Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 1 Jan 2026

Bài 5

Chống Cộng hay thân Cộng?

Đại Dương.

Tôi rất kinh ngạc khi đọc bài viết của ông Kỳ Văn Nguyên lên án Phan Nhật Nam “thân cộng”. Vì thế tôi phải tìm đọc lại những bài viết của Phan Nhật Nam từ khi ra hải ngoại, nhất là bài nói chuyện của ông tại Chi Hội Sinh Viên Sĩ Quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Houston, Texas ngày 23-4-95 trước khi trình bày cảm nghĩ riêng liên quan đến chuyện đáng tiếc đã xẩy ra.

Tôi vốn không hề quen biết hai ông Nguyên và Nam, kể cả một lần đối mặt bắt tay nói vài câu xã giao. Xuyên qua các tác phẩm và giới thiệu trên sách báo, tôi biết họ đều là hai nhà văn quân đội, chống Cộng quyết liệt. Vì thế, bài viết này không bị chi phối bởi tình cảm bạn bè, quen biết. Tôi chỉ muốn trình bày một lối nhìn khác qua cùng những sự việc mà ông Kỳ Văn Nguyên đã mổ xẻ ông Phan Nhật Nam.

Tôi không làm công việc biện minh cho Phan Nhật Nam vì quan niệm rằng chính những quan điểm, hành vi của Phan Nhật Nam từ quá khứ, hiện tại và tương lai là người luật sư đích thực của Anh.

“Không khai sinh, căn cước, thẻ sĩ quan, chưa hề có tài sản nào quá 10 đô-la. Giấy tờ hộ tịch có được đầu tiên: Giấy Ra Trại do công an cộng sản Việt Nam cấp. Tài sản lớn nhất là phụ cấp xã hội do chính phủ Liên Bang Bắc Mỹ cấp phát khi đến Mỹ tháng 11-93″.

Qua những giòng chữ trên, ông Nguyên cho rằng ông Nam cố tình khai báo, thú nhận với cộng sản ViệtNam:

“Chối bỏ nguồn gốc của bố mẹ; không thừa nhận là công dân của nước Cộng Hòa Miền Nam cũ; chối bỏ là sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng Hòa; vinh dự được nhận làm đứa con của Cộng Sản sinh ra; thuộc giai cấp vô sản; cam kết sống bằng tiền Mỹ để tuyên truyền cho cộng sản ở đất Mỹ. (Nguyên văn của ông Nguyên)

Phần tự mô tả chân dung của Phan Nhật Nam để lại trong lòng tôi hai ấn tượng sâu đậm:

(1)- Nam thuộc thành phần “Người-lính-chiến-trẻ” đã từng đem sinh mạng bảo vệ miền Nam vĩ tuyến 17. Họ không màng đến tiền tài, danh vọng, địa vị. Họ chiến đấu trong thiếu thốn thường xuyên đối với bản thân và gia đình. Đôi khi họ bị miệt thị từ mọi phía (kẻ thù, đồng minh, một số đồng bào phè phỡn nhờ những chiếc “khiên thịt” của “tụi lính”). May ra chỉ có thời gian từ 1958 đến 1963 “Người Lính Chiến” mới được tôn trọng đúng nghĩa của nó. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào người-lính-chiến-trẻ cũng chiến đấu với tâm niệm Vị Quốc An Dân. Họ không bị bẩn vì tiền tài, danh vọng cá nhân. Họ xứng đáng được lưu danh muôn thuở mặc dù ít người biết đến tên tuổi của họ.

(2)- Dưới chế độ Tự Do Nhân Bản, nếu thiếu giấy tờ hộ tịch một người cũng có thể sống và được thừa nhận.

Nhưng trong xã hội cộng sản, với “chủ nghĩa lý lịch, hộ khẩu.” nghiệt ngã, con người phải giữ giấy tờ hộ tịch như mạng sống dù cho đó chỉ là Giấy Ra Trại. Thiếu hộ tịch thì không được coi là con người: Không có chỗ dung thân ngoài xã hội và bị đưa vào các trại tập trung cải tạo bất cứ lúc nào. Thảm cảnh cuộc chiến Việt Nam chỉ có người Việt chúng ta thấu hiểu và cũng chỉ có người Việt Nam phải chịu đựng cảnh trái ngang nhất trong mỗi gia đình.

Người cùng chung núm ruột cố tình lừa gạt nhau, thản nhiên giết nhau nơi trận địa vì “lý tưởng” của riêng mỗi cá nhân. Từ khởi đầu cho tới khi tàn cuộc chiến tranh nóng (lạnh đối với thế giới nhưng nóng đối với Việt Nam), mãi đến bây giờ Phan Nhật Nam vẫn phân biệt rạch ròi giữa lý tưởng và tình nghĩa gia đình. Người cha là cán bộ cộng sản theo lệnh Tổ Chức đã không chiêu dụ được Anh từ bỏ lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc. Và Phan Nhật Nam, một trong những người Lính bại trận, bị lăng nhục cũng không thiết nhờ vả người cha ruột hầu có thể tránh những ngón đòn thù của cộng sản Việt Nam.

Ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Tôi thực sự khinh miệt những kẻ nào đã một thời đề cao chính nghĩa Quốc Gia, ca tụng người Chiến Sĩ Cộnhg Hoa trong nhiều vụ chống lại bọn Cộng sản xâm lăng miền Bắc, mà nay, nếu không muốn nói đã ngã theo cộng sản, thì cũng đương dùng ngòi bút của mình để làm lợi cho cộng sản”. Chúng ta thử xem từ những đoạn văn nào mà ông Kỳ Văn Nguyên đã cáo buộc Phan Nhật Nam.

Trong bài “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Tôi đã có ý quyết không viết về chiến tranh, một đề tài sở đắc, bởi đã quá não nề với cảnh lửa đạn; cũng có hẳn cảm giác ghê ghê khi nhìn thấy bất kỳ một loại vũ khí nào, cho dù chỉ con dao nhỏ nhọn …

Cũng không muốn viết, kể chuyện tù tội, dù đã có đủ “kinh nghiệm” về nó, một thứ tài sản khốn nhục mà tôi tin đến giờ nằm xuống, phút lâm chung, tâm cảnh kinh hoàng về cách “hiện sống” giữa những chiếc hộp dựng đứng đầy bóng tối kia vẫn còn đọng chặt lại nơi mỗi tế bào não bộ; cũng một phần không muốn điều mình viết lên như một lối thở than hèn mọn. Thế nhưng, cuối cùng tôi vẫn tiếp tục viết về Người Lính. Viết về Chiến Tranh và Nỗi Đau. Những CON NGƯỜI KHỔ ĐAU. Tôi không thể viết gì khác. Không có gì khác. Bởi nếu không, sẽ là bội bạc vong ân rất đáng nguyền rủa. Chúng ta sống hôm nay từ máu của Người Lính. Máu của người đã chết”.

Phân tích đoạn vặn trên, ông Kỳ Văn Nguyên viết, “Đấy là lời ông (PNN) nhận tội với cán bộ quản giáo trong trại tù cải tạo về những điều ông viết đề cao các chiến binh Cộng Hòa xưa kia là sai lầm, là phản lại Cách Mạng là phản lại Nhân Dân, Tổ quốc … Ông thật sự là một con người khiếp nhược, sợ hãi đến cùng độ. Khi còn ở trong tù, hay là khi ông bị kiên giam, ông sợ hãi, đau đớn đến cùng cực, ông khiếp nhược trước mọi thủ đoạn hành hạ độc ác, tôi không nói làm chi … Nhưng nay sống ở bên Mỹ, xa lìa bọn cộng sản ông không đủ ý chí chống lại bọn cộng sản thì cũng thôi, việc gì mà ông phải sợ hãi như thế … Ông đau đớn về xác thân, quằn quại trong tâm hồn, sống trong cảnh Địa Ngục Mê Loạn mà bọn cộng sản tạo ra cho ông, ông chỉ còn một cách biến mình thành một cái bóng hình đen tối của cộng sản mà thôi, nghĩa là ông đã bị cộng sản hoàn toàn khuất phục và lột xác ông. Câu văn chứa đầy máu và lời nguyền rủa, từ đáy linh hồn bắn tóe ra như một lời kêu gào của quỷ dữ”.

Suốt chiều dài cuộc chiến Việt Nam, chúng ta những con người Việt Nam đã được những gì? Kẻ thắng, người thua chỉ được một mớ danh từ hão (mũi nhọn của Chủ Nghĩa Quốc tế Vô sản, tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do). Chúng ta đã mất ba triệu người cùng chung dòng máu để đổi lấy một đất nước tụt hậu thê thảm và một xã hội tồi tệ nhất so với các quốc gia khác trên thế giới. Tàn cuộc chơi, hai phe tư bản và cộng sản cụng ly chúc mừng nhau. Họ chỉ mất có tí nước bọt xui nguyên dục bị. Còn người Việt Nam chúng ta tiếp tục ôm một núi hận thù. Cuộc cờ Tư Bản-Cộng Sản đã tàn, nhưng cuộc chiến vì “Tự Do Dân Chủ Phú Cường cho Quê Hương” giữa những người Việt Nam vẫn còn tiếp diễn.

Vì thế Phan Nhật Nam không thể quẳng bút chiến tranh để bình thản ngồi gọt giũa những áng văn tình tứ, lãng mạn. Nhất định phải viết về những người đã góp công thực sự (vì họ đã hiến dâng cho Tổ Quốc bằng máu, bằng khối óc của họ) trong trận chiến vì Tự Do Dân Chủ Từ đó sẽ nung nấu tinh thần chiến đấu, nối gót tiền nhân cho thế hệ trẻ Việt Nam. Với lý lịch Phan Nhật Nam (cha là cán bộ cộng sản) chỉ cần thỏa thuận bằng lời thôi cũng đủ cho ông ta “bắt” được cái chức “Thi Đua Thường Trực” (1) hoặc Văn Hóa; hoặc Đội Trưởng trong các trại tập trung cải tạo. Điều này chắc Phan Nhật Nam không thể không biết. Nhưng ông chấp nhận đối đầu hơn là thỏa hiệp theo phong cách của con người quen lối sống ngang tàng. Thái độ đó đã bị phê là “sĩ quan kém tác phong” trong đời binh ngũ với cấp bậc Đại úy nhiệm chức sau 14 năm xuất thân từ Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Việc kiên giam của ông Nam xẩy ra trước mắt mọi người, không phải kiểu đi “tù lèo” tại Bộ Nội Vụ.

Trường hợp này không thể coi như một kiểu “trá hàng”. Không ai chấp nhận 8 năm kiên giam để đóng vai trá hàng. Nhiều lắm chỉ là một trận đòn như Hoàng Cái trong trận Xích Bích. Phan Nhật Nam đã thách thức “Bạo lực tuyệt đối” trước mặt kẻ thù thì không vì lý do gì lại tỏ ra khiếp nhược khi cách xa quân thù bằng nửa vòng trái đất. Chắc tất cả chúng ta đều biết nếu ông Nam chịu để cho cộng sản lột xác thì ông ta đã không phải chịu kiên giam suốt 8 năm trời. Nếu ông Nam “khiếp nhược trước mọi thủ đoạn hành hạ độc ác” của cộng sản thì họ chẳng tốn công kiên giam ông ta lâu đến như vậy. Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Này đây, hình ảnh chiếc xe hàng chất lấp bởi trẻ con, người già và phụ nữ … Nhưng bởi chiếc xe kia đi ra từ An Lộc và rơi vào tầm đạn pháo kích của lực lượng cộng sản … Trái mìn không phân biệt được xe dân sự hay nhà binh; người lính cộng sản cũng không nhận được lệnh phải tránh tấn công vào một loại mục tiêu, đối tượng nào. Anh ta bình yên giật trái mìn. Và cuối cùng anh ta với đồng đội thản nhiên tiến ra lục soát mục tiêu. Nhưng nguyên do đầu tiên gây ra đám cháy nhân tạo tàn nhẫn này lại thuộc về một điều kiện tâm lý, đấy là:”Những con người đi trên chuyến xe oan khốc kia đã hoàn toàn bị khinh miệt.”

Ông Kỳ Văn Nguyên nhận định: “Việc gì phải lý luận lôi thôi như vậy. Giản dị là bọn cộng sản đã tấn công bừa bãi vào cả xe dân sự gồm đàn bà, trẻ con và người già, như chúng ta đã từng ném bom, ném lựu đạn, pháo kích vào chợ và trường học mà ai cũng biết, ông Phan Nhật Nam bênh vực cho cộng sản mà bảo rằng đó là một điều kiện tâm lý thì thật là buồn cười.”

Phan Nhật Nam đã mô tả người lính cộng sản như một chiếc máy phi nhân sẵn sàng thi hành lệnh của đảng không do dự trong bất cứ tình huống nào. Và đảng cộng sản Việt Nam cũng chẳng buông tha cho bất cứ người nào không theo chúng kể cả thường dân muốn tránh xa móng vuốt cộng sản. Người cán binh cộng sản lạnh lùng giật mìn những chiếc xe chở đàn bà con nít; thản nhiên lục soát những thây người vô tội. Ngòi bút Phan Nhật Nam đã “lột trần bản chất người lính cộng sản” dấu kín sau lớp áo anh bộ đội “giải phóng quân.” Và cũng chỉ rõ dã tâm của đảng cộng sản Việt Nam núp sau tấm chiêu bài vì dân chiến đấu.

Trong “Nhìn Lại … Tháng Ba”, Phan Nhật Nam viết: “Sư đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản. Đó là lệnh của Văn Tiến Dũng cho Kim Tuấn, Tư lệnh Sư đoàn 320: “Nếu đồng chí để vuột mất đoàn di tản thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.” Lính còn có phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay.”

Trong “Sứ Mạng Người Lính Việt Nam” Phan Nhật Nam viết: “Nhưng oan nghiệt thay, đây cũng là đầu mối của bao nhiêu tệ hại sai lầm trong sách lược của phương Tây (toàn phương Tây chứ chẳng giới hạn trong một giới, một chính phủ, một tập thể, cá nhân riêng rẽ nào) khi đối đầu với người cộng sản Việt Nam, một thứ cộng sản được “đông phương hóa” ở những khía cạnh ác hiểm và xảo biện nhất. Người cộng sản Việt Nam là một yếu tố chính trị, một công cụ của bạo lực để thực hiện Mục Đích Yêu Cầu của Tổ Chức. Con người hoàn toàn triệt tiêu, xóa sạch. Thế nên chúng ta đừng bao giờ kỳ vọng quá nhiều về sự đổi thay (cho là có thật) từ, của một cá nhân đảng viên cộng sản … Và đừng bao giờ, dù chỉ một lần (một lần cũng quá đủ) tin một người cộng sản trên tư cách, giá trị riêng của người ấy. Họ chỉ thật sự phê phán chế độ đó vì họ là sản phẩm của chế độ đó. Họ chỉ tồn tại khi chế độ đó tồn tại.”

Trong bài thơ “Nhân xem phim Trời và Đất,” Phan Nhật Nam viết: “Từ Hùng Vương nhẩy vào thời đại hôm nay. Với sức đẩy khởi đầu …. Hồ Chí Minh, Lenin, Karl Marx. Giết người không hề nên tội ác. Khi Đảng hạ lệnh khai đao. Đứa bé vượt biên trong tay mẹ khối thịt đỏ au. qui tội ngang tầm bọn Đế Quốc Tư Bản.”

Ông Nguyễn Văn Thuận đã gặp gỡ tướng Trần Văn Đôn nhân dịp Tết Tân Mùi (1991), đăng tải trên Nhật báo Người Việt ngày 8,9-6-95 có ghi lại lời nói của ông Đôn:

“Theo tôi thì chỉ có giải pháp thứ ba, có nghĩa là chính cán bộ, bộ đội, công an cộng sản sẽ nổi dậy làm cái công việc mà chúng ta chờ đợi để có một chế độ thích hợp cởi mở hơn và cho người dân dễ thở hơn. Theo nguồn tin tôi biết, người được thế giới chọn lựa là Võ Nguyên Giáp.” Sự tương phản về nhận thức và quan điểm đối với chủ nghĩa và con người cộng sản của một sĩ quan cấp úy và một sĩ quan cấp tướng khác xa một trời một vực. Nhận thức Phan Nhật Nam trưởng thành trong binh đao, hun đúc trong lửa đạn với bè bạn đồng đội khi trực diện với quân thù nơi trận địa. Nhận thức đó cũng được kiểm nghiệm suốt quãng đời dài hơn binh nghiệp trong các trại tập trung cải tạo khi “người lính chiến” bị hạ nhục thậm tệ. Nhận thức của tướng Trần Văn Đôn kiêm chính trị gia Đệ Nhị Cộng Hòa thành hình qua hơi hám đàn bà cùng sự vuốt ve, hứa hẹn (hão huyền) của những con cáo già cộng sản. Nhận thức đó dẫn tới các kết quả tất yếu. Người-lính-chiến-trẻ, khi lâm chiến, lúc tù tội, trở về đời sống dân sự bất đắc dĩ, luôn luôn suy tư, tìm tòi phương pháp thắng giặc. Trong khi đó vị tướng lãnh lo đi cầu cạnh người khác kể cả kẻ cựu thù hoặc nằm há mồm chờ sung rụng!

Với những giòng chữ viết lột trần bản chất cố hữu của người cộng sản theo kiểu rọi kính chiếu yêu, liệu Phan Nhật Nam sẽ làm lợi những gì cho đảng cộng sản và cán bộ đảng viên đang tìm cách ẩn mình trong các màu áo khác nhau nơi hải ngoại này.

PHAN NHẬT NAM NHỤC MẠ NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA?

Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung” Phan Nhật Nam viết: “Này đây, những người lính của các tiểu đoàn 33, 52 … thuộc Liên đoàn 5 Biệt Động Quân, những lính Sư đoàn 5 Bộ Binh, lính Tiểu Khu Bình Long … lẫn khuất, trườn bò, thất thần, nháo nhác dưới đạn pháo, đứng núp mình sau những bức tường sụp đổ bốc khói mù. Này đây, những binh nhì, trung sĩ quen thuộc của Đại Đội 62, 64 … của Tiểu đoan 6 Nhẩy Dù với Vinh “con,” Phạm Tường Tuấn, Bằng “Bùi Đăng” … đang ngồi nhai nắm cơm sấy dưới hố bom, chạy tấn công vào mục tiêu với chiếc nồi lủng lẳng bên tay. Có người lính nào tội nghiệp thế hở trời?! Có người lính nào trong dòng binh lửa của thế gian phải chiến đấu trong hoàn cảnh khốn khổ tang thương đến như vậy. Nhưng người lính ấy đã chiến đấu như thế trong thời gian dài. Dài suốt trí nhớ của một dân tộc điêu linh … Chắc chắn không vì số tiền chỉ mua đủ tạ gạo và vài món quân-tiếp-vụ … Từ tuổi trẻ, qua những giòng chữ viết, tôi đã đặt một nền móng xác tín cao cả, bi hùng: “Người Lính đã chiến đấu cho Tự Do. Người Lính đã chiến đấu cho một mục đích tự thân – Chiến Đấu Bảo Vệ Phẩm Giá Con Người!”.

Và ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Ông (PNN) kể chuyện, gần đây ông được xem cuốn phim tài liệu về chiến trường An Lộc. Trước kia với nhãn quan của một chiến binh chiến đấu cho Tự Do, cảnh cùng cực chết chóc ở chiến trường được ông ghi nhận để nói lên sự dũng cảm oai hùng của người lính Cộng Hoà Miền Nam (chữ của ông Nguyên). Bây giờ hai mươi hai năm sau nhãn quan của ông đã thay đổi một cách đáng sợ”.

Người lính nơi chiến địa không thể đứng xổng lưng, mắt long lanh đưa tình, miệng cười duyên, vung tay hùng dũng, ca nhạc lính như trên sân khấu hay trong truyền hình. Người lính chiến phải biết ẩn núp để sống còn, để tiếp tục chiến đấu. Ai cũng sợ chết kể cả người lính chiến. Can đảm hay hèn nhát là do thái độ dám xông vào nơi lửa đạn, đối đầu từng giờ từng phút với thần chết; hoặc tìm cách lo lót, chạy chọt để thành lính kiểng, lính ma, lính thành phố. “Người lính-chiến-trẻ” biết rõ có nhiều kẻ dựa hơi lính để vinh thân phì da, núp sau chiếc mộc che của lính chiến để hưởng thụ. Ai đã từng là một đơn vị trưởng có lương tri ắt phải xót xa và phẫn nộ khi cùng thuộc cấp, cũng là đồng đội thân thiết, chiến đấu trong hoán cảnh thiếu thốn mọi bề. Ai có đủ trâng tráo để nói rằng “Người-lính-chiến Việt Nam” đã xông pha nơi trận tiền với sự hổ trợ đầy đủ từ hậu phương? Nhưng “người-lính-chiến” vẫn tình nguyện chiến đấu vì Tự Do của đất nước, để bảo vệ phẩm giá con người. Khi “người-lính-chiến” buông vũ khí cũng là lúc Quê Hương chúng ta mất Tự Do và người Việt Nam mất phẩm giá. Ai có can đảm nói khác hơn điều này? Phan Nhật Nam viết: “Các anh đánh đấm làm sao để gây họa cho chúng tôi. Lão nhân vùng thung lũng Hoàng Liên Sơn đã nói cùng chúng tôi lời bừng bừng phẫn nộ … Quả thật Người Lính Miền Nam đã đồng thời gây nên vô vàn đau xót không đường giải cứu, đánh vỡ toàn thể Hy Vọng Quốc Dân từ cuộc thất trận oan nghiệt của chính mình.”

Ông Kỳ Văn Nguyên cho rằng: “Đó là lý luận cộng sản được Phan Nhật Nam trình bày trên đất Mỹ với đồng bào hải ngoại và với cảc chiến hữu của ông ta. Buộc tội người lính Cộng Hòa Miền Nam chưa đủ, ông còn hạ nhục người lính miền Nam bằng cách phang cho một câu thật xỏ lá để xóa cho thật hết danh dự. Bởi PNN đã viết:

“Vào ngày 30-4-75, khi những người lính thuộc đoạn phim nói trên tự lột truồng trước đám đông dưới ánh mặt trời, đập gẫy súng, vứt bộ máy cò xuống sông, hất bỏ chiếc nón sắt, cởi dây ba chạc mang đạn … ”. KVN đặt vấn đề: “Tôi muốn hỏi ông, ông nhìn thấy bao nhiêu người lính tự lột truồng trước đám đông hay đó chỉ là trút bỏ bộ quân phục mặc quần áo thường dân để tìm lối thoát thân khi Quân Đội tan rã. Ngòi bút ông thật là độc ác và đê hèn.”

Trang bị của người lính chiến gồm quân phục, vũ khí, đạn dược, tạo nên hình ảnh người lính chiến trước mắt mọi người. Nay phải tự cởi bỏ có khác chi trần truồng trước mắt tha nhân. Thực tế, có nhiều người lính chiến sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh họ chỉ còn độc nhất chiếc quần đùi dính vào thân thể còn đầy mùi thuốc súng, đi chân đất trên đường tìm về với vợ con. Không phải ai cũng sẵn quần áo dân sự để trau chuốt trên đường thoát thân.

Ai đã bị lùa ra Bắc năm 1976 ít ra cũng từng đích thân nghe, hoặc được kể lại lời thống trách của một số đồng bào mạnh miệng, bạo phổi ở miền Bắc. Quả thực có nhiều người đã mong đợi Quân Đội Miền Nam ra giải phóng miền Bắc, trả lại cho họ phẩm giá con người. Nhưng họ thất vọng não nề khi thấy chúng ta đến với họ trong tư thế hàng binh của Hà Nội. Không ai trong chúng ta phiền trách họ, mà cùng nhau chia xẻ cuộc sống bị hạ nhục bởi người cộng sản. Quả thật, chúng ta đã đánh mất niềm hy vọng ấp ủ, nuôi dưỡng bao nhiêu năm khi họ phải sống dưới chế độ đầy tủi nhục. Trên Nguyệt San Quốc Dân số Tháng 3-95, Phan Nhật Nam đề nghị chọn ngày 30-4 làm Ngày Vinh Danh Người Lính Việt Nam: “Ngày 30-4-75, đánh dấu sự đau khổ tột cùng của Quốc Dân Việt Nam nói chung và người lính VNCH nói riêng … Nhưng cũng là ngày khởi đầu của trận chiến khác, trận chiến không bao giờ tàn của đại đa số quân nhân Việt Nam, một trận tuyến khốc liệt hơn, ngay trong tâm khảm của mỗi người, giữa những trại tù mệnh danh là “cải tạo” hay vùng kinh tế mới. Trong sự lãng quên hững hờ của dư luận thế giới”.

Ông Kỳ Văn Nguyên viết: “Ông (PNN) muốn nói gì đây trong đoạn này. Đó là thủ thuật chính trị của nhà văn Phan Nhật Nam mà bọn cộng sản muốn đem ra xử dụng. Nói trắng ra, ông muốn nhắn các cựu tù nhân chính trị rằng: “Từ ngày các anh thua trận phải đi học tập cải tạo, dưới sự giáo dục của Đảng và Nhà Nước, các anh phải đấu tranh liên tục với chính bản thân, phải tự lột xác, để từ một kẻ phản quốc có nợ máu với nhân dân, trở thành một người lao động khổ sai mới được hưởng sự khoan hồng của đảng. Đây là một trận chiến khốc liệt không bao giờ tàn, diễn ra trong tâm khảm các anh, các anh phải tự lột xác và lột xác mãi mãi, dù các anh đã được Nhà Nước khoan hồng cho phép sang định cư tại Hoa Kỳ, vẫn cứ phải tuân theo những lời Đảng đã chỉ dậy. Dư luận thế giới đã bỏ quên các anh rồi, không còn ai biết đến các anh là người chiến sĩ Cộng Hòa nữa đâu mà ham.”

Sau ngày 30-4-75 Người Lính VNCH đứng trơ vơ trên một trận địa đã tàn. Cấp trên (Tổng tư lệnh, Tổng tham mưu trưởng … ) bỏ chạy, cấp dưới tự động tan hàng, bạn bè lưu lạc, gia đình nheo nhóc, bơ vơ. Trước đây cả Quân Lực đương đầu với địch quân trên chiến tuyến địa dư, giờ đây chỉ trơ trọi người lính bại trận phải đối diện với quân thù. Phải làm sao đương đầu với kẻ địch để sống còn. Mỗi người tự chọn cho mình một cách xử thế. Đó là một cuộc đấu tranh gay go giữa Thiện và Ác; giữa Can Đảm và Hèn Nhát. Chiến tuyến giữa Ta và Địch ngày càng rõ nét theo với thời gian bị giam giữ. Từ thâm tâm những người cộng sản cũng biết rằng không thể “cải tạo” được đám “ngụy quân”. Tư tưởng đối kháng lớn mạnh biến thành hành động chống đối dưới muôn vàn hình thức khác nhau. Và chúng ta đã tự vạch lấy chiến tuyến đối đầu với người Cộng sản. Cá nhân chống với tập đoàn lấy bạo lực làm phương tiện duy nhất là một cuộc chiến không cân sức và khốc liệt.

Người lính bại trận không chiến đấu trên DANH TỪ QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA mà với, TINH THẦN QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA: BẢO QUỐC AN DÂN.

Đối với đại đa số Người Lính Việt Nam, quả thật trận chiến với người cộng sản không bao giờ tàn. Có súng cũng đánh. Bại trận cũng chống. Trở thành dân sự lại tiếp tục đấu tranh. Không bao giờ thỏa hiệp. Đó là một thực tế không thể chối cãi được. Trong “Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung,” Phan Nhật Nam viết: “Phần chúng ta, Người Lính Miền Nam, dù không đi hết bổn phận cho đến ngày toàn thắng, đã có nhiều sơ sót, vụng về, khiếm khuyết trong sứ nhiệm xả thân, nhưng quả thật chúng ta đã làm đúng chức năng cao quý: VỊ QUỐC AN DÂN.”

Trong “Người Lính Không Hề Chết,” Phan Nhật Nam viết “Chúng ta đã mất những chiến hữu với phẩm chất rất cao cả, những người chỉ huy đáng phần kiêu hãnh, những đơn vị không hề thua sút so với bất cứ quân đội nào trên thế giới.”

Trong “Chân Dung Cần Phải Viết Lại”, Phan Nhật Nam viết: “Người Lính Việt Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gánh chịu phần nặng nề, thua thiệt và đau đớn nhất. Gần hai mươi năm sau cuộc chiến kia chấm dứt, vết thương bị lăng nhục vẫn còn tươi máu, trên tất cả những vùng đất, thị trấn, xóm làng, thành phố tan tác, loang lỗ khắp Miền Nam hôm nay vẫn nguyên độ nóng của dấu bom miểng đạn, vẫn hằng hằng những người tóc ngã mầu mệt nhọc cúi mình trên tập vé số, tì tay lăn chiếc xe phế binh hoen rỉ, bên trên lề đường đặc lềnh bụi khói mờ mờ che màu cờ đỏ của một buổi đổi thay tàn nhẫn. Nơi Nghĩa Trang Quân Đội Long Bình lũ chó hoang kéo lê những lóng xương rã mục, Trung Liệt Đài sụp xuống chiếc mái, biến thành nơi tích chứa phân của đơn vị bộ đội cộng sản … Người lính và con của họ vẫn bị coi là đám “ngụy tiện dân” xếp hạng thứ 13 … Chân dung của Người Lính đó từ lâu đã bị ngộ nhận. Hôm nay chúng ta nên viết lại. Phải vẽ lại đúng vóc dáng kỳ vĩ nỗi chịu đựng lặng lẽ đầy bi tráng này.”

Thế hệ thanh niên Việt Nam ở các thập niên 1940-50-60-70 đa số bị cuốn hút vào quân đội. Khi đã vào quân ngũ họ rẽ theo hai hướng khác nhau. Một thiểu số nhỏ nhoi coi Quân Đội là nơi tiến thân. Họ xoay sở trăm chiều tùy theo như cầu và quyền lợi cá nhân bất chấp quyền lợi của Tổ Quốc, Đồng Bào, Đồng Đội. Họ đã trở thành một số “Tướng hèn, Tá bẩn” trong tập thể Quân Đội kiêu hùng, trong sáng. Danh từ “tướng hèn, tá bẩn” không phải do Phan Nhật Nam sáng tác. Đó là tiếng thét phẫn nộ, lời nguyền rủa của Quốc Dân, Toàn Quân đối với hạng người bất xứng. Đại đa số lấy quân đội làm nơi tập trung sức mạnh để thực hiện hoài bão VỊ QUỐC AN DÂN. Họ không màng tiền tài, danh vọng, địa vị. Họ chiến đấu trong thiếu thốn (trang bị vật chất, hổ trợ tình thần từ hậu phương), tận gian khổ khó khăn để giữ từng tấc đất quê hương. Họ giương cao sĩ khí khi bại trận. Họ âm thầm trong cuộc đấu tranh tư tưởng dai dẳng để không bị lột xác. Hiện nay họ vẫn kiên trì tiếp tục công cuộc đấu tranh hầu duy trì ngọn lửa bền bỉ của Dân Tộc.

Phan Nhật Nam có mặt trong số những người này.

(1) Thường Trực Thi Đua: Ban Đại diện Tù nhân ở các trại cải tạo do cán bộ cộng sản chỉ định.

ĐẠI DƯƠNG,

NGƯỜI LÍNH QLVNCH.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment