vietmessenger.com
Hồ Trường An
Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998
Post by Sơn râu 23 Dec 2025

Chương 2
Thời Hoa Chớm Nụ Thưở Trăng Chưa Tròn
Tôi không được trưởng thành vào thuở tiền chiến nên không hiểu vào thuở đó bản nhạc của ai được thịnh hành. Khi tôi lên năm tuổi thì Nhật đánh đuổi Tây để chiếm Đông Dương, sau đó là nạn đói xảy ra tại đất Bắc. Trước đó, lớp cô chú tôi hưởng ứng phong trào yêu nước do nhóm sinh viên gốc miền Nam ra ngoài Bắc du học như Lưu Hữu Phước, Mai văn Bộ, Huỳnh văn Tiểng chủ trương. Họ tổ chức cuộc cắm trại bên suối Lồ Ô để đọc diễn văn nhằm nhắn nhủ lớp thanh niên rằng cơ hội giành lại chủ quyền cho dân tộc sắp đến. Diễn giả cùng thính giả tuần tự hát những bản do Lưu Hữu Phước sáng tác và do Mai văn Bộ cùng Huỳnh văn Tiểng phổ lời như: “Thanh Niên Hành Khúc”, “Lên Đàng”, “Xếp Bút Nghiên”, “Bạch Đằng Giang”, “Ải Chi Lăng”, “Hội Nghị Diên Hồng”, “Hờn Sông Gianh”, “Hồn Tử Sĩ”, “Khúc Khải Hoàn”, “Gieo Ánh Sáng”, “Thiếu Sinh Việt Nam”, “Thiếu Nữ Việt Nam” …
Trong thời Nhật chiếm Đông Dương, hai bản nhạc ngoại quốc thịnh hành nhất là “Hà Nhật Quân Tái Lai” (có nghĩa là “Ngày Nào Chàng Trở Lại”) và bản “Shina no Yoru” (“Tô Châu Dạ Khúc”). Có người đặt cho bài “Hà Nhật Quân Tái Lai” cái tựa tiếng Pháp là “Tango Chinois”. Bản “Tô Châu Dạ Khúc” được cô đào gốc Mãn Châu lai Nhật tên là Lý Hương Lan (Shirley Yamaguchi) hát trong một phim chiến tranh của Nhật. Còn bản “Hà Nhật Quân Tái Lai” thì trước đó do nữ danh ca Châu Thuyền hát ở Hồng Kông và Tân-gia-ba, luôn
cả ở các cộng đồng người Hoa Kiều tại Cựu Kim Sơn (Hoa Kỳ), rồi về sau nầy bài lại được Ảnh hậu Lý Lệ Hoa hát trong cuốn phim Mối Tình Dị Bang. Bởi được các minh tinh trong ca trường ảnh giới hát, bảo sao hai bản nầy không nổi tiếng ở Chợ Lớn? Mà hễ mấy chú Chệt và mấy cô Xẩm ở Chợ Lớn ái mộ rồi thì lớp thanh niên Việt Nam cũng ái mộ hát theo. Tuổi hoa niên của tôi bắt đầu vào hai năm chót của thập niên 40. Nhưng từ năm 1948, các nhạc sĩ tiền chiến và các nhạc sĩ đương thời sau đây có tác phẩm ăn khách nhất:
— Hoàng Quý với “Ngày Xưa”, “Tiếng Chim Gọi Đàn”, “Chùa Hương”, “Bóng Cờ Lau” …
— Đặng Thế Phong với “Giọt Mưa Thu”, “Con Thuyền Không Bến”, “Đêm Thu”.
— Lưu Bách Thụ với bản “Con Thuyền Xa Bến”.
— Văn Cao với “Chiến Sĩ Việt Nam”, “Không Quân Việt Nam”, “Bắc Sơn”, “Thăng Long Hành Khúc”, “Đàn Chim Việt”, “Thiên Thai”, “Trương Chi” …
— Lê Thương với bản “Hòn Vọng Phu”, “Ai Xuôi Vạn Lý” (“Hòn Vọng Phu II”), “Người Chinh Phu Về” (“Hòn Vọng Phu III”), “Học Sinh Hành Khúc”, “Lòng Mẹ Việt Nam”, “Hoa Thủy Tiên”, “Thằng Cuội” …
— Phạm Duy với “Nhạc Tuổi Xanh”, “Nương Chiều”, “Nhớ Người Thương Binh”, “Gánh Lúa”, “Về Đồng Quê”, “Đường Về Quê”, “Chinh Phụ Ca”, “Cô Hái Mơ”, “Tiếng Đàn Tôi”, “Lời Kỵ Nữ”, “Cây Đàn Bỏ Quên” …
— Dzoãn Mẫn với “Cô Lái Đò Mơ”, “Ghé Đây Thuyền Mơ”, “Biệt Ly”, “Một Túp Lều Tranh” …
— Thẩm Oánh với “Trên Mây”, “Thiếu Phụ Nam Xương”.
— Dương Thiệu Tước với “Dưới Nắng Hồng”, “Khúc Nhạc Dưới Trăng”, “Ngọc Lan”, “Bóng Chiều Xưa” …
— Anh Việt với các bản “Chiều Trong Rừng Thẳm”, “Lỡ Chuyến Đò”, “Bến Cũ”, “Một Chuyến Đi” …
— Hùng Lân với các bản “Rạng Đông”, “Hè Về”, “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” …
— Võ Đức Thu với “Nhà Việt Nam”, “Quyết Tiến”.
— Văn Thủy với “Dứt Đường Tơ”.
— Hoàng Giác với “Ngày Về”, “Mơ Hoa”.
Từ năm 1950, cuộc chiến tranh có vẻ lắng dịu ở miền Nam. Những vùng ngoại ô và những vùng phụ cận các thành phố không còn xảy ra các cuộc chạm súng thường xuyên. Hình như bao nhiêu lực của hai bên đối phương dồn về các mặt trận lớn ở Cao Bằng, Lạng Sơn và nhất là ở Điện Biên Phủ. Trong Nam, nhạc hùng dần dà lắng xuống để nhường cho nhạc tình ủy mị. Lúc đó những bản nhạc thịnh hành là:
“Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn, “Dư Âm” của Nguyễn văn Tý, “Trăng Mờ Bên Suối” của Lê Mộng Nguyên, “Nụ Cười Sơn Cước” của Tô Hải, “Trở Về Bến Mơ” của Ngọc Bích, “Chiều Tha Hương” của Hoàng Trọng, “Cây Đàn Bỏ Quên” của Phạm Duy … Dân thị thành cố tình quên bao tai biến vẫn còn lảng vảng trong giờ giới nghiêm nên tìm về chất thơ mộng ướt át trong các bộ môn nghệ thuật. Lúc đó, về văn chương, họ tìm đọc những quyển Cuộc Đời Một Thiếu Nữ của Thanh Nam, Bóng Ngày Qua của Trần Anh Kim, Cánh Hoa Mùa Loạn của Nguyễn Minh Lang, Hồng và Cúc, Ngày Về và Rừng Thẳm Bể Khơi của Ngọc Sơn, Hương Duyên, Gió Mới của Thanh Thủy, Lầu Tỉnh Mộng, Hoa Tỷ Muội của bà Tùng Long, Tiếng Suối Sau-Leng, Nát Cánh Hoa Rừng của Nguyễn Ngọc Mẫn. Về phim ảnh thì những phim ca nhạc của hãng M.G.M (Metro
Goldwyn Meyer) tô màu Technicolor hay những phim phiêu lưu thần thoại với các tài tử John Hall, Douglas Fairbank Jr., Tony Curtis, Kevin Matthew … (bên Nam), Maria Montez, Yvonne de Carlo, Piper Laurie … (bên nữ). Thành phố Vĩnh Long của tôi lại nổi tiếng là thành phố an lành nhất kể từ đầu mùa khói lửa. Cho nên trong thời gian đó, tôi có cảm tưởng chiến tranh mỏng dần để rồi tan biến như sương gặp nắng ấm.
Vào buổi chớm xuân 1996 nầy, tại vùng yên tĩnh nhất của tỉnh Troyes trên đất Pháp, tôi mơ màng sống lại vào năm 1972, khi tôi cộng tác cho ban “Nhạc Chủ Đề Mộc Lan” trên đài Truyền Hình Việt Nam. Tôi giữ phần chọn nhạc và viết lời dẫn nhập cho từng bản nhạc cùng là mời các ca sĩ. Những ca sĩ mà tôi nhắm tới là Kim Tước, Châu Hà, Mai Hương, Quỳnh Giao, Tuyết Hằng, Thu Hà, Hồng Vân, Phương Nga, Diễm Chi (bên nữ), Anh Ngọc, Duy Trác, Phượng Bằng, Nhật Trường (bên nam). Trong thời gian đó, tôi có nhiều dịp đến
viếng tư thất của chị Mộc Lan. Nhà chị hơi nhỏ, chưng nhiều món ngoạn hảo đẹp lạ lùng. Nhà lại tọa lạc trên mảnh đất nhỏ trồng nhiều thứ hoa. Tôi thích nhất những cây ngọc lan lùn thấp mà sau cơn mưa đơm rất nhiều hoa màu ngà tươi và thoang thoảng ngát hương. Năm đó, chị Mộc Lan ngoài 40 tuổi, đẹp lộng lẫy. Chị nhờ khoa giải phẩu thẫm mỹ sữa chiếc mũi hơi thô thành mũi dọc dừa nên khuôn mặt chị đẹp trội hẳn lên. Chị thường tiếp tôi với chiếc áo bà ba bằng vải phin trắng mỏng, chiếc quần sa teng tuyết nhung đen. Ăn mặc quê mùa nhã đạm khi còn ở trong nhà như vậy, nhưng chị vẫn giữ vẻ cao sang kiều diễm như thường.
Bên những tách trà mạn sen bốc khói chị kể cho tôi nghe biết bao giai thoại kỳ thú thuở chị còn thanh xuân. Thuở đó, vào khoảng giữa thập niên 40, đất Thần Kinh có một ca sĩ xuất thân dòng hoàng tộc. Đó là anh Tôn Thất Niệm, một giọng hát cực kỳ gợi cảm và cũng là ngôi sao của đài phát thanh Huế. Giọng anh là một món trân ngoạn tinh xảo, được chạm khắc những bông hoa hình dáng thật trau chuốt, thật ngoạn mục. Giọng hát sáng ngời như kim cương, khi xuống thấp thật mê cảm, dù không đạt một kỹ thuật cao, nhưng tự bản chất đó là thứ rượu dậy men nồng ngát say sưa. Nhưng khoảng đời làm nghệ thuật của anh quá ngắn, vì anh phải đeo đuổi việc sách đèn để sau nầy trở thành một y sĩ nổi tiếng. Ở Huế còn có một giọng kim (ténor) cực kỳ phong phú và dũng mãnh.Đó là giọng hát của Lê Mộng Hoàng. Nhưng Lê Mộng Hoàng không thích trở thành ca sĩ và ôm ấp mộng làm đạo diễn phim ảnh. Ít lâu anh sang Pháp học trường IDHEC để rồi sau nầy khi về nước trở thành đạo diễn lừng danh ngay từ khi thực hiện phim đầu tay là Bụi Đời (có nhiều nhà báo ác miệng nói lái lại thành phim “Bợ Đùi”). Huế còn có các nữ ca sĩ như Thanh Hồng, Thanh Nhạn, Minh Ngọc, Hương Thủy, những kẻ đi trước các nữ ca sĩ Hà Thanh và Thương Hà sau nầy. Cũng theo lời chị Mộc Lan, Đức Hoàng Đế Bảo Đại có tâm hồn nghệ sĩ và rất yêu âm nhạc. Chính Ngài chơi dương cầm rất giỏi. Ngài thường mời các ca sĩ ban nhạc Thần Kinh như Mạnh Phát, Châu Kỳ, Vĩnh Lợi, Minh Diệu, Mộc Lan, Minh Tần cùng chị Minh Trang và anh Tôn Thất Niệm vào hoàng cung ăn yến. Thuở đó cuộc sống lứa đôi giữa Châu Kỳ
và Mộc Lan đã gặp cảnh cơm không lành canh không ngọt. Trước khi ăn các món giáo đầu, nhóm hầu bàn đặt trước mặt mỗi người khách một chiếc tô có vẽ rồng phụng tuyệt đẹp đựng lưng lửng thứ nước trong mát. Đó là tô nước để thực khách rửa tay trước khi dùng tiệc. Nhưng Châu Kỳ lại tưởng nước uống nên không cần dòm trước ngó sau, cứ kê miệng ực gần cạn tô làm chị Mộc Lan quê quá!
Vào hai năm cuối thập niên 40, một ngôi sao sáng tân nhạc chợt xuất hiện trên đài phát thanh Pháp Á. Đó là ca sĩ Anh Ngọc. Đây là một giọng hát có kỹ thuật già dặn. Anh Ngọc là một chủng sinh xuất thân từ một chủng viện ở Hà Nội. Anh có dáng cao dong dỏng và rất đẹp trai, khuôn mặt phương phi hồng hào, cặp mắt sắc nhưng đa tình, nụ cười điềm đạm và tươi rạng. Giọng anh thuộc loại baryton rất trầm ấm.
Anh hát đúng theo nốt nhạc cây dương cầm, hát theo đúng trường độ và cao độ của một nốt nhạc trong bản nhạc. Có lẽ vì anh quá hát đúng nên có người cho anh là một kẻ hát giỏi chứ không hát hay và theo đương sự, anh là thợ hát chứ không phải là ca sĩ. Nhưng trên sân khấu, vóc dáng và khuôn mặt anh làm say mê biết bao nữ khán thính giả. Có nhiều ký giả gọi anh là “vua tân nhạc”. Hãng dĩa Oria có mời anh hát bài “Đôi Chim Giang Hồ” của Ngọc Bích. Về sau, tôi có hỏi ý kiến nhiều ca sĩ thượng thặng về giọng hát của anh. Chị Mộc
Lan bảo:
— Anh Ngọc hát khô quá!
Nữ ca sĩ Quỳnh Giao bảo:
— Anh Ngọc hát giỏi trong khi đó Duy Trác hát hay. Theo Quỳnh Giao thì Anh Ngọc hát bài “Tiếng Chuông Chiều Thu” của Tô Vũ và bài “Giấc Mơ Hồi Hương” không chê vào đâu được. Nhạc sĩ Vũ Thành đã từng bảo các bạn hữu quen thân:
— Bản “Giấc Mơ Hồi Hương” của tôi chỉ có Mộc Lan, Kim Tước, Quỳnh Giao và Anh Ngọc là hát vừa ý tôi thôi.
Riêng tôi, tôi rất thích Anh Ngọc hát bài “Tạ Từ” của Tô Vũ, bài “Hương Xưa” của Cung Tiến. Những bản càng khó hát mới chứng tỏ tài nghệ tuyệt vời của Anh Ngọc. Giọng anh ấm như khói chiên đàn, không gợn đục bởi cái sướt mướt, không vặn vẹo bởi cách bay bướm. Tiếng hát thật chân phương, tự bản chất của nó là thứ ngọc quý, không tỳ vết, được đẽo gọt vừa phải để thành món trang sức bất hủ. Ngọc đó không cần cắt xén nhiều góc cạnh để tỏa ánh sáng, không cần nạm trên cái vỏ chạm trổ cầu kỳ. Vậy mà ngọc vẫn đẹp, vẫn chiếu lộng lẫy màu trong vẻ sáng tinh khôi.
Có một thời Anh Ngọc hát bản “Ngậm Ngùi”, ý thơ của Huy Cận do Phạm Duy phổ nhạc. Bản nầy được thu vào dĩa Việt Nam giao duyên cùng giọng ngâm thơ của Hoàng Oanh. Nhưng Anh Ngọc không dùng xảo thuật để đưa sâu âm hưởng giọng ca mình vào tâm hồn thính giả. Anh hát quá lạnh lùng, tẻ nhạt nên dĩa hát bán ế thiu ế chảy. Bản “Ngậm Ngùi” ít lâu sau đó, vào năm 1968, phải nhờ giọng hát của Lệ Thu mới nổi tiếng được. Anh Ngọc tên thật là Từ Ngọc Toản. Anh có người em là Từ Ngọc Long, tức là ca sĩ Ngọc Long, một giọng thật trầm ấm. Người vợ đầu tiên của Anh Ngọc là nữ nghệ sĩ Giáng Hương. Giáng Hương là con gái thứ ba của một ông nhà giàu ở phố Hàng Bông. Ông có bốn cô con gái, cô nào cũng tuyệt sắc. Dân tài hoa son trẻ thuở đó gọi là Tứ Kiều gồm: Kiều Dinh, Kiều Vinh, Kiều Hinh và Kiều Hương. Kiều Hương là em một cha khác mẹ với ba cô Kiều kia. Kiều Dinh đóng kịch giỏi và trở thành nữ kịch sĩ Giáng Kiều, tài nghệ không thua nữ kịch sĩ Song Kim (vợ của nhà thơ Thế Lữ) thuở đó, nhưng sắc thì ăn đứt Thế Lữ phu nhân. Còn Kiều Hinh có vẻ đẹp thật sắc sảo đa tình, võ vẽ học ngâm thơ và đóng kịch và trở thành nữ kịch sĩ Giáng Hương. Về sau, chị đóng vai nhì trong hai phim. Phim đầu là Đất Lành do Vĩnh Noãn đạo diễn với các diễn viên Lê Quỳnh, Khánh Ngọc, Kiều Hạnh và Giáng Hương. Phim thứ nhì là Nước Mắt Đêm Xuân do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn, với các diễn viên như Nguyễn Long, Mai Trường, Lệ Quyên và Giáng Hương. Mãi tới tuổi tứ tuần mà Giáng Hương vẫn còn đẹp, khi chị ra Đà Nẵng làm ăn trong thời kỳ Mỹ đổ bộ qua Việt Nam, chị vẫn là người đàn bà đẹp nhất trong giới phong lưu hào sảng của thành phố đó. Sau khi ly dị với Giáng Hương, Anh Ngọc có dan díu với nữ ca sĩ Thái Xuân, sau đó là nữ ca sĩ Diệu Anh. Cuộc tình giữa Anh Ngọc và Diệu Anh là cuộc tình đẫm lệ và không lối thoát. Cho nên Diệu Anh mượn độc dược quyên sinh để lại cho anh một niềm
ân hận khá lâu, phải bỏ hát. Vụ án tình đó được báo chí năm 1960 tốn biết bao nhiêu là giấy mực để khai thác.
Anh Ngọc có một thuở song ca cùng Vũ Huyến trên sân khấu. Vũ Huyến tươi tắn và thanh tú hơn vì Vũ Huyến biết hóa trang. Còn Anh Ngọc thì vẫn chỉ chải đầu kiểu Bob Taylor và thoa chút phấn hồng mà không lót kem và giậm phấn trắng để theo đúng theo đòi hỏi của cách hóa trang. Nhưng nụ cười anh tươi tắn như nụ cười nam tài tử điện ảnh Rock Hudson và hàm răng loáng gương của anh cũng đủ thắp sáng anh rồi. Bài “Đoàn Người Lữ Thứ” của Lam Phương do cặp song ca nầy trình bày rất điệu nghệ. Và bài nầy qua giọng
diễn tả của họ cũng được thâu thanh vào dĩa nhựa Asia. Sau đó, Anh Ngọc cùng Văn Phụng và Nhật Bằng lập thành ban nhạc Do Si La để trình bày những bài hát của Văn Phụng như “Tiếng Ca Bên Đồi Vắng”, “Vui Bên Ánh Lửa” hoặc bài “Ánh Sáng Đồng Quê” của Nhật Bằng … Khỏi nói, phần hòa âm của Văn Phụng thì tuyệt vời rồi. Ba giọng hát cứ quyến chặt vào nhau thật điệu nghệ. Sau đó, Anh Ngọc cùng Duy Khánh, Nhật Trường và Thanh Vũ cùng hợp ca trên sân khấu Đại nhạc hội. Dường như cả bốn hợp ca không giao hưởng được với nhau nên đã phải sớm tan rã.
Về điện ảnh, Anh Ngọc được bà Huỳnh Khanh mời đóng phim Vụ Án Tình. Phim hư hỏng sao đó, bà giám đốc sản xuất cho quay lại. Nhưng Anh Ngọc xin rút lui. Vai của anh được tài tử Lê Quỳnh thay thế. Nhưng rồi phim cũng không được đem trình chiếu và chịu tồn kho vĩnh viễn. Trong phim nầy bà Huỳnh Khanh đóng vai chánh. Bà là mẹ của nữ ký giả Trưng Liệt Dung; cô Dung lại là vợ của nhạc sĩ Hoàng Nguyên, tác giả bài “Ai Lên Xứ Hoa Đào” và “Đàn Ơi Xa Rồi”. Vào năm 1973, Anh Ngọc được đạo diễn kiêm nhà văn Đỗ Tiến Đức mời đóng phim Yêu phỏng theo quyển tiểu thuyết cùng tựa rất ăn khách của Chu Tử. Đỗ Tiến Đức không phải là một đạo diễn có sự am hiểu chín chắn về điện ảnh nên cuốn phim hỏng nặng về nhiều mặt dù bên cạnh Anh Ngọc có những tài năng điện ảnh rất sáng giá như Thanh Lan, Mai Trang, Lê Tuấn … Khi đóng phim đó, anh đã luống tuổi, lại để lộ vóc dáng một kẻ thấm mệt chóng già: mông teo tóp, vai rút, tay chân gầy guộc, mặt nhăn nheo và ủ dột. Phim Yêu là nhát xuổng cuối cùng để đào huyệt chôn lấp hết cái hình ảnh hào hoa phong nhã của anh trong lòng khách mộ điệu (bên phe nữ). Vả lại, tiếng hát của anh thuở đó cũng đã khô hơn.
Cũng như Thái Thanh, Anh Ngọc thích giao du với các nhà văn nhà báo thuộc hạng Thái Sơn Bắc Đẩu. Anh gia nhập với nhóm Cái Bang trong đó gồm có các nhà văn Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Nam, ký giả Răng Phan Lạc Phúc, nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Đôi khi lại có nữ ca sĩ Thái Thanh nhập cuộc. Ban nầy ăn nhậu rất hào hùng, riêng ông Vũ Khắc Khoan thì đôi khi đi mây về gió với ả phù dung. Vào 5 năm cuối của thập niên 60 cho tới 5 năm đầu của thập niên 70, các văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn giới trình diễn thấy Cái Bang ở đâu liền đứng xa chiêm ngưỡng vì thấy mình sao mà hèn mọn quá, còn họ tỏa hào quang chiếu sáng tưng bừng. Bà chị Thụy Vũ của tôi thuở còn là cô giáo tỉnh lẻ rất ái mộ Anh Ngọc. Năm 1967, khi trở thành nhà văn, chị được anh Thanh Nam và nhà văn nữ Túy Hồng giới thiệu với Anh Ngọc để cùng nhóm Cái Bang ăn tiệc do Anh Ngọc thết đãi. Chị nghĩ rằng đây là cái hân hạnh ngàn năm một thuở trong đời cầm bút của mình.
Trong lúc Anh Ngọc đang ngự trên đỉnh nghệ thuật cao chót vót thì tên tuổi Minh Trang cũng leo lên đỉnh đài vinh quang rạng rỡ. Minh Trang đẹp giống đầm. Thời còn xuân sắc, chị là một trong những phụ nữ đẹp nhất tại đất Thần Kinh. Khi trở thành bà hoàng hậu ca nhạc rồi thì chị hãy còn giữ một vài nét thanh tú trên khuôn mặt. Vì trải qua một vài lần sinh nở nên vóc mình chị hơi khô. Minh Trang có mái tóc bất hủ, tóc xõa phía sau và ở hai bên, nhưng cắt mành tương trước trán. Đây là mái tóc của nữ tài tử Maria Montez, cô đào Hoa Kỳ gốc Tây-ban-nha chuyên đóng những phim diễm huyền lấy sự tích của trong quyển Một Ngàn Lẻ Một Đêm. Đó cũng là mái tóc của Elizabeth Taylor khi cô ta đóng phim Cleopatra vậy. Minh Trang có một nốt ruồi bên mép trông giống cô đào Lana Turner đóng vai Milady trong phim Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ. Sau này, nốt ruồi ấy được “đánh đi,” và chị bắt đầu xuống giốc trong lãnh vực ca hát. Có lẽ vì thế mà chị cho rằng nốt ruồi có thể đã ảnh hưởng đến sự nghiệp, “đánh” nó đi đã làm hại đến sự nghiệp của chị.
Minh Trang hát nhạc nào cũng hay, trừ loại nhạc kích động. Từ loại nhạc âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương, đến loại nhạc vũ trường hoặc nhạc jazz theo thể điệu blue, loại nào chị cũng hát tới nơi tới chốn và bằng sự diễn tả cực kỳ gợi cảm và truyền cảm. Về sau, chị chuyển qua hát dân ca cũng thành công rực rỡ. Hai bản “Tiếng Xưa” và “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước được chị hát lần đầu tiên trên làn sóng điện của đài Pháp Á, trên sân khấu Đại nhạc hội, trong dĩa nhựa thật dạt dào tình ý. Về sau có Thanh Thúy và Giao Linh hát hai bản nầy, nhưng theo tôi, cả hai ưa vặn vẹo giọng hát để giọng hát trở nên sướt mướt thảm sầu. Còn chị Minh Trang không thèm chơi trò phù thủy âm thanh, không cần rên siết nức nở và chỉ diễn tả tình cảm có chừng mực. Tuy nhiên giọng hát của chị vẫn chuyên chở được nhiều tình ý thiết tha, vẫn làm say đắm khách mộ điệu như thường. Cũng có một lần, trên sân khấu Đại nhạc hội, chị hát bản “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” của Lam Phương bằng một giọng buồn rười rượi và bằng hai giòng nước mắt sáng lấp lánh dưới ánh đèn sân khấu.
Có một vận sự: Chị Minh Trang có vài lần hát bản “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss (lời Việt của Dương Thiệu Tước chứ không phải lời Việt của Phạm Duy). Thường thì chị hát phom phom như con tàu vượt biển an lành. Nhưng rồi vì trải qua nhiều cuộc sinh nở, làn hơi chị hao hụt khá nhiều nên có lần chị hát gãy khi lên nốt nhạc thật cao. Và khi chị ngân nga bằng nguyên âm (vocaliser) thì chuỗi ngân không mướt.
Không dè kỳ đó chị gặp nhiều hoạn nạn nên từ đó chị không hề hát lại cái bài hát đòi hỏi một giọng kim và một làn hơi dồi dào. Chị Minh Trang là hậu duệ của quan đại thần Nguyễn Thân. Người em gái của chị là nữ nhạc sĩ Ngọc Thuyền (khi ca hát lấy biệt danh là Minh Ngọc) kết hôn với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt. Người chồng đầu tiên của chị là hoàng thân Nguyễn Phúc Ưng Quả, biệt hiệu là Vân Hán, vốn là một bậc trí thức, viết báo Pháp và là thầy dạy học của Thái Tử Bảo Long. Chị sanh cho ông Ung Quả hai mặt con. Đó là Nguyễn Phúc Bửu Minh và Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang. Bửu Minh có khuôn mặt đẹp cực kỳ thanh tú, khi ca hát lấy hiệu là Anh Minh.
Còn Quận chúa Đoan Trang khi còn nhỏ lấy tên thật của mình làm nghệ danh để hành nghề ca sĩ. Khi lớn lên, cô chọn tên là Quỳnh Giao. Cô thường bảo tôi:
— Tôi chọn cái tên Quỳnh Giao để kỷ niệm ông anh một cha khác mẹ của tôi là Bửu Giao chẳng may thất lộc sớm. Mỗi khi nghĩ tới anh ấy, tôi ngậm ngùi thương tiếc lắm!
Chị Minh Trang vì mến phục cái trí thức của ông Ưng Quả nên tìm cách kết hôn với ông cho bằng được. Nhưng sau khi chị sinh hai mặt con, vợ chồng chị gặp cảnh đồng sàng dị mộng. Tấm ái tình của chị đối với chồng trong thời gian lứa đôi chung sống kéo dài chẳng được bao lâu thì hóa ra lửa tàn tro nguội. Chị rời khỏi nhà chồng. Khi ông Ưng Quả mất thì chị Minh Trang đã kết hôn với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và đang mang thai con đầu với ông Tước. Trước đó, Bửu Minh và Đoan Trang ở với ông Ưng Quả nhưng khi ông mất thì họ về ở bên họ nội. Vài tháng sau, chị Minh Trang mới ra Huế đưa cả hai vào Saigon. Dương Thiệu Tước là hậu duệ của cụ Nghè làng Vân Đình tên là Dương Khuê. Ông Tước đỗ Tú Tài, thích âm nhạc, có thiên tư sáng tác, xử dụng cây guitare hawaienne rất điêu luyện, rất truyền cảm. Đã vậy ông rất đẹp trai, màu da mịn
màng sáng sủa, sóng mắt sáng ướt, sống mũi và cặp môi cực kỳ thanh tú, vầng trán sáng nhuận, mái tóc chải theo kiểu Bob Taylor với cái sừng nổi u phía trên trán. Minh Trang và Dương Thiệu Tước là một cặp uyên ương âm nhạc thật đẹp đôi. Nhưng mà khi gặp nhau, cả hai đều có con riêng. Mối tình của họ không phải suông trơn, không phải xuôi chèo mát mái từ đầu cuộc đâu. Về phần Dương Thiệu Tước, ông đã có vợ cái con cột. Vợ ông là bà Lương thị Thuần đã sinh cho ông nhiều mặt con. Hiện nay ba người con gái của ông Tước và bà Thuần định cư ở Hoa Kỳ, còn hai người con trai của họ đang định cư ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. Hồi còn ở Hà Nội, Dương Thiệu Tước được nghe giọng hát tuyệt vời của chị Minh Trang nên ông bắt đầu cảm mến chị. Ít lâu sau đó, chị Minh Trang được Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí mời ra Hà Nội trình diễn thì ông mới có dịp gặp chị. Khi chị trở về Sài Gòn thì ông lặn lội theo chị, bỏ hết sự nghiệp và vợ con ngoài Bắc. Cả hai ăn ở với nhau có nhiều mặt con trong đó có ba cô Vân Quỳnh, Vân Hòa và Vân Khanh là theo vết xe của mẹ mình. Cả ba cô Vân cùng nữ ca sĩ Quỳnh Giao lập ra ban Tứ Ca Mây Bốn Phương, hát rất điêu luyện và điệu nghệ.
Mối tình say đắm giữa Minh Trang và Dương Thiệu Tước được thể hiện ở bài “Ngọc Lan” mà ông Tước đã đề câu tặng như sau: “Tặng Ngọc Trâm”. Ngọc Trâm là tên cúng cơm của chị Minh Trang. Sau đó là bài “Bóng Chiều Xưa”, Dương Thiệu Tước đặt nhạc, Minh Trang đặt lời. Bản nhạc nầy nổi tiếng như cồn trong những năm 49, 50, 51 và suốt cả thập niên 50. Nó là bản thông điệp của cặp trai gái yêu nhau, phản ảnh nguyên vẹn tâm tình và nỗi đam mê của họ.
Một chiều ái ân
Say hồn ta bao lần
Một trời đắm duyên thơ
Cho đời bao phút ơ thờ
Ngạt ngào sắc hương
Tay cầm tay luyến thương …
Bài hát nầy rất thịnh hành trong giới tài hoa son trẻ khắp Bắc Trung Nam. Nhưng nó làm cho các bậc phụ huynh thủ cựu phải nhăn mặt. Các bác tôi cấm con gái của họ hát bài nầy bởi vì câu đầu “một chiều ái ân” rất táo bạo đối với thính giả thời đó. Minh Trang đóng kịch rất giỏi, rất đạt. Vào năm 1962, có cuộc đại hội môn thoại kịch toàn quốc ở Sài Gòn. Chị đoạt giải cúp bạc “Nữ Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất” trong khi đó
Kim Cương đoạt giải cúp vàng “Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất”. Vai trò của chị là một nàng kỹ nữ về già. Chị nhập vào vai trò do mình đảm nhiệm một cách kỳ diệu. Dường như chị đạt đến mức xuất thần. Chị không đóng trò, mà chị sống thật qua vai trò thì đúng hơn. Cách cười khinh bạc đau đớn, cách cầm điếu thuốc, cách nhún vai, hất mặt đều thể hiện một gái buông hương khi tàn phai nhan sắc bị cuộc đời hất bên lề xã hội. Nữ nghệ sĩ Kim Cương có mời chị gia nhập vào ban Thoại Kịch Kim Cương. Chị chỉ cộng tác một thời gian ngắn rồi xin rút lui vì kẹt việc trong đài phát thanh và không thể theo đoàn đi lưu diễn xa Sài Gòn được.
Viết về Minh Trang, tôi xin nhấn mạnh đó là bà hoàng hậu của nền Tân nhạc Việt Nam, nói gọn đó là một ca hậu trong khi đó bên phái nam, Anh Ngọc giữ ngôi vị một ca đế (hoàng đế môn ca nhạc) khá lâu. Và chị cũng là con dao pha kịch nghệ sắc bén dù rằng chị bỏ ngành kịch giữa chừng, chứ tài nghệ của chị nào kém thua Kiều Hạnh, Xuân Dung, Kim Cương, Túy Hồng …
Năm 1980, khi chị Minh Trang và ba con (hai gái, một trai) vượt biên, ông Tước ở lại vì hai lý do: Một là ông mắc nợ ả phù dung, không thể sống thiếu thuốc. Hai là ông sợ đi không thành, quay về sẽ không có chỗ ở. Sau khi vợ và con đã thoát, ông đành sống một mình. Lúc đó có cô học trò của ông, thương thầy cô độc, đến săn sóc cơm nước cho thầy rồi trở thành người bạn đường trong quãng cuối cuộc đời của ông.
Năm 1995, Dương Thiệu Tước qua đời. Hai người con trai dòng lớn của ông có làm bản cáo phó trên tờ tạp san Viên Giác (Đức) có ghi tên các con dòng lớn của cha mình mà không ghi tên những đứa con chung của cha mình và chị Minh Trang.
Về các ca sĩ đài Pháp Á, nhạc sĩ Phạm Duy trong quyển hồi ký thứ III của anh tựa là Thời Phân Chia Quốc Cộng đã viết như sau:
Khi mới thành lập năm 1946, Đài Pháp Á chưa có nhiều ca nhạc sĩ cộng tác. Chỉ mới có ban nhạc Trần Văn Lý với vài ca sĩ như Thu Hồ, Mạnh Phát, Minh Diệu, Thu Thu … Đài thiếu ca sĩ cho đến nỗi có một hôm, tới giờ phát thanh, Trần Văn Lý phải nhờ cô thông dịch viên Ngọc Trâm vào studio hát, rồi cô trở thành ca sĩ thực thụ và đổi tên là Minh Trang. Dần dần số ca sĩ tăng lên, về phía nữ, có thêm Ngọc Hà, người tình của Lê Trực (tác giả bài “Tiếng Còi Trong Sương Đêm”). Có Ngọc Thanh và chồng là Đức Quỳnh, có thêm Oanh Oanh, Kim Bằng, Ngân Hà … những ngôi sao non chỉ một thời chiếu sáng rồi từ từ khuất bóng. Trong phía Nam, ngoài Thu Hồ, Mạnh Phát có thêm Anh Ngọc, và người em là Ngọc Long. Có thêm ca sĩ tài tử là sinh
viên Tôn Thất Niệm, sau trở thành bác sĩ tổng trưởng và thượng nghị sĩ.
Các nữ ca sĩ lúc trước đều dùng tên đầu là Ngọc (Ngọc Trâm, Ngọc Hà, Ngọc Thanh), bây giờ, để cùng giống như Minh Trang, Minh Diệu, các cô mang tên là Minh Tần (em Minh Diệu), Minh Nguyệt (vợ Trần Văn Lý), Minh Hoan (vợ Vũ Huyến) … Sau đợt các nữ ca sĩ “Ngọc” và “Minh” nầy là đợt Mộc Lan, Châu Hà, Linh Sơn, Ánh Tuyết … tất cả đều đóng góp vào việc phát triển mạnh mẽ của Tân Nhạc. Ban Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng càng làm cho Tân Nhạc ở Sài Gòn trong đầu thập niên 50 thêm phần rực rỡ.
… Với một số ca sĩ và bài bản khá nhiều, Đài Pháp Á mở ra mục “nhạc yêu cầu”. Mục nầy giúp cho Đài đánh giá từng bản nhạc, từng ban nhạc hay từng ca nhạc sĩ và khiến cho Tân Nhạc không chỉ thịnh hành tại Saigon mà còn bung đi khắp nơi trong nước. Bài “Về Miền Trung” là bài được yêu cầu nhiều nhất trong hai năm 1951-52. Bài nầy phổ thông đến độ mỗi khi xe lửa sắp rời ga Saigon ra Huế thì dân chúng được nghe phát thanh bài “Về Miền Trung” qua các loa lớn. Ông xếp ga Saigon hẳn phải là người rất yêu nhạc.
Ngoài việc giúp cho tiếng tăm của nghệ sĩ đi vào quần chúng rất nhanh và rất xa, đài Pháp Á còn tổ chức những cuộc “tuyển lựa ca sĩ” để đào tạo ca sĩ trẻ. Người giật giải nhất trong buổi tuyển lựa đầu tiên là Tùng Lâm. Rồi tới Bích Thủy và thần đồng Quốc Thắng. Các ca sĩ Hùng Cường và Vân Hùng cũng xuất thân từ những buổi tuyển lựa nầy. Ở đây, tôi xin bổ túc những gì mà anh Phạm Duy đã viết.
Không phải những nữ ca sĩ nào mang cái tên khởi đầu bằng “Ngọc” và bằng “Minh” là những ngôi sao non. Chị Minh Trang vốn là thối thân của nữ xướng ngôn viên Ngọc Trâm vẫn là một ca sĩ hát bằng kỹ thuật già dặn mà chưa chắc Thái Thanh vượt qua. Còn Ngọc Hà có giọng hát với cái âm vực rất lớn không kém âm vực của giọng hát của Thái Thanh, nhưng khi xuống trầm tiếng hát của Ngọc Hà dũng mãnh và dội sâu hơn giọng Thái Thanh. Mỗi khi xuống trầm, Ngọc Hà đủ làn hơi phong phú để ngân nga rập rờn theo trường độ một
nốt nhạc. Ngọc Hà khi hát lên cao thì tiếng tuy không dẻo nhưng vẫn không chua lắm vì chị không thọc sâu tiếng vào cuống họng, trái hẳn giọng Thái Thanh. Ngọc Hà chỉ thua Thái Thanh ở chỗ hát không bằng tâm hồn nghệ sĩ và bằng trái tim nhạy cảm mà thôi. Ngọc Hà hát các bài rumba đã điệu nghệ lắm rồi mà còn hát các bản paso doble dòn dã nghe đã cái lỗ tai biết dường nào!
Minh Trang thôi hát vì uống phải một thứ thuốc trị suyễn cực mạnh có hại cho dây thanh đới của chị. Ngọc Hà thôi hát vì ông chồng chị ấy không muốn. Lớp nữ ca sĩ trong thập niên 40, 50 phần đông hành nghề ca sĩ để lôi kéo những người đàn ông giàu có, thuộc hạng hào hoa phong nhã vào vòng hôn nhân. Do đó khi gặp được một ý trung nhân tha thiết “xin bàn tay” họ rồi thì họ ngại ngùng gì mà không giải nghệ để trở thành người đàn bà hạnh phúc trong hôn nhân và có một gia đình êm ấm? Do đó mà Minh Nguyệt, Hoàng Yến, Bích Thủy vội sớm bỏ nghề giữa lúc thanh sắc còn đang độ để đi lấy chồng.
Bây giờ, tôi xin điểm vài khuôn mặt ca sĩ của đài Pháp Á vào thuở đó.
* Kim Bằng:
Chị là kẻ đồng thời với Mộc Lan, Minh Trang và Ngọc Hà. Trong một cuộc phỏng vấn báo Duy Tân do anh Nguyễn Ang Ca làm chủ bút, chị tuyên bố rằng: –Kim Bằng chẳng có ai là kẻ thù, chỉ trừ cổ nhạc cải lương mới là kẻ thù số một của Kim Bằng mà thôi. Tuyên bố vung vít giữa lúc nền tân nhạc hãy còn phôi thai và trong lúc nền ca kịch cải lương đang thịnh hành, chị Kim Bằng bị các ký giả kịch trường và các đào kép cải lương phản đối. Họ “đánh hội đồng” chị tơi bời xơ xác làm chị phải lên tiếng xin lỗi.
Kim Bằng có một giọng hát trong trẻo êm ái. Chị hát bản “Gái Xuân” do Từ Vũ phổ nhạc cho bài thơ cùng tựa của Nguyễn Bính nghe được thôi, chứ không bằng Tâm Vấn hay bằng Linh Sơn. Bởi giọng hát của chị không có gì đặc biệt nên khi chị bỏ nghề cũng chẳng ai tiếc. Có nhiều kẻ yêu nhạc từ thập niên 40 chưa chắc còn nhớ tới chị.
* Minh Tần:
Là em của Minh Diệu, chị đẹp hơn Minh Diệu, có đăng ảnh ở bìa sau một vài bản nhạc do Tinh Hoa xuất bản. Trong ảnh, chị mặc áo dài cổ thấp, đeo kiềng trơn, cười thật tươi, nheo cặp mắt lai láng sóng thu. Minh Tần cùng hát chung với Minh Diệu bản “Cánh Hoa Xưa” của Hoàng Trọng, cùng hát với Mạnh Phát và Vũ Huyến và Minh Diệu nhạc kịch “Kéo Gỗ Làm Đình”. Bản nhạc và nhạc kịch được thâu vào dĩa Việt Thanh. Về sau, khi có gia đình, Minh Tần giải nghệ ca hát và trở thành một trong những nữ xướng ngôn viên đài phát thanh Sài Gòn.
* Minh Nguyệt:
Chị khá xinh đẹp, với vóc mình cao lớn và mập mạp. Nhưng chị mập mà gọn gàng và có eo, cho nên chị thật nồng nàn gợi cảm. Giọng chị thanh tao mềm mại thôi chứ không có gì đặc biệt. Đó là một giọng hát gợi nên hình ảnh một tấm lụa bạch với vóc trơn óng ả, không dệt hoa sáng, không thêu hoa nổi. Ngoài lãnh vực ca hát, chị Minh Nguyệt lại còn là một cây đinh trong ban ca vũ Bốn Phương với Túy Hoa, Hoàng Yến và Hồng Lan. Chị lại còn đóng kịch với Đức Quỳnh và Kim Bảng, nhưng cốt tạo vẻ tươi mát và sáng rỡ cho các màn hài kịch, chứ không phải là cây đinh của vở kịch; bao nhiêu pha trào lộng đều hướng vào Đức Quỳnh và Kim Bảng ráo trọi. Minh Nguyệt trước khi kết hôn với nhạc sĩ Trần văn Lý có yêu một người hào hoa. Nghiệt thay, cô em ruột của chị cũng yêu người ấy. Và chị nhường đương sự cho em mình, cùng song thân mình tổ chức đám cưới linh đình cho em. Trước khi đưa dâu, chị dặn dò cô em của mình:
— Bây giờ anh ta là em rể của chị, còn chị là chị vợ của anh ta. Em mà bày đặt ghen ngược thì Trời sẽ đánh em. Lòng chị bây giờ đang hướng vào một người khác, chị đang ghiền mùi quân phục đây. Lúc đó, Trần Văn Lý đã bước chân vào đời binh ngũ.
* Minh Hoan:
Chị không đẹp, chỉ được nụ cười hiền hậu và dễ mến. Giọng chị trong trẻo và gợi cảm. Chị có một dạo đổi biệt hiệu là Thu Thảo. Sự nghiệp ca hát của chị không vẻ vang. Cuộc đời của chị lại hẩm hiu. Chị rút âm thầm vào bóng tối cũng không ai để ý.
* Vũ Huyến:
Là con của kịch sĩ Vũ Huân. Anh có giọng hát hơi khàn, nhưng gợi cảm, có một chuỗi ngân khít khao và óng ả. Anh rất sáng sân khấu, da trắng mát, mặt mũi thanh tú, vóc dáng nho phong. Anh đóng kịch cũng rất có duyên. Nhưng ngôi sao sự nghiệp trình diễn của anh chỉ tới năm 1955 là lu mờ dần. Vũ Huyến có sáng tác một bản nhạc “Cô Hàng Nước” là tác phẩm để đời mà anh lấy bút hiệu là Vũ Minh. Vũ Huyến là chồng của Minh Hoan, sau đó anh tái hôn với Linh Sơn. Nhưng cuộc hôn nhân sau cũng không bền. Lúc đó nghề nghiệp của Vũ Huyến và Linh Sơn đều xuống giốc. Năm 1994, Vũ Huyến từ trần tại California (Hoa Kỳ) để lại dĩa nhạc “Cô Hàng Nước”. Ở dĩa nhạc nầy, anh hát các bản quen thuộc với đa số sành nhạc trong đó có bản “Cô Hàng Nước”.
* Ngọc Long:
Là em trai Anh Ngọc, anh có một giọng trầm thật gợi cảm không kém giọng trầm của Duy Trác về sau. Giọng hát đó gợi lên tiếng đại hồ cầm, tiếng núi thẳm hang sâu đồng vọng lại, gợi luôn hình ảnh của một giòng song chảy qua rừng cây u trầm tĩnh mịch. Tiếc một điều là khi ngân nga, giọng anh lại tuột dần xuống một bán cung, không như cách ngân nga mà không tuột giọng như Duy Trác. Ngọc Long dường như ít lên sân khấu vì anh không sáng đẹp như Anh Ngọc; anh lại bị chột một mắt nên thường đeo kính râm.
Trong bán thập niên đầu 50, bất cứ một ban nhạc nào hội đủ bốn giọng ca oanh liệt nhất là Anh Ngọc, Ngọc Long, Minh Trang, Tâm Vấn thì đó là ban nhạc làm thỏa mãn khách sành điệu.
* Tâm Vấn:
Là nữ danh ca bắt đầu làm mưa làm gió ngoài Hà Nội chưa được bao lâu thì chị vào Nam. Tên tuổi của chị chiếu sáng bắt đầu sau Hiệp định Genève và sau phong trào người Bắc di cư vào Nam. Chị đẹp, vóc mình nồng nàn, khuôn mặt tươi vui, tóc xõa mềm mại, nụ cười tươi sáng và ấm áp. Khi leo lên sân khấu, chị ưa đeo chiếc khoen mọi to như miệng chén ở trái tai. Giọng của chị trộn giọng óc khá nhiều nên hơi the thé, nhưng đây là giọng dẻo như thép quý, mỗi khi lên cao thì quát tháo một cách dõng dạc và ngân nga thật
sướng tai. Tâm Vấn hát loại nhạc vũ trường như Swing, Fox trot rất điệu nghệ. Bản nhạc “Chiến Sĩ Của Lòng Em” của Trịnh văn Ngân được chị trình bày thật nhộn nhàng. Ngoài ra, bản “Thu Vàng” của Cung Tiến do chị hát được thu thanh vào dĩa Việt Thanh. Khi lên chỗ cao nhất, chị hát thật lảnh lót, dùng làn hơi dũng mãnh của mình để hát tròn tiếng và ngân nga. Tiếng hát lúc đó bắn vọt lên như pháo thăng thiên, như hỏa tiễn. Có người không sành điệu cho rằng chị la oai oải, nhưng người sành điệu thì trái lại biết chị hát rất đúng, lên cao mà giọng không mỏng, nhất là không gãy và vẫn trơn tru dễ dàng.
Tâm Vấn khi còn ở Hà Nội là người yêu của nhà văn Nguyễn Minh Lang, một cây viết tiểu thuyết ướt át không thua Trần Anh Kim, Hoàng Kim ở ngoài Bắc hoặc như Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Nguyễn Ngọc Mẫn và bà Tùng Long ở trong Nam. Khi vào Nam, Tâm Vấn gặp học giả Thanh Nghị, người làm những quyển tự điển Pháp Việt và Việt Pháp. Thanh Nghị tên thật là Hoàng Trọng Quỳ, em của nhà văn Hoàng Trọng Miên. Lúc ông si tình Tâm Vấn thì vợ ông đã qua đời từ lâu, để lại cho ông một đàn con nheo nhóc. Lúc đầu, Tâm
Vấn chê Thanh Nghị hơi lớn tuổi, chê ông có con cái đùm đề. Nhưng ông ve vãn chị ráo riết. Mưa dầm mãi thì cũng có ngày gây lụt lội. Đám cưới của cặp Thanh Nghị và Tâm Vấn có nhiều văn nghệ sĩ bên trình diễn lẫn bên sáng tác tham dự, còn nữ ca sĩ Khánh Ngọc thì làm phù dâu. Vào năm 1968, sau Tết Mậu Thân, Thanh Nghị bỏ nhà vào mật khu theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và được phong làm Thứ Trưởng Bộ
Thông Tin Văn Hoá. Sau đó ít lâu, Tâm Vấn tái hôn với bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Hiện nay ông Quế bị mắc vòng lao lý dưới chế độ Cộng Sản, Tâm Vấn đành làm nàng Tô Phụ kiên tâm đợi chồng mình có ngày được phóng thích để sum họp với mình.
Tâm Vấn có cô em tên Thịnh Thái, không đẹp lắm, nhưng thật có duyên. Thịnh Thái có đôi mắt một mí leo lét, và nụ cười rộng miệng nhưng thật tươi. Cô lên sân khấu hát những bản nhạc du dương nhún nhẩy với Tâm Vấn rất nhộn. Trong đàn con của Thanh Nghị có Hoàng Trọng Hạt (mà tôi gọi đùa là Hoàng Trọng Hột vì Hạt là chỗ quen biết với tôi). Hạt trước năm 1968 là một ca sĩ tài tử. Sau khi cha vào mật khu thì anh chính thức lao vào ca trường nhạc giới, chuyên hát nhạc Rock ở các phòng trà với Kiều Loan, Thu Oanh v.v …
Hoàng Trọng Hạt lấy biệt danh là Hoàng Hạc, nhưng sau ngày Sài Gòn thất thủ, anh cộng tác với ban kịch nói Bông Hồng, giữ phần phụ diễn ca nhạc. Nghe lời cha, anh đổi biệt hiệu lại thành Hoàng Hạt. Hoàng Hạt sang định cư bên Pháp vào năm 1981, để rồi tên tuổi anh lu mờ và bị thui chột luôn.
Theo tôi, Minh Nguyệt, Minh Tần, Minh Hoan, Ngọc Thanh lần lượt vắng bóng sớm không hẳn là tại họ hát còn non về kỹ thuật, mà là họ không thật sự yêu nghề. Trong thời buổi họ xuất đầu lộ diện, có ai dám bảo ngành tân nhạc là môi trường dung thân cho họ suốt đời đâu. Có ai như các ca sĩ Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà hoặc như Mai Hương, Quỳnh Giao, Tuyết Hằng, dù khán giả hơi lãnh đạm đối với giọng hát của họ, nhưng họ vẫn tự tin ở tài nghệ mình, vẫn hát gần một phần ba thế kỷ cho một số ít oi khách sành điệu nghe.
Trong số các nữ ca sĩ vừa kể thì đa số biết đóng kịch, nhưng đóng kịch thành thạo phải nói tới Linh Sơn.
* Linh Sơn:
Tên thật là Nguyễn thị Bính, chị đóng kịch giỏi hơn hát. Chị đẹp thật mặn mà, đẹp thật cao sang thanh thoát. Đó là cô công chúa mộng tưởng của biết bao thanh niên cùng trang lứa với chị, tức là lớp thanh niên lớn lên giữa thập niên 40. Có lần chị chụp ảnh để quảng cáo xà bông Cadum cho một đại lý tại Sài Gòn. Chị lại tuyên bố ở mục quảng cáo như sau: “Tôi yêu xà bông Cadum vì nữ tài điện ảnh Martine Carol thích xà bông nầy”. Lúc đó, vào đầu thập niên 50 là thời đại hoàng kim của nữ tài tử màn bạc Pháp Martine Carol. Giới yêu thích kịch ảnh thích Martine Carol đã đành mà còn thích luôn cả Linh Sơn. Bởi chị đẹp, có thể bảo
là đẹp trội hơn các nữ ca sĩ thời bấy giờ. Chị có khuôn mặt trái soan, sóng mũi dọc dừa, đôi mắt sáng ướt, nhưng cái nhìn đoan nghiêm. Chị có vóc vạc vừa tầm, tay chân xinh xắn. Cái đẹp của chị thuộc loại mà các cụ người Bắc nhà ta bảo rằng đó là thứ “mỏng mày hay hạt”. Lại nữa, chị đóng kịch rất vững, đã cùng Hoàng Hải, Hoàng Năm xuất hiện rất nhiều lần trên sân khấu. Giọng Linh Sơn mềm mại, nhưng chuỗi ngân bời rời, khi có khi không. Cách trình bày điệu Boston của chị thật thong dong, thật nhẹ nhàng như khói trà thoảng qua miệng chén. Có lần tôi được nghe chị hát rất đạt bản “Sóng Vàng Trên Vịnh Nha Trang” của Văn Phụng, theo thể điệu Boston. Và cũng có lần chị xuất hiện trong một nhạc cảnh “Cô Tú và Anh Đồ”. Cô Tú Linh Sơn mặc áo nâu non, yếm đào, thắt giây lưng thiên lý, tóc vấn đuôi gà đẹp ơi là đẹp! Còn anh đồ Vũ Huyến thì mặc áo the, đội khăn xếp trông thật xinh như mộng. Cả hai rất đẹp đôi trên sân khấu như cặp Kim Cương và Vân Hùng, như cặp Túy Phượng và Hoàng Cầm về sau nầy vậy.
Linh Sơn thuở còn con gái, mỗi khi đi hát có mẹ theo kè kè một bên. Vận sự của chị cũng giống như vận sự của hai nữ danh ca Bạch Yến và Bích Chiêu. Cô Yến và cô Chiêu khi đihát phòng trà cũng có mẹ theo. Cho nên có một nhà báo độc miệng phang mạnh vào các bà mẹ đáng thương kia bằng một câu động trời:
— Chăn giữ con gái kỹ như thế, biết đâu con gái chưa hư mà mẹ đã hư rồi.
Linh Sơn có mối tình đầu với ca sĩ Phạm Đức. Phạm Đức đẹp trai và tráng kiện. Nhưng Phạm Đức lại có vợ cái con cột. Sau đó, chị kết hôn với Vũ Huyến. Và sau nữa, chị có nhiều đời chồng khác, mỗi cuộc hôn nhân nào cũng làm chị tốn nước mắt. Đó là cái hệ lụy của kiếp hồng nhan và cũng là cái oan nghiệt của tài mệnh tương đố vậy.
Con trai của Linh Sơn là Nguyễn Thành Vân là một giọng hát có bản lĩnh, có thể cùng Vũ Anh và Bích Liên chen vai thích cánh với những giọng hát cự phách như các giọng hát của Trần Chúc, Kim Tước, Châu Hà, Mai Hương, Quỳnh Giao ở hải ngoại.
* Mộc Lan:
Tôi cũng xin nói thêm về chị Mộc Lan, một kẻ vững tin vào kỹ thuật giọng hát mình nên bền sắt tươi son với nghề nghiệp của mình. Đầu thập niên 50, mối tình giữa Châu Kỳ và Mộc Lan tan rã, nhưng cả hai vẫn cùng song ca trên sân khấu nên báo chí đoán già đoán non rằng cả hai đang xúc tiến chuyện tái hợp. Nhưng chị Mộc Lan thì quyết tháo ra. Có một đôi lần, chị cho báo chí biết rằng người tình đầu của chị không phải là Châu Kỳ, mà là một thanh niên có ăn học, không hề dính dáng gì tới chuyện âm nhạc ca xướng. Chàng
đã bỏ mình trong cuộc oanh tạc của máy bay đồng minh. Chàng rất thích bản “Con Thuyền Xa Bến” của Lưu Bách Thụ. Cho nên vào năm 1970, khi xuất hiện lần đầu tiên trên Tivi, chị hát bài đó để chiêu niệm hình bóng cũ, dù cố nhân đã vùi sâu dưới mộ trên 25 năm.
Theo gió thuyền xuôi
Sóng đưa bèo trôi
Tiếng đàn trầm trầm
Man mác lòng tôi …
Về cuộc hôn nhân giữa chị và Châu Kỳ, lúc đầu cả hai yêu đương rất nồng mặn với nhau. Nhưng chị lại thất vọng khi có một lần ghé chơi Huế, được một bà cụ già có quen với bên nội chị thóc mách:
— Con ni sắc sảo mặn mà như ri lại đi lấy thằng chồng không ra cái chi hết. Hắn là con quan thì Trời bắt tui chết đi. Hắn là con của phường kim sanh, người mô mà chẳng biết?
Uổng cho con ni thiệt!
Kim sanh là thứ gánh nhỏ chuyên hát tuồng cổ nhạc Huế và chỉ trình diễn ở làng mạc hẻo lánh xa xôi. Chị Mộc Lan quyết điều tra gốc gác anh Châu Kỳ. Rốt cuộc, anh Châu Kỳ nào phải thuộc giòng quan lại, cũng không có học lực cao như anh đã từng khoe với chị. Sự tan rã của cả hai vẫn còn gieo mối oán hận sắc đậm trong lòng chị thật lâu, mãi khi tôi quen chị mà chị vẫn chưa quên.
Đời tình ái của chị Mộc Lan cũng trải qua vài lần sóng gió. Có lần chị dùng thuốc ngủ để quyên sinh. Riêng Châu Kỳ khi chia tay với Mộc Lan thì tìm được hạnh phúc ở cuộc hôn nhân thứ hai. Còn chị Mộc Lan mãi tới khi kết hôn với ông Trương Minh Đẩu mới thật sự tìm được hạnh phúc. Chị sinh cho ông một cô con gái đặt tên là Ngân Hà. Chị Mộc Lan đẹp thật mặn mà, dù có sống mũi hơi thô. Biết đâu chính nhờ nét thô không đáng kể đó, chị có cái duyên đậm đà không chừng. Khi sống mũi được bà Bích Ngọc dùng khoa giải phẩu thẫm mỹ sửa lại cho có nét dọc dừa thì chị đẹp trội hẳn lên. Chị sẵn có nét cao sang thanh thoát nên chị trang điểm thật gượng nhẹ, ăn mặc thật nhã đạm với những màu nguội màu chìm mà chị vẫn giữ vẻ kiều diễm. Dường như Trời sinh ra chị để làm một người phụ nữ thượng lưu. Cho nên từ khi tới tuổi tam tuần, ngôi sao nghệ thuật của chị tái ngắt và lu mờ. Do đó, chị chỉ hát ở đài phát thanh, tiền “cát-sê” chỉ đủ chi cho các vụ xe pháo. Nhưng vì yêu nghề, chị không bỏ nghề. Ca hát là phương tiện để chị tiếp xúc với các bạn đồng nghiệp còn hoạt động trong ca trường nhạc giới như chị. Chị giỏi nghề buôn bán nữ trang và kim cương nên bề ăn tiêu thật phong lưu. Chồng chị là một sĩ quan cao cấp nên chị thường lui tới xã hội thượng lưu thường xuyên.
Mộc Lan được (hay bị?) nhiều người trong giới trình diễn si tình. Trước hết là nhạc sĩ Lâm Tuyền. Trong thời gian luyện giọng cho chị, anh cũng đã mê chị. Nhưng mối tình đó chỉ thoang thoảng hương hoa cúc hoa mai thôi. Khi giọng chị Mộc Lan đã thuần thục và đạt kỹ thuật cao rồi, hai người vẫn chỉ là bạn. Sau đó, khi cộng tác với ban kịch Vũ Đức Duy, chị cũng được kịch tác gia yêu bằng mối tình đơn phương. Chị Mộc Lan rời ban kịch ấy, không vì lý do nào ngoài sự tỉnh ngộ của mình. Chị hiểu rằng chị không có năng khiếu đóng kịch, không thể chạy theo Kiều Hạnh và Xuân Dung vốn là hai nữ hoàng thoại kịch. Cho nên chị lại trở về nghề ca hát. Chị Mộc Lan vốn là người đàn bà biết cân nhắc. Về hôn nhân, chị thích một người chồng bảnh trai, có ăn học, có địa vị và biết thưởng thức giọng hát của chị. Châu Kỳ đã phá hỏng giấc mơ của chị
nên chị gặp nhiều cảnh lỡ làng trước khi gặp Trung tá Trương Minh Đẩu, người đã hội đủ điều kiện của ước vọng chị.
Chị Mộc Lan thường tâm sự với tôi:
— Tuấn Ngọc là lớp em cháu của tôi; đương sự hát hay đó chứ, cách diễn tả có hồn. Theo tôi, Kim Tước và Châu Hà giỏi về mặt kỹ thuật hơn tôi. Mai Hương già dặn kỹ thuật hơn Thái Thanh. Về kỹ thuật, Quỳnh Giao vượt khỏi chị Minh Trang. Tuyết Hằng trong ban Tam Ca Đông Phương có thể thế một trong bộ ba Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà để tam ca với hai người kia. Phương Nga biết giàn trải hơi ca. Diễm Chi là kẻ cầu tiến, rồi đây cô ta sẽ hát không thua các bậc đàn chị của mình. Bên nam thì tôi chấm thêm Phượng Bằng.
Có lần chị cho tôi biết:
— Thanh Tuyền có nhờ tôi luyện giọng cho cô ta. Tôi không hiểu cô ta có đãi bôi với tôi không? Cô ta đang hát ăn khách và đang là ngôi sao sáng trong giới ca nhạc. Tập hát cho vững kỹ thuật như bộ ba Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà đầu phải một sớm một chiều mà đạt được? Vả lại, khi đạt được rồi, liệu cô ta có còn ăn khách như xưa nữa không? Tôi có khuyên cô ta nên cứ hát như xưa là hơn, hơi nào chạy theo kỹ thuật để khỏi gặp cảnh thả mồi bắt bóng.
Khi biết được một vài sinh hoạt của ngành Tân nhạc thì tôi có nghe tiếng đồn về nữ danh ca Minh Đỗ. Nhưng tôi chưa hề nghe tiếng hát của chị. Nghe nói chị là dì hay là cô của nữ ca sĩ Kim Tước. Điều nầy tôi không dám chắc. Lại có nhiều người Hà Nội di cư vào Nam trong số đó có ký giả Trần Quân mà bằng hữu thường gọi là Sức Voi hoặc Tiểu Nguyên Tử thường ca tụng giọng hát ngọc ngà châu báu của chị. Trần Quân là chồng của cô Xuân Hoàng tôi, có một dạo cùng ở chung với tôi dưới mái đông lang của Thánh thất Từ Vân tại
Phú Nhuận. Ông dượng rể Trần Quân của tôi thường cao hứng dệt nhiều huyền thoại chung quanh giọng hát tuyệt vời của Minh Đỗ, rằng đó là giọng soprano cực kỳ dũng mãnh. Khi chị lên tới nốt nhạc cao nhất thì làn hơi của chị mạnh như cuồng phong bạo vũ và có thể làm vỡ chiếc ly pha lê mỏng đặt gần đó, hoặc làm rạn nứt cửa kính. Do đó, chính quyền Hà Nội cho chị sang Nga học về môn hát Opéra. Nhưng mà mãi tới khi miền Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm, tôi vẫn chưa có dịp nghe giọng hát quý báu vô ngần ấy. Và tôi chỉ đành tương tư nó giữa mớ huyền thoại đẹp đẽ và kích thích óc tưởng tượng người nghe mà thôi.
Nhạc sĩ Lê Thương, cùng ca sĩ Trần văn Trạch là những người có óc sáng tạo. Vào năm 1951 có ý tổ chức phụ diễn Tân nhạc cho rạp chiếu bóng Nam Việt ở Chợ Cũ (Sài gòn).
Sau khi chiếu phim thời sự của hãng Pathé hay của hãng Gaumont rồi thì có những màn đơn ca, hợp ca và sau hết là màn hài kịch. Phần phụ diễn đó gọi tắt là màn phụ diễn tân nhạc. Sau đó rạp mới chiếu phim chánh. Không ngờ cái chuyện phổ biến Tân nhạc bằng cách phụ diễn như vậy lại ănkhách. Từ rạp Nam Việt ở Chợ Cũ, họ chạy qua rạp Văn Cầm ở Chợ Quán. Tới đâu, họ cũng được khán giả hoan nghinh. Những cây đinh của chương trình phụ diễn là Trần văn Trạch, Túy Hoa, Minh Diệu, Mộc Lan, Ngọc Hà, Minh Nguyệt, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Vũ Huyến, Thu Hồ, ban Thăng Long. Về sau mới có hai chị em Hoàng Lệ và Khánh Ngọc.
Hai chị em nầy là người Tàu. Cô chị Hoàng Lệ tên là Hàn Thúy Lan. Cô em Khánh Ngọc tên thật là Hàn Lan Nam. Ngọc Hà cùng hai chị em họ Hàn ấy lập ra ban Ngọc Lệ Hà. Nhưng được ít lâu Hoàng Lệ tự tử (vì tình dĩ nhiên) thì ban Ngọc Lệ Hà tan rã.
Cuộc tuyển lựa ca sĩ tại rạp Norodom (về sau gọi là rạp Thống Nhất) do Đài Pháp Á tổ chức đã giới thiệu được những tài năng mới. Tôi xin kể một vài khuôn mặt tiêu biểu như sau:
* Hoàng Yến:
Tên thật là Nguyễn thị Bạch. Chị có giọng hát trong sáng dịu dàng, một nhan sắc dễ coi. Chị thường trình diễn các bản nhạc của Ngọc Bích như “Lời Hẹn Xưa”, “Trở Về Bến Mơ”, “Con Đò Đưa Xác”, “Xuân Nhớ Chiến Sĩ” …Trong một nhạc cảnh “Trương Chi My Nương”, chị thủ vai My. Nương, còn Trần văn Trạch thủ vai Trương Chi. Khi Trương Chi chết, bạn bè chàng moi quả tim hồng ngọc của chàng ra
đẽo thành chiếc chén dâng lên M Nương; lúc ấy Hoàng Yến cầm chiếc chén bằng … nhựa đỏ trong suốt lên hát bài “Khối Tình Trương Chi” của Phạm Duy:
Rót nước vào chợt thấy bóng ngư lang
Quanh chén trà thuyền trôi theo tiếng đàn.
Hoàng Yến ít lâu sau gia nhập ban ca vũ Bốn Phương do Túy Hoa cầm đầu, chung với Minh Nguyệt và Hồng Lan.
* Bích Thủy:
Tên thật là Đào thị Ngọc Hà. Đây là một giọng hát soprano cao vút, khi hát những chỗ ngang thì giọng mềm mại và mỏng nhẹ, nhưng khi lên cao thì tiếng hát dũng mãnh và sang sảng như chuông. Do đó mà chị hát bản “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss dễ như bỡn. Ngoài ra, Bích Thủy được hát thâu vào dĩa nhựa bản “Ngày Xưa” của Hoàng Quý và bản “Thơ Ngây” của Anh Việt. Bích Thủy khá đẹp, khuôn mặt thanh tú nên được mời tham gia các buổi Đại nhạc hội và các buổi phụ diễn Tân nhạc luôn. Chính chị mới có
giọng soprano (giọng kim của phái nữ) còn giọng Thái Thanh chỉ là giọng mezzo soprano (giọng bán kim) mà thôi, vì khi lên hơi cao là Thái Thanh chẻ qua giọng óc rồi.
* Vân Hùng:
Tên thật là Nguyễn Minh Luận. Anh có giọng hơi khàn, nhưng làn hơi khá phong phú. Cho nên khi hát những bản nhạc hơi khó hát, giọng anh vẫn lướt phom phom như nước vở bờ tràn vào ruộng trũng. Nhưng giọng anh không có cái âm sắc đẹp, không gợi cho thính giả mường tượng một khuôn mặt đẹp, một món ngoạn hảo hay một khung cảnh đẹp. Đó chỉ là một giọng hát khỏe và dẻo dai thế thôi. Vào 5 năm
đầu của thập niên 50, anh thích hát loại dân ca theo thể điệu Mambo của Lam Phương như “Nhạc Rừng Khuya”, “Khúc Ca Ngày Mùa”, “Trăng Thanh Bình” … Nhưng khi anh bắt đầu ba mươi tuổi thì không hiểu vì sao làn hơi của anh hao hụt, tiếng anh khàn và rồ. Do đó mà anh chuyển qua thoại kịch và đóng phim. Thường anh đóng vai chính đẹp trai (jeune premier) bên cạnh Kim Cương rất ăn khách.
Trước khi gia nhập ban Dân Nam do Anh Lân và Túy Hoa phụ trách, Vân Hùng theo nhóm Lê Thương, đóng những vai khá quan trọng trong các màn nhạc cảnh. Vân Hùng rất đẹp trai, không thua Vũ Huyến. Về sau anh chơi thể dục thẩm mỹ nên có một thân hình cân đối. Trong phim Con Gái Chị Hằng, anh có cởi trần, mặc quần đùi sát háng để bơi lội trong hồ tắm. Tuy nhiên thỉnh thoảng trong một vài vở kịch, anh có hát một vài bản dễ hát, nghĩa là những bản đừng lên cao quá, đừng xuống thấp quá để cho hợp với giọng đằng vân không nổi và độn thổ không trôi của anh. Nhưng hơi hám của anh quá hao hụt, anh hát chỉ tổ gây mệt nhọc cho người nghe mà thôi.
* Tùng Lâm:
Tôi không rõ tên thật của anh là gì. Anh có một giọng rất đẹp, rất ấm. Nghe giọng hát anh, thính giả nào chưa từng thấy mặt anh cũng mường tượng ngay anh phải đẹp trai. Giọng hát sao mà nồng nàn như quế, mềm mại như mây. Thuở đó cũng có vài nữ thính giả viết thư về chương trình “Nhạc Yêu Cầu” để nhờ anh hát các bài nổi danh của Lam Phương hay của Lê Thương. Tuy Tùng Lâm hát nghe mùi rệu như xôi rượu lên men, nhưng tiếc thay anh không biết ngân nga.
Tùng Lâm mất tiếng quá sớm. Anh không đẹp trai như Vân Hùng để đóng vai jeune premier trong các vở thoại kịch của ban Dân Nam. Cho nên anh phải xoay qua làm hề. Chính ở lĩnh vực mới, anh có thể nuôi thân cho tới ngày miền Nam lọt vào tay Cộng Sản.
* Tuyết Vân:
Khi gia nhập ban nhạc của Lê Thương thì chị lấy biệt hiệu là Bích Giang. Giọng chị cũng thường thôi, một giọng mềm dịu và trong trẻo Chị có nhan sắc thật tươi sáng, thật đoan trang thùy mị. Đầu mùa chính thể Đệ nhất Cộng Hòa, Tuyết Vân gia nhập ban Dân Nam. Chị vừa đóng kịch vừa ca hát bên cạnh Túy Phượng lúc đó đang độ thanh sắc lẫy lừng. Nhưng Tuyết Vân vẫn có cái bản sắc riêng, không kém Túy Phượng về tài diễn kịch lẫn nhan sắc. Nhưng thật tình mà nói, về kỹ thuật, Tuyết Vân hát không “nghề” bằng Túy Phượng.
Tuyết Vân có đóng vai chính trong phim Hương Thề Chưa Dứt do Thái Thúc Nha đạo diễn, bên cạnh Anh Tứ, Ngọc Đức và Thu Cúc. Khi nhào qua cộng tác cho ban Kim Cương thì chị đã mập nặng nề, lại mất tiếng, nên ca hát không trôi nữa. Thế là chị đành giải nghệ. Chị không bỏ nghề nhưng chính nghề nỡ bỏ chị. Trên sân khấu thoại kịch Kim Cương, vai thương cảm dành cho Kim Cương, vai lẳng độc dành cho Kim Vui,
còn vai nhì dành cho Túy Hồng, vai mụ dành cho các bà Bảy Nam, Bảy Ngọc, Ba Ngọc Anh. Tuyết Vân không còn vai nào để đảm nhiệm nữa. Tôi còn nhớ vào năm 1960, Tuyết Vân có theo Hoàng Cầm và Ngọc Phu xuống tỉnh Vĩnh Long để trình diễn. Chị đóng kịch và đơn ca. Lúc đó chị xồ xề, mông nở chè bè. Chiếc áo dài màu vàng nâu như màu gỗ cẩm lai nhờ may khéo nên cũng cố gắng nhấn được một đường eo cho tấm thân khá phì nhiêu của chị. Chị đóng hài kịch thì khán giả còn có thể dung thứ cho chị. Nhưng khi chị hát bài “Tìm Anh” của Hoàng Thi Thơ thì khán giả mệt ngất ngư vì chị hát không trôi, như bị cục tẩy trám cuống họng.
Tân nhạc không phải chỉ có môi trường hoạt động ở các đài phát thanh như Đài Pháp Á, Đài Quân Đội, Đài Huế, Đài Hà Nội và ở các hãng dĩa nhựa, đại khái như hãng Polyphone, hãng Oria, hãng Việt Nam … Tân nhạc còn có những màn phụ diễn trên sân khấu cải lương hay trong tuồng cải lương. Ngoài Bắc đã có các nghệ sĩ hát rành Tân nhạc như Ái Liên, Kim Chung, Kim Xuân, Bích Hợp, Phụng Khánh, Lan Phương, Lệ Thanh, Huệ Chúc (bên nữ), Anh Đệ, Huỳnh Thái, Ngọc Toàn, Sĩ Hùng, Mộng Dần (bên nam). Trong Nam, sau năm 1949, có Bích Thuận, Túy Hoa, Thanh Tình, Lệ Thủy, Ngọc Nuôi, Ngọc Đán, Kim Cương, Kim Hoàng, Ngọc Yến, Xuân Lan (bên nữ), Việt Hùng, Quang Hữu (bên nam).
Trên sân khấu Hương Hoa, Việt Hùng và Ngọc Nuôi vẫn thường hát Tân nhạc ngay trong các tuồng chiến tranh và trong các tuồng gián điệp do ông bầu kiêm soạn giả Vân Sinh biên soạn. Cả hai cũng có thể hát sau cuối màn áp chót, trước khi qua màn chót; đó là màn phụ diễn. Thường thì Việt Hùng hát nhạc hùng và nhạc vui tươi; còn Ngọc Nuôi hát những bài du dương đang nổi tiếng. Có một dạo vì mệt nhọc sau cuộc sinh
nở nên Ngọc Nuôi nhường vai chánh cho cô đào Ngọc An, và sau đó cho cô đào Kim Nên để thủ vai dành cho đào nhì. Những vai phụ đó thường có chỗ hát Tân nhạc. Trong tuồng Khúc Nhạc Ly Hương của Vân Sinh, chị hát bài “Khúc Nhạc Dưới Trăng” của Dương Thiệu Tước. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh nhỏ nhắn và xinh đẹp của Ngọc Nuôi trong chiếc áo dàimàu hồng phấn khi chị trình bày bản “Ngày Trở Về” của Phạm Duy trong một màn phụ diễn tân nhạc trên sân khấu Hương Hoa. Chị hát rựa ràng lắm, ngân nga vài gợn lăn tăn
cho ra vẻ ca sĩ Tân nhạc. Tiếng hát của Ngọc Nuôi đầy âm vang lảnh lót, hát Tân nhạc lẫn Cổ nhạc đều lôi cuốn khan thính giả.
Vợ chồng Việt Hùng và Ngọc Nuôi có đám con là Việt Thảo, Ngọc Quí và Ngọc Bích chuyên hát nhạc trẻ trong các club Mỹ. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh là vậy.
Còn Ngọc Đán là cô đào son trẻ của gánh Việt Kịch Năm Châu. Chị hát tân nhạc từ gánh nầy sang qua gánh Bích Thuận, gánh Ngọc Kiều và sau hết là gánh Phước Chung. Chị không có giọng đặc biệt, chỉ hát nghe êm tai thôi. Trên sân khấu Ngọc Kiều, chị thường hát tân nhạc chung với nghệ sĩ Hùng Cường. Ngọc Đán đẹp, duyên dáng và đóng tuồng hay, nhưng không thể vượt qua Ngọc Nuôi, kẻ cùng trang lứa với chị. Khi qua gánh Bích Thuận, chị cùng với Bích Thuận là đào chính, trong khi Bích Sơn chỉ là đào nhì. Nhưng thường thì Bích Thuận ưa giả trai làm kép chính nên Ngọc Đán trước sau vẫn là đào chánh dù không một mình một chợ.
Nữ hoàng kịch nghệ Năm Phỉ có một người nghĩa nữ là nữ nghệ sĩ Túy Hoa cùng bốn cô dưỡng nữ là Kim Cương, Kim Hoàng, Ngọc Yến và Xuân Lan. Có lẽ vì lo xa, bà bắt Túy Hoa học hát nhạc Tây. Sau đó ít lâu, đợi bốn cô gái nuôi đến tuổi dậy thì, bà bắt họ rèn luyện Tân nhạc. Trong bốn cô thì chỉ có Kim Cương và Kim Hoàng nổi tiếng. Kim Cương vừa đẹp vừa đóng tuồng hay. Kim Hoàng cũng đẹp, tuy đóng tuồng thua Kim Cương, nhưng vẫn không phải là một diễn viên tồi; đã vậy chị hát Tân nhạc lẫn Cổ nhạc vượt Kim Cương xa. Ngọc Yến đóng tuồng hay, ca tạm được, nhưng lại không đẹp. Xuân Lan đẹp hơn ba cô kia, nhưng vì lấy chồng đẻ con sớm, nhan sắc phai lợt, tiếng hát sa sút âm lượng nên chị cũng như Ngọc Yến không thể nổi danh được. Có lần tôi xem tuồng Ngọc Huỳnh Lân Xuất Thế do bà Bảy Nam soạn và được trình
diễn trên sân khấu Nam Phi. Trong tuồng nầy, Kim Hoàng, Kim Cương, Ngọc Yến và Xuân Lan có vai rất ngắn ở màn đầu. Nhưng họ phụ diễn tân nhạc rất đặc sắc. Tối hôm đó, Kim Cương hát bản “Nụ Cười Sơn Cước” của Tô Hải, Kim Hoàng hát bản “Tiếng Còi Trong Sương Đêm” của Lê Trực, Ngọc Yến hát bài “Sơn Nữ Ca” của Trần Hoàn, Xuân Lan hát bài “Xuân Nhớ Chiến Sĩ” của Ngọc Bích. Cả bốn đều hát Tân nhạc rựa ràng, nhưng trội nhất là giọng Kim Hoàng. Đó là giọng kim cao vút với làn hơi mạnh, với chuỗi ngân thật dài thật rập rờn sóng gợn.
Khi nổi tiếng, Kim Cương vì bị bịnh phổi nên làn hơi yếu đi. Chị không thể hát Tân nhạc lẫn Cổ nhạc suông sẻ và thoải mái nên phải nhào qua địa hạt thoại kịch. Trong khi đó, tiếng Kim Hoàng vẫn dồi dào và dũng mãnh như tự bao giờ. Trong vở kịch Trà Hoa Nữ do Anh Lân soạn, Kim Cương có hát bài “Mộng Chiều Xuân” của Ngọc Bích và “Kiếp Nghèo” của Lam Phương. Chị hát tạm được, nhưng khán giả ngồi nghe chị hát chỉ nơm nớp sợ chị tét giọng hụt hơi. Trong phim Bẽ Bàng do Lê Mộng Hoàng làm đạo diễn, Kim Cương có hát bài “Tà Áo Cưới” của Hoàng Thi Thơ. Trong phim Nhạc Lòng Năm Cũ cũng do Lê Mộng Hoàng làm đạo diễn, chị hát bài “Nhạc Lòng Năm Cũ”, bài nào cũng được chị trình bày trót lọt, nhưng khách sành điệu vẫn hồi hộp sợ chị ca vấp váp. Làn hơi của chị mỏng và yếu quá, chuỗi ngân xử dụng một cách vụng về, khi thì chao đảo, khi thì bời rời, đã vậy tiếng hát lại hơi nghẹt mũi.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.