vietmessenger.com
Hồ Trường An
Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998
Post by Sơn râu 26 Dec 2025

Chương 4.
Một cao Trào Bừng Sáng
Chương 4 nầy, tôi xin tóm tắt phong trào ca nhạc từ thuở phôi thai cho tới khi đất nước bị chia đôi bởi con sông Bến Hải. Tôi sinh vào mùa thu năm 1938, tức là vào thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến sắp bùng nổ (2/9/1939). Dĩ nhiên tôi chỉ biết
thời kỳ khởi đầu nhạc tiền chiến qua sách vở, qua lời kể của các bậc trưởng thượng. Trước năm 1945, lớp những bậc đàn anh đàn chị của chúng tôi đã võ vẽ hát những bài dân ca của Pháp hoặc những bản nhạc Pháp thịnh hành vào trong thập niên 30 hoặc 40. Họ cảm thấy dù những bản nhạc Pháp do Tino Rossi, Lucienne Boyer, Albert Préjan, Maurice Chevalier hoặc Danielle Darrieux, Suzy Delair hát dù có hay thế mấy, nhưng không thể đi sâu vào tâm hồn họ, vẫn không khơi dậy những rung cảm đậm đà cho họ được. Cho nên họ khao khát tìm về “cây nhà lá vườn” và thích “ta về ta tắm ao ta”. Từ năm 1945, lúc Việt Minh lên nắm chính quyền tôi được các chú, các cô tôi dạy hát những bài nhạc cách mạng của Lưu Hữu Phước như “Tiếng Gọi Thanh Niên”, “Lên Đường”, “Xếp Bút Nghiên”, “Chi Lăng”, “Hội Nghị Diên Hồng”, “Bạch Đằng Giang”, “Hồn Tử Sĩ”, “Hờn Sông Gianh”. Và khi Tây tái chiếm Nam Kỳ, tôi theo gia đình chạy xuống Chắc Băng, U Minh Thượng tản cư, được những người đi theo kháng chiến dạy những bản của Hoàng Quý như “Trên Sông Bạch Đằng”, “Bóng Cờ Lau”, “Nước non-Lam Sơn”, “Đêm Trong Rừng” …cùng một số bài hùng ca của các tác giả khác. Tuy chưa lớn khôn vào thời kỳ dân tộc sôi chí quật cường, nhưng những bài hát đó vẫn đeo đẳng tôi suốt đời để tôi hãnh diện rằng nền âm nhạc cải cách của chúng ta đã góp phần làm nên lịch sử không phải là nhỏ đâu. Dù ông Lưu Hữu Phước có theo Cộng Sản, nhưng tôi vẫn tin rằng ông có thiện chí giành lại chủ quyền của dân tộc đang nằm trong tay người Pháp, ông yêu nước theo cách của ông. Ông đóng hai vai trò sáng rực ở hai địa hạt khác nhau: âm nhạc và cuộc đi làm lịch sử. Khi tôi vừa mới lớn chỉ có hai bản nhạc ngoại quốc Tây phương được thịnh hành. Đó là bài “Granada” điệu paso doble của Tây-ban-nha và bài dân ca Đan Mạch mà Thông Đạt đặt lời Việt có cái tựa là “Trên Đồng Trong Rừng”. Bài đầu với tiết điệu dòn dã trong thập niên 50 diễn tả bằng Tây-ban-cầm hay tuyệt. Về sau ai đó có đặt lời Việt và để cho Thái Thanh hát, nhưng theo tôi nghĩ, bài nầy cũng như bài “Cumparsita” nếu được trình bày bằng bất cứ tiếng hát nào cũng nghe không thể dòn dã làm sướng lỗ tai bằng độc tấu Tây-ban-cầm được. Còn bài “Trên Đồng Trong Rừng” dành để hát trong nhà trường và dành làm nhạc cho các màn vũ trên sân khấu học đường:
Đây gió, đây trên rừng,
Đây cánh đồng, đời bao phóng khoáng
Kìa chim non đang vờn hoa tươi trên cành
Líu lo muôn lời …
Tay ngắt bông hoa hồng
Cây với cành cùng khoe sắc thắm
Nhìn ra nơi phương trời
Cô em tôi sầu
Nhớ chi trong lòng?
Chiều dâng lên chuông hòa tiếng vàng
Và bâng khuâng nghe lòng nhuốm buồn
Gió mát mách rằng
Cô em tôi sầu
Nhớ chi trong lòng?
Qua bao thăng trầm hưng phế của nền Tân nhạc, tôi chỉ có thể nhận xét như sau:
— Thuở Ái Liên, Kim Thoa, Phùng Há, Năm Châu và Jean Tịnh hát nhạc Tây lời Việt là thuở nước ta chưa có nền Tân nhạc riêng biệt, nhưng đã có tài tử chuẩn bị cho nghệ thuật hát Tân nhạc sau nầy. Vì nói cho cùng, năm nghệ sĩ mà tôi vừa kể trên trừ Jean Tịnh ra đều có nghề nghiệp sân khấu cải lương vững chắc, chuyện hát nhạc Tây lời Việt đối với họ là tìm món ăn chơi, là thứ nghiệp dư (nói theo Cộng Sản) chứ không phải là nghề thật sự để họ dốc tâm theo đuổi. Riêng Jean Tịnh là nhạc công, hát nhạc Tây cũng chỉ để thỏa mãn nghệ sĩ tính chứ không phải dùng để nuôi sống.
— Thời kỳ bắt đầu của nhạc Việt lời Việt là thời kỳ có nhạc, có nhiều người ca tài tử mà vẫn chưa có ca sĩ chuyên nghiệp. Đó là thuở vào năm 1938, một người Huế yêu nhạc tên Nguyễn văn Tuyên có giọng hát ténor có thử sáng tác vài bản nhạc được học giả Nguyễn văn Cổn đang làm việc cho đài Radio Indochine phổ lời hát. Ông Cổn còn giúp cho ông Tuyên gặp Thống Đốc Nam Kỳ Rivoal để xin trợ cấp đi diễn thuyết ở Huế, Hà Nội và Hải Phòng. Cuộc đi diễn thuyết nầy được báo Ngày Nay ở Hà Nội hết lòng ủng hộ. Phong trào sáng tác nhạc mới bắt đầu ló dạng với những cái tên quen thuộc như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Vũ Khánh, Trần Dư, Phạm văn Nhường (nhóm Myosotis), Văn Chung, Lê Yên, Dzoãn Mẫn, Phạm Ngữ. Lại còn những nhạc sĩ độc lập, không có chân hoặc không lập ra phe nhóm nào cả, chẳng hạn như Lương Ngọc Châu, Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương, Hoàng Quý, Hoàng Phú (về sau lấy tên là Tô Vũ) ở Hà Nội, Đặng Thế Phong ở Nam Định, Nguyễn văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, La Hối ờ miền Trung … Những kẻ trình diễn nhạc của các nhạc sĩ nầy là những sinh viên học sinh yêu nhạc, những tay tài tử của giới trung lưu, những kẻ quen biết với người sáng tác … Những bản nhạc của Nguyễn văn Tuyên như “Bông Cúc Vàng”, “Một Kiếp Hoa” (lời của Nguyễn văn Cổn) trước đó đã không phổ thông, và giờ đây chỉ còn xếp âm thầm trong nhạc học sử mà thôi. Nhưng công việc xung phong của Nguyễn văn Tuyên vẫn là một kỳ công có thể khơi dậy và thắp sáng lòng nhiệt cho lớp tiền phong để họ mạnh dạn sáng những tác.
— Thời kỳ xu hướng nhạc hùng với Thẩm Oánh qua bản “Thanh Niên Ơi”, với Văn Cao qua “Gió Núi”, với Đặng Thế Phong qua “Sáng Rừng” thì đây là những bài không dành cho sân khấu trình diễn mà dành cho nhóm thanh thiếu niên tân học hát trong những cuộc họp mặt bên đống lửa những buổi cắm trại. Nhạc họ vốn dễ hát. Nhóm trẻ tuổi nhiệt tâm huớng về tương lai đất nước chỉ muốn mình hát để mình thuởng thức trong không khí bằng hữu, trong không khí đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu. Họ đâu cần những kẻ hát chuyên nghiệp dựa vào sự hiểu biết nhạc lý, đâu cần những kẻ đã có trình độ luyện giọng khá cao. Tôi nói thế vì vào thời buổi trước cũng có những kẻ biết luyện giọng, có trình độ ký âm pháp cao. Chẳng hạn như các chủng sinh được luyện giọng chu đáo ở trong các chủng viện để hát trong ban đồng ca nhạc thánh ở các cuộc lễ trong nhà thờ. Anh Ngọc xuất thân là một chủng sinh nên được luyện giọng ở chủng viện. Còn Minh Trang, Minh Đỗ hoặc Kim Tước có học trường bà sơ và được luyện giọng nhờ các bà sơ nên giọng họ cực kỳ điêu luyện.
Tuy nhiên những người có giọng được rèn luyện tinh vi thì quá ít, cả trăm nghìn người mới có một người. Trong khi cao trào dân tộc đang sục sôi, nhạc hùng dũng và lành mạnh nào phải dành riêng cho kẻ chuyên nghiệp, mà phải được một số hung hậu những kẻ thuộc thế hệ trẻ trung có tâm huyết cùng hát trên những chặng đường mà họ hăng hái phụng sự cho lý tưởng. Có thể bảo đó là những bản cộng đồng vậy. Trong thời kỳ có xu hướng nhạc hùng thì Hoàng Quý sáng tác hăng hơn cả. Ngoài các bản mà tôi đã kể ở trên còn có “Gọi Bạn Lên Đường”, “Tiếng Chim Gọi Đàn”, “Lời Vọng Ngàn Xưa”. Bản “Bóng Cờ Lau” nhằm ca tụng tiểu anh hung Đinh Bộ Lĩnh, “Trên Sông Bạch Đằng” nhằm ca tụng chiến công của Ngô Vương Quyền đuổi quân Nam Hán, “Nước Non Lam Sơn” và “Đêm Trong Rừng” nhằm ca tụng chiến công của Bình Định Vương Lê Lợi. Còn “Tiếng Chim Gọi Đàn” không ca tụng vị anh hùng nào cả dù nó là nhạc hùng. Nó nhằm ca tụng tinh thần đoàn kết của thanh niên trong đại cuộc đáp lời sông núi:

Tiếng chim vang lừng gọi đàn trong sương sớm
Vang trong trời xa như giục lòng trong gió sương.
Riêng bản “Ngày Xưa” dùng để ca tụng công đức nhị vị Trưng Vương thì là nhạc êm đềm tha thiết:
Ngày xưa kia, nơi đây đã từng vang hình bóng
Đôi quần thoa, đem máu đào hòa nước sông nhà
Hồn linh thiêng sống trên muôn ngàn sóng
Những khi nào chiều vắng
Trầm đưa lên tiếng ca …
Còn bản “Nắng Tươi” là bản nhạc vui cốt thổi nắng đẹp và gió mát vào tâm hồn thanh thiếu niên, chứ không phải nhạc hùng:
Nắng trong khóm cây
Tươi sáng ngời
Kìa đàn chim bay xa xa hót tung mây.
— Thời kỳ nhạc xu hướng lãng mạn có vài người nổi tiếng như Đặng Thế Phong với “Con Thuyền Không Bến”, “Đêm Thu”, “Giọt Mưa Thu”, như Dzoãn Mẫn với “Ghé Đây Thuyền Mơ”, “Cô Lái Đò Mơ”, “Biệt Ly”, như Lê Thương với “Thu Trên Đảo Kinh Châu”, “Sao Hoa Chóng Tàn”, “Bản Đàn Xuân”, như Hoàng Quý với “Chiều Quê”, “Chùa Hương”, như Văn Cao với “Cung Đàn Xưa”, “Suối Mơ”, “Thiên Thai”, “Mỵ Nương Trương Chi”, như Nguyễn văn Thương với “Bướm Hoa”, “Trên Sông Hương”, “Đêm Đông”. Trong giai đoạn nầy có Phạm Duy tháp tùng theo đoàn hát cải lương Đức Huy để hát nhạc của Đặng Thế Phong và nhạc của Văn Cao. Ngoài ra nhạc sĩ Canh Thân (lúc đó chưa sáng tác nhạc và lấy biệt hiệu là Tino Thân) cũng bắt đầu hát nhạc cải cách. Nữ nghệ sĩ Kim Thoa trên sân khấu cải lương thỉnh cũng có hát vài bài cải cách như “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương chẳng hạn.
Tuy thế, chúng ta chưa thể bảo đây là những nghệ sĩ thực sự sống chết với nghề ca Tân nhạc được.
— Thời kỳ từ thuở nhạc hùng châm ngòi cho Việt Minh lên nắm chính quyền thì nhạc của Lưu Hữu Phước trội nhất, khích động tâm hồn ái quốc nhiều nhất. Cái thâm ý của nhóm Lưu Hữu Phước (gồm có Mai văn Bộ, Huỳnh văn Tiểng và Lưu Hữu Phước) là dùng gương chống xâm lăng của người xưa để nhắc nhở người đương thời nên hưởng ứng cuộc chống ngoại xâm của lớp người yêu nước cận đại như Thiên Hộ Dương, Trương Công Định, Hoàng Hoa Thám … Bài “Hội Nghị Diên Hồng” nhắc nhở tinh thần đoàn kết toàn dân dưới triều đại vua Trần Nhân Tôn để chận ngăn bước xâm lăng của giặc Mông Cổ. Bài “Bạch Đằng Giang” nhắc nhở cuộc thắng trận vinh quang của Hưng Đạo Vương trong công việc đánh đuổi giặc Mông Cổ. Bài “Chi Lăng” ca tụng chiến công của Bình Định Vương Lê lợi trong cuộc chống giặc Minh. Sau đó là nhạc bừng bừng hào khí của Văn Cao với “Thăng Long Hành Khúc”, “Chiến Sĩ Việt Nam” và “Tiến Quân Ca” (bài nầy về sau sửa lại lời cho có vẻ sắt máu hơn để làm bản Quốc Ca cho chủ nghĩa xã hội miền Bắc). Phạm Duy
cũng hưởng ứng cao trào một cách ngoạn mục và hào hùng khi tung ra các bài “Nhạc Tuổi Xanh”, “Xuất Quân”, “Khởi Hành”, “Thanh Niên Việt Nam” … Đây cũng là lúc toàn dân hát theo họ, không cần ca sĩ. Nhạc của họ đã lẩn vào tâm hồn dân tộc, chỉ có dân tộc hát mới thắm đượm tình ý một vận hội mới đang bừng dậy. Trước khi toàn quốc kháng chiến, Lưu Hữu Phước cũng đã mở đường dân trí bằng bài “Gieo Ánh Sáng” mà trong các lớp Bình Dân Học Vụ thường hát để mở mang dân trí nói chung và chống nạn mù chữ nói riêng:
Lòng vui sướng, anh em ơi
Tim thấm nhuần tình đồng bào
Trai đời mới sao cho nên chí trai
Cùng đi gieo sáng tươi vào hồn người đó đây …
Cùng đi gieo khắp nơi chữ ta
Nơi hương thôn tối tăm đời mịt mờ xót xa
Tiếng kêu than tiếng rền vang đồng quê
Đánh thức giấc toàn dân chìm đắm trong cơn mê
nhục nhằn
Mới nên danh thanh niên.
Bài nầy là bài mở đầu cho Phạm Duy sáng tác bài “Bình Dân Học Vụ” khi anh còn đi kháng chiến. Nhưng khi anh vào Sài Gòn, bài nầy lại được ban Thăng Long trình bày và thâu vào dĩa Việt Nam tròng lục chữ kim nhũ:
Bình Dân Học Vụ là đóa hoa tươi Thơm ngát khắp phương trời Nam Bắc …
Vào năm 1948, sau cái chết của Trần văn Ơn, thanh niên, sinh viên và học sinh náo nức bỏ trường lớp và thành thị để vào khu kháng chiến. Lúc đó, có bài như “Nam Bộ Kháng Chiến” với những câu làm cho lòng trai trẻ ngập tràn phấn khởi:
Mùa thu rồi, ngày hăm ba
Ta ra đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
Rền khắp trời lời hoan hô
Dân quân Việt Nam tiến đến trận tiền.
Ngoài ra còn có những bài sục sôi nhiệt huyết như “Cương Quyết Ra Đi” của Nguyễn Ngọc Bạch, “Đường Về
Quê” của Phạm Duy, “Đoàn Giải Phóng Quân” của Phan Huỳnh Điểu, “Khúc Hát Sông Thao” của Đỗ Nhuận. Bài “Đoàn Giải Phóng Quân” về sau đổi lại là “Đoàn Vệ Quốc Quân” được hát trong các chiến khu nhiều nhất. Theo tôi thuở đó có hai bài “Cương Quyết Ra Đi” và “Nam Bộ Kháng Chiến” là hai bài giục giã các thanh niên đầy nhiệt huyết hưởng ứng phong trào chống Tây trong khoảng từ năm 1947 đến năm 1949 một cách hữu hiệu nhất. Bài “Cương Quyết Ra Đi” với đoạn điệp khúc sắt máu như sau:
Đất nước hỡi, reo lên đi
Ta ra đi một mùa thu xa vắng
Gió hỡi gió, ngân lên đi
Vung gươm thiêng ta lấy máu đền nợ trai
Và từ đây cao hát hành quân
Chiều âm u tiếng gọi nơi sa trường xa
Vung gươm lên, vung gươm lên, ta giết quân thù …
Bài “Đoàn Giải Phóng Quân” với những lời như sau:
Đoàn Giải Phóng Quân một lòng ra đi
Lòng có xá chi đâu ngày trở về
Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi, ra đi thà chết chớ lui
Cờ bay phất phới cờ giòng Lạc Hồng
Cờ bay phất phới cờ giòng Lạc Hồng
Đoàn Giải Phóng Quân …
Bởi nó quá thịnh hành trong các khu 8, khu 9 nên nó bị sửa lời hài hước như sau:
Đoàn Nữ Cứu Thương một lần ra đi
Thề lấy chỉ huy không hẹn ngày về
Ra đi không mong bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thề lấy chỉ huy
Cờ bay phấp phới cái bụng thè lè
Cờ bay phấp phới cái bụng chình ình
Đoàn Nữ Cứu Thương ….
Những bài “Nhớ Chiến Khu” của Đỗ Nhuận, “Lỡ Chuyến Đò”, “Bến Cũ” của Anh Việt, “Có Một Đàn Chim”, “Mùa Đông Binh Sĩ” của Phan Huỳnh Điểu, “Lòng Mẹ Việt Nam” của Lê Thương, “Chinh Phụ Hoài Khúc” của Lê Xuân Ái đều là những bài đóng góp cho phong trào thanh niên bỏ thị thành vào chiến khu cũng khá tích cực. Tuy nhiên, song song đó có những bài hát lãng mạn như “Ngày Về” và “Mơ Hoa” của Hoàng Giác, “Bóng Chiều Xưa” và “Ôi Quê Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Tạ Từ” của Tô Vũ, “Trầu Cau” của Phan Huỳnh Điểu làm cho những tâm hồn bừng bừng hào khí vẫn có đôi lúc rung động vì những thoáng trữ tình.
Điều đáng ghi nhận là nhạc sĩ Anh Việt, tác giả của các bản “Bến Cũ”, “Chiều Trong Rừng Thẳm”, “Lỡ Chuyến Đò”, “Một Chuyến Đi” khi sáng tác nhạc lại hướng về những người chiến đấu ở bên kia. Nhưng khi ông sáng tác bản “Thơ Ngây” rất trữ tình thì ông liền đổi khuynh hướng chính trị. Ông gia nhập vào quân đội Liên Hiệp Pháp và sau đó đứng về hàng ngũ quân đội Quốc Gia. Năm 1970, Đại Tá Anh Việt Trần văn Trọng lập ra tờ tuần san quân đội Khởi Hành chẳng những quy tụ được nhiều văn nghệ sĩ quân đội có tài cao mà còn qui tụ nhiều nhà văn dân sự nổi tiếng như cồn nữa. Còn nhạc sĩ Lê Thọ Trung cũng nhập ngũ quân đội Liên Hiệp Pháp và sau hết trong quân đội Quốc Gia, ông lên tới cấp bực Trung Tá, làm tới chức Tham Mưu trưởng của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, bản doanh bộ Tư lệnh đóng ở căn cứ Lai Khê, gần quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ông Lê Thọ Trung chỉ có sáng tác bản “Người Thiếu Phụ” theo thể điệu rumba mélodie là nổi tiếng. Năm 1971, tôi được thuyên chuyển về Lai Khê làm việc trong ban Thông Tin Báo Chí của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, có gặp ông Trung Tá Lê Thọ Trung một vài lần khi tôi có việc đem công văn lên văn phòng của ông. Ông trực tính và công bằng, nhưng hơi khó khăn với thuộc cấp. Cho nên anh em trong ban Thông Tin Báo Chí chúng tôi nói hành nói tỏi ông, gọi ông là “Trung Tá rumba mê lỗ đĩ”. “Mê lỗ đĩ” tức là nói trại tiếng mélodie vậy.
Trong Nam, thời kỳ hát phụ diễn Tân nhạc cho các rạp chiếu bóng cùng phong trào ca tân nhạc thâu dĩa bắt đầu với các ca sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Châu Kỳ, Đức Quỳnh, Anh Ngọc, Vũ Huyến, Minh Trang, Minh Diệu, Mộc Lan, Bích Thuận, Túy Hoa, Minh Nguyệt, Minh Tần, Ngọc Hà, Ngọc Thanh, Minh Hoan, Linh Sơn, Hoàng Lệ, Khánh Ngọc, Hoàng Yến, Bích Thủy bắt đầu sống mạnh. Song song đó, đài Phát Thanh Quốc Gia và đài Pháp Á vẫn là môi trường quen thuộc của họ. Ngoài Bắc thì ngoài đài phát thanh còn có các phòng trà với Kim Tiêu, Mai Khanh, Ngọc Bảo, Minh Đỗ …Trong những năm đầu thập niên 50, chiến tranh đổ dồn ra Bắc và lực lượng của Pháp mạnh nhất ở căn cứ Điện Biên Phủ thì Sài Gòn trở thành một kinh đô ăn chơi trác táng. Bên cạnh những khu bài bạc như Đại Thế Giới, Kim Chung thì hằng ngày tại bót Catinat xảy ra những cuộc tra tấn dã man các tù nhân bị tình nghi là Việt Minh, những cuộc tuyên truyền hay ám sát của bọn khủng bố của Việt Minh mà họ gọi là những anh công tác thành. Hình như đó là lúc dân thị thành bắt đầu
chán ngán cực độ chiến tranh, muốn dùng các thú giải trí văn nghệ hoặc các cuộc truy hoan để quên những biến động sôi sục ở các vùng ngoại ô thành phố cùng ở các vùng phụ cận.
Nhạc hùng bỗng dưng phai mất hào quang trong tâm tưởng những thị dân trẻ tuổi. Bài “Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn, bài “Trăng Mờ Bên Suối” của Lê Mộng Nguyên, bài “Dư Âm” của Nguyễn văn Tý, bài “Tình Kỹ Nữ” và bài “Cây Đàn Bỏ Quên” của Phạm Duy, bài “Lời Hẹn Xưa” và bài “Trở Về Bến Mơ” của Ngọc Bích, hai bài “Bóng Ngày Qua” và “Lỡ Cung Đàn” của Hoàng Giác, nhất là bài “Bóng Chiều Xưa” của Dương Thiệu Tước là những nhu cầu tâm tình quý giá cho nhưng kẻ yêu nhạc có tâm hồn ướt át đang chán ngán chiến tranh. Tuy nhiên, Phạm Duy đã làm một việc rất đẹp là sáng tác một tác phẩm bất hủ. Đó là bài “Tình Ca”. Đây không phải là nhạc hùng mà là nhạc tha thiết bắt nguồn từ nhạc dân gian để gây trong tâm thức đồng bào lòng yêu quê hương đất nước. Riêng Dương Thiệu Tước dù là đặt nhạc tình như “Tiếng Xưa” và “Đêm Tàn Bến Ngự” nhưng nhạc bắt nguồn từ cổ nhạc miền Trung. Hai bản đó dù có tiết điệu áo não, nhưng không phải chỉ cốt làm tê liệt lòng phấn khởi của dân tộc mà là chan hòa âm hưởng dân nhạc vào tâm hồn họ để họ yêu thêm quốc nhạc nói riêng, yêu thêm lời tình tự quê hương dân tộc nói chung.
Trong giai đoạn nầy Minh Trang qua hai bản “Đêm Tàn Bến Ngự” và “Tiếng Xưa”, Thái Thanh qua bản “Tình Ca” đem lại cho khán thính giả tiếng hát thật Việt Nam, thật quê hương dân tộc dù họ ca nhạc cải cách đi nữa. Hai tiếng hát ấy lẩn vào tâm hồn dân tộc và trở thành tiếng hát dân tộc. Có rất nhiều người trước kia không thích Tân nhạc, nhưng khi nghe Minh Trang và Thái Thanh mỗi chị hát những bản ruột của mình thì họ cũng cũng bắt đầu để tâm hồn mình hòa tan vào hai tiếng hát đượm tình dân tộc ấy. Cần phải kể thêm ở Huế có đôi song ca Ngọc Cẩm và Nguyễn Hữu Thiết. Họ nổi tiếng ở bài “Dân Ca Lúa Vàng”. Ngọc Cẩm có giọng trong trẻo nhưng hơi chát chát chua chua. Chị không biết ngân nga. Tuy nhiên giọng hát của chị dễ đi sâu vào lòng người vì thấm nhuần giọng Huế thật mộc mạc, hợp với cảm quan lớp bình dân. Nguyễn Hữu Thiết có giọng điêu luyện hơn giọng vợ, chuỗi ngân khá óng ả, nhưng âm sắc lại không đẹp, không gợi một hình ảnh đẹp. Nếu họ hát riêng thì không có một chút quyến rũ nào. Nhưng khi họ song ca với nhau thì truyền cảm bất ngờ. Hai giọng hát như hai con song quyện vào nhau dễ thấm sâu vào tâm hồn người nghe bằng từng đợt nước quê hương mát rười rượi. Huế có thêm một giọng ca cừ. Đó là nữ ca sĩ Hương Thủy, một giọng đục nhưng có âm vang, rất vững về phần ngân nga. Trong tấm ảnh in trên ấn bản bài nhạc nào đó của Hoàng Trọng mà suốt trên nửa thế kỷ tôi đã quên mất cái tựa của nó, chị hiện thân là cô Huế tóc óng ả xõa ngang vai, nụ cười tươi, ánh mắt dịu dàng, khuôn mặt chân phác. Bài hát mà tôi quên tựa ấy có những câu:
Ôi, người nghệ sĩ năm xưa
Cùng ai ngắm trăng mơ
Ôm một cây đàn
Cho lòng reo lên phím tơ …
Hương Thủy hát loại nhạc tango của Hoàng Trọng thật điệu nghệ. Tiếng chị dù không trong vắt như nước song Hương, nhưng thật ngọt mềm làm người nghe thống khoái. Chị cũng có một thời vào Sài Gòn thử thời vận, nhưng không mấy khả quan.
Tôi thiết tưởng cũng nên nói qua hai đài phát thanh ở Sài Gòn vào thập niên 30, kẻo không sẽ chẳng có dịp nào nói tới chúng nữa. Hình như vào năm 1938 hoặc 1939 gì đó, ở Sài Gòn đã có hai đài: Centre de la Radio de Diffusion Électrique và đài Philco Radio. Đài thứ nhất còn gọi là Radio Saigon đặt tại góc đường Richaud (sau đổi lại là đường Phan Đình Phùng) và đường Docteur Angier có khúc dưới chạy ngang Sở Thú. Còn đài Philco Radio là của tư nhân người Pháp đặt ở đường Catinat (sau đổi là đường Nguyễn Huệ), chỗ trước Hành Lang Eden, trên từng lầu. Đài Philco Radio có máy móc tối tân hơn đài Radio Saigon (Centre de la Radio de Diffusion Électrique). Hai đài nầy mỗi ngày phát thanh hai lần: trưa từ 11 giờ đến 13 giờ, chiều từ 18 giờ tới 21 giờ. Từ 21 giờ trở đi dành cho chương trình của người Pháp. Hai đài nầy đều sống nhờ quảng cáo thuốc men của nhà thuốc Võ văn Vân, của nhà thuốc Võ Đình Dần, của nhà thuốc Ông Tiên … cùng các hàng hóa vật dụng nhập cảng, đặc sắc nhứt là thứ rượu Dubonnet hiệu Con Mèo. Thuở đó, về âm nhạc, hai đài cho chạy các dĩa nhạc cổ cải lương đã từng thu thanh vào dĩa Asia, Béka, Pathé, Victor…
Cũng thuở đó người Nam Kỳ không biết xài chữ Nho. Họ không kêu radio là “đài phát thanh” mà gọi nguyên gốc chữ “radio”. Đài Sàigon mở đầu bằng câu “Đây là Radio Saigon”, còn đài kia cũng mở đầu “Đây là hãng Philco Radio”.
Theo ông già bà cả thuật lại khi quảng cáo thuốc Cửu Long Hoàn của nhà thuốc Võ Đình Dân, họ dùng bài “Une Chanson pour Nina” (bài nầy do Tino Rossi hát thâu dĩa làm chấn động con tim thanh niên miền Nam xứ mình) phổ lời Việt như sau:
Khi mình mệt mỏi
Nhớ mua dùm
Cửu Long Hoàn
Võ Đình Dần
Còn bài quảng cáo rượu Dubonnet hiệu Con Mèo, họ đặt nhạc đàng hoàng, khỏi cần nháy theo bài hát Tây nào:
Dubo, Dubon, Dubonnet
Thêm sức mạnh, người vui khỏe luôn
Lại càng sống lâu
Riêng về đài Radio Indochine có mục thời sự, mục thể thao (mục nầy do Trần Đình Khiêm phụ trách), có mục ca tài tử do các nữ danh ca Ba Bến Tre, Năm Cần Thơ, Hai Đá, có ban Vô Tuyến Kịch Đoàn. Và có mục ca nhạc cải cách để cho Phạm Duy hát (1944).
Đài Pháp Á thành lập từ năm 1946 tại góc Boulevard de la Somme (về sau đổi tên là Đại lộ Hàm Nghi) và đường Mac Mahon (về sau đổi lại là đường Công Lý), tọa lạc trên lầu của cơ sở cũ của hãng dĩa hát Béka. Giám đốc của đài là ông Jean Varnoux, còn chủ sự là ông Hoàng Cao Tăng. Các ca sĩ đài Pháp Á được trả tiền thù lao rất hậu hĩ: 100 đồng cho mỗi ca sĩ trong mỗi chương trình. Mỗi tuần lễ họ được hát ba lần,
vị chi tiền lương mỗi người trong mỗi tháng là 1200 đồng. Đó là mối tiền rất sộp vượt cả tiền công chức bậc trung, vào thời buổi một tô hủ tíu giá 1 đồng, 100 kí gạo giá 80 đồng. Đài Pháp Á cũng có những nhạc công lỗi lac như Nguyễn văn Minh và Lê Minh Đảo trong ban nhạc Lê Thương, như Nguyễn Chẩnh Lý trong ban Thu Hồ. Về sau Nguyễn văn Minh trở thành tướng Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, còn Lê Minh Đảo trở thành Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Năm 1972, tôi được thuyên chuyển về Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (bản doanh đặt tại Biên Hòa), lúc đó Nguyễn văn Minh là Trung Tướng Tư Lệnh của Quân Đoàn III và Quân Khu 3. Trong thời gian làm việc tại Biên Hòa tôi thường tháp tùng các ký giả quân đội lẫn dân sự đến Long Khánh viếng Tướng Lê Minh Đảo. Còn nhạc công Nguyễn Chánh Lý về sau trở thành Thứ Trưởng Kinh Tế. Cũng cần nói thêm trong ban nhạc ở đài Pháp Á đệm cho ban Thăng Long, ngoại trừ ông Nghiêm đánh đại hồ cầm (contre-basse) là người Việt. Còn kỳ dư các nhạc công khác đều là người Pháp như ông Méritan đánh dương cầm, ông Barthélémy thổi trombone, ông Niflis (lấy tên Việt là Nghị Lực) kéo vĩ cầm …
Vào thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, dù có dĩa nhựa, dù có đài Quốc Gia và đài Pháp Á, nhưng Tân nhạc không thể bành trướng được mau vì những lý do như sau:
— Tân nhạc là thức ăn tinh thần quá mới mẻ đối với đa số quần chúng vốn bị tập nhiễm bởi nhạc cổ truyền.
— Không phải ai cũng có thể sắm máy vô tuyến vì món nầy dành cho những người có tiền ở đô thị. Còn miệt vườn thì không có điện thì làm sao có thể xử dụng máy nầy? Từ năm 1939 ở Việt Nam đã có xài máy vô tuyến điện hiệu Philco và hiệu Philips của Hòa Lan nhập cảng, máy nhỏ nhứt có 4 đèn hoặc 5 đèn. Còn loại cỡ lớn có 6 đèn hoặc 8 đèn. Những cỗ máy lớn nhất có 10 đèn thì dành cho hạng giàu sụ. Từ khoảng năm 1954, Nhật Bản chế ra máy loại máy Transistor hiệu Sony chạy bằng pin. Máy có hình vóc vừa nhẹ vừa nhỏ, chúng ta có thể xách bằng tay, năng suất điện chỉ cỡ 4 volt rưỡi. Thế có nghĩa là chúng ta chỉ cần lắp vào máy 3 cục pin, mỗi cục có 1volt rưỡi là ta có thể xài trong một thời gia khá lâu, nhẹ hơn trả tiền điện dùng cho máy vô tuyến nhiều. Loại máy Transistor giết chết kỹ nghệ sản xuất máy radio bên trời Âu, ngược lại nó giúp cho dân miệt vườn xứ ta tiếp xúc được với cái gọi là đài phát thanh vậy.
Còn về nhạc khí thì sao? Trước năm 1940, ở Sài Gòn có hai tiệm Mélodia và tiệm Harmonia chế ra đờn guitare và đờn mandoline. Tiệm Harmonia ở đường Lagrandière (về sau đổi là đường Gia Long), còn tiệm Harmonia ở đường Sabourain (về sau đổi lại là đường Tạ Thu Thâu). Sau năm 1945 tại đường Hamelin (về
sau đổi lại là đường Hồ văn Ngà) có 4 tiệm chế nhạc khí dành cho cổ nhạc lẫn nhạc khí dành cho Tân nhạc, trong đó có tiệm của Đức Quỳnh. Ông nhạc sĩ nầy vừa bán đờn vừa dạy nhạc, vừa ca nhạc, đóng kịch, nhất cử tam tứ tiện. Lại có tiệm Ménestrel ở đường Catinat (sau đổi là đường Nguyễn Huệ) mà chủ nhân là người Pháp có bán đủ mọi nhạc khí Tây phương như đàn banjo, đàn mandoline, đàn guitare, kèn saxophone, kèn trompette, kèn clarinettte, đàn accordéon (phong cầm), sáo v.v … Đây là các nhạc khí nhập cảng từ bên Pháp. Tiệm cũng có bán dĩa hát thâu những bản đương thời do các ca sĩ thời danh Pháp hát và cũng có bán luôn dĩa hát thâu các giọng của Mạnh Phát, Châu Kỳ, Anh Ngọc, Hải Minh, Ngọc Bảo, Trần văn Trạch, Minh Trang, Minh Diệu, Mộc Lan, Bích Thủy, Khánh Ngọc, Ngọc Hà, Kim Chung, Bích Thuận …và ban hợp ca Thăng Long.
Cũng cần nói thêm là về các loại dĩa hát thâu các nhạc cải cách. Từ sau Đệ nhị Thế chiến, ngành dĩa bên Âu Mỹ đã tiến bộ hơn xưa. Bên Pháp có cho nhập cảng vào Việt Nam máy hát dùng để chạy loại dĩa microsillon. Đó là máy électrophone. Dĩa microsillon với những làn rãnh cực nhỏ, chạy với tốc độ 33 tours hay 45 tours một phút, trong khi đó loại dĩa hát cũ mà người mình gọi là dĩa đá chạy với tốc độ 78 tours một phút. Nhưng có một điều đáng ghi nhận là loại dĩa microsillon thì cần có máy chạy bằng điện. Nhưng điện chỉ có trong các thành phố mà thôi. Còn những vùng ngoại ô của thành phố vào thuở chiến tranh, những vùng phụ cận thành phố, những vùng quê hẻo lánh là những nơi không có điện. Như vậy thì giàn hát máy cũ hiệu Pathé (của Pháp) hoặc hiệu Columbia (của Anh) cùng các loại dĩa đá 78 tours vẫn còn chỗ đắc dụng đối với hạng dân quê. Từ 1950, hãng dĩa Lê văn Tài (về sau đổi lại là Việt Nam) vượt cả các hãng Oria, Asia, Polyphone về việc thu nhạc. Sau đó có thêm hãng Việt Thanh. Ban Thăng Long là mục tiêu huy hoàng mà hãng Việt Nam nhắm tới. Còn hãng Việt Thanh thì nhắm vào đôi uyên ương Minh Diệu và Mạnh Phát.
Việc phổ thông các bản Tân nhạc còn nhờ những ấn bản in nhạc với khuôn khổ bề dài từ 29 tới 30 phân, bề ngang từ 21 đến 22 phân gồm có bốn trang giấy dầy. Nhạc được chép vào hai trang trong (trang ruột). Còn trang 1 tức là trang bìa trước thì có vẽ hình, kẻ tựa bản nhạc và tên người nhạc sĩ lẫn tên kẻ viết lời hát. Trang bìa sau tức là trang 4 dành để in mục lục các nhạc phẩm của tác giả hay mục lục các nhạc phẩm của
nhà xuất bản. Đôi khi họ in hình tác giả nếu đương sự ăn ảnh (như hình của Thẩm Oánh, của Dương Thiệu Tước chẳng hạn) hoặc là hình của ca sĩ (như của ca sĩ Minh Tần). Nhưng bìa trước có thể in ảnh chiếm nguyên trang (như ảnh của nhạc sĩ Phạm Duy chiếm nguyên bìa trước của ấn bản in bài “Tình Ca”). Ngoài ra ở ấn bản in bài “Dạ Lai Hương” của Phạm Duy, trang bìa 1 có in ảnh chiếm nguyên trang của nữ nghệ sĩ Kim Chung. Riêng ấn bản nhạc phẩm “Bóng Chiều Xưa” của Dương Thiệu Tước do Tinh Hoa (Huế) xuất bản thì chỉ in ảnh chị Minh Trang cỡ khuôn khổ tấm bưu ảnh ở bìa trước, chồng lên tranh vẽ của Phi Hùng.
Các nhà xuất bản các ấn phẩm bản nhạc trước khi đất nước chia đôi gồm có Thế Giới ở Hà Nội, Tinh Hoa ở Huế, Hương Mộc Lan, Sống Chung và Á Châu ở Sài Gòn. Sau Hiệp định Genève ở Sài Gòn có thêm An Phú và Minh Phát. Nếu ai không có tiền mua ấn bản nhạc thì mua tập vở học trò có kẻ hàng sẵn, chỉ cần kẻ đậm hai hàng chính và các hàng trong khoảng cách hàng chính là có một khuôn nhạc. Gặp những tập giấy trắng không kẻ hàng (loại tập giấy dầy và có khổ lớn), các anh bạn đồng thế hệ nhưng có nhiều sáng kiến của tôi liền vót thanh tre mỏng, cắt hình răng cưa có năm mũi nhọn. Các anh chỉ cần chấm thanh tre vào mực gạt cho mực hơi ráo rồi dùng năm mũi nhọn gạch lên trang giấy trắng là sẽ có khuôn nhạc với năm đường ngang song song. Tuổi hoa niên của tôi khởi đầu từ năm 1951. Hình như lớp thanh thiếu niên ở thành thị thuộc hạng người có ăn học hầu như xa lạ với ca nhạc cải lương. Họ bắt đầu mua đàn về tập chơi. Khởi đầu là đàn mandoline và đàn banjo. Sau đó, họ chơi Tây-ban-cầm (guitare espagnole) và Hạ-uy-cầm (guitare hawaienne) và mua những sách dạy tự học chơi hai món nhạc khí nầy. Lúc đó, trong vùng Việt Minh chiếm đóng, Vọng Cổ và Cổ nhạc Nam Kỳ bị cấm hát. Do đó mà Tân nhạc bắt đầu có đất dụng võ trong lớp người chân lấm tay bùn. Nhưng hát nhạc của phe kháng chiến, họ không mấy khởi hứng vì cảm quan của họ đã bao đời bị âm điệu các câu Vọng Cổ thấm nhuần. Lại nữa, ở đô thị, lớp người có tuổi tác, những người nệ cổ và giới bình dân vẫn mê Vọng Cổ, vẫn ghiền ca kịch cải lương, vẫn hâm mộ những bài bản của Cổ nhạc Nam kỳ. Việt Minh ở vùng thôn quê, những người tân học thời thượng ở đô thị nếu đả đảo Vọng Cổ thì oái oăm thay lớp người nệ cổ và giới bình dân vẫn trung thành ủng hộ … sáu câu nhịp 16 (đợt I lẫn đợt II).
Tôi trưởng thành vào thế hệ kế tiếp thế hệ đã đổi mới từ lâu. Các anh chị họ của tôi và chị em tôi thuộc về hạng người có học lực ở trình độ trung học. Chúng tôi đã từng mơ mộng trên những trang sách lãng mạn của nhóm Tư Lực Văn Đoàn nói riêng, của văn chương tiền chiến nói chung. Tâm hồn mọi người vẫn còn xao xuyến dư âm thời lãng mạn mà tiếng súng chiến tranh vẫn không át nổi. Cho nên họ cảm thấy âm nhạc
cổ truyền vốn đã thu mình vào trong ngũ cung không thể giao hưởng với tiếng tim đập say đắm của họ, không thể xao xuyến trong tâm hồn họ những âm hưởng trữ tình ngọt lịm. Chỉ có Tân nhạc mới làm phì nhiêu tâm hồn họ, mới khơi dậy được mạch trữ tình tuôn lai láng trái tim của họ. Cho nên bè bạn tôi và tôi hễ có tiền là sắm cây đàn và mua tập về chép nhạc. Chúng tôi đàn địch ca xang khi vừa buông quyển giáo khoa hay hoàn tất xong công việc thường nhật. Chúng tôi hễ gặp dịp thuận lợi là tổ chức cuộc họp bạn nho nhỏ để đàn hát.
Anh Lê Tấn Lộc dù nhỏ con, nhưng nhờ lên sân khấu đơn ca hoặc hợp ca mà hầu hết nữ sinh trường Cao Tiểu Vĩnh Long mê anh như điếu đổ. Tôi còn nhớ có một anh bạn khác ở gần nhà của một ông đốc học trường làng. Hai nhà cách nhau một cái hàng rào thấp sơn xanh. Mỗi khi ngồi học bài ở áp cửa sổ căn buồng dành cho mình, anh bạn hiền lành của tôi có thể nhìn rõ khung cửa sổ của buồng cô con gái lớn của ông ta.
Anh học chăm lắm. Nhưng đời nào cô hàng xóm kiều diễm đang độ sen ngó đào tơ kia thèm ngó ngàng tới anh, dù anh cũng khá bảnh trai. Một hôm, không hiểu nghĩ sao, anh bạn tôi mua cây đàn guitare hawaienne và bộ móng sắt cùng quyển “Tự Học Hạ-Uy-Cầm”. Anh rị mọ mất nửa năm mới chơi bản “Moonlight in Honolulu” thật sành sỏi. Từ bản nhạc kia, anh tập đánh bản “Ngày Về” của Hoàng Giác cùng một lô bản khác. Vào đêm trăng sáng, anh thường chơi Hạ-uy-cầm. Lúc đầu khung cửa sổ bên kia chỉ lồng khuôn mặt cô trưởng nữ của ông đốc học. Thét rồi có thêm khuôn mặt cô gái thứ và cô gái út. Và những đêm sau, khung cửa sổ lồng thêm những khuôn mặt khác, tóc kết bím có, tóc kẹp sau gáy có, tóc xõa như tóc gái Huế có, tóc uốn quăn cũng có luôn! Ít lâu sau, bà đốc học dẫn cô trưởng nữ qua nhà anh bạn của tôi, chì chiết với mẹ anh sao đó nên anh phải cưới cô ta lúc đó ôm cái bầu được ba tháng. Tác giả cái bầu kia, tôi khỏi cần phải nói dông dài thì các bạn độc giả cũng có thể đoán ngay là chàng nghệ sĩ chơi bản “Moonlight in Honolulu” rồi.
Tôi cũng còn nhớ vào năm 1951, tôi có dịp đi An Hương thăm chú Chín tôi. An Hương chỉ cách châu thành tỉnh Vĩnh Long 15 cây số, nhưng lại lọt về vùng chiếm đóng của Việt Minh. Khi ngồi ở trong chiếc quán lợp lá tại làng An Hương, cách Vĩnh Long chừng 10 cây số chờ cho cơn mưa tạnh, tôi gặp một anh công tác thành hãy còn trẻ, còn có vẻ thị thành. Cả hai ngồi ở hai chiếc bàn trống, không nói không rằng gì với nhau. Bỗng anh hứng lên hát một vài bài hát của Lê Thương rồi bắt qua bài “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý. Tiếng anh thanh và ngọt lịm, dù anh không biết ngân nga, nhưng vẫn làm tôi ái mộ. Tôi đến bàn anh, gợi chuyện làm quen với anh. Năm 1955, tôi gặp anh làm việc cho một cơ quan Công Dân Vụ ở gần nhà tôi, tức là ở xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long. Anh cho biết anh bị “họ” buộc tội ưa hát nhạc lãng mạn của bọn “Việt gian ngoài thành” (sic) nên bị buộc làm tờ khai và viết tờ phản tỉnh. Rất nhiều phen, anh tìm cách trốn ra ngoài thành phố Vĩnh Long trước khi bị họ gom đến địa điểm lên tàu tập kết ra Bắc. Anh nghĩ rằng chỉ ở lại miền Nam, anh mới có thể nghe và hát những nhạc trữ tình mà anh thích.
Trong thời gian chiến tranh sắp kết liễu, nhạc tình cảm ủy mị càng lấn chiếm nhạc hùng. Chương trình nhạc yêu cầu của đài Pháp Á được giới mộ điệu ở Nam Kỳ Lục Tỉnh say mê. Họ yêu cầu ca sĩ X hát bản nhạc Y của nhạc sĩ Z để tặng bạn bè lẫn người bạn lòng của họ. Tên người yêu cầu lẫn tên người dược tặng nhạc được cô xướng ngôn viên đọc trên làn sóng điện. Sáng Chúa nhật nào, đài Pháp Á cũng trực tiếp truyền thanh chương trình tuyển lựa ca sĩ tại rạp Norodom (về sau đổi tên lại là rạp Thống Nhất) nằm trên Boulevard Norodom (về sau đổi lại là Đại lộ Thống Nhất). Cuộc tuyển lựa có phần phúc khảo, ba tháng sau là cuộc thi bán kết rồi chót hết là phần chung kết. Ai dẫu có hát gãy, hát hụt hơi, ai rủi lên cao thì tét xuống trầm thì nghẹt, nhưng nếu hát đúng nhịp và đừng bỏ cuộc nửa chừng thì được ban giám khảo tặng số điểm trung bình là 13 điểm. Đi xem tuyển lựa ca sĩ thật vui. Các cậu thanh niên rắn mắt và liếng khỉ thường đem cái tu-hít theo. Gặp thí sinh nào mà hát xệ quá là họ huýt sáo hoặc thổi tu-hít hoét hoét để chọc quê.
Dù sao chương trình tuyển lựa ca sĩ cũng đã tuyển chọn được anh chàng có vóc người nhỏ thó, có hàm răng vẩu, đôi mắt ti hí trên khuôn mặt nổi mụn như cái bánh tráng nướng. Anh ta có cái nghệ danh là Tùng Lâm. Sắc vóc anh thì phản phúc với tấm lòng hoài vọng của hai đấng sinh thành ra anh, nhưng giọng hát của anh mùi mẫn kinh khủng! Chỉ tiếc là nó sớm hư vữa cho nên anh phải làm hề chuyên môn cù lét khan thính giả trong các màn hài kịch. Về sau nghệ sĩ Tùng Lâm của chúng ta cùng với cô vợ Bạch Lan Thanh xinh như mộng của anh có một chương trình tạp lục trên đài truyền thanh lẫn đài truyền hình. Anh được báo chí và khán giả âu yếm tặng cho anh cái hỗn danh: anh hề Tùm Lum.
Chương trình tuyển lựa ca sĩ của đài Pháp Á cũng đã chọn được cô Nguyễn thị Bạch có dáng dấp nữ sinh và cô Đào thị Ngọc Hà có đôi mắt nai vàng ngơ ngác. Hai cô trang điểm phấn son vụng về, không dám mạnh tay. Cả hai cũng không dám độn ngực và mặc “xú-cheng” mà chỉ mặc cái áo cánh rồi khoác chiếc áo dài bên ngoài. Nhưng khi được tuyển chọn ở phần chung kết, Nguyễn thị Bạch trở thành nữ ca sĩ Hoàng Yến, còn Đào thị Ngọc Hà trở thành nữ ca sĩ Bích Thủy. Từ đó họ bắt chước các ca sĩ đàn chị để trang điểm ăn mặc trước khi bước ra sân khấu.
Phạm Duy khởi nghiệp là một ca sĩ hát phụ diễn cho gánh cải lương Đức Huy. Đó là một gánh hạng B (loại trung ban). Anh sáng tác nhạc sau đó, nhưng nhạc anh lại vượt giọng hát anh quá xa trong tấm lòng ngưỡng mộ của giới sành điệu. Thét rồi thiên hạ chỉ yêu mến nhạc sĩ Phạm Duy mà quên phắt đi anh chàng ca sĩ Phạm Duy. Khi vào Sài Gòn lập nghiệp, Phạm Duy có hát thâu dĩa Việt Nam những bản như “Tiếng Đàn Tôi”, “Gánh Lúa” và “Tình Ca” (hai bản sau anh hát chung với Thái Thanh). Thật tình mà nói, giọng hát của anh lúc đó hơi rồ, âm sắc không có gì đặc biệt, không gợi một hình đẹp, một ấn tượng đẹp trong tâm tưởng khán thính giả. Buồn cười nhất ở bài “Gánh Lúa”, lúc cao hứng anh ngoáy mạnh hai chữ “kĩu kịt” trong câu “lão bà tóc trắng kĩu kịt quang gánh” làm thính giả phá ra cười. Cái mộng Phạm Duy là muốn vừa sáng tác nhạc vừa hát những bài hát của mình. Cái mộng của anh là trở thành một Georges Brassens Việt Nam. Ông Brassens sáng tác nhạc hay, đặt lời đẹp như những câu thơ. Ông ta hát những bài nhạc của ông và hốt bạc của bọn khán giả thời thượng của Pháp không phải là ít. Nhưng than ôi, giọng ông ta dở quá. Kẻ sành nhạc có nhận định nghiêm chỉnh và không có óc thời thượng thì thấy rằng ông Brassens quá tham lam, quá ích kỷ muốn cướp cơm chim của các ca sĩ rành nghề. Bọn trí thức Pháp nhất là bọn tả khuynh thì hầu hết là những kẻ thời thượng một cách bỉ ổi đáng ghét, ưa đánh bóng một cách vô trách nhiệm, một cách bừa bãi những giọng hát dở như những giọng của Geoges Brassens, của Jacques Brell và của Renaud. Đành rằng nhạc của họ hay, lời hát của họ đẹp. Nhưng giá những bài hát đó được diễn tả bằng những giọng đẹp của những ca sĩ lành nghề có phải điệu nghệ hơn không. Nữ ca sĩ có giọng hát chân truyền là Colette Renard có lần bảo rằng:
— Các ông nhạc sĩ có tài nên để bài hát mình cho ca sĩ chuyên nghiệp hát là phải hơn. Bây giờ tôi tự hỏi nếu ông Georges Brassens hoặc anh Phạm Duy đến trình diễn ở nước mà khán thính giả không biết tiếng Pháp và tiếng Việt. Như vậy, thính giả chỉ thưởng thức được ý nhạc, chứ làm sao thưởng thức được lời hát của cả hai.
Nhạc dẫu hay mà bị diễn tả bởi giọng dở thì khác nào phẩm tiên bị chuột vọc. Ông Brassens và anh Phạm Duy khi hát trước những khán thính giả ấy thì chẳng có cơ hội giới thiệu lời đẹp của nhạc phẩm họ, mà chỉ trình bày cái giọng thiếu căn bản nghệ thuật làm cho ý nhạc bị ô nhiễm một cách oan uổng mà thôi. Bởi đó, có lần ca sĩ Renaud qua bên Mạc-tư-khoa trình diễn, nhưng anh ta chỉ hát được vài bài là khán giả Nga bỏ ra về gần hết. Là dân Nga, họ làm sao thưởng thức được lời hát đẹp bằng tiếng Pháp của anh ta, mà chỉ bị giọng
hát dở của anh hiếp dâm lỗ tai họ mà thôi. Phạm Duy hồi cho giọng thâu dĩa nhựa thì hát hay hơn Georges Brassens nhiều. Nhưng đó là giọng tài tử của một nhạc sĩ thiên tài kiêm một thi sĩ lỗi lạc. Khi anh Phạm Duy chưa vào tuổi trung niên mà giọng anh đã có cái gì không ổn đối với thính giác người nghe rồi. Cho nên khi anh làm cuộc du ca, tôi tin chắc những người ái mộ anh vì nhạc của anh chứ không phải vì giọng ca của anh. Trong số nhạc sĩ chẳng những biết ca mà còn ca hay đã có Ngọc Bích (khi hát lấy biệt danh là Kim Ngọc), Phạm Đình Chương (khi ca hát lấy biệt danh là Hoài Bắc), Hoàng Giác, Trọng Khương, Mạnh Phát. Và tuy
các nhạc sĩ Tuấn Khanh (khi hát lấy tên Trần Ngọc), Nhật Bằng, Thu Hồ hát không hay, nhưng vẫn giữ được khuôn nếp, giữ được căn bản của một ca sĩ. Giọng Ngọc Bích và giọng Trọng Khương có âm sắc đẹp và quyến rũ gợi nên hình ảnh giòng sông êm đềm chảy dưới bầu trời nắng đẹp. Tiếng hát của họ khoẻ khoắn, trơn ngọt, dịu dàng; chuỗi ngân của họ thật đều đặn, khít khao và óng ả. Thanh Thoại, Nguyễn Hữu Thiết, Duy Khánh và Chế Linh ca hát trước, sáng tác nhạc sau. Giọng Thanh Thoại lu chìm và nhạt nhẽo, phần ngân nga khi có khi không. Nhạc phẩm của anh là “Chiều Quan Ai”, “Mấy Xuân Rồi” chỉ nổi tiếng một dạo rồi khuất lánh dần sau Hiệp định Genève.
Nguyễn Hữu Thiết cũng sọan nhiều nhạc nhưng bản mà thiên hạ nhớ hoài là “Màu Áo Thiên Thanh” vì được giọng hát đậm đà của Thái Thanh diễn tả. Duy Khánh nổi tiếng ở các bản “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê”, “Ai Ra xứ Huế”, còn Chế Linh khi sáng tác nhạc thì lấy biệt hiệu là Tú Nhi. Tôi sẽ nói tới giọng hát của Duy Khánh và Chế Linh ở những chương sau, tức là ở phần ca nhạc vào thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa.
Về sau có khá nhiều ngưòi vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ như Từ Công Phụng, Trịnh Công Sơn, Vũ Đức Sao Biển, Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Lê Uyên Phương, Ngô Mạnh Thu … Đó là những nhạc sĩ du ca. Hát đạt chỉ tiêu nghệ thuật có Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng và Miên Đức Thắng.
Trong những du ca mà tôi vừa nêu lên đây, có lẽ nhạc của Lê Uyên Phương hay nhất, sau mới tới Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Miên Đức Thắng, Vũ Đức Sao Biển, Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu. Ngoài ra có rất nhiều du ca sáng tác nhạc xoàng, lời xoàng, đã vậy giọng hát họ nhạt nhẽo cho nên kẻ có ác mồm gọi đó là “phong trào da cu” (nói lái tiếng”du ca”).
Trong làng ca nhạc còn có hiện tượng thần đồng ca nhạc. Năm 1950, đài Pháp Á có Thần đồng Yến Tuyết ca hát thật nghề. Sau đó là các thần đồng Huỳnh Mai, Kim Ánh, Lê Phi, Lê Út, Xuân Mai, Quốc Thắng. Cả năm thần đồng nầy đều có giọng tốt, nhưng không biết ngân nga. Lê Phi, Lê Út, Xuân Mai và Quốc Thắng được mời hát ở các chương trình phụ diễn tân nhạc. Sáng chói nhất là Quốc Thắng vì đương sự khi bước ra sân khấu là đem lại cái hào quang rạng rỡ ở nhân dáng và cách diễn tả bài hát rất sinh động. Riêng Lê Phi được mời thâu giọng cho dĩa Asia qua ca khúc “Tiếng Hát Dân Chàm” của Châu Kỳ. Nhưng ca hát điệu nghệ nhất là hai anh em Anh Minh và Đoan Trang (con của Minh Trang), hai chị em Bích Chiêu và Tuấn Ngọc (con của Lữ Liên), hai chị em Mai Hương và Bạch Tuyết (con của cặp Kiều Hạnh và Phạm Đình Sĩ).
Lại có thêm Bạch Yến và Mai Hân. Những cô cậu ca sĩ tí hon nầy hát như người lớn, biết ngân nga rựa ràng lắm. Mai Hương mà hát “Bà Mẹ Nuôi” (tức là “Bà Mẹ Gio Linh”) của Phạm Duy thì giọng hát giống giọng Thái Thanh 80% làm mủi lòng biết bao khán giả. Còn hai anh em Anh Minh và Đoan Trang cùng song ca “Dưới Nắng Hồng” của Dương Thiệu Tước thật điệu nghệ tuyệt vời. Những ca sĩ tí hon kia khi lớn lên còn đeo đuổi nghiệp cầm ca phải kể: Mai Hương, Đoan Trang (tức là nữ ca sĩ Quỳnh Giao về sau), Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Mai Hân, Bạch Yến. Trong cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, vào năm 1951, trong làng ca nhạc tại Sài Gòn có xảy ra một biến cố khá quan trọng: Đó là Quái Kiệt Trần văn Trạch cùng hai nhạc sĩ Lê Thương và Phạm Duy bị bắt giam tại bót Catinat. Cả ba phải bị “nằm ấp” 120 ngày mới được phóng thích. Lý do? Theo lời Phạm Duy trong quyển Hồi ký III thì:
Một nhóm ca nhạc sĩ mà tôi chẳng cần phải nêu tên ra đây, ghen tị tài nghệ đã đành, lại có ý tranh thương trước sự kiện chúng tôi quá thành công trong một ngành nghệ thuật đã trở thành thương phẩm hay thương vụ. Trước khi trở thành ca nhạc sĩ, trong khi mọi người đi kháng chiến, họ là những thanh niên ở trong thành và cộng tác với Pháp, nói thẳng ra là làm mật thám cho Phòng Nhì (Deuxième Bureau). Chính phủ (gọi là quốc gia) được thành lập thì mấy người nầy được chuyển qua làm việc trong Sở Công An Nam Phần, lúc đó nằm trong tay Mai Hữu Xuân, Trần Bá Thành. Các ca nhạc sĩ làm nghề Công An không được Đài phát thanh và hãng dĩa hát mời hát nhiều. Nếu họ đứng ra tổ chức Đại Nhạc Hội, đụng độ với chúng tôi, buổi diễn của họ sẽ vắng khách. Muốn triệt hạ chúng tôi, không khó gì cả, những ca sĩ kiêm công chức công an nầy bèn vu ngay cho chúng tôi là Việt Minh nằm vùng! Thế là vào một ngày cuối năm 1951, Lê Thương, Trần văn Trạch và tôi được cảnh sát công an tới nhà, còng tay, đưa lên xe cây bít bùng về khám Catinat. … Chúng tôi bị giam tại cái khám nổi tiếng ác liệt nầy trong 120 ngày. Từ ngày bị bắt cho tới ngày được thả, đối với ba anh chàng nghệ sĩ, không có bản án ghi tội danh và một buổi hỏi cung nào cả.
Vào năm 1953, ban Thăng Long phối hợp cùng Võ Đức Thu, Trần văn Trạch và vũ bộ Mỹ An thành lập ban Gió Nam đi lưu diễn ở Huế, Hà Nội, Hải Phòng, tới đâu cũng được ủng hộ nhiệt liệt, nhất là ở Hà Nội. Ban Gió Nam trụ diễn ở Hà Nội một tháng. Võ Đức Thu có dịp trình tấu dương cầm hai bản “An Phú Đông” và “Một Ngày Đã Qua” của mình. Hai bài nầy tuy có lời hướng về phe kháng chiến, nhưng nhạc lại tha thiết. Bài “Một Ngày Đã Qua” đã từng được Hải Minh (Trần văn Khê) hát trong dĩa nhựa Asia như sau:
Bao ngày qua
Mà lòng ta luống xót xa
Biết bao chiến sĩ phương xa
Liều máu xương vì nước non nhà.













