bộ rắc muối lên thịt bò như một nghệ sĩ trình diễn thực thụ đã làm anh nổi danh thế giới.
Sinh năm 1983, Salt Bae là biệt danh của Nusret Gokce, là con trai một người thợ mỏ trong gia đình nghèo đông con tại Thổ Nhĩ Kỳ. Bỏ học năm lớp sáu, 13 tuổi Salt Bae đã bắt đầu đi làm việc cho hàng thịt, phụ việc quét dọn lau nhà. Nhà nghèo, giấc mơ của Salt Bae cũng là đến được Mỹ để lập nghiệp. Khi ngoài 20, sau năm lần bảy lượt bị Mỹ từ chối cấp visa việc làm, cuối cùng Salt Bae cũng sang được New York để vào cắt thịt cho một nhà hàng tại đây.
Nusret Gokce thuở thiếu thời – nguồn youtube
Tài nghệ của Salt Bae là… cắt thịt chứ không phải nấu ăn, khi những thợ bếp ở đây kể lại rằng kỹ năng cắt thịt nhanh và điêu luyện của anh phải làm họ ngạc nhiên. Chưa có ai cắt thịt lành nghề như anh. Nhưng không chỉ làm công việc cắt thịt, cũng chính từ nhà hàng này mà Salt Bae quan sát và học cách nấu ăn của những đầu bếp chính. Ý nghĩ có một ngày sẽ làm chủ được một nhà hàng nho nhỏ bắt đầu manh nha trong đầu của chàng trai cắt thịt này. Trong 3 năm trời lang bạt từ Mỹ sang một vài quốc gia khác, Salt Bae xin vào cắt thịt nhưng chủ yếu để học lén các bí quyết nấu ăn của các đầu bếp khác nhau, cũng như học cách điều hành một nhà hàng như thế nào. Thậm chí Salt Bae đã xin làm không công tại vài nhà hàng sang trọng nhằm học nghề.
Năm 2010, Salt Bae về lại Thổ Nhĩ Kỳ và cùng một người bạn là Mithat Erdem góp vốn để mở một nhà hàng Nusr-Et tại Istanbul từ số tiền dành dụm được. Nusr -Et nhanh chóng nổi danh cũng nhờ tài cắt thịt lả lướt của ông chủ, lần lượt phát triển thêm vài tiệm khác tại các thành phố du lịch của Thổ Nhĩ Kỳ. Chỉ 4 năm sau, Nusr-Et “lên đời”, mở một nhà hàng sang trọng tại Dubai, thế giới những ông chúa bà hoàng có dư tiền để thưởng thức những món ăn lạ bất kể giá nào.
Nusret được đào tạo với những người bán thịt ở Istanbul trước khi chuyển đến Argentina (Ảnh: @nusr_et)
Không phải Salt Bae phất lên mau chóng như vậy mà có lẽ vận may đã đến với anh khi được chủ tịch một tập đoàn tình cờ đến ăn tối và đề nghị bỏ tiền hợp tác phát triển. Ðó là tỉ phú Ferit Sahenk, Chủ Tịch tập đoàn Turkey’s Dogus, một trong những người giàu có nhất Thổ Nhĩ Kỳ. Khác với mọi người lầm tưởng, dù mang tên mình và là nhân vật chủ chốt làm nổi danh nhà hàng này, Salt Bae chỉ sở hữu 25 % hệ thống, Mithat Erdem nắm 35% và Ferit Sahenk, người đầu tư nắm đến 40% sở hữu. Câu chuyện còn lại là Nusr-Et nhanh chóng phát triển thành một hệ thống steakhouse trên dưới 20 nhà hàng, có mặt tại nhiều thành phố lớn như New York, Miami, Beverly Hills, Dubai, London… Câu chuyện của Salt Bae tưởng có lẽ chỉ dừng lại ở đó, bởi sự thành công ắt cũng đã đủ cho một câu chuyện.
Nusret Gokce và Mithat Erdem nguồn newsdaily
Nhưng mọi chuyện dường như cũng có những cơ may bất ngờ của nó. Năm 2017, khi Salt Bae trình làng miếng thịt bò thật lớn tại Dubai và thước phim ngắn chỉ 36 giây quay điệu bộ đầy kịch nghệ vung tay rắc muối như điệu múa một con thiên nga rồi cắt miếng thịt lả lướt được đưa lên mạng đã tạo ra một cơn sốt bất ngờ. Chính Salt Bae cho biết anh cũng không ngờ nó lại thu hút người ta nhiều đến vậy. Vô số trang mạng xã hội chia sẻ lại clip phim, trong một thời gian ngắn đã có hàng chục triệu lượt xem và vài chục ngàn lời bàn tán. Tài khoản Instagram của anh từ vài trăm ngàn người theo tăng lập tức lên ba triệu người chưa đầy một tháng. Và biệt danh Salt Bae, mà người Việt gọi là “Thánh Rắc Muối” chính thức khai sinh. Ðến bây giờ anh đã có hơn bốn chục triệu người theo, một phần cũng nhờ vô số nhân vật nổi tiếng khác đã ghé nhà hàng anh ăn và chụp ảnh lưu niệm. Và giới giàu sụ cứ đến để Salt Bae rắc muối cho hóa đơn hàng chục ngàn đô la chẳng những biến muối hóa vàng mà càng có thêm câu chuyện bàn tán, tạo thêm danh tiếng cho Salt Bae.
Từ trái: Mithat Erdem, Nusret Gokce và tỉ phú Ferit Sahenk đồng sở hữu chuỗi Steakhouse Nusr-Et – nguồn newsdaily
Không ai biết hay tự nhận rằng mình đã đặt biệt danh “Salt Bae” cho anh và với ý nghĩa gì? “Salt” là muối đã gắn liền với cách vẩy muối của anh. Còn “Bae” hiểu theo nghĩa thông thường là “Babe”, cách gọi âu yếm, thân mật giữa các đôi tình nhân hay thân thiết cũng không đúng. Có giải thích rằng Bae là viết tắt của tiếng Thổ Nhĩ Kỳ “Birleşik Arap Emirlikleri”, tức Các Tiểu vương quốc Ả Rập, nơi anh thành danh…. Hoặc “Bae – Before anyone else” xem ra cũng có phần hợp lý. Bởi Salt Bae, người “đi trước hơn ai hết” về sự thành công trong kỹ nghệ nhà hàng nhờ kỹ thuật trình diễn và thức ăn cực đắt, phần lớn dành cho thực khách tò mò giàu có, hơn là sự xuất sắc của món ăn theo các đánh giá ẩm thực.
Mà điều này cũng chẳng quan trọng gì, bởi từ chàng thanh niên cắt thịt với mức lương dưới 200 đô, Salt Bae hiện là cái tên lừng lẫy gắn liền với miếng bò dát vàng hàng ngàn đô la mới là điều khác thường và không dễ ai khác làm được. Ngoài một Salt Bae khác người.
Tô Lâm bộ trưởng công an Việt Nam và bữa ăn tai tiếng – nguồn scmp.com
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.