Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 2 Jan 2026

Bài 5.
Tuyên ngôn Leysin
LTS
Vào hạ tuần tháng 8 năm 1963, trong khi ở Việt Nam tự do, sinh viên nổi dậy chống đàn áp tự do tín ngưỡng của một chế độ độc tài, thì ở trời Âu, các tổ chức sinh viên của 15 quốc gia trên thế giới, họp tại Leysin, Thụy Sĩ, cùng nhau thảo luận về để tài “Phong trào sinh viên quốc tế trong quá khứ, hiện tại và tương lai”.
Trong những diễn văn của các sinh viên từ Phi, Á, Âu, Nam Mỹ và trong những cuộc thảo luận của mọi người tham dự hội thảo, những chủ đích và sự phát triển của Tổ chức Hội nghị Sinh viên Quốc tế từ khi thành lập năm 1950 đã được đề cập tới. Một dự định đã được đề nghị qua sự phân tích kỹ lưỡng những vấn để hiện nay và sự khả hữu của một hợp tác giữa sinh viên trên toàn thế giới trong tương lai.
Kết quả, toàn thể Hội thảo đã đồng thanh chấp thuận bản Tuyên ngôn Leysin, ghi lại sự tán đồng ý kiến của những người tham dự về những điểm sau đây:
Mục đích của Phong trào Sinh viên Thế giới. Cuộc chiến đấu chống áp bức. Quyền hạn và trách nhiệm của các Tổng hội Sinh viên Quốc gia. Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội nghị Sinh viên Quốc tế.
Để xiến dương Tinh thần Đại học và để các bạn sinh viên nhận định rõ hơn về quyền hạn và bốn phận mình trong giai đoạn hiện tại, chúng tôi dịch nguyên văn dưới đây bản Tuyên ngôn Leysin.
Họp tại Hội thảo Sinh viên Quốc tế thứ 14 ở Leysin, Thụy Sĩ, từ 18-8 đến 2-9-1963, chúng tôi, những tổ chức Sinh viên ký tên dưới đây, long trọng cam kết đem hết năng lực và tinh thần phụng sự công cuộc khẩn cấp là thực hiện những nguyện vọng của nhân loại để ra trong Bản Tuyên ngon Quốc tế Nhân quyền.
· Chúng tôi tin tưởng rằng sự nhìn nhận phẩm giá cố hữu và những quyền đồng đều bất khả xâm phạm của mọi phần từ trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
· Chúng tôi tin tưởng rằng tất cả các quốc gia đều có trách nhiệm như nhau để thăng tiến những tiến bộ xã hội và những tiêu chuẩn sinh hoạt tốt đẹp hơn, để cùng nhau làm việc cho những nguyện vọng cao nhất của quần chúng là: một thế giới trong đó con người sẽ hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, trút bỏ được mọi sợ hãi, thiếu thốn.
· Chúng tôi tin tưởng vào một nền pháp trị che chở con người, chống lại bất công, và bảo đảm – một cách hòa bình, qua sự thi hành vô tư của công lý – việc cáo chung của chế độ chuyên chế và việc khai sáng một cộng đồng thế giới, trong đó, mặc dầu còn nhiều khác biệt về chủng tộc, về ý thức hệ, về tôn giáo, con người vẫn có thể đoàn kết trong hòa bình, trong tình huynh đệ và tỉnh thần dân chủ.
. Chúng tôi tin tưởng nơi Hiến chương của Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi cũng tin tưởng rằng Liên Hiệp Quốc là cơ cấu duy nhất hiện nay có thể một ngày kia thiết lập một nền pháp trị trên toàn thế giới.
· Chúng tôi tin tưởng rằng mỗi dân tộc, trong những điều kiện hoàn toàn tự do, có quyền chọn một hệ thống xã hội và chính trị dân chủ tương ứng với nhu cầu và nguyện vọng của mình.
· Chúng tôi tin tưởng rằng cá nhân chỉ chịu những giới hạn về quyền lợi và tự do theo luật định, và như thế, chỉ là để bảo đảm sự tôn trọng những quyền lợi và tự do của đồng loại và công ích xã hội.
· Chúng tôi nhấn mạnh vào tính cách khẩn cấp của sự khuyến khích một cộng tác rộng lon hon giữa những sinh viên thế giới. Chúng tôi nhìn nhận rằng một cộng tác được khuyếch trương như thế là điều kiện tiên quyết cho sự gánh vac hữu hiệu hơn của Sinh viên trong việc kiện toàn trật tự của một thế giới đoàn kết và hòa bình, nguyện vọng chung của mọi dân tộc trên trái đất.
· Chúng tôi thinh cầu các Tổng hội Sinh viên Quốc gia hãy mở rộng sự cộng tác của họ giữa nhiều nước, giữa hai nước và ở địa phương, không kể đến những quan hệ quốc tế. Chúng tôi khẩn thiết xin Hội nghị Sinh viên Quốc tế lần thứ 11 (11* ISC) và Phối trí Thư ký đoàn (COSEC) hãy nhiệt liệt khuyến khích những sáng kiến này với tất cả hiệu lực có thể có được. Chúng tôi nhìn nhận bất cứ một khuếch trương nào trong sự hợp tác giữa Sinh viên như một bước tiến toi việc kiện toàn sự thống nhất Sinh viên Thế giới.
· Hơn thế nữa, chúng tôi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự thấu hiểu rõ ràng và sự xét lại thường xuyên những đối tượng tích cực của hợp tác Sinh viên Quốc tế, cũng như những nỗ lực của sinh viên trên toàn thế giới chống lại sự đàn áp dưới mọi hình thức.
· Chúng tôi những người tham dự ký tên dưới đây, xác nhận nhiệt tâm của chúng tôi đối với lý tưởng hợp tác Sinh viên Quốc tế và với sự tranh đấu của Sinh viên song song với dân tộc họ; chống lại mọi hình thức đàn áp cho dù là thực dân hay tần thực dân, chính thể toàn nhất hay chủ nghĩa đế quốc, kỳ thị chủng tộc, độc tài hay bất công xã hội. Sự hợp tác Sinh viên Quốc tế, để có thể phản ảnh trung thực được những mục đích của Sinh viên thế giới, phải đặt nền tảng trên một triết lý xuất phát từ vai trò căn bản của người Sinh viên trong xã hội. Chúng tôi, những người tham dự Hội thảo Sinh viên Quốc tế thứ 14 ký tên dưới đây đã tìm tòi để định rõ những mục đích của hợp tác Sinh viên Quốc tế trong phạm vi của tổ chức Hội nghị Sinh viên Quốc tế. Phù hợp với những lời nguyện hứa với hy vọng của chúng tôi và tinh thần của Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền, chúng tôi cần phải bắt đầu bằng một ý niệm về vai trò đó.
MỤC ĐÍCH CỦA PHONG TRÀO SINH VIÊN QUỐC TẾ
Người Sinh viên của thế giới ngày nay không phải chỉ là một nơi tiếp nhận thụ động những phương pháp giáo dục, biệt lập khỏi những vấn để xã hội và đại học của họ. Do bản chất, họ là những thanh niên trí thức đi tìm chân lý. Với tư cách một thanh niên họ có những lợi khí sắc bén nhất để giải quyết những vấn để quốc gia và quốc tế của họ. Với tư cách một người trí thức họ phải phát huy mọi khả năng để phân tích và thấu hiểu những vấn đề đó. Với tư cách người đi tìm chân lý, họ luôn luôn bị thử thách để kịp thời thấy những góc cạnh chính xác hơn của thực tại và những quan niệm về công lý, vốn đã là một phần của chân lý. Công cuộc kiếm tìm ấy đưa họ đến sự tự do trao đổi tư tưởng, phương tiện duy nhất để làm nẩy ra những quan niệm tinh nhã hơn về chân lý. Công việc ấy cũng đưa họ tới phần trách nhiệm họ phải lãnh trong mỗi liên hệ, để áp dụng hữu hiệu thành quả của những nỗ lực lớn lao hầu minh định lý tưởng của chân lý và công lý.
A. Từ những nhận định này nẩy ra ý niệm của một nền đại học tự do, một nơi tập trung những trao đổi cởi mở của ý tưởng, một phương tiện để nghiên cứu cho có hệ thống những vấn để xã hội mà đại học là một thành phần và là một trung tâm trong đó xã hội có thể tự kiểm thảo thường xuyên qua sự thẩm sát những phần việc quy định làm nền tảng cho mỗi cơ cấu đại học. Bởi vậy Đại học phải được tự trị đối với những quyền lực định can thiệp vào để nắm lấy những quyền hành Đại học.
Đại học phải đảm nhận ba nhiệm vụ: văn hóa, kinh tế và xã hội. Đại học phải bảo dảm sự tiến triển văn hóa của mỗi sinh viên, cho họ phương tiện để có thể đứng vững trong nền kinh tế quốc gia, và sắp sẵn cho họ trách nhiệm để họ sẽ gánh vác trong xã hội. Tại nhiều nước trên thế giới, chính sự khuyếch trương và dân chủ hóa nền giáo dục là vấn để khẩn cấp nhất mà người sinh viên phải đương đầu. Sinh viên từ mọi giai cấp xã hội, từ mọi tư thế, chủng tộc, chính trị, tôn giáo, quốc gia và kinh tế đều bình đẳng tham dự vào Đại học trên căn bản những thích ứng cá nhân về việc học. Đó phải là một Đại học xây dựng trên nền giáo dục dân chủ, để bảo đảm sự gia nhập tùy theo khả năng cho tất cả mọi thành phẩn xã hội. Đó phải là một Đại học được xã hội ủng hộ đầy đủ về kinh tế, cần thiết để điều hành các nhiệm vụ sống động của nó trong xã hội ấy, và trong đó những nhu cầu lợi ích căn bản của Sinh viên được tiếp nhận một cách thỏa đáng. Tiếng nói của Sinh viên, con người nhiều liên hệ đến nhất và ý thức được nhiều nhất những vấn để của diễn tiến giáo dục, phải được lắng nghe ngay khi chính sách liên hệ tới diễn tiến ấy được thành lập.
B. Từ những ý niệm trên nẩy ra ý niệm xã hội tự do, bởi lẽ chỉ trong một xã hội như thế, sự tìm kiếm chân lý và công lý – nhiệm vụ của Đại học tự do – mới có thể theo đuổi một cách hữu hiệu. Một xã hội tự do hoàn toàn độc lập với mọi hình thức thống trị và kiểm soát ngoại lai; và dân chúng được tự do tổ chức đời sống quốc gia theo đường lối thích hợp với nhu cầu và nguyện vọng của họ. Trong xã hội ấy, mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế, xã hội đều được tổ chức theo đường lối dân chủ và như thế mỗi thế hệ mới có thể áp dụng những quan niệm riêng của mình cho cả dân tộc.
Nền dân chủ chính trị chỉ có thể hoàn thành khi quyền lực chính trị chịu sự kiểm soát tối hậu của toàn dân, vì chỉ như vậy mới có thể bảo đảm rằng quyền hành đã được thực thi theo quyền lợi của tất cả chữ không phải của một phần nhỏ trong xã hội; và khi đã có đầy đủ tự do ngôn luận, tự do phát biểu chính kiến, với điều kiện là những tự do đó không đương nhiên nguy hại tới sự toàn vẹn và an ninh của xã hội. Chính những điều này – chứ không phải những đòi hỏi tổ chức, hình thức – là tiêu chuẩn theo đó trình độ dân chủ của một hệ thống chính trị, đa đảng, lưỡng đảng hay đơn đảng, phải được xét xử. Sự công bằng về kinh tế chỉ có thể hoàn thành qua sự bình đẳng của những thích nghi kinh tế và sự phân phối vô tư những sản phẩm kinh tế. Những chính sách thuế khóa, định gia hay điều chỉnh tiền tệ, an ninh xã hội và công ích từ thiện, kế hoạch kinh tế, cải cách điển địa và những hình thức tư hữu các xí nghiệp, tất cả đều phụ thuộc về sự thực hiện những mục đích ấy. Mỗi quốc gia, được lịch sử cùng tin tưởng và đặc tính riêng hướng dẫn, sẽ chấp nhận một phối hợp nhiều chính sách riêng biệt thích hợp với nhu cầu chung. Đối với những xã hội chậm tiến vì kinh tế thiếu mở mang, kế hoạch trung ương về phân phối và sử dụng tài nguyên có thể là con đường duy nhất để phát triển nhanh chóng, điều cốt yếu để có một công bằng về kinh tế.
Công bằng xã hội chỉ có thể hoàn tất khi có sự nhìn nhận trọn vẹn những phẩm giá co hữu và những quyền bình đẳng bất khả xâm phạm của mọi phần tử trong gia đình nhân loại, như đã được để ra trong bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Công lý xã hội được biểu hiện trong bình đẳng về cơ hội và sự đối xử trước pháp luật cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, hoàn cảnh kinh tế, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, khuynh hướng chính trị hay tôn giáo; trong tự do trọn vẹn về tư tưởng, hiệp hội, phát biểu; trong sự giải thoát khỏi sợ hãi và thiếu thốn.
C. Từ những nhận định này nẩy ra quan niệm trật tự quốc tế, ngõ hầu vạch ra những đường lối cho sự kiện toàn tự do quốc gia và công lý xã hội; mang đến những tiên quyết cho một hòa bình thật sự và bền vững, một trật tự bảo đảm hòa bình thế giới tiên quyết cho tiến bộ quốc gia và hạnh phúc nhân loại. Hòa bình không phải chỉ có nghĩa là không có những xung đột võ trang: hòa bình có nghĩa là diệt trừ tất cả những hình thức đàn áp và thống trị ngoại lai, có nghĩa là phát triển song phương hay đa phương sự hợp tác quốc tế trên căn bản bình đẳng, tôn trọng độc lập quốc gia và nhân quyền cá nhân.
Hòa bình chỉ có thể đặt nền tầng trên sự thỏa thuận của tất cả các quốc gia về việc đình chỉ các thí nghiệm nguyên tử, kể cả những thí nghiệm sâu dưới đất và qua sự hoàn thành việc tài giảm binh bị toàn thế giới, dành lại những nguyên liệu dồi dào, hiện nay lãng phí vào công cuộc võ trang, cho những vấn để cần thiết về phát triển kinh tế, xã hội hay giáo dục. Ở quan điểm này, sự hòa dịu của tình hình quốc tế nhờ việc đồng lòng ngưng các thí nghiệm nguyên tử, của một số lớn quốc gia trên thế giới, được coi như một đóng góp đáng kể cho hòa bình thế giới. Nhưng đấy chỉ là bước đầu; nhiều bước tiến xa hơn cần được thúc đẩy ngay để giữ vững và mỡ rộng đà tiến triển này. Hòa bình chỉ có thể được đảm bảo nhờ sự lớn mạnh của Liên Hiệp Quốc, trong đo cac quốc gia dù lớn hay nhỏ, đều có đồng quyền đề nghị việc xác định vận mệnh của nhân loại. Liên Hiệp Quốc phải là một trung gian làm trọng tài và giải quyết những tranh chấp quốc tế lớn, và phải trở nên căn bản của trật tự thế giới tương lai. Hòa bình chỉ có thể cứu văn bằng cách xây dựng một nền pháp luật quốc tế vô tư, che chở cho mọi người, mọi quốc gia chống lại bất công và xâm lăng, để vạch ra những con đường hòa bình cho sự thực thi vô tư của luật pháp, để thúc đẩy sự cáo chung của nạn chuyên chế và để khai sáng một thế giới thống nhất trong tình huynh đệ, dân chủ, mặc dầu những dị biệt về ý thức hệ, chủng tộc, tôn giáo.
II. CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỐNG ĐÀN ÁP
Chống lại những quan niệm kể trên về đại học tự do, xã hội tự do và trật tự thế giới trong hòa bình, có rất nhiều hình thức đàn áp. Tận diệt những đàn áp này phải là mục đích đầu tiên của sự hợp tác sinh viên quốc gia hay quốc tế: đế quốc, thực dân, tân thực dân, chính thể toàn nhất, kỳ thị chùng tộc, độc tài và bất công xã hội. Cuộc chiến đấu chống những hình thức đàn áp này không thể để bị lợi dụng cho bất cứ mục đích chính trị hay ý thức hệ nào. Hơn nữa ta phải bắt đầu bằng phần đoán khách quan và cương quyết xem rằng những gì đã gây hay không gây ra đàn áp. Chi khi đã thấu hiểu rằng đàn áp có thể khởi phát ở bất cứ lãnh vực nào, rằng nó không phải chỉ đặc biệt về chính trị, kinh tế, xã hội hay ý thức hệ, thì cuộc chiến đấu những dân tộc bị đàn áp của chúng ta mới được hướng dẫn một cách sáng suốt, chân thành và mạnh mẽ. Bởi vậy, với tư cách Sinh viên, chúng tôi tự nguyện chiến đấu chống lại:
A. Đế quốc chủ nghĩa:
Đó là hành động một nước xâm lăng lãnh thổ một nước khác, hay thống trị nước ấy, nói riêng về phương diện kinh tế, nhưng cả về phương diện chính trị hay quân sự nữa. Đế quốc chủ nghĩa là một hiện tượng lâu đời, co the mang nhiều hình thai, và được nhiều cường quốc Đông Tây thực hành, và không thể được coi là một cực điểm của một hệ thống kinh tế đặc biệt, hay là biểu hiện tự nhiên của một ý thức hệ đặc biệt. Sự xâm lấn của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào Ấn Độ là một minh chứng rõ ràng của đế quốc chủ nghĩa, cũng như sự xâm lấn của Pháp ở Bizerta, sự can thiệp chính trị và quân sự của Xô Viết ở Hung Gia Lợi năm 1959 và vụ Cuba năm 1961.
B. Thực dân chủ nghĩa:
Đó là sự tiêu diệt một nước toàn thể chủ quyền kinh tế, chính trị và văn hóa một nước khác, không đếm xia gì đến quyền tự quyết cố hữu của nước này. Thực dân chủ nghĩa là một vi phạm nhân quyền trắng trợn, và làm ngăn trở mọi phát triển đầy đủ về kinh tế, xã hội và văn hóa của nước bị thực dân. Thực dân chủ nghĩa hệ thống hóa tàn phá nhân cách con người và hằng tính của quốc gia bị thực dân, cung cấp cho tân thực dân chủ nghĩa một nền móng để nẩy nở và xây dựng. Đơn cử một thí dụ: thực dân chủ nghĩa trong hình thức thô bạo nhất đang được nhà cầm quyền Bồ Đào Nha thi hành ở Angola để lại một di sản đẫm mầu cho cái thực tại là tiếng nói của dân chủ và độc lập quốc gia không thể im lặng được. Nam Rhodesia là một thí dụ nóng bỏng khác của một hình thức thực dân chủ nghĩa tương tự.
C. Tân thực dân chủ nghĩa:
Đó là sự thống trị, trước về kinh tế, nhưng cũng có thể văn hóa, chính trị hay quân sự, thi hành phần lớn nhưng không phải chỉ bởi những cường quốc thực dân cũ đối với những lãnh thổ có hình thức độc lập mà không có thực chất độc lập. Tân thực dân chủ nghĩa là một sự đàn áp tỉnh vi, làm tiêu hao chủ quyền quốc gia, tự do hành động và kiểm soát tài nguyên kinh tế của chính quốc gia đó. Nó trá hình ra một hợp tác kinh tế, văn hóa hay chính trị, đôi bên đều được hưởng lợi, căn cứ trên sự thỏa thuận tự do, trên sự tương kính và bình đẳng đôi bên. Cuộc bang giao của Pháp và nhiều thuộc địa cũ ở Tây Phi hiện nay là một thí dụ của tân thực dân chủ nghĩa.
D. Toàn nhất chính thế:
Sự cưỡng bách hệ thống hóa tất cả những khía cạnh của đời sống dân tộc vào một chủ thuyết hay một tín điều. Nếu nhà nước cưỡng bách phố biến trong khắp xã hội một chủ thuyết ngược lại ý muốn toàn dân đã mất quyền tự do phát biểu ý kiến, xã hội ấy là một chính thể toàn nhất. Chính thể toàn nhất không nhất thiết chỉ hiện hữu ở những quốc gia đơn đảng, thi hành một triết lý chính trị riêng biệt, nếu hệ thống và triết lý đó dân chúng có thể chấp nhận được. Cũng như đế quốc chủ nghĩa, chính thể toàn nhất có nhiều hình thức – thí dụ nó có thể có tính cách kỳ thị chủng tộc như Đức ở trong kỷ nguyên phát-xít của Hitler, hay ở Nam Phi ngày nay; hay có tính cách một ý thức hệ như ở Tây Ban Nha, và ở Đông Đức.
E. Kỳ thị chủng tộc:
Đó là sự vi phạm quyền được đối xử bằng nhau và có nhiều cơ hội bằng nhau của mọi người căn cứ trên tài năng của họ. Đặt nền móng trên sự ngu dốt và thù ghét, kỳ thị chủng tộc tìm cách phá hủy phẩm giá và làm hư hỏng nhân cách con người. Thành kiến chủng tộc phải được hiểu khác với phân biệt chủng tộc; trong khi thành kiến chủng toc chỉ bieu hiện một lòng hẹp hòi mù quáng, thì kỳ thị chủng tộc là một hệ thống khai thác chính trị, kinh tế và xã hội. Kỳ thị chủng tộc hiện hữu ở bất cứ xã hội nào, dù kinh tế ở đó đã phát triển thế nào chăng nữa. Thí dụ như ở Hoa Kỳ, tất cả những biện pháp chống kỳ thị chủng tộc chưa đủ để tiêu diệt nó. Ở Nam Phi, một quốc gia cuồng nhiệt của thuyết kỳ thị chủng tộc và toàn nhất chính thể đương đàn áp đa số dân chúng, nhất là quần chúng da đen, với những biện pháp càng ngày càng thêm tàn bạo, mất hết nhân tính, coi thường sự chống đối cương nghị của sinh viên và dân chúng.
F. Chế độ độc tài:
Đó là sự thống trị dân chúng về kinh tế, chính trị, quân sự bởi một chế độ không đại diện cho dân chúng – hành động nhân danh một cá nhân, một giai cấp hay một đảng phái đại diện cho một thành phần ít ỏi trong dân chúng – chế độ ấy cố gắng duy trì quyền hành của mình bằng cái giá của sinh mạng và tự do con người. Cộng Hòa Dominica với Trujillo, Nam Việt Nam với Diệm, Irak voi Kassem, Á Can Đình với Peron, Paraguay với Stroessner, Haiti với Duvalier, và Nicaragua với Somoza, tất cả đều là những trường hợp độc tài rõ ràng. Ở Ba Tư và Ma Rốc, người ta thấy một hình thức thống trị khác: nền quân chủ đã mang hình thức độc tài chống lại nguyện vọng của dân chúng, và để những kể trục lợi ngoại bang khai thác sự phong phủ của cộng đồng ấy.
G. Bất công xã hội:
Một thành phần dân chúng hưởng không xứng đáng và không bình đẳng những lợi ích kinh tế, giáo dục xã hội hay văn hóa. Nạn mù chữ, đói kém, nghèo khổ, bệnh tật rải rác khắp nơi làm hại những thành phần dân chúng đáng kể trong phần lớn các quốc gia trên thế giới, chứng tỏ tầm quan trọng và khẩn cấp của vấn đề này. Nguyên nhân một phần do nền kinh tế thiếu mở mang tại những quốc gia ấy, một phần do sự khai thác một thành phần xã hội bởi một thành phần khác. Sự hiện hữu của những hình thức đàn ap kể trên là một đe dọa liên tục đối với đại học tự do, xã hội tự do và hòa bình thế giới, làm nguy hại đến quyền của người sinh viên trong khi tìm tòi để minh định tính cách những trách nhiệm của họ trong công cuộc chiến đấu cho công lý. Nói riêng, sự kiểm soát của thực dân, hay đế quốc chủ nghĩa tạo thành một nguy hiểm cổ hữu cho hòa bình. Cuộc chiến đấu thực sự của một dân tộc bị đàn áp để giải phóng quốc gia họ, bằng sức mạnh của khí giới, nếu quả là cần thiết, như hiện đang xảy ra ở Angola và Guinea thuộc Bồ Đào Nha, sẽ tích cực góp phần vào hòa bình thế giới.
III. QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỔNG HỘI SINH VIÊN QUỐC GIA
Tổng hội Sinh viên Quốc gia là kết quả của tự nhiên của nhu cầu tổ chức của Sinh viên để tranh thủ quyền hạn và nhận định trách nhiệm với tư cách là sinh viên và là phần tử của xã hội. Trong khi minh định quyền hạn và trách nhiệm của Tổng hội Sinh viên Quốc gia, chúng tôi xác nhận một lần nữa lòng tin tưởng của chúng tôi rằng những mục tiêu đề ra trong bản Tuyên ngôn này chỉ có thể hoàn thành nhờ những tổ chức sinh viên tích cực tiến bộ và dân chủ, đặt căn bản trên ý nguyện cùng cần lao của chính người Sinh viên, và đại diện thực sự những mối quan tâm của Sinh viên. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm thúc đẩy hội viên của họ tham gia nhiệm vụ tiến bộ xã hội: trừ tiệt sự đói kém, nghèo túng, bệnh tật và nạn mù chữ, bất cứ nguyên nhân của sự chậm tiến này hiện hữu ở đâu. Mỗi Tổng hội Quốc gia có trách nhiệm hoạt động để thiết lập một nền hòa bình trường cứu trong một cộng đồng thế giới gồm những quốc gia dân chủ hoạt động cho sự cáo chung của mọi hình thức đau khổ và mọi hình thức đàn áp.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm thăng tiến tự do và bảo trợ kinh tế của đại học, để giữ vững một đối thoại hằng cửu với những ngành khác của cộng đồng đại học, để hoạt động cho công ích của sinh viên, cho tự do báo chí sinh viên, và bảo đảm rằng giáo dục mở rộng cho tất cả mọi người căn cứ trên khả năng của họ.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm quan tâm tới sinh hoạt chính trị và kinh tế của nước nhà và cố gắng để bảo đảm rằng hệ thống chính trị và kinh tế, trong đó Tổng hội sinh hoạt, được xây dựng trên những ý nguyện tự do bày tỏ của dân chúng. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có quyền tự tổ chức không có sự can thiệp ngoại lai và có quyền xuất bản mọi ý kiến riêng không sợ một ai bắt bớ. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm luôn luôn thức tỉnh để kịp thời chống lại sự thủ tiêu tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do di lại, của chính quyền hay của những nhà cầm quyền khác.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm suy xét, tỉ như những hội nghị hay những buổi họp mặt, tổ chức một cách dân chủ và cời mở, qua những người thừa hành và nhân viên quản trị để tìm ra những nguyện vọng và cảm hứng thật sự, đặc biệt khởi phát từ cộng đồng sinh viên do Tổng hội ấy đại diện, ngõ hầu không một lực lượng bên ngoài nào có thể đặt ý thức hệ riêng hay chính sách riêng của họ lên Tổng hội, vi phạm những quan niệm đã được giữ vững một cách tự do của các hội viên. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có quyền giữ vững độc lập hoàn toàn đối với những đoàn thể không phải sinh viên, dù là chính phủ, một lực lượng ngoại bang, một đảng phái chính trị hay một tổ chức thanh niên; cũng như mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có quyền hợp tác chặt chẽ với tất cả hay một lực lượng nào đó, khi sự hợp tác ấy phản ánh và thăng tiến ý nguyện được xác định một trong các tự do của hội viên Tổng hội. Chúng tôi tin tưởng rằng, trong sự hợp tác giữa các Tổng hội Sinh viên Quốc gia, căn bản tuyệt đối là sự tán đồng những nguyên tắc phổ quát. Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia nên có trách nhiệm tích cực thăng tiến những nguyên tắc ấy.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia đã chấp nhận và thăng tiến những nguyên tắc ấy, được hưởng sự liên kết và hợp tác của những Tổng hội Sinh viên Quốc gia bạn, và được họ tôn trọng chủ quyền của Tổng hội mình.
Mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia có trách nhiệm thăng tiến những nguyên tắc ấy một cách hữu hiệu ở trong cũng như ngoài nước, mặc dù hoạt động ấy có thể nguy hại đến tình trạng tài chánh hay bất cứ gì khác do chính phủ gây ra. Một Tổng hội Sinh viên Quốc gia không có quyền liên kết và cộng tác với các Tổng hội bạn với lý do giản dị rằng mình là một tổ chức sinh viên toàn quốc. Tư cách đại diện của một Tổng hội Sinh viên Quốc gia phải được xét đoán ở sự tán đồng và thăng tiến những nguyên tắc phổ quát để ra ở trên. Tư cách ấy là một yếu tố quan trọng cần xét đến, vì họ có quyền ứng cử để chia se quyền hạn và trách nhiệm của hợp tác sinh viên quốc tế. Trách nhiệm của mỗi Tổng hội Sinh viên Quốc gia là tân đồng những nguyên tắc phổ quát này, là làm việc tiến tới một thống nhất cuối cùng của phong trào sinh viên thế giới.
IV. VAI TRÒ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỘI NGHỊ SINH VIÊN QUỐC TẾ VÀ NHỮNG CHI CUỘC PHỤ THUỘC.
Sự tự nguyện phục vụ những nguyên tắc dân chủ của sinh viên và của xã hội là động lực thúc đẩy Tổng hội Sinh viên Quốc gia hoạt động trong nước và hợp tác với nước ngoài. Trong phạm vi tổ chức một cộng tác đa phương có ý nghĩa, đặt nền tảng trên những nguyên tắc phổ quát đã được chấp nhận, những tổ chức sinh viên, đại diện cho toàn thể sinh viên bằng một cuộc bầu cử tự do, sẽ cử những đại diện toàn quyền để bàn cai một cách coi mở những vấn đề thông thường hay những quan hệ, hoàn toàn tránh được kiểm soát ngoại lai; và sẽ đem áp dụng những nguyên tắc ấy trên toàn thế giới. Được như thế, tính cách hữu hiệu của hợp tác sinh viên quốc tế chỉ phụ thuộc trương độ của những nguyên tắc do chính hoạt động của hợp tác đưa ra.
Kiểm điểm lại phiên họp của Hội nghị Sinh viên Quốc tế, chúng tôi ghi nhận rằng những căn bản hợp tác và những quyết định đặc thù đề ra, luôn luôn phản ảnh một quan điểm không đảng phái. Những căn bản và quyết nghị ấy càng ngày càng phản ảnh được nhiều thêm sự tham gia hăng hái của sinh viên vào những vấn đề xã hội – mà chính họ là một phần. Chúng tôi xác nhận một lần nữa sự tán đồng tầm quan trọng của những nguyên tắc ấy trong tương lai. Đồng thời, phải ghi nhận rằngnhiều cơ cấu tổ chức của Hội nghị Sinh viên Quốc tế đã được bắt nguồn trong một thời kỳ mà những quan hệ rộng lớn này chưa được sinh viên khắp nơi trên thế giới cảm thấy rõ ràng.
Phái đoàn các Tổng hội Sinh viên Quốc gia chỉ còn phải kiểm điểm lại sự thích ứng giữa những mục tiêu, những cơ cấu của tổ chức và những cơ quan trung gian của Hội nghị Sinh viên Quốc tế có thể hoàn thành những mục tiêu đó. Chúng tôi tin tưởng rằng những nguyên tắc và những mục tiêu được các Tổng hội Sinh viên Quốc gia tham dự Hội nghị Sinh viên Quốc tế xác nhận giúp cho Hội nghị dễ tổ chức các cuộc hợp tác hơn. Nhưng chúng tôi cũng nhận định rằng thống nhất sinh viên quốc tế phải được tìm kiếm ở ngoài phạm vi tổ chức của những cơ quan quốc tế hiện hữu. Hội nghị Sinh viên Quốc tế chỉ có thể cùng lắm là đảm nhiệm được công việc duy nhất của họ trong giới sinh viên. Hội nghị hết lòng hiến mình vào những cơ quan phụ thuộc cho công cuộc tuyên truyền và hoàn thành một số nguyên tắc thường được chấp nhận do những nhu cầu đặc thù, những nguyện vọng của sinh viên và của nhiều dân tộc ở mỗi lục địa.
Chúng tôi ý thức lòng ước ao tràn trể nơi các Tổng hội Quốc gia muốn nhờ hợp tác sinh viên quốc tế để thăng tiến sự hợp quần toàn thể, ngõ hầu đối phó với những vấn đề khẩn cấp đương đặt ra cho sinh viên và những cộng đồng có thành phần sinh viên. Hợp quần ấy có thể đem đến một viện trợ thực tiễn cho công cuộc phát triển quốc gia hay cho Tổng hội Quốc gia họ, trong cuộc chiến đấu xây dựng một xã hội và củng cố độc lập, chính trị, kinh tế. Trong kỳ hội thảo, một số để nghị đã được đưa ra cho những hợp tác sinh viên quốc tế sau này. Đó là:
1. Những cuộc hội kiến song phương hay đa phương giữa sinh viên sống trong các quốc gia khác nhau về hệ thống xã hội
2. Những dự định liên hợp của nhiều Tổng hội Sinh viên Quốc và chính trị gia hiện đương là hội viên những tổ chức quốc tế.
3. Những cuộc tiếp xúc địa phương tích cực khuyến khích sự thống nhất sinh viên trên nền tảng địa phương để nghiên cứu những vấn đề của địa phương ấy (Á châu, Phi châu và Nam Mỹ châu).
4. Những Hội thảo Quốc tế để thảo luận về các dị biệt căn bản trong giới sinh viên hiện đương bị chia rẽ.
Chúng tôi cùng nhận thấy rằng, một khi những Tổng hội Quốc gia đã tích cực ủng hộ và khuyến khích sự thực hiện những mục tiêu đó, một Hội Nghị Bàn Tròn có thể sẽ triệu tập được nhờ một Hội đồng Dự bị Quốc tế phản ảnh những khuynh hướng khác nhau và sự phân bố địa dư trong giới sinh viên.
Hội thảo cũng bàn cãi về cơ cấu và tổ chức phụ thuộc của Hội nghị Sinh viên Quốc tế. Mọi người đã thỏa thuận rằng những chỉ cuộc của Hội nghị sẽ có đủ quyền hạn để hành động trong mọi trường hợp mà đường lối vẫn theo đúng nguyên tắc, quyết nghị và tinh thần của Hội nghị. Những chi cuộc có thể thực sự thăng tiến những nguyên tắc của Hội nghị, áp dụng những nguyên tắc ấy theo một đường lối không đảng phái và các trường hợp phát triển lớn trên thế giới, và bảo trợ cho mọi hoạt động có cùng những nguyên tắc trên. Các chi cuộc có thể khuyến khích giúp đỡ những phần từ của giới sinh viên hoạt động cho những nguyên tắc ấy mà không cần biết đến những quan hệ của họ với các tổ chức quốc tế đặc biệt. Một trong những đặc điểm của tổ chức Hội nghị Sinh viên Quốc tế vẫn là khả năng thích ứng với những đòi hỏi mới cho hoạt động sinh viên thế giới. Chúng tôi luôn luôn tin rằng tổ chức ấy sẽ tiếp tục biến đổi với thời gian, sẽ mang đến một phương tiện hữu hiệu hơn cho việc cố gắng áp dụng một cách vô tư các nguyên tắc phổ quát để giải quyết những vấn đề khó khăn của sinh viên và của các quốc gia trên thế giới.
USI Ái Nhĩ lan, UNEA Angola, NEWSEWNI Anh, Wales Bắc Ái Nhĩ Lan, OH Áo, NCUSI Ấn Độ, CIS Ba Tư, CUB Bolivia, NUIS Do Thái, DSP Đan Mạch, VDS Đức, NUGS Ghana, NFCUS Gia Nã Đại, USNSA Hoa Kỳ, NSR Hòa Lan, UFHS Hung, HKFS Hương Cảng, NUIS Irak, PKPTM Mã Lai, NSS Na Uy, USAs Nam Phi, NUSRS Nam Rhodesia, NUNS Nigeria, SYL Phần Lan, UNEF Pháp, KUSU Sudan, TMTF Thổ, FFS Thụy Điển, VSS Thụy Sĩ, SUS Tô Cách Lan, UGET Tunesia, NUAUS Úc, UNURI Ý.
[Student Mirror, số 283 ngày 16.10.1963,
và số 284 ngày 1.11.1963, Hà Ngọc Thuần dịch)
TÌNH THƯƠNG VÀ TUYÊN NGÔN LEYSIN
Khi tiếng súng cách mạng đã im, trường Đại học được giải tỏa, anh em sinh viên hân hoan gặp nhau tay bất mặt mừng dưới mái trường thân yêu. Hai số báo Student Mirror đã tới tay chúng tôi vào lúc đó, cùng với hai phụ bản đăng trọn Tuyên ngôn Leysin. Thực là cảm động khi thấy sinh viên Việt Nam chiến đấu chống sự xâm phạm tự do và nhân quyền, sinh viên quốc tế đã họp mặt và ủng hộ sinh viên Việt Nam rõ rệt. Trong hứng khởi đó, chúng tôi đã mạo muội dịch Tuyên ngôn này sang Việt văn, công việc đáng lẽ phải nhường cho các bạn Văn khoa hay Luật khoa. Thế nên bản dịch còn nhiều sơ sót và lúng táng. Tuy nhiên sự vội vã ấy không phải là vô lý. Ngay trong vòng tháng 11 năm 1963, anh em Y khoa đã sửa soạn một nguyệt san: lúc ấy thì Ban Chi đạo, Đại diện Sinh viên Lâm thời, vì quá nhiều công việc và vì tính cách lâm thời, chưa nghĩ đến việc có một cơ quan ngôn luận chính thức. Vì vậy trước hết chúng tôi đăng tải bản dịch Tuyên ngôn này làm tài liệu. Thứ hai là sau Cách mạng, hình thành một Tổng hội Sinh viên Quốc gia, và sự gia nhập hàng ngũ Sinh viên Quốc tế lại được đặt ra. Phần 4 của bản Tuyên ngôn đã định rõ nhiều mục tiêu có thể làm căn bản để tháo luận, Sau cùng bản Tuyên ngôn, trong nguyên bản Anh văn, có lẽ là một áng văn chương có giá trị. Đặc biệt là báo Etudiant đã ra một số đặc biệt dành cho Tuyên ngôn ấy với nhiều hình ảnh của cuộc hội thảo ở Leysin. Chúng tôi rất tiếc không đủ phương tiện thực hiện điều đó.
Tổng hội Sinh viên Quốc gia sẽ được thành lập và sẽ định thái độ: hoặc chấp thuận – một phần hay toàn thể – hoặc phán đối bán Tuyên ngôn. Sau đó Tổng hội sẽ quyết định gia nhập Hội nghị Sinh viên Quốc tế hay không. Chúng tôi trong phạm vi báo chí, chí có mục đích phổ biến Tuyên ngôn Leysin.
Student Mirror, số 283 ngày 16.10.1963 và số 284 ngày 1.11.1963
[Tình Thương Số 1-2, tháng 1-2, 1964]
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.