vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 9 Dec 2025

Nhớ:
– Thầy cũ, ông Bernard BOUROTTE, Xin thành kính dâng quyển này in lần đầu 3.700 cuốn đề tưởng niệm 3.700 lần. Ông dạy môn sử-dịa tại trường Chasseloup-Laubat (Saigon) trong ba năm: 1920 đến 1923. Ông đào luyện nhiều thế hệ sanh viên ở Sài-gòn, Huế, Hà-nội, Phnom-penh, rồi Sài-gon.
Kể về sử Việt, sử Miên, ông là người biết nhiều hơn ai … Ông về mất tại quê nhà ở Les Sept Pommiers, tinh Lisieux (Calvados, Pháp) ngày 11-10-1968; vợ là bà Andrée Bourotte mất trước ông, ngày 15-12-1967.
Tội nghiệp vợ chồng già, không con nối hậu, bà đi ông ở lại làm gì?
Nhớ ơn dạy dỗ hết lòng, nhớ hai ngày 8 và 9 tháng 6 năm 1963, sống với hai ông bà tại nhà cồ Lisieux, như trong giấc mộng. Tưởng niệm muộn nhưng chí thành.
Ngày 9- 6- 1972
V. H. S.
Tự
Sách không đề tựa, trơ trẽn như người thiếu mũ khăn; phải có “nón ” đề hợp lễ khơi màu. Ra đi hăng hái bao nhiêu, – tôi muốn nói khi bắt tay soạn tập nhỏ này, – nay về tới mức, chán chê buồn buồn, khó nói, buồn thiu buồn thiu, thiếu điều buồn đứt ruột. Sách! Mầy thà chết yều! Giá giấy lên, nhơn công mắc, hình dở mà tính giá ghê hồn, còn gì nữa? Chỉ tội nghiệp thân sách, làm vật tặng hảo, không đem được đồng xu cạo gió. Một xa-xí- phầm dư thừa, “có cũng chợ đông, không thì chợ cũng nhóm, không không bữa nào».
Duy tác giả là khồ: đe dọa chập chòng, hứng đâu còn mà tiếp tục viết? Ngồi không, tính sổ: Hiếu-cổ đặc-san, đến nay, ra được sáu số: cũng thọ đấy nhỉ?
Mọi việc êm đẹp, đều nhờ ơn một người, – ông Cò-Trung-Ngươn. Nếu nói làm vậy, quý vị thấy nhàm tai, xin miễn đọc bài tựa và cứ nhảy qua trương khác. Tập số 6 nay, lựa nhan đề là “Cuốn sồ tay của người chơi Cổ-ngoạn “. Phần đầu, nêu ra vài ba món từng nghiên cứu; phần sau chừa đề ba-hoa chung quanh vài kinh-nghiệm riêng. Sách được dày, tiền nhuận-bút sẽ sưởi ấm mấy ngày chót của tiết đông-thiên muộn.
Tóm lại: trong ba tập đầu, tôi dọn đường cho thấy cái vui của thú chơi cồ-ngoạn.
Tập 4 và tập 5 là phần chuyên-môn, tuy khô khan nhưng rất quan trọng, người nào đọc để chơi sẽ thấy thêm nhức đầu, tốt hơn đừng đọc. Người nào muốn học, phải dày công nghiền ngẫm. Chừng nào nhập thần, họa may sẽ hiều chút ít về đồ xưa. Phải lậm, phải mê, mới biết.
Tập 6, như tên đã gọi, cho biết thêm: Thế nào là cổ vật? Thế nào là thực hành?
Tập 7, nếu tiếp tục xuất bản, như đã nói trước, sẽ là cây violon d’Ingres, cây vĩ cầm sở trường: “Khảo về đồ sứ men lam Huế”.
Tập 8 là tập hồi-ký: “Hơn nửa đời Hư”. Không viết cũng được, vì mấy ai khoe thẹo? Mấy ai khai tệ việc mình, không bán lúa giống cũng mắc tội bày điều đặt chuyện.
Tập 9, nhan đề là “Một bộ môn sưu tập trong hai năm”, vừa tặng người tri kỷ, vừa kết thúc, vạch thêm chi tiết “thú vui chơi ấm chén ” và tìm hiều đồ sứ cồ đất Thần-kinh. Bác-sĩ, dược-sư, có sách dâng đến tận nhà, mình thua đã đành. Lại thua luôn anh lái xích-lô máy khi anh ăn điểm-tâm, thấy mà lé mắt. Trót lựa một nghề thua hết cả thiên-hạ, có khi mửa máu không đủ bôi tờ giấy lộn. Gẫm lại lúc nhỏ không chọn nghề bác-sĩ, tại sợ thây ma. Tuy không làm dược-sư, chớ nghệ-thuật biết mặt hoa lá, có kém ai, từ hoa biết nói đến hoa có gốc rễ.
Nhưng lỡ sanh xứ phèn, muốn làm thi-sĩ cũng không xong, vì tên cây cỏ miền Nam toàn là tục-tĩu. Dây gì dây thúi địt? Hoa gì hoa cặc chó? Cây gì cây dái ngựa? Ông thần thơ cũng phải chạy. Người phu xe là sướng nhất: quần đùi, xà-lỏn, lù coi cũng không ai nói.
Cái số « không gia cư nhất định”, khiến nhà ở một chỗ, không dời nửa tấc dất, thế mà bấy lâu mang số 5 đường Nguyễn-Thiện- Thuật, bỗng đầu năm đồi làm số 11, nay mới mấy ngày rày, sửa lại số 9/1. Vậy xin rao khắp bà con cô bác, coi chừng kẻo lộn nhà. Lỗi không phải tại tôi. Chán nản vì bác-sĩ bắt ăn cơm cữ muối.
Thế mà giá thử giờ phút này lão thần lòi ba sườn tay cầm lưỡi hái đến, sẽ bắt lão xóc giùm bó củi lên vai, chờ viết xong vài ba tập nữa, như lão không chờ được thì hãy đi chỗ khác, tôi không cần biết. Đời đã đảo ngược từ lâu, không phải mới. Sách đã hoàn thành lâu hoắc, nay mới làm bài tựa.
Cẩn tự,
Gia định, ngày 6 tháng Giêng tây năm 1972
(20 tháng mười một năm Tân-hợi).
Vân-Đường-Phủ, Đất-cổ-trai
Vương-Hồng-Sển.

Chương 1
Lời tự thuật của một cô tân thời có chồng mê dĩa hát.
(Riêng tặng các cô có chồng ham thích sưu tập)
Tôi có chồng năm 23 tuổi, vừa ra trường Đại bọc Văn Khoa Huế, cũng vừa buông cuốn sách. Tưởng thảnh thơi vài năm để chọn lựa, ai dè số kiếp, biết làm sao? Trang lứa của tôi, có đứa đã tay bồng tay ẳm, vì chúng nó có bóng sắc, tóc thề chưa chấm vai, chồng đã cưới. Không phải tôi xấu xí, nhưng vì cha mẹ dư ăn, kén rễ, bọn đào mỏ đều bơ. Mảng theo chữ với nghĩa mà cái xuân thỏn mỏn, gặp anh nầy thì té ra mình già kén kẹn hom, không lấy trai tơ lại đụng phải một anh lừa xương nhả sạn, nghe đâu anh đã một lần thay vợ. Tôi không tủi phận lại còn cả khuyên chị em nèn lựa bạn đi đường trộng tuồi và già kinh nghiệm, vì mẹ tôi thường nhắc thứ trai tân là ngỗng đực, thà chồng có tuổi, vững lèo lái và biết càng trọng vợ hơn. Tôi xin thêm: chắc yên thân hơn. Về sự yên thân thì khỏi nói, ảnh có sự nghiệp sẵn, có ba cái ô-tô, nhà chánh ở Sài gòn, nhà mát ở Long Hải, duy mỗi lần ra đó đều gặp ma xin tiền, nên nhà có hai mà ở một. Vả lại tôi thường ngồi xe, ít khi ở nhà. Liễu yếu dựa bóng tùng, gọi yên thân nghe chướng chướng, vì tôi ví thân như liễu, e không đúng danh từ, tôi đánh tơ-nít một cây, bơi lội như rái và khi tôi lái xe thì phải biết. Muốn mua một bao diêm, tôi xẹt một cái vù, bất chấp đèn xanh đèn đỏ, duy đừng ai hỏi tôi có biết đi chợ không, vì đi chợ là cái thá gì, trong khi trong nhà đã có ba người hỏa-đầu-quân, một nấu đồ Tây hạng đeo dây cordon, không phải huy chương Bắc đầu, nhưng chánh thị là đầu bếp giỏi (cordon bleu), một thiện nghệ đồ Tàu và chị vú già, đừng tưởng lơ mơ, khéo trở bữa từ bún bò, bún thang đến bò giá tréo, vịt ba món: xương khía, cô làm dồi nhấp nháy, nhứt là bộ lòng chưng ăn với ghém bắp chuối hột, ôi cha, nhắc đến mà thèm chảy nước miếng! Chừng nào ba người ấy đồng hè thôi một lượt, có lẽ chừng ấy tôi phải xách rổ, á mà quên, còn nhà hàng quán nhót, lại nữa ai bỏ tật ngủ nướng cho mình?
Quả là nói chuyện trời nghiêng đất méo. Quên giới thiệu: chồng tôi có tật hút pip. Pip có trên một trăm ống, một bộ môn không ai có, đến anh chà Ismael còn chạy mặt nữa là. Hương gây mùi nhớ, biết hút mà thay đổi pip hoài hoài thì hút ống điếu cối thêm vẻ oai nghi, riêng chồng tôi khi ngồi chễm chệ nơi văn phòng, miệng ngậm ống kéo nghe bắp bắp, cái píp trơn láng làm cho cái trán bớt sói, hay là anh khéo lựa mình như đã lựa ống điếu!
Chồng tôi ưa sưu tập dĩa hát. Trong nhà đã có đủ thứ máy tinh vi, từ cái phát thanh National, đến cái truyền hình Sanyo, máy thâu băng và máy hát rất kim thời, ảnh để chật một phòng rộng lớn, khi tôi viết đến đây, tôi tưởng tượng những người đọc văn tôi, ắt thèm thuồng địa vị của tôi, hạnh phúc của tôi, nhứt là nếu độc giả ấy là một mãng phụ chẳng may phòng không chích bóng hay một cô tân khoa đang kén cá chọn canh, làm sao khỏi thèm thuồng cảnh ấm êm, sau buổi cơm tối, chàng ngồi phì phà ống cối, nàng ngồi mơ mộng xem báo có hình màu, quanh quần bên tiếng hat du dương từ các máy ấy phát ra. Nhưng hãy khoan hối hả, hãy để tôi nói hết rồi sẽ biết.
Chồng tôi ham sưu-tập dĩa hát cũ, từ dĩa Cô Ba Ngoạn, tuỗng giễu “lên ăn tiệm tiên lầu biểu xào tô mì thổ-thần » đến dĩa ông Huỳnh Trí Phú, «Cô Hai Huê làm Nguyệt-Kiều xuống tóc đi tu», tôi thì tân thời thấy dĩa Cô Bảy Phùng Há nhại Joséphine-Baker bài «hai mối ân tình» (Zè-đờ zà múa: J’ai deux amours), mình muốn nghe hết sức, năn nỉ ảnh, ảnh lại ép nghe hát bội: «lùng tùng phèng là lùng tùng phèng»! Nay tôi nói rồi, ai có muốn nhào vô thì tôi xin mời. Từ ba năm nay, tôi sống trong cảnh đó, Thiên-thai hay là địa ngục?, cũng khó nói cho thông. Đang ngủ lim dim thì cây kèn song-hỷ phát lên rồi giọng hát khách gần bể nhà. Nằm suy nghĩ một chút cũng không được, cũng tại vì có chồng mê sắm dĩa hát xưa! Nói chí phải, khi cưới tôi thì ảnh đâu có như vầy nè! Nói chi đáng, cũng tại mình hết thảy. Khi hai đứa tôi lấy nhau, chồng tôi là một người ham trồng hoa lan và là người giàu hoa lan bực nhứt bực nhì trong vùng Sài Gòn lên tận Thủ Đức và Đà Lạt. Một giống lan lạ ở bên Xiêm bên Tây, hễ người ta có thì ảnh cũng phải có, tiền rừng bạc biển chôn vào mấy kiểng hoa giụm miệng lại như một bài thơ «hàm tiếu», khen cho trời già cũng biết nịnh đầm. Riêng tôi thì ưa thể thao, nhưng cũng ham thích cho chồng tôi chọn thú tiêu khiển chơi hoa lan, vì nó cầm chơn người đàn ông ru rú dưới giàn hoa tối ngày và dẫu nó đẹp cách mấy, cũng không biết giựt chồng như nhiều thứ lan hai cẳng. Khi lên xe hoa, mẹ tôi đã dặn: đừng cho chồng hút xái, mê gái mê l., chơi hoa có lợi nhiều hơn là có hại.
Quanh năm hạnh phúc lạ lùng trôi như nước chảy dưới cầu, tôi yên trí, ngày ngày cùng chị em bạn gái, đua nhau xách xe đi tắm bích-xinh, phơi nắng hay tranh giải quần vợt, trong khi chồng tôi vẫn run rút «môn trung bất xuất», – một cây kéo cắt kiểng cầm tay, một nón lá che đầu, bắt sâu tỉa lá, không làm chánh trị, cũng không nhập hội nầy bội kia … Hoan hô thú chơi lan đã giúp tôi không biết cái ghen là gì!
Chúng tôi kết hôn với nhau tính đã ba năm tròn, mà tôi chưa được cái vui «đi thử thỏ». Cuối năm Kỷ-dậu (1969), chồng tôi bỗng cho tôi một cái vui bất ngờ là mua cho tôi một biệt thự trên Đà Lạt. Chừng trao tờ bằng khoán, tôi thấy tôi đứng tên một mình, hỏi, mới biết cái nhã ý của chàng là mua làm quà biếu tôi, cho mua xoàn mua cẩm thạch hoài vô ích: «Miễn anh mãn đời được ở cạnh bên em», lời nói chí tình khiến tôi cảm động và thêm khắng khít.
Hôm lên nhận nhà, tôi mới rõ dây oan trái và số kiếp con người có khi bé bỏng còn nhỏ hơn đầu kim mối chỉ.
Đời sống hai đứa tôi bỗng thay đổi cũng vì mua cái biệt thự ở Đà Lạt này. Lão chủ cũ nhận tiền rồi ra đi mình không, để lại trọn vuông nhà, hoa viên chậu kiểng luôn và thập vật từ khí tế nhuyễn, không lấy đi món nào, trong số nên để ý một cái máy hát cũ hiệu Columbia, thứ hai dây thiều, lại với mấy chục chồng dĩa hát chứa đầy một tủ lớn. Lúc ấy tôi vẫn tưởng đó là những dấu tích gàn, vô thưởng phạt, của một ông già quen sống độc thân ích kỷ, tôi không dè đó là một thứ bùa ngải ma quái đã ếm vợ chồng tòi, khiến bỗng lần hồi thay đồi tánh tình và cũng gàn ương như lão không mấy chốc.
Từ lên Đà Lạt chuyến ấy, không biết bão to ở đâu mà mưa gió lu bù, không thể ló mũi ra đường được, thành thử hai tôi đành nằm nhà, và không biết làm gì đề giết thì giờ, tối hôm đầu, chúng tôi lấy dĩa hát ra lau sạch sẽ, đặt lên cái mâm tròn có lót nỉ xanh, lên dây thiều và cho máy chạy.
Cái máy bởi lâu ngày ít dùng nên đóng mốc, nhưng vốn là thứ có đến hai dây thiều nên rất mạnh, chừng thấm dầu, nó chạy ngon lành, còn có nước bụm tai. Ban đầu tôi nghe ri rỉ như tiếng mèo kêu, rồi kế tiếp đến tiếng rột rột như ai xóc miềng sành miềng chén, rồi bỗng đâu tiếng the thẻ như dưới âm phủ kêu vọng lên: «Đây là dĩa của thầy Nam Tu ở tại Mỹ-tho, hát cho hãng Pathe-phono nghe chơi: tuồng Phan Đường, lớp Tiết-Cương tế Thiết-Khưu-Phần ».
Tôi lật đật gọi chồng xin tắt máy, không biết có cái gì đang nạo óc già óc non, nhức đầu quá chịu không nổi.
Nhưng một lần đầu, tôi nghe chồng tôi cãi lại: «Dĩa hay hòng muốn chết, không cho tôi nghe thì tôi lấy xe xuống câu-lạc-bộ Bờ Hồ đánh phé với ông XX Cái ông làm sao tôi vừa nghe nhắc tên, bỗng hết nhức đầu ngay và thà để chồng tôi tiếp tục hát máy, hơn là để cho đi đánh đôi đánh đọ với một người đủ tật xấu, giỏi chửi thề, giỏi cá ngựa, xì-phé và tán gái là số một, thêm có tài uống Whisky thay nước lạnh nước trà.
Ở Đà Lạt được một tuần, vợ chồng tôi trở về Sài Gòn, nhưng mấy dĩa hát và cái máy Columbia cũng tháp tùng về theo; tôi phải ngồi trước với ảnh, mua một nhánh lai-dơn cũng không được, vì trọn thùng sau đều dành cho cái máy hát và những dĩa là dĩa.
Rồi cũng kể từ ngày ấy, đường lối tự do của tôi mất lần từ nào không hay, tôi bớt đi lội và bớt đi đánh vợt, trái lại phải theo ông chồng và chiều ý ông để giữ cho vui cửa vui nhà. Tôi biết đủ hết các tiệm lạc-son có trữ và bán dĩa hát máy cũ, như đường Trần-Quý-Cáp có Chệc dơ nhứt đời, trước ở túp lều ọp ẹp thì dơ dáy đã đành, nay có tiền xây cất nhà lầu, mà dơ vẫn còn dơ; anh tích trữ từ cái ống khói đèn đến cái dĩa chữ Thọ, cái nào cũng đầy bụi bặm, còn những dĩa hát anh để trên lầu, trong xó kẹt, phải chen vào và đừng sợ mấy con nhện và bầy gián tanh hôi thì mới hòng vói tới lấy ra đem lựa. Ở đường Hai Bà Trưng, qua khỏi dốc Cầu Kiệu, có hai tiệm ngó mặt nhau, mà chủ nhà không thuận với nhau, tuy vẫn người đồng hương tỉnh Phước-kiến qua đây, cũng vì tranh giành mối hàng, một anh tôi gọi Chệc cười, vì mình trả giá nào anh cũng nhe răng làm ngoại giao, đúng giá mới thôi cười lấy giấy gói món đồ trao và nhận tiền rồi thì cười trở lại. Còn tiệm kia, người chủ họ Hồng, đã có treo tấm biển đề hai chữ mạ vàng «CHÍ-THÀNH», mà thật anh nhờ cần cù chí thú làm ăn, mà thành sự nghiệp. Tuy anh là chủ tiệm mà những việc nặng nhọc, khiêng ván khênh tủ, anh vẫn phụ lực cùng bạn ở, chẳng bao giờ nệ hà, nên tôi tớ chẳng bao giờ sanh nạnh. Anh siêng đi tỉnh kiếm hàng, nên nhà anh tuy lạc-son mà có bán đủ thứ. Từ tủ thờ tủ cần của các đại gia suy sụp đến chén xưa dĩa cổ, nhưng chúng tôi chỉ hỏi mua dĩa hát. Và sau mấy năm biến cố, anh chỉ tìm được dĩa cải lương và dĩa hát Tây, còn dĩa hát bội, ít khi gặp còn toàn hảo. Khu Trường-tiền, ở via hè đường Công Lý, ngang nhà thuốc Diệu-Tâm, có một cô tạo được một quán xinh xinh bán dĩa hát nửa sạc, nhưng nơi đây chúng tôi ít mua được dĩa nào vừa ý, vì cô bán toàn dĩa nhạc jazz hay dĩa nhạc phòng trà, mà chồng tôi đã có máy thâu thanh và truyền hình tối tân, nên đâu thích loại dĩa ấy. Chẳng bao lâu vì ít vốn, thuế tiền chỗ nặng, thêm cạnh tranh không lại người Tàu, nên nay quán của cô đã sang chủ khác và quán nầy nay bán sách cũ chớ không bán dĩa hát xưa. Có một hiệu Tân-Phước-Hoa ở tận trong Chợ Lớn mới, ngang bến xe đò đường Cần Đước, lóng trước bán dĩa hát nhiều, nay chê lời ít không đủ bù phí tổn đi mua, nên không bán nữa. Mấy nhà nầy, giữ nguyên tắc không sắm máy hát và bán dĩa với điều kiện «mua rồi không trả lại» họ không bao giờ biết dùng cây chồi lông gà quét bụi, cũng không sẵn nước rửa tay, khiến nên mỗi lần đi thám hiểm, chúng tôi cụ bị theo cam tươi để giải khát, và chuối ngon để đỡ lòng, vì chỉ có hai thức ăn ấy, nhờ có vỏ nên không sợ nhiễm độc của những bụi xập-kỷ-nình (thập-kỷ-niên) của dĩa hát tang trữ nơi các nhà tôi đã kể.
Nhiều khi với vài bạn cũng lậm dĩa hát như chồng tôi, bèn rủ nhau xuống tận Mỹ (mà là Mỹ Tho) và lên tận Tây (mà là Tây Ninh), nhưng phần nhiều đều thất vọng, vì hai nơi giàu lúa và giàu cao-su, sau mấy năm chiến tranh không dứt, nay chỉ còn máy truyền hình và rất nhiều radio xách tay, các dĩa hát và máy hát xưa đã làm mồi cho binh lửa loạn ly, người và sinh mạng còn không yên, huống chi gia tư tế nhuyễn.
Một buổi chiều thứ bảy kia, chồng tôi tự lái xe đi đến chạng vạng tối mới về nhà, cơm nước cầm chừng, ông chỉ mê một cuốn mua được tại nhà sách Xuân-thu đường Tự-Do, xem lại đó là cuốn sách mẫu rao hàng «Hãng dĩa Béka năm 1938». Cuốn sách giẹp lép mà ổng xem nặng hơn tôi và khi lên lầu trong phòng ngủ chỉ có sự hiện diện của nó. Tôi liếc thấy:
– dĩa cô Hai Đá ca Vọng-cổ: Gió bạt lạnh lùng (Béka);
– dĩa «Thương ai? » điệu «Tương-tư» và dĩa «Đêm khuya» điệu xàng xê do cô Ngọc Nữ ca, có kìm và violon phụ họa (Béka);
Rồi nào Bóng trăng tròn vạnh, Sầu chong trắng dĩa, Cách trở sông Tương, Tiếng chuông Linh-Mụ, khi Bòng Mạc, khi Sa Mạc, khi hò Mái Đẩy, khi Nam Bình, khi Nam Ai, lại có dĩa hát-bội gánh Huỳnh-trí-Phú, trọn bộ bốn dĩa tuồng San-Hậu, hay nhứt là lớp cô Hai Huê thủ vai bà Nguyệt kiều xuống tóc đi tu …
Chồng tôi đã ngủ mòm, tôi vội lấy đọc bài quảng-cáo dĩa điệu « xang xừ-líu » của Diệp-văn-Kỳ, (con ông Diệp văn-Cương) soạn,
a) mặt trước, « Trong đời mấy mặt chơi »:
« Trong đời mấy mặt chơi?
« Đủ âu yếm lã lơi, cuộc say trận cười?
« Nào giai nhân, chói môi đào má hạnh,
« Phấn điềm, hồng trang, giống tiên điện Hàn.
« Người chung tình, kẻ thanh thú,
« Mùi hương trời, dễ yêu dấu,
« Khi câu ca, tiếng hát,
« Khi chén rượu đầy vơi, thế mới phong lưu.
Tôi hết buồn ngủ, rán đọc tiếp:
b) mặt sau, « Con người phải mua vui »:
« Con người phải mua vui,
« Để tiêu khiển chút chơi, giải khuây sự đời.
« Làng tao nhơn, với cung đàn chén rượu,
« Cái cảnh phù sanh, có chi lụy mình,
«Nào công hầu, những khanh tướng,
«Gò đất vàng, nắm xương trắng,
« Trăm năm trong thấm thoát,
« Như giấc mộng Huỳnh-lương; nghĩ chẳng ra chi! Tôi muốn đọc tiếp, mà mi mắt chống hết lên; nhứt định sáng ngày xúi ảnh tìm cho ra dĩa nầy, mắc thế mấy cũng mua. Vốn tôi không ưa dĩa hát cũ, vì nó kêu rè rè, nhưng tôi lại thích câu ca cũ đượm mùi văn chương. Không chi tôi cũng có chứng chỉ cử nhân, và ý tôi muốn viết tiếp thầy tôi về «Năm chục năm mê hát». Sáng ngày tôi nói ý định cho chồng biết, bộ mặt ảnh bỗng sáng như hoa vông mới nở và buổi chiều giờ ăn cơm, tôi nhận được một chiếc cà-rá kim-cương, với điều kiện cùng nhau tát cạn biển đông, vừa mò kim máy hát và mò mấy mặt tròn tròn đen đen, giẹp giẹp, chứa giọng các cô đào hát bội: «Lưu Kim Đính hạ san do cô cô Ba Cang hát khách qua Nam»; «đào Sáu Sen hát Nam ai sang Nam xuân, vai vợ Trần Nhựt Chánh dắt mẹ đi tìm chồng »; đào Hai Quyên vai công tử bột hát giọng trọ trẹ, trong tuồng «Lục Phụng Dương đả Bàng-Bưu», nhưng thú thật kim-cương vẫn quyến rũ tôi hơn mấy dĩa nầy nhiều.
Thật tình tôi rất ghét dĩa hát đã cũ, nếu sang băng nhựa thì còn khá, nhưng kể về văn chương thì dĩa hát xưa câu văn đặt để thâm trầm, khi hát lên chát chúa tôi không nghe được nên không thích, bằng như được ai chép ra giấy và cắt nghĩa rành mạch, thì tự nhiên nó thấm vào xương tủy; ai không thích không mê văn hát bội thì chưa phải đúng là người Việt Nam! Chồng tôi thường nói lục-lạo mãi ở Sai-gòn thì khó tìm được dĩa hay, phải có công đi đó đi đây, trên những vùng có nhiều người thành thạo về nghề hát bội xưa và những nhà sưu tập dĩa cũ thì họa may, xin phép thâu băng để dành những tài liệu cũ này, chớ hững hờ thì không bao lâu sẽ mất hết những gì là di tích nền văn hóa cổ truyền của ông cha ta đề lại.
Chồng tôi ước ao được người giới thiệu, ra Phước Tuy xin ông Đốc-phủ L. cho nghe những dĩa hát thật cũ có ghi giọng hát của Bà Chung, Bà Bồn là hai đào biết rành chữ Nho và đã hát cho ông Diệp-văn-Cương nghe, lúc người nghỉ dạy đức vua Đồng Khánh ở Huế và lui về Sài Gòn nhận vai giáo sư Việt-văn trường Xách-lu. Tòi viết một câu nhỏ như trên mà phạm không biết bao nhiêu lỗi về danh từ dùng sai thời đại, vì phải nói dạy langue Annamite, chớ trước đây Việt-văn là gì, ai biết, và trường Xách-lu, nay đã lu mờ. Có báo viết « Sách-lu » càng thêm tệ, phải gọi chánh danh đúng tên theo Tây đã đặt là trường Chasse-loup-Laubat, có lẽ phải hơn. Thú thật, lúc ấy tôi ngồi nghe mà như vịt nghe sấm, chớ lúc ấy ai nói tôi mê dĩa hát như chồng thì ai đó lầm to. Và tôi đâu có chịu.

Sở dĩ chồng tôi lậm vì dĩa hát bội, thật ra không phải tại vụ mua nhà trên Đà Lạt, rồi bị ếm bởi mấy cái dĩa tròn tròn giữa rún có khoét lỗ và chung quanh lỗ có dản giấy chữ vàng, hiệu Béka, Columbia, Pathé (xưa hơn cả) hay La voix de son maitre, tôi gọi tắt «con chó», vì có in hình con cẩu ngồi lắng nghe tiếng của chủ từ trong ống loa vọng ra.
Tôi nhở lại chồng tôi bắt đầu mê nghe dĩa hát xưa là từ ngày làm quen với ông Năm, mỗi lần đến nhà vẫn kể truyện xưa tích cũ và nhắc lại những giọng phù trầm của đào kép dĩ vãng, chồng tôi sẵn có tánh ưa sưu tập văn chương, nên muốn thâu thập lại những gì thuộc văn-hóa ngày xưa, chờ lão Mai, thì khó trông cậy vào lão rồi. Lão già Năm có văn nói thật cám dỗ, khiến nên chồng tôi là một thể tháo gia, nay cũng it ra sân chơi đánh vợt và rảnh được phút nào là lái xe đi lục lạo các tiệm lạc-son, hoặc đi hỏi thăm chỗ nào có bán dĩa hát cũ thôi dùng. Từ ngày biết sưu tập dĩa, tôi có mở một cuốn sổ tay, biên giá và sở phí những dĩa mua được, tuy vậy cứ mỗi tháng cộng sổ, tôi thấy ít hao tốn hơn lúc chúng tôi lai vãng nhà ca-lâu tửu-quán, câu-lạc-bộ và bích-xinh, nhứt là nhà xec tây đường Hồng-thập-tự. Chúng tôi biết thêm được vài tỉnh miền Hậu-giang, Sa-đéc, Vĩnh-long và biết được nhiều thú vui rẻ tiền; nem khóm Bến-lức, nem Cai-lậy, trái cây ngon tươi xứ Vãng, cam quít Cái-Tàu, nghĩ ra mấy cái dĩa đen đen mặt giẹp ấy dạy chúng tôi về môn sử-địa nhiều hơn mấy ông giáo chầu xưa tại trường, nói không phải để vong ân các thầy Đại-học.
