Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 8 Jan 2026

Hình bìa cuốn Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker, Nxb Hutchinson, London 1954; được Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần dịch với bút hiệu chung Hà Hợp Nghiêm, đăng từng kỳ trên báo Tình Thương từ số ra mắt 01.1964.

Lịch Sử Y Học

KENNETH WALKER

Bản Quốc văn của HÀ HỢP NGHIÊM

Bài 10 – Lịch Sử Y Học

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Kenneth Walker là một trong những thủ thuật gia lỗi lạc nhất của Anh quốc. Tốt nghiệp Đại học Cambridge và bệnh viện St. Bartholomew ở Luân Đôn, hội viên Học viện Giải phẫu Hoàng gia, ông nổi tiếng, ngoài y học thuần túy, về những tác phẩm y học và triết học của ông. Ông đã xuất bản: Lịch Sử Y Học và Lịch Sử của Máu. Ngoài ra ông còn cộng tác thường xuyên với nhiều tạp chí y học và khoa học lớn nhất hiện thời.

Trong cuốn Lịch Sử Y Học mà chúng tôi hân hạnh trình bày bản dịch dưới đây với quý vị độc giả, Kenneth Walker đã tóm tắt trong 20 chương, tất cả quá trình tiến hóa của Y học trong hơn 3000 năm, bắt đầu từ những văn minh tối cổ cho đến nền văn minh hiện đại, từ Hippocrates, Galien đến Pasteur, Fleming, cả một truyền thống lấy phụng sự làm động cơ, lấy lý trí làm hướng đạo, luôn luôn cố gắng cho đời thêm tươi đẹp, đáng sống. Tác giả đã phác họa hình ảnh người Y sĩ qua các thời đại: từ thầy phù thủy đội gạc hươu, qua thầy tư tế, đến người Y sĩ khoa học ngày nay, đội mũ trắng, mặc áo choàng trắng, và dĩ nhiên hay đeo kính trắng! Phù hợp với hình ảnh ấy, người y sĩ được thân chủ kính trọng và biết ơn, được xã hội bảo đảm một mức sinh hoạt khá.

Nhưng vinh lắm, lụy nhiều: xưa kia khoét mắt chặt tay, nay ba tòa kiện cáo, người y sĩ đã trải nhiều phen cay đắng. Ngoài ra, tác giả còn trình bày khái quát về việc huấn luyện y sĩ, từ khi tập sự đến lúc hành nghề, họ học hành ra sao và với tinh thần nào. Đấy là về phương diện nhân bản. Về mặt chuyên môn, tác giả chủ ý kể lại cho những người không chuyên môn đà tiến triển của khoa học y khoa: manh nha từ thế kỷ XVII cơ thể học, sinh lý học, tế bào học … Cơ thể học chẳng hạn, lại bắt đầu nhờ những họa sĩ nổi danh, trong đó có Léonardo da Vinci, Michelangelo và Rembrandt. Sau đó rất nhiều ngành mới xuất hiện: cơ thể bệnh lý với Morgagni, vi trùng học với Pasteur, phân tâm học với Freud. Đến nỗi người ta phải nhận rằng ngày nay bảy năm học y khoa ở trường đại học còn là quá ngắn! Những biến đổi về quan niệm căn bản của y học là quan niệm về bệnh tật cũng được tác giả trình bày cẩn thận. Khởi đầu là quan niệm siêu hình: bệnh do âm dương bất hòa, bệnh do thần linh quở phạt. Rồi đến Hippocrates, với quan niệm triết lý vững chãi hơn, đã dùng lý trí và quan sát thiết lập nền y học thực nghiệm. Cuối cùng là bộ ba Laënnec, Bernard, Pasteur đặt nền tảng khoa học cho nghề thuốc. Bởi là một hiện tượng xã hội, nên, hơn ở đâu hết, y khoa đã theo đúng tam trạng luật của Auguste Comte. Thời Trung cổ người ta còn tin rằng con người là một linh vật không thể mắc bệnh với các loài động vật khác. Khoa ký sinh trùng học ra đời đã lật đổ quan niệm đó. Bệnh dịch hạch chẳng hạn, theo quan niệm ngày nay, là một bệnh của loài gậm nhấm, mà con người chỉ tình cờ mắc phải.

Trong những chương cuối cùng, tác giả đã đặt ra những vấn đề khó khăn cho y học, mối nguy hại của những thầy “lang băm”, vấn đề khảo cứu và phát triển khoa học, v.v …

Lịch sử y học bắt đầu cùng với lịch sử loài người và là một phần của lịch sử đời sống trên mặt địa cầu. Người ta chờ đợi ở tác phẩm một quan điểm tiến hóa, và quả thật Kenneth Walker đã chứng tỏ được sự tiến bộ của loài người. Ở giữa cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ, bước tiến ấy cũng không là bao nhiêu; nhưng nhìn chung những đau khổ của nhân loại, ta thấy y khoa đã tiến bộ hữu hiệu trong công cuộc chống lại bệnh tật. Nơi đây người ta có thể vững lòng tin tưởng ở lý trí con người, ở tiến bộ khoa học, ở một tương lai xán lạn của nhân loại chống lại hoài nghi và hư vô chủ nghĩa.

Tuy thế, ngay ở mấy dòng đầu của chương nhất, tác giả đã thốt lên những lời kinh ngạc, thấy sự sống loài người vẫn tồn tại sau bao phiêu lưu mạo hiểm, bất chấp định luật đào thải tự nhiên của Darwin. Đời sống rút cục vẫn là một mầu nhiệm. Đấy là điểm hứng khởi của tác phẩm. Con tàu tự bến Luân Đôn, xuôi dòng sông Thames, đã tới cửa bể, du khách bàng hoàng nhìn chân trời mở rộng: một cuộc phiêu lưu mới bắt đầu. Chúng tôi ước mơ rằng, qua bản dịch dù còn nhiều sơ sót và sai lầm, mỗi độc giả viết thêm được cho cuốn sách “chương 21″. HÀ HỢP NGHIÊM

Ghi chú 56 năm sau (1963-2019):

Tác phẩm Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker được Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần dịch và đăng từng kỳ trên Nguyệt san Tình Thương từ số đầu tiên. Cũng giống như các tác phẩm Nuôi Sẹo của Triều Sơn, Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian còn đang dở dang … Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker được Hà Hợp Nghiêm dịch / chỉ mới đăng đến Chương VII trong tổng số 20 chương của cuốn sách; lý do báo Tình Thương bị đình bản năm 1967. Theo anh Hà Ngọc Thuần, thì sau biến cố 1975, bản dịch Lịch Sử Y Học để trong Tổng Y Viện Cộng Hòa và sau đó đã thất lạc hay bị thiêu hủy. Trong hơn nửa thế kỷ qua, Y học của nhân loại đã tiến thêm những bước khổng lồ, và trong Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn này, chúng tôi vẫn cho đăng lại Chương I: Y Học Thời Tiền Sử, như bước khởi đầu của Lịch Sử Y Học, cũng để bạn đọc có chút ý niệm về một công trình dịch thuật tài hoa và thận trọng của hai anh Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần, khi ấy cả hai anh mới đang là sinh viên năm thứ 3 trường Đại học Y khoa Sài Gòn.

Chương I.

Y Học Thời Tiền Sử

Đời sống là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm, vì nó bắt ta phải thích ứng liên tục với một môi trường luôn luôn thay đổi. Nhìn những khó khăn cơ thể chúng ta phải chống trả, ta không khỏi ngạc nhiên thấy chẳng những đời sống đã trường tồn trên trái đất mà còn tiến hóa dưới nhiều hình thức khác nhau. Nào là thay đổi bất ngờ của điều kiện thiên nhiên như từ nóng sang lạnh, từ ẩm ướt qua khô ráo, từ trời quang mây tạnh tới bão táp phong ba; nào là phải luôn luôn tìm kiếm thực phẩm, nào là những cuộc tấn công của các sinh vật khác cạnh tranh với ta; và còn biết bao nhiêu khổ nhọc khác. Tóm lại, từ triệu năm qua, con người đã gặp cả ngàn lẻ một sự rắc rối bất ngờ. Ngay từ lúc xuất hiện lần đầu trong đầm nước bùn lầy, con người đã phải chịu bệnh tật, ghẻ lở. Một trong những thiên ân quý giá nhất của con người là tự chữa lấy mình được, tự làm khỏi các bệnh tật được, là có cái tài mà ta gọi là năng lực trị liệu của tạo vật (vis medicatrix naturae). Loài vật cũng có một linh tính thúc đẩy chúng đi tìm những dược liệu khả đĩ cho cái năng lực trị liệu kia:

chó ốm nhai cỏ gà, cú mèo tắm bụi để trừ rận, động vật liếm các vết thương trên mình. Y nghệ con người phát sinh từ cái linh tính sơ thủy ấy của loài vật. Thế nên lịch sử y học bắt đầu cùng một lúc với lịch sử của các bệnh tật, mà bệnh tật lại có từ khi đời sống bắt đầu nẩy nở trên mặt địa cầu. Một mẫu tối cổ của bệnh tật còn giữ được trong bảo tàng viện cơ thể bệnh lý, có lẽ là dấu vết một chứng bệnh phát ra cách đây hàng triệu năm: mẩu đuôi của con khủng long tìm thấy ở tiểu bang Wyoming, Hoa Kỳ. Chú khủng long này bị ung thư xưong, và nhờ mẩu xương, ta còn có thể viết lại cuộc đời đau thương của con khủng long khổng lồ kia, đau đớn vì cái đuôi mỗi ngày một thêm cứng nhắc. Con vật đáng thương chắc phải khó nhọc lắm mới di chuyển đi tìm kiếm mồi được, đến nỗi hao mòn dần mà thác. Chuyện vật đã xong, giờ đến chuyện người. Cái mẫu cổ nhất về bệnh của con người đào thấy ở Java năm 1891, là xương đùi của một “ông tổ” chúng ta, người Pithecanthropus erectus: đầu trên cái xương có một mụn bự: lại ung thư xương!

Ngoài người Pithecanthropus bị tiêu diệt cách đây hàng triệu năm và chúng ta không biết chắc người ấy xuất hiện vào lúc nào. Thế nên thời đại của chiếc xương đùi trên kia cũng không xác định được, trừ phi … nói rằng: thời ấy xa xưa lắm lắm …

Chứng tích về bệnh tật con người phần lớn đều ở các xương, vì lẽ giản dị rằng di tích của tổ tiên con người chỉ có thể là những khúc xương. Những xác ướp Ai Cập còn giữ được nhiều dấu vết đặc thù của chứng cốt tiết viêm (osteoarthritis), cặn thống phong (gout) trong các khớp xương, vết lao xương sống, và ngay cả một ruột thừa viêm đã dính kết xung quanh. Người cổ Ai Cập hay mắc nhất hai chứng nướu viêm độc và phong thấp kinh niên. Hai chứng này thường đi đôi nhau; có thể răng mục là nguyên nhân của phong thấp chăng? Lại nữa, nướu viêm độc và răng mục thường do thiếu ăn sinh ra, như thế dân Ai Cập có thể đã từng thiếu sinh tố C. Vậy vào thời nào ta nên bắt đầu lịch sử y học? Một lịch sử bắt nguồn quá xa trong dĩ vãng đến nỗi những bước đầu chìm mất trong bóng tối thời gian? Ta hãy chọn là khởi điểm một thời đại xa ta chừng 17.000 năm. Thời đại này còn để lại tiểu tượng tối cổ của một vị phù thủy kiêm lang y, vẽ trên vách hang Ba-Anh-Em ở Pyrénées: thân mặc da thú, tay chân tô đầy vằn, trên đầu buộc một cặp gạc hươu. Khởi điểm rất thú vị cho cuộc nghiên cứu lịch sử y học, vì chính từ cái ông thầy lang phù thủy kia mà có người thầy thuốc ngày nay. Coi những dụng cụ và khí giới bằng đá lửa tìm thấy trong hang, chúng ta có thể kết luận rất hữu lý rằng những người này tất có đủ thông minh để tìm ra phương thuốc trị các vết thương và bệnh tật của họ. Tuy ma thuật vẫn giữ một vai trò quan trọng, ta đừng vội lầm tưởng rằng ông thầy lang kia chỉ là một thầy phù thủy suông. Trong cuốn “Y học, Ảo thuật và Tôn giáo”, bác sĩ Rivers đã nhấn mạnh rằng, ngay thời bây giờ, các dân tộc sơ khai vẫn còn dùng những phương thuốc “mẹ truyền con nối” để trị các bệnh mà theo ý họ, chưa cần tới thầy mo của bộ lạc.

Như trường hợp thổ dân ở Tân Ghi-nê, ngoài những bùa phép cúng tế của thầy mo, người dân còn dùng nhiều bài thuốc rất giản dị như cao dán bằng trái thốt nốt, trích huyết chữa nhức đầu, dùng đĩa giác hết đau, tắm hơi khỏi phong thấp … Ông thầy mo đeo sừng trên kia chắc sẽ bổ khuyết các nghi lễ cúng vái quỷ thần của mình bằng những nước thuốc, cao dán và hương dược tạp nhạp. Điều chắc chắn là người tiền sử đã liều mổ đầu, mổ óc. Vô số sọ tiền sử bị khoan thủng được tìm thấy ở Pháp, Áo, Ba Lan, Nga, Đức và Tây Ban Nha. Phần nhiều nhà nhân chủng học cho rằng đục như thế là để đuổi ma quỷ đã gây ra chứng điên, chứng động kinh hay nhức đầu, ra khỏi đầu người bệnh. Chung quanh lỗ khoan không có một vết thương nào khác; như thế đủ rõ rằng bị khoan không phải để nâng mảnh xương vỡ lên cho khỏi chạm vào não. Một số khác lại cho rằng họ đã khoan như thế trong lễ nghi tôn giáo. Sự phân loại lỗ khoan đầu ra lỗ khoan nghi lễ và lỗ khoan trị liệu không giải nghĩa thêm được gì về sự khác biệt giữa hai lý do kể trên. Bất cứ ai nghiên cứu lịch sử y học cổ sơ cũng nhận thấy rằng ông thầy thuốc trước hết là một ông thầy tư tế. Những bổn phận tôn giáo và y học của ông ta liên hệ mật thiết với nhau, đến nỗi không còn là riêng rẽ nữa.

Những Yếu Tố Thiên Nhiên Và Siêu Nhiên Trong Y Học

Độc giả sẽ thấy trong Lịch sử Y học, sự quan trọng tương đối của hai yếu tố – tôn giáo và nghệ thuật trị liệu – thay đổi tùy theo thời đại, lúc thì yếu tố này quan trọng hơn, lúc thì yếu tố kia. Trong nước cổ Ai Cập, yếu tố siêu nhiên hết sức quan trọng, chính ông thầy tư tế kiêm luôn nhiệm vụ thầy thuốc, vốn chỉ là thứ yếu. Trong những chỉ cảo về y học, thần chú và yêu thuật cũng nhiều ngang với thuốc men. Khi uống thuốc, con bệnh buộc phải đọc lời khẩn cầu, đại khái: “Hỡi linh dược, ta hoan hỉ chào mi! Hỡi linh dược, hãy trừ những bệnh hoạn trong tim và tay chân ta!” Về sau vào thời Hippocrates, người ta mới nhận rằng thuốc quan trọng hơn, lời phù chú chỉ còn là vấn đề cá nhân, người bệnh có thể đọc hay không tùy ý.

Đến thời Trung Cổ, một lần nữa, yếu tố siêu nhiên lại được quan trọng hóa dưới hình thức những nghi lễ khu tà tróc quỷ và những thánh tích có thần năng trị liệu. Thế kỷ XVII, bình minh của nền Y học khoa học, ông thầy tư tế tưởng như sẽ bị vĩnh viễn loại trừ ra khỏi y khoa. Theo với thời gian, các y sĩ càng ngày càng có nhiều quan niệm y học “duy vật” hơn. Nhưng sau cùng, ông thầy tư tế xuất hiện trở lại, lần này vai trò của ông hoàn toàn trần tục. Sau thất bại của những toan tính cắt nghĩa đời sống vật chất bằng cơ học, giải thích bệnh tật bằng từ ngữ mô tả các máy trục trặc, người y sĩ mới chú ý tới phần tinh thần bệnh nhân và hiểu rằng không thể lãng quên phần này được. Thế là một lớp tu sĩ trần tục mới, những nhà trị liệu tinh thần xuất hiện để trị “tâm bệnh”. Các ma thuật lại được dùng trong y học dưới hình thức khoa phân tâm và khoa dẫn dụ.

Nhờ năng lực hồi phục phi thường của cơ thể và sự mềm dẻo của tinh thần, con người khi đau ốm thường phục hồi hoàn toàn sức khỏe, bất kể đến những thay đổi thăng trầm và ngay cả những cách trị liệu đã chịu.

Giờ ta bắt đầu bước vào lịch sử của nghiên cứu y học trong những thời đại đầu tiên. Các ý kiến còn chưa thống nhất về việc định thời điểm cho cái ta gọi là “văn minh”. Thôi thì chúng ta đành theo truyền kỳ mà khởi đầu từ lúc con người linh cảm thấy tai biến sắp tới, rời bỏ lục địa Atlantide trước khi lục địa này chìm sâu dưới biển. Người ta di cư sang bờ biển Phi châu và miền tây Âu châu, rồi tản cư về phương Đông, xây dựng nên ba nền văn minh lớn: Ai Cập, Su-me và tiền Aryen của Ấn Độ để rồi trở thành những trung tâm phát huy văn hóa quan trọng vào bậc nhất.

Y Học Các Xú Su-Me Và Ba-By-Lon

Càng nghiên cứu văn minh Su-me, ta càng thấy cái vĩ đại và tầm quan trọng của nó. Thành Ur, thủ đô Su-me, nằm trên bờ song Euphrates, về phía đông vịnh Ba Tư, cách vịnh chừng trăm dặm. Nhờ công cuộc tìm tòi khảo cổ, chúng ta biết rằng người Su-me đã có một trình độ cao về thủ công cũng như về nghệ thuật. Đời sống cộng đồng được tổ chức rất chu đáo. Trên nhiều tấm bảng đất sét, những dòng chữ hình nêm  (cuneiform) cho ta biết rằng ở Ur có một y sĩ đoàn có lương tâm nghề nghiệp khá cao. Người ta đào được nhiều dao nhỏ bằng đồng, phải chăng đây là dao giải phẫu của các thủ thuật gia Su-me? Người Su-me bị tiêu diệt vào năm 2000 trước Công nguyên. Hai nền văn minh đến kế tiếp: người Assyrie ở bắc và người Ba-by-lon ở nam. Chúng ta sở dĩ hiểu rõ y học Ba-by-lon hơn y học Su-me là nhờ một bộ luật được soạn thảo và khắc trên một cột đá đen, theo lệnh của ông Hoàng rất thông minh Hammourabi (1948-1905 trước Công Nguyên). Ông này thấy cần phải lập pháp quy chế nghề y sĩ, nên đã ra nhiều sắc lệnh, trong đó có cả sắc lệnh về thù lao của thầy thuốc:

“Trị bệnh, mổ nhọt, hay chữa mắt cho một nhà quý tộc, y sĩ được thù lao 10 đĩnh bạc. Nếu bệnh nhân chỉ là một nô lệ, người chủ phải trả 2 đĩnh bạc.”

Cách điều xử trên đây rất có lợi cho người thầy thuốc, nhưng ở một đoạn văn khác, hành nghề y sĩ ở Ba-by-lon không phải là không nguy hiểm như:

“Nếu y sĩ mổ nhọt bằng dao đồng và làm chết bệnh nhân hay làm bệnh nhân hư một mắt, ông ta sẽ bị chặt hai tay”. Tuy nhiên hình phạt này chỉ áp dụng khi bệnh nhân là người quý tộc; chứ nếu chỉ là một tên nô lệ thì ông thầy ít may mắn kia phải bồi thường một nô lệ khác, hay phải trả nửa tiền mua nô lệ mới nếu tên nô lệ bệnh chỉ hỏng có một mắt. Tóm lại các đạo luật cho ta biết ở Ba-by-lon đã có tổ chức y sĩ hẳn hoi, và y sĩ thời ấy đã dám làm những cuộc giải phẫu nhỏ. Điều này không lạ, vì công cuộc khảo cổ đã gặp nhiều nền văn minh cổ hơn nhiều mà chẳng hề quá sơ khai như ta tưởng. Nghệ thuật thời thạch khí rất đáng được chú ý: lạ hơn nữa là đồ gốm đời cổ thạch khí lại có phần tinh xảo hơn đồ gốm thời tân thạch khí. Nói cách khác, càng biết nhiều chi tiết về người tiền sử, ta càng thấy người tiền sử khác xa với cái hình ảnh ước lệ của một động vật thô bạo nửa người, nửa khỉ, tay cầm rìu đá, tàn sát địch thủ.

Y học đã được coi rất quan trọng ở Ba-by-lon thời cổ. Sử gia Hérodote kể rằng bất cứ người Ba-by-lon trí thức nào cũng để ý đến y học. Cho nên có tục đặt bệnh nhân nằm ngoài đường để cho người qua lại, hoặc đã có cùng chứng bệnh, hoặc có biết những ca tương tự, có thể đoán bệnh và mách giùm cách chữa chạy. Không ai được quyền im lặng đi qua không hỏi đến căn bệnh của người nằm giữa chợ. Một dân tộc tò mò về y học như thế, dĩ nhiên không khi nào hài lòng với các thầy lang tài tử chữa bệnh ở giữa chợ. Người y sĩ chuyên nghiệp đã đến lúc phải xuất hiện. Sau đó, nhiều ông tự chuyên môn, đến nỗi ở Ba-by-lon cũng như ở Ai Cập có rất nhiều thầy chuyên trị riêng từng thứ bệnh.

Y Học Ấn Độ

Những tài liệu cổ nhất viết bằng Phạn văn có liên quan đến y học là hai bộ Rig-Veda (1500 trước Công nguyên) và Yajur-Veda (700 trước Công nguyên). Theo những tài liệu này thì môn thủ thuật giải phẫu Ấn Độ đã khá tiến bộ, mặc dầu kiến thức về cơ thể học rất ít ỏi. Ngày nay những nhà giải phẫu thẩm mỹ còn nói đến phương pháp vá mũi bằng một miếng da trán của thủ thuật Ấn Độ. Phương pháp này dùng để sửa những mũi quá tẹt và những cái mũi xấu số của các bà thích “ăn nem””! Một thủ thuật gia danh tiếng tên là Suśruta đã mô tả tỉ mỉ hàng trăm dụng cụ giải phẫu được sử dụng trong thời ông. Ngoài ra, người Ấn còn biết mổ tử cung lấy con và mổ đường tiểu lấy sạn.

Bộ Rig-Veda tuy cổ hơn, nhưng chỉ viết nhiều về triết lý và khoa học. Bộ Yajur-Veda có mô tả hệ thống huyết quản, tiến trước cả Harvey, người khám phá ra sự tuần hoàn. Trong đó còn có nhiều nhận xét xác đáng, như dịch hạch sẽ phát sinh ở nơi nào có nhiều xác chuột, sốt rét cơn do muỗi sinh ra, các triệu chứng lao gồm có ho dữ dội, sốt và khái huyết. Hơn 700 dược thảo và một số lớn thuốc dán, thuốc xông, thuốc bột còn ghi trong bộ sách vĩ đại này. Y sĩ Ấn Độ thời ấy không thuộc giai cấp Bà-la-môn, tức là giai cấp tu sĩ, mà thuộc giai cấp Vaisya. Theo luật, họ là người không thanh tịnh, không được hưởng các nghi lễ tống táng. Tuy không là thành phần của kinh Veda, bộ kinh điển tôn giáo của Ấn Độ, người ta cũng cho rằng bộ Yajur-Veda đã được thần linh hay vị đại sư nào đó đọc cho hai thủ thuật gia Charaka và Suśruta.

Y Học Ai Cập.

Nền văn minh cổ rực rỡ thứ ba là văn minh Ai Cập. Các thầy tư tế giữ quyền hành nghề y sĩ, y học liên quan mật thiết tới thần học. Minh chứng nhận xét này là Ai Cập có rất nhiều thần thánh bảo trợ Y khoa. Imhotep, Thần Trị Liệu, là một trong những y sĩ đầu tiên còn lưu danh cho hậu thế, Imhotep nghĩa là “người mang lại sự bình an”, thật không còn tên nào xứng đáng hơn cho một y sĩ chân chính. Sau khi chết Imhotep được tôn sùng như một vị thánh, rồi được thần hóa luôn. Nhiều thế kỷ sau, người Hy Lạp đồng hóa Imhotep với Thần Y của họ là Esculape. Điều không may là chúng ta ngày nay biết rất ít về những hoạt động y học của Imhotep mà lại biết khá nhiều về các công trình kiến trúc của ông. Chính Imhotep đã vẽ kiểu kim tự tháp Saqqarah. Nhiều tượng đồng tạc hình ông ta ngồi, chú mục vào một tờ chỉ cảo trên đầu gối: chắc lại là một đồ án kiến trúc. Dù sao, Imhotep vẫn là một y sư cự phách đồng thời là một kiến trúc sư có thiên tài, có thế mới được dân Ai Cập tôn thờ như Thần Y học trong bao thế kỷ.

Trong buổi sơ thủy của văn minh Ai Cập, thầy tư tế và thầy thuốc chỉ là một người. Mãi đến triều đại sau, y học mới thoát khỏi phạm vi tôn giáo. Dân Ai Cập không coi bệnh tật và sự chết như những hiện tượng tự nhiên, mà tin rằng một sức mạnh thù nghịch làm họ đau ốm. Theo sử gia Maspéro, sức mạnh ấy thuộc về thế giới vô hình, chỉ biểu hiện bằng những cuộc tấn công độc hại:

có thể là một ông thần, một con quỷ, hay hồn thiêng một kẻ quá vãng, đã nhập vào người bệnh, hoặc thừa cơ vô ý, hoặc là hung dữ quá con bệnh không chống được. Khi đã làm chủ được cơ thể con người, sức mạnh ma quái ấy bẻ xương mút tủy, uống máu nhai tim, gậm ruột, nhấm thịt, làm cho con người mòn mỏi rồi chết, nếu không đuổi được nó trước khi mình bị tàn phá quá nhiều. Người trị bệnh vì thế phải làm hai việc quan trọng. Trước hết phải tìm biết bản tính và tên họ của con yêu, rồi phải tấn công nó, trục xuất nó, tiêu diệt nó. Muốn thành công, cần phải cao tay ấn, tức là phải biết niệm chú, chế bùa. Nhiên hậu mới phục dược và ăn uống kiêng khem để trị các xáo trộn của cơ thể do quỷ mị gây ra. Thế nên, xem các tài liệu y học Ai Cập, ta thấy trước tiên là các lời phù chú, các biểu tượng và phương thức thần thông để trị nhiều chứng bệnh khác nhau. Rồi mới đến các thứ thuốc: thuốc nước, thuốc súc miệng, thuốc sáp, thuốc bột, thuốc xông, thuốc để hậu môn, thuốc cao, thuốc đồ ** (poultices). Các thầy tư tế y sĩ Ai Cập còn biết sử dụng a-phiến, cỏ độc cần, các loại muối đồng, cỏ hải song và dầu thầu dầu.

Nếu thủ thuật giải phẫu Ai Cập rất thô sơ, thì trái lại, vệ sinh cá nhân và công cộng đạt tới trình độ rất cao, vượt hẳn Âu châu thời Trung Cổ. Y học tiến bộ lần lần, những thầy tư tế y sĩ ngoài bùa chú và nghi lễ rườm rà, đã biết cách khám bệnh nhân để truy ra căn bệnh. Đoạn chỉ cảo dưới đây về phép án chẩn các thứ bướu cho ta thấy rõ tiến bộ đó:

“Một cục bướu trên cơ thể con người, nếu nó giống như da thuộc, nếu da trên cái bướu đó nhấp nhấp ướt, nếu khi sờ, ta thấy nó chuyển động dưới tay trong khi tay ta đang yên, thì đó là một bướu thịt. Ta dùng lửa chữa nó.

“Nếu cục bướu trong cơ thể con người, xâm lấn mạch máu và cứng như đá, là một bướu mạch. Ta dùng dao cắt nó.

“Một cục bướu có mủ ở chân hay tay, nếu khi sờ ta thấy nó di động mà lớp thịt bên dưới vẫn căng thẳng, ấy là mủ đã gom lại. Lúc ấy ta dùng dao rạch nó ra”.

Một chỉ cảo khác chép cách chữa các vết thương và trẹo xương. Đặc biệt hơn nữa là trong đó có một cách chữa sái quai hàm rất giống với cách chữa của chúng ta ngày nay. Một tác giả y học dưới thời vua Ramsès đệ nhất đã biện minh cho mình như sau như trong bài tựa tác phẩm của mình:

“Tôi xuất thân ở trường Y khoa Héliopolis, các Tôn sư ở đấy đã dạy tôi phương pháp của các Ngài. Tôi còn tốt nghiệp trường Phụ khoa Sais, các Thánh Mẫu ở đấy đã truyền thụ cho tôi kỹ thuật của các Ngài. Tôi thuộc lòng các phù chú do chính Thần Thath hướng dẫn. Thần là người phát minh ra ngôn ngữ, là tác giả nhiều bài thuốc rất công hiệu, là người độc nhất quy định danh tiếng cho những nhà phù thủy và thầy thuốc học đạo của Ngài. Mỗi lời thần chú đều rất hay cho bài thuốc, và mỗi bài thuốc đều xứng hợp với lời thần chú của nó”.

Ta thấy ở đây có sự pha trộn giữa hai yếu tố của Y học Ai Cập: phù chú và thuốc men. Có thể nói đây là những bước đầu của một nền y học vừa tinh thần vừa hình thái: phù chú trị liệu tinh thần, thuốc men trị liệu thể xác. Năm 525 trước Công nguyên, sau chiến thắng Ba Tư, một trường Y khoa được lập ở Sais, miền Hạ Ai cập, trường này được sử gia Hérodote hết sức tán dương và được nhiều người đương thời chú ý.

Y Học Trung Hoa.

Ông thầy thuốc đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa là vua Thần Nông, sống vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên. Tuy chỉ là một y sĩ tài tử, vua Thần Nông rất ham mê tìm kiếm các y lý mới, và thí nghiệm ngay trên chính bản thân mình. Người ta cho rằng Thần Nông đã tìm ra nhiều dược thảo và độc dược. Tác phẩm “Bản Thảo” đã được in lại nhiều lần, kể cả lần tái bản năm 1911 ở Ai Cập. Viết sách mà truyền được hơn 4000 năm quả thật là hiếm có.

Một ông vua khác cũng rất thích y học là vua Hoàng Đế (2650 trước Công Nguyên). Trong thiên Nội kinh viết về sinh lý học, ta thấy có đoạn này:

“Máu cơ thể đều do tim phân phát … Máu luôn luôn tuần hoàn trong cơ thể không lúc nào ngưng”.

Thật khó mà biết rằng Hoàng Đế đã căn cứ vào đâu để kết luận chính xác như thế, bởi lẽ vốn hiểu biết của nhân loại thời ấy ít ỏi lắm. Harvey đã phải xét nghiệm tỉ mỉ hệ thống mạch quản mới khám phá ra sự tuần hoàn huyết. Trong nước Tàu cổ, người ta hầu như không biết gì về cơ thể học; vả lại việc mổ xẻ tử thi thường bị cấm ngặt. Với quyền thế một ông vua, Hoàng Đế có thể đã tìm tòi nhiều trong lãnh vực này chăng?

Vị vương giả thứ ba ham thích và nghiên cứu y học là vua Càn Long. Ông này lập hẳn một ủy ban chuyên môn để soạn bộ “Y Học Bảo Giám”, bách khoa y học vĩ đại, gồm 40 cuốn. Ta thấy ở đấy có những nguyên tắc y học Trung Hoa, rất nhiều phương pháp trị liệu, có cả khoa đấm bóp và châm cứu, cùng hai lý thuyết lớn của cổ Trung Hoa.

Thứ nhất là thuyết Ngũ hành: thổ, hỏa, thủy, mộc, kim; cơ thể con người được coi như do năm hành đó cấu thành. Thuyết tứ dịch của Tây phương có lẽ do thuyết ngũ hành này mà ra.

Thứ hai là thuyết Lưỡng nghi: Âm và Dương. Âm Dương là hai lực đối nhau, nhưng bổ túc cho nhau mà sinh ra vạn vật, tỉ như: lực và phản lực, trống và mái, nóng và lạnh, sống và chết … Mọi vật trong vũ trụ – nhất là sức khỏe của người ta – đều coi như phụ thuộc vào thế quân bình của năm hành. Trên quan điểm triết học, ngày nay ta cũng quan niệm rằng khỏe mạnh là do sự hòa hợp giữa một số yếu tố. Bệnh tật trái lại là một đổ vỡ, một nghịch âm trong sự hòa hợp đó.

Y Học Cổ Do Thái.

Y học cổ Do Thái rất thô sơ, trừ một số nguyên tắc rất hay về vệ sinh do luật Moise bắt áp dụng. Trong Cựu Ước, vai trò người thầy thuốc rất lu mờ bởi bệnh tật được coi là một hình thức giận dữ của Thần Linh. Vì thế con bệnh phải cầu đến các thầy tư tế. Những vị này giảng rằng ai sống theo luật Moise thì thể xác sẽ thanh sạch.

“Ta không phạt con bằng những tai ương Ta đã giáng xuống dân Ai Cập, vì ta là đấng Vĩnh Cửu hằng che chở con.” (Phát trình ký, XV-26)

Độc giả để ý rằng những tai ương nói trên đều là bệnh truyền nhiễm cả. Dân Do Thái, sở dĩ hơn dân tộc khác, là nhờ biết đề phòng bệnh truyền nhiễm. Quyền hành rộng lớn trong tay, các thầy tư tế Do Thái hành động với tư cách những nhà vệ sinh học đầy đủ tài năng. Trong khi đó thì ở những thời đại sau, người Hy Lạp hình như vẫn chẳng biết mô tê gì về bệnh truyền nhiễm cả. Người Do Thái ngừa lây bệnh bằng đủ mọi cách. Kinh Lê-vít có định rõ ràng và chính xác thế nào là thực phẩm, vật dụng tinh khiết hay ô uế, thế nào là vệ sinh khi hành kinh và lúc mang thai, thế nào là tổ chức ngừa lây bệnh. Thịt lợn có thể truyền ký sinh trùng như sán dẹp và sán kim; vậy tốt nhất là đừng ăn thịt lợn. Trong mọi trường hợp về bệnh lậu, bệnh bạch đái, bệnh phong cùi, kinh sách đều nhấn mạnh đến việc phòng ngừa: nào là cho người bệnh ở phòng riêng, nào là tẩy uế đồ dùng của người bệnh … Phương pháp tẩy uế được triệt để thi hành, chẳng hạn như san bằng nhà con bệnh ở, hay ít ra là quét vôi lại hoàn toàn. Những phương pháp phòng bệnh ghi chép trong Thánh kinh được coi là hữu hiệu đến nỗi người Âu phải bắt chước khi bệnh này lan tới Âu châu. Phần đóng góp của dân tộc Do Thái vào nền y học như thế chỉ là có trong lãnh vực vệ sinh và y học dự phòng.

Sưu tập những khẩu truyền dẫn giải luật Moise tôn giáo và dân sự, kinh Talmud còn ghi lại nhiều kiến thức y học chính xác hơn là những truyện bán truyền kỳ của Cựu Ước. Điều khoản thù lao cho y sĩ mãi sau mới được thêm vào, khi vai trò người thầy thuốc đã khá quan trọng:

“Ngươi phải trả công thầy thuốc cho xứng đáng, vì Đấng Tối Cao đã tạo ra người ấy, vì mọi phương dược thần hiệu đều do Thượng Đế ban phát và Nhà Vua tưởng lệ. Tài năng sẽ nâng cao địa vị người thầy thuốc và ông ta sẽ được các bậc quyền quý ngợi khen.” (Truyền đạo thư, 38, 1-5).

Lời nói trên, theo các nhà chú giải có uy tín, phát biểu một ý kiến mới được bổ khuyết về người y sĩ. Ngoài ra, không có bằng chứng nào tỏ rằng người thầy thuốc Do Thái đạt được địa vị cao trước thời Trung cổ, và ngay cả trong thời ấy nữa, bởi vì luật cấm cầu cứu đến họ, là những người tà giáo. Tuy nhiên thời đó ai cũng hiểu rằng chỉ có họ mới đủ tài khám bệnh. Trong những năm dài u tối vì dốt nát và lười biếng tinh thần, chỉ còn người thầy thuốc Do Thái và Hy Lạp giữ được nghề của Hippocrates. Người ta tránh sự cấm đoán bằng cách đi nước đôi: giữa công chúng, người y sĩ Do Thái bị gièm chê nhục mạ, trong bóng tối ông ta lại được thỉnh đi coi bệnh. Người thầy thuốc Do Thái, chung số phận với toàn thể quốc gia Do Thái, thấy mình vừa bị gièm chê vừa được trọng dụng, vừa bị ghét bỏ, vừa được quý mến, vừa bị xỉ vả vừa được ngợi khen.

Và cứ như thế cho đến khi Đại chiến Thế giới thứ hai bùng nổ.

Bản Quốc văn của HÀ HỢP NGHIÊM

[Chương 1, Tình Thương Số 1 & 2]

1/ các bà thích “ăn nem” là cách dịch thoát và ví von của Hà Hợp Nghiêm, từ câu “ông ăn chả bà ăn nem” chỉ đôi vợ chồng không chịu thua kém nhau trong quan hệ bất chính. Nem và chả là cách gọi khác nhau của hai miền Nam Bắc.

Người đàn bà ngoại tình bị trừng phạt cắt mũi.

2/ thuốc đồ / poultices như một loại thuốc đắp trên vùng đau hay viêm.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment