Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Bài 15.

Chết trên bàn mổ

(Mors in Tabula)

Bệnh-nhân chết trên bàn mổ là ám-ảnh lớn lao nhất trong đời người y sĩ giải phẫu. Khi định mệnh tàn nhẫn biến  thành hư không tất cả những cố gắng mãnh liệt của chúng ta, giật người bệnh khỏi tay chúng ta để đưa về cõi âm, chính lúc ấy, chúng ta mới thấy quyền lực của y-học mỏng manh biết chừng nào.

Một hôm, tôi được mời diễn thuyết tại trường đại học một tỉnh lớn miền Tây nước Đức. Buổi nói chuyện chấm dứt, vừa bước ra khỏi giảng đường thì có hai y sĩ tạp khoa còn trẻ lại chào tôi. Sau khi nhắc lại rằng xưa kia có theo học những buổi diễn giảng của tôi, họ cười mà thú nhận là chính họ đã kín đáo tặng tôi một chậu nguyệt quế để tỏ lòng khâm phục khi thấy tôi cắt bỏ được một bướu thận khổng lồ.

Cái cảnh tượng bất ngờ tối hôm ấy: một chậu nguyệt quế xinh xắn đặt trong chiếc xe đỏ của tôi, tôi vẫn nhớ rõ ràng, cũng như bây giờ tôi còn cảm thấy nỗi chua chát khi được học trò thầm kín hoan hô như vậy.

Câu chuyện xảy ra nhằm ngày thứ bảy. Theo lệ thường, mỗi thứ bảy có một buổi diễn giảng về bệnh lý, giáo sư, thầy chúng tôi, sẽ giải phẫu, trong hai giờ liền, nhiều “ca” thật “hấp dẫn” trước mắt mọi người. Thầy chúng tôi hãy còn thuộc trường phái cổ điển, nên mới để sinh viên trực tiếp dự khán cuộc giải phẫu. Như vậy còn có lòng tự tin lắm mới được, vì người phải chắc là án chẩn đã trúng; hơn nữa, nhất cử nhất động, mỗi chút bất trắc, mỗi chút khó khăn, mỗi chút ngập ngừng, đều được hàng trăm con mắt chú ý theo dõi,

ghi nhận. Theo ý tôi, giảng dạy trực tiếp như vậy vẫn là phương pháp lý tưởng, mặc dầu, trong khoảng mấy năm nay, phim ảnh đã thay đổi ít nhiều dữ kiện của vấn đề. Trình bày một cuộc giải phẫu bằng phim ảnh hiển nhiên có nhiều điều lợi: nhờ phóng lớn được, người ta có thể làm nổi bật một vài “pha” trong cuộc giải phẫu và nhất là có thể lược bỏ những giai đoạn dò dẫm, những cử chỉ rủi ro hay những rắc rối bất ngờ. Nhờ thế, cuộc giải phẫu diễn tiến một cách  hoàn hảo, làm sinh viên khiếp phục, nhưng đồng thời có thể làm sinh viên không nhập tâm được một số cách thức cần dùng trong những trường hợp bất ngờ khi hành nghề y sĩ giải phẫu. Thế nên trường phái của tôi giữ vững nguyên tắc là: thầy phải giải phẫu cho trò xem để luyện cho trò quen sống bình tĩnh và kiên nhẫn trong những giây phút căng thẳng nhất. Thầy chúng tôi – lúc ấy tôi là đệ nhất phụ tá của người – không đời nào bỏ nguyên tắc đó. Sửa soạn một cuộc giải phẫu để diễn giảng cho sinh viên hay cho nhân viên một đại hội y học, đòi hỏi một sự sắp đặt thật tỉ mỉ. Điều khó khăn nhất là xác định thời biểu, vì không thể nào đoán trước được thời gian cuộc giải phẫu, với sai số một phút. Tuy mỗi loại giải phẫu cần một thời gian trung bình, nhưng người y sĩ giải phẫu giàu kinh nghiệm nhất đời cũng không sao tránh được những bất ngờ.

Chương trình hoạch định xong xuôi, từng giai đoạn của cuộc giải phẫu sẽ diễn tiến trên sân khấu giảng đường theo một nghi lễ đã quy định cẩn thận, nếu không muốn nói là long trọng. Trong “đấu trường” thầy chúng tôi đứng giữa, đoàn phụ tá vây quanh. Áo choàng trắng, giảng đường mênh mông cũng trắng, và ánh sáng trắng mãnh liệt tỏa ra từ những đèn hồ quang, tất cả tạo nên “bầu không khí đã tiệt trùng của khoa thủ thuật”, bao trùm mọi sinh viên, tạo nên một vùng huyền ảo, như thôi miên bắt ta sống trong đó. Sinh viên chăm chú ngồi trên những hàng ghế xếp thành từng lớp hình bán nguyệt quanh bàn giải phẫu. Người bệnh được đưa vào trên một chiếc xe. Thầy chúng tôi trình bày đại cương chứng bệnh và vạch những nét chính của cuộc giải phẫu. Trong lúc người tiếp tục nói, bệnh nhân được đưa sang phòng bên cạnh.

Thường thường, khi cánh cửa có lò xo lại mở rộng, giáo sư thầy chúng tôi vẫn còn thao thao bất tuyệt.

Bây giờ, người bệnh đang nằm trên bàn giải phẫu, cả thân mình che dưới lớp vải đã khử trùng. Hai bên bàn, cả một đoàn phụ  tá và nữ y tá đang tiến đến đó “blouse” trắng, “tablier” cao su, đeo găng và đi ủng. Rồi đến những chiếc bàn có bánh xe phủ đầy khăn trắng với cả một lô dụng cụ, băng gạc và kim khâu. Những chiếc bàn dụng cụ này làm sao để giáo sư chỉ việc bước tới là cuộc giải phẫu bắt đầu. Những chùm ánh sáng đèn điện chói chang soi thẳng vào vùng giải phẫu, các anh phụ tá và các cô y tá đứng xa ra để cùng tất cả các sinh viên có thể theo dõi cuộc giải phẫu. Chỉ còn chờ “vai chính” xuất hiện.

Buổi sáng thứ bảy này – mà sau đó tôi được “thân tặng” một cây nguyệt quế với cả lòng mến phục vừa khôi hài vừa thảm thiết – giảng đường rộng lớn của bệnh viện lại diễn cảnh náo nhiệt một “buổi đại nhạc hội giải phẫu”. Giáo sư quyết định bắt đầu mổ dạ dầy. Nhưng, đến bây giờ còn nguyên những cơn đau đớn bệnh nhân đã phải chịu đựng từ mấy tuần lễ nay vẫn chưa tìm ra được. Chỉ khi giáo sư rạch một đường giữa bụng để mở ra xem mới khám phá ra: một cục bướu vừa mới thành hình nhưng đã lan rộng đến vùng đuôi vị. Thật ngạc nhiên hết sức vì chúng tôi đã chiếu điện và thử máu mà không thể dự đoán được.

Hiển nhiên là phải cắt bỏ cục bướu – như vậy phải mất ít ra một giờ rưỡi thành ra không đủ thời gian đã tiên liệu cho chương trình buổi sáng nay. Vì ca sau – cắt bỏ một bướu độc ở thận – cũng mất đến gần hai tiếng đồng hồ. Khoa giải phẫu thận là món sở trường của thầy chúng tôi; chính giáo sư đã chọn “ca” này là giảng về bệnh lý rồi hôm nay sẽ đem ra mổ, như vậy sinh viên nhớ kỹ hơn. Từ hôm qua, người đã trình bày cặn kẽ với sinh viên phương diện bệnh lý cùng chỉ rõ kết quả mọi thí nghiệm và đã nghiên cứu và giảng giải những hình quang tuyến. Thật vậy chúng ta có thể khi rọi quang tuyến X, xem rõ cả bể thận và đài thận. Nếu có những biến dạng nào thì nó hiện rõ ngay trên tấm phim.

Trên nguyên tắc, các sinh viên phải được chứng kiến khi cắt bỏ cục bướu thận này. Nhưng chỉ còn có hai giờ để dẫn giải bệnh lý thôi mà trường hợp ung thư dạ dày trên phải kéo dài bất thần nên thầy chúng tôi sẽ bận suốt thời gian này. Người quyết định rất mau: “Gọi ông y sĩ trưởng đến cho tôi. Bảo ông ấy mổ cái bướu thận này.” Ông y sĩ trưởng, chính là tôi. Khi cô y tá đến báo cho tôi hay, tôi tất tưởi chạy đến ngay.

Thầy gọi tôi ra một góc rồi bảo:

– Anh mổ hộ tôi cái bướu thận này. Anh cho đem một cái bàn mổ nữa lại đây. Tôi còn mắc mổ, không thể bỏ dở được.

Tôi nhận lời ngay và ra lệnh cho “sửa soạn” bệnh nhân hai mươi phút sau, bệnh nhân đã thiếp trên bàn mồ.

Bàn mồ đặt cạnh bàn giải phẫu của ông thầy. Tôi nhìn kỹ vùng phải mồ: bên hông phải bệnh nhân. Bệnh nhân phải nằm nghiêng về phía bên trái nằm cong như con tôm. Đoạn, tôi nắn cẩn thận cục bướu: thật lớn và cứng, chiếm cả vùng hông giữa xương sườn thứ 12 và cánh xương chậu. Cầm dao giải phẫu tôi rạch một đường thật nhanh bên hông từ xương sườn cuối đến mép trên xương chậu. Lưỡi dao mở rộng một vết dài độ hai mươi phân, lần lượt rạch lớp da rồi lớp mỡ và những lớp mô ở ngay dưới, cuối cùng rạch cả ba lớp bắp thịt bụng. Qua một kẽ nhỏ tôi đã thấy quả thận. Máu tuôn ra từ mấy động mạch. Tôi bèn kẹp ngay để máu khỏi chảy. Bây giờ bắt đầu tìm cục bướu.

Tôi cố, không động đến màng bụng, nới rộng khe mổ, để miếng sắt tròn phanh vết mổ cho rộng ra. Như thế, tôi thấy ngay cục bướu. Trông nó thật đáng ghét: vừa to kềnh, vừa tròn trịa như củ nâu lại cứng như đá và dính chặt vào vỏ sợi bọc thận (capsule fibreuse du rein). Tôi có thể tẽ dễ dàng cục bướu khỏi lớp bắp thịt lưng. Trái lại, mặt trước cục bướu dính vào màng bụng và nhất là đỉnh bướu lấn vào cả thượng thận dưới hoành cách mô: tách cục bướu ra khỏi đây có vẻ thật khó và nguy hiểm. Tôi cứ lách hai tay mãi tách cục bướu ra. Nhưng nó cứ trơ trơ chống cự lại như thách đố. Tôi bắt buộc phải cắt bỏ một vài chỗ dính vào bướu. Công việc tỉ mỉ và càng phải cột các mạch máu bị đứt lại càng thêm chậm chạp. Sau mười phút khó nhọc tôi thấy hé rạng vùng cuống thận. Tôi bắt đầu đi vào giai đoạn quan trọng vì chính ở cuống thận mà các mạch máu đi vào thận – đại động mạch nuôi dưỡng và tĩnh mạch đem máu trở về tim – Cũng ở vùng này tôi lần tới bể thận, chỗ nước tiểu dồn lại để ống niệu hút ra và chảy vào bọng đái. Bây giờ, cục u bướu bắt đầu “lộ dạng”. Đây là giây phút quyết định. Cuộc giải phẫu có thành công hay không, bệnh nhân sống hay chết, tất cả đều phụ thuộc vào những điều tôi sẽ khám phá sau đây: bướu thận có ăn lấn vào trong lòng tĩnh mạch thận không? Nếu không, cuộc giải phẫu sẽ có nhiều hy vọng thành công. Còn nếu có – và trường hợp này, than ôi! thường xảy ra – chỉ còn một chút hy vọng thật mỏng manh.

Tôi luồn ngón tay cố nắn cuống thận nhưng không thể được: những mạch máu như bị lọc bớt một đống thịt cứng chắc tích lũy đã lâu ngày. Vậy, bắt buộc phải tách nó ra. Lại phải mất mười lăm phút vì trong đống thịt ấy là cả một mớ tĩnh mạch nhỏ mà tôi phải cột từng cái một để tránh không cho máu chảy. Che lấp hết vùng giải phẫu. Sau cùng, khi những mạch máu lớn được tách trần ra, tôi ngạc nhiên thấy động mạch thận bên phải không lớn cho lắm, tuy phải nuôi dưỡng ngoài quả thận, cả khối bướu khổng lồ kia. Đây là một

trường hợp thật đặc biệt và dị thường mà nhân tiện tôi cũng ghi lại để chứng minh cho một mối tương quan mà tính chất chưa được xác định, giữa sự phát triển của những u bướu ác tính và hiện tượng ô-xy huyết kém các mô bị ung thư – ô-xy huyết kém thể hiện qua biến dưỡng suy trầm trọng (grave insuffisance étabolique).

Tôi cắt động mạch thận, dù đường kính nhỏ đang nẩy rất mạnh. Rồi, nín thở, khám hiểu chỗ đầu cùng của tĩnh mạch. Tôi suýt thở phào nhẹ nhõm: u bướu chưa xâm nhập vào trong lòng tĩnh mạch. Chỉ cần biết điều quan trọng này mọi việc sẽ dễ dàng hơn. Tôi sẽ cột tĩnh mạch trước với một sợi dây chắc. Tuy thế, khi ngón tay tôi lần trên vỏ mạch máu, tôi hơi ngần ngừ e ngại: sờ thấy không như mọi khi, tôi có cảm giác khác lạ. Rồi, tôi nghĩ sở dĩ vỏ mạch hơi khác thường là vì thế các mô chắc cũng bị suy biến như vùng chung quanh mông thận. Tôi bảo cô y tá đưa tôi một sợi lụa. Tôi quấn quanh tĩnh mạch ở đáy vũng gần chỗ đổ vào đại tĩnh mạch chủ dưới, một mạch máu to như ngón tay cái đem máu từ vùng chân và bụng dưới về tim. Tôi siết chặt hai đầu dây thắt lại và … việc không thể đoán được đã xảy ra. Tôi bỗng nhận thấy một sự thay đổi bất thường ở vùng giải phẫu. Đúng hơn đó là một cảm tưởng tôi không thể nói sự thay đổi ra sao. Nhưng chỉ một giây sau, tôi thấy những bắp thịt biến sắc, ngả màu nhạt và xanh xao hơn thịt chết. Bắp thịt của người sống có một màu thật đặc biệt vì máu chảy điều hòa và hoàn hảo. Nhưng những bắp thịt dưới mắt tôi không óng lên một chút nào cả. Tôi hiểu ngay rằng tai họa lớn vừa xảy ra và diễn tiến của cuộc giải phẫu sẽ gặp nhiều trở ngại không thể lường được. Bàn tay phải còn ở dưới cục bướu, tôi tiếp tục, như một cái máy, lấy hai ngón tay nắn đầu động mạch đã bị cột. Lúc bấy giờ, tôi mới thấy động mạch không nhảy nữa. Chỉ có một giải nghĩa: tim ngừng đập, – bệnh nhân đã chết!

Tôi liếc mắt nhìn người nữ phụ tá và chuyên viên đánh thuốc mê. Đến bây giờ họ chưa nhận thấy gì cả. Làm sao đây? Tôi đang ở giữa đại giảng đường đầy người, hàng trăm con mắt đang đồ dồn về phía bệnh nhân, vào vùng hông phải giải phẫu và nhất là cục bướu to kếch sù này; vài anh sinh viên lại đem cả ống nhòm để quan sát cho kỹ, không để mất chi tiết nào. Và bệnh nhân của tôi đã chết trên bàn mổ, mors in tabula, một tai họa mà các y sĩ giải phẫu e ngại và luôn luôn bị ám ảnh!

Dĩ nhiên, bây giờ không phải lúc nghĩ ngợi suy tư. Dồn hết những ý nghĩ hỗn tạp và mơ hồ luôn luôn muốn nổi dậy trong tâm trí tôi, tôi để cho bản năng đưa lối và … tiếp tục giải phẫu. Tôi đang mổ một xác chết. Kẹp cuống thận với một cái kẹp cầm máu, tôi cắt, giữa cái kẹp và chỗ cột, rồi đẩy mạnh cục bướu lớn ra ngoài.

Nhờ phương kế mạnh mẽ này, không ai để ý đến bệnh nhân cả. Bao nhiêu con mắt say mê đang đồ dồn vào theo dõi cục bướu khổng lồ kia. Tôi đặt cục bướu vào một chiếc lọ thủy tinh. Đậy vết mổ bằng một cuộn băng gạc lớn. Máu không chảy nữa. Tôi phủ lên một chiếc khăn. Tôi phải cố nén để khỏi bật một tiếng thở phào nhẹ nhõm, rồi quay lại nói to với anh đệ nhất phụ tá, giọng bình thản: – Thôi, anh cho đem ra ngoài đi. Anh khâu hộ ở ngoài ấy nhé. Toán giải phẫu bắt đầu di chuyển. Chiếc bàn mổ được kéo đẩy sang phòng bên. Tôi giảng giải tiếp. Chọn một con dao giải phẫu thật dài, tôi mở cục bướu ra và cắt làm đôi. Tôi đưa cho thầy chúng tôi xem rồi cho chuyền đến các sinh viên. Tôi giảng cho họ những đặc tính của cái phần cơ thể hiếm có này. Các anh sinh viên “vỗ tay” theo kiểu các trường đại học Đức nghĩa là giậm chân xuống đất – một cách kín đáo vì giáo sư, thầy chúng tôi đang tiếp tục giải phẫu. Ông đang vá liền dạ dày và phần thượng của ruột non sau khi đã cắt bỏ vùng bị ung thư. Tôi bước từ từ khỏi phòng đến gặp các bạn tôi trong toán giải phẫu. Anh đánh thuốc mê chạy bộ ngay đến tôi, thở hổn hển.

– Anh ạ! Bệnh nhân không thở nữa!

Tôi gật đầu:

– Thế hả! Bây giờ anh mới biết hả! Ông ta đã chết cách đây mấy phút rồi!

Mọi người bàng hoàng. Chị nữ phụ tá, vẫn còn đa nghi, cầm cổ tay người chết một lần nữa để bắt mạch, xem lại có đúng tim đã ngừng đập hay chưa. Hiển nhiên, họ không thể tin được người bệnh đã chết ngay dưới mắt họ mà họ không thấy. Họ chưng hửng đến nỗi tôi không thể không ái ngại được.

Ồ! Đây chỉ là một tai nạn, không những không thể đoán trước được mà lại còn dị thường và cách ngoại. Các anh chị không có lời gì cả – Cả tôi cũng vậy. Tôi không biết sự kiện đã xảy ra thế nào?

Nhưng tôi cho là một chứng tắc quản vì những tế bào cục bướu đã làm máu bị nghẽn không lưu thông được ngay chính lúc tôi cột tĩnh mạch thận lại.

Tôi lại giảng thêm, theo ý tôi, tai nạn đã xảy ra làm sao. Ở trong lòng tĩnh mạch thận chắc phải đọng một thứ bùn tế bào của các cục bướu. Vì cột tĩnh mạch lại nên đám tế bào này bất thần bị cuốn theo dòng máu trôi vào tận buồng tim phải. Từ đó bơm vào hệ thống tuần hoàn phổi, những hạt tế bào nhỏ ấy đã làm tắc những mao quản phổi. Sự hô hấp bị ngừng trệ, tim ngừng đập … và bệnh nhân chết.

Giả thuyết của tôi là vậy, nhưng bây giờ phải xét xem có chắc có đúng như thế không? Tôi điện thoại cho anh bác sĩ trưởng phòng cơ thể bệnh lý. Tôi kể lại trong trường hợp nào bệnh nhân chết. Tôi còn nói thêm, theo ý tôi, vì máy lọc máu của phổi bị lấp lại bởi đám bùn tế bào. Trong khi đó bài giảng đã hết. Các anh em sinh viên bước khỏi giảng đường trong khi thầy chúng tôi khâu nốt mũi kim cuối cùng, rồi để cho các anh phụ tá quấn băng lại, ông quay lại cầm một tấm khăn vải đã khử trùng lau vầng trán đẫm mồ hôi. Tôi tiến lại:

– Thưa giáo sư, trong khi tôi mồ, giáo sư có nhận thấy điều gì không?

– Không. Có điều gì đấy?

– Bệnh nhân chết rồi!

– Sao! Anh nói sao? Tại sao vậy?

Tôi kể lại tai nạn đã xảy ra làm sao, trình bày lại những điều tôi đã trình bày cho đoàn giải phẫu của tôi nghe và kết luận: một chứng tắc quản gây nên bởi những tế bào của cục bướu. Ông bình tĩnh nghe tôi.

– Tôi hiểu. Lẽ dĩ nhiên, cục bướu to như thế dễ xảy ra tai nạn lắm. Anh hãy báo cho viện cơ thể bệnh lý biết, để họ khám nghiệm kỹ càng. Ít ra mình cũng biết tại sao người bệnh khốn khổ này bị chết.

– Dạ thưa tôi đã báo rồi ạ.

– Tốt lắm. Sao? Đừng nghĩ ngợi bận tâm nhiều! Những người giải phẫu như chúng ta không có may mắn như những nhà toán học đâu! Bài toán của họ bao giờ cũng có lời giải. Trong phòng đoàn phụ tá giải phẫu của tôi còn đứng ngây người ra. Tôi cũng cố tâm an ủi họ, tuy tôi cũng cần được an ủi hơn ai hết. Rồi tôi không chắc một tí nào anh bạn ở viện cơ thể bệnh lý – chúng tôi gọi anh ấy là “Nhà kiểm soát những việc đã hoàn tất” – sẽ chứng minh vừa xác định án chẩn tôi đặt ra về cái chết của bệnh nhân.

Buổi chiều lúc ra khỏi bệnh viện, người mệt mỏi như giần tôi thấy trong xe hơi một cây nguyệt quế kẻ vô danh nào đã đặt trên nệm. Cả một tấm lòng tôn kính vừa kín đáo vừa ý nghĩa của mấy anh bạn sinh viên. Họ đã bày tỏ lòng kính phục vì tôi đã mổ thật hay. Nhưng họ đã không biết và đến bây giờ vẫn không biết cuộc giải phẫu này đã kết thúc thật bi thảm. Đối với tôi những cành nguyệt quế này thật mỉa mai. Dù cho  hai ngày sau những cuộc khám nghiệm cơ thể bệnh lý đã xác nhận giả thuyết của tôi là đúng, tôi cũng không gột bỏ được nỗi chua chát trong lòng. Ngay cả đến hôm nay tôi còn giữ lại một dư vị, dư vị của đống tro tàn.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 6, tháng 5-6, 1965]


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment