Theo Chân Những Tiếng Hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 24 Dec 2025

Chương 3.

Bắt Đầu Thời Đại Hoàng Kim

Hiện nay, tôi ở khu Chartreux của tỉnh Troyes, một tỉnh ở vùng Champagne có dòng Seine và dòng Aube chảy qua. Mỗi sáng, tôi cùng với ông bạn hàng xóm đưa nhau đến tiệm nước Galaxie (Ngân Hà) để uống cà phê. Ông bạn hàng xóm có tuổi hơn tôi một con giáp. Ông đã trưởng thành vào đầu mùa ca nhạc, tới bây giờ vẫn mê Ngọc Hà, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát … Chính ông giúp cho tôi nhiều tài liệu về tỉnh Gò Công để tôi viết hai quyển truyện dài là Lúa Tiêu Ruộng Biền và Bóng Đèn Tà Nguyệt. Khi tôi ngỏ ý viết một cuốn biên khảo về ngành ca vũ nhạc kịch của miền Nam từ thuở phôi thai cho tới ngày chung cuộc của miền Nam thì ông khuyến khích tôi nồng nhiệt. Song tôi ngại mình không có đủ tài liệu để viết cho được tương đối đầy đủ thì ông an ủi:

— Cậu biết bao nhiêu thì viết bấy nhiêu, nhớ tới đâu thì viết tới đó, còn hơn là không viết được gì. Dầu sao, quyển sách vẫn có chỗ dùng được cho những nhà biên khảo chuyên nghiệp mai sau. Những gì cậu viết bây giờ vẫn có thể giúp họ đôi chút tài liệu, hoặc đôi chút đầu giây mối nhợ để họ phăng tìm vô số tài liệu khác.

Viết thì tôi vẫn viết, nhưng tôi không mấy tin tưởng những điều ông khuyến khích tôi. Viết bằng ký ức của con người sắp vào tuổi lục tuần như tôi, chắc không thể bảo đảm sự chính xác lắm đâu. Biết vậy, nhưng tôi vẫn ngồi trước máy vi toán, gõ tới tấp như gió táp mưa sa trên những nốt chữ. Tôi cũng xin báo trước với độc giả rằng về bộ môn nhạc trẻ tôi chỉ biết vài nét tiêu biểu. Nhưng không lo, đã có hai anh Trường Kỳ và Nam Lộc hiện sinh sống ở Hoa Kỳ, họ có thể bổ túc giùm tôi những gì tôi thiết sót hụt hổng về môn nhạc trẻ bằng những tác phẩm do chính tay họ viết ra. Tôi cũng xin báo trước với quý vị rằng tôi cũng chỉ biết bộ môn thoại kịch qua vài nét khái quát. Viết về bộ môn nầy phải cần đến sự hỗ trợ của những kẻ đã từng tổ chức các buổi Đại nhạc hội thuở xưa, nhưng tiếc thay hiện nay tôi sống ở tại một tỉnh đìu hiu bên nguồn con sông Seine trên đất Pháp thì làm sao tôi có đầy đủ chất liệu để viết về bộ môn nầy, hử Trời? Tuy rên siết trầm thống như vậy, nhưng tôi vẫn phải viết, vẫn phải thập thúy tầm phương trong cái kho tàng các bộ môn trình diễn của miền Nam nước nhà để các độc giả kiều bào thưởng lãm. Ôi, trải qua bao cuộc dâu biển thăng trầm, các bộ môn ấy biết có còn sống rực rỡ trong hồi ức của các khách mộ điệu xưa cũ hay không?

Nói cho cùng, trước Hiệp định Genève, Tân nhạc dù đã được phe Việt Minh từ trong chiến khu phổ biến hay do giới yêu nhạc nhạc ở ngoài thị thành qua các nhà xuất bản Hương Mộc Lan, Tinh Hoa tung ra vẫn không quảng bá sâu rộng vào mọi từng lớp dân chúng, mà chỉ được giới trẻ, nhất là giới học sinh yêu chuộng mà thôi. Trong chiến khu, có các bài của Phạm Duy như “Nhạc Tuổi Xanh”, “Về Đồng Quê”, “Đường Về Quê”, “Quê Nghèo”, “Bà Mẹ Gio Linh” hay bản “Cương Quyết Ra Đi” của Nguyễn Ngọc Bạch, “Khúc Hát Sông Thao”, “Nhớ Chiến Khu” của Đỗ Nhuận, “Đoàn Quân Đi” của Việt Lang. Còn ngoài thành thị, lúc đầu cũng có những bài hướng về chiến khu như “Bến Cũ”, “Chiều Trong Rừng Thẳm”, “Lỡ Chuyến Đò”, “Một Chuyến Đi” của Anh Việt, “Mùa Đông Binh Sĩ” của Phan Huỳnh Điểu, hay những bài phấn khích lòng yêu nước, những bài ngợi ca tuổi trẻ như “Rạng Đông”, “Khỏe Vì Nước” của Hùng Lân, “Gươm Thần” của Võ Đức Thu. Có một sự lạ là tôi không hiểu vì sao bài “Nhớ Chiến Khu” của Đỗ Nhuận và bài “Đoàn Giải Phóng Quân” của Phan Huỳnh Điểu với những lời hướng về lực lượng Việt Minh rõ rệt mà nhà xuất bản Hương Mộc Lan vẫn tung ra được và bán sạch sành sanh ở đợt đầu? Nhưng từ năm 1950, những nhạc ủy mị lại được giới trẻ hâm mộ hơn. Do đó mà Ngọc Bích và Hoàng Giác tha hồ mà tung hoành Bên cạnh đó, Lê Mộng Nguyên ngoài bản “Trăng Mờ Bên Suối”, còn có những bài ủy mị nữa như “Nhớ Huế”, “Bài Thơ Huế”, Hoàng Trọng có “Tiếng Lòng”, “Nhạc Sầu Tương Tư”, “Buồn Nhớ Quê Hương”, Nguyễn văn Tý có “Dư Âm”, Dương Thiệu Tước có “Bóng Chiều Xưa”, “Ôi Quê Xưa”, Tô Vũ có “Tạ Từ”, “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa”, Lâm Tuyền có “Tiêu Khúc Trường Giang”, “Trở Về Dĩ Vãng”, “Tiếng Thời Gian”, “Hình Ảnh Một Buổi Chiều”, Thông Đạt có “Đôi Mắt Huyền”, “Ai Về Sông Tương”, Phạm Duy Nhượng có “Tà Áo Văn Quân” v.v …

Từ năm 1950, trong các chiến khu ra lịnh cấm hát Vọng Cổ và các bài bản Cổ nhạc Nam Kỳ. Nhưng lớp nông dân dù có hát Tân nhạc mà họ gọi là nhạc cải cách đi nữa, họ vẫn nhớ quay quắt cái thứ âm nhạc Nam Kỳ truyền thống. Thứ âm nhạc đó vốn là thứ nhạc lễ của đất Thần Kinh đã từ lâu đời theo làn sóng Nam Tiến vào vùng đất có sông Đồng Nai song Cửu Long để trổ thêm lá hoa và trái mới. Ngoài thành thị thì chính quyền Thuộc địa lúc trước và chính quyền Liên Hiệp Pháp lúc sau cấm hát những bài với lời có lợi cho phe Việt

Minh mà thôi, còn kỳ dư nhạc nào thì dân thị thành vẫn được phép hát tự do. Song lớp người cựu học, lớp người lớn tuổi cùng giới bình dân vẫn chuộng Vọng Cổ và Cổ nhạc Nam Kỳ cùng ngành ca kịch cải lương. Vả lại phần trình diễn Tân nhạc cho phim hát bóng lẫn chương trình Đại nhạc hội chỉ được trình diễn ở Sài Gòn hoặc ở các tỉnh gần Sài Gòn mà thôi.

Ngoảnh lại quá khứ, tôi chợt giật mình. Thấm thoát mà cuộc đời say mê nghệ thuật trình diễn của tôi gần nửa thế kỷ rồi. Giờ đây, trong tâm tưởng tôi chợt sáng lên quãng thời gian khởi đầu thời đại hoàng kim của nền tân nhạc. Từ năm 1949, đã có chương trình phụ diễn Tân nhạc cho rạp chiếu bóng Nam Việt ở Chợ Cũ. Sau đó tới rạp Văn Cầm, Nam Quang, Thanh Bình, Việt Long. Rạp Nam Quang ở Chợ Đủi do một nhân viên kế toán làm tại hãng STIC (Société de Transport d’Indochine) của người Pháp tên là Lâm Trọng Khanh bỏ tiền ra xây cất. Ông Khanh vốn là con của một nghiệp chủ giàu sụ tên là Lâm Trung, gốc Tàu lai có ngôi biệt thự ở góc đường Aras (sau đổi tên lại là đường Cống Quỳnh) và đường Galliéni (sau đổi là đại lộ Trần Hưng Đạo). Còn rạp Thanh Bình ở Chợ Thái Bình do một chủ nhân xưởng sửa chữa máy vô tuyến điện Mécanal Radio ở  đường Lefebvre (sau đổi tên là đường Nguyễn Công Trứ) bỏ tiền ra xây cất. Rạp Thanh Bình tân thời và bảnh nhất vì sân khấu lẫn bao lơn (balcon) và chỗ chứa hàng ghế khán giả rộng rãi, lại có chỗ để gửi xe đạp cùng xe gắn máy ở bên hông rạp, thập phần tiện lợi cho khán giả. Từ phụ diễn Tân nhạc đi đến các tổ chức Đại nhạc hội không xa vì Đại nhạc hội cũng gần giống như chương trình phụ diễn Tân nhạc, nhưng thay vì chiếu phim thì họ tăng cường thêm nhiều tiết mục văn nghệ trình diễn hơn, làm thỏa mãn khách mộ điệu hơn. Lần lượt về sau, cho tới chung cuộc miền Nam, những rạp sau đây đều có chương trình phụ diễn Tân nhạc như rạp Việt Long ở Bàn Cờ, rạp Văn Cầm và rạp Cẩm Vân ở chợ Phú Nhuận, rạp Văn Cầm và rạp Moderne ở Tân Định (có tới 3 rạp Văn Cầm ở Sài Gòn lận!), rạp Cao Đồng Hưng và rạp Đại Đồng ở Bà Chiểu, rạp Thanh Vân ở Hòa Hưng, rạp Long Vân ở Quận 3 Sài Gòn … Nhưng rạp Việt Long chỉ có sau khi chính quyền cho xây cất khu chợ Bàn Cờ. Chính ở rạp nầy, hình như nhạc sĩ Đức Quỳnh tổ chức phụ diễn Tân nhạc cùng Đại nhạc hội thường xuyên. Vào thuở trước Hiệp định Genève, tức là dưới chánh thể Quốc Gia trong Liên Hiệp Pháp, trong số khán giả xem phim chiếu bóng còn có nhiều người Pháp. Cho nên trong các chương trình phụ diễn Tân nhạc, Trần văn Trạch giới thiệu từng tiết mục bằng hai thứ tiếng (tiếng Việt và tiếng Pháp). Đôi khi có chị Minh Trang hoặc anh Thu Hồ, anh Mạnh Phát đảm nhiệm công việc nầy.

Phạm Duy và ban Thăng Long bỏ chiến khu Việt Bắc, dinh tê về Hà Nội rồi vào Nam lập nghiệp năm 1951. Những nhạc phẩm rất thịnh hành của anh trong thời anh theo kháng chiến ở Việt Bắc như “Nhạc Tuổi Xanh”, “Khúc Hát Sông Lô”, “Về Đồng Quê” được anh sửa đổi những lời sắt máu thành những lời tươi sáng yêu đời. Lúc đầu ban Thăng Long chỉ có Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng. Về sau mới thêm Phạm Duy và Khánh Ngọc. Lối hợp ca của họ đến Sài Gòn gây giông bão ngay, song song với bè chính còn có thêm bè hai, bè ba nghe thật sướng lỗ tai. Những bản do họ hát đều là nhạc hành khúc hay nhạc vui tươi như các bản “Nghệ Sĩ Hành Khúc” và “Ngựa Phi Đường Xa” của Lê Yên, “Thanh Niên Việt Nam”, “Bình Dân Học Vụ”, “Về Đồng Quê” của Phạm Duy, “Hò Leo Núi”, “Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng”, “Được Mùa”, “Tiếng Dân Chài” của Phạm Đình Chương. Lối hòa âm lạ tai cùng lối trình diễn nhộn nhàng biến màn hợp ca của họ thanh cây đinh sáng chói trong các chương trình phụ diễn Tân nhạc hay trong các chương trình Đại nhạc hội. Từ trước, mỗi khi hợp ca thì các ca sĩ cùng hát bè chính nghe như bầy bò chạy rần rần. Giờ khán giả lại được nghe ban Thăng Long chơi trội với màn hợp ca bằng các bè khi thì quấn quyện ôm ấp nhau, khi thì chẻ ra làm ba cực kỳ mê cảm, bởi đó giới sành điệu không say mê sao được? Thuở đó có nhiều khán thính giả thường bảo rằng ban Thăng Long với các ca sĩ Hoài Chanh, Hoài Ớt, Thái Tiêu, Thái Hành để chỉ rằng cả bốn anh em trong gia đình Thăng Long biết ướp nhiều gia vị cho màn hợp ca làm cho màn hợp ca thập phần nồng mặn.

Song song với ban hợp ca Thăng Long, hai chị Thái Thanh và Thái Hằng cũng xuất hiện trong những màn song ca như “Dưới Nắng Hồng” của Dương Thiệu Tước, “Dòng Sông Xanh” nhạc của Johann Strauss, lời Việt của Phạm Duy. Còn Hoài Trung và Hoài Bắc thì song ca “Hàm Xôi Phá Xa” mà khán giả vẫn không sao quên được những câu:

Ai mua lạc rang

Nóng ngon thêm ròn?

Ngoài ra, nhạc sĩ Lê Thương thường soạn những màn nhạc cảnh như “Lịch Sử Loài Người”, “Trên Sông Dương Tử”. Nhưng nhạc cảnh vẫn còn chói sáng trong tâm tưởng khán giả là nhạc cảnh “Hòn Vọng Phu”. Sau đó, có nhiều người khác bắt chước ông soạn những nhạc cảnh “Trầu Cau”, “Thiếu Phụ Nam Xương”, “Sơn Tinh Thủy Tinh” v.v … Tôi xin điểm từng khuôn mặt của thuở bắt đầu vào thời đại hoàng kim của chương trình phụ diễn Tân nhạc và chương trình Đại nhạc hội, từ năm 1949 cho tới khởi đầu phong trào người Bắc theo đợt sóng di cư vào miền Nam lập nghiệp.

Trần văn Trạch:

Tuy có giọng hát mùi rệu và cực kỳ mê cảm, nhưng anh nhắm xa, nhận thấy giọng nầy chỉ thích hợp với giới sành nhạc, nhưng khó mà khua động vào mọi tầng lớp khán thính giả, cho nên anh xoay qua hát nhạc hài hước. Trong những màn nhạc hài hước ấy anh có thể giả giọng tiếng máy bay, tiếng dội bom, tiếng nã rốc-kết. Đôi lúc anh sửa lời các bản nhạc lừng danh thành lời hài hước, chẳng hạn:

Người nghệ sĩ đi té xuống mương

Ba ngày sau nổi lên sình trương

Sình thì sình em vẫn cứ thương

Thương thì thương, nhưng vẫn sình trương.

(Nhại bài “Lỡ Chuyến Đò” của Anh Việt)

Chiều ơi, lúc chiều về bà bóng đi tu

Ông chồng buồn, ổng khóc hu hu, hỡi chiều!

(Nhại bài “Nương Chiều” của Phạm Duy)

Tò te ma le đánh đu,

Tarzan nhảy dù, Zorro bắn súng

Chết cha, con ma nào đây, thằng Tây hết hồn

Thằn lằn cụt đuôi

(Theo điệu bài “Ce n’est qu’un Aurevoir”)

Ca hát như vậy chẳng chút nghệ thuật, chẳng còn niêm luật lề lối gì cả. Nhưng nhờ vậy, cách chọc cười của anh làm ấm nóng và nhộn nhàng sân khấu. Mỗi khi Trần văn Trạch xuất hiện trên sân khấu là y như mang theo cơn bão cười đến. Anh để tóc dài như người sơn cước, ăn mặc cẩu thả với màu tối hù cho ra dáng dấp nghệ sĩ, cho có nhân dáng một người tiền sử. Nhưng nụ cười hiền hậu và ấm áp lúc nào cũng nở sáng trên môi anh. Khán giả yêu mến anh; anh nói ra câu nào, làm trò khỉ cách nào thì họ cũng cười ngặt nghẽo. Màn trình diễn của anh chấm dứt, cơn cười vẫn còn sôi sục trong lòng họ. Đó là thời kỳ ngôi sao anh đang chiếu sáng lộng lẫy. Thiên hạ dễ bị kích thích ở lối chọc cười của anh. Trần văn Trạch có cho thu thâu vào dĩa nhựa bản “Đừng Có Lo” của chính anh được diễn tả bằng giọng hát du dương cực độ của anh. Tuy là bản nhạc hài hước, nhưng lời hát thật thâm trầm với nhân sinh quan thật dễ thương.

Đừng lo lắng! Đừng thèm lo lắng

Có riêng gì ta khổ tâm mà lo rầu

Châu Do còn bị Gia Cát, chín nút còn bị ba Tây

MacArthur tiên sinh còn phải có lúc cuốn gói chạy

dông về vườn.

Khi trình bày bản nầy, Trần văn Trạch áp dụng khi thì bằng giọng thật chắc nịch như đá hoa cương, khi thì anh bào mỏng giọng hát cho thật mượt mà như lụa và chói chang như gấm vóc. Ở những bản mùi rệu và du dương như “Dạ Khúc” của Nguyễn Mỹ Ca, “Nàng Hà Tiên” của Lê Thương, “Đừng Có Lo” của Trần Văn Trạch một khi đã được chính anh hát rồi thì các ca sĩ khác không dám hát. Bởi giọng của anh đẹp kinh khủng và bởi anh có lối trình bày độc đáo tuyệt vời, không trùng lẫn với giọng hát và cách trình diễn của ai, cho nên nếu ai đó hát những bài vừa kể trên thì cầm chắc là phải thua sút anh ngay.

Vào đầu mùa nền Đệ nhất Cộng Hòa, ban Sầm Giang của Trần văn Trạch giới thiệu được các tài năng mới như Ngọc Phu, Đỗ Đình Phù, Tô Huyền Vân, Yến Hương v. v … Trong phim Thoại Khanh Châu Tuấn, Trương Chi My Nương, anh có cho Ngọc Phu đóng hai vai quan trọng. Còn trong phim Lưu Bình Dương Lễ, anh cho Tô Huyền Vân đóng vai Dương Lễ bên cạnh Vân Hùng trong vai Lưu Bình, Kim Cương trong vai Châu Long. Ngọc Phu có duyên với điện ảnh hơn, cho nên về sau Ngọc Phu tiếp tục nhào qua lãnh vực nghệ thuật thứ bảy cho tới ngày Cộng Sản bạo chiếm Sài Gòn.

Về điện ảnh, Trần văn Trạch có đóng phim Lòng Nhân Đạo bên cạnh Kỳ Nữ Kim Cương. Phim nầy phỏng theo quyển Tiếng Súng Đêm Mưa của Phú Đức, do hãng Mỹ Phương sản xuất. Sau đó ít lâu, anh mạnh dạn làm đạo diễn cho các cuốn phim thần thoại của hãng Việt Thanh như: Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương, Lưu Bình Dương Lễ, Bạch Viên Tôn Các, Hậu Bạch Viên Tôn Các, Tam Tạng Xuất Gia, Mục Liên Thanh Đề, Trương Chi My Nương, Ông Hoàng Ốc, Người Vợ Hiền v.v … Anh đã thắp hào quang thêm cho cặp Vân Hùng, Kim Cương ở lãnh vực điện ảnh và giới thiệu những tài năng điện ảnh mới như La Thoại Tân, Trang Thiên Kim, Đoàn Thiên Kim v. v …

Báo chí gọi anh là Quái Kiệt Trần văn Trạch. Nhưng theo tôi, biệt danh ấy vẫn chưa xứng đáng cái công lao của anh đối với ca nhạc và điện ảnh từ giai đoạn phôi thai cho tới trưởng thành.

Năm 1990, trong bữa dạ yến tại nhà hàng Đào Viên, tôi được ngồi gần bên Quái Kiệt Trần văn Trạch. Anh có ngỏ lời với tôi rằng anh sẽ viết một quyển hồi ký. Nhưng than ôi, anh cứ đau ốm dây dưa mãi nên cầm bút không nổi và từ trần vào năm 1993. Trong giới nghệ sĩ đến thăm nom anh khi anh nằm bịnh viện chỉ có Cao Thái là thường xuyên nhứt. Nhắc tới anh, nữ sĩ Huyền Châu không sao cầm được nước mắt. Và tôi ngậm ngùi khó tả. Chỉ được chuyện vãn với anh hai lần trong hai bữa dạ yến (lần đầu ở nhà hàng Majesty, lần thứ hai ở nhà hàng Đào Viên) mà tôi cảm thấy hãnh diện đã được một nghệ sĩ lớn tâm sự về bước chông gai thăng trầm của anh trên con đường nghệ thuật.

Trước hôm cùng tôi ôn cố nhi tri tân ở quán Đào Viên ít lâu, nhân dịp nữ danh ca Thái Thanh qua Paris trình diễn ở rạp Maubert Mutualité, Trần văn Trạch có thay mặt ban tổ chức lên sân khấu tặng cho chị một bó hoa. Cả hai ôm nhau cảm động, Thái Thanh rưng rưng nước mắt làm cho rất nhiều khan giả khóc theo. Tôi còn nhớ khi Phạm Duy và ban Thăng Long vừa vào Nam thì Trần văn Trạch tiếp đón họ niềm nở và chụp chung một tấm ảnh với họ. Khi đăng ảnh lên các tuần san kịch ảnh thì dưới bức ảnh lại đề là “Ban Thăng Long và nghệ sĩ Nam Tiến”.

Trần Văn Trạch

Trần Văn Trạch

Trần Văn Trạch

* Túy Hoa:

Từ sân khấu Nam Phi, chị qua gánh Tố Như, rồi sống hẳn về Tân nhạc giữa lúc đang độ thanh sắc bừng trổ sung mãn. Chị hát nhạc Pháp và lời Pháp rất thạo. Trên sân khấu Đại nhạc hội, hay trong chương trình phụ diễn Tân nhạc, chị mặc áo đầm, áo sơn nữ miền Bắc. Lúc đó, cuộc đời của chị đang lên hương. Số là nghĩa mẫu của chị là nữ hoàng ca kịch cải lương Năm Phỉ nhận thấy cô em gái của mình là nữ nghệ sĩ Mười Truyền và cô nghĩa nữ Túy Hoa của mình tuy là đào cải lương, nhưng ca không thạo những bài bản lắt léo như “Tứ Đại”, “Tây Thi”, “Văn Thiên Tường” … Bà lại thấy xa: cái thế hệ của Mười Truyền và Túy Hoa còn có hai bộ môn khác có thể đóng góp huy hoàng vào sân khấu cải lương, ngoài Cổ nhạc Nam Kỳ ra. Đó là bộ môn vũ và bộ môn nhạc Tây vậy. Hồi Túy Hoa theo gánh cải lương Nam Phi của bà thì Tân nhạc còn quá phôi thai, quá ít bài hát. Cho nên bà khuyên Túy Hoa phải noi gương cô đào Kim Thoa học hát nhạc Tây lời Việt. Không ngờ Túy Hoa chẳng những hát nhạc Tây lời Việt rựa ràng mà còn hát nhạc Tây lời Tây với lối phát âm vững vàng. Còn Mười Truyền khi còn là vợ bé của thầy Đội Có, một tay giàu sụ nổi tiếng ở Phú Nhuận, có lần được chồng cho sang Pháp. Bà Năm Phỉ khuyên em gái nên học môn vũ. Cho nên về sau, trên sân khấu Nam Phi, Mười Truyền biểu diễn những màn vũ cực kỳ ngoạn mục, nổi tiếng như cồn trong 5 năm cuối của thập niên 50. Mười Truyền khi vũ theo bản valse “Le Beau Danube Bleu” được báo chí tán thưởng nhiệt liệt. Nhưng mà nói cho cùng, người sành điệu thừa hiểu giọng của Túy Hoa có vẻ gì mong manh, dù nó mềm mại, trong sáng và lưu loát. Giọng hát đó trội hơn giọng hát tài tử, nhưng chưa đạt cái mức nhà nghề. Nếu không có nhan sắc lộng lẫy dưới ánh đèn sân khấu, nếu không có điệu bộ diễn tả hấp dẫn thì Túy Hoa không thể chinh phục khán thính giả bằng giọng hát thuần túy của mình. Trong màn nhạc cảnh “Xuân Xuân”, chị mặc áo đầm đỏ, vừa hát vừa múa theo điệu samba của bản nhạc “Xuân Xuân” của Nguyễn Hữu Ba tạo nên một hiện tượng lạ mắt và hấp dẫn. Chị mặc áo chàm thêu ngân tuyến, đeo kiềng bạc, vòng tay và kiềng chân đều bằng bạc để thủ vai cô sơn nữ miền Cao Bắc Lạng và hát bản “Nụ Cười Sơn Cước” của Tô Hải hoặc bản “Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn là tiết mục sáng chói trên sân khấu. Nói gì những màn ca múa cùng với Minh Nguyệt, Hoàng Yến và Hồng Lan với y phục gái Hạ-uy-di, với y phục gái Ai cập, gái Tàu, gái mạn ngược đất Bắc, chị luôn luôn gây không khí ấm áp và sôi nổi trên sân khấu.

Mãi tới tuổi tứ tuần, Túy Hoa vẫn có thể đóng vai đẹp trên sân khấu. Càng lớn tuổi, óc trào lộng của chị càng bừng nở nên chị đóng các vai hài rất đạt. Trong phim Tình Quê Ý Nhạc của hãng Mỹ Vân, chị đóng trội hơn Mộc Lan dù chị thủ vai nhì còn Mộc Lan thủ vai chính. Chị còn đóng phim cải lương Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài bên cạnh nữ tài tử Lan Chi (khi đi hát cải lương thì lấy tên Thanh Lựu) cũng rất mặn mà sắc sảo. Trong phim nầy Túy Hoa thủ vai Chúc Anh Đài, còn Lan Chi giả trai thủ vai Lương Sơn Bá. Tiếc thay phim quá ngắn nên các chủ rạp miệt Lục Tỉnh đành cho chiếu cặp với các phim Tàu hoặc các phim Nhật Bản do hãng Mỹ Vân chuyển âm.

Cuộc hôn nhân giữa Túy Hoa và Anh Lân đem lại cho Túy Hoa nhiều cay đắng. Anh Lân có trình độ học vấn tầm thường, trước khi kết hôn với Túy Hoa thì chưa biết gì về chuyện soạn kịch, chưa biết đóng kịch. Khi soạn được kịch rồi thì anh vẫn chưa thể sáng tác nổi một vở kịch nào xuất sắc vì anh không nắm vững kỹ thuật sân khấu. Còn về chuyện đóng kịch thì anh chỉ dám đảm nhận những vai nhạt nhẽo hoặc những vai vô thưởng vô phạt mà thôi. Khoảng tuổi ngũ tuần là quãng thời gian cô đơn nhiều nhất của Túy Hoa. Sau khi rời bỏ Anh Lân chị có gặp một người yêu nhỏ tuổi hơn chị nhiều. Nhưng người tình ấy lại đoản mệnh, chung sống với chị không bao lâu thì anh bị bạo bệnh từ trần. Có lần chị tìm an ủi bên cạnh Ngọc Chiếu. Trước sau, cả hai vẫn chỉ là bạn thuần khiết. Họ gặp nhau lúc chàng béo phị và có cái bụng to như thùng nước lèo, còn nàng thì phấn lợt hương phai, chuyên thủ các vai hề cái trên sân khấu và trên màn ảnh Tivi. Họ tìm nhau để ôn lại cuộc đời hưng phế và sự nghiệp thăng trầm bên sóng biển Vũng Tàu, thế thôi!

* Bích Thuận:

Vào năm 1951, chị Bích Thuận khi đi Tây về cộng tác với đoàn Phụng Hảo do bà Bảy Phùng Há làm giám đốc. Chị xuất hiện trên đài Pháp Á thường xuyên và xuất hiện luôn trên các sân khấu Đại nhạc hội. Trong thời gian ở bên Pháp, Bích Thuận có quen được nhạc sĩ Đan Trường, một quân nhân trong quân đội Pháp và sinh sống khá lâu trên đất Pháp. Khi về nước, những bản nhạc của Đan Trường như “Trách Người Đi”, “Chiếc Áo The Thâm Tàn” được chị trình bày thật hấp dẫn. Nhưng khi bản “Trách Người Đi” được thâu vào dĩa Polyphone thì lại do Mộc Lan hát. Theo tôi, Kim Chung, Bích Hợp và Bích Thuận khi hát Tân nhạc thì ngân nga rất vững, giàn trải làn hơi rất nghề. Họ không hát sai và hát gãy khi đến những chỗ hóc búa. Và phải công nhận làn hơi của họ dồi dào. Bích Thuận hát rất đơn giản, không hề dùng xảo thuật điệu đàng. Kim Chung và Bích Hợp chỉ điệu một chút phớt nhẹ để tăng cái nữ tính yêu kiều trong giọng hát chứ không nghẹo vặn vẹo giọng hát. Tự bản chất, giọng hát của họ là vàng ròng, là ngọc báu, sáng đẹp tự nhiên, chứ không cần giồi mài cắt dũa. Tân nhạc không phải là địa bàn hoạt động mới mẻ của Bích Thuận, nhưng nó mở tầm hoạt động của một người có tài năng trình diễn như chị. Do đó, chị trở thành cây đinh sáng chói trong các buổi phụ diễn tân nhạc hoặc trong các buổi Đại nhạc hội.

Trong ba năm chót của thập niên 40 và trong 5 năm đầu của thập niên 50, ngôi sao của chị Bích Thuận sáng lộng lẫy. Cho nên, nhất cử nhất động của chị được báo chí theo dõi. Việc người đàn bà lai Pháp tên là Julie Gicquel bỏ tiền ra lập gánh cho chị bị báo chí thêu dệt giữa bà ta và chị có những liên hệ đồng tính luyến ái. Ít lâu, báo chí lại tung tin chị bị bịnh cùi. Giờ đây, trải qua trên 40 năm, khi ngồi ôn những chuyện xưa bên tách trà mạn sen với chị trong căn nhà ấm cúng vùng Belleville (thuộc quận 20 thành phố Paris), tôi được người nữ nghệ sĩ tài danh ấy tâm sự:

— An nên biết bà Julie Gicquel có chồng và có hai con. Hồi xưa, khi Mỹ chưa đổ bộ qua xứ mình thì làm gì có chuyện đồng tính luyến ái? Cái bệnh kẻ đồng phái yêu nhau là do tụi lính Mỹ đem qua xứ mình chứ ai? Và có một thời, chị dùng sâm và yến tẩm bổ quá nhiều, thể chất chị không thể hấp thụ quá nhiều chất bổ nên mặt chị sưng vêu lên, chỉ cần uống thuốc Bắc và châm cứu là khỏi ngay.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment