Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 19 Jan 2026

Bài 18

Về người bạn trẻ

Nguồn mạch tương lai

Bạn Thân Mến,

Để bắt đầu lá thư, chúng ta có thể nêu lên nhận định tiên khởi, dẫu mỗi dân tộc có đường hướng phát triển cùng gánh phần tai họa riêng, nhưng những nền văn minh trên hành tinh nầy hằng nối tiếp nhau theo nhịp tiến hóa cùng chiều cao lẫn sâu, rộng với thế biện chứng mang tính quyết định, hoàn toàn không ngẫu nhiên. Và nhân tố kết cấu nên tiến trình đáng hãnh diện kia với những kỳ tích có được hôm nay, xây dựng nên hệ thống văn minh, văn hoa cao, vượt khỏi vòng đai phóng xạ Van Allen, đặt dấu ấn xuống mặt trăng, đang tiến tới Sao Hoả vào đầu thế kỷ, năm 2018, theo như dự trù cuả Trung Tâm NASA, hiện thực mơ ước sau hơn ba triệu năm kể từ khi những sinh vật đầu tiên mang tính, dạng người có mặt trên quả đất-Nhân tố quyết định ấy, không ai khác hơn những con người địa cầu nầy mà chúng ta là những thành viên luôn mới mẻ, đầy năng động. Chúng ta có nói quá lời chăng khi gán đến cho người những tính chất kia? Để trả lời câu hỏi, chúng ta có thể căn cứ trên những diễn tiến và tiến bộ trong lãnh vực khám phá, xử dụng không gian để nhắc nhở với mỗi người về hành trình kỳ vĩ mà nhân loại từ quá khứ xa xưa đến hôm nay đã, đang dự phần chứng hiện trong cuộc sống vô cùng ngắn ngủi chóng vánh trên mặt đất.

Nhớ lại để biết rằng, phải cần đến một khoảng thời gian hơn hai triệu năm, sinh vật gọi là “vượn-người” kia mới bào mòn được khối u đầu xương ống chân (chỗ tiếp giáp với xương đầu gối) để “người-vượn” mới có thể đứng được trên hai chân (Di chỉ “người-vượn” Australopithecus đào đựơc năm 1974 tại Ethiopia; 1978 Tanzania); và kể từ thời gian xa xôi đó, con người lại phải mất thêm hơn ba triệu năm nữa, để hôm nay mới tạo nên những kỳ công tưởng như chừng chuyện thần thoại: Ngày 4 tháng 10, 1957, Người Nga phóng vệ tinh đầu tiên ra khỏi vòng đai khí quyển quả đất; 21 tháng 7, 1969, Người Mỹ đỗ bộ lên mặt trăng. Chúng ta nên nhắc lại những thời điểm kia để biết rằng, chỉ khoảng một thời gian ngắn từ đầu thế kỷ, vào năm 1903, một người Nga Konstantine Tsiolkovsky, dùng giả thuyết (Như đã được Jules Verne viết nên trong thế kỷ trước), xử dụng nhiên liệu lỏng (xăng, dầu) làm chất nổ đẩy hoả tiển lên ngoại tầng không gian qua tác phẩm “The Exploration of Cosmic Space by Means of Reaction Devices”; để đến sau đó không lâu, qua tính toán thực tế, năng động hơn so với Tsiolkovsky (Chỉ bằng trí tưởng tượng và chữ nghĩa), người tuổi trẻ Robert H. Goddard ở Massachusetts, đang tuổi 17 tuổi, vào năm 1914, đã có lời khẳng định, (không là lý thuyết, giả tưởng của riêng tiểu thuyết): ” … I would make some device which have even the possibility of ascending to Mars”. Và người bạn trẻ nầy hiện thực lời nói quyết tâm kia tại 12 năm sau với chiếc hoả tiển bay lên cao 41 bộ, lướt qua 104 bộ trong vòng 2,5 giây. Song song với những thử nghiệm tương tự vừa kể, hai anh em nhà Wright đã cùng nhau chịu lời cam kết “có lẽ sẽ không còn sống thấy mặt nhau” trước khi cột mình vào chiếc máy nổ nặng hơn không khí với “Hoài bão ngàn đời – Cùng lần với thần thoại cổ đại: Bay cao khỏi mặt đất”.

Buổi sáng ngày 17 tháng 12, 1903 đã hiện thực khả năng siêu việt ấy cuả Con Người tại thế – Bay về trời- Phương Thượng Đế hiện hữu. Sở dĩ người viết phải nêu đến nhắc lại những yếu tố, diễn tiến, biến cố khoa học, kỹ thuật trên, vì đây là lãnh vực dễ giúp cho ta thấy ra điều cơ bản, ấy là:“Những người dựng tạo nên những thành quả xuất chúng kia, số đông (nếu không nói hầu hết), thật sự chỉ là những cá nhân bình thường, nhưng để đạt được những kỳ công rực rỡ kia, họ phải thực hiện hai điều cấp thiết: Thứ nhất, tập trung, tận dụng thành công lẫn thất bại cuả người đi trước, cùng toàn thể khả năng, tiềm lực cuả thời đại họ đang sống. Thứ đến, biết vận động những yếu tố tổng hợp quyết định kia vào quá trình thực hiện công việc quan yếu -Tìm Học. Đây là chủ đề cuả lần Thư Thứ Nhất, Tháng 9, 1995, Kỳ Trại Hè Về Nguồn VI, dịp chúng tôi đã nói cùng các bạn. Nhưng Học vẫn chỉ là một phương tiện, phương tiện tốt nhất và hữu hiệu nhất để phụng sự cùng đích duy nhất: Phát Triển-Bồi Dưỡng Con Người nên Người Hoàn Thiện – Người với Tính Nhân đạt đến mức độ cao nhất. Chủ điểm cuả Thư Thứ Hai mà chúng tôi đã gởi đến các bạn sau kỳ đi dài nối hai địa cực.

Đến đây, chúng ta có thể trở lại phần dẫn nhập cuả thư nầy để nêu lên một vấn đề tiềm ẩn. Ấy là, những cá nhân chủ thể và sở hữu những kỳ tích kể trên có chung một mẫu số: Họ chỉ đã, đang thực hiện được những thành quả ấy từ trong “Tuổi Trẻ”. Bởi chỉ tuổi trẻ mới cho họ khả năng bức thoát, vượt qua những trở ngại mà nếu thiếu sút lòng quả cảm, sức kiên trì (Những phẩm chất riêng cuả Tính Trẻ), họ khó có thể khắc phục, vượt qua được. Cũng với Tuổi Trẻ, con người mới có được sức mạnh đích thực của Tái Tạo và Sáng Tạo-Năng lực thúc đẩy người luôn phải mới mẻ, sống động qua từng giờ, ngày nỗ lực. “Nhật Tân. Nhật Tân. Hựu Nhật Tân” là châm ngôn đúng đắn chính xác mà Nho Giáo hằng thúc dục Kẻ Sĩ qua từng ngày tìm học; để đến cuối đời, bản thân Bậc Thầy cũng phải nói nên mỗi điều ao ước: “Tiếc rằng Khâu nầy không còn thời gian để học thêm Dịch chu đáo hơn!!. “. Nhưng sức mạnh tuổi trẻ thật ra không chỉ giới hạn nơi một thời lượng cuả tuổi thanh xuân, bởi lịch sử đã cho chúng ta so sánh, công việc trong khoảng thời gian mấy mươi năm (cuả thời đoạn gọi là hạn kỳ thanh niên theo quan niệm nhân sinh tương đối kia) hoàn toàn vô nghiã trước diễn tiến dài lâu cuả đời sống nhân loại. Thế nên, chúng ta có thể nại ra thêm một lần nữa, sự tiến triển phi thường cuả Thế Kỷ 20 (Trong tất cả mọi lãnh vực mà khoa học, kỹ thuật là yếu tố vượt trội và quyết định nhất) chỉ được thực hiện từ, với tinh thần tiến công cuả những người “trẻ tuổi”, không phân liệt quốc gia, giai tầng xã hội, chủng tộc xuất xứ, càng không hề nại đến cách biệt tuổi tác. Họ là tập hợp những người làm nên lịch sử và quyết định tương lai. Những người luôn ứng xử bằng tinh thần tuổi trẻ đối với mọi hoàn cảnh và ngày mai. Họ có trách nhiệm mang vác sinh mệnh toàn cầu nhân loại. Điển hình, thành quả trong lãnh vực nguyên tử ở thời đại chúng ta mang danh tính nhiều người, nhưng tên nhà bác học Albert Eisntein vẫn là tác nhân hàng đầu và quan trọng nhất. Tuy rằng, nếu theo Luật Di Dân áp dụng trong kỳ thanh lọc quy mô vào những năm 1890, cá nhân nầy quả khó lòng nhập cư vào đất Mỹ do cảm tính quá độ bi quan, khả năng kinh doanh kém cỏi đến độ vỡ nợ ngân hàng, phải đem thân ra nước người kiếm sống(!). Tương tự như thế, tư cách cá nhân nhà bác học hoàn toàn không ảnh hưởng, chịu tác động về thành quả cũng như tai hoạ bởi lần áp dụng, khai thác sức mạnh nguyên tử do văn minh loài người chủ trương, tác động. Đáng nói chăng là trí sáng khai phá, vận động mạnh mẽ cuả Con Người (Mà nhà bác học là một thành viên) vào lãnh vực vi cấu trúc để từ đó cho phép chúng ta hôm nay làm chủ được sức mạnh hạch tâm, giải thích thế giới kỳ diệu cuả nguyên tử. Khởi đầu diễn trình cực độ quan trọng nầy mang danh tính cao qúy- Albert Einstein-Người luôn băn khoăn ngạc nhiên trước cuộc sống. Người luôn trong tuổi trẻ sống động. Bởi đây là người nắm vững “luật tương đối “cuả yếu tố bất khả nghị về hiện tượng sống: “Thời Gian – Sự Không”- Cái Không luôn hiện thực, vĩnh cữu và hằng có. Từ phạm trù kỳ diệu nầy, người có bộ óc siêu việt nhất của thế kỷ đã một lần xác chứng, cái mà chúng ta phân biệt “sau, trước” kia quả thật chỉ là những mối nối vô cùng mong manh và tương đối-Chúng chỉ được định nghiã từ nơi chúng ta đang đứng nhìn, vận tốc ta đang chuyển dịch. Tôi có thể nhắc lại với các Bạn về kinh nghiệm thú vị nhận ra được trên chuyến bay trở về cảng Los, một buổi trưa thứ bảy, trời đang trong tiết Đông: “… Hóa ra tôi đã qua đoạn đường dài 14 giờ bay, cũng bắt đầu từ một buổi trưa thứ bảy nơi Nam Bán Cầu đầy nắng sáng muà Hạ”. Chúng ta tìm được gì nơi sự kiện nhỏ bé thinh lặng tưởng như tất nhiên nầy? Câu trả lời tuy đơn giản nhưng vô cùng hàm xúc: “Quả thật, chúng ta đang sống trong một môi trường tương đối, ngắn ngủi nhưng hằng hằng mới mẻ, sống động”. Thế nên, thái độ đứng đắn nhất của chúng ta vẫn là phải tận sống nơi mỗi giây phút đang trãi qua để không phải mang nặng nỗi thất vọng mà Người Xưa luôn nhắn nhủ: “Đừng để Ngày nầy không học; Giờ nầy chóng qua và Thân nầy lỡ hư”. Hãy Sống Hết Sức Với Tuổi Trẻ. Chúng tôi nồng nhiệt nói đến cùng Các Bạn kinh nghiệm sung mãn đáng tin cậy nầy. Phải, chúng ta chỉ có một lần tuổi trẻ nên chúng ta phải bảo vệ kỳ cùng tài sản rất mực quý giá ấy của riêng ta; nếu phải bị mất mát, không ai khác, chính ta là đầu mối gây nên lần thãm bại cuả bản thân mình. Nhưng chúng tôi cũng không hề mong mỏi Các Bạn sẽ hoàn tất những sự nghiệp gây phẫn nộ và đáng nguyền ruã do đã dựng nên từ bạo lực và huỷ diệt, (Như những “tai hoạ” mà E. Fromm đã não nề kể ra trong“Phân Giải Về Sự Tàn Phá Con Người – The Anatomy Of Human Destructiveness”; chỉ riêng Tây Âu ở Thế Kỷ 16 đã có 87 trận chiến; Thế Kỷ 17, 237 trận; TK18, 781 trận; TK19, 651 trận và đến thời đại chúng ta chỉ mới tính đến 1942, cũng đã có gần chín trăm trận. Nhà văn quên nại ra, hoặc đã quá đổi kinh hoàng với kết quả 35 triệu người chết của Thế Chiến Thứ Hai, trong đó riêng Liên Sô đã đóng góp nên số lượng 18 triệu, chưa kể 20 triệu người bị một tay Staline thanh trừng trong 29 năm cầm quyền; nước Đức mất 4 triệu 2, đổi lại đã thảm sát 6 triệu người Do Thái; ở Á Châu, nước Nhật thiệt mạng 1, 97 triệu người, riêng mỗi quả bom nguyên tử thả ngày 8 tháng 6, 1945 xuống Hiroshima đã giết ngay lập tức 80.000 người và di hoạ thêm 140.000 người do biến chứng phóng xạ vào những năm sau. Nhưng người Nhật cũng đã không nương tay, dù đấy là một chủng tộc da vàng nhỏ bé, vô hại đối với sinh mạng chính trị, an ninh quốc gia họ – Hai triệu Người Việt Nam chết đói từ một muà luá bị mất (Do người Nhật ra lệnh phá ruộng lúa để trồng đay phục vụ nhu cầu chiến tranh của họ), cũng năm 1945, đúng muà Hè họ nhận phải quả bom. Tóm lại, quả tình chúng ta không thể nói dân tộc nào bất hạnh hơn dân tộc nào. Chỉ biết nổi Khổ Đau Của Người cùng khắp và càng ngày càng tăng cường độ qua trò chơi tầm phào mạt hạng tầm phào, cực độ tàn nhẫn và quái đản vô ích gọi là, “chiến tranh”. Oan nghiệt thay Lịch Sử Nhân Loại luôn lập lại lầm lỡ ghê gớm đau thương nầy.

Tuy nhiên chúng ta vẫn luôn Hy Vọng- Đường tự cứu nầy do Tuổi Trẻ chiếm lĩnh và quyết định. Với chủ đề “Tuổi Trẻ Phù Đỗng”, Trại Hè Về Nguồn Kỳ VII nầy chúng ta hẳn có mục tiêu cụ thể, lần thụ lãnh Sứ Điệp “Nhận Trách Nhiệm Tuổi Trẻ” như Huyền Thoại Dân Tộc hằng nhắn gởi qua hình tượng Thánh Gióng. Trước khi nói đến phần chủ điểm cốt lõi, ta cần phải giải lược bớt những yếu tố không thuộc về huyền thoại, những khía cạnh đặc thù mà giới chuyên môn (Khảo cổ học, Dân tộc học, Xã hội học …)  Do yêu cầu của ngành học nên đã quá độ gán ép những giả hình thù, những phẩm tính vô nghĩa và vô dụng chung quanh hình tượng huyền thoại lịch sử, để từ đó dựng tạo nên những nhận định có tính chính trị lố bịch như: “Gióng là biễu trưng tổng hợp của sức mạnh Giải Phóng Dân Tộc, hiện thực nơi giai cấp nông dân, người bạn cách mạng hậu bị chiến lược của giai cấp công nhân, lực lượng trung tâm thời đại chúng ta hôm nay-Người sẽ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản dẫy chết !! “. Định nghĩa được thành hình rất lâu tại Miền Bắc Việt Nam và tiếp tục tồn tại trong bất cứ tài liệu học tập, giáo trình huấn luyện, sách giáo khoa tất cả các cấp, luận văn tốt nghiệp nào hiện nay ở nước ta?! Chúng ta cũng không cần nại đến những “di chỉ mũi tên đồng, ngọn giáo đồng … “ mà nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội luôn trưng lên như một bằng chứng khả tín về “truyền thống thuộc quá trình chống ngoại xâm” mà họ (Những người cộng sản Miền Bắc) là kẻ kế thừa thuần thành và đích thực của dân tộc …. Cũng thế, “Các Vua Hùng có công dựng nước; Bác cháu ta có công giữ nước” – Câu nói nầy từ lâu không là khẩu hiệu tuyên truyền mà đã là “tài liệu có tính cách quyết đoán của lịch sử”… Chúng ta hảy vất bỏ tất cả những rơm rác phù phiếm và tầm phào nầy để nhìn Gióng như là niềm Mơ Ứơc vĩnh cữu, nỗi Hy Vọng sắc son của giòng sống Dân Tộc- Một nhóm Việt Tộc đã đứng vững nơi đầu sóng ngọn gió Vùng Đông Nam Châu Á, qua hàng loạt biến cố lớn lao từ lịch sử cũng như thiên nhiên, để đến hôm nay, sau bốn ngàn năm, khi toàn bộ giống giòng Bách Việt mạn Nam song Dương Tử đã hoàn tất Hán Hoa; bị đẩy lùi, hoặc chôn chân nơi nội địa núi rừng Tây-Nam bán đảo Hoa-Ấn – Giống Việt Tộc ấy vẫn tồn tại và phát triển như một điều huyền nhiệm- Phải, Dân Tộc Việt Nam đã tồn tại như một nhiệm mầu. Chúng ta hãy sống với Gióng ngày bình minh lịch sử, buổi Người Việt thành hình. … Chúng ta thấy được gì trong câu chuyện cổ tích mang dấu ấn huyền sử nầy? Lẽ tất nhiên chúng ta không thể quá độ nại cớ “tính quốc gia dân tộc” để gán ép bất cứ sự kiện lịch sử nào cũng phải mang vác một cách vô lý mục tiêu chính trị từ ý niệm và nhu cầu cuả thời đại hôm nay; thái độ ngược ngạo cưỡng bức lịch sử thiếu chính trực và lương thiện trí thức là cung cách quen thuộc cuả người, giới cầm quyền cộng sản Đông, Tầy … Chúng ta không cần lập lại sai lầm lố bịch ấy vì Lịch Sử Việt Nam (Dù dưới dạng Huyền Sử) vẫn còn nguyên dấu ấn hùng vĩ về một dân tộc thâm sâu nội lực và thắm thiết tình người. Xét từ kết cấu, diễn tiến và kết thúc câu chuyện đến yếu tố tên người, địa danh, nơi xẩy ra “trận chiến giữa Gióng và giặc Ân” … Ta vẽ lại được bức tranh toàn bích về cấu t rúc đặc thù cuả Người Việt cổ đại, nối xong mạch liên tục hợp lý: Trời-Đất; Thần-Người; Đất Nước-Cá Nhân … Trong đó yếu tố chủ thể không phải là một vị Thần siêu việt hoặc một thứ Thế Quyền được tôn giáo hoa, thần linh hoa như những nền văn minh thái cổ thường tạo dựng nên-Yếu tố chủ đạo ở đây không ai khác: Con Người Trần Thế-Trong trường hợp nầy là đứa trẻ không biết đi, chưa biết nói, chỉ do “động tâm yêu nước” mà thoắt nên thành khổng lồ xông mình ra trận. Thật ra “giặc Ân” trong câu chuyện kia chỉ là yếu tố hư cấu, đời Hùng Vương Thứ Sáu cũng không thể xác định niên hiệu tại đâu bởi một sử liệu thành văn … Và những danh xưng, Gióng, Phù Đổng, Sóc Sơn hay Sài Sơn quả thật chỉ những tên chữ, xuất hiện cùng lần với “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca”, chúng cũng không thể có sớm hơn, trước ngày Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) làm văn tế cá sấu, Đời Trần Nhân Tôn (1279-1293). Nhưng những chi tiết kỹ thuật nầy không đáng kể; điều làm cho chúng ta xúc động chính là, tổ tiên ta, một giống Lạc Việt, chắc không khác ngoại hình so với Mân Việt, U Việt, Âu Việt … Cũng không thể vạm vỡ sức vóc hơn những tộc Mélanésien, Indonésien đã sẵn có mặt nơi lưu vực Sông Hồng, sông Mã, những người quen đầm lầy, sông nước, thờ thủy quái, giao long. Nhưng, Tộc Lạc Việt kia, ngày ấy, tổ tiên ta đã sống một đời kiệt liệt. Chúng ta tin chắc như thế. Và Sự Thật Sử Tính là như thế. Bởi buổi ấy, tất cả sinh hoạt đời sống hoàn toàn “trong núi”, nơi có những rừng tre bạt ngàn vứơng víu, chằng chịt (Gióng, Dóng: vật liệu đan bằng tre dùng để gánh; Sài: Cành tre gai; tre gai gài chặt lại thành cái cửa …). Và những tiền nhân được chúng ta tôn xưng là “Thánh Gióng”, vào thuở hồng hoang kia, đã chỉ dùng tay bạt trắng rừng xanh, bật những gốc tre luồng sâu đá núi; nhổ sạch đi tạo thành những ao con … Vào buổi ấy, tổ tiên chúng ta cũng đã là người “văn minh”; họ có sắt, đúc được đồng, nhưng phần kim loại dự trữ chiến lược nầy thuộc phần quản lý cuả nhà Vua. Và Vua luôn thuận theo ý dân, nên chỉ xử dụng phần kim loại quý giá hiếm hoi kia kia để đúc ngựa, roi sắt (Theo lời yêu cầu cuả Gióng), dùng vào công cuộc trọng đại, nỗ lực chung. Chú bé vụt lớn lên cũng như khối dân sơ khai, chưa có quốc hiệu, cương vực, chữ viết riêng (Văn Lang, Hùng Vương, chỉ là những sản phẩm khi chữ Hán Việt được thành hình và chính quy hoa ở những thế kỷ sau; bởi vùng đất Giao Châu thời cổ sử kia chỉ là một trong chín châu cuả Tàu; mà Tàu cũng bởi biến thái, thay danh tính từ “nước” Tần, một trong những liệt cường còn lại gồm Sở, Hán, Tần, Tề, Ngô, Việt … sau giai đoạn tranh phân chí mạng giữa các bộ tộc Bắc, Nam sông Dương Tử, chung quanh vùng sông Hoài, lãnh thổ kéo dài từ Tứ Xuyên ra tới biển, bắt đầu lúc Nhà Chu suy yếu. Nước “gọi là Tàu” kia cũng đang trong thời đoạn thành hình cho một nước Trung Hoa ngày nay vậy). Chúng ta nhắc chuỗi yếu tố, sự kiện kia không do một mặc cảm hơn thiệt nào khác ngoài lòng thiết tha ngưỡng vọng sức đề kháng bàng bạc nhưng thấm sâu; nhân hậu nhưng bền vững cuả Giòng Việt Tộc kiên cường, phẩm chất cao vợi. Chúng ta hãy cùng nhau làm nên bừng sáng ngọn lửa tự hào nầy … Phải – Chúng ta là con cháu Rồng-Tiên. Trên nền tảng Lưỡng Tính, Nhị Nguyên, Âm-Dương, Đất- Trời nầy, Tâm Linh Việt Tộc không những đã không phân hóa (Như những dân tộc chủ trương duy lý nhất nguyên), mà sau nầy khi va chạm với văn minh kỹ thuật Tây phương, tư bản lẫn cộng sản, nét chủ đạo thâm trầm cuả Tộc Việt lại càng nổi bật, và đã tạo nên một thế thống nhất tâm linh cân bằng kỳ diệu. Đây không là cách nói quá độ để cốt khoa trương về một điều không thực. Nhưng nếu so sánh với những khối văn minh, văn hoá khác, trong cùng một thời (hai ngàn năm sau Công Nguyên) hoặc cùng địa bàn (chung bán đảo Đông Dương) như của người Maya, Tộc Khmer … Chúng ta hẳn cảm động, hãnh diện bởi những tre, trúc mảnh mai đơn giản của Gióng đã tồn tại lâu dài, bền bĩ hơn những đền thờ đá tảng bề thế ở Teotihuacán, Đông-Bắc Mễ Tây-cơ, nơi thờ Thần Mặt Trời của Văn Hoa Azetec một thời chủ đạo vùng bao la Trung Mỹ, những kim tự tháp bằng đá cao đến 60 thước, thờ những vị thần đòi Vàng từ Đất và Máu từ Người với hình tượng biểu trung rực rỡ: Mặt Trời-Lửa- Hổ, Báo …. Những nguồn lực hung hản, hoang dã. Trái lại, chúng ta uyển chuyển (như Nước); biến dịch (như Rồng) để hiện thực nên với móng bền vững: Con Người Đơn Giản – Đứa trẻ chưa biết nói- Chỉ do tâm thức yêu nước hoa thành “anh hùng nhổ tre” chống giặc xong bay về trời. Hoặc chúng ta có thể nhắc thêm về những “Anh Hùng-Thần Linh đẫm máu” cuả các nền văn minh khác để thấy ra so sánh: Thượng Đế cuả vùng Điạ Trung Hải (Người HyLạp) là ông Trời Ouranos; Trời nầy từ ý lực độc tôn (Biểu trưng Con Số I), nên dù những người con vốn có trăm đầu, trăm tay (tên gọi chung là Titan với sức mạnh vật chất to lớn), vẫn bị bắt giam vào Địa Ngục Tartare, để riêng mình ông ta muôn năm trường thọ thống lĩnh vũ trụ. Thế nên chúng ta trăm năm trở lại đây, không đầy nửa thế kỷ, những hậu duệ cuả Titan, con cháu Ouranos kia đã cho thế giới món đòn thù qua hai trận thế chiến mà chỉ riêng nước Nga đã mất hơn 18 triệu như trên đã nói; giữa hai cuộc chiến tầm cỡ chết người kia, những người Phương Tây tài trí, chuyên sâu lý luận nọ cũng không quên chêm thêm những trận đánh bản lề chuyển tiếp để hiện thực mối thâm thù huyết thống giữa những huynh đệ không hề đứt đoạn. Ví dụ chiến tranh ba năm ngắn ngủi cuả những người gọi là CọngHoà và Quốc Gia Tây Ban Nha với kết quả khiêm nhượng, hai trăm ngàn người chết cho cả hai phe (Cộng Hoà chết 110.000; 90 ngàn còn lại chia cho phía Quốc Gia), chưa kể 500.000 người bị lưu đày ra khỏi nước, không hề trở lại cho dù thế kỷ đã gần xong. Nhưng tranh chấp giữa cha con Ouranos và Titan kia chưa phải là giải quyết xong, bà Mẹ (Đất) ra tay, bày kế cho đứa con chính yếu Kronos (Thời gian), nhân lúc cha mẹ đang gần gũi, làm thịt ông bố Trời, xé xác, phanh thây ném xuống biển … Biển trào sôi giận giữ, Thần Thịnh Nộ (Furies) từ đó ra đời, trong những bọt sóng cuả lòng thù hận kia đã nẩy sinh ra người Đẹp cuả vũ trụ lẫn thế gian, Aphrodite. Và chính người đẹp khai sinh từ vũng lửa tham tàn kia lại là nguyên nhân xúi dục con người trần thế lao đầu vào cuộc chém giết tận tình đẫm máu không thương xót. Do ghen tuông (bởi muốn tranh ngôi vị người đẹp nhất với một bà Thần khác, Athéna), người đẹp Aphrodite đã xúi anh chăn cừu Paris đánh cướp cô gái Helena vợ Vua Menelaus-Chiến tranh Thành Troy có nguyên cớ từ sự kiện tầm phào vô vị nầy … Cả Thần và Người cùng bị siết chặt chung một vòng nghiệt ngã thù hận tràn bờ không cơ hội hoà giải, không hy vọng kết thúc tương tranh. Bạn sẽ hỏi chúng tôi, nhưng đó chỉ là Tây Phương với mối tranh chấp muôn thuở cuả riêng họ, chúng ta có gì khác biệt nơi Đông Phương chăng? Tình hình cũng không mấy khả quan hơn với Ấn Độ qua Chí Tôn Ca, mà thật sự phải là Võ Công Ca bởi trận chiến chỉ phát sinh từ  khi chàng Ravana cướp nàng Sita thuộc dân Ayodhya vàngười cuả hai phe lâm chiến, những thủ lãnh (Tổng hợp Thần-Người) chỉ biết xử dụng những ngôn ngữ tàn nhẫn, máu me cùng nhau như lời vua Bhima nói với kẻ thù Dushasana “Tao sẽ bổ tim mầy ra mà uống máu mầy !”.

Gần gũi với chúng ta hơn, huyền sử Trung Hoa cũng không thiếu hiện tượng về tình cảnh không thể khoan nhượng giữa hai nguồn lực căn bản Trời-Người, dù rằng, Nho Giáo đã có định nghiã tổng hợp thuần hậu, chính xác về con người, “Nhân giả kỳ Thiên-Địa chị Đức, Âm-Dương chi giao, Ngũ Hành chi hội, Qủy Thần chi khí tú giả”. Nhưng hình như định nghĩa nầy chỉ giành riêng cho người có học, lớp kẻ sĩ; số đông dân chúng vẫn đành đoạn mong muốn cho Hậu Nghệ bắn rụng chín mặt trời; Bà Nữ Oa đội đá vá trời; Lý Ngươn Bá ném chuỳ đồng lên trời dự định đánh chết lão Thiên Lôi, tay sai tàn ác của cái gọi là ông Trời thiếu hẵn nhân tính, đầy nhẫn tâm kia, như kiểu gọi “Lão Tặc Thiên” của nhân vật Kim Dung, Tạ Tốn. Điểm qua một loạt các “nhân vật” huyền sử và cổ tích xưa nay kia, chúng ta thật vô vàn hân hoan vì, “Thần – Người cuả tâm thức Việt Tộc là Một”. Thần qua Người nên hiện hữu. Người tồn tại an toàn thân mật với Thần mà thật ra chỉ là chiếc bóng hùng tráng của người phóng chiếu nên thành hình tượng. Đuổi xong giặc, người tuổi trẻ Phù Đổng cởi ngựa về Trời. Người về trời qua ngã Mẹ Âu Cơ ngày xưa đã chia tay Bố Lạc Long Quân: Gióng về trời ở Núi (Núi có Tiên-Tượng hình chữ Hán-Việt: “Tiên là người ở trong Núi”). Vua Hùng, thủ lãnh người Việt được viết với bộ “Chuy, chỉ loài điểu thú”, tức là những người mang hình lông chim trên di chỉ Trống Đồng. Và hơn tất cả các thần linh Đông, Tây, Gióng không hề bị sa đọa bởi quyền lực và bạo lực: “Người về Trời cùng lúc hội nhập với Thần”. Hành vi của Gióng là hiện thực nghĩa vụ, “Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Nhân gian đáo thử thị Anh Hùng”. Anh Hùng Văn Langlà một trong muôn người đã dựng nước và giữ nước như một “nghĩa vụ thường hằng”- Đây là một “Dân Tộc Anh Hùng” nhưng không hề viết nên Anh Hùng Ca. (Việt Lý Tố Nguyên- Kim Định). Bởi đó cũng là Dân Tộc Thi Sĩ với tiếng hát vô vàn trung hậu thắm thiết Ca Dao.

Tôi cầu chúc Bạn,

Trở nên “anh hùng bình thường” như thế,

Như Gióng uy nghi lặng lẽ trở về Trời.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 19 Jan 2026

5. Lời tựa

Quyển sách này mô tả những tấn thảm kịch của loài người , những toan tính ngoại giao, những chiến lược quân sự và những vận dụng chánh trị từ Hà Nội đến Hoa thạnh Đốn xuyên qua Mạc tư Khoa, Balê.. và nhiều thành phố khác, để cuối cùng dẫn đến sự thất thủ của Sài Gòn ngày 30/4/1975, hai mươi mốt năm sau trận chiến Điện biên Phủ.

Quyển sách này tường thuật lại diễn tiến trong 4 tháng đầu của năm 1975 nghiệt ngã. Thông thường theo ký ức tình cảm của mỗi dân tộc, dưới con mắt lạnh nhạt của sử gia, thì đôi khi chuyện một thành phố bị mất đi hay được chiếm lại trong cuộc chiến .. chỉ là một bóng mờ của một thời gian nào đó thôi. Nhưng khi mà một thành phố được gọi là thủ đô, được xem là trung tâm đầu não cuả hệ thống hành chánh, tài chánh, văn hóa và quân sự mà bị địch chiếm, thì sự chiếm đó có nghĩa là địch đã chiếm được chánh quyền!

Năm 146 trước công nguyên thành phố Corinthe bị mất về tay người La Mã thì tức là nền độc lập của dân tộc Hy Lạp (Greece) không còn nữa…

Nã phá Luân rút quân khỏi Mạc tư Khoa năm 1812 cũng được coi như nước Pháp thất trận.

Nhiều thủ đô đã bị chiếm đóng, như Ba Lê năm 1914 và 1940 mà còn có được những cuộc chiến đấu anh dũng như trận La Marne mới được coi như thành phố đó chỉ bị mất về tay quân thù. Tại Âu Châu, khi người lính của Staline kéo lá cờ đỏ lên Trụ sở Quốc Hội Đức ở Bá Linh, là Tây Âu coi như phải thần phục Đông Âu, cũng như ở Á Châu khi Nhật Bản chiếm đóng Singapore vậy.

Hơn 10 năm sau khi bị thất thủ, Sài Gòn được xem là tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử chủ yếu hàng đầu: được sự yểm trợ của Liên Xô, Trung Cộng và các nước cộng sản chư hầu khác, một nước chuyên chính nhỏ bé như Bắc Việt đã buộc một quốc gia dân chủ hùng mạnh như Hoa Kỳ phải tháo chạy, đánh dấu cuộc chiến thắng của một xã hội độc tài khép kín đối với một xã hội tự do cởi mở, một cuộc chiến thắng đối với hệ thống Tự Do Dân Chủ…. Chiến thắng vĩnh viễn ư ? Người ta còn nghi ngờ, nhưng một dẫn chứng lịch sử rất giản dị làm cho người ta phân vân: cho tới giờ này khi đã bám trụ được rồi thì người cộng sản chính thống hình như không bao giờ muốn nhả ra nữa.

Đã có nhiều sự lưỡng lự rụt rè và hành động rời rạc từ chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến ở Việt Nam. Không có một bình luận nào vô tư hết, mà cũng không thể hoàn toàn thu ngắn từng chữ trong diễn tiến của sự việc được,. Ngay như căn cứ trên tài liệu, nhân chứng, phúc trình, công điện, hay những bản tường trình của phóng viên, các bài phóng sự truyền thanh, phim ảnh, thư từ, báo chí…, một nhà báo đang góp nhặt sự việc trong ngày hay một sử gia đang gom góp từng sự kiện trong năm cũng không ai có thể bỏ qua tính cách chủ quan được khi phải chọn lọc và sấp xếp các sự kiện lại để viết sử cho Lịch Sử. Điều này hoàn toàn không có nghĩa là không “vô tư hay chủ quan”.

Cuộc vận động trên báo chí và phương thức viết sử chính yếu không khác nhau mấy. Người viết sử có không gian và có thời gian rộng rãi , còn người làm báo thì có thể dựa trên những câu hỏi của người trong cuộc, cùng thời với mình. Cả hai người đều phải làm việc với sự nhạy bén của mình, một sự nhạy bén mà họ cần phải có, phải biết và phải kiểm soát được.

Tôi không hiểu tại sao tôi lại muốn thấy và nhìn lại hằng loạt biến cố hỗn tạp của năm 75 này?

Tôi đã theo sát cuộc chiến này từ năm 1965 cho đến năm 1973. Như các bạn tôi, hơn mọi cuộc chiến khác, cuộc chiến này đánh mạnh vào tâm tư của tôi, với tất cả ý nghĩa của nó. Mặc dầu có đặc quyền ưu đãi của một nhà báo, tôi xin chiếu khán vào Hà Nội rất khó khăn, trái lại với Sài Gòn thì rất dễ dàng và nhất là tôi và ông bạn Ron Moreau phóng viên của tờ Newsweek tại Sài Gòn, năm 1973 chúng tôi đã vào được vùng đất của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ở Cà Mau. Chúng tôi không thông báo trước , không được hướng dẫn viên đưa đi. Ron Moreau nói thạo tiếng Việt đến độ biết chơi chữ để làm vui các chiến binh Việt Cộng, phần tôi thì biết nói tiếng Miền Bắc: chúng tôi làm việc chung với nhau.

Quan điểm của tôi về cuộc chiến thay đổi tận gốc. Những sự bực bội của tôi từ những lần viếng thăm Miền Bắc năm trước đã bùng lên dữ dội như chất hóa học. Tôi rời khỏi Việt Nam, tin chắc là tôi đã bị gạt: với một vài dè dặt nào đó tôi đã bênh vực cho cái gọi là “phong trào giải phóng quốc gia” với mục tiêu giai đoạn gọi là chiến đấu chống đế quốc thực dân xâm lược. Sau đó tôi khám phá hơi trễ là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là cánh tay của chánh phủ cộng sản Miền Bắc được trang bị và nhồi nhét ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Có thể một phần nào đó tôi là một nạn nhân của cái mà Jean Francois Revel gọi là :sự cám dỗ của vấn đề” Để giải thích cho Edgae Morin, dù muốn dù không tôi đã tranh đấu để đến ở Sài Gòn, một thể chế mà chúng tôi đã từng có lần lên án tại Prague (Tiệp Khắc) và Budapest (Hung gia Lợi). Xuyên qua cảm tình của chúng tôi đối với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước kia và Hà Nội sau đó , chúng tôi đã gần như rơi vào cánh tả không cộng sản một cách dại dột và mù quáng. Sự nhận xét của chúng tôi về thể chế cộng sản mà trước tiên là Bắc Việt suýt chút nữa chúng tôi đã coi họ là thiên thần. Sự hoan nghênh của chúng tôi về các chế độ chống cộng, và trước hết là chế độ của chánh phủ Miền Nam Việt Nam xoay qua thành một điều quỉ quái. Chúng tôi không coi Hồ chí Minh là thiên thần mà cũng không coi Nguyễn văn Thiệu là Ác Quỉ. Chúng tôi chỉ mơ về một “chủ nghĩa xã hội có nhân tính” ở vùng Đông Nam Á.

Và còn không ít người đang mơ ước hão huyền như vậy .

Với hai chữ Việt Nam, có nhiều hình ảnh và nhiều khuôn mặt hiện trở lại trong trí tôi, hết sức lộn xộn.

– Đây là một sĩ quan Hoa Kỳ trên núi Bà Đen, chỉ huy một đơn vị lính đánh thuê người Cam Bốt; đây là anh Nguyễn Minh, thông dịch viên của tôi ở Hà Nội , lần đầu tiên tôi đến thủ đô khốn khổ của Miền Bắc, anh Minh giúp Gerard Chaliand và tôi qua khỏi khó khăn trên Quốc lộ 1, lúc các oanh tạc chiến đấu cơ Mỹ đang có mặt trên không phận; kia là ông Thiệu tươi cười sáng lạng đang dùng máy Polaroid chụp ảnh cho tôi tại Dinh Độc Lập… – – Rồi đây là những nỗi kinh hoàng của cuộc chiến, những thương binh của Nam Việt Nam ở Đà Nẵng, của Bắc Việt Nam ở Phát Diệm… Giáo sĩ tiến bộ bên này, giáo sĩ tạp giáo bên kia… chỗ nào cũng toàn là trẻ mồ côi, thiếu tình thương, lắc lư liên tục từ trái qua phải mà triệu chứng thì các nhi khoa Bắc sỉ đều biết rõ cả rồi; nọ là binh sĩ hai Bên, bụng thì lo sợ mà mặt thì vẫn thản nhiên, nhìn chung là gan lì…; đây là những bữa cơm nóng hổi chia xẻ với binh sỉ Hoa Kỳ hoặc Nam Việt Nam , với cán binh Bắc Việt hay Việt Cộng .. người này mời thuốc đầu lọc Winston, người kia mời thuốc lá Điện Biên Phủ và đây là Phạm văn Đồng, lãnh chúa “vĩ đại” mở miệng ra là gọi anh là “bạn thân” theo giọng điệu của chánh phủ Pháp… còn kia là những người dân quê và dân thành thị, tất cả đều mong chờ “hòa bình” nhưng không phải một nền “hòa bình” như lãnh đạo của họ thường quan niệm.

Ôi êm đẹp làm sao những buổi chiều, hay buổi sáng sớm êm ả ở Miền Bắc hay Miền Nam trong thời gian ngưng tiếng súng… Đây là chánh khách Tôn Thất Thiện với những bài bình luận trầm tĩnh và những con cá nhiệt đới của ông…, Kia là nhà lý luận Nguyễn Khắc Viện đang nhồi sọ các khách du lịch ở Hà Nội …,Cả hai ông, người nào cũng thông thạo tiếng Pháp…..

Độc giả sẽ gặp lại trong quyển sách này một số nhân vật mà tôi không quên được vì họ vốn là “con người” . Tôi không hạ thấp người Miền Bắc dù nhiệm vụ và tầm vóc của họ chỉ là thuộc những con rối không hồn và cũng không có nhân cách. Nhưng phải công nhận là họ có một ý chí cao độ, nhưng tự tôn tự đại, một loại anh hùng tính đến khó tả được và không cần biết gì đến thế giới bên ngoài, nhất là dư luận..

Một mặt, nguyên tắc “chỉ huy tập thể” của cộng sản Hà Nội trong mọi hoạt động, như một con quái vật lạnh lùng từ đầu đến chân, theo công thức của Clausewictz chế ngự ba mặt trận ngoại giao, chánh trị và quân sự.

Mặt khác, ở Sài Gòn, người ta nhận thấy sự hỗn tạp của một chế độ mất quân bình, mồ côi.. ở đó những nhân vật chủ chốt đôi khi cảm động vì vô ý thức, nên thường bị rơi vào vô số cạm bẫy của những mưu mô chánh trị hay xảo thuật hành văn trong các văn bản hành chánh của nền dân chủ Hoa Kỳ.

Người ta ngạc nhiên với những sự tiết lộ của một số phiên họp lúc nào cũng mật kín của hệ thống dân sự hay quân sự của Hà Nội. Những cuộc thảo luận, những quyết nghị, những bất đồng… đều do tác giả cộng sản tiết lộ, nhất là từ các tướng lãnh Bắc Việt như Văn tiến Dũng và Trần văn Trà. Khi họ gở được “cái lưỡi cây” ra khỏi miệng thì tha hồ mà họ ăn nói, đôi khi cũng rất thành thật và còn khôi hài nữa, ít nhất là trước quần chúng hay trong các tác phẩm được họ viết và xuất bản.

Những người cộng sản Việt Nam đang làm việc tại Hà Nội hoặc ở các tòa đại sứ, cũng giúp cho tôi tin tức. Tôi thường nói rõ các “nguồn tin” mà tôi có được. Một số “nguồn tin” muốn tôi dấu tên giùm họ, vì họ sợ gia đình của họ bị trả thù, trong số này có vài người Ba Lan, người Mỹ và người Pháp và những người khác cũng vậy: thận trọng, khiêm nhường, thích dấu tên vì an toàn nghề nghiệp ….

Về tên tuổi, dù muốn tránh bị đụng chạm theo phong tục của người Á Đông, tôi cũng cố gắng để không quá cứng ngắt. Chúng tôi nói Thiệu, Minh Dương, Phạm văn Đồng, Hồ chí Minh. Theo người Việt Nam nếu viết trọn thì tên là chữ sau cùng: Thiệu, Minh, Đồng đều là tên. Khi người ta nói Thiệu thì cũng như người ta viết Charles để nói về tướng De Gaulle, hoặc Margaret là để chỉ cho bà Margaret Thatcher.

Một khó khăn nữa cho mắt và tai của người Á Đông: ở Việt Nam Họ và Tên không có nhiều. Ở chỗ này người ta gặp ông Nguyễn cao Kỳ, tư lệnh không quân Miền Nam Việt Nam, ở chỗ khác một anh Nguyễn Kỳ, tù nhân chánh trị ở Miền Bắc . Do đó tôi chỉ dùng tên cho độc giả dễ xem. Khi một nhân vật xuất hiện lần đầu tiên tôi dùng nguyên tên họ như : Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, sau đó tôi chỉ dùng tên:Viên. Độc giả Việt Nam cũng hiểu là tôi không biết dùng 5 dấu trong tiếng Việt, nếu dùng thì chỉ làm trò cười thôi.

Một mong ước: xin độc giả của quyển sách này, dù đứng ở phía hữu hay phía tả, hay ở bất cứ phía nào khác, nếu được hỏi về thái độ, về quan điểm của ngày hôm qua hay của ngày hôm nay đối với Việt Nam, xin đừng có thái độ gần như muốn quên lãng. Trừ trường hợp khi một chiếc thuyền chở đầy người vượt biển tìm gặp được một hải cảng hay một chiếc tàu nào đó, chịu nhận cưu mang những người khách đáng khâm phục này. Ai có thể đánh giá trước một lương tâm hoàn toàn tốt ? Khi đọc lại một vài bài trong các báo bảo thủ năm 1975 chính tác giả cũng phải sửng sờ. Người ta gặp những người chống Mỹ khắp nơi.

Đối với cuộc chiến ở Tây ban Nha, Malraux đã viết là cộng sản ủng hộ người cộng sản và phát xít ủng hộ tướng phát xít Franco, nhưng những thể chế dân chủ không giúp gì cho những người dân chủ hết. Những người dân chủ ở châu Âu quên những người dân chủ ở Việt Nam. Người ta không bao giờ thấy có phát xít ở Nam Việt Nam. Người phương Tây không có gì khác hơn trong đầu họ ngoài những hình ảnh của người Âu Châu . không có hình ảnh nào về chánh phủ dân chủ nửa vời của Sài Gòn. Sự kiện Sài Gòn bị thất thủ không hẳn là một bài học mẫu nhưng vẫn là một tấm gương sáng cho mọi người!

Olivier Todd

Dấu chân ngày xưa

Đồng Sa Băng

Rút trong tuyển tập truyện ngắn “Dấu chân ngày xưa” 

Post by Sơn râu 19 Jan 2026

Bài 5

Mưa rừng
“Úi chu choa ơi, hôm nay trông lớn quá hả. Ời ời, còn đói hả, để con mẹ mầy đem đồ ăn về nó cho ăn nghen. Dể thương quá, hôm nào tao đem về tao nuôi, tao cho ăn đầy đủ khỏi sợ đói. Thôi nằm đó, tao phải đi đây.” 
Trời tháng Ba, nắng, nóng, như thiêu như đốt, những thửa ruộng khô nức nẽ, lộ ra những lằn ngang lằn dọc, như làn da con trâu già dưới ống kính hiển vi. Những con Chà Chiện, Manh Manh đi săn, lùng, những con bào cào, châu chấu bay về đậu gần ổ, nhìn trước nhìn sau như sợ ai thấy cái ổ của mình. Vèo một cái, nó bay lại, nhả con mồi cho đàn con nằm chi chít trong cái ổ chật hẹp, đang há mòm đỏ lỏm trên luống đất cày. Rồi vội vàng bay đi, như cố tình dấu dím, không cho ai biết cái ổ chim con. 
Dưới ánh nắng chói chang, mặt mày đỏ lưởng, nó dẫn đứa em trai đi hết đám đất cày nầy đến đám đất cày khác để xem chừng mấy ổ chim Chà Chiện. Nó đợi đến ngày chim con mọc đủ lông đủ cánh nó sẽ mang về nuôi. Nhìn đứa em, nó hỏi: 
– Em ưng con nào? 
– Con nầy nè. 
– À, được rồi, mà nhớ sau nầy đừng có đổi lại nhe. 
– Vậy thì tui lấy con kia. 
– Hứ, sao mầy nhiều chuyện quá vậy. Cũng được, để con nầy anh đem cho Mõ Làng. 
Rồi nó lấy lọ mực bôi lên đầu con chim vừa được chọn. 
Từ ngày 23 Tết, trâu đem cầm trên Gành Vườn. Me nó may cho thằng Lái một bộ đồ mới, đưa cho nó một thúng nếp, một ít đường mía và năm ba lon đậu đen. Những thứ nầy là quà Tết để nó về quê ăn Tết. Tội nghiệp thằng Lái, tuổi nó lớn mà thân hình nhỏ chút, người ta kêu là đất điết, nên đi đâu cũng bị mấy đám con nít chọc ghẹo. Nó xa gia đình cũng gần một năm nay rồi. Ừ, Tết nhứt rồi, ai cũng về quê ăn Tết, nó cũng về quê ăn Tết như ai vậy chứ. Nó cõng tè tè trên vai những món quà đi ra đường Cái Quan, rồi nó theo hướng Ðông mà đi. Chiều nay nó sẽ trở lại Cà Ðó, Nông Nông, nơi đó chỉ có mẹ nó và mấy đứa em, cha nó đã bỏ đi đâu rồi, đi hồi nó còn nhỏ hoẻn. Nhà nghèo nên nó phải đi chăn trâu. Cái xứ gì mà nghèo khô nghèo khan, nghèo cháy mồng tơi, nghèo rơi đom đóm, nghèo đến nỗi không còn lấy một giọt mồ hôi. Vậy đó, cho nên người ta mới nói: “Ai về Cà Ðó chịu khó xách ky, tay cầm đôi đủa, chân đi lòm khòm.” 
Thằng Lái nó đi một mạch về hướng mặt trời mọc, không thèm nhìn lại, chắc là nó nhớ mẹ và em lắm. Lâu lắm rồi nó mới được về thăm. 
Qua ba ngày xuân, anh em nó tha hồ đi chơi. Suốt ngày mặt quần áo mới, nó đi chặt tre làm ống thụt. Có khi nó vác rựa dẫn em vào hóc Tre tìm chặc mấy cây trảu, có khi lùng trong vườn sau, tìm những ngọn tre nho nhỏ, hai anh em nó hoèn xuống, chặt ngọn để làm ống thụt. 
Rồi suốt cả buổi anh em nó ngồi ngoài bụi tre cạnh nhà ông Sĩ, mà đẻo mà đục, khoét. Hể nghe tiếng cha nó réo lên là nó dẫn đứa em nó đi xuống lùm tre bên nhà ông Phước, rồi đục, đẽo, quên cả cơm nước luôn. Xong ống thụt bời lời thì nó lại đi làm ống thụt nước, không biết sức lực đâu mà sao thấy nó như con vụ suốt ngày. Vậy mà nó làm ống thụt cũng hay lắm, nó phải biết xem cây tre, cây trảu có cái ống vừa trái sưng hay trái bời lời, mắt dài, cắt ra. Nó chặt khúc đuôi, gần mắt cây khoảng một phần ba gang tay, gắn chiếc đủa con vào làm cán thụt, vậy là xong. Cuối cùng nó lấy lá dừa quấn trên đầu ống thụt cho loa ra, mỗi lần thụt kêu bốc bốc, nó thấy tê tê làm sao! 
Ống thụt trái sưng thì tiếng kêu thanh hơn, và mỗi lần thụt trúng ai là thôi, đau chết người. 
Nhưng nó khoái nhất là ống thụt liên thanh. Ống thụt liên thanh đốt tre phải dài hơn ống thụt chiếc. Ở gần cán nó khoét một cái lổ, rồi lấy một đốt tre khác lớn hơn gắn vào lỗ khoét làm băng đạn. Trên băng đạn nó cột một chiếc đủa con bằng giây thun, để giây thun rút chiếc đủa đẩy từng trái bời lời xuống. Nó làm cho em nó một cái giống như cái của nó. Nó nhét vào năm, sáu chục trái bời lời trong băng đạn. 
“Anh nạp bời lời chi nhiều vậy?” 
“Anh đi kiếm Anmota và Chị Hai Ba Lê anh bén!” 
Rồi nó dẫn em nó đi thụt điếc lỗ tai làng xóm! 
Ra giêng, Tết nhứt qua rồi, hương vị của bánh chưng, bánh tét, những buổi tiệc tùng, bánh trái, và những buổi cờ bạc mua vui cũng phai dần theo ngày tháng. Nhưng người ta nói: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”, nên cái hương vị của ba ngày Tết hình như vẫn còn lưu luyến, giống như cái buổi ban đầu. 
Nó theo Cha lên Gành Vườn lừa trâu về. Lúc nầy lối đi nhẳn hơn, đoàn người trong làng cũng bắt đầu từ dốc Mồng Công mà lên. Khi đến Gành Vườn, trâu ăn khắp nơi. Ðến trưa thì những người chủ trâu đều có mặt, họ chia nhau ai nấy đi tìm trâu của mình. Bầy trâu thấy chủ đến nó cũng mừng. Sau một hồi đi tìm kiếm, la hò, những con trâu được gom lại và chia ra thành từng bầy. May mắn là năm nay không con nào bị cọp chụp, nhưng nghe đâu bầy trâu Nghĩa Phú có một con thất lạc, nó đã theo trâu rừng. Làng nào lừa trâu về làng nấy. 
Trong chốc lát Gành Vườn bây giờ trở thành hoang vắng, cái hoang vắng của rừng núi. 
Rồi những ngày kế tiếp cánh đồng trở nên nhộn nhịp, những người nông dân vác cày đi trên bờ đê, lòng hớn hở: “Trâu ơi, ta bảo trâu nầy, trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta …” 
Trời sau Tết càng ngày càng nóng, cái nóng chói chang làm nức nẽ ruộng đồng, nắng như nắng tháng Ba. Những luống đất cày giờ cứng như đá. Cánh đồng vào tháng Ba như một bãi sa mạc, không một ngọn cỏ, và từ trên xuống dưới, ánh nắng hừng hực của ảo ảnh sa mạc cũng đủ làm con mắt nheo lại. Vậy mà anh em nó cũng đi lùng từng ổ chim Chà Chiện, vì, chỉ còn mấy tuần nữa thôi, là, nước từ những bờ xe ngoài sông Vệ sẽ đổ lên cánh đồng nầy. Mấy ổ Chà Chiện cũng sẽ lớn lên, và sẽ bay đi. 
Nắng, nóng quá, người ta chỉ trông một giọt mưa, một giọt mưa đầu mùa để cho ngọn cỏ đổi màu, và con mắt không còn nhíu lại. 
Hình như con nít lớn lên ở miền quê đứa nào cũng thích nuôi chim. Bắt con chim từ lúc còn nhỏ xíu, nhai gạo nát ra rồi cho chim ăn, nuôi từ lúc thật nhỏ con chim nó mới trung thành và không bỏ đi. Rồi đi đâu cũng để con chim đậu trên bờ vai, lâu lâu nó làm cái bẹt cũng phải ráng mà chịu! Nó để con chim đậu ở một cành cây rồi bước đi năm ba bước xong huýt sáo, đưa tay ra, thế là con chim bay về đậu, nó lấy làm thích thú. 
Nó hay táy máy và thích chơi với súng đạn. Mỗi lần nó lừa trâu vào gò Ðồn ăn, nó nghịch ngợm, hay nghịch ngợm lắm. 
Những năm đầu thập niên 60, Gò Ðồn có nhiều rẩy trồng khoai lan, khoai mì và đậu phụng. Khi chiều tối về heo rừng hay xuống ủi phá rẩy nên người ta làm bẩy để gài heo rừng. Ðúng ra là cái súng gài heo rừng. 
Người ta dùng một khúc gỗ cở bằng bắp chân và dài cở một thước, đẻo một đầu hình vuông và đầu kia nhọn để dể cắm xuống đất. Ở đầu vuông người ta khoét hai cái lỗ tròn. Một lổ lớn cở bằng đường kính của viên đạn ca- lip, xong gắn một ống sắt dài chừng vài gang tay làm nòng súng. Và một lổ nhỏ bằng đầu chiếc đủa con. Ðối diện với nòng súng người ta gắn cái bẩy đập sao cho cần đập đập ngay vào trung tâm ổ nòng súng. 
Chiều lại, khi mọi người đi làm trong núi đã ra về, người chủ súng lắp viên đạn ca- lip, loại có 9 đầu banh nhỏ vào nòng súng. Gài bẩy đập lên và giăng một sợi cước dọc theo chiều dài của đám rau lan, một đầu dây cước cột vào chốt bẩy đập qua lổ nhỏ trên súng. Khi heo rừng về phá phách, đi ngang vướn dây cước, giựt chốt bẩy đập và đập vào hột nổ viên đạn, đạn sẽ bắn ngay vào đầu heo. 
Khi trời sáng, trước khi mọi người vô núi, người chủ bẩy phải đi gở đạn ra. 
Mỗi lần vào gò Ðồn, lần nào nó cũng đến cái bẩy gài heo rừng mà phá. Nó gài dây lại, và làm con heo rừng ủi đám rau lan chun qua, mắt sợi dây giựt cái bẩy, cái bẩy đập cái cạch, nó cười khanh khách. 
Hôm đó nó cũng làm y chang, gài sợi dây lên. Nhưng nó không làm con heo rừng chun qua như mọi lần, mà nó đứng trước sợi dây, lấy cây roi kẹp giửa háng, búng sợi dây, một cái, không sập bẩy, hai cái, không sập bẩy, ba cái, RẦMMMM. Chết rồi … Cái bẩy đập vào hột nổ viên đạn ca- lip, nỗ …vang rền khu núi, xém một chút là lấy mạng con trâu nghé ăn bên đồi. Thì ra ông Sáu Hào sáng hôm đó chỉ gở cái chốt bẩy đập mà không lấy viên đạn ra. Thằng nhỏ sợ xanh mặt. Một lát anh nó vào thế coi trâu, nó không dám băng qua đồng Sa Băng mà vòng lên đường Cái Cát đi về. Ông Sáu Hào vô gặp anh nó lại quất cho mấy roi, nói là tội phá phách! Anh nó lảnh đạn cho nó một cách oan uổng! 
Trong làng nghe tiếng sung nỗ lớn, chắc là có chuyện gì rồi. Cha nó lật đật chạy vào gò Ðồn và xạc cho ông Sáu Hào một trận vì bất cẩn và vô trách nhiệm mà còn đánh đứa nhỏ nữa. 
Tháng Ba qua rồi, tháng Tư đến, những bờ xe nước bây giờ đang hoạt động. Suốt ngày đêm những bánh xe vẫn chạy không ngừng. 
Cái buổi ban đầu rất vui, nó dẫn đứa em ra tận đầu đường mương nước. Nơi mà những giọt nước được mang lên từ sông Vệ, đổ lên máng, chảy róc rách qua một cái máng thật dài qua bãi cát, rồi cuối cùng trút vào bờ mương. Anh em nó và một đám con nít nằm sẳn dưới bờ mương để chờ. Nước trên máng chảy xuống trắng xoá và đổ lên đầu những đứa trẻ, nó vui mừng, reo hò ầm ỷ. Xong rồi nó đứng lên chạy theo con nước, chạy mãi ra cánh đồng. 
Mương nước mấy tháng nay khô ráo, rác rến đầy dơ bẩn, bây giờ được tẩy sạch bởi dòng nước. Những gì dơ bẩn thì người ta lấy nước rửa cho sạch, nhưng nước dơ bẩn thì lấy gì rửa đây! Máu. Có người nói, nước dơ bẩn thì lấy máu để rữa sạch! 
Thế là cánh đồng lại trổi dậy sức sống. Những người nông dân lại mang trâu, bò, ra cày, bừa, xong rồi những đám mạ nỗi lên xanh rì. Người ta đi nhổ mạ mang ra ruộng để cấy, cánh đồng bây giờ là một rừng nón lá trắng phếu, nón lá của những người đi cấy lấy công. Màu cỏ khô, vàng cháy trên cánh đồng lại từ từ chuyển thành màu xanh tươi, đầy nhựa sống, như những cô gái xuân thì. 
Lúa đang lên, và gió mùa tháng Tư trở lại, từng cơn gió ướp lên ngọn lúa và cánh đồng như một dãy lụa phất phơi. 
Tháng Sáu tiển tháng Năm đi, rồi tháng Bảy đến. Cái tháng Bảy mà suốt đời anh em nó không bao giờ quên. 
Năm đó, Cha nó phải phá cái chuồng trâu để dời nhà anh Hai vào khu đất trong vườn. Chỉ vì miếng đất làng không hợp với tuổi vợ chồng anh Hai, tuổi Tuất, 1934, nên sinh ra đứa con nào mất đứa nấy. Vậy là trâu không có chuồng để ở. Cha nó phải mang trâu cầm trên Sân Ruộng, núi Ngang, đợi khi nào làm xong chuồng sẽ lùa về. 
Một hôm, nó dẫn em nó vào bìa cấm Ông Thi chơi. Ði đến ruộng Nhôm ở bìa cấm thì chị nó, người chị mới vừa lập gia đình cách đó không lâu, gọi anh em nó lại, hái dưa hấu, bẻ mía cho ăn, và bảo: 
– Hai đứa lên Sân Ruộng lùa trâu về dùm cho chị nhe. 
– Chi vẩy chị Năm? 
– Thì để cày chứ chi. 
– Chị mà cày cái gì, sao không nói anh Năm ảnh cày cho. 
– Cái thằng mắt dịch nầy nói lải nhải gì nữa đây! 
– Nhưng mà chuồng trâu làm chưa xong mà. 
– Cha nói xong rồi, hai đứa ăn xong rồi đi dùm cho tui đi. 
Hai anh em nó bổ dưa ra ăn, xong rồi ôm mấy cây mía ra đi, chị nó nói theo: 
“Nhớ nghe hông, lên lùa trâu về cho chị đó.” 
Nó không trả lời mà cũng không ngó lại mhìn khuôn mặt lo lắng của chị nó lúc đó như thế nào. Nó dẫn đứa em đi, vừa đi vừa xước mía, nó cũng định lên Sân Ruộng lừa trâu về để trả nợ mấy khúc mía và trái dưa hấu mà chị nó “hối lộ” cho hai anh em nó. 
Khi tới ngã ba con suối, một nhánh chảy xuống từ hố Trầu, một nhánh chảy xuống từ hóc Tre, và một nhánh chảy vào đập Làng. Nó lấy nón lá đến bên cái mạch, dòng nước trong veo đang nhoi lên từ trong lòng đất, nó múc lên cụm nước để uống. Nhìn lên, nó thấy con đường lên núi sao mà rậm rạp, âm u qúa. 
Trời sắp mưa, mà mỗi lần lên Sân Ruộng nó phải đi qua con đường âm u nầy, lần nào nó cũng sợ nhất là khúc đường núi ngắn ngũi nầy. Tự nhiên lòng nó sợ, nó bèn dẫn em đi thẳng vào hóc Tre chơi. 
Hóc Tre lúc nào cũng vậy, có con suối nước chảy róc rách, có những lùm tre già ngổn ngang, và xoài núi. Những cây xoài cơm thật lớn, vào mùa trái ra xum xê, nó thường leo lên hái ăn. Hóc Tre có hòn đá bạc bên cạnh cây xoài mà ngày nào đến đó nó cũng trèo lên hòn đá bạc to khổng lồ. Bên cạnh hóc Tre là một cánh đồng lúa gieo, với những hình người nộm dựng bên những cái mõ, gõ suốt ngày đuổi chim. Khi gió thổi, những chong chóng của cái mõ quay tít trên cái trục mõ, và cứ thế, hai cục gõ thay phiên nhau gõ trên mõ lóc cóc lóc cóc, đuỗi chim lúa bay đi. 
Nhưng nó thích đi vào hóc ông Thuần để nằm trên những tảng đá to, và bằng riếng dưới hàng cây cau xanh rì. Trời buổi trưa gió hiu hiu thổi, anh em nó nằm ngủ trên tảng đá bên cạnh cánh cánh rừng. 
Những người con ông Thuần lúc nào cũng có trong rẩy, thân hình họ bậm trợn với bắp tay cuồn cuộn, có lẽ lúc nào cũng lao động nên mới được như vậy. Có điều là mỗi lần cần nấu ăn, hay đốt cái gì là mấy người thanh niên lực lưỡng đó đi kéo lửa hay lắm. Họ chỉ dùng hai thanh tre khô, một thanh gắn chặt lên mặt đất hay cái bàn, thanh kia đặt nằm ngang với góc 90 độ. Rồi lấy hai tay kéo lên kéo xuống thật lẹ, một hồi thì hai thanh tre nóng lên vì cọ xát, lấy buì nhùi để vào là sẽ bật cháy ngay. 
Luồn mây đen lúc nảy kéo đến càng lúc lại càng đen hơn, rồi gió thổi, mây di chuyển, bầu trời đen tối. Giọt mưa bắt đầu rơi. 
Những giọt mưa đổ xuống, và gió mang đi tạt lên cánh rừng nghe rào rạt. Dường như tất cả sinh hoạt nơi đây đều dừng lại, chỉ trừ hạt mưa, vẫn rơi. 
Không biết từ đâu, nhưng mỗi lần mưa rừng về sao nó thấy buồn ơi là buồn. Ðối với nó chỉ có sự linh động, sự linh động của con người, của chim chóc và của những cái như thằng mõ mới tạo nên sự sống của những người sống miền sơn cước. Nhưng dưới cơn mưa những linh động đó coi như đã bị tê liệt, và cuộc sống nơi đây cũng trở thành buồn tẻ. 
Nó cùng đứa em đứng trú mưa trong một căn chòi lợp bằng lá, mưa không lớn hơn nhưng cũng không chịu ngừng lại, nó đành phải dẫn em ra về dưới cơn mưa. 
Hôm sau anh em nó trở lại ruộng Nhôm, lại gặp chị nó: 
– Trâu đâu? 
– Hôm qua trời mưa em không lên đó được. 
– Vậy thì hôm nay trời không mưa hai đứa đi cho chị nhe. Ðây nề, dưa hấu và mía chị cho hai đứa nề, ăn rồi đi lừa trâu về dùm chị. 
Nó lại ngồi xuống mổ dưa ra ăn, trái dưa hấu chín đỏ, ngọt lịm. Ăn xong nó lại xách mía dẫn đứa em ra đi. 
Hôm nay trời còn sớm, mới mười hai giờ trưa mà anh em nó đã đến ngã ba con suối. Nó nhìn em và hỏi: 
– Ði hông? 
– Ăn mía, ăn dưa hai ngày rồi, không đi sao được. Em nó nói. 
Vậy là anh em nó thui thủi bước vào con đường rậm rạp âm u bắt đầu lên núi. Nó đi trước và em nó lủi thủi theo sau. Khúc đường chưa được 500 thước mà nó sợ tái mặt, vì hai bên là những bụi sưng, bời lời cao lớn và đan nhau chằng chịt phủ đầu. Lên khỏi khúc đường nầy thì con đường trở nên quang đảng sáng sủa. Hai bên lối đi chỉ có những bụi chà là, sim, và những bụi cây rừng mọc lòi còi. Ít ra nó cũng nhìn thấy được ánh mặt trời. Nó dẫn em nó lại hòn đá bàn, bằng riếng như cái bàn, trèo lên ngồi chơi. Nó nhìn xuống tháy cấm Ông Thi và ruộng Nhôm bên cạnh. 
Lúc nầy em nó cũng ít nói. Hai anh em đi giữa rừng núi hoang vu, không một bóng người, chỉ có cây rừng và rừng. Nó vác cái rựa đi trước, một hồi em nó nói: 
– Thôi, đi xuống anh Long, tui sợ quá. 
Từ đây đến Sân Ruộng khỏang hơn một cây số nữa. Nó nói: 
– Ði tới đây rồi, xuống sao được, em ráng đi một chút nữa đi, sắp đến chỗ trâu ăn rồi, gì đâu mà sợ. 
Có lẽ cảnh rừng núi hoang vu làm em nó sợ. Và cái sợ trở thành giây chuyền, nhưng nó nghĩ làm lớn nó phải cứng rắn lên. Rồi hai anh em nó tiếp tục đi tới. Cảnh rừng núi bao la mà anh em nó lại nhỏ bé, vừa đi nó vừa nhìn láo liên chung quanh. 
Qua khỏi hòn đá bàn một khúc là tới đầu hố Gà. Con đường xuống hố thật là dốc, và càng vô sâu trong hố thì càng âm u. Ỏ đây thỉnh thoảng có những con nai, mang, đi ăn, vừa thoáng thấy bóng người là nó nhảy vọt qua bụi chà là, coi như biến mất. Cũng tại đầu hố nầy nó phải lựa chọn: nếu đi thẳng thì sẽ lên Sân Ruộng trong, nếu quẹo trái đi về hướng hố Sâu thì sẽ đến Sân Ruộng ngoaì. Sân Ruộng trong và ngoài chỉ cách nhau một cái gò nhỏ, gò ông Phụng, trâu có thể đi qua đi lại dể dàng. Sân Ruộng trong cỏ tốt hơn và có nhiều nước trâu lăn, nên nó quyết định đi thẳng. 
Nó dẫn em đi gần đến chân hố Sâu. Từ chân hố Sâu đến Sân Ruộng trong không qúa 400 thước, nhưng con đường đi rất rậm rạp. Những bước chân anh em nó bắt đầu chậm lại, cảnh vật chung quanh dường như bao trùm một bầu không khí khó thở. Nhìn lên trời nó thấy mây đen bay về, ánh nắng yếu ớt soi qua áng mây xám, in bóng cây lên nền đất về hướng Ðông, dường như mưa rừng sắp đổ. 
Nó nhìn lại sau lưng thấy bước chân em nó dừng lại, với khuôn mặt đầy cương quyết, em nó nói: 
“Thôi, anh muốn đi thì đi một mình đi, tui không đi nữa.” 
Nó cũng đứng lại, muốn nói em ráng đi một chút nữa là đến chỗ trâu ăn, nhưng tự nhiên sao nó cũng thấy sợ, sợ cái cảnh hoang vắng của rừng núi. 
Ngày xưa nó thường lên Sân Ruộng với anh chị lớn nên nó không sợ, nhưng hôm nay, hôm nay có cái gì là lạ! Rồi không ép buộc em nó nữa: 
“Thôi, xuống thì xuống.” 
Vậy là anh em nó quay đầu lại đi xuống núi một mạch không dám ngó lại. Em nó đi trước nó đi sau, hai đứa chạy lúp xúp. 
Khi vào khúc rừng rậm thì mưa cũng bắt đầu nhỏ hột. Những hột mưa rừng càng làm nó sợ thêm. Hai đứa lật đật chạy xuống cho lẹ. Khi đến ngã ba con suối nó mới hoàn hồn và hết sợ. 
Vậy là chuyến đi không thành, nó dẫn em nó trở về tay không. 
Chạn vạng hôm đó anh em nó ngồi ăn cơm với gia đình, cha nó hỏi: 
“Hai đứa có lên Sân ruộng lừa trâu về cho chị không?” 
Nó thuật lại câu chuyện đến nửa đường bỏ về, cha nó không tin: 
“Hai đứa đi vào hóc Tre bắt chim bắt chuột chơi phải không?” 
Ăn tối xong, cha nó ra bờ rào vi canh gác với những người dân làng. 
Khi trời chập choạng tối, những người trong chòi canh phát hiện những bóng đen chạy thình thịch trên cánh đồng và càng lúc những bóng đen đó càng gần bờ rào vi hơn. Những người canh gác đã mỡ chốt lựu đạn chờ sẳn. Những bóng đen càng lúc càng gần bìa làng, và chỉ còn vài chục thước nữa là sát bờ rào vi. 
Cha nó phát hiện những bóng đen đó là đàn trâu, và la lên, nên lựu đạn được cất vào! 
Những con trâu đem xám bây giờ đã đứng ngay cổng bờ rào vi, cha nó ra mở cổng nhưng cổng đã khóa chặt. Rồi anh Hai nó phải dùng búa đập bể ổ khóa, những con trâu lật đật chạy vào làng, nó vẫn còn sợ, rất sợ. Bầy trâu chạy một mạch về chuồng. Khi thấy chuồng mới, lạ nó không dám vào, nhưng rồi chúng nó cũng phải vào. Không biết đến bao giờ nó mới hoàn hồn. Cha nó đếm thì thấy mất hai con trâu nghé! 
Vậy là hai con trâu nghé kia bị làm mồi cho cọp! 
Bầy trâu bị cọp chận trên Sân Ruộng từ hồi chiều, chờ đến tối mới chụp. Những con lớn khoẻ mạnh, chạy lẹ nên mới khỏi nanh móng của cọp. Hai con trâu con chạy không khỏi nên đành bỏ mạng! 
Cha nó vào nhà ôm hai đứa con mà lòng thổn thức, không nói một lời. 
Sáng ngày hôm sau một đoàn người lên núi tìm xác hai con trâu. Khi đến Sân Ruộng ngoài thì thấy xác một con trâu vẫn cò nguyên, con kia chỉ còn lại hai cái sừng. Rồi anh nó đem hai quả lựu đạn, dùng thịt trâu còn lại để giữa hai bụi cây cách nhau vài thước, mở chấu lựu đạn, đặt trong hai cái ống tre trong bụi rồi mắc vào sợi dây, cột vào đống thịt. 
Tối đêm hôm đó, khi mặt trời vừa lặn khỏi chân núi thì người dân trong làng nghe một tiếng nổ rền trời. Một tiếng nổ của hai trái lựu đạn. 
Ngày hôm sau đoàn người lại lên Sân Ruộng để tìm xác cọp! Hai quả lượu đạn nổ dội con cọp ra xa mười thước, mười thước mới thấy vết máu. Vậy mà không thấy xác con cọp! Rồi từ đó nó đi lên dông núi qua phía Nghiã Phú, nó vòng lên Gành Vườn, qua Mễ Sơn. Và một tháng sau, những người đi cắt tranh bên Mễ Sơn lượm được xác con cọp! 
Những năm 63, 64 núi rừng bị động, cọp nó về nhiều hơn, và quấy nhiểu dân làng. 
Ngày hôm sau anh em nó ra đường Cái Quan, nhìn vào khu rừng trước mặt, nó vẫn còn sợ. Rồi cơn mưa lại đổ, mưa trên đồng và mưa trong rừng. Giọt mưa nào buồn, và, giọt mưa nào cứu mạng anh em nó! 
Mưa rừng ơi! Mưa rừng! 

Trung tá Dat Nguyen (gốc Việt), Trưởng Phòng Quản lý Lực lượng toàn cầu, Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ (USFK) tại Nam Hàn.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on January 17, 2026 by dongsongcu

17/01/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

Trung tá Dat Nguyen (hình của linkedin.com).

Trung tá Dat Nguyen* được bổ nhiệm chức Trưởng Phòng Quản lý Lực lượng toàn cầu, Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ (USFK) tại Nam Hàn từ tháng 7 năm 2021 đến nay. Trong vai trò Trưởng phòng quản lý Lực lượng toàn cầu, ông quản lý các dự án, chỉ huy các nhóm liên minh quân sự đa năng của Bộ Tư lệnh Lực lượng Liên hợp (CFC) gồm các Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ (USFK), Bộ tư lệnh Quân đội Nam Hàn và Bộ tư lệnh Liên hiệp quốc (UNC). Bộ Tư lệnh Lực lượng Liên hợp (CFC) giữ vai trò nền tảng hòa bình, an ninh và ổn định trên bán đảo Triều Tiên, ba Bộ tư lệnh liên hợp hoạt động đồng bộ để ngăn chặn sự xâm lược, bảo vệ nền Cộng hòa Nam Hàn (ROK) và sẵn sàng ứng phó với bất kỳ mối đe dọa nào.

Trung tá Dat Nguyen là một Sĩ quan tận tâm với nhiều năm kinh nghiệm chỉ huy các nhóm đa chức năng ở cấp Bộ tư lệnh Tướng 4 sao trong Bộ chiến tranh (U.S. Department of War). Ông là Chuyên gia quân sự trong việc phối hợp các học thuyết, cấu trúc tổ chức, quản lý đào tạo, trang thiết bị, lãnh đạo & giáo dục, nhân sự, cơ sở tiếp liệu và chính sách của Bộ chiến tranh. Trung tá Dat Nguyen chỉ huy các nhóm lập kế hoạch tác chiến để thực hiện các sáng kiến, giải quyết các vấn đề phức tạp và cải thiện các quy trình tổ chức. Xuất thân khiêm tốn từ gia đình tỵ nạn gốc Việt, nay đã trở thành Chuyên gia hàng đầu của Bộ chiến tranh, nhờ sự kiên trì và quyết tâm, ông có thể đảm nhận bất kỳ vai trò chỉ huy nào và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Sinh viên Sĩ quan** Đat Nguyen, Học viện quân sự Hoa Kỳ West Point (hình của war.gov/News).

Trung tá Dat Nguyen tốt nghiệp Học viện quân sự Hoa Kỳ West Point năm 2003 với Văn bằng Cử nhân hệ thống kỹ thuật. Đơn vị đầu tiên trong binh nghiệp của Thiếu uý** Đạt Nguyen được chỉ định phục vụ tại Trung đoàn 37 thiết giáp, Sư đoàn 1 Thiết giáp từ tháng 1 năm 2004. Là một Sĩ quan trẻ, tác chiến và chỉ huy đã thúc đẩy Đat Nguyen phát triển nhanh chóng, thành thạo về kỹ thuật và chiến thuật, cùng với tinh thần trách nhiệm với quân nhân cấp dưới trong môi trường chiến đấu, luôn chủ động bảo trì các chiến xa sẳn sàng hoạt động tốt trong mọi tình huống. Đạt nguyễn được thăng cấp Trung uý** sau nhiệm kỳ phục vu đơn vị Thiết giáp.

Từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 7 năm 2016, Đại uý** Dat Nguyen được chỉ định phục vụ lần lượt tại các đơn vị: Đại đội trưởng, từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 6 năm 2012; Sĩ quan quản lý lực lượng từ tháng 7 năm 2012 đến tháng 7 năm 2013; Sĩ quan phối hợp lực lượng Lục quân tại Fort Shafter, Hawaii từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 11 năm 2014; Thiếu tá** Trưởng phòng phối hợp Lực lượng Lục quân tại Schofield Barracks, Hawaii từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 7 năm 2016.

Từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 6 năm 2020, Thiếu tá, Sĩ quan chiến lược, chỉ huy nhóm đa chức năng, phân tích yêu cầu chiến lược thuộc Bộ tư lệnh quân sự Hoa Kỳ tại Phi Châu, Stuttgart, Baden-Württemberg, Germany.

Từ tháng 7 năm 2021 đến nay: Trung tá** Trưởng Phòng quản lý Lực lượng toàn cầu, Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ (USFK) tại Nam Hàn.

Thiếu uý Đạt Nguyen và đồng đội trong quân phục nguỵ trang huấn luyện (hình của war.gov/News).

Trung tá Dat Nguyen hoàn tất các Văn bằng: Văn bằng Cử nhân hệ thống kỹ thuật, Học viện quân sự Hoa Kỳ West Point (United States Military Academy at West Point); Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh, Trường Kinh doanh Haas, Berkeley, Đại học California (University of California, Berkeley, Haas School of Busines); Văn bằng Cao học nghiên cứu tác chiến quân sự, Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College). Ngoài ra, Trung tá Dat Nguyen đã thụ huấn nhiều khoá học chuyên môn về quân sự và bằng nhảy dù.

Trung tá Dat Nguyen là 1 trong hơn 60 Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt (không tính nhiều vị đã hồi hưu) đang phục trong các binh chủng và ngành Lục quân***.

Chú thích: *Ghi theo họ tên từ tài liệu, họ và tên Việt, Nguyễn Thành Đạt; Ghi theo thời gian mang cấp bậc; ***Sĩ quan các binh chủng và ngành bộ binh, thiết giáp, pháo binh, phòng không, hàng không (Aviation), công binh, truyền tin, quân báo tiếp liệu, tiếp vận, Quân y v.v… thuộc Quân chủng Lục quân.

Nguồn: war.gov/News; linkedin.com; congress.gov.

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

Bài 17.

THƯ GỞI NGƯỜI BẠN TRẺ

NHÂN BUỔI ĐẦU XUÂN,

SAU LẦN ĐI DÀI …

Năm qua tôi có gởi đến Bạn lá thư thắm thiết từ lòng thành nhân mùa Vu Lan, Phật Lịch, buổi Trại Hè Về Nguồn ở Kentucky. Thư đề cập đến sức mạnh quyết định cuối cùng của Lực Từ Nhân. Nay nhân sau buổi đi dài, chấm dứt vào đúng mùa Xuân, nơi vùng đất có cảnh sắc u trầm, tại khoảng thời gian bí nhiệm, nặng cảm xúc như đang ở quê hương. Chiều cuối năm gió gây rét thổi xoáy trên đường phố kín cửa; nắng hanh vàng chói sáng đám xác pháo loang lổ hồng tươi. Và con trẻ hân hoan cười vui áo mới. Cảnh của vùng Nam bán cầu, nơi cách Việt Nam một múi giờ, chung lượng nắng, hơi gió, mùi biển và thổ ngơi đầm đầm cảm động … Trong giây khắc chất ngất hàm súc kia, tôi đã cùng các Bạn hát lại ca khúc ngày xưa..” Hướng Đạo Việt Nam đuốc thiêng soi đường … ” Lời hát của một thời niên thiếu. Đã bốn mươi năm qua, lúc tuổi trẻ, lòng thơ. Tôi viết lá thư này với lòng thắm thiết của ngày Vui không hề tàn lụi, như ánh sáng. Như mùa Xuân …

Bạn Thân Mến,

Như thư thứ nhất đã trình bày, tháng 8, 1995, chúng ta đã đồng ý với nhau tiền đề lạc quan và hy vọng: Hành sử Tự Do trong chọn lựa Tính Thiện, Sự Thật. Thế nên quả thật thuận tiện và rất bổ ích, nếu hôm nay ta tiếp tục sử dụng nguồn năng lực sống động này vào công việc luôn cần thiết: Sự Học, mà đối với tuổi trẻ càng là một nhu cầu cấp bách. Bởi Học là cách sống tích cực nhất của người. Học đồng nghĩa Sáng Tạo và Tái Tạo. Các Bạn đang trên đường đi này. Nhưng thật nguy hiểm và sai lầm nếu chúng ta quan niệm học vấn chỉ là phương tiện (trong số những phương tiện và phương pháp khác) thực hiện những mục tiêu giữa đời sống cộng đồng, xã hội để có một mức sống vật chất, văn minh tiện dụng cao cấp. Vẫn biết về mặt thực tiễn, những tri thức khoa học, kỹ thuật, bằng cấp, học vị đưa đến những thành quả, thâu hoạch cụ thể kia; nhưng học vấn có một chức năng, tác động mãnh liệt và cao quý gấp bội. Học phải được quan niệm là vận động Tái Tạo, Cải Tiến và Hoàn Thiện Con Người. Định nghĩa về giáo dục từ thượng cổ đến hiện đại, Đông lẫn Tây phương đồng tập trung ở chủ điểm này. Từ cultivate có ngữ căn cult do từ cultus Hy Lạp, nguyên nghĩa thờ phụng, tế tự, cầu xin, bồi đắp. Và Học của Đông phương do từ ngữ ý “Vào trong núi tìm Thầy để học đạo lớn” (chữ Hán “Học” được ghép bởi “gò núi” ở trên và “người con trai”(tử) ở dưới). Với sinh hoạt văn minh, văn hóa hiện tại nơi thời điểm này, chúng ta cũng cần phá bỏ quan niệm, “Học chỉ là một quá trình trau giồi và bổ sung tri thức”. Điểm này đúng nhưng chưa đủ. Bởi tri thức mở ra sự vô cùng; không ai có thể bảo đã hoàn tất, thủ đắc đủ, nắm giữ trọn vẹn mọi nguồn cội. Quan niệm như trên tức hạn chế năng lực dự phóng của tri thức, hướng đến tình cảnh bất toàn và cách biệt, cách biệt giữa Ta và Vật. Bất toàn vì chỉ cốt ôn tập, lập lại những điều sẵn có của người trước, của quá khứ. Học cao quý và kỳ diệu hơn. Học là vận động không ngừng nghỉ, biến kiến văn của người nên của mình vào mục đích phụng vụ chung. Học là Hoàn Thiện Chính Mình với Phẩm Giá Con Người. Trước sau tôi bám chắc cùng đích này – Xin tha thiết nói đến cùng các Bạn, những người Bạn Trẻ. Tại sao tôi lại phải nhấn mạnh đến điều trên? Bởi đã có những nền văn minh rất tráng lệ, kiên cố, to lớn mà những người sáng lập đều có chung hoài bão là những nền văn minh ấy sẽ tồn tại lâu dài cùng lịch sử. Nhưng rốt cuộc chúng đã tàn rụi và tiêu vong một cách thảm hại, bày ra cảnh kiệt cùng của giới hạn tất yếu về khả năng, tri thức con người. Khi người rời bỏ phẩm hạnh ưu thế “Tính Thiện, Lòng Nhân” thì tất cả thành quả vật chất xây nên quanh nó hoàn toàn vô ích và vô dụng. Trong sa đọa của những văn minh vùng sông Nil (Ai Cập), Lưỡng Hà (Trung Cận Đông), lần sụp đổ của các đế quốc Hy Lạp, La Mã, Mông Cổ, hẳn không phải vì thiếu sức mạnh quân sự, mưu thuật chính trị, thủ đoạn bạo lực.

Nhưng tất cả sụp vỡ đó đã xẩy ra từ, với một mẫu số chung: Chúng đã xây dựng được hình khối Văn Minh nhưng thiếu nền tảng Văn Hóa đích thực. Mà Văn Hóa nói cho cùng là, “Nhân Hóa – Trở Thành Người”, cho người. Lịch sử văn minh nhân loại phải thực hiện cho kỳ được mục tiêu tối thượng này, nếu không tất cả chỉ là vô ích. Trở lại vấn đề của chúng ta. Trong phần thứ nhất của câu chuyện, chúng tôi đã thông báo đến các bạn về số lượng những người tuổi trẻ trong nước. Hơn hai mươi triệu trong số bẩy mươi ba triệu dân, những người không phải gánh chịu trực tiếp tai ương cuộc chiến dai dẳng của ba mươi năm qua – Những người này phải được thực hiện quyền lợi tối thượng của tuổi trẻ: Họ phải được Học, phải được thể hiện giá trị của người có giáo dục. Họ phải được thực hiện phẩm giá của riêng người. Nhưng thực tế, những người trẻ tuổi này đang bị khinh miệt, vất bỏ một cách tàn nhẫn nhất. Chúng ta cần nói đến họ. Chúng ta cần phải trở về nơi quê hương khổ nạn. Chúng ta cần trở lại Cội Nguồn toàn diện. Triệt để. Trước khi đào sâu vấn đề tôi xin được nói điều thành thật … Bản thân cá nhân không hề xem hoàn cảnh nghèo khổ là điều đáng quan ngại, đầu mối của thống khổ, bởi đã quen với cơ hàn, tranh sống từ tuổi niên thiếu. Tuy nhiên, thật tình cũng không thể phấn khởi nếu sau hai mươi năm “thống nhất nước nhà về mặt Nhà Nước; thâu giang sơn về một mối; đánh sập toàn thể bộ máy kìm kẹp của bọn bán nước Ngụy quân Ngụy quyền; đuổi sạch bóng quân xâm lược …” cách nói huênh hoang, lớn lối quen thuộc của người cộng sản Việt Nam-Nhà cầm quyền Hà Nội vẫn không thực hiện được và cũng không khả năng tiến đến việc mở đầu hiện thực “xây dựng nước Việt Nam đàng hoàng to đẹp gấp mười lần năm xưa”. – Lời di huấn của Hồ Chí Minh mà giới lãnh đạo, toàn bộ Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN quyết tâm thực hiện, như họ đã nhiều lần thề nguyền thâu đoạt chiến thắng quân sự với bất cứ giá máu nào, mặc cho toàn dân tộc phải gánh chịu sau những thời điểm 1945, 54, 75. Để đến hôm nay với kết quả Việt Nam xếp hạng thứ năm trong mười nước nghèo khổ nhất thế giới, với tổng sản lượng 200 USD/ năm tính theo mỗi đầu người. Tôi cũng không gọi sự khiếm khuyết về mặt chuyên môn của những người có học vị phó tiến sĩ, bác sĩ y khoa chích lộn thuốc gây tê liệt thần kinh (chuẩn bị giải phẫu phần sọ não), làm hư hại toàn phần cánh tay khỏe mạnh; tiểu giải phẫu Amygdale không cầm máu được để chết bệnh nhân. Ông giữ bò (chiến sĩ thi đua Hồ Giống) trở thành thú y sĩ … Là những sự việc quá độ quan trọng đáng phải gay gắt bàn cãi. Những khuyết điểm do nghèo nàn, thiếu học vấn, kém chuyên môn chỉ cần thời gian tập huấn ắt sẽ dần sửa đổi, điều chỉnh được, nếu như chính phủ VN có một chương trình cải tiến dân sinh và giáo dục tốt. Điều đáng nói ở đây bây giờ, năm 1996 – Chỉ còn bốn năm nữa hết thế kỷ 20 – Những người cộng sản cầm quyền ở Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu đang chuẩn bị một chương trình giáo dục khả thể tương đối hữu hiệu. Sự bi thảm tuyệt vọng cuối cùng là đây. Chúng tôi nói rõ vấn nạn này.

Chúng tôi không đặt nặng quá độ sự việc chiếu trên đài truyền hình Cần Thơ tiết mục “Chuyện Xã Tôi” về sự kiện hầu hết trường học ở Hậu Giang (Châu Đốc) bị hư nát, đổ sụp, hoàn toàn không có bàn ghế, mỗi lớp chỉ còn lại độc nhất bàn cô giáo. Học sinh nhỏ cấp Một đi học mang theo chiếc chiếu, tấm ván nhỏ để nằm, ngồi, viết bài học. Cảnh tượng tương tự như lớp học thầy đồ của vài ba thế kỷ trước nhưng thảm não và tội nghiệp hơn, vì cô giáo kiêm nghề bán quà vặt với gánh hàng gồm mấy miếng chuối chiên, vài gói xôi bọc lá chuối đặt trước cửa lớp – Gọi là “cửa lớp” vì đấy là lối ra vào, tấm cửa gỗ thực sự bị gỡ mất từ lâu. Vâng, cảnh tượng thật đáng xa xót. Nhưng điều đáng sợ không nơi phần kiến trúc hư nát, điều kiện sinh hoạt vật chất tồi tệ kia; điều đáng sợ hiện lên trong tròng mắt nghiệt ngã uất hờn của đứa bé. Nơi trí não con trẻ- Người sẽ thực hiện Tương Lai Dân Tộc Việt Nam ở thế kỷ sắp bước tới. Ngày xưa, ngay trước và sau thời điểm 1954, riêng cho miền Nam, chúng tôi là những thiếu niên quần cộc chân trần; đời sống vật chất giá đình chắc cũng không hơn những đứa bé trong đoạn phim bao nhiêu, và trường lớp cũng không khang trang to lớn lắm, nhưng chắc không đến nỗi tồi tệ như kia. Thông thường trường chúng tôi chỉ gồm dẫy nhà ngang dăm lớp, dạy từ lớp Năm đến lớp Nhất (lớp 1 đến lớp 5, cấp Một). Trường không lớn, nhưng sạch và im bóng mát Vào giờ học, lũ học trò đồng im lặng chăm chỉ làm bài. Ta nghe được âm động ngòi bút vạch lên giấy, tiếng thở âu lo và ngoài sân gió cuốn lá bàng khô rụng khẽ … Tất cả cảnh sắc chìm lắng, co rút lại để chỉ bừng sáng một nhân dáng biểu tượng – Người Thầy. Vào những ngày tháng ấy, nơi những thôn xóm, quận lỵ và ngay cả thị xã, thành phố Miền Nam, Người Thầy là một hình tượng tuyệt đối cao quý, không khiếm khuyết để nhận đủ kính trọng của toàn xã hội. Giờ tan học, trên những lộ đá, dọc đồng lúa, những người nông dân, lính nghĩa quân, ông hội đồng, ủy viên cảnh sát … Tất cả đều tránh vào lề đường khi “người thầy” đi qua. Thật sự “người thầy” kia cũng có thể chỉ là một thanh niên, một thiếu nữ vừa qua tuổi hai mươi, mới ra trường sư phạm cấp tốc. Nhưng bởi vì đấy là người dậy dỗ con cái họ. Nghiệp vụ cao quý này gây nên mối kính trọng tự nhiên kia.

Chương trình giáo dục và xã hội Việt Nam ở những thời điểm kia lẽ tất nhiên còn nhiều điểm thiếu sót, từ nội dung giảng dậy đến cơ sở tổ chức học đường. Nhưng chắc một điều, các thầy cô trẻ tuổi ấy đã dậy đám con trẻ những điều rất mực đứng đắn. Đám trẻ được học những điều đơn giản, trong sáng như sau.

Tổng quát, đối với người:

Thương người như thể thương thân

Gặp ai lỡ bước khó khăn đến nhà

Đồng tiền bát gạo mang ra

Rằng đây cần kiệm gọi là lòng nhân.

Đối với anh em, bài học có phân tích chi tiết:

Anh em nào phải người xa

Cùng chung bác mẹ một nhà tình thân

Anh em như thể tay chân

Anh em hòa thuận hai thân vui vầy.

Chúng tôi còn được dậy thêm điều cảm động:

“Chuyện anh em người họ Điền định chia nhau gia tài gồm cả cây cổ thụ trước nhà. Cây bỗng nhiên khô héo vì tình anh em cạn kiệt, chẳng đợi nhát búa bổ vào. Anh em nhà kia ôm nhau khóc dưới gốc cây biết xúc động với lòng người.

Đối với bạn bè, tuổi nhỏ được dậy dỗ:

“Chim có đàn cùng hát, tiếng hát mới hay;ngựa có bạn cùng đua, nước đua mới mạnh.

Huống chi người học trò trên đường học tập phải có bạn theo cùng … “

Chúng tôi được dẫn dắt để cảm xúc hướng theo dòng cảm động khi Dương Lễ bảo vợ là Châu Long thay mình đi nuôi bạn Lưu Bình. Tất cả yếu tố của câu chuyện cuối cùng dẫn đến kết luận: “Đạo bằng hữu phải có thủy chung.” Và đứa bé mặc nhiên công nhận đấy là điều tốt lành cần phải theo đuổi, thực hiện.

Và cuối cùng, tất cả vận động, tác dụng của nền giáo dục kia bàng bạc, lắng sâu, cô đọng nơi tụ điểm:

Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ Mẹ kính Cha

Cho tròn chữ Hiếu mới là Đạo con.

Đứa trẻ con cũng được giải thích để hiểu tại sao phải giữ Đạo Hiếu. Vì những Mẹ Cha đã hoàn thành một cách tự nhiên và vô vị lợi quá trình hiện thực Tình Thương, gồm những động tác bé nhỏ, đơn giản:

Đêm khuya con ngủ giấc nồng

Kìa ai chăm sóc bên giường cùng con

Mẹ nhìn con miệng mỉm cười

Khi con đau yếu hãi hùng lo âu.

Cá bạn cũng nên lưu ý, chữ “con” được lập đi lập lại bốn lần trong bốn câu thơ chẳng phải do người thi sĩ này quá kém cỏi về kỹ thuật tu từ; nhưng chắc hẳn người này muốn nhấn mạnh đến đối tượng “con” mà chủ thể “Mẹ” luôn vây chặt chung quanh, như những âm điện tử cố kết bất phân ly với hạnh nhân trong một cấu tử sống động. Từ phương thức giáo dục đơn giản và thuần hậu kia, lớp trẻ chúng tôi nên người – Một người bình thường với Nhân Tính luôn được bảo vệ, đề cao.

Trái lại, điều đáng kinh sợ đã xảy ra phía bên kia – Nơi những người cộng sản, kẻ đoạt thắng về mặt bạo lực.

Những người chiến thắng này có một sách lược quan trọng và nghiêm khắc để riêng dạy trẻ: Một đời trồng

cây, trăm năm trồng người. Ý niệm cao cả về giáo dục này phát xuất từ Quản Trọng, không phải ý riêng của ông Hồ. Nếu ông ta dụng riêng do tư tâm, tư ý tốt, việc cũng không đáng trách. Nhưng điều cần cáo buộc về ông HỒ là đã trồng NGƯỢC NGƯỜI. Ông tạo nên những vấn đề giả cho mấy thế hệ Việt Nam mà hệ quả đến hôm nay vẫn không có dấu hiệu chấm dứt, không có cơ hội phục hồi. Khổ nạn trầm kha của Dân Tộc Việt từ đấy đã nên thành. Những “vấn đề giả” xuất hiện dưới những “tin vui” độc địa:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà

Nam, Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta.

“Tin Vui” mà ông Hồ ban xuống cho người Việt nói chung và người tuổi trẻ nói riêng có giá máu, QLVNCH:

Tử thương 3,500 người; bị thương 10,678 người; mất tích 543; tổng cộng 14,722 người. Phía Đồng minh: Chết 2,832; bị thương 15,832; mất tích 352; tổng cộng 19,016.

Phía Cộng sản: Chết 41,191; bị bắt 48,572 (số liệu Newsweek, tháng 2, 1968). “Tin Vui” kia còn có những kết quả mà người cộng sản không kể ra: 14,300 người chết; 24,000 bị thương; 72,000 căn nhà bị phá; và 627,000 người ty nạn – Tất cả chỉ là dân thường – Bắt đầu từ giờ Giao Thừa Mậu Thân, Tết 1968, giờ ông Hồ ban tin vui!

Đến đây, chúng ta cần đặt nên câu hỏi đau đớn: “Tại sao người cộng sản, sau bao nhiêu năm kể từ đêm xuân máu hận kia, vẫn không thoáng chạnh lòng khi nghĩ đến thành quả của lần gọi là “Tổng Công Kích Toàn Thắng Mậu Thân?! “. Hằng năm vào dịp ra báo Xuân, lễ Tết (kể đến Tết vừa qua, 1966), người Cộng sản vẫn tổ chức tưởng niệm lần “Chiến Thắng Mùa Xuân oanh liệt trên vạn xác chết” – Chiến thắng được dựng nên từ máu và thây người Việt Miền Nam bị bức tử ở phút giây hoan lạc và hy vọng. Tại sao người cộng sản giết người cực độ tỉnh táo và vô ích như thế kia?! Câu hỏi sẽ hoàn toàn không phương giải đáp nếu chúng ta không đi đến cội nguồn để hiểu ra: NGƯỜI CỘNG SẢN ĐÃ GIẾT NGƯỜI TỪ MỘT CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC XIỂN DƯƠNG SỰ NGHIỆP SÁT NHÂN. Chính sách đó được hoàn thành từ chiến lược “trồng người” với những tiêu chuẩn đạo đức, thẩm mỹ mới:

Con ong làm mật yêu hoa

Con cá yêu nước

Chim sơn ca yêu trời

Thương người đồng chí ai ơi …

Thật chính xác, dứt khoát. Kể từ đây người chỉ được yêu thương người, không vì đó là một nhân vị siêu việt.

nhưng bởi đấy là người cùng ta đào một đoạn đường, đắp khoảng mô, khiêng khẩu pháo, giật trái mìn … Ta chỉ được quyền thương yêu người cùng ta chia phần hủy diệt, thực hiện cái Chết; Không phải yêu người cùng ta giữ gìn nguồn Hy Vọng Phục Sinh. Người đối xử với nhau qua tương quan của xác ma – Loại quỷ nhập tràng dậy nên từ men hận thù bốc mùi máu. Cách đây hơn bốn mươi năm, nhà văn Lỗ, Gheorghiu, đã báo động nền văn minh kỹ thuật Tây Âu đang đến kỳ phá sản với sự xuất hiện của loại người mới: NGƯỜI CÔNG DÂN, thay thế con người đơn giản thuần thành như hằng có. Từ mối vong thân căn bản này, con người sẽ và chỉ đối xử qua tương quan chính trị khắc nghiệt lạnh lùng và Tây Âu ắt phải tan vỡ từ phân loại tàn nhẫn về con người của chính mình này. Lời báo động đã hiện thực với và sau Thế Chiến Thứ Hai. Một loạt những cái gọi là Ngai Vàng, Chủ Tịch, Đại Thống Chế, Đại Chủng Tộc, Đại Văn Minh phút chốc trở nên những tay vô lại tầm phào, đầu mối tất cả miệt thị và nguyền rủa. Cơn đổ sụp đó không chỉ giới hạn nơi phương Tây với Berlin, Dresden của nước Đức, mà còn tràn qua phương Đông với hai thành phố Hiroshima, Nagasaki phút chốc vùi vũng lửa và giấc mộng Đại Đông Á của giới quân phiệt Nhật vỡ tan như bọt sóng vô định ngoài biển Đông. nhưng hai nước Đức, Nhật dù bị thất trận quân sự, vỡ tan tham vọng chính trị, tiềm lực công nghệ, họ vẫn còn cứ điểm cuối cùng: Con người khi được trả lại tự do và phẩm giá – Người với tất cả sức mạnh tự thân. Người được phục hồi danh xưng, vất bỏ “tính công dân nhẫn tâm và đáng khinh miệt” dựng nên do bộ máy cầm quyền của chính quốc gia họ (nay đã bị vất bỏ, thay thế). Hai nước bại trận này cuối cùng đã vững vàng kiêu hãnh đứng dậy cùng thế giới sau hai thập niên đắng cay.

Trường hợp Việt Nam thì trái lại. Do có điều “không hợp lý” đã xảy ra. Vấn đề không khó hiểu quá độ, bởi chúng ta đã có hai mươi năm sau ngày 30 tháng Tư, 1975; bốn mươi năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, và năm mươi năm sau mùa Thu, tháng Tám, 1945. Với phép tính xác suất, tỷ lệ 1/100,000 được gọi là “có ý nghĩa”; tỷ lệ 1/10,000 là “rất có ý nghĩa”; và tỷ lệ kia càng nhỏ thì không phải là xác suất nữa mà đã là “khẳng định tính.” Ở đây, sau ba thắng lợi, thắng lợi sau hơn thắng lợi trước, và mức độ tồi tệ của đời sống quốc gia (vật chất lẫn tinh thần) càng trầm trọng hơn … Như thế là thế nào?! Ta chỉ có thể trả lời với thực tế nghịch lý: Lần gọi là “chiến thắng” kia là đầu mối của tất cả tai họa. Theo dòng phân tích đang cố công tìm hiểu, chúng ta có thể nói chắc rằng: Những lần thâu đoạt thắng lợi kia cũng là buổi gây nên vô vàn khốn đốn đau thương cho người Việt Nam. Người Việt đã bị tận dụng rất mực vô ích, cực độ phí phạm; và tập đoàn cầm quyền Cộng sản là thủ phạm chính trong quá trình đánh vỡ toàn bộ sức đề kháng cuối cùng của dân tộc, biến người Việt Nam thành một loại nhân dân đồng hạng, vô tính, đánh giá rẻ. Đấy cũng không phải là “nhân dân bình thường,” mà là một đẳng cấp nhân dân đặc biệt. NHÂN DÂN GIÁC NGỘ CÁCH MẠNG. Với định nghĩa hàm hồ, thậm tệ quái gỡ này người cộng sản tự cho mình khả năng hành sử điều ghê gớm nhất: Họ giành lấy quyền giết người nhân danh một định nghĩa chính trị, giết người không thuộc thành phần “nhân dân giác ngộ.” Và cuối cùng, khi con người đã bị khinh miệt thì Nguồn Lực đầu mối tạo nên sản phẩm (con người) kia tất nhiên bị vất bỏ. Vất bỏ cùng một lần, ngay lập tức. Ông Trời, Đấng Thượng Đế, Vị Chủ Tể, Ngôi Thiên Chúa … Tất cả đối tượng cao quý này bị xếp chung vào hạng mục “giai cấp phản cách mạng,” tất nhiên đồng chịu lần thanh toán không nương tay:

Trời không có thiên thần

Đất không có thánh nhân,

Chỉ có NHÂN DÂN THẦN THÁNH

Và Đảng Ta làm nên sức mạnh

Bay đến chân trời!!

Những lời thơ của Hoàng Trung Thông trên đây không phải là hứng khởi của riêng đám văn lại cao cấp, nhưng là “tài liệu học tập” được chính thức phổ biến và lên “phương án tiếp thu” cho toàn chế độ. Một chế độ biến tướng nên cơn đồng nhập, dẫn dắt toàn xã hội bừng vỡ cơn kích ngất bệnh hoạn từ những chất gây men giả gọi là “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, Chủ Nghĩa Xã Hội … “là nguồn cổ vũ tôi mạnh mẽ bước lên đường. Phần dẫn nhập lá thư đầu tiên tôi hẳn không nói quá lời. Tôi lên đường dù chỉ vì – Với Một Người Bạn.

Những dòng chữ cuối cùng trong phần kết thúc lá thư, tôi xin nói đến cùng Bạn điều tìm thấy đơn giản nhưng sâu xa hàm súc. Ây là: “Khi lạnh lẽo phương Bắc là ngày mùa Hè rộ nở bán cầu Nam; Thu đến nơi này cùng lúc Xuân về chốn khác … Thực tế thoạt tưởng như đương nhiên này bổng chốc giúp cho ta giải quyết bao nhiêu điều từ lâu làm ta nặng nhọc khó khăn. Đấy là những “ý niệm” về “chỗ kia – nơi này; phía Bắc – phương Nam; gió Đông – gió Tây ... ” Tất cả những mối cụ thể này, mà ngày trước ta tưởng là “cố định, bất biến,” hóa ra là những điều phù hư, tương đối; chúng chỉ có do nhu cầu của từng cá nhân, nhóm người, tại mỗi lúc, theo từng mỗi điều kiện, môi trường. Và cuối cùng, ý niệm, phạm trù chủ đạo (về, của Thời Gian) mà qua đó toàn thể sự sống, đời sống thể hiện và tồn tại … Toàn thể những thực thể, hiện tượng này hóa ra chỉ có cội nguồn nơi Tính Không và Hằng Hóa Không. Bởi cái mốc mà ta thường gọi là Quá Khứ – Hiện Tại – Tương Lai …quả tình chỉ là điều KHÔNG THẬT. Tôi nghĩ ra điều rối rắm này từ một thực nghiệm đơn giản : Rời đất Úc lúc đang chiều ngày thứ Bẩy, nhưng đến cảng Los lại vào lúc giữa trưa cùng ngày.

Điều nghĩ ra như trên xưa cũ,

Và hằng có như ánh sáng.

Người Bạn,

Trong tiến trình thoạt thấy vô lý và bi thiết như trên, bổng nhiên khi máy bay hạ cánh, tôi có cảm giác gần gũi và cảm động: Tôi về Đất. Trở lại Nhà. Lẽ tất nhiên, không phải thái độ vồ vập, ham hố để nghĩ thành phố Los rực rỡ ánh sáng kia là một chỗ thay thế phần Việt Nam đã lâu dài xa cách. Nhưng tôi cảm xúc vì một điều đơn giản, rộng rãi hơn: Phần đất nằm dưới tầng tầng mây kia là chốn cư ngụ cho Người. Đất đấy không của riêng ai. Nó có cho người vượn Lucy, sống cách chúng ta 3,18 triệu năm, đào thấy được từ 1974 tại vùng Hadar, Ethiopia. Nó đã mở ra trước mắt Colombus cách đây năm thế kỷ. Cũng là nguồn xúc động cho người tù đi theo diện H.O … Hẳn anh đã rưng rưng nước mắt khi lần đầu tiên đến đây, từ trên độ cao nhìn xuống vũng

chân trời rộ sáng, chợt nhớ đến đêm đông giá rét mù mịt nơi núi rừng đất Bắc Nước Việt mười năm trước …

Đất này đây hẳn đã bùng vỡ ánh vàng tại giây khắc hấp hối của bao nhiêu người Việt trước khi chìm xuống đáy biển trên đường vượt biên. Đất thiêng liêng Giải Cứu. Đất đồng nghĩa Hy Vọng.

Phần tôi, chuyến đi còn nhiều cơn hạnh phúc, bao lần hãnh diện. Bởi khắp nơi tôi đều có BẠN. Bởi khắp nơi tôi nghe vang vọng bao la tiếng gọi BẰNG HỮU.

Tháng Ba 96.

Mùa Xuân.

Vô Vàn Thiết Thân.

Cho dầu Người Lính QLVNCHI đã phạm những khuyết điểm trong Sứ Mệnh:

BẢO QUỐC AN DÂN và họ phải trả giá bằng chính mạng sống bản thân. Nhưng khi người lính ấy buộc phải buông vũ khí, Người Dân biết, kêu cùng ai? Người Việt thành “tiện dân” không Tổ Quốc nơi những trại cấm khắp vùng Đông Nam Á .. (Trg 380).

Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

Bài 19.

Phía bên kia con đường có bóng

… và cứ như vậy ta bước tới cùng với thời gian qua, – đến buổi ta chợt thấy, rất gần, như có một lần giới tuyến, một con đường có bóng. Lúc đó, ta mới biết là mình đã phải vĩnh viễn rời khỏi vũ trụ vô tư của tuổi trẻ.

JOSEPH CONRAD

Con đường có bóng này, mọi thủ thuật gia trẻ đều phải bước qua. Họ có thể chuẩn định rất chính xác giây phút mà họ đã bước, bước lớn đó: giây phút quan trọng và nghẹt thở của cuộc giải phẫu đầu tiên. Một khoảng thời gian thật ngắn ngủi, thật kỳ cục so với cả một sự nghiệp dài đăng đẳng, nhưng tuy vậy đầy đủ ý nghĩa thầm kín của nó. Vài phút mà sau bao nhiêu năm trời ta còn nhớ mãi vì nó đầy căng thẳng làm sao! Đối với tôi, sự thử thách còn đen tối hơn phần đông những thủ thuật gia trẻ, bởi định mệnh còn ghép vào một biến cố buồn nữa. Khỏi cần phải nói, cuộc giải phẫu đầu tiên là đoạn cuối của một sự chuẩn bị lâu dài. Tất cả việc đào tạo thủ thuật gia tương lai đều cấu đặt theo nguyên tắc này: đi từng bậc một, việc đào tạo sẽ đưa đến tột đỉnh luôn luôn kỳ vọng và cũng e ngại nữa. Bắt đầu bằng những giờ học giải phẫu trên những mô hình mẫu cơ thể học. Sau khi học lý thuyết về những chi tiết của những cuộc giải phẫu sắp phải làm, chúng tôi thực nghiệm trên xác chết. Hồi đó chiến tranh vừa chấm dứt (dĩ nhiên là đệ nhất thế chiến): sinh viên nhiều, xác chết ít. Nghĩa là những phương tiện học hỏi rất eo hẹp. Nên tôi phải ở lại sau những giờ giảng để nghiên cứu một mình những cuộc giải phẫu đa dạng nhất. Thỉnh thoảng, tôi cũng lén xuống căn phòng ở dưới giảng đường cơ thể học viện chứa những xác chết. Tôi hăng say mồ xẻ quên hết mọi việc. Dưới ánh đèn điện hiu hắt của những chiếc bóng đèn dính đầy bụi, tôi rạch mồ tìm từng động mạch, tìm từng dây thần kinh, tôi thử xét những hiểm nguy của những vết rạch mổ, tôi tưởng tượng những vụ đứt mạch máu mà tôi phải đối phó và nổi giận với chính tôi khi không tìm được một bộ phận nào thật nhanh chóng. Mỗi lần tôi phải lần tay vào thịt người chết, tử thi lạnh ngắt làm tôi rùng mình. Nhưng nghề đã dạy tôi cũng như tôi đã học nghề. Không những tôi tập mổ những thứ thường “tiểu giải phẫu” mà còn thử những vụ giải phẫu lớn, như cắt bỏ bướu cổ hay một cái vú, hoặc nạo hạch vùng nách. Trong những giờ cặm cụi một mình, cứ theo dõi trong tưởng tượng những cuộc giải phẫu thật, đến nỗi tôi đã sống trước tất cả những giai đoạn, những tình tiết bi đát nhất. Không ai biết về công việc lén lút này, trừ ông già giữ nhà xác. Ông đã để cho tôi làm. Chắc trong thời trai trẻ, ông đã mơ ước thực hiện những kỳ vọng ấy! Bây giờ chỉ còn tìm hiểu tôi sẽ xử sự ra sao khi đứng trước một người sống, khi giờ hành động đến. Tôi thoáng nhận biết lần đầu tiên khi ở bệnh viện – thật khiêm nhường thôi, hôm đó tôi mổ một cái áp-xe (abscess). Tuy vậy, đây là lần đầu tiên mà tôi cầm dao rạch vào da thịt người sống, và, như những sinh viên lính mới tò te, tôi cứ sợ đâm vào một mạch máu hay dây thần kinh. Mọi việc đều tốt đẹp cả. Và một khắc sau, tôi mỉm cười nhạo chính tôi lúc đó đã lúng túng. Nhưng tôi cũng biết mổ như vậy chưa phải là giờ phút quan trọng dấn thân.

Vài tháng đã trôi qua trong sự bình thản dối mình. Rồi một buổi sáng, tôi cảm thấy đã bước đến gần con đường có bóng. Tôi cố gắng tưởng tượng tình trạng căng thẳng đến với tôi khi mổ lần đầu tiên, và phải tỏ vẻ can đảm như thế nào, tóm lại, tôi đạo mạo cho là quan trọng lắm. Nhưng khi giờ phút quyết định đã tới, mọi việc đều xảy ra khác với dự tính. Có lẽ vì hôm đó, tôi đã may mắn có gần tôi một người cộng sự viên. Sự tin cẩn ở người đó đã giúp tôi vượt qua giai đoạn quyết liệt e ngại và ngập ngừng. Một người đàn bà đã giúp tôi rất nhiều mà tôi đã vô tình đưa đẩy vào một cái chết bi đát. Tôi sẽ nói nhiều về bà ở cuối truyện này. Sơ Erna đã làm việc mấy năm nay rồi ở bệnh viện này. Một người đàn bà nhỏ thó, nét mặt nghiêm nghị nhưng thanh tú. Với chức vụ nữ y tá trưởng, sơ không được cảm tình của mọi người cả bệnh nhân lẫn các nữ tu khác; bởi tính hay gắt gỏng, nét mặt cáu kỉnh và luôn luôn thiết lập trật tự trong bệnh viện. Phần tôi, tôi nhận thấy bà sống với nội tâm nhiều hơn. Hiển nhiên, vũ trụ của sơ là nhà thương; có thể nói, đối với sơ, thế giới bên ngoài không hiện hữu.

Sơ đã che chở cho tôi, – theo kiểu sơ nghĩa là cứng rắn, nhưng thân mật. Trong khi các bậc đàn anh thường thường không đếm xỉa tới anh lính mới tò te là tôi, thì sơ Erna đã chỉ cho tôi nhiều điều quý giá, không những về phạm vi y học mà còn trên bình diện nhân bản.

– Bác sĩ thấy không, một hôm bà nói với tôi, khoa thủ thuật ví như cuộc đời: điều cốt yếu là phải có một bàn tay cương quyết nhưng phải biết sử dụng thật mềm mại. Một phương thức thật kỳ diệu, thay cho câu văn cổ điển “bàn tay sắt trong chiếc găng bằng nhung”! Hơn một lần trong cuộc đời chức nghiệp, tôi đã bắt gặp ý nghĩa thầm kín và sâu xa của câu nói đó. Những người phụ tá trong bệnh viện chưa bao giờ có dịp tham dự những cuộc giải phẫu lớn. Vì họ làm việc trong những căn  phòng đầy vi trùng, nên khi họ vào phòng mổ đã khử trùng thật là một điều hiểm nghèo. Tôi cũng vậy, phạm vi khử trùng là nơi cấm địa. Tôi chỉ được dự những cuộc giải phẫu những trường hợp nhiễm trùng như mổ một khớp xương đầy mủ hay áp-xe (abscess) lớn. Tôi nóng lòng chờ đợi. Tôi tưởng đã sửa soạn tất cả để hành nghề cao quý của tôi. Hồi bé, tôi hết lòng tập cho tay càng ngày càng nhanh lẹ, càng tinh tế khi kéo vĩ cầm và vẽ. Khi trở thành sinh viên, tôi đã quan sát thật kỹ càng điệu bộ và dáng dấp của những ông thầy giỏi khi mổ, một sự hòa hợp cường lực với dịu dàng thanh thoát. Dáng bộ mà tôi cố bắt chước mỗi lần phải làm phụ tá giúp mổ. Tôi cũng đã làm hết sức, – bởi đâu có dễ – để vứt bỏ thói quen thật tai họa, tính xấu của những người mới học lúc đầu, là giơ đầu lên vùng mổ để “nhìn cho rõ hơn”. Mà, khi giải phẫu lại cứ nghiêng mình thì làm sao mà có thể cử động thoải mái được. Nghĩa là vẻ thanh thoải của một thủ thuật gia lành nghề. Tôi cũng nhận thấy là trong phòng mổ hay ở đâu cũng vậy, bao giờ cũng có những thói xấu và tốt. Những thói xấu được biểu hiện một cuộc xô đẩy xung quanh “bàn bi da”. Tôi thấy đầu bác sĩ chạm nhau đôm đốp trên vùng giải phẫu. Nhiều khi trong trường hợp khó, còn tranh luận ngay trong khi đang mồ để biết ta phải hoặc nên làm những điều gì. Cũng may mà trong khu giải phẫu của chúng tôi, những điều sơ suất này bị cấm đoán ngặt nghèo. Ông Thầy cũng như các bác sĩ, phê phán rất chính xác và đường mổ tuyệt diệu, gọn gàng, có đủ uy quyền với nhân viên để có một sự phục tùng hoàn toàn, im lặng và hữu hiệu. Hơn nữa, ngay trong những tình trạng nguy ngập nhất, họ đều giữ được bình tĩnh – điều kiện cốt yếu trong nghề chúng tôi, một nghề mà mọi sự thụt lùi đều không thể được. Nhưng cũng có những thủ thuật gia mất bình tĩnh, sợ trách nhiệm cuối cùng, hay ngay cả bỏ cuộc trước khi chiến đấu, e ngại trước một khó khăn bất thường. Dĩ nhiên là nhân vô thập toàn và con người lắm khi yếu đuối, nhưng bệnh nhân lãnh đủ.

Sau bốn tháng ở bệnh viện tôi được đổi đến một khu khác. Bây giờ cánh cửa phòng giải phẫu khử trùng sắp mở trước mặt tôi. Giây phút quyết liệt đã đến …

Một buổi sáng, anh y sĩ trưởng nhờ tôi phụ anh mổ một sa ruột bẹn (hernie inguinale). Tôi thuộc lòng kỹ thuật mổ này. Khi tiến tới phòng tiền giải phẫu, tôi gặp sơ Erna. Sơ gật đầu chào nhưng vẫn nhìn tôi chằm chằm vẻ suy tư. Đến ngày hôm nay tôi còn nhớ cái nhìn ấy: đôi mắt to và đen hình như dò hỏi, như muốn móc một điều bí mật nào. Tôi định hỏi sơ lý do của cái nhìn soi mói này, nhưng bỗng nhiên, sơ quay mặt đi vào phòng tiền giải phẫu trong đó anh y sĩ trưởng đang sửa soạn mồ. Hơi thắc mắc, tôi theo gót bà. Suốt mười phút chúng tôi không nói với nhau một lời nào. Chúng tôi rửa tay trong nước nóng, thọc tay đến khuỷu vào một dung dịch Sublimé và trong cồn, sau đó để tay khô. Rồi mặc áo blouse đã khử trùng và đi bốt trắng, chúng tôi vào phòng giải phẫu. Bệnh nhân rất nhạy cảm nên anh y sĩ trưởng đã ra lệnh đánh thuốc mê, vì trường hợp đặc biệt, vì thường thường, mổ bướu bẹn chỉ tiêm thuốc tê. Bệnh nhân đã ngủ say rồi và nằm trên bàn. Tôi sắp đứng ở vị trí phụ tá của tôi thì anh y sĩ trưởng quay lại tôi:

– Hôm nay anh mổ, tôi sẽ phụ tá anh.

Tôi tưởng đã nghe nhầm.

– Anh dạy chi?

– Anh mổ đi! – Anh vừa cười vừa nói.

– Cám ơn anh. Rồi tôi đứng vào vị trí người mổ.

Cô y tá phụ trách dụng cụ đưa cho tôi một đôi găng tay. Tôi đeo ngay. Khi quan sát vùng mổ, bỗng nhiên tôi nhớ lại một lời nói của thầy tôi, giáo sư LEXER: “Cần nhất là những anh trẻ phải học mổ đi!” Chính vì muốn cho họ cơ hội, nên ông luôn luôn, nếu có thể, để cho họ mổ, trong khi những thầy khác đều có vẻ thờ ơ hay muốn giấu nghề. Trong khoảnh khắc, tôi biết là tôi mổ được bướu bẹn này.

Vừa cầm lấy dao mồ, tôi rạch một đường ở bẹn. Không ngần ngừ một chút nào cả, trái lại, tôi làm thật  nhanh, thúc đẩy bởi tham vọng khoe tài. Nói thật thà hơn, tôi sẩy nẩy quá. Bỗng nhiên anh y sĩ trưởng nói:

– Đi đâu mà vội thế bồ … Khỉ chửa, anh bị lửa đốt hay sao thế! Cứ từ từ, đi đâu mà vội!

Mọi việc đều trôi chảy như xếp. Tôi đem dễ dàng túi bướu bẹn, mở nó ra, xem trong đó có gì, ấn nó lên rồi khâu đáy lại. Tôi cho luồn tất cả dưới bắp thịt, khâu theo kiểu Bassini, khâu các loại mô liên kết lên trên và đóng vết mổ lại. Sau khi băng vết mổ lại, mấy anh phụ cởi dây buộc bệnh nhân và đưa về phòng. Anh y sĩ trưởng đã bỏ đi từ mũi kim đầu. Cả toán rời phòng giải phẫu. Tôi đứng một mình trước bàn mổ trống. Cuộc giải phẫu đầu tiên của tôi? Thật ra tôi, không cảm thấy một chút hứng cảm hãnh diện nào? Hứng cảm mà tôi chờ đợi mãi giây phút trọng đại này. Có phải tôi đã mổ, dưới sự kiểm soát của một cấp trên? Có thể, nhưng tuy vậy …

“Chỉ có thế thôi ư?”, tôi nghĩ lòng thất vọng. Trong hành lang trước chỗ rửa tay, tôi gặp lại sơ Erna. Sơ có vẻ vui quá, đôi mắt biểu tượng một niềm hoan lạc vô tả. Tôi không thể không nghĩ đặt một sợi dây nhân quả giữa niềm vui ấy và “chiến công” của tôi. Tôi muốn rõ trắng đen.

– Ma-sơ ạ . . . có phải vì ma-sơ mà tôi được mổ không?

Bà cười mà không trả lời. Nhưng vài phút sau, một chị đến xác nhận điều ấy:

– Sơ Erna chắc vui lòng lắm. Sáng hôm qua, tôi đang đứng với anh y sĩ trưởng thì ma-sơ đến và cứ nằng nặc để xin cho anh được biểu diễn một đường dao. Ma-sơ nói vẻ chắc chắn anh có phong thái một thủ thuật gia giỏi.

Bắt đầu từ buổi đó, tôi nghĩ đến sơ Erna nhiều hơn là cuộc giải phẫu đầu tiên của tôi. Thật lạ quá. Một người đàn bà dị kỳ! Ma-sơ có ngoan đạo không – đúng với ý nghĩa sâu xa của nó? Tôi vẫn tự hỏi mãi. Ma-sơ vẫn thường đi lễ, như tất cả những nữ tu, nhưng bà thiếu sự trong sáng của đức tin mãnh liệt. Ở nhà thương rất nhiều sơ còn trẻ, những người đàn bà khả ái nhưng tin chắc ở tình thương của Chúa đã đem gieo rắc tình thương cho tha nhân. Các sơ tạo một bầu không khí chung quanh đầy thánh thiện thanh thản và niềm mến tha thiết. Nhưng sơ Erna không toát ra vẻ thánh thiện ấy. Cứng rắn và nghiêm khắc, bà có vẻ một người ghét cuộc đời và khinh loài người. Có thể bà đã thất vọng quá nhiều mà không thể thoát được, – một mối tình ngang trái hay từ chấn động tâm linh từ thủa nhỏ. Càng nghĩ về câu hỏi và thắc mắc này tôi càng muốn biết rõ câu chuyện nhiều hơn. Không phải vì tò mò, mà vì tôi muốn giúp bà trên phương diện nhân bản, như bà đã giúp tôi trong nghề nghiệp. Mấy hôm sau cuộc giải phẫu đáng nhớ này, đến phiên tôi gác đêm. Đi dọc theo hành lang tối tăm, tôi rất ngạc nhiên khi nhận thấy trong văn phòng chánh còn ánh điện. Qua cánh cửa mở hé, tôi thấy sơ Erna đang cặm cụi với hồ sơ bệnh nhân. Tôi bước vào.

– Thế nào, tôi nói giọng như trách, quá nửa đêm rồi, Sơ không nghỉ bao giờ? Tuy ở đời chỉ có công việc là quý. Nhưng Sơ có bao giờ nghĩ ngày mai sẽ làm gì không và lại là ngày chủ nhật nữa?

Sơ từ từ ngửng đầu lên. Với vẻ mặt khắc khổ, đường nét như chạm trổ dưới ánh đèn để bàn, đôi mắt mệt mỏi viền đỏ chứng tỏ hùng hồn bao nhiêu mỏi mệt của những buổi thức đêm liên tiếp.

– Mai tôi làm gì ư? – Bà nhắc lại. Thì, bác sĩ cũng thừa biết. Như những chủ nhật trước. Làm việc, đi lễ, rồi lại làm việc. Rồi sau bữa trưa tôi đi dạo một giờ, hay nếu trời xấu thì nằm nghỉ. Rồi làm gì nữa? Thì lại làm việc, ở nhà thương có bao giờ hết việc làm đâu? Bà nói giọng thật bình thản làm tôi thấy bực tức gần như nổi loạn. Tôi gắt:

– Thật vô nghĩa quá! Sơ không thấy Sơ đang sống như một người bị khổ sai à? Làm việc, rồi lại làm việc, lúc nào cũng làm việc … Sơ lại sắp nói với tôi là cuộc sống này thật hạnh phúc?

Bà trả lời tôi giọng khô khan:

– Chúng ta không sống trên đời để hưởng sung sướng, nhưng để làm bổn phận mình. Tôi biết lắm. Chính KANT đã đặt những phương thức cứng rắn ấy. Tôi chưa bao giờ tin được là một người bằng xương bằng thịt, lại là đàn bà nữa, có thể tuân theo toàn diện nguyên tắc ấy.

Tôi ngạc nhiên khi thấy Sơ cười.

– Chính vì thế mà bác sĩ nhầm rồi. Tôi có thể nói, sống như vậy, tôi sẽ sung sướng, theo cách sống của tôi.

Không biết trả lời thế nào, tôi nhún vai và đi ra. Mấy tuần sau buổi đối thoại này, tôi lại gặp Erna trong phiên trực đêm. Tôi rất hài lòng vì có thể tin cậy bà. Từ lúc tối đến giờ bệnh nhân và những người bị tai nạn cứ ồ ạt như thác lũ đến chất đầy phòng nhận bệnh. Dù tôi có muốn đi chăng nữa, cũng không có thì giờ để tiếp tục câu chuyện với Sơ.

Vào khoảng hai giờ sáng, xe cứu thương chở đến chúng tôi, nằm trên cáng, một thanh niên tái mét và sốt, má hóp lại vì đau đớn. Phiếu gửi bệnh có ghi án chẩn: Sưng ruột thừa cấp tính. Lại một trường hợp đòi hỏi một quyết định tức thời. Khi quan sát bụng bệnh nhân, tôi thấy phần phải vùng bụng dưới không đưa đẩy theo nhịp thở nữa. Khi sờ nắn, thấy bắp thịt và da bụng căng cứng. Tôi bảo bệnh nhân co chân lại để bụng bớt căng; thật vậy, bụng mềm hẳn đi không gồng nữa nhưng trừ phía phải bụng dưới. Hiển nhiên viêm chứng đã lan tới màng bụng rồi. Hơn nữa, bệnh nhân đau lắm, đụng vào bụng đã rên ầm lên. Đúng là chứng sưng ruột thừa phát triển thật nhanh và có thể gây rất nhiều biến chứng. Do sự nhận xét của tôi, ruột thừa sưng này phải ở sát màng bụng lắm; có thể đã thủng rồi. Có thể miếng ruột thừa này không ở chỗ thường lệ, giữa rốn và đỉnh xương hông, mà dưới nữa. Sơ Erna, đứng ở đầu cáng nhìn chăm chú và lo ngại cuộc khám nghiệm này. Khi Sơ ngước nhìn tôi có ý dò hỏi, tôi nhún vai:

– Ma-sơ cho bảo ông y sĩ trưởng đi. Phải mổ ngay.

– Y sĩ trưởng không mổ được ngay bây giờ. Vừa mới có một người bị tai nạn, trường hợp nặng lắm một phần ngực bị đè nát; còn phải mổ lâu lắm.

Hơi tư lự, tôi nhìn chăm chú khuôn mặt rầu rĩ của bệnh nhân. Tình trạng này có thể chờ được không? Hiển nhiên, mọi sự chậm trễ rất tai hại và nguy đến tánh mạng. Nhưng hiện giờ anh y sĩ trưởng không thể mổ được … Chợt sơ Erna tiếp:

– Ông có thể mồ một mình trường hợp này.

Bà nói rất nhỏ, giọng năn nỉ. Ngạc nhiên, tôi ngửng đầu lên. Bà đang nhìn thẳng vào mắt tôi như ngăn cản không cho tôi từ chối. Vào lúc đó tôi cảm thấy, trước mặt có “cái bóng” hằng e ngại này. Bây giờ tôi chắc chắn như vậy.

– Được, để tôi mổ.

Sửa soạn thật nhanh chóng.

Anh phụ tá tập sự. Chúng tôi rửa tay.

Đặt lên bàn mổ. Bắt đầu đánh thuốc mê. Chưa bao giờ căn phòng mồ về đêm đối với tôi, lại rộng lớn và buồn tẻ đến như vậy. Tôi gần như quên sự hiện diện của mấy anh phụ tá, tôi có cảm tưởng đứng một mình với ánh điện chói sáng, một mình gánh trách nhiệm về án chẩn này, từng đường mồ, từng nhịp tay, từng mũi khâu. Trách nhiệm trước mọi biến chứng dù nhỏ mọn, mọi hiểm nguy của thuốc mê, mọi cơ hội nhiễm trùng và tình trạng khúc ruột … và bao nhiêu điều khác không thể lường được.

Lần đầu tiên, một con người bị bất lực đang ở trong tay tôi và phó thác cả tính mệnh cho tôi. Đây không phải là cuộc giải phẫu đầu tiên, dưới sự kiểm soát, của một y sĩ tha thiết muốn chọn hướng thủ thuật gia, nhưng là giờ phút của trách nhiệm, đầu tiên, trách nhiệm hoàn toàn, không ai giúp và chỉ bảo, giờ phút cảm thấy cô độc, dưới mắt Thượng Đế. Tôi phải nói, mặc dù tâm trí căng thẳng nhưng tôi không mất bình tĩnh. Khi rạch đường mồ đầu, tôi lấy lại sự bình thản cố hữu. Tôi có thể làm việc với đầu óc minh mẫn cần thiết. Đây không phải là một trường hợp dễ dàng. Khi tôi rạch những lớp màng bụng và mở bung ra, nước mủ chảy ra ngay. Tôi tìm với ít nhiều khó khăn, miếng ruột thừa sưng ú và nhầy nhụa. Tôi kéo nó ra, buộc chặt cuống ruột thừa; nhưng cũng phải tế nhị lắm, đối với anh lính mới tò te như tôi, vì cứ bắt đầu buộc (nơ) là chỉ lại tuột về phía ruột bị sưng. Sau khi buộc và cẩn thận tách phần ruột thừa có mạch máu, dây thần kinh và mạch cắt làm ba, tôi cố hướng mũi khâu vào vùng ruột tốt và chắc. Tôi cắt miếng ruột thừa sưng đỏ và vứt vào chậu. Sau đó, phải xem cẩn thận những vùng khác, đặt ống thông nòng, khâu lại và băng vết mổ.

Khi ngửng mặt lên, tôi bắt gặp ánh mắt đen láy của sơ Erna đang hướng về phía tôi. Bà nhìn tôi thật lâu. Sau cùng bà gật đầu và mỉm cười như muốn thầm nói: “Thôi nhé! Bây giờ ông mổ cừ rồi đấy!” Riêng tôi cảm thấy như thay đổi, như trưởng thành, trong vài phút ngắn ngủi, cái cảm tưởng sâu xa và thực thụ ấy.

Độ một tháng sau, trong bệnh viện có một biến cố nhỏ nhưng đầy hứng thú: một cô y tá mới vừa đổi đến. Cô Hồng thật xứng với mỹ danh của cô: vừa đảm đang, vừa được mọi người tin cậy, cô lại trẻ đẹp và vui như tết. Bệnh nhân mến cô. Các bác sĩ nở nụ cười khi cô vào phòng bệnh. Chỉ một vài ngày khu bệnh viện cô phụ trách đã thay đổi hoàn toàn vì vẻ duyên dáng và thanh tú của người nữ y tá đó. Một hôm tôi đang nói chuyện với cô cạnh cửa sổ lớn ngoài hành lang và đang cười nói khôi hài thì sơ Erna tới. Khi nhìn thấy chúng tôi, sơ dừng lại và đôi mắt đưa đảo. Rồi sơ quay mặt đi thẳng.

Buổi chiều tôi gặp lại sơ Erna trong phòng rửa tay. Khi chúng tôi đang thoa xà phòng, sơ Erna nhìn tôi và nói nhỏ:

– Bác sĩ có lý. Bữa nọ bác sĩ nói đúng. Tôi không sung sướng và đến hôm nay tôi vẫn không sung sướng. Nhưng không sao. Có thể tôi sẽ thay đổi đi nhiều.

Sáng hôm sau, cả khu bệnh viện thì thầm xúc động. Sơ Erna chưa đến phòng làm việc. Căn phòng đóng chặt cửa, gọi mãi không thấy sơ trả lời. Lo lắng, anh bác sĩ giám đốc cho xô cửa để vào. Người nữ tu sĩ nằm bất động trên giường, một đống máu đỏ đã đông đặc. Cô y tá trực cho chúng tôi biết, đêm qua sơ làm việc đến một giờ sáng để xếp lại hồ sơ cho có thứ tự. Sau đó, sơ đi ngủ và lấy dao mổ rạch động mạch đùi.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 17, tháng 5, 1965]

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

4. Lời giới thiệu của nhà xuất bản và tác giả Olivier Todd

30 tháng 4 năm 1975: Một ngày lịch sử đen tối của thế kỷ 20 , một ngày không bao giờ quên được đối với tất cả đồng bào Miền Nam Việt Nam. Ngày đó “quân đội nhân dân” Miền Bắc của chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (bộ đội Bắc Việt) tiến vào Sai Gon. Ngày đó coi như cuộc chiến 30 năm chấm dứt, một cuộc chiến dai dẳng mà cộng sản Việt Nam theo đuổi bằng mọi giá, ….. dưới chiêu bài “đánh Pháp giành độc lập”, và “chống Mỹ cứu nước” nhằm đuổi họ ra khỏi bán đảo Đông Dương .. bất chấp sự chết chóc, đau thương thống khổ của người dân Việt, để cuối cùng dâng trọn đất nước Việt Nam cho Liên Xô, một pháo đài trung ương của vùng Đông Nam Châu Á …

Ba tháng cuối cùng của tấn bi kịch lịch sử hiện đại nầy được tác giả Olivier Todd tường thuật đầy đủ một cách sống động và độc giả sẽ nhận diện được từng nhân vật bị lôi cuốn hằng ngày theo biến cố nầy, và từng sự việc có liên quan đến tình hình chánh trị quốc gia và quốc tế.

Ông Olivier Todd, sanh năm 1929 tốt nghiệp đại học Sorbonne (Pháp) và Cambridge, Belligue (Anh) là cộng sự viên của đài BBC, của tuần báo Times, Newsweek (Mỹ), là một phóng viên của tờ Nouvel Observateur (Pháp), là tổng biên tập viên của tờ l’Express (Pháp) và là tác giả của nhiều tiểu thuyết có giá trị như: “L’année du crabe” (Năm con cua) hay “Les canards de Ca Mau” (Vịt Cà Mau) v.v.. Ông là một sử gia hiện đại, một trong rất ít nhà báo Tây Phương may mắn theo dõi sát được cuộc chiến từ Hà Nội, Saigon đến vùng bưng biền của Việt Cộng. Rất quen thuộc Việt Nam và nhiều thủ đô của các quốc gia khác ông sẽ đưa độc giả đến các chiến trường sôi động như Phước Long, Kontum, Pleiku, Hué, Đà Nẵng, từ các vùng ngoại ô đến trung tâm Saigon, Washington, Moscou và Paris. .. đến gặp tất cả những nhân vật sống, đang hoạt động lúc bấy giờ, từ Nguyễn văn Thiệu đến Gerald Ford, Kissinger, Võ nguyên Giáp, Phạm văn Đồng, Dương văn Minh v.v… , từ các chiến binh đến những nạn nhân đau khổ của chiến cuộc… Và cuối cùng đến thảm trạng ngày 30/4/75…

Do đó “Tháng Tư Nghiệt Ngã” sẽ được xem như một bản tường thuật đầy đủ và chính xác nhất về những ngày khủng khiếp dẫn tới ngày 30/4/75, ngày báo hiệu cho một màn đêm dài vô tận và còn khủng khiếp hơn nữa cho dân tộc Việt Nam.

Nhà xuất bản Robert Laffont – Paris

Tháng Tư Nghiệt Ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

3. Lời giới thiệu của người dịch

Đối với người dân Miền Nam Việt Nam, ngày 30/4 là một ngày dài, bi thảm! Tuy quân dân Miền Nam đã chiến đấu rất anh dũng để bảo vệ đất nước đến giờ phút cuối cùng, nhưng hầu hết Quân Dân Cán Chính Miền Nam vẫn chưa hiểu được

Tại sao TA mất nước ?

Dĩ nhiên phải có những nguyên nhân xa, nguyên nhân gần với những hậu quả chánh trị và quân sự của nó, phải có những lý do chủ quan và khách quan dẫn tới ngày 30/4/75.

Cho dù may mắn chạy thoát được nanh vuốt của bọn quỷ đỏ trước hay sau ngày bộ đội Miền Bắc dùng chiến xa T.54 của Liên Xô ủi sập hai chữ “Độc Lập” của Miền Nam Việt Nam , hay không may mắn hơn phải bị cộng sản lùa đi lao động khổ sai hằng chục năm dài đau khổ từ biên giới Trung Quốc đến mũi Cà Mau, gần như hầu hết quân dân cán chính chúng ta sau giây phút bàng hoàng ngơ ngác chiếu ngày 30/4 với sự có mặt của anh bộ đội Miền Bắc ngay tại Saigon, tất cả đều đã giải đoán sai hết về câu hỏi

Tại sao chúng TA mất nước ?

Có hơn “một ngàn lẻ một” câu trả lời: “Tại, Bị, Song le, Vì bởi, Lẽ ra “ … v.v. và v.v.. nhưng tôi nghĩ là chúng ta mỗi người ở mỗi vị trí khác nhau, như người mù chỉ được người ta cho sờ có mỗi một bộ phận nào đó của con voi thôi thì làm sao người đó tả lại đúng hình dáng và kích thước của con voi được ?

Do đó lần lượt chúng tôi xin được giới thiệu với độc giả một vài tác phẩm mà hôm nay là quyển “Tháng Tư Nghiệt Ngã” (nguyên tác: “CRUEL AVRIL”) của tác giả người Pháp: Olivier Todd.

Tác phẩm nầy được xuất bản vào tháng 11 năm 1987 tại Pháp.

Tác giả là một phóng viên, một nhà báo có tên tuổi đã từng cộng tác với các tờ báo lớn ở Hoa Kỳ và Pháp, nên đã theo dõi được gần hết các biến cố chánh trị , quân sự cũng như xã hội tại hai miền Nam Bắc trong suốt cuộc chiến ở Việt Nam.

May mắn hơn ông còn có nhiều liên hệ mật thiết với các bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ, Liên Xô, Đông Âu, và ngay cả Việt Nam: Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản Bác Việt và MTGPMN. Nhờ đó tác giả có cái nhìn bao quát hơn, thấy rõ hơn chúng ta mọi nguyên nhân xa gần nhất là về chánh trị và hậu quả của từng sự việc, đặc biệt theo sát được diễn biến của tình hình quân sự ở Miền Nam trong suốt thời gian 4 tháng đầu năm 1975.

Đặc biệt hơn nữa là trước 75, tuy không thuộc hẳn thành phần chống chiến tranh như Jane Fonda hay Ngô công Đức, nhưng ông có tư tưởng tự do phóng khoáng nên ít hay nhiều bị ảnh hưởng của chiến dịch tuyên truyền quy mô , dai dẳng và có hiệu quả của tập đoàn cộng sản quốc tế hỗ trợ cho cộng sản Bắc Việt , nên ông đã có một cái nhìn thiện cảm về “nền hòa bình” mà cộng sản Việt Nam đã vẽ ra và đòi hỏi để lấy đó làm chiêu bài dối gạt dư luận quốc tế về mục tiêu của cuộc chiến xâm lăng của họ, một cái nhìn khác hơn cái nhìn thực tế của chúng ta là những người trong cuộc, đã và đang ra sức chống lại làn sóng xâm lăng của cộng sản quốc tế mà CSVN chỉ là một đạo quân tiền phong.Giống như vợ chồng nữ tài tử Jane Fonda và các nhóm người “chống chiến tranh đòi hòa bình”, về sau nầy tác giả may mắn thấy được thế nào là “hòa bình” kiểu xã hội chủ nghĩa qua sự thật trần truồng được phơi bày rõ ràng trước cả thế giới, từ thái độ đến hành động của cộng sản đối với người dân Miền Nam Việt Nam trong hơn một thập niên sau khi Sai Gon thất thủ năm 1975, ông chợt nhận ra sự thật phũ phàng, tuy có hơi muộn.

Từ đó ông có một lăng kính khác hẳn với quyển “Cruel Avril” mà chúng tôi tạm dịch là “Tháng Tư Ngiệt Ngã” xuất bản năm 1987, ông thấy rõ nguyên nhân sâu xa và thầm kín của cuộc chiến xăm lăng bạo tàn do cộng sản tạo dựng ra ở Việt Nam, thấy được hậu trường chánh trị của cả phe cộng sản từ Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc đến công cụ tay sai của họ là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Nhờ đó ông cũng đã thấy được nổ lực chống cộng sản và chánh nghĩa sáng ngời của quân dân cán chính Miền Nam …. nên quyển sách nầy rất có giá trị về mặt lịch sử, một lịch sử suốt chiều dài của hậu bán thế kỷ 20 mà cộng sản Bắc Việt đang cố ra sức bẻ cong, viết theo chìu hướng “yêu nước” và “anh hùng dân tộc” của họ, hầu che đậy kỹ và chạy tội với hậu thế hành động bán nước hại dân, làm tay sai cho đệ tam quốc tế cộng sản . …..

Chúng tôi xin chân thành giới thiệu tác phẩm nầy với các bạn “yêu nước mà không yêu xã hội chủ nghĩa” ở hải ngoại cũng như ở trong nước, nhất là đồng bào ở Miền Nam Việt Nam của chúng ta, để trả lờì cho hằng ngàn thắc mắc có khi đến giờ nầy vẫn không hiểu “Tại sao ta mất nước”. Văn của tác giả Olivier Todd là lối văn phóng sự của một nhà báo và đôi khi của một nhà bình luận chánh trị, nên có nhiều đoạn chúng tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới nắm được ý chính của tác giả. Dù vậy, chúng tôi cũng cố gắng với số vốn nghèo nàn về Pháp văn của mình trong công tác chuyển ngữ, vừa giúp độc giả thấy được và nắm được từng sự việc, sự kiện lịch sử để giải tỏa thắc mắc của mình, nếu có, vừa ghi lại những sự kiện chánh trị cũng như quân sự có liên quan đến lich sử trước và trong ngày mất Miền Nam Việt Nam 30/4/1975, cốt không để cho cộng sản Việt Nam bóp méo được lịch sử theo ý đồ bất chính đến ma giáo của họ.

Chúng tôi xin chân thành đón nhận tất cả những ý kiến xây dựng và sửa chữa của quý độc giả xa gần để bản dịch ngày càng chính xác hơn, trước khi xuất bản.

Người dịch: Dương hiếu Nghĩa

Dấu chân ngày xưa

Đồng Sa Băng

Post by Sơn râu 18 Jan 2026

Bài 4.

Đại bàng gãy cánh

Trời vào mùa Đông, cảnh núi đồi trở nên trơ trụi, đó đây một vài cánh chim bay lượn. Dưới cánh đồng lộng gió, những ngọn cỏ chết khô vì giá buốt, đang rạp mình dưới chân con mèo hoang rình mồi. Và trên sườn núi, cánh chim đại bàng đang na cành về làm tổ. 
Mùa Đông đang về với núi rừng Phi Châu. Những cánh đồi xanh tươi, tràn đầy nhựa sống, bây giờ xơ xác, thiếu cả tiếng xào xạc của rừng lá trông đến vắng lặng. Những thân cây cổ thụ bày cành trơ trụi trước gió đông, và nơi đây, chỉ có những ngọn gió thổi rì rào trên bải cỏ hoang tàn. Trên không là một cặp trống mái đại bàng, đang nhào lộn, lách mình xuyên qua những cành cây khô trụi lá, để lùng bắt những con mồi xấu số. Gió thổi càng mạnh đại bàng càng thích thú. Cặp mắt sáng quắt, đại bàng vươn đôi cánh trên cành cây khô, và cơn gió từ từ bốc người bay lên. Rồi nhào một cái là cả đám côn trùng lẫn chuột, thỏ đều kinh hồn chạy tán loạn. 
Sự sống và cái chết trên triền núi này chỉ là gang tấc. 
Mùa Đông đến mang theo cái lạnh về với rừng núi. Cũng là lúc đại bàng xây tổ uyên ương. Có những chiều gió lạnh, cặp đại bàng trống mái cùng nhau đi săn mồi mang về tổ ấm. Cái tổ ấm đơn sơ, chỉ có chổ nằm nhưng không có chổ che nắng che mưa, được xây lên bên cạnh vách đá. Rồi những cuộc tình mây mưa giữa gió trời lồng lộng, trống mái cuộn tròn trong nhau, cho rơi tự do với tốc độ ái ân. Rồi đùng một cái chàng đưa nàng bay bỗng lên trời cao, như đã đến tột đỉnh của tình yêu, nàng xòe đôi cánh thả mình lơ lửng trong bầu trời xanh lơ. Một thoáng qua đi, rồi cơn gió đưa nàng trở về bên tổ ấm. Tình yêu thật màu nhiệm, để bây giờ trong nàng, cuộc sống mới bắt đầu chớm nở. 
Dưới thời tiếc khô khan và giá buốt, những ngọn cỏ trên cánh đồng hoang càng ngày càng già úa. Sức sống cỏ cây ở đây cũng tàn lụi dần theo cái lạnh của mùa đông. Và cánh đồng bây giờ lại càng rõ nét, nên bầy thỏ, chuột lại mất đi tấm màn bảo vệ. Những con mồi béo bõng hằng ngày vẫn lồ lộ trước mắt nên đại bàng suốt ngày no nê, chỉ một mình đại bàng trống cũng có thể tìm được bửa ăn hằng ngày cho “gia đình.” 
Có lẽ vì thế mà đại bàng chỉ sinh nở vào mùa đông. 
Từ trên vách đá cheo leo đại bàng cất cánh. Hắn xòe đôi cánh ra để đón gió, trong một cái liếc mắt, những ngọn gió luồng dưới đôi cánh khũng lồ, và nghiêng người đi một cái, hắn đã đưa thân hình bay bỗng lên không trung. Gió vẫn thổi, và cũng hai đôi cánh, hắn đứng yên trong vòm trời. Với hai con mắt tò vọ, hắn đão nhìn xuống phía dưới. Bóng dáng con thỏ vừa xoai mình nhảy ra khỏi buội rậm là hắn xếp cánh, như một chiến đấu cơ, đại bàng cắm xuống, rà phía sau con thỏ xấu số. Rồi nhanh như chớp những vuốt chân xòe ra rồi chụp lại. Hai đôi cánh lại quạt liên hồi, và trong nháy mắt hắn đã kẹp con mồi bay về tổ ấm. 
Hắn ân cần xé từng miếng mồi nhỏ cho nàng, rỉa từng sợi lông trên đôi cánh của nàng như một cử chỉ yêu đương triều mến. 
Gió mùa đông càng về sau càng lạnh, nàng dùng đôi cánh và những sợi lông mềm mại đẻ ấp ủ trứng. Rồi ngày tháng cũng đến, trứng vỡ ra, một cuộc sống mới lại chào đời. Như mừng rỡ nhìn thấy giọt máu của mình, hắn lại cất cánh bay đi, nhặt một cành cây khô thật lớn, bay vút lên không trung. Hắn thả cành cây cho rơi tự do, rồi lao mình bay theo chụp lại. Rồi lại thả cho rơi tan tành trên vách đá. 
Có lẽ chỉ có nàng mới hiểu nỗi sự vui mừng của hắn! 
Bên cạnh hai chiếc áo giáp màu đen với thân hình khổng lồ lại là một đứa bé nhỏ xíu với bộ lông trắng nõn. Chào đời giữa mùa đông, nhưng đứa bé luôn được ấp ủ bởi đôi cánh ấm áp. Đại bàng con ăn nhiều chóng lớn. Màu lông trắng từ từ chuyển qua màu vàng nâu, và những móng chân sắc bén bắt đầu thực tập trên những miếng mồi. 
Và mùa đông cũng đã đi qua. 
Trên sườn núi, và cánh đồng dưới chân, đang mang dấu mùa xuân trở lại. Bầy chuột và thỏ bây giờ cũng đông hơn. Trống mái thay phiên nhau đi săn mồi đem về cho đại bàng con. Trên vách đá đại bàng con suốt ngày lẫn quẩn trong ổ. Nhìn xuống cánh đồng những hoa, quả và màu xanh từ từ trở lại, nó cũng muốn tung đôi cánh theo bố mẹ nhào lượn dưới đó. Để sửa soạn cho ngày đó, ngày mà cả ba trong gia đình dìu nhau rong chơi trên cánh đồng hoang trước mặt, bố đang tập cho nó từng bước di chuyển và cách xử dụng đôi cánh. Đôi cánh vụng về đang đập bành bạch trong gió, đôi khi làm nó chúi nhũi. 
Gia đình, cái không khí gia đình thật là ấm cúng. Hằng ngày trống mái đại bàng vẫn quanh quẩn tìm mồi về nuôi con. Cũng như như bao nhiêu cặp đại bàng khác, nó chỉ sinh ra một đứa con vào mùa đông, bảo vệ và nuôi nấng cho lớn. Khi vào mùa hè thì đại bàng con sẽ được huấn luyện đầy đủ để một thân một mình bay vào cuộc sống. 
Nhưng lần này thì khác. 
Cái ấm cúng gia đình đang chớm nỡ thì đại bàng mái lại đi xây tổ ấm khác. Mỗi ngày sau khi cho đại bàng con ăn xong, nàng lại đi na cành vè xây một tổ ấm bên sườn núi phía dưới. Rồi những cuộc tình mây mưa giữa bầu trời lại tái diễn. 
Mùa xuân chóng qua, mùa hè lại đến, đại bàng lại đến ngày sinh nở. Nàng cho ra đời hai quả trứng. Rồi một cảnh hai quê, nàng vừa ấp ủ trứng vừa phụ chàng nuôi nấng đại bàng con. 
Rừng hoang nào lại không có thú dữ! Và mèo hoang vẫn luôn rình mò đi tìm miếng mồi béo mỡ. 
Mùa hè càng ngày càng gay gắt, màu xanh cây cỏ cũng từ từ biến thành màu nâu vàng úa. Côn trùng, chim chuột cũng hao mòn và lẫn trốn xa dần cánh đồng hoang. 
Cuộc sống ở đây ai cũng là thợ săn mà cũng là con mồi. 
Ðại bàng ngự trị trên không, tung hoành khắp đó đây với đôi cánh khỏe mạnh và đôi chân sắc bén. Dưới ánh nắng hừng hựt của mùa hè, đại bàng xòe đôi cánh, in hình trên thảm cỏ khô là cả bầy chim, chuột khíp cả hồn vía. Nhưng ở đây không những chỉ có đại bàng mà còn ác thú khác nữa là mèo hoang. Ngày và đêm, trong từng bụi rậm mèo hoang vẫn luôn rình mồi. Với bước chân nhẹ như tơ hồng, mèo hoang thụt thùi bên bụi cỏ. Rồi cơn gió thoảng đi qua, mang theo mùi hôi da thịt mèo hoang làm cánh nhạn cất cánh bay lên. Nhanh như chớp, mèo hoang phóng mình nhảy lên rồi chụp xuống. Thế là những sợi lông chim lại bay phất phơ trong gió, để tiếc thương cho một linh hồn vừa rời khỏi xác. 
Càng vào mừa hạ thức ăn càng khan hiếm. Ðại bàng hằng ngày phải đi săn lùng liên tục may ra mới có đủ bửa ăn gia đình. Những con mồi càng ngày càng quen thuột với thói quen của kẻ đi săn, nên đại bàng phải làm việc cực nhọc hơn và phải đi xa để kiếm ăn. Ánh nắng vẫn hừng hựt nun đốt cỏ cây trên triền núi. Rồi một ngày nóng cháy hai trứng kia cũng đến lúc vỡ ra chào đời. 
Ðại bàng lần đầu tiên phá thông lệ sinh ra hai lần trong một mùa. 
Ðứa anh cả suốt ngày trông đợi bố mang mồi về, nhưng thức ăn lúc này bửa đầy bửa vơi. Nó năng tập tành đôi cánh để sớm vươn chải nuôi lấy bản thân. Cuộc sống càng khó, trống mái đại bàng sợ một ngày nào đó không đủ thức ăn, đại bàng anh có thể cắn chết hai đứa em. Nên nó đã xô đuổi đứa con lớn đi thật xa, xa khỏi tầm nguy hiểm của hai đại bàng mới sinh. Vậy là từ đó một mình đại bàng con tìm đường sinh sống nơi vách đá xa xôi. Với đôi cánh thiếu kinh nghiệm, đại bàng con nhiều lần đành ngó con mồi vuột đi trong nổi hối tiếc. 
Ðêm xuống vùng đất sa mạc càng giá lạnh, đại bàng con co ro một mình trên vách đá. Những miếng ăn tiếp tế từ đại bàng trống càng ngày càng thưa dần, đại bàng con càng ốm yếu. Và xa xa bên kia hai đứa em bắt đầu thấy đói. Ðứa chào đời trước lớn hơn, dành giực thức ăn của đứa ra sau. Nên sự chênh lệch về thể xác đã trở thành rõ rệt. Những con mồi bây giờ trở nên khôn ngoan, một mình đại bàng trống không còn đủ sức bắt mồi cho cả gia đình, vậy là trống mái phải cùng nhau đi săn chung. Hai đại bàng con không còn đôi cánh của mẹ chăm sóc, và vì đói khác, đứa lớn đã cắn chết đứa nhỏ. 
Tiếc trời sa mạc, cái nóng bang ngày vẫn tiệp tục dâng lên và cái lạnh về đêm vẫn tiếp tục hạ xuống. 
Trống mái đại bàng lại càng quẩn trí khi miếng ăn cho hai đứa con không còn đều đặn. Trống mái thường rời khỏi tổ ấm, bỏ đại bàng con mới sinh ra một mình để đi săn. Dưới ánh nắng như thiêu như đốt, không có đôi cánh của đại bàng mẹ che chở, đứa con như nằm trong cơn lửa. Ðại bàng anh bất lực săn mồi, và ngơ ngác như một con nai tơ bên cạnh những móng vuốt tử thần hằng đêm rình rập. Nhưng vì sự sống của gia đình, trống mái đại bàng phải cùng nhau đi săn. 
Hôm nay không tìm được con mồi, dù chỉ là con chuột nhỏ bé. Trống mái đại bàng đành phải làm một cuộc phiêu lưu. Hai đôi cánh vẫn rông rũi từ cánh đồng hoang này đến cánh đồng hoang khác tìm mồi về cho con. Trong cuộc săn lùng nó đã đi quá xa và trời đã tối. Bỏ lại hai con một mình trong đêm vắng. Ðến ngày hôm sau, trống mái na về một con thỏ béo mỡ. Nó bay thật nhanh đem về cho đứa con nhỏ. Nhưng khi về đến tổ ấm, dưới cái nắng như thiêu như đốt của sa mạc, đứa con nhỏ đã chết. 
Nhìn thân xác đứa con nhỏ nằm chết co ro dưới cái nắng, đại bàng lại mang con mồi béo mỡ đi tìm đứa con lớn. Trên triền núi, bên cạnh những vách đá cheo leo, đại bàng phát hiện đứa con chỉ còn lại hai đôi chân sắc bén nằm chơi vơi trên tảng đá. Và bên bụi cây, mèo hoang đang liếm những vết máu trên từng vuốt chân. 
Nó thả con mồi nằm bên cạnh đôi chân lạnh buốt, đưa mắt nhìn về phương trời xa xăm, cất tiếng kêu oan oát, rồi bay đi. Và tiếng gió, vẫn thổi rì rào qua cánh đồng hoang

Mùa đông giữ lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 17 Jan 2026

Bài 16

Thư bạn trẻ I

Với Bạn,

Người luôn đi tới …

Phần lớn của tập sách nầy, người viết nói về Bạn. Từ, với Bạn. Không phải là cách quá độ tập trung về một mối liên hệ. Nhưng bởi nói cho đến cùng, những tương quan tốt lành nhất đều ẩn chứa yếu tính nầy- Yếu tính bằng hữu- Qua đó Người đổi xử nhau như Huynh Đệ với rất mực tôn trọng, công bằng. Trong khi chờ đợi buổi ĐẠI HOÀ VŨ TRỤ, mà chưa biết đến bao giờ hiện thực nơi trần thể nhiễu nhương, tranh chấp, tàn nhẫn nầy- Đối xử nhau như ANH-EM ắt hẳn là bước chuyển tiếp cần kíp nhất để nên lần thế giới thái bình kia. Người Viết rất mực tin vào điều được TÍNH THIỆN DẪN DẮT, nên đã có khẳng định với tự thân rằng: Nếu Lương quan “Giữa Thiên Chúa và Con Người là Một” thì ” tương quan ” Giữa Người và Người cũng là Một” vậy. Chỉ khác, tương quan đầu tiên hiệp thông nơi Nước Trời. Phần thứ hai thực hiện trên Mặt Đất. Bởi trật tự nầy bị đánh vỡ nên con người ắt gặp khốn đốn. Và trò chơi khốn cùng, tàn nhẫn, cực độ vô ích, tối thậm vô nghĩa không gì hơn: Chiến tranh – Nguyên nhân- Kết quả tất nhiên của toàn bộ sa đoạ trần thế. Tôi cùng Bạn cực lực chống lại Tai Hoạ tổi tệ nầy. Muốn được bài học cảm động và đáng bảo lưu trên không phải là điều dễ dàng – Bởi những người có lòng hình như hằng thua thiệt. Kẻ chính tâm luôn gặp phải nguy nan. Bản thân chúng tôi khi được nói lên điều nầy cũng đã trả giá gần hết một đời khổ nạn.

Nhưng chúng tôi rất mực HY VONG- BỞI NGƯỜI BẠN TRẺ SẴN TIẾP TỤC. Chúng tôi xin gởi những lời chân thực sau đây- Tiếng lời của một thế hệ thất bại. Nhưng chúng tôi không hề thất vọng. Xin lập lại. Bởi, chúng tôi có Bạn tiếp đi.

Thư gởi,

Người Bạn Trẻ,

NHÂN MỘT BUỔI VỀ NGUỒN.

BẠN RẤT THÂN MẾN,

Tuy không nêu danh tính Bạn nơi đầu trang thư, nhưng quả tình tôi đã hình dung ra, nghĩ đến Bạn rất nhiều dịp, trước và khi viết lá thơ nầy- Mà tôi quan niệm là một việc quan trọng, cần phải thực hiện hết sức cẩn thận- Do nó chạm tới cội nguồn mục đích tất cả hoạt động cuả con người xã hội trần thế. Đối với người viết văn, tính quan yếu nầy lại càng khẩn thiết, cấp bách – Bởi viết là viết đến, về người đọc. Nói giản dị hơn – Viết không người đọc thì viết làm gì. Qua những chữ nghĩa kia phải có, cần có mối cảm thông giữa người

viết và người tiếp nhận. Thế nên, Bạn là nguồn cổ vũ sinh động rất cần thiết đối với chúng tôi. Bạn cũng là lý do giải thích để công việc của chúng tôi có được điều giá trị. Bạn là mối dục dã chúng tôi tiến bước, giữ chặt ngọn bút rất đỗi hân hoan. Thư nầy, mở đầu với mối tin tưởng cao cả và cảm động – Chúng ta cùng nhau nói về HY VỌNG, vì nếu thiếu chất men sống động nầy, mọi công trình văn hóa, khoa học, nghệ thuật dẫu to lớn, đắt giá bao nhiêu cũng trở nên vô dụng, tầm phào. Với cậy tin vững bền nầy, chúng ta có thể đồng ý với nhau rằng … Dẫu ù lì nín lặng như những tảng đá hình đầu đầu người ở đảo Eastern, ngoài khơi Thái Bình Dương thuộc nước Chilie Nam Mỹ ắt phải chứa đựng một nội dung truyền thông nào đấy. Hoặc, Nguyễn Du khi viết

truyện Kiều chắc cũng không mong gì hơn mối cảm thông đồng điệu của người đời sau. Và tiếng kêu trầm thống của Trần Tử Ngang, đời Nhà Đường, thế kỷ thứ Bảy nào khác gì hơn tấm lòng không người trao gởi …

Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất khứ lai giả …

(Người trước tìm không thấy;

 Kẻ sau chưa dáng về ….)

Vâng, tôi viết thư nầy chỉ với mục đích thẳng thắn và hân hoan nầy: Thơ gởi về những người Bạn. Những Người Tuổi Trẻ. Những người đang sung mãn Hy Vọng. Các bạn là Hy Vọng. Chúng tôi càng cần kíp nói đến các bạn vì hôm nay, trong tổng số 73 triệu người Việt nơi quê nhà có hơn hai mươi triệu người sinh sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hơn một nửa của tổng số người kể trên không hề tham dự vào chiến tranh, không ý niệm về chiến tranh (Tỷ lệ, thực tế nầy ở hải ngoại chắc cũng không khác)- Tai họa mà toàn dân tộc hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong ba mươi năm đã phí phạm tiêu hao năng lực, sinh mạng cực độ vô ích, để đưa đến kết quả: “Việt Nam nằm trong hạng thứ một nước nghèo nhất của mười nước thuộc loại cùng khổ thế giới; hai triệu người bỏ nước ra đi với sáu trăm ngàn người nát thân trên đường di tản; và vết thương chiến tranh hai mươi năm sau ngày dứt tiếng súng vẫn còn tươi máu mới, không cơ hội và khả năng phục hồi”.

Chiến tranh ấy với hệ quả của nó đã là nguyên nhân chính yếu đẩy các bạn cùng với gia đình đến đất nước người. Thế nên, câu chuyện chúng ta hôm nay không phải từ một ngẫu hứng tùy tiện. Đây là công việc và là vấn đề của chính chúng ta – Những người có nhiệm vụ giải quyết một vấn nạn đau đớn, không hợp lý mà bất kỳ người Việt Nam nào với tâm thức Dân Tộc đã không một lần xa xót muốn tìm hiểu nên nguồn cội để giải thích và giải cứu. Và các bạn, may mắn hơn chúng tôi, đã không phải mang vác gánh nặng của quá khứ, không vấp phạm những sai lầm mà thế hệ chúng tôi (những người sinh trong những thập niên 30, 40, 50 …) đã gặp phải. Những lỡ làng, chệch hướng, không chỉ do khuyết điểm cá nhân cũng như các tổ chức, bộ phận quyền lực chúng tôi đã tham dự … Những sai lầm nầy có tính cách tổng quát và toàn diện với quy mô khuếch tán, tác động theo cùng chiều dài lịch sử. Chúng ta cần nhìn lại quá khứ, nơi khởi đầu, bởi oái ăm thay, lịch sử thông thường chỉ là lần lập lại – Lập lại của những lầm lỡ. Nhưng chúng ta không hề bi thảm do sự kiện thực tế ấy bởi như người Hồi Giáo đã hằng nhắc nhở – Chỉ có Thượng Đế mới là đấng toàn năng, toàn thiện mỹ, trong khi chúng ta chỉ là những con người tại thế. Người sống cùngvận nước nổi trôi …

Với lời mở đầu nầy, chúng tôi cần phải thẳng thắng nói rằng, những thế hệ thuộc lớp tuổi kể trên (Những người ở về phần đất, tham dự vào các tổ chức quân, dân sự đối lập với phiá cộng sản ) đã có một trách nhiệm cụ thể về giai đoạn lịch sử 1945-1975 và cũng đã để đánh vuột mất những cơ hội có khả năng đưa quốc gia nếu không  hơn những lân bang trong vùng Đông-Nam Á thì chắc cũng không phải chịu tình trạng tồi tệ bi thảm như hiện nay. Sự kiện trên có một thời điểm quyết định:

– Tháng Tám, 1945. Năm 1945, lực lượng cộng sản trong mặt trận Việt Minh thật sự chỉ là một nhóm nhỏ với vài ngàn đảng viên, một đội võ trang tuyên truyền không quá ba mươi người (thành lập 22 tháng 12, 1944), nhưng đã giành được quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dậy lên rất sớm kể từ khi có bóng người ngoại xâm trên đất nước Việt, cụ thể hơn từ 1883, năm người Pháp hoàn tất tiến trình thực dân, sau khi đã xâm chiếm sáu tỉnh Nam Bộ từ 1862 và dập tắt cuộc binh biến cung đình do đại thần Tôn Thất Thuyết lãnh đạo với vị anh quân Hàm Nghi, 1885. Khởi nghĩa chống Thực Dân Pháp không hạn chế trong một địa phương nào, từ núi rừng Yên Thế, miền Bắc đến Thanh Hóa, miền Trung vào đồng bằng sông Cửu Long … Những nhà nho, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Thiện  Thuật kết hợp nghĩa binh, lợi dụng địa thế, vận độngquần chúng dậy nên phong trào Văn Thân, hiện thực hùng tâm của giới sĩ phu, thành phần trí thức chỉ đạo bao thế kỷ. Cuộc chiến đấu chỉ tạm thời đình chỉ sau cái chết của Phan đình Phùng, 1895. Người Pháp cũng đã phải mất một thời gian dài 14 năm (1883-1897) mớithật sự bình định được phần đất đầy bí mật của giòng Việt Tộc kiên cường mà nguồn lực chống ngoại xâm không hề cạn qua hai ngàn năm lịch sử dài đấu tranh.

Chính dịch khủng bố trắng kéo dài đến cuối thế kỷ 19 không làm những người yêu nước Việt Nam nhụt chí.

Họ gạn lọc kinh nghiệm, học hỏi khuyết điểm của người đi trước, thực hiện vận động sâu rộng hơn đến với nhiều đối tượng quần chúng xã hội; họ cũng khôn khéo khai triển uy tín, sức mạnh quân quyền qua các vị vua minh tuệ Hàm Nghi, Duy Tân. Phong trào gặp phải sức đàn áp không nương tay từ phía những người Pháp cai trị, các vị vua lần lượt bị lưu đày ra khỏi nước, những nhà lãnh đạo kháng chiến phải chịu những hình phạt trả thù tàn nhẫn … Trần Cao Vân, Thái Phiên, Trần Quý Cáp đồng bị xử chém ngang lưng. Hai nhà đại ái quốc Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh tiếp tục hướng dẫn cuộc tranh đấu theo hướng mở rộng, không còn hạn hẹp với ý thức hệ Nho học, ra khỏi phạm vi quốc gia. Nhưng Nhật Bản đầu thế kỷ chỉ mới là một cường quốc trên đà phát triển, chưa hẳn là một đối lực mạnh mẽ ở vùng Đông Nam Á như những thập kỷ sau, cho dù đã chiến thắng hạm đội Nga ở eo biển Đối Mã, bắc Thái Bình Dương 1905. Hơn thế nữa, những cá nhân, đoàn thể chính trị mà Phan Bội Châu vận động nhắm đến, cầu chính trị mà Phan Bội Châu vận động nhắm đến, cầu viện không hẳn là những yếu tố quyết định của chính giới Nhật Bản, Trung Quốc; chưa nói đến sự bất chung thủy của những người nầy là đầu mối gây nên tai họa, (việc Long Tế Quang, Tổng đốc Quảng Đông năm 1913 bắt giam cụ Phan định giao cho Pháp may nhờ Hồ Hán Dân, Quốc Dân Đảng Trung Hoa giải cứu); cũng như sách lược của chính phủ và các đảng phái cầm quyền ở những nước nầy (dẫu theo đường lối quốc gia, dân tộc) không hẳn hoàn toàn phù hợp với mục tiêu giải phóng Việt Nam trong tất cả mọi giai đoạn- Thái độ hành xử của Tiêu Văn, Lư Hán (thay mặt chính phủ Trung Quốc tại Việt Nam sau tháng Tám, 1945) mặc nhiên đồng lõa để cộng sản thanh toán các cán bộ đảng phái quốc gia đã từng là đồng chí chiến đấu kháng Nhật của họ. Về phần Tây Âu, nơi Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường trao gởi hy vọng sẽ là tác nhân quyết định nên cuộc vận động Dân Sinh, Dân chủ tại Việt Nam, thật sự đang trên đà tiến đến bế tắc (sau giai đoạn cực thịnh của thế kỷ 19 với những đế quốc Anh, Pháp, Hòa Lan, Nga, Áo, Phổ được kết lập), với hiện tượng tổng khủng khoảng 1930 và hai lần đại chiến thế giới đã thành hình và sắp hiện thực. Các vị cũng vấp phải tính mâu thuẩn của thời đại trong hai khuynh hướng đối lập – Duy trì Vương Quyền hoặc một thể chế quân chủ đại nghị (với Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Minh Chủ) của Phan Bội Châu và chủ trương giải thể quân quyền triệt để của Phan Châu Trinh. Hai khuynh hướng đã tác động chính trường Châu Âu từ Cách Mạng Pháp 1789, gây nên cuộc chiến giữa Đế Quốc Pháp và Liên Minh Anh-Phổ-Nga-Áo, mở đầu trật tự thế kỷ 19 tại lục địa nầy, mà nay cuộc Cách mạng Công nghệ Lần thứ Hai đang dần phá vỡ để nên hình thái khác với hiện tượng sụp đỗ một loạt các ngai vua Pháp, Phổ, Nga, Ý … Cơn trào dâng dân chủ cũng không từ bỏ đến nước quân chủ lâu đời nhất địa cầu-Triều đình Mãn Thanh của nước Trung Hoa rời chính trường sau gần ba trăm năm quyền lực. Có thể, hai vị họ Phan không hẳn không thấy ra những khuyết điểm, bế tắc nội tại nầy, nhưng do lòng yêu nước quá đỗi nôn nóng và nhu cầu giải phóng dân tộc thậm cấp thiết nên nhị vị đã phải ở vào tình thế chẳng đặng đừng và không hoàn tất bước đường kỳ vĩ mà toàn dân hằng giao phó, trông đợi. Cuối cùng, QuốcDânĐảng Việt Nam thực hiện bước chót nỗ lực cao cả nầy với toàn thể quần chúng gồm nông dân, binh sĩ, thanh niên, học sinh, thợ thuyền dưới sự lãnh đạo của giai cấp tiểu tư sản trí thức thành thị, lớp người mới vừa được thành hình của xã hội Việt Nam. Thiếu cán bộ trung kiên, căn cứ địa không đủ sức chống đở các đợt tấn công quân sự của Pháp, thiếu phối hợp chiến thuật hành quân và quan trọng hơn tất cả, Quốc Dân Đảng đã không kiện toàn được mạng lưới bảo mật tuyệt đối tối cần thiết cho một tổ chức cách

mạng đang trong hoạt động bí mật. Tất cả những khuyết điểm nầy đã bộc lộ toàn thể trong cuộc nổi dậy tháng cả cán bộ đảng viên, thành viên cuộc khởi nghĩa. Đảng Cộng Sản Đông Dương thụ hưởng tất cả kinh nghiệm

máu của toàn thể người Việt yêu nước, đảng phái quốc gia, lập trận đấu tranh trong mục tiêu chung với phong trào Đệ Tam Quốc Tế cũng là thành trì, căn cứ địa, nơi huấn luyện cán bộ, điểm phát xuất, điều động chỉ đạo chiến lược cho toàn thể các nước thuộc địa. Họ cũng nương vào buổi thuận tiện, giai đoạn Phong Trào Bình Dân cầm quyền nước Pháp (1936-39) và yếu tố quyết định, thắng lợi toàn diện chung kết của lực lượng đồng minh trước phe trực(Đức-Nhật), mà tiếng nói của Liên Só, với sự đồng ý trên nguyên của Mỹ về vấn đề giải thực đã là những áp lực hiệu quả để phong trào Cộng Sản Đông Dương dần thâu đoạt những thắng lợi quyết định nơi địa bàn xung yếu nầy. Việt Nam đã trở nên là một diễn trường xung đột và nơi giải quyết mâu thuẩn

giữa những lực lượng siêu cường thế giới. Người cộng sản Việt Nam đoạt chính quyền từ tay Vua Bảo Đại, người đã lộ ra hoàn toàn bất lực và thụ động trước biến chuyển và nhu cầu lịch sử. Ngày 2 tháng 9, 1945 Nhà

Nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa được thành lập. Trong số chúng tôi, phần lớn đang ở tuổi thiếu niên, người còn ấu thơ và lẽ tất nhiên có kẻ chưa sinh ra đời. Khi vào tuổi các bạn hôm nay, đối với chúng tôi, tất cả đã thành sự. Bởi tất cả đã thành sự, nên sự kiện chia đôi đất nước từ ngày 20 tháng 7, 1954 cũng như lần thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa ở Miền Nam năm 1955 đã hoàn tất nên một sự đã rồi. Chúng tôi không hề có khả năng lựa chọn và chối từ.

Điều bi thảm cay đắng trên lập lại với các bạn nơi ngày 30 tháng tư, 1975. Các bạn cũng không có quyền chọn lựa ở phút giây quyết định nghiêm trọng – Ra đi khỏi nước. Quả thật, chúng ta cùng chung cách thụ động trước những lần chọn lựa tử -sinh. Quả thật, chúng ta cùng chung một nỗi Đau. Nỗi Đau của Người Việt bất lực với chính bản thân, vận mạng tổ quốc mình. Nhưng tình thế không hẳn bi thảm, bế tắc đến như thế. Các bạn chỉ hứng chịu phần đầu của ngọn cuồng phong 1975 và đời sống mới nơi quốc gia nầy sẵn mở rộng đón chờ bạn. Sự phú cường, phát triển của Liên Bang Hợp Chủng Quốc Bắc Mỹ thật vô cùng đa dạng và rộng lớn để không ai có thể bảo đã hiểu thấu đủ về người, đất nước Mỹ cho dù kẻ ấy là một người sinh quán nơi bản địa. Bởi tất cả quá to lớn, quá đầy đủ, quá dư thừa và quá độ. Phải, người, đất Mỹ là hiện thực hình thái quá độ toàn diện và triệt để nhất. Chỉ ở Mỹ mới có thể cho một đứa bé vừa qua tuổi lên mười tất cả kiến thức về thiên văn học, định tính, định vị các chòm sao Đại Hùng thuộc hệ thống sao Bắc Đẩu một cách dễ dàng và đơn giản – Kiến văn mà ở các nước thuộc thế giới thứ ba phải cần đến một trí tuệ thông thái và chuyên môn mới có thể lãnh hội được. Nhưng cũng chỉ ở đây mới xẩy ra những tình trạng ngược ngạo đến nỗi  nhà bình luận Paul Greenberg ở Little Rock, Arkansas phải lên tiếng báo động: “…Trong hai triệu rưỡi học sinh tốt nghiệp trung học niên khoá vừa qua chỉ có 100.000 có khả năng đọc thông suốt văn bằng tốt nghiệp; 250.000 phải cố gắng lắm mới đọc hiểu ra!!”. Cũng chỉ ở Mỹ mới có những trái tim từ nhân một cách tự nhiên của những người xử dụng ngày nghỉ cuối tuần, từ bỏ nơi cư ngụ tiện nghi sang trọng của khu trưởng giả để đi đến những trung tâm từ thiện, hiện thực sống động cách thế sống vì người khác. Nhưng cũng chính ở đây đã xảy ra những tội ác làm vỡ lòng người, xót đau Trái Tim Thiên Chúa – Những tội ác được thực hiện rất mực vô ích và quá độ tàn nhẫn – Loại hành động của Timothy Mc Veigh, của Susan Smith … Tội ác toàn diện của những kẻ không còn dấu vết, tính người. Đây không là vấn đề riêng của những con người ấy nữa (Không biết còn đủ xứng đáng để gọi nên danh xưng cao quý về sản phẩm đáng hãnh diện mang hình dáng Thượng Đế hay không ??), mà là vấn nạn chung của toàn xã hội, nơi tôi và các bạn đang cùng chung sống. Sỡ dĩ tôi phải nêu lên hai điểm tưởng như không dính líu, liên hệ đến cùng nhau. Nguyên nhân, diễn tiến cuộc chiến Việt Nam và tình trạng xã hội nước Mỹ, nơi những người ty nạn cộng sản đã nhận làm chốn dung thân, sống cùng, do hậu quả của cuộc chiến kia tác động.

Các Bạn trẻ rất đáng tin cậy,

Như tôi đã một lần đề cập ở những giòng đầu tiên về nỗi hạnh phúc của lớp tuổi các bạn – Không phải mang

vác tai ách nặng cứng thù hận chiến tranh; và các bạn đã đến đất Mỹ với Tuổi Trẻ Tự Do phơi phới – Tất nhiên là hình thái tự do tương đối của con người tại thế – Tự Do Lựa Chọn. Tuy thế, các bạn thật vô vàn hạnh phúc với quyền hạn thủ đắc được khả năng cao quý nầy. Khả năng chúng tối hoàn toàn bị tướt đoạt từ lúc bắt đầu ý thức về phận người trên quê hương điêu linh . Nhưng khi thâu đoạt tự do cũng có nghĩa đồng thời bạn phải nhận lãnh trách nhiệm – Phải hành xử thế nào để được xứng đáng là đơn vị thụ hưởng lần vinh hạnh lớn lao kia Tôi đề nghị cùng bạn một công việc đơn giản nhưng cũng tràn đầy ý nghĩa – Chúng ta vận động Tự Do trong hành vi bảo vệ phẩm giá con người. Con người sống được là nhờ bánh mì … Thật chúng ta có thể nói như thế mà không sợ sai lầm, bởi xét về mặt sinh học, con người hay bất cứ sinh vật nào trên quả đất nầy cũng chỉ chừng ấy nhu cầu sinh tồn và cách thức biểu hiện. Nhưng con người sở dĩ lớn hơn và tiến xa hơn con vật chỉ do nơi thái độ biết chọn lựa– Hành vi nầy bao gồm Tự Do- Và hiện thực cụ thể nhất từ lựa chọn điều bí ẩn – Nỗi Chết. Nói như thế không là cách thức đùa cợt, chơi chữ nhưng quả tình con người hằng thực hiện động tác nầy trong suốt quá trình hoàn thiện giá trị của mình – Và đỉnh cao của bước đi kỳ vĩ nầy là khi – Người Tự Do chấp nhận cái chết để bảo vệ phẩm giá của một đơn vị siêu việt.

Chúng ta hãy xét lại vấn đề trên với những khía cạnh cụ thể riêng biệt. Bây giờ là năm thứ hai mươi của giờ

đi ra khỏi nước, nếu tính theo các bạn ra đi sớm nhất, chúng ta hẳn có thể đồng ý với nhau về những điều …

Chẳng ai phải chịu chấp nhận một cái chết chắc chắn ắt có, chờ đợi sẵn nơi biển khơi, trên đường di tản do vì Sài Gòn dưới chế độ cộng sản mất đi những tiện nghi vật chất, bữa ăn quá kham khổ thiếu thốn. Người nông thôn miền Bắc thật ra đã ăn độn từ một thuở rất lâu nhưng không hề có hiện tượng vượt biên trước 30 Tháng Tư, 1975. Cũng không thể có người tâm niệm qua đến Mỹ cốt để làm giàu, thực hiện những thành công tăm tiếng với giá máu vợ con bị thảm sát, bản thân bị xỉ nhục … Các Bạn và người thân, những người Việt cao

quý, đã chọn lựa một cách có ý thức trị giá đích thật cuối cùng xứng đáng phẩm chất của mình- Không những thế, các bạn ra đi khỏi nước không hề do lòng thù hận hay sợ hãi đối với người cộng sản. Thế nên, chỉ có một lý do xác đáng duy nhất để giải thích lần bạn rơi Việt Nam: Các bạn lìa bỏ Quê Hương để sống nên  Người Tự Do. Xuất phát từ một khởi điểm cao quý như trên, tôi xin đề nghị cùng các bạn cách thế biểu hiện xứng đáng nơi đất nước người nầy, hiện thực niềm ao ước mãnh liệt khi mẹ cha chấp nhận vượt chết trên hành trình tìm đến tự do. Các bạn hãy xữ dụng sức mạnh chọn lựa cao cả trong mục tiêu tốt đẹp và đáng hãnh diện. Tôi đề nghị các bạn hãy giải phóng CON NGƯỜI KHỎI NGHIỆP ÁC- NGƯỜI VIỆT BỨT THOÁT KHỎI NGUỒN LỰC ÁC ĐỘC TOÀN DÂN TỘC ĐÃ PHẢI GÁNH CHỊU qua chiến tranh mà thế hệ chúng tôi đã hiện thực một cách oan nghiệt. Công việc nầy không đòi hỏi những động tác cao vời, không tưởng, trái lại các bạn hãy thực hiện trong đời sống hằng ngày, giữa xã hội Mỹ quá nhiều đối cực và quá độ. Các bạn nên tìm học những điều thâu nhận được từ viễn vọng kính khổng lồ Hubble để không phải băn khoăn tìm ra sai số chính xác của tuổi vũ trụ … 8, 12 … hay 15, 20 tỷ năm ánh sáng?? Nhưng các bạn nên có một cách nhìn khoan hòa và hồn hậu hơn về phận người trần thế … Thật sự không quá một điện tử chạy trong quỹ đạo một cấu tử nhỏ bé, vô nghĩa gọi là quả đất giữa trùng trùng vũ trụ. Và vũ trụ cũng chỉ từ một hố đen thăm thẩm không dò. Biết như thế để chúng ta phải có thái độ thích đáng với sự việc, người, vật …Những nọa lực nhân danh văn minh, pháp lý, chủ nghĩa quốc gia, dân tộc, chân lý … để chạm đến, đánh vỡ, đày đọa con người cực độ ác độc, nhẫn tâm. Chúng ta phải biết khinh miệt hệ thống pháp luật cố vận dụng tất cả sở học, khôn ngoan tinh tế để cốt tạo nên trò chơi pháp lý chung quanh một vụ giết người vì ghen tuông, trường hợp của vụ án O.J Simpson, trong khi ở Ethiopia đứa bé đói lã ngất hấp hối trước con kên kên đang chờ cắn xé. Các bạn hãy cùng chúng tôi phẫn nộ trước những tội ác tưởng như không thật trong vụ nỗ tòa nhà Liên Bang ở Oaklahoma để xác tín một điều – Giết một người cũng là giết cả loài người. Giết một đứa trẻ đang tượng hình tức hủy diệt đời sống đang hiện thực. Không ai có quyền  quyết định trên mạng sống một người khác bởi bất kỳ nhân danh, nguyên cớ nào. Các bạn hãy cùng chúng tôi cực lực lên án những nại cớ, đòi hỏi con người phải đóng góp, hy sinh đời sống từ, nơi phút giây hiện tại.

Và chúng ta cùng trở lại quê hương để có cái nhìn về sự việc chính xác hơn, trả lại cho nhân dân quyền phê phán, đánh giá về mỗi cá nhân trong giòng lịch sử khắc nghiệt, bi thương của dân tộc. Các bạn hãy cùng chúng tôi giành lại phẩm giá cho mỗi người- Người Việt Nam đã bị biến tướng qua cuộc chiến Ngụy Danh vô cùng xuẩn động, thậm tệ phí phạm và rất mực vô nghĩa mà người cộng sản đã dậy nên trên quê hương khổ nạn. Chúng ta hãy đối xử với nhau như Huynh Đệ đáng được tin cậy, yêu mến và giải hòa.

Các Bạn thân mến, hôm nay là Mùa Vu Lan theo Nguyệt Lịch. Ở Phương Đông đang thực hiện nghi lễ linh thiêng và cảm động-Báo Hiếu và Giải Oan. Chúng ta cùng nhau hân hoan nhớ lại công ơn dưỡng dục các bậc Mẹ Cha đã đưa chúng ta đến cùng đời sống và cùng chúng ta hiện thực sự sống với tất cả sắc cạnh linh diệu qua “sức mạnh yêu thương”. Và chúng ta cũng nhân cơ hội nầy để bày tỏ lòng cảm xúc cùng Đức Lớn Hiếu Sinh của Đất, nơi chúng ta đã đến và đang hiện hữu; của Trời nơi ta xuất phát và trên phương đi về … Đường đi nầy vô cùng Huyền Nhiệm-Từ lần hình thành nguyên tử hữu cơ AND đến con người kỳ vĩ hôm nay không thể là quá trình ngẫu nhiên, thuần vật lý, cơ học, hóa học. Chúng ta phải sống xứng đáng cùng sức mạnh, TOÀN NĂNG, TOÀN THIỆN, TOÀN MỸ và sự trao gởi đầy ân huệ nơi đời sống của mỗi đơn vị Con Người. Và để xứng đáng với lòng TIN CẬY trao gởi trên , chúng ta cấp thiết thực hiện điều đơn giản – Giải oan ngay tự thân ta giòng oán nghiệt đeo chặt vào phận người-Biến Thân Ý ta nên Linh Đài giáng ngự Tính Thiện và Tính Thật. Bởi, nếu có một Hữu Thể Thượng Đế mang vóc dáng con người, ắt hẳn đơn vị cao cả kia sẽ vô cùng buồn đau nếu từ lòng ta hừng hực nên dậy lửa oán hờn và vô vàn hân hoan nếu từ Tâm ta ngời rạng chói lòa lực sáng Thương Yêu. Chỉ một chữ NHÂN thôi thế giới sẽ có năng lực tự cứu hoặc chết di do nỗi KIÊU NGẠO HẬN THÙ trần gian.

CÁC BẠN HOÀN TOÀN TỰ DO, TRONG CHỌN LỰA NÀY.

Tháng Bẩy Ngày Rằm Xá Tội Vong Nhân

20 Tháng 8, 1996