vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 19 Jan 2026


Bài 18
Về người bạn trẻ
Nguồn mạch tương lai
Bạn Thân Mến,
Để bắt đầu lá thư, chúng ta có thể nêu lên nhận định tiên khởi, dẫu mỗi dân tộc có đường hướng phát triển cùng gánh phần tai họa riêng, nhưng những nền văn minh trên hành tinh nầy hằng nối tiếp nhau theo nhịp tiến hóa cùng chiều cao lẫn sâu, rộng với thế biện chứng mang tính quyết định, hoàn toàn không ngẫu nhiên. Và nhân tố kết cấu nên tiến trình đáng hãnh diện kia với những kỳ tích có được hôm nay, xây dựng nên hệ thống văn minh, văn hoa cao, vượt khỏi vòng đai phóng xạ Van Allen, đặt dấu ấn xuống mặt trăng, đang tiến tới Sao Hoả vào đầu thế kỷ, năm 2018, theo như dự trù cuả Trung Tâm NASA, hiện thực mơ ước sau hơn ba triệu năm kể từ khi những sinh vật đầu tiên mang tính, dạng người có mặt trên quả đất-Nhân tố quyết định ấy, không ai khác hơn những con người địa cầu nầy mà chúng ta là những thành viên luôn mới mẻ, đầy năng động. Chúng ta có nói quá lời chăng khi gán đến cho người những tính chất kia? Để trả lời câu hỏi, chúng ta có thể căn cứ trên những diễn tiến và tiến bộ trong lãnh vực khám phá, xử dụng không gian để nhắc nhở với mỗi người về hành trình kỳ vĩ mà nhân loại từ quá khứ xa xưa đến hôm nay đã, đang dự phần chứng hiện trong cuộc sống vô cùng ngắn ngủi chóng vánh trên mặt đất.
Nhớ lại để biết rằng, phải cần đến một khoảng thời gian hơn hai triệu năm, sinh vật gọi là “vượn-người” kia mới bào mòn được khối u đầu xương ống chân (chỗ tiếp giáp với xương đầu gối) để “người-vượn” mới có thể đứng được trên hai chân (Di chỉ “người-vượn” Australopithecus đào đựơc năm 1974 tại Ethiopia; 1978 Tanzania); và kể từ thời gian xa xôi đó, con người lại phải mất thêm hơn ba triệu năm nữa, để hôm nay mới tạo nên những kỳ công tưởng như chừng chuyện thần thoại: Ngày 4 tháng 10, 1957, Người Nga phóng vệ tinh đầu tiên ra khỏi vòng đai khí quyển quả đất; 21 tháng 7, 1969, Người Mỹ đỗ bộ lên mặt trăng. Chúng ta nên nhắc lại những thời điểm kia để biết rằng, chỉ khoảng một thời gian ngắn từ đầu thế kỷ, vào năm 1903, một người Nga Konstantine Tsiolkovsky, dùng giả thuyết (Như đã được Jules Verne viết nên trong thế kỷ trước), xử dụng nhiên liệu lỏng (xăng, dầu) làm chất nổ đẩy hoả tiển lên ngoại tầng không gian qua tác phẩm “The Exploration of Cosmic Space by Means of Reaction Devices”; để đến sau đó không lâu, qua tính toán thực tế, năng động hơn so với Tsiolkovsky (Chỉ bằng trí tưởng tượng và chữ nghĩa), người tuổi trẻ Robert H. Goddard ở Massachusetts, đang tuổi 17 tuổi, vào năm 1914, đã có lời khẳng định, (không là lý thuyết, giả tưởng của riêng tiểu thuyết): ” … I would make some device which have even the possibility of ascending to Mars”. Và người bạn trẻ nầy hiện thực lời nói quyết tâm kia tại 12 năm sau với chiếc hoả tiển bay lên cao 41 bộ, lướt qua 104 bộ trong vòng 2,5 giây. Song song với những thử nghiệm tương tự vừa kể, hai anh em nhà Wright đã cùng nhau chịu lời cam kết “có lẽ sẽ không còn sống thấy mặt nhau” trước khi cột mình vào chiếc máy nổ nặng hơn không khí với “Hoài bão ngàn đời – Cùng lần với thần thoại cổ đại: Bay cao khỏi mặt đất”.
Buổi sáng ngày 17 tháng 12, 1903 đã hiện thực khả năng siêu việt ấy cuả Con Người tại thế – Bay về trời- Phương Thượng Đế hiện hữu. Sở dĩ người viết phải nêu đến nhắc lại những yếu tố, diễn tiến, biến cố khoa học, kỹ thuật trên, vì đây là lãnh vực dễ giúp cho ta thấy ra điều cơ bản, ấy là:“Những người dựng tạo nên những thành quả xuất chúng kia, số đông (nếu không nói hầu hết), thật sự chỉ là những cá nhân bình thường, nhưng để đạt được những kỳ công rực rỡ kia, họ phải thực hiện hai điều cấp thiết: Thứ nhất, tập trung, tận dụng thành công lẫn thất bại cuả người đi trước, cùng toàn thể khả năng, tiềm lực cuả thời đại họ đang sống. Thứ đến, biết vận động những yếu tố tổng hợp quyết định kia vào quá trình thực hiện công việc quan yếu -Tìm Học. Đây là chủ đề cuả lần Thư Thứ Nhất, Tháng 9, 1995, Kỳ Trại Hè Về Nguồn VI, dịp chúng tôi đã nói cùng các bạn. Nhưng Học vẫn chỉ là một phương tiện, phương tiện tốt nhất và hữu hiệu nhất để phụng sự cùng đích duy nhất: Phát Triển-Bồi Dưỡng Con Người nên Người Hoàn Thiện – Người với Tính Nhân đạt đến mức độ cao nhất. Chủ điểm cuả Thư Thứ Hai mà chúng tôi đã gởi đến các bạn sau kỳ đi dài nối hai địa cực.
Đến đây, chúng ta có thể trở lại phần dẫn nhập cuả thư nầy để nêu lên một vấn đề tiềm ẩn. Ấy là, những cá nhân chủ thể và sở hữu những kỳ tích kể trên có chung một mẫu số: Họ chỉ đã, đang thực hiện được những thành quả ấy từ trong “Tuổi Trẻ”. Bởi chỉ tuổi trẻ mới cho họ khả năng bức thoát, vượt qua những trở ngại mà nếu thiếu sút lòng quả cảm, sức kiên trì (Những phẩm chất riêng cuả Tính Trẻ), họ khó có thể khắc phục, vượt qua được. Cũng với Tuổi Trẻ, con người mới có được sức mạnh đích thực của Tái Tạo và Sáng Tạo-Năng lực thúc đẩy người luôn phải mới mẻ, sống động qua từng giờ, ngày nỗ lực. “Nhật Tân. Nhật Tân. Hựu Nhật Tân” là châm ngôn đúng đắn chính xác mà Nho Giáo hằng thúc dục Kẻ Sĩ qua từng ngày tìm học; để đến cuối đời, bản thân Bậc Thầy cũng phải nói nên mỗi điều ao ước: “Tiếc rằng Khâu nầy không còn thời gian để học thêm Dịch chu đáo hơn!!. “. Nhưng sức mạnh tuổi trẻ thật ra không chỉ giới hạn nơi một thời lượng cuả tuổi thanh xuân, bởi lịch sử đã cho chúng ta so sánh, công việc trong khoảng thời gian mấy mươi năm (cuả thời đoạn gọi là hạn kỳ thanh niên theo quan niệm nhân sinh tương đối kia) hoàn toàn vô nghiã trước diễn tiến dài lâu cuả đời sống nhân loại. Thế nên, chúng ta có thể nại ra thêm một lần nữa, sự tiến triển phi thường cuả Thế Kỷ 20 (Trong tất cả mọi lãnh vực mà khoa học, kỹ thuật là yếu tố vượt trội và quyết định nhất) chỉ được thực hiện từ, với tinh thần tiến công cuả những người “trẻ tuổi”, không phân liệt quốc gia, giai tầng xã hội, chủng tộc xuất xứ, càng không hề nại đến cách biệt tuổi tác. Họ là tập hợp những người làm nên lịch sử và quyết định tương lai. Những người luôn ứng xử bằng tinh thần tuổi trẻ đối với mọi hoàn cảnh và ngày mai. Họ có trách nhiệm mang vác sinh mệnh toàn cầu nhân loại. Điển hình, thành quả trong lãnh vực nguyên tử ở thời đại chúng ta mang danh tính nhiều người, nhưng tên nhà bác học Albert Eisntein vẫn là tác nhân hàng đầu và quan trọng nhất. Tuy rằng, nếu theo Luật Di Dân áp dụng trong kỳ thanh lọc quy mô vào những năm 1890, cá nhân nầy quả khó lòng nhập cư vào đất Mỹ do cảm tính quá độ bi quan, khả năng kinh doanh kém cỏi đến độ vỡ nợ ngân hàng, phải đem thân ra nước người kiếm sống(!). Tương tự như thế, tư cách cá nhân nhà bác học hoàn toàn không ảnh hưởng, chịu tác động về thành quả cũng như tai hoạ bởi lần áp dụng, khai thác sức mạnh nguyên tử do văn minh loài người chủ trương, tác động. Đáng nói chăng là trí sáng khai phá, vận động mạnh mẽ cuả Con Người (Mà nhà bác học là một thành viên) vào lãnh vực vi cấu trúc để từ đó cho phép chúng ta hôm nay làm chủ được sức mạnh hạch tâm, giải thích thế giới kỳ diệu cuả nguyên tử. Khởi đầu diễn trình cực độ quan trọng nầy mang danh tính cao qúy- Albert Einstein-Người luôn băn khoăn ngạc nhiên trước cuộc sống. Người luôn trong tuổi trẻ sống động. Bởi đây là người nắm vững “luật tương đối “cuả yếu tố bất khả nghị về hiện tượng sống: “Thời Gian – Sự Không”- Cái Không luôn hiện thực, vĩnh cữu và hằng có. Từ phạm trù kỳ diệu nầy, người có bộ óc siêu việt nhất của thế kỷ đã một lần xác chứng, cái mà chúng ta phân biệt “sau, trước” kia quả thật chỉ là những mối nối vô cùng mong manh và tương đối-Chúng chỉ được định nghiã từ nơi chúng ta đang đứng nhìn, vận tốc ta đang chuyển dịch. Tôi có thể nhắc lại với các Bạn về kinh nghiệm thú vị nhận ra được trên chuyến bay trở về cảng Los, một buổi trưa thứ bảy, trời đang trong tiết Đông: “… Hóa ra tôi đã qua đoạn đường dài 14 giờ bay, cũng bắt đầu từ một buổi trưa thứ bảy nơi Nam Bán Cầu đầy nắng sáng muà Hạ”. Chúng ta tìm được gì nơi sự kiện nhỏ bé thinh lặng tưởng như tất nhiên nầy? Câu trả lời tuy đơn giản nhưng vô cùng hàm xúc: “Quả thật, chúng ta đang sống trong một môi trường tương đối, ngắn ngủi nhưng hằng hằng mới mẻ, sống động”. Thế nên, thái độ đứng đắn nhất của chúng ta vẫn là phải tận sống nơi mỗi giây phút đang trãi qua để không phải mang nặng nỗi thất vọng mà Người Xưa luôn nhắn nhủ: “Đừng để Ngày nầy không học; Giờ nầy chóng qua và Thân nầy lỡ hư”. Hãy Sống Hết Sức Với Tuổi Trẻ. Chúng tôi nồng nhiệt nói đến cùng Các Bạn kinh nghiệm sung mãn đáng tin cậy nầy. Phải, chúng ta chỉ có một lần tuổi trẻ nên chúng ta phải bảo vệ kỳ cùng tài sản rất mực quý giá ấy của riêng ta; nếu phải bị mất mát, không ai khác, chính ta là đầu mối gây nên lần thãm bại cuả bản thân mình. Nhưng chúng tôi cũng không hề mong mỏi Các Bạn sẽ hoàn tất những sự nghiệp gây phẫn nộ và đáng nguyền ruã do đã dựng nên từ bạo lực và huỷ diệt, (Như những “tai hoạ” mà E. Fromm đã não nề kể ra trong“Phân Giải Về Sự Tàn Phá Con Người – The Anatomy Of Human Destructiveness”; chỉ riêng Tây Âu ở Thế Kỷ 16 đã có 87 trận chiến; Thế Kỷ 17, 237 trận; TK18, 781 trận; TK19, 651 trận và đến thời đại chúng ta chỉ mới tính đến 1942, cũng đã có gần chín trăm trận. Nhà văn quên nại ra, hoặc đã quá đổi kinh hoàng với kết quả 35 triệu người chết của Thế Chiến Thứ Hai, trong đó riêng Liên Sô đã đóng góp nên số lượng 18 triệu, chưa kể 20 triệu người bị một tay Staline thanh trừng trong 29 năm cầm quyền; nước Đức mất 4 triệu 2, đổi lại đã thảm sát 6 triệu người Do Thái; ở Á Châu, nước Nhật thiệt mạng 1, 97 triệu người, riêng mỗi quả bom nguyên tử thả ngày 8 tháng 6, 1945 xuống Hiroshima đã giết ngay lập tức 80.000 người và di hoạ thêm 140.000 người do biến chứng phóng xạ vào những năm sau. Nhưng người Nhật cũng đã không nương tay, dù đấy là một chủng tộc da vàng nhỏ bé, vô hại đối với sinh mạng chính trị, an ninh quốc gia họ – Hai triệu Người Việt Nam chết đói từ một muà luá bị mất (Do người Nhật ra lệnh phá ruộng lúa để trồng đay phục vụ nhu cầu chiến tranh của họ), cũng năm 1945, đúng muà Hè họ nhận phải quả bom. Tóm lại, quả tình chúng ta không thể nói dân tộc nào bất hạnh hơn dân tộc nào. Chỉ biết nổi Khổ Đau Của Người cùng khắp và càng ngày càng tăng cường độ qua trò chơi tầm phào mạt hạng tầm phào, cực độ tàn nhẫn và quái đản vô ích gọi là, “chiến tranh”. Oan nghiệt thay Lịch Sử Nhân Loại luôn lập lại lầm lỡ ghê gớm đau thương nầy.
Tuy nhiên chúng ta vẫn luôn Hy Vọng- Đường tự cứu nầy do Tuổi Trẻ chiếm lĩnh và quyết định. Với chủ đề “Tuổi Trẻ Phù Đỗng”, Trại Hè Về Nguồn Kỳ VII nầy chúng ta hẳn có mục tiêu cụ thể, lần thụ lãnh Sứ Điệp “Nhận Trách Nhiệm Tuổi Trẻ” như Huyền Thoại Dân Tộc hằng nhắn gởi qua hình tượng Thánh Gióng. Trước khi nói đến phần chủ điểm cốt lõi, ta cần phải giải lược bớt những yếu tố không thuộc về huyền thoại, những khía cạnh đặc thù mà giới chuyên môn (Khảo cổ học, Dân tộc học, Xã hội học …) Do yêu cầu của ngành học nên đã quá độ gán ép những giả hình thù, những phẩm tính vô nghĩa và vô dụng chung quanh hình tượng huyền thoại lịch sử, để từ đó dựng tạo nên những nhận định có tính chính trị lố bịch như: “Gióng là biễu trưng tổng hợp của sức mạnh Giải Phóng Dân Tộc, hiện thực nơi giai cấp nông dân, người bạn cách mạng hậu bị chiến lược của giai cấp công nhân, lực lượng trung tâm thời đại chúng ta hôm nay-Người sẽ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản dẫy chết !! “. Định nghĩa được thành hình rất lâu tại Miền Bắc Việt Nam và tiếp tục tồn tại trong bất cứ tài liệu học tập, giáo trình huấn luyện, sách giáo khoa tất cả các cấp, luận văn tốt nghiệp nào hiện nay ở nước ta?! Chúng ta cũng không cần nại đến những “di chỉ mũi tên đồng, ngọn giáo đồng … “ mà nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội luôn trưng lên như một bằng chứng khả tín về “truyền thống thuộc quá trình chống ngoại xâm” mà họ (Những người cộng sản Miền Bắc) là kẻ kế thừa thuần thành và đích thực của dân tộc …. Cũng thế, “Các Vua Hùng có công dựng nước; Bác cháu ta có công giữ nước” – Câu nói nầy từ lâu không là khẩu hiệu tuyên truyền mà đã là “tài liệu có tính cách quyết đoán của lịch sử”… Chúng ta hảy vất bỏ tất cả những rơm rác phù phiếm và tầm phào nầy để nhìn Gióng như là niềm Mơ Ứơc vĩnh cữu, nỗi Hy Vọng sắc son của giòng sống Dân Tộc- Một nhóm Việt Tộc đã đứng vững nơi đầu sóng ngọn gió Vùng Đông Nam Châu Á, qua hàng loạt biến cố lớn lao từ lịch sử cũng như thiên nhiên, để đến hôm nay, sau bốn ngàn năm, khi toàn bộ giống giòng Bách Việt mạn Nam song Dương Tử đã hoàn tất Hán Hoa; bị đẩy lùi, hoặc chôn chân nơi nội địa núi rừng Tây-Nam bán đảo Hoa-Ấn – Giống Việt Tộc ấy vẫn tồn tại và phát triển như một điều huyền nhiệm- Phải, Dân Tộc Việt Nam đã tồn tại như một nhiệm mầu. Chúng ta hãy sống với Gióng ngày bình minh lịch sử, buổi Người Việt thành hình. … Chúng ta thấy được gì trong câu chuyện cổ tích mang dấu ấn huyền sử nầy? Lẽ tất nhiên chúng ta không thể quá độ nại cớ “tính quốc gia dân tộc” để gán ép bất cứ sự kiện lịch sử nào cũng phải mang vác một cách vô lý mục tiêu chính trị từ ý niệm và nhu cầu cuả thời đại hôm nay; thái độ ngược ngạo cưỡng bức lịch sử thiếu chính trực và lương thiện trí thức là cung cách quen thuộc cuả người, giới cầm quyền cộng sản Đông, Tầy … Chúng ta không cần lập lại sai lầm lố bịch ấy vì Lịch Sử Việt Nam (Dù dưới dạng Huyền Sử) vẫn còn nguyên dấu ấn hùng vĩ về một dân tộc thâm sâu nội lực và thắm thiết tình người. Xét từ kết cấu, diễn tiến và kết thúc câu chuyện đến yếu tố tên người, địa danh, nơi xẩy ra “trận chiến giữa Gióng và giặc Ân” … Ta vẽ lại được bức tranh toàn bích về cấu t rúc đặc thù cuả Người Việt cổ đại, nối xong mạch liên tục hợp lý: Trời-Đất; Thần-Người; Đất Nước-Cá Nhân … Trong đó yếu tố chủ thể không phải là một vị Thần siêu việt hoặc một thứ Thế Quyền được tôn giáo hoa, thần linh hoa như những nền văn minh thái cổ thường tạo dựng nên-Yếu tố chủ đạo ở đây không ai khác: Con Người Trần Thế-Trong trường hợp nầy là đứa trẻ không biết đi, chưa biết nói, chỉ do “động tâm yêu nước” mà thoắt nên thành khổng lồ xông mình ra trận. Thật ra “giặc Ân” trong câu chuyện kia chỉ là yếu tố hư cấu, đời Hùng Vương Thứ Sáu cũng không thể xác định niên hiệu tại đâu bởi một sử liệu thành văn … Và những danh xưng, Gióng, Phù Đổng, Sóc Sơn hay Sài Sơn quả thật chỉ những tên chữ, xuất hiện cùng lần với “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca”, chúng cũng không thể có sớm hơn, trước ngày Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) làm văn tế cá sấu, Đời Trần Nhân Tôn (1279-1293). Nhưng những chi tiết kỹ thuật nầy không đáng kể; điều làm cho chúng ta xúc động chính là, tổ tiên ta, một giống Lạc Việt, chắc không khác ngoại hình so với Mân Việt, U Việt, Âu Việt … Cũng không thể vạm vỡ sức vóc hơn những tộc Mélanésien, Indonésien đã sẵn có mặt nơi lưu vực Sông Hồng, sông Mã, những người quen đầm lầy, sông nước, thờ thủy quái, giao long. Nhưng, Tộc Lạc Việt kia, ngày ấy, tổ tiên ta đã sống một đời kiệt liệt. Chúng ta tin chắc như thế. Và Sự Thật Sử Tính là như thế. Bởi buổi ấy, tất cả sinh hoạt đời sống hoàn toàn “trong núi”, nơi có những rừng tre bạt ngàn vứơng víu, chằng chịt (Gióng, Dóng: vật liệu đan bằng tre dùng để gánh; Sài: Cành tre gai; tre gai gài chặt lại thành cái cửa …). Và những tiền nhân được chúng ta tôn xưng là “Thánh Gióng”, vào thuở hồng hoang kia, đã chỉ dùng tay bạt trắng rừng xanh, bật những gốc tre luồng sâu đá núi; nhổ sạch đi tạo thành những ao con … Vào buổi ấy, tổ tiên chúng ta cũng đã là người “văn minh”; họ có sắt, đúc được đồng, nhưng phần kim loại dự trữ chiến lược nầy thuộc phần quản lý cuả nhà Vua. Và Vua luôn thuận theo ý dân, nên chỉ xử dụng phần kim loại quý giá hiếm hoi kia kia để đúc ngựa, roi sắt (Theo lời yêu cầu cuả Gióng), dùng vào công cuộc trọng đại, nỗ lực chung. Chú bé vụt lớn lên cũng như khối dân sơ khai, chưa có quốc hiệu, cương vực, chữ viết riêng (Văn Lang, Hùng Vương, chỉ là những sản phẩm khi chữ Hán Việt được thành hình và chính quy hoa ở những thế kỷ sau; bởi vùng đất Giao Châu thời cổ sử kia chỉ là một trong chín châu cuả Tàu; mà Tàu cũng bởi biến thái, thay danh tính từ “nước” Tần, một trong những liệt cường còn lại gồm Sở, Hán, Tần, Tề, Ngô, Việt … sau giai đoạn tranh phân chí mạng giữa các bộ tộc Bắc, Nam sông Dương Tử, chung quanh vùng sông Hoài, lãnh thổ kéo dài từ Tứ Xuyên ra tới biển, bắt đầu lúc Nhà Chu suy yếu. Nước “gọi là Tàu” kia cũng đang trong thời đoạn thành hình cho một nước Trung Hoa ngày nay vậy). Chúng ta nhắc chuỗi yếu tố, sự kiện kia không do một mặc cảm hơn thiệt nào khác ngoài lòng thiết tha ngưỡng vọng sức đề kháng bàng bạc nhưng thấm sâu; nhân hậu nhưng bền vững cuả Giòng Việt Tộc kiên cường, phẩm chất cao vợi. Chúng ta hãy cùng nhau làm nên bừng sáng ngọn lửa tự hào nầy … Phải – Chúng ta là con cháu Rồng-Tiên. Trên nền tảng Lưỡng Tính, Nhị Nguyên, Âm-Dương, Đất- Trời nầy, Tâm Linh Việt Tộc không những đã không phân hóa (Như những dân tộc chủ trương duy lý nhất nguyên), mà sau nầy khi va chạm với văn minh kỹ thuật Tây phương, tư bản lẫn cộng sản, nét chủ đạo thâm trầm cuả Tộc Việt lại càng nổi bật, và đã tạo nên một thế thống nhất tâm linh cân bằng kỳ diệu. Đây không là cách nói quá độ để cốt khoa trương về một điều không thực. Nhưng nếu so sánh với những khối văn minh, văn hoá khác, trong cùng một thời (hai ngàn năm sau Công Nguyên) hoặc cùng địa bàn (chung bán đảo Đông Dương) như của người Maya, Tộc Khmer … Chúng ta hẳn cảm động, hãnh diện bởi những tre, trúc mảnh mai đơn giản của Gióng đã tồn tại lâu dài, bền bĩ hơn những đền thờ đá tảng bề thế ở Teotihuacán, Đông-Bắc Mễ Tây-cơ, nơi thờ Thần Mặt Trời của Văn Hoa Azetec một thời chủ đạo vùng bao la Trung Mỹ, những kim tự tháp bằng đá cao đến 60 thước, thờ những vị thần đòi Vàng từ Đất và Máu từ Người với hình tượng biểu trung rực rỡ: Mặt Trời-Lửa- Hổ, Báo …. Những nguồn lực hung hản, hoang dã. Trái lại, chúng ta uyển chuyển (như Nước); biến dịch (như Rồng) để hiện thực nên với móng bền vững: Con Người Đơn Giản – Đứa trẻ chưa biết nói- Chỉ do tâm thức yêu nước hoa thành “anh hùng nhổ tre” chống giặc xong bay về trời. Hoặc chúng ta có thể nhắc thêm về những “Anh Hùng-Thần Linh đẫm máu” cuả các nền văn minh khác để thấy ra so sánh: Thượng Đế cuả vùng Điạ Trung Hải (Người HyLạp) là ông Trời Ouranos; Trời nầy từ ý lực độc tôn (Biểu trưng Con Số I), nên dù những người con vốn có trăm đầu, trăm tay (tên gọi chung là Titan với sức mạnh vật chất to lớn), vẫn bị bắt giam vào Địa Ngục Tartare, để riêng mình ông ta muôn năm trường thọ thống lĩnh vũ trụ. Thế nên chúng ta trăm năm trở lại đây, không đầy nửa thế kỷ, những hậu duệ cuả Titan, con cháu Ouranos kia đã cho thế giới món đòn thù qua hai trận thế chiến mà chỉ riêng nước Nga đã mất hơn 18 triệu như trên đã nói; giữa hai cuộc chiến tầm cỡ chết người kia, những người Phương Tây tài trí, chuyên sâu lý luận nọ cũng không quên chêm thêm những trận đánh bản lề chuyển tiếp để hiện thực mối thâm thù huyết thống giữa những huynh đệ không hề đứt đoạn. Ví dụ chiến tranh ba năm ngắn ngủi cuả những người gọi là CọngHoà và Quốc Gia Tây Ban Nha với kết quả khiêm nhượng, hai trăm ngàn người chết cho cả hai phe (Cộng Hoà chết 110.000; 90 ngàn còn lại chia cho phía Quốc Gia), chưa kể 500.000 người bị lưu đày ra khỏi nước, không hề trở lại cho dù thế kỷ đã gần xong. Nhưng tranh chấp giữa cha con Ouranos và Titan kia chưa phải là giải quyết xong, bà Mẹ (Đất) ra tay, bày kế cho đứa con chính yếu Kronos (Thời gian), nhân lúc cha mẹ đang gần gũi, làm thịt ông bố Trời, xé xác, phanh thây ném xuống biển … Biển trào sôi giận giữ, Thần Thịnh Nộ (Furies) từ đó ra đời, trong những bọt sóng cuả lòng thù hận kia đã nẩy sinh ra người Đẹp cuả vũ trụ lẫn thế gian, Aphrodite. Và chính người đẹp khai sinh từ vũng lửa tham tàn kia lại là nguyên nhân xúi dục con người trần thế lao đầu vào cuộc chém giết tận tình đẫm máu không thương xót. Do ghen tuông (bởi muốn tranh ngôi vị người đẹp nhất với một bà Thần khác, Athéna), người đẹp Aphrodite đã xúi anh chăn cừu Paris đánh cướp cô gái Helena vợ Vua Menelaus-Chiến tranh Thành Troy có nguyên cớ từ sự kiện tầm phào vô vị nầy … Cả Thần và Người cùng bị siết chặt chung một vòng nghiệt ngã thù hận tràn bờ không cơ hội hoà giải, không hy vọng kết thúc tương tranh. Bạn sẽ hỏi chúng tôi, nhưng đó chỉ là Tây Phương với mối tranh chấp muôn thuở cuả riêng họ, chúng ta có gì khác biệt nơi Đông Phương chăng? Tình hình cũng không mấy khả quan hơn với Ấn Độ qua Chí Tôn Ca, mà thật sự phải là Võ Công Ca bởi trận chiến chỉ phát sinh từ khi chàng Ravana cướp nàng Sita thuộc dân Ayodhya vàngười cuả hai phe lâm chiến, những thủ lãnh (Tổng hợp Thần-Người) chỉ biết xử dụng những ngôn ngữ tàn nhẫn, máu me cùng nhau như lời vua Bhima nói với kẻ thù Dushasana “Tao sẽ bổ tim mầy ra mà uống máu mầy !”.
Gần gũi với chúng ta hơn, huyền sử Trung Hoa cũng không thiếu hiện tượng về tình cảnh không thể khoan nhượng giữa hai nguồn lực căn bản Trời-Người, dù rằng, Nho Giáo đã có định nghiã tổng hợp thuần hậu, chính xác về con người, “Nhân giả kỳ Thiên-Địa chị Đức, Âm-Dương chi giao, Ngũ Hành chi hội, Qủy Thần chi khí tú giả”. Nhưng hình như định nghĩa nầy chỉ giành riêng cho người có học, lớp kẻ sĩ; số đông dân chúng vẫn đành đoạn mong muốn cho Hậu Nghệ bắn rụng chín mặt trời; Bà Nữ Oa đội đá vá trời; Lý Ngươn Bá ném chuỳ đồng lên trời dự định đánh chết lão Thiên Lôi, tay sai tàn ác của cái gọi là ông Trời thiếu hẵn nhân tính, đầy nhẫn tâm kia, như kiểu gọi “Lão Tặc Thiên” của nhân vật Kim Dung, Tạ Tốn. Điểm qua một loạt các “nhân vật” huyền sử và cổ tích xưa nay kia, chúng ta thật vô vàn hân hoan vì, “Thần – Người cuả tâm thức Việt Tộc là Một”. Thần qua Người nên hiện hữu. Người tồn tại an toàn thân mật với Thần mà thật ra chỉ là chiếc bóng hùng tráng của người phóng chiếu nên thành hình tượng. Đuổi xong giặc, người tuổi trẻ Phù Đổng cởi ngựa về Trời. Người về trời qua ngã Mẹ Âu Cơ ngày xưa đã chia tay Bố Lạc Long Quân: Gióng về trời ở Núi (Núi có Tiên-Tượng hình chữ Hán-Việt: “Tiên là người ở trong Núi”). Vua Hùng, thủ lãnh người Việt được viết với bộ “Chuy, chỉ loài điểu thú”, tức là những người mang hình lông chim trên di chỉ Trống Đồng. Và hơn tất cả các thần linh Đông, Tây, Gióng không hề bị sa đọa bởi quyền lực và bạo lực: “Người về Trời cùng lúc hội nhập với Thần”. Hành vi của Gióng là hiện thực nghĩa vụ, “Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Nhân gian đáo thử thị Anh Hùng”. Anh Hùng Văn Langlà một trong muôn người đã dựng nước và giữ nước như một “nghĩa vụ thường hằng”- Đây là một “Dân Tộc Anh Hùng” nhưng không hề viết nên Anh Hùng Ca. (Việt Lý Tố Nguyên- Kim Định). Bởi đó cũng là Dân Tộc Thi Sĩ với tiếng hát vô vàn trung hậu thắm thiết Ca Dao.
Tôi cầu chúc Bạn,
Trở nên “anh hùng bình thường” như thế,
Như Gióng uy nghi lặng lẽ trở về Trời.














