Theo Chân Những Tiếng Hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 22 Dec 2025

Chương 1

Một Thoáng Hương Xưa

Hồi hai thập niên 30 và 40, mấy cô mấy chú của tôi thường hát nhạc Tây lời Tây. Mấy bản do Tino Rossi, Albert Préjan, Lucienne Boyer được họ chiếu cố đặc biệt. Cô tôi vẫn ưa nhái theo nữ tài tử Joséphine Baker hát bài “J’Ai Deux Amours” trong các buổi họp bạn. Chú tôi vừa phì phà điếu thuốc Mélia vừa hát vừa huýt sáo bản “Une Chanson pour Nina” điệu bộ y chang như ca sĩ kiêm tài tử điện ảnh Tino Rossi. Ngoài ra, họ còn thích các bản dân ca cổ truyền như “Il Était un-Petit Navire”, “Chevaliers de la Table Ronde”, “Auprès de ma Blonde”, “Au Clair de la Lune” … Bài “Auprès de ma Blonde” (“Gần Cô Em Tóc Vàng của Tôi”) vẫn là bài trữ tình với những lời âu yếm thơ mộng như sau:

Dans le jardin d’ mon père

Les lilas sont fleuris (bis)

Tous les oiseaux du monde

Viennent y faire leur nid

Auprès de ma blonde, qu’il fait bon, fait bon, fait bon!

Auprès de ma blonde, qu’il fait bon dormir!

Còn bài “Chevaliers de la Table Ronde” tuy là hành khúc nhưng vẫn là lời bát ngát men rượu bồ đào:

Si je meurs, je veux qu’on m’enterre

Dans une cave où y a du bon vin

Dans une cave! Oui! Oui! Oui!

Dans une cave! Non! Non! Non!

Dans une cave où y a du bon vin.

(Nhắc lại đoạn chót).

Các bài hành khúc của nước Pháp đều có lời phóng khoáng hoặc lời tình tứ trừ bài Quốc Thiều “La Marseillaise”. Còn bài nhạc hùng của xứ mình thì toàn những lời yêu nước, những lời nung chí phấn đấu tinh thần yêu nước, gầy dựng giang san, đoàn kết ba miền Nam Trung Bắc. Vào thời thanh niên yêu nước bắt đầu ló mòi chống Pháp, dẫu chưa có ai đặt nhạc, nhưng vẫn có người dùng bài tình tứ “Auprès de ma Blonde” để đặt lời Việt thật thiết tha như sau:

Anh em quyết tâm một lòng

Cảm thông một đích tối cao

Sao không giúp cho mọi người?

Người dân tâm chí lớn lao

Yêu dấu đất nước nhà ta

Trung với đất nước nhà ta

Dù rằng gặp nguy khốn, thề vẫn không ngã

lòng bao giờ

Dù rằng gặp nguy khốn, thề vẫn không ngã lòng,

người ơi!

Khi tôi bắt đầu học lớp dự bị bậc tiểu học thì tôi được nghe các thanh niên trong xóm hát bài “Cô Lái Đò Mơ” của Dzoãn Mẫn với những câu buồn rười rượi như sau:

Dừng chèo lại đây cô lái đò ơi,

Dừng chèo lại đây giây phút ngừng bơi

Cho tôi sang đến bên sông xa vắng

Rồi đây đôi ngả cách xa mình tôi.

Rồi sau năm 1945, trong lúc khắp ba miền Bắc Trung Nam chìm trong khói lửa ngập trời, tôi được nghe nhiều bản nhạc hùng khác. Tiếc thay mãi tới năm 1948 mới có những ca sĩ tài tử ca những bản nhạc hùng ấy và cho thâu thanh vào dĩa nhựa. Thuở đó, nhạc hùng và ngay cả một số đông nhạc du dương có lời xây dựng tinh thần yêu nước. Chẳng hạn bài “Dứt Đường Tơ” với tiết điệu êm ái làm rung cảm những tâm hồn lãng mạn, nhưng lời của bản nhạc lại nhắn nhủ quốc dân đồng bào nên từ bỏ những mơ mộng sầu tình để hưởng ứng

tiếng gọi non sông:

Tóc tang còn âm u trong gió

Thiết tha chi những nỗi hoài mong

Đàn lẻ cung thôi đừng buông tơ

Đắm hương tình khi đang giông tố.

Non nước đang tràn máu anh hùng

Đừng mơ ái ân, đàn ơi!

Dù là thứ nhạc được hâm mộ bởi thanh niên thuộc thế hệ trước thế hệ tôi hay dù là thứ nhạc phấn khích lòng yêu nước thích hợp cảm quan quần chúng, hoặc dù là thứ nhạc lãng mạn sầu tình, song thứ nhạc nào cũng tác dụng vào nội giới của tôi nhiều ý tình thật thiết tha. Tôi đi vào cõi tiết điệu và âm thanh bằng những rung cảm tuyệt vời, bằng hoài bão đóng góp cho bộ môn nầy mai sau, tuy tôi không biết ca hát, đờn địch hoặc sáng tác hòa âm gì ráo trọi. Nhưng tôi vẫn giữ niềm tin mai sau tôi sẽ “làm được cái gì” cho âm nhạc. Thì đây, công

việc kể truyện sự thăng trầm hưng phế của bộ môn ca nhạc há không phải là một sự đóng góp hay sao, dù là sự đóng góp yếu ớt và tiêu cực đi nữa?

Ở quyển nầy, tôi xin viết về bộ môn ca nhạc trên sân khấu Đại nhạc hội và viết về các giọng hát tân nhạc của các đài phát thanh, trong làng dĩa nhựa. Ở chương cuối, tôi sẽ viết chút ít về môn thoại kịch, về vũ bộ và viết luôn về các giọng diễn ngâm trong ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên do thi sĩ Đinh Hùng sáng lập.

Các bạn độc giả chắc sẽ chê rằng tác giả quá ôm đồm, bốn mâm xôi nhồi chung một chõ thì e rằng chẳng có món xôi nào ra hồn. Nhưng tôi biết làm sao hơn! Vì rằng tôi viết quyển nầy bằng hồi ức của mình, không có tài liệu tham khảo. Xôi dù có dở, nhưng vẫn đem lại đôi chút hiểu biết về các ngành ca vũ nhạc kịch cho những người yêu các bộ môn trình diễn từ thuở phôi thai cho tới ngày chung cuộc của miền Nam tự do là ngày 30/4/75.

Tôi không nhớ rõ tôi thích các bộ môn ca vũ nhạc kịch từ năm nào. Chỉ biết rằng, thuở đó tôi lên 10 tuổi thì phải. Tôi có dịp nghe nữ nghệ sĩ ngành ca kịch cải lương vốn gốc người Bắc tên là Ái Liên (mẹ của nữ ca sĩ Ái Vân bây giờ) hát thu thanh vào dĩa nhựa của hãng Béka một số bài Tây lời Việt. Sau đó, tôi lại có dịp nghe nhạc sĩ kiêm ca sĩ Đức Quỳnh hát những bản do chính anh sáng tác là “Nhớ Mẹ”, “Đời Tôi Một Bóng”. Hai bản nầy thu thanh vào dĩa Asia tròng trắng chữ lục. Tôi cũng được nghe Trần văn Trạch và Túy Hoa hát chung bài “Hứa Hẹn”, Trần văn Trạch đơn ca bản “Ba Giờ Khuya” của Đức Quỳnh và bản “Người Chơi Độc Huyền” của Lê Thương (độc huyền nói theo tiếng Bắc tức là đàn bầu — monocorde). Giọng hát của Trần văn Trạch và Túy Hoa được thâu âm vào dĩa nhựa Polyphone. Tiếp theo đó, vào năm 1948, các nữ danh ca Minh Diệu, Mộc Lan, Kiều Nga cùng các nam ca sĩ Mạnh Phát, Châu Kỳ, Vĩnh Lợi cộng tác với hãng dĩa Polyphone để thâu các bản như sau:

— Bản “Trầu Cau” nhạc và lời của Phan Huỳnh Điểu do Minh Diệu, Mạnh Phát và Vĩnh Lợi ca.

— Bản “Đàn Chim Việt”, nhạc và lời của Văn Cao do Mộc Lan và Châu Kỳ ca.

— Bản “Trên Sông Hương” nhạc và lời của Nguyễn văn Thương do Minh Diệu ca.

— Bản “Ai Về Sông Tương” nhạc và lời của Thông Đạt do Mạnh Phát ca.

— Bản “Biệt Ly” nhạc và lời của Dzoãn Mẫn do Mộc Lan ca.

— Bản “Ngày Về” nhạc và lời của Hoàng Giác do Minh Diệu ca.

— Bản “Bến Cũ” nhạc và lời của Anh Việt do Minh Diệu và Mạnh Phát Ca.

— Bản “Hoa Thủy Tiên”, nhạc và lời của Lê Thương do Minh Diệu ca.

— Bản “Dứt Đường Tơ” nhạc của Văn Thủy, lời của Dzoãn Cảnh do Minh Diệu ca.

— Cũng bản “Dứt Đường Tơ” nhưng lại do Kiều Nga ca.

— Bản “Chiều Vàng” nhạc và lời của Nguyễn văn Khánh do Kiều Nga ca.

Từ các giọng hát của Minh Diệu, Mộc Lan, Kiều Nga, Mạnh Phát và Châu Kỳ, tôi lần lượt tìm nghe những giọng hát đi trước những ca sĩ nầy. Đó là giọng của Văn Thiệt, Việt Hùng, Nguyễn Việt và của cô Ngọc Hà. Những giọng nầy đều được thu thanh, phần nhiều là cho hãng dĩa Việt Nam, còn những hãng khác thì tôi không nhớ. Tôi xin kể đại khái như sau:

— Bản “Khúc Khải Hoàn” của Lưu Hữu Phước do Việt Hùng ca.

— Bản “Bạch Đằng Giang” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt ca.

— Bản “Trên Sông Bạch Đằng” do Ngọc Hà và Văn Thiệt ca.

— Bản “Chi Lăng” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt ca.

— Bản “Xuất Quân” nhạc và lời của Phạm Duy do Việt

Hùng ca. Về sau, trên sân khấu Hương Hoa, Việt Hùng mặc quân phục sĩ quan, hát bản nầy làm cho các nữ khán giả mê mẩn rụng rời.

— Nhạc kịch “Huyền Trân Công Chúa” của Lê Thương do Nguyễn Việt và Ngọc Hà ca.

— Bản “Tiếng Hờn Trong Gió” của Văn Thanh do Ngọc Hà ca.

— Bản “Thiếu Sinh Việt Nam” của Lưu Hữu Phước do Văn Thiệt và Ngọc Hà ca.

Ngoài ra hãng Asia cũng có thu giọng Ái Liên, Kim Chung và Lê Thương, được phân phối như sau:

— Bản “Thằng Cuội” nhạc và lời của Lê Thương do Ái Liên ca.

— Bản “Học Sinh Hành Khúc” nhạc và lời của Lê Thương do Kim Chung và Lê Thương song ca.

— Bản “Lòng Mẹ Việt Nam” nhạc và lời của Lê Thương do Kim Chung ca.

Còn những dĩa Oria từ bên Pháp gửi về với các nam ca sĩ Văn Lý, Hải Minh (một biệt hiệu của Trần văn Khê), Hoàng Lan và Bích Thuận:

— Bản “Con Thuyền Trên Sóng” nhạc và lời của Lê Xuân Ái do Hải Minh ca.

— Bản “Hoà Bình 48” nhạc của Lê Thương do Hải Minh ca.

— Bản “Thanh Niên Ơi” nhạc và lời của Thẩm Oánh do Hải Minh ca.

— Bản “Nhớ Ai” nhạc và lời của Võ Đức Thu do Văn Lý ca.

— Bản “Bóng Ai Qua Thềm” của Văn Chung do Hoàng Lan ca.

— Bản “Chùa Hương” nhạc và lời của Hoàng Quý doHoàng Lan ca.

— Bản “Tiếng Hát Dân Quê” của Nguyễn văn Khánh do Bích Thuận ca.

— Bản “Suối Mơ” nhạc và lời của Văn Cao do Văn Lý ca.

Những dĩa hát từ ngoài Bắc đem vào Nam có:

— Bản “Đoàn Lữ Nhạc” của Đỗ Nhuận do Kim Chung ca.

— Bản “Chiều Vàng” của Nguyễn văn Khánh do Kim Chung ca.

— Bản “Cô Tú” do Ngọc Bảo ca.

— Bản “Nương Chiều” của Phạm Duy do Ngọc Bảo ca.

Thuở đó, tuy nghe những giọng hát tiền phong và thời danh đó nhưng tôi không thích lắm bởi vì ngành nhạc Tây lời Việt và ngành Tân nhạc nước nhà không thấm sâu vào tâm hồn tôi bằng cổ nhạc cải lương Nam kỳ. Vào cuối niên học lớp Đệ Thất, tôi được xem anh Lê Tấn Lộc, anh ruột của nhà văn Kiệt Tấn đang học năm thứ ba chương trình Thành Chung leo lên sân khấu hát bài “Khúc Hát Sông Thao” của Đỗ Nhuận. Anh có giọng ấm và vang dội làm tôi liên tưởng đến những dòng trường giang chảy cuồn cuộn trên đất nước miền

Nam, trong đó có dòng Cổ Chiên chảy qua tỉnh Vĩnh Long của chúng tôi. Tôi mê say uống từng đợt âm thanh tuôn từ miệng anh xuyên qua máy vi âm để rải khắp hí viện. Đó là lần đầu tiên tôi được xem một người hát trên sân khấu. Đó cũng là lần đầu tiên tôi thích một giọng hát, dù đó là một giọng hát tài tử tuy có làn hơi mạnh nhưng còn non kém kỹ thuật, nhưng vẫn là một giọng hát gây sôi nổi trên sân khấu học đường vào dịp lễ phát phần thưởng vào cuối niên học. Tôi không dè, trong thời gian bị đi học tập cải tạo dưới chế độ Cộng Sản, anh Lộc tập sáng tác nhạc. Và vào năm 1992, anh cho đăng các bản nhạc mà anh trước tác đăng trên nhiều báo ở hải ngoại.

Song song đó, anh viết truyện ngắn, viết phóng sự về sinh hoạt giới cầm bút. Những bài nầy được đăng trên báo Sóng ở Montréal (Gia-nã-đại) hay đặc san Phù Sa Sông Cửu ở Texas (Hoa Kỳ) và tạp chí Thế Kỷ 21 ở California (Hoa Kỳ). Cũng thuở xưa, tôi có dịp ngắm bà Nguyễn thị Sương, giáo sư dạy môn Anh văn lớp Đệ thất của tôi hát. Bà là vợ của nhà nhạc học Trần văn Khê và cũng là mẹ của nhà nhạc học Trần Quang Hải. Đó là người đàn bà đầu tiên đỗ bằng Tú tài Pháp ở tỉnh tôi. Cô tôi đẹp, thanh lịch, ăn nói dạn dĩ và duyên dáng. Cô thường hát cho các học trò của cô ngay trong lớp học nghe. Tôi chỉ còn nhớ mang máng rằng có một hôm nào đó, cô mặc chiếc áo mousseline đen in bông huệ màu hoàng yến và màu hồng đào rất choáng lộn. Cái hình ảnh ấy in sâu đậm vào ký ức cậu học sinh 11 tuổi thuở ấy là tôi đây, khó phai mờ cho tới bây giờ. Cô hát bài “Xa Quê” của Lê Quang Nhạc, bài “Trở Về” của Châu Kỳ bằng một giọng thật trong ấm, bằng chuỗi ngân nhỏ mức. Tôi thầm nghĩ rằng nếu cô chán nghề dạy học, chọn nghề trình diễn thì cũng không có gì sai hỏng. Lúc hát cô làm màu mè giống như cô đào Jane Powell trong cuốn phim ca nhạc tô màu Technicolor. Tôi không ngờ, anh Lộc lẫn cô Sương gieo cho tôi một chút đam mê về nghệ thuật trình diễn để rồi sau nầy tôi có dịp đi xem ca kịch cải lương, xem những buổi Đại nhạc hội, chút đam mê ấy lớn dần và bám theo cuộc đời tôi cho tới bây giờ vẫn chưa dứt.

Trước đó, dù không biết thưởng thức bản nhạc hay dở ra sao, nhưng tôi vẫn thích hát những bản có dạy trong chương trình lớp nhứt bậc tiểu học và trong chương trình lớp Đệ thất bậc trung học như “Khỏe Vì Nước”, “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”, “Hè Về” của Hùng Lân, “Nhà Việt Nam” và “Quyết Tiến” của Võ Đức Thu, “Bóng Cờ Lau” và “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Hoàng Quý, “Con Đường Vui” nhạc của Lê Vy nhưng lời của Phạm Duy, “Đón Gió Mới” của Ngọc Bích, “Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng” và “Hò Leo Núi” của Phạm Đình Chương. Đó là những ca khúc vui tươi nhằm khơi dậy niềm lạc quan và ý chí phấn đấu cho thanh thiếu niên. Và tôi cũng rất thích hát những lời hát sửa đổi nhảm nhí trong những bản hát nổi tiếng. Chẳng hạn:

Khoẻ vì nước bánh ướt tôm khô

Đoàn thanh niên ta ních mười tô.

(Điệu “Khỏe Vì Nước”)

hoặc:

Rờ mềm mềm, bóp êm êm

Rờ một cái muốn rờ thêm.

(Điệu “Hè Về”)

hoặc:

Chiều ơi, lúc chiều về gặp vợ lấy trai

Vác chày vồ đập vợ tét hai .. , ở tù

(Điệu “Nương Chiều”)

và hoặc:

Em có chồng sao em không nói?

Để anh theo anh chọc em hoài

Chắc có ngày anh ăn dao phay …

(Điệu “Hà Nhật Quân Tái Lai” hay là “Tango Chinois”)

Từ giọng hát học trò của anh Lê Tấn Lộc, tôi bắt đầu mê giọng hát của những ca sĩ trong các phim ca nhạc như Mario Lanza, Vic Damone, Howard Keel, Frank Sinatra, André Claveau, Luis Mariano … (bên nam), Katryn Grayson, Jane Powell, Judy Garland … (bên nữ). Nhưng trong phim ca nhạc vẫn có những màn nhảy múa với các ngôi sao Fred Aster, Gene Kelly … (bên nam), Cyd Charisse, Leslie Caron … (bên nữ). Lại còn cô nữ tài tử Esther Williams bơi lội và múa dưới nước nữa chi. Phim ca nhạc lôi kéo mộng tưởng tôi vào biết bao chuyện thần tiên diễm ảo kỳ thú. Nhưng dù có say sưa choáng ngợp ngành ca vũ của người ngoại quốc, song trong thâm tâm, tôi vẫn thích cây nhà lá vườn, thích ta về ta tắm ao ta hơn.

Về sau nầy, khi bắt đầu tìm hiểu các bộ môn nghệ sĩ trình diễn, tôi được biết Mạnh Phát vốn là một công chức ở tòa tân đáo, chuyên coi về các ngoại kiều đến Việt Nam định cư như người Chà-và hay người Khách trú chẳng hạn. Thu Hồ thì làm việc ở Đông Dương Ngân Hàng (Banque de l’Indochine), còn Đức Quỳnh thì chuyên nghề dạy đờn guitare và có một tiệm đờn ở đường Hamelin (dưới thời Cộng Hòa được gọi là đường Hồ văn Ngà). Minh Diệu là vợ của Mạnh Phát. Riêng Châu Kỳ và Mộc Lan thì là dân xứ Huế yêu thích âm nhạc nên dấn thân vào ca giới nhạc trường chứ không có một nghề chuyên môn nào. Kim Chung, Bích Thuận, Túy Hoa, Việt Hùng đều là nghệ sĩ của ngành ca kịch cải lương. Văn Thiệt là công chức. Còn cô Ngọc Hà là ca sĩ tài tử. Chị ruột của Ngọc Hà là nữ nghệ sĩ Ngọc Hải đã từng sáng chói trên các sân khấu Năm Châu, Phụng Hảo. Ngọc Hải hát nhạc Tây lời Việt cũng rất hay và nổi tiếng qua ca khúc “Sérénade Sans Espoir”.

Mạnh Phát có khuôn mặt khôi ngô, tóc dợn sóng trước trán, sắc mặt điềm đạm. Sau nầy hãng phim Mỹ Vân thực hiện phim “Tình Quê Ý Nhạc” thì có mời anh cùng nữ ca sĩ Mộc Lan đóng vai chánh. Giọng hát của Mạnh Phát chỉ đẹp ở âm sắc (timbre), nhưng không phong phú và vang lộng ở âm lượng (volume). Anh ngân nga cũng không điêu luyện, chỉ được vài lượn nhỏ lăn tăn. Nhưng đây là một giọng hát đẹp làm người nghe liên tưởng đến một chàng trai hào hoa mã thượng. Giọng hát của Mạnh Phát chỉ hợp ở những bản đừng

lên cao xuống thấp vì cái âm vực (intervalle) của giọng anh hơi hạn hẹp. Mạnh Phát có sáng tác bản “Bến Nước Tình Quê”. Khi sáng tác các bản “Khúc Nhạc Đồng Quê”, “Mong Người Chiến Sĩ” thì anh lấy biệt hiệu là Thúc Đăng. Khi sáng tác bản “Trăng Sáng Trong Làng” thì anh lấy biệt hiệu là Tiến Đạt. Điều đáng nói là bản “Ai Về Sông Tương” của Thông Đạt do anh trình bày thật điệu nghệ và được thâu vào dĩa nhựa Polyphone. Chính bản nầy dù được nữ nghệ sĩ Bích Thuận ca ở phần phụ diễn tân nhạc trên sân khấu cải lương Phụng Hảo hay trên đài phát thanh vẫn không gieo ảnh hưởng đậm đà vào lòng khách mộ điệu như anh. Chính nhờ giọng anh mà bản nầy nổi như cồn. Có một lần, một ông bạn vong niên của tôi ngồi trong quán cà-phê ở đường Pellerin (về sau gọi là đường Nguyễn Công Trứ) chợt thấy một đám ma của người khách trú

đi qua. Theo sau nhà vàng chở quan tài là giàn nhạc Tây do các nhạc công Tàu đảm trách với kèn thau, kèn đồng, clarinette, chập chõa, trống … Đố các bạn độc giả, họ hòa tấu bản gì? Chính là bản “Ai Về Sông Tương” đấy, các bạn ạ! Ông bạn vong niên của tôi cười, phun cả ngụm cà-phê xuống bàn. Vậy mới biết bản “Ai Về Sông Tương” thuở đó thịnh hình biết là dường nào!

Châu Kỳ thanh tú và chải chuốt hơn Mạnh Phát. Anh là chồng đầu tiên của nữ danh ca Mộc Lan. Giọng anh không vang lộng, chỉ gợi cảm ở nét mềm mại. Một giọng rất thường, nhưng nhờ điệu đà và trau chuốt mà có một hấp lực riêng. Anh hát bản “Trương Chi” của Văn Cao, hoặc những bản do anh sáng tác như “Từ Giã Kinh Thành”, “Trở Về” rất điệu nghệ. Tiếng hát của anh gợi nên nét chạm tinh xảo trên gỗ quý hoặc trên ngà voi. Minh Diệu hơi thấp người, mặt dịu hiền nhưng không đẹp lắm. Chị là vợ của Mạnh Phát, dáng dấp hơi cục mịch, ăn mặc nhã đạm, không ra dáng dấp nghệ sĩ chút nào. Giọng chị êm dịu trong trẻo, nói theo Thế Lữ là “tiếng hát trong như nước Ngọc Tuyền / Êm như hơi gió thoảng cung tiên”. Đã vậy, giọng lại còn non mướt và nói theo Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc: “Hoa xuân nọ còn phong nộn nhuy / Nguyệt thu kia chưa hé hàn quang”. Đó là tiếng hát tài tử hơn là tiếng hát chuyên nghiệp gợi nên cái vẻ non mềm của búp lá nụ hoa. Tuy nhiên gần cuối thập niên 40 và bước qua ba năm đầu của thập niên 50, đây là tiếng hát ăn khách nhất. Giới học sinh say mê tiếng hát của chị. Các cô nữ sinh tập hát theo chị, nhái giọng chị, cố ém tiếng mình vào trong sâu cuống họng để được trong trẻo và ngời sáng như tiếng của chị. Nhưng than ôi, một trăm cô ém tiếng như vậy thì tiếng chỉ có chát chát chua chua đi kèm theo cái âm sắc trong trẻo kia, chứ đâu được vừa trong trẻo vừa ngọt ngào như giọng của Minh Diệu. Nhạc sĩ Dương Minh Ninh sở dĩ nổi tiếng ở bản “Gấm Vàng” cũng nhờ giọng Minh Diệu. Hoàng Giác nổi tiếng ở bản “Ngày Về” cũng nhờ chị. Bản “Hoa Thủy Tiên” mà phổ biến sâu rộng trong các trường học nếu không nhờ chị thì nhờ ai? Cho nên Minh Diệu là người đã gây một hiện tượng sôi nổi trong ca trường nhạc giới nước nhà đang độ vươn cao. Tiếng hát của chị thật chân phương, biểu dương một tính tình giản dị, một tâm hồn chân phác.

Mộc Lan, dáng dấp yêu kiều quí phái, khuôn mặt thật đẹp dù có sống mũi hơi thô (về sau chị nhờ khoa giải phẩu thẩm mỹ sửa mũi cho thanh tú hơn). Chị Mộc Lan tên thật là Phạm thị Ngà, nhưng khi vào sinh sống ở Sài Gòn, chị xưng mình là Phạm thị Nga vì chị chê tên Ngà nôm na mách qué, nghe không được văn chương hoa mỹ. Chị có giòng máu Trung Bắc, nhưng sanh sống hết 3/4 cuộc đời ở Sài Gòn. Cha chị là người Huế, khi đổi ra Bắc làm việc thì cưới mẹ chị vốn là người Bắc miền Thượng du. Cho nên giọng nói của chị pha đủ ba miền Bắc Trung Nam. Chị có người em một mẹ khác cha là ký giả kiêm nhà thơ Trần Áng Sơn. Trên sân khấu Đại Nhạc Hội tại rạp Nam Việt, chị được nhạc sĩ Lê Thương mời đóng vai Mộc Lan Công Chúa trong vở ca kịch “Trên Sông Dương Tử”. Chị đóng thật xuất sắc, ca thật hay, được báo chí khen ngợi nên chị lấy biệt hiệu Mộc Lan kể từ đó. Khi gặp ca sĩ kiêm nhạc sĩ Châu Kỳ, chị bị cú sét ái tình nên chịu kết hôn với anh ta. Lúc đôi bên ve vãn nhau, chị Mộc Lan tưởng Châu Kỳ là con một ông quan xứ Huế, lại thuộc lớp tân học. Nhưng thật ra anh Châu Kỳ xuất thân từ một gia đình thanh bạch, học lực không cao. Do đó mà chị chán nản, tìm cách ly dị. Người chồng cuối cùng của chị là Trung tá Trương Minh Đẩu, tùy viên của Đại tướng Dương văn Minh (thiên hạ thường gọi là “Big Minh”). Giọng Mộc Lan tuy có pha giọng óc hơi chua,

nhưng chị xử dụng làn hơi thật tròn trịa và điêu luyện, không có chỗ nào hao hụt. Khi xuống trầm, chị hát tròn tiếng nên khá dội sâu và ấm áp nồng nàn như khói trầm hương bách hợp, như băng phiến. Mộc Lan khi chung sống với Châu Kỳ thì còn là giọng hát tài tử. Về sau, chị luyện giọng nhờ sự dìu dắt của nhạc sĩ Lâm Tuyền nên giọng hát chị mới điêu luyện được sắp hàng đầu với giọng Kim Tước, Châu Hà, Tuyết Hằng, Mai Hương, Quỳnh Giao và Thái Thanh sau nầy. Hai bản “Trở Về Dĩ Vãng” và “Tiếng Thời Gian” của Lâm Tuyền được chị trình bày thật điệu nghệ. Nhà văn Thanh Tâm Tuyền rất thích giọng Mộc Lan. Theo anh, tiếng hát của chị tự bản chất là tiếng hát cô đơn, không cần rên rỉ tỉ tê như đa số nữ ca sĩ bất tài đã từng làm ô uế giọng hát bằng cách văn vẹo tiếng hát để cho tiếng hát được buồn sướt mướt. Chính anh đã viết một bài về tiếng hát của Mộc Lan ở ngay tập san Kịch Ảnh số 1 (1962).

Kiều Nga chỉ hát và cho thu giọng vào dĩa nhựa hai bài “Dứt Đường Tơ” và “Chiều Vàng” rồi giã từ luôn khỏi ca trường nhạc giới. Tiếng hát của chị rõ lời, tuy không óng ánh gấm vóc như giọng hát Minh Diệu, nhưng lại mượt mà dáng nhung mềm. Cũng như Túy Hoa và Ngọc Hà, chị hát bằng giọng Nam, cách phát âm trau chuốt và điệu đà vừa phải. Việt Hùng là một công chức, học lực anh xong bậc trung học theo chương trình Pháp. Lúc đầu anh ca tân nhạc, nhưng khi say mê cô đào cải lương Ngọc Nuôi thì anh học bài bản cổ nhạc cải lương để bước vào nghề làm diễn viên ngành cải lương. Ái Liên, Kim Chung, Bích Thuận đều là nghệ sĩ ngành ca kịch cải lương ngoài Bắc, được huấn luyện hát tân nhạc. Lại nữa, Ái Liên cùng người chị là nữ nghệ sĩ Lan Phương vì được huấn luyện bởi cậu ruột của mình là nhạc sĩ Canh Thân nên ca tân nhạc vững vàng lắm. Văn Thiệt cũng là kẻ ca tài tử, về sau trở thành xướng ngôn viên Đài Phát Thanh Quân Đội với giọng tố cộng thật sắt máu. Từ đó anh giải nghiệp cầm ca luôn.

Đức Quỳnh có một người vợ tên là Ngọc Thanh, khá đẹp. Anh ra công đào luyện cho chị ta thành ca sĩ và giọng hát của chị được thu vào dĩa nhựa Asia. Song khi chia tay với Đức Quỳnh, Ngọc Thanh còn dan díu với một vài người và chết vì chứng hậu sản. Giọng Đức Quỳnh trước sau vẫn là giọng tài tử. Anh hát rõ tiếng, cố xử dụng làn hơi để cho tiếng nồng ấm và không thô tháp thế thôi. Giọng anh như một trái cây giấm chưa chín đúng mức, như xôi rượu tuy ủ cẩn thận, nhưng chưa dậy men sung mãn. Giọng hát đó chỉ nghe tạm được cũng như giọng hát của Jean Tịnh thời tiền chiến trong giai đoạn âm nhạc nước nhà hãy còn phôi thai. Ngọc Hà là một giọng hát độc đáo, khi lên cao tuy hơi chua nhưng dẻo bền, càng xuống trầm càng vang rền và dội sâu. Đây là giọng mà giới sành nhạc gọi là giọng contralto, một giọng thật trầm của phái nữ gợi nên tiếng đại hồ cầm (contrebasse). Âm vực trong tiếng hát của chị thật rộng nên chị không kén bài hát, vì bài hát nào chị cũng lướt phom phom. Đặc biệt nhất là chị hát các bản rumba rất giòn, rất điệu nghệ nên được báo chí tặng cho cái biệt danh là “Nữ Hoàng Rumba”. Những bản theo thể điệu rumba như ‘Gió Mùa Xuân Tới” (của Hoàng Trọng), “Đường Ra Bình Phú” (của Thanh Châu), ‘Tiếng Hờn Trong Gió” v.v … được chị diễn tả thật xuất sắc, càng nghe càng thống khoái. Ngọc Hà có một chuỗi ngân điêu luyện, không thô rít, đều đặn và thoải mái như những lượn sóng rập rờn. Tiếng hát của chị lảnh lót và véo von như sáo diều khi lên hơi cao, ấm áp, chắc nịch, oanh liệt khi xuống trầm. Đây là giọng đã từng làm mưa gió ở các vũ trường, phòng trà, sân khấu Đại nhạc hội, trên làn song điện và trong làng dĩa nhựa. Khi chị giải nghệ rồi thì trong làng ca nhạc không có nam ca sĩ hay nữ ca sĩ nào hát rumba tuyệt vời như chị.

Hai anh em Trần văn Khê và Trần văn Trạch thuộc giòng giõi âm nhạc ở đất Sầm Giang (Rạch Gầm) thuộc tỉnh Mỹ Tho. Khi hát cho hãng dĩa Oria thì ông Khê lấy biệt hiệu là Hải Minh (tên ghép của hai cậu con trai của ông là Trần Quang Hải và Trần Quang Minh). Trần văn Khê là chồng của bà giáo sư Nguyễn thị Sương; cô Sương là thầy dạy môn Anh Văn của nhà văn Kiệt Tấn và tôi khi cả hai ngồi lớp Đệ Thất A trường Cao Tiểu Vĩnh Long. Rồi đó, khi chúng tôi chuyển qua chương trình học ban Thành Chung và ngồi năm Đệ tam

niên A thì cô Sương dạy chúng tôi môn Pháp văn. Cô Sương ăn ở với thầy Khê được bốn mặt con, kể theo thứ tự là Trần Quang Hải, Trần Quang Minh, Trần Thị Thủy Tiên, Trần thị Thủy Ngọc. Giờ đây, Trần Quang Hải và Trần thị Thủy Ngọc đều trở thành nhà nhạc học lừng danh. Vợ của Hải là nữ danh ca Bạch Yến. Ngoài ra, người em gái út của thầy Khê và anh Trạch là chị Trần Ngọc Sương. Hồi còn con gái, chị hát cho đài Pháp Á, lấy tên cháu gái Thủy Ngọc của mình làm cái nghệ danh cho mình. Nữ ca sĩ Thủy Ngọc có giọng kim cao

vút, hát bài “Áng Mây Chiều” của Dương Thiệu Tước thì không chê vào đâu được. Về sau nầy, con gái của chị Thủy Ngọc tên là Trịnh Quỳnh Yến theo Trần Quang Hải học nhạc và cùng đi trình diễn khắp Âu Châu và Mỹ Châu với Hải. Cô lấy biệt hiệu là Hoàng Mộng Thúy. Cô hát dân ca ba miền thật hay, ngâm thơ rất rựa ràng và cho giọng mình thâu vào dĩa rất nhiều. Tiếc thay, khi cô lấy ông chồng bác sĩ y khoa thì giải nghệ luôn. Sau đó, Trần Quang Hải kết hôn với nữ danh ca Bạch Yến và chính Bạch Yến thay thế Hoàng Mộng Thúy theo Hải đi lưu diễn khắp Âu Mỹ để phổ biến cái đẹp ngành âm nhạc Việt Nam.

Hải Minh có giọng hát to và khỏe nhưng làn hơi không thuần thục, như cơm gạo nấu chưa chín. Giọng nầy dùng để hát hài hước thì được, hát nhạc mùi thì không có nét mềm mại truyền cảm. Cho nên khi ông hát bài “Con Thuyền Trên Sóng” của Lê Xuân Ái thì ông rống quá nhiều khi lên cao, tuy rống mà tiếng hát không thông, không ngọt. Đã vậy ông không biết ngân nga. Hải Minh (Trần văn Khê) trước sau vẫn không phải là ca sĩ. Ông cũng không phải là một nhạc sĩ có bản lĩnh dù ông đã phổ những bài thơ thành nhạc như “Đi Chơi Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp, “Giận Nhau” của Nguyễn Xuân Huy, “Chỉ Một Lần Thôi” của bà Mộng Trung. Ông vẫn chỉ là một nhà nhạc học có kiến thức uyên thâm, có tấm lòng thương yêu sâu đậm đối với cái tinh hoa của âm nhạc truyền thống của nước nhà. Trong những thập niên 50, 60 ông đã cùng nữ sĩ Mộng Trung đi khắp Âu Mỹ để diễn thuyết về ngành âm nhạc Á Châu. Ông diễn thuyết và xử dụng vài món nhạc khí cổ truyền trong khi đó bà Mộng Trung hát để chứng minh lời diễn giảng của ông. Bà Mộng Trung vốn là em họ của ông, một cây bút viết ký sự rất lỗi lạc cho tập san Bách Khoa (Sài Gòn) do ông Huỳnh văn Lang làm chủ nhiệm. Bà đẹp, có vốn liếng kiến thức về văn hóa sâu rộng trong khi đó học lực của bà chỉ ở bậc trung học. Đó là một phụ nữ tự học (autodidacte) mà trở thành bậc trí thức làm tôi ngưỡng mộ vô cùng. Bà qua đời vào năm 1969, để lại hai tác phẩm là Giọt Thời Gian (tập thơ) và Hôn Nhân Dị Chủng (biên khảo và phóng sự). Dù gì đi nữa, dĩa Oria thâu bản nhạc hài hước “Hòa Bình 48″ của Lê Thương do Hải Minh hát rất phổ biến trong mọi tầng lớp khán giả yêu nhạc và dĩa bán chạy như tôm tươi vào các năm 1948, 1949, 1950. Do đó mà về sau, Trần văn Trạch theo dấu chân anh của mình từ lãnh vực hát nhạc mùi chuyển qua hát nhạc hài hước. Nếu chúng ta giở lại những bản “Ba Giờ Khuya” của Đức Quỳnh, “Người Chơi Độc Huyền” và “Nàng Hà Tiên” của Lê Thương mà Trần văn Trạch đã hát và thâu vào dĩa nhựa, chúng ta mới nhận thấy anh có một giọng nhung mềm gấm mượt, đẹp kinh khủng! Giọng đó như mây lướt, như nước trôi, thật dễ dàng, thật trơn mướt và khi chẻ qua giọng óc (son de tête) cũng ngọt ngào, gieo một cảm giác thống khoái cho người nghe. Tôi còn nhớ có lần nữ danh ca Mộc Lan bảo tôi:

— Anh Trần văn Trạch thường hát ở đầu lưỡi nên giọng thật mịn thật nhẹ. Giọng ấy sao mà thật mùi, thật đặc biệt!

Khác hơn Trần văn Khê, khi lên cao Trần văn Trạch có thể rống một cách hùng dũng và trơn ngọt, lúc đó làn hơi anh vẫn không hao hụt chút nào Trên làn sóng điện, anh thường ru hồn thính giả bản “Dạ Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca. Giọng anh có cái âm sắc của một ca sĩ Tây phương. Sau đó khi chuyển qua hát nhạc hài hước như “Tai Nạn Téléphone” chẳng hạn, anh nổi tiếng còn hơn là hát nhạc mùi có âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương. Bài “Đừng Có Lo” của chính anh do anh hát thâu dĩa tuy là bài hài hước, nhưng cũng có chỗ để anh biểu diễn cái âm lượng phong phú và nếp điêu luyện của giọng hát mình. Tôi chưa thấy ai hát hay hơn anh qua những bản “Nàng Hà Tiên”, “Dạ Khúc”, “Đừng Có Lo”. Về sau nầy,  anh hát bài hát ngắn “Xổ Số Kiến Thiết” cũng độc đáo khôngkém, nhất là lúc anh chẻ qua hát giọng óc ở cuối câu. Khi qua viếng nước Pháp vào năm 1965, Trần văn Trạch ăn mặc như người sơn cước và lên đài truyền hình hát bài “Chiều Mưa Biên Giới” làm cho kiều bào thuở đó hãnh diện lây. Bài nầy sau đó ít lâu có thu vào dĩa Việt Nam. Và khán giả quốc nội có dịp nghe lại giọng hát của anh vì nó vắng bặt ở làng dĩa nhựa từ đầu mùa nền Đệ nhất Cộng Hòa. Ôi, cái giọng khi thì ở đầu lưỡi mịn như tuyết nhung, khi thì trong khẩu cái rất khỏe khoắn, rất vang lộng và rất tròn tiếng (pleine voix); nếu anh không diễn tả những bản hài hước mà chỉ hát những bản nhạc tình cảm mùi mẫn thì nó cũng đủ sức đưa anh lên tuyệt dỉnh đài danh vọng rồi.

Hoàng Lan là một giọng hát cao vút, tuy hơi khàn ở những chỗ hát không cao không thấp. Chị trình bày bản “Chùa Hương” của Hoàng Quý và bản “Bóng Ai Qua Thềm” rất điệu nghệ. Còn Văn Lý có một giọng hát đẹp, trau chuốt vừa phải nhưng cực kỳ gợi cảm. Anh hát bài “Nhớ Ai” của Võ Đức Thu không chê vào đâu được. Bước sang bản “Suối Mơ” của Văn Cao, anh làm cho khán giả đắm chìm trong cái thế giới âm thanh hư ảo đầy mộng mơ lộng lẫy, đầy rung cảm kỳ thú. Tiếc thay, Hoàng Lan cũng như Văn Lý hát thâu thanh ở bên Pháp rồi gửi dĩa về Việt Nam. Họ không có cơ hội hành nghề ở quê nhà nên tiếng hát của họ rất chóng vánh trở thành kỷ niệm.

Túy Hoa là nghĩa nữ của bà Năm Phỉ (đệ nhất nữ diên viên sân khấu cải lương miền Nam). Nhưng ngành cải lương không phải là đất dụng võ thật sự của chị. Cho nên chị chuyển qua hát nhạc Tây. Khi đoàn Tố Như từ ngoài Bắc vào miền Nam lưu diễn thì chị xin gia nhập để cùng Bích Thuận, Kim Chung làm mưa làm gió trên sân khấu nầy. Đoàn Tố Như tuy là đoàn cải lương pha hát Hồ Quảng, nhưng vẫn có chỗ để các đào kép hát vài bản tân nhạc. Hồi còn xuân sắc, Túy Hoa rất sáng đẹp dưới ánh đèn sân khấu, hát nhạc Tây lời Tây rất rựa ràng nói gì hát nhạc Tây lời Việt hoặc nhạc Việt lời Việt (mà dân mình gọi là Tân nhạc). Giọng chị thuở đó mỏng, thanh tao và mềm mại. Sau nầy, vì chị phải mổ dạ con nên âm lượng tiếng hát của chị giảm sút, và không hiểu sao giọng chị lại hơi nghẹt mũi. Cho nên từ 40 tuổi trở lên, Túy Hoa phải nhào qua lãnh vực thoại kịch, chuyên đóng vai hài rất thành công. Có một thuở Túy Hoa chuyên hát những bản samba nên được báo chí gọi là “Nữ Hoàng Samba”. Chị vừa hát vừa múa may rất bắt mắt qua bản “Xuân Xuân” của Nguyễn Hữu Ba. Đặc biệt là trong nhạc cảnh “Bên Sông Đưa Tiễn”, chị thủ vai Nhị Nương, còn Bích Thuận thủ vai tráng sĩ Trần Quang Ngọc. Đây là sự tích rút trong quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng. Chị cũng mặc áo chàm thêu ngân tuyến, đeo vòng tay, khoen tai và kiềng cổ, kiềng chân đóng vai cô sơn nữ trong nhạc cảnh “Nụ Cười Sơn Cước” và chị hát bài hát có tựa chung với nhạc cảnh nầy (nhạc và lời của Tô Hải). Túy Hoa cùng các nữ ca sĩ Minh Nguyệt, Hoàng Yến, Hồng Lan lập ra ca vũ bộ Bốn Phương. Cả bốn mặc theo gái Hạ-uy-di, áo hở vai kết bằng hoa lá, váy bằng chỉ sợi giống như cỏ khô, tóc xõa cài hoa sặc sỡ. Hình như vào năm 1948 thì phải. Thuở đó phong trào ca nhạc xứ mình chưa có phát triển. Tuy nhiên, nhờ tìm tòi mà tôi được nghe các giọng hát nữ danh ca Ái Liên trong các dĩa hát Béka tròng lục chữ vàng qua các bản “Un Bateau”, “Santa Lucia” hoặc bản “Guitare d’Amour” (mà chị hát chung với nghệ sĩ cải lương Năm Châu trong dĩa Béka tròng vàng chữ đen). Ai cũng bảo rằng giọng Ái Liên là giọng trong như suối và mát như lụa. Quả vậy, tiếng của chị mỏng, thanh tao và óng ả. Nhưng phiền một nỗi chị hát không rõ lời. Thành thử ra, khán giả chỉ thưởng thức được giọng hát, điệu hát mà không sao thưởng thức được lời hát.

Nhưng Ái Liên là cô đào cải lương đất Bắc, có một thời vào Sài Gòn xây dựng sự nghiệp. Chị đã hát nhạc Tây lời Việt thuở tiền chiến, thuở mà tôi còn thơ bé. Khi tôi được thưởng thức giọng hát của chị thì chị đã không còn theo các gánh hát ở trong Nam và trở về ngoài Bắc rồi. Về sau nầy, các cô con gái của chị đều nối nghiệp mẹ như Ái Loan, Ái Xuân, Ái Vân và Ái Thanh. Ái Vân khi ly khai Cộng Sản để định cư ở hải ngoại bắt đầu nổi đình nổi đám. Còn Ái Loan chỉ nổi tiếng hát Quan Họ với mẹ từ lúc cô ta hãy còn thơ bé. Ái Loan cũng đã đóng hai phim Nghệ Thuật Và Hạnh Phúc và phim Phạm Công Cúc Hoa (vai Nghi Xuân). Về sau, khi Cộng

Sản cưỡng chiếm miền Nam rồi thì tôi không nghe ai còn nhắc tới Ái Loan nữa.

Ái Liên chuyên hát nhạc Tây lời Việt do Huỳnh Thủ Trung (tức là nghệ sĩ Tư Chơi) và do Nguyễn Thành Châu (tức là nghệ sĩ Năm Châu) soạn ra. Đồng thời với Ái Liên có cô đào Kim Thoa (vợ thứ hai của Tư Chơi) và bà Bảy Phùng Há (vợ đầu tiên của Tư Chơi); đó là hai ngôi sao thượng thặng trong ngành ca kịch cải lương Nam Kỳ, tên tuổi và sự nghiệp vuợt xa Ái Liên nhiều. Nhưng Phùng Há khi hát nhạc Tây lời Việt sao mà quê kệch dù giọng bà rắn chắc như kim cương và lảnh lót như chuông vàng khánh ngọc và dù bà có chuỗi ngân

nhỏ mức như hạt trân châu. Thì ra với chuỗi ngân ấy, với âm sắc lảnh lót vang lộng ấy, Phùng Há chỉ có thể hát các bản Hồ Quảng trong các vở tuồng Tàu thì đúng điệu hơn. Còn giọng hát của Kim Thoa trong sáng như pha lê và dịu ngọt như mật ong. Chị hát bản “Tabou” thật óng ả du dương, nhưng tiếc thay chị không biết ngân nga. Trên sân khấu Trần Đắc, chị có hát bài “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương hoặc “Hòn Vọng Phu” (bài I) của Lê Thương có thể mê hoặc một số học sinh trung học đất Nam Kỳ và một số sinh viên ngoài Bắc vào đầu thập niên 40.

Ái Liên là người đoan trang phúc hậu, rất khôn khéo. Khi chị vào Nam hành nghề thì biết bao vương tôn công tử ve vãn chị. Còn những chàng kép đẹp trai đồng diễn trên sân khấu với chị cứ tìm dịp cọ quẹt chị. Chị chỉ dùng lời nghiêm trang khuyên nhủ họ, không hề mắng nhiếc chửi bới ai. Thái độ đó khiến cho kịch giới kính nể chị. Cuộc hôn nhân giữa chị và một nghiệp chủ trẻ tuổi đẹp trai, Hà Quang Định, được báo giới nói đến nhiều vì tiệc cưới của họ thật huy hoàng vĩ đại. Chú rể tặng cô dâu một chiếc xe Dodge có 8 máy, 21 mã lực, giá 7.000 đồng. Thuở đó, lương thầy giáo dạy lớp nhứt chỉ có 80 đồng mà thôi. Chị của Ái Liên là nữ nghệ sĩ Lan Phương thì trải qua nhiều đời chồng, đời nào cũng đem lại tủi cực cho chị. Nhưng về sau chị lại sánh duyên với một nhiếp ảnh gia, tìm được hạnh phúc vào lúc cuối đời. Lan Phương có cặp mắt đẹp, lai láng sóng thu, lúc nào cũng như sáng mọng châu lệ. Mắt đẹp kiểu ấy là thứ mắt lỗi tướng số nên thảo nào chị phải khóc cho những cuộc tình duyên oái oăm và điêu đứng của mình.

Kim Thoa khi làm vợ nghệ sĩ Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) thường xảy ra cảnh cơm không lành canh không ngọt dù chị có thiện chí chung tình với chồng. Tư Chơi ưa rượu chè mèo chuột. Cho nên cuộc hôn nhân của họ phải tan vỡ. Sau đó, Kim Thoa tái hôn với một ông bác sĩ y khoa tên Ngô Thiếu Khai ở Trà Vinh, nhỏ tuổi hơn chị nhiều. Tuy nhiên chị được chồng thương yêu nên tìm được hạnh phúc cho đến cuối đời.

Nghệ sĩ cải lương Năm Châu cũng võ vẽ hát nhạc Tây lời Việt. Ông trình bày bản “Guitare d’Amour” với Ái Liên trong dĩa Béka tròng vàng kim nhũ chữ đen. Giọng ông quá tầm thường, làn hơi hao hụt, đã vậy ông thường hát sai giọng. Hát xướng ở lãnh vực mới, ông làm một chuyến phiêu lưu không gây hào hứng cho khán giả bốn phương chút nào. Kim Chung vào thập niên 40, có một giọng đẹp, khi hát ở những chỗ ngang ngang thì mỏng như lụa the, dịu ngọt như nước cam vắt, nhưng khi lên cao như xé lụa, vang lộng lảnh lót như chuông ngân. Những lúc đó, giọng chị không chát, không chua, không gắt cổ, lại còn giữ vẹn âm sắc thanh tao.  Chị trình bày một bản hát với một chút điệu đà đầy nữ tính, nhưng không vặn vẹo từng chữ, không bẻ giọng để giọng được ỏn thót. Cái điệu đà của chị là thứ điệu đà kín đáo và phơn phớt như chút phấn tuyết nhung trên vóc sa-teng hay trên cánh hoa thược dược, nhưng vẫn làm say lòng người. Hồi còn xuân sắc,

chuỗi ngân của chị rập rờn nhưng mềm mại như những nét thu ba; nhưng về sau, khi chị vào tuổi đời chênh bóng thì chuỗi ngân sắc nhọn như răng cưa. Khi còn ngoài đất Bắc, Kim Chung được báo chí mệnh danh là “Tiếng Chuông Vàng Đất Bắc”.

Bích Thuận nhỏ nhắn và đẹp lộng lẫy. Giọng hát của chị dẻo bền như thép tôi luyện đúng mức để làm gươm báu và rắn chắc như kim cương. Đó là một giọng vang lộng mà vẫn ngọt. Cách trình bày một bản nhạc của chị thật đơn giản, chị không có một chút điệu đà nào để trang điểm cho giọng hát mình, nhưng giọng hát vẫn quyến rũ người nghe ở chuỗi ngân rập rờn óng ả, ở cách hát khỏe khoắn trơn ngọt. Trong các tuồng cải lương do chị đóng phần nhiều vẫn có chỗ để chị hát tân nhạc, nếu không phải đó là tuồng tàu.

Việt Hùng vừa cao lớn vừa hùng dũng xứng đáng là kép hùng trên sân khấu. Anh có chơi thể dục thẩm mỹ chút ít nên có ngực đầy đặn và khá vạm vỡ. Eo anh thon, tay chân anh nổi bắp thịt. Trong giới sân khấu cải lương chỉ có Việt Hùng, Ba Xây, Văn Khoe và Hùng Cường là biết o bế thân vóc. Tuy nhiên, dù vóc anh rất hùng, nhưng khi anh ca cổ nhạc, giọng anh hơi nhừa nhựa. Cho nên khi anh cùng Tám Thưa, Duy Chức cùng hai cô Tư Bé và Ngọc Nữ diễn các tuồng cải lương do Duy Lân soạn và thâu vào dĩa Kim Khánh thì anh luôn thủ vai lão hoặc vai nịnh, còn những vai jeunes premiers thì dành cho nghệ sĩ Tám Thưa. Tuy nhiên khi hát tân nhạc, anh lại chọn nhạc hùng. Giọng anh tuy hơi nhừa nhựa nhưng anh có làn hơi dồi dào. Khi hát nhạc hùng, nhờ tiết điệu xốc nổi của bài hát, anh dù có muốn kéo nhừa nhựa vẫn không được. Chính cái làn hơi dồi dào kia giúp anh hát trơn ngọt thoải mái làm cho người nghe cảm thấy khỏe khoắn và phấn khởi ngay.

Thuở đó, các cô khán giả choai choai mê Việt Hùng như điếu đổ mỗi khi xem anh phụ diễn tân nhạc. Khi hát bài “Xuất Quân” của Phạm Duy hay “Khúc Khải Hoàn” của Lưu Hữu Phước, anh mặc quân phục sĩ quan, đội mũ kê-pi, đeo lon đại úy, đeo giây biểu chương. Các cô vừa ngắm anh hát vừa lấy tay đè lên quả tim đang thổn thức của mình. Khi tôi vừa mới lớn thì Kim Thoa cộng tác đài phát thanh Pháp Á, chỉ hát cổ nhạc cải lương chung với các nữ ca sĩ Ngọc Nữ, Mỹ Tiên, Bạch Mai … Song song đó, chị vẫn cộng tác cho gánh Phụng Hảo và là một trong bốn cô đào then chốt của gánh là Phùng Há, Thanh Tùng, Bích Thuận và Kim Thoa. Vào đầu mùa Đệ nhất Công Hòa, Kim Thoa giải nghệ và rút luôn vào bóng tối. Nhưng con trai của chị là ca nhạc sĩ Huỳnh Hiếu (con chung của Tư Chơi và cô) trở thành một nam ca sĩ giọng kim (ténor) vang lộng và cao chót vót đã cùng nữ ca sĩ Thanh Xuân làm mưa làm gió ở vũ trường Văn Cảnh và vũ trường Đại Kim Đô. Khi Kim Thoa còn hát cổ nhạc cải lương trên đài phát thanh, thì bên Tân nhạc, đài phát thanh đã có những giọng hát Oanh Oanh, Vi Lan, Mộc Lan, Minh Diệu (bên nữ) và Mạnh Phát, Anh Ngọc, Châu Kỳ, Thu Hồ (bên nam). Sau đó hai cô Vi Lan và Oanh Oanh rút lui hẳn khỏi ca giới nhạc trường, thì Minh Trang xuất hiện huy hoàng như một ngôi tinh đẩu và lay động như cơn lốc để trở thành vương hậu ngành ca nhạc trong hai năm cuối của thập niên 40 và bắc qua trọn thập niên 50.

Tôi còn nhớ trong một tấm chương trình của đài phát thanh Pháp Á, có những dòng quảng cáo về tiếng hát của nữ ca sĩ Oanh Oanh đại khái như sau: “Oanh Oanh là nữ ca sĩ có tiếng hát vang vang như tiếng chuông chiều và véo von như tiếng sáo diều”. Nhưng theo tôi, thuở đó chưa có ca sĩ nào ăn đứt nữ ca sĩ Minh Diệu. Cô Oanh Oanh chỉ có cái bóng sắc trội hơn giọng hát; cái bóng sắc ấy nâng đỡ giọng hát tài tử của cô thêm phần hấp dẫn. Cô Vi Lan cũng thế, vẫn có giọng hát tài tử chứ không là giọng hát của kẻ chuyên nghiệp. Dù rằng đã có một thời, cả hai là ca sĩ đài Pháp Á, nhưng sự nghiệp của họ khó mà lâu bền vì trước sau, giọng hát họ vẫn là những trái nho chưa được ủ men đúng mức nên chưa thành rượu bồ đào. Cũng thế, giọng Thu Hồ chỉ chinh phục khán giả ở chỗ hát rõ tiếng, hát bằng giọng miền Nam thật chân phác và mộc mạc. Nhắc tới Thu Hồ, giới mộ điệu chỉ nhớ tới những bản nhạc rất nổi tiếng của anh là “Tiếng Sáo Chiều Quê”, “Quê Mẹ”, “Mùa Lúa Chín” … chứ ít ai còn hoài vọng tới giọng hát của anh. Thu Hồ có một người con gái kết hôn với nam tài tử điện ảnh La Thoại Tân. Một người con gái khác của anh tên Mỹ Huyền khi ra hải ngoại trở thành ca sĩ, hát chung với Tuấn Vũ thật rựa ràng lắm.

Theo lời giới mộ điệu thuật lại thì trước đó chị Minh Trang làm thông dịch viên lẫn xướng ngôn viên phần Pháp văn cho đài phát thanh Pháp Á (hồi đó bọn trẻ chúng tôi gọi là đài phát thanh Phát Ớn). Nhân một hôm nữ ca sĩ Oanh Oanh trong ban nhạc Charles Thu (tức là nhạc sĩ Võ Đức Thu) bị bệnh nên không thể hát được. Lúc đó, chị Minh Trang vụt ngứa nghề, thừa dịp ấy tình nguyện hát bản “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương để thay cô Oanh Oanh. Tuyệt vời thay, với kỹ thuật ca hát điêu luyện, người thay thế cô ca sĩ chính thức lại hát hay hơn cô ca sĩ chánh thức nhiều. Và từ đó, song song với nghề xướng ngôn viên, chị Minh Trang bắt đầu hành nghề ca sĩ. Nhưng chị Minh Trang lúc đầu chỉ được giới sành điệu quá ít oi ái mộ mà thôi. Khán giả bốn phương chưa thể thưởng thức nỗi cách ngân gợn sóng dài lê thê đúng theo trường độ một nốt nhạc tròn của chị. Do đó mà có người cho rằng chị hát giống ma tru quỷ hú, làm cho họ rợn óc và nổi da gà. Lại có người bảo chị hát giống mấy cô ca sĩ đầm bên Pháp, nghe mà bắt buồn nôn. Cái phản ứng của khán giả vào những năm cuối của thập niên 40 vốn thô bạo vì khiếu thưởng ngoạn của đa số đều thô sơ. Nhưng mà tôi không nghĩ vậy khi nghe chị hát những bản nhạc của Dương Thiệu Tước như “Bóng Chiều Xưa”, “Bến Xuân Xanh”, “Ngọc Lan”, “Thuyền Mơ”. Vâng, chị Minh Trang hát giống đầm thật đó. Nhưng cách ngân nga gợn sóng lịm ngát rung rung kia dễ gì có ai mà bắt chước được? Ngân nga đâu phải ai cũng dễ làm theo ý muốn? Phải trầy vi tróc vảy, phải tốn hơi luyện tập mới tạo được một chuỗi ngân dài và óng ả cho giọng hát mình. Thuở đó, tôi cũng đã 13 tuổi, sớm hiểu biết được cái khó khăn nhất ở chỗ cách tập ngân nga trong lúc hát. Lại nữa, trong một bài điểm danh các giọng hát, nhạc sĩ Lê Thương có viết: “Minh Trang có giọng ca lưu luyến … ”. Do đó mà tôi tin ông ngay. Ngoài Bắc, đồng thời với Minh Diệu và Mạnh Phát có nam danh ca Ngọc Bảo. Hai bản “Nương Chiều” của Phạm Duy và “Cô Tú” của Long Châu được giọng hát rõ và gợi cảm

của anh diễn tả, trở thành phổ thông suốt từ Nam chí Bắc. Hai bản nầy đều được thu vào dĩa nhựa và bán chạy như tôm tươi. Thật ra, giọng hát của Ngọc Bảo chỉ gợi cảm và rõ tiếng chứ không phải là một giọng điêu luyện. Ngọc Bảo ngân nga không vững như Mạnh Phát và Châu Kỳ. Sở dĩ giọng anh nổi tiếng là nhờ bài “Nương Chiều” và bài “Cô Tú” vốn hợp với cảm quan lớp thính giả thuở đó. Đó là trường hợp “cây đa cậy thần, thần cậy cây đa”. Nhờ anh mà hai bản nhạc kia phổ biến, nhưng cũng nhờ hai bản nhạc kia mà anh gây được tên tuổi trong thời kỳ nền tân nhạc vừa chớm nở.

Thuở 1948, có gánh Nam Hồng do ông Lưu văn Trình làm giám đốc. Gánh nầy là thối thân của gánh Đức Huy của ông Charlot Miều. Vào đầu mùa khói lửa, gánh Đức Huy giải thể. Ông Lưu văn Trình bèn mua lại xác gánh Đức Huy, sắm thêm tranh cảnh và y phục và gom góp mớ đào kép cũ của gánh Đức Huy, dựng nên bảng hiệu Nam Hồng. Kép có Quang Hữu, Tường Vân, Thiện Hữu. Đào có Thanh Tình, Lệ Thủy, Hồng Sáp, Lệ Hoa, Hồng Son, Bích Liên. Đào kép chánh như Thanh Tình, Lệ Thủy, Quang Hữu, Tường Vân đều ca tân nhạc rựa ràng, ngân nga lảnh lót lắm. Thanh Tình đẹp và hát hay không kém nữ nghệ sĩ Bích Thuận. Chị có khuôn mặt sắc sảo,  tầm vóc tuy hơi nhỏ nhưng thật cân đối. Có một thời, chị là người tình tuyệt vời của anh chàng du ca Phạm Duy, lúc đó đang làm quản lý cho gánh Đức Huy. Chị thủ vai Triệu Trinh Nương hát bài “Đêm Mê Linh” của Văn Giảng, “Bản Đàn Xuân” của Lê Thương hay không chỗ chê. Giọng chị vì ém sâu trong cuống họng nên hơi gắt, nhưng thật vang lộng, khi lên cao thật chắc thật dẻo, chuỗi ngân của chị thật rập rờn có thể kéo dài trên trường độ một nốt nhạc tròn. Hình ảnh chị mặc áo hoàng bào thêu ngân tuyến, chít khăn vành giây gài những chiếc trâm nạm hạt thủy tinh lấp lánh cứ ám ảnh tôi không ngớt suốt cả tuần sau đó. Còn anh Quang Hữu đẹp trai quá thể, cặp mắt thật nhung, sống mũi cực kỳ thanh tú, vóc dáng vạm vỡ và cân đối. Anh hát ba bài “Hòn Vọng Phu I, II, III” làm tôi mê luôn. Giọng anh có âm lượng phong phú, lối ngân nga điêu luyện. Giọng hát sao mà hùng dũng như thác Cam Ly, lai láng như dải trường giang vào mùa nước nổi. Ai nào có thể ngờ ở một vóc dáng và sắc diện của một con người rất thơ và rất mộng như anh mà có một giọng mãnh liệt đầy âm vang lộng lạc dường ấy! Nói gì Lệ Thủy (người vợ đầu tiên của Quang Hữu) yểu điệu như nhánh thùy dương, thướt tha như cành lệ liễu, tuy không sắc sảo mặn mà như nữ nghệ sĩ Thanh Tình, nhưng khuôn mặt vẫn có những nét hài hòa. Giọng của chị thật ấm, hơi khao khao lúc xuống thấp, nhưng khi vút lên cao thì trong trẻo và ngời sáng. Chị có một chuỗi ngân khá điêu luyện. Tôi còn nhớ, vào đầu mùa nền Đệ nhất Cộng Hòa, nữ nghệ sĩ Thanh Tình vĩnh viễn bỏ sân khấu, chấp nhận cảnh làm vợ hiền cho một ông lương y Tây học thì ông giám đốc đoàn Nam Hồng phải tìm hai cô đào Hoàng Hoa và Thiên Kim thay thế chị. Riêng Lệ Thủy (người Bắc) thì nhường các vai nhì cho đào Thiên Kim. Chị chỉ giữ phần phụ diễn tân nhạc mà thôi. Tôi vẫn còn nhớ những màn phụ diễn tân nhạc do chị đảm nhiệm. Chị vẫn giữ vóc gầy như mai, sắc diện lúc nào cũng buồn như cúc. Luôn luôn chị lấy màu xanh làm chuẩn trong cách chọn áo dài: thiên thanh, lam ngọc, thủy, thanh tùng, bích liễu, thúy trúc, bích ngọc, uất lam, tĩnh thanh v.v … Giọng Lệ Thủy ấm áp, mặn mà. Lúc lên cao, từ giọng thật chị chuyền qua giọng óc rất khéo. Nghe chị hát hai bản “Nhớ Người Phương Xa” của Phạm Duy và bản “Trở Về” của Châu Kỳ mà tôi có cảm tưởng cái thế giới ca nhạc sao mà gần gũi với mình một cách thân tình và đậm đà đến như vậy.

