Y Sĩ Tiền Tuyến

Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 3 Jan 2026

Bài 7

Niềm Đau Nỗi Khổ Công Cuộc Khắc Phục Đau Đớn

Bệnh tật là một điều tốt hay xấu? Chắc chắn là một điều xấu, ai cũng nghĩ như vậy. Nhưng những nhà ngụy biện của nước Cổ Hy Lạp, đã đón biết trước câu trả lời của mỗi người, đáp lại: “Không, không xấu đối với những nhà y sĩ!” Qua lời nói ấy người ta có thể hiểu rằng những nhà y sĩ sống nhờ vào người bệnh, chỉ mong người đời mắc thật nhiều bệnh để mong có dịp hành nghê kiểm tiền sinh sống. Suốt một đời Socrates đã chống lại lối suy tưởng bằng nghịch lý ấy. Y sĩ cũng chỉ là người, sớm muộn cũng phải mắc bệnh; bởi vậy bệnh tật quả là một điều xấu đối với con người, điều ấy không ai có thể chối cải được nữa.

“Đau đớn là một điều tốt hay xấu?” Ngay trong định nghĩa sự đau đớn đã có câu trả lời. Thật vậy, cho đến nay, trong phạm vi tâm lý học cũng như sinh lý học, người ta không đưa ra được một định nghĩa khoa học về sự đau đớn. Đau đớn là một tình trạng khó chịu mà người ta muốn chấm dứt. Người bệnh thường thường tới phòng mạch y sĩ cũng vì đau đớn và muốn được chữa khỏi ngay tức khắc. Tuy nhiên từ lúc khám bệnh cho đến lúc uống thuốc chữa bệnh không phải ngắn ngủi chỉ có năm phút biên toa. Người bệnh nào cũng muốn kể lể, mô tà cái đau của mình, đau lên đau xuống. đau ngắn đau dài … Lâu dần người y sĩ có kinh nghiệm, nghe kể bệnh xong đã đoán đúng căn bệnh đến chín phần mười. Sự đau đớn biến thành một triệu chứng quý báu để chẩn bệnh. Bổn phận của người y sĩ ngày nay, khi gặp người bệnh lần thứ nhất là tìm hiểu cái đau đớn của người bệnh. Nhiều khi nhà y sĩ còn đòi hỏi bệnh nhân làm một số động tác gây đau đớn để chẩn bệnh.  Ở ngay khởi điểm, như vậy, hình như đã có một sự bất đồng quan điểm giữa y sĩ và người bệnh về sự đau đớn. Đối với người y sĩ, đau đớn là một lợi khí vì nó là một triệu chứng thông thường  nhất của bệnh tật.

Giá trị của lợi khí ấy, thật ra, rất tương đối. Trong việc chẩnbệnh, nhà y sĩ còn có nhiều phương cách khác: nghe tim, gõ ngực, chiếu điện, thử nước tiểu, thử đàm … Trái lại, kéo dài quá hay quá dữ dội, đau đớn làm thể xác hao mòn, tinh thần mệt mỏi vì lo âu sợ hãi; đau đớn trở nên một chướng ngại lớn cho việc điều trị, một thứ bệnh cấp cứu mà người thấy thuốc phải tìm đủ mọi cách để chế ngự tức khắc.

Cuộc chiến đấu chống đau đớn, cùng với lịch sử bệnh tật, bắt đầu ngay từ những thời thượng cổ. Sau những phương pháp thô sơ do bản năng và kinh nghiệm như đấm bóp, đắp lạnh, đắp nóng …con người lần đầu tìm ra những thuốc trấn đau hiệu nghiệm hơn. Người cổ sơ chắc đã nhiều lần ngẩm nghĩ khi thấy vơi “đau bụng” chạy đi ăn đất sét, để chúng ta ngày nay uống Kaolin, Bismuth. Và có phải ngẫu nhiên con người uống chung với sư tử trong những hồ nước đầy cây ký ninh rữa nát để khỏi phải khổ sở vì nóng, lạnh và mồ hôi? Nhờ những khám phá ấy, y học ngày nay có thêm những phương tiện chống đau. Rồi với tiến triển của các khoa học y khoa như cơ thể học, sinh lý học, vi trùng học … khoa thủ thuật cũng được hướng vào công cuộc khắc phục đau đớn. Tiến thêm một bước, con người mong sẽ phòng ngừa được đau đớn. Dự tính này mới chỉ được phần nào thể hiện trong khoa đánh thuốc mê, một nhành phụ của khoa giải phẩu. Ước vọng của con người là sẽ có ngày diệt hết mọi đau đớn bằng cách ngăn chặn, không để bệnh tật tới được những giai đoạn “bất trị” mà đau đôn lúc ấy trở thành mối kinh hoàng khủng khiếp của con người.

Dưới mắt nhà sinh lý học, đau đớn thể xác là một giác quan đặc biệt, có “những đường dây riêng” trong hệ thần kinh, Nơi người đau, đau đớn là một trạng thái tri thức rất khó chịu, làm ta mệt nhọc, bắt ta rên rỉ kêu la. Nó là một thực trạng hoàn toàn chủ quan, chỉ người đau mới biết đau và chưa có cách gì đo lường được.(1)

Tất cả những từ ngữ người đau dùng để tả cái đau của mình,  chẳng hạn: đau như xé, như cưa, như lửa đốt, như kìm kẹp, chỉ lànhững hình ảnh tưởng tượng, vì thực ra người đau ấy chắc có khi nào bị xé, bị cưa, bị đốt, bị kẹp đâu. Và đến khi quá đau, thì người đau chỉ còn mấy ý tưởng là: đau, đau và đau. Như thế đau đớn phụ thuộc nhiều yếu tố chủ quan: sức chịu đựng, trạng thái tâm thần, ký ức, ý chí … Thêm vào đó còn có rất nhiều yếu tố của môi trường người đau đang sống: phong tục, khí hậu, đồ ăn … khiến cho việc phân tích đau đớn rất khó khăn hay không thể được. Trong y học cách chữa bệnh hay nhất vẫn là cách chữa tận gốc. Vì thế, trước đau đớn, y học phải gắng tìm ra khởi nguyên của nó, và theo Leriche, một thủ thuật gia của đau đớn, thì chỉ có vị thế của đau đớn là giúp ta làm sáng tỏ được điểm này. Leriche phân tích hai loại đau đớn thể xác. Nếu như cảm giác đau hình như cố định một chỗ, không lan rộng ra chỗ khác, không bị ảnh hưởng bởi những kích thích ngoại lai từ ngoài chỗ đau: ấy là cái đau của những dây thần kinh não tủy. Đối lại có thứ đau lan man, không có giới hạn rõ rệt trên thân thể, hay lan rộng, dễ chịu ảnh hưởng của các kích thích ngoại lai, kèm theo nhiều hiện tượng sinh lý khó chịu khác, làm cho thể xác hao mòn, tinh thần căng thẳng vì lo sợ: ấy là đau đớn của hệ giao cảm. Nhờ sự phân biệt này, Leriche đã chứng tỏ được sự hiện hữu của cảm giác đặc thù nơi một số tổ chức xưa kia coi như vô tri giác (xương, mạch máu … ) Những yếu tố thể dịch như lượng calcium, lượng các kích thích tố thượng thận, kích thích tố sinh dục … trong máu, cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát sinh ra đau đớn thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau (ngứa cũng là một loại đau đớn). Công cuộc khắc phục đau đớn vì thế gặp nhiều khó khăn. Hai thứ dược thảo đầu tiên làm dịu đau ghi trong lịch sử y học là cây ngải sâm (mandragore) và cây gai Ấn độ (haschich). Người Ai Cập cổ tin rằng cây ngải sâm là quà tặng nhân gian của Thần Mặt Trời; và người La Mã đã sớm biết xắt cỏ này với rượu nho uống cho bớt đau trong khi mổ xẻ. Mãi đến thời Trung Cổ, cỏ ngải sâm vẫn còn được dùng làm thuốc an thần. Cây gai Ấn độ hay haschich, mặc dầu chỉ xuất hiện trong kho thuốc từ cuối thế kỷ 19, đã được các dân Tiểu Á, Ba Tư, Ai Cập rất ưa dùng từ nhiều trăm năm trước công nguyên, vì tính chất làm say lơ mơ và cho những ảo giác rất thú vị.

Nha phiến, thuốc trị đau thần hiệu trong phần lớn trường hợp đau ghê gớm, dưới nhiều hình thức chế hóa khác nhau, cũng có một lịch sử rất dài. Biết thưởng thức nha phiến đầu tiên hẳn là người Trung Hoa. Trong thang ma-phế của Hoa Đà đời Tam Quốc dùng làm thuốc mê, chắc có cả nha phiến lẫn haschich. Bên trời tây, Hippocrates dùng nha phiến trong các chứng đau tử cung và đau ruột; Galien dè dặt hơn, rất ít dùng, lại cấm cho trẻ con uống. Thời cực thịnh của nha phiến trong y học vào khoảng thế kỷ 16 với Sylvius de la Boe, đồ đệ của Paracelse và được biệt hiệu là “bác sĩ nha phiến” (doctor opiatus). Nha phiến có tác dụng làm teo các tua dây thần kinh, do đó cản trở sự dẫn truyền các cảm giác đau đớn. Nhưng chỉ sau các thí nghiệm của Magendie và của Claude Bernard, giới y sĩ mới để ý tới hậu quả tai hại của sự lạm dụng nha phiến trong việc điều trị đau. Tuy thế “y sĩ nào lại không dùng nha phiến để trị liệu? Vì không những nó làm hết đau mà còn nâng cao tinh thần người đau, làm cho cái chết trong những trường hợp thiên định hóa ra êm dịu nhẹ nhàng”. (Hufeland) Trái lại, lịch sử những thứ “thuốc cảm” loại aspirin – kiệt phẩm của nhân loại (2)– chỉ bắt đầu từ hạ bán thế kỷ 19. Công dụng đầu tiên của acide salicylique lại là sát khuẩn cho những người mắc bệnh đậu mùa. Và khi đã nghiên cứu kỹ càng rồi đem thuốc này chữa chứng phong thấp khớp cấp tính vào năm 1877, Germain de Sée đã gây ra nhiều cuộc bàn cãi sôi nổi, trong đó có cả Bouillot, người đầu tiên mô tả bệnh phong thấp khớp. Sau những cuộc tranh luận ấy và nhiều cuộc khảo sát chứng tỏ rằng acide salicylique làm giảm hoạt động quá đáng của tế bào trong các chứng viêm, acide salicylique mới được công nhận làm môn thuốc chính thức của chứng phong thấp. Chúng ta cũng nên để ý rằng tất cả các thứ thuốc “giải cảm, thối nhiệt” đều có ít nhiều tác dụng chỉ thống, nhưng thường thường tác dụng này chỉ có khi dùng những liều khá mạnh.

Bên cạnh hai loại “lớn” kể trên, còn nhiều thứ trị đau loại “nhỏ”, dùng trong vài trường hợp riêng. Một giọt aconitine đặt trên lưỡi, làm tê liệt các đầu dây thần kinh ba chẽ (trigeminal nerve) trong chứng nhức của thần kinh này, một chút colchique làm dứt cơn đau bệnh “gút” tức thì, trong khi các thuốc khác đều vô hiệu.

Bệnh đau thần kinh phù thũng vì thiếu sinh tố B1, chỉ hết đau khi được điều trị bằng sinh tố B1; cũng thế, đau đớn trong bệnh hoại huyết, chỉ hết với sinh tố C.

Mới hơn cả, có lẽ là những kích-thích-tố, dùng trị đau của ung-thư vú hay ung-thư nhiếp-hộ-tuyến. Và nói cho cùng thì mọi thứ thuốc đều có tác dụng chỉ thống cả, vì đau đớn dù sao cũng chỉ là một triệu chứng của bệnh tật. Thế nên nỗ lực của nhân loại trong công cuộc chống đau phải tiến vào chiều sâu, tìm đến căn nguyên của đau đớn. Từ những phương pháp và thuốc men chỉ có thể làm dịu đau trong khi chờ đợi hay tiến hành song song một trị liệu tận gốc, con người đã sớm biết rằng chỉ có trị tận căn nguyên chứng bệnh làm đau mới là phương cách hữu hiệu nhất để khắc phục đau đớn. Tuy nhiên, trong tình trạng hiện tại của sự vật, có những bệnh, tỉ dụ như ung thư, diễn tiến một cách âm thầm và đến khi nhận được định rõ thì quá muộn rồi: bệnh đã vào giai-đoạn “bất-trị”. Đau đớn lúc ấy là tất cả, người bệnh là hiện thân của đau đớn, chỉ biết có đau đớn, không cần để ý đến sự tàn phá trong cơ thể, đang đưa dần mình về cõi chết. Vì hiệu quả có hạn, những thuốc chỉ thống cho người đau ảo tưởng một êm dịu thoáng qua, để sau đó lại nổi lên những cơn đau mãnh liệt gấp bội. Con người đành tạm quên căn bệnh, đi tìm một cách trị đau hữu hiệu hơn. Chính trong những hoàn cảnh tuyệt vọng ấy mà khoa thủ thuật chống đau đớn ra đời.

Tên gọi tuy mới, nhưng việc làm thì đã cũ. Y học thế-kỷ XVII đã biết cắt lấy thần kinh ba chẽ để chữa chứng nhức thần kinh ở mặt. Nhưng phải đợi đến khi có thể giải phẫu được trong những điều kiện hoàn hảo về kỹ thuật, về khử trùng … khoa thủ thuật chống đau đớn mới chính thức khai sinh. Từ đấy, các nhà thủ thuật không ngừng kiện toàn hay đặt thêm kỹ thuật. Trong số đông đảo các nhà thủ thuật này, phải kể đến Weir Mitchell đầu tiên tả chứng đau đốt; Harvey Cushing nghiên cứu chứng nhức thần kinh; Abbe, người

thứ nhất cắt các dây sau tủy sống; Ruggi có sáng kiến cắt hệ giao-cảm; Von Oppel nêu rõ vai trò các tuyến nội-tiết trong sự phát sinh đau đớn; Leriche nới rộng tầm hoạt động của thủ thuật chống đau ra ngoài khu vực hai hệ thần kinh não tủy và giao cảm. Một cách đại cương, nguyên tắc của thủ thuật chống đau là làm gián đoạn luồng thần kinh dẫn cảm giác đau đớn về trung khu thần kinh. Yếu tố nhận thức đau đớn của cơ thể bị loại trừ; người đau hết đau vì không biết đau nữa. Áp dụng nguyên-tắc này, nhà thủ thuật sẽ cắt, tùy theo trường-hợp, hoặc dây thần-kinh não tủy (radicotomie), hoặc tủy sống (myélotomie, cordotomie), hoặc ngay tại não bộ (thalamotomie, lobotomie) hoặc cắt hạch và các dây của hệ giao cảm (stellectomie, sympathectomie). Vì áp dụng ngay trên hệ thần kinh, những cuộc giải phẫu này không phải là không nguy hiểm. Làm mất đau đớn, lưỡi dao giải phẫu có thể cho thêm tê bại, cho tim đập nhanh, cho trán đổ mồ hôi, cho chân tay lạnh ngắt; khốc hại hơn nữa là làm thay đổi tính tình người đau, những khi động chạm đến thị giác não. Điều này hiển nhiên, vì đau đớn là hiện tượng chủ quan trong đó thể hiện phần nào cá tính con người. Diệt được đau mà phương hại đến cá tính tức là diệt luôn giá trị của người đau. Bởi thế, ngoài những trường hợp thủ thuật có giá trị không thể chối cãi, như trong chứng nhức thần kinh, chứng đau đốt, đau mạch máu v.v … lưỡi dao giải phẫu chỉ rạch vào chất xám, chất trắng sau khi nhà thủ thuật đã đắn đo cân nhắc kỹ càng. Còn khi một căn bệnh đã hoàn toàn biến thành đau đớn, lưỡi dao thường chỉ được sử dụng để làm êm dịu những giây phút cuối cùng của đời người đau.

Đau là khổ. Và trên cái Hạnh phúc trần gian ngắn ngủi nhưng chính đáng của con người, đau đớn thể xác vẫn là một vết xám bẩn cần phải tẩy sạch. Nếu “vui quá hóa buồn” là một trạng-thái tâm lý hợp lý, thì trái lại không ai muốn được đau đớn, dù trong chốc lát, vì đã lâu không bị đau khổ e đời tẻ nhạt. Tạm gác một bên những ý niệm tôn giáo, thần bí, khắc kỷ, hoặc lấy đau đớn để hy sinh đền  tội, hoặc cho rằng đau đớn để giao tiếp với thần linh, hoặc khinh bỉ coi thường đau đớn cho tâm hồn thêm cao cả, và gạt bỏ ý muốn tìm lạc thú trong đau đớn của những kẻ suy biến thác loạn, y học lúc nào và ở đâu cũng quan niệm rằng “đau-đớn là một tai ương của con người, làm giảm giá-trị con người và làm con người bệnh hoạn thêm lên” (3). Do đó, y học luôn luôn tìm mọi cách để hoàn tất công cuộc khắc phục đau đớn thể xác, khởi từ những giây phút đầu tiên của đời sống nhân loại trên mặt trái đất. Và nếu thuở xưa, làm hết đau đớn được coi như một việc “thiêng liêng”, thì ngày nay, làm hết đau đớn lại chính là bổn phận thiêng liêng tối thiểu của người y học.

NGHIÊM-SỸ-TUẤN

[Tình Thương Số 3-4, tháng 3-4,1964]

(1) Một phương pháp đo lường đau đớn đang được thí nghiệm: điện-bì động ký (électrodermographie)

(2) “kiệt phẩm của nhân loại / chef d’oeuvre humain” (R. Leriche)

(3) “đau-đớn là một tai ương của con người, làm giảm giá-trị con người và làm con người bệnh hoạn thêm lên / la douleur est toujours un cadeau sinistre qui diminue l’homme, qui le rend plus malade qu’il ne serait sans elle.” (R. Leriche)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment