Phan Lạc Phúc
Văn Nghệ xuất bản California USA 2000
Bìa Khánh Trường
Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)
Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)
Post by Sơn râu 7 Oct 2026



Không phải chỉ riêng bạn đồng khóa tôi Ngô Văn Hùng chết trên chuyến tàu định mệnh ấy. Hùng chết ở toa sau. Còn toa chúng tôi có một người nữa chết. Đó là anh Lan, Trung tá Lan, nguyên Trưởng ty Cảnh sát ở Đà Lạt. Sau khi đưa xác Hùng xuống tại một ga nào đó bên kia cầu Long Biên, con tàu lại rùng rùng chuyển bánh, chạy điên cuồng hơn, khốc liệt hơn. Trời đã ngả về chiều, cái nóng đỡ hơn, nhưng cái ngột ngạt không giảm. Hàng trăm người tống lên một toa xe chật cứng, hơi người, hơi phân súc vật bốc lên không lối thoát. Không khí trên tàu hình như không còn ở thể hơi; nó là một chất quánh đặc bít lấy tâm hồn và thể xác mọi người. Không còn ai ngồi được nữa. Như một lũ côn trùng, mọi người ngổn ngang; bò lăn trên sàn, dùng hết khả năng còn lại của giác quan đi tìm một nơi nào có một cái khe nhỏ, một vệt nứt hay một cái lỗ ở sàn tàu tranh nhau để mũi, để mồm vào đó hít lấy một chút dưỡng khí … Con người như mê đi, không biết rằng mình đang sống hay là mình đang chết. Người ta phản ứng theo bản năng. Từ sáng tới giờ không được nghỉ, không được xuống xe, bọng đái vừa tức vừa căng phồng mà không được đái. Đái vào đâu bây giờ, cứ nhịn. Nhưng, đến lúc nhịn không được, ý thức tê liệt đi; tôi đang nằm như tỉnh như mê bỗng thấy bất thần khoan khoái và nóng lên ở hạ thể. Tôi đang nằm trên sàn xe, đang đái ra quần. Tôi đang đái và được đái. Sự bài tiết chờ đợi từ sáng đến giờ bỗng chốc được khai thông, sung sướng quá. Nhưng sự sung sướng không được lâu. Cái dấp dính của nước tiểu hòa lẫn phân bò lại làm cho cái không khí quánh đặc thêm khai nồng, toa xe càng ngộp thở. Một anh nào gần bên chợt tỉnh “Thằng nào đái, tiên sư thằng nào đái nhá”. Tôi đã tỉnh rồi, nằm im như thóc.
Xe vẫn rùng rùng chạy. Hình như lên dốc. Đoàn xe vừa rít lên mệt nhọc, vừa hốt hoảng. Tàu chạy về đâu, tới đâu. Bên ngoài trời đã tối. Loáng thoáng qua vuông cửa nhỏ trên cao, một vài tàn lửa từ ống khói tàu bay lên trong nền trời tối sẩm. Tàu như ngược lên phía Bắc, miền Trung du, Thượng du, không biết nữa. Đây là miền Bắc quê hương tôi đây. Hơn hai mươi năm nhớ mong, chờ đợi ngày về mà bây giờ quê hương đón mình như vậy. Có ai ngờ ngày về như thế này không?
Chờ cho thiên hạ qua mùa khổ,
Ta hẹn nhân gian cái nẻo về (1).
(1) Thơ Trần Lê Nguyễn

Chờ ai? Hẹn ai? Mình hẹn với mình sẽ trở về trong hân hoan, trùng phùng, đoàn tụ … ngờ đâu mình về trong thân thế tội đồ, nằm sống dở chết dở trong một toa xe súc vật đang rùng rùng chạy tới một chốn rừng thiêng nước độc nào?
Chuyến xe tưởng trôi đi vô tận bỗng từ từ dừng lại. Một luồng ánh sáng vàng vọt qua vuông cửa trên cao chiếu hắt vào sàn tàu. Đang dở tỉnh dở mê đoàn tù bỗng giật mình vì những tiếng nổ đanh của AK vang dội. Một giọng nói Nghệ An trọ trẹ qua máy vi âm xách tay: “Toàn thể ngụy quân ngụy quyền được lệnh rời tàu. Hai người một xuống xe, di chuyển, tập họp theo lệnh cán bộ trưởng xa. Tên nào ngoan cố trốn chạy, hoặc bất tuân, thẳng tay trừng trị”. Tiếp theo đó lại một tràng AK nhọn sắc vang lên làm dấu chấm hết cho khẩu lệnh.
Như vừa tỉnh một cơn mộng dữ, anh em tù nhân lảo đảo ngồi dậy, sửa soạn hành lý xuống tàu. Cửa toa được mở rộng. Ánh đèn pin soi vào loang loáng. “Khẩn trương xuống xe, khẩn trương”. Mọi người lục tục kéo nhau ra cửa toa. Một tấm bảng gỗ hình chữ nhật sơn vàng chữ đỏ treo vào tường có đề chữ “Ga Yên Bái”. Một vài anh em tỉnh táo, đã bước xuống sân ga. Đồng hồ trong nhà ga chỉ 10 giờ 35 tối. Tôi thuộc loại chậm chạp một phần vì thương tích nơi chân, một phần vì quá mệt nên còn ùn lại đằng sau. Chợt một giọng lầm bầm: “Cha nào xuống xe rồi mà còn không chịu dậy”. Người ấy vừa bước ra cửa xe, vừa đá đá vào một thân người còn nằm đó “dậy đi cha”. Nhưng mà người nằm đó, Trung tá Lan, không bao giờ dậy nữa. Chết rồi. Không biết chết lúc nào. Người cúi xuống ôm cái xác bất động ấy lên là một người bạn tù tôi mới quen đêm qua ở Bến Thủy, Vinh, khi ngồi qua đêm đợi giờ lên tàu lửa. Đó là Thượng tọa Thích Thanh Long, nguyên Trung tá Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo. Chúng tôi 3 người ngồi hút thuốc lào ở một góc ruộng. Người thứ 3 và cũng là người còn thuốc lào 3 số 8 cung cấp cho chúng tôi là Trung tá Lan, nguyên Trưởng ty Cảnh sát Đà Lạt. Tôi không quen anh trước mặc dù chúng tôi cùng ở trại Suối Máu ra đi. Nhưng anh thân với bạn tôi Tạ Ty. Cũng như trước đó tôi chưa từng được quen Thượng tọa Thích Thanh Long, chỉ được nghe tiếng cụ mà chưa có dịp gần. Chỉ bắt đầu từ tối qua, điếu thuốc lào đã làm chúng tôi gần gũi mà đó cũng là cái cớ khiến 3 chúng tôi cùng bước lên toa tàu định mệnh hôm nay. Bây giờ Lan nằm đó. Anh ngất đi, tắt thở lúc nào không biết. Thượng tọa Thích Thanh Long ôm đầu người bạn xấu số, tôi nắm lấy chân phụ kéo ra chỗ có ánh sáng lờ mờ. Chân đã lạnh. Thượng tọa đặt Lan nằm ngay ngắn. Mắt anh chưa nhắm. Cụ sờ vào mặt, vào mũi
rồi nhìn tôi, khe khẽ lắc đầu. Cụ già Thượng tọa, như một người cha thương yêu, ôm đầu Lan vuốt mắt. Cụ còn ngồi như vậy một lúc khá lâu, dường như cụ vừa đọc cho người nằm xuống một đoạn kinh siêu thoát. Chợt có ánh đèn pin loang loáng. Có tiếng quát nạt: “Các anh này còn làm gì ở đây. Lề mề”.
“Thưa cán bộ, anh này chết”.
“Chết hả, nhưng mà đó không phải là việc của các anh, xuống ngay”.
Bạn tù Thượng tọa và tôi dắt díu nhau xuống xe, chúng tôi là những người cuối cùng. Đồng hồ nhà ga lúc bấy giờ chỉ 10 giờ 45 phút.
(1993)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.