Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 17 Jan 2026

Bài 18.

Quyết định to tát

Trong rất nhiều năm, tôi đồng quan điểm với mọi người  cho rằng thường thường những nhà thủ thuật lớn đều nổitiếng nhờ ở một sự chế phục đặc kỳ trong kỹ thuật giải phẫu. Chỉ lần lần, tôi mới nhận thấy tột đỉnh bi đát của khoa thủ thuật sẽ đạt tới trong cái mà ta gọi là chỉ định điều trị (indication) nghĩa là chọn giữa hai điều, mổ hay không mổ ? Thật là một quyết định nhiều khi nguy hiểm hơn cả những vấn đề kỹ thuật khúc mắc nhất. Có khi ngay cả từ chối giải phẫu, bởi đây là một cuộc thử thách cân não ghê gớm đối với người y-sĩ, là một cố gắng nghề-nghiệp của con người vô cùng lớn lao và vô cùng khả-kính. Trong những thí-dụ tôi được dịp quan sát, một trường hợp cách đây hơn một phần tư thế-kỷ đã khắc sâu như in trong tâm khảm tôi. Không những đối với đoàn giải phẫu mà cũng bởi đây là một cơ hội đầu tiên tôi bắt gặp ảnh hưởng của định-mệnh trong cuộc sống thường ngày.

BUỔI BÌNH MINH này u buồn và ẩm ướt đến chầm chậm như mặt trời ngái ngủ. Những đợt mây dày đặc phủ kín ngọn Rừng Đen cao ngất trên núi và còn trải qua những dải sương mù xám xám xuống tận chân núi trong thung lũng sâu. Những cánh cửa kính khu giải phẫu lấm tấm giọt sương mù mờ mờ. Trong phòng chẩn bệnh không khí ẩm thấp hòa lẫn với mùi quần áo ướt sũng. Như mọi ngày, phòng chờ đợi gần khu nhập viện đã đầy người ngay khi mở cửa. Hàng chục người bệnh, đàn ông có đàn bà có, các bà mẹ đưa con đi khám bệnh đã tràn ngập bàn giấy của cô thư ký trẻ và có duyên luôn luôn bình tĩnh và điểm một nụ cười khả ái trên đôi môi hồng. Cô ghi tên tuổi và trao cho mỗi người một “phiếu trị liệu” màu đỏ dành cho đàn ông, đàn bà màu lục và trẻ em màu vàng. Trong đám người bệnh có cả những cậu bé thật can đảm vì đến bệnh viện một mình. Hỏi ra mới biết là bà y tá trưởng đã già tên Alexandra giúi cho các cậu mỗi người một gói kẹo. Chúng ăn tham là phải vì trong thời kỳ đói kém và thất nghiệp này kẹo rất hiếm. Nhưng sơ Alexandra luôn luôn biết cách moi tiền để mua những gói quà nhỏ mọn rất quý báu đối với các cậu “nhái”. Sơ luôn luôn sẵn sàng, sẵn sàng cho tất cả cũng như sẵn sàng phụng sự và có mặt từ hai mươi năm nay; cả ngày lẫn đêm làm việc quần quật mặc dù tuổi tác và công việc nặng nề làm mòn mỏi suốt đời không sóng gió.

Trên khuôn mặt với những luống cày nhăn nheo tỏa một lòng nhiệt tâm nhân ái (chaleur humaine) rất cần đối với bệnh nhân và ngay cả đối với chúng tôi trong chức nghiệp y học, nhất là những lúc được mời đến giường một bệnh nhân sắp từ giã cõi đời … Những lúc đó những người áo trắng cảm thấy bất lực không thể kéo dài một lần nữa những giây phút sống của bệnh nhân. Cuộc sống của sơ Alexandra là một chuỗi hy sinh khắc kỷ không ngừng cho tha nhân.

Buổi sáng hôm đó, công việc cứ trôi chảy như thường ngày đều đều như những chiếc ô sáng vác đi trưa vác về … Công việc trong bệnh viện có vẻ nhàm chán hơn thường lệ. Nào là chín mé, nhọt bọc, vết chém, bị tai nạn xe cộ … cả một chuỗi án chẩn gần như là một ước lệ tẻ nhạt. Những bệnh nhân lũ lượt ra về. Trong phòng đợi lác đác còn vài “khách hàng” … Công việc gần xong. Như thường lệ, tôi ngửng đầu nhìn đồng hồ quả lắc. Bỗng thấy lão Jacques đem một người đàn ông đầu phủ kín dưới một đống băng gạc trắng to bằng quả bưởi. Cha chìa cho tôi một bức thư và nói từ xa:

– Thưa ông thầy, một “cas” quần đinh (anthrax) ở đầu. Là một tay “tổ” lão làng trong bệnh viện, lão biết đây là một trường hợp (mà chúng tôi quen miệng gọi là “cas”) thật hy hữu và đặc biệt có thể nói là một vưu vật! Quần đinh ở đầu quả thật là một chứng bệnh rất hiếm – và cũng rất nguy hiểm. Như bị ảnh hưởng của chiếc đũa thần của các bà Tiên. Chúng tôi thấy hết nhàm chán, tẻ nhạt mà trái lại hứng khởi lạ kỳ. Im lặng, tôi cầm lá thư và mở ra đọc.

Bức thư của một đồng nghiệp, Bác sĩ Siegel ở miền ngoại ô Gundelsheim. Bác sĩ Siegel đã già và là chỗ thâm giao lâu năm. Nét chữ ông biểu hiện tính tình con người: nét chữ già dặn, rất sắc và rất chính xác.

Bệnh nhân làm cho hãng nệm bông ở chỗ tôi. Trong hãng đã có nhiều “cas” quần đinh, thường thường ở cánh tay. Nhưng lần này, theo ý tôi, không thể chối cãi được, đây là một quần đinh ở đầu. Không có đủ các tiện nghi và thẩm quyền chuyên khoa để trị liệu, mong anh nhận người bệnh vào quý khu …

Như mải suy tư, tôi ngắm kỹ người bệnh đang ngồi trước mặt. Người tầm thước nhưng rắn chắc và đẫy đà, ông tỏ vẻ bình tĩnh và trầm lặng lạ thường khác hẳn vẻ e ngại và lo sợ của những bệnh nhân khác. Tôi cất tiếng hỏi:

– Ông biết ông bị bệnh gì không?

– Dạ cháu biết ạ. Bác sĩ Siegel đã giảng giải cho cháu rồi. Dù ông thầy chỗ cháu không nói gì nhưng bây giờ cháu cũng biết rồi. Ông bác lúc nãy dẫn cháu đến đây cũng nói to lắm …

Hơi ngượng. Lão Jacques quay mặt đi. Tôi liền hỏi:

– Gần đây trong xưởng ông có người nào bị như vậy không? Tôi muốn hỏi ông có nhiều hơn mọi lần không?

Hắn suy nghĩ trước khi trả lời:

– Dạ không nhiều đâu ạ. Nhưng thỉnh thoảng có vài người bị đám nhọt mủ ở cánh tay. Cháu nghe nói cũng có người bị như cháu ở đầu. Cách đây độ chừng mười năm. Nếu cháu nhớ không lầm, anh ấy bị chết rồi.

Tôi ngạc nhiên thấy ông ta rất bình thản. Người này phải có một bản lãnh phi thường và thiên phú biết kìm tình cảm không để lộ ra ngoài. Tôi dẫn ông vào phòng khám bệnh riêng của tôi và bảo ông nằm lên giường. Trong khi cô y-tá cởi dải băng đầu, tôi đeo đôi găng cao su mà sơ Alexandra đã lấy sẵn không đợi lệnh tôi.

Một phần lớn dải băng đã cởi ra, tôi nắm đầu băng và cẩn thận từng li từng tí, nhè nhẹ cởi tiếp. Khi gắp miếng băng cuối cùng một cảnh tượng hãi hùng sừng sững trước mặt tôi. Mặt bệnh nhân không còn là “người” nữa, theo đúng nghĩa của nó. Phía phải mặt sưng húp đỏ bầm chứng tỏ bị viêm chứng cấp thời. Một đống sưng vù – trong y khoa gọi là phù viêm (oedème inflammatoire) – mềm đến nỗi ấn ngón tay vào còn ghi hằn dấu trũng hẳn trong vài phút. Chỗ phù sưng ấy lan dần nửa má qua môi trên rồi đến tận sóng mũi. Mắt phải sưng húp không mở ra được và phía góc trong gần mũi còn nước mủ. Quay nhẹ đầu bệnh nhân, tôi thấy chỗ sưng nầy lan đến tận da đầu từ gáy đến đỉnh và da đầu cũng gần như bị tróc hết. Bên thái dương tôi thấy một lỗ nhỏ, xung quanh có vòng nâu nhạt và phủ một lớp vẩy mục trăng trắng.

Trái lại tôi kiếm tìm hoài nhọt mủ đen, điểm đặc biệt thường thấy để chắc chắn đặt án chẩn quần đinh. Hơi ngạc nhiên và bỡ ngỡ, tôi xét lại một lần nữa, từng li da một, chỗ sưng phù và cái lỗ nhỏ kỳ quái và lạ ấy. Các anh sinh viên đi thực tập cũng cúi đầu chăm chú quan sát, ngay cả các cô nữ y tá nữa cũng tỏ vẻ tò mò.

Tôi bèn hỏi bệnh nhân:

– Chỗ mụn ở thái dương này ông có từ bao giờ?

– Dạ cách đây ba hôm.

– Có sốt, nóng không?

– Dạ, ít thôi ạ. Bác sĩ Siegel nói cháu 38,2 độ.

– Ông có biết tại sao có mụn này không? – Tôi hỏi ông ta.

– Thưa bác sĩ, cháu không biết ạ. Có thể … Nhưng có cảm tưởng tự nhiên nó vỡ ra đó. Mới đầu sưng húp ở bên thái dương rồi tấy thành nhọt cứ dần dần ngả màu nâu như cà phê sữa rồi chốc vỡ ra như bác sĩ thấy đó ạ.

– Chỗ mắt phải ông không mở được từ bao giờ?

– Dạ từ hôm qua. Thưa có điều lạ là cháu không thấy đau nhức nữa.

Tóm lại, tôi cũng không biết thêm được chi tiết nào cả. Có thể là một quần đinh nhưng án chẩn không rõ ràng lắm. Tôi hơi ngập ngừng vì lớp vẩy mục trắng trắng này, bởi trong chứng quần đinh cổ không thấy ghi điểm ấy. Có thể là một nhọt bọc (phlegmon) ở da đầu, nghĩa là lớp tế bào bị viêm, có thể bị mủ và có khi, trong trường hợp nặng, chết dễ như chơi. Nhọt bọc ấy có thể do một chỗ da bị trầy nhè nhẹ trước mà thành. Nhưng nhọt bọc hay quần đinh tùy thuộc giống vi trùng gây bệnh. Đối với một vài “loại” bệnh nhân, người y sĩ phải cố gắng có một thái độ điều khiển độc đoán chỉ huy. Nhưng với người đàn ông này thật bình tĩnh và tự chủ, tôi rất thành thật và không giấu ông điều nào.

– Ông ạ, cũng chưa chắc là Bác sĩ Siegel có lý, chưa chắc đã là một quần đinh đâu. Có thể những lớp tế bào ở đầu bị sưng tấy làm nhọt bọc. Và nếu là nhọt bọc thì phải mổ ra đừng để làm hại mắt có thể bị mù …

– Nhưng, thưa bác sĩ – bệnh nhân tì khuỷu tay lên bàn và mắt trái nhìn tôi trừng trừng – nếu là quần đinh thì đằng nào cũng phải rạch mổ ra phải không ạ?

Tôi cố gắng khỏi phải giật mình. Không ngờ người thợ này lại thông minh đến thế. Ông cũng đang hiểu rõ tâm trạng nan giải này. Ông cũng cảm thông với tôi quyết định này rất quan trọng, vì sống chết cũng do đó mà ra. Cố gắng làm mặt nghiêm tôi hỏi ông:

– Tại sao ông biết mà nói vậy?

Người thợ làm nệm khẽ nhún vai:

– Trời ơi! Ở xưởng cháu ai mà chả biết cái bệnh quỷ này, chúng cháu cũng rành lắm.

Tôi lắc đầu: Hiển nhiên tôi phải nói hết sự thật nếu không bệnh nhân sẽ không tin tưởng ở tôi nữa. Tôi còn phải bước thêm một bước nữa, nghĩa là để bệnh nhân cũng góp phần vào quyết định của tôi bởi một lý lẽ rất giản dị là úp mở còn nguy hiểm hơn nói dối thẳng từ đầu. Sau một vài giây lưỡng lự, tôi tiếp:

– Tôi cho đem ông lên nhà mổ trên lầu nhé. Tôi lấy một ít nước mủ ở chỗ nhọt bên thái dương rồi đem đi thử xem là vi trùng nào. Như vậy ta mới biết trong đó có chùm cầu vàng không. Chùm cầu là thứ vi trùng nhìn trong kính hiển vi như một đám trái nho ấy. Biết là chùm cầu vàng mới có thể nói là bị quần đinh. Ông hiểu không? Tốt lắm. Lúc đó có hai điều: Một là nếu thấy chùm cầu vàng (Staphylocoques dorés) khỏi phải rạch mổ ra làm chi. Hai là nếu không có thứ vi trùng này thì ông bị làm nhọt bọc, da đầu bị sưng tấy nên có thể bị ăn vào mắt mù hay có thể nguy hiểm đến tính mạng ông đó. Lúc đó ta phải rạch mồ nạo mủ ngay.

Ông ta bình tĩnh gật đầu. Tôi hiểu ngay ông vẫn tin tôi. Trong khi chờ cho đem băng ca đến tôi nói chuyện với ông rất tương đắc như hai người bạn già. Ông thợ nệm có vợ và ba con còn nhỏ. Có lẽ ông tưởng chi tiết gia đình này bắt buộc tôi phải cân nhắc quyết định kỹ càng hơn vì bỗng nhiên ông nói với tôi giọng chân thành:

– Bác sĩ đừng bận tâm lo nghĩ nhiều cho cháu. Sống gửi thác về. Số mệnh trong tay Chúa hết ông thầy ạ.

Xe băng ca đã đến. Người y công đẩy ông lên từng lầu một.

Tôi quay lại nói với một anh sinh viên tập sự:

– Anh lên ngay labo, bảo sửa soạn lấy mủ thí nghiệm phân chất nhé. Anh bảo cho đem các miếng kính, hai ống nghiệm và  chai lọ đã khử trùng đem lại ngay vào phòng mổ ca nhiễm trùng (champs opératoire septique) cho tôi.

Xong, tôi trở lại phòng chẩn bệnh khám nốt những bệnh nhân còn lại. Nhưng trí óc tôi ở đâu đâu. Tôi suy đi đoán lại bài toán vừa rồi. Một bài toán có ẩn số. Một bài toán sống, chết hệ trọng. Luôn luôn cảm thấy trong lòng trách nhiệm đè nặng, trách nhiệm quyết định của riêng tôi. Tôi còn nhớ lời thầy tôi, Giáo sư Von Bergmann trừng đôi mắt sau đôi kính cận, giơ tay trỏ nghiêm nghị như tuyên án: “Đừng bao giờ rạch mổ một quần đinh! Đừng bao giờ, các anh nhớ nhé!” Hình như thấy chưa đủ, thầy tôi còn áp hai đầu ngón tay

cái và ngón giữa vào nhau, đưa lên đưa xuống và cất tiếng sang sảng giải thích những hậu quả nếu không tuân theo “giáo điều” đó – nghĩa là cầm dao rạch mổ – chùm cầu sẽ đổ ào ào vào máu như thác lũ và bệnh nhân chắc chắn hai mươi bốn giờ sau sẽ từ giã bệnh viện trong một bộ áo bằng gỗ! Nhưng đây có phải là quần đinh không? Nếu không phải thì phải mổ ngay, bởi là một khẩn cấp vì nhọt bọc này lớn quá, lan rộng quá, có thể nguy đến tính mạng nếu lừng khừng chậm trễ. Sau khi khám mấy bệnh nhân còn lại, tôi đứng dậy bước lên lầu. Tôi phải ngừng ở hành lang để nhường chỗ cho một chiếc xe băng-ca đem một bệnh nhân đến phòng nhận bệnh. Một cụ già tóc bạc trắng toát như bông gòn ngay một người thường chỉ nhìn thoáng qua cũng có thể hiểu ngay là bà cụ đang hấp hối. Mặt xanh xám, hơi thở cách quãng như nấc, mồm há rộng, bất tỉnh nhân sự, một cơn hôn mê đứng trước ngưỡng cửa Tử Thần.

Tôi gắt một cách vô lý với người y công:

– Bà cụ đến đây từ bao giờ?

– Thưa ông Thầy, họ vừa đem đến vài phút đây. Ở làng xa lắm. Chắc họ không muốn bà cụ chết ở nhà – phiền phức lắm, nhà lại nghèo nữa ạ.

– Thế người nhà đâu?

– Dạ, đi rồi ạ. Chắc là anh chị em đây – họ có vẻ vội lắm ạ.

Đột nhiên, tôi phải nghiến răng thật mạnh mới ngăn cản những tiếng bất nhẫn. Đáng lẽ phải để bà cụ tắt thở trong nhà, họ hàng vô nhân đạo đã lôi kéo bà cụ khỏi giường khi sắp lìa trần!

Tiếng người y công như phân trần:

– Thưa bác sĩ, đây đâu phải là lần đầu tiên. Họ nghèo quá. Chẳng qua vì tiền bạc khốn khó kiếm không ra. Người sống còn khó huống chi …

– Thiếu tiền à? Sao vậy?

– Thưa, Ông Thầy nghĩ xem. Phải chôn cất bà cụ cạnh mộ chồng. Nghĩa địa xa lắm. Lại còn xe tang nữa. Dạ đắt tiền lắm. Vì vậy người nhà phải đem xe đò chở đến đây khi bà còn thở. Tiết kiệm được nhiều lắm ạ.

Tôi không biết trả lời sao. Tôi thấy nghèn nghẹn nơi cổ họng. Trong hành lang bệnh viện yên tĩnh, tôi nghe những tiếng khò khè của bà cụ tóc bạc.

– Ông cho bà cụ nằm phòng riêng. Cho mời cha đến làm phép cho cụ.

Bước vội lên cầu thang, tôi không khỏi không nghĩ đến câu thơ đắng cay của Friedrich Hebbel khi nói đến cha ông làm thợ nề:

“Sự nghèo khó đã chiếm chỗ của linh hồn” …

Trong phòng mổ, mọi người chỉ chờ có tôi. Trên bàn, trải khăn trắng lên người bệnh chỉ chừa có cái đầu. Những ngọn đèn mổ chiếu thẳng vào chiếc mặt sưng húp. Trong ánh điện, bộ mặt người thợ còn đáng sợ hơn; ánh đèn hình như cắm sâu vào chỗ sưng mủ. Vẩy mục ở bên thái dương, độ chừng nửa phân vuông, óng ánh như tuyết. Anh sinh viên vừa mang dụng cụ đến, trên một chiếc khay có đèn cồn, hai lọ nước và vài miếng kính thử để hứng mủ rồi đem nhuộm màu để xem dưới kính hiển-vi. Cô nữ y tá phòng mổ như một cái máy kiểm soát lại lần cuối các dụng-cụ giải-phẫu. Nào là pince kocher, kéo, dao mồ. Những ống cao su để rút nước cuốn cuộn trong một chiếc bình như những con rắn. Những miếng gạc để cạnh những kim, chỉ và kẹp bím. Những dụng cụ khác còn để trong túi vải. Bây giờ phải quyết định mồ hay lấy mủ đi khám nghiệm. Trong cả hai trường hợp mọi người và dụng cụ đều sẵn sàng cả.

Tin đồn đã bay khắp bệnh viện; ông thầy đang gặp một trường hợp đặc biệt và hy hữu, phải quyết định ngay, cánh cửa phòng mổ bỗng mở. Tôi thấy cô bác sĩ Monica đang rón rén bước vào. Nàng mới đổi đến đây nhưng đã chiếm trọn cảm tình của mọi người. Không những thùy mị có duyên và vui tính, nàng lại bình tĩnh lạ thường và lương tâm tận tụy thoáng hiện qua đôi mắt đen láy. Ai cũng trầm trồ khen ngợi khi thấy dáng dong dỏng cao và bộ mặt xương của cô bác sĩ Monica đi visite.

– Tôi đến coi một chút được không, anh Killian?

Vừa xoa xà phòng rửa kỹ đôi tay, tôi vừa mỉm cười trả lời:

– Ồ! Hân hạnh! Hân hạnh! – Rồi khẽ hất đầu chỉ về phía bàn mổ – một cas quần đinh ở da đầu, nhưng tôi đang phân vân đây. Tôi lau khô tay rồi cầm khoác một chiếc áo blouse để mặc cho cô y tá buộc dây đằng sau lưng mà tiến đến bàn mồ. Monica đang đứng cạnh bàn mổ nhìn bệnh nhân. Đôi tay thọc trong túi áo blouse, nàng ngắm, vẻ nghĩ ngợi, chỗ vẩy mục trắng bên thái dương, khác hẳn với chỗ sưng tấy đỏ ở mặt. Nàng có vẻ suy nghĩ nhiều lắm; trong đôi mắt đen láy hiện vẻ hiền từ nhân ái.

Cô y tá đeo đôi găng tay đã khử trùng cho tôi đây là cẩn thận quá mà thôi bởi, thường thường không cần phải đeo găng khi lấy mủ. Nhưng có thể “tụi” chùm cầu vàng nguy hiểm và quỷ quái nhất trong các loại vi trùng. Tôi quay mặt về Monica và nói:

– Không thể khử trùng bên thái dương được vì có thể làm thay đổi cuộc khám nghiệm đi.

Tôi có luồn một que platine dưới chỗ vẩy mục để lấy nước dĩ nhiên đừng làm cho chảy máu!

Cô nữ y tá đưa tôi chiếc que platine. Tôi đốt trên ngọn lửa đèn cồn. Rồi, khẽ nâng một phía vẩy mục bằng một chiếc kẹp thật nhỏ tôi khẽ luồn chiếc que platine để hứng nước nhọt chảy ra tôi quệt vào miệng kính xét nghiệm để nhuộm màu. Rồi quấn một miếng gạc nhỏ đem hút vào chỗ mụn để vào một cái lọ cho đem đi cấy vi trùng.

Miếng kính và lọ đựng miếng gạc, tôi giao cho cô y tá đưa ngay đi viện Pasteur khám-nghiệm. Tôi bảo gọi Charles đến:

– Anh Charles này, việc này quan trọng lắm. Anh nhảy lên xe đạp và đem ngay đến viện Pasteur. Anh lên lầu hai gặp Bác sĩ Pfaundler nhé. Anh đưa ngay gói này và chờ đem kết quả về ngay. Tôi đợi anh ở phòng mổ này. Để tôi gọi điện thoại cho ông ta. Anh đi ngay đi.

Charles vừa đi khỏi, tôi cũng gọi điện thoại ngay. Tôi muốn báo cho Pfaundler biết việc này thật khẩn cấp. Chúng tôi quen biết nhau đã lâu. Anh Pfaundler rất dễ thương, tính tình tế nhị và bặt thiệp có một bộ mặt rất đẹp trai lại ra vẻ thông thái. Là một nhà khảo cứu cặm cụi suốt ngày với ống nghiệm, canh cấy với không khí an bình và yên tĩnh của các phòng thí nghiệm. Pfaundler không thể chịu được công việc nhộn nhịp gần như quay cuồng và nhất là những khía cạnh bi đát của cuộc sống bệnh viện …

Như mọi lần, điện thoại viện Pasteur ít khi rảnh nên phải đợi hai phút mới bắt được đầu dây giọng nói quen thuộc trầm trầm của Pfaundler.

– Kính anh. Để trình anh một việc. Tôi vừa cho một nhân viên đem đến anh để khám nghiệm mủ nhọt của một cas quần đinh kỳ lắm. Có một miếng kính để anh nhuộm và xem hộ cùng một miếng gạc thấm mủ. Anh cho xét ngay hộ miếng kính nhé. Còn việc cấy vi trùng để làm sau. Tôi lấy ở nhọt bên thái dương phải. Vì có một vẩy mục trắng trên nhọt mủ nên tôi không thể thấy màu đỏ đen của mụn. Anh vẫn nghe đều đấy chứ?

– Vâng, anh nói tiếp đi.

– Vì có cái vẩy mục trăng trắng này nên tôi không chắc đó là quần đinh. Thoạt nhìn thấy có vẻ là anthrax lắm nhưng có thể là nhọt bọc da đầu với oedème bự. Mắt phải nhắm nghiền sưng húp. Bệnh nhân hơi sốt.

– Bệnh nhân ở đâu đến đấy?

– Anh Siegel ở Gundelsheim gửi hắn đến đây cho tôi. Đây cũng là một chi tiết quan trọng quý giá để xét đoán là anthrax. Hắn làm thợ nệm trong một hãng đã có nhiều trường hợp anthrax lắm …

– Tôi có nghe nhiều lần …

– Thế hả. Hay lắm. Có thể là quần đinh đấy. Nhưng tôi muốn quyết định có bằng có cớ, anh Pfaundler ạ. Cần nhất là phải có bằng chứng đó là chùm cầu. Khẩn cấp lắm: bệnh nhân đang nằm trong phòng mổ. Vì vậy, nhờ anh gọi tôi khi khám nghiệm xong nhé. Xin lỗi đã làm phiền anh nhưng cần lắm, nhờ anh giúp hộ cho …

– Thôi đừng khách sáo nữa, cụ ơi. Tôi bắt tay vào việc ngay đây.

Tôi đặt ống nghe xuống. Tôi ngại ngùng và lo lắng lắm. Khi trình bày cùng Pfaundler, tôi lại càng thấy có tình trạng bệnh lý và cơn giông tố trong lòng tôi và trong lòng … người bệnh nữa. Trong phòng tiếng thì thầm to nhỏ. Hiển nhiên tin đồn bay nhanh hơn âm thanh – một lần nữa, tôi lại ngạc nhiên trước cơ hành của hệ thống “giao thông” mà tôi gọi là “hệ thống giao thông vô hình” – rồi thì mọi người tấp nập đến … xem: Ai cũng hiện vẻ khẩn trương đạo mạo trên nét mặt, chứng tỏ họ cũng như tôi đều hiểu rõ tính chất cấp kỳ quan trọng khi cần phải quyết định. Cô bác sĩ Monica gần tôi và ngước mắt như thầm hỏi. Tôi nhún vai và nói nhỏ:

– Phải chờ cái đã.

Ngồi trên chiếc ghế sắt, trong góc phòng mồ, tôi xét thầm lại những trường hợp quần đinh đã gặp từ trước đến giờ. Tôi lại nghĩ đến phương pháp trị liệu và nghĩ đến Pollender, người đầu tiên đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh của quần đinh. Rồi Robert Koch tiếp tục công cuộc khảo cứu của Pollender và đã cấy được một loại nguyên chất của vi trùng đó. Tôi cất tiếng nói với mọi người:

– Nếu vi trùng quần đinh, hay bệnh than là vi sinh thể lần đầu tiên được tìm thấy bởi nó như những chiếc gậy khá lớn (dĩ nhiên qua kính hiển vi). Ngay cả những kính hiển vi cũ kỹ và thô sơ nhất thời ấy cũng đủ để phân biệt kẻ sát nhân này với thứ vi trùng khác, được người ta đặt cho các tên mỹ miều là chùm cầu vàng. Ở viện Robert Koch, tôi đã có dịp ngắm qua kính những hình chiếc gậy nhỏ ở đầu có vỏ bọc tròn, hay những chùm len lạ kỳ giống như những chùm tóc nhỏ trên dung dịch cấy (bouillons de culture). Tôi kể tiếp về những biến chứng và đặc tính của bệnh: bệnh than ruột (charbon intestinal) do ruột hấp thu thức ăn có khuẩn cầu vàng (staphylocoques); bệnh rẻ rách “maladie des chiffonniers” hay bệnh than phổi (charbon pulmonaire) là “bệnh của những người đổ rác” với mụt mủ cấp tính, là một thể quần đinh ở da. Quần đinh ở da cũng do những lông thú vật nuôi trong nhà mắc bệnh than hay do các y phục da thuộc. Trong trường hợp này, bệnh nhân chắc bị nhiễm trùng bởi những lông bờm ngựa thường dùng trong các xưởng làm nệm. Nhưng may thay – đến đây, tôi cất cao tiếng giảng cốt để bệnh nhân nghe thấy – da không bị trầy hay thủng thì không ngại gì cả.

Rồi hạ giọng tôi tiếp:

– Trái lại, nếu vi trùng nhập vào máu thì nguy đến tính mạng. Không có một phương pháp nào để chữa trị chứng nhiễm trùng huyết chùm cầu (septicémie staphylococcique) còn về nguyên nhân gây bệnh, các bạn chắc còn nhớ những cuộc thí nghiệm kỳ lạ của Besredka về vai trò bí hiểm của da. Hôm nay, tôi thấy những điều tôi giảng dạy thiếu nhiệt tâm. Đề tài rất hấp dẫn nhưng tôi không thể tập trung tinh thần được. Nặng trĩu như một gánh nặng siêu nhân, trong ý tưởng tôi chỉ có một câu hỏi khủng khiếp đang ngự trị: kết quả khám nghiệm vi rùng học ra sao? Nếu như tôi dự liệu miếng kính quết mủ ấy có  chùm cầu vàng Pfaundler không khó khăn và lâu gì mà chưa tìm ra. Không thể nói tiếp nữa, tôi đành ngừng tiếng. Đôi mắt lơ đãng nhìn vào khoảng không rồi chờ đợi; cơn căng thẳng lo nghĩ này và sự im ắng toàn diện này càng không thể chịu được.

Bỗng nhiên chuông điện thoại reo vang. Mọi người giật mình. Tôi chưa đứng dậy, Monica đã nhảy đến và cầm ống nghe lên. Vô tình, tôi nín thở. Có phải Pfaundler không? – Tiếng Monica.

– Không ạ! Không phải đâu ạ. Tôi không biết, để tôi gọi tổng đài.

Tôi thở dài. Gọi điện thoại nhầm giữa lúc đang căng thẳng và chờ đợi này! Monica đi về phía tôi.

– Người ta gọi Bác sĩ Heller.

Nàng nói như thể xin lỗi đã làm chúng tôi thất vọng. Lại chờ đợi. Trong im lặng căng thẳng. Qua cửa sổ tôi thấy những đám mây như những chiếc bánh phồng tôm, nặng trĩu mưa, bay từng đàn nhè nhẹ và chậm chạp càng thử thách sự kiên nhẫn của tôi. Pfaundler đến đâu rồi? – Có lẽ hắn quên rồi, – tôi không thể để người bệnh nằm hoài trên bàn mổ được! Khốn nạn – chắc hắn còn căng thẳng và lo nghĩ hơn cả tôi. Tôi tưởng tượng Pfaundler trong phòng thí nghiệm, tôi nhẩm thầm những công việc hắn đang làm. Tôi thấy khuôn mặt hắn luôn  luôn nhuốm buồn. Có lẽ hắn đang giữ ống nghiệm lên tầm mắt đểnhìn vào kính hiển vi. Hắn đã tìm thấy kẻ sát nhân chùm cầu vàng hay không? Tuy vậy tôi có thể tự an ủi: Pfaundler là người rất có lương tâm, có thể tin tưởng hoàn toàn nơi hắn. Khổ thay, vì có tính cách quyết định quan trọng, hắn phải rất tỉ mỉ, vậy phải làm thật chính xác vì vậy phải chờ vì … lâu! Người bình tĩnh nhất trong bọn chúng tôi lại là bệnh nhân. Chỉ có một lần, hắn nhìn tôi như muốn hỏi điều gì. Xong, có lẽ tự hổ thẹn với chính mình vì không đủ kiên nhẫn, hắn quay mặt nhìn vào tường và lại nằm bất động.

Sau cùng, chuông điện thoại lại reo vang. Lần này tôi đến nhấc ống nghe. Nhưng vì tay còn đeo găng khử trùng, nên tôi nhờ Monica đặt ống nghe sát tai tôi. Ở đầu dây, giọng Pfaundler thật thờ ơ và bình tĩnh lạ thường.

– Kính anh, tôi đã xét rất kỹ càng nhưng không thấy gì cả, -không có gì cả! Miếng kính sau khi nhuộm thấy có vài chú vi trùng tròn và dài nhưng không có một cô chùm cầu tóc vàng nào. Muốn chắc hơn, tôi lại quệt miếng gạc vào một miếng kính và lại nhuộm không thấy gì cả Killian ơi!

– Vâng. Vậy không phải là quần đinh phải không? Ý kiến của anh là vậy phải không?

– Đúng thế.

– Vậy là một nhọt bọc da đầu phải không?

– Tôi không biết. Cái đó tôi không biết được. Người bệnh của anh, tôi biết làm sao được.

Tôi chỉ có thể bảo đảm với anh một điều: sau khi khám nghiệm các tấm kính anh gửi đến cho tôi, đây không phải là một quần đinh. Hắn còn nói thêm vài lời nữa, nhưng giọng nói bỗng nhiên nhẹ hẳn, ngập ngừng hình như lắp bắp vài câu. Quay đầu lại tôi thấy tay Monica run cầm cập. Mặt nàng tái mét. Tôi khẽ nói với Monica.

– Bác sĩ ơi! Làm gì mà run vậy.

Rồi nói vào ống điện thoại:

– Cám ơn ông anh nhé, kính chào đại ca.

Monica đặt ống nghe lên máy điện thoại. Nhưng tôi không thể nào rời máy. Tôi từ chối không thể hiểu được những điều Pfaundler vừa nói với tôi. Đáng lẽ tôi phải mãn nguyện, Pfaundler đã hùng hồn trả lời: tôi có lý nghĩa là án chẩn của Bác sĩ Siegel nhầm lẫn: không phải là một quần đinh. Tuy vậy tôi không cảm thấy mãn nguyện. Trái lại, gánh trách nhiệm hình như còn đè nặng hơn trên đôi vai tôi. Trong khoảnh khắc một vài giây, tôi phải xua đẩy ý nghĩ một điều thảm khốc đổ vỡ không thể tránh được và sắp sửa xảy ra. Sau cùng, tôi lấy bình tĩnh và quay về phòng mồ.

Tôi báo cho bệnh nhân hay:

– Không phải là quần đinh đâu ông ạ! Ông Bác sĩ chuyên khoa về vi trùng học vừa xác nhận với tôi xong, không tìm thấy gì cả.

Rồi, trong im lặng, tôi sửa soạn mở nhọt bọc. Cô y tá đứng cạnh bàn đựng đồ mổ đang chờ lệnh. Một lần cuối tôi nhìn lại chỗ vẩy mục trắng trắng kỳ dị kia, một vết nhỏ nhoi trong đám thịt sưng đỏ như hoa phượng. Người bệnh, mím chặt đôi môi, quay mặt nhìn tôi không chớp mắt. Tôi nhìn lại người thợ làm nệm và giơ bàn tay phải lên: Đó là một hiệu lệnh gần như một nghi thức cổ truyền: Cô y tá đã đưa vào tay tôi con dao mổ dáng điệu rất chính xác và máy móc. Tôi sắp sửa mổ.

Cánh tay trái bệnh nhân đặt trên một chiếc giá. Một anh sinh viên buộc dây cao su để làm nổi mấy lần gân xanh căng phồng. Sau khi bôi cồn lên da, anh cầm chiếc ống tiêm đựng thuốc: Một dung dịch vàng nhạt, thuốc EVIPAN lóng lánh trong ống, Anh lại dựng ngược ống tiêm và đẩy những bọt không khí qua kim tiêm. Vừa nhìn hắn làm, tôi cảm thấy căng thẳng không thể cắt nghĩa được. Chưa bao giờ, trước khi mổ tôi lại có thể căng thẳng đến thế; như máy, tôi quay về phía trái chỗ cô y tá đang chờ đợi: tôi bắt gặp ánh mắt của Monica. Nàng đã đi quanh chiếc bàn và lẳng lặng đứng trước mặt tôi. Đôi mắt nàng to và đen như đôi mắt nai, mọi khi rất bình tĩnh, hôm nay lộ vẻ lo sợ không thể kìm hãm được, một vẻ lo ngại gần như mất trí. Tôi có cảm tưởng đôi mắt ấy cố gắng hỏi tôi một lần chót: “Có chắc là anh có lý không, có chắc không? Hoàn toàn chắc không?”

Lúc đó, có điều gì nổi lên trong tâm trí tôi như một sức kháng cự điên dại không thể kiểm soát được. Không, tôi không chắc gì cả phải có một việc nhầm lẫn nào, một điều nhầm lẫn ghê sợ. Tôi đặt con dao mồ xuống và hét lớn:

– Tôi không muốn. Tôi không thể tin được! Không thể được!

Như trời trồng và ngạc nhiên hết sức, mọi người trong phòng  mổ đứng đơ như tượng đá câm như hến. Tôi cầm tay anh sinh viên đang sắp sửa chích thuốc vào tĩnh mạch …

– Để tôi lấy thử lần nữa xem sao. Lúc nãy tôi sợ chưa đi vào sâu.

Cố chống lại xúc cảm còn ghì chặt lấy cổ, tôi lại hơ chiếc que platine lên đèn cồn và cúi xuống thái dương sưng tấy của người bệnh, liền đó, một dòng mủ chảy từ chỗ hồng bị loét; tôi còn đem theo cả một đám thịt bị thối mà không chảy máu gì cả. Tôi không quệt lên kính nữa, mà để cả vẩy dính đầy mủ và thịt tróc vào một ống nghiệm đã khử trùng rồi lấy bông đậy lại. Không ai dám nói khi tôi đang làm công việc tế nhị này.

Nhưng, trong đầu tôi, nổi lên một cuộc đối thoại, đối thoại với chính mình. “Tại sao mình làm vậy? Có phải vì đôi mắt đẹp của cô bạn đồng nghiệp biểu tỏ một niềm lo sợ vô vọng? Có phải vì đến phút sắp mổ, một sức mạnh không thể kìm hãm nổi đã ngăn cản? Hay đúng hơn vì tự hào – niềm tự hào vô lý vì Pfaundler đã trả lời rõ ràng rành mạch như vậy? Thế mà, Pfaundler, mình biết rõ hắn hơn ai hết, hắn không phải là tay gà mờ, mỏ trắng (blanc bec), hắn được mọi người mến phục và tin tưởng … “

Tâm trạng con người thật kỳ diệu: không thể chấp nhận lời trách móc hay mắng mỏ vì đã hành động trái với lý trí và biện luận. Tôi đã phản ứng thật tự nhiên, gần như không tự nhận biết, phản ứng với chính những lời tố cáo của mình. Bác sĩ Siegel đã chẳng định bệnh là quần đinh rồi đấy ư? Một y sĩ già lành nghề tại khu ngoại ô kỹ nghệ này hơn ba mươi năm trời phải có nhiều kinh nghiệm và đã gặp nhiều trường hợp quần đinh hơn tôi, một y sĩ đã hết mình theo chí hướng, luôn luôn nhạy cảm và nhiệt tâm không bao giờ chấp nhận một án chẩn vội vã … Nên tự tin vào điều phê phán của chính mình, còn hơn là dựa trên độc có một miếng kính quệt mủ! Nhưng tôi không muốn vỗ về tự ái riêng tôi, nói đúng hơn tôi không muốn tự dối mình về bào chữa: những lý lẽ đẹp đẽ trên, tôi thấy đúng và thật lắm chứ không phải đến cùng một lúc và có tính cách quyết định. Ngay giây phút rời bỏ con dao mổ, tôi đã tuân theo những điều khác, rõ hơn là do một sức mạnh thầm kín, không thể phân tích rõ được và cũng không thể định nghĩa cho được. Một sức mạnh, tùy theo tâm tính hay niềm tin cá nhân, có thể gọi là “linh tính”, hay “lý trí”, hay “thần linh run rủi”.

Trong khi đó, Charles, sứ giả của tôi cử đến Viện Pasteur đã về … một lần nữa? Chưa biết thế nào cả.

-Em đem ống này đến Bác sĩ Pfaundler. Tôi sẽ gọi điện thoại cho ông ấy ngay. Nhanh lên nhé. Cần lắm.

Hắn cầm ống nghiệm và chạy bổ xuống cầu thang. Phần tôi cũng nhảy xổ đến điện thoại.

– Cho tôi nói chuyện với viện Pasteur, – Bác sĩ Pfaundler.

Vâng. Cũng số ấy … lẹ lên !… lẹ lên!

Ống nghe hầu như muốn chuồn khỏi đôi tay tôi. Bất nhẫn và nổi nóng, tôi giật tung đôi găng tay cao su. Nửa phút sau, giọng Pfaundler ở đầu dây.

– Xin lỗi anh lại phải nhờ anh … thử lại xem … một lần nữa …tôi chưa thể mổ được. Tôi đã đi sâu vào thêm nên lấy một lần nữa đấy. Tôi có lấy cả vẩy nữa. Nhân viên sẽ đem đến anh ngay, hắn vừa đi xong. Mong anh giúp cho, xem lại kính hiển vi hộ cho nhé. Có gì báo ngay cho tôi nhé. Tôi vẫn chờ đấy. Ở trong phòng mổ …

Tôi đã đoán trước phản ứng của Pfaundler. Đối với hắn chỉ có một ý nghĩa: Tôi không hoàn toàn tin ở hắn. Nhưng bây giờ không phải là lúc nói đến chuyện tự ái, nể nhau và tế nhị nữa. Khi trở vào phòng mổ; người bệnh, vẫn nằm trên bàn mồ, quay nhìn về phía tôi. Tôi cảm động và bỡ ngỡ khi thấy trong ánh mắt còn mở của người bệnh hiện niềm tin tưởng trọn vẹn. Nụ cười tôi làm hắn bình tĩnh hơn, hắn lại mỉm cười trả lại như cũng để ủng hộ tôi. Tôi lại ngồi trên chiếc ghế đẩu trong một góc phòng gần cửa và lại vùi mình trong tư lự: Linh tính, lý trí. Những điều ấy có thật không? Và nếu có, ta có thể nào tin được những điều ấy không?

Quả thật là những câu hỏi tư lự mà con người, nếu chân thành với chính mình không bao giờ dám tự trả lời. Những phút chầm chậm lại lê bước làm sưng tấy ý nghĩ trong im lặng nặng nề. Chưa bao giờ tôi lại hiểu rõ thời gian là một ý niệm tương đối như thế! Tôi luôn luôn nhìn đồng hồ quả lắc. Charles phải đến Viện Pasteur từ lâu rồi! Pfaundler chắc đang nhuộm màu đây …

Monica, đứng gần tôi không thể im lặng được nữa.

– Bác sĩ có muốn tôi gọi điện thoại Viện Pasteur không? –

Nàng nói như thầm thì năn nỉ. Tôi cũng trả lời rất nhẹ:

– Không cần. Chỉ làm rộn anh Pfaundler thôi. Anh ấy không chậm một phút nào đâu. Anh ấy hiểu rõ tình hình ấy. Lại im lặng. Bên ngoài ngay trước cửa sổ, vài con quạ bóng  dáng ẩn hiện trên màu xám của đám mây, đang kêu inh ỏi để tránhgió. Nếu tôi là người xưa, tôi sẽ tin đó là điềm xấu; nhưng ngay trong thời đại này, tôi tự nhủ, có lúc con người không dễ gì xua đuổi những điều dị đoan cũ mèm ấy …

Hai mươi lăm phút rồi … thật không thể hiểu được. Hay Charles bị tai nạn gì? Tôi nghĩ đến chỗ hay xảy ra tai nạn nhất là “chỗ quẹo đỏ” – chỗ này con đường quẹo và gặp một chiếc cầu dành cho xe lửa. Chỗ này xe cộ đi nhiều như mắc cửi hơn nữa xe nhỏ hay vượt mặt các xe hàng nặng chở gỗ và xi măng. Không thể chịu được, tôi đi bách bộ từ bàn mổ đến chỗ đặt điện thoại. Có lúc, tôi ngừng trước máy, chống chọi với mình để không gọi điện thoại cho Pfaundler. Chuông điện thoại reo khi tôi quay về phía bàn mồ lần thứ 50. Hai bước nữa tôi đến cầm ống nghe.

– Allo, đây là phòng mồ …

Tôi nhận được giọng Pfaundler. Trái lại, mới đầu không thể hiểu được Pfaundler nói gì bởi hắn nói nhanh quá. Hiển nhiên, hắn xúc động quá. Đừng mồ – Đừng mổ nhé … Đừng mổ nghe! Nếu mổ thì đi đời rồi!… Ghê quá … Đầy vi trùng. Chùm cầu vàng đầy cả như một canh cấy!

Trong khoảnh khắc, tôi không thể nói được lời nào. Pfaundler lại càng không hiểu tại sao tôi im lặng. Hắn hét như tuyệt vọng.

– Có nghe tôi nói không? Có hiểu không? Trả lời đi! Anh đã …

– Không. Cứ an tâm. Không có gì cả. Tôi chưa mổ.

Tôi đặt ống nghe. Bỗng nhiên tôi cảm thấy như quay cuồng đứng không vững. Hai chân run run, tôi phải tựa vào tường. Phải mất hơn một phút mới có thể vào được phòng mổ. Cơn bão vừa qua, tôi trở lại và nói lớn:

– Không mổ đâu. Anthrax đó.

Không ai nói được cả nhưng tôi nghe thấy như mọi người đều thở nhẹ nhõm. Bầu không khí căng thẳng đã nới rộng. Cố làm vẻ bình tĩnh, tôi cúi xuống nhìn bệnh nhân và một lần nữa tôi lại quan sát nhọt mủ có vẩy mục trắng đã làm khó tôi không nhỏ? Bỗng nhiên một ý nghĩ lóe lên. Tôi hỏi người bệnh:

– Bác sĩ Siegel có bôi gì vào cái nhọt mủ ở thái dương cho ông không?

– Có ạ. Ông ấy nói thoa bằng acide nhiều khi hay lắm.

Tôi khẽ à một tiếng. Tại sao tôi không nghĩ sớm hơn? Có thể Siegel đã bôi acide trichloroacétique nên nó mới mọc vẩy trắng. Chỉ một chi tiết nhỏ này thôi nếu biết trước có phải đỡ lo đỡ sợ không.

Bây giờ, thật là rõ như ban ngày. Tôi đặt lên chỗ sưng đỏ những miếng gạc khử trùng thấm vaseline rồi quấn lại. Tôi bảo đem bệnh nhân xuống phòng và thấy Monica bước vội khỏi phòng mồ. Tôi liền theo nàng bén gót. Mặt tái mét, đôi mắt nhắm chặt, nàng tựa vào tường. Tôi khẽ nói:

– Thế nào – Tôi không muốn ai nghe câu chuyện giữa chúng tôi nên tôi nói như thầm thì – sao vậy cô? Có thế mà sao đa cảm đa sầu vậy?

Nàng mở mắt và khẽ cười:

– Xin lỗi … thế là xong rồi. Vài hạt nước mắt còn dính trên mi. Cảm động vì lòng can đảm của Monica, tôi suýt ôm nàng. Lúc bấy giờ tôi vẫn chưa biết nàng sẽ là vợ tôi. Chúng tôi lại vào phòng mổ. Mấy người y công lại dẫn một bệnh nhân khác đến. Công việc thường ngày lại tiếp tục, luôn luôn bận rộn cho đến chiều.

Khi màn đêm xuống đã từ lâu. Tôi rời bệnh viện, mệt nhọc, tôi gặp chiếc băng ca trên có một xác người mặt phủ bằng tấm khăn trắng đang tiến ra cửa sắt. Tôi hỏi ông gác-dan:

– Hôm nay có người chết à?

– Vâng. Bà cụ sáng nay đấy! Bác sĩ quên rồi ư?

– Phải, tôi nhớ ra rồi. Phải, thật chua chát một đám tang tốn ít tiền …

Rồi ngày qua trong việc bận rộn ở phòng mồ, phòng nhận bệnh … Tôi quên không nghĩ tới Bác sĩ Pfaundler.

Đêm hôm đó, tôi bị dựng dậy bởi chuông điện thoại.

– Bác sĩ Killian đây hả? Tôi là vợ Pfaundler đây. Phiền bác sĩ đến hộ. Chồng tôi …

– Bị tai nạn hả?

– Không ạ. Nặng hơn. Chỉ có bác sĩ mới giúp được anh ấy. Van bác sĩ, xin bác sĩ đến cho.

Giọng người đàn bà run run, lo sợ cả lời nói. Tôi không thể điếc trước lời gọi cảm động ấy. Khi ra đến cửa, mưa lạnh như cắt làm tôi tỉnh hẳn. Mười lăm phút sau, tôi bấm chuông nhà Pfaundler. Bà Pfaundler đã mở ngay.

Bà đã đợi từ lúc điện thoại cho tôi.

– Không biết làm sao để cảm tạ bác sĩ đã đến. Tôi lo quá có lẽ  phát điên mất …

Qua hành lang, bà chỉ vẻ mệt mỏi cánh cửa trắng đã róc sơntừng mảng.

– Cũng may các cháu ngủ cả. Bác sĩ đưa tôi mắc cái áo mưa …

– Có việc gì đấy ạ?

– Chồng tôi đi làm về nom tiều tụy quá. Anh ấy không ăn tối. Vào ngay phòng làm việc vẻ thất vọng, buồn bã chẳng nói chẳng rằng. Theo chỗ tôi biết và suy đoán ra, anh đã phạm một lầm lỗi lớn. Anh ấy luôn miệng nói suýt nữa gây nguy hiểm đến tính mạng một người bệnh. Xin bác sĩ giúp cho … chỉ có bác sĩ thôi.

Bà ngừng lại và úp mặt vào hai bàn tay khóc thút thít. Hơi ngượng nghịu, tôi giả vờ khó mở những chiếc khuy áo mưa. Thiếu phụ đang khóc và tuyệt vọng này. Tôi biết lắm. Tôi biết nàng khi thành hôn với Pfaundler, nhí nhảnh ngây thơ và duyên dáng … Hôm nay, bà có vẻ già trước tuổi, chồng bận việc ở phòng thí nghiệm, năm con mọn phải chắt chiu mới đủ tiêu. Lương tháng của chồng cũng vừa đủ ăn tuy dạy thêm và làm việc cho vài hãng của chồng cũng không mở mày mở mặt cho lắm!

Tuy vậy Pfaundler là một thiên tài giỏi và rất thông minh, ông đã viết nhiều bài nói về các công việc nghiên cứu của mình nên tên ông rất quen thuộc trong giới y học. Nhưng khổ thay ông luôn luôn làm việc say mê trong tháp ngà nên không thể nhận thấy cuộc sống chắt chiu, dè sẻn gần như luôn luôn thiếu thốn đã làm khổ vợ  mình. Cha hiền, chồng thảo Pfaundler đã hết mình làm việc quầnquật để bù vào chỗ thiếu thốn ấy cho gia đình êm ấm hơn. Nhưng trên con đường chức nghiệp Pfaundler đã chọn, không phải trải bằng tiền rừng bạc bể.

Tôi hỏi nhỏ:

– Chính ông nhà đã bảo bà gọi tôi đến đấy à?

– Không ạ. Anh ấy không biết tôi đã gọi điện thoại cho bác sĩ. Tôi van bác sĩ, hãy cố khuyên nhủ anh ấy hộ tôi.

Tôi đẩy cửa phòng làm việc. Pfaundler, gục người trên bàn, đầu úp vào đôi bàn tay run rẩy, tuyệt vọng. Anh như thẫn thờ cả người không biết gì cả. Lâu lắm mới nhận được ra tôi. Sau cùng, anh quay đầu lại và rất ngạc nhiên, đứng dậy phía tôi.

– Anh đấy à … khuya rồi … À tôi hiểu, chắc là vợ tôi … xin lỗi đã làm phiền anh đến đây … có lẽ nàng có lý …

Đến đây anh ngừng tiếng và cúi đầu. Khuôn mặt sắc sảo và thông minh đang bị tuyệt vọng vô bờ tàn phá và hằn từng nét. Con người đứng trước mặt tôi đã phải đau đớn biết bao trong khoảng thời gian vài giờ trước đây! Anh mời tôi ngồi rồi phịch xuống chiếc  ghế bành.

– Cảm ơn anh khuya khoắt thế này mà anh cũng đến. Thành thật cảm ơn anh. Tôi hết cả sức lực, không thể nào nghĩ được và tập trung tư tưởng nữa anh ơi. Sau khi gọi điện thoại cho anh, sáng nay tôi không tiếp tục làm việc nữa. Tôi ngừng hết cả công việc, ngay cả công việc nghiên cứu của tôi nữa. Tôi về nhà suy nghĩ hầu lấy lại sức lực: Nhưng không thể nào được, hối hận quá, tôi xúc động quá. Tôi không thể nào suy nghĩ mọi chi tiết sáng nay: Tôi đã đi đến một sự lầm lẫn không thể tha thứ được. Tôi cảm thấy có lỗi. Không, anh đừng chống chế, tôi biết là tôi phạm lỗi. Bây giờ, vì anh đã có lòng tốt tới đây, tôi cần phải nói với anh điều gì đã xảy ra. Tôi nợ anh sự thật, tất cả sự thật. Anh có chấp nhận nghe tôi nói không?

– Chắc chắn rồi, cho dù tôi tới không phải vì điều đó. Anh đã phạm một sai lầm, đúng như vậy, nhưng có ai mà không sai phạm, ngay tôi cũng vậy …

– Tôi xin anh, hắn ngắt lời tôi. Tôi phải thoát ra khỏi gánh nặng này. Anh thấy tôi chẳng đáng có một thứ lỗi nào. Tôi phải nói ngay rằng cú điện thoại thứ hai của anh đã làm tôi lấn cấn. Dĩ nhiên anh nghĩ rằng tôi phải cần thêm một mẫu thử thứ hai để làm lại cùng một xét nghiệm. Nhưng không phải như vậy. Tôi hiểu rõ và cũng hiểu ngay rằng anh muốn có được tất cả những bảo đảm có thể có được. Lúc đó tôi đang theo đuổi các công trình khảo sát khó khăn, và đúng sáng nay, các công trình của tôi tới điểm quyết định. Tôi có cảm tưởng giải pháp vấn đề là trong tầm tay của mình. Có lẽ anh đã biết và cũng trải qua như vậy, với sự xúc động đặc biệt mà người ta cảm nhận được trong khoảnh khắc. Người ta như phát sốt, cảm thấy rằng chỉ trong vài phút tới là đi tới quyết định thành tựu hay thất bại của một công trình kéo dài bao nhiêu tháng trời … Và lúc đó, có cú điện thoại thứ hai của anh! Khi nhân viên của anh đạp xe tới mang theo mẫu thử, tôi đưa cho cô xét nghiệm viên bảo chuẩn bị nhuộm mẫu thử. Rồi tôi trở lại với công việc của mình. Trong vòng 10 phút, cô ta làm xong và kêu tôi tới đọc các mẫu nhuộm. Tôi phải thú nhận rằng khi ngồi trước kính hiển vi tôi không chờ đợi một ngạc nhiên nào. Sau hết, tôi cũng đã xem xét cùng một mẫu nghiệm ấy ngót một giờ trước đó và không phát hiện ra một con khuẩn cầu vàng (staphylocoque doré) nào. Nhưng lần này ngay khi tôi dán mắt vào ống kính, tôi nhảy nhồm lên và như ngã ngửa trên ghế. Trên tấm kính chi chít những vi  khuẩn! Kinh hoàng, tôi phải bám vào bàn, hai chân muốn khuyu xuống, mồ hôi lạnh toát chảy dọc sống lưng. Một cách ngớ ngẩn, tôi tự hét lên:

“Xem đây, đầy những khuẩn cầu vàng!”

Cô xét nghiệm viên chạy tới, cả những cô gái làm việc trong các phòng khác cũng ùa tới, luân phiên nhau, cúi mình trên ống kính hiển vi. Tôi tách ra khỏi họ, phóng tới chiếc máy điện thoại. Trong nỗi xúc động, tôi không còn nhớ được số điện thoại của anh, mặc dù đó là con số tôi biết rõ trong nhiều năm! Rồi cũng tìm thấy và cũng hai lần bấm lộn số. Tôi không thể mô tả được với anh cảm giác nhẹ nhõm là thế nào khi nghe giọng anh nói: “Tôi chưa có mổ!”

Anh ta im lặng, như kiệt sức sau câu chuyện dài. Tôi gật đầu nói:

– Tôi cũng tưởng tượng cảnh trí gần như vậy. Chỉ còn một điểm mà tôi chưa hiểu được: tại sao kết quả xét nghiệm đầu tiên lại có thể là âm tính?

Tôi hoàn toàn không muốn tìm cách chê bai anh ta, câu hỏi của tôi chỉ nhằm làm sáng tỏ một chút bí ẩn kỹ thuật (mystère technique) trong cuộc nói chuyện giữa tình bạn đồng nghiệp. Tôi ngạc nhiên về phản ứng của anh ấy. Pfaundler đứng bật dậy như chiếc lò xo, nhìn tôi vẻ kinh hãi, rồi rơi người xuống chiếc ghế bành nói như rên rỉ:

– Đúng vậy, giọng anh ta như thắt lại, đó mới là thảm kịch. Sau khi đặt ống điện thoại xuống, tôi lấy lại các mẫu thử đầu tiên với sự trợ giúp của cô xét nghiệm viên, đặt dưới ống kính hiển vi và xem xết kỹ từng millimètre một. Và lúc đó, trong vòng nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi bỗng phát hiện nơi góc của miếng kính xét nghiệm (lamelle) hai vi khuẩn hình gậy (bâtonnets), không thể chối cãi được đó là khuẩn cầu vàng! Hiển nhiên chỉ có hai, nhưng tôi phải thấy chứ. Tôi không có quyền không thấy chúng. Anh ta có một cử chỉ như bất lực và quay mặt đi. Tôi ngắm khuôn mặt người bạn, biểu hiện sự cố gắng không ngừng của nhà nghiên cứu với cả những khiếm khuyết, khuôn mặt ấy bỗng chốc biến dạng thành đau đớn. Một con người mà tôi ngưỡng mộ, một đồng nghiệp đang bị xâu xé bởi những hối hận, – tôi phải tìm cách giúp anh ấy lấy lại sự quân bình.

– Tất cả đều tốt, kết thúc tốt. Tôi nói với giọng an ủi. Vào phút chót, tôi đã không mồ, như một linh cảm (presssentiment), hay như từ một tiếng nói bên trong đã ngăn tôi lại. Người bệnh sống và rất có thể sẽ xuất viện. Cử chỉ của một bàn tay vô hình đã ngăn tôi lại, bàn tay mà tôi nhận được như món quà của trời đất (un cadeau du ciel). Cả anh nữa, anh có muốn nhận phần anh trong món quà đó không?

Anh ta nhìn tôi với vẻ hoài nghi. Tôi đưa bàn tay ra. Anh ta siết chặt bàn tay tôi rất lâu, môi anh run run.

– Đó không đơn giản là một linh cảm, giọng anh ta như thì thầm. Đó là một ước nguyện cao cả (volonté supérieure); anh đã có lý, tôi cũng xin chấp nhận món quà ấy.

Ba tuần lễ sau, tôi gọi điện thoại cho Viện Vi trùng học:

– Bác sĩ Pfaundler đấy phải không? Anh còn nhớ trường hợp bệnh than trên đầu không? Rất vui là người bệnh ấy đã xuất viện.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 23-24-25-26,

tháng 11-12,1965 tháng 1-2, 1966]

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 17 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

ĐOẠN KẾT

Tuần lễ bồi dưỡng thể xác và bồi dưỡng tinh thần trôi đi rất nhanh. Người ta muốn ăn cơm trắng với thịt lợn kho dài dài và nghỉ lao động dài dài để mơ mộng cái ngày Mỹ đem trực thăng bốc khỏi trại tập trung. Thế mà đã thứ sáu . Tiếng kẻng đã hết vẻ gầm gừ. Dường như âm điệu của nó thoang thoảng gió đàn ngọt mát. Hai mươi tám con sư tử lãng mạn và cô đơn không muốn rời phòng giam những lần cửa mở. Với họ, nhà tù ấm áp hơn trại tập trung. Nhà tù có nhiều chí lớn. Trại tập trung thì đẩy dẫy kèn cựa, tranh giành và những đầu óc trống rỗng, những đôi mắt cận thị. Ở nhà tù, con người thường xuyên trực diện hình phạt của thù hận, thường xuyên đứng giữa biên giới sống chết nên con người trang trải, cao cả.>Ở trại tập trung, con người rên siết vì miếng cơm thiếu, cứ phàn nàn vì việc làm nhiều, thành thử con người hẹp hòi, bé nhỏ. Sư tử chưa biết mình còn phải luân lạc tới những vùng trời phiền muộn nào của quê hương. Thực sự, sư tử chán ngấy vùng trời vừa đến. Nó hào hùng khoảnh khắc. Nó sôi nổi nhất thời. Nó hy vọng ngớ ngẩn. Nó son sắt phút giây. Nó thiếu ước mơ. Nó cây mục. Nó cành khô. Nó lá rữa. Nó không thể kết trái bởi chẳng bao giờ nở hoa.

Ngày thứ bẩy, ông Ủy viên lại có mặt ở văn phòng giám thị. Ông mang chỉ thị của Trung Ương.

– Đồng chí Giám thị!

– Dạ.

– Diễn biến tư tưởng của chúng nó ra sao?

– Thuận lợi cho ta.!

– Chiều nay xe tải vào đây. Chập tối, xe về thị xã Nam Định, chạy thẳng ra ga.

– Bao giờ ban lệnh ạ?

– Ngay bây giờ. Tập trung chúng nó ở sân trại.

Giám thị truyền lệnh cho trực trại.. Một hồi kẻng khua vang. Lúc ây là giờ. Mười lăm phút sau, toàn thể trại viên tập họp từng đội giữa sân, trừ hai mươi tám con sư tử bị nhốt trong phòng. Giám thị nghênh ngang bước qua cổng trại. Vẻ thân mật hôm nào biến mất. Khuôn mặt Giám thị đanh lại nguyên vẹn khuôn mặt một cai ngục chuyên nghiệp, lão thành. Ông ta đứng trước các trại viên. Trực trại điều khiển cuộc chào đón.

– Chú ý, tất cả trại viên đứng dậy!

Qúy vị sĩ quan răm rắp tuân lệnh anh trung sĩ công an.

– Nghiêm.

Trực trại quay lại, giơ tay chào Giám thị:

– Trung sĩ Đỗ Ngọc Tùng, cán bộ trực trại, báo cáo đồng chí thủ trưởng, quân số tập họp đủ, chờ lệnh đồng chí thủ trưởng.

Giám thị vẫy tay:

– Đồng chí cho họ ngồi.

Và trở mặt về phía trại viên, hô lớn:

– Tất cả trại viên ngồi xuống!

Quý vị sĩ quan ngoan ngoãn ngồi xuống. Giám thị nói:

– Lệnh của Trung ương, các anh được về Nam. Từ đây di chuyển xuống thị xã Nam Định bằng xe tải. Từ Nam Định, các anh đi xe lửa vào Nam. Trên đường đi, các anh phải triệt để tuân hành mệnh lệnh của cán bộ chiến sĩ bảo vệ. Hành động chống đối sẽ không được tha thứ. Hành động chạy trốn sẽ bị bắn chết ngay. Các anh về phòng thu dọn toàn bộ đồ đạc và khẩn trương ra sân tập trung. Rõ chưa?

Qúy vị sĩ quan nhất loạt đáp:

– Rõ.

Giám thị rời sân trại. Vệ binh tăng cường vây kín hàng rào trại. Sư tử bám chấn song cửa quan sát cảnh tượng. Hoàng Sơn Trường lên tiếng:

– Đàn anh hố to rồi!

Dzũng quan tài cười hô hố:

– Lát nữa, nó còng hai đàn anh vào một. Còng Mỹ, chứ không phải trực thăng Mỹ bốc đi.

Lương Việt Cương nói:

– Mình cần tiễn đàn anh vị chút tình chứ, các bạn?

Đình Vượng đáp:

– Tại sao không? Mình tiễn đàn anh bằng bài hát tức là cho đàn anh bài học về sự cả tin…cộng sản!

Chú tiểu Thích Thanh Bần lắc đầu:

– Đừng, đừng làm buồn các ông ấy. Mỗi người đều lỗi lầm cả vì mỗi người đều có tâm sự riêng.

Nhiều vị sĩ quan già đã tay xách nách mang hành lý tù ra sân. Ý hẳn tranh thủ ra sớm ngồi xe chỗ tốt! Nửa tiếng sau, sân trại đã đông đủ cải tạo viên với hành lý ngổn ngang đủ thứ: Nồi niêu, xoong chảo, lồng chim, lồng gà, điếu cày, hoa lan, đàn sáo… Trực trại hỏi:

– Ghi tên cách anh ngoài bị hành lý chưa?

– Rồi.

– Tập trung hành lý một chỗ.

– Rõ.

Lộn xộn chừng mươi phút khiêng hành lý xếp đống. Trực trại nói:

– Trưa nay không kịp cơm nước . Buổi tối, các anh sẽ ăn ở Nam Định.

Trời hôm nay nắng dữ. Cải tạo viên sĩ quan trình diện ngồi phơi nắng rất thảm hại. Cái hùng khí bữa nào biến mất. Dzũng quan tài thắc mắc:

– Giá mấy vị tặng mình cây guitare và con gà thì tuyệt. Đàn mang theo thì ôkê, gà mang theo chỉ cho mệt.

Dzũng quan tài ngó Thích Thanh Bần:

– Tham sân si quá hả, nhà chùa?

Chú tiểu mỉm cười, chắp hai tay trước ngực:

– Mô Phật!

Đội cấp dưỡng cũng bị chuyển trại luôn nên sư tử nghỉ ăn cùng với các vị sĩ quan. Họ ngồi phơi nắng, mồ hôi chảy tầm tả suốt mấy tiếng đồng hồ. Đế 14 giờ, xe tải đến và đậu ngoài đường . Trực trại điều khiển chuyến đi. Vệ binh còng tay hai cải tạo viên chung một chiếc còng.

– Đội 1 khuân toàn bộ hành lý lên xe. Các đội khác ngồi tại chỗ.

Đúng 15 giờ, các xe tải quay đầu lại. Trực trại ra lệnh:

– Đứng dậy!

Hai mươi tám con sư tử xích đến gần nhau, cất tiếng hát:

“Đứng vững lên bao thanh niên yêu nước

Tiến về miền Nam miền quê hương ta nắng chói

Theo bước chân người xưa

Ta tiến lên đường ,ôi nắng mưa, sương gió ngại ngùng chi…

…

Đi về miền Nam, miền quê hương bông lúa tràn ngập đầy đồng

Đi về miền Nam,miền thân yêu đất rộng cùng chung đời sống…”

– Từng đội ra, khẩn trương lên xe!

Tiếng hát mỗi lúc một hùng hồn, tha thiết. Những người chuyển trại ngoảnh lại, vẫy tay chào sư tử. Nước mắt anh em ứa ra. Nước mắt sư tử cũng ứa ra. Nước mắt đã làm trôi đi mọi hiểu lầm, ghét bỏ hôm qua. Nước mắt bây giờ là gần gủi và nuối tiếc một ngày của một đời tù tội.

– Sư tử, ở lại vùng vẫy nhé! Yên chí, từ nay các anh chống tự kiểm.

– Các anh đi, bình yên… Hẹn ngày chiến thắng.

– Sư tử, không được đầu hàng!

Sư tử nghẹn ngào. Sư tử phóng ra lời son sắt:

“Việt Nam, Việt Nam tên gọi vào đời..

Việt Nam hai câu nói trên vành môi….Việt Nam nước tôi…!

Những người chuyển trại hát theo:

“Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam muôn đời…”

Nước mắt sư tử vẫn ứa ra. Sân trại trống vắng, buồn tênh. Nỗi cô đơn dàn trải mênh mông. Lần đầu tiên trong lịch sử nhà tù cộng sản, người ta dọn sạch một trại tập trung. Sư tử bám chấn song phòng giam nhìn ra cái khốn cùng của cuộc sống. Và những trái tim rộn rã ước mơ.

Ở phòng giám thị, ông Ủy viên dập điếu thuốc cháy dở:

– Ngay tối nay, đẩy hai mươi tám thằng bất trị xuống hầm đá!

Viết xong tại Ivry Sur Seine

10-10-1984

DUYÊN ANH

VŨ MỘNG LONG

Dấu Chân Ngày Xưa

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 17 Jan 2026

Google image

3. Bờ sông xưa

Sông Vệ, con sông ngoằn ngoèo bắt nguồn từ những con suối trong rặng Trường Sơn. Những con suối ăn sâu vào lòng núi thật xa trên quê hương làng mạc Quảng Ngãi của Trường An, Ðồng Kè, Ðồng Ú. Rồi những con suối họp lại thành sông. Sông chảy qua Vạn Xuân, Nghĩa Phú, Nghĩa Thuận, qua đồn Cộng Hòa, và nghiêng mình lách qua những vực thẳm cao vút của đèo Eo Gió, đèo Quán Thơm để đổ về đầu làng tại Bải Hà. Từ đây dòng sông không còn gập gềnh nữa. Lòng sông hiền hòa uốn mình quanh co qua từng làng mạc để cuối cùng đổ vào biền Ðông tại Cổ Lũy. Trước khi đến Bải Hà, lòng sông sâu, nhỏ và chảy xiết, một bên là sườn núi đèo Quán Thơm có dinh Bà, bên kia là chân núi Ðình Cương có dinh Ông. Hai dinh nằm đối diện nhau trên bờ sông, và cũng nơi đây người ta đã từng thấy cọp beo xuống sông uống nước trên hòn đá chải bên cạnh dinh Bà. 
Những người đi buôn từ miền xuôi thường mua mắm, muối mang lên miền thượng du để đổi lấy lâm sản như quế, trà, vân vân. Dinh Bà trên đèo Quán Thơm là con đường duy nhất mà bạn hàng từ Thi Phổ, Mộ Ðức, Ðức Phổ phải đi qua. 
Mỗi lần đến dinh Bà, những người bạn hàng thường ngã nón, vào dinh thắp cây nhan (vì sợ sự linh thiên huyền bí của cái dinh) rồi mới đi. 
Sau ngày “giải phóng” dinh Ông và dinh Bà cũng bị đập phá đi, nhưng ngày nay người dân đã tái lập và thờ cúng hằng ngày. 
Khúc sông chạy thẳng từ đèo Quán Thơm đến bãi Phù Sa. Nơi đây nó bẻ khúc quanh 90 độ để đổ về Ðề An, và chảy ra cầu Lá Hai (Ðá Hai), có đến bốn bờ xe nước. Bờ xe Chán Thủy đổ vào ruộng Rộc Máng bên An Chỉ; Bờ xe Xuân Ðình và Ba Bình đổ vào cánh đồng Sa Băng và bờ xe Mễ Hưng đổ vào cánh đồng An Ba. 
Ngày đó, ngày còn được chút thanh bình, nó đã lớn lên bên bờ con sông nầy. 
Những buổi chiều oi ả mùa Hè nó thường đem bầy trâu ra trầm mình dưới sông. Hôm nay, bắp đã ra hoa, cà đà ra nụ và ruộng đồng cũng đã lên bông, những con trâu chỉ có biết ăn chơi nên thân hình chúng mập nâng ra, da bóng loáng. Mới vừa thấy con nước là nó chạy như điên như khùng làm anh em nó bị ngã nhào xuống bãi cát. Những con trâu đen sì giờ đây chỉ còn thấy những cặp sừng nhấp nhô trong dòng sông, mũi thở phì phèo làm tung bay bụi nước. Trong chốc lát dòng sông yên tịnh giờ rộn ràng với bầy trâu và đám con nít la hò ầm ỷ bên tiếng reo của bờ xe nước. Xa xa trên bãi cát Ba Bình, người thiếu nữ đang giăng chiếc máy quay tơ. Trời vào tháng Bảy cái nóng càng ngày càng thêm ra. Bầy trâu đang ăn ở gò mã Cây Sanh, nóng qúa một vài con trâu chun vào vũng trâu lăn, lăn qua lăn lại làm bùn sình dính đầy mình. Nó đang đi lùng bắt mấy con châu chấu bào cào cho con chim Chà Chiện, vô tình bị con trâu quật cái đuôi sình bay lên dính đầy mặt, nó bực bội nhảy lùi ra xa vũng sình, rồi mắng “Mã cha mầy, mới tắm rửa hôm qua sạch bách mà bầy giờ lăn sình dơ hết trơn rồi, đồ ở dơ như trâu!” Con trâu cũng chẳng buồn nhìn nó nói những gì. Nó chợt nhớ không biết con chim Chà Chiện hôm nọ cho Mõ Làng nay lớn đến đâu rồi. 
Mặt trời xuống qúa xế chều, mấy con trâu mới ăn được lưng lững. Ngày nào cha nó cũng nhắc là phải cho trâu ăn no rồi tắm rửa sạch sẽ thì trâu nó mới mau lớn. Nhưng gò mã Cây Sanh ngày nào trâu bò cũng ra gặm nên lúc nào cũng láng cón như bãi cỏ sân cù, trâu ăn sao no được. 
Ánh nắng mặt trời sắp dịu lại rồi, anh em nó muốn lừa trâu ra sông tắm khi ánh nắng còn chút ấm áp trên bờ sông; Trâu còn đói thì tối về nó sẽ rút rơm cho ăn. Nó lấy giỏ bịt mồm (đan bằng nan tre hay giây giang bức từ trong núi) bịt mồm trâu lại để khỏi ăn lúa người ta. Rồi anh em nó trèo lên lưng trâu cho đi vào làng để ra sông. 
Những thửa ruộng lúa đang trổ đồng đồng, trải một màu xanh biết xa ngoài tầm mắt, chỉ một vài ngọn gió nho nhỏ cũng đủ làm những bông lúa non uốn mình đùa giởn trên khắp cánh đồng. Ngày đó nó cũng không biết thế nào là mùi thơm của lúa, nhưng nó thích bức bông lúa đồng đồng chứa đầy bộng sửa cắn ăn. 
Có lẽ từ ngày sinh ra nó chỉ biết vui chơi và lớn lên bên cánh đồng lúa, nên những lời ca tụng mùi thơm của lúa trong thi văn dường như không để ý đến và thấy nhạt nhoài, xa lạ. 
Những lúc ra đồng nó thường bức những hột bông é khô, nhỏ bằng hột lúa chín, bỏ vào lòng bàn tay rồi nhổ một giọt nước miếng lên đó. Nó chăm chăm nhình vào một lúc thì hột é khô nỗ kêu cái tách. Nó lấy làm lạ, vì sao một hột é khô khi bỏ vào nước miếng thì nó lại nỗ lên? 
Bầy trâu qua khỏi cổng bờ rào vi, nhìn lại thấy quần áo dính đầy bông cỏ may, nó đưa tay lên gỡ. 
Thân hình nhỏ bé, nó ngồi trên lưng trâu trông như con thằng lằn bu cột đình. Qua khỏi chòi canh nó đi ngang ngôi trường làng, ngôi trường bây giờ vắng lặng, cái vắng lặng của lớp học trong những tháng ngày mùa Hè! Và cô giào làng có lẽ giờ nầy cũng đang cặm cụi trên những luống khoai. 
Hôm nay dòng sông thật hiền hòa, nước trôi nhịp nhàng êm ả. Anh em nó cùng một đám con nít vội vàng chạy trên bãi cát nóng bỏng. Ðến bờ nước nó nhảy ùm xuống sông. Dưới cái nóng rực như thiêu như đốt lòng bàn chân, nó mới thấy cái mát êm dịu của con nước dòng sông quê hương là thiên đàng. 
Quê hương nó trải dài trên bờ sông nầy. Dòng sông rất hiền hòa nhưng cũng có những lúc mưa gió bão bùng làm điêu đứng dân làng. Những tháng trời không mưa gió, lòng sông chứa đầy những sỏi cát nên con nước lúc nào cũng trong veo. Dưới những hạt sỏi, cát đó, có biết bao nhiêu là sò, ốc, hến và cũng không thiếu một loại đặc sản của quê hương xứ Quảng: cá bóng. Những con cá bóng dồ to bằng cổ tay thì chui trốn trong bờ độn xe, còn những con cá bóng găm thì bơi lững lờ trong dòng nước, với một tiếng động là nó găm mình trong cát. 
Dường như ngày nào nó cũng bơi lội trong dòng sông nầy. Nó nhớ ngày đó, cái ngày mà nó bắt đầu chập chửng theo cha ra tắm sông. Nó sợ sệt mỗi lần cha nó ôm xuống nước, nó bám vào cổ cha như con đỉa đói, rồi cha nó hụp xuống nước một hồi thật lâu, ngóc đầu lên, nó thở hổn hển. “Ôm cổ tao cho cứng nghe hông.” Cha nó dặn. Rồi ổng lại hụp xuống nước. Một hồi hụp lên hụp xuống, bây giờ cha nó đặt lòng bàn tay dưới bụng rồi đưa người nó một vòng trong dòng nước, thả tay ra, nó đập hai tay tứ tung, hớp nước sông đầy bụng! 
Vậy là từ đó nó bắt đầu làm quen với nước! 
Những ngày sau đó nó theo anh ra tắm sông, nhưng nó chỉ dám bò bên bờ nước cạn. Rồi có những hôm đám con nít, những đứa biết bơi, bảo nó phải cho chuồn chuồn cắn rún mới biết bơi được. Vậy là nó bắt một con chuồn chuồn bầu, đưa rún ra và nhắc cái đầu con chuồn chuồn vào rún, nó cắn một cái! Ðau chết bà. Nó nhảy ra sông, với sự hổ trợ của anh nó, từ đó nó biết bơi! 
Bây giờ nó bơi thật hay, không những biết bơi mà nó còn biết lặn thật lâu dưới nước. Con sông nơi đây có nhiều cát và sỏi, nó hụp xuống nước rồi cắm mình lủi đến tận đáy sông, lấy hai chân đạp vào sỏi cát và lướt mình về phía trước. Cứ thế làm mãi, nó có thể lặn và di chuyển dưới nước thật xa. 
Những người thợ xe chuyên môn lặn hụp dưới nước để xây đắp bờ xe, nên họ là những người thợ lặn chì nhất trên khúc sông nầy. 
Hôm nay bên bờ xe nước nầy nó chia phe nhau chơi trò đá tôm. Mỗi bên năm ba đứa, hụp lặn dưới lòng sông, khi đến gần đối thủ thì phóng người lên mặt nước, và búng bàn chân đập lên người đối thủ rồi lặn xuống nước trốn ra xa. Bên nào bị đá trúng nhiều hơn thi bị thua. Có nhiều khi nó bị bên kia đá trúng vào vai vào đầu đau điếng người! 
Mặt nước phía trước những bánh xe trông rất bình thản, nhưng khi đến gần bờ xe thì nước chảy xiết và thường tạo nên những lổ bún, nguy hiểm cho con nít. Ngược lại phía sau bờ xe, nước chảy ào ào, xoi đất cát tạo thành những lường sâu và bọt nước tung bay mịt mù. 
Ðám con nít nó thường tắm phía sau bờ xe nước và mỗi lần ra đó nó hay đu lên bánh xe để kéo lên nửa chừng thì thả tay ra cho rớt xuống cái ùm. Có hôm nó đu lên bờ xe khi lên cao nó sợ quá không dám thả tay ra và bánh xe đưa nó lên tận trên đỉnh, nó với tay chụp cái máng và nằm trên đó sợ tái mặt. Ông thợ xe phải trèo lên cỏng nó xuống. Nó biết thế nào nó cũng bị một trận đòn nhớ đời mà nó vẫn bám cứng vào người ổng. Khi xưống đến mặt nước nó cố vùng vẫy lặn trốn nhưng ổng chụp nó lại không cho chạy đi, và mang nó lên bãi cát quất cho nó mấy roi đau chết người, xong rồi cột vào gốc bờ máng xe cho đến khi chiều về mới thả nó về. 
Hôm đó nó đau và sợ lắm, nhưng những ngày kế tiếp ra tắm bờ xe nó vẫn bu lên bánh xe, mặt cho ông thợ xe rập rình trong chòi. 
Bờ xe nước Ba Bình có dòng sông cạn nên phải làm bờ độn ngăn con nước lại để đủ sức đẩy bánh xe chạy đều. Những ngày đầu mùa của tháng Ba, trương cử, những người có phần hùn trong bờ xe đóng góp tre, lá mía và công sức xây dựng nên bờ độn. Khi những hàng cọc và phên tre cắm xuống giăng ngang qua con sông, và những lá mía khô được tấn lên hàng phên tre là từng cặp trâu bò được mang ra kéo cát tấp lên thành bờ độn như một con đê bắt ngang dòng sông. 
Người thợ xe trổ hai lổ cổng trên bờ độn gọi là lổ cổng gió để điều hòa mực nước. 
Có những lúc những chiếc thuyền, ghe từ dưới Vạn và những miền hạ lưu sông Vệ chuyên chở hàng hóa đem về miền thượng du buôn bán. Hoặc những chiếc thuyền xuôi mái chèo về miền biển là người thợ xe lại ra mở cổng gió cho thuyền lướt qua. Những lúc mưa to gió lớn, mực nước sông dâng cao thì hai lổ cổng gió cũng được mở ra để nước thoát giảm sức ép lên bờ xe. 
Bờ sông sau làng là một bãi cát trắng, rộng, trải dài từ bãi Hà đến bãi Phù Sa. Có những buổi chiều nó lội bộ dọc theo bờ sông lên tận Bải Hà và xuống tận đến bãi Phù Sa. Bải cát rộng hàng trăm mét trải từ mé nước đến bìa làng, nơi những lũy tre xanh, cao ngạo nghễ, đứng đón những ngọn gió chiều thổi rì rào. Trên bãi cát là những đám bắp, đậu phụng, đậu xanh, dưa hấu, v.v… và hàng hàng những đám dâu tằm được trồng ngay hàng thẳng lối. 
Không biết từ thời nào mà người dân trong làng nó bắt đầu trồng dâu nuôi tằm và dệt lên những tấm lụa làm đẹp cho đời. Những bãi dâu cao quá đầu người, già nua, được chặt xuống để làm thành những tấm vĩ, mành mành làm tổ cho tằm nhả tơ. Rồi trên những đám dâu già nua ấy lại nhảy chồi đâm nhánh thành những bãi dâu non, xanh biết, làm thức ăn cho tằm. 
Những buổi trưa, chiều, người thiếu nữ đeo gùi trên lưng ra hái những lá dâu (mulberry) về nuôi tằm. 
Cuộc đời con tằm bắt đầu như thế nầy: Những con ngài (moth) được nuôi dưỡng trong cái mâm, ngài sẽ đẻ trứng vào mùa Ðông, trứng sẽ được “ấp” theo nhiệt độ thích hợp và sẽ nở thành tằm (silkworm) vào mùa Xuân. Những con tằm sẽ được rải trong những tấm vĩ, đan chi chít bằng nhánh dâu khô, xếp dựng đứng từng hàng, và suốt ngày đêm tằm ăn dâu để lớn, và lớn rất lẹ. Khoảng một tháng sau (18- 28 ngày) tằm đủ lớn để vương tơ tạo thành kén (cocoon). Những sợi tơ óng ánh, dài có thể đến hàng ngàng mét, quấn tròn lấy con tằm nhiều nuột. Sau năm ba ngày con tằm nằm bên trong con kén sẽ biến thành con nhộng (pupa), nhộng sẽ bị luột chết đi để lấy tơ từ con kén, và một số được giữ lại để thành ngài làm giống cho lứa sau. Và cứ thế, cưộc đời con tằm lại xoay vần. 
Nhộng sau khi luột chết đi, sẽ được tách ròi khỏi kén và bán cho người dân dùng để ăn. Phần kén còn lại sẽ được bỏ vào một chậu nước âm ấm, rồi người ta tìm ra cái mối cuối cùng của sợi tơ, buột vào trục quay, và từ đó những sợi tơ rối bù từ kén được gở ra và quay vào trục. 
Chiều hôm nao trời nắng ấm, bên cạnh bờ xe nước, với tiếng nước reo rào rạt, là một bãi cát trắng với những bãi khoai lan, khoai mì được xét mỏng đem ra phơi khô. Trên bến sông tiếng gọi đò của bà mẹ già vội vàng qua sông cho kịp buổi chợ chiều, và đây đó một đàn con nít nô đùa trên bãi cát. Cũng trên bãi cát nầy người thiếu nữ giăng máy quay tơ để quay những sợi tơ tằm thành chỉ. Tơ được căng ra ở hai đầu máy và bàn tay thon thon của người thiếu nữ quay đều chiếc máy thủ công, tiếng máy kêu ro ro thật đều như cuộc sống êm đềm của người dân làng. Những sợi tơ óng ả sẽ được mang đi bốn phương để tô thắm cuộc đời cho kẻ giàu sang. Nhưng biết bao giờ người thiếu nữ đó mới thoát cảnh nghèo, hay suốt đời chỉ là con tằm vương tơ. 
Và chiều hôm nay, sau bao năm xa cách nó trở về ngôi làng cũ, đứng bên bờ sông xưa. Con sông hiền hòa ngày nào bây giờ khô cạn nước, bãi cát trắng nay thành màu vàng nằm im lìm bên bìa làng. Nhưng tiếng reo của bờ xe nước và lũ con nít nô đùa bên bờ xe đã vắng bóng lâu rồi. Nước không còn sâu nên ông lái đò cũng không còn nữa và hình bóng người thiếu nữ quay tơ cũng đã xóa mờ theo đám dâu tằm, và đâu đây nó nghe tiếng hò: “Em như tấm vải lụa đào, gió đưa, gió đẩy, biết vào tay ai.” 
Nó quay bước trở vào làng, miệng ngâm nga mấy câu thơ của bà Huyện Thanh Quan: 
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, 
Nước còn cau mặt với tang thương 
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ 
Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường.
 

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 16 Jan 2026

Bài 15.

Người bị hạ nhục

Về,

Một Người Bạn,

Một Đời Bằng Hữu…

                                                                                          Nguyễn Bá Trạc

Trước mặt ngôi trường trung học mới mẻ này là Trường Nam Tiểu Học Đà Nẵng, bộ dạng có phần bề thế hơn cả ngôi trường trung học của chúng tôi. Xế mặt trái ngôi trường, là “Mã Thánh Tây,” với những hàng thánh giá cũ kỹ, là nơi chôn cất những người Pháp từ thời thuộc địa. Đi lên vài trăm thước, dốc “Cầu Vồng,” phía dưới là đường xe lửa. Những buổi chiều đi học về, chúng tôi thường đua nhau gò lưng đạp xe đạp lên đỉnh dốc, rồi ngừng, mặc cho xe lao nhanh xuống. Rẽ sang bên trái là chợ Cồn, nhà Đặng Ngọc Khiết, rẽ sang bên phải là bãi biển Thanh Bình. Trên lối ra biển, qua góc đường Nguyễn Hoàng là trạm gác xe lửa, cũng là nhà ở của Phan Chánh Dinh. Đi vài chục thước nữa, là cư xá hỏa xa, nhà Lê Thị Như Hảo. Từ đấy rẽ sang bên trái, là ga Đà Nẵng, nơi những chuyến tàu cũ kỷ chở hành khách mang đầy thúng mũng, mỗi ngày một chuyến, chậm chạp kéo còi, nhả khói, rời Đà Nẵng qua Nam Ô, ì ạch leo dần lên đèo Hải Vân, luồn qua Hầm Sen, dọc bãi biển Lăng Cô, qua Nong, qua Truồi rồi ra đến Huế. Chúng tôi lớn lên ở Đà Nẵng vào những năm yên ổn.

Sáng sớm đi tắm biển. Trưa nắng đi tắm sông. Nhà Vũ Ngự Chiêu bên kia sông Hàn. Nhà Bùi Ngọc Tô ở Chợ Mới. Nhà Đồ Toàn bán tre tại đường Hoàng Diệu. Nhà Trần Trí Dũng ở gần Ngã Năm. Nhà Phan Nhật Nam ở đường Pasteur, góc sân vận động. Chủ nhật, chúng tôi rủ nhau đạp xe đi chơi xa: Lên núi Non Nước bên làng Mỹ Thị, đến chùa Bà Quảng ở làng Hòa Vang, hoặc đi xa hơn nữa, về Vĩnh Điện, Hội An.

Nhưng tất nhiên, không đi xa quá như sau này.

2. Khi định viết vài dòng về buổi ra mắt sách sắp đến của Phan Nhật Nam tại San Jose trên nước Mỹ, tôi không thể không hình dung lại ngôi trường cũ và thành phố xa xưa ở Việt Nam, nơi chúng tôi đã gặp nhau đã sống những tháng ngày hồn nhiên hạnh phúc, rồi chia tay, mỗi người theo một con đường định mệnh: Đặng Ngọc Khiết đi Biệt Kích, nhẩy ra Bắc, bị bắt xử tử rất sớm (Phan Nhật Nam có viết về cái chết này trong mấy cuốn sách cũ và hình như cả trong cuốn sách sắp ra). Trần Trí Dũng, ngôi sao sáng về thể thao, một cậu bé đẹp trai, tóc ngắn, nụ cười trong sáng: Vào Võ Bị Đà Lạt, vừa ra trường đã thiệt mạng ngay tại Đồng Xoài.

Đỗ Toàn, cậu học trò đánh đàn ghi-ta trong những giờ sinh hoạt hiệu đoàn, đi Không Quân, phi công, bị bắn hạ. Vũ Ngự Chiêu, Nguyên Vũ, tiền thám pháo binh, viết “Đời Pháo Thủ” và vài chục quyển sách khác, khi sang Mỹ cố bắt đầu học lại để lấy Tiến Sỹ Sử, nay tóc đã bạc nhưng vẫn lao đao lận đận. Bùi Ngọc Tô, Nha Sỹ Quân Y, từng cầm súng ở Dạ Lê, ở đồn Mang Cá, hiện mở phòng Nha tại San José, nhưng thường làm việc nghĩa nên không bao giờ giàu có. Lê Thị Như Hảo, hoa khôi của trường Phan Châu Trinh, tiếng nói êm ái nhất của Đài Truyền Hình Sài Gòn, năm vừa qua đã làm việc tận tụy để dựng Đài phát thanh Mẹ Việt Nam tại San José nhưng Trời vẫn chưa cho khá …

Nhưng trong những người bạn cũ của tôi ở thành phố Đà Nẵng xa xưa ấy, có hai người họ Phan, vào thuở bé thơ, họ thân nhau đáng kể: Phan Chánh Dinh và Phan Nhật Nam. Một người đang ở trong Trung Ương Đảng Cộng Sản, một người đã trải qua mười bốn năm tù cải tạo, trong đó có tám năm kiên giam, đã bị cùm kẹp trong mười bốn căn hầm cấm cố tử hình.

3. Vào thời gian viết cuốn “Ngọn Cỏ Bồng,” khi nghĩ về cuộc chiến Việt Nam, tôi thường nhớ mãi về hai người bạn học cũ này như một hình ảnh biểu trưng và đã nhắc đến họ nhiều lần trong cuốn sách. Nhưng lúc ấy, Phan Nhật Nam đang nằm trong một của mười bốn hầm cấm cố, vì sự an nguy của anh nên tôi không tiện nhắc tên.

 Họ thân nhạu từ bé.

 Khi nghĩ đến Phan Chánh Dinh, tôi thường nghĩ ngay đến một thiếu niên tóc phủ lòa xòa quá mi mắt, mỗi lần nói chuyện thường đưa thẳng ngón tay trỏ ra với một bộ điệu bộc trực – Và nghĩ đến những câu thơ anh làm năm đệ lục (lớp bẩy, thuở mười ba, mười bốn). Khi làm thơ đăng báo Bách Khoa, Dinh ký tên là Phan Duy Nhân, nhiều bài rất hay. Người ta chỉ có thể viết được những bài thơ như vậy vào lúc tâm hồn trong sáng nhất.

Khi gặp lại Phan Nhật Nam vào năm ngoái, lúc anh mới đến Mỹ, tôi có hỏi chuyện Phan Chánh Dinh tại nhà và cả trong một chương trình phỏng vấn của Đài phát thanh Mẹ Việt Nam, thì Nam vẫn còn đọc lại được nhiều bài thơ của Dinh. Có lẽ, cho đến tận ngày nay, sau bao vật đổi sao dời, người duy nhất có thể đọc thuộc được những bài thơ của Phan DuyNhân vẫn là Phan Nhật Nam.

Đấy không hẳn vì Phan Nhật Nam là người có một trí nhớ phi thường. Anh nhớ ngày sinh tháng đẻ của tôi. Anh nhớ rất nhiều chi tiết của nhiều người, nhiều chuyện khác vẫn làm tôi ngạc nhiên. Nhưng ngoài ra, đó là vì Nam vốn là người đối với bạn bè rất trung hậu.

4. Cha của Phan Chánh Dinh làm nghề gác cổng xe lửa, nhà nghèo. Cả gia đình sống quây quần trong một trạm gác vuông vức, chật chội, mỗi bề bốn thước, sát đường rầy xe lửa. Hình như em của Dinh bị đau ốm tật nguyền, tôi không nhớ rõ. Nhắc đến họ, tôi đã viết trong cuốn sách xuất bản mười năm trước là :

“…Có lần tôi nghĩ đến hai người bạn cũ, may ra họ có thể trả lời cho các câu hỏi của tôi. Họ là chuyên viên về các loài hoa, ấy là tôi ăn nói màu mè như vậy. Cả ba chúng tôi đã trải qua những tháng ngày ở một ngôi trường Trung học Đà Nẵng, lúc ấy là một tỉnh nhỏ êm đềm. Chúng tôi đua xe đạp, đi tắm sông, đọc thơ Xuân Diệu, Huy Cận. Một anh lúc bé đã có nụ cười hồn nhiên của thi sĩ. Anh mơ mộng hoa cỏ. Anh ta viết một câu thơ thế này vào năm mười ba mười bốn tuổi: “Thèm ăn một chút hoa sim tím, và nuốt hồn em vô trái tim …”. Cha anh là một người gác cổng xe lửa. Mỗi lần những con tàu già nua chậm chạp đến gần, ônglắc lư chiếc đèn dầu nhỏ, thổi vài tiếng kèn, đóng cản chặn xe trên đường lại. Tôi còn nhớ Đà Nẵng dạo ấy rất ít xe hơi. Phần lớn học trò chúng tôi đi xe đạp, thỉnh thoảng lại bóp chuông. Khi chúng tôi lớn hơn một chút, chiến cuộc dữ dội, anh đọc Mã Khắc Tư, bỏ ra khu, bị quân đội miền Nam bắt làm tù binh, đánh gẫy một hai cái xương sườn. Nghe nói bây giờ anh đã trở lại thành phố cũ. Còn người thứ hai là bạn thân của tôi cho đến lớn. Cha anh theo cộng sản ra Bắc từ lúc anh còn nhỏ. Mẹ ở miền Nam, một mình đi làm thư ký nuôi ba con, ung thư, thất nghiệp rồi qua đời. Chúng tôi thường cởi truồng tắm biển và sau này lớn lên mới biết, lúc bé bỏng ấy chúng tôi cùng thương mến một cô con gái mà chẳng ai dám bạo dạn ngõ lời. Anh ta là cựu Hướng Đạo sinh, thích làm việc thiện, rất “sợ ở tù”. Điều này nói có sách, mách có chứng. Anh trở nên một sỹ quan nhẩy dù bị lột lon nhiều lần chỉ vì anh vốn là người tử tế. Anh ta trở thành nhà văn. Bây giờ đọc lại sách cũ của anh, tôi thấy anh ta rất sợ ở tù, anh ta có nói rõ như vậy. Thế mà hạn tôi vẫn đang ở tù.

Hai người bạn nhỏ ấy và tôi, trong cuộc đời oái oăm đã cùng học chung một ngôi trường tỉnh nhỏ. Một anh người Quảng Nam, một anh người Huế, còn tôi, Bắc Kỳ di cư. Chúng tôi đã nằm bò ở sân trường viết bích báo. Đã đi xe đạp hàng tư, hàng năm, buông tay lái, nắm lấy tay nhau. Thật ra hai anh chàng kia thân nhau hơn. Một anh them anh một chút hoa sim tím và một anh … Họ đều là những người yêu thích thiên nhiên và hoa cỏ, nhưng mà tôi chỉ kể lược qua như vậy …

Đoạn văn ấy có một vài chi tiết sai, ví dụ đối với tôi, Phan Nhật Nam nói tiếng Huế, ấy là một người Huế, nhưng thật ra gốc gác không phải vậy. Còn các chi tiết khác đều đúng, nhưng tôi đã giản lược đi, hoặc chỉ không biết các chi tiết về sau. Những chi tiết giản lược đi, đó là Phan Chánh Dinh thoạt đầu theo các phong trào sinh viên tranh đấu ở Đà Nẵng, Phan Nhật Nam trở thành sĩ quan Dù, được lệnh đưa lính đi dẹp biểu tình.

Nam nhận lệnh phải bắn hạ tên cầm cờ dẫn đầu. Khi vừa nhận ra tên cầm cờ chính là Phanh Chánh Dinh, thằng bạn thân với mái tóc lòa xòa trên trán, chưa kịp phản ứng gì thì lính đã nổ súng rồi. Chuyện ấy tôi không nhớ rõ là Nam đã kể lại trong “Dọc Đường Số Mộ” hay “Dấu Binh Lua” hay “Mùa Hè Đỏ Lửa,” và hình như Nam có diễn tả nỗi chán chường của việc phải đưa lính đi dẹp biểu tình vào thời liên tục đảo chánh, chỉnh lý trong giai đoạn ấy. Và sau này, nói chuyện với Nam, mới biết Phan Chánh Dinh bị thương và đã theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

5. Cũng có những điều tôi không biết rõ mặc dù đã là bạn thân bốn chục năm trời. Ví dụ tôi biết ở nhà, bác Dung, mẹ của Nam, con Bi, con Bé, em gái của Nam đều gọi Nam bằng tên thân mật là thằng “Rốc”, anh “Rốc”, Lê Mễ, Tiểu đoàn trưởng Nhẩy Dù, bạn thân của Nam cũng thường nói về Nam với tôi bằng giọng Huế: “Mi có trộ thằng Rốc ở mô không hí!” Tôi không hề biết tên thật của Phan Nhật Nam là Phan Ngọc Khuê, sinh năm 1943, kém Bùi Ngọc Tô với tôi một tuổi, chứ không phải tuổi Ngọ lông bông như chúng tôi. Hôm nay, cầm bản thảo “Những Chuyện Cần Được Kể Lại” với phần mở đầu “Đôi điều về Phan Nhật Nam,” mới thấy ra tên tuổi như thế.

Cũng có những điều khác nữa sau này mới biết khi gặp lại: Cha của Nam theo cộng sản ra Bắc, chẳng chức tước lớn lao gì như người ta đồn đãi, cha con suy nghĩ  khác nhau, nhưng Nam vẫn giúp đỡ cha những khi cần thiết. Cha của Nam mới mất năm vừa qua. Mẹ chết năm Nam mười bảy tuổi. Em gái, Bé, tên thật là Phương Khanh tự tử những năm cộng sản mới chiếm miền Nam. Trên người Nam đầy những vết sẹo, những vết thương của những năm chinh chiến, tôi hãy còn nhớ những ngày vào thăm Nam băng bó đầy mình trong bệnh viện Cộng Hòa. Cộng thêm mười bốn năm tù cải tạo, gia đình chia cách. Suốt thời gian ở tù, nằm hầm cấm cố tử hình, hàng đêm chờ bịt mắt dẫn đi bắn bỏ. Thật quá sức chomột kiếp người và cho tinh thần một con người có thể chịu đựng.

Và tôi cũng biết chuyện Nam kể lại lúc Phan Chánh Dinh từ Hà Nội về Đà Nẵng với tư thế khác, thái độ khác. Ngày nay, là đồng chí Ng Ch phụ trách Tôn Giáo Vận trong Trung Ương Đảng, đã về Đà Nẵng xa xưa của chúng tôi như Pacha Antipov đổi thành Strelnikov trở về Mátxcơva. Và đã bảo, “đáng lẽ phải giết Phan Nhật Nam mới đúng”. Tôi vẫn hy vọng câu chuyện không đúng vậy. Nhưng nếu câu chuyện đúng như vậy, thế giới này là một chiếc tầu ngầm thiếu dưỡng khí đang ngạt thở chìm dần. Làm sao ngoi lên được?

6. Sau nhiều chục năm, Nam đã cầm bút trở lại với các độc giả của anh. Một cuốn sách sắp được ra mắt tại San José đúng ngày Chủ Nhật Ba mươi Tháng Tư, hai chục năm sau ngày miền Nam sụp đổ. Từ Houston, Texas, tuần rồi Nam điện thoại dặn tôi phụ một tay. Đúng lúc tôi cũng đang bận bịu ngày đêm để sửa chữa ấn hành cho kịp cuốn sách dịch cũng về ngày Ba mươi Tháng Tư, nên tôi chưa có thì giờ đọc cuốn bản thảo Nam gởi. Người đứng tổ chức, anh Bùi Đức Lạc và hội Gia Đình Mũ Đỏ đã cho in một tấm thiệp mời dự buổi ra mắt sách, đề là “Những Câu Chuyện Cần Được Kể Lại, bút ký của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, người bị hạ nhục quá nhiều.”

Hạ nhục, có lẽ đúng vậy. Bị giam giữ cùm kẹp mười bốn năm trời, nằm dưới hầm sâu để sống còn với khẩu phần vài trăm hạt bắp. Miếng cơm nắm, vài hạt muối. Để được hút một hơi thuốc lào phải dấu diếm dành dụm từng sợi thuốc, phải qua nhiều tháng rút từng sợi chỉ lén lút hong khô rồi tìm cách cọ, quẹt, châm ra lửa. Phải đối mặt cái chết với mỗi ngày đêm suốt mười bốn năm trường. Phải nghe những lời miệt thị. Phải ẩn náu trong bóng tối để dành sự sống. Quả là sự hạ nhục. Nhưng tôi muốn chính xác và ôn hòa hơn trong ngôn ngữ, tôi muốn đề nghị là: Mời thân hữu và độc giả đến dự buổi ra mắt sách của Phan Nhật Nam, người đã bị chúng ta đối xử quá bất công. Thượng Đế đã bắt Nam uống một chén quá đắng. Cha Cộng Sản, mẹ Quốc Gia, con đi lính đạn bom đầy thương tích, mẹ chết, một mình nuôi hai em gái, bị lột lon nhiều lần, đồng lương Đại úy không đủ ăn cơm tháng, đành gởi em nay chỗ này mai chỗ khác, viết văn phải chạy vạy từng xấp giấy. Vừa im tiếng súng là đối mặt bóng tối kìm kẹp của mười bốn năm tù đầy. Sang đến Mỹ, đang hồ hởi với tình bạn, qua cơn say đã nghe những lời vô tư cách. Tất cả thế giới từ Thượng Đế đến con người đều đã đối xử bất công với bạn tôi. Kẻ thù hạ nhục. Bạn hữu đối xử không công bằng. Khi còn nằm trong trong tay địch, chân tay còng kẹp dưới hầm sâu, người ta vẫn đòi hỏi Phan Nhật Nam phải làm anh hùng, người ta xưng tụng anh, trao giải thưởng chống Cộng cho anh mà không nghĩ đến việc thiệt hại cho sinh mệnh anh. Sang đây còn có kẻ lại hỏi anh sao không tự tử? Để làm anh hùng ư? Tất cả chúng ta đều đã đối xử bất công như thế.

7. Ở thành phố Đà Nẵng vào những năm bình yên xa xưa, đêm mùa hè, bọn trẻ chúng tôi thường rủ nhau bắt ghẹ, bên Mỹ này gọi là con cua xanh, blue crab. Bãi biển Thanh Bình, vì nằm trong Vũng Thùng, bãi phẳng thoai thoải, vào những hôm nước cạn, có thể lội rất xa mà nước vẫn không lên quá bụng. Những đêm không trăng, chúng tôi thường sắp sẵn lốp cao su để đốt: Một tay cầm lửa, một tay cầm những cây chĩa, chúng tôi vừa lò mò lội nước vừa nhìn xuống chân. Những chú ghẹ chắc nịch không bao giờ chạy đi đâu quá xa. Thấy ánh sáng, chúng luống cuống tìm cách ẩn mình dưới cát, chúng tôi nhìn kỹ, tiến đến bình tĩnh lấy chân dậm lên hoặc lấy chĩa chọc xuống. Bắt xong mớ ghẹ, cả bọn lên ngồi bên hàng dương liễu nướng ăn, rồi tráng miệng với những gánh chè đậu xanh đậu ván. Ai ăn chè đậu xanh đậu ván … Tiếng rao lanh lảnh mà mấy chục năm qua vẫn reo trong trí tôi. Những đêm hôm ấy, trong tuổi thần tiên của chúng tôi, bọn con trai ngồi quây quần bên đám lửa vừa ăn uống vừa nói cười những chuyện tầm phào. Như chuyện thầy Bùi Tấn dậy toán thường bắt chúng tôi phải viết những dấu bằng (=) một cách thật ngay ngắn từ trên xuống dưới. Như thầy Mậu dậy vẽ thường đánh đàn ghi-ta hát hỏng (một cách tức cười đối với chúng tôi) bài “Hò Kéo Gỗ Trên Sông Volga”: Dô tà dố tà, dô tà dố tà … Như Thầy Trần Tấn dậy Pháp Văn (Con xin lỗi vong linh Thầy) về việc thầy không có thói quen mặc quần lót, nên mỗi lần thầy đứng ghếch chân lên bục, đứa nào cũng phải chú ý đến một cái gì xề xệ bên trong cái quần của thầy. Khi bàn đến chuyện này, lũ chúng tôi vừa cười sằng sặc vừa hát theo điệu nhạc của bản “Tiếng Hờn Trong Gió” với những lời ca do chúng tôi đặt ra là:

“Cái gì to thế? Cái gì to thế trong cái quần?” Đứa to mồm nhất trong lũ chúng tôi, bao giờ cũng là Phan Nhật Nam. Hắn có thể nhái giọng La Thoại Tân. Hắn có thể bày đặt rất nhiều chuyện để làm cho chúng tôi vui cười, hắn muốn làm cho chúng tôi yêu mến và cảm phục. Cho nên ở trong trường, Phan Chánh Dinh có viết kịch thơ cho giờ sinh hoạt hiệu đoàn, không mấy ai vỗ tay, nhưng hễ Phan Nhật Nam lấy nhọ nồi vẽ râu, đóng vai thằng nhỏ láu lỉnh, bên cạnh một ông chủ lờ mờ (là tôi, vai này rất dễ đóng, không phải nói nhiều), thì bạn bè, nhất là bọn con gái đều ôm bụng lăn ra cười bằng thích.

Phan Nhật Nam cần tình thương từ thuở anh còn nhỏ. Anh học hành tử tế để được thầy thương, mặc dù không phải là loại học gạo và xuất sắc như Lê Chí Thảo (Đệ nhất Tham Vụ sứ quán Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Thịnh Đốn), hay là Lê Tự Hỷ, thiên tài toán (hiện là Giảng sư tại Đại Học Sài Gòn). Phan Nhật Nam đối với mẹ rất ngoan ngoãn và rất yêu thương mẹ. Anh thường nhắc đến mẹ nhiều lần trong những quyển sách của anh. Khi đi học, anh thường mặc những cái áo do mẹ may. Bác Dung, lúc còn sống là  thư ký Ty Cảnh Sát Đà Nẵng, lương thư ký chắc chắn rất ít, nhưng đã khéo may cho con một cái áo lạnh bằng vải bông màu đỏ, làm tôi cũng phải đến nhờ bác may cho một cái hệt như thế, mầu xanh.

Nam cần tình thương yêu của bạn bè, nên thích khôi hài, kể chuyện … Anh đội cái mũ rơm kiểu cao bồi bắt chước James Dean, bắt chước hề Jerry Lewis để bạn bè vui vẻ, bạn bè thán phục cố đạt sự thương yêu, và Nam đối với bạn bè như tôi đã nói, rất là trung hậu. Những người bạn học cũ, đến bây giờ, ai cũng quý Nam. Những người bạn lính của Nam, những Lê Mễ, Phạm Như Đà Lạc, Lô, Lã Quý Trang, Nguyên Vũ … rất nhiều người khác nữa đều là những người bạn lâu dài và sinh tử của Nam. Nhu cầu thương yêu ấy mặt khác có làm khổ lụy cho Nam, vì đàn bà không thể chia xẻ tình yêu như những bạn trai. Và tôi nghĩ rằng nhu cầu cần được thương yêu ấy đến từ lý do vì anh thiếu cha từ nhỏ.

Nhưng cả thế giới này đã khai thác và lạm dụng nhu cầu cần được thương yêu của Nam. Nam đã pha trò, Nam đã quý bạn, Nam đã chiến đấu, Nam đã viết, Nam đã làm nhiều thứ đáng để được thế giới hiểu biết và thương yêu. Nhưng thế giới quanh Nam đã không tử tế như thế. Người ta đã bắt Nam cho thì nhiều mà đáp ứng lại thì ít công bằng, xứng đáng và đầy đủ. Với bẩy lần thương tích thừa chết thiếu sống, tốt nghiệp khóa 18 Võ Bị Đà Lạt, khi cuộc chiến chấm dứt, Nam vẫn chỉ là một Đại úy (Sau nầy mới rõ chỉ là đại uý

“nhiệm chức”, nghĩa là trung uý thực thụ). Với sáu cuốn sách rất chạy, Nam không bao giờ có tài sản, lúc ở Sài Gòn có căn nhà đường Trần Nhật Duật là do Cẩm buôn bán giỏi rồi mua được. Trong thời gian Nam nằm trong hầm tối ở Việt Nam, bên Mỹ bên Úc bên Tây bên Gia Nã Đại, suốt từ 1975, cùng một lúc với việc in lại những loạt truyện Kim Dung, là những quyển sách của Phan Nhật Nam. Người ta thi nhau lấy sách Nam chụp ra, in lại, những quyển sách viết bằng máu và nước mắt trong những trận chiến mà Nam tham dự, nhưng không hề ai tìm cách gửi cho Nam một khoản thù lao nhỏ gọi là để giúp cho một tác giả nằm tù, hoặc để giúp đỡ qua gia đình anh. Ngày đến Mỹ, Nam xuống vùng Nam Cali, đến một tiệm sách trong Khu Phước Lộc Thọ, của nhà xuất bản X … Một của những trung tâm in sách Nam hằng mười lăm, mười tám năm qua … “Chúng tôi không biết anh là ai hết … Chúng tôi chỉ biết bán sách … ” – Nam nhận được câu trả lời như thế.

Tôi nghĩ thế giới không công bằng với Nam.

8. Ngày hôm nay, người Cộng Sản muốn thay đổi. Bản thân tôi cũng lấy làm mừng vì thứ nhất, tôi không thấy có giải pháp vũ lực để làm việc ấy, thứ hai, dẫu có, tôi cũng không mong muốn nước ta lại lâm vòng chiến trận đau thương. Khi nói chuyện hòa hợp hòa giải, bản thân tôi vẫn tin đấy là nguyên tắc tốt về phương diện đạo lý. bản chất người Việt Nam đều muốn có sự hòa hợp hơn sự tranh chấp tương tàn. Mọi tranh chấp, chia cách trong lịch sử Việt Nam sớm muộn đều lui vào dĩ vãng. Nhưng có lẽ, bản thân tôi cũng như nhiều người khác, khi nghĩ đến “hòa hợp hòa giải” về phương diện chính trị, cũng đều e ngại thắc mắc tự hỏi: Đấy chỉ là khẩu hiệu hay thực tâm? Chính vào thời điểm này đây, người Cộng Sản phải trả lời. Riêng về một người bạn cũ, Phan Chánh Dinh, nếu những chữ này có tình cờ lưu lạc đến tay anh, liệu anh có thể gửi được cho Nam những lời xin lỗi? Để dẫu muộn màng, anh vẫn có thể chứng tỏ được ý niệm công bằng mà có lẽ vào thời chúng ta thơ ấu, anh đã tin khi tìm đọc Mã Khắc Tư?

9. Có một đêm vào mùa hè năm ấy, lũ chúng tôi ngồi trên bãi biển Thanh Bình sau khi đã bắt được một mớ ghẹ. Bên đống lửa, chúng tôi vừa nướng ghẹ ăn, vừa pha trò nhảm nhí. Như thường lệ, người ồn ào to tiếng nhất vẫn là Phan Nhật Nam. Nhưng sau khi mọi câu chuyện dí dỏm để làm chúng tôi cảm phục và thương yêu của anh đã cạn dần, Phan Nhật Nam có một sáng kiến. Anh biểu diễn làm xiếc. Nhân tiện chúng tôi có khá nhiều cao su lốp dùng để đốt lửa bắt ghẹ, anh vác ra một cái bánh xe hơi cũ. Anh bới cát, dựng lên rồi châm lửa đốt. Khi lửa đã bắt đầu cháy đều chung quanh vòng tròn cái bánh xe cao su, anh nhắm cái bánh xe, bước lùi lại rồi bảo chúng tôi: Bây giờ hãy xem đây. Anh cởi trần, thân hình chắc chắn không có vẻ gì lực sĩ như những Trần Trí Dũng (chết ở Đồng Xoài), như Đặng Ngọc Khiết (Biệt Kích, chết ngoài Bắc), tuy nhiên cũng không đến nỗi quá mảnh mai như Bùi Ngọc Tô (Nha sĩ San José). Anh ta mặc một cái quần đùi đen, hai bên có hai sọc trắng, mốt của chúng tôi vào những năm “năm mươi”. Trước những cặp mắt ngưỡng mộ và yêu mến của bạn bè về lòng can đảm, anh nghiêng mình phóng tới, cố nhẩy lọt qua vòng tròn bánh xe. Y như một ông cọp trong những phim hát xiệc chúng tôi xem ở rạp xinê Ngã Năm, hoặc rạp xinê Chợ Cồn, Đà Nẵng.

Nhưng anh Rốc nhảy qua không lọt. Anh Rốc mắc kẹt ngay giữa cái bánh xe cao su đang cháy khét lẹt. Mủ cao su nóng bỏng chảy nhễu xuống với những ngọn lửa xanh lè đốt xèo xèo trên lưng anh Rốc. Anh Rốc đã nghiến răng chịu đau để được anh em thán phục vỗ tay. Nhưng hôm ấy, chắc bác Dung đã chảy nước

mắt khi nhìn vào lưng con trai. Đấy là những vết thương đầu tiên trên thân hình Phan Nhật Nam trước khi bị mổ xẻ khâu vá bẩy lần sau này trong cuộc chiến.

VẪN NHƯ LÀ NGÀY XƯA.

MÙA HÈ, 1995

Người chết tên ghi trên Bức Tường. Người sống đắng cay.

Người lính bị hạ nhục …. Tất cả đồng thiện thực điều cao cả:

Người CHIẾN ĐẤU và TỰ DO

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 16 Jan 2026

Bài 16.

Thác chảy trong đầu

Trong những Lá Thư viết ở Cối Xay Gió, Alphonse Daudet đã kể lại sự tích Người Có Bộ Óc Vàng. Câu chuyện tànkhốc của một chàng trai, nhân bị tai nạn, đã để lộ cho cha mẹ thấy mình có một bộ óc bằng vàng khối. Ngay sau đó, kho vàng được khai thác. Lần lượt gia đình, bè bạn, rồi ngay đến cả người yêu của

chàng trai khốn khổ, kéo đến làm việc ở mỏ vàng ấy. Cho đến một ngày, chàng thiếu niên, hai bàn tay đầy máu, móng tay tuột hết, cậy nốt mảnh vàng còn sót lại trong đầu. Daudet kể chuyện ấy như một ngụ ngôn nói lên tình cảnh của người lao tâm khổ trí; nhưng tôi chỉ thấy trong đó có nỗi uất hận của một thi sĩ mà tâm hồn đã bị thương tổn nặng nề. Tuy nhiên, ngày kia, trước một trường hợp cực kỳ bi đát, tôi mới hiểu rằng sự thật ở cõi đời này đôi khi còn vượt quá xa trí tưởng tượng phong phú và táo bạo nhất.

Tôi đang đi thăm bệnh buổi sáng như thường lệ thì được báo  có bác sĩ Richter, y sĩ trưởng và giám đốc một bệnh viện lớn ở Ruhr, muốn nói chuyện với tôi qua điện thoại.

– Xin lỗi đã làm phiền anh, anh Killian. Mới đây, tôi có đọc trong Tạp chí Y-học, một bài của anh viết về những bướu hơi (1) …Bài rất hay … vì thế tôi mong anh sẽ nhận giùm tôi một “ca” … Bệnh nhân này có một bướu hơi trong đầu, to bằng quả trứng vịt; hơn nữa, nước trong óc chảy ào ào qua lỗ mũi trái, như thể có cả một cái thác trong đầu. Áp suất nước trong đầu rất cao … Để tôi gửi đến anh xem.

– Được lắm, tôi đang muốn thử chữa xem sao. Thực tình, tôi rất nóng lòng được khám người bệnh này. Trong bài báo của tôi, tôi đã tóm tắt tất cả các trường hợp bướu hơi mô tả trong những tài liệu y khoa từ trước tới giờ, rồi thêm vào một ít nhận xét riêng. Tất cả chỉ có 27 trường hợp, và thế là giờ đây tôi sắp được khảo sát trường hợp thứ 28.

Bác sĩ Richter tiếp lời:

– Vậy thì còn gì bằng. Nhưng lúc nào tôi gửi bệnh nhân đến anh được?

– Càng sớm càng hay. Dù sao cũng nội nhật hôm nay thôi chứ!

– Thế cũng được. Chắc bệnh nhân sẽ đến anh vào lúc chập tối. Vả lại không phải chỉ có mình ông ta thôi đâu. Tội nghiệp, cả một đoàn tùy tùng gồm ba ông lớn trong Sở đi theo. Khó chịu lắm đấy, vì ba vị này bám lấy bệnh nhân dai như đỉa đói, hòng móc cho được một phương thức gì đó. Rồi anh xem, nếu họ không đến quấy rầy anh ngay từ chiều nay, thì muộn lắm cũng là sáng mai. Thôi chào anh, chúc anh và bệnh nhân của anh may mắn nhé!

Khoảng 6 giờ chiều, người ta vừa cho tôi biết bệnh nhân đến, thì chừng một phút sau người gác cổng bệnh viện báo rằng có ba ông khách xin gặp tôi ngay vì “có việc rất khẩn cấp”. Tò mò về những lời giải thích nửa chừng của bác sĩ Richter tôi nhận tiếp họ ngay, trong khi tôi cho đặt bệnh nhân nằm trong một phòng yên tĩnh. Trông ba ông khách theo sau người nữ thư ký của tôi bước vào, tôi bỗng liên tưởng đến những ống đại quản cầm. Người đầu tiên nhỏ thó, theo sau là một ông người tầm thước và ông đi đoạn hậu cao xấp xỉ hai thước. Ông nhỏ người nhất, khoảng năm mươi tuổi, đầu sói bóng, bụng phệ, da dẻ hồng hào, tia mắt khắc nghiệt, bắt đầu tự giới thiệu là tổng giám đốc một xưởng đúc  sắt lớn, hai bạn ông: người cao vừa là giám đốc kỹ thuật, còn ông cao nhất là trưởng phòng nhân viên.

Ngồi chưa nóng chỗ, ông giám đốc vào đề ngay:

– Thưa giáo sư, chúng tôi đến để xin hầu chuyện giáo sư về ông bạn Reinhardt, bệnh nhân vừa được bác sĩ Richter gửi đến giáo sư. Ông Reinhardt là trưởng phòng nghiên cứu trong xưởng chúng tôi. Giáo sư chắc đã được kể rõ về tai nạn của ông ấy.

Tôi ngắt lời:

– Chưa đâu ạ!

Ngạc nhiên, ông khách nhíu mày như tỏ ý không bằng lòng, rồi ông giải thích:

– Ông Reinhardt bị tai nạn xe hơi khi ở Thụy Sĩ về. Xe hơi trượt bánh, đâm nhào xuống dốc xa lộ. Anh tài xế chết ngay tức khắc, còn Reinhardt thì bị thương nặng ở đầu, được chở về nhà thương, tính đến nay chừng gần ba tháng. Điều tai hại và bi đát cho chúng tôi là như vậy mất một công thức rất cần cho sự sống còn

của hãng.

Đến đây có lẽ tôi đã lộ vẻ bỡ ngỡ, vì thế ông ta vội vàng tiếp luôn:

– Đây, thưa giáo sư, sự thực nó như thế này. Từ mấy năm nay hãng tôi có thử một máy tua-bin phóng lực. Máy này nếu thành công sẽ làm đảo lộn các phương cách sản xuất năng lượng từ trước đến nay. Chúng tôi đã tốn kém nhiều lắm mới thử xong tất cả mọi thứ được một năm nay. Thế mà khi hoàn thành xong kiểu mẫu đầu tiên, chúng tôi mới thấy là kim loại dùng để đúc tua-bin yếu quá, không chịu nổi sức mạnh của máy. Chúng tôi cho phòng nghiên cứu thí nghiệm lại. Thế là lại tốn thêm mấy mươi triệu nữa. Nhưng tiền tiêu không uồng vì chỉ có mấy tháng, Reinhardt đã tìm cách chế được một hợp kim mới, có thể nói là mạnh đến đâu cũng chịu được.

“Bây giờ chắc giáo sư đã thông cảm việc tại sao tai nạn xe hơi này thật là một thảm họa đối với chúng tôi. Dạ, ông kỹ sư trưởng chúng tôi bị mất trí nhớ! Giáo sư có thể tưởng tượng nổi điều này ảnh hưởng đến chúng tôi ra sao không? Nghĩa là, không có phương thức của hợp kim này chúng tôi không thể nào chế tạo được loại máy tua-bin phóng lực mới, chúng tôi sẽ mất bao nhiêu “còm-măng” tính ra đến hơn mấy trăm triệu bạc.

Tôi cũng chưa có thể biết xưởng còn tiếp tục làm việc được nữa hay không. Tóm lại những hậu quả của tai nạn này chắc chắn không thể nào lường được!”

Rút khăn tay ở túi ra, ông lau rất lâu chiếc đầu hói trên đó long lánh mấy giọt mồ hôi.

– Xem nào, tôi nói, chắc thế nào trong các hồ sơ lưu trữ của công ty cũng phải có những điều ghi chú hay những con tính liên hệ đến phương thức hóa hợp của chất hợp kim này chứ?

Ông ta giơ cao hai tay lên trời rồi nói lớn:

– Dạ, thế mới đến nông nỗi bi đát này! Chắc chắn Reinhardt đã ghi rõ phương thức ấy, nhưng hiềm một nỗi chúng tôi tìm mãi không ra. Chắc đã bị cháy cùng với những giấy tờ khác trong cặp vì chiếc xe bị cháy rụi. Thật là một lỗi lầm không thể tha thứ được của ban giám đốc kỹ thuật: họ quên không làm một bản sao mật cho những giấy tờ ấy. Bởi vậy cho nên, bây giờ …

Ông Tổng giám đốc ném một cái nhìn hằn học về phía ông Giám đốc Kỹ thuật. Ông này từ nãy mặt ngơ ngác và chảy dài nay ửng hồng.

– Chắc ông Tổng giám đốc quên rằng cách đây ba năm chúng ta đã bị một vụ gián điệp đánh cắp tài liệu kỹ nghệ tối mật. Còn về phần tôi, tôi thiết tưởng điều hiển nhiên và tối cần thiết là, sau vụ ấy ông Trưởng phòng nghiên cứu …

Ông Tổng giám đốc cắt ngang, giọng hách dịch:

– Thôi. Việc này cứ để đấy!

Rồi ông lại quay về phía tôi.

– Đã kết thúc những điều tôi vừa trình bày với Giáo sư về tình trạng này, xin phép cho tôi được tóm tắt lại những việc đã xảy ra sau tai nạn này. Trong vòng ba tuần lễ Reinhardt như ngây như dại; khi chúng tôi đến thăm, tội nghiệp anh cũng không nhận ra chúng tôi nữa. Khi anh ấy có thể về được nhà tĩnh dưỡng, chúng tôi đã nuôi lại tin tưởng. Anh Trưởng phòng nhân viên đây – ông hất đầu về phía người khổng lồ – cũng đã nhiều lần đến thăm Reinhardt. Anh đã kiên nhẫn hỏi đi hỏi lại nhiều lần mong rút cho được phương thức. Nhưng khốn thay, cố gắng thế nào cũng vô vọng. Tôi lắc đầu. Tôi tưởng tượng thật dễ dàng những buổi “hỏi cung” ấy đã là một cực hình cho bệnh nhân. Tôi nói, giọng hững hờ và dửng dưng:

– Thưa các ông, không biết các ông mong đợi gì ở tôi?

Ông Giám đốc kỹ thuật kêu lên:

– Dạ, tìm cái phương thức ấy ạ.

Còn ông Tổng giám đốc thì có vẻ tế nhị hơn.

– Thưa Giáo sư, chúng tôi mong rằng Giáo sư sẽ giúp anh bạn khốn khổ của chúng tôi tìm lại được trí nhớ.

– Vâng. Tôi hiểu. Thế các ông cho là tôi có thể giúp như thế nào?

Ông khổng lồ tiếp lời:

– Dạ chúng tôi xin góp ý kiến ạ. Sau tai nạn thảm khốc này, chúng tôi đã nghiên cứu về kết cấu của bộ não con người ta. Nếu chúng tôi không lầm thì, hiện nay, chúng ta có thể biết chính xác vị trí trên vỏ não của những vùng điều khiển các cơ năng tâm linh. Ví dụ có trung khu vận động, có trung khu xúc giác, hay lại có những trung khu tính toán, hiểu chữ viết cùng phân biệt màu sắc, v.v … Ta có thể họa một bản đồ của não và mỗi khu có nhiệm vụ điều khiển mỗi cơ năng. Trong trường hợp anh bạn Reinhardt chúng tôi đây, thật hiển nhiên là trung khu trí nhớ đã bị hư hại. Nhân tiện đây, thưa Giáo sư, chúng tôi cũng xin mạn phép được hỏi Giáo sư vài điều. Xin Giáo sư chỉ giáo cho. Thật ra trí nhớ hay ký ức là gì và nói rộng ra ý tưởng là gì? Chúng ở vị trí nào trong óc? Tôi nén mình cố không đứng phắt dậy. Ông này muốn trêu gan mình chăng? Dĩ nhiên, với tư cách một người ở ngoài y khoa đã có công “nghiên cứu và sưu tầm tài liệu”, ông ấy không biết tôi thật đang bối rối. Ký ức là gì? Ý tưởng là gì? Thật ra tôi có một   định kiến cóc khô nào đâu … ai mà biết được …

Dè dặt, tôi lên tiếng:

– Vâng, tôi hiểu ông muốn nói gì. Và trong một phạm vi nào, tôi đồng ý lối suy luận của ông. Thật vậy có khá nhiều trung khu trong não. Sau hàng ngàn công trình nghiên cứu và khảo sát, ta có thể định được vị trí và cơ năng của chúng trên một bản đồ vỏ não. Có những trung khu vận động chỉ huy cử động của một bắp thịt hay một số bắp thịt. Lại còn những trung khu có nhiệm vụ kiểm soát cảm giác hay thị giác. Như vậy, khó mà định nghĩa được ý niệm về ký ức hay ý tưởng. Tôi xin thử trình bày đại khái để ông có vài định kiến tổng quát.

Tất cả những khích động thu được hoặc ở mặt da hay bởi những giác quan hoặc trong cơ thể đều được dẫn truyền lên não. Ở đó chúng gây những cảm giác hay những cảm thức và do đó sẽ tạo những phản ứng. Lại nữa, một sự kích thích thường trực, hay ít ra liên tục, có thể tạo thành những kỷ niệm. Những kỷ niệm này nếu còn ấn tượng có thể được óc cho cất giữ vào kho, chúng tạo những “hình ảnh tinh thần” tùy ứng với tình cảm con người như lòng ham muốn, nỗi thất vọng, niềm lo sợ …

Nói một cách tổng quát, toàn thể những kỷ niệm này và những hình ảnh tinh thần này được gọi là trí nhớ hay ký ức. Khi óc biến đổi chúng thành những ý niệm mới, nó hoàn thành một công việc mà ta gọi là ý tưởng, sự biến đổi này sinh ra những định kiến mới, tạo cả một liên hệ những biểu tượng cụ thể và trên một bình diện cao siêu hơn, tạo những ý niệm trừu tượng. Sau khi tạo được liên hệ này không những ta có khả năng tái tạo mà lại còn có khả năng sáng tạo đặc kỳ hay phát minh. Bây giờ, từ những khái niệm ấy ta có thể đi đến kết luận nào? Rằng, ý tưởng và ký ức là một sự cố gắng của toàn thể não bộ. Nói cách khác, không có một trung khu đích xác nào cho ý tưởng và ký ức. Rất có thể, ký ức phần nhiều đặt cơ sở căn bản nơi những hình ảnh tinh thần mà tôi vừa nói. Nhưng ta không biết những hình ảnh tinh thần này đặt vị trí ở đâu. Bởi không có trong khu ký ức nên ta không thể mổ và hàn gắn lại, ngõ hầu vãn hồi trật tự. Điều ta có thể làm được là làm sao chữa khỏi trạng thái bệnh lý đã gây ra chứng mất trí nhớ này, với hy vọng là sau một thời gian trí nhớ sẽ tự nó bắt đầu làm việc trở lại. Tôi nhận thấy rằng những lời giảng giải này có tác dụng như  một gáo nước lạnh đổ vào người giữa mùa đông cóng rét: ba ông khách của tôi lúc vào văn phòng như muốn ra lệnh, nay có vẻ như rụng rời sửng sốt. Có thể tôi cảm thấy thỏa mãn một phần nào nếu cuộc tiếp xúc này không có tính cách trang trọng và bi đát, như sinh mạng một người bệnh đang lâm nguy.

– Vậy, tình trạng này không giản dị như các ông tưởng đâu. Ta chỉ có thể hy vọng là sau khi mổ áp suất quá lớn mà bộ óc của ông cộng sự viên của các ông đang phải chịu đựng sẽ hạ xuống. Rồi, dần dần các cơ năng tâm linh bình thường của não sẽ lại có thể phục hồi và biết đâu trí nhớ cũng sẽ tìm lại được.

Ông Tổng giám đốc là người đầu tiên định thần lại.

– Tóm lại, giáo sư định sẽ làm gì đây?

– Trước hết tôi còn phải khám người bệnh – Tôi chưa nhìn thấy ông ấy. Xong, khi nào định bệnh được, tôi sẽ quyết định sau. Chứ bây giờ tôi không thể nói hơn được gì nữa. Họ đứng dậy và từ giã tôi thật nhanh chóng. Riêng ông Trưởng phòng nhân viên cố che giấu sự bực dọc của mình. Khi bước vào căn phòng dành riêng cho Reinhardt, tôi thấy các nhân viên di đặt bệnh nhân nằm rất cẩn thận, ông ta nằm ngửa và thẳng, đầu đặt hơi cao lên. Nghe thấy tiếng động, cô y tá, đang ngồi đầu giường để coi sóc cho bệnh nhân, quay lại, vẻ mặt lo âu, hùng hồn hơn cả lời nói, đã báo cho tôi trước trường hợp này nặng lắm.

Xanh như tàu lá và trên mặt còn ghi hằn nét khổ đau, Reinhardt đang đắm chìm trong trạng thái kinh hoàng gần như vô giác vô tri. Bộ mặt này xưa chắc phải đạo mạo như những bộ mặt khả ái của những nhà bác học khảo cứu, nhưng bây giờ xấu hẳn đi vì hai vết sẹo còn đỏ tươi. Một vết đi từ gò má bên trái chạy tuốt xuống cả má, và một vết ngoằn ngoèo ở phía trái vầng trán. Hơn nữa cả vùng trán này hơi xẹp xuống. Thêm vào đó cung mày lún xuống nên mắt trái có vẻ nhỏ hơn. Mặt bệnh nhân vì thế bị méo mó và không đối xứng.

Tôi khẽ gọi tên bệnh nhân. Người bệnh tuy quay mặt một cách rất chậm chạp và nặng nề về phía tôi nhưng không thể hướng tầm mắt nhìn tôi. Tình trạng ngây dại đã khiến bệnh nhân không thể điều khiển được mắt mình. Rõ ràng ông ta đang cố gắng trả lời; nhưng vì trạng thái vô lực ủ rũ nên ông chỉ có thể phác một nét nhăn nhó đau đớn. Tiến gần lại giường, tôi nắn phía trái vầng trán: tôi sờ thấy rõ các mảnh xương gồ ghề, hậu quả của tai nạn. Người bệnh phác một cử chỉ mệt mỏi như muốn đẩy tay tôi ra, có lẽ vùng trán này rất nhạy cảm và bệnh nhân đau đớn lắm.

Tôi bàng hoàng khi sờ vào cổ tay bệnh nhân. Mạch nhảy rất chậm – năm mươi bốn lần trong một phút – chứng tỏ rõ ràng là trung khu phế vị bị kích thích, sự gia tăng áp suất trong xương sọ. Hiện tượng thường xảy ra sau khi xương sọ bị dập vỡ và kèm theo là chứng xuất huyết trong não; cần phải trông nom và theo dõi cẩn thận lắm. Thật vậy nếu mạch nhảy dưới năm mươi lần một phút – bốn mươi sáu hay có khi bốn mươi hai – tính mệnh người bệnh bị lâm nguy có thể chết ngay được và bắt buộc y sĩ giải phẫu phải mổ ngay sọ ra xem để đối phó kịp thời. Tôi ra lệnh cho cô y tá cứ cách nửa giờ bắt và ghi mạch một lần, và phải báo cho tôi ngay nếu mạch còn xuống nữa.

Tôi đo áp huyết. Con số hơi lên và biên độ [amplitude: khoảng giữa hai số áp huyết cực đại và cực tiểu] cũng vậy. Nhịp thở lại còn làm tôi lo ngại hơn nữa. Người bệnh thở từng lúc, nhịp ngắn và không đều, khiếm khuyết thường hay xảy ra khi có vết thương trong não. Tôi chưa kịp tháo máy đo áp huyết ở cánh tay ra, bệnh nhân bỗng nhiên buồn nôn. Như bị mắc nghẹn ở cổ, bệnh nhân chống khuỷu tay lên giường để cố ngồi dậy và xoay nghiêng mình nằm sấp – lần đầu tiên tôi thấy một chất lỏng trong như nước từ lỗ mũi trái chảy ra. Cứ mỗi lần bệnh nhân buồn nôn, nước lại chảy ra và dần dần rỏ giọt lên gối. Thì ra đó là chứng chảy nước mũi mà Bác sĩ Richter đã nói với tôi qua cuộc điện đàm vừa rồi. Hiển nhiên tôi không thể để bệnh nhân trong tình trạng này mãi, ngồi bên thành giường, tôi suy nghĩ tìm một phương cách nào tốt nhứt để hạ áp suất nước trong đầu và giảm sự kích thích trung khu phế vị. Bởi hai chứng này do bướu hơi “to như quả trứng vịt” mà anh bạn đồng nghiệp tôi đã khám phá được trong hình quang tuyến chụp thùy trán bên trái của não. Thoạt tiên tôi nghĩ sẽ chọc thùy não qua xương sọ để hạ bớt áp suất khí trong bướu. Nhưng ngay sau đó, tôi liền bỏ ngay giải pháp này. Bởi tôi sẽ phải thường trực để cái “canule” cốt tránh cho bướu hơi khỏi đầy ắp không khí mỗi khi bệnh nhân nôn ọe hay ho húc hắc và như thế có nghĩa là não sẽ bị nhiễm trùng.

Phải tìm một giải pháp khác. Tôi kê đơn cho tiêm hai ống morphine và atropine, vừa làm dịu đau, vừa làm dịu dây thần kinh não thứ mười nghĩa là thần kinh phế vị. Tuy tôi biết chắc, bất đắc dĩ lắm mới kê chất morphine trong trường hợp não bị thương bởi lại có thể gây nhiễu loạn nơi trung khu hô hấp. Nhưng trong trường hợp vô vọng này, tôi không có quyền lựa chọn. Tôi lại còn bảo anh y sĩ trực, cứ hai giờ, tiêm vào tĩnh mạch một dung dịch glucose thượng đẳng. Chất glucose sẽ làm mất nước trong cơ thể đi; tôi hy vọng do đó sẽ làm hạ áp suất trong đầu. Dĩ nhiên tôi nói với cô y tá đêm nay đừng cho bệnh nhân uống một giọt nước nào. Tôi đã ở bên giường bệnh nhân hơn hai mươi phút. Vừa ra khỏi phòng bệnh tôi gặp ngay ba ông kỹ nghệ gia ban chiều. Họ đang đứng nói chuyện với nhau bên cửa sổ gần phòng bệnh. Thái độ Ngoan cố và vô nhân của họ, thú thật, làm tôi tức giận gần như phẫn nộ.

Viên Tổng giám đốc tiến thẳng lại gặp tôi.

– Thưa Giáo sư, tình trạng ra sao ạ?

Tôi không thấy một lý lẽ nào để nương nhẹ ông ta.

– Nguy lắm, chắc chắn là tính mạng ông Reinhardt đang lâm nguy. Tôi tính mai sẽ khám kỹ càng và đầy đủ hơn, nếu tình trạng bệnh nhân cho phép. Rất có thể nội đêm nay phải mổ gấp.

Ông Tổng cười ruồi, như để cho tôi hiểu rằng ông không tin tôi lại có thể phóng đại tình trạng nguy ngập này. Như thách đố, ông ta còn hỏi tôi:

– Chừng nào chúng tôi có thể tiếp xúc và nói chuyện với bệnh nhân?

– Vấn đề này chưa đặt ra. Tôi cũng lưu ý ông rõ rằng ở thời điểm này, trừ khi có lệnh mới, tuyệt đối cấm không được đến thăm bệnh nhân. Ông Reinhardt cần phải tĩnh dưỡng hoàn toàn.

Ông ta mím chặt đôi môi và ánh mắt như khiêu khích:

– Thưa Giáo sư, chừng nào giáo sư cho chúng tôi biết kết quả cuộc khám nghiệm này và sự quyết định ra sao?

– Ba ngày nữa.

Ông ta nghiến chặt hai hàm răng làm nổi những bắp thịt dưới làn da đỏ ửng.

– Thưa Giáo sư, còn điều chi nữa không ạ?

– Đến giờ phút này thì không còn điều gì cả!

– Cảm ơn giáo sư.

– Không dám ạ.

Dứt lời, tôi quay gót đi thẳng, mặc ông ta đứng như trời trồng. Tôi thức gần trọn đêm để nghiên cứu hồ sơ bệnh nhân. Đọc giấy nhập viện tôi được biết ông Johan-Christopher Reinhardt, 43 tuổi và độc thân không còn bà con thân thích nào để báo tin trong trường hợp ông ta có mệnh hệ nào. Reinhardt sống cô độc và có thể sống theo sở thích mình như bao nhà khảo cứu chân chính. Sau đây là chi tiết về tai nạn: Tai nạn xảy ra vào lúc nửa đêm về sáng. Sở cảnh sát cho rằng người tài xế đã ngủ gục trên “volant”. Mãi đến sáng sớm người ta mới phát giác ra hai nạn nhân. Người tài xế chết liền ngay lúc đó, thân thể nát nhúm; còn ông kỹ sư bất tỉnh trên vũng máu. Phải đi hết nhà thương này đến nhà thương nọ mới tìm được một bệnh viện có đủ khả năng để chăm sóc bệnh nhân.

Trên một tờ giấy khác có ghi những nhận xét đầu tiên như sau đây:

Má bên phải bị rách từ gò má đến mép; vết thương có cạnh rất rõ ràng, có thể do mảnh kính gây ra. Vết thương thứ nhì, nát bấy ở phía bên trái trán; có thể do sự va chạm mạnh vào tấm kính xe khi bệnh nhân bị hất về phía trước. Nửa xương trán bên trái bị lún xuống, nắn thấy động đậy và rõ từng miếng xương vỡ vụn.

Vết xương nứt rạn lan đến tận đáy xương sọ. Xương sụn này chắc cũng bị vỡ. Lúc nhập viện, bệnh nhân bất tỉnh nhân sự. Đây là một trường hợp chấn động não thật nguy ngập, kèm theo chứng xuất huyết trong vùng thùy trán bên trái não bộ.

Qua những nhận xét trên đây tôi được biết, bệnh nhân lúc đến bệnh viện, mạch còn bình thường. Nói một cách khác chưa có triệu chứng nào chứng tỏ rằng áp suất nước trong đầu đã tăng lên. Vì lý do ấy, nên họ chỉ để bệnh nhân tĩnh dưỡng hoàn toàn. Sau đó tôi cầm các hình chụp quang tuyến đính kèm hồ sơ và đặt lên máy nhìn. Hình thứ nhất chụp ít lâu sau tai nạn, ta thấy rõ xương sọ bị vỡ và các vết nứt của các mảnh xương. Vết nứt quan trọng nhất đi từ đỉnh sọ tới xương trán về phía bên trái. Điều đáng lo ngại nhất là vết nứt đó đi qua xoang trán (frontal sinus), như vậy nghĩa là rất có thể màng nhầy bọc lỗ hổng này đã bị rách.

Hình chụp nghiêng cho ta thấy vết nứt không giới hạn ở phía trước xoang trán, mà phía sau cũng bị lún và bị đẩy ra ngoài. Một biến chứng cực kỳ nguy hiểm là: khi vỏ sau của xoang trán bị lún sẽ mở đường nhiễm trùng từ khoảng mũi lên các màng óc và não bộ. Những bản sao của các phiếu bệnh viện đầu tiên đã ghi những điều săn sóc cho bệnh nhân kể từ lúc nhập viện. Không có điều nào thiếu sót cả. Cứ cách nửa giờ lại bắt mạch, đo áp huyết và đếm nhịp thở. Tôi được biết, trong hồ sơ, bệnh nhân vẫn bất tỉnh trong vòng bốn mươi tiếng đồng hồ. Rồi bỗng nhiên, vùng vẫy la hét. Rất nhiều lần, người bệnh giựt các mảnh băng quanh đầu ra, vùng vẫy rất mãnh liệt khiến các nữ y tá và y công hết sức và nhọc công mới ghì được. Sau phải cho uống thuốc an thần, dĩ nhiên, không thể để một người bệnh nặng như vậy có những hành động mạnh mẽ như thế.

Mấy ngày sau, những cơn vùng vẫy dứt hẳn. Diễn tiến của bệnh trạng đã khả quan hơn. Bệnh nhân bình phục trông thấy. Tình trạng rầu rĩ bớt dần và biến mất hẳn, người bệnh đã hồi tỉnh và hơn nữa lại nói được. Tuy thế, trí nhớ rất kém. Đúng hơn, trong ký ức người bệnh có một lỗ hổng lớn, một khoảng chân không hoàn toàn. Reinhardt không thể nào nhớ được mình đã làm gì còn nói chi đến phương thức quý báu kia. Hơn nữa bệnh nhân quên cả tai nạn đã xảy ra như thế nào. Phiếu bệnh viện còn ghi các chứng nhiễu loạn khác nữa: nhức đầu kinh khủng, chóng mặt, chứng song ảnh (nhìn một thấy hai).

Những chứng này không có gì khác thường cả. Hai chứng trên có thể cắt nghĩa được bởi xương sọ bị vỡ và não bộ bị chấn động. Còn chứng song ảnh là gián tiếp do xương trán bị lún xuống; do đó, mắt trái cũng hạ xuống và máu chảy xối xả vào hốc mắt. Tuy nhiên, chuyên viên nhãn khoa không thấy mắt nhìn kém đi hay một khiếm khuyết nào trong lòng mắt cả. Vậy không có điều gì lo ngại về phía này cả. Hai tháng sau, khi bệnh nhân được phép về nhà, kết quả của buổi khám nghiệm lúc ra này rất lạc quan. Chứng chóng mặt bớt đi nhiều, chứng song ảnh hoàn toàn biến mất, ngay cả chứng nhức đầu cũng giảm đi đến độ có thể chịu đựng được. Bệnh chứng độc nhất thật đáng lo ngại vẫn là mất trí nhớ. Trước khi cho bệnh nhân về nhà – dĩ nhiên sẽ còn được y-sĩ coi sóc và điều trị – anh bạn đồng nghiệp tôi có khuyên sau ba tháng nên đến để khám kiểm soát lại một lần nữa. Tôi ngừng đọc để nhận định tình trạng bệnh nhân lúc ấy. Không thể chối cãi được rằng bệnh có thể khỏi được nhưng chỉ một phần nào. Thật vậy, những vết thương nặng như vậy ở thùy trán não có thể gây ra một sự nhiễu loạn không thể chuyển lại được, về tính tình có thể đi đến sự suy thoái tâm thần (dégénérescence psychique). Đính kèm phiếu ra bệnh viện, có đóng dấu và có chữ ký theo đúng thể thức, tôi thấy những hình quang tuyến khác chụp trong thời gian điều trị, vậy là ít lâu sau khi nhập viện. Tôi cho gài máy nhìn và kêu lên một tiếng. Trên hình chụp thẳng, ngay dưới chỗ xương trán lún xuống, có một vết sáng và tròn, không có ở những hình quang tuyến trước đã xem. Một vết thứ nhì thấy ở gần đường chính giữa, cách cung mày trái độ vài phân. Thật rõ ràng những vết này là những khoảng không khí đã tạo hình trong sọ, có thể ngay trong não, sau vùng xương trán bị vỡ. Điều kỳ lạ là trong phiếu ra bệnh viện không thấy nói đến chúng. Với ít nhiều bứt rứt tôi vẫn mở hồ sơ đọc tiếp đoạn hai của bản diễn tiến bệnh lý. Đoạn này khởi ghi sau khi bệnh nhân về nhà được bốn tuần lễ mà thôi. Vậy Reinhardt đã trở lại bệnh viện hai tháng trước ngày đã định để khám kiểm soát lại. Tôi tìm được lý do ngay trong những dòng chữ đầu. Tình trạng, không những không tiến triển, mà lại nguy ngập thêm. Chứng chóng mặt càng tăng thêm, chứng nhức đầu lại càng không thể chịu được nữa. Lại thêm vào đó, bệnh nhân thấy buồn nôn nhiều hơn. Khi nhận bệnh, y-sĩ thấy sự nhậy cảm cực kỳ của vùng não thùy trán và gò má trái khi ấn tay lên hay gõ vào đó. Những dây thần kinh da trên và dưới hố mắt cũng gia tăng cường độ khích động. Nhưng ngay hôm sau trên hồ sơ có ghi một bệnh chứng mới: mũi chảy nước. Khi bệnh nhân cúi đầu về phía trước, một chất nước lỏng chảy ra ở lỗ mũi trái; khi đầu về vị trí cũ nước thôi chảy nữa. Khi được hỏi về bệnh chứng này, bệnh nhân khó khăn lắm mới tìm được chữ, đã khai rằng đã thấy nước chảy lỗ mũi từ ba tuần trước nhưng đã cho là vì cảm nên sổ mũi. Rồi người bệnh còn nói thêm một chi tiết không ngờ là mỗi khi lắc đầu anh nghe thấy trong óc như có tiếng róc rách, “như không khí trộn lẫn với nước.”

Y sĩ ghi nhận ngay điểm quan sát kỳ lạ này. Khi nghiêng đầu về phía trước, nước từ lỗ mũi trái chảy ra liền và đồng thời ta nghe thấy một tiếng động làm liên tưởng đến tiếng òng ọc của chai nước đang đổ. Y sĩ chuyên khoa tai mũi họng, khi khám bệnh nhân đã ghi nhận không thấy một khiếm khuyết và nhiễu loạn nào trong mũi và yết hầu; những nhiễu loạn này chỉ do vùng khoang trán. Những điều ghi nhận khác trên giấy gợi cho tôi một hình ảnh thật thảm bại:

Trong mọi cử động của đầu, bệnh nhân đau đớn không chịu được; trạng thái kiệt lực toàn diện; tình trạng tâm linh suy sụp; trí nhớ hầu như bị mất. Nếu bệnh nhân không bị sốt thì trái lại mạch hạ xuống năm mươi hai lần trong một phút, bằng chứng của một sự tăng áp suất trong đầu. Áp suất dạo này cũng biểu thị bởi sự tụ huyết ở những gai thần kinh mắt khi đem khám ở khu vực nhãn khoa. Sau đó, đến một câu ghê gớm và kinh khủng nhất:

Bệnh nhân nôn ọe rất nhiều và rất mạnh. Dịch não tủy (L.C.R) chảy rất nhiều qua lỗ mũi trái.

Đây là lần đầu tiên phiếu bệnh lý ghi dịch não tủy chảy ra ngoài và như vậy chứng tỏ mọi sự giao thông có thể thiết lập giữa khoang trán trái và màng não. Muốn hiểu sự nguy hiểm của sự giao thông này, ta phải biết là bộ óc được bao bọc chung quanh hay nói một cách khác, được “treo” lơ lửng trong sọ bằng một hệ thống thủy lực là dịch não tủy. Nay, màng cứng nghĩa là màng não ngoài bị rách và hậu thành của khoang trán bị sụp nên nước qua chỗ rách đó có thể chảy xuống mũi. Trước khi bệnh nhân đến bệnh viện của Bác sĩ Richter, đến bệnh viện này mới tìm ra nguyên nhân của chứng chảy nước mũi ấy, bệnh nhân bị một biến chứng trầm trọng. Nhiệt độ lên rất cao, mê lịm, mạch đang nhảy chậm bỗng vọt lên 100-120 nhịp một phút. Đồng thời gáy bị cứng nhắc, dấu hiệu chắc chắn và đích xác của bệnh sưng màng óc lúc khởi đầu mà bệnh nhân không thoát khỏi được. Vào cái thủa chưa tìm ra thuốc SULFAMIDES và thuốc kháng sinh, người y sĩ khi phải trị bệnh sưng màng óc, bị bó tay vô phương chữa, và điều đó chúng ta ngày nay không thể tưởng tượng nổi.

Tuy thế nguy hiểm cũng qua, thật gần như một phép lạ, và người ta đã có thể chụp quang tuyến thêm những bức mới. Những tấm hình chụp này cho ta thấy rõ mồn một hình tròn không khí, một bướu hơi, ở não thùy trán trái. Tôi nhận ra ngay “trứng vịt” mà Bác sĩ Richter đã nói với tôi hôm trước. Sự giao thông giữa vùng xoang trán trái bị sụp và não thùy trán. Bướu hơi này lớn và rất rõ ràng với những đường nét tròn trĩnh. Ngay một người thường cũng nhận ra ngay khi cầm tấm hình chụp lần đầu tiên. Nhưng khi nghiên cứu kỹ càng và chăm chú hơn tấm hình quang tuyến, tôi còn thấy một cái bướu hơi thứ hai nữa, một hình trăng khuyết nhỏ trong vùng não thất thứ tư bên trái (Não thất là những khoảng quan trọng có từng đôi một và chứa đầy dịch não tủy; giống như những hồ hẹp, những khoảng này ở trong não). Sự khám phá này làm cho tôi say mê: cái bướu thứ hai này chỉ có thể hình thành sau khi não thất bị không khí tràn vào. Nhưng không khí làm sao mà có thể xâm nhập vào được?

Hiển nhiên tôi cần phải có, sớm chừng nào hay chừng nấy, những tấm hình quang tuyến từng lớp  stratigraphies) của bán cầu não trái. Phương pháp trị liệu và ngay cả giải phẫu bất ngờ nếu cần, sẽ tùy thuộc ở những điều nhận xét trong những tấm phim này. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tôi trở lại phòng bệnh nhân. Trong ánh hoàng hôn, Reinhardt nằm nghỉ khá yên ổn. Nhịp thở gần như bình thường, mạch đã tăng nhịp và nhảy hơn con số 60. Hơn nữa bệnh nhân cũng không nôn oẹ nữa. Tóm lại, tình trạng đã khá hơn lúc nẫy. An tâm, tôi nhắc lại những lời dặn cô y tá túc trực bên giường. Một ngày làm việc của tôi đã xong. Tôi trở về nhà. Chiếc máy điện thoại đặt ở đầu giường tôi câm nín cho đến sáng. Tôi tự bảo người bệnh của tôi cũng đã trải qua một đêm ngủ bình thường. Trái lại khi tôi đang mặc quần áo thì Ông Tổng Giám Đốc xưởng gọi điện thoại cho tôi. Nói năng rất lễ phép khác hẳn thái độ chiều qua, ông Tổng xin lỗi đã gọi tôi quá sớm thật làm phiền tôi và xin tôi vui lòng cho ông được “yết kiến” một lần nữa.

– Chúng tôi muốn được thưa chuyện với sự thân mật hơn, không có sự hiện diện của các cộng sự viên của chúng tôi. Không, quả thật thế, chuyện rất tế nhị và phức tạp lắm nên chúng tôi không thể thưa chuyện cùng giáo sư trong điện thoại được ạ. Vâng. Chúng tôi cũng xin giáo sư đại xá cho, để xin giáo sư cố cho, vì …

Không muốn nghe ông Tổng năn nỉ mãi, tôi hẹn ông ta đến tối hồi mười một giờ rưỡi. Tôi hy vọng vào giờ đó kết quả chụp quang tuyến từng lớp sẽ cho phép tôi xét rõ vấn đề hơn. Vừa tới bệnh viện; tôi đã lại phòng Reinhardt ngay. Trông bệnh nhân bớt mệt hơn. Tôi rất hài lòng vì khi tôi bước vào phòng, lần này, Reinhardt đã nhận thấy sự hiện diện của tôi. Tôi gọi tên ông ta. Tuy bệnh nhân không quay lại phía tôi, nhưng cũng đã giơ cao bàn tay trái lên như để ra hiệu đã hiểu. Khi tôi hỏi thăm ông ta, Reinhardt cố gắng trả lời tôi. Tuy vậy, ông nói ngọng líu nên hai chữ “khá mệt” gần như khó hiểu. Xong, Reinhardt chỉ vào đầu nói nhức đầu lắm. Ông ta cũng không thể nói rõ ràng được. Có thể, vì áp suất do bướu hơi lên trong khu vận động nói, thường thường ở bên não trái, nên đã tạo một khiếm khuyết cơ năng nơi đó.

Mạch lên 65 nhịp một phút. Dung dịch đường và hỗn hợp morphine-atropine tiêm đều cho bệnh nhân hồi đêm đã cho những kết quả mong ước.

Không muốn làm mệt bệnh nhân vô ích, tôi khám rất nhanh. Tôi thấy, ngoài những nhiễu loạn về lời nói, chân phải bệnh nhân cử động yếu ớt. Một bằng chứng nữa để nghĩ rằng trung khu vận động của bán cầu não bên trái bị ảnh hưởng của sự tăng áp suất này bởi hiện tượng rối loạn thần kinh ra xa. Tôi thận trọng đưa hai tay đỡ đầu bệnh nhân, đưa đẩy từ trái sang phải. Lúc đó, tôi nghe thấy rõ ràng tiếng róc rách ở trong đầu, – điều quan sát dị thường nhất trong đời chức nghiệp của tôi! Sau cùng tôi đưa đầu bệnh nhân cúi về phía trước, tức thời một dòng nước chảy qua lỗ mũi trái. Tôi gọi hai y-công khiêng cáng, và giúp họ đặt  Reinhardt nằm ngửa lên băng ca. Tôi bảo họ đưa bệnh nhân đến phòng quang tuyến. Tôi cũng đi theo để dặn bảo nhân viên quang tuyến. Rất nhiều việc tùy thuộc ở kết quả chẩn đoán này. Tôi bảo sẽ ở lớp nào và ở chiều sâu nào cần phải hướng máy. Phải chụp cả thẩy tám tấm hình. Tôi không thể kiên nhẫn chờ đợi nên đi theo tận vào phòng tối rửa phim. Tôi cầm những tấm phim còn ướt vừa rửa xong và treo lên màn ảnh có đèn chiếu. Những điều nhận xét trên những tấm phim này thật kinh khủng kỳ dị và làm tôi kinh ngạc hết sức. Tôi cho gọi ngay mấy anh phụ tá. Tôi thấy hai khoảng trắng: một bọt không khí hình như trái lê trong não thùy trán trái, và lại khoảng này cứ lớn dần so với tấm hình chụp lúc trước, ngoài ra còn khoảng thứ hai chiếm cả phần trên não thất bên trái. Như thế có nghĩa là bướu hơi đã phải “ăn sâu vào” sừng hẹp (corne effilée). Và ở chỗ đó, có sự trao đổi giữa dịch não tủy và không khí. Như vậy ta có thể suy ra là hình không khí như trái lê giao thông một phía với não thùy trán bên trái và phía kia với não thất thứ tư (4è ventricule).

Như vậy những bệnh chứng, tiếng róc rách trong đầu bệnh nhân và dòng thác như vô tận chảy ra lỗ mũi, từ trước đã làm tôi nản lòng và chưng hửng, nay đã có thể cắt nghĩa được.

Ta phải biết rằng dịch não tủy giữ hai vai trò trong cơ cấu của não. Một là, nó bao bọc não trong một cái vỏ có màng, gọi là màng óc, mà màng ở ngoài gọi là màng cứng (dure-mère); hai là nó được chứa trong các não thất ở ngay trong óc. Hai hệ thống này giao thông tự do với nhau. Bình thường, sự liên lạc ấy được thực hiện như sau: dịch não tủy được tạo bởi một huyết quản hệ đặt ở não thất thứ tư; sau khi chảy qua những não thất khác, dịch này chạy xuống ống giữa tủy sống rồi lại được hút bởi một hệ thống chằng chịt tĩnh mạch.

Thế mà, trong trường hợp của bệnh nhân đây, hệ thống đóng khép này bị gián đoạn. Lý do chính của cuộc gián đoạn này là ở chỗ sừng trước (corne antérieure) của não thất thứ tư. Qua lỗ rách ấy, dịch não tủy, bị đầy bởi không khí tràn vào, chảy vào nên đáy bướu hơi hình trái lê như một cái thác con. Trên hình chụp quang tuyến, ta nhìn thấy rõ mức nước trong não thất và trong bướu hơi hình trái lê. Từ đó dịch não tủy, qua một cái thác thứ hai chảy vào khoang trán bên trái và chảy cho đến khi đầy. Khi ta ấn vào vùng trán trái, hoặc khi bệnh nhân lắc lư đầu hay nôn ọe, chất lỏng này qua một cái thác thứ ba chảy vào mũi rồi qua lỗ mũi. Tóm lại, cái thác trong đầu mà Bác sĩ Richter đã tả cho tôi bữa nọ vừa được giải thích và chứng minh: ông Reinhardt đáng thương này có những ba cái thác trong đầu!

Sau khi nghiên cứu hai ba lần tình trạng hy hữu và có thể nói độc nhất này, tôi thấy chỉ có một giải pháp: lúc nào thuận tiện, phải mồ ngay. Bất cứ lúc nào, những tác nhân nhiễm trùng có thể qua chỗ cửa để ngỏ ấy mà len lỏi vào trong óc. Nói một cách khác, bệnh nhân sẽ bị một hiểm nghèo có thể chết được: đó là bệnh sưng màng óc. Vậy phải cấp tốc đóng cái lỗ hổng giữa khoang trán và não thùy trán. Còn những điều khác có thể chờ được. Chỉ có một trở ngại, mà lại là trở ngại lớn lao nhất: dưới khía cạnh giải phẫu, cuộc mổ mà tôi vừa phác họa là một bước đi vào ẩn số và phiêu lưu. Đã từng nghiên cứu về bướu hơi, tôi được biết trong tất cả những trường hợp bướu hơi trên thế giới này không có một “ca” nào lại quan trọng phức tạp và cần phải mồ ngay như trường hợp của Reinhardt. Từ trước đến giờ chỉ có những “ca” rất giản dị vì bướu hơi ấy rất nhỏ. Tuy nhiên tôi vẫn dám làm bởi vì bệnh nhân, nếu không mổ, sẽ hoặc bị nhiễm trùng rồi chết, hoặc sẽ quỵ, có thể rất chóng, do sự tăng áp suất trong sọ.

Trong khi tôi đang đặt điều hơn lẽ thiệt thì cô thư ký báo cho tôi biết có ông Tổng giám đốc đến thăm. Dù ông Tổng đến sớm quá nhưng tôi vẫn nhận tiếp ông ta. Vả lại ông ta cũng xin lỗi vì đã đến quá sớm. Vì phải đi Paris bất thần bằng chuyến máy bay hồi mười một giờ, ông Tổng cần gặp tôi trước. Tôi báo ngay cho ông Tổng biết bây giờ vì có kết quả quang tuyến rồi nên tôi quyết định mổ Reinhardt ngay sáng mai.

– Thưa giáo sư, ngài mong đợi gì ở cuộc giải phẫu này? Tôi muốn nói là … theo ý giáo sư, bao giờ bộ óc của ông kỹ sư trưởng sẽ làm việc bình thường trở lại? Xin Giáo sư hiểu cho, điều này là điều chúng tôi quan tâm nhất.

– Làm sao tôi có thể trả lời câu hỏi của ông? Tôi cũng đã chẳng giải thích với quý ông là chúng ta chỉ có thể làm hạ bớt áp suất nguy hiểm đang đè nặng lên óc người bệnh, với mục đích để những tế bào của các mô không bị kích thích hay sao? Tôi cũng đã chẳng nói với ông đây là cơ hội may mắn độc nhất vì một ngày kia trí nhớ sẽ khôi phục lại để có thể tìm lại phương thức quý báu của các ông đấy chứ!

Cũng chỉ vì cái phương trình này mà ông đến đây có phải không?

– Một ngày kia … một ngày kia … ông Tổng nhắc đi nhắc lại giọng bực tức. Ai có thể bảo đảm với chúng tôi là một ngày kia sẽ không chậm mất rồi, không chậm quá mất rồi!

Tôi nhún vai mà không trả lời. Ông Tổng vẫn ngoan cố nói:

– Giáo sư thấy không, giáo sư không hiểu được nổi sự quan trọng của vấn đề này đối với chúng tôi. Số tiền đặt vào đó thật khổng lồ. Chiều qua, trước mặt mấy cộng sự viên của tôi, tôi chưa muốn nhấn mạnh vào những hậu quả của tai nạn bi đát này nhìn dưới con mắt một người giám đốc một hãng lớn. Đôi khi có nhiều

sự thật không nên nói, có phải không ạ. Hôm nay đây, chỉ có giáo sư và tôi, tôi có thể thú thật với ngài: nếu không tìm cho ra phương thức của hợp kim này trong khoảng thời gian ngắn nữa, chúng tôi sẽ vỡ nợ và phá sản … hay ít ra cũng ở bên bờ vực thẳm vỡ nợ, ông Tổng nói thêm ngay.

Thấy tôi vẫn im lặng, ông ta vẫn tiếp tục đọc diễn văn:

– Chúng tôi chỉ là thương gia, thưa giáo sư, nên mù tịt về địa hạt y khoa, nhưng tôi cũng xin biết ít ra có người mổ hay, có người mổ dở. Nên chúng tôi muốn xin đề nghị cùng giáo sư một điều. Nếu ngài cố gắng thành công trong một kỳ hạn ngắn, ví dụ trong sáu tuần nữa, móc bệnh nhân cho được phương thức này, bằng cách nào, để tự ngài tìm lấy, thì chúng tôi sẽ hậu tạ … ông ta ngừng nói như muốn gây ấn tượng cho tôi, chúng tôi xin sẽ hậu tạ nửa phần trăm trên số tiền bán sỉ của mỗi máy chế tạo theo nguyên tắc Reinhardt và sau khi bán được rồi. Chắc tưởng tôi phải bối rối lắm nên ông Tổng lại thao thao bất tuyệt ngay:

– Chắc ngài có vẻ không hiểu rõ nửa phần trăm là được bao nhiêu phải không ạ? Dạ xin thưa giáo sư; sơ sơ cũng độ ba mươi ngàn mã khắc (độ ba triệu quan), và như vậy trong nhiều năm liền. Tôi nghĩ rằng ngay cả đến vua cũng không có thể trả cho giáo sư một số bổng lộc cao hơn nữa.

Tôi vẫn không nói một lời nào. Ông Tổng hiểu sự im lặng này một cách tôi không thể ngờ tới. Ông cười ruồi rồi nói:

– Thật ngài khó hơn tôi tưởng. Vậy, thế này nhé, thế 0,75 phần trăm có được không? Ngài cũng phải công nhận cho, chúng tôi rất hậu hĩnh đấy. Nhưng, xin giáo sư cũng nên hiểu rõ cho: số tiền này chúng tôi xin tạ ngài để cho riêng cái phương thức thôi đấy ạ, chỉ riêng cái phương thức thôi. Còn về việc chữa bệnh nhân khỏi hay không, đó lại là việc khác đấy ạ. Không thể chịu nổi những điều vô liêm sỉ và bỉ ổi này, tôi đứng phắt dậy.

– Thật ông đã hoàn toàn nhầm tôi với hạng người nào rồi. Đây là một bệnh viện. Ở đây chúng tôi không nhận “còm măng”. Chúng tôi làm bất cứ điều gì có thể làm được để cứu bệnh nhân, đó là bồn phận và cũng là mục đích độc nhất của chúng tôi. Mỗi người trong chúng tôi làm sức mình, ngay cả trường hợp không có phần trăm hoa hồng nào.

Ông ta không hề nhíu mày trước vụ chối từ của tôi.

– Thôi vậy. Nếu giáo sư không muốn …

Tưởng câu chuyện kỳ quái này đến đây kết thúc nên tôi vẫn đứng nguyên. Nhưng ông khách lại cất tiếng hỏi tôi một điều nữa.

– Chúng tôi nghĩ rằng … Tóm lại, sáng mai giáo sư sẽ mổ sọ cho ông kỹ sư trưởng của hãng tôi …

Ông khách nhìn tôi như dò hỏi. Tôi gật đầu.

– … và giáo sư sẽ thấy những vết thương óc và sẽ quyết-định. Bấy giờ, nếu ngài thấy rằng, sau khi mổ sọ ra, óc đã bị hỏng không thể chữa được, nói trắng ra: rằng anh bạn khốn-khổ sẽ vĩnh viễn là một người tàn-tật về tâm-trí, thì trong trường-hợp này, ngài có thể vui lòng báo cho chúng tôi biết kịp thời không ạ?

– Tại sao vậy? Thật ra, tôi đã biết câu trả lời ra sao rồi, nhưng tôi muốn nghe chính miệng ông ấy nói. Lần đầu tiên kể từ đầu câu chuyện đến giờ, ông Tổng có vẻ ngượng-nghịu và bối rối.

– … Vâng … Ngài không biết sao … ngài nên nhớ Reinhardt vẫn còn được lãnh mấy ngàn mã-khắc nữa mà. Tiền do quỹ chúng tôi đài thọ …

– Nghĩa là ông muốn cho ông ấy thôi việc?

– Vâng … nghĩa là có thể thôi … chỉ khi nào mà …

Trong bệnh-viện, có một bệnh nhân gốc ở cùng tỉnh với mấy ông trong hãng này. Tình-cờ bà ta đã kể với tôi là, sáu tháng trước đây, Reinhardt đã chối từ một số tiền lớn mua chuộc bỏ hãng về làm cho một công ty Hoa Kỳ, viện lẽ ông muốn trung-thành với hãng. Vì thế tôi đã cất lời mai-mỉa:

– Ăn nghĩa trả nghĩa, có phải không, ông Tổng-giám-đốc nhỉ?

Tôi rất ngạc-nhiên khi thấy ông Tổng hiểu ngay những điều tôi muốn nói. Ông cũng chẳng tỏ vẻ bất-bình gì cả.

– Ôi dào ôi! Mấy ông bác-học khảo cứu thế đấy! – Ông vừa nói vừa nhấc bàn-tọa khỏi chiếc ghế bành. Ngài không bao giờ có thể chạy “áp-phe” được. Tuy vậy, dù cho thể nào chăng nữa chúng tôi vẫn tin-tưởng giáo-sư sẽ cho chúng tôi hay kịp thời …

– Chắc chắn là không.

Chúng tôi từ-giã nhau trong một bầu không-khí mát-lạnh nếu không muốn nói lạnh như tiền. Khi cánh cửa đóng lại sau bước ông Tổng tôi thở phào nhẹ nhõm. Thật vậy, tôi tưởng thôi thế là thoát nợ với mấy ông này rồi. Nhưng hy-vọng của tôi, hỡi ôi, sẽ bị định-mệnh cải-chính ngược lại.

Mất nửa giờ tôi mới có thể trút bỏ nỗi ngao-ngán này. Mãi đến lúc gần ngọ, trong phòng họp, khi tôi ghi trên tấm bảng đen, chương-trình làm việc ngày mai của tôi, tôi mới có thể chăm-chú hoàn-toàn vào cuộc giải-phẫu sắp tới. Tôi biết lắm, tôi biết cái tình trạng nội-tâm cứng rắn và mãnh-liệt đến xâm chiếm người y-sĩ giải-phẫu trước khi sắp lãnh một cuộc mổ quan-trọng nào. Trong đó lại có một yếu-tố cá-nhân hơn: viên kỹ-sư này, mà tôi không nói chuyện và tiếp-xúc từ trước đến giờ, đối với tôi hơn cả một người bệnh phải săn-sóc, – cũng bởi thái-độ không thể mô-tả và tưởng- tượng được của những đồng nghiệp ông ta.

Vì cuộc giải phẫu này quan trọng và phức tạp nên tôi quyết định toán giải phẫu sẽ gồm toàn những phần tử ưu tú. Người phụ tá thứ nhất sẽ là Bác sĩ Heinrich, lầm lì, chưa bao giờ mất bình tĩnh. Thí dụ nếu cần phải giữ dụng cụ để phanh vết mổ ra, thì thà chết chứ Bác sĩ Heinrich cũng không bao giờ chịu rời bỏ nó. Người thứ nhì là bạn đồng môn với tôi Bác sĩ G. Schintz, chúng tôi gọi là “Jojo”, một nhà giải phẫu có tài thiên phú mà tôi biết từ lâu. Anh có phản ứng rất nhạy và rất khéo cả tay lẫn về kỹ thuật. Tôi còn chọn một anh dáng người nhỏ nhắn tên là Youki; anh này khôn ngoan và khéo léo, láu cá như vượn.

Khi tôi ghi ba tên này lên bảng, ai nấy, từ y tá đến các sinh viên đều thì thầm to nhỏ. Dĩ nhiên, trong bệnh viện ai cũng biết chân giá trị và biệt tài của mỗi y sĩ. Vì thế lý do tại sao ba nhà “quán quân số dzách” này cũng có trong một toán ai ai cũng đều biết cả: cuộc giải phẫu định vào sáng mai bảy giờ sẽ “độc nhất vô song và vô cùng hấp dẫn”. Chiều hôm ấy, tôi lại đến thăm Reinhardt. Tình trạng tiến triển rõ rệt. Tôi có thể báo cho ông ta ý định tôi là sẽ giải phẫu ngày mai và chỉ tiêm thuốc tê thôi chứ không cần đánh thuốc mê. Ông ta giơ một tay lên tỏ ý hiểu những lời tôi nói và vui lòng chấp thuận. Vì là một cuộc giải phẫu rất nguy hiểm nên cần phải ngồi bất động trong mấy tiếng đồng hồ liền. Như vậy thật là một cuộc cực hình không thể chịu được cho bệnh nhân. Tôi kê những thứ thuốc, hẹn vào lúc gần sáng sẽ cho bệnh nhân uống. Thuốc sẽ ru Reinhardt vào một giấc ngủ hoàng hôn. Xong tôi trở về nhà.

Sáng hôm sau, mặt trời mọc trong một khoảng trời xanh không một đợt mây. Trong khi bước trên những con đường phố vắng, tôi nghĩ đến niềm hân hoan sẽ được mổ trong ánh sáng ban ngày. Thật vậy ánh sáng mặt trời có lợi hơn ánh sáng điện vì ưu điểm là không làm thay đổi màu sắc của những mô. Khi tôi bước vào phòng giải phẫu, thì gần bảy giờ sáng. Ai nấy đều sẵn sàng. Toán giải phẫu, mặc blouse đã khử trùng, đang chờ tôi trong phòng rửa tay. Tôi cho kê bàn mổ sát vào cửa sổ rộng. Cửa sổ này trông sang – thật là một sự tượng trưng thật khổ sở – nghĩa địa với những hàng thánh giá đặt đều đặn. May thay, mặt trời huy hoàng và màu xanh trong của khoảng trời làm dịu bớt vẻ tang tóc của quang cảnh.

Đúng 7 giờ, trong khi tôi còn bận rửa tay và mặc blouse, bệnh nhân được mang tới. Ông ta đang chìm trong một giấc ngủ hoàng hôn. Giấc ngủ này cũng không có hại gì cho sự hô hấp và tuần hoàn. Vì tôi đã đoán trước là cuộc giải phẫu sẽ kéo dài, nên chính tôi trông cho nhân viên đặt bệnh nhân lên bàn mổ; phải tránh làm sao cho bệnh nhân không được đau đớn vì thế ngồi bất tiện. Như vậy tránh cho bệnh nhân phải cử động. Nhưng tôi cũng không phải nhọc công nhiều vì lão Frantz, người y tá già, đã sửa soạn thật chu đáo. Những gối đệm gáy và đệm đầu gối để rất đúng chỗ; gối để tựa lưng và nhất là chỗ thắt lưng để rất đàng hoàng. Những miếng dây da để cột chân tay cũng thắt vừa đủ. Tôi cúi xuống hỏi bệnh nhân xem có thoải mái không. Reinhardt lầm bầm một câu “có” thật yếu ớt rồi lại thiếp đi ngay.

Khi tôi rạch đầu bên trái ở phía trước, trong vùng não thùy trán, để xem bướu hơi lớn, tôi để cho bệnh nhân nằm ngửa. Như vậy, người bệnh có thể thở dễ dàng hơn là nằm sấp; bởi trong những cuộc giải phẫu ở óc không thể tránh được thế nào cũng phải cho bệnh nhân nằm sấp.

Những cuộc sửa soạn cuối cùng đã xong, chúng tôi đứng quanh bàn mổ. Tôi đứng ở đầu bàn trên. Bên phải là “Jojo” và bà sơ Johanna đang lúi húi trên hai chiếc bàn có gắn bánh, đựng đầy dụng cụ mồ. Bên trái là Bác sĩ Heinrich và “Youki” đang ngồi lên chiếc ghế thấp. Thân hình nhỏ nhắn của Youki bị che lấp bởi những tấm “champ” trắng đã khử trùng trùm lên bệnh nhân và giải thòng xuống hai bên bàn. Youki giữ phận sự đánh thuốc mê, theo dõi nhịp thở, mạch đập và huyết áp, thông báo cho tôi thường xuyên, anh ấy cũng điều chỉnh lượng oxygène cho bệnh nhân. Tôi trải những tấm champs, định giới hạn tạm thời vùng mồ và gây tê cục bộ. Sau khi trải những tấm khăn tôi nhìn lại lần cuối những tấm hình chụp ngày hôm trước đang treo bên cửa sổ. Rồi trong khi hút dung dịch Novocaine vào ống tiêm tôi báo cho Reinhardt:

– Ông đừng ngại gì nhé. Ông sẽ thấy nhói đầu bởi tôi sẽ tiêm cho ông ba mũi thuốc tê lên da đầu. Nhẹ thôi.

Người bệnh trả lời tôi bằng mấy tiếng càu nhàu ngái ngủ. Vì màng óc và não vô giác nên tôi chỉ tiêm thuốc tê vào da đầu trong vùng mồ. Vùng này được giới hạn bởi một đường cong đi từ chân mũi đến đỉnh đầu rồi vòng xuống tận tai trái. Ở những góc cạnh vùng này tôi tiêm dung dịch làm tê để có thể dễ dàng làm tê nốt những nhánh dây thần kinh có nhiệm vụ kiểm soát vùng da đầu.

Ống kim tiêm đi một vòng quanh chu vi vùng giải phẫu. Từ từ, khi dung dịch novocaine len lỏi ngấm vào da đầu, trên sọ nổi những bướu phồng lớn, cùng một lúc da lột khỏi xương. Tôi cẩn thận tiêm vào những chùm dây thần kinh đi từ vực trên hốc mắt và xung quanh tai. Công việc thật vất vả nhưng không gặp một trở ngại nào cả. Mười phút sau, tôi đã làm xong; bệnh nhân vẫn nằm yên tĩnh. Ngoài ba mũi nhói khi tiêm thuốc tê anh không thấy đau gì cả. Tôi ngừng một chút để cho thuốc ngấm. Trong khi ấy Youki đặt cái mặt nạ dưỡng khí vào mặt bệnh nhân. Xong tôi cầm kẹp sắt bấm các khăn mổ với nhau để chúng khỏi rơi trong khi mổ.

Mười lăm phút sau, thuốc tê đã ngấm và vùng đầu phải mổ đã hoàn toàn vô giác. Lúc đó Youki cho dưỡng khí vào mặt nạ để bệnh nhân dễ thở hơn. Dưỡng khí dùng có hai mục đích: thứ nhất bệnh nhân bị ngộp thở dưới những tấm khăn phủ lên mặt, thứ hai bệnh nhân không phải thở thán khí và hơi nước đọng trong mặt nạ.

– Mạch 66 … nhảy đều … áp huyết 12 – 9 … nhịp thở đều.

Giải phẫu bắt đầu. Sơ Johanna đưa cho tôi con dao mổ sáng loáng. Tôi ra hiệu cho Heinrich ấn tay vào những huyết mạch thái dương, và ở trên mắt trái. Tôi ấn mạnh đầu dao xuống đỉnh đầu, đi sâu vào xương rồi chạy xuống sống mũi. Chỉ cần một nhát dao tôi đã cắt được hết những chỗ thịt mềm. Heinrich và Jojo chận không cho máu chảy bằng cách kẹp những huyết mạch. Đường rạch mổ thứ hai cũng đi từ đỉnh đầu nhưng chạy xuống tai trái. Một lần nữa con dao mổ lại đi sâu tận xương. Các phụ tá của tôi lại kẹp những huyết mạch. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cẩn thận khâu sơ qua những đoạn huyết mạch chính để tránh không cho máu chảy và tràn ngập vùng giải phẫu. Hai bờ vết rạch cắm đầy kẹp sắt. Như vậy chúng tôi để vùng mổ mở rộng thành một hình tam giác mà cạnh đáy chạy ngang trán. Tôi lấy ở tay sơ Johanna dụng cụ dùng để tẽ da đầu khỏi xương sọ. Tôi kéo cả mảng da đầu xuống cạnh đáy hình tam giác vừa rồi, giữa sống mũi và tai trái. Công việc làm rất nhanh vì da đầu không chảy máu. Xong tôi phủ lên da đầu những gạc băng thấm nước (và lẽ dĩ nhiên đã khử trùng).

– Không có gì thay đổi cả. Mạch vẫn thế, áp huyết như cũ … nhịp thở vẫn đều. – Tiếng Youki dõng dạc nói.

Bây giờ, tôi thấy vùng xương sọ trắng hếu. Giai đoạn đầu tiên và cũng dễ nhất, đã chấm dứt. Bây giờ là lúc mở xương sọ từ trán đến đỉnh đầu ra. Công việc này thật khó nhọc và phải dùng sức lực nhiều. Lắm khi phần đông các nhà thủ thuật giao phó cho phụ tá làm, để dành sức và sự nhanh nhẹn của đôi bàn tay cho lúc mồ óc tế nhị hơn. Nhưng trong trường hợp này, tôi không muốn giao phó cho ai: bệnh nhân đã bị vỡ xương trán, nay lại mổ ra có thể gây nhiều biến chứng bất ngờ.

Trước khi bắt đầu giai đoạn thứ hai tôi nhìn lại một lần nữa mấy tấm phim chụp quang tuyến. Tôi vững dạ khi nhận thấy những xoang (sinus) của bệnh nhân, diện tích của những xoang này tùy thuộc và có thể thay đổi theo từng bệnh nhân một, tương đối khá nhỏ. Công việc sẽ dễ dàng hơn. Tôi có thể định rất chính xác chỗ nào có thể mồ trên xương sọ. Miếng xương phải rạch dài chừng 8 đến 10 phân.

Trước khi bắt đầu, tôi lại cẩn thận báo cho bệnh nhân biết trước. Vì khi khoan và đục xương sọ, bệnh nhân có thể giật mình vì sợ hãi bởi tiếng đục tiếng búa.

– Bây giờ tôi mổ xương nhé. Kêu to lắm đấy, nhưng ông không thấy đau đớn gì đâu.

Bệnh nhân lại ú ớ vài lời. Tôi cầm trước hết một cái “drille” (máy khoan) và khoanh tròn bảy lỗ nhỏ lên xương sọ. Xong tôi dùng một cái “fraise” (dùng để khoan loe miệng hình nón chạy bằng điện) để khoan những lỗ kia cho rộng ra độ một phân rồi đi sâu vào xương đến tận màng cứng của não.

Ngay lúc đầu, chúng tôi nhận thấy máu rỉ rất nhiều qua những lỗ này: điều hiển nhiên, vì áp suất quá cao trong óc đã gây trở ngại cho sự lưu thông của máu và làm cho máu bị ứ lại trong các tĩnh mạch. Heinrich vội lấp những lỗ này bằng sáp ong lỏng và đã khử trùng. Tuy vậy, mặc dầu chúng tôi đã đề phòng như thế mà bệnh nhân cũng đã tỏ vẻ khiếp đảm.

Reinhardt rên rỉ và tỏ vẻ lo lắng. Youki cất tiếng:

– Mạch xuống: 60 … áp huyết 11/8 … nhịp thở tốt. Tôi hơi lo: vì khi bệnh nhân lo lắng, áp suất trong sọ cũng tăng lên! Tôi tưởng đã dự liệu trước hết cả, thế mà tôi không ngờ bây giờ phải làm gấp rút vì thời gian không cho phép. Bây giờ phải tranh thủ từng phút một. Sau khi đã khoan xong, vấn đề tiếp theo là phải tìm cách mở xương sọ ra. Ngành giải phẫu tân tiến đã dự liệu nhiều phương pháp mới áp dụng “burin” (máy đục) và kìm đặc biệt. Tuy vậy, tôi quyết định dùng cưa dây, phát minh mới của GIGLI: phương pháp và kỹ thuật này thật đơn giản, tao nhã và có ưu điểm là nương nhẹ cực điểm những dây thần kinh não. Ta cho đưa qua lỗ xương một cái ống dò (sonde) dẹt bằng thép mềm và làm sao để giữa màng cứng não và xương. Ông dò này có một cái móc nhỏ. Ta đóng chặt cưa dây vào cái móc. Như vậy cưa cũng đi theo ống dò vào trong xương sọ. Lúc cưa phải cẩn thận để dây cưa nghiêng chéo góc như vậy về phía ngoài miếng xương nhỉnh hơn phía trong óc. Nếu không, miếng xương sẽ lọt vào trong khi ta đậy nắp xương vào chỗ cũ sau khi mổ. Như ta thấy, công việc này rất tế nhị, đấy là chưa kể phải tránh không gây một vết thương nào cho màng cứng não.

Heinrich giúp tôi đặt ống dò và đẩy nó vào dưới xương sọ. Khá nhanh, nhưng cũng chưa đủ nhanh, vì Youki lại dõng dạc báo cho chúng tôi biết:

– Mạch 48 … áp huyết 10/7 … nhịp thở không đều. Bệnh nhân khó thở …

Chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc. Những con số này thật nói lên hùng hồn và khiếp đảm: có nghĩa là áp suất trong óc lên rất cao đến độ nguy cấp. Câm nín, đôi môi mím chặt, chúng tôi lại cúi xuống vùng giải phẫu. Chúng tôi đang chạy đua với đồng hồ, một cuộc chạy đua mà giải thưởng là mạng sống của bệnh nhân. Không ai nói với ai một lời. Các nữ y tá chỉ dám thở thật khẽ. Người ta chỉ nghe trong căn phòng lớn tiếng cưa xương. Mặc dầu chúng tôi đã vội vã một cách tuyệt vọng, chúng tôi đã mất gần hai mươi phút trước khi cưa xong nhát cuối. Trước khi lôi miếng xương ra, tôi bảo Heinrich cầm lấy chiếc “nắp xương” này, bởi lúc cưa xương xong nó có thể rách trước, một phần giây sớm hơn, và có thể sẽ rơi xuống đất. Vì, sau khi mổ chúng tôi lại phải để vào chỗ cũ, nên không được làm nhơ nhớp miếng xương. Sau khi đã đưa nhát cưa cuối cùng, đây là lúc mọi người hằng mong đợi. Miếng xương vừa cắt sẽ được tách khỏi màng cứng não. Giây phút nguy kịch nhất, bởi sự kích thích và thay đổi bất ngờ của áp suất trong sọ có thể gây một trạng thái kích ngất cực kỳ nguy hiểm.

Youki lại cất tiếng dõng dạc:

– Mạch lại xuống thấp nữa: 44 … áp suất xuống … nhịp thở không đều.

Cần phải ra tay ngay. Tôi để một “burin” dưới “nắp xương” và quay cổ tay để làm đòn bẩy khẽ đẩy nó ra ngoài. Tay trái tôi nắm lấy nó. Heinrich đem bọc nó bằng miếng băng ướt rồi đưa cho y tá. Trước mắt chúng tôi, là màng cứng não óng ánh xanh. Ngoài màu xanh đặc biệt, không làm thế nào để nhận được ra nó. Những  huyết mạch, bình thường rất nhỏ, ẩn sâu giữa màng, bây giờ chỉ mờ; có lẽ vì áp suất quá lớn nên chúng bị chèn ép. Cũng không nhận thấy màng óc rung động do nhịp thở và nhịp tim đập. Sờ vào thấy thật cứng và căng. Cầm một con dao mổ, tôi khẽ rạch một đường nhỏ ở đỉnh óc. Tức thời Sơ Johanna đưa ngay cho tôi đôi kéo đặc biệt có mấu. Tôi mở màng cứng não qua lỗ hở vừa rạch chỉ để lại một cạnh đáy ở đàng trước và ở dưới sọ. Sau mỗi nhát kéo, khối não thùy trán càng phồng to lên, như một chiếc ruột bánh xe lồi qua vết rách của vỏ. Chẳng bao lâu, nó có hình dáng một quả bóng màu trắng lợt, chỉ cần ấn mạnh cũng đủ để đẩy nó ra khỏi sọ. Bướu hơi nầy đã thấy trong hình chụp quang tuyến phải đè nặng bằng sức ép của nó lên óc bệnh nhân. Nhờ mở đỉnh sọ, nên áp suất trong não cũng đã bắt đầu giảm đi. Giọng sang sảng của Yuki biểu-hiện cho sự giảm sụp sức ép này bằng những con số đích xác:

– Mạch tăng dần … nhảy 50 … áp huyết 10/7 … nhịp thở hơn trước … vào đúng lúc bệnh nhân rên rỉ. Reinhardt vừa tỉnh dậy. Hiển nhiên, ông đã bị ngất đi trong suốt thời kỳ áp suất trong óc tăng lên. Như bị thôi miên, chúng tôi ngắm não thùy trán bị đẩy ra ngoài. Khối óc không giống như mọi khi. Những rãnh lớn của những khúc cuộn não đã hoàn toàn biến mất, như bị là ủi thẳng đi. Ta không còn nhận được ra những động mạch nhỏ màu đỏ và những tĩnh mạch óng ánh xanh. Sự biến đổi chỉ thể hiện nơi bướu hơi với vùng đáy là mảng sáng của lớp dịch não tủy. Nó đã không nổ một khi được giải thoát khỏi màng cứng não bao bọc, thật cũng là một phép lạ. Tôi thận trọng nắn: nó vừa căng vừa mềm và dẻo, như một quả bóng cao su.

Bây giờ phải mở quả bóng này ra. Thường thường khi rạch mặt ngoài não sẽ bị chảy máu rất nhiều. Nhưng trong trường hợp này tôi có cảm tưởng là sự nguy hiểm không còn đáng sợ nữa. Nên không cần phải thận trọng cho lắm. Tôi mở bướu hơi bằng dao mổ điện. Đè lưỡi dao giữa bán cầu não trái tôi rạch một đường dài độ năm sáu phân. Tức thì cả não-thùy trán xẹp hẳn sau một tiếng xì nhẹ. Kinh-ngạc gần như kinh hoảng chúng tôi nhận thấy trong vùng này bề dầy của não-thùy xẹp đi mất hai li! Áp suất của bướu hơi phải kinh khủng lắm mới có thể đè bẹp não như vậy. Thế mà người bệnh khốn khổ này đã phải tiếp tục sống trong tình trạng ấy!

Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ thật lố bịch khi cầu mong tìm một phương thức trong một khối óc bị tàn phá như thế này. Chỉ cần nhìn não thùy tôi cũng đã thấy thật tìm kiếm vô vọng. Cô y tá đưa cho tôi một cái bay (spatule). Tôi cẩn thận thọc thẳng vào trong chỗ hồng. Hai anh phụ tá để những cái móc lớn ở bên trái và bên phải rồi cả ba chúng tôi kéo khối óc này ra, hầu gỡ gáy bướu hơi. Không cần đợi lệnh, cô y tá đã buộc một cái đèn vào trán tôi. Trong chùm ánh sáng, khoảng rỗng tròn và lớn này hiện ra với thành trong nhẫn thín và lóng lánh màu ngà trắng. Tuốt tận sâu trong đáy ta thấy một dải nước trong vắt tạo bởi thác dịch não tủy. Giọng Youki lại sang sảng:

– Mạch rất khá … nhảy 70 … áp huyết 12/8 … nhịp thở đều.

Rồi bỗng nhiên bệnh nhân cất tiếng nói, chậm chạp nhưng rõ ràng:

– Thưa giáo sư, tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm, không thấy khối nước này đè nặng nữa.

Tôi ngẩn người ra. Phải gần 20 giây tôi mới có thể hiểu được rằng, một khi áp suất cao trong óc giảm đi hẳn, thì bệnh nhân cũng thoát khỏi trạng thái vô giác vô tri kia. Và có thể.

Thế nghĩa là hiểm nghèo trầm trọng nhất đã qua. Tôi cúi xuống nói vào tai Reinhardt:

– Ông thấy sao?

– Khỏe lắm, Tôi không nhức đầu nữa.

Tôi đưa ngón tay sờ vào vài nơi trong khoảng rỗng của não.

– Ông có thấy đau không?

– Không. Ngoài bắp vế ra tôi chẳng đau ở đâu cả; dây da buộc chân chặt quá.

Một cơ hội phi thường: tôi đang nói chuyện với một người và đồng thời đang nhìn tận trong óc người ấy. Tôi không thể nào vượt nổi một nỗi lo sợ gần như đượm mê tín và dị đoan. Phải chăng tôi  vừa bước chân đi sâu vào một phạm vi đã bị cấm đoán đấy ư? Phải chăng tôi vừa lọt được vào cơ nguyên huyền bí của Ý Tưởng mà guồng máy phải thoát khỏi sự tò mò của người bác học?

May mà tôi định thần lại ngay. Bây giờ thật không phải lúc để tôi suy nghĩ. Trước hết, tôi cần phải kiểm soát lại án chẩn: Bướu hơi thật ra có 2 lỗ thông không? Tôi lại cúi đầu xuống thấp hơn nữa, trong khi Heinrich kéo khối não hầu có thể nhìn rõ phần trước của đáy khoảng rỗng. Thật đúng như tôi nghĩ: có một cái lỗ đường kính độ 3 hay 4 ly. Chắc chắn sự giao thông với xoang trán được tạo trực tiếp bởi tai nạn, hay nói cho chính xác hơn, do sự sụp đổ của thành hậu của xoang và cũng do màng nhầy của nó bị rách. Nhiệm vụ chính yếu của tôi là đậy cái lỗ hồng với những đường viền như bị viêm.

Còn phải xem có lỗ thông thứ hai giữa bướu hơi và sừng hẹp của não thất thứ tư không? Chúng tôi xoay nhẹ đầu bệnh nhân. Tôi cũng đổi vị trí để rọi chùm sáng tỏa từ ngọn đèn buộc trên trán xuống thành hậu của khoảng rỗng. Heinrich kéo thật nhẹ một chiếc móc. Tức thì, quả nhiên, tôi thấy ngay lỗ thông thứ hai. Nước đang chảy từng dòng xuống đáy quả trứng vịt không. Một cảnh tượng phi thường … có lẽ một trường hợp đầu tiên được quan sát: một cái thác nối từ hệ thống não thất với não thùy trán. Ta có thể khép lỗ hổng này bằng vài mũi khâu trong mô não. Ý kiến này thật quyến rũ. Nhưng ở phía kia đằng nào dịch não tủy trong não thật này cũng nối liền với hệ thống dịch toàn diện của não. Nên tôi có thể để mặc lỗ này yên vị bởi tình trạng thủy lực thật ra cũng không bị ảnh hưởng gì. Điều cần chú trọng tới nhiều nhất là lỗ thông ở phía đằng trước, hiện đang để nước thoát ra ngoài. Tôi suýt giật mình khi nghe bệnh nhân cất tiếng hỏi tôi giọng rõ ràng và bình thản:

– Thưa giáo sư, trong óc tôi có gì lạ không?

– Để tí nữa tôi sẽ nói ông hay, ông Reinhardt ạ. Bây giờ xin ông cứ để tôi làm việc đã nhé.

Reinhardt im lặng nghe lời tôi. Muốn hành động dễ dàng trên lỗ thông mở vào xoang trán tôi phải đẩy não thùy trán trái lên, hầu thấy rõ chỗ bị sụp của thành hậu bướu hơi. Tay cầm những chiếc bay rộng và thật đẹp tôi tẽ não thùy khỏi màng cứng não và xương. Chẳng mấy lúc, tôi có thể nâng não thùy dễ dàng để thấy rõ ràng lỗ hổng. Từ trước đến giờ, mọi việc đều diễn tiến như dự liệu sau khi nghiên cứu những hình chụp quang tuyến. Tôi biết rõ những công việc tôi phải làm và sẽ đi đến kết quả nào. Tôi chẻ màng cứng não và dùng phần trong. Đem cắt một miếng nhỏ và mỏng để lắp vào lỗ hồng này. Tôi làm thật nhanh chóng. Tôi bẻ miếng màng cứng óc lên nóc cong của hốc mắt trái và khâu vài mũi thật nhỏ. Như thế, sự giao thông giữa não và không khí bị ngừng trệ như mong muốn. Tuy vậy, khi ngắm tác phẩm của tôi, tôi bỗng tư lự: miếng màng mỏng này có đủ để lấp kín lỗ không? Hiển nhiên bắt buộc phải củng cố thêm. Nhưng bằng cách nào?

May mắn thay, chúng tôi, trong bệnh viện này, thuộc một trường phái luôn luôn quan tâm đến khoa giải phẫu thẩm mỹ. Mỗi người trong chúng tôi đều nắm chắc kỹ thuật miếng ghép tự do (greffon libre) những mô xương, mô liên kết và mỡ. Tất nhiên tôi có ý kiến cắt một miếng mỡ ở đùi trái bệnh nhân rồi đem giải tấm thảm dầy này lên thành hậu của xoang và của nóc cong hốc mắt.

Một lần nữa tôi báo Reinhardt.

– Ông đừng ngạc nhiên khi thấy chúng tôi chăm lo bên đùi trái của ông. Chúng tôi sẽ cắt một miếng mô mỡ dùng để lấp một lỗ hổng nhé.

Reinhardt không ngạc nhiên chút nào. Ông chỉ hỏi tôi:

– Còn lâu không giáo sư?

– Chóng lắm. Ông sắp trở về giường nằm rồi.

Tôi phủ tạm thời một tấm vải đã khử trùng lên vùng mổ và giao Jojo “trấn giữ”. Tôi tiêm dưới da đùi dung dịch thuốc tê rồi cắt một miếng mỡ độ sáu phân vuông. Để Heinrich khâu vết mổ lại, tôi chuyển miếng ghép (greffon) đem vào óc trải lên lỗ hồng nguy hiểm này khâu vài mũi chỉ tơ. Bây giờ, chúng tôi có thể để nhẹ não thùy trán vào chỗ cũ, nằm êm ả trong chiếc “đệm” mỡ. Mục đích chính yếu của cuộc giải phẫu đã đạt được, tôi chỉ còn khâu lại màng cứng của óc. Còn lỗ hổng thứ hai trong óc, tôi cứ để vậy.

Sau khi đã khâu màng cứng não lại, chúng tôi đặt lại “nắp xương” vào chỗ cũ, kéo da đầu lên xương sọ vừa đưa và khâu cẩn thận vết rạch mổ lại. Tôi thận trọng không để một vũng máu chảy nào. Mổ tất cả mất chưa đầy một giờ rưỡi. Sau khi băng lại, tôi giảng cho bệnh nhân phải, bằng bất cứ giá nào, hết sức tránh cử

động. Bệnh nhân được chở về phòng. Chúng tôi ra ngoài hành lang rít một điếu thuốc. Tâm trí căng

thằng trong chín mươi phút này, với những lúc lo sợ và hy vọng nối tiếp, với những mối giao động càng linh hoạt khi chúng tôi càng phiêu lưu trong một thế giới chưa thám hiểm và với sự cố gắng tập trung tư tưởng trong khoảng thời gian dài này. Phải, tâm trí căng thẳng này chúng tôi đã hoàn toàn sống với nó và đã bị nó hành hạ. Heinrich dập điếu thuốc để gẫy tàn rồi phá tan bầu không khí im lặng.

– Theo ý anh một bộ óc bị tổn thương nặng nề như vậy có thể phục hồi lại những chức năng của nó không? Nó có thể làm việc như hồi xưa trước khi xảy ra tai nạn không? Anh vừa kêu lớn câu hỏi mà tôi vừa tự đặt trong tâm tưởng.

Tôi nhún vai.

– Thật tình nói với anh, tôi cũng không biết nữa. Tuy thế tôi vẫn lạc quan; vả lại cũng nên biết não thùy trán chỉ chịu tác động đè ép của quả trứng vịt to lớn này. Phải chờ đợi – ngay giờ ta không thể quyết đoán được. Khả năng tái tạo của thiên nhiên thật kỳ diệu … trời sinh trời dưỡng … nhiều khi có phép lạ. Và phép lạ có thật! Chứng nhức đầu biến mất, nước mũi thôi không chảy nữa, những nhiễu loạn của ngôn ngữ giảm dần. Chụp hình quang tuyến ba ngày sau cuộc giải phẫu, chúng tôi thấy bướu hơi đã xẹp đi hẳn.

Chỉ có trí nhớ là từ chối không trở về. Tuy vậy ở điểm này, chúng tôi ghi nhận mấy tuần sau một sự tiến triển khởi đầu. Dần dần, như khoảng trời xanh hiện rõ từ từ qua tấm thảm dày đặc mây đen đang bị xé rách lần lần quá khứ đó từng khúc đời. Tôi thật đã mãn nguyện.

Tôi có cảm tưởng như dự kiến một sự phục hưng của trí tuệ mà chính tôi là người có công kiến tạo. Mỗi lần công việc cho phép, tôi thường đến thăm và nói chuyện với Reinhardt. Buổi đàm đạo thật hứng thú vì Reinhardt thật có thiện cảm. Rất thông minh và óc quan sát tuyệt hảo, Reinhardt lại có tính khôi hài trầm lặng tinh tế và đúng lúc. Những nhận xét của anh về mấy anh phụ tá, nữ y tá và y công làm tôi thật tình mến anh. Mặc dù Reinhardt đã bình phục trông thấy, tôi vẫn chưa cho ngồi và dĩ nhiên chưa cho phép đứng dậy được. Tấm bảng “Triệt để cấm thăm bệnh” vẫn còn treo ở cửa phòng. Bởi mọi việc đều xảy ra tốt đẹp như vậy, tôi không muốn, dù phải trả một giá nào liều lĩnh vô ích.

Nhưng, một ngày kia, vào khoảng gần ngọ, chuông điện thoại reo trên bàn giấy tôi. Tôi nhận ra giọng nói của người y công trông coi khu đàn ông, một gã trẻ mới đến làm ở bệnh viện gần ba tháng nay. Gã lắp bắp vì cảm động.

– Thưa giáo sư … ông kỹ sư … ông thầy biết rõ lắm, người bệnh phòng 17 … ông ta vừa ngất xỉu … Mời giáo sư đến ngay cho!

Tôi vội đặt dây nói và chạy ra ngoài hành lang. Tôi thấy Reinhardt nằm dài trên giường, tái mét, thở hổn hển; mạch rất yếu nhảy hơn 200 nhịp một phút. Anh bị ngất đi. Tuần hoàn bị rối động. Người bệnh đang có vẻ bước vào trạng thái hôn mê. Dưới đất, cạnh chiếc ghế, tôi nhận thấy một vũng máu. Vũng máu này

nhỏ không thể nói là nặng lắm; sự có mặt của nó tuy nhiên đã chứng tỏ rằng bệnh nhân vừa lại bị một chấn động mạnh. Thật là một thảm họa. Phụ giúp bởi Heinrich và Jojo, cũng vừa được thông báo và ngừng ngay việc để chạy lại tiếp cứu, tôi bắt đầu làm công việc cứu cấp, – tiêm vào tĩnh mạch một dung dịch đường, thuốc trợ tim và cho thở dưỡng khí. Nhưng nhịp thở lại càng hỗn loạn như dể vỡ. Mặt vẫn còn tím ngắt. Chẳng bao lâu, chúng tôi phải áp dụng đến phép hô hấp nhân tạo. Hai mươi phút sau, đến lượt tim ngừng

đập. Cầm một ống tiêm có kim thật dài, tôi chọc vào phía tim trái và tiêm thận trọng một dung dịch Adrenaline. Vẫn vô vọng: tim vẫn ngừng đập, phổi vẫn không thở nữa. Dù cho chúng tôi cố gắng thế nào đi chăng nữa, người bệnh đã chết trong cánh tay chúng tôi. Đôi mắt mở lớn, đã lờ đờ mất thần, hình như nhìn thẳng chăm chú lên trần nhà. Trên những mặt biến dạng bởi đau đớn ghi hằn, nay đã dần dần trải lên vẻ bình thản bất động xa cách của sự chết. Bất lực không thể hồi sinh lại cuộc sống vừa mới ra đi, chúng tôi chỉ

cúi đầu để che giấu nỗi cảm xúc. Chưa bao giờ một cái chết lại làm tôi không nhận ra tôi và làm tôi bàng hoàng, như cái chết của Reinhardt. Tôi chưa biết việc gì đã xảy ra nhưng muốn tìm cho ra lẽ. Một cô y tá chạy ngay tìm người y công lúc nãy đã gọi điện thoại cứu cấp cho tôi. Gã lưỡng lự, bước vào phòng mặt mày tái mét vì lo sợ.

Tôi lên giọng hỏi:

– Ai vừa vào phòng này?

– Dạ, thưa một ông ở hãng … cháu không biết tên ông ta …ông ta nói ông là bạn thân của ông kỹ-sư đây, ông muốn vào thăm năm phút …

– Trong khi tôi triệt để cấm không cho ai vào thăm cả! Ai cho ông ấy vào?

– Dạ thưa cháu ạ.

– Tại sao anh lại làm như vậy?

Gã cúi đầu không trả lời.

Tôi hét lớn:

– Tại sao? Tôi muốn biết tại sao? Gã vẫn câm như hến, cố tránh cái nhìn của tôi như một cậu học-sinh bị ông giáo bắt quả tang đang làm lỗi.

– Anh có ở trong phòng không?

– Dạ không. Nhưng khi cháu thấy lâu quá nên cháu hé cửa …

– Thế anh thấy gì?

– Dạ thưa cháu thấy ông kỹ sư đứng dậy ngồi vào bàn. Ông viết vào một tờ giấy – dạ nhiều chữ số lắm, toàn là số cả … Cháu muốn dìu ông ấy vào giường nằm nhưng ông khách đã cản cháu và nói: “Chờ một chút xíu, chúng tôi sắp xong rồi.”

– Thế anh làm gì nữa?

– Dạ, cháu đi ra hành-lang và cháu đợi các ông ấy xong. Sau vài phút, ông khách đi ra Mặt ông ấy hớn-hở lắm. Ông ấy cười. Cháu nhìn thấy ông ấy gấp tờ giấy làm tư rồi cất vào túi. Rồi ông ấy vừa đi vừa chạy …

Tôi nắm chặt mấy ngón tay. Cái phương-thức! Bọn họ đã cưỡng-ức một người, không đủ sức tự-vệ, một người, như một phép lạ đã đi từ thế-giới bên kia trở về. Họ đã cố tình móc cho được cái phương-thức. Run người vì tức giận tôi nói lớn:

– Này anh, họ cho anh bao nhiêu tiền?

Gã quay mặt đi. Khuôn mặt gã trở nên lầm lì khiến tôi càng tức giận thêm.

Tôi nắm lấy hai vai gã và lắc mạnh.

– Đồ súc sinh! Mày có trả lời tao không! Bao nhiêu?

Bỗng nhiên hắn bủn rủn cả chân tay.

– Dạ 50 Mã khắc. Hắn nói rất nhỏ và bật khóc.

– Thế sau khi ông kia đi rồi thì sao?

– Thưa cháu thấy trong phòng một tiếng động … như một vật gì đổ, gã ấp úng vừa nói vừa gạt nước mắt. Cháu chạy lại, cháu mở cánh cửa … Ông ấy ngã ngửa ra đằng sau, đầu đụng vào chiếc ghế.

Cháu kêu cứu: bớ người ta! Rồi cháu đặt ông kỹ sư lên giường …rồi cháu chạy đi gọi điện thoại cho ông thầy … Dạ thưa có thế …

Tôi có thể bóp cổ gã mà không thấy chùn tay. Thật chúng tôi đã làm những điều không thể làm được, chúng tôi đã cố gắng từ đầu để cứu người bệnh khốn khổ này, rồi mọi việc trôi chảy như xếp, rồi ngay cả miếng di thực trong não đã dính liền, rồi không một trở ngại cả … để rồi bao nhiêu cố gắng ấy đi đến cái chết vô lý này! Tôi nhìn lơ đãng qua cửa sổ, một mảnh trời tràn ngập nắng, bất chợt tôi giật mình. Người y công nắm chặt lấy tay tôi, năn nỉ van xin:

– Cháu cắn rơm cắn cỏ lạy ông thầy. Ông thầy tha lỗi cho cháu! Ông đừng đẩy cháu vào tuyệt vọng … cháu có vợ dại con thơ … Lâu nay cháu bị thất nghiệp.

Tôi nhìn gã, nghĩ ngợi rất nhiều. Dĩ nhiên là gã có tội, – Nhưng một tòa án dù khắc nghiệt đến đâu cũng cho hắn trường hợp giảm khinh. Nhưng có tội nhiều nhất, trong tấn thảm kịch này, là những người đã thuyết phục và dụ hắn quên bổn phận. Những người này chỉ còn nhìn thấy ở người kỹ sư trưởng của họ một chức vụ kỹ thuật mà quên hẳn chức vụ thiêng liêng của con người có cái tên Reinhardt.

Ba ngày sau, trong chồng thư, tôi thấy một thiệp báo tang, một tờ giấy Bristol dầy viền đen:

Ban Quản trị, Ban Giám đốc và toàn thể nhân viên trong hang X thương tiếc báo tin cùng quý vị: Ông JOHAN-CHRISTOPHER REINHARDT Cử nhân Khoa học, tốt nghiệp Viện Kỹ Thuật Học, đã từ trần sau một tai nạn nặng nề. Ở con người đầy uy tín này đã bị tàn nhẫn lôi khỏi những hoạt động của hãng, cả một cuộc đời tận tụy cho tiến bộ. Hãng chúng tôi đã mất một người cộng sự viên không thể nào thay thế được và đã phụng sự cho đến hơi thở cuối cùng.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 9-10-12-13-14,

tháng 9-10-12,1964 tháng 1-2, 1965]

(1) pneumatocèles

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 16 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

Bài 18

Ông Ủy viên trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam gấp cái hồ sơ cuối cùng lại. Trời đã gần sáng. Ông gỡ cặp kính ra, rút khăn lau mặt. Người cán bộ bảo vệ vẫn ngồi ngoài cửa.

– Đồng chí bảo vệ!

Người cán bộ bảo vệ bước vào.

– Thưa đồng chí, tôi chờ chỉ thị.

Ông Ủy viên vươn vai;

– Tôi cần gặp đồng chí Giám thị.

– Rõ.

– Và cốc cà-phê

– Rõ.

Ông Giám thị đã tới. Sau đó là cán bộ cần vụ bưng cà-phê. Uống hết ly cà-phê, ông Ủy viên tỉnh táo.

– Đồng chí giám thị, đồng chí công tác trại giam bao lâu rồi?

– Thưa đồng chí Ủy viên, gần ba mươi năm.

– Tôi có thể biết khái quát quá trình hoạt động của đồng chí không?

– Thưa, được ạ!

– Ta vào ngay đi.

– Sơ khởi, tôi là quản giáo rồi lên trực trại. Tôi đã công tác ở trại Lý Bá Sơn, trại Sơn La, trại Lào Kay. Tôi được điều về đây ngót sáu năm, từ Phó giám thị và hôm nay Giám thị.

– Sự nghiệp cách mạng của đồng chí chỉ quanh quẩn ở các trại giam?

– Vâng.

– Trong gần ba mươi năm công tác, đồng chí đã gặp ca nào giống ca này chưa?

– Tôi chưa hề gặp.

– Trước năm 1975, có ca nào nặng tính chất chống phá trại giam không?

– Thưa không .

– Từ năm 1975 tới nay có ca nào chống lao động không?

– Không.

– Tinh thần bọn sĩ quan ngụy từ ngày ở Nam Hà B ra sao?

– Tích cực lao động cải tạo.

– Bao nhiêu ca biệt giam?

– Bốn mươi.

– Lý do?

– Hát nhạc vàng và liên hệ mua bán đổi chác với dân.

– Đồng chí quả quyết chưa phát hiện ca nào chống đối chính trị cả chứ?

– Vâng.

– Tin tức hôm qua lọt sang Nam Hà A chưa?

– Tôi chưa nắm vững.

– Tôi nắm rồi. Nam Hà A chưa biết gì cả. Bọn tướng lãnh, nghị sĩ không đáng quan tâm. Bọn sĩ quan cấp trung tá mới cần đề phòng. Phân loại chúng nó ra. Bọn sĩ quan chiến đấu quan trọng hơn bọn sĩ quan văn phòng. Nhảy dù, lính thủy đánh bộ, biệt kích nguy hiểm nhất. Đồng chí học tập kinh nghiệm đấy.

– Vâng.

– Cho chúng nó nghỉ lao động một tuần. Bơm cho chúng nó ít hơi hy vọng. Nói nửa kín nửa hở để chúng nó tưởng Mỹ sẽ chuộc chúng nó, đưa chúng nó sang Mỹ với gia đình chúng nó. Như thế, khí thế của chúng nó xẹp xuống, ta đủ thì giờ đối phó.

– Vâng.

– Cho nghỉ lao động, chúng hết dịp gặp dân và ta bảo mật vụ sách động hôm qua.

– Vâng.

– Chuyển công tác mấy đồng chí trực trại đi nơi khác.

– Vâng.

– Riêng hai mươi tám thằng mới đến, đối xử với chúng bình thường.

– Vâng.

– Tại sao đồng chí ra lệnh nhốt ba thằng?

– Tôi muốn dằn mặt chúng.

– Tại sao không cô lập chúng trước? Tại sao để chúng tự do tuyên truyền sách động? Tại sao không rút kinh nghiệm các nhà giam phía Nam? Đồng chí cần kiểm điểm.

– Vâng.

– Bằng mọi giá, mọi cách, bịt lấp tin tức vụ này.

-Vâng.

– Riêng hai mươi tám thằng phản động, cứ mặc xác chúng nó liên hệ với bọn cũ, chờ chỉ thị trung ương. Đồng chí đừng để bọn sĩ quan có đà tiến tới tranh đấu cho lũ nhóc.

– Vâng.

– Đồng chí có nhận ra sự sai lầm của đồng chí Cao Minh Chiếm không?

– Thưa không ạ!

– Thay vì tách ra, đồng chí ấy lại tụ chúng thành sức mạnh.

– Đồng chí thật sáng suốt.

– Tôi về Hà Nội bây giờ. Sẽ có chỉ thị sau. Nhớ cho chúng ăn cơm trắng suốt tuần với thịt lợn, tiêu chuẩn mỗi ngày một lạng cho một đứa…. Đồng chí cần hỏi gì thêm không?

– Thưa không .

– Đừng quên các cửa nhà chỉ mở khoá hai tiếng một ngày.

– Còn tắm giặt?

– Vệ binh dắt chúng ra suối, từng đội, hai ngày một lần. Năm mươi vệ binh coi chừng một đội đi tắm.

– Còn thăm gặp?

– Cho nhận quà, không cho gặp thân nhân.

Ông Ủy viên về Hà Nội. Ngay buổi sáng, cán bộ giáo dục tới từng phòng gọi vài người lên Ban Giám Thị làm việc. Giám thị đã cho những trại viên già thuộc sĩ quan văn phòng, những người an phận và cả tin mà y biết chắc là đã ùa vào đám đông chứ không dám đơn lẻ chống đối. Vậy thì năm mươi đại biểu của ba mươi đội được Giám thị mời ngồi ở hội trường, được uống nước trả Thái Nguyên, được hút thuốc Sông Cầu và được nghe Giám thị nói chuyện thân mật:

– Tôi rất tiếc vụ hôm qua. Cán bộ trực trại có khuyết điểm lớn. Nhưng đó là hiện tượng, không phải là bản chất. Tuy nhiên tôi đã ra lệnh điều mấy cán bộ trực trại công tác nơi khác để tránh mọi điều đáng tiếc nặng tính chất cá nhân. Tôi cũng đã ra lệnh cho các anh được nghỉ ngơi một tuần vì kết quả lao động sáu tháng cuối năm rất tốt. Do đó, vinh quang của lao động là một tuần liền, trại phấn đấu để các anh ăn cơm với thịt, tiêu chuẩn hơn cả cán bộ. Sự bồi dưỡng nằm trong chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước. Các anh cứ tin tưởng vào đường lối trước sau như một của Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh mà học tập tiến bộ để về sum họp gia đình. Gần đây, bọn đế quốc Mỹ đầu sỏ lại vừa tung tin chúng sẽ đổi đô-la lấy các anh đem về Mỹ với gia đình các anh luôn. Làm gì có chuyện đó, toàn tin tuyên truyền nhảm nhí! Giả thử Mỹ muốn đổi tiền lấy các anh, Đảng không bằng lòng thì sao?

Năm mươi trại viên nôn nao quá, không muốn nghe Giám thị rông dài nữa, chỉ muốn về ngay báo tin mừng cho các anh em khác. Nhưng Giám thị thích rông dài:

– Nó tưởng 2500 đô-la của nó mua được một người Việt Nam à? Chế độ ta quý trọng con người vô cùng, do đó, con người vô giá, con người là tài sản của tổ quốc. Nó gây sức ép cách mấy, ta vẫn từ chối.

Giám thị bỏ rơi chuyện Mỹ mua người.

– Việc đáng tiếc hôm qua, khuyết điểm về phía chúng tôi, chúng tôi đã tiếp thu và đã tỏ ra thái độ tích cực. Bốn cán bộ trực trại bị điều đi công tác nơi khác, chúng tôi không trả thù các anh. Về phía các anh, các anh cũng có khuyết điểm và phải nhận khuyết điểm để tiến bộ. Các anh toa rập với những người vừa nhập trại, chống lao động, hát nhạc chỉnh huấn, muốn gây bạo loạn. Trung ương không kịp can thịệp thì quân đội đã đàn áp các anh. Các anh chết, ai thương các anh ngoài vợ con cách anh? Nếu Mỹ nó đưa danh sách trao đổi các anh, chúng tôi gạch tên các anh đi, bảo các anh chết bệnh rồi thì nó làm gì, dám làm gì? Các anh nên tỏ thiện chí. Cán bộ sẽ phát giấy để các anh tự kiểm điểm vụ hôm qua. Có anh nào phản đối không?

Không ai phản đối. Năm mươi người uống trà, hút thuốc phì phèo. Họ về phòng, mang nguồn hy vọng cho toàn trại. Giám thị ra lệnh cho vệ binh canh gác cẩn mật ngoài hàng rào, bên trong bỏ ngỏ tự do, tù nhân tha hồ luận bàn tin Mỹ chuộc sĩ quan cải tạo giá 2500 đô-la một người.

Tự nhiên, hai mươi tám thần tượng sáng qua bị quên lãng. Trước hết, họ là tù nhân tư tưởng, họ là phản động, không hề là sĩ quan trình diện học tập. Giám thị không xếp họ vào thành phần những người được Mỹ chuộc tiền đưa sang Mỹ. Giám thị ngu nhưng Ủy viên khôn. Các sĩ quan xôn xao suy diễn tin “làm gì có chuyện đó” của Giám thị. Có vẻ ăn khớp với tình hình quá. Giám thị đuổi trực trại đi chỗ khác, bồi dưỡng cải tạo viên cả tuần. Cộng sản nói không là có, có là không. Nó đã nói không , chắc chắn sẽ có.

Lương Việt Cương buồn bã nói với Hoàng Sơn Trường:

– Đàn anh mình mãi mãi ngây thơ.

Trường thở dài:

– Dễ hiểu quá. Họ đi trình diện học tập, còn chúng ta bị bắt bỏ tù. Họ cải tạo chung với nhau, chúng ta bị bắt lẻ tẻ, lưu lạc khắp đề lao, khám lớn, trại tập trung , tự khai mửa máu, ăn đòn rạn tim. Còn họ tự khai tập thể một lần, lao động lè phè, thăm nuôi đều đặn. Không thể so sánh họ với chúng ta. Họ đã thua cuộc chiến cũ. Ta vừa khởi sự cuộc chiến mới. Họ có những trung tá, đại tá đã giải ngũ vì tinh thần văn phòng, cộng sản chưa gọi đã vội đi “trình diện sớm để về sớm” rồi cũng bày đặt thù nặng nghìn cân! Tôi thấy mấy anh già không có đầu, chiến đấu với họ cũng uổng mất chính nghĩa. Niềm hãnh diện của tôi là được đứng chung với du đãng Dzũng quan tài, Qúy dao, Hạnh búa,với lơ xe đò Lê Văn Thu, phu nhà đòn Vũ Bình Bắc, với em bé mồ côi Trần Văn Nam.

Cương nói:

– Họ sẽ vỡ mặt, nếu tin lời cộng sản .

Trường cười:

– Tôi mất kính rồi nhưng tôi có thể nhìn rõ tim họ. Ta nên để họ vỡ mặt vài lần, may ra họ khôn lớn. Tổng thống của họ để lại một câu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hay nhìn kỹ những gì cộng sản làm.” Họ đã nhìn kỹ mà họ cứ nghe.

Cường hỏi:

– Cậu có thất vọng về họ không ?

Trường đáp:

– Khi tôi quyết định dấn thân, tôi không hề nghĩ đến họ nên chẳng có gì phải thất vọng. Có điều…

– Điều gì?

– Trong mọi địa hạt, đàn anh mình chết hết rồi!

– Phải thức tỉnh họ.

– Vô ích.

– Tôi cố gắng.

– Anh thử cố gắng xem sao.

Lương Việt Cương đã đến từng phòng, đứng ở cửa sổ, trình bầy với những người sĩ quan cải tạo về thủ đoạn của cộng sản và khuyên họ nên thận trọng về tin tức phóng ra từ miệng cộng sản. Nhiều sĩ quan cấp úy tin Cương. Các sĩ quan già vẫn khư khư lối suy diễn của mình. Lương Việt Cương muốn kể lại hình phạt hai mươi ngày đêm treo hai ngón tay cái bằng giây điện lên cao, mười đầu ngón chân chạm đất cho những ông trình diện học tập nghe. Sợ phí lời và đau đớn thêm, Cương bỏ về phòng.

– Sao? – Trường hỏi.

– Cậu nhận xét đúng. – Cương đáp. Những người trình diện học tập vả những người bị còng tay dẫn đến nhà tù khác hẳn nhau. Họ đầy mặc cảm với cộng sản. Chúng ta thì không. Họ đã cầm súng của Mỹ, lãnh lương do Mỹ viện trợ. Chúng ta thì chưa. Họ còn nhiều thứ để sợ mất nốt. Chúng ta đã chẳng còn gì. Quên họ là vừa.

Hai hôm sau, cả trại bận bịu làm bản tự kiểm cá nhân khuyết điểm với Ban Giám Thị. Hai mươi tám con sư tử không được phát giấy vì không phải là sĩ quan trình diện học tập. Người trình diện có cả trăm ngàn, họ chen lấn nhau xếp hàng ở những địa điểm trình diện. Họ nộp tiền ăn 10 ngày, đem mùng mền, quần áo, thuốc thang, ngồi chầu chực dưới nắng mưa để “đăng ký” một cách trịnh trọng và lễ độ tại bàn giấy của chú bộ đội nhãi ranh. Họ nghỉ ngơi ở các địa điểm trình diện rồi thong thả lên xe về trại học tập cải tạo. Họ làm một tờ tự khai duy nhất. Không ai hỏi cung họ cả. Nếu họ vào biệt giam là vì họ vi phạm Nội Quy, bị kỷ luật. Thế thôi.. Người bị bắt ít lắm. Họ bị còng tay, bịt mắt tống vào nhà lao, vào cachot. Họ bị còng tháng này sang tháng khác. Họ bị cưỡng bách viết tự khai. Họ can tội chống phá chế độ cộng sản sau năm 1975. Họ là những người lính bị chỉ huy bỏ rơi cút sang Mỹ hoặc trốn về chờ trình diện học tập vẫn ngạo nghễ chíến đấu trong rừng già vì danh dự quân đội, vì tổ quốc và đồng bào. Họ không bị xếp vào hàng ngũ “nguỵ quân, ngụy quyền”.

Dzũng quan tài hậm hực:

– Đàn anh vỗ tay hay lắm, vỗ tay khi chắc ăn! Xét cho cùng, du đãng phản động ngon hơn nhiều.

Qúy dao đứng trước một phòng đang cặm cụi tự kiểm, chửi đổng:

– Anh nào cũng đòi ví mình với Hàn Tín! Ông Hàn Tín biết mình có tài, cần bảo vệ mạng sống để thi thố tài năng nên ông ấy không thèm chấp quân đồ tể, lòn trôn cho xong chuyện.! Còn các anh, các anh có tài mẹ gì mà ham sống? Các anh sống như chết rồi. Kệ các anh. Nhưng còn sống, sau này, đi đâu thì nên ngậm miệng và cúi mặt nhé! Tôi không vơ đũa cả nắm đâu, tôi nói một số các anh già sĩ quan văn phòng thôi.

Lương Việt Cương không có tác dụng bằng Dzũng quan tài, Quý dao. Hào khí du đãng phản động bốc ngất trời tù. Các sĩ quan cấp úy chiến đầu không làm tự khai từ đầu. Nhiều sĩ quan cấp tá xé bỏ tự khai làm dang dở. Nửa trại nộp tự khai. Những người không nộp, Ban Giám Thị chẳng có ý kiến gì. Vụ nổi dậy ở trại Nam Hà kể như xong xuôi. Rất đông cải tạo viên tưởng mình đã thắng. Riêng bầy sư tử thì bình thản. Nộp tự khai rồi những ông sĩ quan già ngồi rung đùi suy diễn tin tức Mỹ đòi chuộc cải tạo viên. Tin này đã cũ mèm ở các trại giam miền Nam. Mỹ nó “sang trang lịch sử”, nó ném cả dân tộc Việt Nam vào miệng chó sói cộng sản, nó đứng nhìn chó sói rút ruột dân tộc Việt Nam không mảy may trắc ẩn mà còn tin nó bỏ tiền chuộc vài ngàn anh sĩ quan cải tạo, mà còn hân hoan cám ơ Mỹ thì…khó dùng chữ quá!

Sư tử lãng mạn đã quen cô đơn. Bây giờ sư tử say men cô đơn. Và sư tử chỉ còn tin ở chính mình, ở chính thế hệ tuổi trẻ của mình, thế hệ lập thuyết tiểu tư sản.

Dấu chân ngày xưa

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 16 Jan 2026

Ly rượu ngày cưới

Rút trong tuyển tập “Dấu chân ngày xưa” 
Đồng Sa Băng 

Trời vừa sang canh năm, tiếng gà gáy bắt đầu nổi lên đó đây và nhà bà Chi cũng đã lên đèn. Cái đèn dầu Hoa Kỳ, cái nồi đèn to bằng trái bưởi, được thắp lên soi sáng mập mờ căn phòng nhà ngang. Bà Chi và cô con gái – Thanh, lục đục lôi hai đôi nừng chứa đầy đậu phụng để sửa soạn gánh xuống chợ Vam cân cho cửa tiệm Ðậu Không Vỏ. 
Hôm nay là ngày đầu tiên Thanh theo mẹ đi cân đậu. 
Mấy đêm nay Thanh phụ mẹ chà mấy thùng đậu phụng. Những trái đậu phụng đã phơi khô Thanh đem bỏ vào một cái rổ tre, tay cầm hòn đá tròn, dẹp, chà đều lên những trái đậu phụng. Vỏ đậu phụng khô nứt bể ra và hột đậu được tách rời khỏi vỏ. Thanh lựa những hột đậu phụng tốt, to, mập mạp bỏ vào một bên, và những hột đậu èo ọp bỏ riêng ra. Có những đêm thật khuya Thanh vẫn còn ngồi bên ngọn đèn dầu để lựa đậu phụng. Những hột đậu bóng loáng, đầy nhựa sống đang luồng trong từng ngón tay của Thanh, nhưng rồi ngày mai nó sẽ được chuyển qua bao nhiêu bàn tay xa lạ. 
Những ngón tay của Thanh đang lùa trên mâm đậu phụng tự nhiên ngừng lại. Thanh nhìn ra ngoài hiên thấy ánh trăng đang rập rình sau khung cửa. Ánh trăng mỗi lúc càng cao và sáng hơn. Thanh vội bỏ mâm đậu phụng chạy ra sân. 
Thanh là một cô bé bạc tình. Vừa thấy ánh trăng sáng là đã quên đi ngọn đèn dầu kia rồi! Bởi vì ánh trăng sáng lung linh xuyên qua ngọn tre đã gợi lại ký ức của thời thơ ấu nô đùa dưới trăng. 
Trăng miền quê khác với trăng thành thị, vì trăng miền quê sáng hơn. Quê của Thanh ngày xưa không có đèn điện, từ làng trên đến xóm dưới chỉ có những ngọn đèn dầu. Khi màn đêm buông xuống là cả xóm làng lung linh với những ngọn đèn mập mờ. Ngoại trừ những đêm sáng trăng. 
Trời càng về khuya ánh trăng càng sáng tỏ. Những con đường làng phủ kín bởi những lùm tre. Vào những đêm trăng, ánh trăng đâm thủng xuyên qua những cành tre để in hình trên khắp nẻo đường; Nhìn trên con đường làng người ta sẽ thấy những vết loang của ánh trăng chen lẫn với bóng tối mập mờ của trời đêm. Rồi một cơn gió thoảng, lay động cành tre, sẽ làm chao đi những vết loang trên mặt đường. Thời thơ ấu Thanh cùng những đứa trẻ nô đùa chạy nhảy dưới ánh trăng. Những đêm trăng mùa Hạ, Thanh theo cha ra bờ sông ngắm ánh trăng soi mình trên mặt nước. Và có những đêm trăng thanh gió mát, Thanh ngồi ngắm chị Hằng hé cười sau cành lá, rồi say đi trong giấc ngủ khi trăng tàn trên vỉa hè. 
Mấy mùa trăng qua đi, Thanh đã lớn và làm người thiếu nữ của tuổi trăng tròn lẻ. Bây giờ Thanh xinh đẹp hơn nhiều, cái đẹp mộc mạc của miền quê, và cái đẹp của những đêm giã gạo dưới ánh trăng. 
Một buổi chiều trở về từ cánh đồng, năm ba người dưới ruộng mở lời chọc ghẹo: “Hởi em trên đường cái quan, dừng chân đứng lại anh than đôi lời” làm Thanh ngượng đỏ mặt. Không biết than với thở cái gì đây, dẫu có hỏi cái gì chưa chắc Thanh biết trả lời làm sao, đừng nói chi đến than với thở. 
– Thanh, Thanh, tiếng người dưới ruộng gọi lên, em đi đâu về đó? 
– Em đem cơm cho thợ cấy. 
– Lại đây ngồi chơi chút đã. Trời nóng quá, em có gì uống hông? 
– Chị uống nước trà nghen. Ai hò hồi nãy vậy chị Huyền? 
– Anh nầy nè, anh Mình Tinh bạn của chị đây nề. 
Huyền và người tình sắp cưới từ làng dưới lên đây dặm lúa. Những ngày không mưa gió họ thường có mặt trên cánh đồng nầy. Có hôm thì nhổ cỏ, có hôm thì tát nước từ dưới mương lên ruộng. Họ quấn quít với nhau bên chiếc gàu tre bóng loáng. Họ đứng cách nhau chừng ba bốn thước trên bờ giửa đám ruộng và mương nước. Một cách nhịp nhàng, họ gặp người lại, bốn cánh tay giang ra đưa chiếc gàu vục xuống nước; Xong lại ngửa người ra, bốn cánh tay lại kéo chiếc gàu chứa đầy nước đổ lên ruộng. Cứ thế hai người trông như hai gã say rượu, lúc thì gập người vào nhau, lúc thì ưỡn người ra và nước thì cứ chảy lai láng trên cánh đồng lộng gió, giữa tiếng hò, tiếng hát hố của người dân quê mộc mạc. Cánh đồng ở đây có những đám ruộng nằm trên gò, nước xe không chảy vào được nên người dân phải dùng gàu hoặc xe đạp nước để mang nước từ dưới thấp lên. 
– Ngày mai mẹ em có đi cân đậu không ? Người thiếu nữ hỏi. 
– Có, và em cũng đi nữa. 
– Nhà em trồng đậu hả, mấy công đất? Người thanh niên hỏi. 
– 10 công. 
– Được bao nhiêu đậu? 
– 10 ang. 
Người thanh niên rót trà vào chén, ngửa mặt lên trời uống ừng ực, nghe Thanh nói hắn cười sặt sụa rồi quay qua người thiếu nữ: 
– Trời ơi, đất gì mà 10 công trồng chỉ có được 10 ang đậu! 
– Lấy đâu ăn mà còn đi bán em. Người thanh niên nói tiếp. 
– Ðất gò sỏi đá nên đậu nó èo ọp, cha tui chỉ ép một ít lấy dầu nấu ăn, lấy bã nuôi heo còn lại đem đi bán. 
– Ai lo công việc trồng tỉa nầy? 
– Cha tui, mẹ tui, và tui cũng phải ra tỉa đậu nữa. 
– Cực quá hả, người thiếu nữ nói, lấy chồng làm nghề buôn bán cho khỏe em ơi, làm nông cực nhọc mà không có tiền nhiều, khổ lắm. 
– Hay là để anh Mình Tinh ảnh giới thiệu đứa em họ của ảnh cho em nghen. Em họ của ảnh giống ảnh lắm đó. 
Có nghĩa là người em họ kia cũng đẹp trai lắm. Nói xong người thiếu nữ liếc mắt nhìn người tình. 
Thanh cũng không để ý những lời đùa giỡn cuả cặp tình nhân, nàng lễ phép chào họ rồi quảy đôi ky trên vai đi về. 
Khi đến mương Dân thì tự nhiên con chim xanh ở đâu xuất hiện. Con chim với bộ lông xanh tươi, xanh hơn cả màu xanh lá mạ, và đẹp hơn hết những màu xanh khác, cái đuôi trục lúc, cái mỏ vàng, dài, nhọn hoắc, đang đậu trên một khúc cây khô bên bờ mương. Nó là con bói cá. Thanh cũng chưa bao giờ nghe tiếng con chim bói cá kêu làm sao. Ðang đậu tự nhiên nó bay là là trên mặt nước, rồi nó cất mình bay thẳng lên không trung. Nó đứng một chỗ trên đó, giống như có một sợi dây vô hình cột nó trong giữa trời đất. Nó lức láo soi cặp mắt nhìn xuống mương nước. Đùng một cái, như sợi dây treo bị đứt, nó lao mình cắm thẳng xuống mặt nước; Rồi ngay lập tức như có một sợi dây thun giựt ngược thân hình nó trở lại không trung, và trong cái mõm vàng khè của nó là con cá nằm ngang, cố vùng vẫy tìm lối thoát. Nó lại mang con mồi về đậu trên khúc cây khô trơ trụi bên bờ mương. Thanh đang đưa mắt nhìn theo con bói cá tự nhiên nó bị níu kéo bởi những con cò trắng, chân dài, cổ cao, thân hình trắng nõn, vẫn lê những bước chân âm thầm đi tìm từng con cá con mà lòng khâm phục mỗi khi nhìn thấy con bói cá rơi mình từ không trung. Thanh thầm phục những con cò trắng, hình ảnh của sự kiên nhẫn hơn mọi sự kiên nhẫn khác. 
Trời vừa hừng đông, Thanh gánh gánh đậu phụng theo mẹ rời nhà để xuống chợ Vam. Con đường thẳng tắp chạy từ đầu làng đến cuối xóm, hai bên đường là những lùm tre già rậm rạp, cao vút. Mặt trời mới vừa lấp lé từ phương Ðông mà bóng người đã tấp nập trên khắp ngõ đường làng quê. Thanh quảy gánh đậu phụng lúp xúp chạy trên con đường làng xuống chơ. Qua khỏi Ðồng Xuân, Mễ Hưng rồi đến đập Bến Thóc là đến gò Rộng với biết bao cây thông nằm ngay hàng thẳng lối. Thanh thấy như mình được mở rộng với thế giới bên ngoài, tiếng thông reo, những lối đi mòn trên bãi cỏ, rừng dương, và tiếng còi tàu rít lên từng hồi của đoàn xe lửa báo hiệu con tàu sắp đến sân ga. Hình ảnh nầy Thanh chưa bao giờ thấy ở nơi chân núi hẻo lánh xa xôi. Qua khỏi gò Rộng một khúc là ngôi chợ sầm uất buôn bán đủ thứ hàng hóa và người đi chợ sao đông đến thế! Không như ngôi chợ bé tí ở làng mà hằng ngay Thanh vẫn đến. 
– Bà Chi , tiếng gọi của người chủ tiệm Ðậu Không Vỏ, đem đậu vô đây cân đi. 
Bạn hàng chen chúc, kẻ mua, người bán đông nghẹt, đúng là cái chợ mà! Bà Chi quay lại sau lưng hối đứa con gái: “Mau gánh theo mẹ.” 
– Con bà đó hả, chà đẹp gái quá, có chỗ nào ngắm nghía gì chưa? 
– Ngắm với nghía cái gì hổng biết, con nhỏ mới có 17 tuổi đó. 
– 17 bẻ gảy sừng trâu, bà không nghe nói sao! 
– Thôi cân lẹ dùm đi, tui còn phải đi chợ nữa. 
– Con, con ơi, bà chủ tiệm nhiều chuyện, con nhìn thằng kia kìa, nó là con của cô đó, con ưng nó không? 
– Sao bà dai như đĩa vậy, con tui mới lớn lên để tui nhờ vài ba năm nữa được không. 
– Thì con bà còn đó, mất mát đâu mà lo. Nhưmg mà nhớ sau nầy làm sui với tui nghen. 
Thanh như bị con ong nó chích đau cứng bản họng. Ðem đậu xuống đây bán chứ phải đi coi mắt đâu mà bà nầy làm như bả đặt cọc mình không bằng. Nàng lại nhớ cái thời mà Quách đại hiệp và Dương đại hiệp uống rượu rồi ngoéo tay nhau thề sẽ kết thành sui gia khi đứa bé vẫn còn nằm trong bụng của Mục Niệm Từ. Chuyện này nghe giống như “mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ” vậy, có nghĩa là xưa rồi Diễm. Ngày đó ngay cả Hoàng Lão Tà còn đứng ra làm đám cưới cho Dương Quá và Cô Long kìa. Nhưng hên là mẹ của nàng không hứa điều gì với bà chủ tiệm này. Nàng bước vào bên trong tiệm: 
– Ðôi nừng của tui đâu? 
– Chà con gái dễ thương quá. Tịnh, đem đôi nừng ra trả cho em đi con. 
Người thanh niên trao đôi nừng cho Thanh rồi bước vô nhà. 
Trong giây phút Thanh cảm thấy bồi hồi, thì ra Tịnh, con bà chủ Ðậu Không Vỏ, lại là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Thanh lấy đôi nừng trên tay của Tịnh, liếc mắt thoáng nhìn người thanh niên rồi bước ra cửa tiệm. 
Hôm nay trong lòng Thanh rất vui. Ngày đầu tiên nàng nhìn cảnh chợ búa sầm uất, cửa hàng đông đảo như ngày hội. Thanh đứng nhìn những cửa tiệm bán quần áo, giày dép đẹp ơi là đẹp, mà quên đi cả giờ giấc. Nàng đưa mắt nhìn một vòng bổng nhiên đôi mắt nàng dừng lại ở cửa tiệm cà rem. Không nhịn được, Thanh đến mua cây cà rem xanh xanh đỏ đỏ. Cây cà rem mát lạnh và ngọt lịm cứ chảy dài, và từ từ tan biến trong nỗi luyến tiếc của Thanh. Trên tay Thanh giờ chỉ còn cái que trơ trụi, nàng bỏ vào miệng mút mút cho đỡ thèm. 
– Con muốn ăn nữa không? 
– Mẹ mua thì con ăn. 
– Ðược, mẹ mua cho con một cây và ba cây khác đem về cho mấy em con. 
– Nhưng đường xa quá, nó tan hết còn đâu đem về nhà. 
– Ðừng lo, mẹ biết cách mà. Anh bán cà rem, anh bán cho tui ba cây, gói lại bằng giấy nylon và bỏ vào bịch trấu cho tui. Ðó, con thấy hông, kỳ trước mẹ cũng bỏ vào bịch trấu, gió không vào được, cà rem lâu tan nên mẹ mới đem về nhà được đó. 
– Ủa Thanh! tiếng nói của Huyền, em bán đậu xong chưa? 
– Bán hết rồi. Chị làm gì đây? 
– Chi đi với anh Mình Tinh xống đây mua phân Uré cho lúa. 
– Ảnh đâu? 
– Trong kia kìa, trong tiệm Ðậu Không Vỏ kìa. 
– Bộ quen hả? 
– Cô của ảnh đó chứ quen gì. 
– Thôi em phải đi với mẹ em, chị ở lại về sau nghen. 
Thanh quảy gánh ra về khi buổi chợ bắt đầu thưa người. Cũng trên con đường làng sáng nay nàng đã đi qua, bây giờ có vẻ vắng lặng. Mặt trời đã gần nữa ngày, cảnh làng quê cũng giống như buổi chợ sắp tàn, tiếng nô đùa của lũ trẻ lắng dần trong những tàn cây, bóng mát, khi những bà mẹ gìa đang cặm cụi thổi nồi cơm trưa. Ðôi nừng trên vai Thanh không còn nặng trĩu như sáng nay, chỉ có những món quà cho mấy đứa em và con cá ngừ tươi mà cha nàng đã dặn sáng nay trước khi đi. Nhưng tâm tư của Thanh đã vương vấn chút gì trong bưổi chợ xa nhà đầu tiên. Nàng bước đi khi những chiếc lá tre vẫn rơi đều trên con đường quê. 
– Thanh, Thanh, tiếng gọi của Huyền, em đem cơm cho thợ cấy về hả. Lại đây ngồi nghĩ chơi chút đã. 
– Tuần rồi em đi chợ Vam vui hông? 
– Em có thấy thằng con của bà Ðậu Không Vỏ không? 
– Em thấy nó đẹp trai không? 
– Chị ơi, chị làm gì mà hỏi không kịp cho tui thở vậy. Có chứ, mà hình như anh đó ăn hến hơi nhiều đó. 
– Sao em nói vậy? 
– Vì em không thấy anh ấy nói một tiếng nào hết. Nhưng mà đẹp trai đó nghen. 
– Em muốn chị nhờ anh Mình Tinh ảnh nói dùm cho không? 
– Nói gì, kỳ quá, em không muốn đâu. 
Từ đó Thanh thường theo mẹ gánh đậu xuống chợ Vam cân bán. Riết rồi đậu trong nhà đã bán hết thì Thanh lại đi mua đậu hàng xóm về chà đem đi bán cho tiệm Ðậu Không Vỏ. 
Một thời gian sau mối tình đậu phụng cũng chớm nỡ. Thanh đem lòng thầm lặng thương yêu người con trai ít nói của tiệm Ðậu Không Vỏ. 
Rồi một hôm: 
– Bà Chi, ngày mai bà sửa soạn chút đồ ăn, có người đến đặt lễ hỏi con Thanh đó nghen. Ông Chi nói. 
– Ai đi hỏi con Thanh sao tui không hay biết gì hết vậy. Mà sao đùng một cái là làm lễ hỏi là sao? Ai làm mai làm mối vậy? 
– Mai với mối gì hổng biết, tui đã hứa gã nó rồi. 
– Mà gã cho ai? 
– Cho thằng con ông Tri chứ ai. 
– Cha nói gã con cho con ông Tri nào? Thanh sững sốt. 
– Tri trên Xuân Ðình đó. 
– Sao cha không hỏi con? Con không chịu đâu. 
– Không sao đâu con, thằng nầy biết lo làm ăn cha thấy cũng được lắm. 
– Thì ai muốn ăn cũng phải làm mới có ăn chứ. Con không muốn lấy chồng bây giờ đâu. 
Nói xong Thanh bỏ đi vào buồng ngồi khóc. 
– Nhưng mà ông hứa với người ta làm sao, sao tui không hay biết gì hết. 
– Thì hôm đó tui đem trâu ra ruộng cày. Ðến trưa thì ông Tri ra tìm gặp tui ngoài đồng, ổng rủ tui vô nhà ổng nhậu chơi. Trong bữa tiệc có anh Quới nữa. Ăn nhậu một hồi, tui cũng hơi xin xỉn, ông Tri rủ tui làm sui với ổng, tui nói làm sui thì làm sui, rồi ngoeó tay nhau uống rượu. 
– Trời ơi, ông làm sui vậy đó hả? 
– Ðâu có, tui uống say đâu biết mình nói cái gì. Ai ngờ ổng lấy cớ có anh Quới làm chứng, mấy ngày sau ổng nhắc lại lời hứa của tui, mà lở hứa rồi đâu có nuốt lời hứa được. Nên ngày mai ổng dẫn thằng Xuyến xuống làm đám hỏi để thực hiện lời hứa của tui và ổng đó. 
– Làm sui gì kỳ vậy! Không nuốt được thì ông cũng ráng mà nuốt đi. 
– Thôi mà, tui thấy thằng nhỏ đó cũng biết lo làm ăn, vậy là được rồi. 
Thanh nghe lời cha nói như tiếng sét nổ ầm bên tai. Nàng buồn rầu không biết phải làm sao. Hôm sau Thanh lên hông nhà ông Quới nhìn trộm xem người chồng sắp cưới của mình mặt mũi ra sao. Vừa trông thấy gương mặt của người thanh niên mà cha nàng đã hứa gã nàng làm vợ, Thanh buồn rầu ảo não ra về. Bao nhiêu giấc mơ nàng dệt và ấp ủ trong lòng từ ngày theo mẹ bước chân xuống ngôi chợ xa nhà bây giờ dường như bắt đầu tan vỡ. Những ước mơ có một ngày được cùng nắm tay Tịnh đi trên con đường làng bây giờ đang bị lay động. Như vết loang của ánh trăng trên mặt đường có bao giờ được bình yên mãi mãi đâu. Thế rồi nàng khóc. Những giọt lệ long lanh trên khóe mắt rồi lăn dài xuống đôi gò má. Những giọt lệ không lời âm thầm rơi xuống cho một cuộc tình chớm nở của tuổi mộng mơ. 
Thanh cũng không buồn cơm nước, ngày này qua ngày nọ tự nhốt mình trong căn phòng nhỏ. Bao nhiêu áp lực nàng đặt lên người cha với một hy vọng sẽ làm đổi ý. Vì cha đâu có hiểu, một người con gái lớn lên ai lại không muốn tìm cho mình một ý trung nhân như hằng mong ước. Con sẽ chấp nhận mọi hậu quả sau nầy mà. 
– Tui thấy ông nên hồi lại cái đám nầy đi. Lời bà Chi. 
– Sao lại hồi? 
– Thì nó chê thằng đó xấu xí, nó không chịu lấy chứ sao. 
– Hứ, đẹp trai để làm gì. Tui thấy chỗ nầy cũng tốt, và thằng nhỏ tuy xấu trai nhưng biết cày bừa và nhất là có tình nghĩa với anh em là được rồi. Bà nói với con bà đi, tui không đổi ý đâu. 
Vậy là hết. Tấm thân của Thanh quá nhỏ bé mà xã hội thì quá bao la. Từ đây nàng chỉ còn biết ngóng về ngôi chợ xa nhà, mỗi buổi sáng khi tiếng còi tàu rít lên từng hồi mà nhớ rằng nơi đó có một người nàng thương. Và ly rượu cưới ngày mai, ly rượu nào vui, ly rượu nào sầu!
Rồi một chiều cuối năm, người thanh niên dọn dẹp căn nhà để đón Tết. Ngoài sân, đứa bé ngộ nghĩnh đang nô đùa tay cầm chai rượu. 
– À, đưa chai rượu cho cha. 
– Anh dọn đồ ăn lên xong chưa? 
– Ðầy đủ rồi, em ngồi vô mình nhậu một bửa cho say trời say đất chơi nghen.
– Ông đó nghen, cũng vì ly rượu mà tui lấy ông đó. 
Người thanh niên cười khì khì. 
Tiếng cụng ly vui mừng như ba ngày Tết. Khung cảnh thật ấm cúng trong ngôi nhà nhỏ với hai vợ chồng và một đứa con trai. Họ không còn để ý đến những người xung quanh. 
Ông lão đi ngang liếc mắt nhìn qua khung cửa: “Tổ cha tụi bây, vậy mà ngày xưa khóc lóc om sòm, nằm vạ nằm tịch đòi không chịu. Hứ, ông già nầy nói có sai đâu.”

Đêm phục kích

Thơ Huy Văn
(Thạch Trụ, Mộ Đức, 6/1974)

Post by Sơn râu 15 Jan 2026

Con đê chìm khuất vào bóng tối
Rải quân nằm ép sát bờ làng
Im lìm vô tuyến, ngưng gió thổi
Côn trùng cũng lắng tiếng kêu than.

Nồng nàn hương đất thơm mùi nắng
Bên mớ ruộng khô, lính ẩn mình
Ước gì không phải mùa chinh chiến
sẽ làm một giấc đến bình minh.

Đêm chùng, lắng, đậm màu u tịch
trải sương trong vũng tối thâm u
Dàn quân, giăng bẫy, chờ phục kích
Thời khắc buông dài như thiên thu.

Rồi đây ai sẽ vào vạn cổ
du kích, giao liên, hay đặc công?
Màn đêm thăm thẳm như bóng vực
Mắt đỏ đăm đăm xoáy khoảng không.

Thời gian vô tận. Người bất động
Một cánh hỏa châu nở lẻ loi

Súng chĩa ngang trời, đêm đặc quánh
Lập loè giọt sáng mập mờ soi.

Không thấy con mồi. Trời đang sáng
Thợ săn chong súng, mặt hom hem
Thu quân trong tiếng chim vui hót
Thuốc quyện hơi sương, rít đã thèm.

Một ngày lại đến trong đời Lính
Gió mát vờn trong nắng hồng tươi
Đường về man mác niềm hạnh phúc
Bất giác trên môi nở nụ cười.



Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Bài 15.

Chết trên bàn mổ

(Mors in Tabula)

Bệnh-nhân chết trên bàn mổ là ám-ảnh lớn lao nhất trong đời người y sĩ giải phẫu. Khi định mệnh tàn nhẫn biến  thành hư không tất cả những cố gắng mãnh liệt của chúng ta, giật người bệnh khỏi tay chúng ta để đưa về cõi âm, chính lúc ấy, chúng ta mới thấy quyền lực của y-học mỏng manh biết chừng nào.

Một hôm, tôi được mời diễn thuyết tại trường đại học một tỉnh lớn miền Tây nước Đức. Buổi nói chuyện chấm dứt, vừa bước ra khỏi giảng đường thì có hai y sĩ tạp khoa còn trẻ lại chào tôi. Sau khi nhắc lại rằng xưa kia có theo học những buổi diễn giảng của tôi, họ cười mà thú nhận là chính họ đã kín đáo tặng tôi một chậu nguyệt quế để tỏ lòng khâm phục khi thấy tôi cắt bỏ được một bướu thận khổng lồ.

Cái cảnh tượng bất ngờ tối hôm ấy: một chậu nguyệt quế xinh xắn đặt trong chiếc xe đỏ của tôi, tôi vẫn nhớ rõ ràng, cũng như bây giờ tôi còn cảm thấy nỗi chua chát khi được học trò thầm kín hoan hô như vậy.

Câu chuyện xảy ra nhằm ngày thứ bảy. Theo lệ thường, mỗi thứ bảy có một buổi diễn giảng về bệnh lý, giáo sư, thầy chúng tôi, sẽ giải phẫu, trong hai giờ liền, nhiều “ca” thật “hấp dẫn” trước mắt mọi người. Thầy chúng tôi hãy còn thuộc trường phái cổ điển, nên mới để sinh viên trực tiếp dự khán cuộc giải phẫu. Như vậy còn có lòng tự tin lắm mới được, vì người phải chắc là án chẩn đã trúng; hơn nữa, nhất cử nhất động, mỗi chút bất trắc, mỗi chút khó khăn, mỗi chút ngập ngừng, đều được hàng trăm con mắt chú ý theo dõi,

ghi nhận. Theo ý tôi, giảng dạy trực tiếp như vậy vẫn là phương pháp lý tưởng, mặc dầu, trong khoảng mấy năm nay, phim ảnh đã thay đổi ít nhiều dữ kiện của vấn đề. Trình bày một cuộc giải phẫu bằng phim ảnh hiển nhiên có nhiều điều lợi: nhờ phóng lớn được, người ta có thể làm nổi bật một vài “pha” trong cuộc giải phẫu và nhất là có thể lược bỏ những giai đoạn dò dẫm, những cử chỉ rủi ro hay những rắc rối bất ngờ. Nhờ thế, cuộc giải phẫu diễn tiến một cách  hoàn hảo, làm sinh viên khiếp phục, nhưng đồng thời có thể làm sinh viên không nhập tâm được một số cách thức cần dùng trong những trường hợp bất ngờ khi hành nghề y sĩ giải phẫu. Thế nên trường phái của tôi giữ vững nguyên tắc là: thầy phải giải phẫu cho trò xem để luyện cho trò quen sống bình tĩnh và kiên nhẫn trong những giây phút căng thẳng nhất. Thầy chúng tôi – lúc ấy tôi là đệ nhất phụ tá của người – không đời nào bỏ nguyên tắc đó. Sửa soạn một cuộc giải phẫu để diễn giảng cho sinh viên hay cho nhân viên một đại hội y học, đòi hỏi một sự sắp đặt thật tỉ mỉ. Điều khó khăn nhất là xác định thời biểu, vì không thể nào đoán trước được thời gian cuộc giải phẫu, với sai số một phút. Tuy mỗi loại giải phẫu cần một thời gian trung bình, nhưng người y sĩ giải phẫu giàu kinh nghiệm nhất đời cũng không sao tránh được những bất ngờ.

Chương trình hoạch định xong xuôi, từng giai đoạn của cuộc giải phẫu sẽ diễn tiến trên sân khấu giảng đường theo một nghi lễ đã quy định cẩn thận, nếu không muốn nói là long trọng. Trong “đấu trường” thầy chúng tôi đứng giữa, đoàn phụ tá vây quanh. Áo choàng trắng, giảng đường mênh mông cũng trắng, và ánh sáng trắng mãnh liệt tỏa ra từ những đèn hồ quang, tất cả tạo nên “bầu không khí đã tiệt trùng của khoa thủ thuật”, bao trùm mọi sinh viên, tạo nên một vùng huyền ảo, như thôi miên bắt ta sống trong đó. Sinh viên chăm chú ngồi trên những hàng ghế xếp thành từng lớp hình bán nguyệt quanh bàn giải phẫu. Người bệnh được đưa vào trên một chiếc xe. Thầy chúng tôi trình bày đại cương chứng bệnh và vạch những nét chính của cuộc giải phẫu. Trong lúc người tiếp tục nói, bệnh nhân được đưa sang phòng bên cạnh.

Thường thường, khi cánh cửa có lò xo lại mở rộng, giáo sư thầy chúng tôi vẫn còn thao thao bất tuyệt.

Bây giờ, người bệnh đang nằm trên bàn giải phẫu, cả thân mình che dưới lớp vải đã khử trùng. Hai bên bàn, cả một đoàn phụ  tá và nữ y tá đang tiến đến đó “blouse” trắng, “tablier” cao su, đeo găng và đi ủng. Rồi đến những chiếc bàn có bánh xe phủ đầy khăn trắng với cả một lô dụng cụ, băng gạc và kim khâu. Những chiếc bàn dụng cụ này làm sao để giáo sư chỉ việc bước tới là cuộc giải phẫu bắt đầu. Những chùm ánh sáng đèn điện chói chang soi thẳng vào vùng giải phẫu, các anh phụ tá và các cô y tá đứng xa ra để cùng tất cả các sinh viên có thể theo dõi cuộc giải phẫu. Chỉ còn chờ “vai chính” xuất hiện.

Buổi sáng thứ bảy này – mà sau đó tôi được “thân tặng” một cây nguyệt quế với cả lòng mến phục vừa khôi hài vừa thảm thiết – giảng đường rộng lớn của bệnh viện lại diễn cảnh náo nhiệt một “buổi đại nhạc hội giải phẫu”. Giáo sư quyết định bắt đầu mổ dạ dầy. Nhưng, đến bây giờ còn nguyên những cơn đau đớn bệnh nhân đã phải chịu đựng từ mấy tuần lễ nay vẫn chưa tìm ra được. Chỉ khi giáo sư rạch một đường giữa bụng để mở ra xem mới khám phá ra: một cục bướu vừa mới thành hình nhưng đã lan rộng đến vùng đuôi vị. Thật ngạc nhiên hết sức vì chúng tôi đã chiếu điện và thử máu mà không thể dự đoán được.

Hiển nhiên là phải cắt bỏ cục bướu – như vậy phải mất ít ra một giờ rưỡi thành ra không đủ thời gian đã tiên liệu cho chương trình buổi sáng nay. Vì ca sau – cắt bỏ một bướu độc ở thận – cũng mất đến gần hai tiếng đồng hồ. Khoa giải phẫu thận là món sở trường của thầy chúng tôi; chính giáo sư đã chọn “ca” này là giảng về bệnh lý rồi hôm nay sẽ đem ra mổ, như vậy sinh viên nhớ kỹ hơn. Từ hôm qua, người đã trình bày cặn kẽ với sinh viên phương diện bệnh lý cùng chỉ rõ kết quả mọi thí nghiệm và đã nghiên cứu và giảng giải những hình quang tuyến. Thật vậy chúng ta có thể khi rọi quang tuyến X, xem rõ cả bể thận và đài thận. Nếu có những biến dạng nào thì nó hiện rõ ngay trên tấm phim.

Trên nguyên tắc, các sinh viên phải được chứng kiến khi cắt bỏ cục bướu thận này. Nhưng chỉ còn có hai giờ để dẫn giải bệnh lý thôi mà trường hợp ung thư dạ dày trên phải kéo dài bất thần nên thầy chúng tôi sẽ bận suốt thời gian này. Người quyết định rất mau: “Gọi ông y sĩ trưởng đến cho tôi. Bảo ông ấy mổ cái bướu thận này.” Ông y sĩ trưởng, chính là tôi. Khi cô y tá đến báo cho tôi hay, tôi tất tưởi chạy đến ngay.

Thầy gọi tôi ra một góc rồi bảo:

– Anh mổ hộ tôi cái bướu thận này. Anh cho đem một cái bàn mổ nữa lại đây. Tôi còn mắc mổ, không thể bỏ dở được.

Tôi nhận lời ngay và ra lệnh cho “sửa soạn” bệnh nhân hai mươi phút sau, bệnh nhân đã thiếp trên bàn mồ.

Bàn mồ đặt cạnh bàn giải phẫu của ông thầy. Tôi nhìn kỹ vùng phải mồ: bên hông phải bệnh nhân. Bệnh nhân phải nằm nghiêng về phía bên trái nằm cong như con tôm. Đoạn, tôi nắn cẩn thận cục bướu: thật lớn và cứng, chiếm cả vùng hông giữa xương sườn thứ 12 và cánh xương chậu. Cầm dao giải phẫu tôi rạch một đường thật nhanh bên hông từ xương sườn cuối đến mép trên xương chậu. Lưỡi dao mở rộng một vết dài độ hai mươi phân, lần lượt rạch lớp da rồi lớp mỡ và những lớp mô ở ngay dưới, cuối cùng rạch cả ba lớp bắp thịt bụng. Qua một kẽ nhỏ tôi đã thấy quả thận. Máu tuôn ra từ mấy động mạch. Tôi bèn kẹp ngay để máu khỏi chảy. Bây giờ bắt đầu tìm cục bướu.

Tôi cố, không động đến màng bụng, nới rộng khe mổ, để miếng sắt tròn phanh vết mổ cho rộng ra. Như thế, tôi thấy ngay cục bướu. Trông nó thật đáng ghét: vừa to kềnh, vừa tròn trịa như củ nâu lại cứng như đá và dính chặt vào vỏ sợi bọc thận (capsule fibreuse du rein). Tôi có thể tẽ dễ dàng cục bướu khỏi lớp bắp thịt lưng. Trái lại, mặt trước cục bướu dính vào màng bụng và nhất là đỉnh bướu lấn vào cả thượng thận dưới hoành cách mô: tách cục bướu ra khỏi đây có vẻ thật khó và nguy hiểm. Tôi cứ lách hai tay mãi tách cục bướu ra. Nhưng nó cứ trơ trơ chống cự lại như thách đố. Tôi bắt buộc phải cắt bỏ một vài chỗ dính vào bướu. Công việc tỉ mỉ và càng phải cột các mạch máu bị đứt lại càng thêm chậm chạp. Sau mười phút khó nhọc tôi thấy hé rạng vùng cuống thận. Tôi bắt đầu đi vào giai đoạn quan trọng vì chính ở cuống thận mà các mạch máu đi vào thận – đại động mạch nuôi dưỡng và tĩnh mạch đem máu trở về tim – Cũng ở vùng này tôi lần tới bể thận, chỗ nước tiểu dồn lại để ống niệu hút ra và chảy vào bọng đái. Bây giờ, cục u bướu bắt đầu “lộ dạng”. Đây là giây phút quyết định. Cuộc giải phẫu có thành công hay không, bệnh nhân sống hay chết, tất cả đều phụ thuộc vào những điều tôi sẽ khám phá sau đây: bướu thận có ăn lấn vào trong lòng tĩnh mạch thận không? Nếu không, cuộc giải phẫu sẽ có nhiều hy vọng thành công. Còn nếu có – và trường hợp này, than ôi! thường xảy ra – chỉ còn một chút hy vọng thật mỏng manh.

Tôi luồn ngón tay cố nắn cuống thận nhưng không thể được: những mạch máu như bị lọc bớt một đống thịt cứng chắc tích lũy đã lâu ngày. Vậy, bắt buộc phải tách nó ra. Lại phải mất mười lăm phút vì trong đống thịt ấy là cả một mớ tĩnh mạch nhỏ mà tôi phải cột từng cái một để tránh không cho máu chảy. Che lấp hết vùng giải phẫu. Sau cùng, khi những mạch máu lớn được tách trần ra, tôi ngạc nhiên thấy động mạch thận bên phải không lớn cho lắm, tuy phải nuôi dưỡng ngoài quả thận, cả khối bướu khổng lồ kia. Đây là một

trường hợp thật đặc biệt và dị thường mà nhân tiện tôi cũng ghi lại để chứng minh cho một mối tương quan mà tính chất chưa được xác định, giữa sự phát triển của những u bướu ác tính và hiện tượng ô-xy huyết kém các mô bị ung thư – ô-xy huyết kém thể hiện qua biến dưỡng suy trầm trọng (grave insuffisance étabolique).

Tôi cắt động mạch thận, dù đường kính nhỏ đang nẩy rất mạnh. Rồi, nín thở, khám hiểu chỗ đầu cùng của tĩnh mạch. Tôi suýt thở phào nhẹ nhõm: u bướu chưa xâm nhập vào trong lòng tĩnh mạch. Chỉ cần biết điều quan trọng này mọi việc sẽ dễ dàng hơn. Tôi sẽ cột tĩnh mạch trước với một sợi dây chắc. Tuy thế, khi ngón tay tôi lần trên vỏ mạch máu, tôi hơi ngần ngừ e ngại: sờ thấy không như mọi khi, tôi có cảm giác khác lạ. Rồi, tôi nghĩ sở dĩ vỏ mạch hơi khác thường là vì thế các mô chắc cũng bị suy biến như vùng chung quanh mông thận. Tôi bảo cô y tá đưa tôi một sợi lụa. Tôi quấn quanh tĩnh mạch ở đáy vũng gần chỗ đổ vào đại tĩnh mạch chủ dưới, một mạch máu to như ngón tay cái đem máu từ vùng chân và bụng dưới về tim. Tôi siết chặt hai đầu dây thắt lại và … việc không thể đoán được đã xảy ra. Tôi bỗng nhận thấy một sự thay đổi bất thường ở vùng giải phẫu. Đúng hơn đó là một cảm tưởng tôi không thể nói sự thay đổi ra sao. Nhưng chỉ một giây sau, tôi thấy những bắp thịt biến sắc, ngả màu nhạt và xanh xao hơn thịt chết. Bắp thịt của người sống có một màu thật đặc biệt vì máu chảy điều hòa và hoàn hảo. Nhưng những bắp thịt dưới mắt tôi không óng lên một chút nào cả. Tôi hiểu ngay rằng tai họa lớn vừa xảy ra và diễn tiến của cuộc giải phẫu sẽ gặp nhiều trở ngại không thể lường được. Bàn tay phải còn ở dưới cục bướu, tôi tiếp tục, như một cái máy, lấy hai ngón tay nắn đầu động mạch đã bị cột. Lúc bấy giờ, tôi mới thấy động mạch không nhảy nữa. Chỉ có một giải nghĩa: tim ngừng đập, – bệnh nhân đã chết!

Tôi liếc mắt nhìn người nữ phụ tá và chuyên viên đánh thuốc mê. Đến bây giờ họ chưa nhận thấy gì cả. Làm sao đây? Tôi đang ở giữa đại giảng đường đầy người, hàng trăm con mắt đang đồ dồn về phía bệnh nhân, vào vùng hông phải giải phẫu và nhất là cục bướu to kếch sù này; vài anh sinh viên lại đem cả ống nhòm để quan sát cho kỹ, không để mất chi tiết nào. Và bệnh nhân của tôi đã chết trên bàn mổ, mors in tabula, một tai họa mà các y sĩ giải phẫu e ngại và luôn luôn bị ám ảnh!

Dĩ nhiên, bây giờ không phải lúc nghĩ ngợi suy tư. Dồn hết những ý nghĩ hỗn tạp và mơ hồ luôn luôn muốn nổi dậy trong tâm trí tôi, tôi để cho bản năng đưa lối và … tiếp tục giải phẫu. Tôi đang mổ một xác chết. Kẹp cuống thận với một cái kẹp cầm máu, tôi cắt, giữa cái kẹp và chỗ cột, rồi đẩy mạnh cục bướu lớn ra ngoài.

Nhờ phương kế mạnh mẽ này, không ai để ý đến bệnh nhân cả. Bao nhiêu con mắt say mê đang đồ dồn vào theo dõi cục bướu khổng lồ kia. Tôi đặt cục bướu vào một chiếc lọ thủy tinh. Đậy vết mổ bằng một cuộn băng gạc lớn. Máu không chảy nữa. Tôi phủ lên một chiếc khăn. Tôi phải cố nén để khỏi bật một tiếng thở phào nhẹ nhõm, rồi quay lại nói to với anh đệ nhất phụ tá, giọng bình thản: – Thôi, anh cho đem ra ngoài đi. Anh khâu hộ ở ngoài ấy nhé. Toán giải phẫu bắt đầu di chuyển. Chiếc bàn mổ được kéo đẩy sang phòng bên. Tôi giảng giải tiếp. Chọn một con dao giải phẫu thật dài, tôi mở cục bướu ra và cắt làm đôi. Tôi đưa cho thầy chúng tôi xem rồi cho chuyền đến các sinh viên. Tôi giảng cho họ những đặc tính của cái phần cơ thể hiếm có này. Các anh sinh viên “vỗ tay” theo kiểu các trường đại học Đức nghĩa là giậm chân xuống đất – một cách kín đáo vì giáo sư, thầy chúng tôi đang tiếp tục giải phẫu. Ông đang vá liền dạ dày và phần thượng của ruột non sau khi đã cắt bỏ vùng bị ung thư. Tôi bước từ từ khỏi phòng đến gặp các bạn tôi trong toán giải phẫu. Anh đánh thuốc mê chạy bộ ngay đến tôi, thở hổn hển.

– Anh ạ! Bệnh nhân không thở nữa!

Tôi gật đầu:

– Thế hả! Bây giờ anh mới biết hả! Ông ta đã chết cách đây mấy phút rồi!

Mọi người bàng hoàng. Chị nữ phụ tá, vẫn còn đa nghi, cầm cổ tay người chết một lần nữa để bắt mạch, xem lại có đúng tim đã ngừng đập hay chưa. Hiển nhiên, họ không thể tin được người bệnh đã chết ngay dưới mắt họ mà họ không thấy. Họ chưng hửng đến nỗi tôi không thể không ái ngại được.

Ồ! Đây chỉ là một tai nạn, không những không thể đoán trước được mà lại còn dị thường và cách ngoại. Các anh chị không có lời gì cả – Cả tôi cũng vậy. Tôi không biết sự kiện đã xảy ra thế nào?

Nhưng tôi cho là một chứng tắc quản vì những tế bào cục bướu đã làm máu bị nghẽn không lưu thông được ngay chính lúc tôi cột tĩnh mạch thận lại.

Tôi lại giảng thêm, theo ý tôi, tai nạn đã xảy ra làm sao. Ở trong lòng tĩnh mạch thận chắc phải đọng một thứ bùn tế bào của các cục bướu. Vì cột tĩnh mạch lại nên đám tế bào này bất thần bị cuốn theo dòng máu trôi vào tận buồng tim phải. Từ đó bơm vào hệ thống tuần hoàn phổi, những hạt tế bào nhỏ ấy đã làm tắc những mao quản phổi. Sự hô hấp bị ngừng trệ, tim ngừng đập … và bệnh nhân chết.

Giả thuyết của tôi là vậy, nhưng bây giờ phải xét xem có chắc có đúng như thế không? Tôi điện thoại cho anh bác sĩ trưởng phòng cơ thể bệnh lý. Tôi kể lại trong trường hợp nào bệnh nhân chết. Tôi còn nói thêm, theo ý tôi, vì máy lọc máu của phổi bị lấp lại bởi đám bùn tế bào. Trong khi đó bài giảng đã hết. Các anh em sinh viên bước khỏi giảng đường trong khi thầy chúng tôi khâu nốt mũi kim cuối cùng, rồi để cho các anh phụ tá quấn băng lại, ông quay lại cầm một tấm khăn vải đã khử trùng lau vầng trán đẫm mồ hôi. Tôi tiến lại:

– Thưa giáo sư, trong khi tôi mồ, giáo sư có nhận thấy điều gì không?

– Không. Có điều gì đấy?

– Bệnh nhân chết rồi!

– Sao! Anh nói sao? Tại sao vậy?

Tôi kể lại tai nạn đã xảy ra làm sao, trình bày lại những điều tôi đã trình bày cho đoàn giải phẫu của tôi nghe và kết luận: một chứng tắc quản gây nên bởi những tế bào của cục bướu. Ông bình tĩnh nghe tôi.

– Tôi hiểu. Lẽ dĩ nhiên, cục bướu to như thế dễ xảy ra tai nạn lắm. Anh hãy báo cho viện cơ thể bệnh lý biết, để họ khám nghiệm kỹ càng. Ít ra mình cũng biết tại sao người bệnh khốn khổ này bị chết.

– Dạ thưa tôi đã báo rồi ạ.

– Tốt lắm. Sao? Đừng nghĩ ngợi bận tâm nhiều! Những người giải phẫu như chúng ta không có may mắn như những nhà toán học đâu! Bài toán của họ bao giờ cũng có lời giải. Trong phòng đoàn phụ tá giải phẫu của tôi còn đứng ngây người ra. Tôi cũng cố tâm an ủi họ, tuy tôi cũng cần được an ủi hơn ai hết. Rồi tôi không chắc một tí nào anh bạn ở viện cơ thể bệnh lý – chúng tôi gọi anh ấy là “Nhà kiểm soát những việc đã hoàn tất” – sẽ chứng minh vừa xác định án chẩn tôi đặt ra về cái chết của bệnh nhân.

Buổi chiều lúc ra khỏi bệnh viện, người mệt mỏi như giần tôi thấy trong xe hơi một cây nguyệt quế kẻ vô danh nào đã đặt trên nệm. Cả một tấm lòng tôn kính vừa kín đáo vừa ý nghĩa của mấy anh bạn sinh viên. Họ đã bày tỏ lòng kính phục vì tôi đã mổ thật hay. Nhưng họ đã không biết và đến bây giờ vẫn không biết cuộc giải phẫu này đã kết thúc thật bi thảm. Đối với tôi những cành nguyệt quế này thật mỉa mai. Dù cho  hai ngày sau những cuộc khám nghiệm cơ thể bệnh lý đã xác nhận giả thuyết của tôi là đúng, tôi cũng không gột bỏ được nỗi chua chát trong lòng. Ngay cả đến hôm nay tôi còn giữ lại một dư vị, dư vị của đống tro tàn.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 6, tháng 5-6, 1965]

Bầy Sư Tử Lãng Mạng

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 15 Jan 2026

Truyện này được viết để tặng một thế hệ

tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975

Bài 17

Chuyến xe đêm di chuyển tù nhân có thêm tám người. Tám người này, từ đề lao Gia Định, khám Chí Hoà, ngục Đại Lợi vào Sa Ác đã bốn tháng. Họ còn trẻ và can tội phản động. Bốn người trốn trại. Bốn người chống lao động. Tất cả nằm hầm đá đặc giam hơn một tháng trời. Nhân vụ sách động của Đội 37, trại Sa Ác báo cáo khẩn về cục Quản Lý các Trại Giam thuộc Bộ Nội Vụ và Cục trưởng Cao Minh Chiếm ra lệnh đẩy cả hai đội 1 và 37 đến trại khác, Sa Ác đẩy luôn tám tù nhân biệt giam theo đội 37. Bây giờ họ đủ hai mươi tám người. Người thứ nhất là Đặng Cơ Bản lừng danh đề lao Gia Định mà, hầu hết, hai mươi người của Đội 37 đều biết tiếng. Người ta tưởng Bản đã được thả về, nào ngờ Bản vô Sa Ác nằm hầm đá biệt giam. Người thứ hai là Tư Sơn. Người thứ ba là Huỳnh Nghệ. Người thứ tư là Ngô Cát. Người thứ năm là Phạm Thành. Người thứ sáu là Doãn Lâm. Người thứ bẩy là Vũ Bình Bắc, Người thứ tám là Lê Văn Thu. Trong số tám người thì sáu người là sinh viên, học sinh; hai người cuối Lê Văn Thu – lơ xe đò và Vũ Bình Bắc- phu nhà đòn. Đến giai đoạn lơ xe đò, phu nhà đòn chống cộng sản thì cái thế tất bại của cộng sản gần kề. Con đường nào cũng dẫn tới một trại tập trung, do đó, hai mươi tám người chẳng tìm hiểu phương hướng chiếc xe chở mình đi.

Vụ chống công tác đào bom, khiêng bom đã làm thắm thiết tình nghĩa của những người tuổi trẻ và ném xuống mặt hồ cam đành của tù nhân Sa Ác một viên đá lớn. Người ta bỗng thấy giá trị của Dzũng quan tài, Qúy dao, Hạnh búa khi cần thiết. Sự khôn ngoan được phối hợp với lòng can đảm thành sức mạnh chế ngự tất cả. Nhà binh pháp Ngô Khởi, mấy nghìn năm cũ, đã nhìn rõ chất ngọc trong tâm hồn du đãng. Đời sau coi thường du đãng, chỉ khinh miệt họ và xử dụng họ vào việc đâm chém hèn mọn. Nếu Dzũng quan tài không phanh ngực áo đứng dậy thách thức súng đạn cộng sản, Qúy dao chưa đứng , Hạnh búa chưa đứng, toàn đội 37 chưa đứng. Họ thành công . Bài học đánh cộng sản đầu tiên của họ là đứng dậy một lượt, đứng đúng lúc.

Buổi trưa hôm sau, họ rời Rừng Lá, căn cứ số 5 thuộc tỉnh Phan Thiết. Như ở Sa Ác, họ bị đẩy vào căn nhà mái tôn thấp lè tè. Khác một chút với ở Sa Ác là họ bị nhốt đúng bẩy ngày mới được dẫn ra suối tắm giặt. Ngày thứ tám, Ban Giám thị gọi từng người lên làm việc. Từng người được vuốt ve khéo và bị doạ nạt khéo. Trần Thế Tưởng mất chức đội trưởng. Bây giờ, đội mang số 53, và đội trưởng là Đỗ Mậu Qúy. Đội 53 chưa có quản giáo, chưa được giao công tác cụ thể nào đã phải lên xe vận tải chuyển trại. Vẫn ra đi nửa đêm! Chuyến đi này không mấy xa. Gần sáng, họ đã đến trại mới. Ở trại này, Đội 53 cải danh thành Đội Kỷ Luật.

Chế độ dành cho Đội Kỷ Luật rất khắc nghiệt. Họ được ăn ít và bị lao động nhiều. Họ không được viết thư về gia đình, nhận thư của gia đình và nhận quà thăm nuôi. Họ sinh hoạt riêng. Căn nhà của họ bị vây giây thép gai, cô lập họ với các trại viên khác của trại cải tạo Gia Lay. Cứ một tuần đi làm thì một tuần nghỉ. Tuần nghỉ không được tắm giặt, không được đổi máng cầu tiêư. Hơn mọi cực hình là họ bị tịch thu hết thuốc lào, thuốc lá, ống điếu, diêm quẹt. Tuần lễ nghỉ lao động, cửa nhà bị khoá ín, chỉ mở ra hai bữa nhận cơm nước. Mùi phân tiểu hôi thối, khai nồng. Một hôm cuối tuần nghỉ lao động, người ta mở khoá cửa, dẫn Lê Văn Thu đi làm việc. Thu đi từ sáng, xế chiều vẫn chưa về. Anh em thắc mắc.Đặng Cơ Bản nói:

– Không có gì phải thắc mắc về Thu cả, dù nó chỉ là thằng lơ xe đò. Sống với nó ở Sa Ác mấy tháng, tôi hiểu nó. Nếu nó đầu hàng, nó đã đầu hàng công an Hà Nội, khỏi bị tù , khỏi bị tra tấn..Chuyến xe cuối cùng nó ra Bắc, chở toàn sĩ quan công an. Tài xế ra lệnh ngầm cho Thu nhẩy khỏi xe rồi tống xe xuống đèo, tiêu diệt gọn lũ sĩ quan công an đi phép đặc biệt. Người ta đẩy nó sang cả quân báo khai thác nó. Rốt cuộc, tổ chức của nó vẫn tồn tại và nó can tội “tình nghi thủ tiêu cán bộ”. Nó đã trốn trại vài lần, lần nào cũng bị bắt và ốm đòn. Hẫy sống với Thu lâu hơn, các bạn sẽ yêu nó, phục nó.

Nửa đêm, Thu về, mặt mày sưng vù, hai bên mép ứa máu. Cửa nhà khép lại, khoá xong, mấy người công an khoá nốt cổng hàng rào khuất bóng, Thu mệt nhọc:

– Mới thêm chiếc xe đò rớt xuống đèo Hải Vân!

Anh em dìu Lê Văn Thu, đỡ nó nằm từ từ, xoa bóp chân tay, mình mẩy nó. Thiếu nước để ấp mặt Thu. Thiếu cả dầu cù-là. Gần sáng,người ta gọi Phan Tiến Dzũng. Rồi Huỳnh Nghệ. Rồi Trần Thế Tưởng. Tất cả đã trở lại phòng sau khi ăn no đòn tập trung cải tạo.. Lương Việt Cương nói:

– Nó bịp. Hồ sơ bọn mình kết thúc từ lâu. Nó bịa vụ xe đò rớt ở đèo Hải Vân để đánh Thu. Nó dằn mặt chúng ta, lôi Dzũng, Nghệ, Tưởng lên đánh tiếp. Nó còn đánh anh em mình nữa, chuẩn bị chịu đòn đi!

Chập tối,cậu phu nhà đòn Vũ Bình Bắc đi “làm việc”. Khoảng 22 giờ, Bắc trở lại phòng, nói với anh em: – Nó không đánh tôi, không hỏi tôi nửa lời.

Nửa tiếng sau, Đội Kỷ Luật nhận “lệnh khẩn trương”: Chuyển trại. Vũ Bình Bắc lo lắng trên xe. Trần Thế Tưởng trấn an bạn:

– Nó muốn chia rẽ chúng ta đấy. Bị đánh hay không bị đán thì cũng thế thôi. Nếu chúng ta ngu, chúng ta sẽ thù ghét nhau, thanh toán nhau, nhục mạ nhau, tố cáo lẫn nhau. Tôi nói thật, anh em ai chưa nếm đòn thù cộng sản , nên nếm thử, nếm xong coi sụ đấm đá của nó chả ra cái gì cả đâu.

Lần này, người ta chở Đội Kỷ Luật tới nhà lao Nha Trang. Đây là quân lao ngày xưa, nới nhốt lính đào ngũ và nhốt cộng sản Việt Nam. Những nhà tù ở nước Việt Nam từ 100 năm nay, đều do thực dân Pháp, phát xít Nhật, cộng sản Nga, tư bản Mỹ vẽ kiểu, bỏ tiền xây cất để nhốt người Việt Nam và cuối cùng, để người Việt Nam nhốt người Việt Nam.

Hồ sơ của Đội Kỷ Luật đã rõ bút tích phê phán và chỉ thị trừng phạt của ông Cục trưởng Cục Quản Lý Các Trại Giam Phía Nam. Sự có mặt của họ ở nhà lao Nha Trang chỉ là lịch trình lưu đầy của Cục trưởng Cao Minh Chiếm. Hai mươi tám người trong một phòng giam khá rộng, cửa sắt, chấn song sắt. Họ trở vể đời sống đề lao Gia Định, Chí Hoà, Đại Lợi. Cai ngụ Nha Trang tàn bạo hơn cai ngục Chí Hoà. Họ không chế đói, chết khát nhưng thường xuyên đói khát. Nhà lao cho ăn cầm hơi, uống cầm hơi. Một tuần một lần ra ngoài tắm, mỗi lần tắm năm phút đồng hồ. Qua hai tuần, mọi người quen nếp sinh hoạt nhà lao Nha Trang. Và tất cả cùng chung ý nghĩ: Ở tù, đâu cũng thế!

Đình Vượng nói:

– Tôi phải cám ơn cộng sản. Bất cứ lúc nào có tự do, trừ phi tôi chết, tôi sẽ viết cuốn sách ghi những điều tôi biết ơn cộng sản.

Vương Huy Dũng hỏi:

– Tại sao phải cám ơn cộng sản?

Đinh Vượng đáp:

– Tại vì, nhờ cộng sản, tôi biết thưong yêu thắm thiết và thù hận tha thiết; tôi biết hạnh phúc và đau khổ; tôi biết khinh thường vật chất; tôi biết sức chịu đựng của tôi và tôi biết tôi có thể chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta đừng mong cộng sản vuốt ve, chìu chuộng . Chúng ta phải cám ơn họ hành hạt chúng ta, đánh đập chúng ta để chúng ta mãi mãi tỉnh táo bằng nỗi thống khố.

Hoàng Sơn Trường nói:

– Tôi cám ơn cộng sản nhiều. Họ đã là cảm hứng để tôi viết chủ nghĩa tiểu tư sản. Có thể trong chúng ta đã có người muốn lập thuyết tiểu tư sản. Tôi hy vọng người ấy còn sống để tôi học hỏi. Hoặc người ấy đã chết thì tôi tiếp nối. Dẫu sao tôi vẫn muốn đi hết các nhà tù, các trại tập trung khổ sai lao động,

Nguyễn Kiến Thiết nói:

– Nếu người nào tình nguyện đi hết các nhà tù Việt Nam để không còn nhà tù ở Việt Nam nữa thì người ấy là tôi.

Ngô Tỵ nói:

– Tôi chỉ mong trở về múa lân. Tôi mơ nhất làm đội trưởng múa lân.

Trần Chiêm Đồng nói:

– Tôi hơi khác, tôi muốn làm lại tâm hồn…khách trú. Không, nước Việt Nam của chúng tôi, chúng tôi sẽ xấu hổ phải làm khách trú.

Mỗi người vẽ ra hình ảnh của ngày mai. Nhà tù, với họ, chẳng còn phải là hoả ngục hủy diệt con người . Mà là lò lửa tôi luyện những thanh thép phi thường cho xây dựng đất nước tương lai.

– Các cậu ạ – Trần Thế Tưởng nói – trong hai mươi tám người mình, chỉ có anh Cương và tôi đã lập gia đình. Tôi đã sáng tác xong một ca khúc, nhan đề Sàigòn mai anh về, tôi hát cho các cậu nghe nhé!

Và Trần Thế Tưởng hát:

“Sàigòn ơi, Sàigòn

Mai anh về, em thương

Để em khỏi nhớ

Để em thôi chờ mong

…..

Mai đây anh về

Xin làm cỏ biếc

Vướng chân em đi

Xin làm giọt mưa

Mưa râm rưng rức

Chạy theo bờ mi

….

Anh cầm tay em

Bàn tay khô héo

Anh nhìn mắt em

Gió lùa lạnh lẽo

Anh nhìn lòng mình

Mùa đông vây quanh

Cỏ non mùa xuân

Còn xanh dấu chân

Trăng non mùa hạ

Ướt đôi vai trần

Có xa không nhỉ

Ngày xưa thật gần

Có xa không em

Ngày xưa thật gần

….

Sàigòn ơi, Sàigòn

Em là quê hương

Lòng anh còn nhớ

Lòng anh còn thương…”

Nếu có tiếng lục huyền cầm đệm theo thì tuyệt. Nhưng đã tuyệt rồi. Kẻ thù cộng sản có thể nhìn rõ sự lãng mạn, bay bỗn của những người tù nhân tiểu tư sản. Những kẻ hò hét đâm chém, kêu gào máu trả nợ máu, có bao giờ biết thống khổ. Khi con người ngụp lặn giữa đại dương thống khổ,con người chỉ còn thích nói về thương yêu. Bản tình ca sáng tác trong ngục tù cộng sản . Hãy tìm một động từ giết chóc! Chẳng thể nào có. Hãy tìm một danh từ thù hận! Chẳng thể nào có. Bàng bạc chất thật của con người. Anh đi đánh cộng sản, anh nằm tù vì cộng sản, anh quằn quại vì cộng sản. Anh sẽ đem hạnh phúc cho dân tộc, anh sẽ không giết ai, anh làm cỏ biếc vướng chân em đi. Thế thôi, em yêu dấu

– Tôi cũng có một bài hát, nhan đề Giả sử mai đây khi ta trở lại- Lương Việt Cương nói. Bài tù ca hay tình ca của người tù tôi lẩm nhẩm riết rồi cứ ngỡ hát bài của ai. Tôi hát tặng anh em nhé!

Lương Việt Cương hát:

“Giả sử mai đây, khi ta trở lại trên đường

Gặp tuổi thơ ta cười ròn tan trong nắng

Đuổi bắt trái sao khô xoay tròn khi gió vắng

Ai gọi tên ta mà mùa thu rơi đỏ mặt

Giả sử mai đây ta về trên con phố cũ

Ai thắp lên cho ta những ngọn đèn trong sương

Có đôi mắt nào nhìn ta qua khung cửa kính

Ôi con gấu bông vàng từng dấu mùa kín mười phương

A, cuộc đời đâu có xa, còn y như ngày trước

Những bức tường nghiêng vả những khóm tầm xuân

Ai trèo lên cao mà vừa nghe huýt sáo

Mặt trời hiền dịu ơi, chờ ta qua mấy ngọn thùy dương

Bởi chiếc roi bạo lực chẳng thể vung hoài trong gió

Chú ngựa non reo tiếng lạc sau đồi

Các con ta dưới vầng trăng thuở nhỏ

Với ước mộng xanh như người thả bóng lên trời

Và em nữa, tất nhiên, vẫn là em thời trẻ

Của Sàigòn mở cửa những đêm vui

Em và Sàigòn ăn ô mai ngoài phố

Em và Sàigòn như một vệt son môi

Đã lâu lắm,dường như, ta không còn trẻ nữa

Con chim biếc bay rồi vườn vắng cây khô

Chợt một chiều nghe giòng sông nước chẩy

Gọi ta về thầm kể những đêm mưa

Ta bỗng thấy em đi giữa chiều áo lục

Dẫy phố dài thấp thoáng bóng dù xưa

Em tay bế con mắt nhìn đời rộng mở

Khi nắng hanh vàng mùa đã sang thu

Ôi, giả sử mai đây kh ta trở lại trên đời

Sẽ chẳng còn ai nhớ đến ta,chẳng còn em nữa

Thì trọn kiếp, ta xin làm người nghệ sĩ rong chơi

Đi đọc thơ ta nói chuyện với đời người…”

Âm điệu của bài tù ca vang vọng trong đêm khuya. Vương Huy Dũng thở dài:

– Buồn quá, anh Cương ạ!

Hoàng Sơn Trường cãi:

– Không buồi, phải nói là rất lãng mạn tiểu tư sản. Tôi đ4 nghe bài Sơn La và Côn Đảo của Đỗ Nhuận. Cộng sản họ thích rên siết trong tù. Chúng ta phơi phới. Chúng ta không hùng khí rẻ tiền, không than vản rẻ tiền. Chúng ta thật với tình cảm của chúng ta.

Hôm sau, cả đội bị cúp cơm trọn ngày vì tội hát nhạc đồi trụy. Hôm sau nữa, cả đội bị cúp tắm. Hôm sau nữa, từng người trong đội bị gọi ra, bị ăn đòn. Nhà lập thuyết Hoàng Sơn Trường bị lột kính cận và bị đập nát kính cận!

Ở nhà lao Nha Trang hai tháng, râu tóc rậm rạp, tua tủa như người tiền sử. Bệnh ghẻ tái phát. Sang tháng thứ ba, Đội Kỷ Luật bị đầy vào rừng già. Bây giờ, người ta chỉ định Lương Việt Cương làm đội trưởng và đội vẫn mang tên Đội Kỷ Luật. Ở trại Phú Khánh, như ở Sa Ác, Gia Lai , đội bị biệt giam một khu, lao động không giống giờ giấc các đội khác. Công tác của Đội Kỷ Luật là những công tác đột xuất. Nửa đêm, vệ binh đập cửa gọi thức để ra suối lặn xuống khiêng đá lên bờ. Giữa trưa, vệ binh thúc “khẩn trương” đi vác giây kẽm gai. Tội nghiệp Hoàng Sơn Trường mất kính, mò việc y hệt người mù!

Lương Việt Cương suy nghĩ mãi chưa tìm được cách cho nổ một vụ lớn để được chuyển trại. Ở Phú Khánh, Ban Giám Thị đầy đoạ Đội Kỷ Luật tàn bạo. Họ muốn anh em sưng phổi chết hết nên, mỗi sáng tinh mơ, bất kể mùa đông, họ chế ra trò chơi bắt tù lặn suối khiêng đá. Rút kinh nghiệm Sa Ác, họ không cho Đội Kỷ Luật tập họp chung sân với các đội khác.

Một đêm, Lương Việt Cương bàn với anh em chơi bạo một cú. Vài chiếc quần được cuốn lại thành một sợi giây. Phan Tiến Dzũng tự Dzũng quan tài tình nguyện đóng vai trò của đạo diễn Lương Việt Cương.

– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật có người tự tử!

Cửa nhà tù bị đập thình thình. Tiếng hò hét loạn cả lên.

– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật có người tự tử!

– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật nổi loạn!

Vệ binh chạy rầm rầm về phía phòng biệt giam. Cả trại thức giấc nghe ngóng. Trực trại xuất hiện. Súng lên đạn. Vệ binh vây bên ngoài. Cửa phòng mở. Trực trại quét đèn pin. Dzũng quan tài đang toòng teng trên cây sà ngang, giả vờ há hốc miệng,le lưỡi.. Người ta gấp rút cứu Dzũng quan tài. Rồi bắt Đội trưởng Lương Việt Cương khiêng kẻ chán đời lên trạm xá. Sau vài lần “làm việc” với Dzũng quan tài để nắm vững lý do tự tử, trại báo cáo về Cục. Cao Minh Chiếm quyết định tống cổ cả bọn ra miền Bắc.

Và hai mươi tám con sư tử có mặt ở Nam Hà…