Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 17 Jan 2026


Bài 18.
Quyết định to tát
Trong rất nhiều năm, tôi đồng quan điểm với mọi người cho rằng thường thường những nhà thủ thuật lớn đều nổitiếng nhờ ở một sự chế phục đặc kỳ trong kỹ thuật giải phẫu. Chỉ lần lần, tôi mới nhận thấy tột đỉnh bi đát của khoa thủ thuật sẽ đạt tới trong cái mà ta gọi là chỉ định điều trị (indication) nghĩa là chọn giữa hai điều, mổ hay không mổ ? Thật là một quyết định nhiều khi nguy hiểm hơn cả những vấn đề kỹ thuật khúc mắc nhất. Có khi ngay cả từ chối giải phẫu, bởi đây là một cuộc thử thách cân não ghê gớm đối với người y-sĩ, là một cố gắng nghề-nghiệp của con người vô cùng lớn lao và vô cùng khả-kính. Trong những thí-dụ tôi được dịp quan sát, một trường hợp cách đây hơn một phần tư thế-kỷ đã khắc sâu như in trong tâm khảm tôi. Không những đối với đoàn giải phẫu mà cũng bởi đây là một cơ hội đầu tiên tôi bắt gặp ảnh hưởng của định-mệnh trong cuộc sống thường ngày.
BUỔI BÌNH MINH này u buồn và ẩm ướt đến chầm chậm như mặt trời ngái ngủ. Những đợt mây dày đặc phủ kín ngọn Rừng Đen cao ngất trên núi và còn trải qua những dải sương mù xám xám xuống tận chân núi trong thung lũng sâu. Những cánh cửa kính khu giải phẫu lấm tấm giọt sương mù mờ mờ. Trong phòng chẩn bệnh không khí ẩm thấp hòa lẫn với mùi quần áo ướt sũng. Như mọi ngày, phòng chờ đợi gần khu nhập viện đã đầy người ngay khi mở cửa. Hàng chục người bệnh, đàn ông có đàn bà có, các bà mẹ đưa con đi khám bệnh đã tràn ngập bàn giấy của cô thư ký trẻ và có duyên luôn luôn bình tĩnh và điểm một nụ cười khả ái trên đôi môi hồng. Cô ghi tên tuổi và trao cho mỗi người một “phiếu trị liệu” màu đỏ dành cho đàn ông, đàn bà màu lục và trẻ em màu vàng. Trong đám người bệnh có cả những cậu bé thật can đảm vì đến bệnh viện một mình. Hỏi ra mới biết là bà y tá trưởng đã già tên Alexandra giúi cho các cậu mỗi người một gói kẹo. Chúng ăn tham là phải vì trong thời kỳ đói kém và thất nghiệp này kẹo rất hiếm. Nhưng sơ Alexandra luôn luôn biết cách moi tiền để mua những gói quà nhỏ mọn rất quý báu đối với các cậu “nhái”. Sơ luôn luôn sẵn sàng, sẵn sàng cho tất cả cũng như sẵn sàng phụng sự và có mặt từ hai mươi năm nay; cả ngày lẫn đêm làm việc quần quật mặc dù tuổi tác và công việc nặng nề làm mòn mỏi suốt đời không sóng gió.
Trên khuôn mặt với những luống cày nhăn nheo tỏa một lòng nhiệt tâm nhân ái (chaleur humaine) rất cần đối với bệnh nhân và ngay cả đối với chúng tôi trong chức nghiệp y học, nhất là những lúc được mời đến giường một bệnh nhân sắp từ giã cõi đời … Những lúc đó những người áo trắng cảm thấy bất lực không thể kéo dài một lần nữa những giây phút sống của bệnh nhân. Cuộc sống của sơ Alexandra là một chuỗi hy sinh khắc kỷ không ngừng cho tha nhân.
Buổi sáng hôm đó, công việc cứ trôi chảy như thường ngày đều đều như những chiếc ô sáng vác đi trưa vác về … Công việc trong bệnh viện có vẻ nhàm chán hơn thường lệ. Nào là chín mé, nhọt bọc, vết chém, bị tai nạn xe cộ … cả một chuỗi án chẩn gần như là một ước lệ tẻ nhạt. Những bệnh nhân lũ lượt ra về. Trong phòng đợi lác đác còn vài “khách hàng” … Công việc gần xong. Như thường lệ, tôi ngửng đầu nhìn đồng hồ quả lắc. Bỗng thấy lão Jacques đem một người đàn ông đầu phủ kín dưới một đống băng gạc trắng to bằng quả bưởi. Cha chìa cho tôi một bức thư và nói từ xa:
– Thưa ông thầy, một “cas” quần đinh (anthrax) ở đầu. Là một tay “tổ” lão làng trong bệnh viện, lão biết đây là một trường hợp (mà chúng tôi quen miệng gọi là “cas”) thật hy hữu và đặc biệt có thể nói là một vưu vật! Quần đinh ở đầu quả thật là một chứng bệnh rất hiếm – và cũng rất nguy hiểm. Như bị ảnh hưởng của chiếc đũa thần của các bà Tiên. Chúng tôi thấy hết nhàm chán, tẻ nhạt mà trái lại hứng khởi lạ kỳ. Im lặng, tôi cầm lá thư và mở ra đọc.
Bức thư của một đồng nghiệp, Bác sĩ Siegel ở miền ngoại ô Gundelsheim. Bác sĩ Siegel đã già và là chỗ thâm giao lâu năm. Nét chữ ông biểu hiện tính tình con người: nét chữ già dặn, rất sắc và rất chính xác.
Bệnh nhân làm cho hãng nệm bông ở chỗ tôi. Trong hãng đã có nhiều “cas” quần đinh, thường thường ở cánh tay. Nhưng lần này, theo ý tôi, không thể chối cãi được, đây là một quần đinh ở đầu. Không có đủ các tiện nghi và thẩm quyền chuyên khoa để trị liệu, mong anh nhận người bệnh vào quý khu …
Như mải suy tư, tôi ngắm kỹ người bệnh đang ngồi trước mặt. Người tầm thước nhưng rắn chắc và đẫy đà, ông tỏ vẻ bình tĩnh và trầm lặng lạ thường khác hẳn vẻ e ngại và lo sợ của những bệnh nhân khác. Tôi cất tiếng hỏi:
– Ông biết ông bị bệnh gì không?
– Dạ cháu biết ạ. Bác sĩ Siegel đã giảng giải cho cháu rồi. Dù ông thầy chỗ cháu không nói gì nhưng bây giờ cháu cũng biết rồi. Ông bác lúc nãy dẫn cháu đến đây cũng nói to lắm …
Hơi ngượng. Lão Jacques quay mặt đi. Tôi liền hỏi:
– Gần đây trong xưởng ông có người nào bị như vậy không? Tôi muốn hỏi ông có nhiều hơn mọi lần không?
Hắn suy nghĩ trước khi trả lời:
– Dạ không nhiều đâu ạ. Nhưng thỉnh thoảng có vài người bị đám nhọt mủ ở cánh tay. Cháu nghe nói cũng có người bị như cháu ở đầu. Cách đây độ chừng mười năm. Nếu cháu nhớ không lầm, anh ấy bị chết rồi.
Tôi ngạc nhiên thấy ông ta rất bình thản. Người này phải có một bản lãnh phi thường và thiên phú biết kìm tình cảm không để lộ ra ngoài. Tôi dẫn ông vào phòng khám bệnh riêng của tôi và bảo ông nằm lên giường. Trong khi cô y-tá cởi dải băng đầu, tôi đeo đôi găng cao su mà sơ Alexandra đã lấy sẵn không đợi lệnh tôi.
Một phần lớn dải băng đã cởi ra, tôi nắm đầu băng và cẩn thận từng li từng tí, nhè nhẹ cởi tiếp. Khi gắp miếng băng cuối cùng một cảnh tượng hãi hùng sừng sững trước mặt tôi. Mặt bệnh nhân không còn là “người” nữa, theo đúng nghĩa của nó. Phía phải mặt sưng húp đỏ bầm chứng tỏ bị viêm chứng cấp thời. Một đống sưng vù – trong y khoa gọi là phù viêm (oedème inflammatoire) – mềm đến nỗi ấn ngón tay vào còn ghi hằn dấu trũng hẳn trong vài phút. Chỗ phù sưng ấy lan dần nửa má qua môi trên rồi đến tận sóng mũi. Mắt phải sưng húp không mở ra được và phía góc trong gần mũi còn nước mủ. Quay nhẹ đầu bệnh nhân, tôi thấy chỗ sưng nầy lan đến tận da đầu từ gáy đến đỉnh và da đầu cũng gần như bị tróc hết. Bên thái dương tôi thấy một lỗ nhỏ, xung quanh có vòng nâu nhạt và phủ một lớp vẩy mục trăng trắng.
Trái lại tôi kiếm tìm hoài nhọt mủ đen, điểm đặc biệt thường thấy để chắc chắn đặt án chẩn quần đinh. Hơi ngạc nhiên và bỡ ngỡ, tôi xét lại một lần nữa, từng li da một, chỗ sưng phù và cái lỗ nhỏ kỳ quái và lạ ấy. Các anh sinh viên đi thực tập cũng cúi đầu chăm chú quan sát, ngay cả các cô nữ y tá nữa cũng tỏ vẻ tò mò.
Tôi bèn hỏi bệnh nhân:
– Chỗ mụn ở thái dương này ông có từ bao giờ?
– Dạ cách đây ba hôm.
– Có sốt, nóng không?
– Dạ, ít thôi ạ. Bác sĩ Siegel nói cháu 38,2 độ.
– Ông có biết tại sao có mụn này không? – Tôi hỏi ông ta.
– Thưa bác sĩ, cháu không biết ạ. Có thể … Nhưng có cảm tưởng tự nhiên nó vỡ ra đó. Mới đầu sưng húp ở bên thái dương rồi tấy thành nhọt cứ dần dần ngả màu nâu như cà phê sữa rồi chốc vỡ ra như bác sĩ thấy đó ạ.
– Chỗ mắt phải ông không mở được từ bao giờ?
– Dạ từ hôm qua. Thưa có điều lạ là cháu không thấy đau nhức nữa.
Tóm lại, tôi cũng không biết thêm được chi tiết nào cả. Có thể là một quần đinh nhưng án chẩn không rõ ràng lắm. Tôi hơi ngập ngừng vì lớp vẩy mục trắng trắng này, bởi trong chứng quần đinh cổ không thấy ghi điểm ấy. Có thể là một nhọt bọc (phlegmon) ở da đầu, nghĩa là lớp tế bào bị viêm, có thể bị mủ và có khi, trong trường hợp nặng, chết dễ như chơi. Nhọt bọc ấy có thể do một chỗ da bị trầy nhè nhẹ trước mà thành. Nhưng nhọt bọc hay quần đinh tùy thuộc giống vi trùng gây bệnh. Đối với một vài “loại” bệnh nhân, người y sĩ phải cố gắng có một thái độ điều khiển độc đoán chỉ huy. Nhưng với người đàn ông này thật bình tĩnh và tự chủ, tôi rất thành thật và không giấu ông điều nào.
– Ông ạ, cũng chưa chắc là Bác sĩ Siegel có lý, chưa chắc đã là một quần đinh đâu. Có thể những lớp tế bào ở đầu bị sưng tấy làm nhọt bọc. Và nếu là nhọt bọc thì phải mổ ra đừng để làm hại mắt có thể bị mù …
– Nhưng, thưa bác sĩ – bệnh nhân tì khuỷu tay lên bàn và mắt trái nhìn tôi trừng trừng – nếu là quần đinh thì đằng nào cũng phải rạch mổ ra phải không ạ?
Tôi cố gắng khỏi phải giật mình. Không ngờ người thợ này lại thông minh đến thế. Ông cũng đang hiểu rõ tâm trạng nan giải này. Ông cũng cảm thông với tôi quyết định này rất quan trọng, vì sống chết cũng do đó mà ra. Cố gắng làm mặt nghiêm tôi hỏi ông:
– Tại sao ông biết mà nói vậy?
Người thợ làm nệm khẽ nhún vai:
– Trời ơi! Ở xưởng cháu ai mà chả biết cái bệnh quỷ này, chúng cháu cũng rành lắm.
Tôi lắc đầu: Hiển nhiên tôi phải nói hết sự thật nếu không bệnh nhân sẽ không tin tưởng ở tôi nữa. Tôi còn phải bước thêm một bước nữa, nghĩa là để bệnh nhân cũng góp phần vào quyết định của tôi bởi một lý lẽ rất giản dị là úp mở còn nguy hiểm hơn nói dối thẳng từ đầu. Sau một vài giây lưỡng lự, tôi tiếp:
– Tôi cho đem ông lên nhà mổ trên lầu nhé. Tôi lấy một ít nước mủ ở chỗ nhọt bên thái dương rồi đem đi thử xem là vi trùng nào. Như vậy ta mới biết trong đó có chùm cầu vàng không. Chùm cầu là thứ vi trùng nhìn trong kính hiển vi như một đám trái nho ấy. Biết là chùm cầu vàng mới có thể nói là bị quần đinh. Ông hiểu không? Tốt lắm. Lúc đó có hai điều: Một là nếu thấy chùm cầu vàng (Staphylocoques dorés) khỏi phải rạch mổ ra làm chi. Hai là nếu không có thứ vi trùng này thì ông bị làm nhọt bọc, da đầu bị sưng tấy nên có thể bị ăn vào mắt mù hay có thể nguy hiểm đến tính mạng ông đó. Lúc đó ta phải rạch mồ nạo mủ ngay.
Ông ta bình tĩnh gật đầu. Tôi hiểu ngay ông vẫn tin tôi. Trong khi chờ cho đem băng ca đến tôi nói chuyện với ông rất tương đắc như hai người bạn già. Ông thợ nệm có vợ và ba con còn nhỏ. Có lẽ ông tưởng chi tiết gia đình này bắt buộc tôi phải cân nhắc quyết định kỹ càng hơn vì bỗng nhiên ông nói với tôi giọng chân thành:
– Bác sĩ đừng bận tâm lo nghĩ nhiều cho cháu. Sống gửi thác về. Số mệnh trong tay Chúa hết ông thầy ạ.
Xe băng ca đã đến. Người y công đẩy ông lên từng lầu một.
Tôi quay lại nói với một anh sinh viên tập sự:
– Anh lên ngay labo, bảo sửa soạn lấy mủ thí nghiệm phân chất nhé. Anh bảo cho đem các miếng kính, hai ống nghiệm và chai lọ đã khử trùng đem lại ngay vào phòng mổ ca nhiễm trùng (champs opératoire septique) cho tôi.