Cũng từ đó trên chiếc xe đỏ Fiat-sport của chúng tôi, phải tích trữ luôn luôn một nải chuối chín bói, mấy trái dừa xiêm lột vỏ sẵn và vài cái khăn nhỏ có thấm dầu Cologne, vì mỗi lần đi thám hiểm các tiệm lạc-son, thì không biết được trước giờ nào sẽ về đến nhà, cái cảnh ăn dạo mì chú Dầu Sa-đéc, cơm thố Mỹ-tho, bì-bún Chợ Bún là thường. Có lúc ra đi là định mua dĩa hát, mà bận về chở nhóc xe nào khóm nào sầu riêng, măng-cụt; có một chuyến đi Gò-vấp lại chở về một tá gà con Mỹ lông đỏ, nếu Hạnh-phúc biết nói, thì tiếng kêu chiu-chít của mấy chú chưa mọc lông cánh nầy là đúng cái vô tư lự và không biết có ngày mai của hai chúng tôi. Tại nhà tôi có nuôi một con gà mái, nó đang ấp trứng trên nệm ghế sa-lông. Mai nầy có khách đến dùng cơm tối, không biết phải dời chị ta đi đâu bây giờ? Nhiều bữa gặp ngày hên, mua được dĩa ước ao, về tới nhà chưa kịp cởi giày thay áo, anh tôi đã đặt dĩa mới mua cho máy chạy thử vài tua. Tiếng kèn song-hỷ thổi đưa hơi bài hát khách « … trảm Nhan-Lương, tru Văn-Xủ … » chưa dứt câu, anh tôi đã lấy dĩa xuống, phủi bụi
kỹ lưong rồi đem cất. Tôi không nhịn được, xin để nghe cho hết bài; nhưng anh tôi nói: «Nghe bấy nhiêu đủ rồi, đây là lớp Quan-Công đưa anh là Lưu Hoàng-Thúc phó hội Chân-Du; để khi khác; hát lắm nó trầy đi, uồng lắm! »
Rồi chồng tôi bất chấp tôi bực tức, ung dung lấy keo dán số mục-lục thứ tự, lấy mực vàng tô lại cái nhãn hiệu giữa rún, phủi tay huých sáo miệng, trọn ngày nhân viên lên xin việc gì cũng chấp thuận, chỉ có tôi là phân vân, không biết có nên ghen với cái dĩa mặt đen kia hay không? Từ ngày anh tôi sanh bịnh mê dĩa hát cũ, tôi phải nhượng một gian phòng gần phòng sách, trước đây dành cho bà con thân quyến lục-tỉnh lên đây ở tạm, nay anh tôi dọn thành phòng âm thanh và chứa dĩa hát và những băng nhựa thâu lại các bài bản xưa hiếm có, vừa cổ nhạc cũng như tân nhạc. Nếu không có gì trở ngại, một ngày gần đây chánh-phủ muốn lập trường «quốc dân âm-nhạc học-hiệu» (Conservatoire national de musique et de déclamation), tôi chắc phải cần dùng đến những tài liệu vô giá nầy. Tạm thời, tôi phải chịu cảnh cô-liêu chích bóng, vì có chồng cũng như không chồng, mọi việc ảnh đều giao hết cho tôi quyết đoán, tối ngày ảnh chi lo vặn nước lavabo trong phòng trữ dĩa, bồn thân rửa từ cái dĩa cho sạch lớp bụi «phong-trần» cũ, rửa rồi lau sạch không để cho tên bồi phòng phụ giúp, rồi lấy va-do-lin quet nhẹ lên hai mặt, o bế lại cái nhãn hiệu kẻ chữ vàng cho thêm đẹp, rồi lấy giấy mịn lót hai bên và cho cái dĩa cưng lên kệ tủ, đứng gần bên những dĩa khác, và những tập ảnh chứa hình các đào kep trứ danh Đông-Tây, từ Maurice Chevalier, Josephine Baker, Lý-Lệ-Hoa, Năm Phỉ, Tư Sang không quên cô Bảy Phùng-Há, Ái Liên, Tư Út, Năm Châu, chi đến Bạch-Tuyết, Ngọc-Giàu, Bảy Thông, Tư Thạch, Tám Thâu, cô Sáu Ngọc Sương, gần đủ mặt. Tôi vốn không mê tín dị đoan, thuyết luân hồi tôi cũng thờ ơ, mà tôi dám chắc anh nầy có mắc nợ các hồn ma ấy, khiến nên có tiền mà không tận hưởng, anh đi làm cái việc mất công mất linh này, thậm chí có nhiều nghệ sĩ vẫn còn sống nhăn, anh vẫn không quen biết, nhưng những người nào có vô dĩa, đều được anh thờ trong phòng riêng này.

Trên một cái bàn dài mặt đá vân thạch, anh sắp đủ thứ bàn chải lông, giẻ lau thật mềm, da nai-thuộc «peau de chamois», bông đá và mấy bộ hộp đựng kim hát máy, nay đã không còn bán mà không biết anh kiếm ở đâu ra từ kim sa-phia đến kim thép Béka, khi trước hát rồi là vụt bỏ, nay anh bắt tôi mài từ cây và không dám bỏ mất cây nào. Anh nói mài kim, tiết kiệm được tiền mua acétone để sơn móng tay và thay vì mất ngày giờ giũa móng, nay giũa kim chẳng là có ích hơn? Anh có cây kéo bén và một lọ keo tốt, tôi động đến không được, và anh thích thú ngoi cả buoi dài o bế từ cái mác (marque) cũ, hay những chữ lu mờ nhãn hiệu, anh nhái y hệt không sai một nét, còn khéo hơn họ sửa vé số và giả giấy bạc nhà băng.
Thét rồi nhà nào bán đồ lạc-son anh cũng đều quen, các tiệm cầm đồ cũ từ Bà Chiều vô chợ Phú Lâm anh đều
thuộc nằm lòng, chỗ nào còn giữ dĩa hát xưa anh đều rõ, anh chiu cực xuống đến Can Thơ nài dĩa hát của tướng Năm Lửa, lên tận đầu cầu tòa bố Sa Đéc tìm nhà Tư Hạnh là đại lý các hãng dĩa chầu xưa hỏi thăm nài những dĩa và hộp kim còn sót lại và anh không tiếc tiền đăng quảng cáo trên nhiều tờ báo, với câu vắn tắt «Ở số nhà 11 đường Ng.Th.Th. Gia Định, bằng lòng mua dĩa hát máy cũ: Giá cao». Báo hại tôi, chuyện nhà làm không hết, mà còn nhận tiếp và trả lời điện thoại, từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều, mỗi mươi, mươi lăm phút là có gọi:
– Tôi còn ở trên gác một chồng dĩa Thầy Năm Tú, mà phải giá bao nhiêu, tôi mới bằng lòng bán: của ông
bà đề lại.
– Tôi đi Lục Tỉnh có góp được nhiều dĩa hát bội còn như mới. Mời ông đến nhà, lựa và nói chuyện giá cả.
– Tôi mới di cư vào đây, có dĩa chầu mới do cô Mộng Hoàn hát, hay lắm. Xin mời cứ đến thương lượng.
Nguyên tôi thưở nay chỉ ưa thể thao, nay buộc tôi làm những việc như ép lòng nhiều khi tôi muốn liệng cái
ống nói xuống đất, vì đã sôi gan nhiều lần, nhưng nghĩ lại mình là con nhà gia giáo, rồi giằn xuống cho thuận vợ thuận chồng … Hôm nay nghe nhắc tên cô đào Đàm Mộng Hoàn, tôi bổng nhớ lại nguyên văn bài hát cũ của thầy dạy ở Đại Học Huế, kể chuyện ông Phó Bảng Nguyễn can Mộng, tới làm cua (faire la cour), có đề bài thơ như sau dưới bức ảnh chung trong phòng Đàm thị:
«Nghĩ-ngợi chi mà đứng mãi đây?
« Chẳng cuời, chẳng nói, điệu như ngây.
«Ngẫm cơ thế sự vòng quay mãi,
« Vì chữ chung-tình, mộng vẫn say.
« Thân phận liễu bồ, tờ giấy trắng,
«Nếp nhà băng tuyết, kiếp tu đày.
« Này trăng đây nước, hoa trong kinh,
« Thưởng đến tinh thần đã mấy tay?
Tôi còn nhớ thầy Viet văn có nhấn mạnh hai câu:
«Ngẫm cơ thế sự Vòng quay mãi,
« Vì chữ chung tình Mộng vẫn say.
và thầy cắt nghĩa: Vòng là nghĩa chữ Hoàn là tên cô đào, Vòng tức Hoàn, đối với Mộng là tên ông Phó-Bảng, mà cũng chữ đầu trong tên cô Đàm, vừa có sắc vừa có tài. Tôi tưởng đã quên hết những gì học trong trường, dè đâu hôm nay nhờ mấy cái dĩa, nhớ lại ông Phó Bảng năm xưa gò gập từ câu đến thế, là có dụng ý rồi; tôi lại thấy ra đời còn học mãi và trong lòng bớt khinh mấy cái dĩa tròn mặt đen, giữa rún có xoi lỗ tròn và biết nói tiếng người. Tôi ghi chép hết tất cả các tin tức và chiều nào cũng chờ chồng về, trình bày minh bạch, ông nhà tôi lên chưn, lại ra lịnh vắn tắt, oai còn hơn ông tướng cầm binh ra trận. Nhưng cũng nhờ dịp này mà chúng tôi thám hiểm nhiều nhà trong xó hóc và tôi mới biết được đồng bào tôi nghèo quá, thiếu thốn mọi bề. Tôi tưởng đến những đêm gió lạnh bão bùng, mình ăn no mặc ấm, sanh sứa mua chơi xa xỉ, trong khi những đồng bào đáng thương nay chỉ có hai mái thiếc cũ che cầm chừng, cửa phèn trống trước trống sau, từ ấy tôi thêm một công việc hữu ích là mỗi lần ra đi cho chồng mua dĩa, tôi ôm mền cũ, áo quần cũ đem theo và phân phát cho những người tôi được chứng kiến nỗi cơ hàn. Tôi làm được những điều ty tiểu ấy, mà thấy nhẹ bớt tấm lòng và thấy việc ra khỏi nhà đi mua lếu cũng chưa phải là cực vô ich. Chuyến xuất hành nào mà không mua chác được món nào, thì bữa ấy chồng tôi mặt nặng như treo chì, không nói năng, tôi cũng tránh tiếp xúc, và hai đứa đi ngủ sớm.Bữa nào may thời mua được dĩa lạ chưa có, thì ảnh huýt sáo chịu không nổi, vì dở khẹt. Bữa ấy chắc chắn tôi được một ngày mát mẻ, dẫu tôi trở chứng, chồng tôi cũng nhịn thua. Tôi nghĩ lại, nên cho ảnh mua sắm cho phỉ tình, cản trở làm chi cho sanh sự bất hòa, ngoại giao căng thẳng. Tôi lại thấy từ đây, hạnh-phúc trong gia đình không tùy hai tôi, mà vẫn tùy nơi mấy miếng nhựa đen vành tròn, có lằn chỉ chạm sâu cả hai mặt, khi còn lành lẽ thì giúp vui xã-hội, khi cũ rồi biết cà lăm nói đi nói lại như mấy mẹ chồng già và khi nứt bề, đâm nát ra bụi, lấy cầm máu đắp lên vết thương, cho lương-y cũng đỡ. Chồng tôi nay như cái máy, không sống bằng ngũ giác và chỉ thâu thập âm thanh bằng hai tai rất thính: sự tiến bộ của văn minh là như vậy hay sao?
Bao nhiêu bạn bè cũ, chồng tôi đều lánh xa. Bao nhiêu tập quán trước, cũng bớt: ít ngồi nhà hàng tán dóc, nghỉ việc đi đánh phé sáng đêm, và tôi cũng đỡ việc thức canh giờ yề. Ngày chúa nhựt, đi chầu lễ về, hai tôi thả một vòng đường Tự-Do chiếu lệ, rồi lat đật chạy xe về nhà tiếp rước đám bạn mới: nhóm chuyên môn về dĩa hát xưa. Họ tề tựu lại nhà chúng tôi, để khoe của: người này mới mua được bộ dĩa cô Tư Sạng ca bài « Mẹ dạy con thuở về nhà chồng »; người khác khoe mình chỉ tốn có một cái ống điếu cối đầu bằng ngà, đổi được trên sốc, bộ dĩa xưa Cô Mười-Hai ca Tứ-Đại lớp Bá-Lý-Hề, sau mười chín năm xa cách, nay vợ chồng mới thấy mặt nhau. Cũng vì cách đặt để bài ca xưa nầy, nghe nói do ông Kinh-lịch Quờn ở Vĩnh Long soạn, mà nước trà vơi hết mấy bình và bánh trái trong nhà ráo trọi. Ông già Năm bắt bẻ, rằng theo «ông già gân » nào đó, thì :
1) Câu 9 lớp xang dài: « Kẻ chân trời người góc biển, đôi đứa mình tương tri bất kiến », – bai chữ “ tương tri” vô nghĩa, và nên sửa lại «tương tư», nghe hữu lý hơn. Ông Năm hớp một ngụm trà rồi tiếp: «Có lẽ hai chữ nầy, tác giả viết đúng là «tương tư », nhưng vì tam sao thất bổn, nên trong bộ Thành ngữ điển tích, bản in kỳ 2 trương 27, vẫn in « tương tri », chữ tri và chữ tư rất gần, dễ lầm và nay nên sửa lại « tương tư » mới đúng văn cồ nhân;
2) Còn như lớp chót, ông Năm tiếp, hai câu rốt, để dứt bài ca, là:
« Giữa tiệc trung, sóng gợn đoanh tròng,
« Quăng ly rượu, khóc cùng người tình chung. Òng già Năm nhịp nhịp cẳng, bẻ rằng: đã « tiệc trung » mà còn thêm chữ « giữa » thì trùng nghĩa và thừa đi một chữ, và nên đổi lại: «Chốn tiệc trung, sóng gợn đoanh tròng,
« Quăng ly rượu, khóc cùng người tình chung.Vã lại, ông tiếp, chữ « chốn », nhấn mạnh dây đờn và gân giọng ca, bao nhiêu nghệ thuật ở chỗ đó, bao nhiêu dụng ý của người cô phụ hàm oan, đều gởi vào một chữ ấy thôi, dằn một tiếng mà « xót dạ anh bùng » là thế, người ca vô ý để mất ý nghĩa câu văn hay, cũng tại tánh người mình ưa sửa văn thiên hạ. Làm như chỉ có minh mới biết làm văn mà thôi. Cử tọa tán thưởng bằng một tràng vỗ tay, coi lại hai dĩa nho tươi và bòn bon, đã không còn trái nào. Tội nghiệp ông Năm được khen, cao hứng đến quên. ăn, và tiếp kể chuyện với giọng móc họng thường ngày: «Tôi không phải nhà tâm lý. Hai bài ca xưa vô dĩa về tích Bá-Lý-Hề in trong bộ « Thành-ngữ-đien-tich » đều hay đáo để, người đời nay đặt không lâm ly đến bực đó được và đều cho đó là hai « bản thầy ». Nhưng nói để bỏ qua và xin lỗi cổ nbân tiền bối, không biết lỗi bởi đâu, mà hai bài trong như ngọc chuốt, lại để lọt hai bột đậu sượng, đó là:
1.- Về bài Văn thiên tường, (Kinh lịch Quờn, 1916-1917), câu 14 và 15, 16:
14) « Thương ai cái thân sao lưu lạc, lang quân người Bá Lý Hề, vưng chịu chuộc về Tần.
15) « Ngày hàng ngày càng trông, tay dắt con trẻ,
16) « Bể xanh mây giăng chơn trời, bóng ác đương chen, màu khói tỏa, vẻ cảnh trời buồn xo.
2.- Về bài Tứ-Đại, trong Thành-ngữ điền-tích ghi tác giả khuyết danh, (tr. 28) nhưng tôi định cũng cùng một ông Kinh lịch Quờn đặt chớ không ai vô đó, như trong lớp xang vắn, từ câu 24 đến câu 29:
24) « Hỡi nợ duyên! thế khi chàng công danh đắc lộ,
25) « Thêm nhiều cô hầu, nên lấp thảm tình sâu.
26) « Chẳng nhớ những hồi cháo rau, đoạn tình nhau trong buổi sang giàu.
27) «Gắng gượng ôm trẻ con;
28) «Lặn suối trèo non, bước qua đường, xin ăn theo buổi;
29) «Dò lần qua Tần, cho tận mặt Bá lang;
Đến đây, ông Năm nói: «Văn lâm ly bi đát, mỗi lần nghe ca tôi khôn cầm giọt lụy, nhưng tôi là thằng hai lần bị vợ bỏ rơi, tôi đâm dạ hồ nghi: ông Bá Lý Hề, lúc nghèo, từ giã vợ, nhà có một con gà, chớ không có củi, phải chẻ cánh cửa, nấu một bữa cơm tiễn chồng, tình nghĩa thương nhau như vậy là tột bực, (câu 31: «Khi đưa nhau, phải chẻ cánh cửa hấp gà», mỗi lần ca, ruột tôi như dao cắt), thế mà hai lần như kể trên đều có nhắc «tay dắt con trẻ» và «gắng gượng ôm trẻ con», thêm nữa, bài Văn thiên tường, câu 29 còn nhắc một lần nữa: «Tay ôm con, theo đường kiếm ăn dò bước qua Tần ». Hễ ôm con là con còn nhỏ, nhưng căn cứ theo sử và theo nhà khảo cứu mà tôi quên tên, ông Bá Lý Hề xa nhà 19 năm mà bà Bá Lý Hề, «tay ôm con», «tay dắt con», tôi xin hỏi: «Con nhà ai đó? Cái nghề viết văn, cao hứng, muốn cho thêm lâm ly, mà quên thời gian, đứa trai 19, 20 tuồi mà dám nói «tay ôm con», không sợ phạm tội ngoại tình!
Hộp trà Thiết Quan Âm mang lên từ Hồng Kông đem về, không còn một cộng. Tôi không tiếc, chỉ tiếc câu chuyện ông Năm kể không được kéo dài. Nếu vậy mấy cái dĩa đen có rún ngay ở giữa, cũng có chỗ xài được và thú thật, từ khi thôi học lấy chồng, tôi mới được nghe một buổi nói chuyện có chút ít văn chương.
Cái thú đi ngửi bụi lựa dĩa hát cũ tiệm lạc son bây giờ mới thấy có chút nghĩa. Tự nhiên người ngồi nghe đã thâu vào băng nhựa đâu có hiểu nó như tôi. Có lệ trưa chúa nhựt nào cũng có tiệc «tứ hữu», bốn người quen nhau trong những khi lựa dĩa dơ trong hóc tối, làm cái việc không thua gì mấy chị tay xách giỏ rách, tay cầm cây sắt đâm quơ trong thùng rác lượm lon sữa bò. Đâu có như lão Mai ngồi ô tô láng bóng và chờ người tâng bốc, mà cũng gọi là làm Văn hóa!
Tiệc rồi qua pbòng khách, nghe các dĩa lạ thàu lượm trong tuần. Nghe rồi thâu băng, còn dĩa chánh, nhà tôi cất giữ. Có nhiều dĩa cũ mèm, tiếng kêu the thé như tiếng dưới âm phủ. Có dĩa khác nghe ò o, là lúc thâu dĩa, không kỹ, đề tiếng động cơ máy bay vô lọt phòng ghi âm. Nhưng họ đều để vậy, cho thấy buổi thâu băng lúc phôi thai và buổi trong nước chiến tranh còn dai dẳng. Họ chê kim thép mau hư dĩa, họ nói kim sa phia, tuy nhỏ giọng, mà với cái ống loa, nó bắt mình nhớ ông bà ông vải năm xưa, cỡ giặc kỳ đầu, 1914 mà xưa thấy mẹ.
– Một ông bác sĩ, nói với giọng dạy các cô y tá ở nhà thương: «Dĩa không nên hát mỗi lần hơn mười phút đồng hồ. Không vậy thì dĩa hư mòn hết».
– Một kỹ sư nhỏ tuổi cãi lại: «Dĩa cũ coi vậy mà bền. Hát rồi có đủ ngày giờ nguội lại. Không thì đâu có
dĩa cũ còn lại đến ngày nay. »
Một người chen vô, nói:
– Tôi nói ăn thua tại kim bén hay kim tà.
Nói câu ấy, rồi cả đám cười xòa, không biết tại câu tối nghĩa, hay tại họ nghe vấn đề nầy mà hiểu qua vấn đề khác. Các đề tài đều được đem ra bàn luận, không sắp đặt trước mà cũng không câu chấp trật tự, như vậy mà cởi mở và vui vui. Không khí luôn trẻ trung và bình đẳng:
– Hồi trước Nguyễn tùng Bá đờn kìm hay. Du côn Ba son thổi ống tiêu bằng đồng; khi đánh lộn thì đó là một binh khí lợi hại. Tám Thưa ca hay. Tư Út ca còn hay hơn nữa, lúc gần chết, thủ vai Nhữ Nam Vương Trịnh Ân, hát xuất thần. Trước kia, thầy Bảy Thông, Tám Cang, cô Cúc tuy ca xưa mà hay theo lối xưa. Bây giờ có Út Trà Ôn, Thành Được, mà người biết nghe còn tiếc giong Tư Thạch, Tư Út. Duy các cô giải Thanh Tâm bây giờ đề chữ nghe êm lắm, may thời là minh gần thành Phật thành ma! Cô Ngọc-Giàu ca mùi …
Nói đến đây có người cắt ngang câu chuyện và hỏi qua hát bội.
– Về hát bội, ngày xưa có Sáu Ất thủ vai Quan Công là xuất sắc. Có một người tên Hành, chuyên về vai Trương Phi. Thậm chi lớp đó, trong gánh hỏi với nhau: «Tối nay ai làm Hành? », có nghĩa là tối nay ai thủ vai Trương Phi, lớp Thủ cổ Thành. Cô Tám Tri ăn đứt vai Vương Tư Đồ xảo thủ liên hườn kế. Còn về vai đào, nên tìm dĩa cô Sáu Sền ở Trà Vinh hát lớp làm vợ Trần Nhựt Chánh dắt mẹ đi tìm chồng, và vai Lưu Kim Đinh giải giá Thọ Châu. Đặc biệt nhứt là gánh cô Ba Ngoạn, có cô Năm Nhỏ, khi thì diễn lớp ông Trượng ghẹo Tiên Bửu, một mình cô có hai giọng, vai mang hình nhơn đeo trên lưng, khi thì hát giọng ông già (Lão Trượng), khi thì che mặt, hát giọng con gái lanh lảnh, làm cô lái đò Tiên Bửu trả lời cho lão già dê; nhưng tuyệt xảo, ngày nay không ai bì kịp là khi cô một mình đóng năm vai khác nhau mà cả thảy đều xuất sắc vô song địch. Bây giờ muốn diễn lại tuồng Ngũ biến báo phu cừu của cô thì phải cần dùng đến năm cô đào khác nhau, tỷ như:
– vai đào điên (cô Hai Nhỏ, đã mất):
– vai giả cùi (cô Năm Sa Đéc);
– vai giả lão-trượng (cô Ba Út):
– vai giả Sơn-đông mãi võ (cô Cao Long Ngà):
– vai đào thích khách, đánh gươm (cô Năm Đồ).
Năm cô đào ấy diễn đủ năm lớp ruột của cô Năm Nhỏ mà chưa chắc hay hơn cô nầy. Tôi ngồi nghe khín, bụng nghĩ thầm: Thôi như vậy cũng đỡ khổ, mấy ông nầy mảng lo sưu tập dĩa mà quên chạy theo mấy cô nhót. Xin đề họ yên. Nhớ lại đã lâu không mời các bạn cũ gọi là «phàn dậu» (phạn-hữu, bạn quen nhau thích nhau trong buổi cơm buổi nhậu), tòi nài ép lắm, chồng tôi mới chịu mời, nhưng bữa cơm tẻ lạnh làm sao. Qua tuần cà phê, kéo nhau qua sa lông, người bạn hát cho nghe bản giựt gân, người muốn bản nhắm mắt rà rà lết lết, chồng tôi cười ngó bạn một cách tội nghiệp và bắt nghe một hơi mười bản hát bội và cải lương xua, báo hại mấy ổng ấy rút lui có trật tự và từ ấy không bén mảng đến nhà chúng tôi nữa. Chồng tôi đã đồi tánh rất nhiều, đã ly dị gần trọn nhóm bạn đồng nghiệp, đồng song, cũng vì mấy dĩa hát cũ, kiếm mua đề thâu băng nhựa, và làm cò-lét-xong. Tôi khuyên khéo chồng tôi không nên vì mấy dĩa hát mà bỏ hạnh-phúc, mua lắm hao tiền, anh em bạn cũ xa lìa, không ấm êm như mấy năm chưa chơi dĩa hát.
Chồng tôi ra chiều suy nghĩ, rồi nói:
– Anh xin lỗi em đó. Từ đây chúng ta đổi chương trình lại. Nhưng đổi chương trình để thức khuya đi la lết ở phòng trà ca tân-nhạc có khiêu vũ, thoát y, tôi lại thấy nguy hiểm hơn đi ăn bụi lạc-son. Qua tuần thứ ba, chính tôi đề nghị ở lại nhà nghe dĩa hát thâu băng cho đỡ tiền nước cam. Rồi tôi lại phải cám ơn chồng đã chiều ý mình. Tôi đã thua trí ông chồng tôi rồi đó. Tôi phải nhìn nhận nhà tôi có sưu tập được một số dĩa có giá trị. Có bộ Mạnh Lệ Quân thoát hài, cô Bảy Phùng Há làm Lịch thừa tướng, đối đáp với ông vua dê Nguyễn Thành Tôn (kép Tư Út đóng), nhưng không khi nào tôi nghe được trọn bộ và anh thừa dịp lấy đó nhem tôi như nhem trẻ nhỏ bằng me chua. Ngày ngày anh càng lậm, lấy kiếng chiếu đại ra săm soi, dùng bàn chải lông quét nhẹ nhẹ; lấy vẹt ni sơn lại cái « mác » rồi cũng cất vào tủ, không dám lấy ra hát, như vậy hỏi mua để làm gi? Có nhiều cái dĩa, tiếng nhỏ ri như dế kêu, lại có cà khọt cà khẹt như ông già tám mươi thức dậy buổi sáng, nhưng vậy mà anh hãnh diện nhứt, vì có ai hỏi, anh cũng đáp gọn lỏn: «Tôi đã có rồi»!
Thét rồi, phong lan anh cũng dẹp một bên, sách quí anh cũng xem bằng thường, đồ trân ngoạn cũng không ham, anh chỉ ham và sưu tập dĩa hát cũ.
Chồng tôi lục đục ở nhà mãi, tiệc tùng sang trọng cũng thối thác không dự, đám cưới đám tiệc vui, anh gởi tiền mà không đi, chồng tôi nay chỉ biết chung tình với mấy miếng tròn tròn giẹp giẹp mà tôi muốn ghen cũng không được. Xin hỏi có ông nào lậm vì dĩa hát cũ hơn chồng tôi chưa? Một hôm, nhờ người mách bảo, chồng tôi mua được ở xóm chợ Đũi, một bộ dĩa hát bội bốn thứ, nghe đâu của con quan Thủ tướng họ Phan, nay cha con đều đã qua đời, mua được ảnh lái xe về, tôi thấy cái mặt sáng và vui còn hơn mặt hột xoàn tám ly nước trắng. Tôi đọc trên nhãn hiệu: «Tuồng Ngũ hồ bình Tây, của Cụ Tú Nhơn An Nguyễn-Diêu soạn ». Tôi đã được đọc bản tuồng nay của hai ông Trần Văn Hương và Lê Ngọc Trụ sao chép và trình bày. Nay tôi gặp bộ dĩa hát do chồng tôi mua được, hai đứa tôi đều mừng như nhau. Trọn bữa trưa, ăn cơm rồi, hai đứa không ngủ. Chồng tôi ghi vào số mục lục, lấy phiếu dán keo đề số, xong rồi thì hai tay đã tèm lem, rờ đâu dính đó. Để giúp chồng tấm ơn và làm vui cho chồng, tôi làm tài khôn. bắt ghế cao, một tay ôm chồng dĩa bốn cái, chơn
thì bước lên nấc thang lanh lẹ cho xứng mặt thể tháo gia nữ anh tài. Nhưng tôi lật đật lưỡi đưỡi thế nào, muốn làm cho mau để được tiếng khen, tôi bỗng hụt chân, đánh rột một cái, quăng trọn cái bàn tọa xuống gạch, đưa bốn cẳng lên trời, chồng dĩa ôm trong tay cũng rớt xuống theo, nghe cái rảng, thôi rồi công chúa Thoại Ba, nguyên soái Địch Thanh và tiên phuông Lưu Khánh gì cũng đi đời nhà ma.
Tôi quên đau, rán vói chụp cái dĩa đang quây vòng vòng, nhưng vói làm sao tới? Tôi đau khắp mình mẫy nhứt là nơi bàn tọa, tòi đang nằm chờ tỉnh hồn, thì tôi thấy mặt chồng tôi dòm sát mặt tôi, mét xanh như tàu lá, cắt không có chút máu. Trong lòng tôi vừa buồn, vừa tức, tự trách mình quá dở và mối xúc cảm quá mạnh làm cho nước mắt tôi đi đâu mất hết. Tôi định chồng tôi sẽ làm tôi một trận lớn như B.52 dội chiến trường Campuchia. Nhưng tôi chỉ thấy chồng tôi bụm mặt khóc, miệng hỏi: «Mình đau chỗ nào? Đã bảo đừng làm gì hết. Đề đó cho tôi. Tại mình không nghe tôi, nên mới có sự này. Trời hỡi trời!. Biết bao giờ mới mua lai được nữa? » Tôi té đau mà quên khóc. Nay thấy anh nầy khóc mà nước mắt tôi tuôn trào. May trong phòng không có ai, nên cũng đỡ mắc cỡ. Chồng tôi đỡ tôi dậy rồi lại cuối xuống vừa ho vừa lượm mấy mảnh vụn dĩa hát.
Tôi không dám nói một lời nào. Nhưng cũng từ ngày ấy, đến phiên tôi xách xe chạy như điên, bỏ hết tơ nít, tắm bích xinh; mỗi ngày dạo lên dạo xuống không biết mấy chục lần qua các tiệm lạc son quen. Xì bo của tôi bây giờ là thế. Tôi có tự ái của tôi. Tôi muốn không ai được phép nói tôi chỉ là đàn bà biết làm bể dĩa, dĩa đây là dĩa hát chớ không phải dĩa trà xưa.
Nhờ chịu trả giá cao và khéo nói, Chệc Cười đã tìm cho tôi ba dĩa «Lạc-Thợn » số 2,3,4. Nghĩ cũng nực cười, bây giờ tôi lại lậm nặng với dĩa tuồng Ngũ Hỗ Bình Tây và ai biết ở đâu có dĩa số 1, xin làm ơn mách giùm.
Tôi đã suy xét cạn cùng. Thà có một ông chồng mê dĩa hát cũ, gàn thật, nhưng biết an phận thủ thường, còn hơn mấy ông hôi Whisky, nói tục, ham ăn chả lén và động động là nhảy dù. Vái trời cho tôi tìm được dĩa số 1 tuồng Lạc Thợn. Mặc ai cười mình ương; gái tân thời gì mà đi làm cò léc xio no? Nhà tôi là nhà nề nếp, ghét sự đổi trắng thay đen. Có chồng phải chiều chồng, mới được bầu tròn ống thẳng. Tôi đã xét kỹ. Lúc còn non nớt không biết gì thì chẳng nỏi làm chi. Nay đã chịu chút ít tuổi đời, thì phải kiếm một cây violon d’Ingres đề làm đích.
1 Một đời trống rỗng là đời nguy hiểm dễ hư, không bài bạc, ngồi lê đôi mách, cũng dễ lạc vào đường tội lỗi. Người đàn bà Âu Mỹ, có chồng tỷ phú, lại thường dấn thân làm việc xã hội, đến gần đồng bào nghèo. Tân thời hay thủ cựu đều là hai danh từ rỗng tuếch. Bây giờ tôi muốn cho chồng tôi trở lại với cây vợt tơ nít và ở nhà cầm kéo dưỡng phong lan. Để cho tôi chạy bận, tìm dĩa hát với mớ mùng mền áo cũ cho chị em cơ hàn. Dẫu tôi may thời gặp dĩa số 1 tuồng Lạc Thợn, nhiệm vụ cũng chưa hết. Nay tôi lại có cao vọng tìm hiểu tiếng hát xưa nay. Tối muốn viết và tập viết. Có người thích đi du lịch. Người khác ham săn thú, hay lội bắt cá dưới biển sâu. Ngẫu nhiên, tôi không lựa nghề, mà gặp nghề đi săn dĩa hát cũ. Phải nỏi là «cái thú», phải hơn.
17/12/1971

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.