Lệ Thủy có một chuỗi ngân thật óng ả, không chao đảo như lối ngân của nhiều nữ ca sĩ bên tân nhạc thuở đó.

Sau nầy, khi có người Bắc di cư vào Nam, tôi mới biết rằng trong những gánh cải lương ngoài Bắc, đa số các nam nữ nghệ sĩ đều biết hát tân nhạc. Chẳng hạn trong gánh Huỳnh Lan Anh gồm có Huỳnh Thái, Lan Phương và Anh Đệ đều biết hát tân nhạc cả. Huỳnh Thái mà hát những bản của Lê Thương như “Sao Hoa Chóng Tàn”, “Bản Đàn Xuân”, “Thu Trên Đảo Kinh Châu” thì thật du dương, dễ ru hồn nữ khan giả, ngoài những câu Vọng Cổ nhịp 16. Lan Phương là chị ruột của Ái Liên đẹp và hát hay không kém Ái Liên về cổ nhạc cải lương cũng như về tân nhạc. Anh Đệ cũng đã chứng tỏ tài hát tân nhạc của mình trong phim ca vũ Nghệ Thuật và Hạnh Phúc. Ngoài ra, cô đào cải lương Lệ Thanh và kép cải lương Ngọc Toàn trên đất Bắc cũng hát Tân nhạc rựa ràng lắm. Lệ Thanh cũng đã chúng tỏ tài nghệ ca hát của mình bên cạnh Anh Đệ và Ái Liên trong phim Nghệ Thuật và Hạnh Phúc. Ngoài ra cô đào Kim Xuân đã từng đóng phim Kiếp Hoa bên cạnh Kim Chung, hát tân nhạc thật quyến rũ, thật điệu nghệ, chỉ kém Kim Chung, Ái Liên mà thôi chứ chưa hề nhường Lệ Thanh, Bích Hợp, Lan Phương, Phụng Khánh bao giờ. Ngọc Toàn cũng đã hát thật truyền cảm bản “Cây Đàn Bỏ Quên” của Phạm Duy trong phim Kiếp Hoa. Khi đoàn Kim Chung theo làn sóng di cư vào Nam thì trong vở tuồng Tình Vương Ý Nhạc do Hoàng Lan soạn, Ngọc Toàn có dịp ca hát với Kim Chung nhiều bản tiền chiến, đặc sắc nhất là bản “Chiều”, thơ của Hồ Dzếnh, nhạc của Dương Thiệu Tước.

Ngoài ra ở ngoài Bắc, kép Mộng Dần, kép Sỹ Hùng, đào Phụng Khánh, đào Tường Vi (vợ của Sĩ Hùng và cũng là em gái của nữ nghệ sĩ Bích Thuận), đào Huệ Chúc, đào Lữ Nhàn, đào Khánh Hợi, đào Bạch Tường cũng hát Tân nhạc nào có kém chi ai? Dường như các nghệ sĩ gốc Bắc khi dấn thân vào nghiệp ca kịch cải lương là phải học thêm cách ngâm thơ, cách hát tân nhạc để bù đấp vào tài hát cổ nhạc Nam Kỳ vốn không mấy tinh thông điêu luyện của mình. Tôi có nhiều dịp trò chuyện với những bậc trưởng thượng từ Bắc di cư vào Nam về bộ môn nghệ thuật trình diễn ngoài Bắc. Theo họ, từ sau năm 1945 cho tới sau những năm dân Hà Nội hồi cư về các thành phố có chính phủ Liên Hiệp Pháp tạm chiếm, đất Thăng Long có những ca sĩ như Thương Huyền, Minh Đỗ, Tâm Vấn (bên nữ), Mai Khanh, Kim Tiêu, Ngọc Bảo (bên nam). Trong quyển hồi ký Thời Cách Mạng Kháng Chiến ở đầu chương sáu, Phạm Duy đã viết như sau:

Lúc đó, tôi rất nhớ sân khấu. May thay ở Hà Nội đang có phong trào đi nghe nhạc phòng trà. Những phòng trà đầu tiên của thời đại là:

Quán Nghệ Sĩ ở đường Bờ Hồ, do tay violoniste số một là Nguyễn văn Giệp điều khiển. Có nam ca sĩ Mai Khanh thường tới hát “Bên Hồ Liễu”. Nữ ca sĩ Bùi thị Thái, người vợ tương lai của Quản Liên, trưởng ban quân nhạc lính khố xanh thì chuyên hát bài “Con Chim Lạc Bạn”. Thỉnh thoảng có Dương Thiệu Tước tới đánh guitare hawaienne và có Thẩm Oánh tới để làm xướng ngôn viên.

Ở Hàng Bông có phòng trà Thăng Long với các nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt, Nguyễn Khắc Cung, Lương Ngọc Châu, Vũ Anh Thường. Tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm có phòng trà Tuyết Sơn với Vũ Thành thổi sáo. Trong đám nam ca sĩ lúc đó, tôi cho rằng Kim Tiêu là người hát hay nhất. Trong khi tôi vác bài “Buồn Tàn Thu” đi lưu diễn trong Nam thì ở Hà Nội, chính nhờ giọng hát Kim Tiêu mà những bản “Thiên Thai”, “Trương Chi” của Văn Cao nổi tiếng.

Một anh bạn của tôi là Đặng Trần Vận mở ra ở phố Hàng Gai một phòng trà lấy tên là THIÊN THAI vì dân chúng đang thời hâm mộ bài hát rất trữ tình của Văn Cao. Đây là nơi tôi được các nhạc sĩ Trần Quang Trường (biệt hiệu là “Schubert giả”), Đỗ Lệnh Tâm (“Tâm Xì” vì da đen như củ súng) và em là Đỗ Lệnh Kiên … đệm đàn cho tôi hát. Tôi lăng xê giọng hát phái nữ hay nhất của lúc đó là Thương Huyền. Nàng là người tình chớp nhoáng mới đây của tôi. Tên thật của nàng là Thường. Tôi đặt cho nàng một cách giản dị, theo lối đánh vần “thương huyền thường”. Tôi dạy cho Thương Huyền hát bài “Trào Lòng”, một bài ca nhờ ở giọng hát trong trẻo của cô ca sĩ rất đa tình nầy mà trở thành nổi tiếng. Thương Huyền có nụ cười và hàm răng như hoa nở. Tính tình thuộc loại bạt mạng, bất cần đời.

… Về sau tôi còn gặp lại Thương Huyền nhiều lần trong kháng chiến.

Về ca sĩ Kim Tiêu, nhà văn kiêm họa gia Tạ Tỵ đã viết trong quyển Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi ở chương ba (chương có cái tựa là “Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Trong Hà Nội Tạm Chiếm”) như sau:

… Trong khi tôi đang say mê với màu sắc, bỗng nghe tin ca sĩ Kim Tiêu đã bị giam trong Hỏa Lò từ mấy tháng nay. Kim Tiêu và Mai Khanh là hai ca sĩ rất nổi tiếng từ tiền kháng chiến. Trong đời ca hát của Phạm Duy, Duy chỉ nể có hai ca sĩ này Kim Tiêu về thành trước tôi nhiều tháng. Nhưng sau thời gian sống giữa lòng Hà Nội, có lẽ hằng ngày phải đối mặt với kẻ thù, hơn nữa cái mảnh trời kháng chiến nó cao rộng và hào quang quá, nên làm tâm trạng anh bứt rứt. Từ bứt rứt đi đến giận hờn, rồi chống đối, do đó, anh bị Pháp bắt, buộc tội là Việt Minh!  Vào tù, anh vẫn không sợ, dù bị đánh đập, tra khảo thế nào, anhcứ coi thường. Pháp nhốt anh vào xà-lim (cellule), anh vẫn ca hát những bài của Việt Minh. Sáng nào, anh cũng nắm chặt tay vào song sắt hát bản “Tiến Quân Ca” của Văn Cao để đánh thức các tù nhân khác dậy. Từ ngoài khu kháng chiến, Văn Cao được tin cảm động lắm, làm một bài thơ, bí mật đem vào Hà Nội, rồi nhờ các cán bộ tình báo nội thành đưa vào Hỏa Lò cho ca sĩ Kim Tiêu. Tôi có được cả bài thơ, nhưng lâu ngày, bây giờ chỉ nhớ vài câu:

… Người danh ca ấy nằm trong ngục

Hà Nội nhớ tôi, hát bài ca cũ

Tiếng ca như buổi sớm trong

Tiếng ca vang vang khí phách

Xà-lim nổ tung ra

Cả Hỏa Lò vỡ toang thành khối nhạc !…

Câu chuyện về ca sĩ Kim Tiêu, tôi chỉ biết tới đấy, còn sau nầy, Kim Tiêu sống hay chết trong tù, tôi không hay.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment