vietmessenger.com
Morris L. West
Bản dịch của Chu Việt
Post bby Sơn râu 11 Dec 2025

Chương 4.
Ám sát là một danh từ xấu xí nhưng trong cái không khí Saigon sáng hôm ấy, nghe nó như một tiếng thông dụng. Quang cảnh thành phố như một trại binh. Ở mỗi góc phố đều có lính gác và các đội đội tuần tiễu võ trang trên xe jeep, xe vận tải qua lại không ngừng. Phố xá vắng vẻ, người đi lại vội vã, sợ sệt. Các cửa tiệm đều trống trải, các bar vắng khách và các cô chiêu đãi ngồi nhìn xuông qua lưới sắt như những con chim trong lồng. Tôi có ảo tưởng thoáng qua là cái thành phố tỉnh lẻ lỗi thời này đã bỗng chốc biến thành một khu rừng hoang trong đó thú vật đều đã ẩn trốn trong khi các người săn bắn bồn chồn rình rập, sợ hãi sự vắng lặng và cô quạnh. Không khí nặng mùi sấm sét và khi một chiếc xe hơi nổ hậu, người ta nghe như tiếng súng bắn.
Tại tòa Đại sứ họ đưa cho tội những báo cáo đầu tiên về những vụ sinh viên làm loạn. Viện Đại học nổi loạn. Sinh viên bãi khóa và họp mít tinh phản kháng. Một vị giáo sư đã bị sinh viên của mình ném đá. Các bích chương tuyên cáo thiết quân luật của chính phủ bị xé rách và bôi bẩn. Từng toán thanh niên ngồi trên tường la ó quân lính đi ngang qua, thách đố họ chiến đấu chống Việt cộng chứ đừng chống dân mình. Đã có nhiều người biểu tình bị bắt giữ và chở đến những trại giam gần ngoại ô thành phố. Đúng giữa trưa, đài phát thanh công bố lệnh đóng cửa tất cả các trường học cho đến khi có lệnh mới. Các học sinh Mỹ đã được chính phủ quân đội chúng ta hộ tống trở về nhà. Lính gác đã được tăng cường quanh Dinh Tổng thống và nhiều súng cao xạ được bố trí trong sân Dinh. Trên bàn giấy tôi, có một điện văn ngắn do Festhammer từ Hoa thịnh đốn gửi tới:
TẤT CẢ MỌI NGƯỜI Ở ĐÂY QUAN TÂM SÂU XA ĐẾN TIN BẠO ĐỘNG CHỐNG PHẬT TỬ MỚI ĐÂY. ÔNG ĐƯỢC CHỈ THỊ PHẢI PHẢN KHÁNG VỚI LỜI LẼ MÃNH LIỆT NHẤT SỰ THIẾU THÀNH TÍN CỦA CHÍNH PHỦ SAU NHIỀU LẦN HỨA GIẢNG HÒA – LỜI PHẢN KHÁNG PHẢI ĐƯỢC CÔNG BỐ RÕ RÀNG CHO BÁO CHÍ YÊU CẦU BÁO CÁO ĐẦY ĐỦ VÀ KHẨN CẤP MỌI DIỄN BIẾN.
ÔNG ĐẠI SỨ
Tại Phủ Tổng Thống, tôi đã đưa ra lời phản kháng. Trong một giờ nữa tôi sẽ công bố cho báo chí hay. Về tình hình, tôi chưa thể báo cáo được điều gì hữu ích vì chúng tôi cũng chưa hiểu rõ lắm. Tôi gạt bức điện văn sang một bên và gọi Đại-tướng Tolliver để ông tóm tắt tình hình quân sự cho tôi. Đại-tướng tóm lược như sau :
“Cho tới nay thành phố vẫn yên tĩnh. Tổng Thống Cung đã cho di chuyển về ba tiểu đoàn dưới quyền chỉ huy của một vị tưởng lãnh Công giáo trung thành với chính quyền. Để thêm phần thận trọng, vị trí dàn quân cứ bốn giờ lại thay đổi một lần. Thành phố Huế cũng được kiểm soát chặt chẽ. Các nơi khác đều yên tĩnh. Đêm qua chúng tôi được báo cáo cho hay có sự xô sát giữa binh sĩ Công giáo và Phật giáo tại Trà Vinh, nhưng vị chỉ huy địa phương đã dẹp yên được. Ngoài ra không có dấu hiệu nào về sự nổi loạn cõng khai trong quân đội hay có sự chuyển quân nào do các tướng lãnh bất mẫn ra lệnh cả. Các cuộc hành quân chống Việt cộng vẫn tiếp diễn bình thường nhưng tại các đơn vị chiến đấu, tinh thần xuống rất thấp. Tôi đã cho tăng cường canh gác tại tất cả các cơ quan và cơ sở quân sự Hoa Kỳ. Tôi cũng cho xe tuần tiểu đi kiểm soát sự an toàn tại các gia đình người Hoa Kỳ. Thưa ông Đại-sứ, cho đến phút này, tất cả chỉ có thế. Nếu có sự thay đổi tôi sẽ xin thông báo ngay”.
Cho đến nay, dường như tôi có thể tin được lời của Cung khi ông ấy xác định vị trí của mình. Quả thực ông đang nắm vững được tình hình. Nhưng nắm vững được bao lâu, lại là vấn đề khác. Những giàn cao xạ phòng không đặt trong vòng Dinh đủ chứng tỏ sự nghi ngờ lòng trung thành của quân đội. Tôi kêu Yaffa đến để xem hắn giải thích những dấn hiệu kia ra sao. Thật không ngờ hắn lại đồng ý với Đại-tướng Tolliver:
“… Trong lúc này, hiển nhiên Cung là chủ nhân ông của nước này và không có ai được tổ chức để lật đổ ông. Thành phố sôi sục vì bất mãn nhưng Cung đã lấy vung úp ngay lên nồi, thành thử ra không ai thấy được bọt sủi lên. Tôi đã đi lại nhiều nơi và nhận báo cáo từng giờ của các nhân viên. Quả thật Cung đã đi được một nước cờ tuyệt diệu”.
“Để tôi nói trắng ra ạnh nghe, anh Yaffa. Nếu tôi ưng thuận một cuộc đảo chính trong lúc này, liệu các ông tướng của anh có làm nổi không?”
“Thưa ông, không được”. Hắn cố ý nhấn mạnh. “Nếu làm trong lúc này, họ sẽ bị đè bẹp trong nửa ngày.”
“Vậy thì rốt cuộc Cung là người mà chúng ta đang cần con người hùng có võ trang có khả năng duy trì được xứ sở này.”
“Tôi không nghĩ như vậy. Sáng nay, ông đã thấy thành phố trong một tình trạng tê liệt và ngưng trệ. Ai nấy đều tìm chỗ để trú ân. Kẻ nào thò đầu ra là bị bắn nát óc. Nhưng có ai phong tỏa được một thành phố mãi đâu. Người ta còn phải ăn, uống và xả hơi đôi chút, cả binh sĩ cũng phải xả hơi nữa. Vậy thì cho nhiều lắm là một tuần hay mười ngày nữa, ông Cung sẽ thấy tạm yên và cho mở nắp ra. Đó mới lúc là ông sẽ thấy trong nồi sôi sục.”
“Tạm nghe theo lý luận của anh đi, anh Yaffa. Rồi. Thiết quân luật được hủy bỏ, quân đội rút khỏi Saigon. Lúc ấy các tướng lãnh của anh có sẵn sàng không?”
“Nếu quân đội đồn trú di tản đi thì vâng được. Nhưng thưa ông Đại Sứ, tôi phải nói minh bạch, bởi vì các tướng lãnh rất minh bạch đối với tôi. Không một tướng lãnh nào sẵn sàng để tiến bước nếu không được it nhất có sự yểm trợ ngầm của Hoa Kỳ. Họ rất dễ bị tiêu diệt, như ông thấy rõ. Họ cần phải có sự che chở của chúng ta.”
“Và nếu ta không che chở cho họ?”
“Thì ông lại mắc kẹt với Cung, một kẻ độc tài cai trị trong một sự trống rỗng. Nếu Việt cộng làm chuyện gì lớn, e rằng tinh thần chiến đấu và kỷ luật có thể sụp đổ luôn.”
Tới đây, có một sự im lặng ngắn ngủi khó thở. Rồi Yaffa đặt một câu hỏi riêng của hắn:
“Thưa ông Đại-sứ, lập trường của ông thế nào? Ông gặp Tổng Thống Cung. Ông đã nghe ý kiến của các nhân viên. Tôi đã hết lòng nói thẳng với ông. Ông thấy giải pháp nào chưa?”
“Hiện tại tôi chưa thấy giải pháp nào cả. Tôi cũng rất thành thực với anh, anh Yaffa. Tôi mới đến đây được hơn một ngày. Tổng Thống ra lệnh cho tôi thương lượng với Tổng Thống Cung để xem tôi có thể làm ông thay đổi thái độ được không. Nếu tôi thất bại, tôi sẽ phải đề nghị một biện pháp khác. Nhưng tôi vẫn chưa chuẩn bị để làm như thế. Tôi chưa có đủ sự kiện hay sự hiểu biết đầu tay. Về một khía cạnh nào đó, hành động của Cung hiện tại có lợi cho tôi. Vì tôi có thì giờ nhiều hơn để thu thập tin tức.”
“Tôi hiểu,” Yaffa lặng lẽ nói, “giờ đến lượt tôi xin ông xét đến lập trường của tôi. Tòi phải tiếp tục chuẩn bị cho giờ khủng phút hoảng mà Cung có thể bị hạ bệ. Tôi phải có khả năng đưa ra các đường lối hành động thay thế nhau. Đó là tất cả ý nghĩa của công việc tôi làm. Vậy tôi xin hỏi:
“Ông sẵn sàng tin tôi đến mức nào?”
“Anh Yaffa, tôi sẵn sàng tin anh chừng nào và bao lâu anh sẵn sàng lương thiện đối với tôi. Khi gặp nhau lần đầu, anh có nói với tôi anh là một tên nói dối có tài. Nhưng tôi không thể đề nghị gì được lên chính phủ chúng ta căn cứ trên một lời nói dối mặc dù là một lời nói dối có tính cách nghề nghiệp. Tôi tin chắc anh hiểu tôi nói gì.”
Tôi ngạc nhiên thấy hắn ngả người về phía sau ghế và cười lên tiếng. Đôi bàn tay nhỏ và mềm của hắn phác những động tác xoay tròn trong không khi.
“Hòn đất ném đi, hòn chì quăng lại! Hay lắm, thưa ông Đại sứ, òng đã định rõ thái độ. Tôi xin chấp nhận. Bây giờ ta hãy đi vào chi tiết. Trước hết, ông Đại sứ muốn gì?”
“Trước hết tôi muốn gặp các tướng lãnh đang hay có thể dính liu đến cuộc vận động lật đổ chính quyền Cung.”
Hắn nhíu lông mày khi nghe tòi nói vậy và lấy tay bóp đòi má hồng hào. “Làm vậy thật chướng. Nếu cho họ ngồi chung trong một căn phòng thì tèn gián điệp hạng bét cũng có thể nhìn thấy hình dạng một vụ âm mưu. Tôi có cách dàn xếp …
Tụi Úc, tụi Ý và một vài tòa Đại-sứ khác thỉnh thoảng vẫn giúp đỡ tôi. Họ sẽ tổ chức một bữa tiệc hay một cuộc tiếp tân và có thể thêm vào danh sách quan khách của họ bất cứ danh tính nào tôi yêu cầu”
“Vậy anh làm đi. Độ chừng bao lâu?”
“Ba hay bốn ngày cho cuộc gặp gỡ đầu tiên”.
“Hay lắm! …. À, còn một vấn đề nữa. Sáng nay ông Cung tự nhận ổng biết hết các hoạt động của anh. Ông có hứa gửi cho tôi một bản báo cáo đầy đủ. Tôi cũng đã hứa nghiên cứu và gửi một bản sao về Hoa thịnh đốn.”
Yaffa lại cười ngất. “Thưa ông Đại sứ, tôi
cũng muốn xem báo cáo đó.”
“Liệu báo cáo ấy có gây rắc rối cho anh không?”
“Tôi chắc là có. Nhưng thưa ông Đại sứ, có điều rất lạ về xứ này là an ninh chẳng có nghĩa lý quái gì cả. Điều qnan hệ là những lá bài ông giữ trên tay và cách ông chơi. Đó cũng là đường lối của những liên hệ gia đình và những cách làm tiền. Chắc chắn là Cung biết rõ những người hoạt động chống lại ông ta. Nhưng cũng như một ông quan cựu trào, ông chấp nhận âm mưu như một chuyện dĩ nhiên. Bao lâu ông chưa thấy ló dạng một cuộc âm mưu tối hậu ông vẫn tin rằng ông có thể mua chuộc được kẻ này, dọa kẻ kia và lưu đầy một kẻ khác làm Đại sứ tại Ai Cập. Thế nên tôi không thật sự quan tâm đến báo cáo ấy. Điều tôi quan tâm hơn là khuyến dụ được ông và cung cấp cho ông những phương tiện để thi hành cái điều thuận lợi cho đúng lúc.”
Tôi không cưỡng lại được sự nói nhạo nhưng Yaffa vẫn bình thản. Câu trả lời của hắn thật lẹ và gẫy gọn:
“Vâng, thưa òng Đại-sứ. Trong chính trị, không có chuyện đúng hay sai. Chỉ có chuyện thuận lợi và khả hữu mà thôi”.
“Anh Yaffa, trong Kinh Thánh, có câu nói:
“Một người chết cho cả dân tộc là điều thuận lợi”! Anh có nghĩ rằng chuyện ấy có liên hệ đến Cung không? Nếu các tưởng lãnh truất phế ông, liệu họ có giết ông không?”
Câu hỏi của tôi làm hắn chưng hửng và hắn ngửng lên nhìn tôi với một vẻ ngạc nhiên ghê gớm.
“Giết òng ấy? Không, thưa òng Đại sử, vấn đề đó chưa bao giờ được đả động tới cả”.
“Nếu vậy thì tôi muốn thảo luận với anh về việc đó. Anh Yaffa, tôi muốn có sự cam kết là chính phủ Hoa Kỳ không thể làm bung xung cho một vụ hành quyết thuận lợi được!”
Lúc đo tôi mới thấy rõ chân tưong của con người Yaffa, dưới cái bộ mặt thản nhiên và đầy nữ tính. Hắn nhìn chiếu diện tôi và đặt câu trả lời ra trước tòi như đặt một đồng đô la trên chiếu bạc.
“Điều thuận lợi? Anh nói sao, Yaffa?
“Thưa ông Đại-sứ, cam kết thì ông có ngay! Có mất tiền mua đâu! Tôi nhận và đưa ra cam kết hàng ngày mà. Nhưng lời hứa thì không! Ai có thể đoan chắc được chuyện gì khi súng nổ ầm ầm? Chắc không có tôi! Tôi là một tình báo viên một kẻ âm mưu chuyên nghiệp. Ông muốn có chính phủ mới? Tôi sẽ đưa ông một chính phủ mới như đưa ông một đĩa trứng chiên ăn sáng. Ông muốn có khăn lau vết trứng dây trên mặt? Tôi cũng cung cấp được chọ ông: Nhưng ông đừng bảo tôi làm trứng chiên mà không cần đập trứng. Tôi không thể làm được. Không ai làm được cả!”
Khi hắn đi khỏi, tôi bỗng cảm thấy người ớn lạnh, như thể có con ngỗng đã bước qua trên nấm mồ của tôi.
Anne Beldon mang đến cho tôi cà phê và một đĩa săng uých. Nàng cằn nhằn mãi cho đến khi tôi chịu ăn mới thôi. Đây là lần đầu từ khi tới đây tôi đã chú ý đến nàng và tôi cảm thấy cần phải xin lỗi nàng về sự bận bịu của tôi. Nàng chấp nhận một cách đơn giản và chúng tôi ngồi nói chuyện chơi, kiểu nói chuyện để làm vơi sự căng thẳng của công việc đại sự. Nàng cho tôi biết nàng là một góa phụ. Chồng nàng là một phi công phản lực của Hải quân đã tử trận tại Đại Hàn. Nàng đã xin phục vụ ngành ngoại giao tại Nhật Bản và đã làm việc một thời gian tại Tokyo, Đài Loan và Bangkok. Nàng nói tiếng Pháp rất thạo và hiện đang học tiếng Việt Nam với một giáo sư đại học người Việt đã hồi hưu. Nàng nói chuyện một cách dễ dàng và đi lại thoải mái; khi cười đôi mắt nàng sáng ngời vẻ vui tính và điểm chút bỡn cợt. Tôi đoán nàng độ ba mươi lăm tuổi. Theo tôi nhận thấy thì ngành Ngoại giao thường đối xử kỳ cục với phụ nữ ở vào một tuổi và tình trạng nào đó. Người ta đòi hỏi họ phải có hiệu năng; rốt cuộc một số trở nên khô khan và ưa chiếm đoạt. Họ sống trong một cộng-đồng toàn đực rựa mà một nửa đã có vợ và số còn lại đã sống quen với những mối tình lén lút tạm bợ, đôi khi với cả người bản xứ. Tuy nhièn, những quy ước của đời sống ngoại giao đặt họ vào thế bất lợi. Trong những nhiệm sở khổ cực như nhiệm sở này họ phải cam chịu thân phận tỳ thiếp cấm cung, đến độ một vài người phát điên khùng và một số trở nên lạnh lùng, ích kỷ. Trong kinh nghiệm của tôi, thật it khi thấy một người thư ký thâm niên nào giữ vững được thế quân bình về tình cảm và một phụ-nữ tính linh động như Anne Beldon. Cho nên tôi thầm cám ơn sự hiện diện của nàng trước giờ phút bị quấy đảo không thể tránh thoát của cuộc họp báo.
Nàng quá khôn ngoan nên đã không chịu nhận xét về những nhân vật của tòa Đại sứ nhưng nàng đã phê bình về lối sống của người Việt một cách khéo léo như sau:
“…Ông không thể tưởng tượng được những người dân ấy đã mệt mỏi và chán chường đến mức nào. Tôi thường thăm viếng họ, dùng cơm với họ và nói chuyện với các phụ nữ. Trước đây tình hình còn sáng sủa tòi thường thỉnh thoảng đi nghỉ cuối tuần ở Đà Lạt với cô con gái ông giáo sư của tôi. Dường như không còn ai nhớ ra rằng đất nước này liên tục sống trong chiến tranh đã hai mươi năm qua kể từ khi quân Nhật sang và Hồ chí Minh chiêu mộ những toán quân du kích đầu tiên. Tôi nghĩ rằng phải là một phụ nữ thì ông mới hiểu được điều đó như thế nào. Ông thấy các ngài quan lớn đến rồi lại đi. Ông nghe họ hứa hẹn đủ điều rồi đùng một cái con ông đã là người cầm súng như cha nó vậy.”
“Họ nghĩ thế nào về chúng mình, cô Anne?”
“Cảm nghĩ của họ lung tung lắm. Họ nhìn bọn mình như tượng trưng cho một nền tự do và thịnh vượng mà họ không có. Họ thich chúng mình và biết ơn điều mình cố gắng giúp họ. Nhưng họ cho rằng chúng mình rất ngây thơ quá ngây thơ đối với cải phức tạp cổ xưa của Á châu. Họ không thích người Pháp nhưng lạ thay họ lại kính trọng bọn Pháp hơn mình. Họ nhận định rằng người Pháp vẫn còn đang cai trị xứ sở họ nào ngân hàng, nào xi nê, nào thương mại cao su và hàng không; trong khi người Mỹ chiến đấu để giúp bọn chúng làm ăn. Kể ra thì cũng đúng thật!”
“Và sự thật họ muốn gì, cô Anne? Họ có nói cho cò biết không?
“Họ chỉ muốn hòa bình. Hòa bình với bất cứ giá nào, tôi e vậy. Tôi không thể trách họ được.”
Tôi đã nghe thấy điều này trước tiên do ông Tổng Giám mục người La Mã, một lần nữa do Mel Adams nói ra; giờ đây lại do một phụ nữ nói ra lần thứ ba. Dàn chúng mỏi mệt. Họ đã mất niềm tin. Họ chỉ muốn ban đêm ngủ yên tĩnh. Vậy tôi đã mang đến cái gì để cho có thể tái lập được sự che chở đã mất đi? Cà phê đã nguội và có vị chua trên đầu lưỡi. Tôi gạt tách cà phê sang bên và bảo Anne Beldon mang đến cho tôi những phiếu ghi chú cho cuộc họp báo. Khi đưa đến cho tôi, nàng hỏi:
“Thưa ông Đại sứ, ông cho phép tôi nói một điều?”
“Tự nhiên, cô Anne. Chuyện gì đó?”
“Ông hãy cẩn thận đối với báo chí ở đây.
Phần lớn họ còn trẻ lắm. Họ dấn thân hết mình; họ bị nhiều nguy hiểm và họ đã nhìn thấy vài điều khủng khiếp. Họ đã hị kết tội là ngồi ở quầy rượu Caravelle mà viết phóng sự về chiến tranh và họ rất tức giận chỉ vì điều đó không đúng sự thật. Người Mỹ chúng mình cũng đã cho họ uống nước đường nhiều, thế nên họ sẽ săn lấy đầu ông đó. “
“Cám ơn cô Anne. Ông nội tôi đã đánh nhau với bọn da đỏ. Tôi sẽ hết sức cố gắng để giữ cho sọ mình nguyên vẹn.”.
Khi đứng dậy, tay tôi quệt phải tay nàng và tôi ngạc nhiên thấy bàn tay ấy mát mẻ và mềm dịu biết bao. Tôi chợt nhớ rằng đã lâu lắm tôi mới đụng chạm với da thịt đàn bà. Mel Adams và tùy viên báo chí của tôi đã dẫn các phóng viên vào phòng họp của tòa Đại sứ. Tôi đã yêu cầu một cuộc họp báo quy mô, thì đây họ đã làm sẵn cho tôi, với tất cả nghi thức trang trọng! Có những máy quay phim thời sự, máy ghi âm và cả một trung đội phóng viên thuộc mười nước. Phần lớn họ rất trẻ tuổi và trông họ đều có vẻ gắng gượng, căng thẳng của những kẻ sống với nguy hiểm trong một môi trường thù nghịch. Có vài người mặc sơ mi trần, hai ba người khác mặc đồ trận dơ bẩn như thể mới đi hành quân về. Một, hai người không cạo râu. Một số khác vẻ mặt vàng vọt và ủ ê như bị ngã nước hay chưa tỉnh rượu. Người niên trưởng của họ là một chàng trai gầy gò, cao kều, quê quán ở Brooklyn, đại diện cho một hãng thông tấn quốc tế. Ông Tùy viên Báo chí giới thiệu hắn với tôi và hắn lanh lẹ giới thiệu từng người không chút ngập ngừng. Tôi ngồi xuống và máy quay phim, máy ghi âm bắt đầu chạy. Cuộc họp báo – hay một cuộc xử án? bắt đầu phiên nhóm. Họ đã chuẩn bị cuộc phỏng vấn thật kỹ lưỡng. Các câu hỏi từ mọi phía dồn đến nhưng đều theo một thứ tự dò dẫm có mạch lạc.
“Thưa ông Đại sứ, việc bổ nhiệm của ông có nghĩa là Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối với chế độ Cung hay thay đổi đường lối chỉ đạo chiến tranh?”
“Thay đổi chính sách? Không có. Chúng ta ở đây để giúp đỡ nước Cộng hòa Viet Nam theo đuổi chiến tranh chống Cộng và ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á. Chúng ta không bao giờ đi sai mục tiêu ấy.”
“Một sự thay đổi thái độ chăng?”
“Khộng. Chúng ta đến đây với tư cách đồng minh, cố vấn quân sự và nhà cung cấp quân cụ chiến lược. Chúng ta vẫn có thái độ ấy.”
“Sự khuyến cáo của ông có luôn luôn được đón nhận không?”
“Thật không may là trong một vài vấn đề quan hệ, lời khuyến cáo của tôi đã bị bác bỏ. Chính phủ Hoa Kỳđã thôi thúc một cách mãnh liệt đòi chính phủ miền Nam Việt Nam có. biện pháp chấn chỉnh lại những nỗi thống khổ của cộng đồng Phật giáo và áp dụng sự bình đẳng tôn giáo hoàn toàn như hiến pháp đã bảc đảm cho họ.
Điều này đã không được thực hiện. Đã thế lại có thèm những hành vi đàn áp và bạo hành. Chính phủ tôi rất phiền lòng về những hành vi ấy và tuyèn bố một cách minh bạch tự tách khỏi những vụ ấy.”
“Chính òng đã chứng kiến một vài hành vi bạo động tại chùa Xá Lợi?”
“Đúng. Sau đó tôi đã chính thức phản kháng với Tổng Thống Cung.”
“Xin ông cho biết lời lẽ của sự phản kháng đó.”
“Đó là những lời phản kháng mạnh mẽ nhất, tôi cam đoan với quý ông.”
“Trong lời phản kháng, có nói đến sự trừng phạt nếu không chịu nghe theo? Thí dụ như chấm dứt viện trợ? Hay rút bỏ viện trợ quân sự?)
“Trong lúc này xin miễn bàn.”
“Nhưng Tổng Thống Cung đã có lời bình luận rồi. Hồi mười một giờ sáng nay, ông tuyên bố rẳng Hoa Kỳ đã can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam với lời đe dọa tàn nhẫn là sẽ trừng phạt về kinh tế.”
“Đó là tời tuyên bố của Tổng Thống Cung, không phải của tôi.”
“Ông cũng cho là gián điệp Mỹ đang gây xáo trộn và xúi dục một cuộc nổi loạn trong những phần tử bất mẫn của quân đội và chính quyền”.
“Như tôi đã bày tỏ với Tổng Thống Cung, ý kiến của tôi là đàn áp và bạo tàn sẽ gây ra nổi loạn nhanh hơn là người Mỹ chúng ta có thể làm”.
“Thưa ông Đại-sứ, ông có cải chính tin cho rằng CIA hay một cơ quan Hoa Kỳ nào khác đang âm mưu chống lại chính phủ không?”
“Tôi mới đến đây được hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Tôi đã nghe nói đến âm mưu về phía Phật giáo, âm mưu về phía Công-giáo và âm mưu do Việt cộng chủ trương. Nhưng cho đến nay tôi chưa đụng phải một cuộc âm mưu nào trong tòa Đại-sứ của tôi cả!”
Họ đều cười rộ, nhưng đó là một âm thanh trống rỗng như tiếng cười trong khán đài của đấu trường khi người đấu bò vừa diễn một pha chọc cười. Cuộc khiêu vũ với tử thần vẫn tiếp diễn và chúng tôi vẫn chưa tới lúc đụng chạm đến sự thực. Một gã người gầy gò, mắt tinh quái, có giọng nói kéo dài của dân Úc, đẩy tới trước mặt tôi một ống vi âm và bắt đầu một loạt câu hỏi theo chiều hướng mới:
“Thưa ông Đại sứ, liệu chúng ta có thắng trận không?”
“Theo chỗ tôi biết thì chúng ta đang thắng”.
“Cách đây một tháng, Đại-lướng Tolliver đã tuyên bố có thể thắng được trước năm 1965. Ông có đồng ý không?”
“Tôi là một nhà ngoại giao chử không phải là một nhà quân sự. Tôi không thể trả lời câu hỏi ấy”.
-Thưa ông Đại sứ, liệu có thể thắng trận được không nếu Hoa Kỳ nắm quyền kiểm soát tình hình quân sự và tung ra một cuộc phản công toàn diện?”
“Có thể thắng trận theo ý nghĩa quân sự, nhưng sẽ là thắng trận trong một sự trống rỗng, làm chúng ta lại rơi vào vị trí của người Pháp nghĩa là quân đội thực dân trong một vùng bất mãn về chính trị. Điều đó cũng chắc chắn sẽ dẫn tới một sự “leo thang” nghĩa là một cuộc đụng độ trực tiếp giữa Mỹ quốc và Trung Hoa. Trong cả. “lúc này, chưa bên nào chuẩn bị để làm như vậy.
“Vậy có điều gì làm ông thắc mắc về tình quân sự?”
“Có sự chia rẽ trong Bộ Tổng Tham mưu của Quân đôi Việt Nam và thiếu hẳn một đoàn sĩ quan cấp úy và hạ sĩ quan được huấn luyện đầy đủ và ăn ý với nhau.”
“Sự đàn áp Phật-giáo có gây ra sự bất đồng ý kiến nào lớn lao trong quân đội miền Nam Việt Nnam không?”
“Hiện tại thì chứa. Nhưng việc đó đã làm cho tinh thần nói chung bị xuống thấp mà nguyên do thật sự là chiến thuật chia để trị. Trên quan điểm quân sự thì chúng ta phải hết sức làm những gì có thể làm được trong tình thế hiện nay.”
“Và trên bình diện chính trị, có việc gì đang được xúc tiến, thưa ông Đại-sứ?”
“Như tòi đã nói với quý ông, chúng tôi đã phản kháng mãnh liệt với Tổng Thống Cung. Chúng tôi sẽ tiếp tục phản kháng và chúng tôi sẽ áp dụng những biện pháp khác tùy theo tình thế đòi hỏi.”
“Xin ông nói rõ hơn về những biện pháp ấy.”
“Sau này có thể nói rõ nhưng bây giờ không phải lúc.”
“Giả dụ là chế độ Cung chứng tỏ không được đa số dân chúng chấp thuận. Hoa Kỳ sẽ làm gì khi ấy? “
“Đó là một câu hỏi giả thiết. Nó không ăn nhằm gì đến hiện tại.”
Họ tấn công tôi tơi bời trong gần một tiếng đồng hồ cho đến lúc Mel Adams bước vào và kết thúc cuộc họp báo. Miệng tôi khô ráo. Quần áo tôi ướt đẫm mồ hôi và đầu tôi nhức nhối. Trong lúc cùng bước lên cầu thang đến văn phòng tôi, Mel Adams quyết án về tôi:
“Thưa ông, họ làm khó ông ghê quá. Họ đã được đầy đủ tin tức và rất hăng say.”
“Kết quả ra sao, Mel?”
“Về mặt thăm dò, có thể nói chúng ta thắng lợi chút ít. Lời phản kháng của ông đã được đón nhận khả quan. Họ cũng đã nhận được thông tri về sự trừng phạt. Ông đã bầy tỏ được một cách kín đáo sự bất mãn về tình hình quân sự. Giờ đây, mình chỉ còn việc chờ đợi xem họ nói ra sao trên báo chí. Nhưng tôi tiên đoán sẽ có kẻ chửi bới. Họ biết xin lỗi ông họ biết là mình nói quanh thay vì đưa ra một giải pháp thật sự …
Để chắc ăn, tôi đã cho ghi âm cuộc họp báo từ đầu chí cuối. Chúng ta sẽ cho đánh máy và gửi về Hoa-thịnh-đốn. Tôi cũng có ý kiến là mình nên gửi một bản cho Phủ Tông Thống nữa để có chứng tích.”
“Ý kiến hay đó … anh Mel, đôi lúc tôi muốn quay về với thời đại ngoại giao bí mật xưa kia. Chỉ có các nhà quí phái họp với nhau và mặc cho bọn dân quê quét dọn!”
“Tôi cũng vậy!”, Mel nồng nhiệt nói. “Làm sao mà ông có thể thương lượng được dưới các ống kính T.V.? Làm sao mà ông có thể đấu trí được với Cung khi cả hai đều tranh luận công khai có ghi chép cần thận. Luôn luôn ông bị kẹt vì những lời tuyên bố tuần lễ trước. Khi ông lấy lại được lời tuyên bố, thì nó đã được khắc trên đá như bia thời cổ.”
“Anh Mel, đó là điểm bọn Mác-xít luôn luôn thắng thế. Họ có thể viết lại sử sách lúc nào cũng được. Ước chi mình cũng viết lại được phần nào sử sách của mình … Anh dùng chút rượu?”
Uống xong hai ly rượu với Mel Adams và ngồi hai giờ tại bàn giấy với các báo cáo, công hàm và công điện, bỗng nhiên tôi cảm thấy mỏi mệt lạ thường. Mắt tôi cay xè, toàn thân tôi đau đớn như bị roi vọt đánh, các hàng chữ đánh máy mờ nhạt và nhẩy múa trước mắt tôi. Tôi nhớ lại với sự ngạc nhiên mơ hồ rằng tôi đã liên miên làm việc gần ba mươi sáu tiếng đồng hồ. Thế là đủ lắm rồi, quá đủ. Giờ nếu tất cả Á châu có võ trang tiến đến với voi ngựa, cờ xí, kèn trống cũng không cản được tôi về nhà đi ngủ.
Nhưng chờ đã lâu mà giấc ngủ vẫn không đến. Thân thể tôi mềm nhũn và bị mệt nhọc đầu độc nhưng trí óc tôi quay cuồng trong sự suy nghĩ lao lung, tỉ như một động cơ bỗng nhiên tuột khỏi số gài. Cái trục quay của nó vẫn chỉ là một vấn đề cũ: tại sao đất nước này, bị chiến tranh tiêu hao nhưng đã đứng vững được nhờ sự viện trợ vĩ đại, lại chưa tìm ra được sức mạnh, sự hứng khởi hay người nào để thu thập sức lực và hoàn tất cuộc cách mạng đã khởi đầu từ hai mươi hai năm về trước?
Đã có nhiều người đưa ra cho tôi nhiều lời giải đáp khác nhau nhưng không có giải đáp nào khá đầy đủ để giải thích sự tan rã lớn lao đang diễn ra trước mắt tôi. Độc tài cô lập? Không đủ, vì còn nhiều nhà độc tài khác còn ghê gớm hơn đã tạo ra được một ý thức về mục đích và một động lực thúc đầy sự đoàn kết, ít nhất cũng được một thời. Chia rẽ trong hàng ngũ tướng lãnh và cán bộ chính quyền? Cũng vẫn chưa đủ, bởi vì chẳng ai được lợi lộc gì nếu quốc gia sụp đổ. Dân chúng mỏi mệt và thất vọng? Đó là những triệu chứng chứ không phải chính căn bệnh. Tranh chấp tôn giáo? Thì trong những xã hội có trật tự nhất cũng thỉnh thoảng xẩy ra. Cảnh sát tàn nhẫn? Nhưng Á châu là một đại lục tàn nhẫn. Tạo hóa còn bạo tàn hơn người biết bao, hàng ngàn năm nay con người vẫn sống chịu đựng với dịch hạch, đói khổ, bệnh đậu mùa, giun sán và dưới làn roi quất của lũ nô bộc lãnh chúa.
Vậy thì có cái gì thiếu sót? Mà thật ra thì căn bản của mọi sự đoàn kết là cái gì? Con người bấu víu vào sợi rơm nào để duy trì sự sống mỏng manh của hắn? Tôi cũng là người như mọi người khác. Giờ đây tôi trần truồng và nằm chảy mồ hôi trên giường đơn độc trong một buồng tối trong miền nhiệt đới. Cả chính tôi nữa cũng đang bị đe dọa từ bên trong và bao vây từ bên ngoài. Tôi đã làm gì hay tôi có thể làm gì để giữ được sự vẹn toàn cho con người tôi? Những ý nghĩ nhảy vọt đã đem tôi quay thẳng về khu vườn Tenryu-ji, nơi mà Muso Soseki đã khai tâm cho tôi về con đường cứu rỗi.
“Cội rễ sự khốn cùng của con người là một ý hướng tha hóa tách khỏi cái trật tự thiên nhiên của vũ trụ. Tác dụng của Satori là một sự soi sáng tâm linh, sao cho bản chất của bản ngã và của vũ trụ sau rốt được minh bạch và cột sao tái lập lại được cái ý hướng của sự tương quan đích thực, hay đơn nhất tính giữa bản ngã và vũ trụ”. Đồng nhất tính! Đó mới chính là câu giải đáp! Đó là chìa khóa của tất cả vấn đề con người. Nếu con người vẫn chưa hiểu, dù rằng một cách mù mờ, mình là cái gì và liên hệ ra sao với đồng loại và với vũ trụ thí hắn không thể sống được. Nhốt hắn vào một nhà tù bít kín, ngăn hắn không cho thấy và nghe được thế giới bên ngoài, một thời gian ngắn hắn sẽ trở nên điên rồ và bệnh hoạn. Đó mới là ý nghĩa đích thực của đạo thần linh cổ xưa ở Á châu: nếu không van vái thần linh của đá, sông và cây cối thì sự liên hệ thiết yếu giữa chúng và con người sẽ bị ngắt đứt và toàn thể vũ trụ sẽ tan biến thành hỗn loạn.
Dù không biết điều đó, Mel Adams đã phát biểu cùng một tư tưởng nhưng với lời lẽ khác.
“Những người duy nhất trong nước này đích thực biết tại sao mình chiến đấu chính là dân Ki-tô giáo.”
Ki-tô giáo là một tôn giáo mà nền tảng và cội rễ dựa vào một sự xác định đồng nhất tính của con người. Người là một nhân vật tạo ra bởi một Thượng Đế cũng là người. Bởi thế hắn có mối liên hệ gia đình với mọi người khác. Vũ trụ vật chất là một môi trường được tạo ra để cho con người nẩy nở, sinh sống và tái tục. Cương vị của hắn đã được xác nhận bởi giáo thuyết Hiện hình, theo đó thì chính Đấng Tạo hóa hiện ra với đa thịt con người và do đó nó có một phẩm cách không thể chối cãi được.
Chủ nghĩa Cộng-sản cũng có tính cách đặc thù tương tự trong tín điều của chính họ. Đồng nhất tính của con người chỉ được xác nhận và duy trì bằng sự hoạt động tập thể của hắn mà thôi. Hắn là một sinh vật lệ thuộc, do sự hỗn loạn sinh ra và đi dần đến sự tuyệt chủng. Một cách đơn độc, hắn cam chịu số phận dung thân ở một nơi hoang vu cần cỗi, làm một con mồi ngon cho sự bất công và bóc lột. Bởi vậy đồng nhất tinh của hắn tùy thuộc vào tính cách một thành phần khả dụng của quần chúng. Nhưng hắn đã có một đồng nhất tính và
nếu hắn chịu tuân phục thì quần chúng sẽ đảm bảo và che chở cho đồng nhất tính ấy.
Do một sự éo le kỳ lạ, Phật giáo đã khẳng định đồng nhất tính bằng cách giảng dậy rằng sự toàn thiện là ở chỗ hủy diệt tối hậu của đồng nhất tính trong cái Toàn ngã của sự giác ngộ thuần túy.. Nhưng đó là một giáo thuyết khép kín, chỉ có kẻ lọc lựa mới đạt tới được, thế nên đám thường dân đã làm cho nó ung thối và đê tiện đi để tiện lợi cho nhu cầu của họ hơn. So với những khẳng định khác nhau nhưng sâu sắc ấy thì tin điều của Hoa Kỳ mà tôi là tân giáo chủ ở miền Nam Việt Nam thật là trống rỗng và chẳng làm ai thỏa mãn cả. Dân chủ! Tự quyết! Tự do! Bình đẳng! Huynh đệ! Những danh từ ấy có nghĩa gì với một người ngồi dưới gốc cây đề, tai nghe thấy qua tiếng lá reo lời thì thầm của một thiên thần nổi giận? Làm sao mà hắn lại có thể tự đồng hóa được với chúng ta những quân man rợ mắt xanh, của cải có thật nhiều nhưng hiểu biết chẳng là bao?
Cung là một triết gia. Chắc chắn ông cũng đã nghĩ tới những điều ấy rồi. Ông là một người dân Á châu. Chắc chắn trong lòng ông, ông cũng đã nghe thấy những tiếng nói của tiền nhân đã từ đời này sang đời khác kêu gào đòi hỏi đồng nhất tính, sự tái tục và cộng đồng tính. Có lẽ nếu tôi có thể làm cho ông lại biết nghe lời những tiếng nói ấy thì tôi có thể khích ông tuyên bố được những lời nói ấy với ngôn ngữ bình dân để cho dân chúng có thể nghe thấy mà át đi được sự rùm beng của các chính trị gia và chuyên gia tuyên truyền. Có lẽ cũng không đến nỗi quá muộn để đi dọc theo các biên giới một lần chót và làm vang lên một tiếng kèn vọng lần cuối …Nhưng đối với tôi thì đã quá muộn. Bóng tối và sự im lặng áp đảo tôi và tôi ngủ luôn một mạch
mười hai tiếng đồng hồ. Khi xuống ăn điểm tàm, tòi đã thấy George Groton uống đến tách cà-phê chót. Đôi mắt hắn đỏ ngầu, người dáng mệt mỏi. Khi tôi hỏi, hắn nói rằng hắn đã thức khuya nghiên cứu tài liệu của Tòa Đại sứ về tình hình Phật giáo. Theo ý hắn, những tài liệu đó thiếu xót một cách tai hại. Tôi hỏi hắn lý do.
“Bởi vì thưa ông Đại-sứ, tài liệu nói về tình hình hiện tại mà chỉ dựa trên quan điểm của những quan sát viên chính trị và nhân viên tình báo mà thôi. Về một số vấn đề quan yếu, tài liệu rất mơ hồ. Tỉ dụ như đa số người Việt Nam theo phái Đại thừa nhưng cũng có một số chùa chiền theo phái Tiểu thừa và họ có những lièn hệ chắc chắn với phái Tiểu thừa ở Lào và Cambốt. Họ cũng có một mối liên hệ lịch sử với Cao đài và Hòa Hảo nữa; đó là những giáo phái mà bộ đội riêng của họ đã bị Tổng Thống Cung giải giới. Những liên hệ đó như thế nào? Có được xử dụng vào những mục đích chính trị và quân sự không? Báo cáo không thấy nói. Thế nên chúng ta không làm cách nào biết được việc Cung đàn áp có hậu quả như thế nào đối với hoạt động Phật giáo bên kia biên giới. Lại còn điều này nữa. Chùa chiền của phái Đại-thừa đều là những cơ sở tự trị. Vị sư trụ trì tại chức vị là người lãnh đạo tín đồ trong một khu vực riêng. Nhưng mà giữa các đền đài thì lại có đủ thứ thông thuộc và liên hệ một cách lỏng lẻo. Về những mối liên hệ này, tài liệu cũng nói mơ hồ lắm. Người Trung Hoa có chùa riêng và sư sãi riêng. Chúng ta không có tin tức gì chính xác về điểm này cả. Vậy mà tất cả cuộc khủng hoảng hiện nay đã khởi đầu với Phật giáo. Có phải Cung đã hoàn toàn dựng lên cuộc khủng hoảng đó không? Hay đó là thành phần của chuyện gì to lớn hơn một phong trào Liên-Phật-giáo tả phái xuất phát từ Tích Lan và Miến Điện, qua mặt nhóm hoàng phái ở Thái Lan và xuất đầu lộ diện ở đây? Nghe nói thì có vẻ điên khùng nhưng sự thực không điên khùng đâu. Về vụ chùa chiền rối loạn ở đây, Thái Lan chỉ ngỏ ý tiếc một cách có lễ độ nhưng đâu có lớn tiếng phản kháng. Nhưng mà Tích Lan thì lại bắn hết quả rốc-kết này
đến quả khác. Ít nhất thì như vậy cũng có ý nghĩa gì đó. Tôi nghĩ rằng mình phải làm cái gì mới được, thưa ông.”
“Làm cái gì chẳng hạn, anh George?”
“Tôi có một ý kiến đề nghị; tôi đã suy nghĩ sắp đặt chi tiết kỹ lưỡng đêm qua. Xin ông thử cuu xét xem .”
“Anh cử nói đi.”
“Gần suốt ngày hôm qua tôi ở cạnh nhà sư ngụ tại tòa Đại sứ và hai nhà sư kia ở bên trụ sở USAID. Tôi nói với họ rằng mặc dầu tôi theo đường lối Zen, tôi vẫn là một Phật tử và do đó tôi có thiện cảm với những mục đích và vấn đề của họ. Tôi cho họ biết là ông cũng đang nghiên cứu đạo Phật theo đường lối Zen mặc dầu ông chưa hoàn toàn là một tín đồ. Điều này làm họ chịu lắm. Nhà sư ở tòa Đại sứ cũng khá khôn ngoan nên đề nghị tôi đi điều tra riêng và đích thân báo cáo cho ông. Ông hứa viết thư đưa tôi cầm đến cho các bạn hữu của ông và với những lá thư đó tôi sẽ tự do ra vào các chùa … Thưa ông, tôi nghĩ đó cũng là ý kiến hay. Hiển nhiên là họ muốn lợi dụng tôi vì trông tôi và đôi khi thực sự có vẻ một tên ngờ nghệch. Nhưng ít ra thì tôi sẽ lượm được tin tức đầu tay mà chúng ta hiện giờ không có. Nếu cần thì tôi có thể cạo đầu và mặc áo cà sa vàng.”. Hắn nhoẻn một nụ cười trẻ con vốn dĩ với tôi và tiếp thêm. “Thưa ông, trước đây tôi đã mặc cà sa. Cũng không khó chịu lắm đâu. Dĩ nhièn tôi không nói được tiếng họ; nhưng tiếng Pháp là chuyện thường trong đám nhà sư có học.”
“Anh đã nghĩ đến các sự nguy hiểm chưa, anh George? Nếu anh bị tóm cổ trong một vụ ruồng xét bất thần như đêm qua thì sẽ ra sao?”
“Thì tôi sẽ làm cho Cung và ông khó phân xử.”
“Anh cũng có thể bị báng súng đánh vỡ đầu nữa. Cũng có một điều nữa mà có lẽ anh chưa nghĩ tới.”
“Thưa ông điều chi?”
“Quân đội có một ngành tình báo, tòa Đại-sứ cũng có một ngành nữa và Harry Yaffa riêng hắn cũng có một tổ chức kín như bưng. Như vậy anh sẽ đơn thương độc mã, không có tư cách mà cũng không được che chở gì hết. Thật là bất tiện cho cả anh lẫn tôi.”
Hắn lại cười và nói thản nhiên, “Về mặt khác thưa ông, Hiến pháp Hoa Kỳ đảm bảo tự do tôn giáo cho mọi người. Tôi là một Phật tử và tôi thật lòng mong mùốn tiếp tục hành đạo … Vã lại, ông đã mang tôi đến đây làm phụ tá đặc biệt. Đây là một dịch vụ ngoài tôi ra không có ai làm được cả.”
Đó cũng là một dịch vụ hấp dẫn nữa một con mắt riêng và thành thạo nhìn vào cái hiện tượng mới mẻ nhất ở Á châu, một thứ Phật giáo có những tử đạo công khai, những nhà in bí mật và sự tuyên truyền khắp thế giới. Chúng tôi cùng nhau thảo luận về dự án đó thêm nửa giờ và tôi thỏa thuận với một vài điều kiện. “.. George, anh cứ thử làm trong mười ngày và coi xem anh đi tới đâu, Cách ba ngày anh báo cáo cho tôi một lần. Đừng có mạo hiểm, đừng có anh hùng độc ca gì cả. Nếu có dấu hiệu gì rắc rối dù là mỏng manh nhất, tôi muốn được biết ngay. Sau mười ngày chúng ta sẽ thảo luận lại. Rõ rang chứ?”
“Thưa rất rõ và xin cảm ơn ông. Bao giờ tôi có thể khởi sự?”
“Ngay bây giờ nếu anh muốn.”
Hắn ra đi vui như sáo để mình tôi ngồi lại ăn nốt bữa điểm tâm và ráng đoán hiểu những tin tức rùm beng đăng trên báo chí Saigon. Lúc đó tôi không biết rằng mà làm sao biết được? tôi vừa ký xong lệnh hành quyết George Groton.
Tôi còn nhớ rõ ngày hôm sau với sự cay đắng lạ thường bởi vì đối với tôi hình như giờ đây là khởi điểm của tất cả những sự phản phúc mà tôi đã dấn thân vào. Ngoại giao có thể được giải thích hay nhất là một công chuyện lưỡng đối vì nó đòi hỏi một sự cách biệt hoàn toàn giữa cái ngẫu nhiên và cái tuyệt đối, giữa điều chính đáng và điều thuận lợi, giữa sự khó khăn và lý luận mong muốn. Không ai tránh khỏi sự lưỡng đối đó, mọi người đều bị nó làm thay đổi; vài kẻ bị nó tiêu diệt. Điều thường xẩy ra là người ta rốt cuộc lại chấp nhận cái hành vi mà mình định đổi thay hay lại có cái hành vi mà mình có nhiệm vụ phải kết án.
Có lần ở Argentine, một bạn đồng nghiệp khả ái nhưng thiếu khả năng đã định nghĩa một nhà ngoại giao cho tôi nghe một cách rất La-tinh như sau:
“Nhà ngoại giao thật ra là một ông thầy bói cổ tiên đoán tương lai bằng cách xem ruột gan một con chim. Điều điên khùng là hắn phải giết chết con chim trước khi xem được ruột gan nó”.
Tôi nhắc lại câu chuyện này với một người Anh thì ông này, với lời lẽ ý nhị tuyệt hảo của Bộ Ngoại-giao Anh, lại cho tôi một định nghĩa khác nhau như sau:
“Ông bạn ơi, thật ra cũng không hẳn là như vậy. Nói là giống đi săn gà gô thì đúng hơn. Bạn phải xua cho chim bay lên thì bạn mới bắn được nó chứ. Nếu không may thì bạn sẽ bắn trượt con chim và trúng nhầm phải anh chàng xua chim.”
Sáng hôm đó dường như tôi là anh chàng xua chim bị người đi săn bắn trúng đít. Tôi đến tòa Đại sứ đầu óc sáng suốt và thoải mái. Những sự suy nghĩ trong đêm qua vẫn còn mãnh liệt trong trí óc tôi và tôi hình dung thấy hay tưởng rằng hình dung thấy sự khởi đầu của một cuộc đối thoại xây dựng với Tổng Thống Cung. Dĩ nhiên sẽ có sự va chạm sơ khởi. Vì cả đôi bên đã dùng những lời lẽ thô bạo công khai chửi bới lẫn nhau trên trường quốc tế; nhưng ít nhất thì tôi đã sẵn lòng dâng hiến một cành ô-liu đầu tiên mặc dầu làm vậy trông tôi có vẻ biến dạng như con chim bồ câu của Picasso. Tôi đang thảo một phiếu trình gửi cho Tổng thống thì Anne Beldon bước vào và đặt trước mặt tôi một bức điện của Festhammer:
PHẢN ỨNG CỦA THẾ GIỚI ĐỐI VỚI BÁO CÁO MỚI NHẤT TỪ SAIGON RẤT MÃNH LIỆT VÀ
CÔNG PHẨN – VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO SẼ ĐƯỢC THẢO LUẬN TẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP
QUỐC. AN-GIÊ-RI, TÍCH – LAN, NAM – DƯƠNG VÀ NGOẠI-MÔNG ĐANG ĐƯA RA KIẾN NGHỊ
CHỈ ĐỊNH MỘT ỦY BAN LIÊN HIỆP QUỐC ĐIỀU TRA SỰ VI PHẠM NHÂN QUYỀN TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM. SỰ CHỐNG ĐỐI CỦA CHÚNG TA VỀ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐÀN ÁP ĐÃ ĐƯỢC BIỂU LỘ Ở HOA-THỊNH-ĐỐN VÀ MINH THỊ THÊM BỞI LỜI TUYÊN BỐ VỚI BÁO CHÍ SAIGON CỦA QUÝ TÒA – DO ĐÓ HOA-KỲ BUỘC LÒNG PHẢI BỎ THĂM. ỦNG HỘ KIẾN-NGHỊ …
Vậy là đùng một cái kế hoạch hòa giải của tôi đã bị phá vỡ. Làm sao mà tôi có thể nói chuyện triết lý được với Cung một khi chính phủ của tôi đã đứng về phía chống đối ông trên bàn hội nghị của Liên-hiệp-quốc. Tôi tức giận, tức giận một cách cay đắng. Đó là sự biểu dương quyền lực chứ không phải là ngoại giao. Làm như vậy có khác chi đem các lời đe dọa trừng phạt dán lên các tường phố Saigon? Các người đi xua chim đã xua được cho chim bay lên nhưng chim lại không biết bay về đâu. Cả Cung lẫn tôi đều bị dồn vào một góc lồng vừa mổ lẫn nhau vừa đập cánh lên nan lồng. Tôi giận dữ đi đi lại trong văn phòng trong mười phút cố gắng để hiểu rõ tình hình. Lúc ấy chuông điện thoại reo và tôi nghe thấy tiếng Arnold Manson, Đại-sứ Úc, ở đầu giây. Hắn chào mừng tôi một cách vắn tắt và yêu cầu được tôi tiếp kiến ngay. Tôi viện cớ công việc bề bộn nhưng hắn không chịu thua. Hắn nói là vấn đề rất khẩn cấp và nếu tôi không thể gặp hắn, hắn sẽ buộc lòng phải đơn phương hành động. Thế là tôi phải thuận, một cách miễn cưỡng. Mười phút sau hắn đã tới văn phòng tôi. Hắn trẻ một cách đáng ngạc nhiên, mái tóc quăn dầy rậm, nụ cười vui tính và đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Cuộc thảo luận của Liên-hiệp-quốc về miền Nam Viet Nam là một vấn đề mà chính phủ hắn lưu tâm đặc biệt.
Úc-châu, cũng như Hoa-kỳ, không chấp nhận những biện pháp khống chế đối với Phật tử nhưng Úc châu đồng thời cũng không chấp nhận ý kiến lập một Ủy ban Điều tra. Ủy ban Liên-hiệp-quốc duy nhất có thể dành quyền hợp pháp nhập nội một nước có chủ quyền là Ủy-ban An-ninh Quốc-tế. Mặc dầu Cung có chấp nhận một Ủy-han về Nhân Quyền hay không, vấn đề vẫn là một sự vi phạm Hiến-chương Liên-hiệp-quốc và là một án lệ nguy hiểm cho Úc châu trong tư cách là quốc gia quản trị các Đất đai Bảo-hộ. Rõ ràng là Úc châu không muốn có một bọn người hỗn tạp gồm An-giê-ri, Hồi quốc và Ngoại-Mông phê phán về đời sống của dân mọi thời Thạch Đại ở Tân Ghi-nê.
Tôi đồng ý với hắn. Tõi trình bầy cho hắn thấy hậu quả của một cuộc thảo luận ở Liên-hiệp-quốc đối với liên hệ riêng của tôi với Phủ Tổng Thống. Tôi cho hắn biết rằng tôi dự tính gửi ngay một công điện cho Hoa-thịnh-đốn bầy tỏ sự phản đối của riêng tôi đối với kiến nghị. Tôi cũng cho hắn biết là tôi ít thấy có hy vọng làm thay đổi được chiều hướng các biến cố ở Hoa-thịnh-đốn và Nữu-ước. Đối với họ thì Cung là một kẻ ngoan cố hoàn toàn và cần phải khuất phục được ông với một cái chầy nện nếu cần. Mặc dù có vẻ trẻ tuổi, Manson là một nhà ngoại giao giỏi và chịu khó. Hắn trình bầy với tôi một giải pháp có thể thực hiện được.
“Có một cách gỡ rối cho tất cả mọi người”.
“Cách nào, ông Manson?”
“Nếu Tổng-thống Cung chịu mời Đại Hội-đồng gửi qua một toán quan-sát-viên để nghiên cứu vấn đề Phật-giáo, ông có thể chận đứng được những kẻ đưa ra kiến nghị. Ông cũng có thể tránh được một cuộc thảo luận lâu dài, khó nuốt trôi và sẽ không còn có vấn đề một ủy-ban chính thức với tất cả những hậu quả kỳ cục của nó nữa”.
Ông có nghĩ rằng Cung sẽ chấp nhận đề nghị ấy không?”
“Tôi nghĩ rằng có thể ông ta sẽ chấp nhận”.
“Ai sẽ đưa ra ý kiến ấy cho Cung?”
“Tôi sẵn sàng làm việc ấy, nếu ông đồng ý. Chỉ nghĩ rằng nếu ông làm thì đó sẽ là một cử chỉ hữu ích”.
Đó là một ý kiến hấp dẫn làm tôi suy nghĩ trong chốc lát; nhưng sau đó tôi buộc phải bác bỏ nó.
“Nó sẽ gây ra nhiều vấn đề quá. Trước hết nó buộc tôi phải nói sai giọng của Hoa-thịnh-đốn và tôi khòng thể làm thế được; thứ nhì là Cung sẽ có lý lẽ mạnh để cho rằng, công khai chúng ta nói một điều và riêng tư lại nói điều khác. Mặt khác, Úc châu là một quốc gia nhỏ và trong vấn đề này, quyền lợi của Úc châu cũng như miền Nam Việt Nam y hệt nhau. Thế là ông cho Cung một ý kiến cả hai bên xử dụng đều có lợi cho nhau … Thôi, ông Manson, để ông đảm nhiệm việc này tốt hơn.”
“Và Hoa-thịnh-đốn sẽ phản ứng ra sao?”
“Tôi nghĩ rằng sau khi nhận được công điện của tôi có lẽ họ cũng sẽ rút lời. Nhưng tôi không hứa chắc điều gì.”
“Tôi hiểu. Tôi mừng thấy sau rốt chúng ta đã đồng ý với nhau.”
“Tôi cũng mừng lắm, ông Manson. Đó là một tia nắng nhỏ trong một ngày thật u ám. Xin ông vui lòng cho tôi biết Cung nghĩ sao về đề nghị của ông.”
“Tôi sẽ điện thoại cho ông ngay sau khi tôi nói chuyện với Cung.”
Hắn ngập ngừng giây lát đoạn hỏi một cách cố ý, “Chúng ta có thể nói chuyện riêng, không công bố độ mười phút không?”
Trong sự bộn bề của công việc và trong sự mệt mỏi, từ ngữ của hắn dùng làm tòi bực mình. Tôi nhắc nhở hắn một cách hơi đanh nọc quá lố là trong ngoại giao, sởm muộn gì mọi việc đều được công bố ra cả. Tôi lại càng bực mình hơn khi thấy hắn vẫn thản nhiên như không. Hắn chỉ cười và bình tĩnh trả lời:
“Xin lỗi. Đó chỉ là sự khác biệt thành ngữ. Thành thật mà nói tôi chẳng quan tâm đến việc có công bố hay không miễn là lời tôi nói được coi là một ý kiến riêng chứ không cần thiết là ý kiến của chính phủ tôi.”
Ở Saigon, thiên hạ ai cũng muốn nhét vào họng tôi một ý kiến riêng và tôi còn mới mẻ quá nên chẳng có ý kiến riêng gì cả. Thế nên tôi sẵng giọng hỏi hắn:
“Ý kiến của ông về cái gì mới được chứ, ông Manson?”
“Về vấn đề trừng phạt.”
“Theo chỗ tôi biết, ông Manson, thì chưa có sự trừng phạt nào được áp dụng cả.”
“Nhưng đã được nêu ra để đe dọa.”
“Tôi xin phép sửa lại lời ông nói cho đúng, ông Manson. Vấn đề trừng phạt là do báo chí đã nêu ra, chứ không phải do tôi.”
“Tôi biết điều ấy, ông Amberley, nhưng rõ ràng là đã có một lời cáo tri hay đe dọa được đưa ra cho Phủ Tổng-thống.”
“Rõ ràng như thế nào?”
“Sáng nay tôi nhận được một cú điện thoại – của ông Bộ trưởng Thương mại. Ông yêu cầu tôi hết sức cố gắng mua tại Úc châu lúa mì, gạo cùng các thực phẩm khác và, nếu được, dàn xếp hộ sự trả góp thích hợp với chính
phủ tôi. Đó là một lời yêu cầu chính thức và chúng tôi ở vào một vị trí khó xử vì chúng tôi đã cung cấp lúa mì bán chịu cho Trung cộng. Nếu chúng tôi từ chối sự yêu cầu đó, họ có thể kết tội chúng tôi là bỏ đói các bạn đồng minh mà đi nuôi kẻ thù của chúng ta.” Điều hắn vừa nói ra đã làm tôi lay chuyển và hắn biết vậy nhưng vẫn tiếp lời một cách bình tĩnh như cũ: “Tôi đã mất công tìm hiểu về tình trạng tài chính hiện nay của chính phủ Cung. Thật ra thì họ đang có một dự trữ Mỹ kim vào khoảng ba mươi lăm triệu và hệ thống ngân hàng của Pháp cũng sẵn sàng cho họ vay vào khoảng chừng đó. Do đó cứ theo mức độ chi tiêu hiện nay thì Cung vẫn có thể điều hành chính phủ trong vòng sáu tháng mặc dầu các trừng phạt được thi hành. Nếu ông đồng thời cũng cưỡng bách một sự trừng phạt về quân sự nữa thì ông sẽ bắt đầu bẳng cách rút lui tượng trưng các nhân viên hành chánh. Làm vậy sẽ không có ảnh hưởng gì đến sự diễn tiến của các cuộc hành quân. Theo ý tôi thì việc đó chỉ làm cho tinh thần quốc gia suy xụp mà hiện nay ai cũng biết là xuống thấp quá rồi.”
Điều hắn nói thật khó chịu vì quá đúng sự thật. Tôi đã hiểu rõ tại sao hắn quyết định bầy tỏ ỷ kiến cá nhân chứ không phải ý kiến chính thức. Hắn đã phải dùng cái ngôn ngữ dè dặt trong nghề nhưng vẫn có thể nói trắng ra những điều gì hắn muốn.
“Tôi xin phép hỏi ông đã lấy ở đâu ra tin tức ấy, ông Manson?”
“Nền ngoại giao Hoa Kỳ rất là công khai, thưa ông Đại Sứ. Tôi e rằng nó quá công khai nên không làm cho ai dễ thở cả. Một phần tin tức của tôi do nguồn gốc Saigon, còn thì do Hoa-thịnh-đốn qua ngả Canberra. Người Úc chúng tôi ở vào một vị trí thật ly kỳ. Chúng tôi là một quốc gia nhỏ và kém phòng thủ. Tương lai chúng tôi bị ràng buộc chặt chẽ với các biến cố ở Đông-Nam-Á. Chúng tôi đã bị lừa khéo vào lập trường ủng hộ người
Anh ở Mã-lai-Á, mà theo ý kiến riêng của tôi, sẽ hứng tỏ là một lỗi lầm lịch sử. Chúng tôi cũng bị ràng buộc với Hoa-kỳ bởi những nghĩa vụ của hiệp ước mà chúng tôi muốn làm trọn vẹn một cách công khai cũng như riêng đối với nhau. Do những nghĩa vụ đó, tôi bó buộc phải nói thẳng với ông và rất thiết tha yêu cầu ông duyệt lại tất cả vấn đề trừng phạt và liên hệ riêng của ông với Tổng Thống Cung.”
Từ một hội viên đàn em của Tổ chức Phòng thủ Đông-Nam-Á, những lời nói ấy thật quả là mãnh liệt và cũng có lý nữa. Nhưng hắn đã không cho tôi đủ thời giờ để tâm trí nghĩ ngơi nên tôi ẩn mình vào nghi thức.
“Ông Manson, xin cám ơn ông về những điều ông vừa cho tôi biết. Xin ông tin chắc rằng tôi sẽ cứu xẻt vấn đề một cách hết sức nghiêm chỉnh.”
“Thưa ông Đại-sứ, còn một điểm nữa trước khi từ giã ông”.
“Điểm gì nữa ông?”
“Nhà sư vừa đến ẩn trốn trong tòa Đại-sử Hoa Kỳ có thể gây nên chuyện khó xử cho cả ông lẫn các bạn hữu của ông. Chắc ông thừa, biết nhà sư ấy là người lãnh đạo của một tổ chức mới thành lập gọi là Ủy-ban Toàn-quốc Bảo-vệ Phật giáo. Có vài người cho tôi biết rằng chính ông là người đã khuyến dục những vụ tự thiêu. Trong thành phố có tin đồn rằng ông là người giữ trái tim của nhà sư tử đạo đã biến mất khỏi chùa Xá-lợi trong vụ cảnh sát tấn công. Điều đó có thể đúng, có thể sai; nhưng đối với kẻ không biết gì, điều đó có nghĩa là bảo vật đó đang được Hoa-kỳ bảo vệ …
Tôi nghĩ quan trọng hơn nữa là ai cũng biết nhà sư này có những mối liên hệ với các tổ chức Phật-giáo quá khích ở Miến-điện và Tích-lan, với một vài kẻ xách động vừa bị khai trừ khỏi Tăng giới và bị người Thái giam giữ ở Bangkok. Tôi đã viết thư cho tòa Đại Sứ Úc ở Thái lan để lấy thêm tin tức về điểm này. Khi được tin, tôi sẽ vui mừng đưa lại cho ông”.
“Tôi sẽ vui lòng được tin tức ấy. Cám ơn ông đã thành thật đối với tôi, ông Manson. Tôi hy vọng chúng ta có thể tìm được giải pháp cho các vấn đề của chúng ta”.
“Tôi tin chắc chúng ta sẽ tìm ra”. Với vẻ vui tinh như thường lệ, hắn đứng dậy và chìa tay ra.
“Cám ơn ông Đại-sứ đã dành thì giờ cho tôi và xin chúc ông may mắn!”
Thế là cuộc hội kiến của chúng tòi chấm dứt với những lời bất định ấy. Tôi có cái cảm giác khó chịu là người bạn đồng nghiệp trẻ tuổi của tôi đã xử sự khá hơn tòi nhiều, một người có gấp đôi kinh nghiệm và có gấp mười lần quyền hạn hơn hắn. Một định luật căn bản của ngành ngoại giao là phải gây dựng được những người cho tin thân thiện và chính xác. Thay vì làm vậy, tôi đã xử sự một cách thô bạo đáng ghê tởm đối với một người đã giúp tôi trong nghề nghiệp. Nếu tôi không thể tin cậy được vào sự tự chủ của mình trong cuộc thảo luận với một bạn đồng minh đầy thiện chi, làm sao tôi có thể dám chắc sẽ tự chủ được trong các cuộc thương lượng quan yếu sắp tới ?
Lại một lần nữa, giọng nói nghiêm nghị của Muso Soseki cảnh cáo tôi: “Tôi nghĩ rằng nhận một nhiệm sở như vậy vào tuổi ông bây giờ thật là một sự liều lĩnh nghiêm trọng!” Có điều lạ là tôi tự biết mình đang sống với hiểm họa. Tôi đang cô đơn và dò đó dễ bị lung lạc bởi những sự biểu lộ tình cảm thân thiện. Tôi đang ở vào một vị trí có quyền lực và bởi vậy tôi dễ nghi ngờ những kẻ thách đố ý kiến hay quyền hạn của tôi. Tôi được giao trách nhiệm làm một cuộc thay đổi, nhưng trong sự dòm ngó của dư luận quần chúng. có thể tôi sẽ thích hành động như một nhà ảo thuật lôi con thỏ ra ngoài cái mũ. Nhưng tuy vậy vẫn còn nhiều những vũng tối tăm hơn, những vết rạn nứt và kẻ hở trong cái gọi là linh hồn của Maxwell Grodon Amberley. Những cái đó, tôi vẫn còn chưa sẵn sàng để thăm dò, trừ phi nếu dưới cái vỏ áo giáp của ông quan đại-thần, tôi khám phá
thấy chỉ có một người trống rỗng cũng chẳng phải là ông đồng ông cốt nữa, mà là một cái bầu đầy sỏi kêu sủng sẻng. Vả lại trốn trách khỏi sự tự kiểm thảo thật là dễ dàng khi mỗi giây phút đều thách thức tôi dấn thân vào hành động và mỗi một hành động lại buộc tôi vào một chuỗi hậu quả mới.
Tôi đang mải miết làm việc với mớ công văn buổi sáng thì Mel Adams đến với những tin tức rắc rối. Tổng-thống Cung đã quyết định xuất diện ở Quốc hội buổi chiều hôm nay. Ông sẽ đọc một bài diễn văn công khai về tình hình chiến tranh và cuộc khủng hoảng Phật giáo. Phủ Tổng-thống đã cố công thông báo cho tất cả ngoại giao đoàn và báo chí quốc tế là một bản dịch Pháp-văn của bài diễn văn sẽ được phân phát ngay trước khi Tổng thống bắt đầu nói.
Ý nghĩa của nước cờ này thật là rõ rệt. Bị thách đố ở Liên-hiệp-quốc, đe dọa công khai bởi Hoa Kỳ, Cung đang cố gắng đem tiếng nói của mình ra trước một diễn đàn công cộng. Với tư cách Tổng thống một quốc gia có chủ quyền, điều đó chẳng gì khác hơn là quyền của ông ngỏ lời với các nhà làm luật của nước mình. Là nhà lãnh đạo một quốc gia đang có chiến tranh, đó chẳng qua cũng chỉ là bỏn phận của òng để công bố cho quốc dân biết lập trường của òng một cách rõ rệt. Bởi vì tôi là nhà ngoại giao của một nước thân hữu, tôi không có duyên cớ gì để phiền trách ông và trong tư thế của một người bảo vệ những thủ tục dân chủ, tôi còn có bồn phận phải khen ngợi ông là đằng khác. Tuy nhiên, thật ra thì tôi đang dơ cao một lưỡi kiếm trên đầu ông và nếu ông nói một lời nào làm tôi bất bình tôi sẽ có thể dùng lưỡi kiếm đó để hạ thủ ông.
Mel Adams nhìn thấu qua tư tưởng của tôi và hắn hỏi tôi một cách tỉnh táo. “Thưa ông Đại-sứ,
ông có đến Quốc-hội không?”
“Tôi phải đến đó, anh Mel.”
“Có thể sẽ là một bài diễn văn nảy lửa.”
“Nếu vậy tôi sẽ bỏ ra về.”
“Thưa ông, với tất cả lòng kính trọng của tôi, tôi nghĩ rằng ông nên cho Tổng-thống Cung biết rõ về hiểm họa đó. Với tình thế hiện nay, cả hai người đang bị xô đầy đến một cuộc đụng độ trực tiếp. Tôi nghĩ rằng ông nên tránh điều đó bằng mọi cách.”
“Anh Mel, tôi sẽ cố gắng nói với ông.”
Quả thật là tôi đã cố gắng, có chứng cớ rõ ràng. Tôi gọi giây nói vào Dinh trong khi Mel Adams vẫn còn ở trong văn phòng tôi. Tôi yêu cầu được nói chuyện với Tổng-thống vì một chuyện vô cùng khẩn cấp. Với sự lễ độ thường xuyên của người Việt Nam, người ta cho tôi biết rằng Tổng-thống đang mắc họp và đã ra nghiêm
lệnh không cho ai được quấy rầy vì bất cứ lý do gì. Chắc chắn Tổng thống sẽ gọi lại cho tôi khi buổi họp chấm dứt. Tôi bèn kêu Anne Beldon vào và đọc một bức thư lời lẽ rõ ràng và thân mật. Một viên chức của tòa Đại-sứ đã đích thân mang bức thư đó vào trong Dinh và chữ ký nhận trong sổ đưa công văn có chỉ rõ giờ nhận là mười hai giờ trưa thiếu hai mươi phút. Mười hai giờ trưa, một giờ, rồi hai giờ và tôi vẫn chưa có tin tức gì của Dinh Tổng-thống. Vào lúc ba giờ tôi cùng Mel Adams ngồi vào dẫy ghế dành cho ngoại giao của Quốc-hội và chờ đợi bản điều trần của Tổng thống Phùng Văn Cung. Khi ông bước chân lên diễn đàn, trông ông thật nhỏ thó và vô nghĩa. Tràng pháo tay chào mừng ông nghe như bồn phận chứ không có chút gì ưu ái. Có một vài người chỉ cần xuất hiện thôi cũng đủ gây cho nên những cảm xúc sâu xa như thể họ là hiện thân của quyền thế. Đôi khi, dĩ nhiên họ chỉ là những người bán thuốc rao, những kịch sĩ bẩm sinh mà trời đã phú cho họ một mánh lới lộ diện hay nam tính thừa thãi tạo nên được một ảo giác về sức mạnh tinh thần. Phùng
Văn Cung không thuộc về loại đó. Cử chỉ của ông xa vời và khuồn mẫu. Ông đọc diễn văn một cách không có gì say mê cả, lại còn đôi chút khinh khi là đàng khác, như thể òng đã nói. “Tao biết chúng bay quá mà, chẳng có mấy thẳng làm tao kính trọng cả. Vài thằng trong bọn chúng bay tao đã mua đứt, vài thằng chính do tao tạo nên và chưa chi vài kẻ trong bọn chúng bay đã toa rập với nhau để phản lại tao. Tao sẽ không sợ hãi chúng bay, hay diễn một vở kịch mua vui cho chúng bay đâu. Đây là những điều mà tao phải nói ra. Nghe thì
nghe, chẳng nghe thì thôi … “.
Bài diễn văn của ông được đọc bằng tiếng Việt. Những thanh sắc cao của ngôn ngữ Việt làm cho bài diễn văn cứng cỏi và buồn nản. Nhưng khi theo rõi bản dịch tiếng Pháp từ trang nọ qua trang kia, tôi phải công nhận rằng đó là một bài biện chứng chính trị thiệt hay. Ông mở đầu với một nhận định mau lẹ nhưng chính xác về tình hình quân sự:
« … Chúng ta là một quốc gia đang bị vây hãm. Phía Bắc là Trung-cộng và những đạo quân của Hồ-chí-Minh, người đã biến đồng bào ta thành nô lệ. Phía Tây là Cambốt và Lào đã dùng cái vỏ trung lập giả tạo để giúp đỡ và che chở cho kẻ thù của chúng ta. Phía Đông và Nam là biển cả, là nơi mà những thuyền và tầu đánh cá lần lút trong bóng tối đem vũ khí cho những kẻ phản bội trong hàng ngũ chúng ta …
“Ngay trong lúc tôi đang nói với quý vị đây, một trận chiến qui mô đang diễn ra ở Tân An, cách nơi đây ba chục cây số. Tại Bến Tre trong vùng châu thổ và Đà Nẳng, gần biên giới Lào cũng đang đánh nhau dữ dội. Quân thù của chúng ta tàn nhẫn và ác ôn đang hoạt động từng tiểu đoàn trong phạm vi biên giới của chúng ta, cách thủ đô có nửa giờ xe chạy. Chúng ta đang chiến đấu chống lại bọn chúng, vâng! Nhưng không phải là tất cả chúng ta đều đang chiến đấu. Có những người đị kết bè phái và làm nghi kế, gây rổi loạn trong dân chúng. Điều đó làm lợi cho kẻ thù.
“… Chúng ta không thể dung thứ được những việc ấy! Đứng trước một kẻ thù tàn bạo, bất cứ hành động chia rẽ nào làm hại đến sự đoàn kết quốc gia đều là một hành vi phản quốc!
“Vâng, chúng ta đang chiến đấu cho tự do, , tự do tín ngưỡng, chính trị và kinh tế! Những tự do ấy được bảo đảm bởi Hiến pháp Cộng Hòa mà tôi là người bảo vệ. Nhưng tự do không phải là một trạng thái vô giới hạn. Tự do không phải là có quyền gian dối phản bội và bạo động ngay trong những tỉnh thành của chúng ta. Chúng ta đã xày dựng được tám ngàn sáu trăm ấp chiến lược và quy tụ được ở những nơi đó gần mười triệu người để bảo vệ họ chống lại bọn Việt-cộng.
Liệu chúng ta có dám để cho mười triệu người ấy lại rơi vào cảnh hiểm nguy chỉ vì một nhóm người cuồng tín ngỗ ngược những người không cầm súng yêu sách một thứ tự do để xách động những người tốt và ngoan đạo làm loạn … ?”
Cho đến điểm này tòi không có điều chi phải cãi lại ông. Tôi thiếu tự tin nơi tôi đến nỗi tôi nhận thức được những hiểm họa của sự xử dụng tự do sai lầm và sự cần thiết phải hạn chế tự do cả nhân trong những thời ký khủng hoảng xã-hội. Tôi cũng hoài nghì đến độ cho rằng cả những người Phật tử làm chinh trị lần những người Ki-tô giáo làm chính trị và những kẻ hoạt đầu chính trị lấy rối loạn làm lợi cho họ đều có lỗi ngang nhau. Rồi giọng đọc cứng cỏi buồn thảm của ông thay đổivà tôi nghe thấy một luận điệu trêu ngươi cay đắng.
“ … Tại đây, trên mảnh đất của chúng ta, máu đã đỗ mỗi ngày để ngăn chặn những mưu toan xâm lược bành trướng đất đai của Trung-cộng. Vậy mà tại Nữu Ước, một đô thị sống trong hòa bình, trong Đại Hội-đồng Liên-hiệp-quốc, các bạn hữu của chúng ta hay những kẻ tự nhận là bạn hữu chúng ta! – đang phạm vào một thứ gian dối khác chống lại chúng ta. Họ đã sẵn sàng bỏ phiếu thuận cho một sự vi phạm các quyền quốc gia của chúng ta và Hiến-chương Liên-hiệp-quốc bẳng sự chỉ định một Ủy ban Điều tra về vấn đề Nhân quyền. Chúng ta không sợ hãi Ủy ban này nhưng đau đớn thay, chúng ta buộc lòng phải sợ hãi các bạn hữu chúng ta. Vì vậy quan sát viên của chúng ta ở Liên-hiệp-quốc đã được chỉ thị đạt lên Đại Hội-đồng một lời mời công khai xin chỉ định một toán quan-sát-viên đến nghiên cứu và phúc trình về vấn Phật-giáo ở miền Nam Việt-Nam. Quý vị hãy nhớ rằng chúng ta đã mời họ, chúng ta không sợ điều tra tự do, chúng ta không có điều gì phải che dấu cả. Nhưng dường như các bạn hữu của chúng ta có nhiều điều phải dấu diếm bởi vì họ làm việc trong vòng bí mặt chứ không phải trong sự lương thiện của thảo luận công khai ….”
Đó là những lời lẽ thô bạo và nhìn qua những trang kế tiếp của bản văn, đủ chứng tỏ lời lễ còn thô bạo hơn thế nữa. Các nhà ngoại giao khác đang quan sát tôi chứ không phải người đang nói. Mel Adams viết vội vào mảnh giấy: “Ông đã muốn ra về chưa?” Tội nguệch ngoạc viết trả lời: “Không. cứ ngồi nghe cho xong!” Phùng văn Cung vẫn tiếp tục nói với luận điệu trêu ngươi như cũ. “… Điều lạ lùng và buồn đối với tôi là những gì mà kẻ thù của chúng ta thất bại không làm được lại đang được các bạn chúng ta làm hộ chúng.
Chúng ta, thành trì cuối cùng chống lại sự bành trướng của Cộng-sản ở Đõng-Nam-Á, đang bị đe dọa với sự rút lui viện trợ quân sự và kinh tế … Không biết họ chơi cái kiểu điên khùng gì đây? Không biết những người Mỹ chính họ nghĩ thế nào về việc này-những người đang chiến đấu cạnh quân đội chúng ta trong vùng châu thổ; những người làm việc với dân chúng trong thôn ấp để dậy cho họ cách làm ruộng tốt hơn và cách diệt trừ các tật bệnh đã làm chúng ta khốn khổ trong bao thế kỷ? Những người đó chúng ta không oán trách họ là những người bạn đích thực. Nhưng còn những kẻ khác, những kẻ nói với hai giọng lưỡi, những kẻ tuy rằng công bố một tình hữu nghị công khai nhưng lại chính họ dây phần vào những âm mưu bí mật chống lại một chính phủ hợp pháp …? Nếu họ chán ghét chiến cuộc, họ cứ việc ra đi! Họ cứ việc để lại cho chúng ta tiền bạc, vũ khí và chúng ta sẽ chiến đấu một mình! Chúng ta đã khởi đầu cuộc cách mạng của chúng ta không cần đến họ và chúng ta sẵn sàng để hoàn tất cuộc cách mạng ấy không cần đến họ, vì chúng ta yên trí các mục
tiêu của chúng ta là đúng và hy vọng vào cuộc chiến thắng sau cùng!”
Khi ông từ diễn đàn bước xuống, vỗ tay nổ lên như sấm; nhưng không biết đó là các bạn của ông đang ca ngợi ông đã dám làm hay đó là kẻ thù của ông đang hoan hô sự điên rồ của ông. Mel Adams nói một cách không vui vẻ:
“Trời đất ơi, thật là Cung đã đi đổ dầu vào lửa. Thôi ông Đại-sứ, chúng mình đi.”
Chúng tôi ra về. không khí bên ngoài nóng bức và nặng nề. Mây đen chĩu đầy sấm sét đang ùn ùn kéo đến trên cái thành phố khó thở này.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.