Xong, tôi trở lại phòng chẩn bệnh khám nốt những bệnh nhân còn lại. Nhưng trí óc tôi ở đâu đâu. Tôi suy đi đoán lại bài toán vừa rồi. Một bài toán có ẩn số. Một bài toán sống, chết hệ trọng. Luôn luôn cảm thấy trong lòng trách nhiệm đè nặng, trách nhiệm quyết định của riêng tôi. Tôi còn nhớ lời thầy tôi, Giáo sư Von Bergmann trừng đôi mắt sau đôi kính cận, giơ tay trỏ nghiêm nghị như tuyên án: “Đừng bao giờ rạch mổ một quần đinh! Đừng bao giờ, các anh nhớ nhé!” Hình như thấy chưa đủ, thầy tôi còn áp hai đầu ngón tay
cái và ngón giữa vào nhau, đưa lên đưa xuống và cất tiếng sang sảng giải thích những hậu quả nếu không tuân theo “giáo điều” đó – nghĩa là cầm dao rạch mổ – chùm cầu sẽ đổ ào ào vào máu như thác lũ và bệnh nhân chắc chắn hai mươi bốn giờ sau sẽ từ giã bệnh viện trong một bộ áo bằng gỗ! Nhưng đây có phải là quần đinh không? Nếu không phải thì phải mổ ngay, bởi là một khẩn cấp vì nhọt bọc này lớn quá, lan rộng quá, có thể nguy đến tính mạng nếu lừng khừng chậm trễ. Sau khi khám mấy bệnh nhân còn lại, tôi đứng dậy bước lên lầu. Tôi phải ngừng ở hành lang để nhường chỗ cho một chiếc xe băng-ca đem một bệnh nhân đến phòng nhận bệnh. Một cụ già tóc bạc trắng toát như bông gòn ngay một người thường chỉ nhìn thoáng qua cũng có thể hiểu ngay là bà cụ đang hấp hối. Mặt xanh xám, hơi thở cách quãng như nấc, mồm há rộng, bất tỉnh nhân sự, một cơn hôn mê đứng trước ngưỡng cửa Tử Thần.
Tôi gắt một cách vô lý với người y công:
– Bà cụ đến đây từ bao giờ?
– Thưa ông Thầy, họ vừa đem đến vài phút đây. Ở làng xa lắm. Chắc họ không muốn bà cụ chết ở nhà – phiền phức lắm, nhà lại nghèo nữa ạ.
– Thế người nhà đâu?
– Dạ, đi rồi ạ. Chắc là anh chị em đây – họ có vẻ vội lắm ạ.
Đột nhiên, tôi phải nghiến răng thật mạnh mới ngăn cản những tiếng bất nhẫn. Đáng lẽ phải để bà cụ tắt thở trong nhà, họ hàng vô nhân đạo đã lôi kéo bà cụ khỏi giường khi sắp lìa trần!
Tiếng người y công như phân trần:
– Thưa bác sĩ, đây đâu phải là lần đầu tiên. Họ nghèo quá. Chẳng qua vì tiền bạc khốn khó kiếm không ra. Người sống còn khó huống chi …
– Thiếu tiền à? Sao vậy?
– Thưa, Ông Thầy nghĩ xem. Phải chôn cất bà cụ cạnh mộ chồng. Nghĩa địa xa lắm. Lại còn xe tang nữa. Dạ đắt tiền lắm. Vì vậy người nhà phải đem xe đò chở đến đây khi bà còn thở. Tiết kiệm được nhiều lắm ạ.
Tôi không biết trả lời sao. Tôi thấy nghèn nghẹn nơi cổ họng. Trong hành lang bệnh viện yên tĩnh, tôi nghe những tiếng khò khè của bà cụ tóc bạc.
– Ông cho bà cụ nằm phòng riêng. Cho mời cha đến làm phép cho cụ.
Bước vội lên cầu thang, tôi không khỏi không nghĩ đến câu thơ đắng cay của Friedrich Hebbel khi nói đến cha ông làm thợ nề:
“Sự nghèo khó đã chiếm chỗ của linh hồn” …
Trong phòng mổ, mọi người chỉ chờ có tôi. Trên bàn, trải khăn trắng lên người bệnh chỉ chừa có cái đầu. Những ngọn đèn mổ chiếu thẳng vào chiếc mặt sưng húp. Trong ánh điện, bộ mặt người thợ còn đáng sợ hơn; ánh đèn hình như cắm sâu vào chỗ sưng mủ. Vẩy mục ở bên thái dương, độ chừng nửa phân vuông, óng ánh như tuyết. Anh sinh viên vừa mang dụng cụ đến, trên một chiếc khay có đèn cồn, hai lọ nước và vài miếng kính thử để hứng mủ rồi đem nhuộm màu để xem dưới kính hiển-vi. Cô nữ y tá phòng mổ như một cái máy kiểm soát lại lần cuối các dụng-cụ giải-phẫu. Nào là pince kocher, kéo, dao mồ. Những ống cao su để rút nước cuốn cuộn trong một chiếc bình như những con rắn. Những miếng gạc để cạnh những kim, chỉ và kẹp bím. Những dụng cụ khác còn để trong túi vải. Bây giờ phải quyết định mồ hay lấy mủ đi khám nghiệm. Trong cả hai trường hợp mọi người và dụng cụ đều sẵn sàng cả.
Tin đồn đã bay khắp bệnh viện; ông thầy đang gặp một trường hợp đặc biệt và hy hữu, phải quyết định ngay, cánh cửa phòng mổ bỗng mở. Tôi thấy cô bác sĩ Monica đang rón rén bước vào. Nàng mới đổi đến đây nhưng đã chiếm trọn cảm tình của mọi người. Không những thùy mị có duyên và vui tính, nàng lại bình tĩnh lạ thường và lương tâm tận tụy thoáng hiện qua đôi mắt đen láy. Ai cũng trầm trồ khen ngợi khi thấy dáng dong dỏng cao và bộ mặt xương của cô bác sĩ Monica đi visite.
– Tôi đến coi một chút được không, anh Killian?
Vừa xoa xà phòng rửa kỹ đôi tay, tôi vừa mỉm cười trả lời:
– Ồ! Hân hạnh! Hân hạnh! – Rồi khẽ hất đầu chỉ về phía bàn mổ – một cas quần đinh ở da đầu, nhưng tôi đang phân vân đây. Tôi lau khô tay rồi cầm khoác một chiếc áo blouse để mặc cho cô y tá buộc dây đằng sau lưng mà tiến đến bàn mồ. Monica đang đứng cạnh bàn mổ nhìn bệnh nhân. Đôi tay thọc trong túi áo blouse, nàng ngắm, vẻ nghĩ ngợi, chỗ vẩy mục trắng bên thái dương, khác hẳn với chỗ sưng tấy đỏ ở mặt. Nàng có vẻ suy nghĩ nhiều lắm; trong đôi mắt đen láy hiện vẻ hiền từ nhân ái.
Cô y tá đeo đôi găng tay đã khử trùng cho tôi đây là cẩn thận quá mà thôi bởi, thường thường không cần phải đeo găng khi lấy mủ. Nhưng có thể “tụi” chùm cầu vàng nguy hiểm và quỷ quái nhất trong các loại vi trùng. Tôi quay mặt về Monica và nói:
– Không thể khử trùng bên thái dương được vì có thể làm thay đổi cuộc khám nghiệm đi.
Tôi có luồn một que platine dưới chỗ vẩy mục để lấy nước dĩ nhiên đừng làm cho chảy máu!
Cô nữ y tá đưa tôi chiếc que platine. Tôi đốt trên ngọn lửa đèn cồn. Rồi, khẽ nâng một phía vẩy mục bằng một chiếc kẹp thật nhỏ tôi khẽ luồn chiếc que platine để hứng nước nhọt chảy ra tôi quệt vào miệng kính xét nghiệm để nhuộm màu. Rồi quấn một miếng gạc nhỏ đem hút vào chỗ mụn để vào một cái lọ cho đem đi cấy vi trùng.
Miếng kính và lọ đựng miếng gạc, tôi giao cho cô y tá đưa ngay đi viện Pasteur khám-nghiệm. Tôi bảo gọi Charles đến:
– Anh Charles này, việc này quan trọng lắm. Anh nhảy lên xe đạp và đem ngay đến viện Pasteur. Anh lên lầu hai gặp Bác sĩ Pfaundler nhé. Anh đưa ngay gói này và chờ đem kết quả về ngay. Tôi đợi anh ở phòng mổ này. Để tôi gọi điện thoại cho ông ta. Anh đi ngay đi.
Charles vừa đi khỏi, tôi cũng gọi điện thoại ngay. Tôi muốn báo cho Pfaundler biết việc này thật khẩn cấp. Chúng tôi quen biết nhau đã lâu. Anh Pfaundler rất dễ thương, tính tình tế nhị và bặt thiệp có một bộ mặt rất đẹp trai lại ra vẻ thông thái. Là một nhà khảo cứu cặm cụi suốt ngày với ống nghiệm, canh cấy với không khí an bình và yên tĩnh của các phòng thí nghiệm. Pfaundler không thể chịu được công việc nhộn nhịp gần như quay cuồng và nhất là những khía cạnh bi đát của cuộc sống bệnh viện …
Như mọi lần, điện thoại viện Pasteur ít khi rảnh nên phải đợi hai phút mới bắt được đầu dây giọng nói quen thuộc trầm trầm của Pfaundler.
– Kính anh. Để trình anh một việc. Tôi vừa cho một nhân viên đem đến anh để khám nghiệm mủ nhọt của một cas quần đinh kỳ lắm. Có một miếng kính để anh nhuộm và xem hộ cùng một miếng gạc thấm mủ. Anh cho xét ngay hộ miếng kính nhé. Còn việc cấy vi trùng để làm sau. Tôi lấy ở nhọt bên thái dương phải. Vì có một vẩy mục trắng trên nhọt mủ nên tôi không thể thấy màu đỏ đen của mụn. Anh vẫn nghe đều đấy chứ?
– Vâng, anh nói tiếp đi.
– Vì có cái vẩy mục trăng trắng này nên tôi không chắc đó là quần đinh. Thoạt nhìn thấy có vẻ là anthrax lắm nhưng có thể là nhọt bọc da đầu với oedème bự. Mắt phải nhắm nghiền sưng húp. Bệnh nhân hơi sốt.
– Bệnh nhân ở đâu đến đấy?
– Anh Siegel ở Gundelsheim gửi hắn đến đây cho tôi. Đây cũng là một chi tiết quan trọng quý giá để xét đoán là anthrax. Hắn làm thợ nệm trong một hãng đã có nhiều trường hợp anthrax lắm …
– Tôi có nghe nhiều lần …
– Thế hả. Hay lắm. Có thể là quần đinh đấy. Nhưng tôi muốn quyết định có bằng có cớ, anh Pfaundler ạ. Cần nhất là phải có bằng chứng đó là chùm cầu. Khẩn cấp lắm: bệnh nhân đang nằm trong phòng mổ. Vì vậy, nhờ anh gọi tôi khi khám nghiệm xong nhé. Xin lỗi đã làm phiền anh nhưng cần lắm, nhờ anh giúp hộ cho …
– Thôi đừng khách sáo nữa, cụ ơi. Tôi bắt tay vào việc ngay đây.
Tôi đặt ống nghe xuống. Tôi ngại ngùng và lo lắng lắm. Khi trình bày cùng Pfaundler, tôi lại càng thấy có tình trạng bệnh lý và cơn giông tố trong lòng tôi và trong lòng … người bệnh nữa. Trong phòng tiếng thì thầm to nhỏ. Hiển nhiên tin đồn bay nhanh hơn âm thanh – một lần nữa, tôi lại ngạc nhiên trước cơ hành của hệ thống “giao thông” mà tôi gọi là “hệ thống giao thông vô hình” – rồi thì mọi người tấp nập đến … xem: Ai cũng hiện vẻ khẩn trương đạo mạo trên nét mặt, chứng tỏ họ cũng như tôi đều hiểu rõ tính chất cấp kỳ quan trọng khi cần phải quyết định. Cô bác sĩ Monica gần tôi và ngước mắt như thầm hỏi. Tôi nhún vai và nói nhỏ:
– Phải chờ cái đã.
Ngồi trên chiếc ghế sắt, trong góc phòng mồ, tôi xét thầm lại những trường hợp quần đinh đã gặp từ trước đến giờ. Tôi lại nghĩ đến phương pháp trị liệu và nghĩ đến Pollender, người đầu tiên đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh của quần đinh. Rồi Robert Koch tiếp tục công cuộc khảo cứu của Pollender và đã cấy được một loại nguyên chất của vi trùng đó. Tôi cất tiếng nói với mọi người:
– Nếu vi trùng quần đinh, hay bệnh than là vi sinh thể lần đầu tiên được tìm thấy bởi nó như những chiếc gậy khá lớn (dĩ nhiên qua kính hiển vi). Ngay cả những kính hiển vi cũ kỹ và thô sơ nhất thời ấy cũng đủ để phân biệt kẻ sát nhân này với thứ vi trùng khác, được người ta đặt cho các tên mỹ miều là chùm cầu vàng. Ở viện Robert Koch, tôi đã có dịp ngắm qua kính những hình chiếc gậy nhỏ ở đầu có vỏ bọc tròn, hay những chùm len lạ kỳ giống như những chùm tóc nhỏ trên dung dịch cấy (bouillons de culture). Tôi kể tiếp về những biến chứng và đặc tính của bệnh: bệnh than ruột (charbon intestinal) do ruột hấp thu thức ăn có khuẩn cầu vàng (staphylocoques); bệnh rẻ rách “maladie des chiffonniers” hay bệnh than phổi (charbon pulmonaire) là “bệnh của những người đổ rác” với mụt mủ cấp tính, là một thể quần đinh ở da. Quần đinh ở da cũng do những lông thú vật nuôi trong nhà mắc bệnh than hay do các y phục da thuộc. Trong trường hợp này, bệnh nhân chắc bị nhiễm trùng bởi những lông bờm ngựa thường dùng trong các xưởng làm nệm. Nhưng may thay – đến đây, tôi cất cao tiếng giảng cốt để bệnh nhân nghe thấy – da không bị trầy hay thủng thì không ngại gì cả.
Rồi hạ giọng tôi tiếp:
– Trái lại, nếu vi trùng nhập vào máu thì nguy đến tính mạng. Không có một phương pháp nào để chữa trị chứng nhiễm trùng huyết chùm cầu (septicémie staphylococcique) còn về nguyên nhân gây bệnh, các bạn chắc còn nhớ những cuộc thí nghiệm kỳ lạ của Besredka về vai trò bí hiểm của da. Hôm nay, tôi thấy những điều tôi giảng dạy thiếu nhiệt tâm. Đề tài rất hấp dẫn nhưng tôi không thể tập trung tinh thần được. Nặng trĩu như một gánh nặng siêu nhân, trong ý tưởng tôi chỉ có một câu hỏi khủng khiếp đang ngự trị: kết quả khám nghiệm vi rùng học ra sao? Nếu như tôi dự liệu miếng kính quết mủ ấy có chùm cầu vàng Pfaundler không khó khăn và lâu gì mà chưa tìm ra. Không thể nói tiếp nữa, tôi đành ngừng tiếng. Đôi mắt lơ đãng nhìn vào khoảng không rồi chờ đợi; cơn căng thẳng lo nghĩ này và sự im ắng toàn diện này càng không thể chịu được.
Bỗng nhiên chuông điện thoại reo vang. Mọi người giật mình. Tôi chưa đứng dậy, Monica đã nhảy đến và cầm ống nghe lên. Vô tình, tôi nín thở. Có phải Pfaundler không? – Tiếng Monica.
– Không ạ! Không phải đâu ạ. Tôi không biết, để tôi gọi tổng đài.
Tôi thở dài. Gọi điện thoại nhầm giữa lúc đang căng thẳng và chờ đợi này! Monica đi về phía tôi.
– Người ta gọi Bác sĩ Heller.
Nàng nói như thể xin lỗi đã làm chúng tôi thất vọng. Lại chờ đợi. Trong im lặng căng thẳng. Qua cửa sổ tôi thấy những đám mây như những chiếc bánh phồng tôm, nặng trĩu mưa, bay từng đàn nhè nhẹ và chậm chạp càng thử thách sự kiên nhẫn của tôi. Pfaundler đến đâu rồi? – Có lẽ hắn quên rồi, – tôi không thể để người bệnh nằm hoài trên bàn mổ được! Khốn nạn – chắc hắn còn căng thẳng và lo nghĩ hơn cả tôi. Tôi tưởng tượng Pfaundler trong phòng thí nghiệm, tôi nhẩm thầm những công việc hắn đang làm. Tôi thấy khuôn mặt hắn luôn luôn nhuốm buồn. Có lẽ hắn đang giữ ống nghiệm lên tầm mắt đểnhìn vào kính hiển vi. Hắn đã tìm thấy kẻ sát nhân chùm cầu vàng hay không? Tuy vậy tôi có thể tự an ủi: Pfaundler là người rất có lương tâm, có thể tin tưởng hoàn toàn nơi hắn. Khổ thay, vì có tính cách quyết định quan trọng, hắn phải rất tỉ mỉ, vậy phải làm thật chính xác vì vậy phải chờ vì … lâu! Người bình tĩnh nhất trong bọn chúng tôi lại là bệnh nhân. Chỉ có một lần, hắn nhìn tôi như muốn hỏi điều gì. Xong, có lẽ tự hổ thẹn với chính mình vì không đủ kiên nhẫn, hắn quay mặt nhìn vào tường và lại nằm bất động.
Sau cùng, chuông điện thoại lại reo vang. Lần này tôi đến nhấc ống nghe. Nhưng vì tay còn đeo găng khử trùng, nên tôi nhờ Monica đặt ống nghe sát tai tôi. Ở đầu dây, giọng Pfaundler thật thờ ơ và bình tĩnh lạ thường.
– Kính anh, tôi đã xét rất kỹ càng nhưng không thấy gì cả, -không có gì cả! Miếng kính sau khi nhuộm thấy có vài chú vi trùng tròn và dài nhưng không có một cô chùm cầu tóc vàng nào. Muốn chắc hơn, tôi lại quệt miếng gạc vào một miếng kính và lại nhuộm không thấy gì cả Killian ơi!
– Vâng. Vậy không phải là quần đinh phải không? Ý kiến của anh là vậy phải không?
– Đúng thế.
– Vậy là một nhọt bọc da đầu phải không?
– Tôi không biết. Cái đó tôi không biết được. Người bệnh của anh, tôi biết làm sao được.
Tôi chỉ có thể bảo đảm với anh một điều: sau khi khám nghiệm các tấm kính anh gửi đến cho tôi, đây không phải là một quần đinh. Hắn còn nói thêm vài lời nữa, nhưng giọng nói bỗng nhiên nhẹ hẳn, ngập ngừng hình như lắp bắp vài câu. Quay đầu lại tôi thấy tay Monica run cầm cập. Mặt nàng tái mét. Tôi khẽ nói với Monica.
– Bác sĩ ơi! Làm gì mà run vậy.
Rồi nói vào ống điện thoại:
– Cám ơn ông anh nhé, kính chào đại ca.
Monica đặt ống nghe lên máy điện thoại. Nhưng tôi không thể nào rời máy. Tôi từ chối không thể hiểu được những điều Pfaundler vừa nói với tôi. Đáng lẽ tôi phải mãn nguyện, Pfaundler đã hùng hồn trả lời: tôi có lý nghĩa là án chẩn của Bác sĩ Siegel nhầm lẫn: không phải là một quần đinh. Tuy vậy tôi không cảm thấy mãn nguyện. Trái lại, gánh trách nhiệm hình như còn đè nặng hơn trên đôi vai tôi. Trong khoảnh khắc một vài giây, tôi phải xua đẩy ý nghĩ một điều thảm khốc đổ vỡ không thể tránh được và sắp sửa xảy ra. Sau cùng, tôi lấy bình tĩnh và quay về phòng mồ.
Tôi báo cho bệnh nhân hay:
– Không phải là quần đinh đâu ông ạ! Ông Bác sĩ chuyên khoa về vi trùng học vừa xác nhận với tôi xong, không tìm thấy gì cả.
Rồi, trong im lặng, tôi sửa soạn mở nhọt bọc. Cô y tá đứng cạnh bàn đựng đồ mổ đang chờ lệnh. Một lần cuối tôi nhìn lại chỗ vẩy mục trắng trắng kỳ dị kia, một vết nhỏ nhoi trong đám thịt sưng đỏ như hoa phượng. Người bệnh, mím chặt đôi môi, quay mặt nhìn tôi không chớp mắt. Tôi nhìn lại người thợ làm nệm và giơ bàn tay phải lên: Đó là một hiệu lệnh gần như một nghi thức cổ truyền: Cô y tá đã đưa vào tay tôi con dao mổ dáng điệu rất chính xác và máy móc. Tôi sắp sửa mổ.
Cánh tay trái bệnh nhân đặt trên một chiếc giá. Một anh sinh viên buộc dây cao su để làm nổi mấy lần gân xanh căng phồng. Sau khi bôi cồn lên da, anh cầm chiếc ống tiêm đựng thuốc: Một dung dịch vàng nhạt, thuốc EVIPAN lóng lánh trong ống, Anh lại dựng ngược ống tiêm và đẩy những bọt không khí qua kim tiêm. Vừa nhìn hắn làm, tôi cảm thấy căng thẳng không thể cắt nghĩa được. Chưa bao giờ, trước khi mổ tôi lại có thể căng thẳng đến thế; như máy, tôi quay về phía trái chỗ cô y tá đang chờ đợi: tôi bắt gặp ánh mắt của Monica. Nàng đã đi quanh chiếc bàn và lẳng lặng đứng trước mặt tôi. Đôi mắt nàng to và đen như đôi mắt nai, mọi khi rất bình tĩnh, hôm nay lộ vẻ lo sợ không thể kìm hãm được, một vẻ lo ngại gần như mất trí. Tôi có cảm tưởng đôi mắt ấy cố gắng hỏi tôi một lần chót: “Có chắc là anh có lý không, có chắc không? Hoàn toàn chắc không?”
Lúc đó, có điều gì nổi lên trong tâm trí tôi như một sức kháng cự điên dại không thể kiểm soát được. Không, tôi không chắc gì cả phải có một việc nhầm lẫn nào, một điều nhầm lẫn ghê sợ. Tôi đặt con dao mồ xuống và hét lớn:
– Tôi không muốn. Tôi không thể tin được! Không thể được!
Như trời trồng và ngạc nhiên hết sức, mọi người trong phòng mổ đứng đơ như tượng đá câm như hến. Tôi cầm tay anh sinh viên đang sắp sửa chích thuốc vào tĩnh mạch …
– Để tôi lấy thử lần nữa xem sao. Lúc nãy tôi sợ chưa đi vào sâu.
Cố chống lại xúc cảm còn ghì chặt lấy cổ, tôi lại hơ chiếc que platine lên đèn cồn và cúi xuống thái dương sưng tấy của người bệnh, liền đó, một dòng mủ chảy từ chỗ hồng bị loét; tôi còn đem theo cả một đám thịt bị thối mà không chảy máu gì cả. Tôi không quệt lên kính nữa, mà để cả vẩy dính đầy mủ và thịt tróc vào một ống nghiệm đã khử trùng rồi lấy bông đậy lại. Không ai dám nói khi tôi đang làm công việc tế nhị này.
Nhưng, trong đầu tôi, nổi lên một cuộc đối thoại, đối thoại với chính mình. “Tại sao mình làm vậy? Có phải vì đôi mắt đẹp của cô bạn đồng nghiệp biểu tỏ một niềm lo sợ vô vọng? Có phải vì đến phút sắp mổ, một sức mạnh không thể kìm hãm nổi đã ngăn cản? Hay đúng hơn vì tự hào – niềm tự hào vô lý vì Pfaundler đã trả lời rõ ràng rành mạch như vậy? Thế mà, Pfaundler, mình biết rõ hắn hơn ai hết, hắn không phải là tay gà mờ, mỏ trắng (blanc bec), hắn được mọi người mến phục và tin tưởng … “
Tâm trạng con người thật kỳ diệu: không thể chấp nhận lời trách móc hay mắng mỏ vì đã hành động trái với lý trí và biện luận. Tôi đã phản ứng thật tự nhiên, gần như không tự nhận biết, phản ứng với chính những lời tố cáo của mình. Bác sĩ Siegel đã chẳng định bệnh là quần đinh rồi đấy ư? Một y sĩ già lành nghề tại khu ngoại ô kỹ nghệ này hơn ba mươi năm trời phải có nhiều kinh nghiệm và đã gặp nhiều trường hợp quần đinh hơn tôi, một y sĩ đã hết mình theo chí hướng, luôn luôn nhạy cảm và nhiệt tâm không bao giờ chấp nhận một án chẩn vội vã … Nên tự tin vào điều phê phán của chính mình, còn hơn là dựa trên độc có một miếng kính quệt mủ! Nhưng tôi không muốn vỗ về tự ái riêng tôi, nói đúng hơn tôi không muốn tự dối mình về bào chữa: những lý lẽ đẹp đẽ trên, tôi thấy đúng và thật lắm chứ không phải đến cùng một lúc và có tính cách quyết định. Ngay giây phút rời bỏ con dao mổ, tôi đã tuân theo những điều khác, rõ hơn là do một sức mạnh thầm kín, không thể phân tích rõ được và cũng không thể định nghĩa cho được. Một sức mạnh, tùy theo tâm tính hay niềm tin cá nhân, có thể gọi là “linh tính”, hay “lý trí”, hay “thần linh run rủi”.
Trong khi đó, Charles, sứ giả của tôi cử đến Viện Pasteur đã về … một lần nữa? Chưa biết thế nào cả.
-Em đem ống này đến Bác sĩ Pfaundler. Tôi sẽ gọi điện thoại cho ông ấy ngay. Nhanh lên nhé. Cần lắm.
Hắn cầm ống nghiệm và chạy bổ xuống cầu thang. Phần tôi cũng nhảy xổ đến điện thoại.
– Cho tôi nói chuyện với viện Pasteur, – Bác sĩ Pfaundler.
Vâng. Cũng số ấy … lẹ lên !… lẹ lên!
Ống nghe hầu như muốn chuồn khỏi đôi tay tôi. Bất nhẫn và nổi nóng, tôi giật tung đôi găng tay cao su. Nửa phút sau, giọng Pfaundler ở đầu dây.
– Xin lỗi anh lại phải nhờ anh … thử lại xem … một lần nữa …tôi chưa thể mổ được. Tôi đã đi sâu vào thêm nên lấy một lần nữa đấy. Tôi có lấy cả vẩy nữa. Nhân viên sẽ đem đến anh ngay, hắn vừa đi xong. Mong anh giúp cho, xem lại kính hiển vi hộ cho nhé. Có gì báo ngay cho tôi nhé. Tôi vẫn chờ đấy. Ở trong phòng mổ …
Tôi đã đoán trước phản ứng của Pfaundler. Đối với hắn chỉ có một ý nghĩa: Tôi không hoàn toàn tin ở hắn. Nhưng bây giờ không phải là lúc nói đến chuyện tự ái, nể nhau và tế nhị nữa. Khi trở vào phòng mổ; người bệnh, vẫn nằm trên bàn mồ, quay nhìn về phía tôi. Tôi cảm động và bỡ ngỡ khi thấy trong ánh mắt còn mở của người bệnh hiện niềm tin tưởng trọn vẹn. Nụ cười tôi làm hắn bình tĩnh hơn, hắn lại mỉm cười trả lại như cũng để ủng hộ tôi. Tôi lại ngồi trên chiếc ghế đẩu trong một góc phòng gần cửa và lại vùi mình trong tư lự: Linh tính, lý trí. Những điều ấy có thật không? Và nếu có, ta có thể nào tin được những điều ấy không?
Quả thật là những câu hỏi tư lự mà con người, nếu chân thành với chính mình không bao giờ dám tự trả lời. Những phút chầm chậm lại lê bước làm sưng tấy ý nghĩ trong im lặng nặng nề. Chưa bao giờ tôi lại hiểu rõ thời gian là một ý niệm tương đối như thế! Tôi luôn luôn nhìn đồng hồ quả lắc. Charles phải đến Viện Pasteur từ lâu rồi! Pfaundler chắc đang nhuộm màu đây …
Monica, đứng gần tôi không thể im lặng được nữa.
– Bác sĩ có muốn tôi gọi điện thoại Viện Pasteur không? –
Nàng nói như thầm thì năn nỉ. Tôi cũng trả lời rất nhẹ:
– Không cần. Chỉ làm rộn anh Pfaundler thôi. Anh ấy không chậm một phút nào đâu. Anh ấy hiểu rõ tình hình ấy. Lại im lặng. Bên ngoài ngay trước cửa sổ, vài con quạ bóng dáng ẩn hiện trên màu xám của đám mây, đang kêu inh ỏi để tránhgió. Nếu tôi là người xưa, tôi sẽ tin đó là điềm xấu; nhưng ngay trong thời đại này, tôi tự nhủ, có lúc con người không dễ gì xua đuổi những điều dị đoan cũ mèm ấy …
Hai mươi lăm phút rồi … thật không thể hiểu được. Hay Charles bị tai nạn gì? Tôi nghĩ đến chỗ hay xảy ra tai nạn nhất là “chỗ quẹo đỏ” – chỗ này con đường quẹo và gặp một chiếc cầu dành cho xe lửa. Chỗ này xe cộ đi nhiều như mắc cửi hơn nữa xe nhỏ hay vượt mặt các xe hàng nặng chở gỗ và xi măng. Không thể chịu được, tôi đi bách bộ từ bàn mổ đến chỗ đặt điện thoại. Có lúc, tôi ngừng trước máy, chống chọi với mình để không gọi điện thoại cho Pfaundler. Chuông điện thoại reo khi tôi quay về phía bàn mồ lần thứ 50. Hai bước nữa tôi đến cầm ống nghe.
– Allo, đây là phòng mồ …
Tôi nhận được giọng Pfaundler. Trái lại, mới đầu không thể hiểu được Pfaundler nói gì bởi hắn nói nhanh quá. Hiển nhiên, hắn xúc động quá. Đừng mồ – Đừng mổ nhé … Đừng mổ nghe! Nếu mổ thì đi đời rồi!… Ghê quá … Đầy vi trùng. Chùm cầu vàng đầy cả như một canh cấy!
Trong khoảnh khắc, tôi không thể nói được lời nào. Pfaundler lại càng không hiểu tại sao tôi im lặng. Hắn hét như tuyệt vọng.
– Có nghe tôi nói không? Có hiểu không? Trả lời đi! Anh đã …
– Không. Cứ an tâm. Không có gì cả. Tôi chưa mổ.
Tôi đặt ống nghe. Bỗng nhiên tôi cảm thấy như quay cuồng đứng không vững. Hai chân run run, tôi phải tựa vào tường. Phải mất hơn một phút mới có thể vào được phòng mổ. Cơn bão vừa qua, tôi trở lại và nói lớn:
– Không mổ đâu. Anthrax đó.
Không ai nói được cả nhưng tôi nghe thấy như mọi người đều thở nhẹ nhõm. Bầu không khí căng thẳng đã nới rộng. Cố làm vẻ bình tĩnh, tôi cúi xuống nhìn bệnh nhân và một lần nữa tôi lại quan sát nhọt mủ có vẩy mục trắng đã làm khó tôi không nhỏ? Bỗng nhiên một ý nghĩ lóe lên. Tôi hỏi người bệnh:
– Bác sĩ Siegel có bôi gì vào cái nhọt mủ ở thái dương cho ông không?
– Có ạ. Ông ấy nói thoa bằng acide nhiều khi hay lắm.
Tôi khẽ à một tiếng. Tại sao tôi không nghĩ sớm hơn? Có thể Siegel đã bôi acide trichloroacétique nên nó mới mọc vẩy trắng. Chỉ một chi tiết nhỏ này thôi nếu biết trước có phải đỡ lo đỡ sợ không.
Bây giờ, thật là rõ như ban ngày. Tôi đặt lên chỗ sưng đỏ những miếng gạc khử trùng thấm vaseline rồi quấn lại. Tôi bảo đem bệnh nhân xuống phòng và thấy Monica bước vội khỏi phòng mồ. Tôi liền theo nàng bén gót. Mặt tái mét, đôi mắt nhắm chặt, nàng tựa vào tường. Tôi khẽ nói:
– Thế nào – Tôi không muốn ai nghe câu chuyện giữa chúng tôi nên tôi nói như thầm thì – sao vậy cô? Có thế mà sao đa cảm đa sầu vậy?
Nàng mở mắt và khẽ cười:
– Xin lỗi … thế là xong rồi. Vài hạt nước mắt còn dính trên mi. Cảm động vì lòng can đảm của Monica, tôi suýt ôm nàng. Lúc bấy giờ tôi vẫn chưa biết nàng sẽ là vợ tôi. Chúng tôi lại vào phòng mổ. Mấy người y công lại dẫn một bệnh nhân khác đến. Công việc thường ngày lại tiếp tục, luôn luôn bận rộn cho đến chiều.
Khi màn đêm xuống đã từ lâu. Tôi rời bệnh viện, mệt nhọc, tôi gặp chiếc băng ca trên có một xác người mặt phủ bằng tấm khăn trắng đang tiến ra cửa sắt. Tôi hỏi ông gác-dan:
– Hôm nay có người chết à?
– Vâng. Bà cụ sáng nay đấy! Bác sĩ quên rồi ư?
– Phải, tôi nhớ ra rồi. Phải, thật chua chát một đám tang tốn ít tiền …
Rồi ngày qua trong việc bận rộn ở phòng mồ, phòng nhận bệnh … Tôi quên không nghĩ tới Bác sĩ Pfaundler.
Đêm hôm đó, tôi bị dựng dậy bởi chuông điện thoại.
– Bác sĩ Killian đây hả? Tôi là vợ Pfaundler đây. Phiền bác sĩ đến hộ. Chồng tôi …
– Bị tai nạn hả?
– Không ạ. Nặng hơn. Chỉ có bác sĩ mới giúp được anh ấy. Van bác sĩ, xin bác sĩ đến cho.
Giọng người đàn bà run run, lo sợ cả lời nói. Tôi không thể điếc trước lời gọi cảm động ấy. Khi ra đến cửa, mưa lạnh như cắt làm tôi tỉnh hẳn. Mười lăm phút sau, tôi bấm chuông nhà Pfaundler. Bà Pfaundler đã mở ngay.
Bà đã đợi từ lúc điện thoại cho tôi.
– Không biết làm sao để cảm tạ bác sĩ đã đến. Tôi lo quá có lẽ phát điên mất …
Qua hành lang, bà chỉ vẻ mệt mỏi cánh cửa trắng đã róc sơntừng mảng.
– Cũng may các cháu ngủ cả. Bác sĩ đưa tôi mắc cái áo mưa …
– Có việc gì đấy ạ?
– Chồng tôi đi làm về nom tiều tụy quá. Anh ấy không ăn tối. Vào ngay phòng làm việc vẻ thất vọng, buồn bã chẳng nói chẳng rằng. Theo chỗ tôi biết và suy đoán ra, anh đã phạm một lầm lỗi lớn. Anh ấy luôn miệng nói suýt nữa gây nguy hiểm đến tính mạng một người bệnh. Xin bác sĩ giúp cho … chỉ có bác sĩ thôi.
Bà ngừng lại và úp mặt vào hai bàn tay khóc thút thít. Hơi ngượng nghịu, tôi giả vờ khó mở những chiếc khuy áo mưa. Thiếu phụ đang khóc và tuyệt vọng này. Tôi biết lắm. Tôi biết nàng khi thành hôn với Pfaundler, nhí nhảnh ngây thơ và duyên dáng … Hôm nay, bà có vẻ già trước tuổi, chồng bận việc ở phòng thí nghiệm, năm con mọn phải chắt chiu mới đủ tiêu. Lương tháng của chồng cũng vừa đủ ăn tuy dạy thêm và làm việc cho vài hãng của chồng cũng không mở mày mở mặt cho lắm!
Tuy vậy Pfaundler là một thiên tài giỏi và rất thông minh, ông đã viết nhiều bài nói về các công việc nghiên cứu của mình nên tên ông rất quen thuộc trong giới y học. Nhưng khổ thay ông luôn luôn làm việc say mê trong tháp ngà nên không thể nhận thấy cuộc sống chắt chiu, dè sẻn gần như luôn luôn thiếu thốn đã làm khổ vợ mình. Cha hiền, chồng thảo Pfaundler đã hết mình làm việc quầnquật để bù vào chỗ thiếu thốn ấy cho gia đình êm ấm hơn. Nhưng trên con đường chức nghiệp Pfaundler đã chọn, không phải trải bằng tiền rừng bạc bể.
Tôi hỏi nhỏ:
– Chính ông nhà đã bảo bà gọi tôi đến đấy à?
– Không ạ. Anh ấy không biết tôi đã gọi điện thoại cho bác sĩ. Tôi van bác sĩ, hãy cố khuyên nhủ anh ấy hộ tôi.
Tôi đẩy cửa phòng làm việc. Pfaundler, gục người trên bàn, đầu úp vào đôi bàn tay run rẩy, tuyệt vọng. Anh như thẫn thờ cả người không biết gì cả. Lâu lắm mới nhận được ra tôi. Sau cùng, anh quay đầu lại và rất ngạc nhiên, đứng dậy phía tôi.
– Anh đấy à … khuya rồi … À tôi hiểu, chắc là vợ tôi … xin lỗi đã làm phiền anh đến đây … có lẽ nàng có lý …
Đến đây anh ngừng tiếng và cúi đầu. Khuôn mặt sắc sảo và thông minh đang bị tuyệt vọng vô bờ tàn phá và hằn từng nét. Con người đứng trước mặt tôi đã phải đau đớn biết bao trong khoảng thời gian vài giờ trước đây! Anh mời tôi ngồi rồi phịch xuống chiếc ghế bành.
– Cảm ơn anh khuya khoắt thế này mà anh cũng đến. Thành thật cảm ơn anh. Tôi hết cả sức lực, không thể nào nghĩ được và tập trung tư tưởng nữa anh ơi. Sau khi gọi điện thoại cho anh, sáng nay tôi không tiếp tục làm việc nữa. Tôi ngừng hết cả công việc, ngay cả công việc nghiên cứu của tôi nữa. Tôi về nhà suy nghĩ hầu lấy lại sức lực: Nhưng không thể nào được, hối hận quá, tôi xúc động quá. Tôi không thể nào suy nghĩ mọi chi tiết sáng nay: Tôi đã đi đến một sự lầm lẫn không thể tha thứ được. Tôi cảm thấy có lỗi. Không, anh đừng chống chế, tôi biết là tôi phạm lỗi. Bây giờ, vì anh đã có lòng tốt tới đây, tôi cần phải nói với anh điều gì đã xảy ra. Tôi nợ anh sự thật, tất cả sự thật. Anh có chấp nhận nghe tôi nói không?
– Chắc chắn rồi, cho dù tôi tới không phải vì điều đó. Anh đã phạm một sai lầm, đúng như vậy, nhưng có ai mà không sai phạm, ngay tôi cũng vậy …
– Tôi xin anh, hắn ngắt lời tôi. Tôi phải thoát ra khỏi gánh nặng này. Anh thấy tôi chẳng đáng có một thứ lỗi nào. Tôi phải nói ngay rằng cú điện thoại thứ hai của anh đã làm tôi lấn cấn. Dĩ nhiên anh nghĩ rằng tôi phải cần thêm một mẫu thử thứ hai để làm lại cùng một xét nghiệm. Nhưng không phải như vậy. Tôi hiểu rõ và cũng hiểu ngay rằng anh muốn có được tất cả những bảo đảm có thể có được. Lúc đó tôi đang theo đuổi các công trình khảo sát khó khăn, và đúng sáng nay, các công trình của tôi tới điểm quyết định. Tôi có cảm tưởng giải pháp vấn đề là trong tầm tay của mình. Có lẽ anh đã biết và cũng trải qua như vậy, với sự xúc động đặc biệt mà người ta cảm nhận được trong khoảnh khắc. Người ta như phát sốt, cảm thấy rằng chỉ trong vài phút tới là đi tới quyết định thành tựu hay thất bại của một công trình kéo dài bao nhiêu tháng trời … Và lúc đó, có cú điện thoại thứ hai của anh! Khi nhân viên của anh đạp xe tới mang theo mẫu thử, tôi đưa cho cô xét nghiệm viên bảo chuẩn bị nhuộm mẫu thử. Rồi tôi trở lại với công việc của mình. Trong vòng 10 phút, cô ta làm xong và kêu tôi tới đọc các mẫu nhuộm. Tôi phải thú nhận rằng khi ngồi trước kính hiển vi tôi không chờ đợi một ngạc nhiên nào. Sau hết, tôi cũng đã xem xét cùng một mẫu nghiệm ấy ngót một giờ trước đó và không phát hiện ra một con khuẩn cầu vàng (staphylocoque doré) nào. Nhưng lần này ngay khi tôi dán mắt vào ống kính, tôi nhảy nhồm lên và như ngã ngửa trên ghế. Trên tấm kính chi chít những vi khuẩn! Kinh hoàng, tôi phải bám vào bàn, hai chân muốn khuyu xuống, mồ hôi lạnh toát chảy dọc sống lưng. Một cách ngớ ngẩn, tôi tự hét lên:
“Xem đây, đầy những khuẩn cầu vàng!”
Cô xét nghiệm viên chạy tới, cả những cô gái làm việc trong các phòng khác cũng ùa tới, luân phiên nhau, cúi mình trên ống kính hiển vi. Tôi tách ra khỏi họ, phóng tới chiếc máy điện thoại. Trong nỗi xúc động, tôi không còn nhớ được số điện thoại của anh, mặc dù đó là con số tôi biết rõ trong nhiều năm! Rồi cũng tìm thấy và cũng hai lần bấm lộn số. Tôi không thể mô tả được với anh cảm giác nhẹ nhõm là thế nào khi nghe giọng anh nói: “Tôi chưa có mổ!”
Anh ta im lặng, như kiệt sức sau câu chuyện dài. Tôi gật đầu nói:
– Tôi cũng tưởng tượng cảnh trí gần như vậy. Chỉ còn một điểm mà tôi chưa hiểu được: tại sao kết quả xét nghiệm đầu tiên lại có thể là âm tính?
Tôi hoàn toàn không muốn tìm cách chê bai anh ta, câu hỏi của tôi chỉ nhằm làm sáng tỏ một chút bí ẩn kỹ thuật (mystère technique) trong cuộc nói chuyện giữa tình bạn đồng nghiệp. Tôi ngạc nhiên về phản ứng của anh ấy. Pfaundler đứng bật dậy như chiếc lò xo, nhìn tôi vẻ kinh hãi, rồi rơi người xuống chiếc ghế bành nói như rên rỉ:
– Đúng vậy, giọng anh ta như thắt lại, đó mới là thảm kịch. Sau khi đặt ống điện thoại xuống, tôi lấy lại các mẫu thử đầu tiên với sự trợ giúp của cô xét nghiệm viên, đặt dưới ống kính hiển vi và xem xết kỹ từng millimètre một. Và lúc đó, trong vòng nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi bỗng phát hiện nơi góc của miếng kính xét nghiệm (lamelle) hai vi khuẩn hình gậy (bâtonnets), không thể chối cãi được đó là khuẩn cầu vàng! Hiển nhiên chỉ có hai, nhưng tôi phải thấy chứ. Tôi không có quyền không thấy chúng. Anh ta có một cử chỉ như bất lực và quay mặt đi. Tôi ngắm khuôn mặt người bạn, biểu hiện sự cố gắng không ngừng của nhà nghiên cứu với cả những khiếm khuyết, khuôn mặt ấy bỗng chốc biến dạng thành đau đớn. Một con người mà tôi ngưỡng mộ, một đồng nghiệp đang bị xâu xé bởi những hối hận, – tôi phải tìm cách giúp anh ấy lấy lại sự quân bình.
– Tất cả đều tốt, kết thúc tốt. Tôi nói với giọng an ủi. Vào phút chót, tôi đã không mồ, như một linh cảm (presssentiment), hay như từ một tiếng nói bên trong đã ngăn tôi lại. Người bệnh sống và rất có thể sẽ xuất viện. Cử chỉ của một bàn tay vô hình đã ngăn tôi lại, bàn tay mà tôi nhận được như món quà của trời đất (un cadeau du ciel). Cả anh nữa, anh có muốn nhận phần anh trong món quà đó không?
Anh ta nhìn tôi với vẻ hoài nghi. Tôi đưa bàn tay ra. Anh ta siết chặt bàn tay tôi rất lâu, môi anh run run.
– Đó không đơn giản là một linh cảm, giọng anh ta như thì thầm. Đó là một ước nguyện cao cả (volonté supérieure); anh đã có lý, tôi cũng xin chấp nhận món quà ấy.
Ba tuần lễ sau, tôi gọi điện thoại cho Viện Vi trùng học:
– Bác sĩ Pfaundler đấy phải không? Anh còn nhớ trường hợp bệnh than trên đầu không? Rất vui là người bệnh ấy đã xuất viện.
NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC
[Tình Thương Số 23-24-25-26,
tháng 11-12,1965 tháng 1-2, 1966]
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.