Theo Chân Những Tiếng Hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 26 Dec 2025

Chương 4.

Một cao Trào Bừng Sáng

Chương 4 nầy, tôi xin tóm tắt phong trào ca nhạc từ thuở phôi thai cho tới khi đất nước bị chia đôi bởi con sông Bến Hải. Tôi sinh vào mùa thu năm 1938, tức là vào thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến sắp bùng nổ (2/9/1939). Dĩ nhiên tôi chỉ biết

thời kỳ khởi đầu nhạc tiền chiến qua sách vở, qua lời kể của các bậc trưởng thượng. Trước năm 1945, lớp những bậc đàn anh đàn chị của chúng tôi đã võ vẽ hát những bài dân ca của Pháp hoặc những bản nhạc Pháp thịnh hành vào trong thập niên 30 hoặc 40. Họ cảm thấy dù những bản nhạc Pháp do Tino Rossi, Lucienne Boyer, Albert Préjan, Maurice Chevalier hoặc Danielle Darrieux, Suzy Delair hát dù có hay thế mấy, nhưng không thể đi sâu vào tâm hồn họ, vẫn không khơi dậy những rung cảm đậm đà cho họ được. Cho nên họ khao khát tìm về “cây nhà lá vườn” và thích “ta về ta tắm ao ta”. Từ năm 1945, lúc Việt Minh lên nắm chính quyền tôi được các chú, các cô tôi dạy hát những bài nhạc cách mạng của Lưu Hữu Phước như “Tiếng Gọi Thanh Niên”, “Lên Đường”, “Xếp Bút Nghiên”, “Chi Lăng”, “Hội Nghị Diên Hồng”, “Bạch Đằng Giang”, “Hồn Tử Sĩ”, “Hờn Sông Gianh”. Và khi Tây tái chiếm Nam Kỳ, tôi theo gia đình chạy xuống Chắc Băng, U Minh Thượng tản cư, được những người đi theo kháng chiến dạy những bản của Hoàng Quý như “Trên Sông Bạch Đằng”, “Bóng Cờ Lau”, “Nước non-Lam Sơn”, “Đêm Trong Rừng” …cùng một số bài hùng ca của các tác giả khác. Tuy chưa lớn khôn vào thời kỳ dân tộc sôi chí quật cường, nhưng những bài hát đó vẫn đeo đẳng tôi suốt đời để tôi hãnh diện rằng nền âm nhạc cải cách của chúng ta đã góp phần làm nên lịch sử không phải là nhỏ đâu. Dù ông Lưu Hữu Phước có theo Cộng Sản, nhưng tôi vẫn tin rằng ông có thiện chí giành lại chủ quyền của dân tộc đang nằm trong tay người Pháp, ông yêu nước theo cách của ông. Ông đóng hai vai trò sáng rực ở hai địa hạt khác nhau: âm nhạc và cuộc đi làm lịch sử. Khi tôi vừa mới lớn chỉ có hai bản nhạc ngoại quốc Tây phương được thịnh hành. Đó là bài “Granada” điệu paso doble của Tây-ban-nha và bài dân ca Đan Mạch mà Thông Đạt đặt lời Việt có cái tựa là “Trên Đồng Trong Rừng”. Bài đầu với tiết điệu dòn dã trong thập niên 50 diễn tả bằng Tây-ban-cầm hay tuyệt. Về sau ai đó có đặt lời Việt và để cho Thái Thanh hát, nhưng theo tôi nghĩ, bài nầy cũng như bài “Cumparsita” nếu được trình bày bằng bất cứ tiếng hát nào cũng nghe không thể dòn dã làm sướng lỗ tai bằng độc tấu Tây-ban-cầm được. Còn bài “Trên Đồng Trong Rừng” dành để hát trong nhà trường và dành làm nhạc cho các màn vũ trên sân khấu học đường:

Đây gió, đây trên rừng,

Đây cánh đồng, đời bao phóng khoáng

Kìa chim non đang vờn hoa tươi trên cành

Líu lo muôn lời …

Tay ngắt bông hoa hồng

Cây với cành cùng khoe sắc thắm

Nhìn ra nơi phương trời

Cô em tôi sầu

Nhớ chi trong lòng?

Chiều dâng lên chuông hòa tiếng vàng

Và bâng khuâng nghe lòng nhuốm buồn

Gió mát mách rằng

Cô em tôi sầu

Nhớ chi trong lòng?

Qua bao thăng trầm hưng phế của nền Tân nhạc, tôi chỉ có thể nhận xét như sau:

— Thuở Ái Liên, Kim Thoa, Phùng Há, Năm Châu và Jean Tịnh hát nhạc Tây lời Việt là thuở nước ta chưa có nền Tân nhạc riêng biệt, nhưng đã có tài tử chuẩn bị cho nghệ thuật hát Tân nhạc sau nầy. Vì nói cho cùng, năm nghệ sĩ mà tôi vừa kể trên trừ Jean Tịnh ra đều có nghề nghiệp sân khấu cải lương vững chắc, chuyện hát nhạc Tây lời Việt đối với họ là tìm món ăn chơi, là thứ nghiệp dư (nói theo Cộng Sản) chứ không phải là nghề thật sự để họ dốc tâm theo đuổi. Riêng Jean Tịnh là nhạc công, hát nhạc Tây cũng chỉ để thỏa mãn nghệ sĩ tính chứ không phải dùng để nuôi sống.

— Thời kỳ bắt đầu của nhạc Việt lời Việt là thời kỳ có nhạc, có nhiều người ca tài tử mà vẫn chưa có ca sĩ chuyên nghiệp. Đó là thuở vào năm 1938, một người Huế yêu nhạc tên Nguyễn văn Tuyên có giọng hát ténor có thử sáng tác vài bản nhạc được học giả Nguyễn văn Cổn đang làm việc cho đài Radio Indochine phổ lời hát. Ông Cổn còn giúp cho ông Tuyên gặp Thống Đốc Nam Kỳ Rivoal để xin trợ cấp đi diễn thuyết ở Huế, Hà Nội và Hải Phòng. Cuộc đi diễn thuyết nầy được báo Ngày Nay ở Hà Nội hết lòng ủng hộ. Phong trào sáng tác nhạc mới bắt đầu ló dạng với những cái tên quen thuộc như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh, Trần Dư, Phạm văn Nhường (nhóm Myosotis), Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn Mẫn, Phạm Ngữ. Lại còn những nhạc sĩ độc lập, không có chân hoặc không lập ra phe nhóm nào cả, chẳng hạn như Lương Ngọc Châu, Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương, Hoàng Quý, Hoàng Phú (về sau lấy tên là Tô Vũ) ở Hà Nội, Đặng Thế Phong ở Nam Định, Nguyễn văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, La Hối ờ miền Trung … Những kẻ trình diễn nhạc của các nhạc sĩ nầy là những sinh viên học sinh yêu nhạc, những tay tài tử của giới trung lưu, những kẻ quen biết với người sáng tác … Những bản nhạc của Nguyễn văn Tuyên như “Bông Cúc Vàng”, “Một Kiếp Hoa” (lời của Nguyễn văn Cổn) trước đó đã không phổ thông, và giờ đây chỉ còn xếp âm thầm trong nhạc học sử mà thôi. Nhưng công việc xung phong của Nguyễn văn Tuyên vẫn là một kỳ công có thể khơi dậy và thắp sáng lòng nhiệt cho lớp tiền phong để họ mạnh dạn sáng những tác.

— Thời kỳ xu hướng nhạc hùng với Thẩm Oánh qua bản “Thanh Niên Ơi”, với Văn Cao qua “Gió Núi”, với Đặng Thế Phong qua “Sáng Rừng” thì đây là những bài không dành cho sân khấu trình diễn mà dành cho nhóm thanh thiếu niên tân học hát trong những cuộc họp mặt bên đống lửa những buổi cắm trại. Nhạc họ vốn dễ hát. Nhóm trẻ tuổi nhiệt tâm huớng về tương lai đất nước chỉ muốn mình hát để mình thuởng thức trong không khí bằng hữu, trong không khí đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu. Họ đâu cần những kẻ hát chuyên nghiệp dựa vào sự hiểu biết nhạc lý, đâu cần những kẻ đã có trình độ luyện giọng khá cao. Tôi nói thế vì vào thời buổi trước cũng có những kẻ biết luyện giọng, có trình độ ký âm pháp cao. Chẳng hạn như các chủng sinh được luyện giọng chu đáo ở trong các chủng viện để hát trong ban đồng ca nhạc thánh ở các cuộc lễ trong nhà thờ. Anh Ngọc xuất thân là một chủng sinh nên được luyện giọng ở chủng viện. Còn Minh Trang, Minh Đỗ hoặc Kim Tước có học trường bà sơ và được luyện giọng nhờ các bà sơ nên giọng họ cực kỳ điêu luyện.

Tuy nhiên những người có giọng được rèn luyện tinh vi thì quá ít, cả trăm nghìn người mới có một người. Trong khi cao trào dân tộc đang sục sôi, nhạc hùng dũng và lành mạnh nào phải dành riêng cho kẻ chuyên nghiệp, mà phải được một số hung hậu những kẻ thuộc thế hệ trẻ trung có tâm huyết cùng hát trên những chặng đường mà họ hăng hái phụng sự cho lý tưởng. Có thể bảo đó là những bản cộng đồng vậy. Trong thời kỳ có xu hướng nhạc hùng thì Hoàng Quý sáng tác hăng hơn cả. Ngoài các bản mà tôi đã kể ở trên còn có “Gọi Bạn Lên Đường”, “Tiếng Chim Gọi Đàn”, “Lời Vọng Ngàn Xưa”. Bản “Bóng Cờ Lau” nhằm ca tụng tiểu anh hung Đinh Bộ Lĩnh, “Trên Sông Bạch Đằng” nhằm ca tụng chiến công của Ngô Vương Quyền đuổi quân Nam Hán, “Nước Non Lam Sơn” và “Đêm Trong Rừng” nhằm ca tụng chiến công của Bình Định Vương Lê Lợi. Còn “Tiếng Chim Gọi Đàn” không ca tụng vị anh hùng nào cả dù nó là nhạc hùng. Nó nhằm ca tụng tinh thần đoàn kết của thanh niên trong đại cuộc đáp lời sông núi:

Tiếng chim vang lừng gọi đàn trong sương sớm

Vang trong trời xa như giục lòng trong gió sương.

Riêng bản “Ngày Xưa” dùng để ca tụng công đức nhị vị Trưng Vương thì là nhạc êm đềm tha thiết:

Ngày xưa kia, nơi đây đã từng vang hình bóng

Đôi quần thoa, đem máu đào hòa nước sông nhà

Hồn linh thiêng sống trên muôn ngàn sóng

Những khi nào chiều vắng

Trầm đưa lên tiếng ca …

Còn bản “Nắng Tươi” là bản nhạc vui cốt thổi nắng đẹp và gió mát vào tâm hồn thanh thiếu niên, chứ không phải nhạc hùng:

Nắng trong khóm cây

Tươi sáng ngời

Kìa đàn chim bay xa xa hót tung mây.

— Thời kỳ nhạc xu hướng lãng mạn có vài người nổi tiếng như Đặng Thế Phong với “Con Thuyền Không Bến”, “Đêm Thu”, “Giọt Mưa Thu”, như Dzoãn Mẫn với “Ghé Đây Thuyền Mơ”, “Cô Lái Đò Mơ”, “Biệt Ly”, như Lê Thương với “Thu Trên Đảo Kinh Châu”, “Sao Hoa Chóng Tàn”, “Bản Đàn Xuân”, như Hoàng Quý với “Chiều Quê”, “Chùa Hương”, như Văn Cao với “Cung Đàn Xưa”, “Suối Mơ”, “Thiên Thai”, “Mỵ Nương Trương Chi”, như Nguyễn văn Thương với “Bướm Hoa”, “Trên Sông Hương”, “Đêm Đông”. Trong giai đoạn nầy có Phạm Duy tháp tùng theo đoàn hát cải lương Đức Huy để hát nhạc của Đặng Thế Phong và nhạc của Văn Cao. Ngoài ra nhạc sĩ Canh Thân (lúc đó chưa sáng tác nhạc và lấy biệt hiệu là Tino Thân) cũng bắt đầu hát nhạc cải cách. Nữ nghệ sĩ Kim Thoa trên sân khấu cải lương thỉnh cũng có hát vài bài cải cách như “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương chẳng hạn.

Tuy thế, chúng ta chưa thể bảo đây là những nghệ sĩ thực sự sống chết với nghề ca Tân nhạc được.

— Thời kỳ từ thuở nhạc hùng châm ngòi cho Việt Minh lên nắm chính quyền thì nhạc của Lưu Hữu Phước trội nhất, khích động tâm hồn ái quốc nhiều nhất. Cái thâm ý của nhóm Lưu Hữu Phước (gồm có Mai văn Bộ, Huỳnh văn Tiểng và Lưu Hữu Phước) là dùng gương chống xâm lăng của người xưa để nhắc nhở người đương thời nên hưởng ứng cuộc chống ngoại xâm của lớp người yêu nước cận đại như Thiên Hộ Dương, Trương Công Định, Hoàng Hoa Thám … Bài “Hội Nghị Diên Hồng” nhắc nhở tinh thần đoàn kết toàn dân dưới triều đại vua Trần Nhân Tôn để chận ngăn bước xâm lăng của giặc Mông Cổ. Bài “Bạch Đằng Giang” nhắc nhở cuộc thắng trận vinh quang của Hưng Đạo Vương trong công việc đánh đuổi giặc Mông Cổ. Bài “Chi Lăng” ca tụng chiến công của Bình Định Vương Lê lợi trong cuộc chống giặc Minh. Sau đó là nhạc bừng bừng hào khí của Văn Cao với “Thăng Long Hành Khúc”, “Chiến Sĩ Việt Nam” và “Tiến Quân Ca” (bài nầy về sau sửa lại lời cho có vẻ sắt máu hơn để làm bản Quốc Ca cho chủ nghĩa xã hội miền Bắc). Phạm Duy

cũng hưởng ứng cao trào một cách ngoạn mục và hào hùng khi tung ra các bài “Nhạc Tuổi Xanh”, “Xuất Quân”, “Khởi Hành”, “Thanh Niên Việt Nam” … Đây cũng là lúc toàn dân hát theo họ, không cần ca sĩ. Nhạc của họ đã lẩn vào tâm hồn dân tộc, chỉ có dân tộc hát mới thắm đượm tình ý một vận hội mới đang bừng dậy. Trước khi toàn quốc kháng chiến, Lưu Hữu Phước cũng đã mở đường dân trí bằng bài “Gieo Ánh Sáng” mà trong các lớp Bình Dân Học Vụ thường hát để mở mang dân trí nói chung và chống nạn mù chữ nói riêng:

Lòng vui sướng, anh em ơi

Tim thấm nhuần tình đồng bào

Trai đời mới sao cho nên chí trai

Cùng đi gieo sáng tươi vào hồn người đó đây …

Cùng đi gieo khắp nơi chữ ta

Nơi hương thôn tối tăm đời mịt mờ xót xa

Tiếng kêu than tiếng rền vang đồng quê

Đánh thức giấc toàn dân chìm đắm trong cơn mê

nhục nhằn

Mới nên danh thanh niên.

Bài nầy là bài mở đầu cho Phạm Duy sáng tác bài “Bình Dân Học Vụ” khi anh còn đi kháng chiến. Nhưng khi anh vào Sài Gòn, bài nầy lại được ban Thăng Long trình bày và thâu vào dĩa Việt Nam tròng lục chữ kim nhũ:

Bình Dân Học Vụ là đóa hoa tươi Thơm ngát khắp phương trời Nam Bắc …

Vào năm 1948, sau cái chết của Trần văn Ơn, thanh niên, sinh viên và học sinh náo nức bỏ trường lớp và thành thị để vào khu kháng chiến. Lúc đó, có bài như “Nam Bộ Kháng Chiến” với những câu làm cho lòng trai trẻ ngập tràn phấn khởi:

Mùa thu rồi, ngày hăm ba

Ta ra đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến

Rền khắp trời lời hoan hô

Dân quân Việt Nam tiến đến trận tiền.

Ngoài ra còn có những bài sục sôi nhiệt huyết như “Cương Quyết Ra Đi” của Nguyễn Ngọc Bạch, “Đường Về

Quê” của Phạm Duy, “Đoàn Giải Phóng Quân” của Phan Huỳnh Điểu, “Khúc Hát Sông Thao” của Đỗ Nhuận. Bài “Đoàn Giải Phóng Quân” về sau đổi lại là “Đoàn Vệ Quốc Quân” được hát trong các chiến khu nhiều nhất. Theo tôi thuở đó có hai bài “Cương Quyết Ra Đi” và “Nam Bộ Kháng Chiến” là hai bài giục giã các thanh niên đầy nhiệt huyết hưởng ứng phong trào chống Tây trong khoảng từ năm 1947 đến năm 1949 một cách hữu hiệu nhất. Bài “Cương Quyết Ra Đi” với đoạn điệp khúc sắt máu như sau:

Đất nước hỡi, reo lên đi

Ta ra đi một mùa thu xa vắng

Gió hỡi gió, ngân lên đi

Vung gươm thiêng ta lấy máu đền nợ trai

Và từ đây cao hát hành quân

Chiều âm u tiếng gọi nơi sa trường xa

Vung gươm lên, vung gươm lên, ta giết quân thù …

Bài “Đoàn Giải Phóng Quân” với những lời như sau:

Đoàn Giải Phóng Quân một lòng ra đi

Lòng có xá chi đâu ngày trở về

Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi

Ra đi, ra đi thà chết chớ lui

Cờ bay phất phới cờ giòng Lạc Hồng

Cờ bay phất phới cờ giòng Lạc Hồng

Đoàn Giải Phóng Quân …

Bởi nó quá thịnh hành trong các khu 8, khu 9 nên nó bị sửa lời hài hước như sau:

Đoàn Nữ Cứu Thương một lần ra đi

Thề lấy chỉ huy không hẹn ngày về

Ra đi không mong bảo tồn sông núi

Ra đi ra đi thề lấy chỉ huy

Cờ bay phấp phới cái bụng thè lè

Cờ bay phấp phới cái bụng chình ình

Đoàn Nữ Cứu Thương ….

Những bài “Nhớ Chiến Khu” của Đỗ Nhuận, “Lỡ Chuyến Đò”, “Bến Cũ” của Anh Việt, “Có Một Đàn Chim”, “Mùa Đông Binh Sĩ” của Phan Huỳnh Điểu, “Lòng Mẹ Việt Nam” của Lê Thương, “Chinh Phụ Hoài Khúc” của Lê Xuân Ái đều là những bài đóng góp cho phong trào thanh niên bỏ thị thành vào chiến khu cũng khá tích cực. Tuy nhiên, song song đó có những bài hát lãng mạn như “Ngày Về” và “Mơ Hoa” của Hoàng Giác, “Bóng Chiều Xưa” và “Ôi Quê Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Tạ Từ” của Tô Vũ, “Trầu Cau” của Phan Huỳnh Điểu làm cho những tâm hồn bừng bừng hào khí vẫn có đôi lúc rung động vì những thoáng trữ tình.

Điều đáng ghi nhận là nhạc sĩ Anh Việt, tác giả của các bản “Bến Cũ”, “Chiều Trong Rừng Thẳm”, “Lỡ Chuyến Đò”, “Một Chuyến Đi” khi sáng tác nhạc lại hướng về những người chiến đấu ở bên kia. Nhưng khi ông sáng tác bản “Thơ Ngây” rất trữ tình thì ông liền đổi khuynh hướng chính trị. Ông gia nhập vào quân đội Liên Hiệp Pháp và sau đó đứng về hàng ngũ quân đội Quốc Gia. Năm 1970, Đại Tá Anh Việt Trần văn Trọng lập ra tờ tuần san quân đội Khởi Hành chẳng những quy tụ được nhiều văn nghệ sĩ quân đội có tài cao mà còn qui tụ nhiều nhà văn dân sự nổi tiếng như cồn nữa. Còn nhạc sĩ Lê Thọ Trung cũng nhập ngũ quân đội Liên Hiệp Pháp và sau hết trong quân đội Quốc Gia, ông lên tới cấp bực Trung Tá, làm tới chức Tham Mưu trưởng của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, bản doanh bộ Tư lệnh đóng ở căn cứ Lai Khê, gần quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ông Lê Thọ Trung chỉ có sáng tác bản “Người Thiếu Phụ” theo thể điệu rumba mélodie là nổi tiếng. Năm 1971, tôi được thuyên chuyển về Lai Khê làm việc trong ban Thông Tin Báo Chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, có gặp ông Trung Tá Lê Thọ Trung một vài lần khi tôi có việc đem công văn lên văn phòng của ông. Ông trực tính và công bằng, nhưng hơi khó khăn với thuộc cấp. Cho nên anh em trong ban Thông Tin Báo Chí chúng tôi nói hành nói tỏi ông, gọi ông là “Trung Tá rumba mê lỗ đĩ”. “Mê lỗ đĩ” tức là nói trại tiếng mélodie vậy.

Trong Nam, thời kỳ hát phụ diễn Tân nhạc cho các rạp chiếu bóng cùng phong trào ca tân nhạc thâu dĩa bắt đầu với các ca sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Châu Kỳ, Đức Quỳnh, Anh Ngọc, Vũ Huyến, Minh Trang, Minh Diệu, Mộc Lan, Bích Thuận, Túy Hoa, Minh Nguyệt, Minh Tần, Ngọc Hà, Ngọc Thanh, Minh Hoan, Linh Sơn, Hoàng Lệ, Khánh Ngọc, Hoàng Yến, Bích Thủy bắt đầu sống mạnh. Song song đó, đài Phát Thanh Quốc Gia và đài Pháp Á vẫn là môi trường quen thuộc của họ. Ngoài Bắc thì ngoài đài phát thanh còn có các phòng trà với Kim Tiêu, Mai Khanh, Ngọc Bảo, Minh Đỗ …Trong những năm đầu thập niên 50, chiến tranh đổ dồn ra Bắc và lực lượng của Pháp mạnh nhất ở căn cứ Điện Biên Phủ thì Sài Gòn trở thành một kinh đô ăn chơi trác táng. Bên cạnh những khu bài bạc như Đại Thế Giới, Kim Chung thì hằng ngày tại bót Catinat xảy ra những cuộc tra tấn dã man các tù nhân bị tình nghi là Việt Minh, những cuộc tuyên truyền hay ám sát của bọn khủng bố của Việt Minh mà họ gọi là những anh công tác thành. Hình như đó là lúc dân thị thành bắt đầu

chán ngán cực độ chiến tranh, muốn dùng các thú giải trí văn nghệ hoặc các cuộc truy hoan để quên những biến động sôi sục ở các vùng ngoại ô thành phố cùng ở các vùng phụ cận.

Nhạc hùng bỗng dưng phai mất hào quang trong tâm tưởng những thị dân trẻ tuổi. Bài “Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn, bài “Trăng Mờ Bên Suối” của Lê Mộng Nguyên, bài “Dư Âm” của Nguyễn văn Tý, bài “Tình Kỹ Nữ” và bài “Cây Đàn Bỏ Quên” của Phạm Duy, bài “Lời Hẹn Xưa” và bài “Trở Về Bến Mơ” của Ngọc Bích, hai bài “Bóng Ngày Qua” và “Lỡ Cung Đàn” của Hoàng Giác, nhất là bài “Bóng Chiều Xưa” của Dương Thiệu Tước là những nhu cầu tâm tình quý giá cho nhưng kẻ yêu nhạc có tâm hồn ướt át đang chán ngán chiến tranh. Tuy nhiên, Phạm Duy đã làm một việc rất đẹp là sáng tác một tác phẩm bất hủ. Đó là bài “Tình Ca”. Đây không phải là nhạc hùng mà là nhạc tha thiết bắt nguồn từ nhạc dân gian để gây trong tâm thức đồng bào lòng yêu quê hương đất nước. Riêng Dương Thiệu Tước dù là đặt nhạc tình như “Tiếng Xưa” và “Đêm Tàn Bến Ngự” nhưng nhạc bắt nguồn từ cổ nhạc miền Trung. Hai bản đó dù có tiết điệu áo não, nhưng không phải chỉ cốt làm tê liệt lòng phấn khởi của dân tộc mà là chan hòa âm hưởng dân nhạc vào tâm hồn họ để họ yêu thêm quốc nhạc nói riêng, yêu thêm lời tình tự quê hương dân tộc nói chung.

Trong giai đoạn nầy Minh Trang qua hai bản “Đêm Tàn Bến Ngự” và “Tiếng Xưa”, Thái Thanh qua bản “Tình Ca” đem lại cho khán thính giả tiếng hát thật Việt Nam, thật quê hương dân tộc dù họ ca nhạc cải cách đi nữa. Hai tiếng hát ấy lẩn vào tâm hồn dân tộc và trở thành tiếng hát dân tộc. Có rất nhiều người trước kia không thích Tân nhạc, nhưng khi nghe Minh Trang và Thái Thanh mỗi chị hát những bản ruột của mình thì họ cũng cũng bắt đầu để tâm hồn mình hòa tan vào hai tiếng hát đượm tình dân tộc ấy. Cần phải kể thêm ở Huế có đôi song ca Ngọc Cẩm và Nguyễn Hữu Thiết. Họ nổi tiếng ở bài “Dân Ca Lúa Vàng”. Ngọc Cẩm có giọng trong trẻo nhưng hơi chát chát chua chua. Chị không biết ngân nga. Tuy nhiên giọng hát của chị dễ đi sâu vào lòng người vì thấm nhuần giọng Huế thật mộc mạc, hợp với cảm quan lớp bình dân. Nguyễn Hữu Thiết có giọng điêu luyện hơn giọng vợ, chuỗi ngân khá óng ả, nhưng âm sắc lại không đẹp, không gợi một hình ảnh đẹp. Nếu họ hát riêng thì không có một chút quyến rũ nào. Nhưng khi họ song ca với nhau thì truyền cảm bất ngờ. Hai giọng hát như hai con song quyện vào nhau dễ thấm sâu vào tâm hồn người nghe bằng từng đợt nước quê hương mát rười rượi. Huế có thêm một giọng ca cừ. Đó là nữ ca sĩ Hương Thủy, một giọng đục nhưng có âm vang, rất vững về phần ngân nga. Trong tấm ảnh in trên ấn bản bài nhạc nào đó của Hoàng Trọng mà suốt trên nửa thế kỷ tôi đã quên mất cái tựa của nó, chị hiện thân là cô Huế tóc óng ả xõa ngang vai, nụ cười tươi, ánh mắt dịu dàng, khuôn mặt chân phác. Bài hát mà tôi quên tựa ấy có những câu:

Ôi, người nghệ sĩ năm xưa

Cùng ai ngắm trăng mơ

Ôm một cây đàn

Cho lòng reo lên phím tơ …

Hương Thủy hát loại nhạc tango của Hoàng Trọng thật điệu nghệ. Tiếng chị dù không trong vắt như nước song Hương, nhưng thật ngọt mềm làm người nghe thống khoái. Chị cũng có một thời vào Sài Gòn thử thời vận, nhưng không mấy khả quan.

Tôi thiết tưởng cũng nên nói qua hai đài phát thanh ở Sài Gòn vào thập niên 30, kẻo không sẽ chẳng có dịp nào nói tới chúng nữa. Hình như vào năm 1938 hoặc 1939 gì đó, ở Sài Gòn đã có hai đài: Centre de la Radio de Diffusion Électrique và đài Philco Radio. Đài thứ nhất còn gọi là Radio Saigon đặt tại góc đường Richaud (sau đổi lại là đường Phan Đình Phùng) và đường Docteur Angier có khúc dưới chạy ngang Sở Thú. Còn đài Philco Radio là của tư nhân người Pháp đặt ở đường Catinat (sau đổi là đường Nguyễn Huệ), chỗ trước Hành Lang Eden, trên từng lầu. Đài Philco Radio có máy móc tối tân hơn đài Radio Saigon (Centre de la Radio de Diffusion Électrique). Hai đài nầy mỗi ngày phát thanh hai lần: trưa từ 11 giờ đến 13 giờ, chiều từ 18 giờ tới 21 giờ. Từ 21 giờ trở đi dành cho chương trình của người Pháp. Hai đài nầy đều sống nhờ quảng cáo thuốc men của nhà thuốc Võ văn Vân, của nhà thuốc Võ Đình Dần, của nhà thuốc Ông Tiên … cùng các hàng hóa vật dụng nhập cảng, đặc sắc nhứt là thứ rượu Dubonnet hiệu Con Mèo. Thuở đó, về âm nhạc, hai đài cho chạy các dĩa nhạc cổ cải lương đã từng thu thanh vào dĩa Asia, Béka, Pathé, Victor…

Cũng thuở đó người Nam Kỳ không biết xài chữ Nho. Họ không kêu radio là “đài phát thanh” mà gọi nguyên gốc chữ “radio”. Đài Sàigon mở đầu bằng câu “Đây là Radio Saigon”, còn đài kia cũng mở đầu “Đây là hãng Philco Radio”.

Theo ông già bà cả thuật lại khi quảng cáo thuốc Cửu Long Hoàn của nhà thuốc Võ Đình Dân, họ dùng bài “Une Chanson pour Nina” (bài nầy do Tino Rossi hát thâu dĩa làm chấn động con tim thanh niên miền Nam xứ mình) phổ lời Việt như sau:

Khi mình mệt mỏi

Nhớ mua dùm

Cửu Long Hoàn

Võ Đình Dần

Còn bài quảng cáo rượu Dubonnet hiệu Con Mèo, họ đặt nhạc đàng hoàng, khỏi cần nháy theo bài hát Tây nào:

Dubo, Dubon, Dubonnet

Thêm sức mạnh, người vui khỏe luôn

Lại càng sống lâu

Riêng về đài Radio Indochine có mục thời sự, mục thể thao (mục nầy do Trần Đình Khiêm phụ trách), có mục ca tài tử do các nữ danh ca Ba Bến Tre, Năm Cần Thơ, Hai Đá, có ban Vô Tuyến Kịch Đoàn. Và có mục ca nhạc cải cách để cho Phạm Duy hát (1944).

Đài Pháp Á thành lập từ năm 1946 tại góc Boulevard de la Somme (về sau đổi tên là Đại lộ Hàm Nghi) và đường Mac Mahon (về sau đổi lại là đường Công Lý), tọa lạc trên lầu của cơ sở cũ của hãng dĩa hát Béka. Giám đốc của đài là ông Jean Varnoux, còn chủ sự là ông Hoàng Cao Tăng. Các ca sĩ đài Pháp Á được trả tiền thù lao rất hậu hĩ: 100 đồng cho mỗi ca sĩ trong mỗi chương trình. Mỗi tuần lễ họ được hát ba lần,

vị chi tiền lương mỗi người trong mỗi tháng là 1200 đồng. Đó là mối tiền rất sộp vượt cả tiền công chức bậc trung, vào thời buổi một tô hủ tíu giá 1 đồng, 100 kí gạo giá 80 đồng. Đài Pháp Á cũng có những nhạc công lỗi lac như Nguyễn văn Minh và Lê Minh Đảo trong ban nhạc Lê Thương, như Nguyễn Chẩnh Lý trong ban Thu Hồ. Về sau Nguyễn văn Minh trở thành tướng Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, còn Lê Minh Đảo trở thành Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Năm 1972, tôi được thuyên chuyển về Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (bản doanh đặt tại Biên Hòa), lúc đó Nguyễn văn Minh là Trung Tướng Tư Lệnh của Quân Đoàn III và Quân Khu 3. Trong thời gian làm việc tại Biên Hòa tôi thường tháp tùng các ký giả quân đội lẫn dân sự đến Long Khánh viếng Tướng Lê Minh Đảo. Còn nhạc công Nguyễn Chánh Lý về sau trở thành Thứ Trưởng Kinh Tế. Cũng cần nói thêm trong ban nhạc ở đài Pháp Á đệm cho ban Thăng Long, ngoại trừ ông Nghiêm đánh đại hồ cầm (contre-basse) là người Việt. Còn kỳ dư các nhạc công khác đều là người Pháp như ông Méritan đánh dương cầm, ông Barthélémy thổi trombone, ông Niflis (lấy tên Việt là Nghị Lực) kéo vĩ cầm …

Vào thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, dù có dĩa nhựa, dù có đài Quốc Gia và đài Pháp Á, nhưng Tân nhạc không thể bành trướng được mau vì những lý do như sau:

— Tân nhạc là thức ăn tinh thần quá mới mẻ đối với đa số quần chúng vốn bị tập nhiễm bởi nhạc cổ truyền.

— Không phải ai cũng có thể sắm máy vô tuyến vì món nầy dành cho những người có tiền ở đô thị. Còn miệt vườn thì không có điện thì làm sao có thể xử dụng máy nầy? Từ năm 1939 ở Việt Nam đã có xài máy vô tuyến điện hiệu Philco và hiệu Philips của Hòa Lan nhập cảng, máy nhỏ nhứt có 4 đèn hoặc 5 đèn. Còn loại cỡ lớn có 6 đèn hoặc 8 đèn. Những cỗ máy lớn nhất có 10 đèn thì dành cho hạng giàu sụ. Từ khoảng năm 1954, Nhật Bản chế ra máy loại máy Transistor hiệu Sony chạy bằng pin. Máy có hình vóc vừa nhẹ vừa nhỏ, chúng ta có thể xách bằng tay, năng suất điện chỉ cỡ 4 volt rưỡi. Thế có nghĩa là chúng ta chỉ cần lắp vào máy 3 cục pin, mỗi cục có 1volt rưỡi là ta có thể xài trong một thời gia khá lâu, nhẹ hơn trả tiền điện dùng cho máy vô tuyến nhiều. Loại máy Transistor giết chết kỹ nghệ sản xuất máy radio bên trời Âu, ngược lại nó giúp cho dân miệt vườn xứ ta tiếp xúc được với cái gọi là đài phát thanh vậy.

Còn về nhạc khí thì sao? Trước năm 1940, ở Sài Gòn có hai tiệm Mélodia và tiệm Harmonia chế ra đờn guitare và đờn mandoline. Tiệm Harmonia ở đường Lagrandière (về sau đổi là đường Gia Long), còn tiệm Harmonia ở đường Sabourain (về sau đổi lại là đường Tạ Thu Thâu). Sau năm 1945 tại đường Hamelin (về

sau đổi lại là đường Hồ văn Ngà) có 4 tiệm chế nhạc khí dành cho cổ nhạc lẫn nhạc khí dành cho Tân nhạc, trong đó có tiệm của Đức Quỳnh. Ông nhạc sĩ nầy vừa bán đờn vừa dạy nhạc, vừa ca nhạc, đóng kịch, nhất cử tam tứ tiện. Lại có tiệm Ménestrel ở đường Catinat (sau đổi là đường Nguyễn Huệ) mà chủ nhân là người Pháp có bán đủ mọi nhạc khí Tây phương như đàn banjo, đàn mandoline, đàn guitare, kèn saxophone, kèn trompette, kèn clarinettte, đàn accordéon (phong cầm), sáo v.v … Đây là các nhạc khí nhập cảng từ bên Pháp. Tiệm cũng có bán dĩa hát thâu những bản đương thời do các ca sĩ thời danh Pháp hát và cũng có bán luôn dĩa hát thâu các giọng của Mạnh Phát, Châu Kỳ, Anh Ngọc, Hải Minh, Ngọc Bảo, Trần văn Trạch, Minh Trang, Minh Diệu, Mộc Lan, Bích Thủy, Khánh Ngọc, Ngọc Hà, Kim Chung, Bích Thuận …và ban hợp ca Thăng Long.

Cũng cần nói thêm là về các loại dĩa hát thâu các nhạc cải cách. Từ sau Đệ nhị Thế chiến, ngành dĩa bên Âu Mỹ đã tiến bộ hơn xưa. Bên Pháp có cho nhập cảng vào Việt Nam máy hát dùng để chạy loại dĩa microsillon. Đó là máy électrophone. Dĩa microsillon với những làn rãnh cực nhỏ, chạy với tốc độ 33 tours hay 45 tours một phút, trong khi đó loại dĩa hát cũ mà người mình gọi là dĩa đá chạy với tốc độ 78 tours một phút. Nhưng có một điều đáng ghi nhận là loại dĩa microsillon thì cần có máy chạy bằng điện. Nhưng điện chỉ có trong các thành phố mà thôi. Còn những vùng ngoại ô của thành phố vào thuở chiến tranh, những vùng phụ cận thành phố, những vùng quê hẻo lánh là những nơi không có điện. Như vậy thì giàn hát máy cũ hiệu Pathé (của Pháp) hoặc hiệu Columbia (của Anh) cùng các loại dĩa đá 78 tours vẫn còn chỗ đắc dụng đối với hạng dân quê. Từ 1950, hãng dĩa Lê văn Tài (về sau đổi lại là Việt Nam) vượt cả các hãng Oria, Asia, Polyphone về việc thu nhạc. Sau đó có thêm hãng Việt Thanh. Ban Thăng Long là mục tiêu huy hoàng mà hãng Việt Nam nhắm tới. Còn hãng Việt Thanh thì nhắm vào đôi uyên ương Minh Diệu và Mạnh Phát.

Việc phổ thông các bản Tân nhạc còn nhờ những ấn bản in nhạc với khuôn khổ bề dài từ 29 tới 30 phân, bề ngang từ 21 đến 22 phân gồm có bốn trang giấy dầy. Nhạc được chép vào hai trang trong (trang ruột). Còn trang 1 tức là trang bìa trước thì có vẽ hình, kẻ tựa bản nhạc và tên người nhạc sĩ lẫn tên kẻ viết lời hát. Trang bìa sau tức là trang 4 dành để in mục lục các nhạc phẩm của tác giả hay mục lục các nhạc phẩm của

nhà xuất bản. Đôi khi họ in hình tác giả nếu đương sự ăn ảnh (như hình của Thẩm Oánh, của Dương Thiệu Tước chẳng hạn) hoặc là hình của ca sĩ (như của ca sĩ Minh Tần). Nhưng bìa trước có thể in ảnh chiếm nguyên trang (như ảnh của nhạc sĩ Phạm Duy chiếm nguyên bìa trước của ấn bản in bài “Tình Ca”). Ngoài ra ở ấn bản in bài “Dạ Lai Hương” của Phạm Duy, trang bìa 1 có in ảnh chiếm nguyên trang của nữ nghệ sĩ Kim Chung. Riêng ấn bản nhạc phẩm “Bóng Chiều Xưa” của Dương Thiệu Tước do Tinh Hoa (Huế) xuất bản thì chỉ in ảnh chị Minh Trang cỡ khuôn khổ tấm bưu ảnh ở bìa trước, chồng lên tranh vẽ của Phi Hùng.

Các nhà xuất bản các ấn phẩm bản nhạc trước khi đất nước chia đôi gồm có Thế Giới ở Hà Nội, Tinh Hoa ở Huế, Hương Mộc Lan, Sống Chung và Á Châu ở Sài Gòn. Sau Hiệp định Genève ở Sài Gòn có thêm An Phú và Minh Phát. Nếu ai không có tiền mua ấn bản nhạc thì mua tập vở học trò có kẻ hàng sẵn, chỉ cần kẻ đậm hai hàng chính và các hàng trong khoảng cách hàng chính là có một khuôn nhạc. Gặp những tập giấy trắng không kẻ hàng (loại tập giấy dầy và có khổ lớn), các anh bạn đồng thế hệ nhưng có nhiều sáng kiến của tôi liền vót thanh tre mỏng, cắt hình răng cưa có năm mũi nhọn. Các anh chỉ cần chấm thanh tre vào mực gạt cho mực hơi ráo rồi dùng năm mũi nhọn gạch lên trang giấy trắng là sẽ có khuôn nhạc với năm đường ngang song song. Tuổi hoa niên của tôi khởi đầu từ năm 1951. Hình như lớp thanh thiếu niên ở thành thị thuộc hạng người có ăn học hầu như xa lạ với ca nhạc cải lương. Họ bắt đầu mua đàn về tập chơi. Khởi đầu là đàn mandoline và đàn banjo. Sau đó, họ chơi Tây-ban-cầm (guitare espagnole) và Hạ-uy-cầm (guitare hawaienne) và mua những sách dạy tự học chơi hai món nhạc khí nầy. Lúc đó, trong vùng Việt Minh chiếm đóng, Vọng Cổ và Cổ nhạc Nam Kỳ bị cấm hát. Do đó mà Tân nhạc bắt đầu có đất dụng võ trong lớp người chân lấm tay bùn. Nhưng hát nhạc của phe kháng chiến, họ không mấy khởi hứng vì cảm quan của họ đã bao đời bị âm điệu các câu Vọng Cổ thấm nhuần. Lại nữa, ở đô thị, lớp người có tuổi tác, những người nệ cổ và giới bình dân vẫn mê Vọng Cổ, vẫn ghiền ca kịch cải lương, vẫn hâm mộ những bài bản của Cổ nhạc Nam kỳ. Việt Minh ở vùng thôn quê, những người tân học thời thượng ở đô thị nếu đả đảo Vọng Cổ thì oái oăm thay lớp người nệ cổ và giới bình dân vẫn trung thành ủng hộ … sáu câu nhịp 16 (đợt I lẫn đợt II).

Tôi trưởng thành vào thế hệ kế tiếp thế hệ đã đổi mới từ lâu. Các anh chị họ của tôi và chị em tôi thuộc về hạng người có học lực ở trình độ trung học. Chúng tôi đã từng mơ mộng trên những trang sách lãng mạn của nhóm Tư Lực Văn Đoàn nói riêng, của văn chương tiền chiến nói chung. Tâm hồn mọi người vẫn còn xao xuyến dư âm thời lãng mạn mà tiếng súng chiến tranh vẫn không át nổi. Cho nên họ cảm thấy âm nhạc

cổ truyền vốn đã thu mình vào trong ngũ cung không thể giao hưởng với tiếng tim đập say đắm của họ, không thể xao xuyến trong tâm hồn họ những âm hưởng trữ tình ngọt lịm. Chỉ có Tân nhạc mới làm phì nhiêu tâm hồn họ, mới khơi dậy được mạch trữ tình tuôn lai láng trái tim của họ. Cho nên bè bạn tôi và tôi hễ có tiền là sắm cây đàn và mua tập về chép nhạc. Chúng tôi đàn địch ca xang khi vừa buông quyển giáo khoa hay hoàn tất xong công việc thường nhật. Chúng tôi hễ gặp dịp thuận lợi là tổ chức cuộc họp bạn nho nhỏ để đàn hát.

Anh Lê Tấn Lộc dù nhỏ con, nhưng nhờ lên sân khấu đơn ca hoặc hợp ca mà hầu hết nữ sinh trường Cao Tiểu Vĩnh Long mê anh như điếu đổ. Tôi còn nhớ có một anh bạn khác ở gần nhà của một ông đốc học trường làng. Hai nhà cách nhau một cái hàng rào thấp sơn xanh. Mỗi khi ngồi học bài ở áp cửa sổ căn buồng dành cho mình, anh bạn hiền lành của tôi có thể nhìn rõ khung cửa sổ của buồng cô con gái lớn của ông ta.

Anh học chăm lắm. Nhưng đời nào cô hàng xóm kiều diễm đang độ sen ngó đào tơ kia thèm ngó ngàng tới anh, dù anh cũng khá bảnh trai. Một hôm, không hiểu nghĩ sao, anh bạn tôi mua cây đàn guitare hawaienne và bộ móng sắt cùng quyển “Tự Học Hạ-Uy-Cầm”. Anh rị mọ mất nửa năm mới chơi bản “Moonlight in Honolulu” thật sành sỏi. Từ bản nhạc kia, anh tập đánh bản “Ngày Về” của Hoàng Giác cùng một lô bản khác. Vào đêm trăng sáng, anh thường chơi Hạ-uy-cầm. Lúc đầu khung cửa sổ bên kia chỉ lồng khuôn mặt cô trưởng nữ của ông đốc học. Thét rồi có thêm khuôn mặt cô gái thứ và cô gái út. Và những đêm sau, khung cửa sổ lồng thêm những khuôn mặt khác, tóc kết bím có, tóc kẹp sau gáy có, tóc xõa như tóc gái Huế có, tóc uốn quăn cũng có luôn! Ít lâu sau, bà đốc học dẫn cô trưởng nữ qua nhà anh bạn của tôi, chì chiết với mẹ anh sao đó nên anh phải cưới cô ta lúc đó ôm cái bầu được ba tháng. Tác giả cái bầu kia, tôi khỏi cần phải nói dông dài thì các bạn độc giả cũng có thể đoán ngay là chàng nghệ sĩ chơi bản “Moonlight in Honolulu” rồi.

Tôi cũng còn nhớ vào năm 1951, tôi có dịp đi An Hương thăm chú Chín tôi. An Hương chỉ cách châu thành tỉnh Vĩnh Long 15 cây số, nhưng lại lọt về vùng chiếm đóng của Việt Minh. Khi ngồi ở trong chiếc quán lợp lá tại làng An Hương, cách Vĩnh Long chừng 10 cây số chờ cho cơn mưa tạnh, tôi gặp một anh công tác thành hãy còn trẻ, còn có vẻ thị thành. Cả hai ngồi ở hai chiếc bàn trống, không nói không rằng gì với nhau. Bỗng anh hứng lên hát một vài bài hát của Lê Thương rồi bắt qua bài “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý. Tiếng anh thanh và ngọt lịm, dù anh không biết ngân nga, nhưng vẫn làm tôi ái mộ. Tôi đến bàn anh, gợi chuyện làm quen với anh. Năm 1955, tôi gặp anh làm việc cho một cơ quan Công Dân Vụ ở gần nhà tôi, tức là ở xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long. Anh cho biết anh bị “họ” buộc tội ưa hát nhạc lãng mạn của bọn “Việt gian ngoài thành” (sic) nên bị buộc làm tờ khai và viết tờ phản tỉnh. Rất nhiều phen, anh tìm cách trốn ra ngoài thành phố Vĩnh Long trước khi bị họ gom đến địa điểm lên tàu tập kết ra Bắc. Anh nghĩ rằng chỉ ở lại miền Nam, anh mới có thể nghe và hát những nhạc trữ tình mà anh thích.

Trong thời gian chiến tranh sắp kết liễu, nhạc tình cảm ủy mị càng lấn chiếm nhạc hùng. Chương trình nhạc yêu cầu của đài Pháp Á được giới mộ điệu ở Nam Kỳ Lục Tỉnh say mê. Họ yêu cầu ca sĩ X hát bản nhạc Y của nhạc sĩ Z để tặng bạn bè lẫn người bạn lòng của họ. Tên người yêu cầu lẫn tên người dược tặng nhạc được cô xướng ngôn viên đọc trên làn sóng điện. Sáng Chúa nhật nào, đài Pháp Á cũng trực tiếp truyền thanh chương trình tuyển lựa ca sĩ tại rạp Norodom (về sau đổi tên lại là rạp Thống Nhất) nằm trên Boulevard Norodom (về sau đổi lại là Đại lộ Thống Nhất). Cuộc tuyển lựa có phần phúc khảo, ba tháng sau là cuộc thi bán kết rồi chót hết là phần chung kết. Ai dẫu có hát gãy, hát hụt hơi, ai rủi lên cao thì tét xuống trầm thì nghẹt, nhưng nếu hát đúng nhịp và đừng bỏ cuộc nửa chừng thì được ban giám khảo tặng số điểm trung bình là 13 điểm. Đi xem tuyển lựa ca sĩ thật vui. Các cậu thanh niên rắn mắt và liếng khỉ thường đem cái tu-hít theo. Gặp thí sinh nào mà hát xệ quá là họ huýt sáo hoặc thổi tu-hít hoét hoét để chọc quê.

Dù sao chương trình tuyển lựa ca sĩ cũng đã tuyển chọn được anh chàng có vóc người nhỏ thó, có hàm răng vẩu, đôi mắt ti hí trên khuôn mặt nổi mụn như cái bánh tráng nướng. Anh ta có cái nghệ danh là Tùng Lâm. Sắc vóc anh thì phản phúc với tấm lòng hoài vọng của hai đấng sinh thành ra anh, nhưng giọng hát của anh mùi mẫn kinh khủng! Chỉ tiếc là nó sớm hư vữa cho nên anh phải làm hề chuyên môn cù lét khan thính giả trong các màn hài kịch. Về sau nghệ sĩ Tùng Lâm của chúng ta cùng với cô vợ Bạch Lan Thanh xinh như mộng  của anh có một chương trình tạp lục trên đài truyền thanh lẫn đài truyền hình. Anh được báo chí và khán giả âu yếm tặng cho anh cái hỗn danh: anh hề Tùm Lum.

Chương trình tuyển lựa ca sĩ của đài Pháp Á cũng đã chọn được cô Nguyễn thị Bạch có dáng dấp nữ sinh và cô Đào thị Ngọc Hà có đôi mắt nai vàng ngơ ngác. Hai cô trang điểm phấn son vụng về, không dám mạnh tay. Cả hai cũng không dám độn ngực và mặc “xú-cheng” mà chỉ mặc cái áo cánh rồi khoác chiếc áo dài bên ngoài. Nhưng khi được tuyển chọn ở phần chung kết, Nguyễn thị Bạch trở thành nữ ca sĩ Hoàng Yến, còn Đào thị Ngọc Hà trở thành nữ ca sĩ Bích Thủy. Từ đó họ bắt chước các ca sĩ đàn chị để trang điểm ăn mặc trước khi bước ra sân khấu.

Phạm Duy khởi nghiệp là một ca sĩ hát phụ diễn cho gánh cải lương Đức Huy. Đó là một gánh hạng B (loại trung ban). Anh sáng tác nhạc sau đó, nhưng nhạc anh lại vượt giọng hát anh quá xa trong tấm lòng ngưỡng mộ của giới sành điệu. Thét rồi thiên hạ chỉ yêu mến nhạc sĩ Phạm Duy mà quên phắt đi anh chàng ca sĩ Phạm Duy. Khi vào Sài Gòn lập nghiệp, Phạm Duy có hát thâu dĩa Việt Nam những bản như “Tiếng Đàn Tôi”, “Gánh Lúa” và “Tình Ca” (hai bản sau anh hát chung với Thái Thanh). Thật tình mà nói, giọng hát của anh lúc đó hơi rồ, âm sắc không có gì đặc biệt, không gợi một hình đẹp, một ấn tượng đẹp trong tâm tưởng khán thính giả. Buồn cười nhất ở bài “Gánh Lúa”, lúc cao hứng anh ngoáy mạnh hai chữ “kĩu kịt” trong câu “lão bà tóc trắng kĩu kịt quang gánh” làm thính giả phá ra cười. Cái mộng Phạm Duy là muốn vừa sáng tác nhạc vừa hát những bài hát của mình. Cái mộng của anh là trở thành một Georges Brassens Việt Nam. Ông Brassens sáng tác nhạc hay, đặt lời đẹp như những câu thơ. Ông ta hát những bài nhạc của ông và hốt bạc của bọn khán giả thời thượng của Pháp không phải là ít. Nhưng than ôi, giọng ông ta dở quá. Kẻ sành nhạc có nhận định nghiêm chỉnh và không có óc thời thượng thì thấy rằng ông Brassens quá tham lam, quá ích kỷ muốn cướp cơm chim của các ca sĩ rành nghề. Bọn trí thức Pháp nhất là bọn tả khuynh thì hầu hết là những kẻ thời thượng một cách bỉ ổi đáng ghét, ưa đánh bóng một cách vô trách nhiệm, một cách bừa bãi những giọng hát dở như những giọng của Geoges Brassens, của Jacques Brell và của Renaud. Đành rằng nhạc của họ hay, lời hát của họ đẹp. Nhưng giá những bài hát đó được diễn tả bằng những giọng đẹp của những ca sĩ lành nghề có phải điệu nghệ hơn không. Nữ ca sĩ có giọng hát chân truyền là Colette Renard có lần bảo rằng:

— Các ông nhạc sĩ có tài nên để bài hát mình cho ca sĩ chuyên nghiệp hát là phải hơn. Bây giờ tôi tự hỏi nếu ông Georges Brassens hoặc anh Phạm Duy đến trình diễn ở nước mà khán thính giả không biết tiếng Pháp và tiếng Việt. Như vậy, thính giả chỉ thưởng thức được ý nhạc, chứ làm sao thưởng thức được lời hát của cả hai.

Nhạc dẫu hay mà bị diễn tả bởi giọng dở thì khác nào phẩm tiên bị chuột vọc. Ông Brassens và anh Phạm Duy khi hát trước những khán thính giả ấy thì chẳng có cơ hội giới thiệu lời đẹp của nhạc phẩm họ, mà chỉ trình bày cái giọng thiếu căn bản nghệ thuật làm cho ý nhạc bị ô nhiễm một cách oan uổng mà thôi. Bởi đó, có lần ca sĩ Renaud qua bên Mạc-tư-khoa trình diễn, nhưng anh ta chỉ hát được vài bài là khán giả Nga bỏ ra về gần hết. Là dân Nga, họ làm sao thưởng thức được lời hát đẹp bằng tiếng Pháp của anh ta, mà chỉ bị giọng

hát dở của anh hiếp dâm lỗ tai họ mà thôi. Phạm Duy hồi cho giọng thâu dĩa nhựa thì hát hay hơn Georges Brassens nhiều. Nhưng đó là giọng tài tử của một nhạc sĩ thiên tài kiêm một thi sĩ lỗi lạc. Khi anh Phạm Duy chưa vào tuổi trung niên mà giọng anh đã có cái gì không ổn đối với thính giác người nghe rồi. Cho nên khi anh làm cuộc du ca, tôi tin chắc những người ái mộ anh vì nhạc của anh chứ không phải vì giọng ca của anh. Trong số nhạc sĩ chẳng những biết ca mà còn ca hay đã có Ngọc Bích (khi hát lấy biệt danh là Kim Ngọc), Phạm Đình Chương (khi ca hát lấy biệt danh là Hoài Bắc), Hoàng Giác, Trọng Khương, Mạnh Phát. Và tuy

các nhạc sĩ Tuấn Khanh (khi hát lấy tên Trần Ngọc), Nhật Bằng, Thu Hồ hát không hay, nhưng vẫn giữ được khuôn nếp, giữ được căn bản của một ca sĩ. Giọng Ngọc Bích và giọng Trọng Khương có âm sắc đẹp và quyến rũ gợi nên hình ảnh giòng sông êm đềm chảy dưới bầu trời nắng đẹp. Tiếng hát của họ khoẻ khoắn, trơn ngọt, dịu dàng; chuỗi ngân của họ thật đều đặn, khít khao và óng ả. Thanh Thoại, Nguyễn Hữu Thiết, Duy Khánh và Chế Linh ca hát trước, sáng tác nhạc sau. Giọng Thanh Thoại lu chìm và nhạt nhẽo, phần ngân nga khi có khi không. Nhạc phẩm của anh là “Chiều Quan Ai”, “Mấy Xuân Rồi” chỉ nổi tiếng một dạo rồi khuất lánh dần sau Hiệp định Genève.

Nguyễn Hữu Thiết cũng sọan nhiều nhạc nhưng bản mà thiên hạ nhớ hoài là “Màu Áo Thiên Thanh” vì được giọng hát đậm đà của Thái Thanh diễn tả. Duy Khánh nổi tiếng ở các bản “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê”, “Ai Ra xứ Huế”, còn Chế Linh khi sáng tác nhạc thì lấy biệt hiệu là Tú Nhi. Tôi sẽ nói tới giọng hát của Duy Khánh và Chế Linh ở những chương sau, tức là ở phần ca nhạc vào thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa.

Về sau có khá nhiều ngưòi vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ như Từ Công Phụng, Trịnh Công Sơn, Vũ Đức Sao Biển, Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Lê Uyên Phương, Ngô Mạnh Thu … Đó là những nhạc sĩ du ca. Hát đạt chỉ tiêu nghệ thuật có Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng và Miên Đức Thắng.

Trong những du ca mà tôi vừa nêu lên đây, có lẽ nhạc của Lê Uyên Phương hay nhất, sau mới tới Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Miên Đức Thắng, Vũ Đức Sao Biển, Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu. Ngoài ra có rất nhiều du ca sáng tác nhạc xoàng, lời xoàng, đã vậy giọng hát họ nhạt nhẽo cho nên kẻ có ác mồm gọi đó là “phong trào da cu” (nói lái tiếng”du ca”).

Trong làng ca nhạc còn có hiện tượng thần đồng ca nhạc. Năm 1950, đài Pháp Á có Thần đồng Yến Tuyết ca hát thật nghề. Sau đó là các thần đồng Huỳnh Mai, Kim Ánh, Lê Phi, Lê Út, Xuân Mai, Quốc Thắng. Cả năm thần đồng nầy đều có giọng tốt, nhưng không biết ngân nga. Lê Phi, Lê Út, Xuân Mai và Quốc Thắng được mời hát ở các chương trình phụ diễn tân nhạc. Sáng chói nhất là Quốc Thắng vì đương sự khi bước ra sân khấu là đem lại cái hào quang rạng rỡ ở nhân dáng và cách diễn tả bài hát rất sinh động. Riêng Lê Phi được mời thâu giọng cho dĩa Asia qua ca khúc “Tiếng Hát Dân Chàm” của Châu Kỳ. Nhưng ca hát điệu nghệ nhất là hai anh em Anh Minh và Đoan Trang (con của Minh Trang), hai chị em Bích Chiêu và Tuấn Ngọc (con của Lữ Liên), hai chị em Mai Hương và Bạch Tuyết (con của cặp Kiều Hạnh và Phạm Đình Sĩ).

Lại có thêm Bạch Yến và Mai Hân. Những cô cậu ca sĩ tí hon nầy hát như người lớn, biết ngân nga rựa ràng lắm. Mai Hương mà hát “Bà Mẹ Nuôi” (tức là “Bà Mẹ Gio Linh”) của Phạm Duy thì giọng hát giống giọng Thái Thanh 80% làm mủi lòng biết bao khán giả. Còn hai anh em Anh Minh và Đoan Trang cùng song ca “Dưới Nắng Hồng” của Dương Thiệu Tước thật điệu nghệ tuyệt vời. Những ca sĩ tí hon kia khi lớn lên còn đeo đuổi nghiệp cầm ca phải kể: Mai Hương, Đoan Trang (tức là nữ ca sĩ Quỳnh Giao về sau), Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Mai Hân, Bạch Yến. Trong cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, vào năm 1951, trong làng ca nhạc tại Sài Gòn có xảy ra một biến cố khá quan trọng: Đó là Quái Kiệt Trần văn Trạch cùng hai nhạc sĩ Lê Thương và Phạm Duy bị bắt giam tại bót Catinat. Cả ba phải bị “nằm ấp” 120 ngày mới được phóng thích. Lý do? Theo lời Phạm Duy trong quyển Hồi ký III thì:

Một nhóm ca nhạc sĩ mà tôi chẳng cần phải nêu tên ra đây, ghen tị tài nghệ đã đành, lại có ý tranh thương trước sự kiện chúng tôi quá thành công trong một ngành nghệ thuật đã trở thành thương phẩm hay thương vụ. Trước khi trở thành ca nhạc sĩ, trong khi mọi người đi kháng chiến, họ là những thanh niên ở trong thành và cộng tác với Pháp, nói thẳng ra là làm mật thám cho Phòng Nhì (Deuxième Bureau). Chính phủ (gọi là quốc gia) được thành lập thì mấy người nầy được chuyển qua làm việc trong Sở Công An Nam Phần, lúc đó nằm trong tay Mai Hữu Xuân, Trần Bá Thành. Các ca nhạc sĩ làm nghề Công An không được Đài phát thanh và hãng dĩa hát mời hát nhiều. Nếu họ đứng ra tổ chức Đại Nhạc Hội, đụng độ với chúng tôi, buổi diễn của họ sẽ vắng khách. Muốn triệt hạ chúng tôi, không khó gì cả, những ca sĩ kiêm công chức công an nầy bèn vu ngay cho chúng tôi là Việt Minh nằm vùng! Thế là vào một ngày cuối năm 1951, Lê Thương, Trần văn Trạch và tôi được cảnh sát công an tới nhà, còng tay, đưa lên xe cây bít bùng về khám Catinat. … Chúng tôi bị giam tại cái khám nổi tiếng ác liệt nầy trong 120 ngày. Từ ngày bị bắt cho tới ngày được thả, đối với ba anh chàng nghệ sĩ, không có bản án ghi tội danh và một buổi hỏi cung nào cả.

Vào năm 1953, ban Thăng Long phối hợp cùng Võ Đức Thu, Trần văn Trạch và vũ bộ Mỹ An thành lập ban Gió Nam đi lưu diễn ở Huế, Hà Nội, Hải Phòng, tới đâu cũng được ủng hộ nhiệt liệt, nhất là ở Hà Nội. Ban Gió Nam trụ diễn ở Hà Nội một tháng. Võ Đức Thu có dịp trình tấu dương cầm hai bản “An Phú Đông” và “Một Ngày Đã Qua” của mình. Hai bài nầy tuy có lời hướng về phe kháng chiến, nhưng nhạc lại tha thiết. Bài “Một Ngày Đã Qua” đã từng được Hải Minh (Trần văn Khê) hát trong dĩa nhựa Asia như sau:

Bao ngày qua

Mà lòng ta luống xót xa

Biết bao chiến sĩ phương xa

Liều máu xương vì nước non nhà.

‘Tuổi già, hạt lệ… ‘

hung-viet.org

Huy Phương

24 Tháng Ba 2014

Post by Sơn râu 24 Dec 2025

Bạch Cư Dị sinh năm 772, khi bị giáng chức đày đi làm chức tư mã Giang Châu mới 43 tuổi (năm 815.) Tuổi này cũng còn coi là trẻ, tình cảm tràn đầy, lòng còn xúc động, nên một đêm “vầng trăng trong vắt dòng sông,” khi nghe người kỹ nữ bên sông kể lể thân thế, liên tưởng đến cuộc đời mình, mà tuôn hai dòng lệ:

“Lệ ai chan chứa hơn người,

Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh!” (*)

 Trái lại Nguyễn Khuyến, khi làm bài thơ “Khóc Bạn” là Dương Khuê mất, ông đã 67 tuổi, tuổi cho là đã già, nên thương bạn mà không còn nước mắt để khóc nữa:

“Tuổi già, hạt lệ như sương,

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”

Trong khoa học, chỉ nghe nói đến một vài bệnh làm tắc hay khô tuyến lệ, mà không nghe nói chuyện nước mắt cạn dần theo tuổi tác, thời gian. Kinh nghiệm, chúng ta thấy trong đời sống con người, tuổi già rất dễ xúc động, dễ vui, dễ buồn, dễ giận dỗi mà cũng mau nước mắt hơn là tuổi trẻ. Phải chăng câu nói “một ông già bằng ba đứa trẻ” là để nói đến tình cảm vui buồn hay ngây thơ, chân chất hơn là nói đến các điều kiện sinh lý của hai lứa tuổi.

Chúng ta đã thấy tuổi già rơi lệ theo một tiếng đàn bầu, một đoạn dân ca hay ngậm ngùi vì những hoài niệm về dĩ vãng hay là câu chuyện hôm nay của đất nước mà có lẽ chúng ta không tìm thấy nơi tuổi thanh xuân.

Về già tôi thấy tâm hồn mình yếu đuối, dễ buồn vui, xúc động hơn là thời trẻ tuổi. Gần đây thôi, tôi có sửa soạn cho một cuộc phỏng vấn truyền hình về cuộc lui binh tan nát của Lữ Đoàn 147 TQLC trên bờ biển An Dương-Thuận An trong những ngày cuối Tháng Ba, 1975. Khi lắng nghe người lính già bên kia đường dây kể lại chuyện, toàn cảnh trên bờ cát, ngày ấy, chỉ có một số nhỏ anh em, thương binh may mắn được lên tàu, còn đoàn quân chết “cạn” trên ba ngày đêm đói khát, không bóng một con tàu, không bóng một chiếc trực thăng, không một tiếng điện đàm trong máy truyền tin, để cuối cùng những người lính “sống can trường, mà có hồi kết cuộc oan khuất,” đã bị chết vì đạn pháo, đã tự sát, bị xử tử hay cuối cùng bị bắt làm tù binh, nước mắt tôi bỗng trào ra, nghẹn ngào vì thương cảm, xót xa. Ngày ấy tôi đang ở Sài Gòn, một nơi xa mặt trận, dù cũng mang màu áo trận, nhưng là một người lính ở hậu phương, có nghe, có biết nhưng không có nỗi xúc động, đau đớn như hôm nay.

Phải là con người vô cảm lắm, mới đọc chuyện nước, nghe chuyện nhà mà không biết tức giận, đau đớn hay buồn phiền. Ở tuổi già, sống xa quê hương, gặp nhau có trăm nghìn chuyện nói, nhưng không lẽ đem chuyện con cháu thành đạt, chuyện ăn chơi, chuyện nhà của người khác ra bàn luận. Bây giờ trong mỗi bản tin, mỗi hình ảnh ở quê nhà như mang theo nỗi xót xa, đau đớn của những kiếp sống cùng cực tưởng chừng như không bao giờ có thể hiện diện trên thế gian này. Thế mà đó là những sự thật đang xảy ra trên đất nước của chúng ta.

Đã nhiều lần chúng ta thương cho số phận của con em, đồng bào chúng ta, những cô gái Việt Nam, đã phải tìm con đường sống duy nhất là đi lấy chồng ngoại nhân vì sự đói nghèo. Câu chuyện dài này đến bây giờ vẫn còn tiếp diễn, không có đoạn kết, nghe rồi thấy bình thường nhàm chán, không ai còn để ý đến nữa. Phụ nữ Việt Nam ngày hôm nay nổi tiếng vì đã có mặt trên khắp chốn đèn đỏ, thanh lâu hay đứng đường ở khắp nơi trên thế giới. Ở Indonesia, ở Malaysia, ở Singapore, ở Cambodia… chúng ta còn có thể hiểu nổi, tưởng tượng ra được vì đó là những nước lân bang trong vùng Châu Á, nhưng quả thật ngày hôm nay, bản tin về những cô gái Việt Nam của chúng ta lưu lạc sang tận xứ Ghana của Châu Phi để làm gái mại dâm, thì quả không có gì để xót xa hơn nữa!

Thiếu nữ Việt được cảnh sát Cambodia giải cứu khỏi một nhà chứa ở Phnom Penh. (Hình: Gary Way/AFP/Getty Images)

Một bản tin của công an Việt Nam nói chuyện họ đã bắt một “em bé” 14 tuổi bán dâm, trong khi em đang mang một bào thai 4 tháng, phải chăng đó là một chuyện không có gì đặc biệt, nghe qua rồi bỏ!

Ở trong nước, bây giờ không những mại dâm tràn lan trên mọi thành phố, quận huyện, “trên từng cây số,” mà đàn bà trong nước hành nghề này ở cả những cánh đồng gặt lúa. Xưa thời Pháp thuộc có người làm nghề mại dâm, nhưng ở một chỗ riêng biệt, cho một giới nào đó thôi chứ không “tràn đồng” như hiện nay. Mùa gặt, các cô gái ngủ qua đêm với thợ gặt trên đồng, có người bán thân cho nhân viên kiểm soát dịch gia cầm để lơ cho đàn vịt của mình. Trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư không có câu nào chống cộng, chống đảng cộng sản, nhưng khi đọc xong, tôi thấy lòng mình xót xa, rát bỏng về nỗi nhục mà người phụ nữ trong nước đang gánh chịu.

Rồi thế hệ hôm nay, những đứa trẻ tương lai của đất nước, đến trường bằng lối đu dây vượt sông, hay ngồi trong những bọc ni lông lớn để nhờ người mang qua bờ bên kia. Những hình ảnh này tưởng như chỉ có trong những vùng đất lạc hậu, đói nghèo thời man rợ. Nhưng không, đó là thời của Dương Chí Dũng hối lộ Bộ Công An con số nửa triệu đô la, thời mà Bùi Tiến Dũng, tổng giám đốc PMU-18, nhân vật đã dùng khoảng $7 triệu để cá độ bóng đá, Nguyễn Tấn Dũng xây nhà thờ họ tốn hàng triệu đô la. Đó là nơi mà một đất nước dân đen nghèo tả tơi, nhưng có hàng trăm tỉ phú và một giai cấp giàu có nhờ thời thế và chế độ mới nổi lên.

Nguyễn Khuyến cho rằng tuổi già nước mắt đã khô không còn khóc được nữa, nhưng sao trong đời thường hôm nay, vẫn còn những người già mau nước mắt? Có khi nào, giữa đêm khuya chúng ta thức giấc, bỗng nghĩ đến một chuyện ban ngày, một bản tin ở quê nhà vừa đọc được mà trăn trở khó dỗ lại giấc ngủ bình an?

Những bộ phim sướt mướt, éo le của Nam Hàn, Đài Loan, và bây giờ cả của Thái Lan đã lấy đi những người trong gia đình chúng ta bao nhiêu dòng nước mắt thương vay khóc mướn, sụt sùi theo những nhân vật hư cấu của những loại phim “mì ăn liền,” trong khi đó, chúng ta vẫn vô cảm, thờ ơ với những chuyện đang xẩy ra ở quê nhà, những chuyện có thật, của đồng bào, con em chúng ta.

Trong cuộc họp báo tại CLB Báo Chí Mỹ Tháng Tư, 2004, bà Tôn Nữ thị Ninh đã cho người biểu tình hay dân oan là những đứa con, cháu trong gia đình hỗn láo, bướng bỉnh cần cho roi vọt, nhưng nếu chính phủ là cha mẹ, thì loại cha mẹ bây giờ là thứ cha mẹ bất nhân, chúng ở nhà cao cửa rộng, ăn ngon mặc đẹp, nhưng để con gái mình đi làm gái mại dâm tứ xứ, mà vẫn nhởn nhơ, không biết xấu hổ.

Người xưa đã nói bất bình nhỏ thì dùng rượu để giải sầu, bất bình lớn phải dùng đến gươm. Đối với tuổi già, khi kiếm đã cùn, tóc đã bạc, không còn cầm được kiếm để giải quyết bất bình, cũng không thể uống rượu để nỗi sầu tiêu tan, mà phải dùng đến loại vũ khí đàn bà là nước mắt, chỉ đành ứa lệ, nuốt ngược nỗi buồn vào lòng.

Người ta thường chê người không biết cười, nhưng ít ai trách người không biết khóc. Khóc là bất lực, là tiêu cực nhưng nước mắt cũng làm nhẹ được nỗi đau của mình, vì đã nghĩ đến nỗi đau của người khác.

Huy Phương

(*) (Bạch Cư Dị – Phan Huy Vịnh dịch)

Là người Việt Nam!

hung-viet.org

Huy Phương

12 Tháng Mười 2015

Post by Sơn râu 24 Dec 2025

Cách đây khoảng 10 năm, sau một chuyến đi xa, trên đường trở lại California, vợ chồng chúng tôi và hai người bạn đang ngồi chờ đổi máy bay tại phi trường Atlanta, thì bất chợt một ông Việt Nam trung niên, áo vest, thắt cà vạt, tiến về phía ghế ngồi của chúng tôi. Một cách mừng rỡ và vội vã, không kể người trước mặt mình là đàn ông hay đàn bà, quen hay lạ, y thọc tay về phía chúng tôi: – “Các bác là người Việt Nam!” Không đợi câu trả lời, quơ được bàn tay của chúng tôi đưa ra một cách phản xạ, y lắc đấy lắc để.

Phải nói là chúng tôi phản ứng quá chậm hay gần như không có phản ứng gì.

Cho đến lúc người đàn ông lạ mặt này thấy không mấy phấn khởi với cuộc làm quen này, quay lưng đi, chúng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, lặng lẽ và ngao ngán không nói một câu gì. Phải, chúng tôi là người Việt Nam, nhưng cuộc gặp gỡ với một người Việt Nam kỳ này không đem lại điều gì hứng thú cho chúng tôi, qua ngôn ngữ và cách xử thế, chúng tôi thấy có một khoảng cách khá lớn, và cũng là người Việt Nam, nhưng tôi cảm thấy y không giống tôi, ngoài một thứ ngôn ngữ đã khá dị ứng, con người này như đến từ một xứ sở nào khác.

Như thế, ít ra tôi cũng đã hiểu vì sao một người Tàu ở Hồng Kông trước năm 1999 chỉ nhận họ là người Hồng Kông, hay sau 1949, những người Tàu ở Đài Loan, cho rằng mình là người Đài Loan (“Trung Hoa Dân Quốc” hay “Trung Hoa Đài Bắc”) để khỏi nhầm với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Hoa lục địa hay Cộng Sản Trung Hoa). Hẳn không một người Nam Hàn nào thích hiểu lầm họ là người Bắc Hàn (được Việt Nam gọi là Triều Tiên) và trước đây giữa người Đông và người Tây Đức mặc dầu nguồn gốc của họ là người Đức. Người ta không thể phủ nhận nguồn gốc của mình nhưng có thể phủ nhận chính thể đương thời và lựa chọn quốc tịch cho mình.

Chỉ có hai tiếng Bắc Kỳ thôi, và chỉ trong vòng 30 năm, người Việt Nam cũng đã chọn chỗ đứng rõ ràng khi phân biệt ai là Bắc Kỳ cũ, Bắc Kỳ mới, ai là Bắc Kỳ “chín nút” (54), ai là Bắc Kỳ 75! Nếu trong câu chuyện nói, còn có chút gì kỳ thị, thì chúng ta cũng không nên trách, đây không phải là chuyện đoàn kết dân tộc, mà là chuyện văn hóa và chính kiến, nó phát xuất từ những khổ đau và bất hạnh mà con người ta phải gánh chịu, qua những thăng trầm của lịch sử.

Tôi là người Việt Nam, và những ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường hãnh diện mình là người Việt Nam, với “bốn nghìn năm văn hiến,” “con Rồng cháu Tiên,” lớn lên trong thời loạn lạc, người chẳng ra người, ta lại được hãnh diện thêm vì quê hương mình “rừng vàng biển bạc,” thủ đô “là đỉnh cao trí tuệ của loài người,” “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ!” “mỗi buổi sáng thức dậy ước mơ mình trở thành một người Việt Nam,” “Việt Nam dân chủ gấp vạn lần các nước Tây phương,” “vị thế Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế!” thì không còn gì để có thể hãnh diện hơn được nữa!

Gom tất cả tinh hoa của người Việt trên thế giới để làm những tác phẩm vĩ đại để ca tụng con người Việt Nam là điều không khó, vì những khuôn mặt thành đạt vẻ vang này ở nước ngoài, sau ngày phải bỏ nước ra đi, chúng ta không chỉ có hàng chục nhân vật đủ làm một tác phẩm mà con số này có thể lên đến hàng trăm, hàng nghìn người. Nhưng nếu tập họp họ lại, xếp hàng ngay ngắn như trong một cuộc “diễu hành,” có một mỹ nhân mặc quốc phục dẫn đầu cầm một tấm bảng lớn mang dòng chữ “Tôi là người Việt Nam” thì điều này quả còn quá nhiều gượng ép.

Đồng ý nguồn gốc họ đều là những người Việt Nam, có người bỏ nước ra đi từ ngày chủ thuyết Cộng Sản đến Việt Nam, nhưng cũng có người sinh ra ở nước ngoài, mỗi người có một cuộc đời, hoàn cảnh, tình cảm và chính kiến khác nhau. Nếu có ai hỏi họ: – “Ông bà là người Việt Nam?” thì câu trả lời sẽ là: – “Phải, tôi là người Việt Nam! Nhưng đó là câu chuyện cách đây 40 năm. Đó là một câu chuyện dài!”

Trong chúng ta, ai cũng có một câu chuyện dài phải được kể lại, hay bây giờ mới được kể lại!

Những nhà tuyên truyền thường nhắc đến tình tự dân tộc, biểu tượng từ một tiếng đàn bầu, một tiếng hò trên sóng nước để gợi cho con người nhớ đến quê hương. Người ta lập lại mãi câu nói “quê hương chỉ một” hay anh em đi xa là “khúc ruột ngàn dặm” và không ngừng kêu gọi một sự trở về tha thiết, – “Nếu đi hết biển thì đến đâu hở mẹ!”- “Đi hết biển thì sẽ trở về làng cũ!” Vì sao con chim phải bay trở lại cái lồng đã giam hãm nó, có khi là cái thòng lọng hay cái cũi nhốt của một con vật. Đó là con người của tự do, có ý thức, không phải chiếc xe lửa chạy lui tới trên đường ray.

Có người đem chuyện người Việt lưu lạc của Kiến Bình Vương Lý Long Tường (1136-1175) là con thứ sáu của vua Lý Anh Tông, đã cùng họ hàng vượt biển Bắc vào đầu thế kỷ thứ 13 vì bị phe cánh Trần Thủ Độ hãm hại, sau đó trôi giạt đến Cao Ly, để nói chuyện người Việt trở về tìm lại nguồn cội. Xin quý vị yên tâm đi, không cần phải nói chuyện đạo lý, nhân nghĩa, Cộng Sản thôn tính miền Nam mới nửa thế kỷ, dòng dõi Lý Long Tường bỏ nguồn cội đã bảy tám thế kỷ này. Thời gian hãy còn quá sớm để cho những người Việt lưu lạc tha phương trở về.

Hình ảnh tìm về cội nguồn hẳn là đã được ca ngợi rất nhiều.

Truyền thống dân gian cho rằng loài cá hồi trở về đúng nơi chúng được sinh ra để đẻ trứng, nhưng cuộc nghiên cứu đã cho thấy hành động quay lại nơi ra đời này đã được thể hiện phụ thuộc vào ký ức khứu giác và thói quen, hẳn không hề có ý nghĩa về cội nguồn. Và trong một câu chuyện khác, hàng năm vào mùa Xuân, những đàn én từ phương Nam đã bay trở về nhà nguyện San Juan Capistrano (California) và về phía Nam Mỹ là để trốn mùa Đông giá rét. Đến mùa nắng ấm, chúng lại bỏ gác chuông nhà thờ để ra đi, không hề có có ý niệm trở về hay qui cố hương.

Nếu câu hỏi đặt cho một người và câu trả lời dành cho một người, nó mang một ý nghĩa khác, nhưng khi chúng ta tập trung họ lại, cố tình hướng dẫn họ thành một đám đông và mở đường, sắp xếp cho họ có chung một câu trả lời theo dụng ý của những nhà đạo diễn, tôi cho đây là điều thiếu đạo lý.

Vả lại, điều dễ thấy rõ, hàng chục người vừa tuyên bố mình là người Việt Nam ở đây đều nằm trong 3 triệu người, bỏ nước ra đi, bằng lý do này hay lý do khác; họ không có nổi một tờ giấy tùy thân hay một “sổ đăng ký hộ khẩu thường trú” của chế độ đương thời, vậy thì họ là ai, người Việt nhưng người Việt nào? Câu trả lời gần như được xếp chung một loại “thấy sang bắt quàng làm họ!” Quơ vào những cái quả thực không phải của mình. Mục đích của người làm phim đã quá rõ ràng. Chẳng qua là khán giả của loại chương trình này quá dễ dãi, họ dễ chấp nhận một cái vui nhỏ, một cái cười cợt dính ngoài môi, để quên đi những điều cốt lõi mà họ đang được mời tham dự, mà nội dung đã được tính toán, có dụng ý chính trị, của ông chủ chi tiền.

Phải chăng trong không khí rộn ràng của màu sắc, âm nhạc, da thịt, phấn son, ít ra trong một thời gian ngắn người ta quên được những khuôn mặt Việt Nam cần phải được cởi áo che tại Nhật, hàng nghìn khuôn mặt phụ nữ khổ đau xấu hổ không dám nhìn ai trên quê hương nhầy nhụa hôm nay.

Rõ ràng là chế độ tham lam, ham muốn chạy theo những thành công nhất thời của mỗi con người không phải trong xã hội của mình để áp đặt hai chữ Việt Nam, mà không chịu xây dựng được một con người tử tế ngay trong xã hội của mình.

Ông Lê Kiên Thành. (Hình: VTC News)

Chúng ta hãy nghe phát biểu của ông Lê Kiên Thành, con trai ông Lê Duẫn, cố bí thư thứ nhất đảng CSVN, trên vietnam.net trong vài ngày gần đây: “…tôi cứ băn khoăn mãi. Hôm trước mở báo ra tôi cứ bị ám ảnh hình ảnh hai ông già đi ăn trộm gà bị bắt, bị đánh hộc máu mồm ra, rồi bắt ngậm con gà chết. Tôi cứ bàng hoàng, tự hỏi: ‘Chẳng lẽ đây là người Việt Nam chúng ta?’”

Huy Phương

Nguồn Người Việt

Ông Vua Quét Đường

Hoàng Mai Đạt

Tựa của bài viết này đến với tôi gần ba năm trước, đến rồi ở lại, ở luôn trong đầu, nhẩn nha, đùa giỡn, không chịu rời đi nơi khác, lại còn thách tôi hãy nặn óc để viết một bài tạp ghi với cái tựa “trên trời rơi xuống” như vậy. Thỉnh thoảng một vài hình ảnh, ý tưởng, hoặc một câu nói nào đó bất chợt khởi lên trong lúc tôi đang lái xe, cắt cỏ, ăn cơm, rửa chén, tỉa cây, hay đang nài lưng viết tin để kiếm sống, khiến tôi đuổi theo tâm tưởng ấy như muốn nhìn ngắm một cánh bướm lạ vừa bất chợt ghé ở sân sau trên một hành trình muôn dặm.

Vợ tôi đã quen với lối suy nghĩ lan man của chồng, tật nói chưa hết câu bỗng quay sang ý khác, có khi ngồi im lặng như không biết có người khác đang ở chung phòng. Đối với dăm ba người bạn còn sót lại ở cái tuổi mà tôi đang dấn bước độc hành xa hơn trong miền rừng núi của nội tâm, và không chừng đã đi lạc, tôi e họ thấy tôi sao bất lịch sự hoặc có tâm lý bất thường. Nên cho hắn uống vài viên thuốc an thần, chứ mấy chai bia chắc chắn không đủ để giữ chân hắn ở nhà, không chừng hắn lại lang thang dưới phố Bolsa vung tay nói lẩm bẩm một mình như một ông điên. Phố Bolsa đã có nhiều ông, và bà, như vậy. Thêm tôi không chắc mấy ai biết.

Hầu hết những tâm tưởng rơi vào đầu thường biến mất sau một thời gian ngắn, có khi nhanh trong tích tắc khiến tôi không kịp viết xuống để đưa vào một bài viết, và nếu có vương vấn thì cũng dài lắm là một hoặc hai ngày. Sau đó tôi quên phứt, ráng nhớ lại cũng không thể nào tìm ra, khó như kiếm một chiếc lá trong muôn vàn chiếc lá từng bay ngang khung trời viễn mộng. Vậy mà “Ông Vua Quét Đường” đã ở lại với tôi quá lâu, ở lì như một món nợ từ kiếp nào, thúc bách tôi phải quan sát, nhìn ngắm nó trong một thế giới tưởng thầm lặng mà luôn dồn dập với những cơn bão của xúc cảm biến hóa thành những đám mây đen bất tận. Mỗi lần trở về từ cõi sóng gió,  tôi liếc thấy “Ông Vua Quét Đường” vẫn bám sát ở đằng sau lưng như muốn theo dõi tôi ở một góc phố trong đêm khuya vắng. Dù được thương hay ghét, “nó” cũng đeo sát tôi.

Mà phải chi cái tựa này đẹp như một cô gái xinh xắn thì nó muốn ở với tôi bao lâu cũng được, có sao đâu, tôi còn yêu đời và yêu… người mà. Đằng này nó như một gã vô gia cư hôi hám, từ đâu leo vào tâm trí tôi và dựng lên một cái chòi để ở tạm mấy… trăm đêm. Nói nó xấu xí thì cũng quá đáng, gây thêm tội không chừng. Thật tình, vì không xóa tan được nó trong đầu, nghĩ hoài không ra một vài biết với cái tựa đề từ trên trời rơi xuống ấy, nên tôi đâm ra bực mình, quạu quọ, gắn cho nó một hình thù không được đẹp. Tôi loay hoay mà không biết cách nào để “đuổi” nó đi nơi khác.

Nó “nhảy” vào đầu tôi trong một buổi chiều mùa đông trên đường lái xe từ tòa soạn về nhà. Công việc hôm ấy cũng gây mệt óc như mọi ngày, nên tôi mở nhạc ngay sau khi nổ máy xe và chờ nghe một nhạc khúc nào đó trên đoạn đường về nhà từ phố Bolsa. Hầu như lúc nào cũng vậy, nghe nhạc giúp cho tâm tư tôi được nhẹ hơn, vơi bớt những ưu phiền chồng chất từng ngày. Có khi nghe nhạc giúp trí tưởng tượng của tôi được tung bay trên bầu trời xanh vô tận, như những cánh chim vừa được phóng thích bay lao xao ở một sân chùa.

Chiều hôm ấy tôi vặn trúng một đài nhạc trẻ nào đó mà tôi không nhớ làn sóng. Một ca khúc trỗi lên với nhịp điệu hùng mạnh mà lời hát lại nghe như than trách bi ai. Ở Mỹ mấy chục năm mà khả năng nghe nhạc tiếng Anh của tôi vẫn kém lắm, không hiểu hết ý nhạc muốn nói lên điều gì, chuyên chở một thông điệp nào chăng. Nhưng mà tôi cảm được giọng hát xót xa của một nam ca sĩ, và nhớ hoài đoạn đầu của bài hát thời thượng mà sau này tôi được biết là bài “Viva La Vida” của nhóm Coldplay. Đoạn mở đầu của ca khúc ấy có mấy dòng mà tôi tạm dịch như sau:

Ta từng thống trị thế gian
Đại dương phải dậy sóng khi ta ban lệnh
Giờ đây mỗi buổi sáng ta nằm ngủ một mình
Quét những con đường mà ta từng làm chủ.

Lời nhạc dẫn dắt trí tưởng tượng của tôi “tung bay” lên cao, dáo dác tìm phương hướng ở trên cao, xong cúi xuống và chợt nhìn thấy một ông vua đang lầm lũi cầm chổi quét đường vào một buổi sáng tinh sương. Ông vua này có vẻ buồn bã trước cảnh đổi đời ở một thời nào đó. Tay quét rác mà mắt thẫn thờ nhìn lại sau lưng. Hình ảnh ấy bám riết ở trong đầu, khiến tôi quyết định phải viết một bài với cái tựa “Ông Vua Quét Đường” như để trả nợ cho được yên thân.

Thế nhưng muốn viết cũng đâu phải dễ. Tôi thường mở một bài viết dựa trên một ý tưởng mông lung, xong để ngòi bút (hay đúng hơn là phiếm đánh chữ) bay nhảy tùy hứng trên những cành lá đến một phương trời mà lúc khởi đầu tôi không hề biết. Khi đặt dấu chấm ở cuối bài, tôi mới quay về điểm khởi hành, suy ngẫm tìm một cái tựa “hay hay” cho bài viết. Lần này thì ngược lại, tôi đã có sẵn một cái tựa mà không biết phải “sáng tác” như thế nào để có một nội dung phù hợp với cái tựa ấy. Khó như có sẵn một bộ áo để mặc mà không biết phải bóp thắt cơ thể mập ù, đầy rẫy những lớp mỡ như thế nào để lọt vừa bộ áo đó.

Thế rồi tôi khất lần từ ngày này sang ngày khác, tuần nọ qua tuần kia, chờ đợi một ngày thật sự thảnh thơi cả thể xác lẫn trí óc để có thể ngồi vào bàn viết. Lười như vậy nên tôi bị mấy bạn văn chê như thể khuyến khích, mà không chừng là chê thật, rằng tôi viết thưa thớt, không đều tay, sáng tác yếu quá, biết đến bao giờ mới có một tác phẩm mới cho bà con đọc giải trí giữa giờ làm việc, hoặc trong phòng vệ sinh. Bài viết của tôi thường rất ngắn, bạn có thể đọc hết trong vòng mười-lăm phút xong trở vào để đấu đá tiếp với chủ hoặc đồng nghiệp. Họ trách cũng phải. Nhưng viết siêng hơn thì tôi không làm nổi, vì những giới hạn mà tôi chưa thoát ra được. Chuyện cơm áo, trách nhiệm đối với những người thân, sức khỏe không còn sung mãn như hai mươi năm trước, lúc nào cũng dường như thiếu ngủ. Biết vậy nhưng tôi vẫn thiết tha với viết lách như thể nhận ra đó là ngọn nến duy nhất mà tôi có thể thắp lên để soi đường tìm lối trong một miền rừng tăm tối đầy những cám dỗ của dục vọng.

Ý tưởng “Ông Vua Quét Đường” đến đúng lúc tôi đang xoay sở trong một giai đoạn chuyển tiếp giữa hai công việc, không thể dành thời giờ để rong chơi với ý tưởng đó và giúp nó thành hình trên những trang giấy. Khi ấy tôi vừa rời bỏ những thói quen cũ ở đài Little Saigon Radio, đang tập những thói quen mới ở nhật báo Người Việt. Thời buổi này người ta “được” hoặc “bị” đổi việc xảy ra thường như cơm bữa, trường hợp của tôi cũng không khác hàng triệu công nhân xưởng điện tử, nhân viên các ngân hàng, những cô làm móng tay, mấy anh bán xe. Tuy không kinh khủng như cuộc đổi đời sau năm 1975 của người tị nạn Việt Nam trên xứ Mỹ, tôi cũng bận tâm không ít về sự thay đổi trong công việc hàng ngày cũng như sự điều chỉnh tâm trạng thích ứng của chính mình.

Chuyện viết báo xem ra là chuyện dễ thích ứng nhất, từ viết tin cho người ta nghe trên làn sóng phát thanh chuyển qua viết tin cho người ta đọc trên trang giấy. Kỹ thuật viết có khác, như sửa xe du lịch khác với sửa xe vận tải, nhưng rồi đâu cũng vào đó, cũng cầm mấy cái cây mỏ lết để vặn mấy con ốc, siết cho câu văn được ngắn gọn, khòm lưng cong như chữ C chúi vào đầu máy, lúi húi đọc mấy bản tin ngày tám tiếng rồi cũng xong việc, mỗi tháng hai lần cầm tiền lương trao cho vợ với niềm hãnh diện của một người lao động lương thiện.

Có điều làm việc ở các cơ sở truyền thông mang đến cho tôi một cái nhãn hiệu mà tôi không thoải mái cho lắm mỗi khi nghe người khác giới thiệu về mình: nhà báo. Tôi chỉ là một “thợ viết,” sang lắm là “người viết,” chứ “nhà báo” thì hách quá, tôi không dám nhận. Khi nào có anh thợ sửa xe được gọi là “nhà sửa xe” thì tôi sẽ nhận cái mác “nhà báo” để đeo trên cổ áo như người ta đeo lon trong quân đội. Tôi viết tin, không muốn chen chân vào một chiến địa tuy không có tử thi mà vẫn tanh mùi máu của sự chém giết bằng ngòi bút, đầy rẫy những thây người chết đi sống lại trong một cuộc xô xát triền miên của sân hận.

Nãy giờ viết lãng sang chuyện khác, một phần cũng để chia sẻ nỗi niềm của một người viết tầm thường như tôi bị lưu đày giữa chợ viết lách. Tôi vốn có bản chất thích sống thầm lặng, tránh nơi ồn ào, ngay cả tiệc tùng của bạn bè tôi cũng né nếu né được. Bản chất này nẩy nở trong tôi có lẽ xuất phát từ thời niên thiếu lớn lên giữa chợ ở Nha Trang. Thuở ấy hầu như ngày nào tôi cũng nghe người ta ăn thua đủ trong công việc mua bán, trả giá, chứng kiến cảnh trộm cắp, căi nhau, đánh nhau, nên tôi rất chán ngán cảnh chợ. Hạnh phúc nhất thời ấy là lúc mẹ tôi thuê được một căn nhà ở xa khu chợ, nơi hai anh em tôi được bảo bọc giữa bốn bức tường với một vườn cây tươi mát. Thế nhưng ba mẹ con sống trong căn nhà thuê ấy chỉ được vài tháng trước khi chúng tôi phải trở về quán chợ.

Với chút khả năng viết lách, tôi bước vào nghề viết tin cho đài phát thanh một cách tình cờ qua lời giới thiệu của mấy người từng biết tôi viết tin cho báo. Một chút tình cờ thôi mà cũng kéo dài hơn 13 năm. Thích nơi yên tịnh, tôi chọn bàn viết ở trên lầu sát bên cửa sổ khi đài phát thanh còn đặt trụ sở ở Santa Ana. Các xướng ngôn viên, chuyên viên âm thanh, thư ký và khách đến thăm đài đều sinh hoạt ở tầng dưới, vui nhộn hơn so với tầng trên nơi chỉ có mấy cái bàn và dụng cụ văn phòng. Đến khi có thay đổi trong nhóm chủ đài, và đài dọn về gần khu phố Bolsa, tôi tìm nơi ẩn cư trong một góc phòng tận cùng phía sau cơ sở. Khách khứa và thân chủ của đài thường tụ tập, họp bàn ở phía trước, ít khi ghé phía sau, nên tôi cũng được yên thân trong mấy năm.

Không chỉ xa nơi “phồn hoa đô thị,” bàn làm việc của tôi cũng nằm cạnh cửa sổ, giúp tôi có những phút nhìn ngắm trời mây bên trên bãi đậu xe để bớt căng thẳng sau khi đọc những bản tin thời sự. Mỗi ngày tôi giao tin bốn lần, thường chạy tất tả trong hành lang từ đằng sau ra phía trước của đài, để giao tin nóng hổi như khoai mới luộc cho xướng ngôn viên kịp giờ đọc “on-air.” (Sống ở Mỹ đã lâu mà tôi vẫn thèm ăn khoai luộc như trong những ngày mưa bão ở Nha Trang). Khỏi nói, những lúc ấy tim tôi đập bình bịch, áp huyết tăng cao như người chạy đua ở Thế Vận Hội. Giao bài xong tôi mới dám bước chậm rãi trong hành lang quanh co, lấy lại nhịp thở và chuẩn bị cho ca giao tin kế tiếp. Thính giả thường chờ đợi một bản tin “vui vui” cuối cùng trong phần tin tức. Cho dù cuộc sống cá nhân đang vui hay buồn, đang yên ổn hay có sóng gió, tôi luôn cố gắng viết một vài tin vui cho họ mỗi ngày, như đền đáp cho thời gian mà họ dành nghe đài của chúng tôi. Biết vợ con có một mái nhà để trú thân, tôi không quản ngại mỗi lần bơ phờ lái xe rời đài, nằm trên giường còn nghe cơn đau tụ lại ở trong lồng ngực. Thương hay ghét tôi không thể buông bỏ công việc.

Để cho ngày làm việc bớt chán ngán, tôi treo trên tường sau lưng những tấm ảnh ghi lại những nơi mà gia đình tôi đã nghỉ hè. Làm việc suốt một năm, kể cả những ngày lễ như Giáng Sinh và Tết Nguyên Đán, tôi chờ đợi hai tuần nghỉ hè để lái xe đi thật xa, xong hí hửng mang về vài tấm ảnh để treo trên tường. Mỗi lần mệt mỏi với công việc, tôi ngước nhìn những bức hình kỷ niệm như muốn sống lại những giây phút bình an mà vợ chồng từng có ở những nơi xa khu phố Little Saigon. Kia là hình vợ con ở bãi cát San Elijo gần San Diego, đó miền núi nham thạch Lava Lands ở Oregon, đây vực Bryce ở Utah, này núi Rockies ở Colorado, công viên quốc gia Yellowstone, Yosemite, Grand Canyons, dòng sông Eel ở Bắc California, bãi biển Cambria, núi Shasta, hồ Crater, núi lửa Lassen, khối đá giữa vịnh Morro Bay, và hàng trăm thị trấn không được chụp hình nhưng có dấu xe lăn của chúng tôi ở khắp miền tây nước Mỹ.

Một niềm vui khác mà tôi tìm được ở đài là trong giờ ăn trưa. Tôi thường mang cơm ra ăn ở một gốc cây olive nằm giữa một khoảng đất hẹp, kín đáo bên hông đài. Mặc dù nhiều xe cộ luôn chạy ngang trên con đường Brookhurst phía trước đài, với nắng gắt tràn ngập bãi đậu xe ở phía sau, khoảng đất với một gốc cây olive sần sùi, lởm chởm những chồi cây đâm bừa bãi thiếu sự chăm sóc, đã cho tôi những giây phút yên tịnh nhất trong giờ đi làm. Tôi có thể ngồi cả buổi trong bóng mát của cây olive mà không gặp một ai. Từ một gốc to hơn một vòng tay ôm, cây olive chia thành ba thân lớn mọc chỉa lên cao. Trong khu văn phòng này người ta trồng nhiều cây cao có bóng mát ở chung quanh, nhưng chỉ có một cây olive duy nhất lại không được tỉa tưới. Mặc dù không nói chuyện với cây olive (khi ấy chưa điên nặng), chỉ lẩm bẩm trong những lúc bị căng óc, tôi thường chia sẻ nỗi niềm với nó qua bàn tay sờ sẫm trên thân lớp vỏ xù xì, bị tróc lác nham nhở. Sau bữa ăn, tôi thường đứng vịn tay vào thân cây ngó lên trời xanh như muốn vươn bay trên cao, hay ngồi bên cạnh gốc cây, và gọi điện thoại nói chuyện thì thầm với vợ, chờ đón những lời khích lệ để tiếp tục công việc cho đến chiều tối.

Trong khi tôi cố gắng an phận ở một góc phòng mà vài người bạn mô tả nhẹ nhàng là một “cái am” hoặc nặng nề là một “cái xó” nằm ở phía sau đài, người ta tranh đua ác liệt ở phía trước, như cảnh bát nháo mà tôi từng thấy ở xóm chợ năm xưa. Trong “đại gia đình” của chúng tôi, người lấy quảng cáo cãi cọ người lấy quảng cáo, xướng ngôn viên chèn ép xướng ngôn viên, giới quảng cáo lấn lướt xướng ngôn viên, và ngược lại. Ấy vậy mà “đại gia đình” cũng làm được nhiều việc tốt cho cộng đồng, dù trong ruột lắm lúc tan nát như một chiếc xe có dàn đồng tốt mà động cơ lại cắm ba, bốn tay lái, ai muốn đi hướng nào thì quẹo hướng đó. Thương hay ghét tôi cũng ráng ngồi yên trên chiếc xe của “đại gia đình,” tránh không bị chóng mặt trong lúc xe đang chạy lòng vòng.

Thế rồi một ngày kia cuộc đời của người viết tin thường chạy-huỳnh-huỵch-trong-hành-lang-đợi-giờ-ăn-trưa-để-ra-gốc-cây-olive-ngồi-tâm-sự-với-vợ cũng chuyển qua một giai đoạn khác. Một buổi chiều thứ Sáu giữa mùa thu, nắng hoàng hôn ửng màu cam hồng sắp tắt ở chân trời bên kia bãi đậu xe, một anh nhân viên trẻ đến cạnh bàn nói, “Họ muốn gặp chú ở phòng trên.”

Như biết trước, tôi đánh nhịp tay trên bàn vài lần xong rời “cái xó” bước vào một hành lang mà thường ngày tôi vẫn chạy như giặc mỗi khi giao tin cho xướng ngôn viên. Tôi đi chậm rãi như cần thêm thời giờ duyệt lại những diễn biến trong mấy ngày qua, để biết chắc mình đã suy đoán đúng. Làm việc với nhau nhiều năm giúp cho người ta biết ý mà không cần nói, như vợ không cần giải thích chuyện sắp làm mà chồng cũng hiểu. Từ hôm thứ Hai đầu tuần, tôi đã linh cảm có chuyện bất thường sắp xảy ra cho tôi. Thường ngày vài người trong nhóm giám đốc vẫn rộn ràng khoe chuyện với tôi, mấy bữa nay lại im re, tránh ánh mắt mỗi khi chúng tôi đi ngược chiều trong hành lang; một ông giám đốc còn lịch sự quá đáng, đứng giữ cửa phòng vệ sinh khi thấy tôi đang bước tới. Lúc trước làm gì có chuyện đó. Thành thử đến chiều thứ Sáu hôm ấy tôi gần như biết chắc chuyện sắp đến trong căn phòng đóng kín cửa của một giám đốc.

“Cám ơn Đạt đã giúp đài trong những năm qua,” một trong các gia chủ của “đại gia đình” vừa nói câu đầu tiên vừa xem phản ứng của tôi.

Sao lại “cám ơn?” Tôi thắc mắc mà không tiện hỏi. Tôi ngồi thẳng, không dựa vào lưng ghế như trong những lần vào đây để bàn bạc chuyện của đài. Vị giám đốc dò hỏi rằng nếu không viết tin thì tôi có cách nào để sống hay không. Tôi lắc đầu, nói thật rằng giấy phép hành nghề địa ốc của tôi không giúp ích gì trong lúc thị trường đang bị suy sụp, người bán nhà thì nhiều mà người mua không có, viết tin vẫn là nghề chính kiếm cơm. Nghe nhắc đến thị trường nhà đất, vị giám đốc vịn vào đó và nói rằng quảng cáo cho đài cũng bị giảm, lợi nhuận không khá như trước, cần cắt giảm nhiều thứ.

Thấy vị ấy còn chần chừ, nói vòng vo thêm về chuyện đài cần tiết kiệm chi phí, tôi hỏi thẳng, “Vậy hôm nay là ngày làm việc cuối cùng?” Tôi thấy một cái gật đầu thật nhẹ, miễn cưỡng. “Còn những ngày nghỉ hè chưa dùng thì tính sao?” tôi hỏi tiếp, hy vọng có chút tiền cầm cự thêm vài tuần.

“Bên kế toán sẽ giải quyết ngay chiều nay,” người ấy trả lời nhanh như muốn dứt ý với một thông điệp khó nói nhưng cần nói. Vậy là chuyện của tôi đã được “giải quyết ngay chiều nay” sau mười mấy năm chung sống.

Vốn là kẻ không nhiều lời, mà thấy họ đã bàn tính xong với nhau, không còn gì để bàn cãi cho dù ngân sách không chắc là lý do chính, tôi đứng dậy toan bước ra ngoài. Vị giám đốc bỗng hỏi, “Khi nào đài cần thì Đạt làm tạm vài ngày mỗi tuần được không?”

Người ấy đưa ra một giá thù lao mà tôi nhẩm tính chỉ bằng nửa tiền lương tôi đang nhận, lại không có bảo hiểm, không có một ‘benefit” nào hết. Tôi không hiểu sao họ đề nghị một giá lương thấp như vậy, kiểu như vợ chồng vừa ly dị xong thì ông chồng bỗng hỏi, “Thỉnh thoảng em cho anh ghé nhà ‘chơi’ một cái có được không, đỡ tốn công cãi nhau mà vẫn đáp ứng nhu cầu?”

“Để về tính lại,” tôi đáp thay cho một lời cuối mà tôi không biết phải nói sao trong lúc ráng bước ra cửa một cách bình tĩnh sau khi bị mấy cú đấm suýt té xuống sàn nhà.

Có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ nghe rõ bước đi của mình như lúc trở về bàn làm việc chiều hôm ấy. Ngày đó cũng là lần đầu tiên trong mười-ba năm tôi mặc một áo lạnh có nón trùm đầu đến sở làm. Cuối tuần trước vợ chồng chúng tôi đã lái xe lên Bắc California, tìm lại những kỷ niệm ở một khu chung cư cũ và mấy dãy phố xưa tại Marysville. Thời tiết ở miền bắc lạnh hơn ở Quận Cam rất nhiều, mà tôi lại quên mang theo áo lạnh trong lúc vội vàng rời Bolsa để tìm những giây phút thư giãn, nên đến Marysville vợ chồng tôi liền vào một tiệm tạp hóa Walgreen để tìm một chiếc áo ấm giá rẻ. Tôi chọn ngay một áo “hood” màu xanh lá cây, vừa mặc cho ấm lúc dạo bờ hồ vào một buổi sáng mùa thu, vừa có một món quà lưu niệm thực dụng của một chuyến đi cuối tuần. Đến ngày thứ Sáu sau đó thời tiết ở Quận Cam cũng lạnh, nên tôi chọn khoác chiếc áo trùm đầu với quần jeans đi làm thay vì mặc một bộ y phục chỉnh tề như mọi ngày. Không lẽ vì mặc áo mới này mà mình bị xui? Bị người ta đuổi việc? Tôi muốn trùm nón áo che kín đầu như một tu sĩ nhà dòng, nhưng rồi chỉ thọc tay trong túi áo, nghĩ vẩn vơ trong lúc bước về bàn ở trong “xó.”

Mấy phút sau tôi loay hoay một mình trong cái “xó” ấy, tìm một thùng giấy để đựng mấy món tài sản riêng tư cần mang về nhà: vài cuốn tự điển – vũ khí cần thiết cho nghề “dziết tin” của tôi, dăm cây viết mực, một cuốn sổ, một hộp trà xanh. Một ông sếp cấp thấp ngồi chung phòng đã biến đâu mất từ hồi trưa, như muốn tránh thấy tôi trong giây phút tản cư tang thương ở đoạn chót của một cuộc chiến. Tôi lôi ra dưới gầm bàn hai thùng giấy lớn gấp đôi hộp đựng giày được cất giữ trong nhiều năm. Hai thùng này lưu trữ những tài liệu, những bài báo liên quan đến cộng đồng người Việt. Thời mới viết tin cho đài, phương tiện Internet chưa phổ biến nên tìm tài liệu rất khó. Tôi cắt xén những bài báo được viết bằng tiếng Anh cũng như tiếng Việt, và cất trong hai thùng giấy nằm dưới gầm bàn, chỉ cần đá một cái là biết kho tài liệu quí giá vẫn còn đó mặc dù sau này tôi không còn mở ra xem thường như lúc trước. Cùng với một mớ giấy tờ khác, hai thùng giấy được tôi ôm ra bãi đậu xe và thảy vào một thùng rác lớn. Trong bóng chiều nhá nhem, một giám đốc đã tránh nhìn khi thấy tôi bước gần thùng rác. Ông quay lưng trước khi ngồi vào một chiếc Mercedes trắng, chuẩn bị lái xe chở vợ rời đài. Cũng không còn gì để nói sau mười mấy năm chung một con đường. Tôi quay nhìn gốc cây olive trong khoảng đất hẹp. Trong bóng tối của một buổi chiều vừa tắt nắng, tôi đăm chiêu quan sát gốc cây một hồi lâu như muốn nhớ hết những chi tiết trên thân thể của người bạn già chỉ biết lắng nghe, trước khi ngoảnh mặt đi nơi khác và biết khó có ngày về để gặp lại nó.

Trở lại cái “xó,” tôi thoáng nghe một chút ngậm ngùi khi tháo gỡ những tấm ảnh mà tôi từng treo trên tường. Mấy bức ảnh lưu niệm của những ngày nghỉ hè đã giúp cho tôi có thêm sức chịu đựng để phấn đấu trong những giai đoạn khó khăn nhất. Đài trải qua nhiều đổi thay trong hơn một thập niên tôi ngồi trong cái am. Như một đứa trẻ nắm túi ăn trưa trong lúc bị mấy tên lớn xác bắt nạt ở trường học, tôi từng ghì chặt việc làm, không buông tay trong những lần bị áp lực phải thay đổi tính độc lập của tôi. Cuối cùng tôi cũng bị đẩy ra khơi như các thuyền nhân trong cơn biến loạn sau năm 1975.

Công tác dọn dẹp để “ra khơi” diễn ra nhanh hơn tôi tưởng. Trong vòng hai-mươi phút tôi dọn hết những giấy rác, bỏ vào thùng những gì cần mang về nhà và tháo mấy tấm hình. Trước khi tắt máy điện toán một lần cuối, tôi viết một thư email gởi lời giã từ vội vã đến các đồng nghiệp còn làm việc cho đài ở Quận Cam, San Jose và Houston. Thứ Sáu hôm ấy là ngày 9 tháng 11, nên tôi viết đùa rằng đó là biến cố 9/11 của đời tôi. Một ngôi tháp của niềm tin ở trong tôi đã sụp đổ mà mãi đến sau này tôi mới biết thương quí sự tan vỡ trong cuộc đời. “Ông Vua Quét Đường” đã giúp tôi nhận ra điều đó mà tôi sẽ viết sau.

Giữa lúc đang “rút quân” tương đối có trật tự như vậy, tôi cũng gượng cười được một lần để rồi thấy được sự trớ trêu trong cuộc sống. Một cô xướng ngôn viên làm việc ca đêm bước vào phòng toe miệng cười đúng lúc tôi đang tháo mấy bức hình ở trên tường. Cô ấy nói lớn như muốn thông báo sự có mặt của mình ở trong phòng, “Thấy anh Đạt là vui. Anh lúc nào cũng cười, không vui sao được. Ha! Anh đang vui phải không?”

Lời chào rộn ràng khiến tôi phải nhanh tay lột một khuôn mặt mà chắc là rất buồn bã và bí xị của mình lúc ấy, để trở về với một nụ cười tươi tắn mà tôi luôn dành cho mọi người từ lúc bước vào sở. Biết ai cũng phấn đấu để làm tròn công việc ở một nơi mà những cá tính thường va chạm, dễ bùng nổ, tôi cố tìm một lời khích lệ vui để nói hoặc mỉm cười vu vơ cho không khí bớt căng thẳng. Đôi khi tôi xem đó như một bổn phận để giúp mọi người và cho chính tôi được sống qua một ngày mà không gây hại cho ai. “Còn thấy nhau là vui chứ,” tôi đáp lớn với một nụ cười để cho cô xướng ngôn viên vui lòng trước khi cô quay gót lao đầu vào những trách nhiệm nặng nề ở phòng phía trước.

Đến khi dọn hết mọi thứ cần bỏ vào thùng rác hoặc đưa lên xe chở về nhà, tôi viết vào một tờ giấy tên vài chỗ quen trong khu phố Bolsa,để tìm hiểu tình hình nhân sự ở những nơi đó. Chọn được một nơi để đến, tôi thực hiện một công tác cuối cùng trước khi rời đài phát thanh vĩnh viễn. Tôi bước lên phòng phía trước, gặp từng người đang có mặt để hỏi han và chào họ một lần cuối. Hầu hết các đồng nghiệp chưa biết tôi bị đuổi, nên thấy tôi họ liền đùa giỡn, chọc ghẹo như thể cần xả xú-bắp sau một tuần làm việc. Khi rời phòng máy chính của đài, tôi nghe một anh xướng ngôn viên nói với mấy bạn khác, “Sao bữa nay anh Đạt lại nói ‘Good night’ với tụi mình vậy cà? Tui thấy ổng hơi lạ đó nhen.”

Thay cho một lời chia tay không định trước, tôi nói “Good night” với một nụ cười như muốn chúc một buổi chiều tốt lành ở lại với từng người, trước khi quay về bàn làm việc một lần chót. Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ mọi chuyện đã thay đổi. Cái bàn từng gắn bó với tôi hơn mười năm, từng dọn nhà theo tôi đến hai địa điểm, đã thấm những vệt cà-phê, còn hằn những vết mực mà tôi chùi không ra, nay đành ở lại với một bức tường trơ trụi đằng sau lưng, không còn mấy tấm ảnh từ những mùa hè xa khuất. Ngồi ở trong xe, tôi nhìn gốc cây olive một hồi lâu như thể biết rằng mình sẽ không bao giờ trở lại nơi đây, cố ghi lại hết một khung cảnh thân quen đang chìm trong bóng tối để rồi một ngày kia chỉ còn là những ký ức mờ ảo như có như không. Phút từ biệt này quá bình an so với những giây phút hấp tấp rời quê hương, hốt hoảng leo lên tàu lìa xứ của hơn 30 năm trước. Tôi hiểu công việc ở nơi đây thế nào cũng đến ngày phải chấm dứt. Có điều mình không biết nó sẽ đi đến đoạn kết ra sao. Bây giờ thì như thế này, cũng không đến nỗi tệ, tôi lẩm bẩm nói một mình như người mới bị đụng xe trên xa lộ, đang thất thần bước quanh quẩn nơi xảy ra tai nạn với những cảm xúc bị xơ cứng và đầu óc được giao  phó cho phản xạ điều khiển. Đến một lúc nào đó những xúc cảm sẽ dâng tràn trong cơn hồi tưởng, nỗi bàng hoàng sẽ sống dậy giữa giấc ngủ trong đêm khuya, và cơn đau sẽ đâm xoáy vào tim, tôi biết vậy trong lúc lái xe rời đi nơi khác.

Thay vì hướng về nhà như mọi buổi chiều sau giờ làm, tôi quẹo trái ở đường Bolsa để ghé tòa soạn Người Việt ở cuối đường Moran. Tôi từng viết ở nhật báo này gần hai-mươi năm trước đó, trong “thời” của các anh Nguyễn Đức Quang, Lê Đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Quốc Bảo. Họ chỉ cho tôi những bước căn bản của nghề làm báo. Mặc dù từng rời Pennsylvania với mộng tưởng viết văn, tôi dính với nghiệp viết báo ngay trong mấy tháng đầu mới đến Nam California, dính cho tới bây giờ bứt hoài không ra. Thời ấy Người Việt sinh hoạt với tinh thần của các anh em Hướng Đạo cùng chung sức hướng tới một mục tiêu, trong lý tưởng tạo tiếng nói cho một cộng đồng đang hình thành và chưa vững mạnh. Ngày tôi trở lại thì Người Việt vẫn là một “đại gia đình” như hai thập niên trước, nhưng trong “thời” của các anh chị em khác, và ngon lành hơn rất nhiều nhờ hoạt động theo phương pháp của một công ty lớn. Từ một cái quán với người chủ mà cũng là người nấu ăn kiêm luôn rửa chén, tờ báo trở thành một nhà hàng qui củ với chủ nhân, đầu bếp, tiếp viên, thu ngân viên riêng biệt. Một cơ quan truyền thông có hạng.

Bước vào tòa soạn trong chiếc áo “hood” màu xanh, tôi gặp một anh bạn quen trong phòng biên tập. Rất may thỉnh thoảng tôi cũng “ráng” ra ngoài nhậu với các bạn, không dè cũng có lúc tạo được tình thân để còn nương tựa khi cần. Mấy tháng trước tôi đã ngồi cùng bàn với anh bạn tại nhà hàng BJ’s nằm ngoài rìa của khu phố Little Saigon. Hôm ấy chúng tôi lai rai với một đám bạn mà lớn tuổi nhất là vợ chồng tôi. Nhậu nhiều nhất cũng là tôi luôn. Thành thử bữa hôm ấy tôi nói khá nhiều mà không nhớ mình nói cái gì. Xỉn là cái chắc. Đến lúc gặp anh bạn trong phòng biên tập, tôi nhắc chuyện nhậu ở BJ’s trước khi đi vào đề tài chính: Ở đây có việc gì cho tui làm hông?

Hình như anh bạn chưa viết xong trong khi mấy kỹ thuật viên đang chờ bài chót đề trình bày trên trang báo. So với ngày tôi mới quen anh ta gần hai-mươi năm trước trong nhóm Thư Viện Lê Quí Đôn, anh bạn bây giờ tròn ủm, bệ vệ hơn. Vẫn thông minh, nhanh trí, tinh tế và luôn sẵn sàng thảy ra một thái độ bất cần đối với người khác.

 Nghe tôi nói “hết làm cho đài,” anh bạn ngưng đánh máy, quay sang hỏi lại với vẻ ngạc nhiên lẫn thích thú. Tôi viết cho đài phát thanh còn lâu hơn anh ta làm cho báo Người Việt, thành thử sự việc tôi không còn làm cho đài có lẽ là chuyện bất ngờ. Anh bạn hỏi tôi muốn viết phóng sự hay muốn dịch tin. Sao cũng được, tôi nói vậy, trong đầu nghĩ miễn là có “job” để lát nữa còn về nhà nói cho vợ bớt lo. Nghề của tôi chỉ có thể “đắc dụng” ở mấy cơ sở truyền thông trong phố Bolsa. Mặc dù chắc chắn không trả lương cao như sở Mỹ, đài phát thanh mà tôi đã làm và tòa soạn mà tôi đang trở lại vẫn khá hơn so với mấy nơi “bèo” kia. Anh bạn hẹn tôi sáng hôm sau quay lại để gặp một ông sếp cao cấp hơn. Tôi cũng quen ông ấy, nên yên tâm mình sẽ có việc làm, chỉ chưa biết họ tính lương ra sao mà thôi.

Thế là sau hai-mươi phút rời đài, tôi chộp được một việc mới mà lòng vừa mừng vừa lo. Mừng vì sẽ có tiền sống, lo vì không biết mình có còn sức khỏe cũng như khả năng để bơi theo dòng việc mới ở một nơi còn phức tạp hơn đài phát thanh gấp bội.

Sau một đêm khó ngủ bên cạnh vợ cũng trằn trọc như chồng, đứa nào cũng đang trong tình trạng “vừa rời việc này, đang chờ việc khác,” tôi đến tòa soạn vào sáng hôm sau, một buổi sáng thứ Bảy nơi phố Bolsa vẫn xôn xao mà lòng tôi thấp thỏm khác thường. Trong vòng mười-lăm phút ngồi đối diện ông sếp mới và anh bạn trong một phòng riêng, tôi đồng ý về tiền lương và công việc mà tôi sẽ làm cho một nhật báo Việt ngữ lớn nhất ở hải ngoại. (Xin lỗi. Trong nhiều tháng làm việc cho tờ báo này, mỗi lần xem báo Mỹ nói về tờ Người Việt, tôi đọc riết câu đó đến nhập tâm hồi nào không hay, nay vuột miệng quảng cáo free cho báo hồi nào mà không biết.)

Ban đầu nhiệm vụ mới ở nhật báo xem dễ thở hơn so với công việc ở đài phát thanh. Mỗi lần được ra ngoài “làm” phóng sự, tôi tận hưởng những giây phút thư giãn có thể đến rất bất ngờ. Chẳng hạn như một buổi sáng kia tôi phải lái xe xuống Laguna Niguel ở phía nam Quận Cam, để gặp một nhóm người Mỹ gốc Việt đang tham dự một cuộc đình công tại một cơ quan thuộc sở di trú liên bang. Sau những cuộc phỏng vấn và chụp hình – viết tin cho báo ở Bolsa thường phải biết thêm nghề chụp hình, không cần giỏi như thợ chuyên nghiệp nhưng phải có máy và biết bấm nút, vì báo không có đủ tiền để thuê một người viết và một người chụp hình riêng như báo Mỹ, vì vậy hình trên mấy nhật báo tiếng Việt ở đây trông rất “ẹ” kể cả hình tôi chụp – tôi lái xe lạc xuống một con đường chạy sát bờ biển. Giữa tháng 12 mà tôi có thể quay hết cửa kiếng xuống, để cho gió biển lùa vào trong xe đến mát lạnh. Nếu còn làm cho đài phát thanh, buổi trưa hôm ấy tôi phải còng lưng viết tin ở trong cái “xó,” chắc chắn không có thời giờ để ra đứng ở gốc cây olive, chứ đừng nói gì đến chuyện thong dong ngắm màu biển xanh thẳm với nắng vàng dịu ấm.

Những giây phút bình yên, thong thả hiếm có ấy không xảy  ra thường hơn như tôi mong ước. Tình hình của nhật báo từ bên ngoài và bên trong nội bộ luôn luôn có biến chuyển, khiến cho tôi loay hoay không biết bám vào đâu để được yên thân hầu chú tâm vào chuyện viết bài mà thôi. Vài tháng sau khi tôi đến, nhật báo bị phản đối vì “sự cố” báo Xuân đăng hình cờ vàng trên chậu rửa chân. Ở bên ngoài thì người ta đứng biểu tình, la lối suốt ngày – từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều như giờ của công nhân hãng xưởng – ở bên trong thì anh bạn của tôi bị “dzăng,” ông sếp cũng ra đi cùng với ông chủ bút.

Đó cũng là thời điểm mà “Ông Vua Quét Đường” bỗng từ trên trời rơi xuống đầu tôi, lớn như một cục phân chim… đại bàng, dính chặt như chiếc nón che đỉnh đầu của người Do Thái. Đó cũng là giai đoạn mà tôi bắt đầu “tu luyện khí công” để đối phó trước những biến đổi ở chung quanh, hay nói đúng lớn là thích ứng với những chuyện đời thường, những nghịch cảnh mà dầu muốn dầu không thì tôi cũng phải bơi qua.

Trong mấy tháng đầu tôi ngồi chung phòng với bốn người. Phòng bên ngoài còn có thêm nhiều tay viết báo lão luyện khác. Trong ban biên tập tôi thuộc một thế hệ ở giữa những ký giả trẻ xông xáo, háo thắng, chờ dịp để leo cao hơn, và mấy ông nhà báo kỳ cựu, có đủ kinh nghiệm để củng cố vị trí hoặc giữ chặt công việc của mình. Ngày xưa ở bên đài phát thanh, tôi được ngồi một mình trong “xó” cạnh cửa sổ và được che chở bởi một tấm ngăn, chẳng phải nhìn ai và cũng không bị ai dòm ngó. Ngày nay ở phòng biên tập, tôi phải chấp nhận ngồi chung với nhiều người mà hầu như lúc nào cũng có chuyện để đôi co, lúc thì vui nhộn lúc thì hung hăng. Ngồi đối diện nhau trong một phòng thiếu ánh sáng, chật chội với sách báo, đồ đạc không ai muốn dọn, và không có cửa sổ, tôi để cho bốn người kia muốn “đấu” sao thì “đấu,” chú cháu choảng nhau chí chóe, xong lại cùng cười chê những kẻ khác. Tôi giữ phận mình yên lặng càng lâu càng tốt, tránh thốt những lời độc hại gây đau đớn còn hơn đâm bằng dao Thái Lan, hoặc tung ra những lời tâng bốc còn giả hơn một đóa hoa “Made in China.”

“Khí công” đầu tiên mà tôi có gắng luyện tập là tránh giữ lại những mũi tên độc mà người ta “bắn” bằng lời. Rút mũi tên bỏ vào thùng rác là điều nói dễ hơn làm. Mỗi ngày bị bắn chừng mười mũi tên thì cố gắng bỏ hết chín mũi, ném ngược mũi còn lại cho hả giận nhưng cũng ráng ném trật. Nhằm luyện khí công này, ngày ngày đi làm tôi mang theo trái cây để trên bàn. Mỗi lần biết mình sắp nổi giận, tôi nhón một múi cam, một lát táo hoặc một trái nho bỏ vào miệng. Có ngày phải ăn mấy kí trái cây mà bụng vẫn muốn nổi khùng. Người ta nói ăn trái cây tốt cho sức khỏe. Không hiểu sao tôi bị lên cân, bụng to hơn sau hơn một năm làm việc ở nhật báo.

“Khí công” thứ nhì mà tôi ráng học là thích ứng trước tình cảnh giao động mỗi ngày, bắt đầu từ việc nhỏ nhất. Tôi từng được yên thân viết tin ở cái “xó” trong nhiều năm, nay phải ngồi giữa một góc chợ ồn trong lúc sản xuất chữ nghĩa, nên tôi phải điều chỉnh tâm lý suốt mấy tháng mới chịu nổi. Trên bức tường cạnh bàn làm việc, tôi không treo một tấm ảnh riêng tư nào như ngày trước, mà chỉ cắm một tấm lịch, ghim một danh sách những số điện thoại cần thiết và lịch trình công tác mỗi tuần. Nhờ không có bàn ngồi cố định nên tôi bỏ được thói quen “thiền” hình vợ con giữa những lúc viết tin. Mỗi khi nhớ khung cửa sổ ở cái “xó,” tôi nhìn lên bức tường trước mặt, tưởng tượng những cảnh sông núi, biển hồ mà gia đình tôi từng đi qua trong những mùa hè của quá khứ. Có khi những cánh rừng hoặc con suối bao bọc những lều trại hiện lên ngay trước mắt trong mấy ngày liên tiếp. Ngoài phòng biên tập, tôi luyện luôn “pháp môn” này trong phòng ăn tập thể. Dần dà tôi quen ngồi giữa một chục người ở bàn ăn nói chuyện ồn ào mà tai hầu như không nghe, mắt không thấy họ đang bàn chuyện gì mà cười lớn quá hoặc cãi nhau găng đến như vậy. Bức tường trước mặt biến thành một màn ảnh truyền hình “mỏng” vĩ đại, chiếu lên những khúc phim biển xanh rừng thẳm từ một cõi xa mà tôi chỉ cần mỉm cười là “bấm” được nó hiện ngay trước mắt.

Chung quanh dãy nhà dài hình chữ nhật của công ty, tôi không tìm ra một bóng mát yên vắng như dưới tàn cây olive ở đài phát thanh. Ở một gốc cây trước tòa soạn, vài ông thường đứng hút thuốc. Từ ngày tờ báo bị biểu tình, họ bớt ra phía trước như không muốn bị ù tai. Đằng sau tòa soạn là một bãi đậu xe được tráng gần kín mít với nhựa đen, chỉ còn chừa hơn nửa chục ô đất vuông với mỗi ô được trồng một cây “bông cọ ngược” màu đỏ đứng khẳng khiu sát một bức tường gạch xám nhạt. Từ sáng đến chiều, nắng gắt lao xuống từ trên không, dội ngược trên bãi đậu xe, bắn tung tóe giữa hai bức tường, thiêu đốt trên một chục chiếc xe nằm sát bên nhau. Tìm được một bóng mát trong bãi xe ấy cũng khó như thấy một cụm mây trắng trôi trên bầu trời Quận Cam giữa mùa hè. Vậy mà mấy ông vẫn thường tụ năm tụ ba ở phía sau, phun khói thuốc liên miên như để tạo mây giữa tiếng cười nói rổn rảng, hoặc xì xào trong một cuộc “họp” riêng với nhau. Sau này tôi mới hiểu “phòng họp lộ thiên” ở bãi đậu xe là nơi diễn ra những cuộc bàn thảo cũng quan trọng không kém những cuộc họp chính thức bên trong tòa soạn. Ngày nào cũng có mấy đám rủ nhau ra họp riêng ở ngoài sân.

Gay cấn hơn vẫn là những buổi họp chung vào sáng thứ Năm của ban biên tập. Ban cần kiểm điểm việc làm trong tuần qua và chuẩn bị cho tuần sắp tới. Đó là lúc mà người ta phải tận dụng khả năng ăn nói để bênh vực bài viết của mình, có khi tự bảo vệ mình bằng cách triệt hạ đối thủ. Mồm miệng đỡ tay chân. Người nói nhiều, khoe nhiều lại thường là người làm ít, lành ít. Tan buổi họp, các “chiến sĩ” của chữ nghĩa rời phòng với nét mặt căng thẳng hoặc đăm chiêu, như đang xét lại mình vừa “thắng” cái gì, “thua” cái gì. Tôi không nhớ Người Việt ngày xưa có những buổi họp như vậy. Ngày nay có lẽ sự cạnh tranh quá quyết liệt giữa các nhật báo trong “xóm” Moran  mà ngày trước không có đã khiến người ta phải thay đổi để sống còn? Các công ty ở Mỹ, và các cơ quan ở những xứ cộng sản, cũng có những sinh hoạt kiểm thảo để thăng tiến, không có gì bất thường, đời là vậy. Có điều tôi không hiểu tại sao phải có xung đột mới có tiến bộ, phải có ganh đua, chà đạp mới có văn minh? Sống như vậy hợp với tự nhiên? Sao lúc nhìn lên tường xem “phim” mây biển đất trời tôi không thấy ra sự thật về những con thú cắn giết, luôn rình rập để hại nhau ở trong rừng? Tôi đã sống trong mộng mơ, hoang tưởng chăng? Chỉ thấy những nét đẹp của thế gian mà quên những vệt xấu của nó? Nên chân thành đi tiếp trên con đường lý tưởng nhân ái, hay rẽ sang lối mòn nhân dục như mọi người? Sống kiểu này chừng một hoặc hai năm là cùng, kéo dài được mười năm thì làm sao còn thấy được lương tâm của chính mình? Lúc ấy dẫu thương hay chán tôi cũng không thể buông thả công việc.

Từ khi có thay đổi nhân sự liên quan đến cuộc biểu tình chống nhật báo, tôi được giao trách nhiệm mỗi lúc một nhiều hơn, ít có dịp ra ngoài la cà viết phóng sự, tìm những giây phút thư giãn. Trong hầu hết thời gian có mặt ở tòa soạn, tôi ngồi cặm cụi ở bàn viết hoặc đi hấp tấp trong hành lang nối liền phòng biên tập với phòng kỹ thuật. Tuy được nghỉ một ngày trong tuần và một ngày cuối tuần, tôi thường lo cho công việc suốt bảy ngày, có khi về đến nhà hoặc đang dạo chợ với vợ con cũng phải nghe điện thoại liên quan đến công việc ở tờ báo. Đó là chưa kể phải biết những chuyện “đánh đấm” giữa các phe nhóm trong nội bộ. Để xả bớt căng thẳng, tôi thường đi xe đạp đến sở trong những ngày không cần lái xe hơi. Nhờ vậy tôi cũng cảm thấy bớt tội lỗi đối với tấm thân đang bắt đầu phì nộn vì thiếu tập thể dục.

Tôi mải mê, tận tụy với công việc ở tòa soạn một phần vì lúc ấy công ty đang gặp khó khăn. Tờ báo không thể thiếu bài vào mỗi buổi chiều, không thể ngưng phát hành vào mỗi buổi sáng. Có những cuối tuần, tôi làm việc một mình suốt ngày trong phòng biên tập, chờ tin của các phóng viên đang chạy tất bật giữa các sinh hoạt của cộng đồng. Những lúc như vậy tôi thường mở nhạc để không bị nặng đầu bởi những tiếng la ó của đám biểu tình từ bên ngoài.

Say mê với việc làm, tôi đảm nhận luôn trách nhiệm lo bài vở và nội dung cho báo Xuân. Thế là mang luôn việc làm về nhà, chiếm gần trọn thời giờ dành cho gia đình. Vợ thường nhìn tôi với sự thương hại khi thấy chồng còn lo viết thư email liêc lạc những tác giả sau bữa ăn tối. Xong báo Xuân, tôi chưa kịp lấy lại nhịp thở thì em tôi bị tai biến mạch não, suýt chết nếu không được chở vào bệnh viện kịp thời. Ngồi suốt một đêm bên giường bệnh của em trong phòng cấp cứu ở nhà thương Fountain Valley gần lễ Giáng Sinh, tôi nghe đau nhói như bị một phát đạn bắn vào chân khiến tôi phải chùn bước.

Trong mấy tháng sau, xong việc ở tòa soạn mỗi buổi tối, tôi thường ghé thăm em trong một dưỡng viện dành cho những người bị bệnh nặng hoặc sắp chết. Ngồi nhìn cơ thể của em được máy bơm thức ăn vào bụng, tôi suy tư tìm một giải pháp hòa hợp giữa  trách nhiệm ở sở và bổn phận với gia đình. Tôi từng tự giao cho mình một thử thách mà tôi chưa thấy ai trong đám bạn có thể làm được. Đó là vừa sống với văn chương vừa lo cho các con, vừa làm việc ở sở vừa lo cho gia đình. Thế nhưng giờ đây tôi biết mình không là một siêu nhân, tôi cũng chỉ là một cái xác chưa được ghim ống bơm trợ sinh mà thôi.

Đúng lúc tôi đang suy tư tìm một hướng đi mới phù hợp hơn với hoàn cảnh, ban biên tập lại có thêm vài người bỏ đi vì những lý do riêng, khiến tôi khó dứt khoát rời bước. Mặc dù được thêm lương, tôi phải gánh thêm những trách nhiệm mà có lẽ phù hợp với một người mê nghề làm báo, ít vướng bận với gia đình. Mấy tháng trước khi rời Người Việt, tôi thường là người đến phòng biên tập trước tiên vào buổi sáng và cũng là người cuối cùng rời tòa soạn vào buổi tối. Công ty này đã có bốn, năm người qua đời. Vậy mà trong những đêm ở lại trễ, lóc cóc một mình xem bài cho ngày mai, tôi không thấy hình bóng của vị nào quay về từ cõi siêu linh. Chắc họ cũng đã hết mê nghiệp làm báo?

Thế rồi dịp may cũng đến cho tôi được lên đường rời nghề báo mà không phải bận tâm đối với một nơi tôi từng khởi đầu nghề viết hai thập niên trước. Sau những vụ xử trước tòa tương đối thuận lợi cho tờ báo và bất lợi cho nhóm biểu tình, ban biên tập được củng cố khá hùng hậu với thêm các nhân sự trẻ từng một thời làm việc cho công ty. Trong kế hoạch mới của nhật báo, tôi cũng có một chức vụ “oai ra phết,” ra ngoài quán nhậu cũng có thể “lấy le” với mấy em bưng bia. (Xin lỗi cho việc dùng mấy chữ xưa trước năm 1975. Thời gian đầu mới tị nạn ở Mỹ, tôi cũng quyết tâm muốn bảo tồn văn hóa mà lại kém kiến thức, nên chỉ biết bảo tồn mấy từ ngữ tào lao lượm ở ngoài đường mà không biết chúng xuất phát từ đâu ra. Sorry nha.)

Thế nhưng nghĩ tới việc phải sống hết đời còn lại với nghề báo, phải “đấu tranh” trong mỗi bữa họp, phải để cho bà mẹ trên bảy mươi tuổi phải săn sóc một đứa em đang sống với bệnh thể xác và chết với bệnh tâm thần, phải hy sinh thời giờ dành cho một người vợ mà ngày trước tôi thường “xin” được đi theo “cho vui” dù chỉ để mua mấy bó rau ở chợ, tôi thấy e ngại cho mục đích phụng sự tha nhân mà tôi từng vẽ ra trước đây. Đến lúc này dẫu thương hay ghét tôi cũng phải buông bỏ công việc.

Khoảng một tháng trước ngày lặng lẽ chia tay, tôi vẫn hòa mình với mọi người trong những buổi họp đầu tuần và giữa tuần, những bữa ăn đặc biệt chiều thứ Sáu, những “pha” đuổi theo tin cho kịp giờ lên báo, những “màn” siết lại tựa tin, chọn lại tấm hình trước khi những trang báo được gởi đến nhà in. Sự việc giữ kín ý định từ giã tờ báo không mấy khó. Trong tòa soạn với trên bốn-mươi nhân viên mà tôi có thể làm việc chung dễ dàng với từng người, tôi lại không thật sự có một người bạn đủ gần để tin cậy về những điều sâu kín trong lòng. Nếu họ biết ý định và tìm cách níu lại, tôi khó lòng bước đi mà không nuối tiếc. Nửa tháng trước ngày “ra khơi,” tôi làm thủ tục xin nghỉ hè hai tuần. Như vậy mọi công việc liên hệ đến tôi đều được dàn xếp như không có tôi trong hai tuần vắng mặt, và sự tạm thời đó sẽ trở thành vĩnh viễn mà chỉ có mình tôi biết.

Tôi cũng khám phá sự nhẫn nại đến rất nhẹ nhàng trong mấy ngày chót. Biết mình sắp đi nơi khác, tôi không giận những ai buông lời chê trách, không hoài nghi trước những hành động đổi thay, vì thấy mọi thứ không đáng bận tâm một khi mình không còn ở đây nữa. (Không dè mấy tăng sĩ đã biết điều đó từ lâu, nên họ thường khuyên mọi người hãy giả dụ ngày mai mình sẽ chết, mình sắp đến một cõi khác, thì liệu những phiền toái của ngày hôm nay có còn đáng để mà lo âu?) Lìa bỏ những thói quen xem ra khó hơn. Sau hơn một năm rưỡi làm ở Người Việt, tôi biết từng góc phòng bề bộn, quen mấy bức tường vô tâm, thân những chiếc bàn của thợ viết nằm san sát bên nhau trong một xưởng báo. Sự quen thuộc đã bắt đầu bám rễ, làm sao dám cắt đứt hẳn hòi để rồi chưa biết mình sẽ đi đâu ngày mai? Cũng khó không kém là lời giải thích mà tôi phải trình bày sao cho thỏa đáng. Tôi đã đến một ngã ba mà sự nghiệp không thể nào sánh đôi với gia đình.

Ngày chót của tôi ở tờ báo là một ngày thứ Sáu nóng bức và cũng là ngày cuối cùng của tháng Bảy. Trời nắng cháy, tôi chọn một áo thun đen cũ và một chiếc quần jeans bạc. Đơn giản như ngày tôi đến, chắc hẳn thiếu sự trịnh trọng mặc dù đang ở một khúc quanh quyết định trong phần đời còn lại. Cũng nhân một ngày nóng, tôi đặt mua mấy chục cây cà-rem sau giờ ăn trưa, xong ôm thùng kem đi đến từng phòng mời mọi người ăn cho mát. Kem đậu xanh, đậu đỏ, dừa, sầu riêng, xin mời ăn cho vui. Tôi ngạc nhiên khi thấy ai cũng hưởng ứng tận tình, có người “chơi” luôn hai cây kem thay vì một, mà náo nhiệt nhất là mấy cô nhân viên trẻ. Biết rằng ngày mai và muôn vạn ngày sau mình không chắc có duyên gặp lại họ, tôi tận hưởng từng nét hân hoan, từng lời chọc ghẹo “coi bộ ôm thùng kem bán dạo có vẻ đắt khách hơn viết báo,” những nụ cười mến thương trì kéo đằng sau lưng. Nếu ngày nào tờ báo cũng vui như vậy thì chắc tôi khó lòng dứt bỏ.

Chiều tới, công việc tất bật như mọi chiều thứ Sáu. Đêm đến, chỉ còn mình tôi đi lại giữa những phòng ốc được tắt gần hết đèn đóm, để lại một không gian rộng thênh thang và yên tịnh vô cùng, không một tiếng động của máy hoặc của người. Vừa bước giữa một hành lang dẫn qua các phòng, tôi chợt nhớ một làn ánh sáng mờ ảo chỉ vừa đủ sáng để vạch một lối đi giữa một khối đen bủa vây trong một ngôi đền mà tôi từng vãng lai trong trí tưởng tượng. Ở ngôi đền đó tôi nhận ra mọi xôn xao của cuộc sống đều lắng xuống vào cuối ngày, như đám mây bụi từng bị dấy lên bởi dục vọng và sau cùng cũng phải rơi xuống bởi chính gánh nặng của nó, để rồi trước mặt hiện ra một lối nhỏ dẫn tới một chánh điện ấm cúng giữa một nơi hoang dã. Ở tòa soạn này, tôi đi loanh quanh giữa các phòng trong bóng đêm mà không tìm ra một con đường hướng tới chánh điện đó.

Sau mấy phút đi dạo một lần chót trong một nơi mà cuộc đời từng gắn bó trong hai-mươi tháng, tôi quay lại bàn làm việc ở góc phòng. Khác với những năm tháng làm việc ở đài phát thanh, bàn của tôi ở tòa soạn không có hình ảnh treo trên tường để mà gỡ xuống, chỉ có một mớ giấy tờ với hộp trà và mấy phong kẹo chocolate cất trong hộc kéo (ăn kẹo thay vì hút thuốc giúp tôi giảm stress), một xấp giấy công tác nằm trong ngăn treo trên vách. Mọi thứ đều được gom gọn vào một thùng giấy nhỏ, hoặc thảy vào thùng rác, trong vòng năm phút. Tôi rời phòng với thùng giấy, cặp-táp và máy chụp ảnh. Trở ra phòng ngoài, tôi bấm số mật mã trên máy báo động trước khi hết tắt hết những ngọn đèn và bước ra cửa. Cơn nóng bên ngoài đã dịu bớt, một đêm hè mát đang trở lại phố Bolsa. Cùng hướng gió biển đang thổi vào, tôi lái xe về nhà với ý muốn tắt hẳn một đời làm báo, buông thả mọi chuyện bay theo những luồng khí từ đại dương.

Đêm hôm ấy tôi viết xong một lá thư từ biệt báo Người Việt với lời giải thích chân tình nhất. Sáng hôm sau tôi gởi thư email đến tất cả những ai mà tôi có địa chỉ ở tòa soạn, đoán trước sự sửng sốt của mọi người. Chính tôi cũng không dè mình có thể ra đi như vậy. Dẫu sao chăng nữa thì tôi cũng chỉ rời một kỹ nữ đang được quá nhiều ông bồ và tình nhân chiều chuộng, chứ không phải bỏ một người vợ với đám con nheo nhóc chưa biết nương nhờ vào ai.

Trưa hôm đó tôi cũng đến thăm em trai, cắt mái tóc quá dài, nhầy nhờn và bừa bãi của em. Trong một thế giới bị cô lập bởi bệnh tâm thần, em tôi không cho một ai đến gần qua ánh mắt hoài nghi hung tợn và mùi hôi hám triền miên trên cơ thể. Nhờ thường thăm em trong thời gian em nằm ở dưỡng viện, tôi tạo được một tình thân để em không ngại khi tôi đến gần. Nếu tôi không cắt tóc, cạo râu cho em thì không một ai khác có thể làm được chuyện đó ở căn nhà em đang sống với mẹ tôi.

Rời một căn mobile home nóng bức sau khi giúp em có một mái tóc mới ngắn gọn mặc dù có vài chỗ lởm chởm vì tôi không quen tay, tôi chợt tin tưởng hơn ở quyết định bỏ nghề viết báo để có thời giờ dành cho gia đình. Tôi không muốn chạy theo những bản tin nóng bỏng nhất thời của cộng đồng, trong khi người thân bị bỏ mặc như một con thú giữa chợ. Tôi từng lớn lên trong một xóm chợ và đã thấy những cảnh khốn cùng mà lòng nhân không thể làm ngơ. Một cuộc sống có ý nghĩa nhất là sống cho tha nhân. Nay tôi nhận thấy xoa dịu nỗi khổ đau ở những người thân có lẽ còn khó hơn làm phước cho những kẻ ở xa. Bỏ rơi họ để tìm hạnh phúc cho riêng mình càng là điều mà tôi không muốn làm.

Tôi ngưng viết báo được một tháng, vừa đủ để cho trí óc được thư thái, sắp xếp lại những gì tôi có thể làm cho những người chung quanh, xong trở lại nghề viết để kiếm sống. Lần này tôi viết tin cho người ta đọc trên đài truyền hình thay vì đài phát thanh. Nam California đang có trên một chục đài Việt ngữ, nở rộ như thời ra báo nhiều năm trước. Công việc ở Little Saigon Television đòi hỏi gấp đôi lượng tin so với đài phát thanh, đọc vào mỗi buổi trưa và buổi chiều trong tuần. Tôi cố gắng thức dậy từ 5 giờ sáng, xuống nhà làm việc trong một góc garage từ lúc 6 giờ kéo dài đến 5 giờ chiều, nghỉ chừng một tiếng đồng hồ dành cho việc ăn trưa và vệ sinh. Có lúc làm việc không khác gì mấy công nhân lao động trong những xưởng may lậu, ngồi dính chặt bên cạnh máy viết, chăm chỉ vì hoàn cảnh chứ không phải vì mong được như vậy.

Được cái mỗi ngày xong tin là hết chuyện, xóa bảng, mai soạn tin mới, không bị nghe điện thoại sau giờ làm việc như trong những ngày làm báo, cũng không cần dự phiên họp mỗi tuần để phải lo chuyện vây cánh, đấu tranh, nói nhiều, nói ít, càng không dính đến xóm nhà báo không bao giờ thiếu chuyện để cãi cọ, đâm chích nhau. Điều kiện làm việc giữa đài và tôi cũng dễ hiểu, cứ “cháo múc” xong thì “tiền trao” vào đầu tháng và giữa tháng. Nếu cần chấm dứt mối quan hệ, một cú phone hoặc một thư email là đủ, đường ai nấy đi vào bất cứ lúc nào.

Tuy lao tâm quần quật, đầu óc mệt lả, mắt cay vào cuối ngày, tôi cũng có được hai ngày nghỉ cuối tuần quí báu để lo cho người nhà, chưa kể những buổi chiều ghé thăm mẹ và mỗi buổi sáng thứ Bảy đưa em đi lọc thận. Dần dà tôi nhận ra sự việc còn có một tấm lòng muốn giúp người khác là điều hạnh phúc nhất trong đời. Bạn có trải qua kinh nghiệm đó thì mới hiểu được điều tôi muốn nói.

Cũng từ lúc làm việc ở nhà, tôi lại bị ý tưởng “Ông Vua Quét Đường” ám ảnh nặng nề hơn, không cho tôi được quên một món nợ với chữ nghĩa. Có lúc nó “vật” tôi suốt ngày, suốt đêm, khiến tôi phải “méc” cho vợ biết. Cưng ơi nó lại hành anh. Nàng không hiểu “Ông Vua Quét Đường” là cái giống gì mà có thể khiến cho tôi phải nói lẩm bẩm như người điên, “Anh sẽ ráng viết một bài với cái tựa ấy.”

Suốt mấy tháng vật vã với bài viết trong những giờ rảnh rang hiếm quí, tôi thường nghe vợ chọc, “Sao thấy anh quét hoài mà chưa xong bài?”

 Tôi không hiểu tại sao “Ông Vua Quét Đường” lại đeo tôi dữ dến như vậy, thúc đẩy tôi phải ráng ngồi dậy, dùng “tàn lực” để khơi lại nguồn hứng khởi gần như đã tắt ngúm sau một đêm lửa trại rộn ràng tiếng đàn lời hát. Suy ngẫm riết rồi tôi cũng đoán ra, không biết có đúng hay không. “Ông Vua Quét Đường” bao hàm ý nghĩa đổi thay trong cuộc sống, từ một ông vua xuống một kẻ quét đường, vô thường như trong kinh sách nhà Phật. Tôi bị vướng mắc với ý tưởng đó một phần vì đời tôi đang có nhiều biến chuyển từ sự nghiệp, gia đình, thể xác ở bên ngoài cho đến nội tâm ở bên trong. Tôi chắc chắn không là một “ông vua,” nhưng hình như trong mỗi người đã có sẵn một ông vua và một kẻ quét đường, đổi chỗ cho nhau như kiếp người cứ phải bay lên rồi lại rớt xuống trong một trái bóng pha lê, bay rớt liên tục.

Mỗi cơn động đất trong cuộc đời lại đẩy tôi ra khỏi một lối sống quen thuộc, được gầy dựng lại với một tâm tư mới. Ban đầu tôi còn quay lại, cố bám víu một chút tàn dư của quá khứ, xong phải bỏ dần vì mỗi lần nhìn lại tôi vẫn cảm thấy có một nỗi buồn khôn tả. Buồn vì biết mình không thể nào sống lại trong quá khứ, mà muốn đi tới thì phải xa lìa những tập quán cũ, xa lánh những gì mà mình từng cho là nguồn vui trong cuộc sống, kể cả bạn bè với những bữa nhậu, chức vụ và tiền tài, sáng tác và danh vọng. Sống với những tập quán cũ chỉ đưa tôi về quá khứ, lại bay rớt triền miên trong một trái cầu trong suốt và bít kín.

Muốn cắt lìa hết những dấu vết của năm xưa cũng không hẳn dễ. Mỗi buổi sáng tôi vẫn mặc chiếc áo “hood” màu xanh mà nay đã phai màu để chạy bộ ra công viên. Trùm chiếc áo trên người, tôi không thể quên những bước cuối cùng trong hành lang của đài phát thanh năm xưa. Sáng nào cũng vậy, khoác chiếc áo lên lại nhớ bức tường với mấy tấm ảnh, hoặc chiếc bàn nằm khuất trong xó. Mấy tuần trước đây, nhân dịp lái xe ngang địa điểm của đài cũ, tôi không cưỡng được nỗi nhớ, đành vòng xe ở ngã tư đường Brookhurst để trở lại góc Margo. Chiều hôm ấy bãi đậu xe vắng tanh. Đài phát thanh đã dời đến một địa điểm khác, xa khu phố Bolsa. Thoáng thấy khoảng đất hẹp bên cạnh tòa nhà, tôi chợt nhớ gốc cây olive và muốn “thăm” nó. Khu đất vẫn yên tịnh, kín đáo và mát như thuở nào. Riêng cây olive đã chết khô, bị đốn xuống thấp chỉ còn trơ gốc với ba thân cây trơ trụi, bằng phẳng. Tôi ngồi bên cạnh gốc cây trong mấy phút, hồi tưởng những khoảng khắc mà chúng tôi đã từng chia sẻ. Nó là cây olive độc nhất trong khu văn phòng này, và cũng là cây duy nhất bị khô héo. Mặc dù cây đã mất hết sự sống, không còn lớp vỏ sần sùi với những nhánh đâm chỉa lởm chởm, tôi vẫn có cảm tưởng gốc cây đã chờ ngày tôi trở lại trước khi tan rã theo bụi trần.

Một buổi chiều khác tôi đã cắt cỏ, tưới cây ở sân sau nhà. Như mọi lần, tôi kết thúc công tác của gã-đàn-ông-lớn-tuổi-nhất-trong-nhà với cây chổi quét lá trên sân gạch dưới gốc cây mận. Cây này sung sức, khỏe như trai mới lớn, cành lá mọc um tùm chỉ sau mấy tháng không tỉa, ngày nào cũng có lá hoặc nhánh bông rơi rụng xuống một góc sân. Từ ngày đọc tập truyện ngắn trong cuốn “Thiên Thần Quét Lá” của nhà văn Vĩnh Hảo vào mùa xuân vừa qua, tôi thương vô cùng mấy chú tiểu, những vị thầy của một đời tu và nhất là không còn hấp tấp với “tiết mục” quét lá mận như ngày trước. Truyện ngắn “Người Quét Chợ” có một đoạn khiến tôi rung cảm, nhớ lại những lúc từng nhìn lên tường để quên những chuyện eo sèo ở chung quanh:

“Thầy tập trung tâm mình vào từng động tác quét, lắng nghe tiếng chổi khua nhẹ trên đất, nhìn ngọn chổi vờn trên cỏ rác… không phút giây nào mà không lắng lòng vào việc quét. Đến độ, thầy với cây chổi chỉ là một. Vì vậy, âm thanh náo loạn của chợ búa không ảnh hưởng, không tổn hại gì đến tự tâm thanh tịnh của thầy.”

Phải chi tôi có thể quét chợ được như thầy. Ngày xưa, xưa thật là xưa, sau mỗi lần cắt cỏ sau nhà, tôi muốn quét lá thật nhanh để còn có thời giờ ngồi ngoài sân nhâm nhi mấy chai bia trước khi vào nhà trình diện với vợ. Có lúc tôi mua máy thổi điện về thổi ào ào một khoảng sân bé tí tẹo, dồn hết lá vào một góc và hốt “nhanh, gọn” vào thùng rác. Dạo này tôi thường quét lá chậm rãi hơn, tưởng tượng mỗi chiếc lá là một ý tưởng xấu, một lời nói bậy, một tội lỗi mình đã gây ra cho người khác trong quá khứ. Quét sạch sân như quét sạch tâm hồn, chuộc lại những lỗi lầm u mê. Ngày nào còn mở miệng thì còn nói bậy, và ngày ấy còn cả khối lá rụng để mà quét. Thế nên mỗi lần cầm lên cây chổi, tôi tự nhắc mình hãy tránh làm những điều hại người khác, cho dù điều đó chỉ là những ý tưởng vẩn vơ ở trong đầu.

Một bữa kia đang quét lá “vẩn vơ” như vậy, tôi chợt nhớ đến “Ông Vua Quét Đường” và tin rằng mình đã nghĩ sai lầm về ông ấy. Ngày ông mới đến trong đầu, tôi tưởng ông là một kẻ thất chí, buồn bã trước cảnh đổi đời, nay thân phận chỉ còn là một kẻ quét đường vào mỗi buổi sáng tinh sương. Thật ra không chắc đúng như vậy. Biết đâu ông vua ấy đang vui, đang quét sạch tội lỗi trên những con đường mà ông từng gây ra những đau thương cho người khác. Tâm cảnh tôi đã thay đổi, nên giờ đây tôi thấy có một vị vua đang tung tăng cầm chổi, vừa quét vừa múa hát như biết mình đang làm một công việc hữu ích nhất trong đời.

“Quét xong chưa mà mặt vui vậy?” vợ hỏi với ánh mắt hoài nghi trong lúc nhìn tôi đang cầm chổi múa ngoài sân.

“Dạ thưa em, anh quét xong rồi,” tôi toe miệng cười, biết rằng nàng không hiểu ý tôi muốn nói là tôi đã viết xong bài “Ông Vua Quét Đường.”

Hoàng Mai Đạt

Westminster, 31 tháng 7, 2010
Đăng trên nguyệt san 
Chánh Pháp tháng 9, 2010.

Theo Chân Những Tiếng Hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 24 Dec 2025

Chương 3.

Bắt Đầu Thời Đại Hoàng Kim

Hiện nay, tôi ở khu Chartreux của tỉnh Troyes, một tỉnh ở vùng Champagne có dòng Seine và dòng Aube chảy qua. Mỗi sáng, tôi cùng với ông bạn hàng xóm đưa nhau đến tiệm nước Galaxie (Ngân Hà) để uống cà phê. Ông bạn hàng xóm có tuổi hơn tôi một con giáp. Ông đã trưởng thành vào đầu mùa ca nhạc, tới bây giờ vẫn mê Ngọc Hà, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát … Chính ông giúp cho tôi nhiều tài liệu về tỉnh Gò Công để tôi viết hai quyển truyện dài là Lúa Tiêu Ruộng Biền và Bóng Đèn Tà Nguyệt. Khi tôi ngỏ ý viết một cuốn biên khảo về ngành ca vũ nhạc kịch của miền Nam từ thuở phôi thai cho tới ngày chung cuộc của miền Nam thì ông khuyến khích tôi nồng nhiệt. Song tôi ngại mình không có đủ tài liệu để viết cho được tương đối đầy đủ thì ông an ủi:

— Cậu biết bao nhiêu thì viết bấy nhiêu, nhớ tới đâu thì viết tới đó, còn hơn là không viết được gì. Dầu sao, quyển sách vẫn có chỗ dùng được cho những nhà biên khảo chuyên nghiệp mai sau. Những gì cậu viết bây giờ vẫn có thể giúp họ đôi chút tài liệu, hoặc đôi chút đầu giây mối nhợ để họ phăng tìm vô số tài liệu khác.

Viết thì tôi vẫn viết, nhưng tôi không mấy tin tưởng những điều ông khuyến khích tôi. Viết bằng ký ức của con người sắp vào tuổi lục tuần như tôi, chắc không thể bảo đảm sự chính xác lắm đâu. Biết vậy, nhưng tôi vẫn ngồi trước máy vi toán, gõ tới tấp như gió táp mưa sa trên những nốt chữ. Tôi cũng xin báo trước với độc giả rằng về bộ môn nhạc trẻ tôi chỉ biết vài nét tiêu biểu. Nhưng không lo, đã có hai anh Trường Kỳ và Nam Lộc hiện sinh sống ở Hoa Kỳ, họ có thể bổ túc giùm tôi những gì tôi thiết sót hụt hổng về môn nhạc trẻ bằng những tác phẩm do chính tay họ viết ra. Tôi cũng xin báo trước với quý vị rằng tôi cũng chỉ biết bộ môn thoại kịch qua vài nét khái quát. Viết về bộ môn nầy phải cần đến sự hỗ trợ của những kẻ đã từng tổ chức các buổi Đại nhạc hội thuở xưa, nhưng tiếc thay hiện nay tôi sống ở tại một tỉnh đìu hiu bên nguồn con sông Seine trên đất Pháp thì làm sao tôi có đầy đủ chất liệu để viết về bộ môn nầy, hử Trời? Tuy rên siết trầm thống như vậy, nhưng tôi vẫn phải viết, vẫn phải thập thúy tầm phương trong cái kho tàng các bộ môn trình diễn của miền Nam nước nhà để các độc giả kiều bào thưởng lãm. Ôi, trải qua bao cuộc dâu biển thăng trầm, các bộ môn ấy biết có còn sống rực rỡ trong hồi ức của các khách mộ điệu xưa cũ hay không?

Nói cho cùng, trước Hiệp định Genève, Tân nhạc dù đã được phe Việt Minh từ trong chiến khu phổ biến hay do giới yêu nhạc nhạc ở ngoài thị thành qua các nhà xuất bản Hương Mộc Lan, Tinh Hoa tung ra vẫn không quảng bá sâu rộng vào mọi từng lớp dân chúng, mà chỉ được giới trẻ, nhất là giới học sinh yêu chuộng mà thôi. Trong chiến khu, có các bài của Phạm Duy như “Nhạc Tuổi Xanh”, “Về Đồng Quê”, “Đường Về Quê”, “Quê Nghèo”, “Bà Mẹ Gio Linh” hay bản “Cương Quyết Ra Đi” của Nguyễn Ngọc Bạch, “Khúc Hát Sông Thao”, “Nhớ Chiến Khu” của Đỗ Nhuận, “Đoàn Quân Đi” của Việt Lang. Còn ngoài thành thị, lúc đầu cũng có những bài hướng về chiến khu như “Bến Cũ”, “Chiều Trong Rừng Thẳm”, “Lỡ Chuyến Đò”, “Một Chuyến Đi” của Anh Việt, “Mùa Đông Binh Sĩ” của Phan Huỳnh Điểu, hay những bài phấn khích lòng yêu nước, những bài ngợi ca tuổi trẻ như “Rạng Đông”, “Khỏe Vì Nước” của Hùng Lân, “Gươm Thần” của Võ Đức Thu. Có một sự lạ là tôi không hiểu vì sao bài “Nhớ Chiến Khu” của Đỗ Nhuận và bài “Đoàn Giải Phóng Quân” của Phan Huỳnh Điểu với những lời hướng về lực lượng Việt Minh rõ rệt mà nhà xuất bản Hương Mộc Lan vẫn tung ra được và bán sạch sành sanh ở đợt đầu? Nhưng từ năm 1950, những nhạc ủy mị lại được giới trẻ hâm mộ hơn. Do đó mà Ngọc Bích và Hoàng Giác tha hồ mà tung hoành Bên cạnh đó, Lê Mộng Nguyên ngoài bản “Trăng Mờ Bên Suối”, còn có những bài ủy mị nữa như “Nhớ Huế”, “Bài Thơ Huế”, Hoàng Trọng có “Tiếng Lòng”, “Nhạc Sầu Tương Tư”, “Buồn Nhớ Quê Hương”, Nguyễn văn Tý có “Dư Âm”, Dương Thiệu Tước có “Bóng Chiều Xưa”, “Ôi Quê Xưa”, Tô Vũ có “Tạ Từ”, “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa”, Lâm Tuyền có “Tiêu Khúc Trường Giang”, “Trở Về Dĩ Vãng”, “Tiếng Thời Gian”, “Hình Ảnh Một Buổi Chiều”, Thông Đạt có “Đôi Mắt Huyền”, “Ai Về Sông Tương”, Phạm Duy Nhượng có “Tà Áo Văn Quân” v.v …

Từ năm 1950, trong các chiến khu ra lịnh cấm hát Vọng Cổ và các bài bản Cổ nhạc Nam Kỳ. Nhưng lớp nông dân dù có hát Tân nhạc mà họ gọi là nhạc cải cách đi nữa, họ vẫn nhớ quay quắt cái thứ âm nhạc Nam Kỳ truyền thống. Thứ âm nhạc đó vốn là thứ nhạc lễ của đất Thần Kinh đã từ lâu đời theo làn sóng Nam Tiến vào vùng đất có sông Đồng Nai song Cửu Long để trổ thêm lá hoa và trái mới. Ngoài thành thị thì chính quyền Thuộc địa lúc trước và chính quyền Liên Hiệp Pháp lúc sau cấm hát những bài với lời có lợi cho phe Việt

Minh mà thôi, còn kỳ dư nhạc nào thì dân thị thành vẫn được phép hát tự do. Song lớp người cựu học, lớp người lớn tuổi cùng giới bình dân vẫn chuộng Vọng Cổ và Cổ nhạc Nam Kỳ cùng ngành ca kịch cải lương. Vả lại phần trình diễn Tân nhạc cho phim hát bóng lẫn chương trình Đại nhạc hội chỉ được trình diễn ở Sài Gòn hoặc ở các tỉnh gần Sài Gòn mà thôi.

Ngoảnh lại quá khứ, tôi chợt giật mình. Thấm thoát mà cuộc đời say mê nghệ thuật trình diễn của tôi gần nửa thế kỷ rồi. Giờ đây, trong tâm tưởng tôi chợt sáng lên quãng thời gian khởi đầu thời đại hoàng kim của nền tân nhạc. Từ năm 1949, đã có chương trình phụ diễn Tân nhạc cho rạp chiếu bóng Nam Việt ở Chợ Cũ. Sau đó tới rạp Văn Cầm, Nam Quang, Thanh Bình, Việt Long. Rạp Nam Quang ở Chợ Đủi do một nhân viên kế toán làm tại hãng STIC (Société de Transport d’Indochine) của người Pháp tên là Lâm Trọng Khanh bỏ tiền ra xây cất. Ông Khanh vốn là con của một nghiệp chủ giàu sụ tên là Lâm Trung, gốc Tàu lai có ngôi biệt thự ở góc đường Aras (sau đổi tên lại là đường Cống Quỳnh) và đường Galliéni (sau đổi là đại lộ Trần Hưng Đạo). Còn rạp Thanh Bình ở Chợ Thái Bình do một chủ nhân xưởng sửa chữa máy vô tuyến điện Mécanal Radio ở  đường Lefebvre (sau đổi tên là đường Nguyễn Công Trứ) bỏ tiền ra xây cất. Rạp Thanh Bình tân thời và bảnh nhất vì sân khấu lẫn bao lơn (balcon) và chỗ chứa hàng ghế khán giả rộng rãi, lại có chỗ để gửi xe đạp cùng xe gắn máy ở bên hông rạp, thập phần tiện lợi cho khán giả. Từ phụ diễn Tân nhạc đi đến các tổ chức Đại nhạc hội không xa vì Đại nhạc hội cũng gần giống như chương trình phụ diễn Tân nhạc, nhưng thay vì chiếu phim thì họ tăng cường thêm nhiều tiết mục văn nghệ trình diễn hơn, làm thỏa mãn khách mộ điệu hơn. Lần lượt về sau, cho tới chung cuộc miền Nam, những rạp sau đây đều có chương trình phụ diễn Tân nhạc như rạp Việt Long ở Bàn Cờ, rạp Văn Cầm và rạp Cẩm Vân ở chợ Phú Nhuận, rạp Văn Cầm và rạp Moderne ở Tân Định (có tới 3 rạp Văn Cầm ở Sài Gòn lận!), rạp Cao Đồng Hưng và rạp Đại Đồng ở Bà Chiểu, rạp Thanh Vân ở Hòa Hưng, rạp Long Vân ở Quận 3 Sài Gòn … Nhưng rạp Việt Long chỉ có sau khi chính quyền cho xây cất khu chợ Bàn Cờ. Chính ở rạp nầy, hình như nhạc sĩ Đức Quỳnh tổ chức phụ diễn Tân nhạc cùng Đại nhạc hội thường xuyên. Vào thuở trước Hiệp định Genève, tức là dưới chánh thể Quốc Gia trong Liên Hiệp Pháp, trong số khán giả xem phim chiếu bóng còn có nhiều người Pháp. Cho nên trong các chương trình phụ diễn Tân nhạc, Trần văn Trạch giới thiệu từng tiết mục bằng hai thứ tiếng (tiếng Việt và tiếng Pháp). Đôi khi có chị Minh Trang hoặc anh Thu Hồ, anh Mạnh Phát đảm nhiệm công việc nầy.

Phạm Duy và ban Thăng Long bỏ chiến khu Việt Bắc, dinh tê về Hà Nội rồi vào Nam lập nghiệp năm 1951. Những nhạc phẩm rất thịnh hành của anh trong thời anh theo kháng chiến ở Việt Bắc như “Nhạc Tuổi Xanh”, “Khúc Hát Sông Lô”, “Về Đồng Quê” được anh sửa đổi những lời sắt máu thành những lời tươi sáng yêu đời. Lúc đầu ban Thăng Long chỉ có Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng. Về sau mới thêm Phạm Duy và Khánh Ngọc. Lối hợp ca của họ đến Sài Gòn gây giông bão ngay, song song với bè chính còn có thêm bè hai, bè ba nghe thật sướng lỗ tai. Những bản do họ hát đều là nhạc hành khúc hay nhạc vui tươi như các bản “Nghệ Sĩ Hành Khúc” và “Ngựa Phi Đường Xa” của Lê Yên, “Thanh Niên Việt Nam”, “Bình Dân Học Vụ”, “Về Đồng Quê” của Phạm Duy, “Hò Leo Núi”, “Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng”, “Được Mùa”, “Tiếng Dân Chài” của Phạm Đình Chương. Lối hòa âm lạ tai cùng lối trình diễn nhộn nhàng biến màn hợp ca của họ thanh cây đinh sáng chói trong các chương trình phụ diễn Tân nhạc hay trong các chương trình Đại nhạc hội. Từ trước, mỗi khi hợp ca thì các ca sĩ cùng hát bè chính nghe như bầy bò chạy rần rần. Giờ khán giả lại được nghe ban Thăng Long chơi trội với màn hợp ca bằng các bè khi thì quấn quyện ôm ấp nhau, khi thì chẻ ra làm ba cực kỳ mê cảm, bởi đó giới sành điệu không say mê sao được? Thuở đó có nhiều khán thính giả thường bảo rằng ban Thăng Long với các ca sĩ Hoài Chanh, Hoài Ớt, Thái Tiêu, Thái Hành để chỉ rằng cả bốn anh em trong gia đình Thăng Long biết ướp nhiều gia vị cho màn hợp ca làm cho màn hợp ca thập phần nồng mặn.

Song song với ban hợp ca Thăng Long, hai chị Thái Thanh và Thái Hằng cũng xuất hiện trong những màn song ca như “Dưới Nắng Hồng” của Dương Thiệu Tước, “Dòng Sông Xanh” nhạc của Johann Strauss, lời Việt của Phạm Duy. Còn Hoài Trung và Hoài Bắc thì song ca “Hàm Xôi Phá Xa” mà khán giả vẫn không sao quên được những câu:

Ai mua lạc rang

Nóng ngon thêm ròn?

Ngoài ra, nhạc sĩ Lê Thương thường soạn những màn nhạc cảnh như “Lịch Sử Loài Người”, “Trên Sông Dương Tử”. Nhưng nhạc cảnh vẫn còn chói sáng trong tâm tưởng khán giả là nhạc cảnh “Hòn Vọng Phu”. Sau đó, có nhiều người khác bắt chước ông soạn những nhạc cảnh “Trầu Cau”, “Thiếu Phụ Nam Xương”, “Sơn Tinh Thủy Tinh” v.v … Tôi xin điểm từng khuôn mặt của thuở bắt đầu vào thời đại hoàng kim của chương trình phụ diễn Tân nhạc và chương trình Đại nhạc hội, từ năm 1949 cho tới khởi đầu phong trào người Bắc theo đợt sóng di cư vào miền Nam lập nghiệp.

Trần văn Trạch:

Tuy có giọng hát mùi rệu và cực kỳ mê cảm, nhưng anh nhắm xa, nhận thấy giọng nầy chỉ thích hợp với giới sành nhạc, nhưng khó mà khua động vào mọi tầng lớp khán thính giả, cho nên anh xoay qua hát nhạc hài hước. Trong những màn nhạc hài hước ấy anh có thể giả giọng tiếng máy bay, tiếng dội bom, tiếng nã rốc-kết. Đôi lúc anh sửa lời các bản nhạc lừng danh thành lời hài hước, chẳng hạn:

Người nghệ sĩ đi té xuống mương

Ba ngày sau nổi lên sình trương

Sình thì sình em vẫn cứ thương

Thương thì thương, nhưng vẫn sình trương.

(Nhại bài “Lỡ Chuyến Đò” của Anh Việt)

Chiều ơi, lúc chiều về bà bóng đi tu

Ông chồng buồn, ổng khóc hu hu, hỡi chiều!

(Nhại bài “Nương Chiều” của Phạm Duy)

Tò te ma le đánh đu,

Tarzan nhảy dù, Zorro bắn súng

Chết cha, con ma nào đây, thằng Tây hết hồn

Thằn lằn cụt đuôi

(Theo điệu bài “Ce n’est qu’un Aurevoir”)

Ca hát như vậy chẳng chút nghệ thuật, chẳng còn niêm luật lề lối gì cả. Nhưng nhờ vậy, cách chọc cười của anh làm ấm nóng và nhộn nhàng sân khấu. Mỗi khi Trần văn Trạch xuất hiện trên sân khấu là y như mang theo cơn bão cười đến. Anh để tóc dài như người sơn cước, ăn mặc cẩu thả với màu tối hù cho ra dáng dấp nghệ sĩ, cho có nhân dáng một người tiền sử. Nhưng nụ cười hiền hậu và ấm áp lúc nào cũng nở sáng trên môi anh. Khán giả yêu mến anh; anh nói ra câu nào, làm trò khỉ cách nào thì họ cũng cười ngặt nghẽo. Màn trình diễn của anh chấm dứt, cơn cười vẫn còn sôi sục trong lòng họ. Đó là thời kỳ ngôi sao anh đang chiếu sáng lộng lẫy. Thiên hạ dễ bị kích thích ở lối chọc cười của anh. Trần văn Trạch có cho thu thâu vào dĩa nhựa bản “Đừng Có Lo” của chính anh được diễn tả bằng giọng hát du dương cực độ của anh. Tuy là bản nhạc hài hước, nhưng lời hát thật thâm trầm với nhân sinh quan thật dễ thương.

Đừng lo lắng! Đừng thèm lo lắng

Có riêng gì ta khổ tâm mà lo rầu

Châu Do còn bị Gia Cát, chín nút còn bị ba Tây

MacArthur tiên sinh còn phải có lúc cuốn gói chạy

dông về vườn.

Khi trình bày bản nầy, Trần văn Trạch áp dụng khi thì bằng giọng thật chắc nịch như đá hoa cương, khi thì anh bào mỏng giọng hát cho thật mượt mà như lụa và chói chang như gấm vóc. Ở những bản mùi rệu và du dương như “Dạ Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca, “Nàng Hà Tiên” của Lê Thương, “Đừng Có Lo” của Trần Văn Trạch một khi đã được chính anh hát rồi thì các ca sĩ khác không dám hát. Bởi giọng của anh đẹp kinh khủng và bởi anh có lối trình bày độc đáo tuyệt vời, không trùng lẫn với giọng hát và cách trình diễn của ai, cho nên nếu ai đó hát những bài vừa kể trên thì cầm chắc là phải thua sút anh ngay.

Vào đầu mùa nền Đệ nhất Cộng Hòa, ban Sầm Giang của Trần văn Trạch giới thiệu được các tài năng mới như Ngọc Phu, Đỗ Đình Phù, Tô Huyền Vân, Yến Hương v. v … Trong phim Thoại Khanh Châu Tuấn, Trương Chi My Nương, anh có cho Ngọc Phu đóng hai vai quan trọng. Còn trong phim Lưu Bình Dương Lễ, anh cho Tô Huyền Vân đóng vai Dương Lễ bên cạnh Vân Hùng trong vai Lưu Bình, Kim Cương trong vai Châu Long. Ngọc Phu có duyên với điện ảnh hơn, cho nên về sau Ngọc Phu tiếp tục nhào qua lãnh vực nghệ thuật thứ bảy cho tới ngày Cộng Sản bạo chiếm Sài Gòn.

Về điện ảnh, Trần văn Trạch có đóng phim Lòng Nhân Đạo bên cạnh Kỳ Nữ Kim Cương. Phim nầy phỏng theo quyển Tiếng Súng Đêm Mưa của Phú Đức, do hãng Mỹ Phương sản xuất. Sau đó ít lâu, anh mạnh dạn làm đạo diễn cho các cuốn phim thần thoại của hãng Việt Thanh như: Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương, Lưu Bình Dương Lễ, Bạch Viên Tôn Các, Hậu Bạch Viên Tôn Các, Tam Tạng Xuất Gia, Mục Liên Thanh Đề, Trương Chi My Nương, Ông Hoàng Ốc, Người Vợ Hiền v.v … Anh đã thắp hào quang thêm cho cặp Vân Hùng, Kim Cương ở lãnh vực điện ảnh và giới thiệu những tài năng điện ảnh mới như La Thoại Tân, Trang Thiên Kim, Đoàn Thiên Kim v. v …

Báo chí gọi anh là Quái Kiệt Trần văn Trạch. Nhưng theo tôi, biệt danh ấy vẫn chưa xứng đáng cái công lao của anh đối với ca nhạc và điện ảnh từ giai đoạn phôi thai cho tới trưởng thành.

Năm 1990, trong bữa dạ yến tại nhà hàng Đào Viên, tôi được ngồi gần bên Quái Kiệt Trần văn Trạch. Anh có ngỏ lời với tôi rằng anh sẽ viết một quyển hồi ký. Nhưng than ôi, anh cứ đau ốm dây dưa mãi nên cầm bút không nổi và từ trần vào năm 1993. Trong giới nghệ sĩ đến thăm nom anh khi anh nằm bịnh viện chỉ có Cao Thái là thường xuyên nhứt. Nhắc tới anh, nữ sĩ Huyền Châu không sao cầm được nước mắt. Và tôi ngậm ngùi khó tả. Chỉ được chuyện vãn với anh hai lần trong hai bữa dạ yến (lần đầu ở nhà hàng Majesty, lần thứ hai ở nhà hàng Đào Viên) mà tôi cảm thấy hãnh diện đã được một nghệ sĩ lớn tâm sự về bước chông gai thăng trầm của anh trên con đường nghệ thuật.

Trước hôm cùng tôi ôn cố nhi tri tân ở quán Đào Viên ít lâu, nhân dịp nữ danh ca Thái Thanh qua Paris trình diễn ở rạp Maubert Mutualité, Trần văn Trạch có thay mặt ban tổ chức lên sân khấu tặng cho chị một bó hoa. Cả hai ôm nhau cảm động, Thái Thanh rưng rưng nước mắt làm cho rất nhiều khan giả khóc theo. Tôi còn nhớ khi Phạm Duy và ban Thăng Long vừa vào Nam thì Trần văn Trạch tiếp đón họ niềm nở và chụp chung một tấm ảnh với họ. Khi đăng ảnh lên các tuần san kịch ảnh thì dưới bức ảnh lại đề là “Ban Thăng Long và nghệ sĩ Nam Tiến”.

Trần Văn Trạch

Trần Văn Trạch

Trần Văn Trạch

* Túy Hoa:

Từ sân khấu Nam Phi, chị qua gánh Tố Như, rồi sống hẳn về Tân nhạc giữa lúc đang độ thanh sắc bừng trổ sung mãn. Chị hát nhạc Pháp và lời Pháp rất thạo. Trên sân khấu Đại nhạc hội, hay trong chương trình phụ diễn Tân nhạc, chị mặc áo đầm, áo sơn nữ miền Bắc. Lúc đó, cuộc đời của chị đang lên hương. Số là nghĩa mẫu của chị là nữ hoàng ca kịch cải lương Năm Phỉ nhận thấy cô em gái của mình là nữ nghệ sĩ Mười Truyền và cô nghĩa nữ Túy Hoa của mình tuy là đào cải lương, nhưng ca không thạo những bài bản lắt léo như “Tứ Đại”, “Tây Thi”, “Văn Thiên Tường” … Bà lại thấy xa: cái thế hệ của Mười Truyền và Túy Hoa còn có hai bộ môn khác có thể đóng góp huy hoàng vào sân khấu cải lương, ngoài Cổ nhạc Nam Kỳ ra. Đó là bộ môn vũ và bộ môn nhạc Tây vậy. Hồi Túy Hoa theo gánh cải lương Nam Phi của bà thì Tân nhạc còn quá phôi thai, quá ít bài hát. Cho nên bà khuyên Túy Hoa phải noi gương cô đào Kim Thoa học hát nhạc Tây lời Việt. Không ngờ Túy Hoa chẳng những hát nhạc Tây lời Việt rựa ràng mà còn hát nhạc Tây lời Tây với lối phát âm vững vàng. Còn Mười Truyền khi còn là vợ bé của thầy Đội Có, một tay giàu sụ nổi tiếng ở Phú Nhuận, có lần được chồng cho sang Pháp. Bà Năm Phỉ khuyên em gái nên học môn vũ. Cho nên về sau, trên sân khấu Nam Phi, Mười Truyền biểu diễn những màn vũ cực kỳ ngoạn mục, nổi tiếng như cồn trong 5 năm cuối của thập niên 50. Mười Truyền khi vũ theo bản valse “Le Beau Danube Bleu” được báo chí tán thưởng nhiệt liệt. Nhưng mà nói cho cùng, người sành điệu thừa hiểu giọng của Túy Hoa có vẻ gì mong manh, dù nó mềm mại, trong sáng và lưu loát. Giọng hát đó trội hơn giọng hát tài tử, nhưng chưa đạt cái mức nhà nghề. Nếu không có nhan sắc lộng lẫy dưới ánh đèn sân khấu, nếu không có điệu bộ diễn tả hấp dẫn thì Túy Hoa không thể chinh phục khán thính giả bằng giọng hát thuần túy của mình. Trong màn nhạc cảnh “Xuân Xuân”, chị mặc áo đầm đỏ, vừa hát vừa múa theo điệu samba của bản nhạc “Xuân Xuân” của Nguyễn Hữu Ba tạo nên một hiện tượng lạ mắt và hấp dẫn. Chị mặc áo chàm thêu ngân tuyến, đeo kiềng bạc, vòng tay và kiềng chân đều bằng bạc để thủ vai cô sơn nữ miền Cao Bắc Lạng và hát bản “Nụ Cười Sơn Cước” của Tô Hải hoặc bản “Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn là tiết mục sáng chói trên sân khấu. Nói gì những màn ca múa cùng với Minh Nguyệt, Hoàng Yến và Hồng Lan với y phục gái Hạ-uy-di, với y phục gái Ai cập, gái Tàu, gái mạn ngược đất Bắc, chị luôn luôn gây không khí ấm áp và sôi nổi trên sân khấu.

Mãi tới tuổi tứ tuần, Túy Hoa vẫn có thể đóng vai đẹp trên sân khấu. Càng lớn tuổi, óc trào lộng của chị càng bừng nở nên chị đóng các vai hài rất đạt. Trong phim Tình Quê Ý Nhạc của hãng Mỹ Vân, chị đóng trội hơn Mộc Lan dù chị thủ vai nhì còn Mộc Lan thủ vai chính. Chị còn đóng phim cải lương Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài bên cạnh nữ tài tử Lan Chi (khi đi hát cải lương thì lấy tên Thanh Lựu) cũng rất mặn mà sắc sảo. Trong phim nầy Túy Hoa thủ vai Chúc Anh Đài, còn Lan Chi giả trai thủ vai Lương Sơn Bá. Tiếc thay phim quá ngắn nên các chủ rạp miệt Lục Tỉnh đành cho chiếu cặp với các phim Tàu hoặc các phim Nhật Bản do hãng Mỹ Vân chuyển âm.

Cuộc hôn nhân giữa Túy Hoa và Anh Lân đem lại cho Túy Hoa nhiều cay đắng. Anh Lân có trình độ học vấn tầm thường, trước khi kết hôn với Túy Hoa thì chưa biết gì về chuyện soạn kịch, chưa biết đóng kịch. Khi soạn được kịch rồi thì anh vẫn chưa thể sáng tác nổi một vở kịch nào xuất sắc vì anh không nắm vững kỹ thuật sân khấu. Còn về chuyện đóng kịch thì anh chỉ dám đảm nhận những vai nhạt nhẽo hoặc những vai vô thưởng vô phạt mà thôi. Khoảng tuổi ngũ tuần là quãng thời gian cô đơn nhiều nhất của Túy Hoa. Sau khi rời bỏ Anh Lân chị có gặp một người yêu nhỏ tuổi hơn chị nhiều. Nhưng người tình ấy lại đoản mệnh, chung sống với chị không bao lâu thì anh bị bạo bệnh từ trần. Có lần chị tìm an ủi bên cạnh Ngọc Chiếu. Trước sau, cả hai vẫn chỉ là bạn thuần khiết. Họ gặp nhau lúc chàng béo phị và có cái bụng to như thùng nước lèo, còn nàng thì phấn lợt hương phai, chuyên thủ các vai hề cái trên sân khấu và trên màn ảnh Tivi. Họ tìm nhau để ôn lại cuộc đời hưng phế và sự nghiệp thăng trầm bên sóng biển Vũng Tàu, thế thôi!

* Bích Thuận:

Vào năm 1951, chị Bích Thuận khi đi Tây về cộng tác với đoàn Phụng Hảo do bà Bảy Phùng Há làm giám đốc. Chị xuất hiện trên đài Pháp Á thường xuyên và xuất hiện luôn trên các sân khấu Đại nhạc hội. Trong thời gian ở bên Pháp, Bích Thuận có quen được nhạc sĩ Đan Trường, một quân nhân trong quân đội Pháp và sinh sống khá lâu trên đất Pháp. Khi về nước, những bản nhạc của Đan Trường như “Trách Người Đi”, “Chiếc Áo The Thâm Tàn” được chị trình bày thật hấp dẫn. Nhưng khi bản “Trách Người Đi” được thâu vào dĩa Polyphone thì lại do Mộc Lan hát. Theo tôi, Kim Chung, Bích Hợp và Bích Thuận khi hát Tân nhạc thì ngân nga rất vững, giàn trải làn hơi rất nghề. Họ không hát sai và hát gãy khi đến những chỗ hóc búa. Và phải công nhận làn hơi của họ dồi dào. Bích Thuận hát rất đơn giản, không hề dùng xảo thuật điệu đàng. Kim Chung và Bích Hợp chỉ điệu một chút phớt nhẹ để tăng cái nữ tính yêu kiều trong giọng hát chứ không nghẹo vặn vẹo giọng hát. Tự bản chất, giọng hát của họ là vàng ròng, là ngọc báu, sáng đẹp tự nhiên, chứ không cần giồi mài cắt dũa. Tân nhạc không phải là địa bàn hoạt động mới mẻ của Bích Thuận, nhưng nó mở tầm hoạt động của một người có tài năng trình diễn như chị. Do đó, chị trở thành cây đinh sáng chói trong các buổi phụ diễn tân nhạc hoặc trong các buổi Đại nhạc hội.

Trong ba năm chót của thập niên 40 và trong 5 năm đầu của thập niên 50, ngôi sao của chị Bích Thuận sáng lộng lẫy. Cho nên, nhất cử nhất động của chị được báo chí theo dõi. Việc người đàn bà lai Pháp tên là Julie Gicquel bỏ tiền ra lập gánh cho chị bị báo chí thêu dệt giữa bà ta và chị có những liên hệ đồng tính luyến ái. Ít lâu, báo chí lại tung tin chị bị bịnh cùi. Giờ đây, trải qua trên 40 năm, khi ngồi ôn những chuyện xưa bên tách trà mạn sen với chị trong căn nhà ấm cúng vùng Belleville (thuộc quận 20 thành phố Paris), tôi được người nữ nghệ sĩ tài danh ấy tâm sự:

— An nên biết bà Julie Gicquel có chồng và có hai con. Hồi xưa, khi Mỹ chưa đổ bộ qua xứ mình thì làm gì có chuyện đồng tính luyến ái? Cái bệnh kẻ đồng phái yêu nhau là do tụi lính Mỹ đem qua xứ mình chứ ai? Và có một thời, chị dùng sâm và yến tẩm bổ quá nhiều, thể chất chị không thể hấp thụ quá nhiều chất bổ nên mặt chị sưng vêu lên, chỉ cần uống thuốc Bắc và châm cứu là khỏi ngay.

Theo Chân Những Tiếng Hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 23 Dec 2025

Chương 2

Thời Hoa Chớm Nụ Thưở Trăng Chưa Tròn

Tôi không được trưởng thành vào thuở tiền chiến nên không hiểu vào thuở đó bản nhạc của ai được thịnh hành. Khi tôi lên năm tuổi thì Nhật đánh đuổi Tây để chiếm Đông Dương, sau đó là nạn đói xảy ra tại đất Bắc. Trước đó, lớp cô chú tôi hưởng ứng phong trào yêu nước do nhóm sinh viên gốc miền Nam ra ngoài Bắc du học như Lưu Hữu Phước, Mai văn Bộ, Huỳnh văn Tiểng chủ trương. Họ tổ chức cuộc cắm trại bên suối Lồ Ô để đọc diễn văn nhằm nhắn nhủ lớp thanh niên rằng cơ hội giành lại chủ quyền cho dân tộc sắp đến. Diễn giả cùng thính giả tuần tự hát những bản do Lưu Hữu Phước sáng tác và do Mai văn Bộ cùng Huỳnh văn Tiểng phổ lời như: “Thanh Niên Hành Khúc”, “Lên Đàng”, “Xếp Bút Nghiên”, “Bạch Đằng Giang”, “Ải Chi Lăng”, “Hội Nghị Diên Hồng”, “Hờn Sông Gianh”, “Hồn Tử Sĩ”, “Khúc Khải Hoàn”, “Gieo Ánh Sáng”, “Thiếu Sinh Việt Nam”, “Thiếu Nữ Việt Nam” …

Trong thời Nhật chiếm Đông Dương, hai bản nhạc ngoại quốc thịnh hành nhất là “Hà Nhật Quân Tái Lai” (có nghĩa là “Ngày Nào Chàng Trở Lại”) và bản “Shina no Yoru” (“Tô Châu Dạ Khúc”). Có người đặt cho bài “Hà Nhật Quân Tái Lai” cái tựa tiếng Pháp là “Tango Chinois”. Bản “Tô Châu Dạ Khúc” được cô đào gốc Mãn Châu lai Nhật tên là Lý Hương Lan (Shirley Yamaguchi) hát trong một phim chiến tranh của Nhật. Còn bản “Hà Nhật Quân Tái Lai” thì trước đó do nữ danh ca Châu Thuyền hát ở Hồng Kông và Tân-gia-ba, luôn

cả ở các cộng đồng người Hoa Kiều tại Cựu Kim Sơn (Hoa Kỳ), rồi về sau nầy bài lại được Ảnh hậu Lý Lệ Hoa hát trong cuốn phim Mối Tình Dị Bang. Bởi được các minh tinh trong ca trường ảnh giới hát, bảo sao hai bản nầy không nổi tiếng ở Chợ Lớn? Mà hễ mấy chú Chệt và mấy cô Xẩm ở Chợ Lớn ái mộ rồi thì lớp thanh niên Việt Nam cũng ái mộ hát theo. Tuổi hoa niên của tôi bắt đầu vào hai năm chót của thập niên 40. Nhưng từ năm 1948, các nhạc sĩ tiền chiến và các nhạc sĩ đương thời sau đây có tác phẩm ăn khách nhất:

— Hoàng Quý với “Ngày Xưa”, “Tiếng Chim Gọi Đàn”, “Chùa Hương”, “Bóng Cờ Lau” …

— Đặng Thế Phong với “Giọt Mưa Thu”, “Con Thuyền Không Bến”, “Đêm Thu”.

— Lưu Bách Thụ với bản “Con Thuyền Xa Bến”.

— Văn Cao với “Chiến Sĩ Việt Nam”, “Không Quân Việt Nam”, “Bắc Sơn”, “Thăng Long Hành Khúc”, “Đàn Chim Việt”, “Thiên Thai”, “Trương Chi” …

— Lê Thương với bản “Hòn Vọng Phu”, “Ai Xuôi Vạn Lý” (“Hòn Vọng Phu II”), “Người Chinh Phu Về” (“Hòn Vọng Phu III”), “Học Sinh Hành Khúc”, “Lòng Mẹ Việt Nam”, “Hoa Thủy Tiên”, “Thằng Cuội” …

— Phạm Duy với “Nhạc Tuổi Xanh”, “Nương Chiều”, “Nhớ Người Thương Binh”, “Gánh Lúa”, “Về Đồng Quê”, “Đường Về Quê”, “Chinh Phụ Ca”, “Cô Hái Mơ”, “Tiếng Đàn Tôi”, “Lời Kỵ Nữ”, “Cây Đàn Bỏ Quên” …

— Dzoãn Mẫn với “Cô Lái Đò Mơ”, “Ghé Đây Thuyền Mơ”, “Biệt Ly”, “Một Túp Lều Tranh” …

— Thẩm Oánh với “Trên Mây”, “Thiếu Phụ Nam Xương”.

— Dương Thiệu Tước với “Dưới Nắng Hồng”, “Khúc Nhạc Dưới Trăng”, “Ngọc Lan”, “Bóng Chiều Xưa” …

— Anh Việt với các bản “Chiều Trong Rừng Thẳm”, “Lỡ Chuyến Đò”, “Bến Cũ”, “Một Chuyến Đi” …

— Hùng Lân với các bản “Rạng Đông”, “Hè Về”, “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” …

— Võ Đức Thu với “Nhà Việt Nam”, “Quyết Tiến”.

— Văn Thủy với “Dứt Đường Tơ”.

— Hoàng Giác với “Ngày Về”, “Mơ Hoa”.

Từ năm 1950, cuộc chiến tranh có vẻ lắng dịu ở miền Nam. Những vùng ngoại ô và những vùng phụ cận các thành phố không còn xảy ra các cuộc chạm súng thường xuyên. Hình như bao nhiêu lực của hai bên đối phương dồn về các mặt trận lớn ở Cao Bằng, Lạng Sơn và nhất là ở Điện Biên Phủ. Trong Nam, nhạc hùng dần dà lắng xuống để nhường cho nhạc tình ủy mị. Lúc đó những bản nhạc thịnh hành là:

“Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn, “Dư Âm” của Nguyễn văn Tý, “Trăng Mờ Bên Suối” của Lê Mộng Nguyên, “Nụ Cười Sơn Cước” của Tô Hải, “Trở Về Bến Mơ” của Ngọc Bích, “Chiều Tha Hương” của Hoàng Trọng, “Cây Đàn Bỏ Quên” của Phạm Duy … Dân thị thành cố tình quên bao tai biến vẫn còn lảng vảng trong giờ giới nghiêm nên tìm về chất thơ mộng ướt át trong các bộ môn nghệ thuật. Lúc đó, về văn chương, họ tìm đọc những quyển Cuộc Đời Một Thiếu Nữ của Thanh Nam, Bóng Ngày Qua của Trần Anh Kim, Cánh Hoa Mùa Loạn của Nguyễn Minh Lang, Hồng và Cúc, Ngày Về và Rừng Thẳm Bể Khơi của Ngọc Sơn, Hương Duyên, Gió Mới của Thanh Thủy, Lầu Tỉnh Mộng, Hoa Tỷ Muội của bà Tùng Long, Tiếng Suối Sau-Leng, Nát Cánh Hoa Rừng của Nguyễn Ngọc Mẫn. Về phim ảnh thì những phim ca nhạc của hãng M.G.M (Metro

Goldwyn Meyer) tô màu Technicolor hay những phim phiêu lưu thần thoại với các tài tử John Hall, Douglas Fairbank Jr., Tony Curtis, Kevin Matthew … (bên Nam), Maria Montez, Yvonne de Carlo, Piper Laurie … (bên nữ). Thành phố Vĩnh Long của tôi lại nổi tiếng là thành phố an lành nhất kể từ đầu mùa khói lửa. Cho nên trong thời gian đó, tôi có cảm tưởng chiến tranh mỏng dần để rồi tan biến như sương gặp nắng ấm.

Vào buổi chớm xuân 1996 nầy, tại vùng yên tĩnh nhất của tỉnh Troyes trên đất Pháp, tôi mơ màng sống lại vào năm 1972, khi tôi cộng tác cho ban “Nhạc Chủ Đề Mộc Lan” trên đài Truyền Hình Việt Nam. Tôi giữ phần chọn nhạc và viết lời dẫn nhập cho từng bản nhạc cùng là mời các ca sĩ. Những ca sĩ mà tôi nhắm tới là Kim Tước, Châu Hà, Mai Hương, Quỳnh Giao, Tuyết Hằng, Thu Hà, Hồng Vân, Phương Nga, Diễm Chi (bên nữ), Anh Ngọc, Duy Trác, Phượng Bằng, Nhật Trường (bên nam). Trong thời gian đó, tôi có nhiều dịp đến

viếng tư thất của chị Mộc Lan. Nhà chị hơi nhỏ, chưng nhiều món ngoạn hảo đẹp lạ lùng. Nhà lại tọa lạc trên mảnh đất nhỏ trồng nhiều thứ hoa. Tôi thích nhất những cây ngọc lan lùn thấp mà sau cơn mưa đơm rất nhiều hoa màu ngà tươi và thoang thoảng ngát hương. Năm đó, chị Mộc Lan ngoài 40 tuổi, đẹp lộng lẫy. Chị nhờ khoa giải phẩu thẫm mỹ sữa chiếc mũi hơi thô thành mũi dọc dừa nên khuôn mặt chị đẹp trội hẳn lên. Chị thường tiếp tôi với chiếc áo bà ba bằng vải phin trắng mỏng, chiếc quần sa teng tuyết nhung đen. Ăn mặc quê mùa nhã đạm khi còn ở trong nhà như vậy, nhưng chị vẫn giữ vẻ cao sang kiều diễm như thường.

Bên những tách trà mạn sen bốc khói chị kể cho tôi nghe biết bao giai thoại kỳ thú thuở chị còn thanh xuân. Thuở đó, vào khoảng giữa thập niên 40, đất Thần Kinh có một ca sĩ xuất thân dòng hoàng tộc. Đó là anh Tôn Thất Niệm, một giọng hát cực kỳ gợi cảm và cũng là ngôi sao của đài phát thanh Huế. Giọng anh là một món trân ngoạn tinh xảo, được chạm khắc những bông hoa hình dáng thật trau chuốt, thật ngoạn mục. Giọng hát sáng ngời như kim cương, khi xuống thấp thật mê cảm, dù không đạt một kỹ thuật cao, nhưng tự bản chất đó là thứ rượu dậy men nồng ngát say sưa. Nhưng khoảng đời làm nghệ thuật của anh quá ngắn, vì anh phải đeo đuổi việc sách đèn để sau nầy trở thành một y sĩ nổi tiếng. Ở Huế còn  có một giọng kim (ténor) cực kỳ phong phú và dũng mãnh.Đó là giọng hát của Lê Mộng Hoàng. Nhưng Lê Mộng Hoàng không thích trở thành ca sĩ và ôm ấp mộng làm đạo diễn phim ảnh. Ít lâu anh sang Pháp học trường IDHEC để rồi sau nầy khi về nước trở thành đạo diễn lừng danh ngay từ khi thực hiện phim đầu tay là Bụi Đời (có nhiều nhà báo ác miệng nói lái lại thành phim “Bợ Đùi”). Huế còn có các nữ ca sĩ như Thanh Hồng, Thanh Nhạn, Minh Ngọc, Hương Thủy, những kẻ đi trước các nữ ca sĩ Hà Thanh và Thương Hà sau nầy. Cũng theo lời chị Mộc Lan, Đức Hoàng Đế Bảo Đại có tâm hồn nghệ sĩ và rất yêu âm nhạc. Chính Ngài chơi dương cầm rất giỏi. Ngài thường mời các ca sĩ ban nhạc Thần Kinh như Mạnh Phát, Châu Kỳ, Vĩnh Lợi, Minh Diệu, Mộc Lan, Minh Tần cùng chị Minh Trang và anh Tôn Thất Niệm vào hoàng cung ăn yến. Thuở đó cuộc sống lứa đôi giữa Châu Kỳ

và Mộc Lan đã gặp cảnh cơm không lành canh không ngọt. Trước khi ăn các món giáo đầu, nhóm hầu bàn đặt trước mặt mỗi người khách một chiếc tô có vẽ rồng phụng tuyệt đẹp đựng lưng lửng thứ nước trong mát. Đó là tô nước để thực khách rửa tay trước khi dùng tiệc. Nhưng Châu Kỳ lại tưởng nước uống nên không cần dòm trước ngó sau, cứ kê miệng ực gần cạn tô làm chị Mộc Lan quê quá!

Vào hai năm cuối thập niên 40, một ngôi sao sáng tân nhạc chợt xuất hiện trên đài phát thanh Pháp Á. Đó là ca sĩ Anh Ngọc. Đây là một giọng hát có kỹ thuật già dặn. Anh Ngọc là một chủng sinh xuất thân từ một chủng viện ở Hà Nội. Anh có dáng cao dong dỏng và rất đẹp trai, khuôn mặt phương phi hồng hào, cặp mắt sắc nhưng đa tình, nụ cười điềm đạm và tươi rạng. Giọng anh thuộc loại baryton rất trầm ấm.

Anh hát đúng theo nốt nhạc cây dương cầm, hát theo đúng trường độ và cao độ của một nốt nhạc trong bản nhạc. Có lẽ vì anh quá hát đúng nên có người cho anh là một kẻ hát giỏi chứ không hát hay và theo đương sự, anh là thợ hát chứ không phải là ca sĩ. Nhưng trên sân khấu, vóc dáng và khuôn mặt anh làm say mê biết bao nữ khán thính giả. Có nhiều ký giả gọi anh là “vua tân nhạc”. Hãng dĩa Oria có mời anh hát bài “Đôi Chim Giang Hồ” của Ngọc Bích. Về sau, tôi có hỏi ý kiến nhiều ca sĩ thượng thặng về giọng hát của anh. Chị Mộc

Lan bảo:

— Anh Ngọc hát khô quá!

Nữ ca sĩ Quỳnh Giao bảo:

— Anh Ngọc hát giỏi trong khi đó Duy Trác hát hay. Theo Quỳnh Giao thì Anh Ngọc hát bài “Tiếng Chuông Chiều Thu” của Tô Vũ và bài “Giấc Mơ Hồi Hương” không chê vào đâu được. Nhạc sĩ Vũ Thành đã từng bảo các bạn hữu quen thân:

— Bản “Giấc Mơ Hồi Hương” của tôi chỉ có Mộc Lan, Kim Tước, Quỳnh Giao và Anh Ngọc là hát vừa ý tôi thôi.

Riêng tôi, tôi rất thích Anh Ngọc hát bài “Tạ Từ” của Tô Vũ, bài “Hương Xưa” của Cung Tiến. Những bản càng khó hát mới chứng tỏ tài nghệ tuyệt vời của Anh Ngọc. Giọng anh ấm như khói chiên đàn, không gợn đục bởi cái sướt mướt, không vặn vẹo bởi cách bay bướm. Tiếng hát thật chân phương, tự bản chất của nó là thứ ngọc quý, không tỳ vết, được đẽo gọt vừa phải để thành món trang sức bất hủ. Ngọc đó không cần cắt xén nhiều góc cạnh để tỏa ánh sáng, không cần nạm trên cái vỏ chạm trổ cầu kỳ. Vậy mà ngọc vẫn đẹp, vẫn chiếu lộng lẫy màu trong vẻ sáng tinh khôi.

Có một thời Anh Ngọc hát bản “Ngậm Ngùi”, ý thơ của Huy Cận do Phạm Duy phổ nhạc. Bản nầy được thu vào dĩa Việt Nam giao duyên cùng giọng ngâm thơ của Hoàng Oanh. Nhưng Anh Ngọc không dùng xảo thuật để đưa sâu âm hưởng giọng ca mình vào tâm hồn thính giả. Anh hát quá lạnh lùng, tẻ nhạt nên dĩa hát bán ế thiu ế chảy. Bản “Ngậm Ngùi” ít lâu sau đó, vào năm 1968, phải nhờ giọng hát của Lệ Thu mới nổi tiếng được. Anh Ngọc tên thật là Từ Ngọc Toản. Anh có người em là Từ Ngọc Long, tức là ca sĩ Ngọc Long, một giọng thật trầm ấm. Người vợ đầu tiên của Anh Ngọc là nữ nghệ sĩ Giáng Hương. Giáng Hương là con gái thứ ba của một ông nhà giàu ở phố Hàng Bông. Ông có bốn cô con gái, cô nào cũng tuyệt sắc. Dân tài hoa son trẻ thuở đó gọi là Tứ Kiều gồm: Kiều Dinh, Kiều Vinh, Kiều Hinh và Kiều Hương. Kiều Hương là em một cha khác mẹ với ba cô Kiều kia. Kiều Dinh đóng kịch giỏi và trở thành nữ kịch sĩ Giáng Kiều, tài nghệ không thua nữ kịch sĩ Song Kim (vợ của nhà thơ Thế Lữ) thuở đó, nhưng sắc thì ăn đứt Thế Lữ phu nhân. Còn Kiều Hinh có vẻ đẹp thật sắc sảo đa tình, võ vẽ học ngâm thơ và đóng kịch và trở thành nữ kịch sĩ Giáng Hương. Về sau, chị đóng vai nhì trong hai phim. Phim đầu là Đất Lành do Vĩnh Noãn đạo diễn với các diễn viên Lê Quỳnh, Khánh Ngọc, Kiều Hạnh và Giáng Hương. Phim thứ nhì là Nước Mắt Đêm Xuân do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn, với các diễn viên như Nguyễn Long, Mai Trường, Lệ Quyên và Giáng Hương. Mãi tới tuổi tứ tuần mà Giáng Hương vẫn còn đẹp, khi chị ra Đà Nẵng làm ăn trong thời kỳ Mỹ đổ bộ qua Việt Nam, chị vẫn là người đàn bà đẹp nhất trong giới phong lưu hào sảng của thành phố đó. Sau khi ly dị với Giáng Hương, Anh Ngọc có dan díu với nữ ca sĩ Thái Xuân, sau đó là nữ ca sĩ Diệu Anh. Cuộc tình giữa Anh Ngọc và Diệu Anh là cuộc tình đẫm lệ và không lối thoát. Cho nên Diệu Anh mượn độc dược quyên sinh để lại cho anh một niềm

ân hận khá lâu, phải bỏ hát. Vụ án tình đó được báo chí năm 1960 tốn biết bao nhiêu là giấy mực để khai thác.

Anh Ngọc có một thuở song ca cùng Vũ Huyến trên sân khấu. Vũ Huyến tươi tắn và thanh tú hơn vì Vũ Huyến biết hóa trang. Còn Anh Ngọc thì vẫn chỉ chải đầu kiểu Bob Taylor và thoa chút phấn hồng mà không lót kem và giậm phấn trắng để theo đúng theo đòi hỏi của cách hóa trang. Nhưng nụ cười anh tươi tắn như nụ cười nam tài tử điện ảnh Rock Hudson và hàm răng loáng gương của anh cũng đủ thắp sáng anh rồi. Bài “Đoàn Người Lữ Thứ” của Lam Phương do cặp song ca nầy trình bày rất điệu nghệ. Và bài nầy qua giọng

diễn tả của họ cũng được thâu thanh vào dĩa nhựa Asia. Sau đó, Anh Ngọc cùng Văn Phụng và Nhật Bằng lập thành ban nhạc Do Si La để trình bày những bài hát của Văn Phụng như “Tiếng Ca Bên Đồi Vắng”, “Vui Bên Ánh Lửa” hoặc bài “Ánh Sáng Đồng Quê” của Nhật Bằng … Khỏi nói, phần hòa âm của Văn Phụng thì tuyệt vời rồi. Ba giọng hát cứ quyến chặt vào nhau thật điệu nghệ. Sau đó, Anh Ngọc cùng Duy Khánh, Nhật Trường và Thanh Vũ cùng hợp ca trên sân khấu Đại nhạc hội. Dường như cả bốn hợp ca không giao hưởng được với nhau nên đã phải sớm tan rã.

Về điện ảnh, Anh Ngọc được bà Huỳnh Khanh mời đóng phim Vụ Án Tình. Phim hư hỏng sao đó, bà giám đốc sản xuất cho quay lại. Nhưng Anh Ngọc xin rút lui. Vai của anh được tài tử Lê Quỳnh thay thế. Nhưng rồi phim cũng không được đem trình chiếu và chịu tồn kho vĩnh viễn. Trong phim nầy bà Huỳnh Khanh đóng vai chánh. Bà là mẹ của nữ ký giả Trưng Liệt Dung; cô Dung lại là vợ của nhạc sĩ Hoàng Nguyên, tác giả bài “Ai Lên Xứ Hoa Đào” và “Đàn Ơi Xa Rồi”. Vào năm 1973, Anh Ngọc được đạo diễn kiêm nhà văn Đỗ Tiến Đức mời đóng phim Yêu phỏng theo quyển tiểu thuyết cùng tựa rất ăn khách của Chu Tử. Đỗ Tiến Đức không phải là một đạo diễn có sự am hiểu chín chắn về điện ảnh nên cuốn phim hỏng nặng về nhiều mặt dù bên cạnh Anh Ngọc có những tài năng điện ảnh rất sáng giá như Thanh Lan, Mai Trang, Lê Tuấn … Khi đóng phim đó, anh đã luống tuổi, lại để lộ vóc dáng một kẻ thấm mệt chóng già: mông teo tóp, vai rút, tay chân gầy guộc, mặt nhăn nheo và ủ dột. Phim Yêu là nhát xuổng cuối cùng để đào huyệt chôn lấp hết cái hình ảnh hào hoa phong nhã của anh trong lòng khách mộ điệu (bên phe nữ). Vả lại, tiếng hát của anh thuở đó cũng đã khô hơn.

Cũng như Thái Thanh, Anh Ngọc thích giao du với các nhà văn nhà báo thuộc hạng Thái Sơn Bắc Đẩu. Anh gia nhập với nhóm Cái Bang trong đó gồm có các nhà văn Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Nam, ký giả Răng Phan Lạc Phúc, nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Đôi khi lại có nữ ca sĩ Thái Thanh nhập cuộc. Ban nầy ăn nhậu rất hào hùng, riêng ông Vũ Khắc Khoan thì đôi khi đi mây về gió với ả phù dung. Vào 5 năm cuối của thập niên 60 cho tới 5 năm đầu của thập niên 70, các văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn giới trình diễn thấy Cái Bang ở đâu liền đứng xa chiêm ngưỡng vì thấy mình sao mà hèn mọn quá, còn họ tỏa hào quang chiếu sáng tưng bừng. Bà chị Thụy Vũ của tôi thuở còn là cô giáo tỉnh lẻ rất ái mộ Anh Ngọc. Năm 1967, khi trở thành nhà văn, chị được anh Thanh Nam và nhà văn nữ Túy Hồng giới thiệu với Anh Ngọc để cùng nhóm Cái Bang ăn tiệc do Anh Ngọc thết đãi. Chị nghĩ rằng đây là cái hân hạnh ngàn năm một thuở trong đời cầm bút của mình.

Trong lúc Anh Ngọc đang ngự trên đỉnh nghệ thuật cao chót vót thì tên tuổi Minh Trang cũng leo lên đỉnh đài vinh quang rạng rỡ. Minh Trang đẹp giống đầm. Thời còn xuân sắc, chị là một trong những phụ nữ đẹp nhất tại đất Thần Kinh. Khi trở thành bà hoàng hậu ca nhạc rồi thì chị hãy còn giữ một vài nét thanh tú trên khuôn mặt. Vì trải qua một vài lần sinh nở nên vóc mình chị hơi khô. Minh Trang có mái tóc bất hủ, tóc xõa phía sau và ở hai bên, nhưng cắt mành tương trước trán. Đây là mái tóc của nữ tài tử Maria Montez, cô đào Hoa Kỳ gốc Tây-ban-nha chuyên đóng những phim diễm huyền lấy sự tích của trong quyển Một Ngàn Lẻ Một Đêm. Đó cũng là mái tóc của Elizabeth Taylor khi cô ta đóng phim Cleopatra vậy. Minh Trang có một nốt ruồi bên mép trông giống cô đào Lana Turner đóng vai Milady trong phim Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ. Sau này, nốt ruồi ấy được “đánh đi,” và chị bắt đầu xuống giốc trong lãnh vực ca hát. Có lẽ vì thế mà chị cho rằng nốt ruồi có thể đã ảnh hưởng đến sự nghiệp, “đánh” nó đi đã làm hại đến sự nghiệp của chị.

Minh Trang hát nhạc nào cũng hay, trừ loại nhạc kích động. Từ loại nhạc âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương, đến loại nhạc vũ trường hoặc nhạc jazz theo thể điệu blue, loại nào chị cũng hát tới nơi tới chốn và bằng sự diễn tả cực kỳ gợi cảm và truyền cảm. Về sau, chị chuyển qua hát dân ca cũng thành công rực rỡ. Hai bản “Tiếng Xưa” và “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước được chị hát lần đầu tiên trên làn sóng điện của đài Pháp Á, trên sân khấu Đại nhạc hội, trong dĩa nhựa thật dạt dào tình ý. Về sau có Thanh Thúy và Giao Linh hát hai bản nầy, nhưng theo tôi, cả hai ưa vặn vẹo giọng hát để giọng hát trở nên sướt mướt thảm sầu. Còn chị Minh Trang không thèm chơi trò phù thủy âm thanh, không cần rên siết nức nở và chỉ diễn tả tình cảm có chừng mực. Tuy nhiên giọng hát của chị vẫn chuyên chở được nhiều tình ý thiết tha, vẫn làm say đắm khách mộ điệu như thường. Cũng có một lần, trên sân khấu Đại nhạc hội, chị hát bản “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” của Lam Phương bằng một giọng buồn rười rượi và bằng hai giòng nước mắt sáng lấp lánh dưới ánh đèn sân khấu.

Có một vận sự: Chị Minh Trang có vài lần hát bản “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss (lời Việt của Dương Thiệu Tước chứ không phải lời Việt của Phạm Duy). Thường thì chị hát phom phom như con tàu vượt biển an lành. Nhưng rồi vì trải qua nhiều cuộc sinh nở, làn hơi chị hao hụt khá nhiều nên có lần chị hát gãy khi lên nốt nhạc thật cao. Và khi chị ngân nga bằng nguyên âm (vocaliser) thì chuỗi ngân không mướt.

Không dè kỳ đó chị gặp nhiều hoạn nạn nên từ đó chị không hề hát lại cái bài hát đòi hỏi một giọng kim và một làn hơi dồi dào. Chị Minh Trang là hậu duệ của quan đại thần Nguyễn Thân. Người em gái của chị là nữ nhạc sĩ Ngọc Thuyền (khi ca hát lấy biệt danh là Minh Ngọc) kết hôn với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt. Người chồng đầu tiên của chị là hoàng thân Nguyễn Phúc Ưng Quả, biệt hiệu là Vân Hán, vốn là một bậc trí thức, viết báo Pháp và là thầy dạy học của Thái Tử Bảo Long. Chị sanh cho ông Ung Quả hai mặt con. Đó là Nguyễn Phúc Bửu Minh và Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang. Bửu Minh có khuôn mặt đẹp cực kỳ thanh tú, khi ca hát lấy hiệu là Anh Minh.

Còn Quận chúa Đoan Trang khi còn nhỏ lấy tên thật của mình làm nghệ danh để hành nghề ca sĩ. Khi lớn lên, cô chọn tên là Quỳnh Giao. Cô thường bảo tôi:

— Tôi chọn cái tên Quỳnh Giao để kỷ niệm ông anh một cha khác mẹ của tôi là Bửu Giao chẳng may thất lộc sớm. Mỗi khi nghĩ tới anh ấy, tôi ngậm ngùi thương tiếc lắm!

Chị Minh Trang vì mến phục cái trí thức của ông Ưng Quả nên tìm cách kết hôn với ông cho bằng được. Nhưng sau khi chị sinh hai mặt con, vợ chồng chị gặp cảnh đồng sàng dị mộng. Tấm ái tình của chị đối với chồng trong thời gian lứa đôi chung sống kéo dài chẳng được bao lâu thì hóa ra lửa tàn tro nguội. Chị rời khỏi nhà chồng. Khi ông Ưng Quả mất thì chị Minh Trang đã kết hôn với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và đang mang thai con đầu với ông Tước. Trước đó, Bửu Minh và Đoan Trang ở với ông Ưng Quả nhưng khi ông mất thì họ về ở bên họ nội. Vài tháng sau, chị Minh Trang mới ra Huế đưa cả hai vào Saigon. Dương Thiệu Tước là hậu duệ của cụ Nghè làng Vân Đình tên là Dương Khuê. Ông Tước đỗ Tú Tài, thích âm nhạc, có thiên tư sáng tác, xử dụng cây guitare hawaienne rất điêu luyện, rất truyền cảm. Đã vậy ông rất đẹp trai, màu da mịn

màng sáng sủa, sóng mắt sáng ướt, sống mũi và cặp môi cực kỳ thanh tú, vầng trán sáng nhuận, mái tóc chải theo kiểu Bob Taylor với cái sừng nổi u phía trên trán. Minh Trang và Dương Thiệu Tước là một cặp uyên ương âm nhạc thật đẹp đôi. Nhưng mà khi gặp nhau, cả hai đều có con riêng. Mối tình của họ không phải suông trơn, không phải xuôi chèo mát mái từ đầu cuộc đâu. Về phần Dương Thiệu Tước, ông đã có vợ cái con cột. Vợ ông là bà Lương thị Thuần đã sinh cho ông nhiều mặt con. Hiện nay ba người con gái của ông Tước và bà Thuần định cư ở Hoa Kỳ, còn hai người con trai của họ đang định cư ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. Hồi còn ở Hà Nội, Dương Thiệu Tước được nghe giọng hát tuyệt vời của chị Minh Trang nên ông bắt đầu cảm mến chị. Ít lâu sau đó, chị Minh Trang được Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí mời ra Hà Nội trình diễn thì ông mới có dịp gặp chị. Khi chị trở về Sài Gòn thì ông lặn lội theo chị, bỏ hết sự nghiệp và vợ con ngoài Bắc. Cả hai ăn ở với nhau có nhiều mặt con trong đó có ba cô Vân Quỳnh, Vân Hòa và Vân Khanh là theo vết xe của mẹ mình. Cả ba cô Vân cùng nữ ca sĩ Quỳnh Giao lập ra ban Tứ Ca Mây Bốn Phương, hát rất điêu luyện và điệu nghệ.

Mối tình say đắm giữa Minh Trang và Dương Thiệu Tước được thể hiện ở bài “Ngọc Lan” mà ông Tước đã đề câu tặng như sau: “Tặng Ngọc Trâm”. Ngọc Trâm là tên cúng cơm của chị Minh Trang. Sau đó là bài “Bóng Chiều Xưa”, Dương Thiệu Tước đặt nhạc, Minh Trang đặt lời. Bản nhạc nầy nổi tiếng như cồn trong những năm 49, 50, 51 và suốt cả thập niên 50. Nó là bản thông điệp của cặp trai gái yêu nhau, phản ảnh nguyên vẹn tâm tình và nỗi đam mê của họ.

Một chiều ái ân

Say hồn ta bao lần

Một trời đắm duyên thơ

Cho đời bao phút ơ thờ

Ngạt ngào sắc hương

Tay cầm tay luyến thương …

Bài hát nầy rất thịnh hành trong giới tài hoa son trẻ khắp Bắc Trung Nam. Nhưng nó làm cho các bậc phụ huynh thủ cựu phải nhăn mặt. Các bác tôi cấm con gái của họ hát bài nầy bởi vì câu đầu “một chiều ái ân” rất táo bạo đối với thính giả thời đó. Minh Trang đóng kịch rất giỏi, rất đạt. Vào năm 1962, có cuộc đại hội môn thoại kịch toàn quốc ở Sài Gòn. Chị đoạt giải cúp bạc “Nữ Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất” trong khi đó

Kim Cương đoạt giải cúp vàng “Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất”. Vai trò của chị là một nàng kỹ nữ về già. Chị nhập vào vai trò do mình đảm nhiệm một cách kỳ diệu. Dường như chị đạt đến mức xuất thần. Chị không đóng trò, mà chị sống thật qua vai trò thì đúng hơn. Cách cười khinh bạc đau đớn, cách cầm điếu thuốc, cách nhún vai, hất mặt đều thể hiện một gái buông hương khi tàn phai nhan sắc bị cuộc đời hất bên lề xã hội. Nữ nghệ sĩ Kim Cương có mời chị gia nhập vào ban Thoại Kịch Kim Cương. Chị chỉ cộng tác một thời gian ngắn rồi xin rút lui vì kẹt việc trong đài phát thanh và không thể theo đoàn đi lưu diễn xa Sài Gòn được.

Viết về Minh Trang, tôi xin nhấn mạnh đó là bà hoàng hậu của nền Tân nhạc Việt Nam, nói gọn đó là một ca hậu trong khi đó bên phái nam, Anh Ngọc giữ ngôi vị một ca đế (hoàng đế môn ca nhạc) khá lâu. Và chị cũng là con dao pha kịch nghệ sắc bén dù rằng chị bỏ ngành kịch giữa chừng, chứ tài nghệ của chị nào kém thua Kiều Hạnh, Xuân Dung, Kim Cương, Túy Hồng …

Năm 1980, khi chị Minh Trang và ba con (hai gái, một trai) vượt biên, ông Tước ở lại vì hai lý do: Một là ông mắc nợ ả phù dung, không thể sống thiếu thuốc. Hai là ông sợ đi không thành, quay về sẽ không có chỗ ở. Sau khi vợ và con đã thoát, ông đành sống một mình. Lúc đó có cô học trò của ông, thương thầy cô độc, đến săn sóc cơm nước cho thầy rồi trở thành người bạn đường trong quãng cuối cuộc đời của ông.

Năm 1995, Dương Thiệu Tước qua đời. Hai người con trai dòng lớn của ông có làm bản cáo phó trên tờ tạp san Viên Giác (Đức) có ghi tên các con dòng lớn của cha mình mà không ghi tên những đứa con chung của cha mình và chị Minh Trang.

Về các ca sĩ đài Pháp Á, nhạc sĩ Phạm Duy trong quyển hồi ký thứ III của anh tựa là Thời Phân Chia Quốc Cộng đã viết như sau:

Khi mới thành lập năm 1946, Đài Pháp Á chưa có nhiều ca nhạc sĩ cộng tác. Chỉ mới có ban nhạc Trần Văn Lý với vài ca sĩ như Thu Hồ, Mạnh Phát, Minh Diệu, Thu Thu … Đài thiếu ca sĩ cho đến nỗi có một hôm, tới giờ phát thanh, Trần Văn Lý phải nhờ cô thông dịch viên Ngọc Trâm vào studio hát, rồi cô trở thành ca sĩ thực thụ và đổi tên là Minh Trang. Dần dần số ca sĩ tăng lên, về phía nữ, có thêm Ngọc Hà, người tình của Lê Trực (tác giả bài “Tiếng Còi Trong Sương Đêm”). Có Ngọc Thanh và chồng là Đức Quỳnh, có thêm Oanh Oanh, Kim Bằng, Ngân Hà … những ngôi sao non chỉ một thời chiếu sáng rồi từ từ khuất bóng. Trong phía Nam, ngoài Thu Hồ, Mạnh Phát có thêm Anh Ngọc, và người em là Ngọc Long. Có thêm ca sĩ tài tử là sinh

viên Tôn Thất Niệm, sau trở thành bác sĩ tổng trưởng và thượng nghị sĩ.

Các nữ ca sĩ lúc trước đều dùng tên đầu là Ngọc (Ngọc Trâm, Ngọc Hà, Ngọc Thanh), bây giờ, để cùng giống như Minh Trang, Minh Diệu, các cô mang tên là Minh Tần (em Minh Diệu), Minh Nguyệt (vợ Trần Văn Lý), Minh Hoan (vợ Vũ Huyến) … Sau đợt các nữ ca sĩ “Ngọc” và “Minh” nầy là đợt Mộc Lan, Châu Hà, Linh Sơn, Ánh Tuyết … tất cả đều đóng góp vào việc phát triển mạnh mẽ của Tân Nhạc. Ban Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng càng làm cho Tân Nhạc ở Sài Gòn trong đầu thập niên 50 thêm phần rực rỡ.

… Với một số ca sĩ và bài bản khá nhiều, Đài Pháp Á mở ra mục “nhạc yêu cầu”. Mục nầy giúp cho Đài đánh giá từng bản nhạc, từng ban nhạc hay từng ca nhạc sĩ và khiến cho Tân Nhạc không chỉ thịnh hành tại Saigon mà còn bung đi khắp nơi trong nước. Bài “Về Miền Trung” là bài được yêu cầu nhiều nhất trong hai năm 1951-52. Bài nầy phổ thông đến độ mỗi khi xe lửa sắp rời ga Saigon ra Huế thì dân chúng được nghe phát thanh bài “Về Miền Trung” qua các loa lớn. Ông xếp ga Saigon hẳn phải là người rất yêu nhạc.

Ngoài việc giúp cho tiếng tăm của nghệ sĩ đi vào quần chúng rất nhanh và rất xa, đài Pháp Á còn tổ chức những cuộc “tuyển lựa ca sĩ” để đào tạo ca sĩ trẻ. Người giật giải nhất trong buổi tuyển lựa đầu tiên là Tùng Lâm. Rồi tới Bích Thủy và thần đồng Quốc Thắng. Các ca sĩ Hùng Cường và Vân Hùng cũng xuất thân từ những buổi tuyển lựa nầy. Ở đây, tôi xin bổ túc những gì mà anh Phạm Duy đã viết.

Không phải những nữ ca sĩ nào mang cái tên khởi đầu bằng “Ngọc” và bằng “Minh” là những ngôi sao non. Chị Minh Trang vốn là thối thân của nữ xướng ngôn viên Ngọc Trâm vẫn là một ca sĩ hát bằng kỹ thuật già dặn mà chưa chắc Thái Thanh vượt qua. Còn Ngọc Hà có giọng hát với cái âm vực rất lớn không kém âm vực của giọng hát của Thái Thanh, nhưng khi xuống trầm tiếng hát của Ngọc Hà dũng mãnh và dội sâu hơn giọng Thái Thanh. Mỗi khi xuống trầm, Ngọc Hà đủ làn hơi phong phú để ngân nga rập rờn theo trường độ một

nốt nhạc. Ngọc Hà khi hát lên cao thì tiếng tuy không dẻo nhưng vẫn không chua lắm vì chị không thọc sâu tiếng vào cuống họng, trái hẳn giọng Thái Thanh. Ngọc Hà chỉ thua Thái Thanh ở chỗ hát không bằng tâm hồn nghệ sĩ và bằng trái tim nhạy cảm mà thôi. Ngọc Hà hát các bài rumba đã điệu nghệ lắm rồi mà còn hát các bản paso doble dòn dã nghe đã cái lỗ tai biết dường nào!

Minh Trang thôi hát vì uống phải một thứ thuốc trị suyễn cực mạnh có hại cho dây thanh đới của chị. Ngọc Hà thôi hát vì ông chồng chị ấy không muốn. Lớp nữ ca sĩ trong thập niên 40, 50 phần đông hành nghề ca sĩ để lôi kéo những người đàn ông giàu có, thuộc hạng hào hoa phong nhã vào vòng hôn nhân. Do đó khi gặp được một ý trung nhân tha thiết “xin bàn tay” họ rồi thì họ ngại ngùng gì mà không giải nghệ để trở thành người đàn bà hạnh phúc trong hôn nhân và có một gia đình êm ấm? Do đó mà Minh Nguyệt, Hoàng Yến, Bích Thủy vội sớm bỏ nghề giữa lúc thanh sắc còn đang độ để đi lấy chồng.

Bây giờ, tôi xin điểm vài khuôn mặt ca sĩ của đài Pháp Á vào thuở đó.

* Kim Bằng:

Chị là kẻ đồng thời với Mộc Lan, Minh Trang và Ngọc Hà. Trong một cuộc phỏng vấn báo Duy Tân do anh Nguyễn Ang Ca làm chủ bút, chị tuyên bố rằng: –Kim Bằng chẳng có ai là kẻ thù, chỉ trừ cổ nhạc cải lương mới là kẻ thù số một của Kim Bằng mà thôi. Tuyên bố vung vít giữa lúc nền tân nhạc hãy còn phôi thai và trong lúc nền ca kịch cải lương đang thịnh hành, chị Kim Bằng bị các ký giả kịch trường và các đào kép cải lương phản đối. Họ “đánh hội đồng” chị tơi bời xơ xác làm chị phải lên tiếng xin lỗi.

Kim Bằng có một giọng hát trong trẻo êm ái. Chị hát bản “Gái Xuân” do Từ Vũ phổ nhạc cho bài thơ cùng tựa của Nguyễn Bính nghe được thôi, chứ không bằng Tâm Vấn hay bằng Linh Sơn. Bởi giọng hát của chị không có gì đặc biệt nên khi chị bỏ nghề cũng chẳng ai tiếc. Có nhiều kẻ yêu nhạc từ thập niên 40 chưa chắc còn nhớ tới chị.

* Minh Tần:

Là em của Minh Diệu, chị đẹp hơn Minh Diệu, có đăng ảnh ở bìa sau một vài bản nhạc do Tinh Hoa xuất bản. Trong ảnh, chị mặc áo dài cổ thấp, đeo kiềng trơn, cười thật tươi, nheo cặp mắt lai láng sóng thu. Minh Tần cùng hát chung với Minh Diệu bản “Cánh Hoa Xưa” của Hoàng Trọng, cùng hát với Mạnh Phát và Vũ Huyến và Minh Diệu nhạc kịch “Kéo Gỗ Làm Đình”. Bản nhạc và nhạc kịch được thâu vào dĩa Việt Thanh. Về sau, khi có gia đình, Minh Tần giải nghệ ca hát và trở thành một trong những nữ xướng ngôn viên đài phát thanh Sài Gòn.

* Minh Nguyệt:

 Chị khá xinh đẹp, với vóc mình cao lớn và mập mạp. Nhưng chị mập mà gọn gàng và có eo, cho nên chị thật nồng nàn gợi cảm. Giọng chị thanh tao mềm mại thôi chứ không có gì đặc biệt. Đó là một giọng hát gợi nên hình ảnh một tấm lụa bạch với vóc trơn óng ả, không dệt hoa sáng, không thêu hoa nổi. Ngoài lãnh vực ca hát, chị Minh Nguyệt lại còn là một cây đinh trong ban ca vũ Bốn Phương với Túy Hoa, Hoàng Yến và Hồng Lan. Chị lại còn đóng kịch với Đức Quỳnh và Kim Bảng, nhưng cốt tạo vẻ tươi mát và sáng rỡ cho các màn hài kịch, chứ không phải là cây đinh của vở kịch; bao nhiêu pha trào lộng đều hướng vào Đức Quỳnh và Kim Bảng ráo trọi. Minh Nguyệt trước khi kết hôn với nhạc sĩ Trần văn Lý có yêu một người hào hoa. Nghiệt thay, cô em ruột của chị cũng yêu người ấy. Và chị nhường đương sự cho em mình, cùng song thân mình tổ chức đám cưới linh đình cho em. Trước khi đưa dâu, chị dặn dò cô em của mình:

— Bây giờ anh ta là em rể của chị, còn chị là chị vợ của anh ta. Em mà bày đặt ghen ngược thì Trời sẽ đánh em. Lòng chị bây giờ đang hướng vào một người khác, chị đang ghiền mùi quân phục đây. Lúc đó, Trần Văn Lý đã bước chân vào đời binh ngũ.

* Minh Hoan:

Chị không đẹp, chỉ được nụ cười hiền hậu và dễ mến. Giọng chị trong trẻo và gợi cảm. Chị có một dạo đổi biệt hiệu là Thu Thảo. Sự nghiệp ca hát của chị không vẻ vang. Cuộc đời của chị lại hẩm hiu. Chị rút âm thầm vào bóng tối cũng không ai để ý.

* Vũ Huyến:

Là con của kịch sĩ Vũ Huân. Anh có giọng hát hơi khàn, nhưng gợi cảm, có một chuỗi ngân khít khao và óng ả. Anh rất sáng sân khấu, da trắng mát, mặt mũi thanh tú, vóc dáng nho phong. Anh đóng kịch cũng rất có duyên. Nhưng ngôi sao sự nghiệp trình diễn của anh chỉ tới năm 1955 là lu mờ dần. Vũ Huyến có sáng tác một bản nhạc “Cô Hàng Nước” là tác phẩm để đời mà anh lấy bút hiệu là Vũ Minh. Vũ Huyến là chồng của Minh Hoan, sau đó anh tái hôn với Linh Sơn. Nhưng cuộc hôn nhân sau cũng không bền. Lúc đó nghề nghiệp của Vũ Huyến và Linh Sơn đều xuống giốc. Năm 1994, Vũ Huyến từ trần tại California (Hoa Kỳ) để lại dĩa nhạc “Cô Hàng Nước”. Ở dĩa nhạc nầy, anh hát các bản quen thuộc với đa số sành nhạc trong đó có bản “Cô Hàng Nước”.

* Ngọc Long:

Là em trai Anh Ngọc, anh có một giọng trầm thật gợi cảm không kém giọng trầm của Duy Trác về sau. Giọng hát đó gợi lên tiếng đại hồ cầm, tiếng núi thẳm hang sâu đồng vọng lại, gợi luôn hình ảnh của một giòng song chảy qua rừng cây u trầm tĩnh mịch. Tiếc một điều là khi ngân nga, giọng anh lại tuột dần xuống một bán cung, không như cách ngân nga mà không tuột giọng như Duy Trác. Ngọc Long dường như ít lên sân khấu vì anh không sáng đẹp như Anh Ngọc; anh lại bị chột một mắt nên thường đeo kính râm.

Trong bán thập niên đầu 50, bất cứ một ban nhạc nào hội đủ bốn giọng ca oanh liệt nhất là Anh Ngọc, Ngọc Long, Minh Trang, Tâm Vấn thì đó là ban nhạc làm thỏa mãn khách sành điệu.

* Tâm Vấn:

Là nữ danh ca bắt đầu làm mưa làm gió ngoài Hà Nội chưa được bao lâu thì chị vào Nam. Tên tuổi của chị chiếu sáng bắt đầu sau Hiệp định Genève và sau phong trào người Bắc di cư vào Nam. Chị đẹp, vóc mình nồng nàn, khuôn mặt tươi vui, tóc xõa mềm mại, nụ cười tươi sáng và ấm áp. Khi leo lên sân khấu, chị ưa đeo chiếc khoen mọi to như miệng chén ở trái tai. Giọng của chị trộn giọng óc khá nhiều nên hơi the thé, nhưng đây là giọng dẻo như thép quý, mỗi khi lên cao thì quát tháo một cách dõng dạc và ngân nga thật

sướng tai. Tâm Vấn hát loại nhạc vũ trường như Swing, Fox trot rất điệu nghệ. Bản nhạc “Chiến Sĩ Của Lòng Em” của Trịnh văn Ngân được chị trình bày thật nhộn nhàng. Ngoài ra, bản “Thu Vàng” của Cung Tiến do chị hát được thu thanh vào dĩa Việt Thanh. Khi lên chỗ cao nhất, chị hát thật lảnh lót, dùng làn hơi dũng mãnh của mình để hát tròn tiếng và ngân nga. Tiếng hát lúc đó bắn vọt lên như pháo thăng thiên, như hỏa tiễn. Có người không sành điệu cho rằng chị la oai oải, nhưng người sành điệu thì trái lại biết chị hát rất đúng, lên cao mà giọng không mỏng, nhất là không gãy và vẫn trơn tru dễ dàng.

Tâm Vấn khi còn ở Hà Nội là người yêu của nhà văn Nguyễn Minh Lang, một cây viết tiểu thuyết ướt át không thua Trần Anh Kim, Hoàng Kim ở ngoài Bắc hoặc như Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Nguyễn Ngọc Mẫn và bà Tùng Long ở trong Nam. Khi vào Nam, Tâm Vấn gặp học giả Thanh Nghị, người làm những quyển tự điển Pháp Việt và Việt Pháp. Thanh Nghị tên thật là Hoàng Trọng Quỳ, em của nhà văn Hoàng Trọng Miên. Lúc ông si tình Tâm Vấn thì vợ ông đã qua đời từ lâu, để lại cho ông một đàn con nheo nhóc. Lúc đầu, Tâm

Vấn chê Thanh Nghị hơi lớn tuổi, chê ông có con cái đùm đề. Nhưng ông ve vãn chị ráo riết. Mưa dầm mãi thì cũng có ngày gây lụt lội. Đám cưới của cặp Thanh Nghị và Tâm Vấn có nhiều văn nghệ sĩ bên trình diễn lẫn bên sáng tác tham dự, còn nữ ca sĩ Khánh Ngọc thì làm phù dâu. Vào năm 1968, sau Tết Mậu Thân, Thanh Nghị bỏ nhà vào mật khu theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và được phong làm Thứ Trưởng Bộ

Thông Tin Văn Hoá. Sau đó ít lâu, Tâm Vấn tái hôn với bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Hiện nay ông Quế bị mắc vòng lao lý dưới chế độ Cộng Sản, Tâm Vấn đành làm nàng Tô Phụ kiên tâm đợi chồng mình có ngày được phóng thích để sum họp với mình.

Tâm Vấn có cô em tên Thịnh Thái, không đẹp lắm, nhưng thật có duyên. Thịnh Thái có đôi mắt một mí leo lét, và nụ cười rộng miệng nhưng thật tươi. Cô lên sân khấu hát những bản nhạc du dương nhún nhẩy với Tâm Vấn rất nhộn. Trong đàn con của Thanh Nghị có Hoàng Trọng Hạt (mà tôi gọi đùa là Hoàng Trọng Hột vì Hạt là chỗ quen biết với tôi). Hạt trước năm 1968 là một ca sĩ tài tử. Sau khi cha vào mật khu thì anh chính thức lao vào ca trường nhạc giới, chuyên hát nhạc Rock ở các phòng trà với Kiều Loan, Thu Oanh v.v …

Hoàng Trọng Hạt lấy biệt danh là Hoàng Hạc, nhưng sau ngày Sài Gòn thất thủ, anh cộng tác với ban kịch nói Bông Hồng, giữ phần phụ diễn ca nhạc. Nghe lời cha, anh đổi biệt hiệu lại thành Hoàng Hạt. Hoàng Hạt sang định cư bên Pháp vào năm 1981, để rồi tên tuổi anh lu mờ và bị thui chột luôn.

Theo tôi, Minh Nguyệt, Minh Tần, Minh Hoan, Ngọc Thanh lần lượt vắng bóng sớm không hẳn là tại họ hát còn non về kỹ thuật, mà là họ không thật sự yêu nghề. Trong thời buổi họ xuất đầu lộ diện, có ai dám bảo ngành tân nhạc là môi trường dung thân cho họ suốt đời đâu. Có ai như các ca sĩ Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà hoặc như Mai Hương, Quỳnh Giao, Tuyết Hằng, dù khán giả hơi lãnh đạm đối với giọng hát của họ, nhưng họ vẫn tự tin ở tài nghệ mình, vẫn hát gần một phần ba thế kỷ cho một số ít oi khách sành điệu nghe.

Trong số các nữ ca sĩ vừa kể thì đa số biết đóng kịch, nhưng đóng kịch thành thạo phải nói tới Linh Sơn.

* Linh Sơn:

Tên thật là Nguyễn thị Bính, chị đóng kịch giỏi hơn hát. Chị đẹp thật mặn mà, đẹp thật cao sang thanh thoát. Đó là cô công chúa mộng tưởng của biết bao thanh niên cùng trang lứa với chị, tức là lớp thanh niên lớn lên giữa thập niên 40. Có lần chị chụp ảnh để quảng cáo xà bông Cadum cho một đại lý tại Sài Gòn. Chị lại tuyên bố ở mục quảng cáo như sau: “Tôi yêu xà bông Cadum vì nữ tài điện ảnh Martine Carol thích xà bông nầy”. Lúc đó, vào đầu thập niên 50 là thời đại hoàng kim của nữ tài tử màn bạc Pháp Martine Carol. Giới yêu thích kịch ảnh thích Martine Carol đã đành mà còn thích luôn cả Linh Sơn. Bởi chị đẹp, có thể bảo

là đẹp trội hơn các nữ ca sĩ thời bấy giờ. Chị có khuôn mặt trái soan, sóng mũi dọc dừa, đôi mắt sáng ướt, nhưng cái nhìn đoan nghiêm. Chị có vóc vạc vừa tầm, tay chân xinh xắn. Cái đẹp của chị thuộc loại mà các cụ người Bắc nhà ta bảo rằng đó là thứ “mỏng mày hay hạt”. Lại nữa, chị đóng kịch rất vững, đã cùng Hoàng Hải, Hoàng Năm xuất hiện rất nhiều lần trên sân khấu. Giọng Linh Sơn mềm mại, nhưng chuỗi ngân bời rời, khi có khi không. Cách trình bày điệu Boston của chị thật thong dong, thật nhẹ nhàng như khói trà thoảng qua miệng chén. Có lần tôi được nghe chị hát rất đạt bản “Sóng Vàng Trên Vịnh Nha Trang” của Văn Phụng, theo thể điệu Boston. Và cũng có lần chị xuất hiện trong một nhạc cảnh “Cô Tú và Anh Đồ”. Cô Tú Linh Sơn mặc áo nâu non, yếm đào, thắt giây lưng thiên lý, tóc vấn đuôi gà đẹp ơi là đẹp! Còn anh đồ Vũ Huyến thì mặc áo the, đội khăn xếp trông thật xinh như mộng. Cả hai rất đẹp đôi trên sân khấu như cặp Kim Cương và Vân Hùng, như cặp Túy Phượng và Hoàng Cầm về sau nầy vậy.

Linh Sơn thuở còn con gái, mỗi khi đi hát có mẹ theo kè kè một bên. Vận sự của chị cũng giống như vận sự của hai nữ  danh ca Bạch Yến và Bích Chiêu. Cô Yến và cô Chiêu khi đihát phòng trà cũng có mẹ theo. Cho nên có một nhà báo độc miệng phang mạnh vào các bà mẹ đáng thương kia bằng một câu động trời:

— Chăn giữ con gái kỹ như thế, biết đâu con gái chưa hư mà mẹ đã hư rồi.

Linh Sơn có mối tình đầu với ca sĩ Phạm Đức. Phạm Đức đẹp trai và tráng kiện. Nhưng Phạm Đức lại có vợ cái con cột. Sau đó, chị kết hôn với Vũ Huyến. Và sau nữa, chị có nhiều đời chồng khác, mỗi cuộc hôn nhân nào cũng làm chị tốn nước mắt. Đó là cái hệ lụy của kiếp hồng nhan và cũng là cái oan nghiệt của tài mệnh tương đố vậy.

Con trai của Linh Sơn là Nguyễn Thành Vân là một giọng hát có bản lĩnh, có thể cùng Vũ Anh và Bích Liên chen vai thích cánh với những giọng hát cự phách như các giọng hát của Trần Chúc, Kim Tước, Châu Hà, Mai Hương, Quỳnh Giao ở hải ngoại.

* Mộc Lan:

Tôi cũng xin nói thêm về chị Mộc Lan, một kẻ vững tin vào kỹ thuật giọng hát mình nên bền sắt tươi son với nghề nghiệp của mình. Đầu thập niên 50, mối tình giữa Châu Kỳ và Mộc Lan tan rã, nhưng cả hai vẫn cùng song ca trên sân khấu nên báo chí đoán già đoán non rằng cả hai đang xúc tiến chuyện tái hợp. Nhưng chị Mộc Lan thì quyết tháo ra. Có một đôi lần, chị cho báo chí biết rằng người tình đầu của chị không phải là Châu Kỳ, mà là một thanh niên có ăn học, không hề dính dáng gì tới chuyện âm nhạc ca xướng. Chàng

đã bỏ mình trong cuộc oanh tạc của máy bay đồng minh. Chàng rất thích bản “Con Thuyền Xa Bến” của Lưu Bách Thụ. Cho nên vào năm 1970, khi xuất hiện lần đầu tiên trên Tivi, chị hát bài đó để chiêu niệm hình bóng cũ, dù cố nhân đã vùi sâu dưới mộ trên 25 năm.

Theo gió thuyền xuôi

Sóng đưa bèo trôi

Tiếng đàn trầm trầm

Man mác lòng tôi …

Về cuộc hôn nhân giữa chị và Châu Kỳ, lúc đầu cả hai yêu đương rất nồng mặn với nhau. Nhưng chị lại thất vọng khi có một lần ghé chơi Huế, được một bà cụ già có quen với bên nội chị thóc mách:

— Con ni sắc sảo mặn mà như ri lại đi lấy thằng chồng không ra cái chi hết. Hắn là con quan thì Trời bắt tui chết đi. Hắn là con của phường kim sanh, người mô mà chẳng biết?

Uổng cho con ni thiệt!

Kim sanh là thứ gánh nhỏ chuyên hát tuồng cổ nhạc Huế và chỉ trình diễn ở làng mạc hẻo lánh xa xôi. Chị Mộc Lan quyết điều tra gốc gác anh Châu Kỳ. Rốt cuộc, anh Châu Kỳ nào phải thuộc giòng quan lại, cũng không có học lực cao như anh đã từng khoe với chị. Sự tan rã của cả hai vẫn còn gieo mối oán hận sắc đậm trong lòng chị thật lâu, mãi khi tôi quen chị mà chị vẫn chưa quên.

Đời tình ái của chị Mộc Lan cũng trải qua vài lần sóng gió. Có lần chị dùng thuốc ngủ để quyên sinh. Riêng Châu Kỳ khi chia tay với Mộc Lan thì tìm được hạnh phúc ở cuộc hôn nhân thứ hai. Còn chị Mộc Lan mãi tới khi kết hôn với ông Trương Minh Đẩu mới thật sự tìm được hạnh phúc. Chị sinh cho ông một cô con gái đặt tên là Ngân Hà. Chị Mộc Lan đẹp thật mặn mà, dù có sống mũi hơi thô. Biết đâu chính nhờ nét thô không đáng kể đó, chị có cái duyên đậm đà không chừng. Khi sống mũi được bà Bích Ngọc dùng khoa giải phẩu thẫm mỹ sửa lại cho có nét dọc dừa thì chị đẹp trội hẳn lên. Chị sẵn có nét cao sang thanh thoát nên chị trang điểm thật gượng nhẹ, ăn mặc thật nhã đạm với những màu nguội màu chìm mà chị vẫn giữ vẻ kiều diễm. Dường như Trời sinh ra chị để làm một người phụ nữ thượng lưu. Cho nên từ khi tới tuổi tam tuần, ngôi sao nghệ thuật của chị tái ngắt và lu mờ. Do đó, chị chỉ hát ở đài phát thanh, tiền “cát-sê” chỉ đủ chi cho các vụ xe pháo. Nhưng vì yêu nghề, chị không bỏ nghề. Ca hát là phương tiện để chị tiếp xúc với các bạn đồng nghiệp còn hoạt động trong ca trường nhạc giới như chị. Chị giỏi nghề buôn bán nữ trang và kim cương nên bề ăn tiêu thật phong lưu. Chồng chị là một sĩ quan cao cấp nên chị thường lui tới xã hội thượng lưu thường xuyên.

Mộc Lan được (hay bị?) nhiều người trong giới trình diễn si tình. Trước hết là nhạc sĩ Lâm Tuyền. Trong thời gian luyện giọng cho chị, anh cũng đã mê chị. Nhưng mối tình đó chỉ thoang thoảng hương hoa cúc hoa mai thôi. Khi giọng chị Mộc Lan đã thuần thục và đạt kỹ thuật cao rồi, hai người vẫn chỉ là bạn. Sau đó, khi cộng tác với ban kịch Vũ Đức Duy, chị cũng được kịch tác gia yêu bằng mối tình đơn phương. Chị Mộc Lan rời ban kịch ấy, không vì lý do nào ngoài sự tỉnh ngộ của mình. Chị hiểu rằng chị không có năng khiếu đóng kịch, không thể chạy theo Kiều Hạnh và Xuân Dung vốn là hai nữ hoàng thoại kịch. Cho nên chị lại trở về nghề ca hát. Chị Mộc Lan vốn là người đàn bà biết cân nhắc. Về hôn nhân, chị thích một người chồng bảnh trai, có ăn học, có địa vị và biết thưởng thức giọng hát của chị. Châu Kỳ đã phá hỏng giấc mơ của chị

nên chị gặp nhiều cảnh lỡ làng trước khi gặp Trung tá Trương Minh Đẩu, người đã hội đủ điều kiện của ước vọng chị.

Chị Mộc Lan thường tâm sự với tôi:

— Tuấn Ngọc là lớp em cháu của tôi; đương sự hát hay đó chứ, cách diễn tả có hồn. Theo tôi, Kim Tước và Châu Hà giỏi về mặt kỹ thuật hơn tôi. Mai Hương già dặn kỹ thuật hơn Thái Thanh. Về kỹ thuật, Quỳnh Giao vượt khỏi chị Minh Trang. Tuyết Hằng trong ban Tam Ca Đông Phương có thể thế một trong bộ ba Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà để tam ca với hai người kia. Phương Nga biết giàn trải hơi ca. Diễm Chi là kẻ cầu tiến, rồi đây cô ta sẽ hát không thua các bậc đàn chị của mình. Bên nam thì tôi chấm thêm Phượng Bằng.

Có lần chị cho tôi biết:

— Thanh Tuyền có nhờ tôi luyện giọng cho cô ta. Tôi không hiểu cô ta có đãi bôi với tôi không? Cô ta đang hát ăn khách và đang là ngôi sao sáng trong giới ca nhạc. Tập hát cho vững kỹ thuật như bộ ba Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà đầu phải một sớm một chiều mà đạt được? Vả lại, khi đạt được rồi, liệu cô ta có còn ăn khách như xưa nữa không? Tôi có khuyên cô ta nên cứ hát như xưa là hơn, hơi nào chạy theo kỹ thuật để khỏi gặp cảnh thả mồi bắt bóng.

Khi biết được một vài sinh hoạt của ngành Tân nhạc thì tôi có nghe tiếng đồn về nữ danh ca Minh Đỗ. Nhưng tôi chưa hề nghe tiếng hát của chị. Nghe nói chị là dì hay là cô của nữ ca sĩ Kim Tước. Điều nầy tôi không dám chắc. Lại có nhiều người Hà Nội di cư vào Nam trong số đó có ký giả Trần Quân mà bằng hữu thường gọi là Sức Voi hoặc Tiểu Nguyên Tử thường ca tụng giọng hát ngọc ngà châu báu của chị. Trần Quân là chồng của cô Xuân Hoàng tôi, có một dạo cùng ở chung với tôi dưới mái đông lang của Thánh thất Từ Vân tại

Phú Nhuận. Ông dượng rể Trần Quân của tôi thường cao hứng dệt nhiều huyền thoại chung quanh giọng hát tuyệt vời của Minh Đỗ, rằng đó là giọng soprano cực kỳ dũng mãnh. Khi chị lên tới nốt nhạc cao nhất thì làn hơi của chị mạnh như cuồng phong bạo vũ và có thể làm vỡ chiếc ly pha lê mỏng đặt gần đó, hoặc làm rạn nứt cửa kính. Do đó, chính quyền Hà Nội cho chị sang Nga học về môn hát Opéra. Nhưng mà mãi tới khi miền Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm, tôi vẫn chưa có dịp nghe giọng hát quý báu vô ngần ấy. Và tôi chỉ đành tương tư nó giữa mớ huyền thoại đẹp đẽ và kích thích óc tưởng tượng người nghe mà thôi.

Nhạc sĩ Lê Thương, cùng ca sĩ Trần văn Trạch là những người có óc sáng tạo. Vào năm 1951 có ý tổ chức phụ diễn Tân nhạc cho rạp chiếu bóng Nam Việt ở Chợ Cũ (Sài gòn).

Sau khi chiếu phim thời sự của hãng Pathé hay của hãng Gaumont rồi thì có những màn đơn ca, hợp ca và sau hết là màn hài kịch. Phần phụ diễn đó gọi tắt là màn phụ diễn tân  nhạc. Sau đó rạp mới chiếu phim chánh. Không ngờ cái chuyện phổ biến Tân nhạc bằng cách phụ diễn như vậy lại ănkhách. Từ rạp Nam Việt ở Chợ Cũ, họ chạy qua rạp Văn Cầm ở Chợ Quán. Tới đâu, họ cũng được khán giả hoan nghinh. Những cây đinh của chương trình phụ diễn là Trần văn Trạch, Túy Hoa, Minh Diệu, Mộc Lan, Ngọc Hà, Minh Nguyệt, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Vũ Huyến, Thu Hồ, ban Thăng Long. Về sau mới có hai chị em Hoàng Lệ và Khánh Ngọc.

Hai chị em nầy là người Tàu. Cô chị Hoàng Lệ tên là Hàn Thúy Lan. Cô em Khánh Ngọc tên thật là Hàn Lan Nam. Ngọc Hà cùng hai chị em họ Hàn ấy lập ra ban Ngọc Lệ Hà. Nhưng được ít lâu Hoàng Lệ tự tử (vì tình dĩ nhiên) thì ban Ngọc Lệ Hà tan rã.

Cuộc tuyển lựa ca sĩ tại rạp Norodom (về sau gọi là rạp Thống Nhất) do Đài Pháp Á tổ chức đã giới thiệu được những tài năng mới. Tôi xin kể một vài khuôn mặt tiêu biểu như sau:

* Hoàng Yến:

 Tên thật là Nguyễn thị Bạch. Chị có giọng hát trong sáng dịu dàng, một nhan sắc dễ coi. Chị thường trình diễn các bản nhạc của Ngọc Bích như “Lời Hẹn Xưa”, “Trở Về Bến Mơ”, “Con Đò Đưa Xác”, “Xuân Nhớ Chiến Sĩ” …Trong một nhạc cảnh “Trương Chi My Nương”, chị thủ vai My. Nương, còn Trần văn Trạch thủ vai Trương Chi. Khi Trương Chi chết, bạn bè chàng moi quả tim hồng ngọc của chàng ra

đẽo thành chiếc chén dâng lên M Nương; lúc ấy Hoàng Yến cầm chiếc chén bằng … nhựa đỏ trong suốt lên hát bài “Khối Tình Trương Chi” của Phạm Duy:

Rót nước vào chợt thấy bóng ngư lang

Quanh chén trà thuyền trôi theo tiếng đàn.

Hoàng Yến ít lâu sau gia nhập ban ca vũ Bốn Phương do Túy Hoa cầm đầu, chung với Minh Nguyệt và Hồng Lan.

* Bích Thủy:

Tên thật là Đào thị Ngọc Hà. Đây là một giọng hát soprano cao vút, khi hát những chỗ ngang thì giọng mềm mại và mỏng nhẹ, nhưng khi lên cao thì tiếng hát dũng mãnh và sang sảng như chuông. Do đó mà chị hát bản “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss dễ như bỡn. Ngoài ra, Bích Thủy được hát thâu vào dĩa nhựa bản “Ngày Xưa” của Hoàng Quý và bản “Thơ Ngây” của Anh Việt. Bích Thủy khá đẹp, khuôn mặt thanh tú nên được mời tham gia các buổi Đại nhạc hội và các buổi phụ diễn Tân nhạc luôn. Chính chị mới có

giọng soprano (giọng kim của phái nữ) còn giọng Thái Thanh chỉ là giọng mezzo soprano (giọng bán kim) mà thôi, vì khi lên hơi cao là Thái Thanh chẻ qua giọng óc rồi.

* Vân Hùng:

 Tên thật là Nguyễn Minh Luận. Anh có giọng hơi khàn, nhưng làn hơi khá phong phú. Cho nên khi hát những bản nhạc hơi khó hát, giọng anh vẫn lướt phom phom như nước vở bờ tràn vào ruộng trũng. Nhưng giọng anh không có cái âm sắc đẹp, không gợi cho thính giả mường tượng một khuôn mặt đẹp, một món ngoạn hảo hay một khung cảnh đẹp. Đó chỉ là một giọng hát khỏe và dẻo dai thế thôi. Vào 5 năm

đầu của thập niên 50, anh thích hát loại dân ca theo thể điệu Mambo của Lam Phương như “Nhạc Rừng Khuya”, “Khúc Ca Ngày Mùa”, “Trăng Thanh Bình” … Nhưng khi anh bắt đầu ba mươi tuổi thì không hiểu vì sao làn hơi của anh hao hụt, tiếng anh khàn và rồ. Do đó mà anh chuyển qua thoại kịch và đóng phim. Thường anh đóng vai chính đẹp trai (jeune premier) bên cạnh Kim Cương rất ăn khách.

Trước khi gia nhập ban Dân Nam do Anh Lân và Túy Hoa phụ trách, Vân Hùng theo nhóm Lê Thương, đóng những vai khá quan trọng trong các màn nhạc cảnh. Vân Hùng rất đẹp trai, không thua Vũ Huyến. Về sau anh chơi thể dục thẩm mỹ nên có một thân hình cân đối. Trong phim Con Gái Chị Hằng, anh có cởi trần, mặc quần đùi sát háng để bơi lội trong hồ tắm. Tuy nhiên thỉnh thoảng trong một vài vở kịch, anh có hát một vài bản dễ hát, nghĩa là những bản đừng lên cao quá, đừng xuống thấp quá để cho hợp với giọng đằng vân không nổi và độn thổ không trôi của anh. Nhưng hơi hám của anh quá hao hụt, anh hát chỉ tổ gây mệt nhọc cho người nghe mà thôi.

* Tùng Lâm:

Tôi không rõ tên thật của anh là gì. Anh có một giọng rất đẹp, rất ấm. Nghe giọng hát anh, thính giả nào chưa từng thấy mặt anh cũng mường tượng ngay anh phải đẹp trai. Giọng hát sao mà nồng nàn như quế, mềm mại như mây. Thuở đó cũng có vài nữ thính giả viết thư về chương trình “Nhạc Yêu Cầu” để nhờ anh hát các bài nổi danh của Lam Phương hay của Lê Thương. Tuy Tùng Lâm hát nghe mùi rệu như xôi rượu lên men, nhưng tiếc thay anh không biết ngân nga.

Tùng Lâm mất tiếng quá sớm. Anh không đẹp trai như Vân Hùng để đóng vai jeune premier trong các vở thoại kịch của ban Dân Nam. Cho nên anh phải xoay qua làm hề. Chính ở lĩnh vực mới, anh có thể nuôi thân cho tới ngày miền Nam lọt vào tay Cộng Sản.

* Tuyết Vân:

Khi gia nhập ban nhạc của Lê Thương thì chị lấy biệt hiệu là Bích Giang. Giọng chị cũng thường thôi, một giọng mềm dịu và trong trẻo Chị có nhan sắc thật tươi sáng, thật đoan trang thùy mị. Đầu mùa chính thể Đệ nhất Cộng Hòa, Tuyết Vân gia nhập ban Dân Nam. Chị vừa đóng kịch vừa ca hát bên cạnh Túy Phượng lúc đó đang độ thanh sắc lẫy lừng. Nhưng Tuyết Vân vẫn có cái bản sắc riêng, không kém Túy Phượng về tài diễn kịch lẫn nhan sắc. Nhưng thật tình mà nói, về kỹ thuật, Tuyết Vân hát không “nghề” bằng Túy Phượng.

Tuyết Vân có đóng vai chính trong phim Hương Thề Chưa Dứt do Thái Thúc Nha đạo diễn, bên cạnh Anh Tứ, Ngọc Đức và Thu Cúc. Khi nhào qua cộng tác cho ban Kim Cương thì chị đã mập nặng nề, lại mất tiếng, nên ca hát không trôi nữa. Thế là chị đành giải nghệ. Chị không bỏ nghề nhưng chính nghề nỡ bỏ chị. Trên sân khấu thoại kịch Kim Cương, vai thương cảm dành cho Kim Cương, vai lẳng độc dành cho Kim Vui,

còn vai nhì dành cho Túy Hồng, vai mụ dành cho các bà Bảy Nam, Bảy Ngọc, Ba Ngọc Anh. Tuyết Vân không còn vai nào để đảm nhiệm nữa. Tôi còn nhớ vào năm 1960, Tuyết Vân có theo Hoàng Cầm và Ngọc Phu xuống tỉnh Vĩnh Long để trình diễn. Chị đóng kịch và đơn ca. Lúc đó chị xồ xề, mông nở chè bè. Chiếc áo dài màu vàng nâu như màu gỗ cẩm lai nhờ may khéo nên cũng cố gắng nhấn được một đường eo cho tấm thân khá phì nhiêu của chị. Chị đóng hài kịch thì khán giả còn có thể dung thứ cho chị. Nhưng khi chị hát bài “Tìm Anh” của Hoàng Thi Thơ thì khán giả mệt ngất ngư vì chị hát không trôi, như bị cục tẩy trám cuống họng.

Tân nhạc không phải chỉ có môi trường hoạt động ở các đài phát thanh như Đài Pháp Á, Đài Quân Đội, Đài Huế, Đài Hà Nội và ở các hãng dĩa nhựa, đại khái như hãng Polyphone, hãng Oria, hãng Việt Nam … Tân nhạc còn có những màn phụ diễn trên sân khấu cải lương hay trong tuồng cải lương. Ngoài Bắc đã có các nghệ sĩ hát rành Tân nhạc như Ái Liên, Kim Chung, Kim Xuân, Bích Hợp, Phụng Khánh, Lan Phương, Lệ Thanh, Huệ Chúc (bên nữ), Anh Đệ, Huỳnh Thái, Ngọc Toàn, Sĩ Hùng, Mộng Dần (bên nam). Trong Nam, sau năm 1949, có Bích Thuận, Túy Hoa, Thanh Tình, Lệ Thủy, Ngọc Nuôi, Ngọc Đán, Kim Cương, Kim Hoàng, Ngọc Yến, Xuân Lan (bên nữ), Việt Hùng, Quang Hữu (bên nam).

Trên sân khấu Hương Hoa, Việt Hùng và Ngọc Nuôi vẫn thường hát Tân nhạc ngay trong các tuồng chiến tranh và trong các tuồng gián điệp do ông bầu kiêm soạn giả Vân Sinh biên soạn. Cả hai cũng có thể hát sau cuối màn áp chót, trước khi qua màn chót; đó là màn phụ diễn. Thường thì Việt Hùng hát nhạc hùng và nhạc vui tươi; còn Ngọc Nuôi hát những bài du dương đang nổi tiếng. Có một dạo vì mệt nhọc sau cuộc sinh

nở nên Ngọc Nuôi nhường vai chánh cho cô đào Ngọc An, và sau đó cho cô đào Kim Nên để thủ vai dành cho đào nhì. Những vai phụ đó thường có chỗ hát Tân nhạc. Trong tuồng Khúc Nhạc Ly Hương của Vân Sinh, chị hát bài “Khúc Nhạc Dưới Trăng” của Dương Thiệu Tước. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh nhỏ nhắn và xinh đẹp của Ngọc Nuôi trong chiếc áo dàimàu hồng phấn khi chị trình bày bản “Ngày Trở Về” của Phạm Duy trong một màn phụ diễn tân nhạc trên sân khấu Hương Hoa. Chị hát rựa ràng lắm, ngân nga vài gợn lăn tăn

cho ra vẻ ca sĩ Tân nhạc. Tiếng hát của Ngọc Nuôi đầy âm vang lảnh lót, hát Tân nhạc lẫn Cổ nhạc đều lôi cuốn khan thính giả.

Vợ chồng Việt Hùng và Ngọc Nuôi có đám con là Việt Thảo, Ngọc Quí và Ngọc Bích chuyên hát nhạc trẻ trong các club Mỹ. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh là vậy.

Còn Ngọc Đán là cô đào son trẻ của gánh Việt Kịch Năm Châu. Chị hát tân nhạc từ gánh nầy sang qua gánh Bích Thuận, gánh Ngọc Kiều và sau hết là gánh Phước Chung. Chị không có giọng đặc biệt, chỉ hát nghe êm tai thôi. Trên sân khấu Ngọc Kiều, chị thường hát tân nhạc chung với nghệ sĩ Hùng Cường. Ngọc Đán đẹp, duyên dáng và đóng tuồng hay, nhưng không thể vượt qua Ngọc Nuôi, kẻ cùng trang lứa với chị. Khi qua gánh Bích Thuận, chị cùng với Bích Thuận là đào chính, trong khi Bích Sơn chỉ là đào nhì. Nhưng thường thì Bích Thuận ưa giả trai làm kép chính nên Ngọc Đán trước sau vẫn là đào chánh dù không một mình một chợ.

Nữ hoàng kịch nghệ Năm Phỉ có một người nghĩa nữ là nữ nghệ sĩ Túy Hoa cùng bốn cô dưỡng nữ là Kim Cương, Kim Hoàng, Ngọc Yến và Xuân Lan. Có lẽ vì lo xa, bà bắt Túy Hoa học hát nhạc Tây. Sau đó ít lâu, đợi bốn cô gái nuôi đến tuổi dậy thì, bà bắt họ rèn luyện Tân nhạc. Trong bốn cô thì chỉ có Kim Cương và Kim Hoàng nổi tiếng. Kim Cương vừa đẹp vừa đóng tuồng hay. Kim Hoàng cũng đẹp, tuy đóng tuồng thua Kim Cương, nhưng vẫn không phải là một diễn viên tồi; đã vậy chị hát Tân nhạc lẫn Cổ nhạc vượt Kim Cương xa. Ngọc Yến đóng tuồng hay, ca tạm được, nhưng lại không đẹp. Xuân Lan đẹp hơn ba cô kia, nhưng vì lấy chồng đẻ con sớm, nhan sắc phai lợt, tiếng hát sa sút âm lượng nên chị cũng như Ngọc Yến không thể nổi danh được. Có lần tôi xem tuồng Ngọc Huỳnh Lân Xuất Thế do bà Bảy Nam soạn và được trình

diễn trên sân khấu Nam Phi. Trong tuồng nầy, Kim Hoàng, Kim Cương, Ngọc Yến và Xuân Lan có vai rất ngắn ở màn đầu. Nhưng họ phụ diễn tân nhạc rất đặc sắc. Tối hôm đó, Kim Cương hát bản “Nụ Cười Sơn Cước” của Tô Hải, Kim Hoàng hát bản “Tiếng Còi Trong Sương Đêm” của Lê Trực, Ngọc Yến hát bài “Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn, Xuân Lan hát bài “Xuân Nhớ Chiến Sĩ” của Ngọc Bích. Cả bốn đều hát Tân nhạc rựa ràng, nhưng trội nhất là giọng Kim Hoàng. Đó là giọng kim cao vút với làn hơi mạnh, với chuỗi ngân thật dài thật rập rờn sóng gợn.

Khi nổi tiếng, Kim Cương vì bị bịnh phổi nên làn hơi yếu đi. Chị không thể hát Tân nhạc lẫn Cổ nhạc suông sẻ và thoải mái nên phải nhào qua địa hạt thoại kịch. Trong khi đó, tiếng Kim Hoàng vẫn dồi dào và dũng mãnh như tự bao giờ. Trong vở kịch Trà Hoa Nữ do Anh Lân soạn, Kim Cương có hát bài “Mộng Chiều Xuân” của Ngọc Bích và “Kiếp Nghèo” của Lam Phương. Chị hát tạm được, nhưng khán giả ngồi nghe chị hát chỉ nơm nớp sợ chị tét giọng hụt hơi. Trong phim Bẽ Bàng do Lê Mộng Hoàng làm đạo diễn, Kim Cương có hát bài “Tà Áo Cưới” của Hoàng Thi Thơ. Trong phim Nhạc Lòng Năm Cũ cũng do Lê Mộng Hoàng làm đạo diễn, chị hát bài “Nhạc Lòng Năm Cũ”, bài nào cũng được chị trình bày trót lọt, nhưng khách sành điệu vẫn hồi hộp sợ chị ca vấp váp. Làn hơi của chị mỏng và yếu quá, chuỗi ngân xử dụng một cách vụng về, khi thì chao đảo, khi thì bời rời, đã vậy tiếng hát lại hơi nghẹt mũi.

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 23 Dec 2025

Ý Thức Tinh Thần Đại Học

ĐẶNG VŨ VƯƠNG

HÀ NGỌC THUÂN

NGHIÊM SỸ TUẤN

Lời Giới Thiệu:

 Đặng Vũ Vương, Hà Ngọc Thuần, Nghiêm Sỹ Tuấn là bộ ba thuộc nhóm chủ trương “academic” ban Quan Điểm Nguyệt San Tình Thương, từ số ra mắt, cho đến ngày các Anh ra trường. “Ý Thức Tinh Thần Đại Học” đăng trên Tình Thương Số 1 (Tháng 1, 1964) là bài viết đầu tiên cùng đứng tên cả ba Anh, lúc ấy Nghiêm Sỹ Tuấn và Đặng Vũ Vương đang là sinh viên năm thứ 4 và Hà Ngọc Thuần năm thứ 3 Y Khoa niên khóa 1963-1964. Nghiêm Sỹ Tuấn đã hy sinh ở Khe Sanh 1968, Đặng Vữ Vương nay sống ở Michigan, Hoa Kỳ và Hà Ngọc Thuần ở Brisbane, Úc châu. Theo anh Hà Ngọc Thuần, bài viết tuy có sự góp ý của cả ba anh, nhưng người chấp bút là anh Nghiêm Sỹ Tuấn.

Trường Đại hoc đầu tiên còn thấy nói đến trong lịch sử văn minh nhân loại là trường Đại học Salerne, một trường Y khoa thiết lập ở Âu châu vào khoảng giữa thế kỷ XII. Bấy giờ đế quốc La Mã đã sụp đổ, nền văn minh La Mã đi vào chỗ suy tàn. Salerne là một thành phố nhỏ ở bờ biển Ý Đại Lợi, gần thành Napoli, nhưng là nơi duy nhất còn giữ được nề nếp văn minh cổ Hy Lạp. Nhờ vị trí địa dư đặc biệt, Salerne quy tụ nhiều sắc dân: người Á Rập từ Tây Ban Nha tới, người Do Thái từ phương Đông qua, và cố nhiên người La Mã vấn còn ở đó. Trong trường Đại học đầu tiên này, người ta thâu nhận sinh viên đủ các quốc tịch, không phân biệt nam nữ. Các giáo sư cũng thuộc bốn nguồn gốc khác nhau La Mã, Do Thái, Hy Lạp và Ả Rập. Danh từ “université” có lẽ do đó được đặt ra. Kế tiếp có một phong trào đại học từ Montpellier ở Pháp, qua Oxford ở Anh, lên tới Uppsala ở Thụy Điển, tạo thành những trung tâm văn hóa Âu châu xưa nhất còn tồn tại đến bây giờ.

Nhưng không phải mãi đến thế kỷ XII, ý niệm Đại học mới thành hình. Ở Trung Hoa, sáu trăm năm trước Công nguyên, trong sách Lễ Ký, Khổng Từ đã viết chương Đại Học, bày tỏ chủ đích sự học của con người. Chủ đích ấy gồm ba cương lĩnh: làm sáng đức sáng, canh tân con người, tiến tới chí thiện (Đại học chi đạo, tại mình minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện). Để thực hiện đạo Đại học ấy, người đi học phải thi hành tám việc: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ, trong đó lấy tu thân làm gốc. Dần dần với sự suy sụp của chế độ phong kiến, người ta đặt ra thi cử để tuyển lựa nhân tài. Vì nhu cầu “kỹ thuật”, các lớp được chia ra làm tiều tập, đại tập. Tiểu tập học từ ngữ, ứng đối; đại tập học thơ, phú, văn sách … Việc huấn luyện người đại học trở nên phù phiếm, chỉ vụ từ chương, xa dần tôn chỉ của đạo Đại học lúc sơ thủy.

Trong khi đó ở Tây phương, với những bước tiến dài của khoa học, nhiều ngành học mới xuất hiện. Kiến thức nhân loại ngày một nhiều, mẫu người đa hiệu kiểu Aristote hay Bacon, hiếm lần lần. Giáo dục, vì lẽ ấy, được chia làm ba cấp, hay đúng hơn ba giai đoạn liên tiếp. Theo quan niệm này, thì sau những năm tiểu và trung học để có một vốn căn bản về kiến thức tổng quát, Đại học là chặng cuối cùng, ở đó người đi học đã lớn thâu thập một hành lý kiến thức chuyên môn đủ để mai sau gánh vác một nhiệm vụ trong xã hội.

Vai trò chuyên môn ngày một quan trọng, lấn át các tính chất nhân bản và phổ quát của Đại học xưa. Con người đi tới chổ chia học vấn và kiến thức ra nhiều “buồng” (compartimentage) trong khi cứ tưởng mình đang tự chuyên môn hóa.

Sự cắt vụn kiến thức đã làm cho Đại học giảm giá trị và bớt hiệu lực, dù rằng đối tượng và mục đích của các đại học, tuy sinh hoạt dưới nhiều bảng hiệu khác nhau với nhiều kỹ thuật khác nhau, bao giờ cũng là một: Chân lý để Phụng sự. Nho gia ở Trung Hoa cổ nhận ra là những người chuyên về thật tế nhiều hơn về lý tưởng. Đại học, sau khi đã minh định chủ dích, khởi đầu bằng sự thấu suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật, nhiên hậu hiểu biết tận cùng về các lẽ trời, đất và người. Nhà nho là người học giỏi, trên thông thiên văn, dưới đạt địa lý, giữa hiểu nhân sự, đợi đem tài trí ra giúp đời, ích quốc lợi dân, chứ không vụ lấy sự vui thú trong tư tưởng. Học thuyết của nho gia chủ ở nhân sự, nên người tài tuấn mà không ra giúp đời, kẻ sĩ cho là vô nghĩa. Tây phương xưa cũng thế, chủ trương một hiểu biết toàn diện. Những nhà hiển triết cổ Tây phương toàn là những bác học đa hiệu. Aristote là một thí dụ điển hình, tác phẩm của ông có thể coi như một bộ bách khoa, gồm hàng trăm cuốn, viết về đủ loại: luân lý, khoa học, thẩm mỹ, triết học … Thành ra, Đại học với mục đích tìm kiếm để phụng sự, đã là nơi quy tụ biết bao tư tưởng, khuynh hướng, học thuyết và cống hiến cho nhân loại bao nhiêu phát minh.

Bacon, một triết gia đa hiệu khác, đã cho rằng không công việc nào phụng sự nhân loại một cách huy hoàng hơn là phát minh khoa học và phát triển mỹ thuật làm cho đời sống tươi đẹp hơn. Hơn hai ngàn năm sau ông già nước Lỗ, cái tính cách thuần nhất đối tượng của Đại học vẫn bất dịch. Ngày nay, người ta còn thấy nó rõ ràng nơi hai hàng chữ: Cách vật, Minh đức và Scientia et Virtus (1) trên huy hiệu của đại học đường Hương Cảng. Như thế, Đại học đã mặc nhiên đảm nhận vai trò lãnh đạo, hướng dẫn con người, “Dân có thể thì khiến dân làm, dân không thể thì làm dân hiểu” vẫn là việc làm muôn đời của Đại học ở mọi nơi. Vai trò ấy được thể hiện bằng sự bảo vệ con người và những giá trị nhân bản vĩnh cứu, qua các thời đại và các biến cổ lịch sử, bằng sự phát huy và quảng bá tư tưởng học thuật trong quần chúng. Những chiến đấu chống đàn áp, bảo vệ giá trị con người gần đây nhất của Đại học đã diễn ra ở Hung, Angola, Việt Nam Tự Do.

Kết quả tinh thần của những chiến đấu ấy đã được thể hiện bằng một bản Tuyên ngôn do người đại học của 32 quốc gia trên thế giới, họp lại soạn thảo và biểu quyết ở Leysin, Thụy Sĩ. Tuyên ngôn này đề cập tỉ mỉ đến vai trò của người đại học trong xã hội với ý niệm một Đại học tự do, một xã hội tự do và một hòa bình thế giới.

Song song với nhiệm vụ bảo vệ vừa nói, nhiệm vụ “làm dân hiểu” của Đại học rất là quan trọng. Công cuộc Duy Tân Nhật Bản là thành quả rực rỡ của sự ý thức được nhiệm vụ này trong con người đại học Phù Tang trong thế kỷ trước. Người đại học phải như Chú Lái Khờ (2) giàu có xưa kia, lòng say yêu dấu, không những đã phân phát hết cả vàng lụa, mà rút đến tận những kim cương sáng như sao đọng, ấp ủ bên ngực, đem cho lũ người hồng phấn (2) Những phát minh lớn lao của người đại học trong lịch sử văn minh chính là những viên kim cương tinh tuyền nhất họ hiến cho nhân loại. Từ sự thuần nhất đối tượng và mục đích đến vai trò “sử do và sử tri” (3), Đại học đã tự tạo cho mình một tinh thần đặc biệt. Tinh thần ấy gồm hai đặc tính: nhân bản và phố quát (universalisme). Đặc tính thứ nhất hiện rõ ngay khi Đại học tự đặt mục đích cho mình. Phụng sự con người, Đại học phải là một nền học vấn nhân bản, lấy con người làm gốc, và phải phát triển theo nhân tính. Khi xưa, các giá trị tinh thần được tôn trọng nhiều, tính cách nhân bản của Đại học hầu như là tất nhiên. Có lẽ vì thế mà người ta dùng danh từ “humanités” để chỉ việc học và nghiên cứu các cổ ngữ La Hy cùng các nền văn minh cổ. Đặc tính nhân bản ngăn cản Đại học làm những thí nghiệm phi nhân dưới danh nghĩa khoa học. Người ta không thể nại sự tiến triển của Bào thai học để tạo nên những hài nhi trong ống nghiệm (bébé-éprouvette). Bảo rằng hài nhi ấy không có giá trị con người vì không thành hình một cách tự nhiên trong lòng mẹ, chỉ là ngụy biện, bởi lẽ mầm sống của hài nhi ấy gốc ở con người. Tấn thảm kịch của hơn 7.000 trẻ em bất thành nhân dạng ở Đức, ở Anh do thuốc an thần Thalidomide gây ra và hậu quả của nó, vụ án Liège, chính là vì sự không ý thức nổi tinh thần Đại học của những người chế thuốc và những bị cáo. Cũng một lẽ đó, những cuộc thí nghiệm nguyên từ, những cuộc phóng hỏa tiễn vu vơ lên không gian dưới chiêu bài khoa học, lãng phí nhân lực và tài lực, đều là những vô ý thức về tinh thần nhân bản của Đại học. Đặc tính thứ hai, tính phổ quát, của Đại học cũng có ngay từ khi Đại học đầu tiên được thành lập trên thế giới. Khác với đặc tính nhân bản, đặc tính phổ quát không có về đơn thuần trong thời gian và không gian. Sự phức tạp của các giống người, của các sắc thái văn hóa, chính trị … làm cho tính phố quát của Đại học nhiều khi như phi lý, đi ngược lại ý niệm quốc gia dân tộc. Hay lẫn lộn với các ý niệm khái quát, quốc tế …Khi hai hay nhiều quốc gia gặp nhau để bàn cãi về một vấn đề gì, thì hội nghị ấy có tính cách quốc tế. Ý niệm quốc gia trong trường hợp này vẫn rõ rệt và nhuốm màu sắc chính trị. Trong một tầm rộng lớn hơn, một tổ chức thế giới, tổ chức Y tế Thế giới (OMS) chẳng hạn, không hàm ý niệm biên cương và có quyền hạn định rõ ở khắp các quốc gia. Quốc tế đối lập với quốc gia trên bình diện chính trị, pháp lý; thế giới đối lập với quốc gia về phương diện lãnh thổ địa dư. Tính phố quát khác hắn các ý niệm quốc tế và thế giới. Nó là hằng tính của chân lý ở khắp nơi trên địa cầu và trong vũ trụ. Nó không bao giờ hàm ý nghĩa biên cương, những lãnh vực trong một nước, nó gần với dân tộc hay dân tộc tính.

Phổ quát cũng không phải là tổng quát. Một cách tổng quát, bao trùm tất cả, người ta có thể nói, tỉ dụ: tôn giáo nào cũng dạy làm lành, tránh dữ, thế là xét về hiệu quả. Một cách phổ quát, người ta phải nói: tôn giáo nào cũng nhằm cứu rỗi hay giải thoát con người, đấy là xét về khởi điểm, tất yếu. Sự hiện diện đồng thời của nhiều tôn giáo trong một xã hội có thể có được nhờ tính phổ quát này, nguyên tắc căn bản của tự do tín ngưỡng và khoan dung tôn giáo. Từ bản chất phổ quát của tinh thần Đại học, người ta có thể suy diễn ra nhiều hệ luận:

Về phương diện sinh hoạt, việc giảng huấn ở Đại học không đặt vấn để quốc tịch hay quốc gia. Một người Pháp, Đức hay Hoa Kỳ không hể giữ một chức vụ nào trong guồng máy hành chánh, nhưng có thể giảng dạy ở Đại học Việt Nam. Một Đại học không nhất thiết phải dùng tiếng mẹ đẻ làm chuyển ngữ trong tất cả mỗi ngành. Trong ngành Y khoa ở Việt Nam chẳng hạn, điểm quan trọng không phải là có thể giảng Cơ thể học hay Bệnh lý học bằng tiếng Việt, nhưng là gây dựng một nền Y học của Việt Nam, không phải thuốc Tây mà cũng chẳng phải thuốc Bắc. Ở đây, mọi vấn đề giới hạn quốc tịch hay quốc gia chỉ có nghĩa là bài ngoại. Hiểu như vậy, tính phổ quát của Đại học không hề trái với dân tộc tính; hơn nữa chính nhờ đó mà nền văn hóa dân tộc có thể xây dựng được. Về phương diện học vấn, Đại học chấp nhận mọi tư tưởng, mọi học thuyết, mọi kiến thức ngoại lai: phản xạ có điều kiện của Pavlov, thuốc chủng ngừa lao của Calmette và Guerin, thuyết tương đối của Einstein … Cũng thế, khi Khổng tử bàn về người quân tử, thì không phải ông chỉ nói tới quân tử Tàu (honi soit qui en rit); ý niệm quân tử ấy đã phảng phất nơi người hiển triết Socrate rồi. Về phương diện tinh thần, Đại học nghiên cứu một cách vô tư. Ở trung học người ta dạy địa lý các cường quốc, nhưng ở Đại học thì những Russier, Gourou, Dufeil nghiên cứu địa lý Việt Nam cùng với tinh thần đã có khi nghiên cứu về nước Pháp. Một du khách kinh tớm khi thấy những người già cả ở Phi châu bị con cháu ăn thịt, trong khi một người Đai học coi đó chỉ là vấn đề về lão chứng học (gérontologie) mà thôi.

Nhưng một tinh thần phát huy được những cai hay một cách rực rỡ, là nhờ ý thức được tỉnh thần của những người mang tinh thần ấy. Riêng về người đại học – người phát huy tinh thần Đại học – phải ý thức tinh thần Đại học bằng cách tạo cho mình tính tích cực, lòng hòa đồng và tinh thần tiền phong.

Giản dị nhất trong sự ý thức này là tích cực học, “Học nhi thời tập” (và “bất như học dã” (5) là câu khắc cốt ghi tâm của người đại học. Tuy giản dị, nhưng trong việc học theo nghĩa thuần túy, người đại học phải tránh ba tật: máy móc, thờ ơ và tự mãn. Tất cả ba tật này đều trái với mục dích của Đại học, là Học đễ Phụng sự.

Máy móc thì kém hiệu lực, thờ ơ thì không hăng hái, tự mãn chẳng thể tiến xa. Một Malraux tham gia cách mạng Tây Ban Nha, một Sartre lên tiếng chống đối chính phủ trong chiến cuộc Algerie, là những thí dụ của người đại học không thờ ơ, tự mãn, cũng không bất mãn phá hoại, mà luôn luôn tỏ rõ lập trường.

Người đại học hòa đồng với mọi người, nhưng không bè đảng với ai, phù hợp với một bên là tinh thần nhân bản và mục đích phụng sự, một bên là tính độc lập, tự do của Đại học.

Tiền phong là nét cuối cùng, nhưng là nét khởi sắc nhất, trong bức họa tinh thần của Đại học, làm cho Đại học thêm xứng đáng hơn. “Buồn trước cải buồn của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” đã chẳng là câu gây cảm hứng cho những cuộc chiến đấu chống đàn áp của Đại học đấy ư?

Thành lập từ hơn 800 năm, Đại học nhờ có một tinh thần độc đáo đã gây được một truyền thống vững bền. Người Đại Học có thể theo Lincoln mà tóm tắt tinh thần Đại học trong sau chữ: BỞI NGƯỜI, VÌ NGƯỜI, CHO NGƯỜI. Bởi người nên có phổ quát, vì người nên có nhân bản, cho người nên có hiệu lực. Thiếu một trong ba yếu tố, một nền Đại học, dù hay đến đâu, về bất cứ phương diện nào, cũng không thể là một Đại học thực sự đúng nghĩa.

[Tình Thương Số 1, Tháng 1, 1964]

Dấu chân người tỵ nạn

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 23 Dec 2025

11. Mùa Thu 1977 – Kết

Chiếc phi cơ cất cánh từ Los Angeles đáp xuống phi trường quốc tế Philadelphia, một thành phố lớn của tiểu bang Pennsylvania thuộc miền Ðông Bắc Hoa Kỳ. Tiểu bang Pennsylvania có trại định cư Indiantown Gap chứa người tị nạn Việt Nam di tản sau ngày 30 tháng 4, 1975. Trên đường đến đại học Oklahoma tôi ghé Philadelphia thăm nhóm anh em anh Hoàng; Tôi chỉ mua vé một chiều, định quá cảnh thành phố Phila thăm chơi vài tuần xong rồi tiếp tục bay về trường dầu hỏa cho khóa học đầu tiên. 
Vừa bước chân ra khỏi phi trường, một làn gió lùa qua mang theo hơi lạnh làm tôi rùng người. Khí hậu nơi đây khá chênh lệch với tiểu bang California, mới vào tháng Chín mà trời đã se lạnh! Cái lạnh của miền hàn đới chẳng mang lại cho tôi một kỷ niệm nào, ngoại trừ khơi lại những ký ức làm tôi “thương cho những chiều nắng rọi bờ sông” ở một miền quê xa lắc xa lơ. Từ vùng nắng ấm Cali tôi chỉ mặc bộ đồ mỏng, tôi thun người lại, thọt tay vào túi áo đứng ngóng chờ. Một hồi sau tôi thấy một đám người ngơ ngáo như muốn tìm ai. A ha! tôi la lên: 
“Anh Hoàng, tui đây nè!”
Hôm đó tôi gặp anh Hoàng và nhóm bạn trên tàu Long Châu ngoài khơi Vũng Tàu trưa ngày 30 tháng 4, 1975. Từ ngày chúng tôi chia tay ở trại tị nạn Penndleton mỗi người đi mỗi ngã, hôm nay mọi người đang có mặt tại thành phố này. Chúng tôi nhảy lên xe buýt chạy về thành phố Philadelphia. Xuống xe tôi theo anh Hoàng và đám bạn đến một ga xe lửa, ga Ba Mươi, lên tàu về nhà. 
Cái ấn tượng đầu tiên đập vào tôi là những con đường. Những con đường từ phi trường vào thành phố và chung quanh ga Ba Mươi trông chật hẹp và cổ kính. Những căn nhà và phố xá chen chúc nhau không thua gì mặt tiền đường Lê Văn Duyệt (Cách Mạng Tháng Tám). Cái cổ kính hiện lên rất rõ qua những kiến trúc bên trong ga Ba Mươi với cột nhà to bóng loáng, kiến trúc theo lối Cathedral, lồng nhà cao ngất với nền và một phần bức tường được lót và chạm bằng loại đá cẩm thạch lâu ngày “lên men” bóng như mặt gương. Ga Ba Mươi rộng thênh thang, bên trong có nhiều quầy hàng, sạp báo, quầy sách, sạp nhật trình và những hàng ghế dài dùng cho khách ngồi chờ chuyến xe. Ga Ba Mươi nằm bên bờ sông Schuylkill là ga xe lửa Amtrak chạy xuyên bang, và cũng là ga SEPTA (Southeastern Pennslvania Transportation Authority) cho những tuyến xe lửa chạy quanh thành phố Philadelphia. 
Chuyến xe lửa rời ga Ba Mươi chạy ngược vào thành phố. Con tàu lao vun vút trên đường sắt. Người ta không còn nghe gì ngoài những âm thanh xình xịch, phát ra liên thinh bất tận nối đuôi xua đuổi nhau không ngừng, từ thân con tàu cũ rích. Trong giây lát con tàu vượt cầu băng qua sông Schuylkill. Bên kia sông là một công viên, người người đi bộ và trẻ con nô đùa. Dưới sông những con thuyền nằm lững lờ trên dòng nước. Con tàu chạy xuyên qua khu dân cư, những căn nhà nằm rải rác cách xa con đường sắt. Tiếng máy kêu xình xịch đưa con tàu lướt trên đường rầy mang tôi lại với những kỷ niệm ngày còn bé. Có lần tôi đứng trên bãi Phù Sa, một bãi cát nằm bên con sông làng, nhìn con tàu lao trong sương lạnh mà lòng hồi hộp; Tôi quay đầu nhìn theo con tàu cho đến khi khuất bóng, chỉ còn thấy những cụm khói trắng phun lên nền trời sau những hồi còi mà lòng vẫn còn luyến tiếc. 
Tôi quay qua hỏi anh Hoàng: 
“Anh đi đâu cũng bằng xe lửa à?” 
“Ừ, tụi tao dùng xe lửa và xe buýt đi học, không đứa nào có xe hơi.” 
“Rồi đi chợ cũng đi xe lửa à?” 
“Không. Ði bộ.” 
Ngộ. Chỉ sau một ngày mà tôi đã thấy sự khác biệt. Người Việt ở miền Tây đất nước này thì thích xe mới, quần áo đẹp và đa số lao đầu vào việc làm ngay sau khi được định cư. Họ phải có những thứ mà người khác không có, những chiếc xe hơi láng cón, hàng mới ra lò. Và họ thích chạy đua trên phương diện ăn chơi, vật chất hào nhoáng. Khác với người Việt tị nạn ở miền Đông Bắc. Mà cũng đúng thôi, nơi này lạnh buốt da, đâu phải là nơi ăn chơi lý tưởng cho những người chọn nơi này làm quê hương. Nên phần lớn họ chọn học đường trong sự kham khổ.
Và ga đầu tiên con tàu ngừng lại là North Philadelphia. Ga North Philadelphia chia ra làm hai ngã, một đi về Trenton và một đi về West Chesnut Hill. Chúng tôi đi về West Chestnut Hill. 
Ngồi trên chiếc xe lửa cũ cổ kính tôi có cảm giác như mình đang sống ở thời đại hòang kim. Hay ít ra cũng gợi lại ký ức cũa những ngày còn bé sống trong căn nhà người dì bên cạnh ga Hòa Hưng. Những buổi chiều ngồi trên gác nhìn đoàn xe lửa đưa người qua cổng Bà Xếp, và những lần đu xe lửa từ ga Hòa Hưng về Gò Vấp. Nhưng khác, khác nhiều lắm. Tuyến xe lửa Hòa Hưng – Gò Vấp có nhiều đoạn chạy san sát nhà dân tưởng chừng như đưa tay ra là có thể chạm nhà cửa, chạm đến sự nghèo khổ! 
Sau ga North Philadelphia con tàu ngừng lại trên nhiều ga khác, và sẽ có một sân ga cho chúng tôi. Khi con tàu ghé ga Carpenter anh Hoàng nói ga kế là đến nhà. Chỉ trong vòng năm phút sau, con tàu ngừng ở ga Allen Lane. Tôi bước xuống theo anh Hoàng và những người bạn. Từ ga Allen Lane đi bộ ba đoạn đường là đến nhà. Căn nhà mang số 47.
Đó là một buổi chiều cuối tháng Tám năm 1977. Tôi bước vào nhà 47 với đầy ngỡ ngàng! Ở đây có đầy đủ “văn võ bá quan”, những người mà trưa 30 tháng 4, 1975 đều có mặt trên tàu Long Châu ngoài khơi Vũng Tàu. Lướt qua một lượt tôi điểm danh không thiếu một tên, đã không thiếu mà còn tăng thêm nhân số! Đó là bé Tina, đứa bé gái con anh Ka và chị Tê là đứa bé đầu tiên của thế hệ thứ nhì ở Mỹ được sinh ra trong gia đình 47. Bé Tina rất dễ thương nhưng trông nhỏ con, chị Tê bảo rằng khi có mang không muốn dùng thuốc bổ nuôi con trong bụng, sợ con lớn sinh đẻ khó. Chị Tê nghĩ khi sinh con ra rồi hãy nuôi đầy đủ thì con cũng phát triển bình thường thôi. Nhưng trong nhà toàn là bọn đàn ông con trai, ngoài chị Tê là đàn bà, nên chẳng ai có ý kiến ý cò gì, nhưng ai cũng tin chị Tê vì chị có bằng dược sĩ từ Việt Nam. 
Mùa Hè vừa đi qua. Những thành phần trong căn nhà 47 như những con ma trơi, họ không nhất thiết đi làm và cũng không nhất thiết đi học, chỉ trừ một việc là họ vừa sửa xong căn nhà. Ðúng ra là một cửa tiệm táp hóa bị cháy như một ổ chuột làm chỗ ở. Có điều là tất cả đều không có một xu dính túi, không gia đình, không nhà cửa đang ngồi nhà ăn tục nói phét, gãi ghẻ chờ khóa mùa Thu nhập học để làm người trí thức. Cả thành phố Phila- del- phia cũng đang ầm ì chuyển động với những gia đình người Việt tị nạn ở rải rác khắp nơi trong và ngoài thành phố. Phila là một trong những thành phố tiêu biểu cho miền Ðông Bắc, là một thành phố phức tạp! Một thành phố có đầy đủ các sắc dân trên thế giới, và có muôn ngàn việc làm từ chân tay đến trí óc. Cũng vì tính tạp nhạp nên là một thành phố dễ thở, dễ sống cho những người chân ướt chân ráo đến từ các nơi trên thế giới. 
Chiều cuối tuần tôi theo anh Hoàng và đám bạn leo lên tàu lửa xuống phố đi ăn đồ Việt. Chỉ có hai tiệm ăn Việt Nam trong cả thành phố Phila, và cả hai tiệm ăn này đều nằm ở nam Phiadelphia, khu chợ Ý. Anh Hoàng và đám bạn đưa tôi ghé thăm ngôi trường họ sẽ nhập học vài tuần sau. Ngôi trường chẳng có gì hấp dẫn, cũ kỷ, nằm bên cạnh trung tâm thành phố Phila, gần ga Ba Mươi. Trường Drexel University. Ðược biết Drexel University là biến thân của Drexel Institude. Ngày xưa nhà kỷ nghệ Drexel lập nên Dexel Institude để huấn luyện nhân viên cho nhà máy của ông ta. Sau này Drexel Institude phát triển và trở thành một đại học tư, chuyên về ngành kỹ thuật và được coi là trường kỹ sư sáng giá thuộc vùng Ðông Bắc, được nhiều công ty kỹ nghệ nhìn nhận và “đánh giá cao” (credited school). Mà kết quả rõ ràng nhất là tỷ lệ sinh viên nhận được việc làm sau khi ra trường. Không những có việc làm mà mỗi sinh viên có được bao nhiêu việc làm sau ngày ra trường! Sau một vòng thăm trường, chúng tôi tấp vào “nhà hàng” Việt Nam để tìm lại một chút hơi hám quê hương. Chiều về chúng tôi lại leo lên xe lửa chạy về nhà 47. Trong tiếng kêu xình xịch, và tiếng “nghiến răng” ken két của bánh xe sắt cà lên đường rầy khi toa xe ngừng lại sân ga, anh Hoàng hỏi: 
“Mầy thấy sao?” 
“Sao là sao, tui đâu thấy sao đâu.” 
“Ý tao nói là trường Dexel đó.” 
“Thì cũ, già nua giống như viện bảo tàng trong Thảo Cầm Viên ở Sài Gòn vậy đó.” 
“Trường ngon lắm đó mầy, ở lại đây học với tụi tao cho vui.” 
“Thôi cha, tui có trường rồi, học bổng bốn năm đàng hoàng, kỹ sư dầu hỏa tương lai đó.” 
“Bộ kỹ sư Drexel dỏm hả mầy, mầy vừa xem báo cáo việc làm sau khi ra trường trên bảng thông tin ở trường đó. Hơn nửa Drexel có chương trình sáu tháng ở trường sáu tháng ngoài kỹ nghệ, đở lắm nghen mậy.” 
“Học ở đây để trở thành Chúa Chổm à?” 
“Nhằm nhò gì ba thứ lẻ tẻ đó, đi học là đầu tư mà mậy. Ðầu tư quá rẽ, mỗi tháng sau khi ra trường mầy trả nợ có 90 đồng hà.” 
“Dzị là tui phải cong lưng trả nợ mấy chục năm mới xong. Thôi, không ham đâu, mà Drexel đâu có ngành dầu hỏa.” 
“Dầu với khí cái quái gì, bộ mầy nghĩ kỹ sư điện và cơ khí không ngon sao mậy?” 
“Nhưng tui muốn về làm việc cho hảng dầu hỏa ở Việt Nam kìa, cho gần nhà kìa.” 
“Bỏ đi tám. Bỏ ý định đó đi cưng. Còn lâu mầy mới về Việt Nam.” 
“Sao dzị?” 
“Chứ mầy không thấy à? Ngay cả gởi lá thư về thăm con bồ mầy mà gởi không thủng kìa.” 
“Ủa! Sao trước khi lên đây tui nói với anh tui đi học dầu hỏa để về Việt Nam sao anh không cản mà bây giờ lại cản?” 
“Thì không cản mầy mới lên đây chứ.” 
“Vậy là anh gạt tui hai lần rồi.” 
“Hồi nào mà hai lần?” 
“Lần trước ngoài khơi Vũng tàu, anh gạt nói tàu Long Châu trở về Sài Gòn nên tui mới nhảy xuống biển xém chết, quên rồi sao?” 
“Ai biểu mầy tin tao chi. Khùng sao quanh trở về.” 
“Vậy lần nầy thì sao?” 
“Lần nầy thì khác. Tao thấy mầy là nam nhi có chí mà nhớ nhà, nhớ ba chuyện bồ bịch nhảm nhí, tao khuyên mầy ở lại đây học cho vui thôi. Mầy nghĩ đi, một mình mầy về Oklahoma mầy nghĩ sao. Tùy mầy thôi.” 
“Cậu Hoàng nói đúng đó. Ở lại đây học với tụi tui cho vui đi, xuống đó một mình buồn thúi ruột rồi làm gì, ngồi nhà ‘xúc cát’ hà!” Thằng Sơn chỉa vô nói thêm. 
“Lộn xộn mậy, tuổi tác không tính nhưng tao là cậu đàng hoàng nghen mậy.” Tôi cười nhe răng ra. 
Những lời đơn sơ của anh Hoàng làm tôi suy nghĩ. Bao nhiêu hồ sơ, giấy tờ tôi đã tốn nhiều công đi nộp, và nay chỉ còn chờ ngày nhập học. Tôi mơ, mơ có một ngày trở thành kỹ sư dầu hỏa và trở về Việt Nam để được gần gia đình, gần anh em, và Phương. Nhưng sao bây giờ những giấc mơ đơn sơ dường như bị lung lạc. Ðúng, anh Hoàng đã nói một điều rất đúng, là, cả một bức thư ngắn chưa bằng gang tay gởỉ về thăm gia đình mà bưu điện Việt Nam cũng không cho vào! Thì làm sao nói đến chuyện mang cái xác này về? Tôi quay qua anh Hoàng: 
“Nhưng chỉ còn một tuần nữa là đến ngày nhập học của Drexel và Oklahoma University, làm sao kịp?” 
“Thì mầy mang hồ sơ vào phòng học vụ xin đại xem sao.” 
Ngày hôm sau tôi cùng đám bạn trở lại Drexel, tôi mang theo đầy đủ giấy chấp nhận và học bổng của Oklahoma University cấp cho tôi, và giấy báo ngày nhập học, cùng những phiếu điểm những môn tôi lấy ở trường Pepperdine và cả bằng Tú Tài tôi mang theo từ Việt Nam. Tôi vào phòng học vụ và nộp đơn xin học ở đây. Người xét đơn là một phụ nữ. Không cần nhìn vào hồ sơ tôi đưa cho bà, bà liền phán một câu: 
“Too late! Next week school starts and we no longer acept applications, very sorry young man.” (Trể quá rồi! Tuần tới trường nhập học và chúng tôi không nhận đơn nữa, rất xin lỗi người bạn trẻ.) 
Tôi cũng chẳng buồn, và nói: 
“Well, could you take a look at my application and one way or the other please let me know in the next couple of days before I leave for Oklahoma University?” (Ôi! Xin bà xem qua đơn của tôi và bằng cách này hay cách khác xin vui lòng cho tôi câu trả lời trong vài ba ngày tới, trước khi tôi rời đây để về trường Oklahoma?) 
Bà đặt xấp đơn tôi lên bàn giấy, và nói: 
“Okay, I will take a look and let you know later.” (Vâng, Tôi sẽ xem đơn và cho cậu biết sau.) 
Tôi bước ra khỏi phòng học vụ, với lòng không vui mà cũng chả buồn. Anh Hoàng và đám bạn bu lại: 
“Sao, bả trả lời mầy sao rồi?” 
“Trể quá! Bả nói chỉ còn một tuần nữa là trường khai giảng mà bây giờ còn đơn với từ cái đíu gì.” 
Nghe tôi nói mọi người xìu xuống như bánh xe đạp bị đâm một lúc năm cây đinh! Vậy là tôi yên tâm lo ăn chơi, đi ghẹo đám con gái ở nhà hàng Việt Nam vài ba ngày ở đây xong rồi về trường Oklahoma để sau này làm tên kỹ sư dầu hỏa và ôm mộng về quê với Phương. 
Thành phố Phila- del- phia có dòng sông Schuylkill chảy êm đềm như dải lụa màu xanh. Philadelphia có công viên Fairmount Park dài nhất thế giới, có tượng Tình Yêu (Love Status), và Philadelphia có viện bảo tàng nghệ thuật kỳ cựu nhất nước Mỹ là nơi Sylvester Stallone “leo” lên những bực tam cấp trong phim Rocky một buổi sáng mùa Ðông lạnh lẽo. Và tôi đến Phila- del- phia cũng một buổi sáng mùa Ðông. Căn nhà 47 vừa được sửa chữa, những khung cửa sổ còn mang mùi dấu mới để lộ những khe dài trống rỗng, và gió, gió rít qua từng cơn lạnh buốt nghe như tiếng sáo từ một thân tre khô bị mảnh bom xén đứt giữa cánh đồng. Trong căn phòng nhỏ ở lầu ba, những tia nắng chui qua cửa kính trần truồng soi sáng khắp căn phòng khi kim đồng hồ chỉ 7 giờ sáng. Tôi đạp mền ngồi dậy bước xuống cầu thang. Chiếc bàn tròn nằm giữa nhà bếp đã đầy người bu quanh, trên tấm lưng gầy gò của mỗi người còn khoát chiếc áo lạnh. Nhìn qua khung cửa nhà bếp, ngoài hiên nhà những lon bia bị bóp méo còn nằm lăn lóc trên mặt bàn. Sáng thứ Năm mọi người vẫn còn lừ đừ như con gà chết sau một đêm đánh chén. Chín giờ sáng tiếng điện thoại reng lên, anh Hoàng bốc lên. Bên kia đầu giây là tiếng nói của một phụ nữ: 
“Cho tôi gặp ông Vân.” 
“Hứ, mới tới mà có đàn bà gọi kiếm rồi. Điện thoại đây nè mầy.” 
Anh Hoàng trao ống nghe cho tôi. 
“Tôi là Vân đây.” 
“Tôi là Janet của phòng học vụ trường đại học Drexel. Tôi muốn báo tin là đơn xin vào trường điện của cậu đã được chấp nhận, chúc mừng cậu.” 
“Cám ơn bà. Và bây giờ tôi phải làm gì?” 
“Thứ Hai nầy cậu có thể đến trường để ghi cua học. Nhưng đầu tiên cậu phải đến phòng tài chánh để làm thêm một vài thủ tục.” 
“Thưa bà tôi có được học bổng nào của trường?” 
“Có. Căn cứ vào hồ sơ và học lực của cậu chúng tôi cho cậu một học bổng toàn phần học phí cho khóa mùa Thu nầy.” 
“Còn những khóa sau thì sao, thưa bà?” 
“Tùy vào điểm trung bình của cậu. Nếu cậu giữ được trên ba chấm thì học bổng sẽ được tiếp tục.” 
“Cám ơn bà rất nhiều. Xin hẹn gặp bà vào thứ Hai nầy.” 
“Chúc mừng cậu và chúc cậu nhiều may mắn.” 
Như vậy là xong, rõ ràng là tôi không có duyên với Oklahoma University. Và từ mùa Thu năm 1977 tôi dính liền với thành phố Phiadelphia, với căn nhà 47, với những người bạn nối khố trên con tàu Long Châu. Để rồi ba năm sau, năm 1980, tôi tốt nghiệp trường điện của Drexel University, lao vào cuộc sống trên quê hương nầy như trăm ngàn người Việt tị nạn khác. Và giấc mơ trở thành kỹ sư dầu hỏa trở về làm việc trên quê hương Việt Nam cũng mãi là một giấc mơ! 
Và có lẽ dấu chân của tôi tạm dừng nơi đây. 
Nhưng căn nhà 47, những người sống trong đó, những người bạn của 47, những sinh viên Việt Nam theo học ở Drexel, cộng đồng người Việt ở Phila- del- phia, và người láng giềng của 47 sẽ tiếp tục viết lên “Dấu chân người tị nạn” khác! 
Nhưng họ là ai? 
Là những kẻ tìm cuộc sống ngày vào ngày ra trong những hộp đêm, là những tên láo cá, là thằng cãi bướng, là người quyền uy trong xã hội ngày trước, là “cha đạo đi hoang”, là bà Phán Lợi và luật sư của Ðoạn Tuyệt, là những tên bợm nhậu, là bums. Là người bình thường như mọi người. Như người ta đã nói. Nhưng nhìn qua một quang kính khác thì họ là mục sư, là nghệ sĩ, là những người con gái đáng thương, là những kẻ lang thang trên bãi biển đi tìm bắt những con cua, là những người tàn cuộc chiến cần cù đi tìm cái vinh quang cho cuộc sống trong cái đắng cay của cuộc đời, là những bông hoa của xã hội. Là người bình thương như mọi người. Cũng như người ta đã nói. 
Cho nên phải viết về họ qua một ngôn ngữ khác, một tâm trạng khác – sét đánh và nhân ái. 
Đâu dễ gì bắt được con cua, vì mỗi lần sờ tay ra là nó lại chạy đi. Nhưng nếu nó có nằm đó thì người ta cũng phải dè dặt, nếu không, nó kẹp đứt … tay! Cho nên cách hay nhất là cột miếng đùi gà thơm phức vào mảnh lưới, đặt xuống biển và để nó tự chun vào bẫy. Và có lẽ đó là phong cách để viết về “47 West Durham”. 

Ðồng Sa Băng 18/1/2011

Đèn Cần Giờ

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Xới Đất xuất bản 1968

Post by Sơn râu 22 Dec 2025

Google image

Phần 8 – Không trốn nữa

Hai tay chắp sau mông, bác sĩ Hai đếm bước trên gạch, giữa hai hàng sập trong một “phòng chung” của dưỡng đường Chợ Rẫy.

Bác sĩ lớn người, mập và trắng. Hai cánh tay to, nặng những thịt bệu, thò ra khỏi chiếc “bờ lu” ngắn tay, chừng như mỏi vì đặt mãi sau lưng, được đem ra phía trước, khoanh lại trên ngực.

Người bịnh ở phòng thì cứ ăn cơm, coi như là không có bác sĩ nơi đó, vì họ đã quen với sự đi dạo của bác sĩ giờ nầy trong phòng, y như là ngày hôm qua, hôm kia, những hôm trước nữa. Có một người bịnh mới vô, ái ngại, lén nhìn bác sĩ, rồi không thấy ông ta rầy la gì ai, lại an lòng cúi xuống ăn tiếp.

Bác sĩ không có phận sự xem xét bữa ăn của bịnh nhơn, cũng không có tánh tò mò muốn quan sát cảnh thân mật của người nghèo. Trong dưỡng đường Chợ Rẫy có tục lệ thăm bịnh sớm lắm – sớm đến nỗi muốn cho “đâu đó xong xuôi đàng hoàng” những người quét dọn, mới năm giờ sáng đã lôi tốc người bịnh dậy để vén mùng, lau gạch, đổ ống phóng và những “thầy khán hộ học trò” mới năm giờ rưỡi sáng đã lo đi lấy nhiệt độ, gây nên sự chộn rộn, phá giấc ngủ đang ngon của người bịnh mới lành hay của người bịnh nặng trằn trọc suốt đêm, mới chợp mắt được một đôi giờ – Vì vậy bác sĩ được rảnh rất lâu trước giờ tan buổi làm, và không biết làm gì trong lòng giấy, nên vào phòng bịnh giữa những bữa ăn – cũng lại rất sớm, dầu người bịnh chưa nghe đói – để cho người giúp việc “xong mọi việc” trước khi hết giờ làm.

Bác sĩ không thích đọc sách, cũng không có một đời sống bên trong phong phú. Ông tìm đến chỗ đông người đặng trốn sự trống rỗng và, không cần nói chuyện với họ, hay nhìn họ, nghe tiếng chén đũa khua, nghe họ râm ri là đủ cho bác sĩ thấy đỡ chán hơn là ở nơi văn phòng tịch mịch của ông.

Người bịnh thì ăn cơm ngay trên sập của mình. Phần đông ăn riêng. Có vài người chung đậu đồ ăn lại. Đó là những người thảo ăn cứ mời mọc nhau mãi như là đãi khách. Có người đem phần ăn lại ngồi chung một sập với người khác, mà vẫn ăn riêng. Đó là những người “thống nhất mà phân trị” vậy.

Không hiểu sao hôm đó bác sĩ lại dừng bước trước sạp của hai người “phân trị”. Có phải chăng vì hai chiếc áo màu dà của hai anh “cu li cao su” nầy đã buông một tiếng đàn lạc điệu vào bản nhạc y phục đen tối của phòng thi nầy? Không biết. Nhưng một cảnh tượng khiến bác sĩ không tiến bước được nữa.

Một anh “cu li” thừa lúc bạn đồng sàn ngó lơ, gắp bớt giá xào tóp mỡ của bạn bỏ vào dĩa mình. Nửa phút sau đó, nạn nhơn thấy bạn nhìn bác sĩ, cũng lại gắp giá xào tóp mỡ của bạn, rồi chôn dưới cơm. Người sau nầy có lẽ cũng tham ăn, chớ không phải trả miếng – nói cho đúng là lấy lại miếng – vì anh ta thật không hay hành vi của bạn hồi nãy.

Bác sĩ bật cười. Bịnh nhơn ngơ ngác buông đũa nhìn. Bác sĩ nhớ lại một chuyện đời xưa nói anh em nhà kia đêm đến lén lén ra đồng vác lúa cho nhau. Bác sĩ ngạc nhiên không hiểu sao người mình tham ăn đến thế và tham ăn cả những món không ngon đến thế. Ông nhớ lại ở làng, hễ nhà ai có động dao, động thớt là tức thì có người bu đến, cà rà, tìm công việc để làm, nói là giúp, nhưng thâm tâm họ quyết chờ những miếng thịt của con heo người ta đang thọc huyết bên hè.

Bác sĩ trề môi, khinh bỉ hai người bịnh, hay bọn nhà quê mà bác sĩ nhớ đến? Rồi không suy nghĩ thêm nữa cho niệt trí, bác sĩ lại đếm bước trên gạch.

Câu chuyện trên đây đã xảy ra mười lăm năm nay rồi. Nhưng cũng cần nhắc lại.

Bác sĩ đương ở nơi đâu, tại nhà ai, nhà ra sao, ông không rõ. Ông chỉ biết mình đang đứng trước chảo cơn chiên. Ông vừa với tay lấy chén để xúc cơm thì một thằng nào đâu không biết, xờn xợt chạy đến đá đổ chảo cơm. Sự tức giậu toan bùng ra bằng ít lắm là một cái bạt tai thì bác sĩ giựt mình thức dậy.

Bác sĩ còn đang tiếc bữa ăn hụt, mặc dầu biết rằng đó chỉ là bữa ăn trong mơ, thì bỗng nghe vang dậy tiếng chào cờ đằng trụ sở bên cạnh nhà ông ở đậu:

… Non sông ơi, cờ theo gió bay càng cao…

Cùng với nắng sớm, tiếng hát reo tươi trên lá xanh, khiến bác sĩ nghe thèn thẹn, nhận thấy tật ngủ trễ của mình có cái gì chọi với đám người trẻ không yên kia, đã dậy cùng với mặt trời. Nhưng đó chỉ là một ý nghĩ lẩn lút thôi. Vụ hụt ăn lại trở về ám ảnh bác sĩ. Ông nhớ thuở nhỏ thường chiêm bao thấy ăn kẹo, bánh trái. Nhưng không lần nào được ăn thiệt. Luôn luôn có một thằng, một con gì, hay lột tiếng động đến rất đúng cái giây phút sắp đưa đồ ăn vào miệng như là có ai quyết tâm cản trở ông ăn trong mơ.

Mấy bà cụ quả quyết rằng “ai” đó là ông thần hộ mạng của mỗi người. Quỷ sứ nó dụ mình ăn. Ăn là chịu theo nó. Bác sĩ bực tức cằn nhằn thầm:

– Mà ai cần hộ mạng chớ. Chết bỏ, miễn là được ăn thôi. Ăn giả, phải. Nhưng cần gì giả hay thiệt. Mình có đói đâu mà cần no. Mình chỉ thèm và cần thỏa cái thèm.

Phải bác sĩ thèm, thèm thịt, hay ít ra cũng món gì chiên xào bằng mỡ, hay tệ lắm là mỡ nước chan cơm ăn, chắc cũng ngon trong lúc thèm nầy.

Một tháng nay, bác sĩ nghe lời “mấy đứa nhỏ” con ông, tản cư vào vùng quê. Trong buổi hỗn độn ban đầu, việc tiếp tế lương thực cho dân chúng thật là bết lết. Ai có cái gì cũng muốn giấu để ăn, vì không biết thời cuộc kéo dài đến bao giờ. Và không ai dám đi đâu để mua cái gì về bán hết.

Sau một bữa ăn kia, trong tuần lễ đầu đi tản cư, bác sĩ nghe thiêu thiếu cái gì. À, một món tráng miệng. Ban đầu ông tính dẹp cái thói quen phiền phức ở thành ấy lại (vì ông cũng biết tự thích nghi với tình thế chớ không quá câu nệ lắm). Nhưng nỗi nhớ mọi người “la sét” lần lần biến thành sự thèm cái gì ngọt, cục đường thẻ cũng được, thứ đường đỏ sẫm lộn rác và bụi mà trước kia không bao giờ ông mó đến. Cái thèm gào hăng quá, bác sĩ thấy nó là sự đòi hỏi về sanh lý hơn là sự nhắc nhở của thói quen. Bác sĩ lẩn thẩn tưởng tượng những biến thể, những trao đổi, những điều hòa bí mật của sanh lý trong các bộ máy của thân ông; ông cử động, máy phải quay; ông muốn quay, nó cần phải có chất đốt; chất đốt đó là đường. Rồi ông đâm hoảng. Sau những suy tính của một nhà khoa học, sự thèm ngọt đã biến thành nỗi lo âu về thiếu chất cần cho cơ thể. Và con người rất thương thân thể của mình nầy bươn bả đi kiếm đường.

Lạ, sao cái món ăn rất thường ấy ở nhà, giờ nào cũng có, tiệm nào cũng bán. Thường quá rồi, có khi người ta quên rằng có nó trong đời nầy. Và không ai gọi nó là món ăn bao giờ. Còn bây giờ ở đây sao lục lạo mãi không ra. Giá nào ông cũng dám mua kia mà. Bác sĩ Hai tính lầm thầm:

– Nếu mua được thứ bánh ít (ích) bột khoai báng, lền xơ khoai, mình cũng sướng chán.

Rồi ông đâm tiếc những trái chuối nẫu (thúi, nát) ruột mà trước kia ông chê. “Chuối? ờ, cái gì cũng được. Miễn ngọt thì thôi chớ. Người ta đồn bên xóm Bà Miệng, mía nhiều, mình qua đó thử coi”.

Bác sĩ Hai đạp rạp rạ khô, đi dưới nắng tháng chạp. Gió đồng dán vào lưng ông vạt sau của chiếc áo bà ba vải đen mà ông phải mặc như những người khác. Vải gặp mồ hôi dính sát vào da. Trong ánh nắng rung rinh, hơi trên lớp vải bốc lên nghi ngút. Bác sĩ bây giờ tóc đã hoa râm, bụng lớn lên và phệ ra. Ông rất phiền phải lặn lội cực khổ vì một món không ra gì. Rồi ông oán “sấp nhỏ” đã xui dại ông. Nào ông có tính tản cư làm chi cho khổ thân. Nhưng “sấp nhỏ” nó cứ nhát: “Tụi con, ba đứa đều làm việc hết. Ba không đi nó sẽ bắn Ba, bỏ tù Ba”. Thế là ông hoảng, gởi bà và đứa con nhỏ về Sàigòn, còn mình thì chạy đến làng nầy, và bây giờ phải khổ đủ thứ!

Khi bác sĩ đi ngang qua nhà kia, ông nghe tiếng một người trai trẻ hỏi lớn:

– Mầy làm gì mà hè lụi trong buồng vậy a Lịch?

– Tao làm “công tác đào đường”.

– Thằng nói lạ, đào đường gì mà đào trong buồng?

Lạ thật, bác sĩ đứng lại chờ nghe tiếp. Một phút sau nghe tiếng người trai trẻ hồi nãy rùm lên:

– Tụi bây ơi, vô mà coi. Nó đào đường thiệt chớ. Mà đều thứ đường khạp làm ở Biên Hòa.

Bác sĩ quên lễ độ, cười lớn lên với những người trai trẻ trong nhà. Nhờ trận cười ấy mà bác sĩ làm quen được với họ và khỏi phải đi xa. Và từ đó biết chỗ mua đường.

“Ai mà cần ai hộ mạng chớ”, bác sĩ tức tối cằn nhằn với mình; bác sĩ đã bị thịt, bị mỡ ám ảnh. Từ ngày bị cướp ở làng bên cạnh, bác sĩ hết tiền, trôi dạt qua đây, nhờ một người bà con cho mượn chút ít, bác sĩ phải ăn hà tiện cho đỡ tốn. Không đến đỗi chết đói, nhưng cũng không no lắm. Nhứt là mấy ngày sau đây số tiền đã cạn mà người bà con lại bị Tây bắt mất. Không biết ai đó ở đâu, và hồi nào vì sự tình cờ hay nhờ tìm tòi, mà đã phát minh ra rằng ăn cơn với mắm ruốc cùng đường ngon tuyệt. Rồi như một dây thuốc pháo bị cháy lan, nghệ thuật ăn của phái “mắm ruốc đương” được phổ cập khắp các làng. Vả không hoan nghinh mắm ruốc cũng không có gì khác mà ăn, vì người nào cũng hết tiền, còn thịt heo thì mắc như vàng.

Một và cơm, một quệt mắm, một miếng đường tán nhỏ, cái thành phần kỳ dị của những miếng ăn ấy đối với bác sĩ chỉ “ngon tuyệt” bữa đầu thôi. Mấy bữa sau ông nghe xót ruột như đã uống át-pi-rin không ngâm tan trong nước. Ông thề nguyền khi trở về, không bao giờ dám chê ngán những đĩa ra-gu, những miếng sườn ram nữa.

Bác sĩ triết lý:

– Thèm ngọt không nằm chiêm bao. Thèm thịt thì nằm. Vậy cơ thể đòi thịt hơn là đòi đường.

Ông nhớ lại cái chết tội nghiệp trong nhà thương của những người bịnh thương hàn mới khỏi. Nhiều người rất biết nỗi nguy nếu ăn khi mới vừa khỏi, nhưng vẫn ăn bừa chỉ vì thèm, đói quá. Ăn rồi lăn đùng ra khóc không phải vì đau đớn, mà vì hối hận, hoảng sợ cái chết đến nơi trong vài giờ.

“Thịt kho tàu, khổ qua hầm, cũng ngon chớ – không hiểu vì một ý bắc cầu nào mà bác sĩ nhảy từ người bịnh thương hàn chết oan đến vụ thịt kho – mà sao cho bằng “cay xôi cấy”, “hà khàu”, “phù dùn hại”. Cá hấp tương với đồ Tàu cũng ngon. Nữa mình về, mình sẽ đi ăn hai ngày đồ Tây, hai ngày đồ Tàu, ba bốn ngày mì chả giò, hủ tiếu xào, xíu mại, bánh bao”.

Bác sĩ thở dài, rầu lòng nhớ lại ý muốn trốn về thành mà không được của ông. Chung quanh ông toàn là thanh niên vác tầm vông canh gác. Một con chó cũng không lọt qua. Còn cái làng gì ở biên giới thành ấy, nghe họ nói gác dày mịch như màn sắt mà ghê. “Nghĩ mà tiếc của cải mấy mươi năm gây dựng, không biết nữa còn chút ít gì không. Còn ba đứa lớn, thằng Minh, thằng Công, con Hà, chúng nó sẽ học dở dang, thua sút đám con ông huyện Cần”.

Bỗng bác sĩ Hai ngồi tốc dậy sần sượng với ai:

– Mà ai cầu ai hộ mạng chớ?

Bác sĩ lững thững lại tiệm cà phê. Tiệm cà phê đây là một chòi tranh mà chủ nhà, một dân quê có óc con buôn nhìn thấy bao nhiêu người lạ mặt tựu về, người nào cũng ghiền cà phê, bèn chụp ngay cơ hội tốt, mở tiệm. Mặc dầu vợt làm bằng vải áo cũ, và cà phê có mùi cơm cháy, khách vẫn đông, nhứt là những ông đằng đình, cái đình làng dùng làm trụ sở.

– Bà chiên gì mà thơm dữ vậy? Bác sĩ hỏi chủ quán.

– Tôi ram thịt để bán.

– Thịt ram ăn với gì?

– Cuốn bánh tráng.

– Trời! sớm mai, ai mà ăn bánh tráng cuốn thịt ram.

Nói vậy nhưng bác sĩ vẫn hỉnh mũi hít mùi thịt chiên. Ông cố hít nhẹ cho bà chủ quán không nghe thấy và hít dài để tận hưởng.

Bác sĩ mò tay vào túi, rồi nét mặt ông xịu xuống, không phải vì thất vọng, mà vì rầu. Ông men lại chảo thịt chiên. Đây là một mớ thịt phay, mỡ chiếm tám phần mười trong mỗi lát thịt. Thịt đã ram vàng, mỡ thịt thắng ra lênh láng.

– Tôi nghe như là thịt hôi, phải không bà?

– Hôi gì mà hôi. Thịt chiều hôm qua đó.

– Tức quá! Tôi thử coi.

Nói đoạn bác sĩ lấy đũa gắp một miếng, đưa lên mũi. Ông làm bộ như chưa đánh hơi ra mùi thật của nó, thổi sơ vào miếng thịt rồi cắn một miếng.

– Phải thịt tươi. Tôi chịu thua bà – Miệng nói răng nhăn miếng mỡ nhỏ xíu vừa mưu mẹo cắn được.

– Cho một tách cà phê bà.

Mùi thịt ram mơn trớn mũi ông Hai, chọc những hạch nước miếng hai bên hàm dưới ông. Và ông lắng nghe nơi bao tử, một thứ nước gì tiết ra.

– Hay là mình ăn chịu? Không được. Họ không tín đám người lạ mặt cứ lưu động mãi nầy. Không lẽ ăn bừa rồi tới đâu sẽ hay. Chậc! Cũng không còn cái đồng hồ để cầm đỡ. Bây giờ làm thế nào ăn được món thịt ram cuốn bánh tráng? Thật là cả một bài toán đố khó giải lý.

Chợt có người bước vào, bác sĩ Hai rất mừng khi nhận thấy người còn trẻ ấy là người quen cũ ở thành.

– Anh giúp ban tuyên truyền?

– Thưa phải. Hổm nay hai anh Minh, Công và chị Hà có về thăm bác không?

– Sấp nhỏ nó đi đâu mất, tôi lo quá.

Dạ thưa còn bác có giúp đâu chưa?

– Ôi tôi già rồi…

Người con trai tên là Tương nầy kêu bánh tráng cuốn thịt ram.

– Dạ thưa bác, món nầy, hồi ở nhà có mấy thuở mình ăn, nhứt là sớm mai. Mà sao giờ ăn ngon lạ.

Bác sĩ Hai mỉm cười một cách cố thản nhiên. Ông theo dõi từng cử chỉ của Tương. Hai hàm răng bén của người trẻ cắn đứt ngon cuốn thịt, đôi môi khép lại, che giấu cái bã đồ ăn đang nhai.

– Cháu vô phép quá. Xin lỗi, bác đã điểm tâm rồi?

Bác sĩ còn một chỗ nước miếng trong họng, vội nuốt để trả lời. Nhưng bác sĩ giựt mình e thẹn nghe tiếng nuốt nước miếng của mình lớn quá. Lại mớ nước miếng nữa dồn đến. Nuốt đánh ực nữa thì sợ Tương nó nghe biết, nó cười thầm. Còn để vậy thì nghẹt họng, đừng nói chi trả lời, nội cái việc thở mà còn không thông, bác sĩ bưng tách cà phê lên, làm bộ uống nốt những giọt đã cạn tử hồi nào, nuốt trôi được mớ nước miếng và rất bằng lòng thấy sao mình lanh trí được như vậy.

Thấy rằng nếu làm bộ chê món thịt cuốn thì thất sách, bác sĩ ấp úng:

– Tôi vừa ăn xong cũng món độc nhứt đó.

Nhưng bác sĩ hối bận ngay. Ờ, mình đã ăn rồi thì còn ma nào nó mời nữa.

Tương không mắc cỡ miệng, mặc dầu bác sĩ nhìn anh trừng trừng. Sau những cái nuốt, anh thè lưỡi biếm môi mỡ và đánh lưỡi một cái “chách” lên đốc giọng. Bỗng một miếng mỡ rơi xuống đất. Bác sĩ nhìn theo vừa tiếc hùi hụi thì một con chó vện chực sẵn đâu dưới ấy hồi nào không biết, táp phập ngay lấy.

Nhìn sự chụp giựt của con chó đói nhà quê, nhìn lại mình, một niềm tủi nhục mênh mông bỗng dâng trào lên, vặn thắt trái tim không bao giờ biết thổn thức của bác sĩ lại.

Bác sĩ cúi gầm mặt xuống chiếc bàn cũ. Trong giây phút những hình ảnh xưa ở đâu hiện về, chớp nhoáng; hai người bịnh nghèo ăn cắp giá xào lẫn nhau, mười lăm năm về trước, những người nhà quê bu quanh một cái hòm, ăn nhậu; những miếng thịt heo đút lò cả chồng mỡ, trong đình làng…

Bị kích thích mạnh, óc bác sĩ Hai làm việc chóng và nhiều hơn bao giờ hết.

– Tại sao họ tham ăn, tại sao mình thèm ăn quá như vậy?

Câu trả lời đến ngay trong trí bác sĩ.

Sự thật nảy ra như tia lửa trong một buổi sáng thèm thịt làm ông ta lảo đảo. Ông nghe cả một sự sụp đổ trong người ông. Sự sụp đổ của nhơn sinh quan sẵn có của ông.

Sự thật đầu tiên, đến tóc bạc hoa râm ông mới tìm thấy.

Rồi ba chơn, bốn cẳng, ông chạy ù về nhà, miệng lẩm bẩm:

– Thôi không thèm trốn về nữa. Mình phải đi xin một việc làm mới được. Phải mà, người mình không tham ăn sao được!

Theo Chân Những Tiếng Hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 22 Dec 2025

Chương 1

Một Thoáng Hương Xưa

Hồi hai thập niên 30 và 40, mấy cô mấy chú của tôi thường hát nhạc Tây lời Tây. Mấy bản do Tino Rossi, Albert Préjan, Lucienne Boyer được họ chiếu cố đặc biệt. Cô tôi vẫn ưa nhái theo nữ tài tử Joséphine Baker hát bài “J’Ai Deux Amours” trong các buổi họp bạn. Chú tôi vừa phì phà điếu thuốc Mélia vừa hát vừa huýt sáo bản “Une Chanson pour Nina” điệu bộ y chang như ca sĩ kiêm tài tử điện ảnh Tino Rossi. Ngoài ra, họ còn thích các bản dân ca cổ truyền như “Il Était un-Petit Navire”, “Chevaliers de la Table Ronde”, “Auprès de ma Blonde”, “Au Clair de la Lune” … Bài “Auprès de ma Blonde” (“Gần Cô Em Tóc Vàng của Tôi”) vẫn là bài trữ tình với những lời âu yếm thơ mộng như sau:

Dans le jardin d’ mon père

Les lilas sont fleuris (bis)

Tous les oiseaux du monde

Viennent y faire leur nid

Auprès de ma blonde, qu’il fait bon, fait bon, fait bon!

Auprès de ma blonde, qu’il fait bon dormir!

Còn bài “Chevaliers de la Table Ronde” tuy là hành khúc nhưng vẫn là lời bát ngát men rượu bồ đào:

Si je meurs, je veux qu’on m’enterre

Dans une cave où y a du bon vin

Dans une cave! Oui! Oui! Oui!

Dans une cave! Non! Non! Non!

Dans une cave où y a du bon vin.

(Nhắc lại đoạn chót).

Các bài hành khúc của nước Pháp đều có lời phóng khoáng hoặc lời tình tứ trừ bài Quốc Thiều “La Marseillaise”. Còn bài nhạc hùng của xứ mình thì toàn những lời yêu nước, những lời nung chí phấn đấu tinh thần yêu nước, gầy dựng giang san, đoàn kết ba miền Nam Trung Bắc. Vào thời thanh niên yêu nước bắt đầu ló mòi chống Pháp, dẫu chưa có ai đặt nhạc, nhưng vẫn có người dùng bài tình tứ “Auprès de ma Blonde” để đặt lời Việt thật thiết tha như sau:

Anh em quyết tâm một lòng

Cảm thông một đích tối cao

Sao không giúp cho mọi người?

Người dân tâm chí lớn lao

Yêu dấu đất nước nhà ta

Trung với đất nước nhà ta

Dù rằng gặp nguy khốn, thề vẫn không ngã

lòng bao giờ

Dù rằng gặp nguy khốn, thề vẫn không ngã lòng,

người ơi!

Khi tôi bắt đầu học lớp dự bị bậc tiểu học thì tôi được nghe các thanh niên trong xóm hát bài “Cô Lái Đò Mơ” của Dzoãn Mẫn với những câu buồn rười rượi như sau:

Dừng chèo lại đây cô lái đò ơi,

Dừng chèo lại đây giây phút ngừng bơi

Cho tôi sang đến bên sông xa vắng

Rồi đây đôi ngả cách xa mình tôi.

Rồi sau năm 1945, trong lúc khắp ba miền Bắc Trung Nam chìm trong khói lửa ngập trời, tôi được nghe nhiều bản nhạc hùng khác. Tiếc thay mãi tới năm 1948 mới có những ca sĩ tài tử ca những bản nhạc hùng ấy và cho thâu thanh vào dĩa nhựa. Thuở đó, nhạc hùng và ngay cả một số đông nhạc du dương có lời xây dựng tinh thần yêu nước. Chẳng hạn bài “Dứt Đường Tơ” với tiết điệu êm ái làm rung cảm những tâm hồn lãng mạn, nhưng lời của bản nhạc lại nhắn nhủ quốc dân đồng bào nên từ bỏ những mơ mộng sầu tình để hưởng ứng

tiếng gọi non sông:

Tóc tang còn âm u trong gió

Thiết tha chi những nỗi hoài mong

Đàn lẻ cung thôi đừng buông tơ

Đắm hương tình khi đang giông tố.

Non nước đang tràn máu anh hùng

Đừng mơ ái ân, đàn ơi!

Dù là thứ nhạc được hâm mộ bởi thanh niên thuộc thế hệ trước thế hệ tôi hay dù là thứ nhạc phấn khích lòng yêu nước thích hợp cảm quan quần chúng, hoặc dù là thứ nhạc lãng mạn sầu tình, song thứ nhạc nào cũng tác dụng vào nội giới của tôi nhiều ý tình thật thiết tha. Tôi đi vào cõi tiết điệu và âm thanh bằng những rung cảm tuyệt vời, bằng hoài bão đóng góp cho bộ môn nầy mai sau, tuy tôi không biết ca hát, đờn địch hoặc sáng tác hòa âm gì ráo trọi. Nhưng tôi vẫn giữ niềm tin mai sau tôi sẽ “làm được cái gì” cho âm nhạc. Thì đây, công

việc kể truyện sự thăng trầm hưng phế của bộ môn ca nhạc há không phải là một sự đóng góp hay sao, dù là sự đóng góp yếu ớt và tiêu cực đi nữa?

Ở quyển nầy, tôi xin viết về bộ môn ca nhạc trên sân khấu Đại nhạc hội và viết về các giọng hát tân nhạc của các đài phát thanh, trong làng dĩa nhựa. Ở chương cuối, tôi sẽ viết chút ít về môn thoại kịch, về vũ bộ và viết luôn về các giọng diễn ngâm trong ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên do thi sĩ Đinh Hùng sáng lập.

Các bạn độc giả chắc sẽ chê rằng tác giả quá ôm đồm, bốn mâm xôi nhồi chung một chõ thì e rằng chẳng có món xôi nào ra hồn. Nhưng tôi biết làm sao hơn! Vì rằng tôi viết quyển nầy bằng hồi ức của mình, không có tài liệu tham khảo. Xôi dù có dở, nhưng vẫn đem lại đôi chút hiểu biết về các ngành ca vũ nhạc kịch cho những người yêu các bộ môn trình diễn từ thuở phôi thai cho tới ngày chung cuộc của miền Nam tự do là ngày 30/4/75.

Tôi không nhớ rõ tôi thích các bộ môn ca vũ nhạc kịch từ năm nào. Chỉ biết rằng, thuở đó tôi lên 10 tuổi thì phải. Tôi có dịp nghe nữ nghệ sĩ ngành ca kịch cải lương vốn gốc người Bắc tên là Ái Liên (mẹ của nữ ca sĩ Ái Vân bây giờ) hát thu thanh vào dĩa nhựa của hãng Béka một số bài Tây lời Việt. Sau đó, tôi lại có dịp nghe nhạc sĩ kiêm ca sĩ Đức Quỳnh hát những bản do chính anh sáng tác là “Nhớ Mẹ”, “Đời Tôi Một Bóng”. Hai bản nầy thu thanh vào dĩa Asia tròng trắng chữ lục. Tôi cũng được nghe Trần văn Trạch và Túy Hoa hát chung bài “Hứa Hẹn”, Trần văn Trạch đơn ca bản “Ba Giờ Khuya” của Đức Quỳnh và bản “Người Chơi Độc Huyền” của Lê Thương (độc huyền nói theo tiếng Bắc tức là đàn bầu — monocorde). Giọng hát của Trần văn Trạch và Túy Hoa được thâu âm vào dĩa nhựa Polyphone. Tiếp theo đó, vào năm 1948, các nữ danh ca Minh Diệu, Mộc Lan, Kiều Nga cùng các nam ca sĩ Mạnh Phát, Châu Kỳ, Vĩnh Lợi cộng tác với hãng dĩa Polyphone để thâu các bản như sau:

— Bản “Trầu Cau” nhạc và lời của Phan Huỳnh Điểu do Minh Diệu, Mạnh Phát và Vĩnh Lợi ca.

— Bản “Đàn Chim Việt”, nhạc và lời của Văn Cao do Mộc Lan và Châu Kỳ ca.

— Bản “Trên Sông Hương” nhạc và lời của Nguyễn văn Thương do Minh Diệu ca.

— Bản “Ai Về Sông Tương” nhạc và lời của Thông Đạt do Mạnh Phát ca.

— Bản “Biệt Ly” nhạc và lời của Dzoãn Mẫn do Mộc Lan ca.

— Bản “Ngày Về” nhạc và lời của Hoàng Giác do Minh Diệu ca.

— Bản “Bến Cũ” nhạc và lời của Anh Việt do Minh Diệu và Mạnh Phát Ca.

— Bản “Hoa Thủy Tiên”, nhạc và lời của Lê Thương do Minh Diệu ca.

— Bản “Dứt Đường Tơ” nhạc của Văn Thủy, lời của Dzoãn Cảnh do Minh Diệu ca.

— Cũng bản “Dứt Đường Tơ” nhưng lại do Kiều Nga ca.

— Bản “Chiều Vàng” nhạc và lời của Nguyễn văn Khánh do Kiều Nga ca.

Từ các giọng hát của Minh Diệu, Mộc Lan, Kiều Nga, Mạnh Phát và Châu Kỳ, tôi lần lượt tìm nghe những giọng hát đi trước những ca sĩ nầy. Đó là giọng của Văn Thiệt, Việt Hùng, Nguyễn Việt và của cô Ngọc Hà. Những giọng nầy đều được thu thanh, phần nhiều là cho hãng dĩa Việt Nam, còn những hãng khác thì tôi không nhớ. Tôi xin kể đại khái như sau:

— Bản “Khúc Khải Hoàn” của Lưu Hữu Phước do Việt Hùng ca.

— Bản “Bạch Đằng Giang” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt ca.

— Bản “Trên Sông Bạch Đằng” do Ngọc Hà và Văn Thiệt ca.

— Bản “Chi Lăng” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt ca.

— Bản “Xuất Quân” nhạc và lời của Phạm Duy do Việt

Hùng ca. Về sau, trên sân khấu Hương Hoa, Việt Hùng mặc quân phục sĩ quan, hát bản nầy làm cho các nữ khán giả mê mẩn rụng rời.

— Nhạc kịch “Huyền Trân Công Chúa” của Lê Thương do Nguyễn Việt và Ngọc Hà ca.

— Bản “Tiếng Hờn Trong Gió” của Văn Thanh do Ngọc Hà ca.

— Bản “Thiếu Sinh Việt Nam” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt và Ngọc Hà ca.

Ngoài ra hãng Asia cũng có thu giọng Ái Liên, Kim Chung và Lê Thương, được phân phối như sau:

— Bản “Thằng Cuội” nhạc và lời của Lê Thương do Ái Liên ca.

— Bản “Học Sinh Hành Khúc” nhạc và lời của Lê Thương do Kim Chung và Lê Thương song ca.

— Bản “Lòng Mẹ Việt Nam” nhạc và lời của Lê Thương do Kim Chung ca.

Còn những dĩa Oria từ bên Pháp gửi về với các nam ca sĩ Văn Lý, Hải Minh (một biệt hiệu của Trần văn Khê), Hoàng Lan và Bích Thuận:

— Bản “Con Thuyền Trên Sóng” nhạc và lời của Lê Xuân Ái do Hải Minh ca.

— Bản “Hoà Bình 48” nhạc của Lê Thương do Hải Minh ca.

— Bản “Thanh Niên Ơi” nhạc và lời của Thẩm Oánh do Hải Minh ca.

— Bản “Nhớ Ai” nhạc và lời của Võ Đức Thu do Văn Lý ca.

— Bản “Bóng Ai Qua Thềm” của Văn Chung do Hoàng Lan ca.

— Bản “Chùa Hương” nhạc và lời của Hoàng Quý doHoàng Lan ca.

— Bản “Tiếng Hát Dân Quê” của Nguyễn văn Khánh do Bích Thuận ca.

— Bản “Suối Mơ” nhạc và lời của Văn Cao do Văn Lý ca.

Những dĩa hát từ ngoài Bắc đem vào Nam có:

— Bản “Đoàn Lữ Nhạc” của Đỗ Nhuận do Kim Chung ca.

— Bản “Chiều Vàng” của Nguyễn văn Khánh do Kim Chung ca.

— Bản “Cô Tú” do Ngọc Bảo ca.

— Bản “Nương Chiều” của Phạm Duy do Ngọc Bảo ca.

Thuở đó, tuy nghe những giọng hát tiền phong và thời danh đó nhưng tôi không thích lắm bởi vì ngành nhạc Tây lời Việt và ngành Tân nhạc nước nhà không thấm sâu vào tâm hồn tôi bằng cổ nhạc cải lương Nam kỳ. Vào cuối niên học lớp Đệ Thất, tôi được xem anh Lê Tấn Lộc, anh ruột của nhà văn Kiệt Tấn đang học năm thứ ba chương trình Thành Chung leo lên sân khấu hát bài “Khúc Hát Sông Thao” của Đỗ Nhuận. Anh có giọng ấm và vang dội làm tôi liên tưởng đến những dòng trường giang chảy cuồn cuộn trên đất nước miền

Nam, trong đó có dòng Cổ Chiên chảy qua tỉnh Vĩnh Long của chúng tôi. Tôi mê say uống từng đợt âm thanh tuôn từ miệng anh xuyên qua máy vi âm để rải khắp hí viện. Đó là lần đầu tiên tôi được xem một người hát trên sân khấu. Đó cũng là lần đầu tiên tôi thích một giọng hát, dù đó là một giọng hát tài tử tuy có làn hơi mạnh nhưng còn non kém kỹ thuật, nhưng vẫn là một giọng hát gây sôi nổi trên sân khấu học đường vào dịp lễ phát phần thưởng vào cuối niên học. Tôi không dè, trong thời gian bị đi học tập cải tạo dưới chế độ Cộng Sản, anh Lộc tập sáng tác nhạc. Và vào năm 1992, anh cho đăng các bản nhạc mà anh trước tác đăng trên nhiều báo ở hải ngoại.

Song song đó, anh viết truyện ngắn, viết phóng sự về sinh hoạt giới cầm bút. Những bài nầy được đăng trên báo Sóng ở Montréal (Gia-nã-đại) hay đặc san Phù Sa Sông Cửu ở Texas (Hoa Kỳ) và tạp chí Thế Kỷ 21 ở California (Hoa Kỳ). Cũng thuở xưa, tôi có dịp ngắm bà Nguyễn thị Sương, giáo sư dạy môn Anh văn lớp Đệ thất của tôi hát. Bà là vợ của nhà nhạc học Trần văn Khê và cũng là mẹ của nhà nhạc học Trần Quang Hải. Đó là người đàn bà đầu tiên đỗ bằng Tú tài Pháp ở tỉnh tôi. Cô tôi đẹp, thanh lịch, ăn nói dạn dĩ và duyên dáng. Cô thường hát cho các học trò của cô ngay trong lớp học nghe. Tôi chỉ còn nhớ mang máng rằng có một hôm nào đó, cô mặc chiếc áo mousseline đen in bông huệ màu hoàng yến và màu hồng đào rất choáng lộn. Cái hình ảnh ấy in sâu đậm vào ký ức cậu học sinh 11 tuổi thuở ấy là tôi đây, khó phai mờ cho tới bây giờ. Cô hát bài “Xa Quê” của Lê Quang Nhạc, bài “Trở Về” của Châu Kỳ bằng một giọng thật trong ấm, bằng chuỗi ngân nhỏ mức. Tôi thầm nghĩ rằng nếu cô chán nghề dạy học, chọn nghề trình diễn thì cũng không có gì sai hỏng. Lúc hát cô làm màu mè giống như cô đào Jane Powell trong cuốn phim ca nhạc tô màu Technicolor. Tôi không ngờ, anh Lộc lẫn cô Sương gieo cho tôi một chút đam mê về nghệ thuật trình diễn để rồi sau nầy tôi có dịp đi xem ca kịch cải lương, xem những buổi Đại nhạc hội, chút đam mê ấy lớn dần và bám theo cuộc đời tôi cho tới bây giờ vẫn chưa dứt.

Trước đó, dù không biết thưởng thức bản nhạc hay dở ra sao, nhưng tôi vẫn thích hát những bản có dạy trong chương trình lớp nhứt bậc tiểu học và trong chương trình lớp Đệ thất bậc trung học như “Khỏe Vì Nước”, “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”, “Hè Về” của Hùng Lân, “Nhà Việt Nam” và “Quyết Tiến” của Võ Đức Thu, “Bóng Cờ Lau” và “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Hoàng Quý, “Con Đường Vui” nhạc của Lê Vy nhưng lời của Phạm Duy, “Đón Gió Mới” của Ngọc Bích, “Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng” và “Hò Leo Núi” của Phạm Đình Chương. Đó là những ca khúc vui tươi nhằm khơi dậy niềm lạc quan và ý chí phấn đấu cho thanh thiếu niên. Và tôi cũng rất thích hát những lời hát sửa đổi nhảm nhí trong những bản hát nổi tiếng. Chẳng hạn:

Khoẻ vì nước bánh ướt tôm khô

Đoàn thanh niên ta ních mười tô.

(Điệu “Khỏe Vì Nước”)

hoặc:

Rờ mềm mềm, bóp êm êm

Rờ một cái muốn rờ thêm.

(Điệu “Hè Về”)

hoặc:

Chiều ơi, lúc chiều về gặp vợ lấy trai

Vác chày vồ đập vợ tét hai .. , ở tù

(Điệu “Nương Chiều”)

và hoặc:

Em có chồng sao em không nói?

Để anh theo anh chọc em hoài

Chắc có ngày anh ăn dao phay …

(Điệu “Hà Nhật Quân Tái Lai” hay là “Tango Chinois”)

Từ giọng hát học trò của anh Lê Tấn Lộc, tôi bắt đầu mê giọng hát của những ca sĩ trong các phim ca nhạc như Mario Lanza, Vic Damone, Howard Keel, Frank Sinatra, André Claveau, Luis Mariano … (bên nam), Katryn Grayson, Jane Powell, Judy Garland … (bên nữ). Nhưng trong phim ca nhạc vẫn có những màn nhảy múa với các ngôi sao Fred Aster, Gene Kelly … (bên nam), Cyd Charisse, Leslie Caron … (bên nữ). Lại còn cô nữ tài tử Esther Williams bơi lội và múa dưới nước nữa chi. Phim ca nhạc lôi kéo mộng tưởng tôi vào biết bao chuyện thần tiên diễm ảo kỳ thú. Nhưng dù có say sưa choáng ngợp ngành ca vũ của người ngoại quốc, song trong thâm tâm, tôi vẫn thích cây nhà lá vườn, thích ta về ta tắm ao ta hơn.

Về sau nầy, khi bắt đầu tìm hiểu các bộ môn nghệ sĩ trình diễn, tôi được biết Mạnh Phát vốn là một công chức ở tòa tân đáo, chuyên coi về các ngoại kiều đến Việt Nam định cư như người Chà-và hay người Khách trú chẳng hạn. Thu Hồ thì làm việc ở Đông Dương Ngân Hàng (Banque de l’Indochine), còn Đức Quỳnh thì chuyên nghề dạy đờn guitare và có một tiệm đờn ở đường Hamelin (dưới thời Cộng Hòa được gọi là đường Hồ văn Ngà). Minh Diệu là vợ của Mạnh Phát. Riêng Châu Kỳ và Mộc Lan thì là dân xứ Huế yêu thích âm nhạc nên dấn thân vào ca giới nhạc trường chứ không có một nghề chuyên môn nào. Kim Chung, Bích Thuận, Túy Hoa, Việt Hùng đều là nghệ sĩ của ngành ca kịch cải lương. Văn Thiệt là công chức. Còn cô Ngọc Hà là ca sĩ tài tử. Chị ruột của Ngọc Hà là nữ nghệ sĩ Ngọc Hải đã từng sáng chói trên các sân khấu Năm Châu, Phụng Hảo. Ngọc Hải hát nhạc Tây lời Việt cũng rất hay và nổi tiếng qua ca khúc “Sérénade Sans Espoir”.

Mạnh Phát có khuôn mặt khôi ngô, tóc dợn sóng trước trán, sắc mặt điềm đạm. Sau nầy hãng phim Mỹ Vân thực hiện phim “Tình Quê Ý Nhạc” thì có mời anh cùng nữ ca sĩ Mộc Lan đóng vai chánh. Giọng hát của Mạnh Phát chỉ đẹp ở âm sắc (timbre), nhưng không phong phú và vang lộng ở âm lượng (volume). Anh ngân nga cũng không điêu luyện, chỉ được vài lượn nhỏ lăn tăn. Nhưng đây là một giọng hát đẹp làm người nghe liên tưởng đến một chàng trai hào hoa mã thượng. Giọng hát của Mạnh Phát chỉ hợp ở những bản đừng

lên cao xuống thấp vì cái âm vực (intervalle) của giọng anh hơi hạn hẹp. Mạnh Phát có sáng tác bản “Bến Nước Tình Quê”. Khi sáng tác các bản “Khúc Nhạc Đồng Quê”, “Mong Người Chiến Sĩ” thì anh lấy biệt hiệu là Thúc Đăng. Khi sáng tác bản “Trăng Sáng Trong Làng” thì anh lấy biệt hiệu là Tiến Đạt. Điều đáng nói là bản “Ai Về Sông Tương” của Thông Đạt do anh trình bày thật điệu nghệ và được thâu vào dĩa nhựa Polyphone. Chính bản nầy dù được nữ nghệ sĩ Bích Thuận ca ở phần phụ diễn tân nhạc trên sân khấu cải lương Phụng Hảo hay trên đài phát thanh vẫn không gieo ảnh hưởng đậm đà vào lòng khách mộ điệu như anh. Chính nhờ giọng anh mà bản nầy nổi như cồn. Có một lần, một ông bạn vong niên của tôi ngồi trong quán cà-phê ở đường Pellerin (về sau gọi là đường Nguyễn Công Trứ) chợt thấy một đám ma của người khách trú

đi qua. Theo sau nhà vàng chở quan tài là giàn nhạc Tây do các nhạc công Tàu đảm trách với kèn thau, kèn đồng, clarinette, chập chõa, trống … Đố các bạn độc giả, họ hòa tấu bản gì? Chính là bản “Ai Về Sông Tương” đấy, các bạn ạ! Ông bạn vong niên của tôi cười, phun cả ngụm cà-phê xuống bàn. Vậy mới biết bản “Ai Về Sông Tương” thuở đó thịnh hình biết là dường nào!

Châu Kỳ thanh tú và chải chuốt hơn Mạnh Phát. Anh là chồng đầu tiên của nữ danh ca Mộc Lan. Giọng anh không vang lộng, chỉ gợi cảm ở nét mềm mại. Một giọng rất thường, nhưng nhờ điệu đà và trau chuốt mà có một hấp lực riêng. Anh hát bản “Trương Chi” của Văn Cao, hoặc những bản do anh sáng tác như “Từ Giã Kinh Thành”, “Trở Về” rất điệu nghệ. Tiếng hát của anh gợi nên nét chạm tinh xảo trên gỗ quý hoặc trên ngà voi. Minh Diệu hơi thấp người, mặt dịu hiền nhưng không đẹp lắm. Chị là vợ của Mạnh Phát, dáng dấp hơi cục mịch, ăn mặc nhã đạm, không ra dáng dấp nghệ sĩ chút nào. Giọng chị êm dịu trong trẻo, nói theo Thế Lữ là “tiếng hát trong như nước Ngọc Tuyền / Êm như hơi gió thoảng cung tiên”. Đã vậy, giọng lại còn non mướt và nói theo Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc: “Hoa xuân nọ còn phong nộn nhuy / Nguyệt thu kia chưa hé hàn quang”. Đó là tiếng hát tài tử hơn là tiếng hát chuyên nghiệp gợi nên cái vẻ non mềm của búp lá nụ hoa. Tuy nhiên gần cuối thập niên 40 và bước qua ba năm đầu của thập niên 50, đây là tiếng hát ăn khách nhất. Giới học sinh say mê tiếng hát của chị. Các cô nữ sinh tập hát theo chị, nhái giọng chị, cố ém tiếng mình vào trong sâu cuống họng để được trong trẻo và ngời sáng như tiếng của chị. Nhưng than ôi, một trăm cô ém tiếng như vậy thì tiếng chỉ có chát chát chua chua đi kèm theo cái âm sắc trong trẻo kia, chứ đâu được vừa trong trẻo vừa ngọt ngào như giọng của Minh Diệu. Nhạc sĩ Dương Minh Ninh sở dĩ nổi tiếng ở bản “Gấm Vàng” cũng nhờ giọng Minh Diệu. Hoàng Giác nổi tiếng ở bản “Ngày Về” cũng nhờ chị. Bản “Hoa Thủy Tiên” mà phổ biến sâu rộng trong các trường học nếu không nhờ chị thì nhờ ai? Cho nên Minh Diệu là người đã gây một hiện tượng sôi nổi trong ca trường nhạc giới nước nhà đang độ vươn cao. Tiếng hát của chị thật chân phương, biểu dương một tính tình giản dị, một tâm hồn chân phác.

Mộc Lan, dáng dấp yêu kiều quí phái, khuôn mặt thật đẹp dù có sống mũi hơi thô (về sau chị nhờ khoa giải phẩu thẩm mỹ sửa mũi cho thanh tú hơn). Chị Mộc Lan tên thật là Phạm thị Ngà, nhưng khi vào sinh sống ở Sài Gòn, chị xưng mình là Phạm thị Nga vì chị chê tên Ngà nôm na mách qué, nghe không được văn chương hoa mỹ. Chị có giòng máu Trung Bắc, nhưng sanh sống hết 3/4 cuộc đời ở Sài Gòn. Cha chị là người Huế, khi đổi ra Bắc làm việc thì cưới mẹ chị vốn là người Bắc miền Thượng du. Cho nên giọng nói của chị pha đủ ba miền Bắc Trung Nam. Chị có người em một mẹ khác cha là ký giả kiêm nhà thơ Trần Áng Sơn. Trên sân khấu Đại Nhạc Hội tại rạp Nam Việt, chị được nhạc sĩ Lê Thương mời đóng vai Mộc Lan Công Chúa trong vở ca kịch “Trên Sông Dương Tử”. Chị đóng thật xuất sắc, ca thật hay, được báo chí khen ngợi nên chị lấy biệt hiệu Mộc Lan kể từ đó. Khi gặp ca sĩ kiêm nhạc sĩ Châu Kỳ, chị bị cú sét ái tình nên chịu kết hôn với anh ta. Lúc đôi bên ve vãn nhau, chị Mộc Lan tưởng Châu Kỳ là con một ông quan xứ Huế, lại thuộc lớp tân học. Nhưng thật ra anh Châu Kỳ xuất thân từ một gia đình thanh bạch, học lực không cao. Do đó mà chị chán nản, tìm cách ly dị. Người chồng cuối cùng của chị là Trung tá Trương Minh Đẩu, tùy viên của Đại tướng Dương văn Minh (thiên hạ thường gọi là “Big Minh”). Giọng Mộc Lan tuy có pha giọng óc hơi chua,

nhưng chị xử dụng làn hơi thật tròn trịa và điêu luyện, không có chỗ nào hao hụt. Khi xuống trầm, chị hát tròn tiếng nên khá dội sâu và ấm áp nồng nàn như khói trầm hương bách hợp, như băng phiến. Mộc Lan khi chung sống với Châu Kỳ thì còn là giọng hát tài tử. Về sau, chị luyện giọng nhờ sự dìu dắt của nhạc sĩ Lâm Tuyền nên giọng hát chị mới điêu luyện được sắp hàng đầu với giọng Kim Tước, Châu Hà, Tuyết Hằng, Mai Hương, Quỳnh Giao và Thái Thanh sau nầy. Hai bản “Trở Về Dĩ Vãng” và “Tiếng Thời Gian” của Lâm Tuyền được chị trình bày thật điệu nghệ. Nhà văn Thanh Tâm Tuyền rất thích giọng Mộc Lan. Theo anh, tiếng hát của chị tự bản chất là tiếng hát cô đơn, không cần rên rỉ tỉ tê như đa số nữ ca sĩ bất tài đã từng làm ô uế giọng hát bằng cách văn vẹo tiếng hát để cho tiếng hát được buồn sướt mướt. Chính anh đã viết một bài về tiếng hát của Mộc Lan ở ngay tập san Kịch Ảnh số 1 (1962).

Kiều Nga chỉ hát và cho thu giọng vào dĩa nhựa hai bài “Dứt Đường Tơ” và “Chiều Vàng” rồi giã từ luôn khỏi ca trường nhạc giới. Tiếng hát của chị rõ lời, tuy không óng ánh gấm vóc như giọng hát Minh Diệu, nhưng lại mượt mà dáng nhung mềm. Cũng như Túy Hoa và Ngọc Hà, chị hát bằng giọng Nam, cách phát âm trau chuốt và điệu đà vừa phải. Việt Hùng là một công chức, học lực anh xong bậc trung học theo chương trình Pháp. Lúc đầu anh ca tân nhạc, nhưng khi say mê cô đào cải lương Ngọc Nuôi thì anh học bài bản cổ nhạc cải lương để bước vào nghề làm diễn viên ngành cải lương. Ái Liên, Kim Chung, Bích Thuận đều là nghệ sĩ ngành ca kịch cải lương ngoài Bắc, được huấn luyện hát tân nhạc. Lại nữa, Ái Liên cùng người chị là nữ nghệ sĩ Lan Phương vì được huấn luyện bởi cậu ruột của mình là nhạc sĩ Canh Thân nên ca tân nhạc vững vàng lắm. Văn Thiệt cũng là kẻ ca tài tử, về sau trở thành xướng ngôn viên Đài Phát Thanh Quân Đội với giọng tố cộng thật sắt máu. Từ đó anh giải nghiệp cầm ca luôn.

Đức Quỳnh có một người vợ tên là Ngọc Thanh, khá đẹp. Anh ra công đào luyện cho chị ta thành ca sĩ và giọng hát của chị được thu vào dĩa nhựa Asia. Song khi chia tay với Đức Quỳnh, Ngọc Thanh còn dan díu với một vài người và chết vì chứng hậu sản. Giọng Đức Quỳnh trước sau vẫn là giọng tài tử. Anh hát rõ tiếng, cố xử dụng làn hơi để cho tiếng nồng ấm và không thô tháp thế thôi. Giọng anh như một trái cây giấm chưa chín đúng mức, như xôi rượu tuy ủ cẩn thận, nhưng chưa dậy men sung mãn. Giọng hát đó chỉ nghe tạm được cũng như giọng hát của Jean Tịnh thời tiền chiến trong giai đoạn âm nhạc nước nhà hãy còn phôi thai. Ngọc Hà là một giọng hát độc đáo, khi lên cao tuy hơi chua nhưng dẻo bền, càng xuống trầm càng vang rền và dội sâu. Đây là giọng mà giới sành nhạc gọi là giọng contralto, một giọng thật trầm của phái nữ gợi nên tiếng đại hồ cầm (contrebasse). Âm vực trong tiếng hát của chị thật rộng nên chị không kén bài hát, vì bài hát nào chị cũng lướt phom phom. Đặc biệt nhất là chị hát các bản rumba rất giòn, rất điệu nghệ nên được báo chí tặng cho cái biệt danh là “Nữ Hoàng Rumba”. Những bản theo thể điệu rumba như ‘Gió Mùa Xuân Tới” (của Hoàng Trọng), “Đường Ra Bình Phú” (của Thanh Châu), ‘Tiếng Hờn Trong Gió” v.v … được chị diễn tả thật xuất sắc, càng nghe càng thống khoái. Ngọc Hà có một chuỗi ngân điêu luyện, không thô rít, đều đặn và thoải mái như những lượn sóng rập rờn. Tiếng hát của chị lảnh lót và véo von như sáo diều khi lên hơi cao, ấm áp, chắc nịch, oanh liệt khi xuống trầm. Đây là giọng đã từng làm mưa gió ở các vũ trường, phòng trà, sân khấu Đại nhạc hội, trên làn song điện và trong làng dĩa nhựa. Khi chị giải nghệ rồi thì trong làng ca nhạc không có nam ca sĩ hay nữ ca sĩ nào hát rumba tuyệt vời như chị.

Hai anh em Trần văn Khê và Trần văn Trạch thuộc giòng giõi âm nhạc ở đất Sầm Giang (Rạch Gầm) thuộc tỉnh Mỹ Tho. Khi hát cho hãng dĩa Oria thì ông Khê lấy biệt hiệu là Hải Minh (tên ghép của hai cậu con trai của ông là Trần Quang Hải và Trần Quang Minh). Trần văn Khê là chồng của bà giáo sư Nguyễn thị Sương; cô Sương là thầy dạy môn Anh Văn của nhà văn Kiệt Tấn và tôi khi cả hai ngồi lớp Đệ Thất A trường Cao Tiểu Vĩnh Long. Rồi đó, khi chúng tôi chuyển qua chương trình học ban Thành Chung và ngồi năm Đệ tam

niên A thì cô Sương dạy chúng tôi môn Pháp văn. Cô Sương ăn ở với thầy Khê được bốn mặt con, kể theo thứ tự là Trần Quang Hải, Trần Quang Minh, Trần Thị Thủy Tiên, Trần thị Thủy Ngọc. Giờ đây, Trần Quang Hải và Trần thị Thủy Ngọc đều trở thành nhà nhạc học lừng danh. Vợ của Hải là nữ danh ca Bạch Yến. Ngoài ra, người em gái út của thầy Khê và anh Trạch là chị Trần Ngọc Sương. Hồi còn con gái, chị hát cho đài Pháp Á, lấy tên cháu gái Thủy Ngọc của mình làm cái nghệ danh cho mình. Nữ ca sĩ Thủy Ngọc có giọng kim cao

vút, hát bài “Áng Mây Chiều” của Dương Thiệu Tước thì không chê vào đâu được. Về sau nầy, con gái của chị Thủy Ngọc tên là Trịnh Quỳnh Yến theo Trần Quang Hải học nhạc và cùng đi trình diễn khắp Âu Châu và Mỹ Châu với Hải. Cô lấy biệt hiệu là Hoàng Mộng Thúy. Cô hát dân ca ba miền thật hay, ngâm thơ rất rựa ràng và cho giọng mình thâu vào dĩa rất nhiều. Tiếc thay, khi cô lấy ông chồng bác sĩ y khoa thì giải nghệ luôn. Sau đó, Trần Quang Hải kết hôn với nữ danh ca Bạch Yến và chính Bạch Yến thay thế Hoàng Mộng Thúy theo Hải đi lưu diễn khắp Âu Mỹ để phổ biến cái đẹp ngành âm nhạc Việt Nam.

Hải Minh có giọng hát to và khỏe nhưng làn hơi không thuần thục, như cơm gạo nấu chưa chín. Giọng nầy dùng để hát hài hước thì được, hát nhạc mùi thì không có nét mềm mại truyền cảm. Cho nên khi ông hát bài “Con Thuyền Trên Sóng” của Lê Xuân Ái thì ông rống quá nhiều khi lên cao, tuy rống mà tiếng hát không thông, không ngọt. Đã vậy ông không biết ngân nga. Hải Minh (Trần văn Khê) trước sau vẫn không phải là ca sĩ. Ông cũng không phải là một nhạc sĩ có bản lĩnh dù ông đã phổ những bài thơ thành nhạc như “Đi Chơi Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp, “Giận Nhau” của Nguyễn Xuân Huy, “Chỉ Một Lần Thôi” của bà Mộng Trung. Ông vẫn chỉ là một nhà nhạc học có kiến thức uyên thâm, có tấm lòng thương yêu sâu đậm đối với cái tinh hoa của âm nhạc truyền thống của nước nhà. Trong những thập niên 50, 60 ông đã cùng nữ sĩ Mộng Trung đi khắp Âu Mỹ để diễn thuyết về ngành âm nhạc Á Châu. Ông diễn thuyết và xử dụng vài món nhạc khí cổ truyền trong khi đó bà Mộng Trung hát để chứng minh lời diễn giảng của ông. Bà Mộng Trung vốn là em họ của ông, một cây bút viết ký sự rất lỗi lạc cho tập san Bách Khoa (Sài Gòn) do ông Huỳnh văn Lang làm chủ nhiệm. Bà đẹp, có vốn liếng kiến thức về văn hóa sâu rộng trong khi đó học lực của bà chỉ ở bậc trung học. Đó là một phụ nữ tự học (autodidacte) mà trở thành bậc trí thức làm tôi ngưỡng mộ vô cùng. Bà qua đời vào năm 1969, để lại hai tác phẩm là Giọt Thời Gian (tập thơ) và Hôn Nhân Dị Chủng (biên khảo và phóng sự). Dù gì đi nữa, dĩa Oria thâu bản nhạc hài hước “Hòa Bình 48″ của Lê Thương do Hải Minh hát rất phổ biến trong mọi tầng lớp khán giả yêu nhạc và dĩa bán chạy như tôm tươi vào các năm 1948, 1949, 1950. Do đó mà về sau, Trần văn Trạch theo dấu chân anh của mình từ lãnh vực hát nhạc mùi chuyển qua hát nhạc hài hước. Nếu chúng ta giở lại những bản “Ba Giờ Khuya” của Đức Quỳnh, “Người Chơi Độc Huyền” và “Nàng Hà Tiên” của Lê Thương mà Trần văn Trạch đã hát và thâu vào dĩa nhựa, chúng ta mới nhận thấy anh có một giọng nhung mềm gấm mượt, đẹp kinh khủng! Giọng đó như mây lướt, như nước trôi, thật dễ dàng, thật trơn mướt và khi chẻ qua giọng óc (son de tête) cũng ngọt ngào, gieo một cảm giác thống khoái cho người nghe. Tôi còn nhớ có lần nữ danh ca Mộc Lan bảo tôi:

— Anh Trần văn Trạch thường hát ở đầu lưỡi nên giọng thật mịn thật nhẹ. Giọng ấy sao mà thật mùi, thật đặc biệt!

Khác hơn Trần văn Khê, khi lên cao Trần văn Trạch có thể rống một cách hùng dũng và trơn ngọt, lúc đó làn hơi anh vẫn không hao hụt chút nào Trên làn sóng điện, anh thường ru hồn thính giả bản “Dạ Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca. Giọng anh có cái âm sắc của một ca sĩ Tây phương. Sau đó khi chuyển qua hát nhạc hài hước như “Tai Nạn Téléphone” chẳng hạn, anh nổi tiếng còn hơn là hát nhạc mùi có âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương. Bài “Đừng Có Lo” của chính anh do anh hát thâu dĩa tuy là bài hài hước, nhưng cũng có chỗ để anh biểu diễn cái âm lượng phong phú và nếp điêu luyện của giọng hát mình. Tôi chưa thấy ai hát hay hơn anh qua những bản “Nàng Hà Tiên”, “Dạ Khúc”, “Đừng Có Lo”. Về sau nầy,  anh hát bài hát ngắn “Xổ Số Kiến Thiết” cũng độc đáo khôngkém, nhất là lúc anh chẻ qua hát giọng óc ở cuối câu. Khi qua viếng nước Pháp vào năm 1965, Trần văn Trạch ăn mặc như người sơn cước và lên đài truyền hình hát bài “Chiều Mưa Biên Giới” làm cho kiều bào thuở đó hãnh diện lây. Bài nầy sau đó ít lâu có thu vào dĩa Việt Nam. Và khán giả quốc nội có dịp nghe lại giọng hát của anh vì nó vắng bặt ở làng dĩa nhựa từ đầu mùa nền Đệ nhất Cộng Hòa. Ôi, cái giọng khi thì ở đầu lưỡi mịn như tuyết nhung, khi thì trong khẩu cái rất khỏe khoắn, rất vang lộng và rất tròn tiếng (pleine voix); nếu anh không diễn tả những bản hài hước mà chỉ hát những bản nhạc tình cảm mùi mẫn thì nó cũng đủ sức đưa anh lên tuyệt dỉnh đài danh vọng rồi.

Hoàng Lan là một giọng hát cao vút, tuy hơi khàn ở những chỗ hát không cao không thấp. Chị trình bày bản “Chùa Hương” của Hoàng Quý và bản “Bóng Ai Qua Thềm” rất điệu nghệ. Còn Văn Lý có một giọng hát đẹp, trau chuốt vừa phải nhưng cực kỳ gợi cảm. Anh hát bài “Nhớ Ai” của Võ Đức Thu không chê vào đâu được. Bước sang bản “Suối Mơ” của Văn Cao, anh làm cho khán giả đắm chìm trong cái thế giới âm thanh hư ảo đầy mộng mơ lộng lẫy, đầy rung cảm kỳ thú. Tiếc thay, Hoàng Lan cũng như Văn Lý hát thâu thanh ở bên Pháp rồi gửi dĩa về Việt Nam. Họ không có cơ hội hành nghề ở quê nhà nên tiếng hát của họ rất chóng vánh trở thành kỷ niệm.

Túy Hoa là nghĩa nữ của bà Năm Phỉ (đệ nhất nữ diên viên sân khấu cải lương miền Nam). Nhưng ngành cải lương không phải là đất dụng võ thật sự của chị. Cho nên chị chuyển qua hát nhạc Tây. Khi đoàn Tố Như từ ngoài Bắc vào miền Nam lưu diễn thì chị xin gia nhập để cùng Bích Thuận, Kim Chung làm mưa làm gió trên sân khấu nầy. Đoàn Tố Như tuy là đoàn cải lương pha hát Hồ Quảng, nhưng vẫn có chỗ để các đào kép hát vài bản tân nhạc. Hồi còn xuân sắc, Túy Hoa rất sáng đẹp dưới ánh đèn sân khấu, hát nhạc Tây lời Tây rất rựa ràng nói gì hát nhạc Tây lời Việt hoặc nhạc Việt lời Việt (mà dân mình gọi là Tân nhạc). Giọng chị thuở đó mỏng, thanh tao và mềm mại. Sau nầy, vì chị phải mổ dạ con nên âm lượng tiếng hát của chị giảm sút, và không hiểu sao giọng chị lại hơi nghẹt mũi. Cho nên từ 40 tuổi trở lên, Túy Hoa phải nhào qua lãnh vực thoại kịch, chuyên đóng vai hài rất thành công. Có một thuở Túy Hoa chuyên hát những bản samba nên được báo chí gọi là “Nữ Hoàng Samba”. Chị vừa hát vừa múa may rất bắt mắt qua bản “Xuân Xuân” của Nguyễn Hữu Ba. Đặc biệt là trong nhạc cảnh “Bên Sông Đưa Tiễn”, chị thủ vai Nhị Nương, còn Bích Thuận thủ vai tráng sĩ Trần Quang Ngọc. Đây là sự tích rút trong quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng. Chị cũng mặc áo chàm thêu ngân tuyến, đeo vòng tay, khoen tai và kiềng cổ, kiềng chân đóng vai cô sơn nữ trong nhạc cảnh “Nụ Cười Sơn Cước” và chị hát bài hát có tựa chung với nhạc cảnh nầy (nhạc và lời của Tô Hải). Túy Hoa cùng các nữ ca sĩ Minh Nguyệt, Hoàng Yến, Hồng Lan lập ra ca vũ bộ Bốn Phương. Cả bốn mặc theo gái Hạ-uy-di, áo hở vai kết bằng hoa lá, váy bằng chỉ sợi giống như cỏ khô, tóc xõa cài hoa sặc sỡ. Hình như vào năm 1948 thì phải. Thuở đó phong trào ca nhạc xứ mình chưa có phát triển. Tuy nhiên, nhờ tìm tòi mà tôi được nghe các giọng hát nữ danh ca Ái Liên trong các dĩa hát Béka tròng lục chữ vàng qua các bản “Un Bateau”, “Santa Lucia” hoặc bản “Guitare d’Amour” (mà chị hát chung với nghệ sĩ cải lương Năm Châu trong dĩa Béka tròng vàng chữ đen). Ai cũng bảo rằng giọng Ái Liên là giọng trong như suối và mát như lụa. Quả vậy, tiếng của chị mỏng, thanh tao và óng ả. Nhưng phiền một nỗi chị hát không rõ lời. Thành thử ra, khán giả chỉ thưởng thức được giọng hát, điệu hát mà không sao thưởng thức được lời hát.

Nhưng Ái Liên là cô đào cải lương đất Bắc, có một thời vào Sài Gòn xây dựng sự nghiệp. Chị đã hát nhạc Tây lời Việt thuở tiền chiến, thuở mà tôi còn thơ bé. Khi tôi được thưởng thức giọng hát của chị thì chị đã không còn theo các gánh hát ở trong Nam và trở về ngoài Bắc rồi. Về sau nầy, các cô con gái của chị đều nối nghiệp mẹ như Ái Loan, Ái Xuân, Ái Vân và Ái Thanh. Ái Vân khi ly khai Cộng Sản để định cư ở hải ngoại bắt đầu nổi đình nổi đám. Còn Ái Loan chỉ nổi tiếng hát Quan Họ với mẹ từ lúc cô ta hãy còn thơ bé. Ái Loan cũng đã đóng hai phim Nghệ Thuật Và Hạnh Phúc và phim Phạm Công Cúc Hoa (vai Nghi Xuân). Về sau, khi Cộng

Sản cưỡng chiếm miền Nam rồi thì tôi không nghe ai còn nhắc tới Ái Loan nữa.

Ái Liên chuyên hát nhạc Tây lời Việt do Huỳnh Thủ Trung (tức là nghệ sĩ Tư Chơi) và do Nguyễn Thành Châu (tức là nghệ sĩ Năm Châu) soạn ra. Đồng thời với Ái Liên có cô đào Kim Thoa (vợ thứ hai của Tư Chơi) và bà Bảy Phùng Há (vợ đầu tiên của Tư Chơi); đó là hai ngôi sao thượng thặng trong ngành ca kịch cải lương Nam Kỳ, tên tuổi và sự nghiệp vuợt xa Ái Liên nhiều. Nhưng Phùng Há khi hát nhạc Tây lời Việt sao mà quê kệch dù giọng bà rắn chắc như kim cương và lảnh lót như chuông vàng khánh ngọc và dù bà có chuỗi ngân

nhỏ mức như hạt trân châu. Thì ra với chuỗi ngân ấy, với âm sắc lảnh lót vang lộng ấy, Phùng Há chỉ có thể hát các bản Hồ Quảng trong các vở tuồng Tàu thì đúng điệu hơn. Còn giọng hát của Kim Thoa trong sáng như pha lê và dịu ngọt như mật ong. Chị hát bản “Tabou” thật óng ả du dương, nhưng tiếc thay chị không biết ngân nga. Trên sân khấu Trần Đắc, chị có hát bài “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương hoặc “Hòn Vọng Phu” (bài I) của Lê Thương có thể mê hoặc một số học sinh trung học đất Nam Kỳ và một số sinh viên ngoài Bắc vào đầu thập niên 40.

Ái Liên là người đoan trang phúc hậu, rất khôn khéo. Khi chị vào Nam hành nghề thì biết bao vương tôn công tử ve vãn chị. Còn những chàng kép đẹp trai đồng diễn trên sân khấu với chị cứ tìm dịp cọ quẹt chị. Chị chỉ dùng lời nghiêm trang khuyên nhủ họ, không hề mắng nhiếc chửi bới ai. Thái độ đó khiến cho kịch giới kính nể chị. Cuộc hôn nhân giữa chị và một nghiệp chủ trẻ tuổi đẹp trai, Hà Quang Định, được báo giới nói đến nhiều vì tiệc cưới của họ thật huy hoàng vĩ đại. Chú rể tặng cô dâu một chiếc xe Dodge có 8 máy, 21 mã lực, giá 7.000 đồng. Thuở đó, lương thầy giáo dạy lớp nhứt chỉ có 80 đồng mà thôi. Chị của Ái Liên là nữ nghệ sĩ Lan Phương thì trải qua nhiều đời chồng, đời nào cũng đem lại tủi cực cho chị. Nhưng về sau chị lại sánh duyên với một nhiếp ảnh gia, tìm được hạnh phúc vào lúc cuối đời. Lan Phương có cặp mắt đẹp, lai láng sóng thu, lúc nào cũng như sáng mọng châu lệ. Mắt đẹp kiểu ấy là thứ mắt lỗi tướng số nên thảo nào chị phải khóc cho những cuộc tình duyên oái oăm và điêu đứng của mình.

Kim Thoa khi làm vợ nghệ sĩ Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) thường xảy ra cảnh cơm không lành canh không ngọt dù chị có thiện chí chung tình với chồng. Tư Chơi ưa rượu chè mèo chuột. Cho nên cuộc hôn nhân của họ phải tan vỡ. Sau đó, Kim Thoa tái hôn với một ông bác sĩ y khoa tên Ngô Thiếu Khai ở Trà Vinh, nhỏ tuổi hơn chị nhiều. Tuy nhiên chị được chồng thương yêu nên tìm được hạnh phúc cho đến cuối đời.

Nghệ sĩ cải lương Năm Châu cũng võ vẽ hát nhạc Tây lời Việt. Ông trình bày bản “Guitare d’Amour” với Ái Liên trong dĩa Béka tròng vàng kim nhũ chữ đen. Giọng ông quá tầm thường, làn hơi hao hụt, đã vậy ông thường hát sai giọng. Hát xướng ở lãnh vực mới, ông làm một chuyến phiêu lưu không gây hào hứng cho khán giả bốn phương chút nào. Kim Chung vào thập niên 40, có một giọng đẹp, khi hát ở những chỗ ngang ngang thì mỏng như lụa the, dịu ngọt như nước cam vắt, nhưng khi lên cao như xé lụa, vang lộng lảnh lót như chuông ngân. Những lúc đó, giọng chị không chát, không chua, không gắt cổ, lại còn giữ vẹn âm sắc thanh tao.  Chị trình bày một bản hát với một chút điệu đà đầy nữ tính, nhưng không vặn vẹo từng chữ, không bẻ giọng để giọng được ỏn thót. Cái điệu đà của chị là thứ điệu đà kín đáo và phơn phớt như chút phấn tuyết nhung trên vóc sa-teng hay trên cánh hoa thược dược, nhưng vẫn làm say lòng người. Hồi còn xuân sắc,

chuỗi ngân của chị rập rờn nhưng mềm mại như những nét thu ba; nhưng về sau, khi chị vào tuổi đời chênh bóng thì chuỗi ngân sắc nhọn như răng cưa. Khi còn ngoài đất Bắc, Kim Chung được báo chí mệnh danh là “Tiếng Chuông Vàng Đất Bắc”.

Bích Thuận nhỏ nhắn và đẹp lộng lẫy. Giọng hát của chị dẻo bền như thép tôi luyện đúng mức để làm gươm báu và rắn chắc như kim cương. Đó là một giọng vang lộng mà vẫn ngọt. Cách trình bày một bản nhạc của chị thật đơn giản, chị không có một chút điệu đà nào để trang điểm cho giọng hát mình, nhưng giọng hát vẫn quyến rũ người nghe ở chuỗi ngân rập rờn óng ả, ở cách hát khỏe khoắn trơn ngọt. Trong các tuồng cải lương do chị đóng phần nhiều vẫn có chỗ để chị hát tân nhạc, nếu không phải đó là tuồng tàu.

Việt Hùng vừa cao lớn vừa hùng dũng xứng đáng là kép hùng trên sân khấu. Anh có chơi thể dục thẩm mỹ chút ít nên có ngực đầy đặn và khá vạm vỡ. Eo anh thon, tay chân anh nổi bắp thịt. Trong giới sân khấu cải lương chỉ có Việt Hùng, Ba Xây, Văn Khoe và Hùng Cường là biết o bế thân vóc. Tuy nhiên, dù vóc anh rất hùng, nhưng khi anh ca cổ nhạc, giọng anh hơi nhừa nhựa. Cho nên khi anh cùng Tám Thưa, Duy Chức cùng hai cô Tư Bé và Ngọc Nữ diễn các tuồng cải lương do Duy Lân soạn và thâu vào dĩa Kim Khánh thì anh luôn thủ vai lão hoặc vai nịnh, còn những vai jeunes premiers thì dành cho nghệ sĩ Tám Thưa. Tuy nhiên khi hát tân nhạc, anh lại chọn nhạc hùng. Giọng anh tuy hơi nhừa nhựa nhưng anh có làn hơi dồi dào. Khi hát nhạc hùng, nhờ tiết điệu xốc nổi của bài hát, anh dù có muốn kéo nhừa nhựa vẫn không được. Chính cái làn hơi dồi dào kia giúp anh hát trơn ngọt thoải mái làm cho người nghe cảm thấy khỏe khoắn và phấn khởi ngay.

Thuở đó, các cô khán giả choai choai mê Việt Hùng như điếu đổ mỗi khi xem anh phụ diễn tân nhạc. Khi hát bài “Xuất Quân” của Phạm Duy hay “Khúc Khải Hoàn” của Lưu Hữu Phước, anh mặc quân phục sĩ quan, đội mũ kê-pi, đeo lon đại úy, đeo giây biểu chương. Các cô vừa ngắm anh hát vừa lấy tay đè lên quả tim đang thổn thức của mình. Khi tôi vừa mới lớn thì Kim Thoa cộng tác đài phát thanh Pháp Á, chỉ hát cổ nhạc cải lương chung với các nữ ca sĩ Ngọc Nữ, Mỹ Tiên, Bạch Mai … Song song đó, chị vẫn cộng tác cho gánh Phụng Hảo và là một trong bốn cô đào then chốt của gánh là Phùng Há, Thanh Tùng, Bích Thuận và Kim Thoa. Vào đầu mùa Đệ nhất Công Hòa, Kim Thoa giải nghệ và rút luôn vào bóng tối. Nhưng con trai của chị là ca nhạc sĩ Huỳnh Hiếu (con chung của Tư Chơi và cô) trở thành một nam ca sĩ giọng kim (ténor) vang lộng và cao chót vót đã cùng nữ ca sĩ Thanh Xuân làm mưa làm gió ở vũ trường Văn Cảnh và vũ trường Đại Kim Đô. Khi Kim Thoa còn hát cổ nhạc cải lương trên đài phát thanh, thì bên Tân nhạc, đài phát thanh đã có những giọng hát Oanh Oanh, Vi Lan, Mộc Lan, Minh Diệu (bên nữ) và Mạnh Phát, Anh Ngọc, Châu Kỳ, Thu Hồ (bên nam). Sau đó hai cô Vi Lan và Oanh Oanh rút lui hẳn khỏi ca giới nhạc trường, thì Minh Trang xuất hiện huy hoàng như một ngôi tinh đẩu và lay động như cơn lốc để trở thành vương hậu ngành ca nhạc trong hai năm cuối của thập niên 40 và bắc qua trọn thập niên 50.

Tôi còn nhớ trong một tấm chương trình của đài phát thanh Pháp Á, có những dòng quảng cáo về tiếng hát của nữ ca sĩ Oanh Oanh đại khái như sau: “Oanh Oanh là nữ ca sĩ có tiếng hát vang vang như tiếng chuông chiều và véo von như tiếng sáo diều”. Nhưng theo tôi, thuở đó chưa có ca sĩ nào ăn đứt nữ ca sĩ Minh Diệu. Cô Oanh Oanh chỉ có cái bóng sắc trội hơn giọng hát; cái bóng sắc ấy nâng đỡ giọng hát tài tử của cô thêm phần hấp dẫn. Cô Vi Lan cũng thế, vẫn có giọng hát tài tử chứ không là giọng hát của kẻ chuyên nghiệp. Dù rằng đã có một thời, cả hai là ca sĩ đài Pháp Á, nhưng sự nghiệp của họ khó mà lâu bền vì trước sau, giọng hát họ vẫn là những trái nho chưa được ủ men đúng mức nên chưa thành rượu bồ đào. Cũng thế, giọng Thu Hồ chỉ chinh phục khán giả ở chỗ hát rõ tiếng, hát bằng giọng miền Nam thật chân phác và mộc mạc. Nhắc tới Thu Hồ, giới mộ điệu chỉ nhớ tới những bản nhạc rất nổi tiếng của anh là “Tiếng Sáo Chiều Quê”, “Quê Mẹ”, “Mùa Lúa Chín” … chứ ít ai còn hoài vọng tới giọng hát của anh. Thu Hồ có một người con gái kết hôn với nam tài tử điện ảnh La Thoại Tân. Một người con gái khác của anh tên Mỹ Huyền khi ra hải ngoại trở thành ca sĩ, hát chung với Tuấn Vũ thật rựa ràng lắm.

Theo lời giới mộ điệu thuật lại thì trước đó chị Minh Trang làm thông dịch viên lẫn xướng ngôn viên phần Pháp văn cho đài phát thanh Pháp Á (hồi đó bọn trẻ chúng tôi gọi là đài phát thanh Phát Ớn). Nhân một hôm nữ ca sĩ Oanh Oanh trong ban nhạc Charles Thu (tức là nhạc sĩ Võ Đức Thu) bị bệnh nên không thể hát được. Lúc đó, chị Minh Trang vụt ngứa nghề, thừa dịp ấy tình nguyện hát bản “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương để thay cô Oanh Oanh. Tuyệt vời thay, với kỹ thuật ca hát điêu luyện, người thay thế cô ca sĩ chính thức lại hát hay hơn cô ca sĩ chánh thức nhiều. Và từ đó, song song với nghề xướng ngôn viên, chị Minh Trang bắt đầu hành nghề ca sĩ. Nhưng chị Minh Trang lúc đầu chỉ được giới sành điệu quá ít oi ái mộ mà thôi. Khán giả bốn phương chưa thể thưởng thức nỗi cách ngân gợn sóng dài lê thê đúng theo trường độ một nốt nhạc tròn của chị. Do đó mà có người cho rằng chị hát giống ma tru quỷ hú, làm cho họ rợn óc và nổi da gà. Lại có người bảo chị hát giống mấy cô ca sĩ đầm bên Pháp, nghe mà bắt buồn nôn. Cái phản ứng của khán giả vào những năm cuối của thập niên 40 vốn thô bạo vì khiếu thưởng ngoạn của đa số đều thô sơ. Nhưng mà tôi không nghĩ vậy khi nghe chị hát những bản nhạc của Dương Thiệu Tước như “Bóng Chiều Xưa”, “Bến Xuân Xanh”, “Ngọc Lan”, “Thuyền Mơ”. Vâng, chị Minh Trang hát giống đầm thật đó. Nhưng cách ngân nga gợn sóng lịm ngát rung rung kia dễ gì có ai mà bắt chước được? Ngân nga đâu phải ai cũng dễ làm theo ý muốn? Phải trầy vi tróc vảy, phải tốn hơi luyện tập mới tạo được một chuỗi ngân dài và óng ả cho giọng hát mình. Thuở đó, tôi cũng đã 13 tuổi, sớm hiểu biết được cái khó khăn nhất ở chỗ cách tập ngân nga trong lúc hát. Lại nữa, trong một bài điểm danh các giọng hát, nhạc sĩ Lê Thương có viết: “Minh Trang có giọng ca lưu luyến … ”. Do đó mà tôi tin ông ngay. Ngoài Bắc, đồng thời với Minh Diệu và Mạnh Phát có nam danh ca Ngọc Bảo. Hai bản “Nương Chiều” của Phạm Duy và “Cô Tú” của Long Châu được giọng hát rõ và gợi cảm

của anh diễn tả, trở thành phổ thông suốt từ Nam chí Bắc. Hai bản nầy đều được thu vào dĩa nhựa và bán chạy như tôm tươi. Thật ra, giọng hát của Ngọc Bảo chỉ gợi cảm và rõ tiếng chứ không phải là một giọng điêu luyện. Ngọc Bảo ngân nga không vững như Mạnh Phát và Châu Kỳ. Sở dĩ giọng anh nổi tiếng là nhờ bài “Nương Chiều” và bài “Cô Tú” vốn hợp với cảm quan lớp thính giả thuở đó. Đó là trường hợp “cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”. Nhờ anh mà hai bản nhạc kia phổ biến, nhưng cũng nhờ hai bản nhạc kia mà anh gây được tên tuổi trong thời kỳ nền tân nhạc vừa chớm nở.

Thuở 1948, có gánh Nam Hồng do ông Lưu văn Trình làm giám đốc. Gánh nầy là thối thân của gánh Đức Huy của ông Charlot Miều. Vào đầu mùa khói lửa, gánh Đức Huy giải thể. Ông Lưu văn Trình bèn mua lại xác gánh Đức Huy, sắm thêm tranh cảnh và y phục và gom góp mớ đào kép cũ của gánh Đức Huy, dựng nên bảng hiệu Nam Hồng. Kép có Quang Hữu, Tường Vân, Thiện Hữu. Đào có Thanh Tình, Lệ Thủy, Hồng Sáp, Lệ Hoa, Hồng Son, Bích Liên. Đào kép chánh như Thanh Tình, Lệ Thủy, Quang Hữu, Tường Vân đều ca tân nhạc rựa ràng, ngân nga lảnh lót lắm. Thanh Tình đẹp và hát hay không kém nữ nghệ sĩ Bích Thuận. Chị có khuôn mặt sắc sảo,  tầm vóc tuy hơi nhỏ nhưng thật cân đối. Có một thời, chị là người tình tuyệt vời của anh chàng du ca Phạm Duy, lúc đó đang làm quản lý cho gánh Đức Huy. Chị thủ vai Triệu Trinh Nương hát bài “Đêm Mê Linh” của Văn Giảng, “Bản Đàn Xuân” của Lê Thương hay không chỗ chê. Giọng chị vì ém sâu trong cuống họng nên hơi gắt, nhưng thật vang lộng, khi lên cao thật chắc thật dẻo, chuỗi ngân của chị thật rập rờn có thể kéo dài trên trường độ một nốt nhạc tròn. Hình ảnh chị mặc áo hoàng bào thêu ngân tuyến, chít khăn vành giây gài những chiếc trâm nạm hạt thủy tinh lấp lánh cứ ám ảnh tôi không ngớt suốt cả tuần sau đó. Còn anh Quang Hữu đẹp trai quá thể, cặp mắt thật nhung, sống mũi cực kỳ thanh tú, vóc dáng vạm vỡ và cân đối. Anh hát ba bài “Hòn Vọng Phu I, II, III” làm tôi mê luôn. Giọng anh có âm lượng phong phú, lối ngân nga điêu luyện. Giọng hát sao mà hùng dũng như thác Cam Ly, lai láng như dải trường giang vào mùa nước nổi. Ai nào có thể ngờ ở một vóc dáng và sắc diện của một con người rất thơ và rất mộng như anh mà có một giọng mãnh liệt đầy âm vang lộng lạc dường ấy! Nói gì Lệ Thủy (người vợ đầu tiên của Quang Hữu) yểu điệu như nhánh thùy dương, thướt tha như cành lệ liễu, tuy không sắc sảo mặn mà như nữ nghệ sĩ Thanh Tình, nhưng khuôn mặt vẫn có những nét hài hòa. Giọng của chị thật ấm, hơi khao khao lúc xuống thấp, nhưng khi vút lên cao thì trong trẻo và ngời sáng. Chị có một chuỗi ngân khá điêu luyện. Tôi còn nhớ, vào đầu mùa nền Đệ nhất Cộng Hòa, nữ nghệ sĩ Thanh Tình vĩnh viễn bỏ sân khấu, chấp nhận cảnh làm vợ hiền cho một ông lương y Tây học thì ông giám đốc đoàn Nam Hồng phải tìm hai cô đào Hoàng Hoa và Thiên Kim thay thế chị. Riêng Lệ Thủy (người Bắc) thì nhường các vai nhì cho đào Thiên Kim. Chị chỉ giữ phần phụ diễn tân nhạc mà thôi. Tôi vẫn còn nhớ những màn phụ diễn tân nhạc do chị đảm nhiệm. Chị vẫn giữ vóc gầy như mai, sắc diện lúc nào cũng buồn như cúc. Luôn luôn chị lấy màu xanh làm chuẩn trong cách chọn áo dài: thiên thanh, lam ngọc, thủy, thanh tùng, bích liễu, thúy trúc, bích ngọc, uất lam, tĩnh thanh v.v … Giọng Lệ Thủy ấm áp, mặn mà. Lúc lên cao, từ giọng thật chị chuyền qua giọng óc rất khéo. Nghe chị hát hai bản “Nhớ Người Phương Xa” của Phạm Duy và bản “Trở Về” của Châu Kỳ mà tôi có cảm tưởng cái thế giới ca nhạc sao mà gần gũi với mình một cách thân tình và đậm đà đến như vậy.

Lệ Thủy có một chuỗi ngân thật óng ả, không chao đảo như lối ngân của nhiều nữ ca sĩ bên tân nhạc thuở đó.

Sau nầy, khi có người Bắc di cư vào Nam, tôi mới biết rằng trong những gánh cải lương ngoài Bắc, đa số các nam nữ nghệ sĩ đều biết hát tân nhạc. Chẳng hạn trong gánh Huỳnh Lan Anh gồm có Huỳnh Thái, Lan Phương và Anh Đệ đều biết hát tân nhạc cả. Huỳnh Thái mà hát những bản của Lê Thương như “Sao Hoa Chóng Tàn”, “Bản Đàn Xuân”, “Thu Trên Đảo Kinh Châu” thì thật du dương, dễ ru hồn nữ khan giả, ngoài những câu Vọng Cổ nhịp 16. Lan Phương là chị ruột của Ái Liên đẹp và hát hay không kém Ái Liên về cổ nhạc cải lương cũng như về tân nhạc. Anh Đệ cũng đã chứng tỏ tài hát tân nhạc của mình trong phim ca vũ Nghệ Thuật và Hạnh Phúc. Ngoài ra, cô đào cải lương Lệ Thanh và kép cải lương Ngọc Toàn trên đất Bắc cũng hát Tân nhạc rựa ràng lắm. Lệ Thanh cũng đã chúng tỏ tài nghệ ca hát của mình bên cạnh Anh Đệ và Ái Liên trong phim Nghệ Thuật và Hạnh Phúc. Ngoài ra cô đào Kim Xuân đã từng đóng phim Kiếp Hoa bên cạnh Kim Chung, hát tân nhạc thật quyến rũ, thật điệu nghệ, chỉ kém Kim Chung, Ái Liên mà thôi chứ chưa hề nhường Lệ Thanh, Bích Hợp, Lan Phương, Phụng Khánh bao giờ. Ngọc Toàn cũng đã hát thật truyền cảm bản “Cây Đàn Bỏ Quên” của Phạm Duy trong phim Kiếp Hoa. Khi đoàn Kim Chung theo làn sóng di cư vào Nam thì trong vở tuồng Tình Vương Ý Nhạc do Hoàng Lan soạn, Ngọc Toàn có dịp ca hát với Kim Chung nhiều bản tiền chiến, đặc sắc nhất là bản “Chiều”, thơ của Hồ Dzếnh, nhạc của Dương Thiệu Tước.

Ngoài ra ở ngoài Bắc, kép Mộng Dần, kép Sỹ Hùng, đào Phụng Khánh, đào Tường Vi (vợ của Sĩ Hùng và cũng là em gái của nữ nghệ sĩ Bích Thuận), đào Huệ Chúc, đào Lữ Nhàn, đào Khánh Hợi, đào Bạch Tường cũng hát Tân nhạc nào có kém chi ai? Dường như các nghệ sĩ gốc Bắc khi dấn thân vào nghiệp ca kịch cải lương là phải học thêm cách ngâm thơ, cách hát tân nhạc để bù đấp vào tài hát cổ nhạc Nam Kỳ vốn không mấy tinh thông điêu luyện của mình. Tôi có nhiều dịp trò chuyện với những bậc trưởng thượng từ Bắc di cư vào Nam về bộ môn nghệ thuật trình diễn ngoài Bắc. Theo họ, từ sau năm 1945 cho tới sau những năm dân Hà Nội hồi cư về các thành phố có chính phủ Liên Hiệp Pháp tạm chiếm, đất Thăng Long có những ca sĩ như Thương Huyền, Minh Đỗ, Tâm Vấn (bên nữ), Mai Khanh, Kim Tiêu, Ngọc Bảo (bên nam). Trong quyển hồi ký Thời Cách Mạng Kháng Chiến ở đầu chương sáu, Phạm Duy đã viết như sau:

Lúc đó, tôi rất nhớ sân khấu. May thay ở Hà Nội đang có phong trào đi nghe nhạc phòng trà. Những phòng trà đầu tiên của thời đại là:

Quán Nghệ Sĩ ở đường Bờ Hồ, do tay violoniste số một là Nguyễn văn Giệp điều khiển. Có nam ca sĩ Mai Khanh thường tới hát “Bên Hồ Liễu”. Nữ ca sĩ Bùi thị Thái, người vợ tương lai của Quản Liên, trưởng ban quân nhạc lính khố xanh thì chuyên hát bài “Con Chim Lạc Bạn”. Thỉnh thoảng có Dương Thiệu Tước tới đánh guitare hawaienne và có Thẩm Oánh tới để làm xướng ngôn viên.

Ở Hàng Bông có phòng trà Thăng Long với các nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt, Nguyễn Khắc Cung, Lương Ngọc Châu, Vũ Anh Thường. Tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm có phòng trà Tuyết Sơn với Vũ Thành thổi sáo. Trong đám nam ca sĩ lúc đó, tôi cho rằng Kim Tiêu là người hát hay nhất. Trong khi tôi vác bài “Buồn Tàn Thu” đi lưu diễn trong Nam thì ở Hà Nội, chính nhờ giọng hát Kim Tiêu mà những bản “Thiên Thai”, “Trương Chi” của Văn Cao nổi tiếng.

Một anh bạn của tôi là Đặng Trần Vận mở ra ở phố Hàng Gai một phòng trà lấy tên là THIÊN THAI vì dân chúng đang thời hâm mộ bài hát rất trữ tình của Văn Cao. Đây là nơi tôi được các nhạc sĩ Trần Quang Trường (biệt hiệu là “Schubert giả”), Đỗ Lệnh Tâm (“Tâm Xì” vì da đen như củ súng) và em là Đỗ Lệnh Kiên … đệm đàn cho tôi hát. Tôi lăng xê giọng hát phái nữ hay nhất của lúc đó là Thương Huyền. Nàng là người tình chớp nhoáng mới đây của tôi. Tên thật của nàng là Thường. Tôi đặt cho nàng một cách giản dị, theo lối đánh vần “thương huyền thường”. Tôi dạy cho Thương Huyền hát bài “Trào Lòng”, một bài ca nhờ ở giọng hát trong trẻo của cô ca sĩ rất đa tình nầy mà trở thành nổi tiếng. Thương Huyền có nụ cười và hàm răng như hoa nở. Tính tình thuộc loại bạt mạng, bất cần đời.

… Về sau tôi còn gặp lại Thương Huyền nhiều lần trong kháng chiến.

Về ca sĩ Kim Tiêu, nhà văn kiêm họa gia Tạ Tỵ đã viết trong quyển Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi ở chương ba (chương có cái tựa là “Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Trong Hà Nội Tạm Chiếm”) như sau:

… Trong khi tôi đang say mê với màu sắc, bỗng nghe tin ca sĩ Kim Tiêu đã bị giam trong Hỏa Lò từ mấy tháng nay. Kim Tiêu và Mai Khanh là hai ca sĩ rất nổi tiếng từ tiền kháng chiến. Trong đời ca hát của Phạm Duy, Duy chỉ nể có hai ca sĩ này Kim Tiêu về thành trước tôi nhiều tháng. Nhưng sau thời gian sống giữa lòng Hà Nội, có lẽ hằng ngày phải đối mặt với kẻ thù, hơn nữa cái mảnh trời kháng chiến nó cao rộng và hào quang quá, nên làm tâm trạng anh bứt rứt. Từ bứt rứt đi đến giận hờn, rồi chống đối, do đó, anh bị Pháp bắt, buộc tội là Việt Minh!  Vào tù, anh vẫn không sợ, dù bị đánh đập, tra khảo thế nào, anhcứ coi thường. Pháp nhốt anh vào xà-lim (cellule), anh vẫn ca hát những bài của Việt Minh. Sáng nào, anh cũng nắm chặt tay vào song sắt hát bản “Tiến Quân Ca” của Văn Cao để đánh thức các tù nhân khác dậy. Từ ngoài khu kháng chiến, Văn Cao được tin cảm động lắm, làm một bài thơ, bí mật đem vào Hà Nội, rồi nhờ các cán bộ tình báo nội thành đưa vào Hỏa Lò cho ca sĩ Kim Tiêu. Tôi có được cả bài thơ, nhưng lâu ngày, bây giờ chỉ nhớ vài câu:

… Người danh ca ấy nằm trong ngục

Hà Nội nhớ tôi, hát bài ca cũ

Tiếng ca như buổi sớm trong

Tiếng ca vang vang khí phách

Xà-lim nổ tung ra

Cả Hỏa Lò vỡ toang thành khối nhạc !…

Câu chuyện về ca sĩ Kim Tiêu, tôi chỉ biết tới đấy, còn sau nầy, Kim Tiêu sống hay chết trong tù, tôi không hay.