This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Một thanh niên tham gia biểu tình gần Tòa Đại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội bị công an chìm bắt đi. (Hình minh họa: An Nam/AFP/Getty Images)
“Nhìn cái xấu cái ác mà không bất bình, không căm tức, không phẫn nộ. Nhìn thấy cái đẹp mà không ngưỡng mộ, không say mê, không thích thú. Thấy cảnh tượng bi ai lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can. Vậy đó còn là con người không hay chỉ là cái xác khô của một cỗ máy!”
Những dòng chữ các bạn vừa đọc không phải là một định nghĩa lấy ra từ một cuốn từ điển nào mà chỉ là những ý tưởng của một em học sinh lớp 9 tại Việt Nam, trình bày trong một bài luận văn về tính “vô cảm,” là tĩnh từ mới, không thấy trong những tự điển cũ để nói về một trạng thái thờ ơ, tê cứng của tâm hồn trước những những điều đang xảy ra chung quanh mình, được thấy hoặc được nghe.
Thái độ này là thái độ của kẻ bàng quan đứng ngoài cuộc, cũng có thể xem là thái độ “tọa sơn quan hổ đấu,” mặc dù không có tính cách thủ lợi như trong một thành ngữ của Trung Quốc ngày xưa, nhưng rõ ràng là một thái độ thờ ơ, không thân thiện, không có trách nhiệm cũng không muốn dây dưa phiền toái đến mình. Một đứa trẻ qua đường bị xe đụng, bị thương nằm giữa đường, tài xế đã vô trách nhiệm bỏ chạy, khách qua đường cũng để mặc, thờ ơ, đi thẳng. Thái độ này phát sinh từ tâm trạng một phần không muốn dính líu đến sự việc như phải khai báo, làm chứng, mặt khác đã mất thời giờ mà chẳng lợi ích gì cho cá nhân mình. Đây chính là lối sống “ung dung tự tại,” hay kiểu “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại,” “sống chết mặc bây” mà chúng ta vẫn thường nghe thấy.
Đối với quần chúng, nhất là trong các quốc gia thiếu văn minh, không được hưởng một nền “công dân giáo dục,” chuyện này cũng dễ hiểu, nhưng đối với các nhà lãnh đạo, nhất đối với những người tự cho mình là kẻ sĩ, điều này không thể tha thứ được.
Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư kể chuyện Vua Lý Thánh Tông, một năm trời trở lạnh, nhà vua nghĩ đến những phạm nhân đang chịu án trong ngục thất, ra lệnh cho các quan đem chăn chiếu phát thêm cho tù và nói rằng: “Trẫm ở trong cung, ăn mặc thế này mà còn thấy rét, những kẻ nghèo khó, những tù phạm phải trói buộc, cơm không có đủ ăn, áo không có mà mặc, thì khổ sở đến đâu!” Trong một câu chuyện khác, nhà vua nhân một buổi du hành ban đêm mùa Đông ra ngoài cung điện, thấy một kẻ ăn mày nằm co ro lạnh lẽo ở vệ đường, vua bèn cởi long bào đắp cho người ấy.
Những câu chuyện kể này có thể chỉ là giai thoại, nhưng quả thật nếu cấp lãnh đạo không biết thương dân, không biết nghĩ đến quyền lợi của dân, lo cho dân no ấm, “vô cảm” với nỗi nhục nhằn của dân thì chẳng khác chi một lũ cướp ngày có quyền lực trong tay.
Trong xã hội, kẻ sĩ là người dẫn đầu. Khổng Phu Tử yêu cầu kẻ sĩ sống phải có trách nhiệm với xã hội, với cuộc đời, với đồng loại, với con người. Dù xã hội này, cuộc đời này có thế nào đi chăng nữa thì kẻ sĩ vẫn phải tận lực nhập thế, nỗ lực dấn thân vào cuộc đời chứ không thể lấy lý do “tránh đời ô trọc” để lẩn tránh trách nhiệm kẻ sĩ: con người không thể tồn tại ngoài thế giới người, cũng tức là, con người không thể sống ngoài xã hội của chính mình. Tiêu chuẩn đầu tiên của kẻ sĩ này là biết nhục, biết xấu hổ, hiểu rõ rằng không biết nhục không phải là người.
Giới văn nghệ được xem như thành phần của kẻ sĩ dù xưa hay nay. Người trí thức, văn nghệ sĩ náu mình, thoát ly thực tế đời sống, ôm ấp những tri thức của sách vở, xa rời thực tế, được gọi là văn nghệ sĩ sống trong “tháp ngà.” Ở đây chúng tôi không nhắc lại các quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” và “nghệ thuật vị nghệ thuật” đã được tranh luận nhiều. Nhưng nếu thực sự văn chương, kịch nghệ là một điều gì không ăn nhập với thời thế, nhất là thời thế hiện nay thì quả thật đó là một thứ trang trí không cần thiết cho con người. Thời bình, chúng ta đã nghe định nghĩa về một người nghệ sĩ là một kẻ “ru với gió, mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây” nhưng trong một đất nước đã đau khổ vì – chiến tranh, tù đày, chia ly, chết chóc và ngày nay, là áp bức, bất công, khốn cùng, sa đọa, vô đạo-văn chương, kịch nghệ có còn là thứ đứng bên lề cuộc chiến, bên lề cuộc đời, “trùm chăn,” không thấy, không nghe, không nói, không muốn dính dấp đụng chạm gì đến nỗi vui buồn của vận nước, hay “không dính đến chính trị” như cách nói của nhiều ca sĩ “mất trí nhớ” đương thời.
Bài thơ “Thạch Hào Lại”của Đỗ Phủ lại tả cảnh bắt lính của thời chiến tranh trong một đêm khi nhà thơ ghé qua Thạch Hào thôn, là một bài thơ hay được truyền tụng, vì mô tả được hoạt cảnh của một thời, để lại trong ta chút ngậm ngùi:
“Đêm khuya tiếng nói im rồi,
Vẫn nghe nức nở tiếng người khóc thương.
Sáng mai khách bước lên đường,
Chỉ cùng ông lão bẽ bàng chia tay.”
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Đỗ Mục, một đêm trăng ghé qua bến Tần Hoài, buồn trách bọn xướng ca không nhớ đến nhục mất nước, bên sông vẫn đàn ca xướng hát:
“Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng ‘Hậu Đình Hoa.’
Nhà phê bình Nguyễn Mạnh Trinh đã viết về nhà văn Phan Nhật Nam, như là một nhà văn nhập thế, chia sẻ những nỗi đau của đồng đội, đồng bào: “Tôi muốn nói về một người lính và viết văn có lửa. Những tác phẩm của ông là kết tinh của xương máu, tủy, da của một người lính đã trải qua những thống khổ của cuộc chiến. Văn chương của ông không phải là một thứ cưỡi ngựa xem hoa mà là cuộc đời thực, của cảm xúc thực.”
Phải xem Việt Khang, một người nhạc sĩ trẻ ở trong nước như một kẻ sĩ:
“Tôi không thể ngồi yên
Khi nước Việt nam đang ngả nghiêng
Dân tộc tôi sắp đắm chìm
Một ngàn năm hay triền miên tăm tối.
(Việt Nam Tôi Đâu?)
Trước năm 1960, ở miền Nam chúng ta có kịch tác gia Vũ Đức Duy với những vở kịch ngắn nói về hiện trạng xã hội và thẳng thắn nói đến những thói hư tật xấu của con người. Ở miền Bắc, Lưu Quang Vũ với những vở kịch lừng danh, phê phán thẳng vào con người trong xã hội, cũng được coi như kê kích thẳng vào chế độ cộng sản, đã đổi lại sự “dấn thân” của ông với cái chết của chính ông, vợ, Xuân Quỳnh, và một đứa con.
Tại hải ngoại, kịch nói không có cơ hội phát triển, có thể nói thảm cảnh chiến tranh, tù binh, vượt biển, những cảnh đổi đời sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975 ở hải ngoại và trong nước là những đề tài xúc động vô tận mà các nhà viết kịch có thể khai thác, nhưng tiếc thay, chúng ta thiếu những nhà viết kịch có tài. Khán giả dễ dãi bằng lòng với những vở kịch “xưa hơn trái đất” như “Trà Hoa Nữ” (La Dame aux Camélias) cả 166 năm, hay thời Pháp thuộc như “Ông Cò Quận 9,” “Lá Sầu Riêng,” “Đời Cô Lựu!”
Trong khi ngư dân của chúng ta bị đánh đập, xô đẩy, mất mạng ngoài Biển Đông, dân oan và người biểu tình quằn quại dưới roi vọt của nhà cầm quyền Hà Nội, thì ở trong nước cũng như hải ngoại, trên sân khấu, ca sĩ vô cảm vẫn oằn oại với trong những tư thế khích dục, lõa lồ, có khi phơi bày cả “nội y.”
Trong khi mỗi ngày chúng ta nghe những nguồn tin về phận người xót xa ở trong nước, thì trên màn ảnh người ta dễ dãi với những tràng cười không dứt với những lời nói châm chọc, thậm chí chửi bới nhau giữa hai anh hề diễu, không bài bản, không biên kịch và không hề có một ý nghĩa nào. Trong khi tàu giặc đã vào Biển Đông, thảm họa mất nước đã đến nơi thì thương nữ, văn nhân còn muốn về làm đẹp cho chế độ, ca hát, vẽ vời cho cái nơi chốn mà họ đã trốn chạy lúc ra đi.
Câu nói mà chúng ta đã nghe quá nhiều lần này, lại là của Karl Marx: “Chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại nỗi khổ đau của đồng loại mà chăm lo riêng cho bộ lông của mình.”
Sự quay lưng đó chính là thái độ “vô cảm” của những nhà lãnh đạo, sĩ phu và trí thức trong hiện tình đất nước hôm nay: “Nhìn cái xấu cái ác mà không bất bình, không căm tức, không phẫn nộ. Thấy cảnh tượng bi ai lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can!”
Áp Tết. Trời se lạnh. Những cơn mưa phùn thoa mỡ trên các lối đi. Tù trợt té lạch bạch. Tù trẻ còn gượng đứng dậy, nhưng tù già phải có người đỡ. Tù dặn dò nhau trước: vác cây vầu như thế nào để khi trợt chân thì quăng nó ra xa dù lăn xuống suối bèn không thì cũng gãy cổ hoặc gãy chân, vì vầu vừa nặng, vừa dài đến bảy tám mét lại cong, nên rất khó giữ thăng bằng. Bùn đất không chỉ trên quần áo. Bùn trên mặt. Trên tóc. Trên khắp người.
Cá lóc tẩm bùn, nướng tên lửa rơm, khi chín lột ra, là một món ăn tuyệt vời của người miền Nam, nhưng tù đói tẩm bùn từ miền Nam ra, lại ăn món điểm tâm: một giờ lao động Xã Hội Chủ Nghĩa sáng Chúa nhật!
Ông Thiên, trật tự trại, thông báo tối qua, sáng mai, Chúa nhật, toàn trại có một giờ lao động Xã Hội Chủ Nghĩa. Mọi người đều phải tham dự, chỉ trừ những ai được cán bộ y tế cho nghỉ bệnh. Công việc là vô rừng vầu, đã có các đội đốn sẵn chất thành đống, vác một cây vầu ra đường ô tô cách trại khoảng 2 cây số. Vầu là họ nhà tre, giống như tre Mạnh Tông ở miền Nam. To. Dài. Ruột gần như đặc. Vầu càng non càng nặng, vì chứa nhiều nước. Một cây vầu khoảng 25 đến 30 ký. Ông cán bộ quản giáo lên lớp trước:
– Các anh mà cũng được nao động Xã Hội Chủ Nghĩa nà một vinh dự nắm. Vì trước đây nao động Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ dành cho người dân nương thiện để góp phần vào xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội mà thôi.
Như vậy, chính ông quản giáo đã chỉ cho tù biết, tù là loại bất lương và Chủ Nghĩa Xã Hội lại cần đến công sức tù đói và bất lương để xây dựng!
Đây là trại Khe Tối thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Trại nằm sâu trong một thung lũng hẹp. Sườn đồi có độ dốc thật đứng. Từ lộ chính đi vào phải qua một cây cầu khỉ, có suối khá lớn bên dưới. Đi trên đường lớn, nếu không tinh ý thì không nhận ra. Cây cầu thật nhỏ nhưng một trại tù thật lớn bên trong.
Qua cây cầu khỉ là con đường độc đạo, rộng khoảng một mét, chạy viền theo lưng chừng đồi. Một đập nước đắp cao ngăn dòng suối nhỏ nên khu lòng chảo biến thành một hồ nước thật lớn. Triền đồi hai bên hồ còn trơ những thân cây khô mục, cỏ mọc um tùm cao quá đầu người, chứng tỏ đây là một trại tù cũ đã hoang phế, nay lại đón tù mới.
Gần ba trăm người, lũ lượt bị gậy đi vào cổng. Hai lớp hàng rào nứa đã xiêu vẹo.
Trong sách giáo khoa cấp tiểu học, có bài tả về những ổ rơm trong mùa lạnh ở miền Bắc, thì lần đầu tiên, tù từ miền Nam được biết đến thế nào là ổ rơm. Một số lán đã xiêu vẹo, đổ nát, nên tù không đủ chỗ ở. Nghiêm thuộc trong nhóm được chia cho một phần tư hội trường, và ngủ trong ổ rơm. Nền đất hang hốc, ẩm mốc, bốc lên một mùi ngai ngái. Rơm cũng không có đủ cho nên chỉ trải ra một lớp thật mỏng rồi mỗi người đem đồ cá nhân ra trải lên làm chỗ nằm. Đám tù thật mệt mỏi nên chẳng mấy chốc đã thiếp vào giấc ngủ. Nhưng giấc ngủ thì chập chờn vì cơn đói lại hành hạ. Có tù đang lục soạn lại hành trang, moi móc chút sắn “ đánh” được đêm qua ở trại tù cũ. Có tù khật khừng bên điếu thuốc lào. Tiêu vói lấy cây đàn thùng, tự làm, của Nghiêm, so dây, rồi đánh nhịp rời một tình khúc. Nhiều tù đang nằm im, nhiều tù vắt tay lên trán. Tiếng đàn, từng giọt, từng giọt, rơi vào mênh mông.
Tiếng suối róc rách đâu đó, chảy len lỏi qua những riềm lá mục, âm vang giữa hoàng hôn của núi rừng tĩnh mịch. Tù không có án nên không biết ngày về.
Công tác đầu tiên là dựng lại trại. Đội làn nền. Đội vào rừng, đốn dang, chặt gỗ. Đội chặt dang thành từng khúc ngắn, dài độ bốn tấc, rồi đập dập, tách ra thành miếng, đan lại thành từng tấm lớn làm tranh để lợp nhà. Công việc tất bật vì phải hoàn thành để kịp đón năm mới, để khỏi bị ướt lạnh vì những cơn mưa phùn. Chỉ ba tuần nữa là Tết. Ba tuần nầy bên ngoài xã hội rất nhộn nhịp. Vất vả. Nghiêm lại nghĩ về Hoàng. Cô nữ sinh chưa kịp rời mái trường đã bị ném thẳng vào biến cố trọng đại của xã hội, không một xu dính túi, lại đèo bòng hai con còn thơ dại. Hoàng giờ nầy đang làm gì? Đang sửa soạn đón Tết hay vẫn những khoai sắn, nơi kinh tế mới? Con đâu rồi, đứa về nội, đứa về ngoại, hay mẹ con cùng ở với nhau đón Tết? Tết ngày xưa mất rồi. Tết đã trong mịt mờ, ký ức.
Cứ mỗi lần di chuyển là mỗi lần tù nghĩ về gia đình, và mỗi lần xa gia đình hơn.
Dao thì cùn mà cạnh dang rất sắc. Sắc như dao cạo. Chúng cứa một đường ngọt lịm, đến khi biết đau thì đã ăn sâu vào tới tận xương. Tù thiếu máu, nhưng máu tù lại rải rác khắp nơi. Nào muỗi, nào vắt, nào đỉa, nào rệp, nào ruồi vàng, nào con ve. Gặp ruồi vàng hoặc ve chích thì đau buốt tới tim. Máu tù đã thiếu nhưng rẻ. Máu tù đâu phải là máu người! Đảng đã dõng dạc lên lớp khi còn ở trong Nam: các anh nà tội đồ của dân tộc, các anh đã từng ăn gan người, uống máu người không biết tanh. Cách Mạng giải phóng các anh sớm, nếu không, các anh đem dâng cả vợ con các anh cho đế quốc Mỹ để đổi nấy bơ thừa, sữa cặn!
Máu, cái quý nhất của sự sống thân xác, giờ đây là con số không. Con chó còn để giữ nhà hoặc ăn thịt, nhưng tù thì không là gì cả.
Từ ông trại trưởng cho đến các ông quản giáo đều cùng một điệp khúc trong dịp Tết:thi đua nập công dâng Đảng. Năm mới thắng nợi mới. Tập trung cải tạo tốt, nao động tốt, chấp hànhnghiêm chỉnh nội quy trại để sớm được về đoàn tụ với gia đình. Tù nghe điệp khúc nầy để có được mấy miếng thịt trâu, mấy điếu thuốc, cục thuốc lào, một tí đường. Hồ hỡi. Phấn khởi!
Trên hội trường, ông Đại Úy trại trưởng không bao giờ xưng tên (nên tù đặt tên ông là “chín ngón”, vì một bàn tay của ông cụt mất một ngón) bắt đầu điệp khúc. Sau đó, ông nhìn khắp hội trường như tìm kiếm một điển hình quan trọng. Cuối cùng ông chỉ tay vào Việt, một tù trẻ gầy yếu, mang đôi kính dày cộm. Việt đứng dậy, gỡ mắt kiếng ra, vì nội qui bắt buộc bất cứ tù nào nói chuyện với cán bộ đều phải lấy kiếng xuống, để tỏ ý tôn trọng, nhưng thực ra họ rất dị ứng với những người đeo kiếng. Ông chín ngón hỏi Việt:
– Tôi nghe nhiều người than là đói quá không cải tạo được, anh kia, trả lời tôi là có cải tạo được không?
Có lẽ là do thói quen, sau khi đặt câu hỏi, ông chín ngón đặt tay mặt của ông lên khẩu súng lục ông đang đeo lủng lẳng bên hông.
Việt, sĩ quan tình báo mới ra trường còn hiền lành đến ngây thơ. Khi lấy kiếng xuống, đôi mắt Việt như lồi ra, khuôn mặt thật khù khờ:
– Tôi tên là Nguyễn Hoàng Việt, xin trả lời cán bộ: dạ, thưa được.
Việt ngồi xuống. Ông cười. Nếp nhăn hai bên má ông sâu xuống. Lưỡng quyền nhô lên. Hàm răng vẫu, vàng khói thuốc, lộ rõ. Ông tiếp:
– Anh Việt nói được, còn cả hội trường, ai nói không được, thử đưa tay lên coi nào?
Hội trường im phăng phắc. Tù ngơ ngác nhìn nhau. Yên lặng. Yên lặng là đồng ý! Tù “đồng ý” là cải tạo được. Vì cải tạo là tư tưởng. Tư tưởng đâu có liên quan gì đói hay no. Trong truyện phim Cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn, đã được học tập, chiến sĩ Nam sốt đến 41 độ C nhưng nhờ tư tưởng vững mạnh nên vượt qua cả bệnh để tiếp tục chiến đấu cơ mà! Do vậy, bệnh tật đâu có ảnh hưởng gì đến tư tưởng! Đảng bảo được, thì dĩ nhiên là được. Đảng bảo khắc phục, thì dĩ nhiên là khắc phục. Đảng như không khí, trùm lấp khắp nơi. Đôi mắt của Đảng nhìn thấy tất cả. Xuyên qua bóng đêm. Thấy cả những giấc mơ của tù, kể cả trong việc đi ỉa, đi đái (vì nội quy trại bắt buộc, ban đêm tù ra khỏi chỗ ngủ, đều phải nói to vào bóng đêm: xin phép cán bộ tôi đi đái hay xin phép cán bộ tôi đi ỉa). Trong đêm thanh vắng, tĩnh mịch nơi núi rừng, cứ vang vang tiếng đi ỉa đàng nầy, tiếng đi đái đàng kia. Tiếng ỉa, đái rõ ràng thay vì dùng tiếng khác tế nhị, lịch sự. Loại ngôn ngữ thô lỗ nầy là hình thức giải tỏa những dồn nén, thay cho tiếng chưởi vào tai cán bộ.
Vô tình, Đảng là bóng đêm đầy đe dọa, đang rình mò những việc riêng tư nhất của con người!
Ông chín ngón trại trưởng, đại diện cho Đảng, cho nên ông thấy hết, ông biết hết. Nhân danh Đảng, ông bắt mọi người tuân hành. Rồi ông mở lại điệp khúc khoan hồng nhân đạo, yên tâm cải tạo tốt, đường lối chính sách trước sau như một (dù cái thông cáo tập trung cải tạo hai tuần của chính phủ Cộng Hòa Giải Phóng Miền Nam Việt Nam vẫn còn đó)
Có bao giờ ông Đại Úy trại trưởng chợt hỏi trong đêm: Đảng, Đảng là ai mà giờ nầy chính bản thân ông và đơn vị của ông cứ lận đận trong rừng sâu cả cuộc đời? Đố ai biết! Ông đang sống không vợ con, không nhà cửa. Ăn theo tiêu chuẩn, có chút cơm, nhưng cũng phải độn khoai, sắn dù ông đang có quyền, cái quyền trên ba trăm sinh mạng tù. Thứ quyền nhờ ông đang có khẩu súng bên hông. Còn ngoài ra ông không có được cái gì cả. Không có được đời sống của chính ông. Tù đói canh chừng ông hơn canh chừng một con cọp. Vì con cọp có thể vồ con mồi bất cứ lúc nào. Nhưng con cọp là con cọp, con cọp không thể là con người! Đảng là ông. Ông là con cọp. Con cọp thì làm sao khuất phục được con người? Người tù!
Có thể ông biết nhưng bổn phận ông phải nói, ông cứ nói. Có thể ông không biết, vì ông tin là Đảng hoàn toàn sáng suốt. Ông Tố Hửu đã ca ngợi ba mươi năm đời ta có Đảng, Đảng đã cho ta sáng mắt, sáng lòng! Ông Tố Hửulà Nguyễn Du thứ hai của Việt Nam, các ông bên văn học ở Hà Nội nói vậy, chẳng lẽ họ sai? Nhưng nếu đúng, thì ông rất có công với Đảng! Chính Ủy nhìn ông. Các đồng chí nhìn ông. Ông phải đi tới!
Ba ngày tết qua đi. Đời tù không mới như mùa xuân đang về. Rừng núi vây quanh vẫn đầy đe dọa và bí hiểm. Khẩu phần ăn ngày một tuột dốc. Sắn tươi không có, khoai bắp không có, đừng nói gì đến cơm! Liên tục là sắn. Sắn xắt lát đã lên màu xanh, loại sắn xắt lát nhưng không có nắng để phơi nên ẩm mốc và bốc mùi. Có lẽ heo cũng không muốn ăn nhưng giờ đây là khẩu phần chính của tù. Tiêu chuẩn được một chén. Lúc nhão. Lúc khô. Lúc đầy thêm một tí. Lúc vơi đi một tí. Muối cũng thiếu và được hòa tan trong nước, vì họ sợ tù tích trữ muối để trốn trại, nên phải dùng muỗng để chia.
Rừng chung quanh không có gì để cải thiện. Những nơi khác còn có rau tàu bay, rau kim thất, nhưng ở đây chúng cũng không mọc lên nổi. Tù quơ quào cây lá hai bên đường khi đi lao động, như đàn bò bị lùa đi, nhưng mồm cứ ngoạm đại một chút lá xanh xanh bên đường. Đội rau xanh, bao nhiêu giống gieo xuống đều không thấy một cây nào mọc lên. Tại đất? Tại nước? Tại giống? Tại khí hậu? Hay tại tù? Tù không biết. Một vùng đất thật khắc nghiệt. Sức khỏe ngày một tồi tệ.
Những bộ xương tù di động. Dật dờ!
– Ngày mai ba đội đi dỡ sắn. Sáu giờ sáng sẽ rời trại!
Chưa bao giờ tin đi lao động lại được tù hoan hỉ đón nhận như vậy. Những người bệnh nhẹ cũng đi. Đường thì chắc hẳn xa vì phải khởi hành sớm, nhưng cũng không cần đắn đo. Đi. Phải đi để kiếm sống. Kiếm chút gì bỏ vào bụng.
Bụng đói đầu gối phải bò!
Buổi tối, nằm suy nghĩ cách “chôm”. Những tù thân nhau đặt cả kế hoạch riêng. Phải chôm như thế nào để thoát được quản giáo. Thoát được vệ binh. Để đem được vô cổng trại! Những cây đòn để khiêng bằng dang loại lớn, được âm thầm đục xuyên các mắc bên trong, chỉ chừa một mắt đầu cùng. Những lát sắn xắt nhỏ, những củ sắn vừa phải, sẽ được lột vỏ, luồn vào, rồi dựng đứng cây đòn lên như không có chuyện gì xảy ra. Những mảnh niềng sắt nhỏ, mảnh thiếc các lon sữa bò, được mài bén và nhọn để sẵn sàng xắt nhỏ các củ sắn trong thời gian nhanh nhất. Đựng vào ống bương. Đựng vào bi đông. Đựng vào bình chứa nước. Đựng vào lon lọ. Đựng vào bất cứ thứ gì có thể đựng được. Chọn bộ quần áo nào dày và rộng, có may sẵn các túi bên trong. Thực sự thì bộ quần áo nào đối với tù bây giờ cũng rộng thùng thình cả, vì thân xác chỉ còn là da và xương. Cái quần được treo lủng lẳng trên hai xương hông nhờ sợi dây lưng buộc nơi bụng. Chưa bao giờ có một âm mưu chôm nào to lớn như vậy, đối với tù. Đó là thành quả của ba năm tù, từ Nam ra Bắc. Đó là kết quả của các lần biểu dương học tập tốt, lao động là quang vinh, mà Đảng muốn đào tạo. Từ những con người trí thức, lương thiện, đã trưởng thành trong nền giáo dục nhân bản, thoáng chốc đã trở thành con người mới: con người Xã Hội Chủ Nghĩa!
Tù mừng rơn, khi giờ giải lao tại hiện trường dỡ sắn được cho kéo dài. Trời lại mưa bụi, sình lầy nhầy nhụa, nên quản giáo và vệ binh trú trong nhà dân. Giờ nghỉ trưa là thời điểm tù tranh thủ cật lực nhất. Như một đàn khỉ rừng tràn về phá nương rẫy! Tha hồ lựa sắn ngon mà ăn. Củ sắn lớn không ngon bằng củ sắn nho nhỏ, dài dài. Dòn và ngọt. Mọi kế hoạch chuẩn bị trong đêm qua đều được thực hiện chu đáo.
Đường về thì nặng và xa nhưng tù khiêng chung với nhau tiếp tục bàn bạc để khi về đến kho giao nộp cho hậu cần không gặp trở ngại, sau đó tập họp vô cổng trại được an toàn. Toan tính, hồi hộp, âu lo, làm đường dài như ngắn lại. Khát nước cũng cắn răng chịu đựng, vì bi đông, ống bương, gô coóng, đều đầy ắp sắn. Quần áo cũng bớt rộng thùng thình, vì sắn lớn, sắn nhỏ, được cài cùng khắp. Trời lại mưa dai dẳng, ướt đẫm, giúp cho việc ngụy trang được dễ dàng hơn. Những trái tim bình tĩnh, chai lỳ trong chiến trận trước kia, giờ đây lại đập vang cả lồng ngực khi khắp vào đến kho hậu cần. Lúc nầy thì những cây đòn khiêng đã được dựng lên đây đó. Nơi thì hàng rào, nơi thì gốc cây. Tù dùng tay khiêng mấy chục ký sắn để cân nhập kho. Lệnh ông quản giáo là chờ tất cả nhập kho xong các đội mới được tập họp vô trại. Cho nên tù nhập kho trước quay ra đứng lớ ngớ, hoặc ngồi chuyện vãn với nhau, trông thật hiền lành. Khi tù cuối cùng cân xong thì ba ông quản giáo xuất hiện cùng một lúc, ra lệnh tập họp, khác với ngày thường khi vừa về đến trại thì các ông quản giáo đã biến mất và giao hai ông vệ binh tập họp, đếm rồi cho vô trại. Tù nhìn nhau hồi hộp, nhưng vẫn hy vọng. Hy vọng luôn luôn là cái đặc biệt nhất của con người trong những éo le gay cấn. Vẫn hy vọng. Hy vọng mấy ông quản giáo lên lớp ngắn, gọn, nhận xét lao động trong ngày, rồi cho vào trại. Nhưng tất cả vệ binh không lơ đễnh như hàng ngày. Vệ binh chia nhau đứng rải rác khắp nơi. Có vệ binh đứng gần một số đòn khiêng đang dựng ở bờ rào. Có vệ binh đứng gần ở những lùm bụi. Bình thường mặt ông quản giáo nào cũng mét mét, tai tái, nhưng hôm nay lạnh lùng hơn. Chì chiết hơn, dõng dạc:
-Các anh nới rộng hàng. Trật tự trại cùng các đội trưởng, lục soát kỹ từng người. Không để sót bất cứ vật dụng gì.
Tù xanh mặt. Đứng yên như phỗng. Ba ông quản giáo trực tiếp xét từng người một. Một ông vệ binh dời một cây đòn sắp ngã, ngạc nhiên vì cây đòn rất nặng. Cây đòn được hạ xuống. Những cây đòn được hạ xuống. Ông vệ binh gom hết lại. Những bi đông, những gô[1], những coóng[2], những ống bương, bình đựng nước chất thành đống. Từng tù một, dang tay, dạng chân như kiểm tra vũ khí. Vài tù đau lòng quá, co cượng, bị những cái tát xiểng liểng. Đám tù bây giờ mới thật sự thê thảm.
Bầy khỉ rừng đã tung hoành nơi rẫy sắn, bây giờ đứng chết dí, vì những chiếc vòng kim cô của Phật Bà Quan Âm[3]! Những Tôn Ngộ Không ứa máu!
Ông quản giáo mặt mét như chì. Lạnh lùng:
– Tịch thu tất cả! Cho vào trại!
Không tù nào nói với nhau câu nào. Tất cả yên lặng vào cổng. Mỗi tù đau khổ khác nhau. Riêng Nghiêm thì quặn thắt: mất cái bi đông màu ô liu có dòng chữ nổi QLVNCH đã được cấp phát từ ngày đầu vào lính. Ngày 13 tháng 7 năm 1968.
Vào lán Tiêu than:
-Mất cái gô, hết đường ca coóng. Chỉ an ủi còn được cái nầy.
Tiêu kéo trong đáy quần ra một bọc nhỏ chứa củ sắn khá dài, đã lột vỏ trắng phau, được Tiêu đeo tòn teng giữa háng.
Hôm sau, ngoài hiện trường lao động, nghe hai ông vệ binh nói chuyện:
– Kế hoạch cả đấy! Có thế chúng mình mới có sắn ngoài tiêu chuẩn chứ lỵ.
[1] Lon sữa hộp guigoz bằng nhôm được buộc sợi dây kẻm trên miệng để có thể móc trên một nhánh cây, đứng từ xa có thể đưa vào trong lữa để nấu. [2] Cái ca bằng nhôm được dùng như cái nồi, để nấu [3] Truyện Tây Du Ký
Trong nhiều năm dài bị giam giữ ngoài Bắc, ngồi miết với bóng tối, đôi khi anh phải bật cười vì những lẽ, ” … Sợ cái gì thì cảng dính cái ấy. “Sợ ở tù – Vâng, đã viết hẳn ra như thế (Dọc Đường Số I, Đại Ngã, đài Gòn 1969) thì lại bị ở tù kỹ hơn ai hết. Trong tổng số trăm ngàn, triệu người bị lực lượng Cộng sản bỏ tù, bức hại từ trước tới nay (kể từ 1945, khi hệ thống bạo lực Cộng sản nắm quyền trên một vài địa phương nước ta); nếu lấy khoảng năm, mười người điển hình chắc thế nào cũng có tên anh trong đám người tối thậm bất hạnh này. Nếu thua chăng, là kém phần khốn khổ so với Nguyễn Công Thành, Biệt kích kiên giam từ 1964. Chẳng biết giờ nầy sống ở nơi đâu? Chết khi nào? Thứ đến là “sợ đọc báo đảng, thì trước ngày vào kiên giam 1979, cứ tối đến là chong cây đèn hạt đỗ, ngồi đọc ra rả một hơi đến hai ba tờ báo đặc nghịt chữ, đầy những nội dung mà dù tay đang dỡ qua trang, mồm vẫn có thể ong óng “ … đồng chí x, y … uỷ viên bộ chính trị cùng các đồng chí lãnh đạo thuộc ban bí thư, thành uỷ Hà Nội, ban nghiên cứu lịch sử đảng, đoàn báo cáo viên …. ra sân bay đón đoàn ôm hôn thắm thiết thể hiện tinh đoản kết chiến đấu …. v.v“. Thêm những bài viết khô như rơm của Lê Nin, Lê Duẫn (gớm, không biết chữ đâu ra nhiều đến thế. Vừa đọc vừa rủa thầm). Đọc riết đâm … quen. Có thể viết lại, chỉ sai vài chữ, cái chấm, dấu phết!! Thế nhưng, hôm nay từ yêu cầu nghề nghiệp, phải đọc một hơi bốn, năm tờ báo Xuân của “đảng ta“. Hỏi thử gánh nặng cực hình lớn đến bao nhiêu? Nhưng chuyển họa thành phúc; anh tìm thấy ở trong những giòng chữ “sự thật” kia đủ điều hay ho. Sự Thật, tên nhà xuất bản và báo bình luận chính trị ở Hà Nội và bên … Liên Xô!! Thế nên, nhân thể “văn ôn võ luyện”, anh ở “Khu kiên giam” nầy hành nghề giáo dục để bước đầu có tiến bộ nhất định. “Chỉ khác, đối tượng bị cải tạo kỳ này là các “đồng chí đảng ta” Nào … Ta bắt đầu làm việc.
Thứ nhất, chúng ta điểm về chính trị, giềng mối của tất cả sự việc – Sức mạnh của “đảng ta.” Và từ, với sức mạnh này “ta” sẽ thực hiện mục tiêu chung cuộc: “Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội công bằng, văn minh”. Cụm từ nầy đúc kết trong lời phát biểu của Võ Văn Kiệt tại kỳ họp thứ 6, Quốc Hội khóa IX. Vâng, cái mục tiêu đó, không những đẹp mà lại “thơm” (chữ của Phạm Văn Đồng trong Đại Hội Văn Hoá Toàn quốc 1948); như thế thì ai có thể cãi vào đâu được nữa. Nên chúng ta hãy xem thử người cầm quyền tại Hà Nội đã làm những gì để “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.”
Nói như thế này tức đã chấp thuận tiền đề: “Mục tiêu của Đảng và Nhà Nước là như thế; vậy ai phê phán,chống đối Đảng, Nhà Nước tức là “không muốn” dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.” Đấy, bạn đã thấy người Cộng Sản (mấy trự lãnh đạo đảng khôn ra gì chưa). Thế mà cứ bảo là “cán ngố”!! Phe ta có ngày vỡ mặt như đã từng bị rất nhiều lần. Để xác nhận và giải thích nguyên nhân đưa đến thành quả mạnh (về chính trị này), Trần Văn Giàu, lý thuyết gia của Đảng “giáo dục” theo đường vòng từ xa, với bài viết đầy tính “trí tuệ.” Xin lưu ý bạn đọc một lần, chữ nào người viết đặt trong ngoặc đơn, in nghiêng hoặc in đậm là của người cộng sản chứ không phải từ tư tâm, tư ý. Qua bài “Những yếu tố nào trong Văn Hoá Văn Langđể nước này khỏi bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc”, giáo Giàu phân giải: “Nước Văn Lang là một thực tế lịch sử, một nước bền vững lâu dài, có bờ cõi, chế độ xã hội, phong tục tập quán riêng của mình”. “Nước” này sở dĩ tồn tại được, thoát khỏi áp lực đồng hóa mạnh mẽ của văn minh, văn hóa Hoa Hạ (trung tâm văn hoá đã tác động toàn cõi Ngũ Lĩnh và Nam sông Dương Tử, bởi đã hội đủ, thực hiện các điều kiện:
– Đã có một thực thể nội tại liên kết bền bỉ – “Nghĩa Đồng Bào”- Thể hiện qua câu thơ
“Nhiễu điều phủ lấygiá gương.
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
– Từ đầu nguồn, Dân Tộc đã có tính hợp nhất, hiện thực qua việc tổ chức 15 Bộ nên thành một “khối thống nhất” chứ không phải chia năm xẻ bảy như những dân tộc khác ở sơ kỳ dựng nước. Ví dụ như chiến tranh giữa người Troy và Hy Lạp và có tham dự của các vị thần theo hai phe. Chuyện thần thoại nầy phản ảnh phân hóa xã hội của văn minh Địa Trung Hải, (kém xa so với “ta” ngay từ đầu).
– Thứ ba, trong quá trình dựng nước và giữ nước, xuất hiện liên tục “những anh hùng dân tộc vì nước quên mình”. Ví dụ, đánh xong giặc Ân, Thánh Gióng bay ngựa về trời chứ không ở lại trần gian “làm vua”. Đây là một “sức mạnh văn hóa tinh thần tinh tế”, nhuần nhuyễn chứ không là sức mạnh bắp thịt, bắn cung tên thô tục kiểu Hercule, Samson. Sức mạnh này cao quý và sâu sắc hơn nhiều so với cung cách gồng bắp thịt tầm phào của bên Tây. Để tăng thêm “sử tính” cho Gióng (gọi Gióng là để nhân gian hóa, quần chúng hoá chứ không phải vì trịnh thượng, hỗn hào), ông giáo thay vì cho “kẻ thù” của Gióng là giặc Ân (như trong cổ tích, truyền thuyết) nay trở thành quân Nam Hạ củaTần Thủy Hoàng. Chuyện Gióng thuộc “thời đại Hùng Vương”cách chúng ta 4,000 năm, nên có cụm từ “4,000 năm văn hóa”
-Thứ tư, qua truyền thuyết (vẫn chỉ là truyền thuyết) Lạc Long Quân diệt Hồ Tinh, Mộc Tinh, Ngư Tinh, “Lịch sử Việt Nam” (Thú thật khi dùng cụm từ này bản thân chúng tôi cứ ngờ ngợ làm sao, sẽ giải thích sau) chứng thật luôn có mặt hàng loạt “Anh Hùng Dân Tộc” sẵn sàng “Trừ Bạo An Dân.”
-Thứ năm, cuối cùng. “Nước” Văn Lang thay vì thờ các vị thần vớ vẩn (Kiểu Thần Zeus ở Hy Lạp; Jupiter của La Mã … Hoặc các Ông Trời như Jehovah, Allah … ) thì chỉ thờ “tổ tiên mình” và các “Anh Hùng Dân Tộc” của mình (Nghe nói đi nói lại cứ sốt cả ruột vì dân tộc ta quả thặng dư … “anh hùng”).
Vâng, bài viết phân tích sâu sắc trên vì quá nồng nhiệt nên bị hai điểm quá đỗi “tích cực,” thay vì “tiêu cực” như người cộng sản thường phê bình và tự phê. Đấy là: Vì e ngại khi gọi kẻ thù của “Gióng” (nghĩa là của dân tộc ta) là giặc Ân, có vẻ không được oai. Vì “giặc Ân” là chú Ba Tầu nào, quả thật không ai biết! Nên giáo Giàu phải “thay màu da xác chết”
– Đổi quân bạ lũ giặc vô danh kia thành “quân Nam Hạ của Tần Thủy Hoàng”. Tức là lão giết người, chôn sống học trò, tịch thu “văn hoá phẩm phản động,” lùa dân đi “cưỡng bách lao động” xây Vạn Lý Trường Thành – Việc làm sai trái này bị tất cả “nhân dân tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới lên án và phỉ nhổ”. Lính của y chắc chắn phải là tụi … “ác ôn, có nợ máu với nhân dân.” Thế nên, cho “chiến sĩ Gióng” đánh bọn “xâm lược Nam Hạ” ắt đạt thành tích lẫy lừng, đáp ứng “mục đích yêu cầu của cách mạng giải phóng dân tộc” hơn.
Nhưng khổ thay, đời Hùng Vương (Theo Ủy ban Nghiên cứu Thời đại Hùng Vương của Uỷ ban Khoa Học Xã Hội Hà Nội) cách chúng ta 4,000 năm mà đời anh vua phản động Tần Thủy Hoàng chỉ ở Thế kỷ thứ Hai trước Công Nguyên. Lính của anh vua này làm sao đánh được với Gióng hở trời?!
Vậy, chúng ta kiến nghị: Kiếm ngay một đám “Trung Quốc bành trướng xâm lược” khác cho Gióng. Nhưng,
muốn Gióng có một kẻ thù thích hợp, đúng tầm cỡ như thế thì gặp trở ngại, ông Giang Trạch Dân vừa thăm Hà Nội tháng 11/1994, và ông này có thể đã “đồng ý với quan điểm” của Tần Thuỷ Hoàng trong chính sách đối với sinh viên học sinh qua vụ Thiên An Môn tháng 5/1989!! Thế nên, biết đâu đây cũng là một cách chơi xỏ, vừa chửi được Tần Thủy Hoàng, vừa xách mé ông Giang. Nếu thế thì giáo Giàu thâm thật. Xứng mặt Nam Kỳ tốt nghiệp “Bắc kỳ điếm”. Cũng chữ của Giàu chưởi xéo mấy ổng ngoài Hà Nội, không phải chúng tôi.
Điểm tích cực thứ hai: Nói điều này ra thì e bị … chửi. Nhưng thấy phải thì cứ nói thôi. Ấy là hai câu thơ:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Dù gan liều cách mấy cũng không thể bảo đã có từ đời … Hùng Vương(!). Bởi một lẽ giản dị, “Văn Lang không biết xuất hiện từ đâu? Chỗ nào? Và cũng không ai ghi, lại chưa có … chữ.” Vẫn là lời dẫn nhập của quý giáo sư. Tuy nhiên, bài viết vẫn đạt “mục đích yêu cầu” vì đã nêu bật chủ điểm: “Thời Đại Hùng Vương ấy có Thật” – Hiện thực hôm nay với thời đại Hồ Chí Minh. Bởi bác, (Lại “bác ta”, chứ không ai khác) đã nói:
Các Vua Hùng có công dựng nước
Bác cháu ta có công giữ nước.
Khi bác đã nói tức ắt có. Bác thì còn sai vào đâu?! Giáo sư vì khiêm tốn không nói rõ ra mà thôi. Vậy nên, chúng ta phải trình bày đúng “mục đích yêu cầu” của bài viết với lời kết luận ngợi ca như thế này:
Từ Hùng Vương vào thời đại chúng ta Cứ như Hà Nội thẳng Mát-cơ-va Muốn được dân giàu nên nước mạnh Vượt biên đi Mỹ chớ qua Nga. Từ chuyện chính trị, tất nhiên ta tiếp qua hoạt động ngoại giao là mặt sống động sôi nổi của nó. Từ đầu năm, Thủ Tướng Singapore đến thăm Hà Nội (Tháng Ba); một ngày sau, ông Tổng Thống Mông Cổ, 3 tháng 3; cô công chúa Anne nước Anh ý hẳn buồn chuyện chồng con lại không coi lịch (hoặc không xem phim 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới) nên đi trùng ngày với Ông Thủ Tướng Singapore. Hay là cô này và ông kia có ý gì với nhau, hẹn gặp ở Hà Nội chăng (?). Đức Ông Claudio Celli của Vatican theo tiếp sau mấy ngày, 13 tháng 3. Và được đà làm tới, các ông Thủ Tướng Thái Lan, Tổng Thống Phi Luật Tân, Thủ Tướng Slovaquia, Chủ Tịch Lào, Thủ Tướng Mali … Và cuối cùng, Hoàng tử Phillipe của Vương Quốc Bỉ, ngày 6/12/1995. Bạn đến ta, thì ta đi thăm bạn. Đỗ Mười đi Malaysia;
Lê Đức Anh đi Indonésia; Nguyễn Thị Bình đi năm nước Châu Phi và Pháp; Nông Đức Mạnh đi Tầu, 2n; Võ Văn Kiệt đi Campuchia, Singapore và Myannar; Phan Văn Khải, Trần Đức Lương và Nguyễn Khánh đi Ba Lan, Brazil, Canada, Hung, Roumanie, Singapore, Tầu, cuối cùng Nguyễn Mạnh Cầm luôn “trên đường đi”. Xin bạn đọc đừng sốt ruột, chúng tôi đã bỏ, lược đi rất nhiều. Bởi thế nào bạn cũng tự hỏi: “Quái, đi và đến gì lắm thế ?” Bởi ngày xưa (lúc còn ở Bắc Kỳ với vi-xi), như vừa nói ở trên, anh đã phải hành nghề “đọc báo”, tức là ngồi đọc ra rả cho một đám tù khổ ngủ gật nghe suốt hai giờ vào mỗi đềm (gọi là giờ học tập) nên đâm quen với những hoạt động, nhân vật, chức chưởng, cơ quan … “Nhận lời mời của trung ương đảng ta, đồng chí phó chủ tịch hội nghiên cứu và báo cáo của ban chấp hành trung ương đảng nhân dân cách mạng … Đã đến thăm nước ta. Cùng đi với đoàn có các đồng chí … Uỷ viên trung ương đảng, bí thư thứ nhất ban nghiên cứu lịch sử đảng nhân dân cách mạng … ” Và cứ thế kể đến người cuối cùng của đoàn. Xong qua phần thứ hai của bài viết thế nào cũng có đoạn “Ra sân bay đón đoàn có đồng chí Nguyễn … , uỷ viên trung ương đảng, bí thư thứ nhì ban nghiên cứu và báo cáo; thứ trưởng bộ … ” Và cũng kể đến người cuối cùng với đầy đủ tên, đảng cấp, chức vụ. Xong “ta” có kết luận: “Các em bé thủ đô đã dâng lên (chủ tịch, bí thư v.v … ) bó hoa tươi thắm”. Mô tả lượt về, cũng nội dung trên với kết luận: Các đồng chí lãnh đạo đảng và nhà nước đã ôm hôn các đồng chí trong đoàn thắm thiết, biểu hiện tình đoàn kết chiến đấu (có thể thay đổi vài chữ tùy theo đối tượng đón, đưa). Sau quá trình đọc báo kia anh có ý nghĩ: “Ở Hà Nội ắt hẳn phải có những người chuyên hành nghề “Đón và tiễn đoàn” và không biết chính quyền ấy làm thế nào để luôn “điểm hẹn lại lên sân bay đón đoàn” liền tù tì như thế (Điểm Hẹn Lại Lên – Tên cuốn phim do Nhà Nước làm, chiếu cho cả nước xem sau 1975). Tưởng là ý nghĩ tầm phào quấy quá, nào ngờ hôm nay trên tờ báo có kể các cuộc đi, đến vừa nêu trên có xuất hiện một nhân vật. Trước khi nói đến kẻ kia, chúng tôi xin kể câu chuyện để bạn đọc lưu ý … Ngày xưa, cũng không xưa bao nhiêu, khoảng 1945-1954, ở Hà Nội có thằng ma bùm rất nổi tiếng, coi chừng đến nay nó vẫn còn ăn khách, bởi chắc một điều, nó trên tay hẳn những trự già nua ngoài Hà Nội, những “anh hùng” chợ Đồng Xuân, Ô Đông Mác, Khâm Thiên, Bắc Bộ Phủ, Quán bà Mâu … Những chỗ dơ dáy, chơi bời của Bắc Kỳ kiểu như Ngã Ba Chuồng Chó, Cầu Hàng trong Nam vậy. So sánh như thế để có ý niệm cơ bản thôi, chứ những nơi chốn miền Nam tư cách hơn hẳn. Trở lại chuyện thằng ma bùm kia, sở dĩ nó nổi tiếng là từ vị thế một đứa câu ếch, đánh dậm ở nhà quê, nó “tiến về thủ đô“, hành nghề nhặt banh tơ-nít, lần hồi biến thành “anh hùng dân tộc”, có công làm cho “đế quốc thực dân Pháp” phải kiêng nể “ta”, đến nổi nhà nước phải trao “huân chương kháng chiến hạng nhất”. Tưởng đỉnh cao sự nghiệp của nó đến đấy thì thôi, nào ngờ, tham vọng của nó không chỉ luẫn quẫn chung quanh cái bờ hồ như kẻ tiền bối của nó, một thằng vô lại khác, nhưng rất biết điều đối với những “hạnh phúc đủ tiêu chuẩn nhất định”, đấy là thằng Chí, Chí Phèo, người tình của chị đàn bà “có dáng dấp của gã đàn ông không đẹp trai”, thị Nỡ- Một mẫu người đàn bà “hoàn chĩnh mang vóc dáng thời đại, người đàn bà của giai cấp công nhân, của nhân dân giác ngộ – Giác ngộ cách mạng – Là giai cấp ưu tú, siêu việt nhận nhiệm vụ lịch sử giao phó của “đêm hôm trước cáchmạng”, đào huyệt chôn bọn tư bản dẫy chết”. Mẫu người đàn bà nầy hiện thực một cách sâu sắc qua những “chiều kích của thời đại chúng ta” như chị Minh Khai, Kan Lịch, Út Tịch, Giáp thị Thập, Nguyễn thị Định … Những người đàn bà đã thề nguyền “còn một lai quần cũng đánh Mỹ … ”. Khổ quá, đang nói chuyện thằng ma bùm nhưng chúng tôi đã đi quá xa đến mấy mợ cái, điều nầy xẩy ra là do thiện chí muốn báo động đến cùng cộng đồng người Việt ở Mỹ, đồng thời nói cho cả người Mỹ, “Đừng tin những gì cộng sản nói … “- Chúng tôi chỉ mượn nửa câu nầy thôi cũng đủ, bởi vì qua thực tế đã xẩy ra ở Việt Nam từ 1960 (Đại hội đảng lần thứ Ba để quyết định đánh chiếm Miền Nam bằng vũ lực) và đánh giá “đế quốc Mỹ là kẻ thù của dân tộc ta, của nhân dân ta…” cho đến nay, tựu trung tiếng, lời người cộng sản không thay đổi – TRƯỚC SAU NHƯ MỘT. Xin nhấn mạnh, họ nói chứ không phải chúng tôi. Chúng tôi chỉ lập lại một cách trung trực “từ lời văn đến nội dung” (Như Lê Đức Thọ, Nguyễn thị Bình, Trần Văn Trà, Võ Đông Giang cam kết thi hành Hiệp Định Paris 1973 vậy). Thế nên, đến đây có một điều nghịch lý bày ra: Hoặc người cộng sản ở Hà Nội nói LÁO – Hoặc, chúng ta, người Việt không cộng sản và người Mỹ TIN LẦM- Hai điều phải có Một. Chúng tôi nói chắc như thế. Bạn tự xét ra hà tất phải bàn thêm. Tiếp tục chuyện thằng vô lại điếm đàng kia, nó ma mãnh hơn cả người đẻ ra nó đã nghĩ đến. Từ Hà Nội nó theo các chú “bộ đội giải phóng” vào tiếp quản Miền Nam, chứ không chỉ riêng Sài Gòn; Sài Gòn do chính đích thân nó đặt “chỉ huy sở”. Tại đây nó “đổi tên”. Nhấn mạnh lại lần nữa, đổi tên chứ không đổi họ, bởi một điều giản dị – Nó là con hoang- Do một chị chàng (kiểu mẫu đàn bà như vừa kể trên) gá nghĩa cùng một tên du thủ du thực nào đó (có thể là một tên săng-đá đi lính thuỷ hoặc làm bồi cho tầu Tây đã đến Việt Nam hồi đầu thế kỷ). Vào Sàigòn, nó đổi tên, thật cũng không hẳn đổi tên mà chỉ đổi cái “hí danh” từ trước đến nay vẫn bày ra nguồn gốc khốn cùng, cướp giật, ăn cắp vặt của nó; và cuối cùng nó ra … báo!! Nhưng bởi chữ nghĩa không nhiều (Đặc trưng chung của toàn thể những kẻ gọi là “lãnh đạo” hiện nay ở Hà Nội, kể cả cái ông bác của họ). Dị ứng với sách vở là một nét ưu việt, sáng tạo tính của “đảng ta”. Không tin, quý vị cứ dồn mấy chục tập của “Lê Nin toàn tập, Lê Duẫn toàn tập, Hồ chí Minh toàn tập,và Staline … một tập”, chúng ta sẽ thấy ra chỉ khoảng vài chục cụm từ được lập đi lập lại đến nổ con mắt nhỡ đọc phải. Vào phần dẫn nhập, chúng tôi có nói đến chuyện đã thuộc lòng loại chữ nghĩa trời gầm kia, ắt đến đây quý vị hẳn nên hiểu là lời nói thật, và cái thằng lộn giống ấy trong khi chuyển qua nghề làm báo, nó không hề dấu được “bản chất lẫn hiện tượng”, bằng cách ghép cái tên nó nhặt được khi hành nghề lượm banh ở sân Nhà Hát lớn Hà Nội năm xưa với một cái “nghề” mà bất kỳ ai ở Việt Nam nghe qua cũng phải đi đến gốc cây … Hoặc bà mang thai gần ngày sinh rất có hy vọng đẻ non. Tờ báo của thằng ăn hớt lịch sử nầy có tên “Xuân Công An“, thay thế cụm từ đã được người Việt Nam dùng như một biểu trưng của lưu manh tính : “Xuân Tóc Đỏ”. Nhà Văn quả là Tiên Tri. Tóc mầu đỏ thì còn ai ngoài nó?!
Vũ Trọng Phụng thánh thật. Kính phục ông. Trở lại chuyện tờ báo “Xuân”, trong đó có lời “khen” của Thủ Tướng Indonesia “Việt Nam như cô gái đẹp đang tuổi vuân, mọi người cứ dành mà đến?! ” Không biết lời khen này thật hay xỏ lá, chỉ biết (qua tờ báo): “Ở Hà Nội chưa kịp gỡ tấm bảng khẩu hiệu (banderole) đón đoàn này thì đoàn kia đã đến”. Nghĩa là đoàn trước vừa vào nhà khách thì đoàn sau đã qua cầu Sông Hồng lên Bến Nứa. Thế nên, cô công chúa Anne được đọc băng chào mừng bằng chữ Mông Cổ “Hân hoan chào đón Ngài Tổng Thống và Phu Nhân”. Âu là một dịp cho cô nàng học thêm ngôn ngữ mới. Thì cũng là chuyện “tốt thôi”. Và :ũng trên tờ báo kia, có bài viết của một tác giả, tên là “Thợ Họp.” Ông “thợ” này có giỡn không? Chắc chắn không, chúng tôi xin cam đoan như thế, vì căn cứ trên chức vụ, công tác của anh ta gồm “Trưởng khoa, kiêm rưởng bộ môn, kiêm giáo viên chủ nhiệm, ủy viên ban quản lý khu tập thể, phó ban bảo vệ (khu tập thể) và đội rưởng đội bảo vệ … ” Với chức vụ đa năng nặng nề như trên, lẽ tất nhiên người này phải đi … họp. Và “quá trình họp” phải được hoạch định như thế nào để “xuống họp” tiến qua “sang họp”, chuyển “tới họp“, để nên … tiếp họp” cốt làm sao để động tác “đi họp” được giảm thiểu tối đa. Và quá trình họp phải theo diễn tiến gồm “hai bước“:
a. Bước thứ nhất-Trước khi họp: Lên kế hoạch-Dự trù chi phí-Dự thảo nội dung-Duyệt danh sách (Danh sách đại biểu đi họp- Từ đề nghị của “Thợ Họp” và xin duyệt danh sách ấy (Bởi giới chức cao hơn ông thợ), v.v ..
b. Bước thứ hai-Sau khi họp: Phổ biến sơ bộ (nội dung, kết quả buổi họp)-Họp bàn triển khai thực hiện (kết quả vừa nêu)-Triển khai chính thức: Sơ kết bước 1; sơ kết bước 2 … Tổng kết: Họp phê bình, rút ưu khuyết điểm, đẩy mạnh công tác (do, từ, của “quá trình họp” vừa kể). Đọc đến đây chắc thế nào các quý vị cũng phải kêu lên … “Biết rồi khổ lắm nói mãi..!!. ”. Chúng tôi có thêm cảm giác rờn rợn bởi điều tiên tri chính xác, còn ai ngoài Vũ Trọng Phụng với miêu tả bản chất của “đảng ta” nơi đất Bắc, ở Hà Nội đúng hơn thế nữa?! Đúng từ tên gọi cho đến tiếng lời. Đi xa hơn, chúng ta phải cúi mình trước các cụ đời xưa (Chẳng biết là xưa đến cỡ nào, chỉ đoán chừng khoảng trước sau 1945, ở Bắc (Vâng, cũng chỉ Bắc Kỳ mới có thôi; Trung, Nam kỳ đừng hòng !!), xuất hiện một tên lơ láo, chỉ nhìn vào mắt y người ta đã có cảm giác ghê ghê như khi đứng gần đứa giết người; ta nghe ra mùi máu từ hơi thở đến tiếng lời đầm đìa xác chết, thây ma. Kẻ vô lại nầy trân tráo nhảy chồm vào đời sống lịch sử với một cái “tên” cũng không hề nói thật; khi lấy tên Tầu, khi mang tên Xiêm; có cả tên Nga La Tư … Đến với người Việt, đồng bào cùng tóc đen máu đỏ, những người cùng một dạ sống chết, đem cả sinh mạng ra cùng với y; hỏi “Ông là ai?” … Hắn ta chỉ cười cười làm ra điều khiêm cung, “ … Tôi ý à, tôi là “Bác thằng Bần” ấy mà ... “. Thằng Bần? Thằng Bần nào? Hoá ra là cái thằng chứa thổ, “đổ hồ“, không một lần nghe kể ra cha mẹ, chỉ thấy khai trong căn cước một lý lịch bẩn thỉu, “có lão bác hành nghề cờ bạc lậu !”.
Các cụ quả thấy … suốt!! Chúng ta chấm dứt những chuyện rác rưởi nầy ở đây. Nhưng, “Đón và công tác tiễn đoàn” cũng như “Tranh thủ mọi điều kiện; động viên mọi phương tiện; khắc phục mọi khó khăn; tận dụng mọi khả năng để tiến hành một cuộc “họp” đạt mục đích yêu cầu”, thì dù thành công đến bao nhiêu cũng chưa cụ thể hóa mục tiêu “dân giàu nước mạnh” được. Vậy “đảng và nhà nước ta” phải làm gì? Bạn đọc cùng chúng tôi sang phần thứ hai.
VỀ KHẢ NĂNG THU HÚT 20 TỶ USD VÀO NĂM 2000.
Một tỷ là một ngàn triệu; một trăm Đô-la được tính hơn một triệu đồng Việt Nam. Số tiền 20 tỷ này quả rất lớn. Nhưng khổ thay, giả sử nhà nước Hà Nội có nhận đủ tiền đầu tư, thì các công ty ngoại quốc, người nắm giữ nguồn tài chánh lớn lao kia lại chỉ muốn, “tập trung vào việc xây cất khách sạn và các công tác dịch vụ” –
Trả lời của Đỗ Mười với báo Thanh Niên. Lẽ tất nhiên Đảng và Nhà Nước không thụ động. Những người cầm quyền mở ra phương hướng giải quyết và chắc chắn thâu đoạt thành công: Ta khai mỏ dầu hỏa – Nguồn vàng lỏng màu đen nằm dưới đáy thềm lục địa Việt Nam – Ta chỉ cứ thế mà đào lên. Nhưng khổ thay, (lại khổ nữa) tính từ thùng dầu đầu tiên, 1986 đến nay có được 27 triệu tấn và mỗi ngày, trung bình nhà nước thu vào 30 tỷ đồng Việt Nam (tương đương 3 triệu Đô-la) thì kết quả đưa đến (của năm 1994) chỉ thâu được 900 triệu USD, nghĩa là lỗ 150 triệu so với dự trù!! Thế thì tiền lỗ ấy lấy đâu bù vào?! Ta đã đánh thắng ba đế quốc lớn, ba kẻ thù “xâm lược hung ác nhất của thế kỷ” (Các ông Pháp, Mỹ Nhật, đừng cáo buộc chúng tôi ác miệng, nhắc những từ ngữ không hay. Chúng tôi chỉ lập lại khẩu nghiệp của người cộng sản (sẽ trình bày nơi những phần sau của bài viết này). Thế thì việc kiếm ra tiền để làm giàu nào có khó chi. Hãy xem các “đồng chí đảng ta làm giàu”.
“Trời của ta, đất của ta … ” Rừng vàng biển bạc, lẽ tất nhiên là của ta. Vậy thì đồng bằng sông Cửu Long kia ta cứ tập trung sức người, sức của, nguồn lợi tất yếu từ đất ta ắt đoạt. Vì ở đây, “đồng bằng sông Cửu Long đãcó kinh nghiệm lâu đời về cung cách canh tác độc lập tự chủ, cùng kinh nghiệm của 19.000 Tập đoàn sản xuất và hàng trăm Hợp tác xã sản xuất đã thành lập vội vã sau 1978, mà kết quả nông dân miền Hậu Giang phải thiếu gạo ăn trên vựa thóc lớn nhất Đông Nam Á”. Sau Đại Hội 6 (1984) nông dân đồng bằng sông Cửu Long được “cởi trói” và Việt Nam vụt trở nên anh khổng lồ lúa gạo sau hàng chục năm vắng bóng. (Từ 1926 đến 1936, Việt Nam xuất cảng đến 8,2 triệu tấn gạo, phần lớn của Đồng bằng sông Cửu Long). Sau hai mươi năm thống nhất đất nước, người cầm quyền Cộng Sản mới nhớ lại số liệu nàyvào năm 1990. Nhưng có một điều nghịch lý đã xẩy ra: “Nông dân lúa chất đầy nhưng không biết bán đi đâu”.
(Vì chỉ có một nơi bán với giá qui định bởi nhà nước thì nông dân lại không thích người khách hàng này). Họ đành chịu giữ lại và xẩy ra tình trạng “vật đổi vật” của thời kỳ kinh tế “tiền phong kiến,” đi đám cưới vác theo một bao bố giấy bạc. Cũng là kiểu năm 1945, 46 ở vùng “An toàn khu”, gánh một thúng “bạc cụ Hồ” đi mua miếng kẹo đậu phọng đường đen. Và dù có tận dụng tối đa sức người (coi như vô tận) thì miếng đất gọi là ruộng kia (cho dù là đồng bằng sông Cửu Long) cũng phải đến ngày kiệt cạn, nên Đảng lại có kết luận, hiện nay những khu vực thuần nông ở đồng bằng sông Cửu Long không thể làm giàu với mỗi cây lúa, vì chỉ phát triển theo chiều rộng và đi lên một cách chậm chạp nếu không nói là dẫm chân tại chỗ. (Báo Xuân Thanh Niên, trang 12, lại một “đồng chí Xuân” khác). Nhưng giả thử, nếu giải tỏa tất cả những trở ngại nêu trên thì Việt Nam vẫn mắc phải cái “noi” của các nước chậm tiến: Dân đông, tỷ lệ sanh đẻ hơn 3%, tỷ lệ lao động dùng trong nông nghiệp quá lớn (70-80%). Trong khi các nước phát triển chỉ dùng 15% và Mỹ thì không quá 6% thành phần lao động dùng trong nông nghiệp để nuôi 250 triệu người của họ, cùng 200 triệu người trên thế giới sống bằng lương thực, thực phẩm Mỹ. Con số 6% được thiết lập từ những năm 70 do Alvin Toffler. Tuy nhiên, thắng lợi (cho là có được) trên mặt nông nghiệp với hơn một triệu tấn gạo xuất cảng vẫn không thể là bảo đảm để dân giàu nước mạnh được?! Phải có một hướng tấn công khác dài theo 2,500 cây số đường biển với những đặc, hải sản của riêng vùng biển Đông. Nhưng, “cách khai thác tàn nhẫn với chất nổ, ánh sáng cực mạnh, kích điện, đã tàn phá bờ biển từ độ sâu 50 thước”, thì nguồn tài nguyên biển vẫn là một khoảng trống chưa có đáp số, vì hải sản ven bờ đã bị vét cạn, hải sản xa chưa với tới. Con số 1,6 triệu tấn hải sản trước năm 2,000 vẫn chưa “lên phương án giải quyết !” Đồng thời những “tín hiệu và số liệu tiêu cực” đã xuất hiện: Cá mòi, đặc sản của biển Việt Nam đã hoàn toàn biến mất dù số thuyền tuy được nâng cao (11,000 chiếc của năm 1993, thêm 1,000 tàu trọng năm 1994); trong khi đó hải sản đánh bắt từ 977,000 tấn hạ xuống còn 800,000 tấn và tôm, mực, những “mũi nhọn xuất khẩu” từ “40Kg/một tầu/một ngày(đêm)” nay chỉ còn 10Kg. Như vậy là thế nào?
Phải có một nguyên nhân khách quan, một yếu tố tiêu cực nào đó đã xẩy ra gây tác động xấu? Không thể nào chấp thuận tình trạng bất cân đối, người ở Sài Gòn mua xe Mercedes Benz với giá 70,000 USD trả tiền liền tay trong khi các em bé Phương, Trung, Dung, Hiền theo ông bà, cha mẹ và anh trai từ Nghệ An vào Đồng Xoài (Phước Long, tên mới là Sông Bé) kiếm sống. Ông bà, cha mẹ bị sốt rét ác tính lần lượt bỏ thân. Anh trai đi bán vé số nuôi em bị xe cán chết. Bốn đứa bé tuổi chưa lên mười ngồi ôm nhau nơi mái lá giữa rừng hoang, lã người chờ … chết đói. Đề nghị cùng ông S. Beckett sửa lại vở kịch, thay vì “En Attendant Godot” nên thành “Đói Đợi Đảng” và ông Sartre ra khỏi mồ, tập họp tất cả những cá nhân gọi là “trí thức lớn của nước Pháp, đồng ra tuyên cáo, xác nhận các ông đã tối tăm, ngờ nghệch, mắc lừa thằng vô lại, khi họp báo, biểu tình hoan hô trò giết người của nó năm 1968 … Đồng thời ném hết chữ nghĩa của ông vào thùng rác, chứ chẳng phải riêng một cuốn La Nausée”. Báo Công An Thành Phố (H.C.Minh) phải cho người đến cứu trợ, đưa ba đứa nhỏ về làng cô nhi SOS Gò Vấp. Phải giải quyết tình trạng xã hội này, xã hội chủ nghĩa gì mà kỳ cục như thế? Cũng như phải giải quyết tình trạng “sốt xi-măng”, trong năm 1994 cả nước thiếu 1,5 triệu tấn và dự báo thiếu 1,8 triệu tấn vào năm tới. Như vậy làm sao xây dựng hệ thống cầu đường, hạ tầng cơ sở, các khách sạn, trung tâm du lịch để thu hút đầu tư ngoại quốc đang chực sẵn đổ vào?
Điển hình Ngân Hàng Xuất Khẩu Nhật Bản trong tháng 9/1994 đã nâng Việt Nam lên là đối tượng số Hai (sau Trung Quốc) để nhận tư bản của họ. Cuối năm 1992, Việt Nam đứng thứ năm sau Tầu, Mỹ, Indonesia, Thái, nay đã lên ưu tiên số Hai. Thật đáng mừng thay. Nhưng những anh tài phiệt ngoại quốc này hình như vẫn có một điều gì không thật (Dù Đảng ta vẫn luôn cảnh giác đối với bọn nhà giàu; lẽ tất nhiên với quan điểm giai cấp của Marx-Lenine chứ không do lời dặn Chúa Ky-Tô). Vì thực tế 1988, năm thi hành luật Đầu Tư, đã duyệt ký hàng ngàn giấy phép liên doanh sản xuất với 50 nước huy động số vốn 7,5 tỷ. Nhưng tính đến đầu năm 1994, chỉ thực hiện 836 hợp đồng với số đầu tư thực tế 2 tỷ (30% số vốn đăng ký). Tóm lại sau sáu năm thực hiện Luật Đầu Tư, kiếm được 780 triệu USD sản phẩm, nộp ngân sách 711 triệu và xuất khẩu 279 triệu. Hóa ra, liên doanh đầu tư với nước ngoài không phải là “Hoa thơm, cỏ ngọt” (chữ của “Xuân Công An Nhân Dân” trang 10; toàn là những thứ “Xuân” độc địa lạnh mình), mà phải trả giá khá đắt với 48 vụ lừa đảo gây thiệt hại 3,695,800 USD và 5,191 tỷ đồng Việt Nam. 48 vụ lừa đảo này có tỷ lệ bất cân xứng: 42 vụ do nước ngoài lừa ta và ta chỉ lừa lại được 6 phát. Tóm lại, ta không “điếm” bằng tư bản ngoại quốc. Hèn gì cụ Marx-Engels cứ dặn đi dặn lại phải coi chừng cái bọn khốn nạn gọi là tư bản. Nghĩ đến thiệt hại tội phạm kinh tế, với 83,9% do nước ngoài gây ra cũng đủ ứa máu, sôi gan, nhưng không buôn bán, hợp tác với nó thì còn ai vào đây?! Đồng chí Kim Nhật Thành đã nằm xuống, dân Bắc Hàn thực sự kêu đói; đồng chí Fidel kính mến (Người hứa cho vi-xi đến máu của mình ba mươi năm trước) ngày nay phải xuất cảng lậu dân qua Mỹ bằng cách đưa ra biển vì nuôi không nổi. Biết trông cậy vào đâu ngoài bọn tư bản tham tàn kia?! Ta phải tìm cho ra lẽ để năm 2,000 có được 20 tỷ Đô-la. Đây đúng là hoàn cảnh …
Ai đưa “ta” đến cảnh này,
Bên điếm Tư bản, bên xài Đô-la.
CHỦ NGHĨA KIÊU NGẠO CHIẾN THẮNG
Nhất định ta phải tìm cho được “kẻ thù” để chửi cho hả giận; cũng đồng thời giải thích cho dân nghe xuôi tai vì hiện tượng “tiến bộ khó coi” như trên vừa kể ra. Quả tình ta chỉ “bước đầu có tiến bộ nhất định.” Bước đầu thôi – Ta phải thành thật và khiêm tốn với mình. Còn mấy năm nữa mới chấm dứt thế kỷ 20, ta phải mau thành rồng, cọp, beo gì chứ cứ xếp “hạng thứ tư” từ dưới kể lên trong đám thế giới đói khổ thì quả tình quá chướng?! Có gì cũng là “cường quốc quân sự khu vực” đã từng chiếm đóng Lào, Camphuchia, “đánh cho Mỹcút đánh cho Nguy nhào”, đâu phải thứ xoàng xĩnh?! Nhưng sở dĩ “ta” phải mang tiếng một trong mười nước nghèo nhất thế giới này chính là do “cái gọi là Liên Hiệp Quốc” kia bầy nên trò “thống kê không sâu, sát“.
nước với “rừng vàng bể bạc, trai tuấn tú tài giỏi, gái trung hậu đảm đang, đi ra ngõ gặp ngay một đám anhhùng, do Đảng “thông minh, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo và táo bạo” lãnh đạo thì làm sao lợi tức tính theo đầu người hằng năm (GNP) chỉ được 230 Đô-la?! Tính như thế là láo … Liên Hiệp Quốc hãy coi chừng! (Đã có một giáo viên cao cấp trong giờ “lên lớp chính trị” có lời “giáo dục cơ bản” như sau: “liên hiệp quốc hay đế quốc cũng là một, chúng chỉ do bọn tư sản mại bản quốc tế trả tiền cho tập đoàn lính đánh thuê mũ nồi xanh). Tính như thế họa là tính lộn. Vì theo cục thống kê (rất chính xác và cũng thật khiêm tốn của ta) thì GNP của mỗi người Việt Nam phải là 810 USD và con số 2.000 USD cho năm 2.000 thật ra chỉ là số tối thiểu. Muốn có chỉ số chính xác thì phải tính tới “sức mua” của người dân nước ấy mới được. Làm sao tính ra số trứng vịt “đang và sắp đẻ“, hoặc cá tôm đang có trong đầm, lầy, ao lạch Miền Nam. 230$ thế nào được?! Tính như thế chỉ bày cái dốt, cái yếu của mình mà thôi. Bọn Liên Hiệp Quốc kia đúng là tay sai tư bản!!
Bài xã luận của Tổng biên tập Xuân Thanh Niên chắc chắn là phản ảnh đường lối phê phán đứng đắn của Đoàn ta, không phải là lời tầm thường, (đoàn thanh niên cộng sản Hồ chí Minh, để phân biệt đoàn Lê-nin, đoàn Mao trạch Đông, đoàn Fidel … Như kiểu tổ chức của các đoàn Hitler, đoàn Himmler, đoàn Goering của phát-xít Đức ngày trước; cơ quan nôn luận trung ương của đoàn ta không gì khác hơn là báo của “đồng chí Xuân”).
Nhưng sở dĩ cơ quan quốc tế này phạm sai lầm bởi đã có kẻ thúc dục, giật dây, quyến dụ:”Đế quốc Mỹ với toàn bộ tham tàn, bóc lột của nó chứ không ai khác!“. Cái quốc gia này không khá chút nào cả. Từ vụ nhân viên phản gián cao cấp CIA, Almes làm gián điệp cho Liên-Sô chín năm không bị phát giác, đến sự kiện hai thằng khật khùng, Coorder lái máy bay Chessna oanh tạc và diễn trò Kamikasé xuống bãi cỏ (tháng 9) và Duran pháo kích vào Dinh Bạch Ốc bằng súng tiểu liên! Nước Mỹ đã đến hồi suy tàn, bởi nơi tượng trưng cho quyền lực và nền dân chủ kia thật ra chỉ là chỗ để những thằng bị bệnh tâm thần tuôn xả nỗi ức chế, tập dợt những trò phá phách ngu độn; cũng như cơ quan tình báo gớm ghê quyền lực kia hóa ra là vùng ẩn náu của đám gián điệp nhị trùng. “Người ta (Ai là người này?) nghi ngờ Nhà Trắng có còn là nơi tuyệt đối an ninh không? Nền Dân Chủ Mỹ thực sự đang bị bạo lực đe dọa”, Xuân Công An Thành Phố, trang 25.
Lo cho nước Mỹ đến thế là qúa hậu hĩ tốt bụng. Phải chăng “đảng ta” đang tính đến chuyện, nếu chính quyền Mỹ lỡ sụp đổ thì lấy ai trao căn nhà của Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Thịnh Đốn lại cho chăng? Này đây, chính phủ Mỹ, CIA hãy học bài học cần kíp. Mười năm trước, 1984, tên Dương Văn Túy sinh 1962 ở xã Trung Hưng, huyện Mỹ Văn, Hải Hưng sau khi thi hỏng vào Đại học 1981, đành ở nhà làm ruộng. Nếu cứ ở yên làm anh nông dân tiên tiến thì “cuộc đời vẫn đẹp sao … tình yêu vẫn đẹp sao” như một bài ca thời trang cách mạng. Nhưng cái thằng ngu dốt này không biết do từ đâu xúi dục đâm ra bày trò phản động. Dùng phấn viết lên tường UBND xã Trung Hưng những câu cực kỳ khốn nạn kiểu “địt mẹ đồng chí đỗ mười!! ” Và thằng “tay sai đế quốc, tập đoàn phản động quốc tế” này lặn trốn sau thành tích “chống đối cách mạng” được hoàn tất. Trước ngày bầu cử Quốc Hội khóa XI, 1992, tên này do nhận được lệnh của bọn gián điệp quốc tế, tập đoàn chống Cộng ở nước ngoài (nói trắng ra là tụi Việt kiều ở Mỹ) lại lén lút tái lập hoạt động phá hoại an ninh xã hội, quốc gia. Tên Túy dán đến hai áp-phích (mỗi áp-phích viết những ba bài thơ … Thơ mới sang, chứ văn xuôi là xoàng) Những bài gọi là thơ kia có những nội dung cực kỳ sai trái, đáng trừng phạt như:
Bác Hồ có mỗi chòm râu,
Ta nay đem bán đổi bầu Cô-ca.
Hoặc:
Bác Tôn chỉ thích ăn cà,
Ông đem xuất khẩu đô-la lấy về.
Thế là trinh sát xã, an ninh huyện, hợp với đoàn Điệp Vụ đến từ Trung Ương phối hợp mở ngay cuộc hành quân truy quét bọn “phản động nằm vùng”. Lẽ tất nhiên bộ đội, công an ta tóm ra ngay thằng khốn nạn.
Ngày 29/10/1994 tên Túy ra tòa án Nhân Dân huyện Mỹ Văn. Để cảnh cáo những tên phản động khác (đám Việt Kiều ở Mỹ hãy lấy đó làm gương) Tòa phạt tên Túy 7 năm tù cộng thêm 3 năm quản chế tại địa phương (Xuân Công An Nhân Dân, trang 20).
Coi chừng nhá, những ông Việt kiều nào định về Việt Nam nói chuyện với Hà Nội, đề nghị giải tán Đảng Cộng Sản, chia quyền hành, hãy xem gương Dương Văn Túy, chỉ là một thằng cu ở đâu dưới quê còn bị phạt đến ra gì vì tội … viết bậy trên tường! Các anh đừng có hòng. Nhưng suy đến cùng, trường hợp tên Túy không hề là phản ứng của một cá nhân đơn lẻ. Túy chỉ có thể thực hiện những hành vi cực kỳ sai trái kia khi hắn ta đã được móc nối, điều động, hứa hẹn bởi những tổ chức phản động đặt bản doanh ở Cali, nơi quận Cam với cộng đồng người Việt luôn kích động hận thù dân tộc!! Đám người này (có khả năng) được trả lương bởi cơ quan (suy thoái) CIA như vừa kể trên kia cũng nên?! Nếu không, lấy tiền đâu để hội họp, hội thảo ra tuyên ngôn phản đối Đảng, Nhà Nước, Nhân Dân ta, hiện đang chuẩn bị cơ may, đón vận hội mới với thế kỷ 21 trước mặt. Tên Túy chỉ có thể là thành viên phong trào “Diễn Tiến Hòa Bình” khởi đi từ Mỹ. Không trật vào đâu được, Đảng ta nói chắc nịch như thế. Trong phong trào này điển hình có những người như Tú, một sinh viên Đại học Huế trong những năm 60 … Ngày ấy, năm 1967, khi phong trào ly khai nổi dậy ở miền Trung, người thầy giáo trẻ Hoàng Phủ Ngọc Tường là thủ lĩnh sinh viên Huế, với trái tim nồng nhiệt của tuổi trẻ ý thức dân tộc sâu sắc, Tường cũng như Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Quang Long … không thể nào chấp nhận sự hiện diện quân Mỹ trên đất nựớc mình. Tường và những “trái tim trẻ tuổi cách mạng Huế” tiến lên đưa ngực thanh xuân thách đố súng, đạn Mỹ-Ngụy. Hào hùng thay. Và Tú, người sinh viên trẻ, học trò của Tường thấy thầy trong lúc nguy cấp (khi lực lượng trấn dẹp phe ly khai từ Sài Gòn ra Huế, Đà Nẵng) đã đề nghị cùng thầy biện pháp hy sinh cao cả: “Che chở thầy dưới tấm áo giòng tu, giúp thầy trốn thoát lùng vây”. Cao quý biết bao trái tim tuổi trẻ Huế kiêu hãnh sắc son!! Hai mươi bốn năm sau đoạn trường chinh chiến thắng, Tường trở lại chốn xưa, vùng núi Bạch Mã (Thừa Thiên), nơi những con đường đầy bóng cây trong thành nội Huế, ở “Tuyệt Tình Cốc” của Tường và bằng hữu thuở tuổi trẻ tóc xanh … Những ngày phơi phới lãng mạn và cách mạng với thơ Ngô Kha, Trần Quang Long, tranh Trịnh Cung, nhạc Trịnh Công Sơn và … máu-Máu người!! Yếu tố sau cùng này Tường không kể vào bài viết-Tuyệt Tình Cốc, Xuân Thanh Niên. “Tuyệt Tình Cốc – Chỗ của “Trái Tim Cách mạng” Trong bài viết đầy thi, nhạc, và “cách mạng tính” ấy Tường đề cập đến Tú (người học trò của Tường ngày trước) như sau:” … Tú hoặc Kim, (NVK) đang tham gianhiều tổ chức chống Cộng cực đoan (ở Mỹ), kích động hận thù dân tộc tới cùng. Tôi không ngờ đã có một người học trò dữ dằn đến như vậy. Sao lại thế? Quyền của Tú thôi. Dĩ nhiên. Nhưng đừng quên rằng, dù sao – Tú cũng đã có một thời cắp sách đến trường … ” Ông giáo Tường ngạc nhiên thật hay giả vờ ngạc nhiên về vụ Tú (NVK) “hung hăng kích động hận thù dân tộc ở Orange County, California?”. Chúng tôi không biết, chưa gặp ông K. này, cũng không biết mức độ “dữ dằn” của ông ta; nhưng tôi có thể trả lời Tường như sau:
– Nếu ông K. (Tú) kia phải tội hung hăng, dữ dần như thế thì không gì lạ-Học thầy nào thì ta phải bắt chước thầy ấy. Yếu tố này cũng để trả lời thắc mắc của Tường về việc K(Tú) dù hung hăng tới đâu chắc chắn cũng không hề đòi cắt cổ, mổ bụng ai. Tường, nhà văn, giáo sư, người cách mạng Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông có nhớ bạn bè, em ông (HP Ngọc Phan) và chính ông cùng cái gọi là “những trái tim trẻ tuổi Huế lãng mạn và cách mạng” ấy đã làm gì trong những ngày xuân Mậu Thân Huế, ngay chính trên đường Âm Hồn, nơi “Tuyệt Tình Cốc” của ông? Chiến hữu đơn vị tôi, Tiểu đoàn 9 Nhẩy Dù hôm nay sống đủ ở Mỹ. Và nhân chứng cụ thể chính xác nhất, Thiếu Tá Trương Dưỡng (lúc ấy, 1968, Trung úy Đại đội trưởng Đại đội 91, Tiểu đoàn 9), người bị thương nơi ngã Tư đường Âm Hồn và con đường chạy song song bờ hồ Tịnh Tâm, sẽ nhắc nhở cho ông một điều “Anh hãy nhớ đã một lần cắp sách đến trường … dạy học.” Riêng tôi có đề nghị, nơi chốn các anh lớn lên, đọc thơ, nghe nhạc, làm cách mạng và bị “tuyệt tình” đó nên đổi tên, phải đổi là “Tuyệt Tình Người” – Hãy cố làm người trước khi làm nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn và … “nhà cách mạng”.
Nếu Hoàng Phủ Ngọc tường qua bài viết nhắn nhe, dạy dỗ cộng đồng người Việt không được hung hăng và phải nhớ đã “được đi học.” Câu mắng mỏ xỏ xiên này “điếm” lắm! Nó không chỉ “chửi” riêng ông K (Tú) kia và đánh tất cả “bọn người Việt phản động” ở hải ngoại. Vì đau đớn thay, những người bị kẹt lại sau 30/4/1975, ai lại chẳng một lần đi … “học tập”. Anh Tường này khi viết như kia ý hẳn muốn nói: “Thằng nào chống Cộng hung hăng dữ dằn như kiểu ông NVK (Tú) kia là đồ „không học tập tiến bộ !!”
Vâng, thưa quý vị, các bác “điếm BắcKỳ” quả thật không ăn ai, chỉ mang tiếng nơi chốn vũ trường, bàn rượu với các em õng ẹo xanh đỏ thôi. Điếm Trung Kỳ, đặc biệt “điếm Huế” cứ luôn giả vờ dại dột, tẩm ngẫm, nhưng khi ra chiêu thì chỉ có nước … chết, không chết cũng vào ấp, mang cùm. Đống “hói” của Tổng hội sinh viên Sàigòn những năm sau 1963 là một điển hình. Ngày 30 tháng Tư, 1975, Đống đi xe đạp, mang băng đỏ, cùng Cung Tích Biền, Kim Cương, Nguyễn Trọng Thức, (trung uý hải quân, chồng K Cương buổi đó, thư ký báo Dân Chủ của Đảng trưởng Nguyễn Văn Thiệu, Bí thư Trần Thiện Khiêm …) đi lùng bắt “nguy văn, nguy thi sĩ, nguy ca, nguy nhạc … Kể cả nguy cải lương, nguy thầy giáo … ”. Đám nầy làm hăng đến nổi Vũ Hạnh phải xin can!!
Nhưng, ở đời lắm sự bất ngờ. Khi “điếm” nó tụt dần vô Nam, tới Sài Gòn thì “điếm tính” được tôi luyện đến mức tinh xảo, kể như toàn bích. Đây xin dẫn chứng. Anh Trần Bạch Đằng, tức Nguyễn Trương Thiên Lý hay Trương Gia Thiều hay Tư Ánh hay Tư Méo … Gốc Bắc Kỳ nhưng vào Nam từ trước 1954 có nhiệm vụ cấy hạt nhân Bắc Kỳ giữa đám kháng chiến Nam Bộ, đặc trách trí vận trong thập niên 60-70; chức vụ cao nhất là ủy viên Trung Ương, Bí thư Thành ủy Sàigòn-Gia Định. Nhưng, nếu anh Ba, Lê Duẫn với mặt nổi qua các chức Bí Thư Xứ Bộ Nam Kỳ từ 1946 và Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam (gồm cả Cao Miên) khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thành lập (1960) … thì anh “Bắc Kỳ Tư Méo” này là một cái thắng, một hướng đặc trách riêng kềm giữ, theo dõi Duẫn. Và khi được “Nam hóa” ở phương diện “ác và điếm” thì Đằng đã nên mức thượng thừa. Nguyễn Bình, Lê Duẫn sống lại chưa chắc hơn. Bởi lẽ Tư Méo “viết văn.” Mà nhà văn khi đã lên cơn đểu cáng, điếm đàng thì … hết sẩy. Quý vị viết văn, làm thơ lưu ý, chúng tôi dẫn chứng vụ việc Trần Bạch Đằng hợp với Trần Thời hay Hai Khuynh, Nguyễn Huy Khánh là chủ trì toàn bộ áp đảo văn nghệ sĩ miền Nam sau 30/4/1975. Phe ta, dân viết văn, làm báo, ca hát, kịch nghệ, cải lương trình diện đi học tập ở 110 Nguyễn Du (bây giờ là trụ sở báo Công An Thành Phố) theo diện “Văn Nghệ Sĩ” ắt hẳn đã nếm đủ nhục của những “lần lên lớp, giáo dục” do đám văn công, văn lại, cấp cao như Hai Khuynh, Tư Méo, Hồ Nam (Trần Văn Giàu…), sau tăng cường các quan văn hoa ngoài Bắc như Chế Lan Viên, Huy Cận vô thêm lời chưởi mắng, dạy dỗ. Cứ như vua đời xưa chửi quan hoạn, nô tì … Chửi từ tam đại đến mỗi “bài thơ” chưa làm(?), ý nghĩ chưa có!” Tất cả bài viết, sách in, tuồng tích, bản nhạc, lời ca trước 30/4/75 là “toàn thể sản phẩm đồi trụy phản động … Được hoàn thành theo lệnh của bọn tâm lý chiến Mỹ-Ngụy.” Ai không tin về Việt Nam, đi gặp Nguyễn Thị Thụy Vũ hẳn biết. Cứ xem trường hợp của Phạm Thiên Thư, Nguyễn Thị Hoàng thì hiểu ra. May quá, chúng tôi đi lính nên trình diện bên “khâu” bộ đội giáo dục. Đỡ bớt nhục. Đằng cũng là tay “bắn FM” (FM: xin viết và đọc “ép-em” thì tất hiểu ra) cự phách không kém Tám Thiệu phe ta. Hợp cùng Hai Khuynh trấn giữ dãy biệt thự đường Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu); Tư Méo và Hai Khuynh “điếm” bằng thích. Điếm suốt ngày. Điếm cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, Bắc Kỳ và Trung Kỳ điếm chắc chắn thua xa. Việc Tư Méo sẽ bàn rộng khi có dịp.
Bài viết này chỉ nói riêng về một khía cạnh độc đáo của y. Nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường xỏ xiên lặt vặt với NVK (Tú) cùng với cộng đồng người Việt. Tư Méo chơi cha hơn. Dạy Mỹ và cả khối Tây Phương. Méo ví von: “Biến động đổi đời 1989, 1990, 1991 ở Đông Âu Liên Sô cứ như là Hồng Thủy kể trong Kinh Thánh.” Mà kể như “Hồng Thủy” cũng đúng. Todor Gipcov, N. Ceaucesscu, E. Honecker phút chốc trở thành những tay tội đồ lơ láo, hoặc một cái chết không toàn thây, hoặc không nơi ngủ đỗ cuối tuổi già. Staline màn vén lên bày ra một tay giết người ghê tởm nhất nhân loại và dần dà Mao Trạch Đông cũng hiện nguyên hình một tên cuồng dâm đê tiện, không tắm rửa, không đánh răng (Không biết bao giờ đến “lãnh tụ kính mến Kim Nhật Thành” và cái gọi là “bác thằng Bần” kia. Chắc cũng gần thôi. Chúng tôi cóthể nói mạnh như thế). Cơn Hồng Thủy cuốn trôi tất cả những tượng đài, những bệ thờ … Đống đá vỡ vụn bức tường Bá Linh bị hốt đi như một thứ rác rưởi bẩn thỉu cần được mau chôn vùi, thiêu hủy. Bão cứ nổi và biển cứ dâng, cơn hồng thủy đi qua, trên mặt đất điều tàn nước rút, phơi cạn đáy đại dương tan tác … Ông Nô-ê (Noah) thuở xưa nhìn quanh địa cầu trống vắng ngậm ngùi. Nhưng cơn hồng thủy cuối thế kỷ đi qua … “Ta vẫn là Ta“-Ta còn nguyên với “Tư Tưởng Hồ Chí Minh”,đỉnh cao trí tuệ con người toàn phần rực sáng:
Bốn ngàn năm Ta vẫn là Ta!!
Vâng, “ta vẫn là ta,” không ai có thể chen vào được. Bất khả thay thế. Kim cương bất hoại. Chắc như bắp, rắn hơn bo bo. Tư Méo viết: “Quả thật chúng ta ra khỏi trận Hồng Thủy an toàn. Điều mà cả thế giới hằng kinh ngạc. Hẳn, chế độ Cộng Sản Việt Nam không đổ dây chuyền theo, dù địa chấn cực cao, do những nguyên nhân hoàn toàn không thể lý giải rõ, liên quan đến lịch sử, đặc tính, tư thế Việt Nam, cơn người Việt Nam hiên tại, của Tư Tưởng Hồ Chí Minh siêu việt, của Đảng Cộng Sản Việt Nam vinh quang. Bài ca “Chủ nghĩa Cộng Sản cáo chung” không trọn vẹn, dàn nhạc (các chế độ dân chủ Tây Phương, các lực lượng quốc gia Châu Á) phần nào cụt hứng. “Cái gọi là Việt Nam” nửa thế kỷ qua đâm nhói đau, hết thực dân cũ đến thực dân mới !!!” (Bài “Sau Cơn Hồng Thủy” trang 5, Xuân Thanh Niên).
Tóm lại, Tây Phương, nói trắng ra là Mỹ đừng để bị chứng “Triomphalisme-Chủ nghĩa kiêu ngạo chiến thắng” làm mờ mắt trước “đảng ta”. Đừng có hòng!! Thật sự Trần Bạch Đằng muốn nói câu này nhưng hơi mắc cở vì Mỹ vừa trả lại Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Thịnh Đốn để “đảng, nhà nước ta” làm phòng liên lạc. Và, “đây là thắng lợi ngoại giao cực kỳ quan trọng của trí tuệ đảng, nhà nước ta sau quá trình cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Tư méo không nói ra, chúng tôi thêm vào cho đủ vế. Anh vừa thôi, đừng to mồm, lại là mồm méo!!
Nhưng nếu không được nói thẳng như trên, Tư Méo xúi đàn em chửi Mỹ. “Westmoreland, Tổng Chỉ Huy quân Mỹ và chư hầu bị thua trận và bị cách chức vì quân dân ta cho một đòn trí mạng vào dịp Tết Mậu Thân. Trong trận chiến 45 ngày, quân ta loại khỏi vòng chiến 147,000 tên ác ôn (có 43,000 quân Mỹ); xúi dục 20,000 quân Ngụy đào ngũ; bắn rơi phá hủy 2,370 máy bay; 35,000 xe quân sự; 368,000 tấn vật dụng chiến tranh; bứt rút 700 đồn, giải phóng 1,000 thôn và 1,200,000 dân (Xuân Công An Nhân Dân, trang 26, người viết MĐ).
Nhưng kể như trên với những số liệu quá độ như thế không làm cho Mỹ sợ, bởi lẽ, suốt cuộc chiến Việt Nam, Mỹ chỉ bị chết khoảng 58.000 người, thì ta không thể làm sao “giết kịp” để có thể đủ 43,000 xác lính Mỹ trong 45 ngày. Nghĩa là một ngày một ngàn người!! Hơn nữa, suốt hai đợt tổng tấn công năm 1968, từ tháng 1 đến tháng 5, tại vùng Sàigòn, lực lượng võ trang cộng sản chỉ đụng với một lực lượng an ninh Mỹ, một trung đội quân cảnh giữ Toà Đại Sứ, sau tăng cường một đại đội, cũng chỉ là lính quân cảnh. Mặt trận Huế, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ chỉ tham chiến cùng TQLC Việt Nam sau mồng 10 Tết. Và quả tình lính Mỹ đuổi bắt Việt Cộng hơn đúng nghĩa tác chiến quân sự. Nói kiểu bài báo kia là nói láo để dọa bà già con nít Mỹ mà thôi. Chúng tôi ghi lại đây những số liệu chính thức từ phòng Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu. VNCH, dẫn thêm báo Newsweek số tháng 2/1968. VNCH; tử thương: 3,5000; bị thương: 10,678; mất tích 543; tổng cộng 14,722 người. Phía Đồng Minh, chết: 2,832; bị thương: 15,832; mất tích: 352; tổng cộng: 19,016. Phía Cộng sản: chết 41,191; bị bắt 48,572 … Người Cộng Sản cũng quên ghi (không muốn thì đúng hơn) số thiệt hại của dân – Mà đây là thành phần thụ nạn đau đớn và oan uổng nhất. Này, Dân chết 14,300; bị thương 24,000; nhà bị phá hủy 72,000 căn; người tỵ nạn 627,000 người. Việt Cộng, các ông nhớ số liệu để viết báo kỳ tới, dịp khác. Kiểu hù dọa với những con số trên, một bài viết không nêu tên thật, quả tình không ăn ai. Xuân Công An xoay qua cách khác với “người thật, việc thật”. Người thật: Nguyễn Tài, tức Tư Trọng, Trưởng Ban An Ninh Sài Gòn-Gia Định, sau 1975 được hàm Thứ Trưởng Nội Vụ. Việc thật: “Theo chỉ đạo của Khu Ủy, thì nhiệm vụ của các chiến sỹ An Ninh T4 (tức Thành Ủy Sài Gòn, bí số trong giới An Ninh, Tình Báo) là phải diệt bọn đầu sỏ, nhằm hổ trợ cho quần chúng nổi dậy. Ngoài việc “Diệt Ác” ở nhiều khu vực thành phố, cảnh cáo những tên “chưa có” nợ máu với nhân dân. Trong những thành tích, đáng kể có vụ tấn công nhà tên Tướng Kiểm, Thủ Tướng Hương, đặt mìn Tổng Nha Cảnh Sát và rạp Quốc Thanh. (Xuân Công An Nhân Dân, trang 8). Vâng, rõ ràng các “đồng chí ta” đã khai ra thế đấy. “Chiến sĩ an ninh”, tức là dân đặc công chuyên nghề phá hoại và ám sát. “Diệt ác” tức là cắt cổ, mổ bụng người. Và rạp Quốc Thanh chắc chắn không phải là cơ sở Ngụy quyền, đồn bót Ngụy quân. Ông Nguyễn Ngọc Loan có thể mượn bài báo này để nói cùng thế giới và người Mỹ, “ … Cái thằng tôi bắn hôm Mậu Thân trong Chợ Lớn chính là một trong tụi “an ninh” chết người này. Tôi bắn một thằng nhằm nhò gì, nó nổ rạp Quốc Thanh sao không nói đi … ” Thế mới biết phe ta “điếm và ác” không thấm vào đâu so với vi-xi?! Hình như vẫn có rất nhiều người không nhận ra điều đơn giản này.
Nhưng, nếu trưng Nguyễn Tài, Tư Trọng ra cũng chưa oai. “Xuân đảng ta” đi tiếp bài của Trần Ngọc Hiền, trưởng cụm tình báo chiến lược, với đối tượng hoạt động là trí thức, sĩ quan cấp sao Sài Gòn-Gia Định. Hiền chỉ dạy: “Lịch sử chứng minh tình báo Pháp đã thua ta, tình báo Mỹ cũng đã thua ta. Tôi cảm nhận tình báo Mỹ còn đau lắm về chuyện thua Việt Nam và họ cũng chưa tìm ra lời giải vì sao họ thua.” (Xuân Thanh Niên, trang 53) Nói như trên kể ra “nặng ký” thật, nhưng nếu là người trong nghề (Nghề Mật Thám, xin nói rõ) người ta cười cho. Ông Hiền ạ, khi được trao trả lại Lộc ninh (Tháng 2, 1973) thì ông cũng phải hiểu ra: “khi một nhân viên tình báo bị bể thì giá trị của anh ta đã là gì rồi”. Nếu có thể qua Mỹ, ông đến tôi, chúng ta cùng đi gặp vài người bạn … Chy, ở DC; Gg, ở Seattle, những người này sẽ cho ông biết “Người Mỹ đã thua như thế nào.”
Cuối cùng, chúng tôi xin có lời thành thật bái phục các vị ở những tờ báo vừa trích đăng trên – Vì qua đó các Tổng biên tập đã chứng tỏ một khả năng “cách mạng giác ngộ” rất cao – Cao hơn bất cứ người “gọi là cộngsản” nào còn sót lại ở cuối thế kỷ này. Đấy là, các bài viết đã nại đến một đơn vị mà theo chúng tôi nghĩ không hề liên quan, trở ngại gì đến “công cuộc đổi mới đảng ta đang tiến hành”. Các ông đểu giã “gài” Chúa Trời vào. Cách “đánh” này rất cổ điển cũng rất cụ thể, ép-phê. “Đánh Chúa” bằng những người chơn chất yếu đuối, (Cũng như xúi những kẻ ngây thơ ném đá vào Người Khổ Nạn); những người mà Chúa luôn dành riêng chỗ thương yêu cùng trẻ con, người khờ … Apanh, chủ tịch Uy Ban Nhân Dân xã ở Sơn La có con gái là My. My không lấy chồng được vì “cái ấy” bị bít lỗ. Bà con trong xã nói kháy: “Vì Apanh theo cộng sảnnên Chúa Trời nổi giận bít cái ấy của My”; kiểu như một anh y sĩ thẩm mỹ không quen nghề. Apanh tức quá bèn nói cùng Y Ngông Kieck Dăm, chủ tịch Ủy Ban Dân Tộc ở Quốc Hội Hà Nội. Y Ngông viết thư cho Nguyễn Thị Ngọc Phượng, bác sỹ Giám đốc bệnh viện Từ Dũ, cũng là Dân biểu quốc hội, đơn vị Sài Gòn. Nhân ra Hà Nội họp, Phượng sơ khám cho My, hứa sẽ chữa lành cái tật do Chúa phạt!! Apanh đưa con vào Từ Dũ, Phượng “đục” cho em My một cái lỗ. Em tôi đi về lấy được ngay một anh chồng. Chuyện xẩy ra hay như “Công chúa ngủ trong rừng” có kết luận với lời Apanh: “Nhờ Đảng đổi mới tư duy, bản làng chúng tôi từ nay quyết lấy khoa học đánh cái tà giáo”. Vẫn trò thô thiển dạy người thiểu số chối Chúa và cưỡng ép người vùng Bùi Chu, Phát Diệm bỏ Đạo như của thời kỳ 1945, sau 54 … Tính Ác khác tính Thiện ở hai chiều đối nghịch về tâm lý cũng như về lý luận. Một bên càng ngày càng Mới. Một cứ chậm chạp lăn về phía xưa cũ, lầy đọng. Những lời kể, cách thức dựng chuyện như trên được lập lại lần thứ hai với chị Chiền Thị A ở miền Tây, cũng với bác sỹ Phượng của bệnh viện Từ Dũ tham dự quá trình “cứu rỗi”. Đối tượng Phượng không phải được chọn lựa vô cớ; Phượng là bác sĩ Sài Gòn, người Công Giáo, học trường Tây. Dùng Phượng chống Chúa Trời là kiểu “gậy ông đập lưng ông.” Ai bảo Việt Cộng ngu và ác đâu? Ngu thì không rõ nhưng quả thật ác đã ra gì!!. Vâng, đến Chúa Trời mà người cộng sản cũng không tha thì huống gì chúng ta. Nhưng, sở dĩ chúng tôi viết nên bài này cũng không ngoài ý thúc dục của “đồng chí ta” Người này, Nguyễn Khải, đại tá, Tổng thư ký Hội Nhà Văn có họ hàng gì với bà Nguyễn Phước Đại, luật sư, dân biểu trước 1975 ở Sài Gòn. Tóm lại, đây là một “điển hình tiên tiến”– Công tử con quan, nhà giàu, học giỏi, kể cả xinh trai và nói giọng đểu. Ông này đểu lắm, chúng tôi nói chắc như thế. Đọc “Tháng Ba Tây Nguyên,” bút ký nói về việc đánh chiếm Tây Nguyên và tiếp theo tấn công về Sài Gòn của lực lượng cộng sản vùng Tam Biên thì rõ ra. Trong cuốn sách nầy, ông mô tả sĩ quan, tướng tá vùng II, Sài Gòn toàn là một lũ ngô ngẩn, ngu độn, tham ăn tục uống và không cả … đẹp trai. Phía cộng sản từ anh bộ đội đến người chỉ huy thì cứ như … rồng. Tuy nhiên, vì là kẻ “thắng trận cao cả”, với tấm lòng nhà văn rộng lượng, anh thương yêu tụi Ngụy quân, Ngụy quyền, đảng phái phản động ở miền Nam như Phật đối với chúng sinh. Mà cũng vì cái trần gian nó bé nhỏ mong manh, phận đời chìm nổi … Ghét làm gì tụi Ngụy thất thế, lỡ thời nơi cõi “nhân gian bé tí” này.
Vâng, từ ông nhà văn cao quý này chúng tôi nhận được lời khuyên: “Khi viết, anh nên nghĩ đến người đọchơn là nghĩ về nhau … Đừng viết cái bạn bè thích, bạn bè sợ, bạn bè phục mà phải hướng đến đông đảo quầnchúng”. Có gì anh cũng cầm bút hơn hai mươi năm, và các văn hữu miền Nam trước đây, hoặc ở Mỹ bây giờ, hình như chẳng bao giờ ai (dám) khuyên bảo gì ai. Thế nên, khi được khuyên như thế thì anh thấy như vừa nhận được điều gì quý giá lắm. Đấy là cảm nghĩ khi bắt đầu viết bài này, nhưng đến giòng chữ cuối này thì chợt nhớ:
“Quái nhỉ … Từ trẻ đến giờ mình có viết cho ai bao giờ đâu?! Miền Nam làm gì có ông chủ tịch, tổng thư ký hội nhà văn, nhà báo, làm gì có ông tổng biên tập, trợ lý, chủ đạo chính trị nào … Không viết cho người đọc,người mua sách mình thì viết cho … ma à. Vớ vẩn!”
Thế nên, chúng tôi có mấy câu thơ sau đây nhại theo Trần Mạnh Hảo, bắt chước Xuân Sách đề tặng ông và cái hảo ý cao đẹp của ông:
Một cõi Nhân Gian bé tí (1)
Mà Mùa (Hành) Lạc ông lâu
Được Chủ Tịch Huyện bố thí
Chức Tổng Thư Ký quá hời.
(1) Cõi Nhân Gian Bé Tí; Mùa Lạc; Chủ Tịch Huyện …
Trong thành ngữ Việt Hán có câu “dĩ hòa vi quý”, khuyên người ta lấy sự làm hòa với nhau là quý, cũng đồng nghĩa với các thành ngữ Việt Nam “chín bỏ làm mười”, hay “một sự nhịn chín sự lành”. Một thế giới đẹp đẽ biết bao nhiêu khi người ta không còn tranh chấp, thù hận, kèn cựa, ghét bỏ nhau. Ðối với kẻ yếu, dĩ hòa là chấp nhận sự lấn áp của kẻ mạnh, không chống cự, không phản kháng, chống cự, phản kháng chỉ thêm u đầu chảy máu, thôi thì một sự nhịn có đến chín sự lành. Ðối với người dân bị cường quyền áp bức, đương đầu chỉ nhận sự thiệt hại, nên đành “chín bỏ làm mười”, miễn cho qua chuyện. Với tranh chấp giữa hai người, giải hòa là điều khôn ngoan, vì người xưa đã nói “vô phúc đáo tụng đình”, kẻ bị thiệt cũng đành im lặng, kẻ thủ lợi cũng yên tâm vì không ai dám kiện ra tòa án thêm dây dưa, tốn kém nên lần sau lại càng lấn lướt. Ðó là bản chất “hiền hòa” của người Việt thích cầu hòa, an phận, khôn ngoan hay dại dột, tùy người đối diện.
Ngày xưa thời thơ ấu, đi học, bị lũ trẻ du côn hàng xóm chận đường, dọa nạt, chống lại, đánh lộn với chúng nó, về nhà cha hay, thì bị lãnh thêm một trận đòn với lời la rầy: “Mày có làm gì mới bị chúng hiếp đáp, sao không chịu nhịn chúng nó đi!” Vì vậy, lần sau, bị gây hấn chỉ còn cách bỏ chạy, cúi đầu nhịn nhục mà đi, hay dùng đường tắt mà lánh nạn, vì “tránh voi không xấu mặt” hay “thương cha chớ chọc người phàm.” Tránh voi thì có gì mà phải xấu, không chọc người phàm còn được khen là con có hiếu. Vì vậy đi học thì bị bạn bè chơi gác, thầy bất công, đi làm thì bị đồng nghiệp lên mặt, sếp chèn ép là không dám nói một lời, vẫn được khen là người hiền lành, thuận thảo. Lớn lên, làm người, nhớ lời cha dặn, quen thói an phận, “một sự nhịn chín sự lành”, mọi việc đều qua!
Xưa hay nay thì cũng vậy, những cơ quan như thanh tra, giám sát không thực hiện được chức năng “cầm cân nảy mực” công chính của mình, bão hòa xấu tốt, trắng đen, mọi hồ sơ đều tốt, mọi chuyện đều vô sự, bỏ qua tội lỗi của người thì phần mình lại càng có lợi.
Trong cộng đồng người Việt xa xứ, có lẽ vì lời kêu gọi “bầu ơi thương lấy bí cùng”, tôi xin sửa lại câu sau: “dẫu rằng xấu tốt cũng chung một giàn” nên cứ nhịn nhục. Bị ông bác sĩ bills tiền vô tội vạ, định phản đối, kiện tụng thì bạn bè khuyên răn “tiền Mỹ, tiền gì của mày!” hay “làm gì cho thêm mất thời giờ, rắc rối, làm thinh cho qua chuyện”.
Bạn bè có người bị mổ lầm con mắt trái thay vì mắt phải, được năn nỉ mổ lại, mắt vẫn thấy đường mà đi, “có chuyện gì đâu mà làm ầm ĩ”. Nhận tiền cọc sửa nhà đồng hương rồi bỏ chạy, lường gạt, cũng cho qua, không kiện tụng, thêm rắc rối, chịu thiệt cho xong. Mua thức ăn thiu thối cũng làm thinh cho qua chuyện, gia đình khuyên, “lần sau đừng mua là xong”. Một người làm nghề mua bán nhà, lấy hồ sơ của một người đã mua nhà với mình, dùng để mua nhà cho một khách hàng khác không đủ điều kiện, sự việc vỡ lở, thay vì vạch mặt chỉ tên để cộng đồng biết mà tránh, theo luật pháp là ở tù, thân bại danh liệt, nhưng là đồng hương với nhau, nhịn nhục cho qua, làm ơn làm phước, để đức về sau cho con.
Chuyện cộng đồng có gì thì “đóng cửa bảo nhau”, đừng giở trò “vạch áo cho người xem lưng”. Lối cư xử “dĩ hòa vi quý” càng phổ biến thì, kẻ xấu vẫn nhan nhản, lộng hành, nên người tốt vẫn chịu thiệt dài dài. Không ai đứng lên chống với cái xấu, vạch mặt chỉ tên để làm tốt cộng đồng, một phần vì sợ hãi, sợ phiền hà, một phần quan niệm “chín bỏ làm mười”… Cũng không ai đoàn kết với ai để chống gian trá, với quan niệm “đèn nhà ai sáng nhà đó”, “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”.
Thời phong kiến, bị nạn cường hào ác bá, bị vua quan bách hại, bị nạn cậy quyền, dựa thế, người dân Việt Nam vẫn có truyền thống chịu đựng, “dĩ hòa vi quý” cho xong chuyện, má sưng rồi thì cũng chẳng còn cần kêu mạ! Thời ông Khổng Tử cũng khuyên người ta thấy nước đạo thì ra làm quan, nước vô đạo thì lui về ở ẩn, quân tử như Bá Di, Thúc Tề chứ không khuyên người ta phải tranh đấu với cái ác, tranh đấu với nhà cầm quyền là làm loạn, bất nghĩa, bất trung, dĩ hòa để cầu an cho yên nước yên nhà. Trung Cộng thời nay phục hồi Khổng Giáo cho trên dưới có tôn ti trật tự, nước có Vua, làng có Thành Hoàng để dễ bề cai trị.
Thời Cộng Sản thì hòa hoãn, che giấu để chuyện khỏi xé ra to, dân khỏi làm loạn. Chuyện lớn thì “xử lý nội bộ”, chuyện nhỏ thì “đả thông tư tưởng” để đi đến việc đồng tâm nhất trí. Có mâu thuẫn nội bộ hay chống đối thì đã có chi bộ đả thông, thu xếp trước khi ra tập thể.
Nhà nghiên cứu Cao Cự Thanh cho rằng báo “Ong Ðất” của Bungary đã có cái nhìn chính xác về thời kỳ “bao cấp” của chế độ Cộng Sản, một thời kỳ làm thui chột khả năng của con người, xuề xoà, xếnh xái, nhịn nhục, cái gì cũng “nhất trí” “tất tần tật”. Trong xã hội này:
– Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc.
– Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương.
– Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống.
– Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống.
– Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng (trong riêng tư).
– Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay “đồng ý”, “nhất trí”(ở chỗ tập thể).
Cuối cùng “úm ba la”, ba ta đều có lợi. Canh bạc cuối cùng: “hòa cả làng”.
Những ngày đầu ở trại mới nầy thật bận rộn. Một trại tù cũ bị bỏ hoang phế lâu ngày nằm nơi hang hốc hiểm trở, trong khu vực nông trường trà Trần Phú, tỉnh Hoàng Liên Sơn, nay số tù mới từ miền Nam ra, phải dọn dẹp, sửa soạn lại hang ổ. Dù phải trải qua cuộc hành trình dài, căng thẳng và mệt mõi nhưng tù không được nghỉ xả hơi. Công việc gì cũng chẳng giống công việc gì nhưng cứ như con rối. Phải múa. Phải quay. Kinh nghiệm nầy tù đã học được ở các trại trong Nam rồi. Đây là thời gian họ muốn theo dõi phản ứng của tù. Ngày nào cũng có một số tù bị kêu đi làm việc. Đi làm việc hay làm việc với cán bộ là danh từ họ dùng khi kêu một người ra hỏi cung, để điều tra một việc gì, hơn là tìm hiểu thêm lý lịch. Vì đã được tuyển chọn ra đây rồi thì lý lịch họ đã biết rõ từng người cho nên cái còn lại là họ muốn tìm cách đe dọa hoặc mua chuộc những người nầy để làm ăng tên. Một mũi tên bắn cả hai con chim. Một người cứ nhiều lần ra gặp riêng cán bộ thì các bạn tù khác dễ nghi ngờ. Khi bị nghi ngờ thì người đó bị đẩy vào chỗ cô đơn, từ chỗ cô đơn nầy họ gây chút tác động tâm lý nữa thì dễ moi được tin tức sinh hoạt của anh em tù khác.
Một tuần lễ đã trôi qua. Mọi sắp xếp chỗ ăn, ở và làm cỏ coi như tạm xong. Tù được thông báo là sáng mai sẽ được học tập chính trị . Cán bộ ở Trung Đoàn xuống dạy. Mọi người phải mặc sạch sẽ, đem theo tập vở để ghi chép. Cán bộ làm như rất quan trọng, tù cũng làm như nghe rất chăm chỉ nhưng về lán lại bàn tán với nhau về con trâu già do hai người lán 4 dắt về trại tối hôm qua.
Một tụ điểm thuốc lào gần đầu hồi của lán, khá đông người, được hình thành mau chóng. Vì vừa ở trong Nam ra, nên lượng thuốc lào còn khá nhiều. Tù chia nhau từng bi thuốc. Những chiếc điếu cầy ré lên liên tục. Một vài tù hút ếm tất cả khói vào trong buồng phổi, đang tựa ngửa, ngất ngưởng. Có tù khen và có tù bàn góp:
– Tôi mới nhận được quà của gia đình hôm trước, thì hôm sau bị đưa ra đây. Thuốc lào Cái Sắn đó.
– Thuốc ba số 8 nầy đằm hơn nhiều.
Giọng một tù khác ở xa, chợt chen vào:
– Một số 8 đã khẳm rồi em ạ. Lại đòi tới ba.
Tù hiểu người ấy đang nhắc tới cái còng số 8, nhưng ngần ngại, nên không có ai lên tiếng tiếp. Rồi câu chuyện xoay qua con trâu già.
Thế kể:
– Hôm qua lẽ ra về sớm hơn, nhưng con trâu già quá đi không nỗi!
– Ông quản giáo ra lệnh lán 4 cử một tổ làm thịt trâu vào sáng mai.
Cường cho biết như vậy. Hải chen vô:
– Hôm qua tôi đã nghe lán của Toàn Tái phụ trách mổ trâu. Anh chàng nầy còn hăng hái lắm.
Thiện chẫm rãi góp thêm chuyện:
– Tôi biết. Hắn cùng trại với tôi ở trong Nam. Thành phần tiên tiến đó. Đệ tử của nó cũng ra đây. Thầy trò nó lúc nào cũng được biểu dương ở Tiểu Đoàn cả.
– Thế thì vui mừng đi anh em, chúng ta đang sống với những con người tiên tiến, chắc chắn sẽ mau tiến bộ hơn nữa. Chúng ta đã nhờ họ, nên tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc một lèo từ Nam ra Bắc.
Mọi người quay lại nhìn, lại cái anh chàng nầy. Anh chàng thường nhảy xổm vào câu chuyện của người khác bằng những câu nói rất lạ tai và rất tỉnh bơ!
Chuyện thịt trâu rất mới mẻ với cả trại tù nên câu chuyện về con trâu già sắp bị làm thịt được bàn tán nhiều. Bố Thục khá rành về cách ăn thịt trâu. Bố là người miền Bắc, trước kia cũng ở một vùng nào đó ngoài nầy. Bố di cư năm 54 và nay lại hồi hương trong cái thế chẳng đặng đừng. Bố là người già nhất lán 8. Bố Thục bảo ăn thịt trâu phải có rau tía tô hoặc kinh giới và nhiều gia vị mới giảm bớt mùi thịt trâu. Tù chỉ nghe vậy và biết vậy thôi. Đa số tù chưa bao giờ biết ăn thịt trâu.
Anh chàng ở góc nhà lại lên tiếng tiếp:
– Học ăn, học nói… Cách Mạng đang dạy anh em mình học ăn trước! Học làm con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa là phải như vậy đó!
Khoảng hơn 300 tù tụ tập xuống hội trường, vì hội trường nằm cạnh dòng suối dưới chân sườn đồi. Mấy ông cán bộ chỉ huy trại và các quản giáo đều mặc gọn sạch hơn ngày thường. Ông Hoàng, Thượng Úy trại phó, hôm nay tinh tươm hơn hết. Ông đứng trên bục giảng với cặp quân hàm mới, đỏ chói. Dáng dấp khá cao lớn, vững chãi. Ông lặp đi lặp lại nhiều lần về qui định ở lớp học và giờ thảo luận ở lán. Giọng oang oang và cách nói cũng trơn tru hơn những ông khác. Nhưng dù có muốn làm gì chăng nữa, ông cũng không thể nào tạo được sự uy nghiêm mà ông thích có. Hàm răng vẫu và cáu bẩn của ông đã hại ông. Cũng từ hôm nay ông mang biệt danh ông răng vẫu. Ông răng vẫu quán triệt với tù xong, tiếp:
– Tôi đề nghị anh nào quản ca, nên đây cầm càng hát một bài. Các anh phải hát cho thật khí thế, nếu không, thì phải hát nại[1] nhiều nần.
Ông răng vẫu vừa dứt lời thì Toàn Tái đứng lên. Tù có cảm tưởng Toàn Tái sợ có người khác đứng lên nhanh hơn anh ta. Cứ tưởng Toàn Tái bắt giọng nhưng Toàn Tái lại nói:
-Chúng ta vừa nghe cán bộ quán triệt qui định của lớp học. Trong tinh thần hồ hỡi, phấn khởi đó xin anh nào có khả năng văn nghệ, lên đây cầm càng hát một bài.
Nếu không nhìn thấy, mà chỉ nghe giọng nói thì có thể tưởng rằng một ông cán bộ khác vừa phụ họa với ông răng vẫu. Trong đám tù có vài người đề nghị. Tuyển có chút phân vân rồi đứng lên nói:
-Tôi xin phép bắt giọng bài Tiến Về Sài Gòn!
Tuyển vừa dứt lời thì ông răng vẫu cản lại ngay:
– Các anh “nàm thao” mà tiến về Sài Gòn được? Các anh phải hát như có Bác trong ngày vui đại thắng.
Trong đám tù, chắc chắn có người hát như có Bác Hồ trong nhà thương Chợ Quán, vì hắn đang làm cả nước điên khùng!
Hội trường đang vang tiếng hát thì ông cán bộ cấp Trung Đoàn đến. Ông răng vẫu lại lên giới thiệu. Cũng chẳng khác gì trong Nam, tù chỉ biết là cán bộ cấp Trung Đoàn chứ không bao giờ được nghe giới thiệu tên họ, cấp bậc hay chút tiểu sử thu gọn của thuyết trình viên, nhưng quân hàm của ông là Trung Tá. Cũng cái xắc cốt lòng thòng bên hông, khi lên bục giảng ông Trung Tá lục soạn ra một xấp giấy. Ông bắt đầu bài lên lớp bằng cách nhận xét khi nghe tù hát:
-Đứng bên ngoài, tôi nghe các anh hát rất có khí thế nhưng nếu các anh hát nớn hơn nữa thì mới biểu nộ tinh thần hồ hỡi phấn khởi tham gia học tập chính trị được…
Ngừng một lát ông tiếp:
– Hôm nay tôi sẽ nên nớp với các anh bài chính sách khoan hồng của Cách Mạng nà trước sau như một.
Lại bài ca khí thế hồ hỡi, phấn khởi… đi ở tù! Bài học mà mỗi lần đến trại mới đều phải nghe. Bài học của những danh từ quái đản. Bài học mà họ dùng để giải thích cho cái thông cáo mười ngày tập trung cải tạo của chính phủ cho đến nay đã hơn ba năm trôi qua nhưng vẫn trước sau như một!
Khi tù đang học tập chính trị tại hội trường thì một tổ năm người của lán 4 đang bắt đầu làm thịt con trâu già bên ngoài trại, bên dòng suối, gần nhà bếp bộ chỉ huy. Cứ mỗi lần có học tập chính trị là mỗi lần họ cho làm thịt trâu hoặc thịt heo mà họ gọi là ăn tươi. Khẩu phần ăn hôm đó có chút thay đổi. Hằng ngày thì ăn bo bo, sắn, bắp hột hay khoai lang nhưng có học tập chính trị thì thay vào đó tù được khoảng một chén cơm trắng với chút thịt ăn tươi!
Mới tờ mờ sáng vệ binh đã vào kêu tiểu tổ giết trâu đi làm việc. Ra đến nơi đã thấy mấy ông hậu cần đứng ở đấy. Sau khi nghe ông cán bộ hậu cần lên lớp riêng về quy định khi giết trâu ( với họ thì cái gì cũng phải quán triệt và qui định cả!) tiểu tổ giết trâu bắt đầu công việc. Một số lá chuối xanh với dao, thúng đã có sẵn. Trong màn sương mỏng nơi núi rừng, với ánh sáng nhợt nhạt xanh xao của buổi sáng, da con trâu già ốm yếu, trông mốc thếch. Hai mảng hông sâu hoắm như đã thiếu thực phẩm và nước uống cả đêm qua. Sợi dây mũi của con trâu già được buộc vào một gốc cây khá lớn. Con trâu nhìn đám người đầy nghi ngại nhưng phản ứng chậm chạp. Tiểu tổ giết trâu thì ngù ngờ không biết việc, ngoại trừ anh Tỉnh có đôi chút tự tin hơn. Ông hậu cần muốn dắt con trâu đến gần mé nước để tiện việc vệ sinh khi rả thịt. Anh Tỉnh tiến lại phía con trâu tìm cách mở sợi dây mũi thì con trâu bắt đầu phản ứng. Loài vật trước khi bị giết như cũng có được linh tính. Con trâu già không còn đứng yên. Nó lùi lại trong thế thủ. Tuy con trâu không có phản ứng nhanh nhẹn nhưng cho biết nó sẽ dùng tất cả sức lực để tự vệ trước kẻ thù. Đôi sừng to và dài đảo qua đảo lại dù đang bị sợi dây mũi vướng víu khó khăn. Ông hậu cần chỉ anh Tỉnh và lên tiếng:
– Cái anh kia, tìm cách nắm cho được sợi thừng và giật giật cái mũi cho thật đau thì con trâu phải khuất phục thôi.
Anh Tỉnh tiến lại gần hơn và nói như phân trần:
– Tao cũng đâu có muốn…
Con trâu thở khì khì và huơ sừng về phía anh. Anh Tỉnh lùi lại. Ông hậu cần thấy vậy nên chỉ vào Tươi ra lệnh:
– Cái anh nầy, anh vòng ra phía sau con trâu để nó quay đầu nại phản ứng với anh… Đánh nừa nó và anh kia nhớ tranh thủ nắm sợi thừng nhé…
Con trâu bị đánh lừa. Anh Tỉnh thừa dịp nắm được sợi dây đã buộc vào mũi con trâu giựt giựt và cố thu ngắn sợi dây lại để dễ khống chế con vật. Con trâu già đau đớn, đứng yên thở phì phì. Tù còn lại đem thêm dây thừng tìm cách buộc vào hai sừng và cỗ con trâu già. Đám tù cố gắng kéo con trâu về gần mé nước. Con trâu nhất định không xê dịch. Mấy ông bộ đội dùng roi đập lên mình nó. Vết roi hằn lên mông, mũi con trâu máu đã đổ từng giọt nhưng con trâu vẫn bất động. Đôi mắt con trâu đã đỏ ngầu, hai dòng nước mắt lăn dài hai bên má. Cuối cùng ông cán bộ hậu cần thay đổi ý định, ông cho buộc cỗ con trâu già vào gốc cây, tại chỗ. Anh Tỉnh được giao cho một cái búa lớn và ông hậu cần hướng dẫn anh dùng búa đập vào trán con trâu, nơi giao điểm của hai cái sừng. Đứng nhìn con trâu đã bị buộc khá chặt nơi gốc cây, nhất là với đôi mắt đẫm nước mắt, anh biết mình không thể làm được. Anh từ chối với lý do anh sợ và đề nghị nên lấy lá chuối che đôi mắt con trâu lại. Cả nhóm tù đều từ chối cách giết một con trâu với phương pháp ghê rợn như thế nầy nhưng không ai dám thẳng thắn lên tiếng. Một trong số các ông bộ đội dằn lấy cái búa trên tay anh Tỉnh và ra tay. Mấy nhát búa đập thật mạnh lên trán con trâu cái già nhưng con trâu vẫn không quỵ xuống. Đôi mắt trâu lại mở lớn, đầy máu. Ông cán bộ hậu cần cũng ngạc nhiên. Ông bộ đội ra tay tiếp… Tàn lực của con trâu vùng lên. Sợi dây buộc mũi sứt ra. Máu trào ra từ nơi mũi. Con trâu nhảy lồng lên và bị các sợi dây buộc quanh cỗ kìm giữ lại, cả tàng cây rung mạnh. Con trâu cái oằn oại ngạt thở. Máu từ trong miệng trâu phun ra tung tóe. Nhưng con trâu cái già bị buộc chặt vào thân cây vẫn còn đứng đó dù toàn bộ thần kinh đã tê liệt. Không thể lường được phản ứng cuối cùng của con trâu nên ông cán bộ hậu cần chạy nhanh về lấy cây súng AK. Cũng ngay vị trí nơi búa đập, mấy phát đạn vang lên. Óc con trâu vở toang. Thân hình con trâu già đổ xuống nhưng cái đầu và đôi sừng bị dây giữ lại, làm cái mũi hếch lên, đầy bong bóng máu.
Đám tù vô cùng xúc động nhưng các ông cán bộ và vệ binh không lộ vẻ gì đặc biệt.
Công việc kế tiếp của anh Tỉnh là phải cắt một mảng da gần nơi ngực của con trâu rồi dùng một ống nứa dài đâm thẳng vào tim để lấy cho được huyết tươi còn đang nóng hứng vào một cái soon, đây là loại đồ nghề lấy huyết trâu của người thiểu số! Lúc nầy có thêm mấy ông bộ đội chạy đến, ông nào cũng cầm sẳn trên tay một cái chén. Họ múc từng chén huyết trâu đầy bọt, có người pha thêm chút rượu trắng, có người không cần. Họ chia nhau uống rất ngon lành trước sự ngỡ ngàng của đám tù!
Đảng đã mô tả tù là lũ ăn gan người, uống máu người không biết tanh mà chẳng có ai nhìn thấy nhưng các ông cán bộ và bộ đội đang uống huyết tươi, còn nóng, của con trâu cái già là chuyện có thật đang diễn ra trước mắt đám tù!
Khi bụng của con trâu cái già được mổ banh ra, anh Tỉnh nhìn thấy một cái bọc được gọi là cái hà nàm[2] khoảng vài tháng thì ông cán bộ hậu cần mừng lắm. Ông cho người đem ngay về nhà bếp bộ chỉ huy trại.
Toán tù bàng hoàng. Không hiểu con trâu cái già đã chiến đấu với tử thần bằng tất cả sức lực của nó là vì chính bản thân nó hay vì cái bào thai trong bụng? Sự chiến đấu của con trâu cái già là như thế! Còn những người tù?
Toán tù mổ trâu bị hối thúc làm cật lực, vì đã trễ. Hai toán tù từ trại khác cũng đã quang thúng tới chia thịt. Đám tù lớ ngớ nhìn nhau nhưng không ai dám lên tiếng tìm hiểu. Phần thịt ngon dành cho bộ chỉ huy. Phần còn lại chia đều cho cả ba trại. Trại làm thịt trâu được giữ lại bộ lòng và da, đó là thỏa thuận giữa các ông cán bộ hậu cần với nhau.
Dù hoàn toàn im lặng khi gặp nhau cũng như khi phân chia thịt nhưng lúc chia tay tù cũng biết được đó là tù từ trại 2 và trại 6, cùng một liên trại, cũng từ miền Nam mới ra.
Khi nhận phần ăn tối, cả trại đều biết chuyện con trâu cái già. Miếng thịt trâu ngang ngang nơi cỗ họng của tù đói. Miếng thịt trâu lan man trong bóng đêm.
Truyện này được viết để tặng một thế hệtuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau
30-4-1975
2. Chương 2
Sự việc chưa có gì thay đổi. Kẻ thù nghĩ rằng họ còn nhiều thì giờ. Tù nhân nghĩ rằng nên kéo dài cuộc chơi, càng lâu càng tốt. Những họng súng bên ngoài vẫn chĩa vào. Đạn đã sẵn sàng. Chỉ chờ lệnh bắn. Bên trong, tù nhân giữ một thái độ hết sức đứng đắn. Họ ngồi theo đội ngũ. Tù nhân yêu sách. Tù nhân đòi hỏi làm sáng tỏ chính sách nhân đạo của nhà nước. Tù nhân không nổi loạn. Không nổi loạn thì không có lý do đàn áp. Đàn anh chịu đàn em lắm. Bọn trẻ đã khôn lớn. Ngày xưa chúng nó xuống đường bạo động gây khó chịu cho mình gian khổ nơi chiến trường. Bây giờ chúng nó trầm tĩnh, chúng nó tự nhận chúng nó là biển cả có niềm im lặng ghê gớm và khôn cùng. Đàn anh chiêm ngưỡng đàn em. Rồi nhiều câu hỏi được đặt ra: tại sao chúng nó chống phá chế độ, tại sao chúng nó dám mưu đồ chuyện nước cnon bằng trái tim của chúng nó, chúng nó dấn thân làm gì, cho cái gì nhỉ? Và đàn anh ngậm ngùi thương xót thân phận mình. Cái lý tưởng chiến đấu của mình trước đây chỉ là thứ lý tưởng chắp vá bởi gấm vóc mục nát. Nó bị trao đi đổi lại qua hết tay anh lãnh tụ này đến tay anh lãnh tụ khác. Và anh lãnh tụ nào cũng là tay sai của quyền lực ngoại quốc núp sau những nhân danh tham vọng, phản phúc. Đàn anh trôi theo cái giòng lý tưởng buồn tênh đó. Rốt cuộc, đàn anh đã biến thành Trần Cung chịu vết chém ngang lưng của Tào Tháo. Đàn em hôm nay hoàn toàn khác. Đàn em sáng tạo ra lý tưởng, sáng tạo ra chìa khóa để tự tay mở cửa giải thoát dân tộc. Với dĩ vãng trăng sao vằng vặc, với hiện tại mặt trời rực rỡ, đàn em đi chiến đấu không vẩn sợi khói đen mặc cảm thụ hưởng phè phỡn, dựa dẫm ngoại bang, đào ngũ chạy trốn. Do đó, sự dấn thân đã là một tuyên ngôn tuyệt vời, một cương lĩnh ngời rạng mà kẻ thù được quyền căm phẫn nhưng không dám coi thường. Người tuổi trẻ hôm nay đã ngẩng mặt lên nói với thế giới rằng, chúng tôi chưa bao giờ là phỉ, chưa bao giờ là ngụy. Phỉ quyền hà nội và ngụy quyền sài gòn đã làm tan nát quê hương yêu dấu của chúng tôi, đã bắn nát hạnh phúc của dân tộc tôi bằng bom đạn Nga sô, Trung quốc, Tiệp khắc, Hoa kỳ; đã đầy đọa đồng bào tôi bằng thuốc khai quang và trại tập trung khổ sai lao động. Thế giới đã chọn nước Việt Nam làm sân chơi chiến tranh, làm diễn đàn chống đối chiến tranh, làm con mòng tội nghiệp của lương lính Đại Hàn thô bạo, của rắn rết Thái lan, của kangourou Úc đại lợi, của cu ly Phi luật tân… Rồi thế giới ngoảnh mặt phủi tay, ngoảnh mặt với luôn cả thuyền nhân việt nam chơi vơi trên mặt biển! Cái thế giới mù lòa, câm điếc lương tri, cần tỉnh táo một phút thôi, để suy nghĩ về những người tuổi trẻ việt nam hôm nay đang chiến đấu cho tự do, dân chủ, hạnh phúc và thương yêu của dân tộc họ không cần súng đạn tư bản, không cần hỏa tiễn vô sản. Họ mơ ước xa hơn, rằng, nỗi thống khổ và niềm cô đơn của họ trải dài trên sầu đạo quê hương của họ. Và rồi, từ sầu đạo đó như sầu đạo Thích Ca, Jesus đã qua, một nền văn minh nhân bản sẽ nở rộ hoa thơm ngát thắm nghĩa tình người thay thế cho văn minh tư bản, văn minh vô sản đã bất lực trong mưu cầu hạnh phúc nhân loại.
Mặt trời đã cao bằng đỉnh đầu. Nắng gay gắt dành cho một ngày gay gắt. Tù nhân bị cúp bữa cơm trưa. Đội cấp dưỡng được chỉ thị ngưng bếp núc. Anh em ra ngồi giữa sân nắng tỏ tình chiến đấu. Nón mũ đội hết lên đầu. Nước đã có sẵn trong lon guigoz của mỗi tù nhân. Thuốc lào. Điếu cày. Lửa. Những hơi rít đẫy đà. Nước điếu reo vui. Khói nhả bay. Thoải mái. Loa phóng thanh không ngớt nhắc nhở tù nhân tôn trọng nội quy. Rồi im tiếng. Nó cần ăn. Nó đói. Tù nhân chẳng thiết ăn. Tù nhân no nê niềm vui. Đến hai giờ, nó lại phóng thanh. Nó yêu cầu tù nhân cử đại diện lên gặp ban giám thị. Tù nhân bàn tán.
Đội trưởng mắt ốc nhồi hỏi:
– Các anh nghĩ sao?
Một đội trưởng cũ hỏi lại:
– Chú nghĩ sao?
– Nếu các anh cho phép, xin để chúng em đối phó.
– Các chú đối phó đi.
– Vậy chúng ta không gặp ai, không có đại diện gì cả.
Đội trưởng mắt ốc nhồi trình bày:
– Có đại diện là có tổ chức. Có tổ chức là có âm mưu từ lâu. Họ sẽ đàn áp chúng ta thẳng cánh. Chúng ta coi vụ này… đột xuất. Dẫu bị đàn áp, chúng em lãnh hết. Nếu cử đại diện lên gặp họ, họ sẽ nhốt luôn. Chúng em chịu hoàn toàn trách nhiệm vụ này.
Ba giờ, cán bộ giáo dục tới sát cổng trại:
– Tôi cần gặp đại diện của các anh.
Đội trưởng mắt ốc nhồi ra gần cổng:
– Thưa cán bộ, không có ai là đại diện của ai cả. Tù nhân không có tổ chức, không có lãnh đạo.
– Các anh muốn gì?
– Muốn làm sáng tỏ chính sách đối với tù nhân của đảng và nhà nước.
– Ai làm sáng tỏ, các anh à?
– Ban giám thị.
– Vậy các anh phải gặp ban giám thị để thảo luận.
– Tôi mong mỏi gặp ban giám thị ở sân trại này.
– Ban giám thị không thèm tới đây!
– Thế thì tôi không thèm lên.
– Anh chống đối, hả?
– Dĩ nhiên, không chống đối sao bị tù?
– Anh không sợ kỷ luật à?
– Chết không sợ, sợ gì kỷ luật.
– Anh muốn chết sẽ được chết.
Hai mươi bốn người tuổi trẻ xông tới cổng, phanh ngực ra, nhất loạt:
– Có giỏi bắn đi! Chúng tôi đang thèm chết. Chúng tôi chết cho hàng triệu tuổi trẻ miền Nam vùng dậy.
Tù nhân cũ reo hò, vỗ tay và buông những lời thách thức ngạo nghễ. Cán bộ giáo dục hoảng sợ, bỏ chạy. Bốn giờ, xe tăng ngoài thị trấn bò vào. Trại xây dựng từ thời nô lệ. Thực dân nó bắt nhốt những nhà ái quốc ở đây. Nó hiểm độc tạo ra một nhà tù trên một cái đầm lầy, rộng. Tù nhân khó lòng vượt trại. Một độc đạo nhỏ từ trại dẫn ra lộ lớn. Dọc độc đạo này là những đồn canh nghiêm mật. Cộng sản cướp quyền thống trị, họ tuyên bố phá tan cùm xích, lao tù, nhưng Đầm Đùn vẫn là Đầm Đùn như Sơn La, Côn Lôn, Phú Quốc, Lao Bảo, Lào Kay…, vẫn là ngục tù dữ dội giam nhốt người yêu nước. Điểm khác biệt là, hôm nay, chế độ ngục tù đốn mạt hơn và thực dân cai ngục là cách mạng cai ngục! Không ai nao núng vì xe tăng xuất hiện. Tù nhân cũ đứng cả lên:
– Chúng ta, tất cả chúng ta, không riêng lẻ nữa!
Đội trưởng mắt ốc nhồi – bây giờ là lãnh đạo – xin mọi người ngồi xuống và giữ trật tự. Anh ta nói:
– Sự im lặng chế ngự mọi đàn áp. Đây mới là trận đầu. Mong các anh nghe em như các anh đã cho phép em toàn quyền đối phó.
Tất cả lại yên lặng. Xe tăng đậu trước cổng trại, quay mũi súng vào. Tù nhân không nói, không hát, không hút thuốc, uống nước. Vũ khí của đàn áp của kẻ thù bỗng trở nên lố lăng, hài hước. Loa phóng thanh kêu gọi đội cấp dưỡng về bếp nấu cơm. Tù nhân nói không cần ăn. Đội cấp dưỡng ngồi ì. Năm giờ, loa phóng thanh yêu cầu tù nhân về nhà nghỉ ngơi, ban giám thị sẽ cứu xét trường hợp ba người bị kỷ luật biệt giam. Tù nhân không nhúc nhích. Bạo lực bắt đầu sợ hãi sự bất bạo động. Vũ khí tư tưởng luôn luôn ghê gớm. Súng đạn không thể bắn chết tư tưởng. Nhưng tư tưởng đã dẹp tan súng đạn. Ngục tù không thể hủy hoại được tư tưởng. Nhưng tư tưởng đã cảm hóa cai ngục. Chúng ta thù hận chủ nghĩa, thù hận móng vuốt của chủ nghĩa, thù hận giáo điều của chủ nghĩa xúi dục con người ghét bỏ nhau, xa cách nhau, chém giết nhau. Chúng ta không thù hận con người. Chúng ta, bằng tư tưởng nhân bản khai phóng, cố gắng đánh thức lương tri của con người bị che lấp bởi bóng tối của chủ nghĩa phi nhân, chúng ta mời gọi gần gũi, cảm thông và yêu mến. Chúng ta đã như thế. Chúng ta mãi mãi như thế. Chúng ta không thích kiếm hạnh phúc cho loài người trên những xác chết.
Sáu giờ, giám thị xuất hiện. Ông ta đeo quân hàm và phù hiệu công an. Sau lưng giám thị là một tiểu đội vệ binh kè kè súng tiểu liên. Cổng mở khóa, đẩy rộng lối. Tù nhân ngồi theo đội ngũ nghiêm chỉnh.
Giám thị nói, giọng thân thiện:
– Có chuyện gì thế, các anh?
Con chó sói khi không rút ruột nổi con mồi, nó ngọt lời ve vãn:
– Tôi hoàn toàn không biết. Chẳng ai báo cáo với tôi cả.
Giám thị khiển trách cán bộ trực trại:
– Tại sao đồng chí không giải quyết, cũng không báo cáo?
Cán bộ trực trại ấp úng:
– Báo cáo đồng chí…
Giám thị khiển trách:
– Làm việc sai nguyên tắc. Đồng chí phải tự kiểm để rút kinh nghiệm.
Các kịch sĩ cộng sản nhỏ chơi hài kịch. Giám thị xoa tay.
– Chuyện gì nào, tôi giải quyết tại chỗ.
Đội trưởng mắt ốc nhồi đứng dậy, nghiêm trang:
– Thưa ông giám thị, chuyện rất nhỏ. Ba người anh em của chúng tôi bị xích chân tống dưới hầm đá biệt giam mà không hề có Quyết Định thi hành kỷ luật. Chúng tôi thắc mắc và chúng tôi đòi làm sáng tổ chính sách sáng suốt, khoan hồng của nhà nước. Cán bộ trực trại nâng quan điểm lên thành một cuộc nổi loạn chống đối.
Giám thị ngó đội trưởng chằm chằm:
– Anh ở nhóm 28 người vừa từ miền Nam ra?
Đội trưởng đáp:
– Phải.
– Anh lãnh đạo cả nhóm?
– Không. Tôi lãnh đạo tôi.
– Anh đã lường nổi hậu quả của hành động của anh chưa?
– Rồi.
– Như thế nào?
– Phơi xác trên hàng rào kẽm gai về tội… trốn trại!
Sân trại im lặng đến nỗi nghe rõ từng bước chân của chiều về. Giám thị cười:
– Anh bi quan quá. Chế độ của ta không hủy diệt con người.
Đội trưởng cười theo:
– Vâng, chế độ ta chỉ quản lý con người thôi.
– Thôi, sẽ làm việc với anh sau. Bây giờ các anh muốn gì?
– Làm sáng tỏ vụ bắt nhốt ba người tù.
– Tôi sẽ ra lệnh tha ngay ba người đó. Các anh cũng sẽ phải về ngay nhà, chuẩn bị cơm nước, đi ngủ và sáng mai lao động.
Giám thị mỉa mai:
– Trò chơi xuống đường, tuyệt thực, đêm không ngủ của các anh lạc hậu rồi. Nó không thích hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, càng không thích hợp ở trại cải tạo. Các anh hãy tự hỏi các anh đi: các anh là ai, ở đâu, đang làm gì? Sự khoan hồng chỉ dành cho người tiến bộ, không dành cho bọn ngoan cố. Nuôi các anh rẻ mạt, chúng tôi nuôi các anh suốt đời được! Đừng tưởng chúng tôi sợ hãi các anh mà không dám bẽ gãy âm mưu của các anh. Chỉ có một lối mở cho ngày về của các anh thôi: lao động cải tạo tốt, gột rửa sạch tư tưởng xấu xa cũ để tiến bộ. Thế đấy…
Đội trưởng lãnh đạo cắt ngang lời giám thị:
– Đừng tưởng chúng tôi sợ chết. Đừng hòng gột rửa tư tưởng của chúng tôi. Thể xác sẽ tan rã nhưng tư tương tốt đẹp sẽ tồn tại, sẽ đẩy chủ nghĩa cộng sản xuống huyệt sâu của thời đại.
Giám thị gật gù:
– Anh sẽ có nhiều cơ hội sợ chết!
Rồi ban lệnh:
– Dẫn ba anh ở biệt giam ra đây!
Cán bộ trực trại nhận lệnh bằng tiếng rõ cộc lốc. Lát sau, ba người trong nhóm hai mươi tám người được dẫn ra trước đám đông. Giám thị tuyên bố:
– Tôi tha ba người rồi, yêu cầu các anh xếp hàng về nhà!
Tù nhân đứng dậy hết, từng đội, lần lượt về nhà. Họ cho rằng đã vừa thắng cộng sản trận đầu. Ý chí được đánh thức. Tinh thần bất khuất sống lại. Một ngày thật đẹp của những người tù biệt xứ. Bắt đầu từ nay là hết cam đành, là khởi sự cuộc chiến đấu mới. Họ xôn xao về hai mươi tám tên phản động tuổi trẻ và họ phong cho hai mươi tám tên phản động một danh xưng mỹ miều: Bầy sư tử lãng mạn.
Trong khi, tù nhân hân hoan niềm vui chiến thắng thì, ở văn phòng giám thị, một ủy viên trung ương đảng cộng sản, chức sắc cao cấp của bộ nội vụ đang nhả khói thuốc suy tư. Ông ta ở hà nội vào đây lúc xế trưa. Ông ủy viên đem chỉ thị cấm đàn áp tù nhân của trung ương tới và ra lệnh thả tù nhân bị kỷ luật, xoa dịu không khí chống đối, có thể, sẽ biến thành nổi loạn bạo động giây chuyền. Như thế, bọn bá quyền Trung quốc, bọn đế quốc Mỹ và bọn phản động quốc tế sẽ lợi dụng để bôi nhọ chế độ trên báo chí, truyền thanh và diễn đàn Liên Hiệp Quốc.
Ông ủy viên dập điếu thuốc:
– Đồng chí giám thị đánh giá cuộc chống đối này ra sao?
Giám thị khúm núm:
– Kính thưa đồng chí ủy viên, mấy thằng nhãi ranh ấy sẽ không thể làm gì nữa.
Ủy viên lắc đầu:
– Đồng chí mắc bệnh chủ quan rồi. Do đó, đồng chí đã dằn mặt chúng quá sớm, tạo cho chúng cơ hội phê bình chính sách. Những đứa dám tìm kẽ hở của chính sách là những đứa nguy hiểm. Hai mươi tám thằng vừa đến là hai mươi tám trường hợp quan trọng. Chính chúng nó mới là kẻ thù của ý thức hệ. Chúng nó đã khiến ta phải nghiên cứu tâm lý tuổi trẻ miền Nam. Hai mươi tám thằng đó đã lãnh đạo hàng ngàn thằng sĩ quan ngụy cấp tá.
Ông ủy viên rít qua kẽ răng:
– Tôi cần nghiên cứu hồ sơ của chúng nó.
Giám thị gọi cán bộ hồ sơ. Mười phút sau, cán bộ hồ sơ mang đến một chồng. Lý lịch của Bầy sư tử lãng mạn, từng cậu, trong cái bìa đỏ chói. Ông ủy viên bật đèn, mang kính, ngồi nghiên cứu thân thế, sự nghiệp, huyết thống của sư tử. Mỗi cuộc đời của mỗi người tuổi trẻ việt nam hôm nay được soi chiếu kỹ lưỡng bằng kính hiển vi của chủ nghĩa cộng sản quang vinh và tội nghiệp…
Vào những năm chót của chế độ Liên Hiệp Pháp, ở dăm ba các bản nhạc tình, người đẹp được dùng làm tựa cho các nhạc phẩm, ngoài công việc làm đối tượng sáng tác và làm chất liệu gây cảm hứng cho nhạc sĩ. Trần Hoàn với
“Sơn Nữ Ca”, Tô Hải với “Nụ Cười Sơn Cước”, Canh Thân với “Cô Hàng Cà Phê”, Hoàng Quý với “Cô Láng Giềng”, Đức Quỳnh với “Kỹ Nữ Với Cung Đàn”, Ngọc Bích với “Thiếu Nữ Trên Ngàn”, Vũ Huyến với “Cô Hàng Nước” v.v … Những bản nhạc tình gây sôi nổi gồm “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa” và “Tạ Từ” của Tô Vũ, “Nhạc Sầu Tương Tư” của Hoàng Trọng, “Lời Người Ra Đi” của Trần Hoàn … Đúng lúc đó, Đoàn Chuẩn xuất hiện với một mớ nhạc ướt át, được khán thính giả tiếp đón nồng nhiệt. Những bản nầy đều do Từ Linh phổ lời, đại khái như “Thu Quyến Rũ”, “Tình Nghệ Sĩ”, “Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay”, “Lá Thư”, “Chuyển Bến”, “Lá Đổ Muôn Chiều” v.v …
Dương Thiệu Tước sáng tác hăng qua các bài “Đêm Ngắn Tình Dài”, “Bến Xuân Xanh”, “Hương Giang Mộng Khúc”, “Thuyền Mơ”. Ông đặt lời thường thôi. Nhưng ở bài “Ngọc Lan”, lời dựa trên ấn tượng lẫn trừu tượng nên đẹp bất ngờ:
Ngọc lan, dòng suối tơ vương
Mắt thu hồ dịu ánh vàng.
Ngọc lan, ngành liễu nghiêng nghiêng
Tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song.
*Hoàng Trọng
ngoài “Nhạc Sầu Tương Tư”, còn sáng tác những bản khác vui có, buồn có. Ngọc Bích cùng hợp soạn với Xuân Tiên bản “Chờ Một Kiếp Mai”, mở cho Xuân Tiên một con đường sáng tác sau nầy.
Bánh xe lịch sử cứ lăn mau hay chậm, nhưng không bao giờ ngừng nghỉ. Âm nhạc cũng là một yếu tố của bánh xe ấy, cũng theo vòng lăn mà biến chuyển trên từng chặng lộ trình. Căn cứ Điện Biên Phủ của Pháp bị thất thủ. Hội nghị Genève khai mạc vào tháng 4/54 và bế mạc vào tháng 7. Nền bảo hộ và thuộc địa của Pháp tại Đông Dương kết liễu. Biến cố dồn dập cứ xảy đến. Chính phủ của Hoàng thân Bửu Lộc giải thể. Đức Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ định ông Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới. Phong trào di cư đưa người Bắc chuộng tự do, thoát ly chủ nghĩa Cộng Sản vào định cư ở miền Nam. Rồi ông Ngô Đình Diệm thắng được phe chống đối Cao Hoà Bình (tức là Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên).
Rồi cuộc thành lập nền Đệ nhất Cộng Hòa khởi đầu với ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Phó tổng thống. Một giai đoạn thanh bình và thịnh trị khởi đầu. Bản Quốc Ca của nền Cộng Hoà là bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của Lưu Hữu Phước được sửa lời cho phù hợp với giai đoạn mới và vận hội mới của đất nước. Quân nhân, công chức, học sinh mỗi khi chào cờ chẳng những hát bài Quốc Ca mà còn phải hát luôn bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống”, nhạc của Ngọc Bích, lời của Thanh Nam. Thậm chí trước khi mở màn hát cải lương, mở màn buổi Đại nhạc hội, mở màn buổi chiếu phim cũng phải có màn phát thanh nhạc của bản Quốc Thiều và bài suy tôn vị nguyên thủ quốc gia kia. Khán giả phải đứng dậy lắng nghe, đợi cho nhạc dứt mới được ngồi xuống. Mỗi sáng thứ hai, các học sinh phải ra sân trường chào cờ, hát Quốc Ca và hát bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống”. Vậy mà rồi cứ mỗi sáng những ngày tiếp theo trong tuần, vừa khi vào lớp học, các học sinh cũng phải hát hai bài kia. Nền Tân nhạc lúc bây giờ có phong trào nhạc tố cộng.
Các bài “Về Miền Nam” của Trọng Khương, “Về Đây Anh” và “Tiếng Than Miền Bắc” của Nguyễn Hiền, “Con Đã Về Đây” của Hùng Lân, “Hận Bến Hải” của Chung Quân …
* Nguyễn Hiền
là một nhạc sĩ có tài. Ngoài bản “Về Đây Anh” và “Tiếng Than Miền Bắc” anh còn sáng tác nhiều bản nhạc tình có giá trị để đời như “Về Bến Xưa”, “Hồ Than Thở”, “Tìm Đâu”, “Lá Rơi Bên Thềm”, “Mái Tóc Dạ Hương” (phổ thơ của Đinh Hùng) v.v …
* Đan Thọ
lúc đầu với bản “Xa Quê Hương” thật du dương mềm mại, tuy nhiên vì khó hát nên chưa làm chấn động thính giả. Nhưng đến bản “Tình Quê Hương” (phổ thơ của Phan Lạc Tuyên) thì anh nổi tiếng như cồn. Về sau, bài “Chiều Tím” do anh phổ thơ của Đinh Hùng được giới sành điệu tán thưởng nhiệt liệt.
* Y Vân
khi cho trình làng bản “Lòng Mẹ” thì được thính giả hoan nghênh ngay. Sau đó, anh tung ra “Người Vợ Hiền”, “Chiều Mưa Công Viên”, “Gió Lạnh Đêm Hè”, “Về Miền Tây” v.v … bản nào cũng được thính giả chiếu cố cả.
* Văn Phụng
đem đến miền Nam những bản nhạc lạ tai, âm hưởng loại nhạc Nam Mỹ như “Ô Mê Ly”, “Trăng Sơn Cước”, “Tiếng Vọng Chiều Vàng”. Nhưng các bản “Các Anh Đi”, “Trăng Sáng Vườn Chè” (phổ thơ của Nguyễn Bính), “Đêm Buồn” (phổ bài ca dao “Vì Nhớ Mà Buồn” trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư) lại có âm hưởng nhạc dân tộc. Về sau, Văn Phụng có sáng tác những bài nhạc vui như “Nhạc Ngày Xanh”, “Vui Bên Ánh Lửa”, “Tiếng Ca Bên Đồi Vắng”. Song song đó, bài “Tiếng Dương Cầm”, “Mưa Trên Phím Ngà” lại âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây Phương. Bài “Nhớ Bến Đà Giang” thật gần gũi tâm hồn man mác của người nghe. “Gió Chiều” là bài valse rất lý tưởng cho các vũ trường. Nhạc của Văn Phụng giữ âm hưởng nhạc dân tộc tuy ít, nhưng bài nào cũng có giá trị cả. Tuy nhiên, có lẽ mọi tầng lớp thính giả khoái bài “Ghé Bến Sài Gòn” cùng bài “Ô Mê Ly” của anh nhiều hơn, cho nên hai bài đó nổi danh một thời. Nhạc của anh dành để khiêu vũ thì tuyệt. Những bài “Tiếng Hát Với Cung Đàn”, “Vó Câu Muôn Dặm”, “Bên Lưng Đèo” đều thổi vào tâm hồn trẻ trung và yêu đời những làn gió bừng bừng sinh khí. Anh là người soạn hòa âm phối khí vào bậc nhất trong thời kỳ 1954-1975.
* Nhật Bằng
Có bài nhạc vui là “Ánh Sáng Đồng Quê” được nổi tiếng khi anh vừa đặt chân vào miền Nam. Anh là nhạc sĩ có tài. Các bài “Sau Lũy Tre Xanh”, “Thuyền Trăng” của anh đều là những bài phổ thông trong giới sành nhạc. Nhật Bằng có thành lập ban Hợp Ca Hạc Thành với các em của anh là Thể Tần, Hồng Hảo và Nhật Phượng. Ban nầy ca điệu nghệ, nhưng sớm tan rã vì Thể Tần, Hồng Hảo và Nhật Phượng phải đeo đuổi việc sách đèn. Nhật Bằng còn lại một mình nên đầu quân với nhiều ban nhạc khác, hát hơn nửa thập niên 50, leo qua nửa thập niên 60. Giọng anh không có gì đặc biệt, cách ngân nga không vững. Nhưng khi hát nhạc biệt thể, anh có phong độ rất Hoa Kỳ, đem lại một nét mới cho giới thời thượng.
* Trọng Khương
nổi tiếng ngoài bản “Về Miền Nam”, còn có “Bánh Xe Lãng Tử”, “Ghen” (phổ thơ của Nguyễn Bính).
* Lê Trọng Nguyễn
khi tung ra bản “Nắng Chiều” chỉ chừng đầu hôm sớm là nổi tiếng ngay, đi sâu vào quần chúng thật hào hứng. Nhưng bản “Bến Giang Đầu” tức là “Nắng Chiều II” lại không được kẻ yêu nhạc tiếp đón niềm nở. Bản “Mầu Tím Cuộc Đời” (khi mới tung ra lần đầu có cái tựa “Tím Cả Cuộc Đời”), “Chiều Bên Giáo Đường”, “Sao Đêm” dù không phổ thông trong quần chúng, nhưng đó là ba món trân bảo của kho tàng âm nhạc nước nhà vậy.
* Vũ Thành
nổi tiếng nhất ở bài “Giấc Mơ Hồi Hương”. Nhưng bài nầy kén giọng hát. Phải có giọng hát với âm vực rộng, có làn hơi phong phú, có kỹ thuật thâm hậu thì hát nó mới đạt. Những bài về trước của anh như “Gửi Áng Mây Hàng”, “Nhặt Cánh Sao Rơi”, “Nhớ Bạn” tuy không nổi tiếng, nhưng đều đạt giá trị cao.
Về Vũ Thành, nhạc sĩ Lê văn Khoa trên tạp san Văn Học số 26, tháng 3 năm 1988 đã viết ở bài “Nhạc Trưởng Vũ Thành và Tôi” như sau:
Theo nhạc sĩ Phạm Duy thì Vũ Thành là một trong hai nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên trong ban nhạc hòa tấu (1938-1939). Lúc ấy, phần lớn người chơi nhạc hôm nay vẫn còn là con nít, hoặc chưa ra đời. Âm nhạc đã ở với ông cho phút cuối cùng. Nhưng chơi nhạc lâu năm cũng không nói lên được trình độ và thành tích của người chơi nhạc. Trường hợp Vũ Thành thì khác. Ông có tác phẩm và thừa thành tích để bảo đảm lời ông nói. Ông là tác giả của những ca khúc có giá trị cao, giá trị thưởng ngoạn hơn giải trí như “Giấc Mơ Hồi Hương”, “Nhặt Cánh Sao Rơi”, “Gửi Áng Mây Hàng”, “Thầm Ước Một Chiều”, “Đêm Trăng”, “Nhớ Bạn” v.v … và các tác phẩm hòa tấu như: “Phiếm Khúc”, “Thỉnh Nhập Vũ Điệu” và “Arpège”. “Cạn Một Hồ Trường” là tác
phẩm ông viết cho vĩ cầm độc tấu với dàn nhạc hòa tấu và cầm khúc cho tây ban cầm. Ngoài ra, ông còn soạn rất nhiều nhạc khúc phổ thông VN cho dàn nhạc hòa tấu và ban Kim Mộc chơi. Nhìn vào ta thấy ngay ông không phải chỉ là người viết ca khúc. Ngôi vị ông cao trọng hơn nhiều …
Nữ ca sĩ Quỳnh Giao, cũng trên Văn Học số 26 nầy đã viết bài “Vũ Thành, Người Nhạc Sĩ Khí Khái và Ngạo Nghễ” như sau:
Trước năm 1954, ông là công chức và là nhạc trưởng trong ban nhạc “Việt Nhạc” của đài phát thanh Hà Nội. Chính thời kỳ nầy nhạc của Vũ Thành được hát nhiều nhất. Âm hưởng thanh tao, óng ả của những dòng nhạc tuyệt vời của Vũ Thành đem đến một luồng không khí mới mẻ cho nhạc Việt, lúc đó còn nặng những âm điệu ủ ê, sướt mướt của cung Ré thứ trong hầu hết nhạc của Đặng Thế Phong, của Văn Chung, và một số của Văn Cao.
… Ngoài tài năng của một người viết “giai điệu” ông còn là người soạn “hòa âm phối khí” có công nhất với tân nhạc Việt Nam. Công việc nầy, trái với sáng tác ca khúc, ông làm rất nhiều. Có thể nói hầu hết các ca khúc của Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Cung Tiến được ông làm đẹp bằng những hòa âm công phu, tuyệt diệu. Ông đã nâng những ca khúc phổ thông lên hàng tác phẩm nghệ thuật. Ở đây, tôi xin được nói qua về vai trò quan trọng của người hòa âm. Thính giả khi thưởng thức một bản nhạc thường ghi nhận hai điều khiến họ thích thú: giọng hát của ca sĩ và tác giả của bài hát. Tên của tác giả đôi khi còn bị bỏ quên hoặc bị lầm lẫn, huống hồ là người viết hòa âm cho ca khúc ấy. Nhưng nếu nghe lại cũng chính ca sĩ và bài hát đó không có phần hòa âm phối khí cho giàn nhạc, chắc chắn sự thích thú giảm thiểu đến 80%. Tôi xin ghi ra vài thí dụ: Ban hợp ca Thăng Long, nếu không có Phạm Đình Chương viết hòa âm và bè cho từng giọng ca, thì thử tưởng tượng những giọng ca vàng ấy sẽ hát ra sao? Có nghệ thuật không nếu họ đồng ca một giọng như một toán quân trong quân trường …
Nói chung, những nhạc sĩ mà tôi kể đều là những người có tài. Trội nhất là Vũ Thành, sau đó mới tới Lê Trọng Nguyễn và Đan Thọ … Văn Phụng bị nhiều bản nhạc Tây phương ám ảnh. Cho nên bài “Tiếng Vọng Chiều Vàng” của anh khi thì giống ca khúc cổ truyền “Ah! Si Mon Moine Voulait Danser” của Pháp, khi thì giống bài “O Cangaceiro” của Mễ-tây-cơ. Còn bài “Bức Họa Đồng Quê” thì không có theo âm hưởng dân ca miền Nam hay miền Bắc xứ Việt Nam mà là phảng phất giọng điệu dân ca bên Mỹ. Riêng bài “Xa Quê Hương” của Đan Thọ thì ở điệp khúc lại giống ý nhạc trong phim La Strada. Nói thế, không phải tôi hoàn toàn phủ nhận tài hoa của hai nhạc sĩ nầy. Họ đã cùng Nguyễn Hiền, Nhật Bằng, Trọng Khương, Y Vân tạo nên một đợt sóng thần khá hùng vĩ làm phong phú cho âm nhạc xứ mình. Bên cạnh họ, có Hoàng Thi Thơ và Lam Phương chuyên sáng tác loại dân ca theo thể điệu mambo của Nam Mỹ. Không hiểu sao loại nhạc nầy đi vào mọi tầng lớp quần chúng thật nhanh. Có người độc miệng gọi đó là “dân ca mắm bò”.
* Hoàng Thi Thơ với “Gạo Trắng Trăng Thanh”, “Trăng Rụng Xuống Cầu”, “Đôi Mái Chèo Trăng”, “Lúa vàng Sao Sáng”, “Múc Ánh Trăng Vàng”. Tuy nhiên anh vẫn có những bản hay như “Duyên Quê”, “Phố Chiều”, “Tà Áo Cưới”, “Gặp Nhau”, “Đường Xưa Lối Cũ”, “Tìm Anh”, “Phút Đầu Tiên”, “Chiều Cố Đô” …
* Lam Phương với “Khúc Ca Ngày Mùa”, “Trăng Thanh Bình”, “Nhạc Rừng Khuya”. Tuy nhiên, trong thời gian ấy, Lam Phương vẫn có những bản khá hay như “Đoàn Người Lữ Thứ”, “Sầu Cố Đô”, “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” v.v … Về sau, anh sáng tác những bản tuy phổ thông rộng rãi, nhưng phẩm chất kém dần như “Chiều Hành Quân”, “Tình Anh Lính Chiến”, “Kiếp Nghèo”, “Kiếp Tha Hương” v.v …
* Hoàng Trọng:
Vào những năm cuối của thời chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh, anh sáng tác những bản “Chiều Tha Hương”, “Buồn Nhớ Quê Hương”, “Đường Về”, “Nhạc Sầu Tương Tư”, “Gió Mùa Xuân Tới”, “Tiếng Lòng” v.v … Vào đầu mùa Đệ nhất Cộng Hòa, anh sáng tác những bản sau đây đều nổi tiếng như “Thương Về Quê Cha”, “Mộng Ban Đầu”, “Bắc Một Nhịp Cầu”, “Bên Bờ Đại Dương”, “Nguồn Mến Yêu”. Có lẽ Hoàng Trọng là người đặt nhạc theo thể điệu tango nhiều nhất. Nhưng bài “Dừng Buớc Giang Hồ” theo thể điệu paso doble của anh cũng rất nổi tiếng, không có bản paso doble của tác giả nào khác sánh kịp. Về sau, anh lập ra ban nhạc Tiếng Tơ Đồng, trừ Hoàng Oanh và Bạch Lan Hương ra đều là những ca sĩ tinh luyện như Châu Hà, Mộc Lan, Quỳnh Giao …
* Dương Thiệu Tước
trong vai đoạn nầy sáng tác yếu hẳn đi. Ông chỉ có vài bản như “Thơm Lành”, “Thiết Tha Vài Lời” …
* Thẩm Oánh
với các bản “Vương Tơ”, “Ngược Giòng”. Nhạc của ông gò bó trong ngũ cung, lại ảnh hưởng nhạc tàu nên ít được ưa chuộng.
* Phạm Duy:
có những bản làm say lòng người như “Ngày Trở Về”, “Người Về”, “Tình Tự Tin”, “Phố Buồn”, “Tình Nghèo”, “Tình Hoài Hương”, “Hoa Xuân”, “Chim Lồng”, “Lữ Hành”, “Xuân Thì” … Đề tài âm nhạc của anh xoay đủ chiều hướng sáng tác: tình yêu đôi lứa, tình quê hương, tình người. Thứ tình nào cũng mặn mà nồng đượm cả, cho nên nhạc anh dễ đi sâu vào mọi tâm hồn người nghe. Bài “Lữ Hành” không hẳn chỉ là bài nói lên cuộc viễn du trên đất nước mà là cuộc viễn du vào thân phận con người, vào ý nghĩ thâm sâu của tâm linh:
Người đi trong dương gian
Vượt xe uốn vòng tử sinh
Bánh xe tang ngoại ô
Chiếc nôi trong vườn hoa
Người đi đi không thôi
Ngày thế giới lên nguồn vui
Ngát như hương lúa mùa
Sẽ lên đường trở về.
Cũng thế, bài “Thương Tình Ca” nào phải chỉ là bài ca tụng đôi lứa “dìu nhau trên phố vắng” mà là dìu nhau vào một cõi huyền nhiệm và chỉ có những người vươn lên đến cõi tâmlinh thâm viễn mới chịu nghĩ tới. Phạm Duy là một nhạc sĩ kiêm thi sĩ, sĩ nào cũng tài hoa rất mực. Anh là một người đặt lời duy nhất (vào giai đoạn đó) ưu tư tới tâm linh và triết học, mở đường cho Trịnh Công Sơn sau nầy.
Nhà nhạc học Hàn Vĩ, bạn âm nhạc thời kháng chiến của Phạm Duy đã viết bài “Nhạc Kháng Chiến của Phạm Duy (1945-1951)” trên tạp san Văn Học, số 21 tháng 10 năm 1987 như sau:
Tóm lại, trong phạm vi thẩm mỹ, có 4 đặc thù thì ta đều tìm thấy ở trong nhạc Phạm Duy:
1/ cao độ: nếu như trong dân ca cổ truyền chúng ta ít khi thấy có những nét nhạc nằm trong những quãng âm rộng rãi thì trong dân ca kháng chiến của Phạm Duy, những cao độ mới mẻ (mà nghe vẫn Việt Nam) đã khiến cho nhạc dân ca mới của Việt Nam phong phú hơn.
2/ trường độ: nhạc dân ca cổ truyền vì bị đóng khung trong thể thơ lục bát cho nên nhịp điệu thông thường là chậm rãi, tĩnh tại. Với thời đại mới, dân ca Phạm Duy đã có những nhịp độ mới, tuy vẫn hài hòa những có tính chất dũng đạt hơn.
3/ cường độ: nhạc Phạm Duy không bao giờ làm chói tai, chói mắt người nghe dù là nhạc hùng. Rất ung dung, rất lãng mạn nhưng cũng rất cách mạng.
4/ âm sắc: nếu đem nhạc Phạm Duy ra để phối khí, ta sẽ thấy nhạc của anh rất phù hợp bộ dây, bộ gỗ và không hợp với bộ đồng. Nó mang nhiều tính cách êm dịu như nhạc classique.
* Phạm Đình Chương
với “Xuân Tha Hương”, “Chú Cuội”, “Khúc Giao Duyên” (khi ban Thăng Long còn đủ 6 người), sau đó mới có “Thuở Ban Đầu” (khi ban Thăng Long chỉ còn có Hoài Trung Hoài Bắc và Thái Thanh mà thôi). Ngoài ra có những nhạc sĩ khác cũng nổi tiếng không kém, chẳng hạn:
* Huyền Linh với “Mưa Đêm” …
* Thanh Châu với “Dặn Dò”, “Đường Ra Bình Phú” …
* Xuân Tiên có “Về Dưới Mái Nhà”, “Tình Bắc Duyên Nam”, “Nguồn Sống Bao La” …
* Canh Thân với “Túi Đàn”, “Vui Cảnh Mùa Hè” …
* Xuân Lôi với các bản, “Tiếng Hát Quê Hương”, “Ánh Sáng Miền Nam”, “Về Làng Cũ”, “Nhạt Nắng” …
* Lê Hữu Mục với “Hẹn một Ngày Về” rất tuyệt vời, đây là bản nhạc rất kén người hát mà cố văn hào Nhất Linh rất ưa chuộng và thường dùng clarinette để thổi.
* Khánh Băng với hai bài “Vọng Ngày Xanh” và “Đừng Trách Người Đi” là nổi tiếng. Ngoài ra một số lượng phồn thịnh nhạc phẩm khác không nổi tiếng bằng.
* Thanh Bình với “Lá Thư Về Làng”, “Những Nẻo Đường Việt Nam”. Anh cũng là nhà văn. Quyển Gió Dập Mưa Vùi của anh được thực hiện thành phim Nàng do Thẩm Thúy Hằng đóng vai chính.
* Hoàng Nguyên với “Đàn Ơi Xa Rồi”, “Ai Lên Xứ Hoa Đào”, “Tôi Sẽ Về Thăm Em” đều là những nhạc phẩm có phẩm chất cao.
* Hoàng Lang với hai bài nổi tiếng là “Hoài Thu”, “Hoài Cảm”. Ở bài “Hoài Thu”, anh lấy biệt hiệu là Văn Trí, lời hát của anh phỏng theo một bài tùy bút của nhà thơ Đinh Hùng nên đẹp như thơ, diễm ảo như mộng. Hoàng Lang có lập ra ban nhạc đàn giây với những giọng hát Kim Tước, Mai Hương …
* Trần Ngọc có bản nhạc đoạt giải nhất trong một kỳ thi nhạc. Đó là bản “Ngày Vui”. Khi anh tung ra nhạc phẩm “Quán Nửa Khuya” và lấy biệt hiệu là Tuấn Khanh thì anh mới nổi danh như cồn. Những bản “Vườn Đời”, “Một Chiều Đông”, “Dưới Giàn Hoa Tím”, “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”, “Chiếc Lá Cuối Cùng” … của anh đuợc nhiều ca sĩ hạng cừ hát và rất phổ thông trong giới sành nhạc.
* Trịnh Hưng với “Lối Về Xóm Nhỏ”, “Màu Tím Hoa Sim”, “Lúa Mùa Duyên Thắm” … Nhạc của Trịnh Hưng tuy gần gũi cảm quan đa số quần chúng, nhưng vẫn có phẩm chất vượt những loại nhạc thương mãi của các bạn đồng nghiệp cùng thời của anh.
Ngoài ra có hiện tượng người đặt lời hát nổi tiếng. Đó là Hồ Đình Phương và Thanh Nam. Hồ Đình Phương là một thi sĩ gốc người Huế. Ông ta làm thơ không nổi tiếng lắm vì làm thơ rất ít, chưa hề cho xuất bản tâp thơ nào. Ấy vậy, ông phổ nhạc cho Hoàng Trọng những bản rất nổi tiếng như “Mộng Ban Đầu”, “Mộng Lành”, “Bạn Lòng”, “Bắc Một Nhịp Cầu”, “Bên Bờ Đại Dương”, “Mộng Đẹp Ngày Xanh” v.v … Trước đó, vào thời chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh, ông có đặt lời cho bản “Xa Quê” của Lê Quang Nhạc. Trong thời gian
đặt lời cho nhạc của Hoàng Trọng, ông còn đặt lời cho bài “Lá Thư Miền Trung” của Lam Phương, “Tình Quê” của Châu Kỳ.
Thanh Nam đặt lời cho “Hoa Bướm Ngày Xưa” của Nguyễn Hiền, “Đẹp Giấc Mơ Hoa” của Hoàng Trọng, “Mưa Trên Phím Ngà” của Văn Phụng, “Thuyền Trăng” của Nhật Bằng … Thanh Nam là một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết ướt át, hợp với cảm quan mềm mại và mẫn cảm của phụ nữ. Tâm hồn của anh lai láng nguồn thơ. Tập truyện Buồn Ga Nhỏ của anh là một tập thơ bằng văn xuôi đúng hơn. Khi ra hải ngoại, anh cho xuất bản tập thơ Đất Khách và trở thành ngôi sao thi ca hàng đầu ở hải ngoại bên cạnh Cao Tần, Mai Thảo. Cách đặt lời cho các bài hát của anh thật lạ đời. Nhà soạn nhạc chỉ cần nói với anh ý của bài nhạc rồi ghi ở mỗi câu hát nốt nhạc nào nên viết bằng tiếng có dấu sắc, nốt nào nên viết bằng tiếng có dấu huyền, hoặc dấu hỏi hay dấu nặng. Thanh Nam cứ cày cục nương theo cách bỏ dấu ở mỗi tiếng tương ứng với nốt nhạc rồi liên tưởng đến tình ý của tác giả mà đặt lời, lời nào cũng thấm nhuần chất thơ, không kém lời hát của Hồ Đình Phương chút nào. Đa số những nhạc sĩ di cư từ miền Bắc trong những năm đầu định cư ở miền Nam đều có tâm trạng nhớ quê, căm thù Cộng sản một cách sâu sắc. Do đó mà nhạc của họ đều tha thiết, có sự rung cảm chân thành. Các bản “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành, “Về Đây Anh” và “Tiếng Than Miền Bắc”, “Lá Thư Gửi Mẹ” (phổ thơ của Thái Thủy) của Nguyễn Hiền, “Lá Thư Về Làng” của Thanh Bình, “Hướng Về Đất Bắc” của Phó Quốc Lân, “Hận Ly Hương” của Anh Hoa đều là những nhạc phẩm hay. Nhưng miền Nam đãi ngộ họ xứng đáng với cái tài của họ nên về sau họ sáng tác những bài theo cảm hứng trữ tình của họ một cách phóng khoáng và phong phú để diễn tả tâm hồn nhạy cảm của họ, nhất là để biểu hiệnsự tự do sáng tác của họ. Cho nên vì đó kho tàng âm nhạc ở miền Nam trong giai đoạn đó chẳng những dồi dào chất lượng mà còn muôn vẻ muôn màu.
Nhạc theo thể điệu mới thích hợp với không khí vũ trường như mambo, rock and roll, calypso, slow rock, bolero v.v … nhập cảng vào nước ta ảnh hưởng vào nguồn sáng tác của mộtsố nhạc sĩ thời thượng hoặc một số nhạc sĩ nặng óc thương mại. Trước hết là nhạc blue và nhạc slow rock Thể điệu slow rock thường dìm ý nhạc vào không khí ứ nghẹt khói thuốc, men rượu và nhục cảm ở vũ trường. Nhưng Văn Phụng với bản “Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn”, Hoàng Trọng với “Một Thuở Yêu Đàn” cũng trong thể điệu slow rock đã nâng ý nhạc bay bổng vào không khí lâng lâng siêu thoát, vào thinh không bát ngát xanh lơ. Trước kia, loại blue trắng qua các bản “Bến Xuân” của Văn Cao, “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu đều là những bản trữ tình quyến rũ. Nhưng loại blue đen với tiết điệu đậm và đắng hơn ra đời qua các bản “Đường Chiều” của Hồng Duyệt, “Những Chiều Không Có Em” của Trường Hải vẫn là những bài quyến rũ mà những giọng hát của Hùng Cường,
Thanh Hùng, Trường Hải, Kiều Loan, Mary Linh, Phương Tâm đều hát rất đạt.
Nữ ca sĩ Minh Nguyệt đã lấy chồng trước khi có Hiệp Định Genève. Đài Pháp Á cáo chung. Những ngôi sao Tân nhạc lần lượt vắng bóng có Hoàng Yến, Ngọc Thanh, Phạm Đức, Thu Hồ … Bích Thuận nhận thấy đài Sài Gòn từ khi được thành lập có nhiều ca sĩ được đào luyện đúng mức dần dà loại bớt những ca sĩ có trình độ kỹ thuật non kém nên không dám xuất hiện trong các chương trình ca nhạc trên làn song điện nữa. Kim Chung, Bích Hợp, Huỳnh Thái, Ngọc Toàn khi vào Nam thì chỉ biết sống chết với cải lương. Thanh Tình giải
nghệ đi lấy chồng. Giai đoạn nầy là thời đại hoàng kim của Ánh Tuyết, Châu Hà, Kim Tước, Ngọc Nga, Tuyết Mai, Thanh Nguyên (bên nữ), Ngọc Giao, Ngọc Quang, Đỗ Tuấn, Duy Trác, Duy Khánh (bên nam). Nữ nghệ sĩ Túy Hoa cùng chồng là Anh Lân gom góp một số ca sĩ để thành lập ban thoại kịch Dân Nam. Thành phần gồm có: Túy Hoa, Mộc Lan, Lan Chi, Tuyết Vân, Túy Phượng (bên nữ), Anh Lân, Vân Hùng, Tùng Lâm, Hoàng Mai (bên nam). Về sau, ban Dân Nam bổ sung thêm Ly Lan và Túy Hồng. Ban Sầm Giang của Trần văn Trạch gồm nhiều ca sĩ tài tử, chỉ có Ngọc Phu, Đỗ Đình Phù là ca hát khá vững. Ban Thăng Long từ chỗ Tứ Ca với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng lại có thêm Khánh Ngọc và Phạm Duy. Còn Tâm Vấn, Khánh Ngọc, Linh Sơn, Ngọc Hà, Mộc Lan và Châu Kỳ và đôi uyên ương Mạnh Phát & Minh Diệu cùng Quái Kiệt Trần văn Trạch vẫn là những cây đinh trên sân khấu Đại nhạc hội. Về vũ thì vắng bóng Mỹ An nên Lưu Bình và Lưu Hồng tìm Mỹ Dung thay thế. Nhảy thiết hài thì vẫn là Nguyễn Thống, Nguyễn Tình. Thỉnh thoảng có Ngọc Chiếu, nam ca sĩ Vọng Cổ giả gái để vũ theo điệu Á-rập. Còn kịch thì đã có Kiều Hạnh, Xuân Dung, Hoàng Năm, Ba Bé, đôi khi có Phạm Đình Sỹ, Đinh Xuân Hòa, Vũ Đức Duy, Mỹ Tín, Minh Đăng Khánh, Bạch Tường, Thùy Dương …
Sau đây là những ca sĩ nổi danh trong giai đoạn nầy:
* Ánh Tuyết:
Ánh Tuyết xuất thân trong ban kịch Lửa Hồng. Chị có một nhân dáng rất cao sang thanh thoát, một khuôn mặt rất ăn ánh đèn sân khấu. Giọng của Ánh Tuyết mới đúng là giọng kim cao chót vót, càng lên cao càng vang lộng như chuông vàng khánh ngọc. Một giọng sắc sảo mà vẫnngọt ngào, âm sắc lại đẹp, gợi nên hình ảnh tấm gấm màu hồng phấn rực rỡ dệt hoa ngân tuyến xen kim tuyến lung linh ánh sáng. Chỉ tiếc rằng chuỗi ngân của chị nhọn sắc như răng cưa, chứ không gợn nét thu ba như chuỗi ngân của Thái Thanh.
Những bản nhạc có chỗ lên cao như “Mộng Đẹp Ngày Xanh” của Hoàng Trọng, “Vọng Ngày Xanh” của Khánh Băng, “Tiếng Dương Cầm” của Văn Phụng, “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành được Ánh Tuyết trình bày một cách trơn tru và thoải mái như kình ngư đùa sóng. Trên sân khấu Đại nhạc hội, Ánh Tuyết còn làm say mê khán thính giả qua bản “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng.
* Ngọc Nga:
Chị là em gái của nữ tài tử điện ảnh Mai Trâm (thủ vai chính trong phim Chúng Tôi Muốn Sống). Ngọc Nga đẹp tươi sáng, dịu dàng, vóc vạc mảnh mai. Giọng hát của chị thật ngọt ngào, tươi sáng, nhưng cũng thật dịu dàng đằm thắm. Cách ngân nga của chị thật vững vàng. Trong ban nhạc của Ngọc Bích, chị thường tam ca với Thái Hằng và Ánh Tuyết, chẳng hạn như bài “Nắng Lên Xóm Nghèo” của Phạm Thế Mỹ. Có lần trong kỳ Đại nhạc hội, Ngọc Nga xuất hiện trên sân khấu và hát bản “Chiều Về Trên Sông” của Phạm Duy. Tuy giọng chị không cao, nhưng chị hát tròn tiếng ở chỗ lên cao nhất của điệp khúc bản nhạc. Ngọc Nga có thể hát chung với những danh ca hát giỏi như Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà mà không lép vế dù kỹ thuật hát xướng của chị không bằng họ.
Ngọc Nga là một trong ba chị em đẹp nổi tiếng ở đất Bắc. Nếu Hà Nội có Tứ Kiều (Kiều Dinh, Kiều Vinh, Kiều Hinh, Kiều Hương) thì Hà Nội cũng có Tam Mỹ (Mai Trâm, Ngọc Nga và Ngọc Thoa). Khi mới lớn, Ngọc Nga yêu một chàng hào hoa và đẹp trai. Chàng nầy được giới tài hoa son trẻ gọi là Phương Thế Ngọc. Phương Thế Ngọc đã từng là người yêu của Kiều Hinh (tức là Giáng Hương). Nhưng Kiều Hinh khám phá được tông tích của Phương Thế Ngọc. Thì ra chàng chỉ là một công tử bột, không bằng cấp, không kiến thức. Cho nên Kiều Hinh từ hôn với chàng. Về tình cảm, Kiều Hinh có nội lực thâm hậu nên chị sớm tìm gặp cuộc hôn nhân với ca sĩ Anh Ngọc, san bằng mọi sứt mẻ của tình cảm. Nhưng Ngọc Nga thì khác. Chị đâu được tinh thần vững chãi như Kiều Hinh. Quá thất vọng, chị trèo lên cây cao buông mình xuống đất để tự tử. Nhưng chị không chết, chỉ tội phải què một chân suốt đời và phải dùng gậy để chống đỡ lúc đi đứng. Khi trở thành ca sĩ, chị đã có gia đình êm ấm. Thời gian đã hàn vá vết thương lòng chị tuy chậm mà vững chắc. Về sau, Ngọc Nga bỏ nghề ca hát để trở thành xướng ngôn viên đài Sài Gòn như Minh Diệu, Minh Tần.
* Thanh Nguyên, Mỹ Ngọc, Tuyết Anh:
Đó là những ca sĩ của đài Sài Gòn. Mỹ Ngọc có giọng ngọt ngào hiền dịu. Chị hát quá chân phương, âm sắc không chút quyến rũ. Giọng hát đẹp như nàng tiên, nhưng thiếu cái mê hoặc của thần nữ. Tuyết Anh ca vững, tuy không có làn hơi phong phú, nhưng chị dàn trải làn hơi đâu vào đó để tránh khỏi lúc hụt hơi. Tuyết Anh hát thật lâu, nhưng chỉ ở đài Sài Gòn mà thôi. Thường thì chị song ca với Hồng Phúc. Bởi yêu nghề nên chị cứ nhắm mắt hát trước sự ghẻ lạnh thờ ơ các thính giả trong thập niên 60.
Thanh Nguyên có giọng mạnh, nhưng chuỗi ngân lại nhọn sắc như răng cưa. Tiếng chị mượt mà và óng ả nhưng lẩn trong cái mượt mà đó, có những chỗ hơi khàn rất đậm đà nồng ấm. Thanh Nguyên vì thường ca chung với ca sĩ Ngọc Quang nên si mê anh dù anh có vợ. Cuộc tình của cả hai không gây huyên náo vì cả hai không nổi tiếng. Cũng như Mỹ Ngọc, sự nghiệp ca hát của Thanh Nguyên lu mờ và ngắn ngủi. Chị đến với làng ca nhạc rất lặng lẽ và rút lui âm thầm như một cái bóng.
* Châu Hà:
Đây là giọng trầm rất đặc biệt, một giọng contr-alto khi xuống nốt trầm thật tròn tiếng, thật dội sâu, thật
vang lộng. Thái Thanh khi xuống trầm không dũng mãnh bằng, không thừa hơi để ngân nga một chuỗi dài, tóm lại không như trường hợp của Châu Hà. Khi hát những chỗ ngang ngang, hoặc khi lên cao, giọng Châu Hà tuy không lảnh lót như giọng Ngọc Hà, nhưng ngọt hơn giọng Ngọc Hà nhiều. Lúc mới khởi nghiệp, Châu Hà bắt chước theo lối hát của Minh Trang. Nhưng về sau chị tạo lấy bản sắc riêng cho chị. Những bản có chỗ trầm như “Nhắn Gió Chiều” của Nguyễn Thiện Tơ, “Chung Thủy” của Văn Phụng, “Hình Ảnh Một Buổi Chiều” của Lâm Tuyền được Châu Hà trình bày thật điệu nghệ. Ở những chỗ trầm chị hát thật sướng tai, càng nghe càng mê cảm rụng rời. Riêng bản “Hình Ảnh Một Buổi Chiều”, chị hát ở những chỗ lên cao thật ngọt ngào, trơn tru, không một chút chai sượng nào trong khi Thái Thanh khi hát lên cao thì giọng lại chua chua như yaourt.
Mối tình giữa Châu Hà và Văn Phụng cũng khá gay go vì mỗi bên đều có gia đình. Về sắc vóc, họ không phải là một cặp đẹp đôi. Nhưng Châu Hà yêu Văn Phụng qua cái tài sáng tác cùng sự nghiệp âm nhạc của anh. Còn Văn Phụng yêu Châu Hà qua cái thông minh, duyên dáng và tiếng hát với kỹ thuật thâm hậu của chị. Cũng may là Châu Hà không mấy nổi tiếng vì chị ít khi xuất hiện trên sân khấu phòng trà và sân khấu Đại nhạc hội, cho nên cuộc tình của họ không bị báo chí phanh phui khai thác. Dù sau, trong thời gian đôi bên ly khai
gia đình để lập tổ uyên ương thì Mộc Lan, Kim Tước cùng Châu Hà trong ban Văn Phụng khi hát trên làn sóng điện đài Sài Gòn phải đổi tên. Mộc Lan lấy biệt hiệu là Thy Nga, Kim Tước lấy biệt hiệu là Lan Châu, Châu Hà lấy biệt hiệu là Kim Châu. Vận sự nầy, thú thật tôi không hiểu lý do.
Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà đều có giọng giống nhau. Phải tinh lắm mới phân biệt nổi. Mộc Lan xài nhiều giọng óc hơn nên tiếng hơi chua, tuy nhiên khi hát chỗ ngang ngang và chỗ khá trầm thì giọng lại nồng nàn. Tiếng Kim Tước mỏng mịn hơn, thỉnh thoảng có những nét láy mềm mại cho nên có vẻ cao sang quý phái hơn. Tiếng Châu Hà chân phương và ấm áp hơn tiếng Kim Tước và ngọt hơn tiếng Mộc Lan, nhưng không quyến rũ bằng tiếng Kim Tước và không đậm đà bằng tiếng Mộc Lan. Có nhiều bài hát, cả ba cùng ca kế tiếp nhau, nhưng không hợp ca với nhau. Mỗi người gạt bỏ cái tiểu dị (nuance) độc đáo trong tiếng hát của mình. Thính giả lúc đó có cảm tưởng là một người hát chứ không phải ba người. Trong các ban tam ca giọng nữ, có lẽ Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà hợp thành một ban tam ca già dặn nhất, độc đáo nhất. Mỗi giọng đều thuần thục và tinh luyện đúng mức, xứng đáng ở cương vị hàng đầu.
Chị Mộc Lan thường bảo tôi:
— Châu Hà và Kim Tước xuất thân là nữ sinh, tuy mê hát, nhưng cũng mê học. Chúng nó đâu biết cách trang điểm ăn mặc. Hồi cùng tôi hợp ca trên sân khấu, chúng nó chưa biết dùng son phấn dậm mặt, chưa biết mặc “xú-cheng” và chưa biết mặc áo dài chít pince.
Châu Hà sinh động và duyên dáng. Khi hát là chị tự tin thấy rõ. Vào khoảng tứ tuần, chị hơi mập, kèm với hàm rang hơi vẩu nên chị không ăn ánh đèn rọi của sân khấu và không ăn ánh đèn rọi trên sân quay Tivi. Cho nên, có một lần bộ ba Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà cùng tam ca trên sân khấu Đại nhạc hội bản “Dịu Dàng” của Văn Phụng thì tiết mục văn nghệ nầy không ăn khách. Có một cô ca sĩ nào đó cằn nhằn ông bầu tổ chức Đại nhạc hội:
— Mời ba mụ Kim Châu Mộc hát làm chi cho tốn tiền.
Vận sự đó tới tai bộ ba Kim Châu Mộc. Châu Hà bảo:
— Chúng tôi hát bằng mồm thì làm sao bằng những kẻ hát bằng cả người, hử quý cụ?
Châu Hà cùng ban Văn Phụng xuất hiện trên Tivi là như mang một ngọn gió bừng bừng phấn khởi. Chị xông xáo, duyên dáng cũng như nữ ca sĩ Annie Cordy của Pháp. Có lần cũng trong chương trình ban Văn Phụng chiếu trên tivi, chị giới thiệu nữ ca sĩ Thái Thanh như sau:
— Một nhà thơ bảo tình yêu là những con chim tuyệt vời.
Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ bài thơ ấy thành ca khúc “Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài”. Chị Thái Thanh chắc hẳn đã biết con chim tuyệt vời ấy ra sao rồi, vậy mời chị hát bài “Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài” của Phạm Duy.
Chị Châu Hà nhấn mạnh bốn tiếng “con chim tuyệt vời”, mắt chị long lanh tinh quái làm khán giả cười lăn.
Châu Hà có hát bài “Yêu” của Văn Phụng cho phần générique của cuốn phim Yêu do Đỗ Tiến Đức đạo diễn. Hôm trình chiếu cuốn phim đó cho các văn nhân ký giả xem tại rạp Nguyễn văn Hảo, tôi cũng có đến xem. Gặp chị, tôi ngạc nhiên quá vì chị gầy đi, đẹp lạ lùng. Tôi hỏi chị cái bí quyết
làm gầy. Chị mệt nhọc bảo:
— Con Khánh Ly chỉ cho tôi thứ thuốc Sveltine. Tôi uống chừng hai ống, mỗi ống 20 viên là tôi sụt cân xuống vùn vụt. Mệt quá, ông An ơi! Tôi bị thuốc hành nên ăn chẳng ngon và ngủ chẳng được.
Chị mở xắc lấy giấy bút ghi tên thuốc cho tôi. Quả thật, thuốc làm tôi sụt 15 ký. Tôi mất ngủ, hay đổ mồ hôi. Mặt tôi chao vao như kẻ bị xì ke ma túy.
Năm 1989, nhân chuyến qua Washington D. C. ra mắt quyển Giai Thoại Hồng, qua sự trung gian của Thúy Minh (vợ nhà văn Trần Long Hồ), tôi gặp lại chị Châu Hà. Chị đẹp hơn xưa nhiều, sau 17 năm mà tôi không gặp. Vóc chị thon, da dẻ chị mịn màng, gương mặt hồng hào tươi nhuận. Chị đưa tôi đi ăn sáng cùng gia đình chị và có dịp cùng nhau ôn cố nhi tri tân suốt bốn tiếng đồng hồ.
* Kim Tước:
Đây là một trong những giọng hát mà tôi quí mến nhất. Chị là mẫu người hiền lành, ăn nói khiêm tốn, có học lực ở bậc đại học. Chị Kim Tước không đẹp không xấu, làn da ngăm đen, có nốt ruồi duyên bên mép. Có một thuở chị đẹp hẳn lên, thần thái rạng rỡ như trăng rằm. Đó là vào ba năm đầu của thập niên 70. Chị mặc áo dài đã đẹp mà mặc Âu phục cũng đẹp nữa. Lúc đó chị thường xuất hiện trên Tivi trong những màn song ca với ca sĩ Trường Duy. Cả hai chỉ là bạn song ca đồng diễn thôi, nhưng trông thật đẹp đôi.
Giọng Kim Tước mềm mại. Thuở còn son giá thì cao chót vót. Nhưng sau mấy bận sinh nở nó lại mỏng khi lên cao. Đây là giọng ca đẹp nhất, lão luyện nhất trong bộ ba Kim Châu Mộc, dù chị nhỏ tuổi hơn Châu Hà và Mộc Lan. Có người bảo rằng Châu Hà và Mộc Lan ca suông đuột, không một chút màu mè riêu cua cho thêm màu sắc hương vị trong giọng hát. Nhưng đối với giọng hát của Kim Tước thì người ta không nghĩ thế. Kim Tước vẫn có chút làm dáng thật kín đáo trong giọng hát. Giọng của chị cao sang quý phái, đẹp như một chiếc ly pha lê thuần khiết, không một lỗi lầm, không một tỳ vết, nhả thứ ánh sáng trắng tinh khôi. Tiếng hát gợi nên một giòng suối trong vắt chảy giữa bờ cỏ mùa xuân tươi non.
Chuỗi ngân của chị thật óng ả và thoải mái. Năm 1987, chị theo ban Gió Nam gồm Hoài Trung, Hoài Bắc, Mai Hương, Quỳnh Giao, Diễm Chi, Nguyệt Ánh, Hoàng Thi Thi, Nghiêm Phú Phi qua trình diễn bên Âu Châu. Ban Gió Nam cũng có ghé tỉnh Troyes mà tôi cư ngụ để trình diễn một đêm, sau đó mới đến Paris trước khi trở về Hoa Kỳ. Dạo đó chị hơi phát phì, nhưng vẫn có eo trong những tấm áo dài mà chị diện trên sân khấu. Mặt chị buồn bã, nhẫn nhục và trầm lặng, lời nói vẫn giữ vẻ khiêm tốn như thuở nào. Trên sân khấu, chị cùng Mai Hương và Quỳnh Giao đã thạo cách ăn mặc trang điểm lắm rồi. Áo dài mà chị dùng mặc trên sân khấu nhiều bông hoa ngoạn mục rổi bật trên nền gấm xôn xao ánh sáng. Chị đơn ca những bản “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành, “Nhớ Người Phương Xa” của Phạm Duy rất hay. Tiếc rằng giọng của chị hơi nặng nhọc, chứ không lưu loát và thoải mái như xưa. Khi muốn ngân nga, chị phải kéo một hơi khá dài rồi mới lấy trớn ngân được.
Điều tôi hơi buồn trong bữa ăn chiều do ban tổ chức của Hội Văn Hóa Kiều Bào vùng Champagne (tỉnh Troyes nằm trong vùng Champagne) khoản đãi, Kim Tước cổi mái tóc giả ra để bày cái đầu hơi hói làm mọi người bàng hoàng. Nhưng chị vẫn giữ vẻ thản nhiên, nụ cười cam phận và nhẫn nhục. Có một điều buồn cười là có một võ sư ở Paris tên là Đào Tuấn Ngọc. Anh ta là kẻ sành nhạc, có sáng tác một lô nhạc. Anh muốn Kim Tước trình bày những tác phẩm của mình nên bỏ tiền ra mua vé máy bay khứ hồi mời chị qua hát ở Paris.
Trong tấm chương trình, anh đề tên Kim Tước và một số nhạc phẩm sáng giá của Văn Cao, Vũ Thành, Phạm Duy, Lê Hữu Mục … Tôi cũng cất công lấy vé xe lửa khứ hồi để đi Paris xem Kim Tước hát loại nhạc xưa. Nhưng những bài ghi trong tấm chương trình thì dành cho các tài tử ở Paris hát. Còn Kim Tước hát trên 10 bài của Đào Tuấn Ngọc làm khán thính giả khờ khạo hốc hác luôn. Không phải nhạc của họ Đào dở. Nhưng các ca khúc âm hưởng loại nhạc bán cổ điển không dễ thấm sâu tức khắc vào tâm hồn người nghe. Nhạc của anh cần có đủ thời giờ hòa nhập vào cảm quan khán thính giả theo kiểu nước chảy đá mòn. Nhưng hôm đó, nhạc anh cứ tung ồ ạt và xối xả hết lớp nầy kế tiếp lớp khác vào tâm hồn khán giả làm tâm hồn họ bị bội thực. Sau cùng, họ yêu cầu chị Kim Tước hát bản “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa” của Tô Vũ để lấy lại tinh thần thoải mái. Kim Tước cùng Vũ Anh hát trong dĩa nhạc “Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ” của Phạm Duy rất điệu nghệ. Ở dĩa nhạc nầy chị lấy lại phong độ thuở nào. Tiếng hát khỏe khoắn vang lộng làm cho người nghe có cảm tưởng như được tắm mát trong giòng suối âm thanh ngọt mát dị kỳ.
* Tuyết Mai:
Giọng hát trong trẻo và ngọt ngào rất quyến rũ. Khi lên cao, chị chuyền giọng óc không khéo như Thái Thanh, nhưng không quá vụng như Hoàng Oanh sau nầy. Dù không có giọng kim cùng cách phân phối và dàn trải làn hơi một cách tinh vi như Mai Hương, nhưng về sau nầy Tuyết Mai nhiều lần hát bản “Dòng Sông Xanh”, nghe cũng ngọt tai. Phải nói rằng đây là một giọng có âm sắc đẹp, gợi nhiều ấn tượng và hình ảnh đẹp cho thính giả. Chị hát dân ca đạt hơn hát những loại nhạc vũ trường, nhạc biệt thể, nhạc âm hưởng bán cổ điển Tây phương. Chị song ca với Duy Khánh thật điệu nghệ. Chị có vóc vạc vừa tầm, khuôn mặt khá xinh, ăn ánh đèn sân khấu. Chị giống như Ánh Tuyết, giỏi cách ăn mặc trước khi bước ra sân khấu, cho nên nhan sắc chị dưới ánh đèn sân khấu trội hẳn lên. Trong thập niên 50, chị là một nữ ca sĩ rất ăn khách và xuất hiện thường xuyên trên sân khấu Đại nhạc hội. Đêm đêm, chị như con bướm bay từ phòng trà nầy sang phòng trà khác. Tuyết Mai ăn ở với Duy Khánh được một mặt con.
* Tuyết Nhung:
Chị duyên dáng chứ không đẹp. Giọng mạnh, có âm sắc đẹp, nhưng lại có chuỗi ngân răng cưa như giọng Ánh Tuyết. Trên sân khấu, chị thường song ca với Thanh Thoại những bản nhạc theo thể điệu mambo. Sự nghiệp ca hát của Tuyết Nhung quá ngắn. Chị còn gửi lại trong lòng khách mộ điệu ân hưởng một giọng hát mạnh mà không thô, mềm mại và gợi cảm qua bài “Lối Về Xóm Nhỏ” của Trịnh Hưng.
* Yến Hương:
Chị có một sắc đẹp thật Tây phương với sống mũi cao. Nhưng vóc vạc chị vừa tầm, cung cách đoan trang thùy mị. Giọng chị trong trẻo dịu mềm, ngân nga thật vững. Nhưng không hiểu sao chị không thể nổi danh dù có Quái Kiệt Trần văn Trạch nâng đỡ. Có một dạo chị hát ở phòng trà Hòa Bình. Nhưng tên tuổi chị bị những tên như Bạch Yến, Bích Chiêu lấn át.
Yến Hương có đóng phim Thoại Khanh Châu Tuấn bên cạnh Kim Cương, Vân Hùng do Trần văn Trạch đạo diễn. Nhưng chị không biết diễn xuất nên bị Kim Cương lấn át luôn. Vào năm 1972, chị xuất hiện ở phòng trà ca nhạc Lê Lai. Thân vóc chị trở nên nặng nề. Giọng ca chị chẳng những bị Lệ Thu, Khánh Ly lấn át mà còn bị giọng hát của Carol Kim và của Ngọc Anh (em gái Khánh Ly) húng hiếp thêm. Thế là chị rút lui vĩnh viễn vào bóng tối.
* Túy Phượng:
Cô là con riêng của Túy Hoa, nhưng được Anh Lân hết lòng thương yêu và bồi đắp trên bước đường nghệ thuật trình diễn. Túy Phượng giống mẹ như đúc, nhưng nõn nà và bốc lửa hơn mẹ. Vóc mình cô nhỏ nhắn, cân đối, tay chân xinh xắn. Khuôn mặt cô kết hợp bởi những đường nét cong mềm và thanh tú. Đó là một vẻ đẹp chanh cốm, mũm mĩm làm say lòng người. Cô đoạt giải Hoa Hậu Đông Phương trong đó có Kiều Chinh tham dự. Túy Phượng khi sinh ra được nghệ sĩ Bích Thuận nhận làm mẹ đỡ đầu. Cô lại được nữ ca sĩ Mộc Lan luyện giọng. Giọng hát của cô không có gì đặc biệt. Cô lại hát bằng cách phát âm người miền Nam như Túy Hoa, Ngọc Hà. Tuy nhiên đây là một giọng có kỹ thuật cao, ngân nga rất vững. Những bản slow chẳng hạn như bản “Sương Thu” của Văn Phụng được cô diễn tả rất nghề, làm thỏa mãn khách sành điệu. Ở bản “Mộng Đẹp Ngày Xanh” của Hoàng Trọng, dù gặp chỗ lên cao vượt ngoài âm vực của giọng hát cô, vậy mà cô hát vẫn không gãy, vẫn ngọt ngào làm cho nhiều người thán phục.
Cũng như giọng Mai Hương, Hồng Phúc, giọng Túy Phượng không thích hợp với sân khấu mà chỉ thích hợp trên làn sóng điện mà thôi. Nhưng khi cô xuất hiện trên sân khấu, chính thân mình nhỏ nhắn và bốc lửa của cô cùng khuôn mặt mũm mĩm của cô chài bẫy khán thính giả nhiều hơn là giọng hát. Tôi còn nhớ, vào một tối năm 1959, Túy Phượng xuất hiện ở phòng trà Hoà Bình. Cô mặc chiếc robe bằng nhung đen, xẻ đùi và hở ngực hở vai khá rộng. Cô mang găng tay bằng nhung đen dài đến khuỷu tay, đeo những món nữ trang lấp
lánh và cài vương miện trên tóc. Cô hát bài “Mambo Italiano” rất bừng bừng phấn khởi, như rải cơn bão lửa khắp phòng trà Hòa Bình.
Về sau, khoảng 1961-1963, Túy Phượng xoay qua hát nhạc twist và trở thành “Nữ Hoàng Nhạc Twist”. Nhưng cô chỉ nổi tiếng trong một thời gian ngắn ở lãnh vực mới nầy. Rất tiếc, Túy Phượng có biệt tài trình diễn nhạc hay, nhưng khan thính giả chỉ say mê cô qua sắc đẹp chói chan, qua những điệu hát rậm rật mà không tìm được cái nội lực chân truyền cùng kỹ thuật thâm hậu trong giọng hát của cô. Cho nên cô phải dùng nhạc Twist để làm quỉ làm yêu, trổ nhiều quái chiêu để thu phục nhiều khán giả.
Túy Phượng đóng kịch rất hay. Sau khi Kim Cương, Vân Hùng và Túy Hồng tách rời khỏi ban Dân Nam thì cô thay thế Kim Cương thủ những vai thương cảm nồng cốt của vở kịch. Túy Phượng không có duyên với điện ảnh. Cô đóng vai nhì bên cạnh Kim Cương trong Duyên Bích Câu do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn và Nhạc Lòng Năm Cũ do Lê Mộng Hoàng đạo diễn. Tuy nhiên, cô không ăn ảnh, lại không có chỗ để diễn xuất nên bị Kim Cương nhận chìm. Buồn cười nhất là trong phim Duyên Bích Câu, cô đóng vai người kỹ nữ vào một triều đại xa xưa mà nói toàn những lời hiện sinh làm khán giả cười ngất! Trong phim Thạch Sanh Lý Thông, Túy Phượng thủ vai công chúa Quỳnh Nga, cũng không tạo được thành tích vẻ vang nào. Túy Phượng có yêu một sĩ quan cao cấp đẹp trai tên Minh. Nhưng rất tiếc ông ta có vợ cái con cột. Đùng một cái, bà vợ ông ta bị ai đó ném lựu đạn vào nhà. Thế là ông thiếu tá kia bị tình nghi giết vợ. Sau vài cuộc điều tra của bót cảnh sát, ông ta bị tống giam. Bên vợ của ông vì nghĩ tình lũ cháu mồ côi nên xin cho ông được phóng thích dù họ căm thù ông không để đâu cho hết.
Trong bữa tiệc do Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu khoản đãi các văn nghệ sĩ tại Dinh Độc Lập, Túy Phượng níu áo Vua Thiệu, xin vua ban đặc ân cho người yêu của cô. Ít lâu, ông Minh được phóng thích.
Kể từ khi chính thức làm vợ của ông sĩ quan bị tình nghi giết vợ kia, Túy Phượng lu mờ dần trong giới trình diễn.
* Ngọc Giao, Đỗ Tuấn:
Đây là hai chàng ca sĩ xuất thân dòng khoa bảng. Thân phụ hai anh là nhà chí sĩ Đỗ Đình Đạo và cũng là nhà cách mạng đồng thời với các ông Luật sư Trần văn Tuyên, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Văn Lang Trần văn Ân. Vào thuở thiếu thời, trừ Nhất Linh ra, ba nhà ái quốc nầy đều có khuôn mặt khôi vĩ và tuấn tú.
Dưới thời Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí, ông Đỗ Đình Đạo làm giám đốc Cơ Sở Quân Thứ Lưu Động. Nhiệm vụ của cơ sở nầy là bình định và nới rộng các khu vực do phe Quốc Gia kiểm soát. Bọn Việt Minh vừa sợ vừa căm thù cơ sở nầy nên dùng nữ sĩ Thụy An làm gián điệp và gài bà vào cơ sở nầy để giết ông Đỗ Đình Đạo. Khi chài bẫy được ông Đạo và trở thành nhân tình của ông, bà Thụy An yêu ông, không nỡ xuống tay hạ thủ ông. Nhưng “lịnh trên” lại thúc giục và hăm dọa bà. Cho nên sau cùng, bà bỏ thuốc độc vào tô phở để đầu độc người tình của mình rồi bỏ trốn khỏi căn nhà mà cả hai chung sống trong thời gian yêu đương hạnh phúc. Ông Đỗ Đình Đạo chết trong căn nhà đó, khi thi thể ông bị hư vữa thì mới được lân lý phát giác.
Từ năm 1964, khi dọn về ở xóm Đình Phú Thạnh, gần tòa Đại sứ Căm-bốt, chị em tôi thỉnh thoảng qua viếng nhà ký giả Tùng Sơn vốn là hàng xóm của chúng tôi. Căn gác của anh dùng làm tiệm hút. Ở đây có nhiều nhà văn và ký giả nằm kê đầu lên chiếc gối sành để đi mây về gió. Anh Tùng Sơn sau khi hút đã đời, thường kể cho chúng tôi nghe chuyện tình giữa ông Đỗ Đình Đạo và nữ sĩ Thụy An bằng giọng ai hoài.
Ngọc Giao và Đỗ Tuấn đều giống cha ở diện mạo khôi ngô. Ngọc Giao tên thật là Đỗ Đình Giao có khuôn mặt trắng trẻo và đẹp như ngọc, đẹp như tài tử Rudolph Valentino. Giọng hát anh trong trẻo, ngọt ngào và vang vọng sang sảng. Chưa ai hát bản “Ai Xuôi Vạn Lý” của Lê Thương tuyệt vời như anh. Giọng anh mỏng như lụa the, nhưng bền dẻo như thép và sáng vằng vặc như trăng rằm, càng lên cao càng vang lộng. Đã vậy chuỗi ngân lại đều đặn và óng ả. Mỗi khi hát, anh như rót từng đợt suối mát vào tâm hồn người. Tuy đẹp trai
và ca hay, nhưng anh không xuất hiện trên sân khấu. Ngọc Giao là sĩ quan cao cấp trong ngành Quân Cảnh và cũng là chồng của nữ ca sĩ Mai Hân. Nhưng khi qua định cư bên Mỹ, cả hai lại rã nhau. Mai Hân hiện giờ định cư bên Cali, cộng tác cho chương trình Việt ngữ của đài phát thanh bên tiểu bang ấy.
Đỗ Tuấn tên thật là Đỗ Đình Tuân, đẹp trai và hát hay không kém Ngọc Giao. Trong khoảng 1955 đến 1960, anh hát thường xuyên cho đài Sài Gòn. Anh không vì ca hát mà bỏ phế việc học. Những bản âm hưởng nhạc bán cổ điển như “Ngọc Lan” của Dương Thiệu Tước, “Dạ Lai Hương” của Phạm Duy, “Xuân Ly Hương” của Phó Quốc Lân đều được anh hát thật điệu nghệ. Đôi khi anh song ca với Kim Tước các bản nhạc vũ trường vui nhộn. Khách sành điệu thường đợi chờ lúc Ngọc Giao và Đỗ Tuấn cất giọng lên cao, giọng tuy xé lụa
mà không gắt, và trái lại ngọt ơi là ngọt như cam Cái Bè, như mận Trung Lương nghe sướng tai biết ngần nào!
Đỗ Tuấn khi qua bên Mỹ lấy được bằng Tiến sĩ Văn Chương. Anh có nhà xuất bản Văn Khoa và tiệm sách Văn Khoa. Năm 1988, anh xuất bản quyển truyện dài Đêm Chong Đèn của tôi. Ngọc Giao và Đỗ Tuấn có người em gái tên là Lĩnh Mai. Lĩnh Mai kết hôn với họa sĩ tài hoa và nổi tiếng Nguyễn Trung. Ngoài ra, đứa em trai út của họ là Đỗ Đình Phương nổi danh ở ngón đàn Tây-ban-cầm tuyệt kỹ, trước năm 1975 thường trình diễn trên đài Truyền Hình Việt Nam hoặc trên các sân khấu Đại nhạc hội.
* Duy Trác:
Tên thật là Khuất Duy Trác, một giọng hát già dặn và gợi cảm. Làng ca nhạc Việt Nam có bốn giọng trầm. Đó là Dạ Chung, Ngọc Long, Duy Trác và Sỹ Phú. Nhưng trong các giọng trầm chỉ có giọng Duy Trác gợi cảm nhất. Tiếng hát anh trầm và dội sâu, lại thừa hơi để ngân nga. Những bản nhạc của Đoàn Chuẩn & Từ Linh và những bản có chỗ xuống trầm như “Nhắn Gió Chiều” của Nguyễn Thiện Tơ, “Chung Thủy” của Văn Phụng đều là những bản để anh trổ tài. Anh hát chẳng những tròn tiếng mà còn diễn tả một cách truyền cảm. Anh Ngọc hát giỏi, còn Duy Trác hát hay. Tiếng hát của anh chẳng những đầy vẻ nam tính và theo nếp chân truyền mà còn có cái quyến rũ thâm trầm và sắc đậm. Trước năm 1975, Duy Trác có cho giọng hát của mình thâu vào bang nhạc “Tứ Quý” gồm bốn giọng thời danh và sáng giá là Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác và Tuấn Ngọc. Duy Trác coi chuyện ca hát là chuyện phụ, chuyện giải trí. Anh cố công ăn học để trở thành thẩm phán tòa án. Dù được nhiều ban nhạc ở Đài Truyền Hình mời xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, dù nhiều ông bầu tổ chức Đại nhạc hội mời trình diễn trên sân khấu, nhưng Duy Trác một mực từ chối. Trong xã hội Việt Nam, một ông thẩm phán ca hát đã là hơi kỳ kỳ rồi, nếu “ông ta” lại xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu và trên màn ảnh Tivi thì lại còn kỳ cục tới đâu. Khi ra hải ngoại và định cư ở tiểu ban Texas (Hoa Kỳ), Duy Trác bảo rằng sở dĩ anh không xuất hiện trên sân khấu hoặc trên Tivi là tại anh không dạn dĩ trước mắt công chúng. Đó chỉ là một cách nói chống chế thôi. Xã hội chúng ta ở trong nước đâu được phóng khoáng như xã hội trong cộng đồng của người Việt ở các tiểu bang của Hoa Kỳ. Vả lại khi ra ngoại quốc, Duy Trác đâu còn là một ông thẩm phán nữa, mà là một kẻ tị nạn mà thôi. Lớp sóng phế hưng và vận mệnh điêu linh của đất nước cùng cuộc sống trên đất tạm dung đã xóa nhòa một Duy Trác thẩm phẩm để nhường chỗ cho một Duy Trác ca sĩ chiếu sáng. Nhưng than ôi, trên một băng hình do Thúy Nga sản xuất, Duy Trác xuất hiện với mái tóc nhuộm đen cẩn thận, nhưng trông mặt anh thật tang thương, dù nó còn giữ một vài nét khôi ngô và trí thức đi nữa. Tuy nhiên giọng hát của anh vẫn không hề mất phong độ, vẫn mặn nồng gợi cảm như vào thuở hãy còn là tiếng hát của thời thanh xuân thơ mộng xa xưa. Theo tôi, thôi thì anh nên hát thâu vào băng nhạc và vào dĩa nhạc là hơn.
* Duy Khánh:
Đây là một giọng hát khỏe và truyền cảm. Kể ra về sắc vóc, Duy Khánh hồi còn thanh xuân cũng khá bảnh trai, nước da sáng hồng, mặt mũi có nhiều nét hài hòa. Duy Khánh hát dân ca khá đạt, với điều kiện là anh đừng thả giọng cung văn nhiều trong lúc diễn tả bài hát. Giọng anh sang sảng và vang dội, thật nồng ấm, như rải tràn ngập sân khấu và hí viện chất men say đắm. Giọng anh cũng hợp với những bản blues. Tiếc thay, nhiều lúc cao hứng anh thả cái giọng lơ lớ của dân ca miền Trung vào những bản nhạc mà anh trình bày làm người nghe có cảm tưởng anh bỏ mắm nục mắm nêm quá tay vào những món ăn thanh tao. Và cũng tiếc thay, chuỗi ngân của Duy Khánh lại bén nhọn như răng cưa. Nhưng dù sao, đối với quần chúng, giọng hát anh ngấm sâu vào tâm hồn họ, ngấm sâu sắc và bền bỉ vào cả một thế hệ khán giả trẻ tuổi trong ba thập niên 50, 60 và 70. Trong ba năm chót của thập niên 50 và trong ba năm đầu của thập niên 60, anh cùng Thanh Thúy, Lệ Thanh chiếm hàng đầu về mục ăn khách ở các hãng dĩa, ở sân khấu Đại nhạc hội.
Duy Khánh có một thời là chồng của Tuyết Mai. Anh sáng tác nhiều bản nhạc nổi tiếng như “Ai Ra Xứ Huế”, “Lối Về Đất Mẹ”, “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê” … Có lẽ chỉ có bài “Ai Ra Xứ Huế” là đạt đủ tiêu chuẩn nghệ thuật hơn cả.
Anh hát bài “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” thật hay, làm cho tác giả bài hát ấy (Phạm Duy) rất khoái tỉ khi ngồi nghe anh hát. Những bài âm hưởng nhạc Huế như “Nhớ Huế” của Lê Mộng Nguyên, “Tiếng Xưa” và “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước được anh diễn tả rất đạt. Và có lần, tôi được nghe anh hát bài “Đường Chiều” của Hồng Duyệt và bài “Tôi Còn Yêu Tôi Cứ Yêu” của Phạm Duy vốn là hai bản blues cũng rất thống khoái.
Nói gì thì nói, dù giọng Duy Khánh ưa pha đục ngầu mắm nục mắm nêm, nhưng nhiều nhạc sĩ có tài năng vững chắchoặc nhiều nhạc sĩ gà mờ phải biết ơn anh. Nhờ anh mà loại nhạc âm hưởng dân ca của họ mới được mọi lớp quần chúng biết đến. Duy Khánh chỉ có cái nhược điểm là không thể trình bày sành điệu một ca khúc âm hưởng nhạc bán cổ điển mà thôi. Anh mở đường cho nhiều ca sĩ sau nầy như Chế Linh, Anh Duy.
Có một dạo, mỗi khi Duy Khánh chường mặt lên Tivi là bị nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang viết những câu khích bác anh ở mục “Điểm Mặt Tivi” trên tuần san Minh Tinh. Tức quá anh nhắn nhe qua mấy anh ký giả chơi thân với Hoàng Hương Trang, thách Hoàng Hương Trang đối thoại với anh về vấn đề âm nhạc. Chị Trang không nhận lời mà còn bồi thêm một câu ở mục “Điểm Mặt Tivi” rằng: “Xin nhắn ca sĩ Duy Khánh, nếu có chường mặt trên Tivi, nhớ vẽ đậm cặp chân mày, kẻo không khán giả có cảm tưởng khuôn mặt anh trắng và phèn phẹt như tảng bánh đúc”. Tức quá, Duy Khánh thuê một anh ký giả nổi tiếng là ác ôn côn đồ viết một bài chửi chị Hoàng Hương Trang rằng với sự nghiệp văn nghệ chẳng có gì, với tuổi nghề viết báo chẳng có là bao, với kiến thức âm nhạc thì cạn mỏng, nhưng chị dám giở trò láu cá với một nghệ sĩ thâm niên như Duy Khánh. Từ đó, chị Hoàng Hương Trang mới hết dám đá động tới Duy Khánh nữa.
* Hùng Cường:
Đây là giọng ténor vừa cao vừa khỏe. Anh xuất hiện trong làng ca nhạc từ năm 1955. Anh ưa hát những bản nhạc có nhiều chỗ lên cao như “Tiếng Dương Cầm” của Văn Phụng, “Vọng Ngày Xanh” của Khánh Băng, “Mộng Đẹp Ngày Xanh” của Hoàng Trọng. Thuở anh mới bước vào làng ca nhạc, đa số thính giả hơi khó chịu vì khi lên cao anh rống dữ dội. Nhưng họ có biết đâu đó là giọng dũng mãnh, khi lên cao vẫn hát tròn tiếng (pleine voix) và thừa hơi để ngân nga. Hùng Cường “đô” con, lại tập thể dục thẩm mỹ nên có bắp thịt đẹp. Nhận thấy Tân nhạc không thể nuôi sống mình nên anh tập hát Vọng Cổ và đầu quân cho gánh Ngọc Kiều do cặp Hoàng Kinh và Ngọc Đán làm giám đốc. Chính ở lãnh vực mới nầy giúp tên tuổi anh đi sâu vào quần chúng. Về sau, vào thập niên 60, tên tuổi anh chói lọi trên các sân khấu cải lương như Kim Chưởng, Dạ Lý Hương v.v … Anh trở thành một danh tài ngành nầy đồng hạng với Hữu Phước, Thành Được, Thanh Hải … Cải lương chi bảo Bạch Tuyết là bạn đồng diễn lý tưởng của anh. Tuy hốt bạc bên cải lương, nhưng anh không bỏ tân nhạc và thường song ca với Mai Lệ Huyền những bản ca tụng lính thật quấy nhộn.
Song song với kịch trường và tân nhạc, Hùng Cường còn đóng phim Bạch Viên Tôn Các bên cạnh Kim Cương, Chân Trời Tím bên cạnh Kim Vui và Mộng Tuyền, Điệu Ru Nước Mắt bên cạnh Thiên Trang, Nắng Chiều bên cạnh Thanh Nga và Phương Hồng Ngọc, Mãnh Lực Kim Tiền bên cạnh Thanh Nga, Mai Lệ Huyền. Hùng Cường về sau quen hát loại nhạc kích động nên khi hát những bản nhạc tình anh vẫn giữ thói ụa mửa, gào rống, nhún tới nhún lui và quậy phá lung tung làm kẻ sành điệu phải nhăn mặt. Bớt điệu, bớt ẹo và bớt phá phách, bớt làm quỷ làm yêu thì đây là một giọng hát rất hiếm quý. Bản “Hàng Hàng Lớp Lớp” của Nguyễn văn Đông được anh cùng Hà Thanh hát và thâu vào dĩa nhựa làm khách mộ điệu phải say sưa. Bản “Ông Lái Đò” của Hiếu Nghĩa và bản “Mấy Dặm Sơn Khê” cũng của Nguyễn văn Đông được anh diễn tả cực kỳ truyền cảm.
* Thanh Thoại, Hồng Phúc:
Thanh Thoại hát thật lâu, suốt 20 năm có lẻ mà vẫn không nổi tiếng. Bởi tiếng anh không có gì đặc sắc, làn hơi không phong phú, chuỗi ngân rời rạc. Anh có một thời hát chung với Tuyết Nhung, nhưng vẫn không làm ai chú ý. Sau đó, anh cùng Phùng Trọng và Hoàng Long lập ban Tam Ca Số Dzách, bắt chước theo ban A.V.T. hát những bản hài hước theo điệu chầu văn. Ban Tam Ca Số Dzách cự đương không lại ban A.V.T. nên rút lui sớm. Về sau, Thanh Thoại làm nghề chuyển âm cho tài tử Trần Quang trong các cuốn phim do Trần Quang đóng.
Hồng Phúc cũng ca nhiều năm trên đài Sài Gòn, đôi khi anh cũng xuất hiện trên sân khấu Đại nhạc hội, nhưng vẫn không nổi tiếng. Anh cũng thường song ca với Tuyết Anh những bản dân ca kiểu mambo trên làn sóng điện, nhưng vẫn không làm khán thính giả bốn phương chú ý.
Hồng Phúc có giọng hát tinh luyện hơn giọng Thanh Thoại, dàn trải làn hơi thật nghề, ngân nga thật rựa ràng. Thật ra, giọng anh không lảnh lót. Đây là một giọng lu chìm, mềm mại thì có, vang lộng thì không. Dù giọng ấy có âm sắc đẹp, nhưng trên sân khấu Đại nhạc hội, nó không ăn micro. Đã vậy anh hát rất chân phương, không biết diễn tả sao cho hấp dẫn. Xem và nghe anh hát, khán thính giả chỉ muốn anh hát cho mau hết để nhường tiết mục trình diễn cho ca sĩ kế tiếp. Tuy nhiên, trên làn sóng điện, thính giả sành điệu có thể thưởng thức kỹ thuật già dặn cùng âm sắc đẹp của anh khi anh hát những bản nhạc tình ướt át.
* Hoàng Cầm:
Anh có một thời ra hát ở Đài Phát thanh Huế. Vào năm 1957, anh mới trở về Sài Gòn cộng tác với ban Dân Nam và song ca với Túy Phượng. Hoàng Cầm đóng kịch tạm được, ca hát tầm thường. Giọng anh không có gì đặc biệt. Khi đóng kịch thì anh thủ vai nhì bên cạnh Vân Hùng chuyên thủ vai chính. Khi Vân Hùng rút lui khỏi ban Dân Nam thì ông bầu Anh Lân không dám đôn Hoàng Cầm lên ngôi vị kép chánh mà phải mời Ngọc Đức về thay chỗ cho Vân Hùng. Hoàng Cầm rất đẹp trai, một vẻ đẹp của một người lai Âu. Khuôn mặt anh có những nét thô vụng xen với những nét thanh tú, nhưng sự kết hợp của chúng hài hòa một cách tuyệt vời. Đó là một khuôn mặt mát như lụa và sáng như gương. Khi anh cùng Túy Phượng xuất hiện trong các màn song ca thì khán thính giả trầm trồ không ngớt thần thái tươi tắn và rực rỡ như một vầng trăng sáng nguy nga của anh. Giọng anh cũng là giọng lu chìm. Anh ngân nga cũng không vững. Được một cái là với làn hơi không phong phú, anh biết dàn trải và xử dụng làn hơi ấy khá thuần thục. Cho nên không bao giờ anh hát gãy hay hát hao hụt làn hơi ở các chỗ hiểm hóc trong bài hát. Vào những năm 1962, 1963, thần thái của Hoàng Cầm lu mờ một cách thảm hại, anh lại mập mạp nặng nề. Anh đành giải nghệ sau đó ít lâu. Trước khi giảm sút dung nhan, anh có đóng một vai phụ trong phim Mười Năm Giông Tố bên cạnh Thẩm Thúy Hằng và La Thoại Tân, nhưng anh cũng không gây một tiếng vang nhỏ nhoi yếu ớt nào.
* Thúy Nga:
Người nữ ca sĩ nổi bật trong giai đoạn nầy là Thúy Nga. Chị xuất hiện trong ca giới nhạc trường bằng hào quang chiếu xa rộng, bằng cơn địa chấn chưa từng có, át đi ánh sáng danh vọng của Thái Thanh và của Ngọc Cẩm trong một thời gian khá lâu. Thúy Nga có dáng dấp nữ sinh hơn là một nghệ sĩ: khuôn mặt dịu dàng phúc hậu, trang điểm kín đáo. Mái tóc chị buông xõa như tóc gái Huế, áo dài một màu thuần nhất, nhưng lại là màu nhạt hoặc màu nguội. Chị đeo nữ trang rất thanh nhã kín đáo, đôi hoa tai nạm ngọc lựu, sợi giây chuyền với cây thánh giá bằng vàng. Đặc biệt nhất chị ôm chiếc phong cầm khi xuất hiện trên sân khấu để vừa hát vừa đệm đàn. Dù lúc hát, chị không diễn tả nét mặt theo ý nhạc, không làm nũng với khán giả, nhưng tiếng hát chân phương ấm áp của chị thôi miên khán giả một cách dị kỳ. Họ nín thở để nghe chị hát, tâm trí họ hoàn toàn bị tiếng hát của chị chi phối.
Thúy Nga có giọng khàn đặc, nhưng đây không phải là giọng trầm contralto. Khi xuống trầm, giọng chị mỏng và bở rệt. Nhưng lần đầu tiên, khán thính giả nghe được giọng khan ở một người nữ nên họ chiếu cố đặc biệt. Tuy họ bảo đó là giọng vịt đực, nhưng giọng chị rất gợi cảm, tuy cách diễn tả bài hát đơn giản, nhưng nó có sức thu hút ma quái. Từ năm 1955 cho tới năm 1961, đây là thời đại hoàng kim Thúy Nga. Những bài dân ca theo thể điệu mambo của Lam Phương hay của Hoàng Thi Thơ nếu được chị hát qua vài lần là nổi tiếng
ngay. Cùng với đôi song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết, Thúy Nga vô dĩa xối xả. Thúy Nga cắt mái tóc thề thơ mộng để uốn quăn. Đó là điềm chị sẽ đi lấy chồng. Phu quân của chị là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Sau đó, chị hát ở đài phát thanh nhiều hơn và xa lánh dần dần ánh đèn sân khấu của các buổi Đại nhạc hội. Ở trường hợp của Thúy Nga, câu châm ngôn “bạo phát bạo tàn” không phải là câu sai ngoa vậy. Chị đến vòm trời ca nhạc như một ngôi sao chổi, sự xuất hiện lộng lẫy huy hoàng khá ngắn ngủi. Sau chị, có những giọng khàn như các giọng Bạch Yến, Thanh Thúy, Phương Tâm, Mary Linh, Nhật Thiên Lan. Sau đó là những giọng Lệ Thu, Khánh Ly, Carol Kim, Cathy Huệ, Pauline Ngọc, Minh Xuân, Jenny Mai …
Anh không biết em còn sống dưới hầm đá biệt giam ở trại Đầm Đùn hay đã chết rồi. Nếu em còn sống, em đang đếm từng ngày trong bóng tối lạnh lẽo. Nếu em đã chết, xác em chôn dưới vùng đất của quê hương, chẳng ai rõ. Chắc chắn trên nấm mồ hiu quạnh của em, thiếu cái mộ bia mơ ước như em thường nói với anh, hồi chúng mình nằm chung xà lim số 7 hôi hám của C1 đề lao Gia Định. Em mơ ước gì nhỉ? Em muốn mộ bia của em khắc Búa Liềm và Còng Mỹ. Và em giải thích rằng, vì Còng Mỹ và Búa Liềm mà em chiến đấu và em hy sinh tuổi trẻ của em. Mơ ước của em thật lạ lùng. Nó cũng lạ lùng như sự dấn thân lãng mạn và cô đơn của em, của bạn bè em, của một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam tuyệt vời.
Em nhớ chứ, Trường thân mến, hôm đầu gặp gỡ, anh thử em bằng câu hỏi ngờ vực và bằng sự phán xét kẻ cả về mục đích em theo đuổi, em đã trả lời anh : « Em kính mến anh lắm. Nhưng con đường em đi em tin là chính đạo và lý tưởng. Mong anh đừng bàn tán rắc rối ». Anh phục em từ đó. Chúng ta thân nhau. Trong tù, dĩ nhiên. Em kể anh nghe cái động lực xui em chiến đấu và sự trở về đời sống thảnh thơi, im lặng của em. Thế thôi. Là đã hừng hực mặt trời tuổi trẻ. Là đã vằng vặc mặt trăng tuổi trẻ. Ở tù không hứa hẹn gần nhau lâu, anh bị chuyển xà lim, chuyển dài dài, chuyển phờ phạc. Anh phiêu lưu khắp cõi đề lao. Cuối cùng, anh gặp Ngô Tỵ tại xà lim số 3 C1. Ngô Tỵ nói về em: « Em không hề biết mặt thằng Trường khi em gia nhập tổ chức của nó. Em vẫn tưởng nó phải lớn tuổi, to con, đầy vẻ bí mật. Nằm khu A, buổi sáng, đi đổ rác, em gặp tráng sĩ chùa An Lạc, em hỏi tráng sĩ chứ « đảng trưởng » đâu, tráng sĩ kéo một thằng lùn tì, đeo kính cận ra cửa xà lim khoe em. Em bèn hỡi ơi, « đảng trưởng » của mình nhóc hơn mình ». Anh hỏi Ngô Tỵ: « Bây giờ em còn phục nó không? » Ngô Tỵ cười: « Nó hay thật, anh ạ! » Em đã quyến rũ bao nhiêu bạn bè, em đã quyến rũ anh. Em tuyệt diệu.
Anh gặp thêm Đinh Cường, Đinh Dũng, Đinh Vương, Nguyễn Khánh Long, Đặng Cơ Bản, Đặng Hữu Trí… Rồi lang thang sang khám Chí Hòa, anh gặp vô số những khuôn mặt yêu nước khiến anh lợm giọng. Và anh buồn bã là không còn được sống với các em. Những khuôn mặt yêu nước : những anh già nua thèm danh vọng trải dài đời mình qua các chế độ chưa nắm nổi một địa vị bình thường, những anh thèm thuồng quyền bính đến ngớ ngẩn tội nghiệp đã tụ tập nhau mưu đồ phục hồi dĩ vãng tanh ươn. Họ lập chính phủ, phong cho nhau làm tổng thống, thủ tướng, tổng trưởng. Một xà lim của anh có đến… ba nội các. Và ba vị thủ tướng hết chửi nhau vì quan điểm chính trị lại chửi nhau vì cơm chia không đồng đều, vì chỗ ngủ thiếu ni tấc! Anh gặp những ông quận trưởng vẽ vời chức tước tỉnh trưởng ngày mai. Anh gặp những ông chánh án, dự thẩm vẽ vời món tiền lương « ráp pen » ngày mai. Anh gặp những ông tá vẽ vời sao tướng ngày mai. Anh gặp những ông trung sĩ đang là sư đoàn trưởng hôm nay. Anh gặp những ông tư sản mại bản mơ ước tiếp thu tài sản cũ… Tất cả đều nhận mình chống cộng sản vì tổ quốc và dân tộc… Họ ưa kể lể công lao nằm tù của họ. Nằm tù, với họ, là cái gì thiêng liêng, cái gì đầy đủ đặc quyền đặc lợi khi cộng sản tan rã. Nằm tù, với họ, là sự ngưỡng mộ của toàn dân, mặc dù họ vì vạ miệng, vì sau mèm nói láo, vì ham danh vọng nhào vô, vì tự ý dẫn xác đi trình diện xin ở tù. Các em khác hẳn họ. Các em khiêm tốn. Các em im lặng. Chiến đấu im lặng. Sa cơ thất thế im lặng. Đau khổ im lặng. Và thành công càng im lặng hơn. Mà các em đã làm gì có quyền bính? Mà các em đã hưởng thụ được gì từ quyền bính của dĩ vãng? Anh chợt nhớ một câu văn bất hủ của nhà văn Ngọc Giao trên trang đàu tiểu thuyết Nhà quê : « Con ốc nhỏ trối giạt trên bãi cát, bé nhỏ thế thôi, câm nín thế thôi, thế mà trong lòng nó chứa đựng cả sóng gió của đại trùng dương đấy, bạn ạ! » Em, các em, chính các em là những con ốc nhỏ cô đơn và vĩ đại đang trôi giạt trong lòng dân tộc. Ý nghĩa chiến đấu của em, của các em, anh thấy nó từa tựa tư tưởng của một nhân vật của nhà văn Erich Maria Remarque trong « The night in Lisbon » : khi thế giới còn những bọn dã man tàn bạo và mình còn khả năng chống lại chúng mà không dám chống thì đó là tội ác. Nhân vật này cho giấy thông hành người khác, ông ta khước từ trốn sang Mỹ, ông ta ở lại Âu Châu, gia nhập lính lê dương để chiến đấu diệt phát xít. Các em cũng khước từ tất cả để chiến đấu chống cộng sản vì, dân tộc chúng ta, dân tộc Ba Lan, Tiệp Khắc… đang đầy ngập bọn dã man tàn bạo, đang bị trùm kín bóng tối của chủ nghĩa cộng sản đốn mạt. Một bông hồng nào cho em, Trường thân mến. Anh chỉ mới mừng tuổi em hộp diêm, mùng một Tết 1976 ở đề lao Gia Định. Và em rất thông minh, nói nhỏ: « Vâng, em sẽ mãi mãi giữ lửa »!
Em thừa hiểu, tù nhân như anh em mình, cộng sản chẳng dại gì mà nhốt một chỗ lâu ngày. Họ phân tán dần dần. Sớm gần, chiều xa. Tháng 5 năm 1977, em chuyển trại, các em chuyển trại. Tháng 12 năm 1977 anh sang Chí Hòa. Tháng 11 năm 1978, anh bị đầy vào rừng già Sa Ác. Tháng 2 năm 1980, anh về Hàm Tân. Đầu năm 1981, tù nhân ở trại Nam Hà B được điều về miền Nam. Khoảng 500 người nhập trại Hàm Tân, Z30D. Anh gặp vài anh bạn cũ. Có Vũ Xuân Thông, trung tá, chỉ huy phó lữ đoàn Biệt Cách Dù 801, tài tử cao ráo, bô trai trong phim Người tình không chân dung. Bạn anh kể cho anh nghe một cuộc vùng dậy ở Nam Hà B do nhóm 28 « ông nhóc » dưới sự lãnh đạo của Lương Việt Cương đã thổi lửa vào tâm hồn mấy ngàn sĩ quan từ lâu đã cam đành. Lương Việt Cương, anh nhớ lắm chứ, mắt ốc nhồi, giáo sư toán lý hóa, còn trẻ, hồi làm sinh viên ở Đà Lạt đã chan chứa nhiệt tình, hồi ở đề lao Gia Định đã từ cachot này qua cachot khác. Anh nôn nao quá, vội hỏi : « Nhóm 28 ông nhóc có Hoàng Sơn Trường, Đinh Vượng, Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long »? Có, có, có… Họ trả lời anh. Vậy là em đã bị lưu đày ra tận miền Bắc. Những địa danh nào đã in dấu chân em?
Cuối năm 1981, anh được tha. Amnesty International đã can thiệp cho anh tận tình bằng một sự trao đổi không lỗ vốn cho cộng sản. Tháng 3 năm 1983, anh vượt biên. Thuyền anh ghé Mã Lai. Ở đảo Pulau Bidong anh gặp Trần Dân Chủ và Nguyễn văn Nhiệm. Hai người này, cựu trại viên Nam Hà B, kể thêm những chi tiết hào hùng của 28 tên phản động vĩ đại. Anh liền nghĩ tới một truyện dài mang tựa đề thú vị Bầy sư tử lãng mạn.
Tháng 10 năm 1983, anh đến Paris. Anh tìm đọc cuốn “Goulag vietnamien” xem anh tù nhân bất đắc dĩ này viết gì về đề lao Gia Định. Cha chả, một cái xó xỉnh đề lao Gia Định thì thấm thía gì với nền tù đày của cộng sản việt nam. Vậy mà người ta dám phóng lên thành thứ goulag khiến độc giả ngoại quốc cứ tưởng đó là đỉnh chót vót của thống khổ ngục tù. Tác giả nằm tù đâu có bao lâu. Ông ta chưa có kịp ghẻ mà. Phi ghẻ bất thành tù… đề lao. Ông ta viết tàm bậy, tàm bạ. Chỉ riêng hai chi tiết anh sắp kể đã đủ liệng cuốn “Goulag vietnamien” của ông ta vào thùng rác vỉa hè. Ông ta bảo cụ Cao văn Diên (phòng 7C1 mình đó, em nhớ chứ?) không phải là phản động và cụ chết ở đề lao. Láo toét, cụ là phản động nặng, bị đầy lên trại Gia Trung, Pleiku và cụ chết bệnh ở Pleiku. Ông ta bảo anh đã chết rồi! Ông ta bảo ông ta lấy được khối chữ ký tù nhân tư tưởng… Trước khi ông ta được tha để leo máy bay sang Pháp, ông ta nằm trong phòng như gà kỹ nghệ, ai mở khóa cho ông ta lang thang khắp trại lấy chữ ký, ai dám ký, ai cho phép ông ta xử dụng giấy bút? Thế mà ông ta nổi tiếng, ông ta dùng cái dĩ vãng tù đầy ân huệ của ông ta để nhảy vào công cuộc… giải thoát dân tộc! Những thứ như ông ta không thiếu gì ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc… Anh chạnh nghĩ tới em đang nằm dưới trại Đầm Đùn, và anh bất bình. Luôn luôn, chúng ta thừa thãi bọn tiêu bạc giả. Và bọn tiêu bạc giả cậy mình vô liêm sỉ, dùng bạc giả của chúng khỏa lấp dư luận, bôi bẩn những người công chính. Còn em, còn bạn em, ai biết đến cuộc chiến đấu cô đơn của em?
Anh hiểu em. Anh hiểu em nhiều lắm. Em đi chiến đấu hôm nay như năm xửa năm xưa em xé vở gấp tàu bay đẹp phóng lên trời, gấp tàu thủy xinh thả trôi giòng nước. Em phơi phới. Em chuyền nhảy. Em làm đẹp cuộc đời và không cần cuộc đời biết đến, không bắt cuộc đời nghĩ đến. Có nhiều cuộc đời nhỏ trong một cuộc đời lớn. Cuộc đời lớn không biết đến em vì thật sự không biết hay chưa biết. Nhưng cuộc đời nhỏ, vốn dĩ nó nhỏ, bản chất nó hẹp hòi, nó biết đến em mà nó cứ giả vờ không thèm biết. Nó sợ hãi biết đến em, sợ hãi nói về em với cùng khắp cuộc đời. Nó lo ngại em nổi tiếng hơn nó, em trở thành thần tượng, em trở thành đại thụ còn nó chỉ là cỏ hèn. Nó ghen với em. Và nó tìm cách hãm hại em, cô lập em, bôi bẩn em. Nó không dám chiến đấu bằng con số không thật tròn trong hình vuông thật đẹp đâu. Nó phải bấu víu lấy cái tước vị quá khứ phù ảo và chua ôi làm lý tưởng. Những đứa ghẻ lở, hắc lào rất sợ tắm sông trần truồng. Những đứa vô tài bất tướng lại thích khoa trương, càng ghét những tài năng vàng mười. Vậy thì giữa cuộc đời nhỏ đầy rác rưởi và em đã có một phân cách. Nó chiến đấu để phục hồi dĩ vãng quyền bính cũ. Em chiến đấu để khai phóng tương lai. Nó ngoảnh lại. Em nhìn lên. Nó chiến đấu cho nó. Em chiến đấu cho mọi người. Em trực diện với nghịch cảnh. Nó nằm chiêm bao nỗi khổ. Em chiến đấu bằng nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ việt nam. Nó chiến đấu bằng tiền quyên góp phè phỡn. Em không cần nó biết đến em là em xứng đáng, em được quyền kiêu ngạo.
Trong truyện dài Sỏi đá ngậm ngùi anh đã viết rằng nỗi thống khổ là văn phạm của đời sống, sự cô đơn là ánh sáng soi rõ đất trời. Em, các em, chiến đấu trong thống khổ và cô đơn, trong im lặng và thầm kín. Các em đang làm tác phẩm lớn cho đời sống, đang cố gắng để lại những dấu ấn vàng son trên sinh đạo mà các em đã một lần vượt qua. Anh, các anh, những nhà văn, nhà thơ, những nghệ sĩ sáng tạo cũng mang nỗi thống khổ và cô đơn như các em. Các anh đã, đang và còn làm tác phẩm cho đời sống. Phải nói một cách khẳng định rằng, chỉ có nghệ sĩ sáng tạo mới biết làm đẹp đời sống, chỉ có nhà văn, nhà thơ mới đủ tài năng và thẩm quyền làm đẹp đời sống của những ai làm đẹp đời sống. Chúng ta đau khổ, chúng ta cô đơn, chúng ta im lặng chịu đựng. Bởi vì chúng ta làm việc để làm việc, chúng ta không làm việc để phô trương. Hình như chúng ta vẫn chưa yên thân. Chúng ta vẫn bị cái thứ cuộc đời nhỏ rình rập nghi ngờ. Thứ cuộc đời nhỏ gồm một lũ thích ngồi trong xó tối giả giọng chó sủa gây khó chịu cho người đi ngoài ánh sáng. Thứ cuộc đời gồm một lũ chẳng thích làm gì mà chỉ sợ người khác làm hơn mình. Cái thứ ấy, trong Thuyền nhân, anh viết: “Bao giờ biết nổi giận? Bao giờ trời gầm thét? Bấy giờ, vòng tròn bao la sẽ là cõi mịt mù và con thuyền vượt biên ngoi ngóp trong cái cõi mịt mù khốn cùng đó. Và con người lại càng hiểu giá trị làm người của mình không bằng tấm mảng mục. Con người sẽ sợ hãi, sợ chết. Con người sẽ khóc lóc, than van. Con người sẽ biến mất những ích kỷ hèn mọn, những ghen tuông đê tiện, những phán xét ngu muội. Con người, bấy giờ, bỗng thèm sống và tự hứa với chính mình, nếu sống sót sẽ cố sống ra vẻ một con người. Những kẻ thích thị phi người khác, thích nghị luận những lầm lỗi mơ hồ của người khác, thích phán xét người khác bằng những điều đồn đại, vu khống, thích nằm chiêm bao nỗi khổ, chằng khi nào được vinh dự chìm đắm giữa mù khơi, ngoi ngóp trong nỗi sợ. Những kẻ ấy, những kẻ giả hình ấy, chỉ cần một phút chênh vênh trên đường chết, năm phút nhức nhối tinh thần, mười phút quặn đau thể xác là gục xuống cúi lạy cái quyền uy có thể ban phát cho chúng kiếp sống cỏ dại. Chúng sẽ khả ố, bỉ ổi gấp triệu triêu lỗi lầm của những người bị chúng phán xét oan ức. Bất hạnh cho bọn giả hình, Thượng Đế đã không bố thí cho chúng một miếng ân sủng nhỏ về nỗi cô đơn và niềm thống khổ. Do đó, một đời tẻ nhạt chúng đeo đuổi, chúng chỉ loay hoay trong cái vòng tròn nhỏ bé đánh đai bởi những ý nghĩ bẩn thỉu của kèn cựa, tranh giành, vu khống, chụp mũ, nói xấu, bôi bẩn và nhục mạ người vắng mặt. Chúng ngu dốt, không biết định nghĩa hai tiếng cao thượng. Chúng hèn nhát, không dám đối mặt người công chính. Chúng lầm lũi như bọ hung. Chúng chẳng thể hiểu thế nào là tồn tại, là sự phục sinh của nỗi chết. Việc làm của người công chính, ý nghĩa tốt đẹp của người công chính để lại cho đời sống sẽ phục sinh cái chết của người công chính. Tác phẩm để đời của nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ… phục sinh cái chết của họ và cho phép họ tồn tại vĩnh cửu. Bọ hung không để lại cho đời sống cái gì. Chúng chỉ để lại vết tích ô nhục trong gia phả của chúng cho con cháu chúng tưởng niệm xót xa. Người công chính đã được tuyên dương xứng đáng trong Thánh Kinh. Chúa đã dành cho họ phần thưởng trên Thiên Đàng. Dưới cõi thế, họ vẫn can đảm sống, vẫn làm đẹp đời mình, đời người khác. Vì, họ biết, đời sống chỉ có một số bọ hung, một số Lý Thông gian ác. Còn rất đông Thạch Sanh và công chúa cổ tích”.
Trường, em hiểu tại sao Lý Thông cứ muốn Thạch Sanh nằm mãi dưới hang không? À, Thạch Sanh lên đời thì Lý Thông xuống lỗ. Thạch Sanh có cây đàn muôn điệu. Lý Thông chỉ có cái đàn miệng với bài duy nhất “Người đi đường và con chó”. Vậy nó không biết đến em, nó rình rập em, nó nghi ngờ em vì nó sợ nó là lãnh tụ giả mà em là lãnh tụ thật. Nó muốn độc tôn. Nó muốn chỉ có nó quốc ngoại. Nó không muốn có ai quốc nội. Anh viết về các em, anh nhận các em là lãnh tụ cao quý, anh minh, vĩ đại của anh, nó sẽ chán lắm, cái cuộc đời nhỏ ấy mà, nó sẽ hăm he anh, nó sẽ lập tòa án (!) xử anh, nó sẽ ghi tên vào sổ đen! Ồ, chấp chi. Anh già rồi. Năm mươi tuổi rồi. Mệt rồi. Thừa thãi danh tiếng rồi. Anh không cần ai khen anh, cũng chẳng sợ ai chửi anh. Với đất nước, anh đã có 50 tác phẩm văn chương và hơn 200 số báo Tuổi Ngọc. Với đất nước, bọn đi đường và con chó không có gì. Không có gì cả. Với cong sản, anh đã đi vào “văn học sử” của họ bằng những pho sách “Những tên biệt kích trong mặt trận tư tưởng, văn hòa miền Nam”, “Văn nghệ Sài gòn dưới thời Mỹ Ngụy”, “Vụ án hồ Con Rùa”… vân vân và hàng trăm bài viết đào cha bới ông anh ở báo Hà nội, báo Sài gòn; hàng trăm bài nói nguyền rủa anh trên vô tuyến truyền thanh, truyền hình; hàng trăm buổi học tập mạt sát anh ở đại học, trung học, tiểu học, ở quận, phường, xã, ấp. Anh sừng sững cả trên “Xã luận” của báo Nhan Dân. Đến nay anh vẫn là đối tượng, vẫn còn là bia hứng tên thù cộng sản. Với cộng sản, bọn đi đường và con chó không đáng được đề cập, dù nửa chữ, nửa lời! Cuộc đời lớn còn rất đông Thạch Sanh và công chúa cổ tích. Riêng anh, còn độc giả của anh. Độc giả trong nước thương anh hơn xưa. Độc giả Hà nội say mê tiểu thuyết của anh như độc giả Sài gòn. Người ta lén lút đọc anh, chuyền tay nhau đọc anh. Độc giả ngoài nước mong đợi tiểu thuyết mới của anh, tuổi trẻ việt nam ở Âu châu còn thèm nghe điệu kèn harmonica của Chương còm, thèm xem tài bắn súng cao su của Dzũng Đakao, thèm hoan hô đường bóng của Bồn lừa… Anh có thể kết luận: bọn đi đường và con chó chỉ đủ khả năng giết chó mà không thể hãm hại được chúng ta. Vì, không có khí giới nào giết nổi tài năng đích thực và những tâm hồn ngọc. Và anh vẫn còn nơi nương tựa vững chắc. Là cuộc đời lớn bao la, rộng mở, công bình, hào sảng.
Anh sẽ tiêu pha không tiếc gì chữ nghĩa vàng son để bọc lấy những tấm lòng thơm ngát của các em, của những người tuổi trẻ việt nam chiến đấu trong thống khổ và cô đơn. Bầy sư tử lãng mạn ở quê nhà, hãy yên tâm sống và yên tâm chết. Lịch sử sẽ thay đổi. Phải thay đổi. Đó là chân lý. Và chân lý ấy phóng lên bầu trời quê hương ngút ngàn thù hận bằng cung cách sống, chết dưới hầm đá trại Đầm Đùn. Sống làm thăng hoa yêu thương, rực rỡ tình người. Chết làm phục sinh tự do, dân chủ và nở rộ hoa nhân ái trên còng tư bản, trong ngục vô sản. Cung cách sống chết khai sinh một kỷ nguyên mới của những người tiểu tư sản lãng mạn, hào sảng và ước mơ…
Thế nhé, em yêu dấu!
Chương 1
Một buổi sáng không giống những buổi sáng khác, ở trại Nam Hà B. Tù nhân đã xếp hàng đông đủ, từng đội, từng đội. Họ ngồi im lặng giữa sân tập họp, chờ đợi tiếng kẻng, chờ đợi điệu kèn xuất quân, chờ đợi hồi chuông cáo phó: thời gian cơ hồ ngừng lại. Và không gian giăng mắc sương mù. Tiếng kẻng có là cái gì đâu! Thoạt đầu, âm điệu oan nghiệt của nó mở lối cho con người đi vào thù hận. Rồi đến răn đe, dọa nạt, nhắc nhở con người hình phạt của thù hận. Con người, vốn khinh thường tiếng kẻng khi chưa gặp nó, chưa nghe nó trên sầu đạo hệ lụy, đã choáng váng, lợm giọng, buồn ói bởi âm điệu chát chúa, hụt hẫng của nó. Tiếng kẻng tù. Nó gợi tưởng muôn vàn bất hạnh, tăm tối và thê lương trong thương xót của những người xa xăm, bên ngoài hàng rào kẽm gai tập trung, bên ngoài tường cao cổng kín nhà tù. Nó gợi tưởng muôn vàn cay đắng, rã rượi và vô đơn trong nhớ nhung của những người đêm đem trở giấc lưu đầy gửi hồn mình về gia đình êm ấm. Rồi nó cũng biến thành cái gì tẻ nhạt, đều đều như củ khoai lót lòng bữa sáng, bát sắn lưng dạ bữa chiều, như chân lý của chủ nghĩa, như hạnh phúc của nhân loại, như niềm trắc ẩn của thế giới, như giọt nước mắt của cá sấu, như tất cả nhỏ mọn tanh ươn của đời sống thường hằng. Hơn mọi tiếng kẻng tù từ khai thiên lập địa, tiếng kẻng tù của thời đại chúng ta, tiếng kẻng tù cộng sản, tiếng kẻng tù của hòa bình hòa giải dân tộc còn được phổ thêm thứ âm điệu ma quái làm mê hoặc loài người, làm ngờ vực tù nhân với tù nhân, làm sáng danh cai ngục. Khi những tên đồ tể thọc dao vào cổ tù nhân, nó cười ngất hả hê nhìn máu chảy và nó bảo nó giáo dục tù nhân tư tưởng. Thì loài người bảo cõi tập trung khổ sai lao động của đồ tể là trai học tập cải tạo! Khi những tên đồ tể ném cho tù nhân những trang giấy, khích lệ phê bình và tự phê bình để tiến bộ, ban cho tù nhân này chút ân huệ và bắt phải nhận, đồng thời, trừng phạt nhiều tù nhân khác để tạo dựng ngộ nhận, chia rẽ. Thì tù nhân quên mất thủ đoạn của đồ tể, xúm lại gấu ó nhau, hành hạ nhau, nói xấu nhau. Và đồ tể hãnh diện buông lời đạo đức: các anh không thương nhau, còn ai thương các anh! Tiếng kẻng tù, ở trong đó hết.
Tại sao hôm nay, những người đã mòn vẹt thể xác, đã tê cứng tâm hồn vì tiếng kẻng tù sau nhiều năm cam đành, lại chờ đợi nó? Người ngoài cuộc, và ngay cả người việt nam không bị tù đày, thường phán xét tù nhân việt nam bằng những đôi mắt cận thị. Đã không có một thỏa hiệp, một quy chế nào cho cải tạo viên. Ở các nước xã hội chủ nghĩa không có nhà tù! Sĩ quan của chúng ta không được đối xử như tù binh. Bởi vì, họ không hề bị bắt ở chiến trường. Họ bị đẩy vào chiến tranh để làm lợi cho Mỹ và làm giầu cho bọn tướng lãnh ngu xuẩn, bọn tư sản mại bản tham lam, bọn thư lại tham nhũng. Cộng sản thôn tính miền Nam, họ phải giã từ vũ khí sau khi bọn tướng lãnh, bọn đại tá sừng sỏ đã đào ngũ chạy trốn. Và họ bị dồn vào con đường cụt của anh hùng thất thế. Ngó trước. Tiếng súng đã ngưng. Ngó sau. Tiếng súng đã ngưng. Ngó phải. Tiếng súng đã ngưng. Ngó trái. Tiếng súng đã ngưng. Bốn bề hiu hắt vắng lặng. Mà khí thế ban đầu của kẻ thù hừng hực. Nhân gian lơ láo. Đồng minh dọa dẫm biển máu, biển máu, biển máu! Người đi cải tạo tuyệt vọng. Ngày về, ở miền Nam, đã xa. Ngày về ở miền Bắc còn xa hơn. Với nghệ thuật đầy đọa thể xác và thu nhỏ cái dạ dầy lại, kẻ thù đã biến họ thành những người mệt mỏi thường xuyên, sợ hãi lao động, sợ hãi tù đày và chỉ thèm ăn, thèm ngủ. Báo chí ngoại quốc hèn nhát không dám đòi “cải thiện chế độ lao tù” và mù lòa không biết những biệt giam hôm nay rùng rợn nghìn lần chuồng cọp Côn Sơn. Đừng thiển cận so sánh cải tạo viên với tù binh cộng sản. Ngày xưa, họ bị chúng ta bắt, họ được hưởng quy chế tù binh xác định rõ rệt quyền lợi và bổn phận trong những thỏa hiệp quốc tế. Họ dám yêu sách, dám chống đối vì chúng ta nhân đạo, vì họ tin tưởng đồng chí của họ đang chiến đấu, vì họ có hậu thuẫn của báo chí Mỹ và chính phủ Mỹ! Chúng ta không có gì. Không có gì cả. Ngoài những tin đồn tự an ủi mình và lừa dối người khác. Ngoài ngọn cờ Nhân Quyền tung bay trong một ngày nắng hiếm hoi của mùa đong ảm đạm. Ngoài Hội Ân Xá Quốc Tế chỉ đủ khả năng cứu giúp những tù nhân tư tưởng, trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Cho nên, cải tạo viên cam đành và đau lòng chờ đợi sự khoan hồng của kẻ thù! Và, sáng nay, họ chờ đợi tiếng kẻng báo giờ lao động, chớ đợi một cái gì sắp xảy ra mà họ được loan báo từ đêm qua.
Kẻng tù đã khua vang. Một hồi ba tiếng. Mỗi tiếng kẻng là mỗi tiếng đập mạnh của từng trái tim lâu ngày chưa được đập mạnh, hồi hộp, mơ ước. Cửa điếm gác sát cổng trại đã mở. Người công an trực trại đang dở từng trang sổ công tác. Vệ binh, súng AK đeo vai xếp hàng ngoài cổng. Quản giáo, súng lục đứng bên trong chờ dẫn đội ra hiện trường lao động. Tù nhân im lặng. Tuyệt đối im lặng. Hàng nghìn con mắt hướng về chỗ ngồi của đội mới gồm hai mươi lăm người tuổi trè vừa được điều từ Sài gòn ra đây. Họ bị kết tội chống phá cách mạng, bị xếp vào thành phần không thể cải tạo ngắn hạn. Có nghĩa là họ bị cải tạo trường kỳ. Năm người lớn nhất: trên ba mươi. Những người khác: chưa quá hai mươi lăm. Họ không tỏ ra vẻ sợ hãi, lo lắng. Cũng không tỏ ra kiêu căng, bất cần. Họ mỉm cười với những người nhìn họ.
Công an trực trại bắt đầu làm việc:
– Đội 7!
Đội trưởng đội 7 ngồi nguyên tại chỗ. Anh không đứng lên, bỏ mũ, báo cáo quân số lao động như sáng hôm qua. Công an trực trại hô lần nữa:
– Đội 7, báo cáo quân số lao động. Điếc hả?
Đội 7 bất động. Cán bộ trực trại lờ đi, tiếp tục làm việc.
– Đội 2!
Đội 2 không nhúc nhích. Cán bộ trực trại nổi giận:
– Hôm nay các anh chống đối lao động hả?
Người đội trưởng mới nhất đứng lên. Tù nhân hướng hết về phía anh ta. Cao quá thước rưỡi, trán cao, mắt ốc nhồi, nước da xám đen, người đội trưởng mới đứng nghiêm, giọng nói dõng dạc và lễ độ:
– Báo cáo cán bộ không có ai chống đối lao động cả. Chúng tôi sẽ hồ hởi phấn khởi đi lao động ngay, sau khi cán bộ giải quyết xong vấn đề giam nhốt ba anh em của chúng tôi dưới hầm biệt giam mà không có quyết định. Chính sách của nhà nước luôn luôn sáng tỏ, chúng tôi yêu cầu cán bộ làm sáng tỏ chính sách.
Cán bộ trực trại ra khỏi điếm gác. Y đứng ngay ở thềm lát gạch, mặt vênh váo:
– Thi hành mệnh lệnh trước, khiếu nại sau.
Người đội trưởng vẫn đứng nghiêm:
– Làm sáng tỏ chính sách của nhà nước là vấn đề quan trọng.
Cán bộ trực trại xỉa xói:
– Anh học nội quy chưa?
Người đội trưởng đáp:
– Rồi.
Và anh ta đọc:
– Điều thứ ba mươi sáu: trại viên được phép nêu thắc mắc lên ban giám thị. Nếu ban giám thị không giải quyết ổn thỏa, thắc mắc sẽ chuyển lên lãnh đạo cấp trên.
– Làm gì có điều ấy, bố láo!
– Có. Ở nội quy đề lao Gia Định
– Nội quy trại này không có.
– Nhưng trại nào cũng thê, kỷ luật trại viên phải đọc Quyết định. Không đọc Quyết định của ban giám thị là cán bộ trả thù riêng tư, sai chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước.
Cán bộ trực trại quét mắt khắp sân trại. Y hằm hè:
– Các anh nhất định chống lao động hả? Chống đối lao động là vi phạm nội quy. Nội quy là pháp chế của nhà nước. Chông nội quy là chống nhà nước.
Người đội trưởng nói:
– Cán bộ đừng nâng cao quan điểm, đừng chụp mũ bừa bãi. Tôi thành thật cho cán bộ biết, chúng tôi đã nằm tù nhiều nơi rồi, nơi này là cùng đường, là chỗ chết của chúng tôi.
Anh quay nhìn các đàn anh sĩ quan:
– Sống tự do ở cái chế độ cộng sản là điều sỉ nhục thì chết ở nhà tù là một niềm hãnh diện. Tôi tuyên bố chống đối chế độ, một mình tôi đòi hỏi được xử bắn ngay.
Hai mươi bốn người tuổi trẻ của đội mới nhất loạt đứng lên:
– Bắn luôn cả chúng tôi!
Một người cảm khái:
– Sống đã là chết hèn thì chết là sống hùng!
Tự nhiên, tù nhân vụt dậy như biển đang phẳng lặng cuồn cuộn sóng lớn trong giông bão. Cán bộ trực trại và bọn quản giáo bỏ chạy ra ngoài cổng. Ổ khóa bóp lại. Vệ binh bên ngoài lên đạn AK. Những họng súng chĩa vào. Ba phát đạn bắn chỉ thiên báo động. Mặt trời le lói chút nắng sớm. Sương mù dần tan loãng. Thiếu một lá cờ. Nếu có lá cờ treo lên. Thì đã chiếm hoàn toàn tự do, dù tự do một phút, một giờ, một ngày. Hai mươi lăm người tuổi trẻ thành thần tượng của hàng ngàn tù nhân. Tuổi trẻ đã bắn thẳng vào kẻ thù những phát đạn tuyệt diệu của nhiệt tình và lòng tự phụ. Những phát đạn ấy cũng đã làm sống lại hào khí cũ những cuộc đời cam đành. Người ta vỗ tay. Người ta reo vui. Người ta hỏi han nhau. Người ta chia sẻ tâm sự. Rồi người ta trở về đội ngũ, hết sức trật tự, hết sức im lặng như chuẩn bị cuộc chiến mới. Chúng ta chưa thua. Chúng ta không hề thua. Chúng ta vừa khởi sự cuộc chiến của chúng ta, cuộc chiến của những trái tim trong thống khổ và cô đơn, hào hùng và lãng mạn.
Người đội trưởng mới khoanh tay trước ngực, giữa đám đông:
– Xin cám ơn các anh!
Những lời đồng nhất:
– Các anh phải cám ơn các chú. Các chú đã giúp các anh ngẩng mặt lên.
Người đội trưởng mới khẽ lắc đầu:
– Các anh quá khen.
Hai mươi tám người, hai mươi tám vì sao mới mọc trên bầu trời việt nam, từ Phú Khánh miền Trung mới bị đầy ra Nam Hà miền Bắc sau những năm quằn quại ở sở Công An, đề lao Gia Định, khám lớn Chí Hòa, Kontum, Lao Bảo… Họ đi với hồ sơ cá nhân của họ trong tay những kẻ còng họ dẫn độ lưu đày. Họ tới Nam Hà, ở riêng một nhà thuộc trại B, bị cô lập hoàn toàn. Tù nhân mới nhập trại đều bị cô lập. Vừa ăn xong một bữa cơm tù Đầm Đùn, ba người trong bọn họ bị công an chấp pháp xích chân lại, nhốt dưới hầm đá biệt giam tối tăm, lạnh lẽo. Để dằn mặt cả bọn bất trị, những con ngựa chứng trong xã hội chủ nghĩa, những con cua chỉ thích bò ngang mà không thèm tiến nhanh tiến thăng theo chế độ. Họ bàn tán, hoạch định đường lối giải thoát bạn của họ. Ngày thứ sáu, họ được ra khỏi nhà. Họ đã phân tán mỏng tới gặp các đội trưởng cũ và các tù nhân sĩ quan. Họ chỉ xin tù nhân khước từ lao động buổi sáng hôm sau và ngồi im để tự do hành động, tự họ chịu hết trách nhiệm. Nhiều ý kiến tiêu cực và tích cực được nêu ra. Cuối cùng, nhờ sự quả cảm của tuổi trẻ, họ đã lay động nổi cái bóng tối cam đành phủ kín lên thân phận tù nhân vô vọng, họ đã thắp lên một ngọn lửa tim soi sáng cuộc chiến đấu mới, họ đã tạo niềm hy vọng ở bên kia biên giới tuyệt vọng.
Một tù nhân hét lớn:
– Các chú không cô đơn. Có anh trong các chú.
Nhiều người khác hô vang:
– Có anh. Có tất cả. Chúng ta là một. Sống, chết chỉ nên có một định nghĩa.
Sân tù ồn ào, sôi nổi. Trật tự là cái gì? Im lặng là cái gì? Hãy để đất lệch. Hãy làm trời nghiêng. Hãy biển động… Chúng ta lấy khí thế. Nào hát đi! Cờ bay, cờ bay huy hoàng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu… Nhạc chính huấn rền vang một vùng trời miền Bắc. Ai về Đồng Tháp, hỏi thăm cây cỏ lá hoa. Quân cộng tàn phá… Mấy năm rồi mới được hát, mới dám hát. Nhạc của ta hay quá. Hát vỡ tung lồng phổi đi nào, anh em! Giặc cộng từ Bắc vô Nam, bàn tay nhúng máu anh em… Hãy hôm nay của lịch sử trang mới. Không ngày mai của vọng về di tản thụ hưởng, của những thằng tướng hèn bán rượu bệ rạc, của những thằng tá đào ngũ đội lốt thi sĩ nham nhở tặng hoa cho gái đẹp dự thi. Hãy đau khổ để khôn lớn. Không sung sướng để ngu muội. Hãy định nghĩa sự sống bằng cách chết. Hỡi kẻ thù, chúng tao là sĩ quan quân lực việt nam cộng hòa, chúng tao là lính chiến, chúng tao có tổ quốc và chúng tao yêu tổ quốc của chúng tao, chúng tao có phẩm cách và danh dự làm người, chúng tao không biết đầu hàng, chúng tao vẫn chiến đấu. Bây giờ chúng tao thực sự biết chiến đấu. Không cần Mỹ phản phúc, không vì huy chương, không vì lon lá, không vì ai cả. Mà chính vì dân tộc, tổ quốc và hạnh phúc của con cháu chúng tao.
Người đội trưởng của đội hai tám vì sao vỗ tay:
– Xin các anh im lặng, tuyệt đối im lặng.
Tiếng hỏi:
– Tại sao phải im lặng nhỉ?
Người đội trưởng đáp:
– Vì cộng sản chỉ sợ im lặng. Nó không thể đo nổi niềm im lặng của biển cả. Nó không thể biết chúng ta sẽ còn làm gì. Để nó biết tức là biểu lộ thái độ, tức là giương nanh vuốt. Nó sẽ dẹp tan chúng ta. Chưa đến lúc giương nanh vuốt. Có một thời lên tiếng và một thời im lặng như có một thời chiến tranh và một thời hòa bình, một thời thù hận và một thời thương yêu, một thời đau khổ và một thời hạnh phúc, một thời tù ngục và vĩnh cửu tự do… Sức mạnh không cần tiêu pha một lượt, các anh phải nuôi dưỡng sức mạnh cho mai này. Việc nhỏ mọn hôm nay, xin phép các anh để chúng em gánh vác.
Vậy thì tất cả lại im lặng. Người đội trưởng mắt ốc nhồi mỉm cười sung sướng. Bên ngoài cổng và chung quanh trại, vệ binh súng gắn lưỡi lê canh phòng cuộc nổi dậy của tù binh. Người ta khuân ra cả đại liên bố trí ở con đường duy nhất dẫn ra ngoài thị trấn. Trong khi, loa phóng thanh của trại ra rả giọng người cán bộ giáo dục: “Yêu cầu toàn thể trại viên tôn trọng nội quy. Các trại viên phải nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, phải tích cực lao động và tỏ rõ thiện chí cải tạo thì mới tiến bộ để sớm hưởng sự khoan hồng của đảng, nhà nước và nhân dân trở về xum họp gia đình.” Mặc kệ máy phóng thanh nhai sự khoan hồng như trâu bò nhai cỏ, như chó đói gặm xương khô, tù nhân ngồi im lặng. Mỗi người có một suy nghĩ. Nắng đã lên cao và sương mù tan biến.
Cuộc đời không cho phép tôi nằm mãi ở Nhà Hát Tây làm văn nghệ dấn thân chống Cộng để ăn cơm đĩa ghi sổ mà viễn mơ Sang Độc. Tôi rất ghét cuộc đời. Nó cắm chông dưới cằm và dưới mũi tôi. Gọi là râu và ria. Râu ria cứng ngắc, lởm chởm. Râu ria báo hiệu cho một sự ra đi. Ra đi gấp kẻo sửa soạn bắt chước Vũ Hoàng Chương mà than thở: Ba mươi năm trên vai mà trống không bình sinh. Lý Thông đã tốt nghiệp… Đại học Cán Bộ Chống Cộng. Chàng cóc cần tôi nữa. Chàng đã lên đường với cái ống loa làm sáng tỏ quốc sách chống Cộng. Bà chủ câu lạc bộ bỗng hết… quen tôi. Và con gái của bà, dù mắt toét, răng vồ, nước da mốc thếch như trăn gió, vẩn không dể bị sang độc bởi thi văn Sang Độc mà cho tôi ghi sổ ăn chịu.Cụ Phan Thanh Giản xưa “giã vợ đi làm quan”, tôi nay “giã người yêu đi kiếm cơm áo” Nhân có thằng bạn rủ lên rừng lập đảng chống chí sĩ Ngô đình Diệm, tôi đang bị bà Cả Đọi đe dạo, bèn cảm khái ngâm vang hai câu thơ: Ai trước biên thùy riêng một cỏi. Mình nay sông núi nặng hai vai và bèn nhận lời. Tôi ra đi, hát nhái lời nhạc bản Hải Quân Việt Nam của Văn Cao: Ra đi không mang va ly, mồm hút thuốc lá Mic mốc, chân đi xăng đan cao su diện áo sờn vai… Tôi đi làm cách mạng…trời ạ! Tôi đi âm thầm, bí mật y hệt một hiệp sĩ. Đám môn đệ của tôi sẽ đinh ninh là tôi và em Ngọc đã trốn lên rừng tập đóng ci nê ma với chúa mọi. Còn em Ngọc, thấy tôi tuyệt tích, chắc em sẽ khóc sưng mắt, khóc xuýt mù nếu chị Phượng không chợt nhớ ra phương thuốc bất hủ là mua cho em một đồng bạc kẹo kéo.
Đôi mắt kẻm nhẻm kèm nhèm.
Ăn đồng kẹo kéo sáng như đèn ô tô.
Tôi lẩm nhẩm đọc bài Thôi nàng ở lại của Nguyễn Bính rồi đáp xích lô máy ra bến xe đò cao nguyên. Ở trên rừng, tôi vẫn theo dõi báo chí. Tôi ngạc nhiên khi thấy những bài thơ tình Sang Độc và Hoài Hương, đòi lấp dòng sông Bến Hải của tôi xuất hiện thường xuyên trên những phụ trang văn nghệ của các nhật báo, ký bút hiệu Mộng Trinh, Thu Tâm và Cung thị Ngọc. Rồi một hôm, cùng bài thơ đòi lấp dòng sông Bến Hải đang trên ba tờ báo, ký ba bút hiệu Mộng Trinh, Thu Tâm và Cung thị Ngọc. Hai môn đệ Thạch Sanh và Vạn Lịch đã hại đời tư của tôi. Ba nữ sĩ Mộng Trinh, Thu Tâm và Cung thị Ngọc bị ba tờ báo mà các nàng cộng tác nặng lời trách móc. Tôi hết hy vọng hát câu: Chờ anh em nhé, giết xong Diệm anh về… Hẳn em Ngọc đã nghi ngờ tôi phản bội em, phát thơ Sang Độc vung vít và yêu đương vung vít, và Mộng Trinh thì chán ghét Vạn Lịch, Thu Tâm ghê tởm Thạch Sanh. Chúng nó còn các em bán quýt, bán thuốc lá lẽ, bán hột vịt lộn để tìm nỗi an ủi. Chứ tôi, trên rừng hiu quạnh chỉ có các nàng mọi ! Tôi giận Thạch Sanh, Vạn Lịch. Giận chán chê, tôi mới vỡ lẽ và khám phá một điều tối quan trọng: Trái tình đắng hơn trái bồ hòn. Tôi hiểu em Ngọc không yêu tôi. Em khôn quá xá. Em khích lệ tôi viết đoản thiên tiểu thuyết, tùy bút, thơ Sang Độc để tặng em, để em làm của riêng và em cười khúc khích. Các em khôn quá xá. Con gái là chúa khôn. Hèn chi em cứ hẹn và luôn luôn thất hẹn.
Mùa hè năm sau, tôi thất thểu ở rừng về, gặp em Ngọc đi với chị Phượng trên hè phố. Tôi không dũng một tí nào, dù tôi đã là chiến sĩ cách mạng! Dũng được Nhất Linh mô tả thật đẹp. Tóc lộng gió, chàng ngạo ngễ bước trong đám nhân gian ngớ ngẩn. Và túi chàng còn tí tiền còm, còn vợ chống ông giáo Thảo chờ đợi chàng tới ăn cơm, hút thuốc lá và tạo cơ hội để chàng gặp Loan. Tôi ấy à, tóc dài muốn chui vào lỗ tai, quần áo lôi thôi, bụng lép kẹp và ví cũng lép kẹp. Tôi đi giữa hoàng hôn.Vâng, tôi đi giữa hoàng hôn. Em Ngọc nhìn thấy tôi, nhận ra tôi, em bĩu môi kéo tay chị rẽ sang một con phố khác. Tôi đứng lặng, trông theo. Tôi là Trương Chì đây, nàng hết nghe tiếng hát của tôi rồi.Pauvre*Trương Chi! Bạn hãy dời khỏi dinh quan thừa tướng, hãy quên Mỵ Nương đi và xuống thuyền mục, chèo lẹ, quăng lưới rách mà bắt tôm cá. Bạn chớ dại dột nhảy tòm xuống sông tự tử. Cuộc đời phải thế mới là cuộc đời, rất cuộc đời, bạn ạ!
Tôi đi kiếm ba môn đệ. Thạch Sanh là người tôi gặp trước tiên. Nó vồn vã lôi tôi vào một quán kem, hỏi thăm và trách móc:
– “Ông” tuyệt tích với mục đích gì? “Ông” ra đi không lời từ biệt. Chứ “ông” về có tính ở lại không?
– Tao đi làm cách mạng.
– Eo ơi “ông” làm cách mạng à? Tại sao “ông” không rủ tôi đi với. à, ông có mang theo em Ngọc không?
Tôi lắc đầu:
– Làm cách mạng là phục vụ quê hương, tổ quốc.Cần phải cho de người yêu. Ngay vợ mình mà mình cũng đành cho phép đi lấy chồng khác để rảnh rang yêu lý tưởng cách mạng nữa là. Cách mạng ghê lắm, quyến rũ lắm…
Tôi làm bộ thở dài :
– Em Ngọc đã khăn gói quả mướp theo tao lên chiến khu, nửa đường tao đuổi em về Sài gòn. Tao quên em rồi. Còn mày?
Thạch Sanh kể lể:
– Em Tâm viết thư chửi tôi ăn cắp thơ của người khác làm thơ mình. Em Trinh của thằng Nhân cũng chửi nó. Thằng Nhân chán đời vùi đầu học hành. Nó vừa đậu tú tài nhất. Tôi cũng đậu rồi. Nhờ em xỉ vả, tôi tự ái và đâm ra biết làm thơ. Tôi tán được nhiều em khác.
Tôi hỏi:
– Còn em bán quýt?
Thạch Sanh cười:
– Nàng đi định cư ở Cái Sắn rồi.
Nó nhả khói thuốc:
– Mình đã lớn, “ông” ạ! Chỗ tôi đứng chờ các em ở cổng trường bây giờ là chổ tụi lỏi vừa lớn.
Bỗng nó than thở:
– Chỉ tội nghiệp thằng Thủy!
Tôi ngạc nhiên:
– Sao?
Thạch Sanh ngó tôi:
– “Ông” hại nó. Theo kế của ông, nó thi hành. Kết quả gặp phú lích. Hiệp sĩ Thủy bị em Hoà thưa luôn. Thế là Lục Vân Tiên và Phong Lai cùng bị nằm bót một đêm.
Tôi phá ra cười. Cười sặc khói thuốc. Tạm biệt Thạch Sanh. Và xét rằng không nên kiếm Vạn Lịch, Đỗ Quyên làm gì. Thi nhóm Sang Độc đã giải tán. Tình yêu như cơm nếp nát. Cách mạng như cơm nguội chang nước dưa khú. Tôi cần lên đồn điền Hớn Quản. Nhưng trước khi đi, vào một buổi chiều, tôi thong thả tới ngôi trường cũ, ngôi trường con gái, ngôi trường nằm bên đường Le Grand de la Liraye đã đổi thành đường Phan Thanh Giản. Không chờ đôi một tà áo nào cả mà đóng vai trò quan sát viên. Tôi thấy buổi chiều vàng của tôi. Dưới những gốc cây quanh trường, không còn tôi, không còn Nhân, còn Quỳnh, còn Thủy nữa mà chỉ còn những hình ảnh của tuổi vừa lớn của chúng tôi. Những người đang đứng dưới những gốc cây trước và gần ngôi trường con gái đều là những người tuổi vừa lớn, vừa biết đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư. Họ đứng đó. Khói thuốc vàng ngón tay. Hồn thả trông mộng, mộng lẩn vào thơ. Không có thực tại ở thời gian và không gian này. Đừng cấm họ mơ mộng. Họ sẽ trở về thực tại khi hành lý đầu đời đã no tròn kỹ niệm. Họ ngớ ngẩn, khù khờ, lố bịch chẳng ra cái thể thống gì cả. Bởi vì, họ vừa lớn; Họ đem sự ngớ ngẩn, lố bịch vào tình yêu, tình yêu rất thơ và rất buồn cười. Tôi thương họ, tôi yêu thương tuổi trẻ biết mộng mơ. Thiếu mộng mơ tuổi trẻ sẽ tàn nhẫn lắm. Gốc cây kia, tôi đã đứng. Chẳng có gì làm cho tôi phải xấu hổ. Niềm vui nhẹ nhàng và nỗi buồn man mác. Tình yêu học trò là tình yêu phù du, là những cơn mưa bóng mây; là một kỹ niệm buồn cười đáng ghi nhớ.
Cơn mưa đã tạnh. Trời lại xanh như trời đã xanh. Tôi vào đời với gói hành lý bọc kín bằng một tà áo tiểu thư. Tà áo mãi mãi thơm như tuổi trẻ và tình yêu.
Hai người lặng lẽ vượt qua dòng suối cạn, người cao qua trước đứng lại ngó người bạn còn ở dưới dòng nước trong vắt vẻ tần ngần, dòng nước trong nhìn rõ những viên sỏi nằm đan dưới đáy, khoảng trời nhỏ chạy theo với con suối, hai bờ rừng già cao những thân cây cao ngất khiến cho bầu trời trước mắt nhìn ngước lên như một cái vòm hút sâu, mặt trời đã xế nhưng trời xanh trong không một gợn mây, những ngọn cây đứng im trên cao đó, phía đầu nguồn sương rừng đã xuống một màu lam mơ hồ quyện lấy những lùm cây xa, lắng trong không gian chừng như tiếng chim rừng về chiều từ xa đang vọng lại. Người cao nói với xuống:
– Lẹ lên thôi mình phải tới chỗ an toàn trước khi trời tối không thì nguy đó nghe.
Người dưới dòng vẫn tần ngần ngắm những viên cuội dưới đáy suối, ánh nước trong khiến cho những viên sỏi có những màu sắc kỳ lạ, người đó bỏ tay xuống mặt nước khua động, vẻ thảnh thơi như không quan tâm tới người chờ đợi. Lúc sau khi người trên bờ đã ngồi nghỉ nơi phiến đá, người dưới nước mới lên, nước còn đọng trên mặt, trên tóc, trên chân, người đó nói:
– Tôi sợ nước độc, trời chiều hơi lạnh nếu không tắm một cái thì mới thú…ai muốn tắm mát thì lên ngọn sông Đào, muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh… Rừng xanh thấy rồi mà sim chín thì không…
– Lúc nào cũng như du sơn du thủy không bằng, định ở đây chờ cọp nó đến ăn thịt hay sao đây.
– Yên chí đi, mệnh bọn mình to lắm, người còn chưa ăn được nữa cọp.
Người thấp vừa nói vừa cười vẻ sảng khoái, tiếng cười vang động cả khu rừng yên tĩnh trong buổi chiều sương lam đang xuống. Người cao đứng lên khỏi phiến đá, mùi hoa rừng hoang dại thoang thoảng trong không khí, men theo những khe đá nhỏ, người cao lần bước không nói một tiếng, người thấp theo sau nhưng chốc chốc ngừng lại hái những bông hoa mọc bên khe đá với vẻ trìu mến. Lúc sau người thấp mới bắt kịp người cao:
– Chừng bao lâu nữa mới tới được chỗ ngừng chân? Tôi nghe đói nữa, không có gì ăn thì nguy hiểm lắm.
– Cứ thơ thẩn chút nữa đi, khỏi cần ăn để mình làm mồi cho cọp có hơn không?
– Sao anh biết trong khu này có cọp, khu rừng dữ gì mà dễ thương thế, cây cao bóng cả, suối trong mát, chim kêu vượn hót, hoa cỏ kỳ diệu, ước cho mình được sống mãi trong khung cảnh như thế này… Tiếc là xưa kia tôi không được biết rằng trên nước non mình có những nơi kỳ thú như thế… Mình sẽ tới đâu?
– Tới nhà một người, tôi tin rằng tới đó anh sẽ không còn muốn đi đâu hết, xưa kia tôi đã sống ở đây…
Hai người lặng lẽ bước, đã qua hết khoảng trời trống ven suối, thoát khỏi những tảng đá chồng chất lên nhau, nhưng bây giờ hai người đã phải bước vào bóng tối nhòa nhập trong khu rừng cao. Những thân cây lớn thẳng tắp nhìn lên mỏi cổ, tất cả như có một bàn tay sắp xếp thứ tự một cách mỹ thuật, màu mộc cũ của những thân cây chen vào nhau, không có một cành nào ngang trên lối đi. Hai người đều cảm thấy mình nhò bé trong rừng cây. Tiếng những bước chân lạo xạo trên lá khô tạo thành môt âm thanh vui tai. Người thấp nói:
– Tôi cảm thấy lạnh… có lẽ trong khu rừng này không hề có bước chân người đặt đến?
– Sao lại không, anh quên rồi sao, xưa kia đã có lúc tôi sống ở đây, anh có muốn tôi chỉ từng cây cho anh thấy không, tôi có thể đảm bảo trong khu rừng này, từ giữa ngọn suối nơi mình đã qua cho tới đây bao nhiêu cây cổ thụ. Hơn thế nữa, có người còn biết rõ từng thân cây lớn bao nhiêu, cây nào đáng được dùng vào việc gì…
– Thôi chứ…anh mà còn đùa tôi nữa?
– Anh không tin tôi sao? Tôi không biết mà sao dám dẫn anh đi, anh nhớ lại xem, từ trên đó ngay từ khi mình bắt đầu tôi đã nói với anh biết rồi, đi trong bao lâu thì hết khu đồi chè, hết bao lâu ngừng qua quốc lộ, bao lâu tới dòng suối, từ dòng suối phải đi…
– Thôi anh khỏi nói, tôi nhớ ra rồi, nhưng tôi vẫn thắc mắc không biết anh đang tới đâu, mình có dẫn nhau vào trong một ngôi nhà đá nào không đó?
– Không có ngôi nhà đá nào hết, có một ngôi nhà tranh… Thôi đừng hỏi nữa, phải tin tôi chứ, mình sẽ tới…
Khu rừng cao ấy không có dày, chỉ trong một khoảng ngắn hai người đã ra khỏi khu rừng, nhìn lại, những thân cao dựng đứng như một tường thành được xây bằng đá trắng đã có rêu phong của thời gian. Trên cùng những ngọn cây màu lá xanh dặm mỏng. Chưa bao giờ mình được thấy một khu rừng như thế, người thấp vừa nghĩ ngợi vừa bước đi, đôi mắt vẫn không ngừng quan sát cảnh vật biến đổi không ngừng trên đường, mũi cũng như cố gắng tận dụng mọi khả năng thở hít cái không khí kỳ bí ngây ngất cuả thiên nhiên…Nếu được tới, được sống trong khung cảnh như thế này, không biết tới bất cứ điều gì, không gặp, không nói với ai… Chợt người thấp ngừng lại ngạc nhiên, cả hai người đã tới một bên sườn đồi dốc, phía dưới một thung lũng đầy sương, những vạt sương trắng đục như mây di dộng với những cơn gió một vẻ hư ảo, dưới đó là một thung lũng hay một vực thẳm. Cảnh vật nhờ nhờ trong ánh chiều yếu ớt càng khiến cho khung cảnh có một vẻ vừa thơ mộng vừa rê gợn. Người cao nói:
– Anh nghĩ dưới làn sương đục kia là gì, suối, vực hay thung lũng…
– Tôi chịu, ở đây làm gì có người, anh có nhầm lẫn không đó, tối rồi mà mình còn ở một nơi như thế này, tôi bắt đầu thấy lo…
– Cùng lắm thì ngủ ngoài trời này, người còn không sợ lại sợ thú dữ sao?
– Nhưng nếu trời mưa, đêm chắc lạnh lắm?
– Mưa với lạnh thì ăn thua gì, anh không nhớ những ngày ở trên đó sao, cái hồi bọn mình trong cái hang đá đó, thế mà cũng chẳng chết, chẳng lẽ bây giờ lại chết ở đây, cứ yên đi, tối nay mình sẽ có rượu ngon uống, có thể có thịt rừng nữa…
– Thế còn cái món mỹ nhân… bao lâu rồi không còn được thấy bóng một giai nhân… bàn tay mềm mại, hương tóc hăng nồng…
– Nghĩ tới những điều đó chắc anh hối hận theo tôi.
– Cũng có lúc tiếc, nhưng điều đó không bao nhiêu, tôi hỏi anh, trong những lúc như lúc này mà anh không nghĩ tới một điều nào khác sao, không mơ mộng sao, tôi cũng có lúc nhớ nhà, tiếc cảnh cũ nhưng đâu phải vì thế mà tôi không làm những chuyện khác, con người ta đâu chỉ có một đời sống, những lúc hăng say trong công việc tôi chỉ thấy công việc, nhưng những lúc mình phải trốn chui trốn nhủi, những lúc thất thế, hay những lúc như lúc này thì tôi nghĩ đến những điều khác, chắc anh nghĩ tôi xuống tinh thần phải khộng. Chừng như anh lúc nào cũng nghĩ tới thành công, tới lúc phất cao ngọn cờ trở về, nhưng anh cũng biết đó, trong mưu sự đâu phải ai cũng thành công, bao nhiêu người bỏ mình trong tù ngục, gục ngã trên biên giới, và những trở về lầm lũi…
Giọng người thấp bùi ngùi, người cao không nói đi men xuống sườn đồi:
– Thôi anh đừng nói nữa, chúng ta phải qua bên kia thung lũng.
Hai người đi lần xuống, mây tạt ngang qua mặt, gió lạnh buốt, họ tưởng như lạc vào cõi u minh nào. Nhưng chỉ xuống thấp một khoảng thì họ đã ở dưới những lớp mây trắng, thung lũng quá sâu, dưới đó những ngọn đồi thấp nằm bên nhau trông rất ngoạn mục. Người thấp ngạc nhiên không nghĩ được rằng mình đã từ trên rất cao đi xuống. Ánh sáng trong thung lũng có một vẻ đặc biệt, màu trắng nhợt nhạt, như thứ ánh sáng của đêm trăng suông, mùi hoa dại đầy ắp trong không khí lạnh, trên cỏ long lanh những hạt sương. Những ngọn đồi cỏ cao, hoa cỏ màu gụ rung rinh theo chiều gió như mặt nước sóng sánh dưới ánh trăng. Chợt người thấp kêu lên:
– Có người ở đây…
Người cao không nói, bước đi, họ vượt qua một khe nước nhỏ, qua một ngọn đồi cỏ chỉ cao lưng ống chân, những hoa cỏ may vượt cao , bây giờ nhìn lên cao bầu trời như bị úp bởi một màng lưới trắng muốt, hai người qua ngọn đồi, vượt thêm một khe nước nhỏ thì tới ngọn đồi có một căn nhà nằm trên đỉnh giữa mấy ngọn thông già, trông từ xa như một bức tranh Tàu cổ, nhưng lại gần thì càng ngạc nhiên hơn, cả ngọn đồi nhỏ không có một cây cỏ nào, toàn thể là một vườn hoa hồng bao la, một vườn hồng chỉ còn để lại một lối đi lớn vào giữa cửa nhà và những đường nhỏ chung quanh, trên những lối đi ấy , những khoảng trống có những chiếc bàn và ghế bằng những phiến đá lớn. Hương hồng tỏa ngát trong không khí, thật sự người ta không thể tưởng tượng được rằng cỏ khung cảnh như vậy ở giữa chốn rừng sâu.Hai người bước lên lối đi, một lớp cỏ rêu xanh mướt bằng phẳng, bao nhiêu công phu để làm được một lối đi như thế, hai bên những cây hồng đầy hoa đỏ thắm, những bông hoa lớn nhỏ tươi mướt như nhung, trông những bông hồng đó ai cũng muốn hái nhưng tiếc rẻ nghĩ tới khi bông hoa tàn rụng… Đi hết con đường hai người ngừng lại trước sân nhà hình vuông, sân được dát những miếng đa xanh có gân trắng, trên những khe cỏ rêu xanh mọc, dưới gốc hai cây thông già uốn khúc có bể nước xây bằng đá, bên đó có những phiến đá mặt phẳng để không đều nhưng đủ là một chỗ ngồi trò chuyện cho một ít người, trước khung cảnh người ta nghĩ tới một nơi thờ tự trang nghiêm hơn la nơi có người ở. Ngôi nhà nhỏ được làm trên một nền cao có hiên , vách nhà bằng gỗ trông thô sơ đơn giản, những chiếc cột được làm nguyên bằng thân cây không hề bào chỉ bóc bỏ lần vỏ ngoài, hiên chạy chung quanh nhà, mái nhà lợp bằng lá gồi đan cẩn thận. Phía đầu nhà bên trái có một cái hiên làm dài ra ngoài cùng với nền nhà, nơi giữa hiên có một bàn cờ tướng, số quân cờ không đủ gây cho người nhìn thấy rõ như ván cờ đang đánh dở. Cả hai người không nói một tiếng cùng nhau quan sát, chỉ người thấp là nhiều lúc kêu lên ngạc nhiên. Người cao bước lên hiên nhà đẩy cửa bước vào. Bóng tối dầy đặc ở bên trong, chừng như không còn ai ở lại trong nhà, người cao ngừng lại nơi bậc cửa:
– Cố nhân, cố nhân, có đàn em đến tá túc…
Tiếng gọi vang lên rất lâu không nghe thấy tiếng người trả lời. Hai người bước vào trong nhà chỉ có một mùi ẩm mục, trong bóng tối có lúc những mạng nhện quấn vào mặt như một bàn tay vô hình nào. Người cao nói:
– Anh ấy đã không còn ở đây nữa.
– Ai vậy, sao anh biết ở đây có người?
– Người anh cả của tôi, tôi đã có dịp ghé đây hồi trước, cũng năm năm trời rồi…
Hai người đứng lại, người thấp thấy rợn người vì sự im lặng và ẩm mốc bao quanh, căn nhà như một ngôi nhà mồ không có một chút sinh khí.
– Mình phải bật lửa lên.
Vừa nói người thấp vừa bật hộp diêm giơ lên cao. Căn nhà vẫn còn nguyên như ngày nào. Một cơn gió lạnh thổi thốc từ nhà sau lên làm ngọn lửa phụt tắt.
– Thôi đừng bật lửa, tôi đã nhìn thấy ngọn bạch lạp nơi trường kỷ rồi.
Người cao nhắm vào hướng ngọn bạch lạp đi tới, rồi trở lại, que diêm được bật và châm vào, ánh sáng vàng soi căn nhà. Những vách ván màu gụ, chiếc bàn nhỏ bên tay trái với hai chiếc tràng kỷ đơn giản nhưng bằng một thứ gỗ quý đen bóng, một cửa thông vào phía trong, trên vách bên phải treo một cây cung có ở bên một cụm lan lớn cành lá và hoa đã khô. Người cao đứng lặng, ngó ngàng chung quanh, vẫn còn đó những bàn ghế, đồ đạc… nhưng đã không còn người xưa. Anh ấy đã đi đâu? Con đường đưa lên biên giới với những mưu đồ cháy đỏ thời trẻ? Giấc mộng chập chờn say đắm của cuộc tình ngày trưởng thành thơ mộng? Con đường mòn nhỏ trong rừng thẳm với những bông la rừng diễm lệ, hay con hổ bạch lùng kiếm ngày nào trở lại với tiếng hú rung chuyển rừng xanh đã kết cục một cuộc sống những say đắm chết ngất như đỉnh trời cao rực rỡ một tuyệt đối…Khuôn mặt vuông vức, chiếc cằm những chân râu cứng, đôi mắt lớn màu hạt dẻ tinh quái, mái tóc hoa râm dấu tích những ngày tháng lận đận, tiếng nói sang sảng…Tất cả đã vắng, đã khuất… còn Đồi Hồng đỏ thắm, suối Hoàng Mai trong vắt, hiên Ngạo Thiên đầy ắp gió trăng… Trông bạn sững người khiến người thấp cũng không dám cất tiếng, ngọn bạch lạp cháy bập bùng theo cơn gió lộng… Hai người bước vào nhà trong, ngọn bạch lạp trên tay đưa về phía trước, gian phòng lạnh trống, chiếc giường làm bằng gỗ quý rộng mênh mông nằm ép vào một bên ván, án thư không còn một cuốn sách chỉ có vô số những hòn đá đủ màu, đủ kiểu và những khóm lan khô, cây trầm dựng nơi góc vẫn còn nguyên vẹn. Người cao bước tới bên giá súng săn đã gỉ sét, người thấp cầm lên tay ngắm nghía rồi bỏ lại chỗ cũ. Người cao bước tới tủ áo, mở cánh cửa, tiếng kêu nghe khô khan. Một bộ quần áo ngủ còn treo trên giá nguyên vẹn. Mùi ẩm mốc đầy trong gian nhà, người cao động vào bộ quần áo, với ý định gỡ ra thì vải mục rớt xuống tan ra như một đống giẻ vụn, người thấp kêu lên, người cao sững sờ, hai người tưởng như mình đang sống trong một giấc mơ kinh dị, hay đang ở trong một ngôi nhà ma quái… Người cao bước tới mở hai cái chum lớn thi thấy lương khô vẫn còn đầy…
– Anh ấy đi đâu rồi, đằng nào thì mình cũng phải ở lại đây đêm nay, mình phải kiếm cái ăn đã, tối đến trời lạnh lắm, phải nhóm lửa lên…
Người thấp nghe theo, người cao bước tới góc nhà chất củi vào nơi hỏa lò rồi mồi lửa, gỗ thông bắt cháy nhanh chóng, trong chốc lát căn phòng sáng rực, hơi ấm tỏa ra đánh tan khí lạnh. Người cao kéo hai chiếc ghế dựa thấp lại gần bên hỏa lò, trên khúc gỗ lớn vẫn còn lại chiếc bình hoa bằng sành màu gụ, không có một bông hoa, người cao đứng lên trở ra vườn hái một bông hồng vào cắm lên đó. Bông hồng dành cho công chúa. Người cao nhớ tới câu người xưa vẫn nói vào mỗi buổi sớm mai khi chiếc bình được thay nước và cắm vào một bông hoa mới, ngày nào cũng chỉ có một bông hồng độc nhất trong gian nhà. Bông hồng dành cho công chúa. Nhớ lại điều đó khiến người cao mỉm cười. Những miếng khoai ngô được sóc vào những chiếc que hơ lên than hồng, mùi thơm dễ chịu. Người thấp nói:
– Phải chi bây giờ có một bình rượu thì hay biết mấy, cái chum thịt rừng khô này thật là hấp dẫn.
– Ý kiến thật hay, hy vọng rằng còn lại đâu đó một bình rượu cúc của chủ nhân.
Vừa nói người cao vừa đứng lên tiến tới vách ván ngăn nhà ngoài với nhà trong, nơi đó có những thân cây vừa phải ghép liền với nhau, mỗi thân cây đều có khoét những khoảng trống, trong đó để những bình rượu bằng sành, mở hết bình này đến bình khác đều thấy nhẵn không còn mùi rượu nữa. Người cao nghĩ thầm chắc những bình đã được uống cạn trước khi lên đường. Sau rồi người cao không mở bình nữa, chỉ cầm lên lắc nhẹ rồi bỏ xuống. Khi nhấc tới bình ở trên cao nơi khoảng giữa thì người đó kêu lên vẻ hoan hỉ:
– Có vậy chứ, trong gian nhà này có bao giờ hết rượu đâu. Cón một bình hoàng cúc đây.
Mang lại bên đống lửa, người cao mở bình rượu, mùi thơm choáng ngợp cả gian nhà.
– Đúng là hoàng cúc, đây là thứ mà chủ nhân thường dùng.
Cầm bát sành phủi qua, người cao rót đưa cho người thấp :
– Chưa uống mà đã muốn say, anh có thấy vậy không ?
Người thấp đưa bát rượu lên môi, xuýt xoa rồi đưa lại cho người bạn, đầu gật gật vẻ hài lòng :
– Quả là mỹ tửu… tôi có cảm tưởng rằng chính anh là chủ nhân ngôi nhà này. Kiếm ở đâu ra mà có thứ rượu lạ vậy…
– Chưa phải là một đâu, ở đây còn nhiều thứ nữa, nhưng chừng đều đã cạn, chủ nhân lúc trước nói với tôi có trên một trăm thứ rượu khác nhau, nhưng đâu phải rượu nào ai uống cũng được, phải tùy tuổi tác, tùy người nữa, bọn mình thì chỉ nên uống tới hoàng cúc , hồng ngọc, lệ lan là cùng, còn những thứ bạch thảo, quỳnh vân thì bọn mình chưa đáng để uống…chủ nhân nói với tôi muốn chuyện uống rượu phải được nâng lên như một thứ tửu đạo, ngày trước tôi được uống một ly nhỏ bạch thảo mà cơn say kéo dài trong bảy ngày, một cơn say thần tiên siêu thoát, rượu được cất bằng một thứ cỏ trắng lấy trên một ngọn núi cao phía trong rừng sâu, chủ nhân cũng cho tôi một nắm cỏ này, mùi thơm, cọng lớn hơn que tăm có những đốt, thân và lá trắng như ngó, bỏ vào miệng nhai có chút chất ngọt mát, những cỏ ấy mọc dưới những khe đá, phải mất nhiều công phu mới ủ và cất được thành rượu, điều này tôi không biết gì hết…Trong những thứ rượu dễ cất nhất là hoàng cúc, nhưng chủ nhân cũng khó khăn trong việc chọn lựa hoa trong khi ủ men, bỏ ngọn đồi này, qua một khe nước, qua một ngọn đồi nữa chúng ta sẽ tới một khu đất khô cằn, khí hậu nóng hẳn, ở đó là một cánh đồng cúc vàng rộng mênh mông, khi muốn cất rượu hoàng cúc chủ nhân chuẩn bị khi mùa nắng bắt đầu, vào giữa mùa khi đất đã khô, vào buổi sáng tinh mơ chủ nhân tới đó chọn những bông hoa cúc mới hé nhụy trong đêm mà hái, công việc hái cúc phải hoàn tất trước khi có ánh nắng mặt trời, như thế hương cúc còn nguyên, ong và bướm chưa hề hút nhụy… Anh thấy đó, cái gì mà không là công phu,thực sự tôi chưa đến tuổi, không đáng mặt để nói về rượu, cái gì cũng có cái nghệ thuật, cái đạo của nó… Tiếc thay, anh ấy nếu còn ở đây thì vui biết bao, cũng đáng tiếc cho riêng anh nữa.
Người thấp đưa một miếng cá khô nướng cho bạn, anh ta lắc đầu:
– Hoàng cúc là phải uống suông, không thì nhấm chút trái cây, hay mấy cành hoa hồng là phải phép nhất, rượu này không phải để uống với cá thịt, có vậy mới giữ được cái hương thơm tinh khiết của nó…
– Tôi còn trần tục lắm, không thể theo anh, tôi vẫn nóng lòng muốn biết về chủ nhân Đồi Hồng và căn nhà này?
– Tôi biết anh thắc mắc. Thực ra thì cũng không có gì. Tôi xin gọi người đó là anh cả. Anh ấy hơn tôi trên ba chục tuổi, như vậy tức là mình có thể coi như một người già, nhưng thật ra thì anh ấy còn trẻ, còn hăng hái say mê hơn chúng mình nhiều, sau những mưu toan ngày đó anh ấy trốn vào trong này cùng với một số đồng chí, nhưng chỉ được một thời gian mọi người đều bỏ đi vì không đồng chính kiến, anh ấy thì nói phải chờ đợi, phải tu luyện đã, mọi người thì nóng ruột, anh ấy cho thời cơ chưa đến nên nhất định không chịu bỏ khu rừng, trong số những người bỏ đi đó có ông thân sinh ra tôi, khi ấy ai cũng cho anh ấy là một tên gàn dở… Nhưng cuối cùng lại những người bỏ anh ấy mà đi đều chết chẳng còn một ai trở về, tất cả đều thất bại, mỗi lần được tin một người bạn chết anh ấy lại nấu một vò rượu rồi hạ thổ ở ven Đồi Hồng, ông thân tôi là người còn lại cuối cùng sau những thất bại, cha tôi quyết định trở vào trong này và mang theo tôi, chính vì đó mà tôi được biết nơi này, nhưng sau đó cha tôi thấy sức mình đã yếu, nghĩ tới người vợ hiền ở nhà, chết trong núi không đáng nên đã trở về quê, một năm sau , ông thân tôi qua đời. Thu xếp công việc tôi trở lại trong này với người bạn của cha tôi theo như lời giối giăng… Vào tới nơi ông không cho tôi gọi là bác hay cha, ông muốn tôi là em, ông nói ông còn muốn trẻ và muốn tôi coi ông như một người anh cả : bởi vì chúng ta phải làm việc với nhau. Không được bao lâu anh ấy dường như quên đi những mộng tưởng ngày trẻ, anh ấy mải vui với Đồi Hồng, với những hoa cỏ kỳ lạ, mải vui với thiên nhiên, thú rừng khiến ông không còn nghĩ tới chuyện dời khỏi rừng sâu…Tôi chờ đợi quá lâu, không chịu đựng được nữa nên xin pháp ra đi. Tôi còn nhớ như hôm qua đây vào đêm cuối cùng tôi cũng ngồi với anh ấy như thế này và những vò rượu cạn. Anh ấy đã khóc nhưng không nói gì với tôi hết… Có điều tôi hiểu phần nào những u uẩn trong lòng anh… Những khẩu súng được lau mỗi ngày, bông hồng đó cắm trong chiếc bình mỗi sớm mai, đôi mắt sáng lên khi nghe rừng xanh chuyển động…Tôi cũng còn nhớ buổi chiều mưa nghe tiếng nước đổ từ trên núi xuống, chúng tôi cùng chạy ra nhìn khối nước bứt khỏi núi tràn xuống, xối chảy trên dòng suối soi băng đi một bên Đồi Hồng mang theo những vò rượu đã hạ thổ đánh dấu cái chết của những người bạn… Hôm đó chúng tôi tưởng cũng bị nước cuốn trôi… Một mảng núi lở khiến nước tràn xuống tạo thành dòng suối mới… Trong cảnh ấy anh ấy cũng đã khóc, mọi điều đều tan, tan không để lại chút gì khi trời muốn như vậy… Chừng như đến một lúc nào người ta cảm thông được với tuyệt đối… Tôi nghĩ có lẽ vì vậy anh ấy đã từ chối mọi điều sau chót… mỗi lúc anh ấy một yêu hoa hồng hơn, ngọn đồi vì thế được chăm sóc một cách đặc biệt. Khi tôi theo cha tôi vào đây thì đồi vẫn chỉ có một ít khóm, nhưng đến khi trở lại thì đã nhiều, sau đó trong vòng mấy năm liền anh ấy dành hết cả thì giờ cho việc đốn những cây rừng, chiết trồng những cây hồng mới, và trước khi tôi đi một năm thì cả ngọn đồi chỉ còn lại hoa hồng và anh ấy đặt tên là Đồi Hồng… Sau đó anh ấy ham mê theo đuổi thú rừng, trong những cuộc săn đuổi ấy tạo thêm thú tìm lan và những loài hoa lạ, nhưng chỉ thêm vào mà không lấy đó làm chính, hoa hồng vẫn là giống hoa anh ấy yêu quý nhất, vì hoa hồng đối với anh ấy là một kỷ niệm không thể quên, một nàng công chúa…
Người cao nói thao thao không ngừng, giọng kể đầy say mê quyến rũ, nhưng mỗi lúc chừng như một làm cho người bạn bị lôi cuốn vào câu chuyện nhiều hơn, người thấp hỏi:
– Chắc chủ nhân yêu một giai nhân tên Hồng… Tôi nghĩ…
Chợt tiếng cọp hú vang lên, hai người chợt ngừng lại, người thấp tái mặt đi, người cao nhổm người lên, tiếng hú nghe rợn như tiếng ma quỷ và mỗi lúc một như gần lại. Hai người lặng im ngó nhau, mùi hôi thối theo gió đưa vào trong căn nhà, người cao nói nhỏ:
– Có lẽ con hổ bạch đã trở lại thung lũng…
Giọng nói người cao hơi run, một lúc lâu người cao mới rón rén đứng lên đi ra phía nhà ngoài, người thấp cũng theo ra, hai người đứng ép vào khung cửa nhìn ra Đồi Hồng, ngoài đó không khí trắng như sữa, chừng như trên lớp mây đục trắng có ánh trăng chiếu xuống, Đồi Hồng mang vẻ kỳ bí thơ mộng, khung cảnh của một chốn non tiên cũng chỉ đến thế, cả hai người cùng như nhịn thở khi nhận ra một bóng trắng đang nhảy giữa những luống hồng, bóng trắng có lúc vọt cao, có lúc chúi xuống quần nát những khóm hồng cùng với tiếng hú ghê rợn… Sau cùng tiếng hú dội vang và bóng trắng nhảy biến mất về phía con suối trả lại sự yên tĩnh cho đêm vắng, mùi hôi thối cũng tan đi… Người cao vừa trở vào vừa nói :
– Đúng là con hổ bạch, tiếc là anh ấy không còn lại ở đây, trong hai năm liền khi tôi còn ở đây anh ấy đã lùng kiếm và chờ đợi nó.
Ngồi xuống bên hỏa lò, cho thêm củi, bỏ bình rượu cúc vào bên bếp than cho nóng, người cao chỉ tay chung quanh vách:
– Hồi tôi mới trở lại chung quanh ván này đầy những đầu thú, không thiếu một thứ gì, từ hổ, hươu, nai, rắn…anh ấy bắn được mang về lấy thịt phơi khô, đầu và da con nào đẹp thì ướp thuốc phơi khô hoặc sấy rồi trưng làm cảnh, ai cũng tưởng lạc giữa những thú rừng, nhưng một lần đi săn anh ấy bắt gặp một con hổ trắng,anh ấy bắn trật, nó chạy thoát sau khi xuýt vồ được anh ấy, từ đó anh ấy không thèm săn thú nhỏ nữa, anh ấy trở về đốt hết những đầu và da thú trong nhà, mỗi ngày vác súng ra đi đều nói : phải hạ cho bằng được con hổ bạch đó… Mình phải săn thú lớn, không thể phí công sức săn thú nhỏ…Nhưng sau đó có những lần dò theo bước chân cả tuần, lùng kiếm chờ đợi anh ấy đều không gặp lại nó. Tôi còn nhớ một đêm ngửi thấy mùi hôi thối, anh ấy bật dậy, vác súng ra ngoài, tôi ở trong chờ đợi, anh ấy lần mò hết một đêm một ngày, nhưng sau thì trở về thất vọng, không phải nó, anh ấy nói vậy với tất cả sự tiếc rẻ, ta gặp một con cũng khá, hạ được nhưng thấy thật uổng công…có lần đi với anh ấy, gặp những thú rừng khác thật ngon anh ấy cũng không thèm bắn, anh ấy nói chờ đợi cho bọn nó lớn đã, chỉ cần hạ được con hổ trắng là ta bỏ rừng mà về, nhưng cho tới lúc tôi đi khỏi anh ấy vẫn không gặp nó, có lẽ đây là lúc nó trở về, tiếc thay tôi không phải là một tay súng giỏi, và có được một lòng kiêu hãnh tự tin như anh ấy…
Uống cạn bát rượu nóng, người cao ngả người ra lưng ghế, người thấp cởi bỏ chiếc áo ngoài, hơi ấm làm cho không khí lạnh trở thành thân mật, khi vắt cái áo lưng ghế một tiếng động vang lên, người cao nhỏm người lên, nhíu mày nhìn khẩu súng lục rơi trên sàn gỗ:
– Anh có khẩu súng ấy hồi nào?
Người thấp hơi cuống, ngập ngừng nhặt khẩu súng lên tay, giọng nói xúc động:
– Chắc anh nghĩ tại sao tôi đã hành động nhự vậy? Trước đó tôi đã thề với trời đất rồi, nhưng thực ra cũng là tại nó đến số vậy thôi…
– Vậy anh giết nó lúc nào?
Người thấp ngập ngừng một lúc mới nói tiếp:
– Khuya trước đêm mình lên đường, vả lại anh cũng hiểu cho tôi, nếu không thanh toán nó thì tôi không thể đi bình yên được, thêm nữa tôi cần vật hộ thân và một mối thù tôi phải trả, cái chết của mẹ tôi…
Người bạn thở dài không nói nữa. Ngoài vườn cây tiếng gió rít từng hồi, trong đó nghe như cả tiếng rừng cây lay động.
– Anh có lẽ cũng không biết chuyện đó, lúc trước nó đi với giặc hại gia đình tôi, khi cha tôi chết ông nói chính nó đã báo cho giặc biết về những hoạt động của ông, không có bằng cớ khiến bọn nó tra tấn cho mẹ tôi đến chết. Cách mạng nổi lên nó tự đứng vào hàng ngũ như kẻ ở hàng đầu, nó biết tôi hoạt động chống lại nên vẫn tìm cách theo dõi, tôi nghĩ không nên chờ nếu như muốn những người còn ở lại được yên. Tôi phải ra tay, không ngờ hắn có súng…Anh biết?
– Sao không, nó tưởng tôi ở trong đoàn thật sự nên nói với tôi phải coi chừng anh như một tên phản động… Chuyện ấy cũng qua, có điều tôi vẫn không muốn tay mình phải nhúng vào máu. Có lẽ đó là điều tôi chịu ảnh hưởng của anh cả.
Vò rượu đã cạn, người cao lận mò tìm vò khác, nhưng lắc hoài vẫn gặp những vò không, khi nhắc đến chiếc bình vuông thì người cao nghe như có vật gì để ở trong, thực ra đây không phải là một cái bình mà như một cái phạn vuông vức, trên được đậy lại bằng một viên gạch, mở ra người cao ngạc nhiên thấy cuốn vở bìa cứng ở trong, cầm lên tay với tất cả vui mừng, người cao nói với bạn:
– Cuốn sách anh cả tôi viết trong nhiều năm, hồi đó anh dành nhiều thì giờ cho những suy ngẫm của anh, anh viết thật khó khăn, mong cuốn sách đã được hoàn tất trong thời gian tôi đi khỏi.
Nói xong người cao mở cuốn sách ra dưới ánh lửa, nhưng mở mãi cũng chỉ thấy những trang giấy trắng, ở một đôi trang có ép những chiếc lá màu lạ mắt, một ít hoa và mấy cánh bướm màu sặc sỡ, cuốn vở đã bị xé đi nhiều trang, chỉ còn lại một ít tờ. Người cao mở cuốn vở với tất cả vẻ thận trọng nhưng không khỏi ngạc nhiên, không tìm thấy một chữ nào trên những trang giấy ấy, bỏ tập vở xuống với vẻ thất vọng : vậy những trang đã viết bỏ đi đâu, như vậy là công việc ấy cũng không hoàn tất được. Những cánh hoa, cánh lá, cánh bướm khô là thế nào…
Người cao lại lục lọi, trước nhất là nơi những chiếc sạp, với hy vọng tìm thấy một điều gì để lại, nhưng tuyệt nhiên không thấy gì ngoài một chiếc trong đó có để một hòn đá đen nhánh. Sau cùng tìm thấy một bình hồng ngọc, mùi rượu siêu thoát, men gần như đã không còn gì, uống vào mới bắt đầu nhạt môi, chỉ thấy thoảng mùi thơm nhưng men rượu sau đó ngấm dần, chừng như đó là bình rượu đã được để quá lâu đã khiến mất đi vẻ rượu bình thường trần tục… Thất vọng người cao ngồi ngả lưng ra sau ghế nhìn ánh lửa bập bùng trong hỏa lò. Men rượu như đưa người vào một cuộc viễn du thoát tục… Người thấp nói:
– Tôi không biết gì về người anh cả của anh, nhưng qua thứ rượu hoàng cúc và hồng lệ mà tôi được uống đây thì ông ta phải là một tay say mê men nồng, sắc đẹp…chính những cái đó đã khiến ông bỏ cuộc…Tiếc thay một người như thế mà không thể đổi cho mình một thứ rượu khác…
– Đổi cho mình một thứ rượu khác… Tôi không nghĩ như anh, cần gì phải đổi một thứ rượu khác, anh cả tôi đã có lần nói với tôi. Cần gì phải rượu mới say, có khi uống một hớp nước suối cũng nghe thấy như mình có thể say đến muôn ngàn năm… Với cái nhìn của tôi thì ông đã uống nhiều thứ quá, với đầy những đam mê và kiêu hãnh ông đã uống tới cùng tận, nhưng ông đã không chết được trong những cơn say não nùng đó, trong say ông vẫn nhận biết, và chính vì thế ông đã thất bại… Đó có khi cũng chỉ là một cái nhìn nhiều hơn là một sự thật, vì chính lúc này đây tôi cũng như anh không biết ông còn sống hay đã chết, trong vòng hơn năm năm qua và những giây phút này ông ra sao. Có điều ông khuyên tôi hãy uống cho hết, cho tới tận cùng, hãy say mê cho tới chung cuộc có thể chết đi êm đềm, nhưng phải tin ngay đó mình có thể phục sinh, sống lại trong một say mê mới hoàn toàn tinh khôi như mình chưa bao giờ được sống…phải tin và sống như vậy, một lúc phục sinh…Một phục sinh mới cho tôi, đó là ước mơ của tôi, và tôi tin mình sẽ có được…
– Chừng như còn nhiều điều về cố nhân mà anh không muốn nói với tôi, tại sao vậy?
– Không phải thế, chính ra thì tôi cũng chẳng được biết gì. Như tôi đã nói với anh đó, anh cả bằng tuổi với cha tôi, ông là một người hoạt động với những mưu đồ nào đó, sau ông vào trong này, tôi sống với ông sáu năm, tôi bỏ ông đi cho đến nay đã năm năm hơn…Ngày trở lại thì không còn người xưa nữa. Như tôi đã kể : ông yêu hoa hồng, thích săn thú lớn, cái ám ảnh về con hổ bạch trong những ngày sau đó cuốn hút ông. Ngoài thú cất rượu để uống, trồng hoa, tìm lan, săn thú cũng có lúc ông ngồi đánh cờ ngoài hiên Ngạo Thiên, thua được gì ông cũng cười, mỗi lần thế ông nói với tôi: đáng ngạo ông trời lắm, cũng muốn lập ngôn, nhưng có lẽ công việc đó ông không hoàn thành dược, tất cả với ông chừng như đều thất bại. Nhưng ông nói với tôi, ông hài lòng một điều…
– Điều gì?
Người cao nói trong giọng ngà ngà; giọng nói của người còn ở trong cơn mơ:
– Bông hồng dành cho công chúa…
– Bông hồng cho công chúa, tôi không hiểu gì hết.
– Chính tôi cũng không được rõ. Nhưng theo như cha tôi thì đó là một câu chuyện tình.
– Ông ấy cũng có chuyện tình nữa, thật tôi không hiểu được. Hình dung về ông tôi nghĩ đó là một tay giang hồ, dũng mãnh, giàu nghị lực…
– Điều đó thì đúng nhưng anh nghĩ những người đó không yêu sao, nếu anh nghĩ vậy thì anh nhầm, những kẻ như anh nói đó đã không say mê gì thì thôi, nhưng đã say mê thì không phải chuyện chơi, xẻ núi, lấp sông, vượt biển họ cũng không thay lòng đổi dạ được, những người đó bao giờ cũng có những ham mê để chết…
– Tôi không hiểu chút gì.
– Tôi nhớ lại những năm sống với ông, mỗi buổi sớm mai thì thấy ông bưng bình hoa ra ngoài, bỏ bông hồng cũ đi, tôi trông ông có vẻ gì buồn, có lần ông nói: tiếc thay, hoa rồi phải tàn, ta thì không muốn thấy hoa tàn… Ông thay nước trong bình, dạo quanh những cây hồng tìm một bông hàm tiếu trịnh trọng ngắt lấy cắm vào trong bình rồi mang vào trong phòng, sau đó là buổi uống trà của ông, vừa uống trà, vừa ngắm hoa, trông ông những lúc đó như một đạo sĩ. Theo như cha tôi nói thì trước khi bước chân vào cuộc phiêu lưu ông đã có một mối tình, những tưởng một mai khi trở lại cuộc sống sum họp sẽ có, nhưng sau bao nhiêu gắn bó, chờ đợi người con gái kia chẳng được sum họp với người tình…Nàng qua đời trong mòn mỏi, ông được tin lặng người đi cho những dòng lệ chảy trên má, lúc đó cha tôi còn ở bên ông, sau này nhớ lại, nghĩ tới người vợ chưa chung chăn gối ấy, như một thủy chung, ông dành bông hồng cho người khuất, ông không dùng hoa khác vì nàng vốn yêu hoa hồng… ông chưa bao giờ thổ lộ những điều đó, nhưng theo tôi có lẽ cũng chỉ có vậy, tôi còn nhớ một điều ông nói : trời phụ ta, ta cười ngạo trời, bạn bè phụ ta, ta buồn ta, con đường ta đi không hết, ta giận ta…Chỉ có một người chung thủy với ta thì ta không đền đáp được… Đó là mối hận lớn duy nhất không biết bao giờ cho nguôi…Bông hồng dành cho công chúa. Tôi nghĩ đó là điều ông dành cho mối hận trong lòng…và đó cũng là cái dĩ vãng duy nhất cháy sáng trong lòng ông…Nhưng sau chót ông đã kết thúc đời ông ra sao, thật tình ông vẫn là niềm bí ẩn…
Ngọn lửa hồng và men rượu đã ru hai người vào một giấc ngủ ngắn ngủi lúc nữa đêm về sáng. Khi hai người thức dậy thì trời đã sáng tỏ, mây trong thung lũng đã tan để lại một bầu trời trong xanh, hai người bước ra ngoài thay nước rồi tìm một bông hồng hàm tiếu cắm vào chiếc bình. Hai người ngạc nhiên nhìn những luống hồng bị quần nát bởi con hổ bạch trong đêm, những cánh hoa đỏ giập nát đầy trên mặt đất như những giọt máu đào…
Tiếng hổ hú trong rừng trước mặt bỗng vang lên, một đàn chim cánh lớn từ trong những ngọn cây bay lên rợp cả một vùng trời. Người cao chỉ tay về hướng đó:
– Con hổ bạch vẫn còn quanh quẩn trong đó, sao nó không trở lại vào những năm trước.
Nắng lên cao, hơi lạnh của rừng đã giảm, hai người đi vòng quanh căn nhà, khu Đồi Hồng rồi theo hướng mặt trời mà đi. Khi qua những khóm hồng đỏ thắm người cao ngắt theo một bông, lên đỉnh đồi người cao ngừng lại, vứt bông hoa theo chiều gió xuống thung lũng… Rồi ở đó buổi chiều sẽ đưa mây về bao phủ, và còn lại căn nhà. Đồi Hồng, suối Hoàng Mai, những bình rượu, hiên Ngạo Thiên và một con hổ bạch…
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.