Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 16 Jan 2026

Bài 16.

Thác chảy trong đầu

Trong những Lá Thư viết ở Cối Xay Gió, Alphonse Daudet đã kể lại sự tích Người Có Bộ Óc Vàng. Câu chuyện tànkhốc của một chàng trai, nhân bị tai nạn, đã để lộ cho cha mẹ thấy mình có một bộ óc bằng vàng khối. Ngay sau đó, kho vàng được khai thác. Lần lượt gia đình, bè bạn, rồi ngay đến cả người yêu của

chàng trai khốn khổ, kéo đến làm việc ở mỏ vàng ấy. Cho đến một ngày, chàng thiếu niên, hai bàn tay đầy máu, móng tay tuột hết, cậy nốt mảnh vàng còn sót lại trong đầu. Daudet kể chuyện ấy như một ngụ ngôn nói lên tình cảnh của người lao tâm khổ trí; nhưng tôi chỉ thấy trong đó có nỗi uất hận của một thi sĩ mà tâm hồn đã bị thương tổn nặng nề. Tuy nhiên, ngày kia, trước một trường hợp cực kỳ bi đát, tôi mới hiểu rằng sự thật ở cõi đời này đôi khi còn vượt quá xa trí tưởng tượng phong phú và táo bạo nhất.

Tôi đang đi thăm bệnh buổi sáng như thường lệ thì được báo  có bác sĩ Richter, y sĩ trưởng và giám đốc một bệnh viện lớn ở Ruhr, muốn nói chuyện với tôi qua điện thoại.

– Xin lỗi đã làm phiền anh, anh Killian. Mới đây, tôi có đọc trong Tạp chí Y-học, một bài của anh viết về những bướu hơi (1) …Bài rất hay … vì thế tôi mong anh sẽ nhận giùm tôi một “ca” … Bệnh nhân này có một bướu hơi trong đầu, to bằng quả trứng vịt; hơn nữa, nước trong óc chảy ào ào qua lỗ mũi trái, như thể có cả một cái thác trong đầu. Áp suất nước trong đầu rất cao … Để tôi gửi đến anh xem.

– Được lắm, tôi đang muốn thử chữa xem sao. Thực tình, tôi rất nóng lòng được khám người bệnh này. Trong bài báo của tôi, tôi đã tóm tắt tất cả các trường hợp bướu hơi mô tả trong những tài liệu y khoa từ trước tới giờ, rồi thêm vào một ít nhận xét riêng. Tất cả chỉ có 27 trường hợp, và thế là giờ đây tôi sắp được khảo sát trường hợp thứ 28.

Bác sĩ Richter tiếp lời:

– Vậy thì còn gì bằng. Nhưng lúc nào tôi gửi bệnh nhân đến anh được?

– Càng sớm càng hay. Dù sao cũng nội nhật hôm nay thôi chứ!

– Thế cũng được. Chắc bệnh nhân sẽ đến anh vào lúc chập tối. Vả lại không phải chỉ có mình ông ta thôi đâu. Tội nghiệp, cả một đoàn tùy tùng gồm ba ông lớn trong Sở đi theo. Khó chịu lắm đấy, vì ba vị này bám lấy bệnh nhân dai như đỉa đói, hòng móc cho được một phương thức gì đó. Rồi anh xem, nếu họ không đến quấy rầy anh ngay từ chiều nay, thì muộn lắm cũng là sáng mai. Thôi chào anh, chúc anh và bệnh nhân của anh may mắn nhé!

Khoảng 6 giờ chiều, người ta vừa cho tôi biết bệnh nhân đến, thì chừng một phút sau người gác cổng bệnh viện báo rằng có ba ông khách xin gặp tôi ngay vì “có việc rất khẩn cấp”. Tò mò về những lời giải thích nửa chừng của bác sĩ Richter tôi nhận tiếp họ ngay, trong khi tôi cho đặt bệnh nhân nằm trong một phòng yên tĩnh. Trông ba ông khách theo sau người nữ thư ký của tôi bước vào, tôi bỗng liên tưởng đến những ống đại quản cầm. Người đầu tiên nhỏ thó, theo sau là một ông người tầm thước và ông đi đoạn hậu cao xấp xỉ hai thước. Ông nhỏ người nhất, khoảng năm mươi tuổi, đầu sói bóng, bụng phệ, da dẻ hồng hào, tia mắt khắc nghiệt, bắt đầu tự giới thiệu là tổng giám đốc một xưởng đúc  sắt lớn, hai bạn ông: người cao vừa là giám đốc kỹ thuật, còn ông cao nhất là trưởng phòng nhân viên.

Ngồi chưa nóng chỗ, ông giám đốc vào đề ngay:

– Thưa giáo sư, chúng tôi đến để xin hầu chuyện giáo sư về ông bạn Reinhardt, bệnh nhân vừa được bác sĩ Richter gửi đến giáo sư. Ông Reinhardt là trưởng phòng nghiên cứu trong xưởng chúng tôi. Giáo sư chắc đã được kể rõ về tai nạn của ông ấy.

Tôi ngắt lời:

– Chưa đâu ạ!

Ngạc nhiên, ông khách nhíu mày như tỏ ý không bằng lòng, rồi ông giải thích:

– Ông Reinhardt bị tai nạn xe hơi khi ở Thụy Sĩ về. Xe hơi trượt bánh, đâm nhào xuống dốc xa lộ. Anh tài xế chết ngay tức khắc, còn Reinhardt thì bị thương nặng ở đầu, được chở về nhà thương, tính đến nay chừng gần ba tháng. Điều tai hại và bi đát cho chúng tôi là như vậy mất một công thức rất cần cho sự sống còn

của hãng.

Đến đây có lẽ tôi đã lộ vẻ bỡ ngỡ, vì thế ông ta vội vàng tiếp luôn:

– Đây, thưa giáo sư, sự thực nó như thế này. Từ mấy năm nay hãng tôi có thử một máy tua-bin phóng lực. Máy này nếu thành công sẽ làm đảo lộn các phương cách sản xuất năng lượng từ trước đến nay. Chúng tôi đã tốn kém nhiều lắm mới thử xong tất cả mọi thứ được một năm nay. Thế mà khi hoàn thành xong kiểu mẫu đầu tiên, chúng tôi mới thấy là kim loại dùng để đúc tua-bin yếu quá, không chịu nổi sức mạnh của máy. Chúng tôi cho phòng nghiên cứu thí nghiệm lại. Thế là lại tốn thêm mấy mươi triệu nữa. Nhưng tiền tiêu không uồng vì chỉ có mấy tháng, Reinhardt đã tìm cách chế được một hợp kim mới, có thể nói là mạnh đến đâu cũng chịu được.

“Bây giờ chắc giáo sư đã thông cảm việc tại sao tai nạn xe hơi này thật là một thảm họa đối với chúng tôi. Dạ, ông kỹ sư trưởng chúng tôi bị mất trí nhớ! Giáo sư có thể tưởng tượng nổi điều này ảnh hưởng đến chúng tôi ra sao không? Nghĩa là, không có phương thức của hợp kim này chúng tôi không thể nào chế tạo được loại máy tua-bin phóng lực mới, chúng tôi sẽ mất bao nhiêu “còm-măng” tính ra đến hơn mấy trăm triệu bạc.

Tôi cũng chưa có thể biết xưởng còn tiếp tục làm việc được nữa hay không. Tóm lại những hậu quả của tai nạn này chắc chắn không thể nào lường được!”

Rút khăn tay ở túi ra, ông lau rất lâu chiếc đầu hói trên đó long lánh mấy giọt mồ hôi.

– Xem nào, tôi nói, chắc thế nào trong các hồ sơ lưu trữ của công ty cũng phải có những điều ghi chú hay những con tính liên hệ đến phương thức hóa hợp của chất hợp kim này chứ?

Ông ta giơ cao hai tay lên trời rồi nói lớn:

– Dạ, thế mới đến nông nỗi bi đát này! Chắc chắn Reinhardt đã ghi rõ phương thức ấy, nhưng hiềm một nỗi chúng tôi tìm mãi không ra. Chắc đã bị cháy cùng với những giấy tờ khác trong cặp vì chiếc xe bị cháy rụi. Thật là một lỗi lầm không thể tha thứ được của ban giám đốc kỹ thuật: họ quên không làm một bản sao mật cho những giấy tờ ấy. Bởi vậy cho nên, bây giờ …

Ông Tổng giám đốc ném một cái nhìn hằn học về phía ông Giám đốc Kỹ thuật. Ông này từ nãy mặt ngơ ngác và chảy dài nay ửng hồng.

– Chắc ông Tổng giám đốc quên rằng cách đây ba năm chúng ta đã bị một vụ gián điệp đánh cắp tài liệu kỹ nghệ tối mật. Còn về phần tôi, tôi thiết tưởng điều hiển nhiên và tối cần thiết là, sau vụ ấy ông Trưởng phòng nghiên cứu …

Ông Tổng giám đốc cắt ngang, giọng hách dịch:

– Thôi. Việc này cứ để đấy!

Rồi ông lại quay về phía tôi.

– Đã kết thúc những điều tôi vừa trình bày với Giáo sư về tình trạng này, xin phép cho tôi được tóm tắt lại những việc đã xảy ra sau tai nạn này. Trong vòng ba tuần lễ Reinhardt như ngây như dại; khi chúng tôi đến thăm, tội nghiệp anh cũng không nhận ra chúng tôi nữa. Khi anh ấy có thể về được nhà tĩnh dưỡng, chúng tôi đã nuôi lại tin tưởng. Anh Trưởng phòng nhân viên đây – ông hất đầu về phía người khổng lồ – cũng đã nhiều lần đến thăm Reinhardt. Anh đã kiên nhẫn hỏi đi hỏi lại nhiều lần mong rút cho được phương thức. Nhưng khốn thay, cố gắng thế nào cũng vô vọng. Tôi lắc đầu. Tôi tưởng tượng thật dễ dàng những buổi “hỏi cung” ấy đã là một cực hình cho bệnh nhân. Tôi nói, giọng hững hờ và dửng dưng:

– Thưa các ông, không biết các ông mong đợi gì ở tôi?

Ông Giám đốc kỹ thuật kêu lên:

– Dạ, tìm cái phương thức ấy ạ.

Còn ông Tổng giám đốc thì có vẻ tế nhị hơn.

– Thưa Giáo sư, chúng tôi mong rằng Giáo sư sẽ giúp anh bạn khốn khổ của chúng tôi tìm lại được trí nhớ.

– Vâng. Tôi hiểu. Thế các ông cho là tôi có thể giúp như thế nào?

Ông khổng lồ tiếp lời:

– Dạ chúng tôi xin góp ý kiến ạ. Sau tai nạn thảm khốc này, chúng tôi đã nghiên cứu về kết cấu của bộ não con người ta. Nếu chúng tôi không lầm thì, hiện nay, chúng ta có thể biết chính xác vị trí trên vỏ não của những vùng điều khiển các cơ năng tâm linh. Ví dụ có trung khu vận động, có trung khu xúc giác, hay lại có những trung khu tính toán, hiểu chữ viết cùng phân biệt màu sắc, v.v … Ta có thể họa một bản đồ của não và mỗi khu có nhiệm vụ điều khiển mỗi cơ năng. Trong trường hợp anh bạn Reinhardt chúng tôi đây, thật hiển nhiên là trung khu trí nhớ đã bị hư hại. Nhân tiện đây, thưa Giáo sư, chúng tôi cũng xin mạn phép được hỏi Giáo sư vài điều. Xin Giáo sư chỉ giáo cho. Thật ra trí nhớ hay ký ức là gì và nói rộng ra ý tưởng là gì? Chúng ở vị trí nào trong óc? Tôi nén mình cố không đứng phắt dậy. Ông này muốn trêu gan mình chăng? Dĩ nhiên, với tư cách một người ở ngoài y khoa đã có công “nghiên cứu và sưu tầm tài liệu”, ông ấy không biết tôi thật đang bối rối. Ký ức là gì? Ý tưởng là gì? Thật ra tôi có một   định kiến cóc khô nào đâu … ai mà biết được …

Dè dặt, tôi lên tiếng:

– Vâng, tôi hiểu ông muốn nói gì. Và trong một phạm vi nào, tôi đồng ý lối suy luận của ông. Thật vậy có khá nhiều trung khu trong não. Sau hàng ngàn công trình nghiên cứu và khảo sát, ta có thể định được vị trí và cơ năng của chúng trên một bản đồ vỏ não. Có những trung khu vận động chỉ huy cử động của một bắp thịt hay một số bắp thịt. Lại còn những trung khu có nhiệm vụ kiểm soát cảm giác hay thị giác. Như vậy, khó mà định nghĩa được ý niệm về ký ức hay ý tưởng. Tôi xin thử trình bày đại khái để ông có vài định kiến tổng quát.

Tất cả những khích động thu được hoặc ở mặt da hay bởi những giác quan hoặc trong cơ thể đều được dẫn truyền lên não. Ở đó chúng gây những cảm giác hay những cảm thức và do đó sẽ tạo những phản ứng. Lại nữa, một sự kích thích thường trực, hay ít ra liên tục, có thể tạo thành những kỷ niệm. Những kỷ niệm này nếu còn ấn tượng có thể được óc cho cất giữ vào kho, chúng tạo những “hình ảnh tinh thần” tùy ứng với tình cảm con người như lòng ham muốn, nỗi thất vọng, niềm lo sợ …

Nói một cách tổng quát, toàn thể những kỷ niệm này và những hình ảnh tinh thần này được gọi là trí nhớ hay ký ức. Khi óc biến đổi chúng thành những ý niệm mới, nó hoàn thành một công việc mà ta gọi là ý tưởng, sự biến đổi này sinh ra những định kiến mới, tạo cả một liên hệ những biểu tượng cụ thể và trên một bình diện cao siêu hơn, tạo những ý niệm trừu tượng. Sau khi tạo được liên hệ này không những ta có khả năng tái tạo mà lại còn có khả năng sáng tạo đặc kỳ hay phát minh. Bây giờ, từ những khái niệm ấy ta có thể đi đến kết luận nào? Rằng, ý tưởng và ký ức là một sự cố gắng của toàn thể não bộ. Nói cách khác, không có một trung khu đích xác nào cho ý tưởng và ký ức. Rất có thể, ký ức phần nhiều đặt cơ sở căn bản nơi những hình ảnh tinh thần mà tôi vừa nói. Nhưng ta không biết những hình ảnh tinh thần này đặt vị trí ở đâu. Bởi không có trong khu ký ức nên ta không thể mổ và hàn gắn lại, ngõ hầu vãn hồi trật tự. Điều ta có thể làm được là làm sao chữa khỏi trạng thái bệnh lý đã gây ra chứng mất trí nhớ này, với hy vọng là sau một thời gian trí nhớ sẽ tự nó bắt đầu làm việc trở lại. Tôi nhận thấy rằng những lời giảng giải này có tác dụng như  một gáo nước lạnh đổ vào người giữa mùa đông cóng rét: ba ông khách của tôi lúc vào văn phòng như muốn ra lệnh, nay có vẻ như rụng rời sửng sốt. Có thể tôi cảm thấy thỏa mãn một phần nào nếu cuộc tiếp xúc này không có tính cách trang trọng và bi đát, như sinh mạng một người bệnh đang lâm nguy.

– Vậy, tình trạng này không giản dị như các ông tưởng đâu. Ta chỉ có thể hy vọng là sau khi mổ áp suất quá lớn mà bộ óc của ông cộng sự viên của các ông đang phải chịu đựng sẽ hạ xuống. Rồi, dần dần các cơ năng tâm linh bình thường của não sẽ lại có thể phục hồi và biết đâu trí nhớ cũng sẽ tìm lại được.

Ông Tổng giám đốc là người đầu tiên định thần lại.

– Tóm lại, giáo sư định sẽ làm gì đây?

– Trước hết tôi còn phải khám người bệnh – Tôi chưa nhìn thấy ông ấy. Xong, khi nào định bệnh được, tôi sẽ quyết định sau. Chứ bây giờ tôi không thể nói hơn được gì nữa. Họ đứng dậy và từ giã tôi thật nhanh chóng. Riêng ông Trưởng phòng nhân viên cố che giấu sự bực dọc của mình. Khi bước vào căn phòng dành riêng cho Reinhardt, tôi thấy các nhân viên di đặt bệnh nhân nằm rất cẩn thận, ông ta nằm ngửa và thẳng, đầu đặt hơi cao lên. Nghe thấy tiếng động, cô y tá, đang ngồi đầu giường để coi sóc cho bệnh nhân, quay lại, vẻ mặt lo âu, hùng hồn hơn cả lời nói, đã báo cho tôi trước trường hợp này nặng lắm.

Xanh như tàu lá và trên mặt còn ghi hằn nét khổ đau, Reinhardt đang đắm chìm trong trạng thái kinh hoàng gần như vô giác vô tri. Bộ mặt này xưa chắc phải đạo mạo như những bộ mặt khả ái của những nhà bác học khảo cứu, nhưng bây giờ xấu hẳn đi vì hai vết sẹo còn đỏ tươi. Một vết đi từ gò má bên trái chạy tuốt xuống cả má, và một vết ngoằn ngoèo ở phía trái vầng trán. Hơn nữa cả vùng trán này hơi xẹp xuống. Thêm vào đó cung mày lún xuống nên mắt trái có vẻ nhỏ hơn. Mặt bệnh nhân vì thế bị méo mó và không đối xứng.

Tôi khẽ gọi tên bệnh nhân. Người bệnh tuy quay mặt một cách rất chậm chạp và nặng nề về phía tôi nhưng không thể hướng tầm mắt nhìn tôi. Tình trạng ngây dại đã khiến bệnh nhân không thể điều khiển được mắt mình. Rõ ràng ông ta đang cố gắng trả lời; nhưng vì trạng thái vô lực ủ rũ nên ông chỉ có thể phác một nét nhăn nhó đau đớn. Tiến gần lại giường, tôi nắn phía trái vầng trán: tôi sờ thấy rõ các mảnh xương gồ ghề, hậu quả của tai nạn. Người bệnh phác một cử chỉ mệt mỏi như muốn đẩy tay tôi ra, có lẽ vùng trán này rất nhạy cảm và bệnh nhân đau đớn lắm.

Tôi bàng hoàng khi sờ vào cổ tay bệnh nhân. Mạch nhảy rất chậm – năm mươi bốn lần trong một phút – chứng tỏ rõ ràng là trung khu phế vị bị kích thích, sự gia tăng áp suất trong xương sọ. Hiện tượng thường xảy ra sau khi xương sọ bị dập vỡ và kèm theo là chứng xuất huyết trong não; cần phải trông nom và theo dõi cẩn thận lắm. Thật vậy nếu mạch nhảy dưới năm mươi lần một phút – bốn mươi sáu hay có khi bốn mươi hai – tính mệnh người bệnh bị lâm nguy có thể chết ngay được và bắt buộc y sĩ giải phẫu phải mổ ngay sọ ra xem để đối phó kịp thời. Tôi ra lệnh cho cô y tá cứ cách nửa giờ bắt và ghi mạch một lần, và phải báo cho tôi ngay nếu mạch còn xuống nữa.

Tôi đo áp huyết. Con số hơi lên và biên độ [amplitude: khoảng giữa hai số áp huyết cực đại và cực tiểu] cũng vậy. Nhịp thở lại còn làm tôi lo ngại hơn nữa. Người bệnh thở từng lúc, nhịp ngắn và không đều, khiếm khuyết thường hay xảy ra khi có vết thương trong não. Tôi chưa kịp tháo máy đo áp huyết ở cánh tay ra, bệnh nhân bỗng nhiên buồn nôn. Như bị mắc nghẹn ở cổ, bệnh nhân chống khuỷu tay lên giường để cố ngồi dậy và xoay nghiêng mình nằm sấp – lần đầu tiên tôi thấy một chất lỏng trong như nước từ lỗ mũi trái chảy ra. Cứ mỗi lần bệnh nhân buồn nôn, nước lại chảy ra và dần dần rỏ giọt lên gối. Thì ra đó là chứng chảy nước mũi mà Bác sĩ Richter đã nói với tôi qua cuộc điện đàm vừa rồi. Hiển nhiên tôi không thể để bệnh nhân trong tình trạng này mãi, ngồi bên thành giường, tôi suy nghĩ tìm một phương cách nào tốt nhứt để hạ áp suất nước trong đầu và giảm sự kích thích trung khu phế vị. Bởi hai chứng này do bướu hơi “to như quả trứng vịt” mà anh bạn đồng nghiệp tôi đã khám phá được trong hình quang tuyến chụp thùy trán bên trái của não. Thoạt tiên tôi nghĩ sẽ chọc thùy não qua xương sọ để hạ bớt áp suất khí trong bướu. Nhưng ngay sau đó, tôi liền bỏ ngay giải pháp này. Bởi tôi sẽ phải thường trực để cái “canule” cốt tránh cho bướu hơi khỏi đầy ắp không khí mỗi khi bệnh nhân nôn ọe hay ho húc hắc và như thế có nghĩa là não sẽ bị nhiễm trùng.

Phải tìm một giải pháp khác. Tôi kê đơn cho tiêm hai ống morphine và atropine, vừa làm dịu đau, vừa làm dịu dây thần kinh não thứ mười nghĩa là thần kinh phế vị. Tuy tôi biết chắc, bất đắc dĩ lắm mới kê chất morphine trong trường hợp não bị thương bởi lại có thể gây nhiễu loạn nơi trung khu hô hấp. Nhưng trong trường hợp vô vọng này, tôi không có quyền lựa chọn. Tôi lại còn bảo anh y sĩ trực, cứ hai giờ, tiêm vào tĩnh mạch một dung dịch glucose thượng đẳng. Chất glucose sẽ làm mất nước trong cơ thể đi; tôi hy vọng do đó sẽ làm hạ áp suất trong đầu. Dĩ nhiên tôi nói với cô y tá đêm nay đừng cho bệnh nhân uống một giọt nước nào. Tôi đã ở bên giường bệnh nhân hơn hai mươi phút. Vừa ra khỏi phòng bệnh tôi gặp ngay ba ông kỹ nghệ gia ban chiều. Họ đang đứng nói chuyện với nhau bên cửa sổ gần phòng bệnh. Thái độ Ngoan cố và vô nhân của họ, thú thật, làm tôi tức giận gần như phẫn nộ.

Viên Tổng giám đốc tiến thẳng lại gặp tôi.

– Thưa Giáo sư, tình trạng ra sao ạ?

Tôi không thấy một lý lẽ nào để nương nhẹ ông ta.

– Nguy lắm, chắc chắn là tính mạng ông Reinhardt đang lâm nguy. Tôi tính mai sẽ khám kỹ càng và đầy đủ hơn, nếu tình trạng bệnh nhân cho phép. Rất có thể nội đêm nay phải mổ gấp.

Ông Tổng cười ruồi, như để cho tôi hiểu rằng ông không tin tôi lại có thể phóng đại tình trạng nguy ngập này. Như thách đố, ông ta còn hỏi tôi:

– Chừng nào chúng tôi có thể tiếp xúc và nói chuyện với bệnh nhân?

– Vấn đề này chưa đặt ra. Tôi cũng lưu ý ông rõ rằng ở thời điểm này, trừ khi có lệnh mới, tuyệt đối cấm không được đến thăm bệnh nhân. Ông Reinhardt cần phải tĩnh dưỡng hoàn toàn.

Ông ta mím chặt đôi môi và ánh mắt như khiêu khích:

– Thưa Giáo sư, chừng nào giáo sư cho chúng tôi biết kết quả cuộc khám nghiệm này và sự quyết định ra sao?

– Ba ngày nữa.

Ông ta nghiến chặt hai hàm răng làm nổi những bắp thịt dưới làn da đỏ ửng.

– Thưa Giáo sư, còn điều chi nữa không ạ?

– Đến giờ phút này thì không còn điều gì cả!

– Cảm ơn giáo sư.

– Không dám ạ.

Dứt lời, tôi quay gót đi thẳng, mặc ông ta đứng như trời trồng. Tôi thức gần trọn đêm để nghiên cứu hồ sơ bệnh nhân. Đọc giấy nhập viện tôi được biết ông Johan-Christopher Reinhardt, 43 tuổi và độc thân không còn bà con thân thích nào để báo tin trong trường hợp ông ta có mệnh hệ nào. Reinhardt sống cô độc và có thể sống theo sở thích mình như bao nhà khảo cứu chân chính. Sau đây là chi tiết về tai nạn: Tai nạn xảy ra vào lúc nửa đêm về sáng. Sở cảnh sát cho rằng người tài xế đã ngủ gục trên “volant”. Mãi đến sáng sớm người ta mới phát giác ra hai nạn nhân. Người tài xế chết liền ngay lúc đó, thân thể nát nhúm; còn ông kỹ sư bất tỉnh trên vũng máu. Phải đi hết nhà thương này đến nhà thương nọ mới tìm được một bệnh viện có đủ khả năng để chăm sóc bệnh nhân.

Trên một tờ giấy khác có ghi những nhận xét đầu tiên như sau đây:

Má bên phải bị rách từ gò má đến mép; vết thương có cạnh rất rõ ràng, có thể do mảnh kính gây ra. Vết thương thứ nhì, nát bấy ở phía bên trái trán; có thể do sự va chạm mạnh vào tấm kính xe khi bệnh nhân bị hất về phía trước. Nửa xương trán bên trái bị lún xuống, nắn thấy động đậy và rõ từng miếng xương vỡ vụn.

Vết xương nứt rạn lan đến tận đáy xương sọ. Xương sụn này chắc cũng bị vỡ. Lúc nhập viện, bệnh nhân bất tỉnh nhân sự. Đây là một trường hợp chấn động não thật nguy ngập, kèm theo chứng xuất huyết trong vùng thùy trán bên trái não bộ.

Qua những nhận xét trên đây tôi được biết, bệnh nhân lúc đến bệnh viện, mạch còn bình thường. Nói một cách khác chưa có triệu chứng nào chứng tỏ rằng áp suất nước trong đầu đã tăng lên. Vì lý do ấy, nên họ chỉ để bệnh nhân tĩnh dưỡng hoàn toàn. Sau đó tôi cầm các hình chụp quang tuyến đính kèm hồ sơ và đặt lên máy nhìn. Hình thứ nhất chụp ít lâu sau tai nạn, ta thấy rõ xương sọ bị vỡ và các vết nứt của các mảnh xương. Vết nứt quan trọng nhất đi từ đỉnh sọ tới xương trán về phía bên trái. Điều đáng lo ngại nhất là vết nứt đó đi qua xoang trán (frontal sinus), như vậy nghĩa là rất có thể màng nhầy bọc lỗ hổng này đã bị rách.

Hình chụp nghiêng cho ta thấy vết nứt không giới hạn ở phía trước xoang trán, mà phía sau cũng bị lún và bị đẩy ra ngoài. Một biến chứng cực kỳ nguy hiểm là: khi vỏ sau của xoang trán bị lún sẽ mở đường nhiễm trùng từ khoảng mũi lên các màng óc và não bộ. Những bản sao của các phiếu bệnh viện đầu tiên đã ghi những điều săn sóc cho bệnh nhân kể từ lúc nhập viện. Không có điều nào thiếu sót cả. Cứ cách nửa giờ lại bắt mạch, đo áp huyết và đếm nhịp thở. Tôi được biết, trong hồ sơ, bệnh nhân vẫn bất tỉnh trong vòng bốn mươi tiếng đồng hồ. Rồi bỗng nhiên, vùng vẫy la hét. Rất nhiều lần, người bệnh giựt các mảnh băng quanh đầu ra, vùng vẫy rất mãnh liệt khiến các nữ y tá và y công hết sức và nhọc công mới ghì được. Sau phải cho uống thuốc an thần, dĩ nhiên, không thể để một người bệnh nặng như vậy có những hành động mạnh mẽ như thế.

Mấy ngày sau, những cơn vùng vẫy dứt hẳn. Diễn tiến của bệnh trạng đã khả quan hơn. Bệnh nhân bình phục trông thấy. Tình trạng rầu rĩ bớt dần và biến mất hẳn, người bệnh đã hồi tỉnh và hơn nữa lại nói được. Tuy thế, trí nhớ rất kém. Đúng hơn, trong ký ức người bệnh có một lỗ hổng lớn, một khoảng chân không hoàn toàn. Reinhardt không thể nào nhớ được mình đã làm gì còn nói chi đến phương thức quý báu kia. Hơn nữa bệnh nhân quên cả tai nạn đã xảy ra như thế nào. Phiếu bệnh viện còn ghi các chứng nhiễu loạn khác nữa: nhức đầu kinh khủng, chóng mặt, chứng song ảnh (nhìn một thấy hai).

Những chứng này không có gì khác thường cả. Hai chứng trên có thể cắt nghĩa được bởi xương sọ bị vỡ và não bộ bị chấn động. Còn chứng song ảnh là gián tiếp do xương trán bị lún xuống; do đó, mắt trái cũng hạ xuống và máu chảy xối xả vào hốc mắt. Tuy nhiên, chuyên viên nhãn khoa không thấy mắt nhìn kém đi hay một khiếm khuyết nào trong lòng mắt cả. Vậy không có điều gì lo ngại về phía này cả. Hai tháng sau, khi bệnh nhân được phép về nhà, kết quả của buổi khám nghiệm lúc ra này rất lạc quan. Chứng chóng mặt bớt đi nhiều, chứng song ảnh hoàn toàn biến mất, ngay cả chứng nhức đầu cũng giảm đi đến độ có thể chịu đựng được. Bệnh chứng độc nhất thật đáng lo ngại vẫn là mất trí nhớ. Trước khi cho bệnh nhân về nhà – dĩ nhiên sẽ còn được y-sĩ coi sóc và điều trị – anh bạn đồng nghiệp tôi có khuyên sau ba tháng nên đến để khám kiểm soát lại một lần nữa. Tôi ngừng đọc để nhận định tình trạng bệnh nhân lúc ấy. Không thể chối cãi được rằng bệnh có thể khỏi được nhưng chỉ một phần nào. Thật vậy, những vết thương nặng như vậy ở thùy trán não có thể gây ra một sự nhiễu loạn không thể chuyển lại được, về tính tình có thể đi đến sự suy thoái tâm thần (dégénérescence psychique). Đính kèm phiếu ra bệnh viện, có đóng dấu và có chữ ký theo đúng thể thức, tôi thấy những hình quang tuyến khác chụp trong thời gian điều trị, vậy là ít lâu sau khi nhập viện. Tôi cho gài máy nhìn và kêu lên một tiếng. Trên hình chụp thẳng, ngay dưới chỗ xương trán lún xuống, có một vết sáng và tròn, không có ở những hình quang tuyến trước đã xem. Một vết thứ nhì thấy ở gần đường chính giữa, cách cung mày trái độ vài phân. Thật rõ ràng những vết này là những khoảng không khí đã tạo hình trong sọ, có thể ngay trong não, sau vùng xương trán bị vỡ. Điều kỳ lạ là trong phiếu ra bệnh viện không thấy nói đến chúng. Với ít nhiều bứt rứt tôi vẫn mở hồ sơ đọc tiếp đoạn hai của bản diễn tiến bệnh lý. Đoạn này khởi ghi sau khi bệnh nhân về nhà được bốn tuần lễ mà thôi. Vậy Reinhardt đã trở lại bệnh viện hai tháng trước ngày đã định để khám kiểm soát lại. Tôi tìm được lý do ngay trong những dòng chữ đầu. Tình trạng, không những không tiến triển, mà lại nguy ngập thêm. Chứng chóng mặt càng tăng thêm, chứng nhức đầu lại càng không thể chịu được nữa. Lại thêm vào đó, bệnh nhân thấy buồn nôn nhiều hơn. Khi nhận bệnh, y-sĩ thấy sự nhậy cảm cực kỳ của vùng não thùy trán và gò má trái khi ấn tay lên hay gõ vào đó. Những dây thần kinh da trên và dưới hố mắt cũng gia tăng cường độ khích động. Nhưng ngay hôm sau trên hồ sơ có ghi một bệnh chứng mới: mũi chảy nước. Khi bệnh nhân cúi đầu về phía trước, một chất nước lỏng chảy ra ở lỗ mũi trái; khi đầu về vị trí cũ nước thôi chảy nữa. Khi được hỏi về bệnh chứng này, bệnh nhân khó khăn lắm mới tìm được chữ, đã khai rằng đã thấy nước chảy lỗ mũi từ ba tuần trước nhưng đã cho là vì cảm nên sổ mũi. Rồi người bệnh còn nói thêm một chi tiết không ngờ là mỗi khi lắc đầu anh nghe thấy trong óc như có tiếng róc rách, “như không khí trộn lẫn với nước.”

Y sĩ ghi nhận ngay điểm quan sát kỳ lạ này. Khi nghiêng đầu về phía trước, nước từ lỗ mũi trái chảy ra liền và đồng thời ta nghe thấy một tiếng động làm liên tưởng đến tiếng òng ọc của chai nước đang đổ. Y sĩ chuyên khoa tai mũi họng, khi khám bệnh nhân đã ghi nhận không thấy một khiếm khuyết và nhiễu loạn nào trong mũi và yết hầu; những nhiễu loạn này chỉ do vùng khoang trán. Những điều ghi nhận khác trên giấy gợi cho tôi một hình ảnh thật thảm bại:

Trong mọi cử động của đầu, bệnh nhân đau đớn không chịu được; trạng thái kiệt lực toàn diện; tình trạng tâm linh suy sụp; trí nhớ hầu như bị mất. Nếu bệnh nhân không bị sốt thì trái lại mạch hạ xuống năm mươi hai lần trong một phút, bằng chứng của một sự tăng áp suất trong đầu. Áp suất dạo này cũng biểu thị bởi sự tụ huyết ở những gai thần kinh mắt khi đem khám ở khu vực nhãn khoa. Sau đó, đến một câu ghê gớm và kinh khủng nhất:

Bệnh nhân nôn ọe rất nhiều và rất mạnh. Dịch não tủy (L.C.R) chảy rất nhiều qua lỗ mũi trái.

Đây là lần đầu tiên phiếu bệnh lý ghi dịch não tủy chảy ra ngoài và như vậy chứng tỏ mọi sự giao thông có thể thiết lập giữa khoang trán trái và màng não. Muốn hiểu sự nguy hiểm của sự giao thông này, ta phải biết là bộ óc được bao bọc chung quanh hay nói một cách khác, được “treo” lơ lửng trong sọ bằng một hệ thống thủy lực là dịch não tủy. Nay, màng cứng nghĩa là màng não ngoài bị rách và hậu thành của khoang trán bị sụp nên nước qua chỗ rách đó có thể chảy xuống mũi. Trước khi bệnh nhân đến bệnh viện của Bác sĩ Richter, đến bệnh viện này mới tìm ra nguyên nhân của chứng chảy nước mũi ấy, bệnh nhân bị một biến chứng trầm trọng. Nhiệt độ lên rất cao, mê lịm, mạch đang nhảy chậm bỗng vọt lên 100-120 nhịp một phút. Đồng thời gáy bị cứng nhắc, dấu hiệu chắc chắn và đích xác của bệnh sưng màng óc lúc khởi đầu mà bệnh nhân không thoát khỏi được. Vào cái thủa chưa tìm ra thuốc SULFAMIDES và thuốc kháng sinh, người y sĩ khi phải trị bệnh sưng màng óc, bị bó tay vô phương chữa, và điều đó chúng ta ngày nay không thể tưởng tượng nổi.

Tuy thế nguy hiểm cũng qua, thật gần như một phép lạ, và người ta đã có thể chụp quang tuyến thêm những bức mới. Những tấm hình chụp này cho ta thấy rõ mồn một hình tròn không khí, một bướu hơi, ở não thùy trán trái. Tôi nhận ra ngay “trứng vịt” mà Bác sĩ Richter đã nói với tôi hôm trước. Sự giao thông giữa vùng xoang trán trái bị sụp và não thùy trán. Bướu hơi này lớn và rất rõ ràng với những đường nét tròn trĩnh. Ngay một người thường cũng nhận ra ngay khi cầm tấm hình chụp lần đầu tiên. Nhưng khi nghiên cứu kỹ càng và chăm chú hơn tấm hình quang tuyến, tôi còn thấy một cái bướu hơi thứ hai nữa, một hình trăng khuyết nhỏ trong vùng não thất thứ tư bên trái (Não thất là những khoảng quan trọng có từng đôi một và chứa đầy dịch não tủy; giống như những hồ hẹp, những khoảng này ở trong não). Sự khám phá này làm cho tôi say mê: cái bướu thứ hai này chỉ có thể hình thành sau khi não thất bị không khí tràn vào. Nhưng không khí làm sao mà có thể xâm nhập vào được?

Hiển nhiên tôi cần phải có, sớm chừng nào hay chừng nấy, những tấm hình quang tuyến từng lớp  stratigraphies) của bán cầu não trái. Phương pháp trị liệu và ngay cả giải phẫu bất ngờ nếu cần, sẽ tùy thuộc ở những điều nhận xét trong những tấm phim này. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tôi trở lại phòng bệnh nhân. Trong ánh hoàng hôn, Reinhardt nằm nghỉ khá yên ổn. Nhịp thở gần như bình thường, mạch đã tăng nhịp và nhảy hơn con số 60. Hơn nữa bệnh nhân cũng không nôn oẹ nữa. Tóm lại, tình trạng đã khá hơn lúc nẫy. An tâm, tôi nhắc lại những lời dặn cô y tá túc trực bên giường. Một ngày làm việc của tôi đã xong. Tôi trở về nhà. Chiếc máy điện thoại đặt ở đầu giường tôi câm nín cho đến sáng. Tôi tự bảo người bệnh của tôi cũng đã trải qua một đêm ngủ bình thường. Trái lại khi tôi đang mặc quần áo thì Ông Tổng Giám Đốc xưởng gọi điện thoại cho tôi. Nói năng rất lễ phép khác hẳn thái độ chiều qua, ông Tổng xin lỗi đã gọi tôi quá sớm thật làm phiền tôi và xin tôi vui lòng cho ông được “yết kiến” một lần nữa.

– Chúng tôi muốn được thưa chuyện với sự thân mật hơn, không có sự hiện diện của các cộng sự viên của chúng tôi. Không, quả thật thế, chuyện rất tế nhị và phức tạp lắm nên chúng tôi không thể thưa chuyện cùng giáo sư trong điện thoại được ạ. Vâng. Chúng tôi cũng xin giáo sư đại xá cho, để xin giáo sư cố cho, vì …

Không muốn nghe ông Tổng năn nỉ mãi, tôi hẹn ông ta đến tối hồi mười một giờ rưỡi. Tôi hy vọng vào giờ đó kết quả chụp quang tuyến từng lớp sẽ cho phép tôi xét rõ vấn đề hơn. Vừa tới bệnh viện; tôi đã lại phòng Reinhardt ngay. Trông bệnh nhân bớt mệt hơn. Tôi rất hài lòng vì khi tôi bước vào phòng, lần này, Reinhardt đã nhận thấy sự hiện diện của tôi. Tôi gọi tên ông ta. Tuy bệnh nhân không quay lại phía tôi, nhưng cũng đã giơ cao bàn tay trái lên như để ra hiệu đã hiểu. Khi tôi hỏi thăm ông ta, Reinhardt cố gắng trả lời tôi. Tuy vậy, ông nói ngọng líu nên hai chữ “khá mệt” gần như khó hiểu. Xong, Reinhardt chỉ vào đầu nói nhức đầu lắm. Ông ta cũng không thể nói rõ ràng được. Có thể, vì áp suất do bướu hơi lên trong khu vận động nói, thường thường ở bên não trái, nên đã tạo một khiếm khuyết cơ năng nơi đó.

Mạch lên 65 nhịp một phút. Dung dịch đường và hỗn hợp morphine-atropine tiêm đều cho bệnh nhân hồi đêm đã cho những kết quả mong ước.

Không muốn làm mệt bệnh nhân vô ích, tôi khám rất nhanh. Tôi thấy, ngoài những nhiễu loạn về lời nói, chân phải bệnh nhân cử động yếu ớt. Một bằng chứng nữa để nghĩ rằng trung khu vận động của bán cầu não bên trái bị ảnh hưởng của sự tăng áp suất này bởi hiện tượng rối loạn thần kinh ra xa. Tôi thận trọng đưa hai tay đỡ đầu bệnh nhân, đưa đẩy từ trái sang phải. Lúc đó, tôi nghe thấy rõ ràng tiếng róc rách ở trong đầu, – điều quan sát dị thường nhất trong đời chức nghiệp của tôi! Sau cùng tôi đưa đầu bệnh nhân cúi về phía trước, tức thời một dòng nước chảy qua lỗ mũi trái. Tôi gọi hai y-công khiêng cáng, và giúp họ đặt  Reinhardt nằm ngửa lên băng ca. Tôi bảo họ đưa bệnh nhân đến phòng quang tuyến. Tôi cũng đi theo để dặn bảo nhân viên quang tuyến. Rất nhiều việc tùy thuộc ở kết quả chẩn đoán này. Tôi bảo sẽ ở lớp nào và ở chiều sâu nào cần phải hướng máy. Phải chụp cả thẩy tám tấm hình. Tôi không thể kiên nhẫn chờ đợi nên đi theo tận vào phòng tối rửa phim. Tôi cầm những tấm phim còn ướt vừa rửa xong và treo lên màn ảnh có đèn chiếu. Những điều nhận xét trên những tấm phim này thật kinh khủng kỳ dị và làm tôi kinh ngạc hết sức. Tôi cho gọi ngay mấy anh phụ tá. Tôi thấy hai khoảng trắng: một bọt không khí hình như trái lê trong não thùy trán trái, và lại khoảng này cứ lớn dần so với tấm hình chụp lúc trước, ngoài ra còn khoảng thứ hai chiếm cả phần trên não thất bên trái. Như thế có nghĩa là bướu hơi đã phải “ăn sâu vào” sừng hẹp (corne effilée). Và ở chỗ đó, có sự trao đổi giữa dịch não tủy và không khí. Như vậy ta có thể suy ra là hình không khí như trái lê giao thông một phía với não thùy trán bên trái và phía kia với não thất thứ tư (4è ventricule).

Như vậy những bệnh chứng, tiếng róc rách trong đầu bệnh nhân và dòng thác như vô tận chảy ra lỗ mũi, từ trước đã làm tôi nản lòng và chưng hửng, nay đã có thể cắt nghĩa được.

Ta phải biết rằng dịch não tủy giữ hai vai trò trong cơ cấu của não. Một là, nó bao bọc não trong một cái vỏ có màng, gọi là màng óc, mà màng ở ngoài gọi là màng cứng (dure-mère); hai là nó được chứa trong các não thất ở ngay trong óc. Hai hệ thống này giao thông tự do với nhau. Bình thường, sự liên lạc ấy được thực hiện như sau: dịch não tủy được tạo bởi một huyết quản hệ đặt ở não thất thứ tư; sau khi chảy qua những não thất khác, dịch này chạy xuống ống giữa tủy sống rồi lại được hút bởi một hệ thống chằng chịt tĩnh mạch.

Thế mà, trong trường hợp của bệnh nhân đây, hệ thống đóng khép này bị gián đoạn. Lý do chính của cuộc gián đoạn này là ở chỗ sừng trước (corne antérieure) của não thất thứ tư. Qua lỗ rách ấy, dịch não tủy, bị đầy bởi không khí tràn vào, chảy vào nên đáy bướu hơi hình trái lê như một cái thác con. Trên hình chụp quang tuyến, ta nhìn thấy rõ mức nước trong não thất và trong bướu hơi hình trái lê. Từ đó dịch não tủy, qua một cái thác thứ hai chảy vào khoang trán bên trái và chảy cho đến khi đầy. Khi ta ấn vào vùng trán trái, hoặc khi bệnh nhân lắc lư đầu hay nôn ọe, chất lỏng này qua một cái thác thứ ba chảy vào mũi rồi qua lỗ mũi. Tóm lại, cái thác trong đầu mà Bác sĩ Richter đã tả cho tôi bữa nọ vừa được giải thích và chứng minh: ông Reinhardt đáng thương này có những ba cái thác trong đầu!

Sau khi nghiên cứu hai ba lần tình trạng hy hữu và có thể nói độc nhất này, tôi thấy chỉ có một giải pháp: lúc nào thuận tiện, phải mồ ngay. Bất cứ lúc nào, những tác nhân nhiễm trùng có thể qua chỗ cửa để ngỏ ấy mà len lỏi vào trong óc. Nói một cách khác, bệnh nhân sẽ bị một hiểm nghèo có thể chết được: đó là bệnh sưng màng óc. Vậy phải cấp tốc đóng cái lỗ hổng giữa khoang trán và não thùy trán. Còn những điều khác có thể chờ được. Chỉ có một trở ngại, mà lại là trở ngại lớn lao nhất: dưới khía cạnh giải phẫu, cuộc mổ mà tôi vừa phác họa là một bước đi vào ẩn số và phiêu lưu. Đã từng nghiên cứu về bướu hơi, tôi được biết trong tất cả những trường hợp bướu hơi trên thế giới này không có một “ca” nào lại quan trọng phức tạp và cần phải mồ ngay như trường hợp của Reinhardt. Từ trước đến giờ chỉ có những “ca” rất giản dị vì bướu hơi ấy rất nhỏ. Tuy nhiên tôi vẫn dám làm bởi vì bệnh nhân, nếu không mổ, sẽ hoặc bị nhiễm trùng rồi chết, hoặc sẽ quỵ, có thể rất chóng, do sự tăng áp suất trong sọ.

Trong khi tôi đang đặt điều hơn lẽ thiệt thì cô thư ký báo cho tôi biết có ông Tổng giám đốc đến thăm. Dù ông Tổng đến sớm quá nhưng tôi vẫn nhận tiếp ông ta. Vả lại ông ta cũng xin lỗi vì đã đến quá sớm. Vì phải đi Paris bất thần bằng chuyến máy bay hồi mười một giờ, ông Tổng cần gặp tôi trước. Tôi báo ngay cho ông Tổng biết bây giờ vì có kết quả quang tuyến rồi nên tôi quyết định mổ Reinhardt ngay sáng mai.

– Thưa giáo sư, ngài mong đợi gì ở cuộc giải phẫu này? Tôi muốn nói là … theo ý giáo sư, bao giờ bộ óc của ông kỹ sư trưởng sẽ làm việc bình thường trở lại? Xin Giáo sư hiểu cho, điều này là điều chúng tôi quan tâm nhất.

– Làm sao tôi có thể trả lời câu hỏi của ông? Tôi cũng đã chẳng giải thích với quý ông là chúng ta chỉ có thể làm hạ bớt áp suất nguy hiểm đang đè nặng lên óc người bệnh, với mục đích để những tế bào của các mô không bị kích thích hay sao? Tôi cũng đã chẳng nói với ông đây là cơ hội may mắn độc nhất vì một ngày kia trí nhớ sẽ khôi phục lại để có thể tìm lại phương thức quý báu của các ông đấy chứ!

Cũng chỉ vì cái phương trình này mà ông đến đây có phải không?

– Một ngày kia … một ngày kia … ông Tổng nhắc đi nhắc lại giọng bực tức. Ai có thể bảo đảm với chúng tôi là một ngày kia sẽ không chậm mất rồi, không chậm quá mất rồi!

Tôi nhún vai mà không trả lời. Ông Tổng vẫn ngoan cố nói:

– Giáo sư thấy không, giáo sư không hiểu được nổi sự quan trọng của vấn đề này đối với chúng tôi. Số tiền đặt vào đó thật khổng lồ. Chiều qua, trước mặt mấy cộng sự viên của tôi, tôi chưa muốn nhấn mạnh vào những hậu quả của tai nạn bi đát này nhìn dưới con mắt một người giám đốc một hãng lớn. Đôi khi có nhiều

sự thật không nên nói, có phải không ạ. Hôm nay đây, chỉ có giáo sư và tôi, tôi có thể thú thật với ngài: nếu không tìm cho ra phương thức của hợp kim này trong khoảng thời gian ngắn nữa, chúng tôi sẽ vỡ nợ và phá sản … hay ít ra cũng ở bên bờ vực thẳm vỡ nợ, ông Tổng nói thêm ngay.

Thấy tôi vẫn im lặng, ông ta vẫn tiếp tục đọc diễn văn:

– Chúng tôi chỉ là thương gia, thưa giáo sư, nên mù tịt về địa hạt y khoa, nhưng tôi cũng xin biết ít ra có người mổ hay, có người mổ dở. Nên chúng tôi muốn xin đề nghị cùng giáo sư một điều. Nếu ngài cố gắng thành công trong một kỳ hạn ngắn, ví dụ trong sáu tuần nữa, móc bệnh nhân cho được phương thức này, bằng cách nào, để tự ngài tìm lấy, thì chúng tôi sẽ hậu tạ … ông ta ngừng nói như muốn gây ấn tượng cho tôi, chúng tôi xin sẽ hậu tạ nửa phần trăm trên số tiền bán sỉ của mỗi máy chế tạo theo nguyên tắc Reinhardt và sau khi bán được rồi. Chắc tưởng tôi phải bối rối lắm nên ông Tổng lại thao thao bất tuyệt ngay:

– Chắc ngài có vẻ không hiểu rõ nửa phần trăm là được bao nhiêu phải không ạ? Dạ xin thưa giáo sư; sơ sơ cũng độ ba mươi ngàn mã khắc (độ ba triệu quan), và như vậy trong nhiều năm liền. Tôi nghĩ rằng ngay cả đến vua cũng không có thể trả cho giáo sư một số bổng lộc cao hơn nữa.

Tôi vẫn không nói một lời nào. Ông Tổng hiểu sự im lặng này một cách tôi không thể ngờ tới. Ông cười ruồi rồi nói:

– Thật ngài khó hơn tôi tưởng. Vậy, thế này nhé, thế 0,75 phần trăm có được không? Ngài cũng phải công nhận cho, chúng tôi rất hậu hĩnh đấy. Nhưng, xin giáo sư cũng nên hiểu rõ cho: số tiền này chúng tôi xin tạ ngài để cho riêng cái phương thức thôi đấy ạ, chỉ riêng cái phương thức thôi. Còn về việc chữa bệnh nhân khỏi hay không, đó lại là việc khác đấy ạ. Không thể chịu nổi những điều vô liêm sỉ và bỉ ổi này, tôi đứng phắt dậy.

– Thật ông đã hoàn toàn nhầm tôi với hạng người nào rồi. Đây là một bệnh viện. Ở đây chúng tôi không nhận “còm măng”. Chúng tôi làm bất cứ điều gì có thể làm được để cứu bệnh nhân, đó là bồn phận và cũng là mục đích độc nhất của chúng tôi. Mỗi người trong chúng tôi làm sức mình, ngay cả trường hợp không có phần trăm hoa hồng nào.

Ông ta không hề nhíu mày trước vụ chối từ của tôi.

– Thôi vậy. Nếu giáo sư không muốn …

Tưởng câu chuyện kỳ quái này đến đây kết thúc nên tôi vẫn đứng nguyên. Nhưng ông khách lại cất tiếng hỏi tôi một điều nữa.

– Chúng tôi nghĩ rằng … Tóm lại, sáng mai giáo sư sẽ mổ sọ cho ông kỹ sư trưởng của hãng tôi …

Ông khách nhìn tôi như dò hỏi. Tôi gật đầu.

– … và giáo sư sẽ thấy những vết thương óc và sẽ quyết-định. Bấy giờ, nếu ngài thấy rằng, sau khi mổ sọ ra, óc đã bị hỏng không thể chữa được, nói trắng ra: rằng anh bạn khốn-khổ sẽ vĩnh viễn là một người tàn-tật về tâm-trí, thì trong trường-hợp này, ngài có thể vui lòng báo cho chúng tôi biết kịp thời không ạ?

– Tại sao vậy? Thật ra, tôi đã biết câu trả lời ra sao rồi, nhưng tôi muốn nghe chính miệng ông ấy nói. Lần đầu tiên kể từ đầu câu chuyện đến giờ, ông Tổng có vẻ ngượng-nghịu và bối rối.

– … Vâng … Ngài không biết sao … ngài nên nhớ Reinhardt vẫn còn được lãnh mấy ngàn mã-khắc nữa mà. Tiền do quỹ chúng tôi đài thọ …

– Nghĩa là ông muốn cho ông ấy thôi việc?

– Vâng … nghĩa là có thể thôi … chỉ khi nào mà …

Trong bệnh-viện, có một bệnh nhân gốc ở cùng tỉnh với mấy ông trong hãng này. Tình-cờ bà ta đã kể với tôi là, sáu tháng trước đây, Reinhardt đã chối từ một số tiền lớn mua chuộc bỏ hãng về làm cho một công ty Hoa Kỳ, viện lẽ ông muốn trung-thành với hãng. Vì thế tôi đã cất lời mai-mỉa:

– Ăn nghĩa trả nghĩa, có phải không, ông Tổng-giám-đốc nhỉ?

Tôi rất ngạc-nhiên khi thấy ông Tổng hiểu ngay những điều tôi muốn nói. Ông cũng chẳng tỏ vẻ bất-bình gì cả.

– Ôi dào ôi! Mấy ông bác-học khảo cứu thế đấy! – Ông vừa nói vừa nhấc bàn-tọa khỏi chiếc ghế bành. Ngài không bao giờ có thể chạy “áp-phe” được. Tuy vậy, dù cho thể nào chăng nữa chúng tôi vẫn tin-tưởng giáo-sư sẽ cho chúng tôi hay kịp thời …

– Chắc chắn là không.

Chúng tôi từ-giã nhau trong một bầu không-khí mát-lạnh nếu không muốn nói lạnh như tiền. Khi cánh cửa đóng lại sau bước ông Tổng tôi thở phào nhẹ nhõm. Thật vậy, tôi tưởng thôi thế là thoát nợ với mấy ông này rồi. Nhưng hy-vọng của tôi, hỡi ôi, sẽ bị định-mệnh cải-chính ngược lại.

Mất nửa giờ tôi mới có thể trút bỏ nỗi ngao-ngán này. Mãi đến lúc gần ngọ, trong phòng họp, khi tôi ghi trên tấm bảng đen, chương-trình làm việc ngày mai của tôi, tôi mới có thể chăm-chú hoàn-toàn vào cuộc giải-phẫu sắp tới. Tôi biết lắm, tôi biết cái tình trạng nội-tâm cứng rắn và mãnh-liệt đến xâm chiếm người y-sĩ giải-phẫu trước khi sắp lãnh một cuộc mổ quan-trọng nào. Trong đó lại có một yếu-tố cá-nhân hơn: viên kỹ-sư này, mà tôi không nói chuyện và tiếp-xúc từ trước đến giờ, đối với tôi hơn cả một người bệnh phải săn-sóc, – cũng bởi thái-độ không thể mô-tả và tưởng- tượng được của những đồng nghiệp ông ta.

Vì cuộc giải phẫu này quan trọng và phức tạp nên tôi quyết định toán giải phẫu sẽ gồm toàn những phần tử ưu tú. Người phụ tá thứ nhất sẽ là Bác sĩ Heinrich, lầm lì, chưa bao giờ mất bình tĩnh. Thí dụ nếu cần phải giữ dụng cụ để phanh vết mổ ra, thì thà chết chứ Bác sĩ Heinrich cũng không bao giờ chịu rời bỏ nó. Người thứ nhì là bạn đồng môn với tôi Bác sĩ G. Schintz, chúng tôi gọi là “Jojo”, một nhà giải phẫu có tài thiên phú mà tôi biết từ lâu. Anh có phản ứng rất nhạy và rất khéo cả tay lẫn về kỹ thuật. Tôi còn chọn một anh dáng người nhỏ nhắn tên là Youki; anh này khôn ngoan và khéo léo, láu cá như vượn.

Khi tôi ghi ba tên này lên bảng, ai nấy, từ y tá đến các sinh viên đều thì thầm to nhỏ. Dĩ nhiên, trong bệnh viện ai cũng biết chân giá trị và biệt tài của mỗi y sĩ. Vì thế lý do tại sao ba nhà “quán quân số dzách” này cũng có trong một toán ai ai cũng đều biết cả: cuộc giải phẫu định vào sáng mai bảy giờ sẽ “độc nhất vô song và vô cùng hấp dẫn”. Chiều hôm ấy, tôi lại đến thăm Reinhardt. Tình trạng tiến triển rõ rệt. Tôi có thể báo cho ông ta ý định tôi là sẽ giải phẫu ngày mai và chỉ tiêm thuốc tê thôi chứ không cần đánh thuốc mê. Ông ta giơ một tay lên tỏ ý hiểu những lời tôi nói và vui lòng chấp thuận. Vì là một cuộc giải phẫu rất nguy hiểm nên cần phải ngồi bất động trong mấy tiếng đồng hồ liền. Như vậy thật là một cuộc cực hình không thể chịu được cho bệnh nhân. Tôi kê những thứ thuốc, hẹn vào lúc gần sáng sẽ cho bệnh nhân uống. Thuốc sẽ ru Reinhardt vào một giấc ngủ hoàng hôn. Xong tôi trở về nhà.

Sáng hôm sau, mặt trời mọc trong một khoảng trời xanh không một đợt mây. Trong khi bước trên những con đường phố vắng, tôi nghĩ đến niềm hân hoan sẽ được mổ trong ánh sáng ban ngày. Thật vậy ánh sáng mặt trời có lợi hơn ánh sáng điện vì ưu điểm là không làm thay đổi màu sắc của những mô. Khi tôi bước vào phòng giải phẫu, thì gần bảy giờ sáng. Ai nấy đều sẵn sàng. Toán giải phẫu, mặc blouse đã khử trùng, đang chờ tôi trong phòng rửa tay. Tôi cho kê bàn mổ sát vào cửa sổ rộng. Cửa sổ này trông sang – thật là một sự tượng trưng thật khổ sở – nghĩa địa với những hàng thánh giá đặt đều đặn. May thay, mặt trời huy hoàng và màu xanh trong của khoảng trời làm dịu bớt vẻ tang tóc của quang cảnh.

Đúng 7 giờ, trong khi tôi còn bận rửa tay và mặc blouse, bệnh nhân được mang tới. Ông ta đang chìm trong một giấc ngủ hoàng hôn. Giấc ngủ này cũng không có hại gì cho sự hô hấp và tuần hoàn. Vì tôi đã đoán trước là cuộc giải phẫu sẽ kéo dài, nên chính tôi trông cho nhân viên đặt bệnh nhân lên bàn mổ; phải tránh làm sao cho bệnh nhân không được đau đớn vì thế ngồi bất tiện. Như vậy tránh cho bệnh nhân phải cử động. Nhưng tôi cũng không phải nhọc công nhiều vì lão Frantz, người y tá già, đã sửa soạn thật chu đáo. Những gối đệm gáy và đệm đầu gối để rất đúng chỗ; gối để tựa lưng và nhất là chỗ thắt lưng để rất đàng hoàng. Những miếng dây da để cột chân tay cũng thắt vừa đủ. Tôi cúi xuống hỏi bệnh nhân xem có thoải mái không. Reinhardt lầm bầm một câu “có” thật yếu ớt rồi lại thiếp đi ngay.

Khi tôi rạch đầu bên trái ở phía trước, trong vùng não thùy trán, để xem bướu hơi lớn, tôi để cho bệnh nhân nằm ngửa. Như vậy, người bệnh có thể thở dễ dàng hơn là nằm sấp; bởi trong những cuộc giải phẫu ở óc không thể tránh được thế nào cũng phải cho bệnh nhân nằm sấp.

Những cuộc sửa soạn cuối cùng đã xong, chúng tôi đứng quanh bàn mổ. Tôi đứng ở đầu bàn trên. Bên phải là “Jojo” và bà sơ Johanna đang lúi húi trên hai chiếc bàn có gắn bánh, đựng đầy dụng cụ mồ. Bên trái là Bác sĩ Heinrich và “Youki” đang ngồi lên chiếc ghế thấp. Thân hình nhỏ nhắn của Youki bị che lấp bởi những tấm “champ” trắng đã khử trùng trùm lên bệnh nhân và giải thòng xuống hai bên bàn. Youki giữ phận sự đánh thuốc mê, theo dõi nhịp thở, mạch đập và huyết áp, thông báo cho tôi thường xuyên, anh ấy cũng điều chỉnh lượng oxygène cho bệnh nhân. Tôi trải những tấm champs, định giới hạn tạm thời vùng mồ và gây tê cục bộ. Sau khi trải những tấm khăn tôi nhìn lại lần cuối những tấm hình chụp ngày hôm trước đang treo bên cửa sổ. Rồi trong khi hút dung dịch Novocaine vào ống tiêm tôi báo cho Reinhardt:

– Ông đừng ngại gì nhé. Ông sẽ thấy nhói đầu bởi tôi sẽ tiêm cho ông ba mũi thuốc tê lên da đầu. Nhẹ thôi.

Người bệnh trả lời tôi bằng mấy tiếng càu nhàu ngái ngủ. Vì màng óc và não vô giác nên tôi chỉ tiêm thuốc tê vào da đầu trong vùng mồ. Vùng này được giới hạn bởi một đường cong đi từ chân mũi đến đỉnh đầu rồi vòng xuống tận tai trái. Ở những góc cạnh vùng này tôi tiêm dung dịch làm tê để có thể dễ dàng làm tê nốt những nhánh dây thần kinh có nhiệm vụ kiểm soát vùng da đầu.

Ống kim tiêm đi một vòng quanh chu vi vùng giải phẫu. Từ từ, khi dung dịch novocaine len lỏi ngấm vào da đầu, trên sọ nổi những bướu phồng lớn, cùng một lúc da lột khỏi xương. Tôi cẩn thận tiêm vào những chùm dây thần kinh đi từ vực trên hốc mắt và xung quanh tai. Công việc thật vất vả nhưng không gặp một trở ngại nào cả. Mười phút sau, tôi đã làm xong; bệnh nhân vẫn nằm yên tĩnh. Ngoài ba mũi nhói khi tiêm thuốc tê anh không thấy đau gì cả. Tôi ngừng một chút để cho thuốc ngấm. Trong khi ấy Youki đặt cái mặt nạ dưỡng khí vào mặt bệnh nhân. Xong tôi cầm kẹp sắt bấm các khăn mổ với nhau để chúng khỏi rơi trong khi mổ.

Mười lăm phút sau, thuốc tê đã ngấm và vùng đầu phải mổ đã hoàn toàn vô giác. Lúc đó Youki cho dưỡng khí vào mặt nạ để bệnh nhân dễ thở hơn. Dưỡng khí dùng có hai mục đích: thứ nhất bệnh nhân bị ngộp thở dưới những tấm khăn phủ lên mặt, thứ hai bệnh nhân không phải thở thán khí và hơi nước đọng trong mặt nạ.

– Mạch 66 … nhảy đều … áp huyết 12 – 9 … nhịp thở đều.

Giải phẫu bắt đầu. Sơ Johanna đưa cho tôi con dao mổ sáng loáng. Tôi ra hiệu cho Heinrich ấn tay vào những huyết mạch thái dương, và ở trên mắt trái. Tôi ấn mạnh đầu dao xuống đỉnh đầu, đi sâu vào xương rồi chạy xuống sống mũi. Chỉ cần một nhát dao tôi đã cắt được hết những chỗ thịt mềm. Heinrich và Jojo chận không cho máu chảy bằng cách kẹp những huyết mạch. Đường rạch mổ thứ hai cũng đi từ đỉnh đầu nhưng chạy xuống tai trái. Một lần nữa con dao mổ lại đi sâu tận xương. Các phụ tá của tôi lại kẹp những huyết mạch. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cẩn thận khâu sơ qua những đoạn huyết mạch chính để tránh không cho máu chảy và tràn ngập vùng giải phẫu. Hai bờ vết rạch cắm đầy kẹp sắt. Như vậy chúng tôi để vùng mổ mở rộng thành một hình tam giác mà cạnh đáy chạy ngang trán. Tôi lấy ở tay sơ Johanna dụng cụ dùng để tẽ da đầu khỏi xương sọ. Tôi kéo cả mảng da đầu xuống cạnh đáy hình tam giác vừa rồi, giữa sống mũi và tai trái. Công việc làm rất nhanh vì da đầu không chảy máu. Xong tôi phủ lên da đầu những gạc băng thấm nước (và lẽ dĩ nhiên đã khử trùng).

– Không có gì thay đổi cả. Mạch vẫn thế, áp huyết như cũ … nhịp thở vẫn đều. – Tiếng Youki dõng dạc nói.

Bây giờ, tôi thấy vùng xương sọ trắng hếu. Giai đoạn đầu tiên và cũng dễ nhất, đã chấm dứt. Bây giờ là lúc mở xương sọ từ trán đến đỉnh đầu ra. Công việc này thật khó nhọc và phải dùng sức lực nhiều. Lắm khi phần đông các nhà thủ thuật giao phó cho phụ tá làm, để dành sức và sự nhanh nhẹn của đôi bàn tay cho lúc mồ óc tế nhị hơn. Nhưng trong trường hợp này, tôi không muốn giao phó cho ai: bệnh nhân đã bị vỡ xương trán, nay lại mổ ra có thể gây nhiều biến chứng bất ngờ.

Trước khi bắt đầu giai đoạn thứ hai tôi nhìn lại một lần nữa mấy tấm phim chụp quang tuyến. Tôi vững dạ khi nhận thấy những xoang (sinus) của bệnh nhân, diện tích của những xoang này tùy thuộc và có thể thay đổi theo từng bệnh nhân một, tương đối khá nhỏ. Công việc sẽ dễ dàng hơn. Tôi có thể định rất chính xác chỗ nào có thể mồ trên xương sọ. Miếng xương phải rạch dài chừng 8 đến 10 phân.

Trước khi bắt đầu, tôi lại cẩn thận báo cho bệnh nhân biết trước. Vì khi khoan và đục xương sọ, bệnh nhân có thể giật mình vì sợ hãi bởi tiếng đục tiếng búa.

– Bây giờ tôi mổ xương nhé. Kêu to lắm đấy, nhưng ông không thấy đau đớn gì đâu.

Bệnh nhân lại ú ớ vài lời. Tôi cầm trước hết một cái “drille” (máy khoan) và khoanh tròn bảy lỗ nhỏ lên xương sọ. Xong tôi dùng một cái “fraise” (dùng để khoan loe miệng hình nón chạy bằng điện) để khoan những lỗ kia cho rộng ra độ một phân rồi đi sâu vào xương đến tận màng cứng của não.

Ngay lúc đầu, chúng tôi nhận thấy máu rỉ rất nhiều qua những lỗ này: điều hiển nhiên, vì áp suất quá cao trong óc đã gây trở ngại cho sự lưu thông của máu và làm cho máu bị ứ lại trong các tĩnh mạch. Heinrich vội lấp những lỗ này bằng sáp ong lỏng và đã khử trùng. Tuy vậy, mặc dầu chúng tôi đã đề phòng như thế mà bệnh nhân cũng đã tỏ vẻ khiếp đảm.

Reinhardt rên rỉ và tỏ vẻ lo lắng. Youki cất tiếng:

– Mạch xuống: 60 … áp huyết 11/8 … nhịp thở tốt. Tôi hơi lo: vì khi bệnh nhân lo lắng, áp suất trong sọ cũng tăng lên! Tôi tưởng đã dự liệu trước hết cả, thế mà tôi không ngờ bây giờ phải làm gấp rút vì thời gian không cho phép. Bây giờ phải tranh thủ từng phút một. Sau khi đã khoan xong, vấn đề tiếp theo là phải tìm cách mở xương sọ ra. Ngành giải phẫu tân tiến đã dự liệu nhiều phương pháp mới áp dụng “burin” (máy đục) và kìm đặc biệt. Tuy vậy, tôi quyết định dùng cưa dây, phát minh mới của GIGLI: phương pháp và kỹ thuật này thật đơn giản, tao nhã và có ưu điểm là nương nhẹ cực điểm những dây thần kinh não. Ta cho đưa qua lỗ xương một cái ống dò (sonde) dẹt bằng thép mềm và làm sao để giữa màng cứng não và xương. Ông dò này có một cái móc nhỏ. Ta đóng chặt cưa dây vào cái móc. Như vậy cưa cũng đi theo ống dò vào trong xương sọ. Lúc cưa phải cẩn thận để dây cưa nghiêng chéo góc như vậy về phía ngoài miếng xương nhỉnh hơn phía trong óc. Nếu không, miếng xương sẽ lọt vào trong khi ta đậy nắp xương vào chỗ cũ sau khi mổ. Như ta thấy, công việc này rất tế nhị, đấy là chưa kể phải tránh không gây một vết thương nào cho màng cứng não.

Heinrich giúp tôi đặt ống dò và đẩy nó vào dưới xương sọ. Khá nhanh, nhưng cũng chưa đủ nhanh, vì Youki lại dõng dạc báo cho chúng tôi biết:

– Mạch 48 … áp huyết 10/7 … nhịp thở không đều. Bệnh nhân khó thở …

Chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc. Những con số này thật nói lên hùng hồn và khiếp đảm: có nghĩa là áp suất trong óc lên rất cao đến độ nguy cấp. Câm nín, đôi môi mím chặt, chúng tôi lại cúi xuống vùng giải phẫu. Chúng tôi đang chạy đua với đồng hồ, một cuộc chạy đua mà giải thưởng là mạng sống của bệnh nhân. Không ai nói với ai một lời. Các nữ y tá chỉ dám thở thật khẽ. Người ta chỉ nghe trong căn phòng lớn tiếng cưa xương. Mặc dầu chúng tôi đã vội vã một cách tuyệt vọng, chúng tôi đã mất gần hai mươi phút trước khi cưa xong nhát cuối. Trước khi lôi miếng xương ra, tôi bảo Heinrich cầm lấy chiếc “nắp xương” này, bởi lúc cưa xương xong nó có thể rách trước, một phần giây sớm hơn, và có thể sẽ rơi xuống đất. Vì, sau khi mổ chúng tôi lại phải để vào chỗ cũ, nên không được làm nhơ nhớp miếng xương. Sau khi đã đưa nhát cưa cuối cùng, đây là lúc mọi người hằng mong đợi. Miếng xương vừa cắt sẽ được tách khỏi màng cứng não. Giây phút nguy kịch nhất, bởi sự kích thích và thay đổi bất ngờ của áp suất trong sọ có thể gây một trạng thái kích ngất cực kỳ nguy hiểm.

Youki lại cất tiếng dõng dạc:

– Mạch lại xuống thấp nữa: 44 … áp suất xuống … nhịp thở không đều.

Cần phải ra tay ngay. Tôi để một “burin” dưới “nắp xương” và quay cổ tay để làm đòn bẩy khẽ đẩy nó ra ngoài. Tay trái tôi nắm lấy nó. Heinrich đem bọc nó bằng miếng băng ướt rồi đưa cho y tá. Trước mắt chúng tôi, là màng cứng não óng ánh xanh. Ngoài màu xanh đặc biệt, không làm thế nào để nhận được ra nó. Những  huyết mạch, bình thường rất nhỏ, ẩn sâu giữa màng, bây giờ chỉ mờ; có lẽ vì áp suất quá lớn nên chúng bị chèn ép. Cũng không nhận thấy màng óc rung động do nhịp thở và nhịp tim đập. Sờ vào thấy thật cứng và căng. Cầm một con dao mổ, tôi khẽ rạch một đường nhỏ ở đỉnh óc. Tức thời Sơ Johanna đưa ngay cho tôi đôi kéo đặc biệt có mấu. Tôi mở màng cứng não qua lỗ hở vừa rạch chỉ để lại một cạnh đáy ở đàng trước và ở dưới sọ. Sau mỗi nhát kéo, khối não thùy trán càng phồng to lên, như một chiếc ruột bánh xe lồi qua vết rách của vỏ. Chẳng bao lâu, nó có hình dáng một quả bóng màu trắng lợt, chỉ cần ấn mạnh cũng đủ để đẩy nó ra khỏi sọ. Bướu hơi nầy đã thấy trong hình chụp quang tuyến phải đè nặng bằng sức ép của nó lên óc bệnh nhân. Nhờ mở đỉnh sọ, nên áp suất trong não cũng đã bắt đầu giảm đi. Giọng sang sảng của Yuki biểu-hiện cho sự giảm sụp sức ép này bằng những con số đích xác:

– Mạch tăng dần … nhảy 50 … áp huyết 10/7 … nhịp thở hơn trước … vào đúng lúc bệnh nhân rên rỉ. Reinhardt vừa tỉnh dậy. Hiển nhiên, ông đã bị ngất đi trong suốt thời kỳ áp suất trong óc tăng lên. Như bị thôi miên, chúng tôi ngắm não thùy trán bị đẩy ra ngoài. Khối óc không giống như mọi khi. Những rãnh lớn của những khúc cuộn não đã hoàn toàn biến mất, như bị là ủi thẳng đi. Ta không còn nhận được ra những động mạch nhỏ màu đỏ và những tĩnh mạch óng ánh xanh. Sự biến đổi chỉ thể hiện nơi bướu hơi với vùng đáy là mảng sáng của lớp dịch não tủy. Nó đã không nổ một khi được giải thoát khỏi màng cứng não bao bọc, thật cũng là một phép lạ. Tôi thận trọng nắn: nó vừa căng vừa mềm và dẻo, như một quả bóng cao su.

Bây giờ phải mở quả bóng này ra. Thường thường khi rạch mặt ngoài não sẽ bị chảy máu rất nhiều. Nhưng trong trường hợp này tôi có cảm tưởng là sự nguy hiểm không còn đáng sợ nữa. Nên không cần phải thận trọng cho lắm. Tôi mở bướu hơi bằng dao mổ điện. Đè lưỡi dao giữa bán cầu não trái tôi rạch một đường dài độ năm sáu phân. Tức thì cả não-thùy trán xẹp hẳn sau một tiếng xì nhẹ. Kinh-ngạc gần như kinh hoảng chúng tôi nhận thấy trong vùng này bề dầy của não-thùy xẹp đi mất hai li! Áp suất của bướu hơi phải kinh khủng lắm mới có thể đè bẹp não như vậy. Thế mà người bệnh khốn khổ này đã phải tiếp tục sống trong tình trạng ấy!

Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ thật lố bịch khi cầu mong tìm một phương thức trong một khối óc bị tàn phá như thế này. Chỉ cần nhìn não thùy tôi cũng đã thấy thật tìm kiếm vô vọng. Cô y tá đưa cho tôi một cái bay (spatule). Tôi cẩn thận thọc thẳng vào trong chỗ hồng. Hai anh phụ tá để những cái móc lớn ở bên trái và bên phải rồi cả ba chúng tôi kéo khối óc này ra, hầu gỡ gáy bướu hơi. Không cần đợi lệnh, cô y tá đã buộc một cái đèn vào trán tôi. Trong chùm ánh sáng, khoảng rỗng tròn và lớn này hiện ra với thành trong nhẫn thín và lóng lánh màu ngà trắng. Tuốt tận sâu trong đáy ta thấy một dải nước trong vắt tạo bởi thác dịch não tủy. Giọng Youki lại sang sảng:

– Mạch rất khá … nhảy 70 … áp huyết 12/8 … nhịp thở đều.

Rồi bỗng nhiên bệnh nhân cất tiếng nói, chậm chạp nhưng rõ ràng:

– Thưa giáo sư, tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm, không thấy khối nước này đè nặng nữa.

Tôi ngẩn người ra. Phải gần 20 giây tôi mới có thể hiểu được rằng, một khi áp suất cao trong óc giảm đi hẳn, thì bệnh nhân cũng thoát khỏi trạng thái vô giác vô tri kia. Và có thể.

Thế nghĩa là hiểm nghèo trầm trọng nhất đã qua. Tôi cúi xuống nói vào tai Reinhardt:

– Ông thấy sao?

– Khỏe lắm, Tôi không nhức đầu nữa.

Tôi đưa ngón tay sờ vào vài nơi trong khoảng rỗng của não.

– Ông có thấy đau không?

– Không. Ngoài bắp vế ra tôi chẳng đau ở đâu cả; dây da buộc chân chặt quá.

Một cơ hội phi thường: tôi đang nói chuyện với một người và đồng thời đang nhìn tận trong óc người ấy. Tôi không thể nào vượt nổi một nỗi lo sợ gần như đượm mê tín và dị đoan. Phải chăng tôi  vừa bước chân đi sâu vào một phạm vi đã bị cấm đoán đấy ư? Phải chăng tôi vừa lọt được vào cơ nguyên huyền bí của Ý Tưởng mà guồng máy phải thoát khỏi sự tò mò của người bác học?

May mà tôi định thần lại ngay. Bây giờ thật không phải lúc để tôi suy nghĩ. Trước hết, tôi cần phải kiểm soát lại án chẩn: Bướu hơi thật ra có 2 lỗ thông không? Tôi lại cúi đầu xuống thấp hơn nữa, trong khi Heinrich kéo khối não hầu có thể nhìn rõ phần trước của đáy khoảng rỗng. Thật đúng như tôi nghĩ: có một cái lỗ đường kính độ 3 hay 4 ly. Chắc chắn sự giao thông với xoang trán được tạo trực tiếp bởi tai nạn, hay nói cho chính xác hơn, do sự sụp đổ của thành hậu của xoang và cũng do màng nhầy của nó bị rách. Nhiệm vụ chính yếu của tôi là đậy cái lỗ hồng với những đường viền như bị viêm.

Còn phải xem có lỗ thông thứ hai giữa bướu hơi và sừng hẹp của não thất thứ tư không? Chúng tôi xoay nhẹ đầu bệnh nhân. Tôi cũng đổi vị trí để rọi chùm sáng tỏa từ ngọn đèn buộc trên trán xuống thành hậu của khoảng rỗng. Heinrich kéo thật nhẹ một chiếc móc. Tức thì, quả nhiên, tôi thấy ngay lỗ thông thứ hai. Nước đang chảy từng dòng xuống đáy quả trứng vịt không. Một cảnh tượng phi thường … có lẽ một trường hợp đầu tiên được quan sát: một cái thác nối từ hệ thống não thất với não thùy trán. Ta có thể khép lỗ hổng này bằng vài mũi khâu trong mô não. Ý kiến này thật quyến rũ. Nhưng ở phía kia đằng nào dịch não tủy trong não thật này cũng nối liền với hệ thống dịch toàn diện của não. Nên tôi có thể để mặc lỗ này yên vị bởi tình trạng thủy lực thật ra cũng không bị ảnh hưởng gì. Điều cần chú trọng tới nhiều nhất là lỗ thông ở phía đằng trước, hiện đang để nước thoát ra ngoài. Tôi suýt giật mình khi nghe bệnh nhân cất tiếng hỏi tôi giọng rõ ràng và bình thản:

– Thưa giáo sư, trong óc tôi có gì lạ không?

– Để tí nữa tôi sẽ nói ông hay, ông Reinhardt ạ. Bây giờ xin ông cứ để tôi làm việc đã nhé.

Reinhardt im lặng nghe lời tôi. Muốn hành động dễ dàng trên lỗ thông mở vào xoang trán tôi phải đẩy não thùy trán trái lên, hầu thấy rõ chỗ bị sụp của thành hậu bướu hơi. Tay cầm những chiếc bay rộng và thật đẹp tôi tẽ não thùy khỏi màng cứng não và xương. Chẳng mấy lúc, tôi có thể nâng não thùy dễ dàng để thấy rõ ràng lỗ hổng. Từ trước đến giờ, mọi việc đều diễn tiến như dự liệu sau khi nghiên cứu những hình chụp quang tuyến. Tôi biết rõ những công việc tôi phải làm và sẽ đi đến kết quả nào. Tôi chẻ màng cứng não và dùng phần trong. Đem cắt một miếng nhỏ và mỏng để lắp vào lỗ hồng này. Tôi làm thật nhanh chóng. Tôi bẻ miếng màng cứng óc lên nóc cong của hốc mắt trái và khâu vài mũi thật nhỏ. Như thế, sự giao thông giữa não và không khí bị ngừng trệ như mong muốn. Tuy vậy, khi ngắm tác phẩm của tôi, tôi bỗng tư lự: miếng màng mỏng này có đủ để lấp kín lỗ không? Hiển nhiên bắt buộc phải củng cố thêm. Nhưng bằng cách nào?

May mắn thay, chúng tôi, trong bệnh viện này, thuộc một trường phái luôn luôn quan tâm đến khoa giải phẫu thẩm mỹ. Mỗi người trong chúng tôi đều nắm chắc kỹ thuật miếng ghép tự do (greffon libre) những mô xương, mô liên kết và mỡ. Tất nhiên tôi có ý kiến cắt một miếng mỡ ở đùi trái bệnh nhân rồi đem giải tấm thảm dầy này lên thành hậu của xoang và của nóc cong hốc mắt.

Một lần nữa tôi báo Reinhardt.

– Ông đừng ngạc nhiên khi thấy chúng tôi chăm lo bên đùi trái của ông. Chúng tôi sẽ cắt một miếng mô mỡ dùng để lấp một lỗ hổng nhé.

Reinhardt không ngạc nhiên chút nào. Ông chỉ hỏi tôi:

– Còn lâu không giáo sư?

– Chóng lắm. Ông sắp trở về giường nằm rồi.

Tôi phủ tạm thời một tấm vải đã khử trùng lên vùng mổ và giao Jojo “trấn giữ”. Tôi tiêm dưới da đùi dung dịch thuốc tê rồi cắt một miếng mỡ độ sáu phân vuông. Để Heinrich khâu vết mổ lại, tôi chuyển miếng ghép (greffon) đem vào óc trải lên lỗ hồng nguy hiểm này khâu vài mũi chỉ tơ. Bây giờ, chúng tôi có thể để nhẹ não thùy trán vào chỗ cũ, nằm êm ả trong chiếc “đệm” mỡ. Mục đích chính yếu của cuộc giải phẫu đã đạt được, tôi chỉ còn khâu lại màng cứng của óc. Còn lỗ hổng thứ hai trong óc, tôi cứ để vậy.

Sau khi đã khâu màng cứng não lại, chúng tôi đặt lại “nắp xương” vào chỗ cũ, kéo da đầu lên xương sọ vừa đưa và khâu cẩn thận vết rạch mổ lại. Tôi thận trọng không để một vũng máu chảy nào. Mổ tất cả mất chưa đầy một giờ rưỡi. Sau khi băng lại, tôi giảng cho bệnh nhân phải, bằng bất cứ giá nào, hết sức tránh cử

động. Bệnh nhân được chở về phòng. Chúng tôi ra ngoài hành lang rít một điếu thuốc. Tâm trí căng

thằng trong chín mươi phút này, với những lúc lo sợ và hy vọng nối tiếp, với những mối giao động càng linh hoạt khi chúng tôi càng phiêu lưu trong một thế giới chưa thám hiểm và với sự cố gắng tập trung tư tưởng trong khoảng thời gian dài này. Phải, tâm trí căng thẳng này chúng tôi đã hoàn toàn sống với nó và đã bị nó hành hạ. Heinrich dập điếu thuốc để gẫy tàn rồi phá tan bầu không khí im lặng.

– Theo ý anh một bộ óc bị tổn thương nặng nề như vậy có thể phục hồi lại những chức năng của nó không? Nó có thể làm việc như hồi xưa trước khi xảy ra tai nạn không? Anh vừa kêu lớn câu hỏi mà tôi vừa tự đặt trong tâm tưởng.

Tôi nhún vai.

– Thật tình nói với anh, tôi cũng không biết nữa. Tuy thế tôi vẫn lạc quan; vả lại cũng nên biết não thùy trán chỉ chịu tác động đè ép của quả trứng vịt to lớn này. Phải chờ đợi – ngay giờ ta không thể quyết đoán được. Khả năng tái tạo của thiên nhiên thật kỳ diệu … trời sinh trời dưỡng … nhiều khi có phép lạ. Và phép lạ có thật! Chứng nhức đầu biến mất, nước mũi thôi không chảy nữa, những nhiễu loạn của ngôn ngữ giảm dần. Chụp hình quang tuyến ba ngày sau cuộc giải phẫu, chúng tôi thấy bướu hơi đã xẹp đi hẳn.

Chỉ có trí nhớ là từ chối không trở về. Tuy vậy ở điểm này, chúng tôi ghi nhận mấy tuần sau một sự tiến triển khởi đầu. Dần dần, như khoảng trời xanh hiện rõ từ từ qua tấm thảm dày đặc mây đen đang bị xé rách lần lần quá khứ đó từng khúc đời. Tôi thật đã mãn nguyện.

Tôi có cảm tưởng như dự kiến một sự phục hưng của trí tuệ mà chính tôi là người có công kiến tạo. Mỗi lần công việc cho phép, tôi thường đến thăm và nói chuyện với Reinhardt. Buổi đàm đạo thật hứng thú vì Reinhardt thật có thiện cảm. Rất thông minh và óc quan sát tuyệt hảo, Reinhardt lại có tính khôi hài trầm lặng tinh tế và đúng lúc. Những nhận xét của anh về mấy anh phụ tá, nữ y tá và y công làm tôi thật tình mến anh. Mặc dù Reinhardt đã bình phục trông thấy, tôi vẫn chưa cho ngồi và dĩ nhiên chưa cho phép đứng dậy được. Tấm bảng “Triệt để cấm thăm bệnh” vẫn còn treo ở cửa phòng. Bởi mọi việc đều xảy ra tốt đẹp như vậy, tôi không muốn, dù phải trả một giá nào liều lĩnh vô ích.

Nhưng, một ngày kia, vào khoảng gần ngọ, chuông điện thoại reo trên bàn giấy tôi. Tôi nhận ra giọng nói của người y công trông coi khu đàn ông, một gã trẻ mới đến làm ở bệnh viện gần ba tháng nay. Gã lắp bắp vì cảm động.

– Thưa giáo sư … ông kỹ sư … ông thầy biết rõ lắm, người bệnh phòng 17 … ông ta vừa ngất xỉu … Mời giáo sư đến ngay cho!

Tôi vội đặt dây nói và chạy ra ngoài hành lang. Tôi thấy Reinhardt nằm dài trên giường, tái mét, thở hổn hển; mạch rất yếu nhảy hơn 200 nhịp một phút. Anh bị ngất đi. Tuần hoàn bị rối động. Người bệnh đang có vẻ bước vào trạng thái hôn mê. Dưới đất, cạnh chiếc ghế, tôi nhận thấy một vũng máu. Vũng máu này

nhỏ không thể nói là nặng lắm; sự có mặt của nó tuy nhiên đã chứng tỏ rằng bệnh nhân vừa lại bị một chấn động mạnh. Thật là một thảm họa. Phụ giúp bởi Heinrich và Jojo, cũng vừa được thông báo và ngừng ngay việc để chạy lại tiếp cứu, tôi bắt đầu làm công việc cứu cấp, – tiêm vào tĩnh mạch một dung dịch đường, thuốc trợ tim và cho thở dưỡng khí. Nhưng nhịp thở lại càng hỗn loạn như dể vỡ. Mặt vẫn còn tím ngắt. Chẳng bao lâu, chúng tôi phải áp dụng đến phép hô hấp nhân tạo. Hai mươi phút sau, đến lượt tim ngừng

đập. Cầm một ống tiêm có kim thật dài, tôi chọc vào phía tim trái và tiêm thận trọng một dung dịch Adrenaline. Vẫn vô vọng: tim vẫn ngừng đập, phổi vẫn không thở nữa. Dù cho chúng tôi cố gắng thế nào đi chăng nữa, người bệnh đã chết trong cánh tay chúng tôi. Đôi mắt mở lớn, đã lờ đờ mất thần, hình như nhìn thẳng chăm chú lên trần nhà. Trên những mặt biến dạng bởi đau đớn ghi hằn, nay đã dần dần trải lên vẻ bình thản bất động xa cách của sự chết. Bất lực không thể hồi sinh lại cuộc sống vừa mới ra đi, chúng tôi chỉ

cúi đầu để che giấu nỗi cảm xúc. Chưa bao giờ một cái chết lại làm tôi không nhận ra tôi và làm tôi bàng hoàng, như cái chết của Reinhardt. Tôi chưa biết việc gì đã xảy ra nhưng muốn tìm cho ra lẽ. Một cô y tá chạy ngay tìm người y công lúc nãy đã gọi điện thoại cứu cấp cho tôi. Gã lưỡng lự, bước vào phòng mặt mày tái mét vì lo sợ.

Tôi lên giọng hỏi:

– Ai vừa vào phòng này?

– Dạ, thưa một ông ở hãng … cháu không biết tên ông ta …ông ta nói ông là bạn thân của ông kỹ-sư đây, ông muốn vào thăm năm phút …

– Trong khi tôi triệt để cấm không cho ai vào thăm cả! Ai cho ông ấy vào?

– Dạ thưa cháu ạ.

– Tại sao anh lại làm như vậy?

Gã cúi đầu không trả lời.

Tôi hét lớn:

– Tại sao? Tôi muốn biết tại sao? Gã vẫn câm như hến, cố tránh cái nhìn của tôi như một cậu học-sinh bị ông giáo bắt quả tang đang làm lỗi.

– Anh có ở trong phòng không?

– Dạ không. Nhưng khi cháu thấy lâu quá nên cháu hé cửa …

– Thế anh thấy gì?

– Dạ thưa cháu thấy ông kỹ sư đứng dậy ngồi vào bàn. Ông viết vào một tờ giấy – dạ nhiều chữ số lắm, toàn là số cả … Cháu muốn dìu ông ấy vào giường nằm nhưng ông khách đã cản cháu và nói: “Chờ một chút xíu, chúng tôi sắp xong rồi.”

– Thế anh làm gì nữa?

– Dạ, cháu đi ra hành-lang và cháu đợi các ông ấy xong. Sau vài phút, ông khách đi ra Mặt ông ấy hớn-hở lắm. Ông ấy cười. Cháu nhìn thấy ông ấy gấp tờ giấy làm tư rồi cất vào túi. Rồi ông ấy vừa đi vừa chạy …

Tôi nắm chặt mấy ngón tay. Cái phương-thức! Bọn họ đã cưỡng-ức một người, không đủ sức tự-vệ, một người, như một phép lạ đã đi từ thế-giới bên kia trở về. Họ đã cố tình móc cho được cái phương-thức. Run người vì tức giận tôi nói lớn:

– Này anh, họ cho anh bao nhiêu tiền?

Gã quay mặt đi. Khuôn mặt gã trở nên lầm lì khiến tôi càng tức giận thêm.

Tôi nắm lấy hai vai gã và lắc mạnh.

– Đồ súc sinh! Mày có trả lời tao không! Bao nhiêu?

Bỗng nhiên hắn bủn rủn cả chân tay.

– Dạ 50 Mã khắc. Hắn nói rất nhỏ và bật khóc.

– Thế sau khi ông kia đi rồi thì sao?

– Thưa cháu thấy trong phòng một tiếng động … như một vật gì đổ, gã ấp úng vừa nói vừa gạt nước mắt. Cháu chạy lại, cháu mở cánh cửa … Ông ấy ngã ngửa ra đằng sau, đầu đụng vào chiếc ghế.

Cháu kêu cứu: bớ người ta! Rồi cháu đặt ông kỹ sư lên giường …rồi cháu chạy đi gọi điện thoại cho ông thầy … Dạ thưa có thế …

Tôi có thể bóp cổ gã mà không thấy chùn tay. Thật chúng tôi đã làm những điều không thể làm được, chúng tôi đã cố gắng từ đầu để cứu người bệnh khốn khổ này, rồi mọi việc trôi chảy như xếp, rồi ngay cả miếng di thực trong não đã dính liền, rồi không một trở ngại cả … để rồi bao nhiêu cố gắng ấy đi đến cái chết vô lý này! Tôi nhìn lơ đãng qua cửa sổ, một mảnh trời tràn ngập nắng, bất chợt tôi giật mình. Người y công nắm chặt lấy tay tôi, năn nỉ van xin:

– Cháu cắn rơm cắn cỏ lạy ông thầy. Ông thầy tha lỗi cho cháu! Ông đừng đẩy cháu vào tuyệt vọng … cháu có vợ dại con thơ … Lâu nay cháu bị thất nghiệp.

Tôi nhìn gã, nghĩ ngợi rất nhiều. Dĩ nhiên là gã có tội, – Nhưng một tòa án dù khắc nghiệt đến đâu cũng cho hắn trường hợp giảm khinh. Nhưng có tội nhiều nhất, trong tấn thảm kịch này, là những người đã thuyết phục và dụ hắn quên bổn phận. Những người này chỉ còn nhìn thấy ở người kỹ sư trưởng của họ một chức vụ kỹ thuật mà quên hẳn chức vụ thiêng liêng của con người có cái tên Reinhardt.

Ba ngày sau, trong chồng thư, tôi thấy một thiệp báo tang, một tờ giấy Bristol dầy viền đen:

Ban Quản trị, Ban Giám đốc và toàn thể nhân viên trong hang X thương tiếc báo tin cùng quý vị: Ông JOHAN-CHRISTOPHER REINHARDT Cử nhân Khoa học, tốt nghiệp Viện Kỹ Thuật Học, đã từ trần sau một tai nạn nặng nề. Ở con người đầy uy tín này đã bị tàn nhẫn lôi khỏi những hoạt động của hãng, cả một cuộc đời tận tụy cho tiến bộ. Hãng chúng tôi đã mất một người cộng sự viên không thể nào thay thế được và đã phụng sự cho đến hơi thở cuối cùng.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 9-10-12-13-14,

tháng 9-10-12,1964 tháng 1-2, 1965]

(1) pneumatocèles


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment