Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 23 Dec 2025

Ý Thức Tinh Thần Đại Học
ĐẶNG VŨ VƯƠNG
HÀ NGỌC THUÂN
NGHIÊM SỸ TUẤN
Lời Giới Thiệu:
Đặng Vũ Vương, Hà Ngọc Thuần, Nghiêm Sỹ Tuấn là bộ ba thuộc nhóm chủ trương “academic” ban Quan Điểm Nguyệt San Tình Thương, từ số ra mắt, cho đến ngày các Anh ra trường. “Ý Thức Tinh Thần Đại Học” đăng trên Tình Thương Số 1 (Tháng 1, 1964) là bài viết đầu tiên cùng đứng tên cả ba Anh, lúc ấy Nghiêm Sỹ Tuấn và Đặng Vũ Vương đang là sinh viên năm thứ 4 và Hà Ngọc Thuần năm thứ 3 Y Khoa niên khóa 1963-1964. Nghiêm Sỹ Tuấn đã hy sinh ở Khe Sanh 1968, Đặng Vữ Vương nay sống ở Michigan, Hoa Kỳ và Hà Ngọc Thuần ở Brisbane, Úc châu. Theo anh Hà Ngọc Thuần, bài viết tuy có sự góp ý của cả ba anh, nhưng người chấp bút là anh Nghiêm Sỹ Tuấn.
Trường Đại hoc đầu tiên còn thấy nói đến trong lịch sử văn minh nhân loại là trường Đại học Salerne, một trường Y khoa thiết lập ở Âu châu vào khoảng giữa thế kỷ XII. Bấy giờ đế quốc La Mã đã sụp đổ, nền văn minh La Mã đi vào chỗ suy tàn. Salerne là một thành phố nhỏ ở bờ biển Ý Đại Lợi, gần thành Napoli, nhưng là nơi duy nhất còn giữ được nề nếp văn minh cổ Hy Lạp. Nhờ vị trí địa dư đặc biệt, Salerne quy tụ nhiều sắc dân: người Á Rập từ Tây Ban Nha tới, người Do Thái từ phương Đông qua, và cố nhiên người La Mã vấn còn ở đó. Trong trường Đại học đầu tiên này, người ta thâu nhận sinh viên đủ các quốc tịch, không phân biệt nam nữ. Các giáo sư cũng thuộc bốn nguồn gốc khác nhau La Mã, Do Thái, Hy Lạp và Ả Rập. Danh từ “université” có lẽ do đó được đặt ra. Kế tiếp có một phong trào đại học từ Montpellier ở Pháp, qua Oxford ở Anh, lên tới Uppsala ở Thụy Điển, tạo thành những trung tâm văn hóa Âu châu xưa nhất còn tồn tại đến bây giờ.
Nhưng không phải mãi đến thế kỷ XII, ý niệm Đại học mới thành hình. Ở Trung Hoa, sáu trăm năm trước Công nguyên, trong sách Lễ Ký, Khổng Từ đã viết chương Đại Học, bày tỏ chủ đích sự học của con người. Chủ đích ấy gồm ba cương lĩnh: làm sáng đức sáng, canh tân con người, tiến tới chí thiện (Đại học chi đạo, tại mình minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện). Để thực hiện đạo Đại học ấy, người đi học phải thi hành tám việc: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ, trong đó lấy tu thân làm gốc. Dần dần với sự suy sụp của chế độ phong kiến, người ta đặt ra thi cử để tuyển lựa nhân tài. Vì nhu cầu “kỹ thuật”, các lớp được chia ra làm tiều tập, đại tập. Tiểu tập học từ ngữ, ứng đối; đại tập học thơ, phú, văn sách … Việc huấn luyện người đại học trở nên phù phiếm, chỉ vụ từ chương, xa dần tôn chỉ của đạo Đại học lúc sơ thủy.
Trong khi đó ở Tây phương, với những bước tiến dài của khoa học, nhiều ngành học mới xuất hiện. Kiến thức nhân loại ngày một nhiều, mẫu người đa hiệu kiểu Aristote hay Bacon, hiếm lần lần. Giáo dục, vì lẽ ấy, được chia làm ba cấp, hay đúng hơn ba giai đoạn liên tiếp. Theo quan niệm này, thì sau những năm tiểu và trung học để có một vốn căn bản về kiến thức tổng quát, Đại học là chặng cuối cùng, ở đó người đi học đã lớn thâu thập một hành lý kiến thức chuyên môn đủ để mai sau gánh vác một nhiệm vụ trong xã hội.
Vai trò chuyên môn ngày một quan trọng, lấn át các tính chất nhân bản và phổ quát của Đại học xưa. Con người đi tới chổ chia học vấn và kiến thức ra nhiều “buồng” (compartimentage) trong khi cứ tưởng mình đang tự chuyên môn hóa.
Sự cắt vụn kiến thức đã làm cho Đại học giảm giá trị và bớt hiệu lực, dù rằng đối tượng và mục đích của các đại học, tuy sinh hoạt dưới nhiều bảng hiệu khác nhau với nhiều kỹ thuật khác nhau, bao giờ cũng là một: Chân lý để Phụng sự. Nho gia ở Trung Hoa cổ nhận ra là những người chuyên về thật tế nhiều hơn về lý tưởng. Đại học, sau khi đã minh định chủ dích, khởi đầu bằng sự thấu suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật, nhiên hậu hiểu biết tận cùng về các lẽ trời, đất và người. Nhà nho là người học giỏi, trên thông thiên văn, dưới đạt địa lý, giữa hiểu nhân sự, đợi đem tài trí ra giúp đời, ích quốc lợi dân, chứ không vụ lấy sự vui thú trong tư tưởng. Học thuyết của nho gia chủ ở nhân sự, nên người tài tuấn mà không ra giúp đời, kẻ sĩ cho là vô nghĩa. Tây phương xưa cũng thế, chủ trương một hiểu biết toàn diện. Những nhà hiển triết cổ Tây phương toàn là những bác học đa hiệu. Aristote là một thí dụ điển hình, tác phẩm của ông có thể coi như một bộ bách khoa, gồm hàng trăm cuốn, viết về đủ loại: luân lý, khoa học, thẩm mỹ, triết học … Thành ra, Đại học với mục đích tìm kiếm để phụng sự, đã là nơi quy tụ biết bao tư tưởng, khuynh hướng, học thuyết và cống hiến cho nhân loại bao nhiêu phát minh.
Bacon, một triết gia đa hiệu khác, đã cho rằng không công việc nào phụng sự nhân loại một cách huy hoàng hơn là phát minh khoa học và phát triển mỹ thuật làm cho đời sống tươi đẹp hơn. Hơn hai ngàn năm sau ông già nước Lỗ, cái tính cách thuần nhất đối tượng của Đại học vẫn bất dịch. Ngày nay, người ta còn thấy nó rõ ràng nơi hai hàng chữ: Cách vật, Minh đức và Scientia et Virtus (1) trên huy hiệu của đại học đường Hương Cảng. Như thế, Đại học đã mặc nhiên đảm nhận vai trò lãnh đạo, hướng dẫn con người, “Dân có thể thì khiến dân làm, dân không thể thì làm dân hiểu” vẫn là việc làm muôn đời của Đại học ở mọi nơi. Vai trò ấy được thể hiện bằng sự bảo vệ con người và những giá trị nhân bản vĩnh cứu, qua các thời đại và các biến cổ lịch sử, bằng sự phát huy và quảng bá tư tưởng học thuật trong quần chúng. Những chiến đấu chống đàn áp, bảo vệ giá trị con người gần đây nhất của Đại học đã diễn ra ở Hung, Angola, Việt Nam Tự Do.
Kết quả tinh thần của những chiến đấu ấy đã được thể hiện bằng một bản Tuyên ngôn do người đại học của 32 quốc gia trên thế giới, họp lại soạn thảo và biểu quyết ở Leysin, Thụy Sĩ. Tuyên ngôn này đề cập tỉ mỉ đến vai trò của người đại học trong xã hội với ý niệm một Đại học tự do, một xã hội tự do và một hòa bình thế giới.
Song song với nhiệm vụ bảo vệ vừa nói, nhiệm vụ “làm dân hiểu” của Đại học rất là quan trọng. Công cuộc Duy Tân Nhật Bản là thành quả rực rỡ của sự ý thức được nhiệm vụ này trong con người đại học Phù Tang trong thế kỷ trước. Người đại học phải như Chú Lái Khờ (2) giàu có xưa kia, lòng say yêu dấu, không những đã phân phát hết cả vàng lụa, mà rút đến tận những kim cương sáng như sao đọng, ấp ủ bên ngực, đem cho lũ người hồng phấn (2) Những phát minh lớn lao của người đại học trong lịch sử văn minh chính là những viên kim cương tinh tuyền nhất họ hiến cho nhân loại. Từ sự thuần nhất đối tượng và mục đích đến vai trò “sử do và sử tri” (3), Đại học đã tự tạo cho mình một tinh thần đặc biệt. Tinh thần ấy gồm hai đặc tính: nhân bản và phố quát (universalisme). Đặc tính thứ nhất hiện rõ ngay khi Đại học tự đặt mục đích cho mình. Phụng sự con người, Đại học phải là một nền học vấn nhân bản, lấy con người làm gốc, và phải phát triển theo nhân tính. Khi xưa, các giá trị tinh thần được tôn trọng nhiều, tính cách nhân bản của Đại học hầu như là tất nhiên. Có lẽ vì thế mà người ta dùng danh từ “humanités” để chỉ việc học và nghiên cứu các cổ ngữ La Hy cùng các nền văn minh cổ. Đặc tính nhân bản ngăn cản Đại học làm những thí nghiệm phi nhân dưới danh nghĩa khoa học. Người ta không thể nại sự tiến triển của Bào thai học để tạo nên những hài nhi trong ống nghiệm (bébé-éprouvette). Bảo rằng hài nhi ấy không có giá trị con người vì không thành hình một cách tự nhiên trong lòng mẹ, chỉ là ngụy biện, bởi lẽ mầm sống của hài nhi ấy gốc ở con người. Tấn thảm kịch của hơn 7.000 trẻ em bất thành nhân dạng ở Đức, ở Anh do thuốc an thần Thalidomide gây ra và hậu quả của nó, vụ án Liège, chính là vì sự không ý thức nổi tinh thần Đại học của những người chế thuốc và những bị cáo. Cũng một lẽ đó, những cuộc thí nghiệm nguyên từ, những cuộc phóng hỏa tiễn vu vơ lên không gian dưới chiêu bài khoa học, lãng phí nhân lực và tài lực, đều là những vô ý thức về tinh thần nhân bản của Đại học. Đặc tính thứ hai, tính phổ quát, của Đại học cũng có ngay từ khi Đại học đầu tiên được thành lập trên thế giới. Khác với đặc tính nhân bản, đặc tính phổ quát không có về đơn thuần trong thời gian và không gian. Sự phức tạp của các giống người, của các sắc thái văn hóa, chính trị … làm cho tính phố quát của Đại học nhiều khi như phi lý, đi ngược lại ý niệm quốc gia dân tộc. Hay lẫn lộn với các ý niệm khái quát, quốc tế …Khi hai hay nhiều quốc gia gặp nhau để bàn cãi về một vấn đề gì, thì hội nghị ấy có tính cách quốc tế. Ý niệm quốc gia trong trường hợp này vẫn rõ rệt và nhuốm màu sắc chính trị. Trong một tầm rộng lớn hơn, một tổ chức thế giới, tổ chức Y tế Thế giới (OMS) chẳng hạn, không hàm ý niệm biên cương và có quyền hạn định rõ ở khắp các quốc gia. Quốc tế đối lập với quốc gia trên bình diện chính trị, pháp lý; thế giới đối lập với quốc gia về phương diện lãnh thổ địa dư. Tính phố quát khác hắn các ý niệm quốc tế và thế giới. Nó là hằng tính của chân lý ở khắp nơi trên địa cầu và trong vũ trụ. Nó không bao giờ hàm ý nghĩa biên cương, những lãnh vực trong một nước, nó gần với dân tộc hay dân tộc tính.
Phổ quát cũng không phải là tổng quát. Một cách tổng quát, bao trùm tất cả, người ta có thể nói, tỉ dụ: tôn giáo nào cũng dạy làm lành, tránh dữ, thế là xét về hiệu quả. Một cách phổ quát, người ta phải nói: tôn giáo nào cũng nhằm cứu rỗi hay giải thoát con người, đấy là xét về khởi điểm, tất yếu. Sự hiện diện đồng thời của nhiều tôn giáo trong một xã hội có thể có được nhờ tính phổ quát này, nguyên tắc căn bản của tự do tín ngưỡng và khoan dung tôn giáo. Từ bản chất phổ quát của tinh thần Đại học, người ta có thể suy diễn ra nhiều hệ luận:
Về phương diện sinh hoạt, việc giảng huấn ở Đại học không đặt vấn để quốc tịch hay quốc gia. Một người Pháp, Đức hay Hoa Kỳ không hể giữ một chức vụ nào trong guồng máy hành chánh, nhưng có thể giảng dạy ở Đại học Việt Nam. Một Đại học không nhất thiết phải dùng tiếng mẹ đẻ làm chuyển ngữ trong tất cả mỗi ngành. Trong ngành Y khoa ở Việt Nam chẳng hạn, điểm quan trọng không phải là có thể giảng Cơ thể học hay Bệnh lý học bằng tiếng Việt, nhưng là gây dựng một nền Y học của Việt Nam, không phải thuốc Tây mà cũng chẳng phải thuốc Bắc. Ở đây, mọi vấn đề giới hạn quốc tịch hay quốc gia chỉ có nghĩa là bài ngoại. Hiểu như vậy, tính phổ quát của Đại học không hề trái với dân tộc tính; hơn nữa chính nhờ đó mà nền văn hóa dân tộc có thể xây dựng được. Về phương diện học vấn, Đại học chấp nhận mọi tư tưởng, mọi học thuyết, mọi kiến thức ngoại lai: phản xạ có điều kiện của Pavlov, thuốc chủng ngừa lao của Calmette và Guerin, thuyết tương đối của Einstein … Cũng thế, khi Khổng tử bàn về người quân tử, thì không phải ông chỉ nói tới quân tử Tàu (honi soit qui en rit); ý niệm quân tử ấy đã phảng phất nơi người hiển triết Socrate rồi. Về phương diện tinh thần, Đại học nghiên cứu một cách vô tư. Ở trung học người ta dạy địa lý các cường quốc, nhưng ở Đại học thì những Russier, Gourou, Dufeil nghiên cứu địa lý Việt Nam cùng với tinh thần đã có khi nghiên cứu về nước Pháp. Một du khách kinh tớm khi thấy những người già cả ở Phi châu bị con cháu ăn thịt, trong khi một người Đai học coi đó chỉ là vấn đề về lão chứng học (gérontologie) mà thôi.
Nhưng một tinh thần phát huy được những cai hay một cách rực rỡ, là nhờ ý thức được tỉnh thần của những người mang tinh thần ấy. Riêng về người đại học – người phát huy tinh thần Đại học – phải ý thức tinh thần Đại học bằng cách tạo cho mình tính tích cực, lòng hòa đồng và tinh thần tiền phong.
Giản dị nhất trong sự ý thức này là tích cực học, “Học nhi thời tập” (và “bất như học dã” (5) là câu khắc cốt ghi tâm của người đại học. Tuy giản dị, nhưng trong việc học theo nghĩa thuần túy, người đại học phải tránh ba tật: máy móc, thờ ơ và tự mãn. Tất cả ba tật này đều trái với mục dích của Đại học, là Học đễ Phụng sự.
Máy móc thì kém hiệu lực, thờ ơ thì không hăng hái, tự mãn chẳng thể tiến xa. Một Malraux tham gia cách mạng Tây Ban Nha, một Sartre lên tiếng chống đối chính phủ trong chiến cuộc Algerie, là những thí dụ của người đại học không thờ ơ, tự mãn, cũng không bất mãn phá hoại, mà luôn luôn tỏ rõ lập trường.
Người đại học hòa đồng với mọi người, nhưng không bè đảng với ai, phù hợp với một bên là tinh thần nhân bản và mục đích phụng sự, một bên là tính độc lập, tự do của Đại học.
Tiền phong là nét cuối cùng, nhưng là nét khởi sắc nhất, trong bức họa tinh thần của Đại học, làm cho Đại học thêm xứng đáng hơn. “Buồn trước cải buồn của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” đã chẳng là câu gây cảm hứng cho những cuộc chiến đấu chống đàn áp của Đại học đấy ư?
Thành lập từ hơn 800 năm, Đại học nhờ có một tinh thần độc đáo đã gây được một truyền thống vững bền. Người Đại Học có thể theo Lincoln mà tóm tắt tinh thần Đại học trong sau chữ: BỞI NGƯỜI, VÌ NGƯỜI, CHO NGƯỜI. Bởi người nên có phổ quát, vì người nên có nhân bản, cho người nên có hiệu lực. Thiếu một trong ba yếu tố, một nền Đại học, dù hay đến đâu, về bất cứ phương diện nào, cũng không thể là một Đại học thực sự đúng nghĩa.
[Tình Thương Số 1, Tháng 1, 1964]

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.