vietmessenger.com
Hồ Trường An
Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998
Post by Sơn râu 1 Jan 2026

Chương 6.
Khởi Đầu Một Giai Đoạn Xuống Giốc
MỘT hiện tượng đáng được nhắc đến là những ban kịch lưu động của Nha Tâm Lý Chiến chia nhau đi trình diễn khắp miền Nam đất nước, từ Bến Hải đến Cà Mau. Những ban kịch nầy chuyên diễn những hài kịch tố Cộng, nhưng vẫn có phần đơn ca, song ca và hợp ca những bài hát bài tố Cộng. Tuy những vở kịch mà họ trình diễn dù không sâu sắc, nhưng thu hút quần chúng mãnh liệt. Những nghệ sĩ hài hước như Kim Bảng, Ngọc Trai, Hồn Nhiên (em trai của Ngọc Hà) và nhất là Xuân Phát làm cho ấm nóng sân khấu lộ thiên của các ban kịch ấy. Khán giả cứ tự tiện mà đến xem, không mất tiền mua vé. Về phần ca hát, những ban kịch nầy đã giới thiệu được những giọng hát sáng chói như sau:
* Kim Chi, Mỹ Hòa:
Kim Chi và Mỹ Hòa sau khi thôi cộng tác với các ban kịch lưu động trở thành các ca sĩ phòng trà. Kim Chi ở đây không phải là Thần đồng Kim Chi, bạn song ca với Thần đồng Quốc Thắng. Kim Chi ở đây có dáng dấp mỏng mảnh, giọng ca cũng mỏng mảnh. Khuôn mặt cô đẹp tươi sáng, nhưng vóc dáng cô mảnh khảnh và kiều nhược. Tuy nhiên, cô hát vài bài rumba khá hay, nhất là bài “Thuyền Về Bến Xưa” của Anh Việt.
Mỹ Hoà xinh xắn, duyên dáng, giỏi trang điểm, dù cô có màu da hơi ngăm đen nhưng cô có nét tươi trẻ nồng mặn qua màu sắc trang điểm tươi thắm. Mỹ Hòa có giọng hát trong trẻo, nhưng khi áp dụng giọng ngực thì giọng cũng khào khào và nồng ấm. Về sau, vào năm 1970, cô cùng hai chị em Uyên Ly và Kim Anh (hai cô nầy là em của nữ ca sĩ Minh Tuyết) lập thành Tam Ca Ba Con Mèo và chuyên hát nhạc Mỹ.
Mỹ Hòa có đóng một vai quan trọng trong phim Hoa Mới Nở (phỏng theo quyển tiểu thuyết Cô Hippy Lạc Loài của Nhã Ca) do Lê Dân đạo diễn. Cô đóng bên cạnh Bạch Liên, Cát Phương và Vũ Thái Bình. Lần đầu tiên đến với điện ảnh, cô tỏ ra thoải mái và thao túng, diễn xuất rất truyền cảm.
Khi ra hải ngoại, Mỹ Hòa chuyển qua hát cải lương bên cạnh Hữu Phước, Dũng Thanh Lâm, Chí Tâm, Minh Đức, Ngọc Lưu, Hương Lan, Hà Mỹ Liên, Kiều Lệ Mai … Dù có hơi yếu về nhịp, nhưng khi hát Vọng Cổ, cô có thừa những cái huê dạng và bay bướm để mê hoặc khán giả. Cô đóng vai thương đã hay, mà nhào qua đóng vai lẳng cũng rựa ràng lắm. Hiện nay, bắt đầu từ đầu năm 1977, mỗi xế Chúa nhật, cô làm mưa làm gió trong chương trình ca nhạc tại quán Đào Viên (quận 13, Paris).
Giao tình giữa Mỹ Hòa và tôi từ 1977 cho tới nay bao giờ cũng tốt đẹp, dù cả hai vì đa đoan công việc nên ít khi gặp nhau. Nhưng khi gặp nhau, cả hai đấu láo thật nhộn để rồi khi chia tay lại lười điện thoại cho nhau. Ở cô, tôi bắt gặp sự thông minh sâu sắc, những kinh nghiệm về cuộc đời rất chin chắn, niềm thông cảm thật bao la. Có một thời cô hơi đẫy người. Nhưng giờ đây cô lấy lại vóc mình thanh cảnh và sự tươi mát trẻ trung; dù chỉ nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng trông cô trẻ hơn tôi ít nhất 10 tuổi.
* Bích Huyền:
Khi chưa lấy chồng, Bích Huyền có vóc mình tuy hơi nhỏ nhắn, nhưng tròn lẳn và xinh xắn. Khuôn mặt chị có những nét đều đặn: mũi dọc dừa, mắt tròn bồ câu, đôi môi rõ nét và gợi cảm. Giọng của chị nồng ấm mềm mại. Chị hát và diễn kịch đều thu hút khán thính giả. Khi thôi cộng tác với ban kịch lưu động và trở thành vợ Xuân Phát, thỉnh thoảng Bích Huyền có hát trên sân khấu Đại nhạc hội do Kim Cương tổ chức. Nhưng không hiểu vì sao khi đứng trên sân khấu lớn trong một hí viện, chị lại mất hết sức thu hút dù giọng chị vẫn không mất âm lượng và dù nhan sắc của chị vẫn không suy giảm, vóc mình của chị không lệch lạc sau những lần sinh nở.
* Bích Sơn:
Bích Sơn là cháu kêu nữ danh tài Bích Thuận bằng dì. Cô có vẻ đẹp của một cô gái Nhật Bản, hao hao giống nữ hoàng điện ảnh Kim Ô Phương Tử (Kyo Machiko). Cô có một suối tóc dài bất hủ, một khuôn mặt đầy đặn, và cặp môi mũm mĩm. Giọng hát của cô hơi khàn nhưng làn hơi thật mướt, chuỗi ngân rập rờn. Khi thôi cộng tác với ban kịch lưu động, Bích Sơn học hát Vọng Cổ cùng một số bài bản cổ nhạc Nam Kỳ rồi đầu quân cho đoàn ca kịch cải lương Thúy Nga và trở thành nghệ sĩ ca kịch cải lương luôn. Sau gánh Thúy Nga, cô cộng tác các gánh Bích Thuận, Bích Sơn & Ngọc An, Thanh Minh, Bạch Vân … Cô đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1962. Cô có đóng các phim như Thế Hệ 20 do Năm Châu đạo diễn bên cạnh La Thoại Tân, Thẩm Thúy Hằng, Bích Thủy, Phương Mai, như Ngàn Năm Mây Bay do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn bên cạnh Lê Quỳnh, Bích Thủy. Thập niên 50, thời đại thanh bình. Mọi bộ môn trình diễn bắt đầu vươn lên trên đà phát triển mạnh, trừ ngành điện ảnh. Khắp các nơi đô thị, cuộc sống ăn chơi làm cho thị dân quên phắt đi những mầm mống ác hiểm ở nông thôn. Khi Việt Minh tập kết ra Bắc có để lại một số cán bộ nằm vùng khắp nơi, từ trong nội bộ của các cơ quan của chính quyền, từ mọi hoạt động văn hóa ở thành thị cho tới các sinh hoạt khác ở nông thôn. Nhất là nông thôn, một vị trí hoạt động rất lý tưởng cho họ để sau nầy khi lực lượng quân sự của họ từ Bắc len lỏi vào Nam thì đồng bằng miền Nam sẽ là cái bàn đạp để họ mở những mũi tấn công về phía đô thị.
Chính phủ của nền Đệ nhất Cộng Hòa vẫn không ngừng nghĩ những mưu kế để bứng trọn gốc những kẻ địch nằm vùng. Cảnh sát hương thôn chưa đủ hiệu lực phanh phui và tiêu diệt họ nổi. Thế là có tổ chức những cái gọi là Cải Cách Điền Địa và Diệt Trừ Sốt Rét. Những cán bộ của hai chiến dịch đó len lỏi vào trong nông dân và dân miệt vườn, mặt ngoài là cố giúp đỡ dân cải thiện nếp sống ở bùn lầy nước đọng, nhưng thực ra là dò xét và phăng tìm dấu vết bọn Cộng Sản nằm vùng. Nhưng hai chiến dịch nầy không bao lâu bị bãi bỏ vì các cán bộ của chúng ta bị bọn Cộng Sản nằm vùng bắt đem thủ tiêu. Chánh sách Ấp Chiến Lược cũng không tồn tại lâu vì gây ra nhiều oán ghét trong lớp nông dân, một phần vì họ bị Việt Cộng tuyên truyền bất lợi cho chánh sách, một phần dân chúng bị gom vào ấp không được bồi hoàn thiệt hại xứng đáng cơ nghiệp mà họ bỏ lại ngoài vòng đai của ấp. Cho nên mầm mống ác hiểm của Việt Cộng càng ngày càng bành trướng.
Nha Tâm Lý Chiến và Nha Thông Tin đã chỉ thị một số nhạc sĩ trong nha sáng tác những bài hát tuyên truyền ca tụng nào là Ấp Chiến Lược, nào là Khu Dinh Điền, nào là Khu Trù Mật để nói lên cái thắng lợi giả tạo của nhà cầm quyền trung ương lẫn nhà cầm quyền địa phương. Dĩ nhiên những bài hát đó chỉ tổ làm bực mình người nghe, trước hết là nhạc dở tồi dở tệ, sau đó là dân chúng oán ghét chế độ gia đình trị của anh em nhà họ Ngô. Tuy nhiên, ở những khu định cư dành cho người Bắc di cư như Hố Nai, Gia Kiệm, Cái Sắn, cuộc sống
được ổn định và trở nên trù phú. Vào thuở đó, chỉ có bài hát tuyên truyền “Ai Về Miền Cái Sắn” của Nguyễn Việt là được thính giả đón tiếp nồng hậu. Bài nầy thường được nữ danh ca Thái Thanh hát trên làn sóng điện. Đây là một bài hay; tài hoa của tác giả đã đưa công cuộc tuyên truyền vào lãnh vực nghệ thuật. Điều nầy rất hiếm xảy ra.
Mai nầy mùa lúa mới đơm bông
Tôi về tìm sức sống
Bên bờ giòng nước trong
Gió chiều đùa trăng thanh ngát hương
Sống hòa nhịp bốn phương
Cho lòng tràn mến thương.
Trong khoảng thời gian đó, có một vận sự và cũng là một hiện tượng đáng kể xảy ra trong khoảng gần cuối thập niên 50. Đó là vụ nữ nghệ sĩ cải lương Kim Hoàng ly khai gánh cải lương Nam Phi để lao vào lãnh vực Tân nhạc. Vận sự nầy, tôi đã tường thuật ở quyển Sàn Gỗ Màn Nhung, nhưng cũng xin nhắc lại ở đây cho có đầu có đuôi. Kim Hoàng là gái mồ côi cha mẹ được nữ hoàng sân khấu Năm Phỉ nhận làm dưỡng nữ.
Bà đã từng nuôi chị từ lúc chị hãy còn thơ bé và bà gắng công rèn luyện chị trở thành đào hát. Khi chị vừa lớn lên thì các chị em bà Năm Phỉ dùng lời ngon tiếng ngọt sao đó để đùn chị cho cậu Lê Tấn Để, em út của bà Năm. Chị tuy lấy chồng mà không yêu chồng. Trên sân khấu, chị bị nữ nghệ sĩ Bảy Nam, em của bà Năm Phỉ và cũng là mẹ ruột của Kim Cương chèn ép, không cho mặc trang phục hào nhoáng hơn Kim Cương, không cho đóng những vai trội hơn Kim Cương. Thật ra, Kim Hoàng diễn xuất thua Kim Cương, nhưng sáng đẹp sân khấu hơn Kim Cương. Lại nữa, về ca hát, Kim Cương không có giọng đẹp, lại nghẹt mũi, làn hơi hao hụt trong khi đó Kim Hoàng có giọng kim cao vút và làn hơi vừa dũng mãnh vừa phong phú. Tuy nhiên, vì gặp anh chồng Út Để đã nhu nhược hiền lành, lại sống nhờ nghề vẽ phông và áp-phích cho đoàn hát nên Kim Hoàng không dám phản đối kêu ca. Rồi một ngày kia nữ vô địch bóng bàn Như Mai xuất hiện. Chị Như Mai vốn là một người đồng tính luyến ái. Lúc đầu, chị ve vãn Kim Cương. Nhưng Kim Cương chướng mắt, gạt chị qua một bên. Cho nên chị xoay qua xun xoe Kim Hoàng. Thế rồi Kim Hoàng bỏ gánh theo Như Mai. Lúc đó, bà Năm Phỉ chết đã được 4 năm rồi. Bà Bảy Nam và cậu Út Để làm dữ, phanh phui với báo chí chuyện tình trái cựa của cặp Kim Hoàng & Như Mai. Tuy nhiên, Kim Hoàng vẫn cương quyết theo tiếng
gọi của trái tim và nhất là trốn thoát khỏi cái tánh khống chế nhỏ mọn của bà Bảy Nam. Khi chung sống với Như Mai, Kim Hoàng được bạn của mình nâng đỡ để có dịp trau giồi nghệ thuật và được tập cách sống theo một mẫu người đàn bà thanh lịch. Như Mai vận động cho Kim Hoàng hát trên sân khấu Đại nhạc hội. Không ngờ, chị ăn khách kinh khủng. Giọng hát vang lộng như tiếng Đại hồng chung và ngọt lìm lịm của chị làm cho khán thính giả trong hí viện như bị điểm huyệt. Bản “Nắng Đẹp Miền Nam” của Lam Phương nhờ Kim Hoàng mà trở nên nổi tiếng và bán chạy như tôm tươi. Sở trường của Kim Hoàng là hát những bản có hai câu thơ lục bát mở đầu để chị ngâm sa mạc như “Quê Mẹ” của Thu Hồ, “Bức Tâm Thư” của Lam Phương, “Quê Hương” của Hoàng Giác và “Nắng Đẹp Miền Nam” của Lam Phương. Mỗi khi xuất hiện trên sân khấu Tân nhạc, Kim Hoàng hiện thân là một nàng tiên, nhan sắc thùy mị dịu hiền, cung cách quý phái hơn Kim Cương nhiều. Như Mai đã gột rửa rất nhiều những cái vụng về quê mùa trong cách ăn mặc trang điểm, trong ngôn ngữ, cử chỉ, cách hành xử của Kim Hoàng. Do đó, Kim Hoàng lần hồi trở thành mẫu người phụ nữ thanh nhã và lịch lãm, không mặc cảm, biết tự tin. Do đó mà chị có thể đứng ngang hàng với Bích Thuận và Túy Hoa vốn là hai cô đào cải lương biết ca Tân nhạc. Và hơn thế nữa, thập niên 50 là thời đại vàng son
của Kim Hoàng trong khi đó Túy Hoa chớm già và Bích Thuận không hoạt động nhiều ở mọi bộ môn trình diễn được nữa.
Vận sự giữa Như Mai & Kim Hoàng khiến cho giới sành kịch ảnh và tân nhạc liên tưởng tới vận sự của đôi nghệ sĩ “gay” nước Pháp là thi sĩ kiêm điện ảnh gia Jean Cocteau và tài tử điện ảnh Jean Marais. Nhờ tình yêu của thi sĩ lỗi lạc Jean Cocteau mà anh chàng vô danh tiểu tốt ở giai cấp thấp là Jean Marais trở thành minh tinh điện ảnh hàng đầu của Pháp. Jean Cocteau hướng dẫn Jean Marais xem sách, tập viết văn, tập môn hội họa. Khi về già, Jean Marais viết được vài cuốn sách, vẽ tranh và nắn tượng để triển lãm.
Trên sân khấu Đại nhạc hội, Trần văn Trạch bớt ăn khách vì anh cứ trình diễn một số bài bản cũ nên khán giả bắt đầu nhàm chán. Minh Trang chớm già, vóc mình trở nên khô sau nhiều lần chửa đẻ. Tâm Vấn vì kết hôn với Thanh Nghị nên ít khi xuất hiện trên sân khấu. Những cây đinh sáng chói trên sân khấu Đại nhạc hội gồm có Khánh Ngọc, Ngọc Hà, Linh Sơn, Vũ Huyến, Mộc Lan, Anh Ngọc, Tuyết Mai & Duy Khánh, Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết, Kim Hoàng, Túy Phượng & Hoàng Cầm. Riêng nhạc sĩ Hùng Lân có đào tạo được ba cô nữ sinh là Ngọc Loan, Thu Hà và Lệ Thanh. Hát xướng chưa được bao lâu thì Ngọc Loan và Thu Hà giải nghệ. Thu Hà tiếp tục việc học để sau nầy đỗ Tú tài, lên học trường Đại Học Y Khoa. Chỉ có Lệ Thanh tiếp tục ca hát. Nhưng về sau, song song với việc theo đuổi khoa danh ở trường Đại học, Thu Hà gia nhập vào ban Tam Ca Đông Phương để hát chung với Tuyết Hằng và Hồng Vân.
Còn về sinh hoạt của giới sáng tác thì sao?
Kế tiếp đợt Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Nhật Bằng, Lê Trọng Nguyễn, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Trịnh Hưng là đợt Lê Dinh, Minh Kỳ, Hoài Linh, Song Ngọc … Đây là đợt có nhiều nhạc phẩm ăn khách, nhưng lại hiếm nhạc phẩm có giá trị.
Minh Kỳ có ba nhạc phẩm hay là “Giòng Thời Gian”, “Nha Trang”, “Nhớ Nha Trang”, Lê Dinh có “Người Em Xứ Thượng” … Về sau cả hai hợp cùng với Anh Bằng thành Lê Minh Bằng sáng tác bừa bãi những bản nhạc chạy theo thị hiếu quần chúng theo thể điệu boléro. Chính thật ra Anh Bằng vẫn có những bản khá độc đáo, chẳng hạn như “Nếu Vắng Anh”, “Sầu Lẻ Bóng” …
Sự xuất hiện của Nguyễn văn Đông cũng là một hiện tượng đáng kể. Bản “Đôi Bờ” của anh là một bản hay, nhưng nó không nổi tiếng. Phải đợi những bản “Phiên Gác Đêm Xuân”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Chiều Mưa Biên Giới”, anh mới nổi tiếng khắp mọi tầng lớp thính giả. Nhưng có lẽ bản “Mấy Dặm Sơn Khê” mới là một tuyệt chiêu của anh. Để lượm bạc, Nguyễn văn Đông sáng tác loại nhạc chiều theo thị hiếu quần chúng trong đó có bài “Khi Đã Yêu” và anh lấy biệt hiệu là Phượng Linh khi cho xuất bản những loại bài ca rẻ tiền ấy.
Đây là giai đoạn hiếm hoi những nhạc phẩm có giá trị. Những nhạc sĩ chân chính tuần tự rút lui vào bóng tối, để cho phường lái nhạc lộng hành. Nhưng Phạm Duy vẫn cứng cựa và vẫn đương đầu với sóng gió. Những bản “Tôi Còn Yêu Tôi Cứ Yêu”, “Hẹn Hò”, “Vần Thơ Sầu Rụng”, “Hoa Rụng Ven Sông” … Đặc biệt nhất là anh phổ thơ của Cung Trầm Tưởng, cống hiến cho khách sành điệu những bài thật đặc sắc nhưng cũng phổ thông trong quần chúng như “Tiễn Em”, “Chiều Đông”, “Mùa Thu Paris” v.v … Và tuyệt vời nhất là bản trường ca “Con Đường Cái Quan” gồm 19 ca khúc. Riêng Phạm Đình Chương thì có những bài như “Ly Rượu Mừng”, “Đón Xuân”, “Màu Kỷ Niệm”, “Mộng Dưới Hoa”, “Xóm Đêm” … Tuấn Khanh tung ra “Quán Nửa Khuya”, “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”, “Đêm Nầy Nghỉ Đỡ Chân” dù ăn khách kinh khủng đi nữa, nhưng có lẽ các bài “Mộng Đêm Xuân”, “Dưới Giàn Hoa Cũ”, “Chiếc Lá Cuối Cùng”, “Một Chiều Đông” mới chứng tỏ được cái tài hoa chân chính của anh. Lê Hoàng Long với “Gợi Giấc Mơ Xưa”, Huỳnh Anh với “Mưa Rừng” và “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” (phổ thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà), Nguyễn Hữu Thiết với “Màu Áo Thiên Thanh”, Hoàng Thi Thơ với “Phố Chiều”, “Tà Áo Cưới” đều là những bản nhạc không đến nỗi rơi vào quỹ đạo thương mại của bọn lái nhạc bắt đầu lộng hành. Tóm lại, Tân nhạc trong giai đoạn nầy không còn thu mình vào giới sành nhạc chọn lọc nữa mà nó bung ra quần chúng. Nhưng được cái nầy thì phải mất cái kia. Những nhạc sĩ bất tài nhưng biết nắm thị hiếu quần chúng dìm nhạc vào thị trường hạ cám quá ê hề và bừa bãi trong khi nhạc sĩ có tài năng căn bản đưa nhạc vào thị trường thượng vàng thì chẳng có bao nhiêu.
Đồng thời, nhạc ngoại quốc nhập cảng vào Việt Nam. Những nhạc phẩm được những giọng chân truyền của Mỹ như Nat King Cole, Andy Williams, Patti Page, Jo Stafford, Doris Day diễn tả những “Mona Lisa”, “Too Young”, hoặc “I Went to Your Wedding”, “Love Is a Many Splendored Thing”, “Que Sera Sera”, “Secret Love”, “The River of No Return”, đều là những bản nhạc có nhiều nề nếp chân truyền. Nhưng những bản “Mambo Italiano”, “Calypso Italiano”, “Banana Boat Song”, “Venus” đều là nhạc thời trang. Pat Boone, Ricky
Nelson, Paul Anka, Elvis Presley, Dalida đều là những ca sĩ thời trang và đều là thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Pat Boone thì hơi khác là anh có thể hát những bản chân truyền như “Love Letter in the Sand”, “April Love”, nhưng anh cũng biết quấy nhộn qua các bản “Bernadine” hay “Why Baby Why” … Những ban hợp ca thì có ban The Platters, Trio Los Pechos, The Golden Gate là được giới trẻ thích hơn cả.
Cuộc tuyển lựa ca sĩ do đài phát thanh tổ chức tại rạp Thống Nhất đã giới thiệu được Thanh Sơn, Vũ Thành An và Nhật Thiên Lan. Thanh Sơn đỗ đầu trong kỳ chung kết vì anh biết xướng thanh. Vũ Thành An có giọng đẹp hơn Thanh Sơn, nhưng lại đứng hạng nhì vì anh xướng thanh không vững bằng Thanh Sơn. Còn Nhật Thiên Lan đỗ hạng sáu. Về sau, Thanh Sơn lẫn Vũ Thành An đều trở thành nhạc sĩ. Thanh Sơn sáng tác loại nhạc chiều theo thị hiếu quần chúng trong đó có bài “Màu Hoa Anh Đào” được các học sinh dùng làm nhạc cho các màn vũ của họ trên sân khấu học đường. Còn Vũ Thành An sáng tác những bản nhạc tình rất đẹp, được giới trẻ có khiếu thưởng ngoạn cao hâm mộ, trong đó có bài “Tình Khúc Thứ Nhất” và “Bài Không Tên Số 2″. Về sau, Vũ Thành An sáng tác thêm chín bài “Không Tên” nữa, nhưng chúng vẫn không có cái hấp lực nồng đậm bằng hai bài đầu của anh. Trong 3 năm cuối của thập niên 50, Mai Hương, Mai Hân, Bạch Yến và Bích Chiêu đã bắt đầu trưởng thành. Đoan Trang thì vừa đeo đuổi môn dương cầm ở trường Quốc Gia Âm
Nhạc vừa đeo đuổi việc sách đèn nên không còn hát ở đài Sài Gòn nữa. Quốc Thắng hãy còn là thần đồng hợp cùng Kim Chi, Tuyết Phương thành ba ca sĩ tí hon thao túng trên các sân khấu Đại nhạc hội. Kim Chi và Tuyết Phương ngân nga rựa ràng lắm. Lê Phi, Lê Út, Huỳnh Mai hoàn toàn rút lui vào bóng tối. Mai Hương càng lớn càng hát vững chãi với nội lực thâm hậu dọn một chỗ ngồi sáng chói trong hàng ngũ ca sĩ thượng thặng với nghệ thuật hát chân truyền sau nầy. Mai Hân càng lớn lên thì giọng hát càng lu, làn hơi không còn
phong phú. Bạch Yến bỏ đi theo đoàn môtô bay một thời gian rồi cùng Bích Chiêu làm mưa làm gió ở phòng trà Hòa Bình vào khoảng năm 1957 cho tới 1960. Sau đây tôi xin điểm mặt từng giọng hát:

* Mai Hương, Mai Hân:
Tuy hai cái tên có chữ Mai khởi đầu, tuy cả hai có bước khởi hành trong sự nghiệp ca hát giống nhau, nhưng tài nghệ lại khá xa cách nhau. Mai Hương có vóc người mảnh mai, vóc vạc mỏng mảnh ốm yếu, khuôn mặt mỏng, đôi mắt hơi nhỏ, cặp môi hơi dầy. Nhưng cô trang điểm và ăn mặc khéo nên vẫn có cái dễ nhìn riêng và nhất là có cái cốt cách riêng. Mai Hương có giọng lu và mỏng yếu. Nhưng âm sắc của giọng thì đẹp. Chuỗi ngân của cô nhỏ mức và tỉ mỉ như những nét thêu tuyệt xảo. Cô dàn trải làn hơi thật điêu luyện và tinh vi, không chỗ nào gãy và hụt hơi. Âm vực trong giọng hát của cô hẹp, nhưng cô lên cao hoặc xuống thấp dù không vang lộng, nhưng hát tới nơi tới chốn ở những chỗ hóc búa. Nếu gặp một kẻ không có kỹ thuật lão luyện như cô thì với tiếng hát dù có mềm mại nhưng bạc nhược như thế đó khó mà giúp đương sự hành nghề ca sĩ. Nhưng Mai Hương vẫn có ý chí, vẫn biết luyện giọng theo phương pháp chân truyền nên vẫn là một ca sĩ thượng thặng. Cô hát những bản “Hương Xưa” của Cung Tiến, “Serenata” của Enrico Toselli (Phạm Duy phổ lời Việt đặt cái tựa là “Chiều Tà”), “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss (tức “Le Beau Danube” mà do Phạm Duy phổ lời Việt) là những bản có nhiều chỗ lên cao, nhưng cô vẫn hát trôi chảy, dù rằng khi lên cao giọng cô mỏng như mạng nhện nhưng không tắc tịt, không tét, không chua, đã vậy cô còn hơi sức để ngân nga lăn tăn. Nhưng coi chừng đó, cô hát mà khán thính giả run sợ theo cô, chỉ sợ cô vấp bẫy ngã ngựa, vậy thì cô nên lựa những bản nằm trong âm vực của cô mà hát thì hay hơn. Bản “Hương Xưa” dù đã được Lệ Thu và Thái Hiền hát bằng giọng kim cao vút và phong phú, nhưng họ hát không sành điệu bằng Mai Hương.
Dù có tiếng hát kém về âm lượng, nhưng Mai Hương có kỹ thuật thâm hậu hơn Thái Thanh. Mai Hương hát dân ca và loại ca khúc âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương đều hay.
Đây là giọng rất kén người nghe. Nhưng nói cho cùng, Mai Hương chỉ hát hợp với làn sóng điện, băng nhạc, dĩa nhạc hơn là sân khấu Đại nhạc hội hay sân khấu phòng trà. Bởi cái nhan sắc khiêm tốn của cô không ăn đèn. Giọng cô đã lu mà cô lại cứ cầm khăn mù-soa đứng trước máy vi âm, hát mà không biết diễn tả sao cho sống động khi gặp bản vui hay không biết diễn tả niềm cảm xúc lâm ly khi gặp bản buồn. Cho nên xem Mai Hương hát, khán thính giả chỉ ước mong cô hát cho mau xong để họ thưởng thức tiết mục ca nhạc kế tiếp.
Mai Hương có người em gái tên Bạch Tuyết, cũng võ vẽ hát xướng, nhưng không có giọng tốt. Nhận thấy con đường ca hát không mở cho mình một tương lai sáng sủa nên cô cố gắng học ngành Dược để trở thành dược sĩ. Khi trở thành vợ của Ngọc Giao, Mai Hân ít ca hát. Vả lại cô không có làn hơi phong phú. Mai Hân thuở còn con gái chỉ xinh thôi chứ không đẹp. Về sau, khi có vài mặt con với chồng và vào tuổi ba mươi trở lên cô ăn diện thật diêm dúa, trang điểm thật thắm thật đậm. Giọng hát cô lại không có âm sắc đặc biệt. Cô không có cái ma lực đặc biệt để khuấy động sự thờ ơ của quần chúng và cũng không có kỹ thuật thâm hậu để làm cho khách sành điệu phải thán phục. Cho nên cũng như Tuyết Anh, cô chỉ hát trên làn sóng điện.

* Quỳnh Giao:
Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang vốn là hậu duệ của ngài Tuy Lý Vương Miên Trinh. Cô đã trưởng thành kịp lúc trong đầu thập niên 60 để hát chung với Mai Hương với cái biệt hiệu là Quỳnh Giao. Đây là một giọng kim cực kỳ phong phú, tươi non mươn mướt. Cũng như Mai Hương hay như Mộc Lan, Quỳnh Giao ngân nga thật vững vàng thoải mái. Giọng cô trong trẻo, nhưng sao mà có vẻ như giọng cô trinh nữ, không một chút gợi cảm nào. Nó còn gợi nên hình ảnh một thiên thần cánh trắng, một tiên nữ trinh khiết thơ ngây. Đôi lúc cô hát bằng một giọng gượng nhẹ làm người nghe có cảm tưởng đó là một phiến mây phiêu diêu hay một sợi tơ trời mong manh, không biết tan rã lúc nào. Nhưng coi chừng đó, giọng ấy khi vút lên cao thì vang lộng và ngời sáng, chuỗi ngân kéo dài theo ý muốn. Đây là một giọng có nội công thâm hậu, có một kỹ thuật già dặn. Hồi ở quê nhà, cô có lần lên đài truyền hình hát bài “Dòng Sông Xanh” của Johann Strauss. Cô hát thật dễ dàng, thoải mái, không chút cố gắng, tới chỗ ngân bằng nguyên âm (vocaliser) cô làm cho khán thính giả thỏa mãn ở làn hơi phong phú như thác nước Cam Ly và chuỗi ngân óng ả rập rờn. Mọi người đều thích Thái Thanh hát bài “Dòng Sông Xanh” và cho rằng chị hát bài nầy hay nhất. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng Quỳnh Giao hát đạt hơn. Tại sao? Bởi vì giọng của Thái Thanh hát theo lối nhấn từng chữ, hát theo điệu chầu văn quen thói quen nết rồi. Khi hát một bản nhạc cổ điển Tây phương, chị thả lối hát chầu văn vào đó dù là một chút xíu đi nữa thì có khác nào thả một thìa mắm tôm vào món “ra-gu” hay món sườn rô-ti của Tây. Quỳnh Giao có thể hát không tới nơi tới chốn những bản nhạc của Phạm Duy (về tình ý), nhưng những bản có âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương thì cô ăn đứt Thái Thanh ở cách trình bày trong suốt, không gợn đục bởi mắm tôm và tương Cự Đà. Quỳnh Giao là một nàng tôn nữ nhưng từ thuở nhỏ sống ở Sài Gòn. Cho nên cô nói giọng Nam. Khi kết hôn với anh Dương Ngọc Hoán vốn là người Bắc nên cô nói tiếng Bắc. Cô có vóc vạc mảnh mai, khuôn mặt thông minh và đoan trang thùy mị. Cô có học thức, lại tốt nghiệp môn dương cầm. Cho nên cô vẫn giữ cốt cách và phong thái của một quận chúa. Khuôn mặt cô có đôi lưỡng quyền hơi cao, nhưng không vì lẽ đó mà nó tối tăm. Thần thái cô sáng rỡ rỡ. Nụ cười của cô đằm thắm, cái nhìn đoan nghiêm. Cô ăn mặc nhã đạm, trừ lúc lên sân khấu sau nầy. Mà dù có ăn mặc diêm dúa và choáng lộn đi nữa, cô vẫn có cái sang trọng quý phái đặc biệt. Là trưởng nữ của nữ danh ca Minh Trang nên cô hát có đôi chút hơi hướm của giọng chị Minh Trang. Giọng cô trong quá có nhiều lúc hơi chát. Chỉ thiếu một chút khàn khàn thôi, cái giọng ấy mới lột xác giọng trinh nữ hay giọng thiên thần để trở thành gợi cảm như giọng chị Minh Trang. Điều đó, các bạn khỏi lo, trong hai dĩa nhạc “Khúc Nguyệt Quỳnh” và “Tiếng Chuông Chiều Thu”, cô hát cực kỳ điêu luyện như tự xưa giờ và cực kỳ gợi cảm ở chỗ khàn khàn khi xuống một nốt hơi trầm. Bước vào tuổi tứ tuần, cô có cái giọng thật thiếu phụ, ấm áp và nồng mặn hơn. Nhưng từ căn bản, đó vẫn là giọng hát trong như pha lê và sáng như gương báu. Chút khan khàn kia như một nét vân mềm làm cho phiến ngọc thạch thêm duyên dáng, thêm hoa mỹ vậy thôi.
Tôi quen với Quỳnh Giao vào năm 1971, khi tôi cộng tác với tờ tuần san Minh Tinh. Từ đó, có vài lần tôi đến tư thất của bà Ngọc Thuyền để viếng cô. Thuở đó, vợ chồng cô ở chung với bà, tại đường Trần Quang Khải (Tân Định). Sau nầy, vào năm 1977, tôi mới rời khỏi Việt Nam và định cư trên nước Pháp. Nhưng mãi tới năm 1985, tôi mới liên lạc được với cô qua sự trung gian của nhà văn nữ Vi Khuê. Từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi có viết thư cho nhau. Được biết cô thích văn chương và sốt sắng theo dõi văn chương Việt Nam ở hải ngoại, tôi rất mừng. Năm 1989, tôi có dịp qua Washington D.C ra mắt sách, vợ chồng cô có mời tôi lại nhà cô chơi. Thuở đó cô còn chung sống với anh Ngọc Hoán. Cả ba đưa nhau đi chơi núi, có trăm ngàn việc để kể cho nhau nghe, cùng hát những bản nhạc xưa ơi là xưa. Tối hôm đó cả ba cứ thức kể lể đủ thứ chuyện, và khi nhìn ra ngoài trời thì đã lờ mờ sáng. Tôi được gia chủ đãi một bữa điểm tâm thịnh soạn trước khi chuẩn bị khăn gói quả mướp qua viếng nhà chị Vi Khuê ở thành phố Burke.

* Bạch Yến:
Sau khi bỏ nghề môtô bay, Bạch Yến khởi nghiệp ca hát ở phòng trà. Dạo đó, cô có thân hình đầy đặn và nồng nàn, khuôn mặt dù không đẹp nhưng xinh tươi và duyên dáng. Với đôi vai hơi xuôi, cô mặc áo dài thật bắt mắt. Cái duyên dáng đậm đà nhất của cô là chiếc răng hơi khểnh bên mép trái. Giọng Bạch Yến có âm vực hơi hẹp, nếu cô không xử dụng thành thạo thì lên cao sẽ tét, xuống trầm sẽ nghẹt. Hồi cô còn son trẻ, tiếng hát của cô đã hơi khao khao rồi. Khao nhưng chẳng những không khô, mà trái lại còn dẻo mềm quyến rũ nữa. Sau nhiều năm trôi nổi ở hải ngoại, trước ngày chung cuộc của miền Nam đất nước, Bạch Yến luyện được một giọng óc vừa dũng mãnh vừa mượt mà óng ả. Bởi đó, khi hát bản nhạc Nam Mỹ “Malagueña”, khi lên cao cô chẻ qua giọng óc một cách khéo léo và ngân nga trác tuyệt làm khách mộ điệu phải mê mẩn rụng rời. Phải nói là Bạch Yến có cách diễn tả bài hát thật quyến rũ. Cô cùng Bích Chiêu là linh hồn của phòng trà Hòa Bình. Khách đến đó chỉ cốt nghe cả hai hát mà thôi. Hễ cô vừa xuất hiện trên sân khấu là như mang theo một cơn lốc bừng bừng phấn khởi. Đã vậy giọng hát cô như ướp bùa ướp ngải làm mọi người như bị thôi miên.
Nhắc tới Bạch Yến là giới sành điệu cũ nhớ tới những bản nhạc ngoại quốc thịnh hành trong hai năm cuối của thập niên 50 và hai năm đầu của thập niên 60 như: “Bernadine”, “Secret Love”, “The River of No Return”, “Calypso Italiano”, “April Love”, “It’s Now or Never”, “Diana” … Những bản “Hoa Xuân” hoặc “Yêu Tinh Tình Nữ” của Phạm Duy và nhất là bản “Đêm Đông” của Nguyễn văn Thương cũng được cô trình bày một cách điệu nghệ. Vào đầu thập niên 1962, Bạch Yến sang Pháp được mời hát nhà hàng ca nhạc Les Mandarins,
được hát trên Đại hí viện Olympia ở Paris, được mời thu vào dĩa Polydor. Đây là thời gian cô leo lên tuyệt đỉnh vinh quang vậy. Sau đó, nhận thấy khán giả người Pháp ăn xổi ở thì, chỉ thích cô hát qua một vài bản trong một thời gian nhai chưa dập bã trầu, cho nên Bạch Yến qua Mỹ hành nghề, sống lây lất đó đây theo kiểu những nghệ sĩ gạo chợ nước sông xứ mình, không gây được một chút tên tuổi ở địa danh nhỏ bé nào lâu.
Nhưng có lần Bạch Yến bảo tôi:
— Đáng kể nhất là nhờ hát bản “Đêm Đông” trên đài truyền hình ở New York, Yến đã chinh phục 40 triệu khan thính giả Hoa Kỳ.
Có lần tôi viết bài “Bạch Yến, Tiếng Hát Ngậm Ngùi” đăng trên tạp san Quê Mẹ số 25 (ngày 16/9/78), Bạch Yến chê:
— Bài viết còn quá nhiều thiếu sót. Thành tích của tôi cầu phải có một cuốn sách dầy cộm mới nói đủ. Hôm nào tôi sẽ cho anh xem những bài báo bên Mỹ viết về tôi. Tôi nghẹn lời, biết nói sao cho phải. Ở Pháp, báo vùng có hai ba tờ nhật báo. Nước Mỹ vốn rộng mênh mông, báo địa phương mỗi tiểu bang phải có cả hàng trăm nếu kể cả tạp chí lẫn nhật báo. Báo vĩ đại Mỹ nào viết về một ca sĩ của nước Việt Nam qua Mỹ hành nghề với tính cách tư nhân chứ không phải qua công việc trao đổi văn hóa như Bạch Yến đây?
Sau ngày cáo chung của miền Nam, Bạch Yến phải đi hát ở các nước Á Châu cho khách du lịch nghe để rồi trở về định cư ở Pháp và kết hôn với nhạc học giả Trần Quang Hải vào năm 1978. Từ đó, dù được Trần Quang Hải dìu dắt vào lãnh vực hát dân ca, nhưng với tiếng khao khao, cô hát dân ca không gợi cảm, dù cô nắm bắt được nhiều bí quyết hát dân ca đi nữa. Nói chung, suốt 15 năm qua, từ năm 1981 cho tới 1996, Bạch Yến tài nghệ giảm sút, tiếng hát trở nên hơi khô, thời đại hoàng kim chỉ còn là kỷ niệm xa lơ xa lắc. Đã bao lần cô bị chứng đau cổ, phải giải phẫu. Nhưng cô vẫn kiên trì luyện giọng.
Dù sao xét qua công trạng và thành tích trên 40 năm hành nghề ca hát, Bạch Yến vẫn là một danh ca hạng cừ, có nội lực thâm hậu trong giọng hát. Bạch Yến đã tạo được một vài thành tích hiển hách khi đem chuông đi đấm xứ người dù rằng tại xứ người tiếng chuông không vang xa đối với khán giả ngoại quốc và không lâu dài lắm. Nhưng tiếng hát của cô có một chỗ đứng riêng, có một sắc thái độc đáo, không ai chối cãi điều đó. Nó đến mỗi chúng ta bằng vẻ nồng đượm như mùi hương khói chiên đàn. Nó trải dài nỗi bàng hoàng trên băng nhựa, dĩa nhựa và trải rộng ở các phòng trà Hòa Bình, Kim Điệp, Tự Do. Làn hơi ngao ngán u hoài của giọng hát cô như lời than thở cô đơn của nữ danh ca Julie London. Cũng như Julie London, Bạch Yến có một chuỗi ngân điêu luyện và cách giát mỏng giọng hát thật trác tuyệt. Và vượt cả Julie London, Bạch Yến còn biết xử dụng giọng hát đó để đôi lúc hát nhạc kích động, làm nổi sóng cả một buổi trình diễn.
Vào năm 1966, Bạch Yến có cho thu giọng của mình vào một dĩa nhạc. Cô hát những bài nổi tiếng của Pháp như “Ne Me Quitte Pas”, “La Vie en Rose”, “Les Feuilles Mortes”, hoặc bản nhạc Ý như “Mama” hoặc bản Nam Mỹ như “Malagueña” với cái accent khá vững vàng. Dù rằng làn hơi cô kém phong phú, nhưng kỹ thuật vẫn khá điêu luyện, lối trình diễn cũng còn đôi chút quyến rũ.

* Bích Chiêu:
Cô không đẹp nhưng có duyên. Cô có hàm răng vẩu và lưỡng quyền hơi cao. Nhưng vẻ thông minh tinh quái chiếu sáng chan hoà khuôn mặt cô. Đã vậy, cô rất hồn nhiên, không hề che đậy khuyết điểm của mình. Thân hình của Bích Chiêu khá nồng nàn và khá cân đối. Đã vậy cô biết hóa trang và ăn mặc nên trên sân khấu cô có nét gợi cảm và thu hút riêng. Giọng Bích Chiêu phong phú và hơi khàn. Chuỗi ngân cô rập rờn và óng ả. Cô hát những bản “Mustapha”, “Diana”, “Innamorata”, “Histoire d’un Amour”, “Le Gitan”, “Never on Sunday” rất điệu nghệ. Về các bản Việt, cô xuất sắc ở bài “Mùa Hoa Phượng” của Lê Đô, “Nỗi Lòng” của Nguyễn văn Khánh. Buồn cười nhất là ở bài sau, cô khởi đầu bằng ba tiếng “I love you … ” tới đây cô ngừng lại. Khán thính giả tưởng đâu ai đó đặt lời tiếng Anh cho bản nầy để cô ca, nhưng cô lại tiếp theo: “ … cả một đời”. Mọi người bị xí gạt cười rùm lên tán thưởng cái thông minh tinh quái của cô.
Bích Chiêu hát rất trội, rất ngậm ngùi những ca khúc tình ái như “You Don’t Know Me” hay “I Went to Your Wedding” dễ làm say lòng người. Tôi còn nhớ Nguyên Sa có câu thơ “trải dài đại lộ bằng tiếng hát Bích Chiêu”. Bên cạnh Bạch Yến, Bích Chiêu vẫn là thần tượng lộng lẫy của giới trẻ vào cuối thập niên 50. Cô không để hào quang của Bạch Yến lấn áp hào quang cô một chút nào. Thấy báo chí quảng cáo việc Bạch Yến đem chuông đi đấm nước người thật huy hoàng hiển hách cho nên Bích Chiêu bèn khăn gói quả mướp dông qua bên Pháp. Than ôi, chuyến đi nầy cô chôn sống sự nghiệp ca hát của cô. Lúc cô qua bên Tây mong lập nghiệp thì Bạch Yến cũng đang cụ bị hành trang đi Mỹ để tìm môi trường sinh hoạt mới. Cuộc hôn nhân giữa cô và chàng trai nước Ý chẳng những làm chướng ngại cho sự nghiệp ca hát của cô mà còn làm cô dở sống dở chết vì cảnh vợ chồng đồng sàng dị mộng vì canh không ngọt mà cơm cũng không lành.
Năm 1972, Bích Chiêu về nước, được trình diễn một buổi dành riêng cho cô, để rồi âm thầm trở về Ý không trống không kèn. Cái hướng vọng ngoại bắt cô trả giá hơi nhiều. Vào hè 1996, tôi được gặp Bích Chiêu trong phần phụ diễn ca nhạc cho buổi lễ chào mừng Văn Bút Âu Châu (thuộc phe cánh Viên Linh). Cô vẫn giữ vẻ mặn mà mà gợi cảm ở sắc vóc. Khi hát bài “Summertime”, cô biểu diễn một làn hơi dũng mãnh như làn hơi nữ nghệ sĩ Liza Minnelli làm cho khan giả hoan nghinh nồng nhiệt. Bích Chiêu ngân nga thua Bạch Yến, nhưng làn hơi cô phong phú hơn làn hơi của Bạch Yến.
Đã vậy cô còn giữ âm sắc trẻ trung trong tiếng hát. Sau đó vài tháng, Bích Chiêu qua bên Hoa Kỳ tái xuất giang hồ được báo chí cổ võ lắm. Cô lại còn hát cho cuốn băng hình Thúy Nga, nghe nói cũng gặt hái ít nhiều thành công.
Trong giai đoạn năm năm cuối của thập niên 50, trong ca trường nhạc giới xuất hiện những khuôn mặt như Việt Ân, Thanh Hùng, Mai Trường, Duy Mỹ (bên nam), Kim Vui, Minh Tuyết, Tuyết Hằng (bên nữ) … Đó không phải là lực lượng hùng hậu lắm, nhưng vẫn có một vài chân tài, dù các tài năng đó không chói sáng và không tồn tại lâu dài đi nữa. Riêng ban Dân Nam đào tạo thêm nữ kịch sĩ Túy Hồng. Cô nầy chẳng những đóng kịch hay mà còn ca hát tiến bộ vùn vụt để trở thành một giọng hát có bản lĩnh vượt xa những giọng hát nữ bên ban Sầm Giang.

* Kim Vui:
Trước khi trở thành ca sĩ, Kim Vui là một nữ vũ công đồng thế hệ với Mỹ Á Lan, đồng thế hệ với vũ bộ Hoa Lư gồm Anh Thư, Lan Hương và Băng Tâm. Kim Vui cao lớn, đẹp bỏng cháy. Chị có khuôn mặt hao hao như khuôn mặt của nữ minh tinh gốc Thụy Điển Anita Ekberg pha khuôn mặt của nữ minh tinh Ý-đại-lợi Sophia Loren. Có lẽ trong hàng ngũ các nữ ca sĩ, các nữ kịch sĩ, các nữ minh tinh màn bạc, Kim Vui đẹp bốc lửa nhất, đa tài đa diện nhất. Có một dạo chị chụp ảnh cười phơi bày hai hàm răng ngọc trai khít khao và đều đặn để làm quảng cáo cho hãng kem Leyna. Chị cũng như Kiều Chinh trội hơn đồng nghiệp ở cặp giò dài. Chị hơn Kiều Chinh ở bộ ngực đồ sộ và tài ca hát có chân truyền. Chị thua Kiều Chinh là đóng phim quá ít và không đóng phim ở ngoại quốc, không được kiên nhẫn để đeo đuổi sự nghiệp đến tận cùng.
Ít lâu, Kim Vui chán nghề vũ. Dù là ở những màn vũ Ai cập, chị hiện thân là một thần nữ lướt mướt lụa the dệt kim tuyến lấp lánh. Nhưng chị nhìn xa hơn vì chị có giọng tốt. Nghệ thuật trình diễn nếu mất đi nữ vũ công Kim Vui thì lại được thêm một nữ ca sĩ có đủ nội lực thâm hậu hát bằng lối chân truyền song song với lối hát nhạc kích động của giới trẻ đương thời. Giọng hát Kim Vui ngọt và khỏe, tuôn thao thao lai láng như một trận mưa hè. Chuỗi ngân của chị cũng tinh luyện. Chị hát những bài nhạc Pháp bằng tiếng Pháp như “Bambino”, “Histoire d’un Amour”, “Le Gitan” đều hay, phát âm tiếng rựa ràng. Trong phim Chân Trời Tím, đạo diễn Lê Hoa Hoàng cho Thái Thanh hát “đúp” cho chị qua hai bản “Nửa Hồn Thương Đau” và “Người Đi Qua Đời Tôi” của Phạm Đình Chương. Tôi nghĩ họ Lê làm thế tức là chưa thưởng thức nổi một giọng hát cỡ cao như giọng hát của chị Kim Vui. Nhân dáng, cử chị của Kim Vui thật vương giả, thật tự nhiên, cao sang từ bản chất, không õng ẹo điệu đà. Khi tiếng hát Thái Thanh với cách ngoai mồm và nghiến từng tiếng trám vào họng Kim Vui, tôi e tiếng và người chẳng đi đôi. Vả lại, Kim Vui thừa sức hát hai bản đó, hát hay cũng như Thái Thanh, tuy không theo phong cách hát của Thái Thanh.
Kim Vui mặc áo dài thì áo dài phải mang ơn chị, vì nhờ chị mà áo mới đạt được cái đẹp trong công việc bợ ngực bó eo người mặc. Cái eo của chị thon, lưng chị dài, đùi chị cũng dài, ngực và mông chị đều cao và lồng lộng nét tròn mê hoặc. Chị mặc áo đầm hở vai, và mang găng tay kéo lên khuỷu tay, áo và găng đều bằng nhung đỏ hay nhung đen thì quá choáng lộn, quá bốc lửa như Rita Hayworth trong phim Gilda. Kim Vui cuốn tóc từng lọn boucles anglaises thì đẹp và sang như bà hoàng. Rất tiếc, khán thính giả thích xem nhan sắc của chị lúc chị hát chứ không kể số gì tới giọng hát có căn bản của chị. Có một dạo, Kim Vui theo ban Thoại kịch Kim Cương, đóng vai độc rất tới trong hai vở kịch Lỡ Một Bước Đường, Tôi Là Mẹ. Nhận thấy rằng trong ban Thoại Kịch Kim Cương, Kim Cương giành hết những vai thương cảm, còn vai độc vai lẳng dành cho mình, cho nên chẳng bao lâu Kim Vui tách khỏi ban kịch ấy.
Về phim ảnh, Kim Vui đóng ba phim như Thương Hận, Chân Trời Tím và Cúi Mặt. Chính nhờ vai Liên trong Chân Trời Tím, chị đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc. Trong phim nầy, chị có dịp mặc áo tắm và có dịp khỏa thân trước giá vẽ của nhân vật họa sĩ để phô bày đường cong nét lượn tuyệt mỹ trên thân thể chị. Hùng Cường, bạn đồng diễn của chị trong phim Chân Trời Tím có lần tuyên bố với báo chí rằng về điện ảnh, Kim Vui là bạn đồng diễn lý tưởng nhất của anh.
Ngoài tài năng nghệ thuật trình diễn đa diện, Kim Vui còn biết vẽ tranh sơn dầu.

* Túy Hồng:
Tên thật của chị là Trương Ánh Tuyết, quê ở Bình Dương. Thuở còn con gái, chị có khuôn mặt tròn thật ăn ảnh và thật duyên dáng cùng vóc mình nhỏ bé và xinh xắn. Trên làn sóng điện, Túy Hồng thủ những vai nhì sau Túy Phượng trong các vở thoại kịch do Anh Lân biên soạn cho ban Dân Nam. Nhưng khi các vở những kịch nầy được đưa lên sân khấu thì các vai của Túy Phượng lại giao cho Kim Cương, nhưng Túy Hồng vẫn giữ vai cũ của mình. Túy Hồng lúc khởi nghiệp hát không hay. Về sau, nhờ có nhạc sĩ Lam Phương chỉ dẫn nên chị hát rất nghề. Những bản nổi tiếng của Lam Phương như “Chiều Tàn”, “Đèn Khuya”, “Mộng Ước”, “Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi” được chị trình bày thật truyền cảm. Và nhất là bản “Phút Cuối” mà chị cùng hát với Diên An và được thu thanh vào dĩa Việt Nam loại 45 tours phải nói là tuyệt chiêu. Giọng Túy Hồng trong và hơi chát, nhưng chị biết xử dụng làn hơi để che lấp cái âm sắc chát chát đó để rồi thả vào giọng những tình cảm nồng mặn đậm đà. Chuỗi ngân của chị rất điêu luyện. Tiếc thay về sau người ta chỉ mến chị qua vai nữ kịch sĩ Túy Hồng chứ không mến chị qua nữ ca sĩ Túy Hồng. Chị ca hát hay mà rồi rốt cuộc như người mặc áo gấm đi đêm. Về điện ảnh, Túy Hồng có đóng ba phim: Gác Chuông Nhà Thờ (do Lê Hoàng Hoa đạo diễn), Nhà Tôi (do Lê Dân đạo diễn) và sau hết là phim hài hước Lệnh Bà Xã …
* Minh Tuyết:
Chị xuất hiện ở các phòng trà, các quán ăn ca nhạc từ năm 1955. Mặt chị trái soan, sóng mũi dọc dừa, cặp mắt hơi nhỏ, chiếc miệng hơi rộng, nhưng thân hình khá nồng nàn sinh lực. Minh Tuyết có cái duyên thâm trầm. Mới nhìn thì thấy chị không đẹp, nhưng nhìn chị lâu, chúng ta thấy chị đậm hẳn lên. Giọng hát của Minh Tuyết hơi yếu, làn hơi không dồi dào. Nhưng chị biết gói ghém dè sẻn làn hơi để khi lên cao và xuống trầm không hụt hơi một cách sỗ sàng lộ liễu. Tóm lại, Minh Tuyết hát chỉ nghe được mà thôi chứ không mê hoặc được ai. Minh Tuyết là chị ruột của hai con mèo Uyên Ly và Kim Anh trong ban Tam Ca Ba Con Mèo.
* Tuyết Hằng:
Chị có nhân dáng một người nội trợ thuộc giai cấp trung lưu hơn là nhân dáng một nghệ sĩ. Chị có vẻ hiền lành phúc hậu, khuôn mặt đoan trang và rực rỡ thần thái thông minh. Nhưng đây là một giọng hát chân truyền được rèn luyện đúng mức, có thể được xếp vào hạng thượng thặng như Kim Tước, Châu Hà, Mộc Lan, Mai Hương, Quỳnh Giao.
Tuyết Hằng cởi mở mà không lố lăng, cách ăn nói khiêm tốn. Chị có thể thay thế một trong bộ ba Kim Châu Mộc để tam ca với hai người kia. Tiếng hát chị theo nề nếp khít khao, đạt đến kỹ thuật cao. Khi cùng Thu Hà và Hồng Vân thành lập Tam Ca Đông Phương, Tuyết Hằng cộng tác với phòng trà Đêm Mầu Hồng, tên tuổi chị mới vang xa. Chị hát trội hơn Thu Hà và Hồng Vân về kỹ thuật, nhưng thua Hồng Vân về nghệ thuật trình diễn vì Hồng Vân có cái lẳng lơ tuyệt xảo khi diễn tả một bài hát. Chị đẹp hơn và sắc sảo hơn Thu Hà, nhưng không sáng hơn Hồng Vân vì Hồng Vân có nụ cười dí dỏm và rạng rỡ cùng ánh mắt loáng gương.
Vào năm 1971, khi tôi cộng tác với tuần san Minh Tinh, có thường đến phòng trà Đêm Mầu Hồng và có dịp trò chuyện với Tuyết Hằng, có dịp nhắc đến anh Nguyễn văn A, giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc đã từng đỗ bằng hòa âm và đối điểm. Anh A là bạn hàng xóm của tôi khi cả hai cùng ở dưới mái đông lang của Thánh Thất Cao Đài Từ Vân ở đường Nguyễn Huệ trên Phú Nhuận. Chính anh A đã khuyên chị Tuyết Hằng ghi tên học âm nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc để mở rộng kiến thức và để luyện giọng cho đến mức tinh xảo.
* Việt Ấn:
Là người Việt lai Ấn nên anh có mầu da sậm, thân vóc to lớn, cặp mắt hơi trố. Nhưng mặt mũi anh thấm nhuần vẻ hiền lành, hễ ai gặp anh là có cảm tình với anh ngay. Việt Ấn đi hát từ thời nhạc sĩ Lê Thương lập ban nhạc kịch gồm có Mộc Lan, Bích Giang (sau đổi lại là Tuyết Vân), Yến Hương, Phạm Đức, Dương Ngô Cầm. Giọng anh rất phong phú về âm lượng, lại sang sảng như chuông. Chỉ tiếc một điều là anh không ngân nga vững vàng, khi có khi không. Việt Ấn thường hát “Tiếng Hát Dân Chàm” của Châu Kỳ, “Hận Đồ Bàn” của Xuân Tiên. Bài sau đưa tên tuổi anh sáng rực trên đài danh vọng, nhưng sau đó Tổng Thống Thiệu lại cấm bài đó được trình diễn vì ông cho rằng đó là nhạc vong quốc.
Tội nghiệp cho Việt Ấn, anh chết vì tay một tên cao bồi du đãng mà chính quyền không thể truy nã được dấu vết của tên hung thủ ấy. Anh chết giữa lúc anh bước vào tuổi tứ tuần và giữa lúc danh vọng anh chưa hề giảm thiểu ánh hào quang.
* Thanh Hùng:
Anh đến ca trường nhạc giới bằng vóc dáng thư sinh, bằng khuôn mặt khôi ngô, bằng giọng hát cực kỳ dũng mãnh, cao vút và vang lộng với một chuỗi ngân trác tuyệt. Đây là giọng ténor mà chỉ có Lê Mộng Hoàng và Cao Thái mới có. Bởi có giọng quý giá như hoàng kim bảo ngọc ấy nên Thanh Hùng thường chọn những bản có chỗ lên cao như “Vọng Ngày Xanh” của Khánh Băng, “Tiếng Dương Cầm” của Văn Phụng, “Tình Không Biên Giới” của Văn Lương. Ngoài ra anh chọn những bài hát cao vút đã giúp cho ca sĩ Tây-ban-nha Luis Mariano nổi tiếng trong đó có bài “Le Chanteur de Mexico”. Ở bài nầy, Luis Mariano khi đến câu chót chẻ qua giọng óc mỏng và dẻo nghe mà mê luôn! Lúc đầu Thanh Hùng không chẻ được qua giọng óc như Luis Mariano, nhưng anh đâu có chịu khuất phục dễ dàng như vậy. Anh gia công tập luyện để chừng một thời gian ngắn sau, anh biểu diễn giọng óc vang lộng và tinh xảo của mình không kém Luis Mariano bao nhiêu.
Về âm lượng phong phú, tiếng hát của Thanh Hùng làm thính giả có cảm tưởng đó là con sông Cửu Long, con song Hồng Hà cuồn cuộn láng lai vào mùa nước nổi. Nó còn gợi luôn cái dũng mãnh ào ạt của thác Cam Ly ở làn hơi thật mạnh và thật phong phú.
Thanh Hùng thường được ký giả Trọng Minh (Vũ Trọng Chất) mời đóng loại roman-photo đăng từng kỳ trên các loại báo phụ nữ (Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai … chẳng hạn) vì khuôn mặt anh rất ăn ảnh và nhất là anh ăn mặc rất bảnh bao.
Dù gì thì dù, tiếng hát của Thanh Hùng khá phổ thông trong giới khán thính giả chọn lọc và trong quần chúng. Khác với trường hợp của Kim Vui, anh có tài ca hát và được đời đãi ngộ xứng đáng. Vào năm 1965, Thanh Hùng được bầu làm nam ca sĩ ăn khách nhất, trong khi đó Phương Dung được bầu là nữ ca sĩ ăn khách nhất.
Hè 1993, khi Trọng Minh qua Paris ra mắt sách, tôi có gặp Thanh Hùng đến dự. Anh cho biết rằng anh được phép qua Pháp thăm người con trai và tháng sau phải trở về Việt Nam. Kỳ đó anh cùng ca sĩ Cao Thái hát những bản ruột của cả hai. Tôi cũng có dịp cùng anh nhắc nhở tới sinh hoạt của giới ca nhạc vào hai thập niên 50 và 60. Và chúng tôi có dịp nhắc tới hai danh ca lừng lẫy Mario Lanza và Luis Mariano vốn có giọng ténor sáng giá đã từng mê hoặc khán thính giả hoàn cầu trong các thập niên 40, 50 … Thanh Hùng cho biết:
— Anh biết chứ, thuở mới lớn tôi coi Lanza và Mariano như thần tượng. Phim nào mà họ đóng, tôi tìm xem cho bằng được. Tôi cũng sưu tầm dĩa hát của họ để nhái theo họ mà hát. Năm 1965, Thanh Hùng chiếm Huy Chương Vàng giải ca sĩ ăn khách nhất, bên nữ thì có Phương Dung.

* Duy Mỹ:
Phòng trào nghe dĩa ngoại quốc để hát được nhạc ngoại quốc đã quyến rũ chàng nam sinh Duy Mỹ trước đó là học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Nhưng trước khi chuyển qua lãnh vực hát xướng, Duy Mỹ hợp cùng Duy Thanh và Bạch Yến thành Vũ Bộ Bạch Yến, chuyên ăn mặc trang phục Tây-ban-nha và vũ theo điệu múa flamenco của Tây-ban-nha. Khi Bạch Yến ly khai thì hai chàng Duy Thanh, Duy Mỹ đưa Mai Ly vào thay thế. Giọng hát của Duy Mỹ rõ và khỏe. Khán thính giả chỉ thích anh hát những bài nhạc ngoại quốc hợp với giới trẻ chứ không thích anh hát loại nhạc cây nhà lá vườn. Anh rất trắng trẻo xinh trai, chẳng những không “bột” mà còn khôi vĩ nên rất được các khán giả nữ sinh ái mộ. Đây là giọng nam ăn khách ở phòng trà và ở sân khấu Đại nhạc hội. Có một dạo, anh cộng tác với phòng trà Tùng Lâm & Lệ Liễu ở đường Chi Lăng (Phú Nhuận), vào năm 1961 thì phải. Anh vẫn hát nhạc ngoại quốc ở đó và đôi khi cao hứng anh nhào qua đóng kịch với Tùng Lâm và Bạch Lan Thanh. Duy Mỹ về sau lập ra ban Tam Ca Sao Băng với Thanh Phong và Phương Đại. Nhưng anh lu mờ trước hai chàng ca sĩ kia.

* Ngọc Phu:
Anh có vóc vạc vừa tầm, mảnh khảnh mà rắn rỏi, khuôn mặt khôi ngô, sống mũi dọc dừa, nụ cười ngạo nghễ, ánh mắt dò xét. Anh không “đô” con, không có bắp thịt nổi cuồn cuộn. Nhưng trông anh vẫn tràn ngập nam tính. Trên màn ảnh, anh rất ăn ảnh và rất điển trai. Giọng anh cũng thường thôi, hát trơn ngọt, nhưng không có âm sắc đẹp. Đã vậy anh không biết ngân nga. Trên sân khấu anh mê hoặc khán thính giả qua bài “Banana Boat Song” theo thể điệu Calypso. Anh cũng thường hát những bài theo thể điệu nầy, đó là những bản đã từng được ca sĩ da đen Harry Belafonte diễn tả. Thường anh xuất hiện với chiếc quần màu xám ngọc trai, áo veste bằng nhung đen có rắc bột sáng lấp lánh nhiều màu xanh đỏ như áo của các ảo thuật gia.
Về điện ảnh, Ngọc Phu đã đóng vai chính trong phim Người Vợ Hiền bên cạnh nữ nghệ sĩ Kim Lan, do Trần văn Trạch đạo diễn. Anh còn đóng các vai then chốt trong loạt phim do Trần văn Trạch đạo diễn như Thoại Khanh Châu Tuấn (bên cạnh Kim Cương, Yến Hương và Vân Hùng), My Nương Trương Chi (bên cạnh Kim Cương, Trang Thiên Kim và La Thoại Tân), Tam Tạng Xuất Gia (bên cạnh Kim Hoàng). Về sau, anh và Ngọc Đức là hai tài tử lớn chuyên thủ vai phụ rất đạt trong nhiều cuốn phim danh tiếng, tạo được một hào quang riêng biệt trên vòm trời điện ảnh. Có một dạo Ngọc Phu đeo đuổi nghề nhiếp ảnh và trở thành tay nhiếp ảnh khá thành công.
* Mai Trường:
Đây là một giọng hát nhẹ nhưng vang lộng. Tuy thế, phần ngân nga của anh không vững vàng lắm. Tiếng hát anh chẳng có gì đặc biệt, nhưng cũng tạm gọi là một tiếng nghe được, đẹp và sáng hơn tiếng hát của Thanh Thoại và của Nhật Bằng.
Mai Trường có khuôn mặt thật trí thức, thần thái sáng lồng lộng. Thân hình anh hơi nhỏ, nhưng có một dạo anh tập thể dục thẩm mỹ để trở thành lực sĩ đẹp theo kiểu Steve Reeves (người đã đóng vai Hercule trong nhiều cuốn phim thần thoại). Quả nhiên, anh có thân hình đáng đem dự cuộc tuyển chọn lực sĩ đẹp. Tuy nhiên, bắp thịt anh nở nang quá mức, không cân đối với tầm vóc hơi thấp của anh. Nhưng dù sao trông anh vẫn đẹp: hai tảng ngực căng phồng như hai cánh buồm lộng gió, hai cái dorsaux vạm vỡ, bắp tay và bắp đùi nổi cuộn cuộn. Mai Trường có đóng một vai quan trọng trong phim Nước Mắt Đêm Xuân do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn bên cạnh Nguyễn Long, Lệ Quyên và Giáng Hương. Chính trong phim nầy, anh hát nhạc phông bản “Ngày Đó Chúng Mình” của Phạm Duy. Anh cũng sáng tác nhiều bản nhạc ướt át, nhưng chỉ có bản “Hồn Bướm Mơ Tiên” mà anh soạn chung với Tô Vân mới được nhiều người biết đến qua giọng hát diễn tả của Tuyết Mai.
Mai Trường kết hôn với bà chủ thầu may quân phục ở đại lộ Trần Hưng Đạo, đối diện với Công Trường Quách thị Trang (Sài Gòn). Bà vợ của anh vốn kém sắc và có vẻ lớn tuổi hơn anh, lại có vẻ quê quê. Anh đành giải nghệ, cam phận ngồi ở xưởng nhà để may quân phục. Vào năm 1973, tôi tháp tùng theo nhạc sĩ Tô Vân đến viếng anh. Anh mập ú và trắng bủng beo đang ngồi kết mũ lưỡi trai, vẻ mặt mệt mỏi sật sừ, khuôn mặt lúc nào cũng trĩn ướt mồ hôi. Anh nhắc lại thuở còn theo nghề hát của mình bằng giọng thờ ơ, không có vẻ gì xót xa tiếc nuối.
* Quang Minh:
Quang Minh xuất hiện trong đầu thập niên 60 trên sân khấu Đại nhạc hội Kim Cương. Anh rất khôi ngô, khuôn mặt hóa trang của anh rất ăn ánh đèn sân khấu. Anh hát rất vững, ngân nga tinh vi, rõ ràng đây là giọng được luyện tập theo phương pháp chân truyền. Nhưng than ôi, ở đời làm gì có nhiều tri âm đối với một giọng hát hao hao như giọng Anh Ngọc ấy? Bởi anh hát đơn giản quá, bởi anh dựa trên kỹ thuật mà hát, không biết uốn éo làm duyên nên giọng anh chuồi qua tâm hồn khán thính giả bằng những bước chân rón rén âm thầm để rồi trôi vào niềm lãng quên của họ. Về sau, Quang Minh xoay qua ngâm thơ trong ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên do Đinh Hùng phụ trách. Với giọng phong phú, với chuỗi ngân dễ dàng và trác tuyệt, cộng thêm một chút tình cảm nồng đậm trong khi diễn tả một bài thơ, chẳng mấy chốc mà anh nổi tiếng trong địa hạt mới nầy. Và chẳng mấy chốc mà anh vượt cả Hoàng Thư, Quách Đàm và luôn cả Tô Kiều Ngân.
Dù gì thì dù, anh vẫn thích ca hát, nhưng khán giả sành điệu quá ít. Tiếng hát chân phương của anh không thể khua động vào khiếu thưởng ngoạn của đa số quần chúng nên tên tuổi anh đành mai một ngày khi anh tách rời ban Tao Đàn và ban Thi Nhạc Giao Duyên.
Năm 1973, tôi tình cờ gặp anh trong một buổi tối ca nhạc bỏ túi ở Phú Nhuận do nhạc sĩ Hoàng Bá tổ chức. Nhờ nghệ sĩ diễn ngâm Đoàn Yên Linh mà tôi được hầu chuyện với anh. Hôm đó anh tới chơi chứ không có hát xướng gì cả. Anh có vẻ xanh xao bịnh họan, vai co rút, lưng còng. Trời đất ơi, thần thái sáng lộng lẫy như gương của anh chỉ còn là kỷ niệm. Mặt anh mờ nhạt lu câm, cái nhìn mệt mỏi. Tôi đến bên anh để tỏ lòng ngưỡng mộ giọng hát của anh mà giới sành điệu cho rằng đó là giọng hát Anh Ngọc thứ hai.
Năm 1989, vào đầu hè, tôi sang Washington D.C ra mắt sách. Trong thời gian ở chơi tại Hoa Đô, tôi được nhà thơ nữ Lê thị Ý ở Maryland mời đến ăn tiệc sinh nhật của chị. Hôm đó có nhà thơ Vĩnh Liêm, vợ chồng nhà văn Trần Long Hồ, nghệ sĩ thổi sáo Thanh Hà, anh Quang Minh và tôi. Tiệc tổ chức ở sân sau, chỗ dùng đặt bếp than để nướng thịt và đặt những chiếc bàn cây dài. Quang Minh có cho tôi biết hôm tôi ra mắt sách anh cũng có đến dự. Cả bọn nhẩn nha ăn uống từ lúc bóng hoàng hôn chói rực trên những ngọn cây cao cho tới
lúc bóng đêm kéo về. Tiệc tan, cả bọn leo lên phòng khách uống trà. Chúng tôi yêu cầu Quang Minh hát và ngâm thơ. Thanh Hà đến bên cây dương cầm dạo nhạc. Quang Minh chỉ có thể ngâm thơ bằng giọng truyền cảm như thuở nào. Nhưng anh không thể hát suông sẻ dễ dàng như xưa nữa. Anh bỏ hát quá lâu, trên 20 năm có lẻ. Nhưng được cái anh không già hơn bao nhiêu. Anh lấy lại đôi chút thần sắc sáng rỡ, nhưng có vài nếp nhăn đã gợn trên vầng trán sáng nhuận của anh.
Sau hết, tôi xin nói thêm đôi chút sinh hoạt ca trường nhạc giới trong thời gian nầy. Quốc Thắng có cô bạn đồng diễn của mình là Thần Đồng Phương Lan. Phương Lan xinh tươi mũm mĩm như búp bê chứ hát không hay, nhưng đóng kịch thì truyền cảm lắm. Đã có Phương Lan thì phải có một nữ thần đồng khác có cái tên khởi đầu bằng chữ Phương ra đời. Vậy là đến lúc Phương Mai xuất hiện do sự bảo trợ của nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và nữ ca sĩ Mai Hương. Phương Mai hát điêu luyện lắm, xuất hiện trên các sân khấu Đại nhạc hội liên miên. Về sau, cô đóng một loạt phim như Thế Hệ 20, Mười Năm Giông Tố … bên cạnh nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng do Năm Châu đạo diễn.
Trưởng ban Thiếu Nhi là nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đào tạo một loạt thần đồng, nhưng sáng giá nhất chỉ có Hoàng Oanh, Thanh Lan và ba cô Vân là Bích Vân, Ngọc Vân và Phước Vân. Khi năm cô nầy trưởng thành thì anh đào tạo các cô Phương khác như Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc …
Trong thời gian nầy, tên tuổi Thái Thanh sắp bị lu chìm. Nếu không nhờ báo chí hết lòng bảo vệ và quảng cáo cho chị thì nhà văn Mai Thảo không có cơ hội đã tặng cho tiếng hát chị một cụm từ quý giá: “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”. Còn Minh Trang vì uống thuốc suyễn quá dược lượng nên tiếng bị hư hao khá nhiều. Giọng chị vừa khô vừa chát và khi lên cao thường bị tét. Cho nên chị phải dùng biệt hiệu Lai Hồng để hát. Rồi chị xoay qua đóng kịch nhiều hơn. Phong trào phòng trà dâng lên cao từ năm 1958 như một ngọn sóng thần. Những giọng hát nổi danh ở phòng trà gồm có: Lệ Thanh, Thanh Thúy, Thu Hương, Thùy Hương, Thùy Nhiên, Trúc Mai, Băng Tâm, Tâm Đan, Diệu Anh, Yến Hương, Thái Xuân, Tuyết Hương, Mỹ Hòa, Kim Chi, Mỹ Thể,
Lệ Hoa, Thiên Nga. Bên đực rựa có Việt Ấn, Duy Mỹ, Thanh Hùng, Jeannot, Ngọc Phu, Hoàng Cầm … Tôi sẽ nói tới các ca sĩ phòng trà ở chương sau (tức chương 7 của quyển Theo Chân Những Tiếng Hát nầy).
Cũng trong thời gian nầy, ở rải rác ngoài Sài Gòn có những giọng hát quý giá khác như Cao Thái và Thiên Hương ở bên Pháp, như Hà Thanh và Thương Hà ở ngoài Huế.
* Cao Thái:
Anh về nước trước Thiên Hương và ở lại nước hát đôi ba năm mới trở qua bên Pháp. Cao Thái có vóc vạc vừa tầm, nhưng dáng điệu đường bệ. Anh có nụ cười tươi và ngạo nghễ phơi hàm răng ngọc trai dưới hàng ria mép tỉa mỏng. Mái tóc anh dồi dào và rậm rạp ăn nhịp với nét mày sắc sảo của anh. Mặt anh hiền, anh ăn nói mềm mỏng, cư xử hòa nhã. Giọng anh cũng thuộc loại giọng ténor, nhưng mạnh và lẫm liệt khi lên cao, có phần sắc sảo hơn giọng Thanh Hùng đôi chút. Những bài ruột của anh là “Le Chanteur de Mexico” và “Malagueña” là những bài mà anh có thể áp dụng giọng ténor của anh và để anh biểu diễn giọng óc tinh luyện của anh. Giọng óc sao mà như xé lụa, chẳng những không chua không chát mà lại còn ngọt lịm như suối và ngời sáng như một dải Ngân Hà. Thỉnh thoảng trên sân khấu anh mặc quần áo và đội nón theo kiểu Mễ-tây-cơ có thêu những nét hồi văn bằng chỉ màu tuyệt đẹp.
Tôi chỉ mới quen Cao Thái vào năm 1994, trong dịp ký giả Trọng Minh ra mắt quyển Vẻ Vang Dân Việt (quyển hai). Tuy anh đã bước vào tuổi lục tuần, nhưng trông anh vẫn dẻo dai cường tráng, tay chân cứng cáp. Chiếc cổ anh gân guốc và khỏe mạnh có đeo sợi giây chuyền với miếng mề-đay bằng ngọc thạch chạm tượng Phật. Sau đó, cũng trong dịp nhà thơ nữ Bích Xuân ra mắt tập thơ Bao Giờ Em Quên, tôi có dịp chuyện trò với anh nhiều hơn. Anh có khoe anh vừa sáng tác một tập thơ thiền và có hứa trong dịp đến viếng một người bà con ở Troyes, anh sẽ đến Cổ Nguyệt Đường thăm tôi và sẽ tặng tôi tác phẩm thi ca của anh. Nhưng rồi anh bận việc sao đó đến nỗi quên mất chuyện viếng thăm tôi cũng như chuyện cho tôi được ghé mắt đọc qua tác phẩm của anh. Ít lâu, tôi tình cờ gặp anh ở quán ăn Thiên Cơ tại quận 13 Paris, anh cho tôi biết anh Trần văn Trạch đau nặng, đang nằm nhà thương đợi giải phẩu chứng ung thư ruột. Anh buồn rầu bảo:
— Bịnh nầy nặng lắm, tôi e cuộc giải phẩu sẽ không thành công. Tôi có thang thuốc gia truyền đưa cho vợ ảnh, mong ảnh chịu thuốc và sẽ qua khỏi căn bịnh ngặt nghèo kia.
* Thiên Hương:
Khi vào ca trường nhạc giới Pháp, chị lấy biệt hiệu là Tiny Young. Chị về nước vài lần ngắn ngủi và xuất hiện vài lần trên Tivi. Đây là một tôn nữ sớm rời đất Thần Kinh để định cư bên Pháp, đã khởi nghiệp qua lời giới
thiệu của danh ca thượng thặng Henri Salvador: “Permettez-moi de vous présenter une fleur que j’ai cueillie au hasard d’une promenade dans le jardin de la Chanson. C’est une fleur d’ailleurs qui a poussé sur la terre de France, permettez-moi de vous l’offrir. Elle s’appelle Tiny Young”. (“Xin cho phép tôi được giới thiệu một bông hoa mà tôi đã tình cờ hái trong vườn ca nhạc nhân một chuyến nhàn du. Đó còn là một bông hoa đã mọc lên trên đất Pháp, xin cho phép tôi trình hiến các bạn. Hoa ấy tên là Tiny Young.”)
Thiên Hương có một giọng trong sáng nhưng lại đượm một chút khàn khàn ở một vài chỗ làm cho ý nhạc các bài hát du dương và êm ái do chị diễn tả thoáng một chút ngậm ngùi cực kỳ gợi cảm. Giọng chị được thu vào nhiều dĩa 33 tours lẫn nhiều dĩa 45 tours. Hiện giờ tôi có 6 dĩa 45 tours và 1 dĩa 33 tours của chị. Chị hát nhiều bản do Henri Salvador sáng tác như: “Le Carrosse Blanc”, “Ma Poupée”, “Syracuse”, “Je t’Attendrai”, “Mon Chien et Moi”, “Aime-moi”, “C’est Fini Nous Deux”, “Tout Ce qui Fut l’Amour”, “Tu es le Roi des Menteurs” … Ngoài ra chị cũng có hát bài “Eight Days a Week” do hai chàng John Lennon và Paul McCartney trong ban Tứ Quái the Beatles soạn. Bản nầy được phổ lời Pháp với tựa “Huit Jours par Semaine”. Trong năm năm đầu của thập niên 60, Thiên Hương được xếp vào hạng 6 trong 10 ca sĩ trẻ được thính giả Pháp ái mộ nhất.
Vào năm 1972, Thiên Hương có về thăm Sài Gòn và xuất hiện trong chương trình của Ngọc Chánh trên đài truyền hình Việt Nam qua hai bản “Biệt Ly” của Dzoãn Mẫn, “Em Gắng Chờ” của Huỳnh Anh. Chị hát bằng một giọng thì thào gượng nhẹ, được âm sắc khàn đục nồng ấm phớt nhẹ nên dễ làm say lòng người. Tiếng hát sao mà như thoảng từ một cảnh giới mơ hồ huyền bí nào hay như đồng vọng từ cõi chiêm bao đưa về.
Chị có vóc mình mảnh khảnh, dáng điệu thật vương giả, khuôn mặt tuy không đẹp nhưng có chất thơ, chất mộng. Mái tóc chị đen như một giòng suối mực Huy Châu Hào xõa óng ả hai bên tai và phía sau, nhưng cắt mành tương trước trán làm cho khuôn mặt chị hơi giống khuôn mặt nữ ca sĩ Pháp Juliette Gréco, tuy nhiên chị trẻ trung tươi mát và khi ca còn biết ngân nga, về kỹ thuật hơn người nữ danh ca thời danh nầy nhiều. Giờ đây, bên điện ảnh, có hai nghệ sĩ Kiều Chinh và Dustin Nguyen (con trai của nghệ sĩ Xuân Phát) hành nghề
trong môi trường điện ảnh Hoa Kỳ. Nhưng Dustin Nguyen đóng loại phim đấm đá có bắn súng đùng đùng; do đó những vai của anh không cần diễn xuất nhiều. Còn Kiều Chinh đóng những vai quá ngắn, cũng không cần đòi hỏi tới tài diễn xuất vốn tiềm tàng ở chị. Ôi, một bà hoàng điện ảnh của miền Nam Việt Nam trên bước lưu vong xứ người không có đất dụng võ, và cũng như Dustin Nguyen khó đem chuông đấm tại xứ người. Đó không phải là niềm hãnh diện của kiều bào của chúng ta ở hải ngoại. Nhưng Thiên Hương thì lại là trường hợp khác. Chị dùng tiếng hát chân truyền của mình để xuất hiện trên sân khấu, trên đài truyền hình và tung hoành trong các hãng dĩa cho người Pháp thưởng ngoạn suốt cả một thập niên. Chị mới là niềm hãnh diện của dân tộc. Tuy nhiên, có điều hơi đáng tiếc rằng chị không thể giới thiệu được nhạc dân tộc cùng các bài hát của các tác giả Việt Nam với khán thính giả người Pháp.
* Thương Hà:
Chị từ Huế vào Sài Gòn vào năm 1959. Chị không đẹp nhưng có duyên, răng hơi vẩu mà người miền Nam gọi là hô duyên. Khuôn mặt chị hơi xương xương, nhưng vẫn thông minh rạng rỡ. Chị thích mặc Âu phục với áo sơ-mi cụt tay màu trắng và chiếc váy kẻ ô đen. Trông chị không giống một nghệ sĩ chút nào. Đã vậy chị không biết xài son phấn, cứ trang điểm quá phơn phớt, quá gượng nhẹ nên không nổi bật dưới ánh đèn sân khấu dù là sân khấu phòng trà đi nữa.
Thương Hà thường hát chung với Mai Hương và Nhật Thiên Lan trên đài Sài Gòn. Giọng chị khá điêu luyện, rất ngọt ngào trong sáng, rất lảnh lót thanh tao với chuỗi ngân thật tinh xảo như xâu chuỗi hổ phách, với lối phát âm trau chuốt và hơi điệu đà một chút. Chị cũng có hát một dạo tại phòng trà Hòa Bình. Những bản ruột của chị là “Aime-moi” của Henri Salvador và “Histoire d’un Amour” (bản nầy đã đưa tên tuổi nữ danh ca Dalida lên đài danh vọng một cách rạng rỡ). Sự nghiệp ca hát của Thương Hà quá ngắn. Vào năm 1964, không ai biết chị ở đâu, và cũng ít ai còn nhớ tới chị.

* Hà Thanh:
Tên thật là Trần thị Lục Hà. Trước khi vào Sài Gòn lập nghiệp, Hà Thanh đã nổi danh là Chim Họa Mi Xứ Huế. Giọng hát của chị trong sáng, lả lướt và mềm mại, khi lên cao chẳng những không mỏng không chua mà trái lại còn vang lồng lộng và ngọt như quít Hương Cần hoặc như mía Mỹ Lợi, hai món thổ sản của xứ Thần Kinh. Đó là giọng kim rất quý phái và cũng rất Huế. Hà Thanh hát dân ca rất đạt, nhất là những bài âm hưởng nhạc xứ Huế như “Đêm Tàn Bến Ngự” và “Tiếng Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Nhớ Huế” của Lê Mộng Nguyên, “Ai Ra Xứ Huế” của Duy Khánh, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy” của Trầm Tử Thiêng. Ngoài ra, chưa có nữ danh ca nào hát hai bản “Dứt Đường Tơ” của Văn Thủy và “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục bằng chị. Trước đó, đã có Minh Diệu và Kiều Nga hát bản “Dứt Đường Tơ”, nhưng cả hai diễn tả bài hát quá trong suốt cho nên hơi nguội lạnh. Hà Thanh thì vốn có sẵn cái nữ tính hơi ẻo lả và hơi điệu đà vừa phải để làm cho giọng hát mình trở nên đẹp hơn và quyến rũ hơn. Trước chị đã có Anh Ngọc và sau chị đã có Quỳnh Giao hát bài “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục. Nhưng Anh Ngọc hát chân phương quá, khi lên cao phải cố gắng dùng làn hơi từ bụng đưa lên khá gian nan, còn Quỳnh Giao không có sẵn chất ngọt trong giọng hát dù lên cao tiếng hát cô vang dội sang sảng. Trong khi đó, Hà Thanh cất giọng lên cao thật dễ dàng thoải mái và hát bằng một âm sắc ngọt lịm như rót vào tai khán thính giả một dòng cam lộ mát rượi.
Hà Thanh khi còn ở trong nước có dáng dấp mảnh mai, cung cách ngoan ngùy của phần đông cô gái Huế. Khuôn mặt chị khá đẹp, nụ cười thật huyền hoặc và duyên dáng một cách kín đáo thâm trầm. Chị lại rất ăn ảnh khi chường mặt trên Tivi. Chị mặc áo màu dịu và sáng thì lại đẹp và sang hơn mặc áo in hoa sói hoa hòe.
Năm 1991, tôi qua chùa Viên Giác ở tỉnh Hannover bên Đức để hành hương trong kỳ Phật Đản thì Hà Thanh, Lệ Thu và Kim Anh cũng đến Hannover trình diễn trong buổi tối văn nghệ do chùa tổ chức. Cả ba và tôi cùng các bà sư nữ được thầy Viện chủ cho ở trên tầng lầu hai của một khách sạn. Trong dịp nầy, tôi có dịp chuyện vãn cùng chị và cùng nhắc nhở những nhà văn nhà thơ nữ như Nguyễn thị Hoàng, Túy Hồng, Nhã Ca, Hoàng Hương Trang. Tối hôm đó, trong buổi trình diễn văn nghệ, chị xuất hiện với tấm áo dài gấm màu hồng hạnh rực rỡ, nhưng mái tóc chị chải không khéo trông có vẻ lười xười luộm thuộm, không ổn mắt cho khán giả. Sau đó, khi về tới khách sạn, chị than với tôi là hôm đó nhằm Chúa Nhật nên chị không thể đến tiệm chải tóc nên chị phải tự chải lấy rồi xịt keo. Bởi đó mà mái tóc của chị mới vụng về như vậy.
Tôi ngứa miệng:
— Chị phải sắm vài ba mái tóc giả. Khi đến chỗ nào trình diễn, chị chỉ tròng tóc giả lên đầu là xong, cần gì đến tiệm chải tóc cho tốn tiền và mất thời giờ.
Hà Thanh vỗ tay:
— Ý kiến của anh rất hay! Từ khi ra hải ngoại, dạo trước tôi ít đi trình diễn ở ngoài chỗ tôi đang định cư nên tôi không nghĩ tới điều đó. Bậy thật!
Kỳ gặp Hà Thanh tại Hannover, tôi thấy chị hơi mập hơn dạo trước, khuôn mặt trắng trẻo và sáng hồng. Trông chị có tướng mệnh phụ phu nhân lắm. Chị hát vẫn hay vẫn ngọt như thuở nào. Đã vậy chị thuộc lòng những bài kinh ngắn, những bài thần chú nhật tụng. “Đại Bi Thần Chú” vốn khá dài, khó mà học thuộc lòng. Vậy mà chị thuộc như cháo. Nhà chùa hành lễ bao lần là có chị đến dự. Sau đó, chị xin thắp hương các bàn Phật. Trong dịp trình diễn, chị có hát một bản nhạc phổ bài thơ Thiền của Thầy Nhất Hạnh.
Sáng hôm sau buổi trình diễn, chị cùng nhóm nhà văn gồm có anh Phạm Thăng, anh Vũ Nam và tôi chụp chung một tấm ảnh trước khi chia tay.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.