Một thời để yêu & Một thời để chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Biển tên phố treo vào một ngọn đèn xoắn vẹo đứng sững bên một hố bom. Graber đi quanh hố thì thấy dưới sâu còn một cái giường đã lủng ở giữa. Xa xa một căn nhà có vẻ còn nguyên vẹn nổi bật lên trên đống gạch vụn. Graber nói thầm: “Số nhà 18, cầu trời cho đây là số nhà 18”.

Nhưng trời tối làm cho người ta lầm lộn. Nom xa tưởng là nguyên vẹn nhưng thực ra đó chỉ là cái mặt tiền che khuất một đống gạch vụn phía sau. Một cái đàn dương cầm còn mắc vào những gióng sắt thò ra ở tầng lầu nhất. Nắp trên đã bật mất để trơ những phím đàn nham nhở như hàm răng con quái vật tiền sử. Cửa ngoài mở. Graber bước vào.

“Ai đây, đứng lại, ông tìm cái gì?”

Graber không trả lời. Y không biết rõ nhà mình ở chỗ nào. Trong bao năm, mỗi cửa sổ, mỗi hòn đá đã quen thuộc với y, nhưng trong đêm tối, giữa đám gạch vụn này….

Y không thể biết được rõ mình ở phía tay trái hay tay mặt đường phố.

– Coi chừng! Ông muốn cho tường đổ xuống đầu hay sao?

Nhưng Graber vẫn bước tới. Y nhận thấy bên trong có một cầu thang. Y lùi lại một chút để ước định số nhà. Người trưởng xóm chạy ra:

– Ông đến đây làm gì?

– Đây có phải số nhà 18 không?

– Số 18?

Lão trưởng xóm lấy ta ấn mũ sụp xuống gáy.

– Ông không thấy à?

– Có phải số 18 không?

– Ông muốn nói trước là số nhà 18. Trời! Nói chuyện về trước thì bố ai biết, bây giờ khác rồi.

Graber túm lấy ve áo của lão ta:

– Tôi không đùa với ông. Số nhà 18 đâu?

– Buông ra không thì tôi gọi cảnh sát! Ông đến đây làm gì, chỗ này người ta đang dọn dẹp. Không có ai ở đây cả.

– Không có ai cả?

– Không còn ai hết. Trong nửa tháng trời, sáu trận dội bom. À! Ông là lính! Ông làm gì ở mặt trận Thảo nào nom người phè phỡn béo tốt thế kia. Còn vợ con tôi ở trong đống gạch kia – Lão lấy tay chỉ đống gạch vụn – Nào có ai cất công bới gạch để lấy xác ra không. À! Chết rồi thì cần gì mà vội vàng! Người ta còn bận việc khác! Còn hồ sơ, bàn giấy, nhân viên phải cứu cấp, thì giờ đâu nghĩ đến đàn bà con nít!

Lão nhổ nước miếng rồi nói tiếp :

– Số 18! Ông dẫm chân lên nhà số 18 mà không biết, ông lính trận ngực đầy huy chương với bội tinh!

Graber quay mặt đi, bỏ lão đứng đấy: “Trời ơi! Mình giẫm chân lên nhà mình mà không biết. Thế mà mình vẫn yên chí rằng nước Đức bất khả xâm phạm, nước Đức còn nguyên vẹn!”

Tiếng cuốc bổ vào đá, tiếng gọi nhau ấm ới. Một toán người xúm xít chung quanh một căn nhà bốc khói. Một ống dẫn nước bể, nước chảy thành dòng suối nhỏ. Ánh đèn phản chiếu xuống nước thành những đóm sáng mờ. Y chạy lại chỗ một người đang chỉ huy công việc:

– Có phải số nhà 18 đây không?

– Trời? Ông đến đây làm gì?

– Để tìm cha mẹ tôi. Số 18 đâu ông?

– Làm sao tôi biết được? Tôi có là ông trời đâu? Ông đi chỗ khác. Đây chúng tôi chỉ biết dọn dẹp thôi.

– Ở đây có người chết không?

– Không thì đào làm gì. Ông tưởng đào để chơi chắc.

Hắn quay lại toán người đang làm việc:

– Dừng lại! Lặng yên! Gõ từng tiếng đều đều!

Toán người ở trong hố đi ra từng người một. Họ là những người địa vị và nghề nghiệp khác nhau, tuy người thì mặc xăng-đay, người có áo cổ cứng, người mặc quần áo xanh thợ thuyền, người mặc đồ nhà binh, nhưng người nào cũng ra vẻ mệt nhoài, quần áo lem luốc. Một người quỳ xuống cầm búa gõ từng tiếng thưa vào một cái ống gang thò đầu ra.

“Yên!” Trưởng toán ra lệnh.

Người cầm búa ghé sát tai vào ống gang nghe. Chỉ nghe thấy tiếng thở của mấy người làm việc, và tiếng vôi vữa rụng ra rơi lạo xạo. Tiếng còi xe chữa cháy và tiếng hụ xe cứu thương ở xa xa vẳng lại. Người cầm búa lại gõ ống gang rồi đứng dậy:

– Họ còn trả lời. Họ gõ nhanh hơn, có lẽ họ nghẹt thở.

Y lại gõ thêm mấy tiếng để họ người dưới đống gạch yên lòng. Trưởng toán vội ra lệnh :

– Mau lên. Giờ hốt đống gạch bên phải. Phải kiếm cách bỏ cái ông này ra để cho không khí lọt vào thêm.

Graber vẫn đứng cạnh bèn hỏi :

– Đây là hầm núp phòng không phải không?

– Dĩ nhiên là hầm núp. Ông muốn nó là cái gì? Nếu họ không ở trong hầm thì họ đã chết lâu rồi.

– Ông nghĩ, đây có phải là những người ở nhà này không? Trưởng xóm bảo tôi rằng khu này không còn ai ở nữa từ lâu rồi mà.

– Hắn đâm ra điên khùng từ chuyến ném bom mới rồi. Chúng tôi chỉ biết rằng có người mắc cạn cần phải cứu. Chúng tôi không cần biết họ ở đây hay ở đâu.

Graber bỏ đi ra :

– Để tôi giúp một tay, tôi cũng khỏe mạnh. – Y nhìn người trưởng toán – Có lẽ cha mẹ tôi cũng ở trong ấy.

– Thế thì hay. Có thêm người phụ giúp. Này! Kiếm cho thêm cái cuốc đi.

***

>Mấy cái cẳng bị nghiền nát hiện ra trước nhất, một cái cột lớn đè lên trên. Người hãy còn sống, còn tỉnh. Graber cúi xuống nhìn nhưng không biết là ai. Người ta cưa cột để mang người ra, nạn nhân không kêu một tiếng nào, nhưng hai mắt dần dần tàn lụi sinh khí.

Mở rộng miệng hầm thì thấy hai người chết vì bị đè nát. Cái đầu xẹp lại, mũi và cằm biến mất. Răng thụt vào trong lợi như hột hạnh nhân nhét vào chiếc bánh ga tô. Graber lại gần thì thấy từng nắm tóc đen bết máu. Không phải cha mẹ y, vì cha mẹ y tóc vàng. Người ta kéo xác chết ra giữa phố. Coi có vẻ như một máy ép đã ép cho xác mỏng ra.

Một thứ ánh sáng mơ hồ tỏa xuống cảnh vật hỗn độn. Mặt trăng vừa xuất hiện trên nền trời bạc phếch.

Có người đến thay phiên, y hỏi :

– Oanh tạc từ hồi nào vậy anh?

– Chiều hôm qua.

Graber nhìn hai bàn tay. Hai bàn tay đen ngòm trong thứ ánh sáng không thực. Có vết máu nạn nhân. Hai tay y để trần bốc đất bốc sỏi cả tiếng đồng hồ. Đoàn cứu thương vẫn làm việc. Hơi a xít ở các hố bom bốc lên nóng cay cả mắt. Họ chùi mắt vào tay áo nhưng nước mắt vẫn trào ra.

Có người gọi ở phía sau, y quay lại.

– Cái bị này của anh phải không?

Qua làn nước mắt nóng bỏng y thấy mờ mờ một người đang chỉ trỏ.

– Bị nào?

– Kìa kìa! Có đứa định lấy đi.

Graber lại cầm lấy cuốc.

– Nó lấy cắp mất bây giờ. Đuổi theo nó còn kịp. Lẹ lên, để tôi thay anh.

Graber mệt nhọc quá không kịp suy nghĩ, y theo người ấy làm như cái máy, nhào về phía tay chỉ. Chạy được mấy bước thì thấy một người đang leo lên đống gạch đá. Chỉ nhảy mấy bước là y theo kịp. Người ấy đã già, hắn còn cố sức giữ lấy bị. Graber lấy chân đè lên cái quai lòng thòng dưới đất. Lão ta kêu lên một tiếng lớn rồi buông tay. Miệng lão rộng và đen ngòm hai mắt sáng quắc dưới ánh trăng.

Một đội tuần tiểu đi qua, hai anh mật vụ

– Cái gì thế?

– Không có gì đâu.

Graber vừa nói vừa đưa cái bị lên vai. Lão già đứng yên lặng. Chỉ nghe tiếng lão thở hổn hển. Một anh mật vụ hỏi:

– Anh làm gì ở đây? Giấy tờ đâu?

– Tôi giúp người ta dọn dẹp chỗ kia. Cha mẹ tôi ở khu này.

– Giấy tờ đâu? – Anh mật vụ nhắc lại.

Graber nhìn hai người. Y không muốn cãi nhau với họ về chuyện mật vụ có quyền xét giấy quân nhân hay không. Cả hai người đều mang khí giới đầy mình. Y sờ túi lấy giấy phép và sổ quân bạ ra. Một anh mật vụ lấy đèn bấm ra soi sáng để đọc, tia sáng chiếu vào ngón tay hắn nom như ngón tay phát quang. Bỗng Graber thấy người run lên vì tức bực. Sau rồi họ cũng tắt đèn đưa trả giấy tờ.

– Anh ở đường Haken số 18 à?

– Phải – Y bực tức đến rùng mình – Ngay kia. Chỗ đang thu dọn. Tôi đến tìm gia đình tôi.

– Ở đâu?

– Chỗ kia, anh không thấy à?

– Kia không phải là số 18.

– Sao?

– Kia là số 22. Số 18 ở bên cạnh này.

Hắn chỉ một đống gạch vụn bên trên là rầm và xà nhà tua tủa.

– Chắc không?

– Chắc. Nhà nào bị phá bom cũng giống nhau nhưng tôi biết chắc số 18 ở cạnh này.

Graber nhìn căn nhà tan nát. Không có khói bốc ra.

– Căn nhà này bị bom từ tuần lễ trước hay hai ba tuần trước rồi.

– Anh có biết rõ người ở đây còn sống không?

– À, cái đó tôi không biết. Thường thường vẫn có người sống sót. Có lẽ ông bà già anh không ở trong nhà. Phần nhiều người trong khu đều xuống hầm núp công cộng.

– Bây giờ có thể đến đâu để hỏi thăm tin tức?

– Đêm nay thì không thể làm gì được. Tòa thị chính bị phá hủy rồi. Ngày mai đến trung tâm cứu tế mà hỏi. Anh có chuyện gì với ông già này?

– Có gì đâu. Không biết dưới đống gạch đá này còn người chết không?

– Dưới đống gạch đá nào cũng có người chết. Muốn lấy ra hết phải có gấp mười số nhân công. Quân khốn nạn nó oanh tạc bậy bạ không kiêng nể gì.

Hai người mật vụ quay đi. Graber hỏi thêm :

– Đây có phải khu cấm không?

– Sao anh hỏi thế?

– Trưởng xóm bảo thế.

– Lão trưởng xóm điên rồi. Vả chăng đây làm gì còn trưởng xóm nữa. Anh muốn ở đây đến bao giờ cũng được. Có lẽ đến trung tâm cứu thương anh có thể xin được một cái giường. Trung tâm ở gần nhà ga.

***

>Graber tìm lối vào nhà. Người ta thu dọn được một chỗ, nhưng không thấy lối vào đâu cả. Y trèo lên một mảnh tường. Một cầu thang lên lầu nhất còn dùng được, bậc thang còn nguyên nhưng phía trên không còn gì cả, tầng lầu đã bị thiêu hủy. Chỉ có mấy bức tường rạn nứt đứng sững, qua nóc nhà thủng lỗ hiện ra một khoảng trời nắng màu sữa. Trong một góc kín, chiếc ghế bành bọc nhung để ngay ngắn như có người muốn đặt vào đây để dùng. Cả bức tường sau còn nguyên một khối đổ xuống khu vườn sát bên. Một bóng người lén bước qua. Graber nghĩ đến ông già hồi nãy, nhưng nhìn kỹ thì là con mèo. Y theo bản năng nhặt một hòn đá ném. Không biết sao y không thể nào không nghĩ đến con mèo ở đây sống bằng thịt người chết. Đi vào vườn, y mới biết người lính mật vụ nói đúng, đây là nhà mình. Y nhận ra cái giàn hoa, may lạ lùng, hãy còn nguyên vẹn, bèn tới ngồi xuống một cái ghế đá dưới gốc cây bồ đề đã bị phạt mất ngọn. Ngoài vỏ cây còn vết mấy chữ mình đã khắc vào mấy năm về trước.

Bây giờ mặt trăng sáng tỏ như ban ngày, ánh trăng hư ảo chiếu xuống một cảnh tượng hư hư thực thực như trong giấc mơ. Graber quên cả cảnh tàn phá vẫn thấy dưới mắt từ bốn năm nay, y có cảm tưởng như lần đầu tiên trông thấy đổ nát điêu tàn.

Cửa ra vườn bị lấp nghẽn khó mà dở ra được. Y gõ vài tiếng vào một ống gang và chú ý nghe.

Hình như có tiếng sột soạt. Có lẽ gió thổi. Tiếng sột soạt lại nổi lên. Y nhảy ra cầu thang nghe ngóng. Y run cùng mình vì bất thần có linh cảm rằng cha mẹ mình bị chôn lấp dưới đống gạch vụn, còn sống và có lẽ đang xô gạch trong hầm tôi tìm cách ra với con.

Y đẩy một vài tảng đá, đứng nghĩ một chút rồi chạy ra tìm toán người cứu thương. Y đụng vào tảng đá, té xuống một vũng nước xước đầu gối và bàn tay, sau cùng nhận thấy mình trở lại căn nhà lúc trước đã giúp nhân viên dọn dẹp.

– Đây không phải là số nhà 18, đây là số nhà 22. Anh em sang bên kia giúp tôi một chút đi.

Viên trưởng toán ngẩng đầu lên :

– Cái gì?

– Số nhà 18 ở đằng kia, cha mẹ tôi bị chôn dưới đống gạch.

– Đâu?

– Kia, căn nhà lớn kia.

Người ấy nhìn theo ngón tay chỉ.

– Căn nhà ấy bị bom đã lâu rồi, bây giờ trễ rồi. Nên tiếp tục dọn dẹp chỗ này thì hơn.

Graber bỏ bị xuống.

– Cha mẹ tôi ở đấy. Tôi có nhiều thứ trong bị này tôi cũng có ít tiền.

Người kia quay mặt lại nhìn y bằng hai mắt đỏ ngầu.

– Đây không phải là một cớ để bỏ mặc những người nằm chờ chết dưới đống gạch này.

– Đã đành thế, nhưng…

– Ở đây họ còn sống.

– Làm xong rồi các anh sẽ trở lại đây mà.

– Xong thì mọi người mệt lả còn làm gì được.

– Tôi đã phụ tay với các anh trong hai giờ… các anh cũng có thể giúp tôi…

– Anh cũng phải biết điều một chút chứ. Đến đây mà khuân mấy hòn gạch thì vô lý hết sức! Anh cũng không biết rằng dưới đống gạch có xác chết hay không. Không có gì là điều chắc rồi. Nếu có thì mấy ngày trước đây đã nghe tiếng. Thôi anh để yên cho chúng tôi làm việc.

Nói rồi người ấy nhặt lấy cuốc làm việc. Graber đứng yên lặng. Y nhìn họ lưng cúi lom khom. Y nhìn mấy cái cáng đợi sẵn. Y nhìn mấy người y tá vừa chạy đến. Nước trong ống máng bể chảy lụt lội. Bất thần y bải hoải tâm thần, người không còn một chút sức lực nào nữa. Y muốn giúp toán người này, nhưng mệt quá rồi, đành phải lững thững trở về nơi nhà trước kia là nhà số 18, và y ngủ ở đấy.

Trời sáng, trong bị còn ít bánh mì, trong bình còn ít cà phê lạnh, y đem ra ăn uống. Bây giờ y mới nghĩ đến cơn đói, cổ họng khô và rát như đã kêu gào suốt đêm. Con mèo rón rén lại gần. Y quăng cho miếng bánh mì, mèo vồ lấy, cẩn thận chạy ra xa, vừa ăn vừa ngó lại. Mặt trời chiếu sáng những mảnh thủy tinh rải rác khắp mặt đất. Y cầm lấy bị đi xuống phố.

Đứng lại nhìn quanh mình, y không nhận ra thành phố mấy năm trước. Hầm hố đào khắp nơi nom như những cái miệng không răng. Gác chuông nhà thờ đã biến mất. Các mái nhà đầy lỗ thủng to nhỏ như có một đám sâu bọ khổng lồ kéo đến đục tan hoang. Thỉnh thoảng có căn còn nguyên vẹn. Thành phố không còn hình ảnh quen thuộc như y mong đợi. Có vẻ là một thành phố Nga.

***

>Người trưởng xóm mở cửa một căn nhà chỉ còn có mặt tiền bước ra. Một người xuất hiện từ một nơi không phải là một cái nhà nữa thật là một sự kỳ dị. Một người dân ma sống trong thành phố Âm ti… Trưởng xóm vẫy tay gọi Graber. Graber nhớ lời anh lính mật vụ bảo lão trưởng xóm này điên; tuy nhiên y cũng chạy lại. Lão ta nhăn mặt :

– Anh làm gì ở đây? Ăn cắp hả? Anh nên biết rằng ở tù chứ chẳng phải chơi.

Graber không nén nổi cơn giận.

– Này cha! Đừng có nói bậy như chiều qua nhé! Nên hòa bình với nhau thì hơn. Ông có biết cha mẹ tôi ở đâu không? Ông bà Graber ấy mà, trước ở đây.

Lão hếch mặt gầy nhom râu ria tua tủa ra mà rằng :

– À! Ông lính ngoài mặt trận. Đừng làm ồn lên thế. Ông tưởng rằng chỉ có một mình ông tìm người nhà thôi hẳn. Ông nhìn xem cái gì đây?

Lão chỉ cái cửa.

– Cái gì?

– Cái cửa này này. Ông có mắt không? Ông tưởng đây là chỗ trai gái hẹn hò chắc?

Graber không trả lời. Y vừa trông thấy ở cánh cửa ngoài dán nhiều mảnh giấy gió thổi bay phất phới như lá cờ.

Y vội chạy lại.

Đó là địa chỉ và lời nhắn thân nhân của những người bị nạn. Nhiều chữ viết ngay bằng bút chì, mực hay than vào cánh cửa gỗ, nhưng phần nhiều là những cái biển bằng bìa đóng đinh hay dán hồ như: Heinrich và Georg đến nhà chú Hermann. Irma chết. Phía dưới, viết trên nắp hộp kem đánh giầy: Yêu cầu khẩn thiết chi tin Brunhilde, Schmidt, 4 đường Thuringe. Bên cạnh đấy là một cái bưu thiếp: Otto, nhà ở tụm trường học Hate. Phía dưới những địa chỉ viết bằng chì hay mực là một chiếc khăn tay thêu hoa mầu tím ghi: Marie, bây giở em ở đâu? Không ký tên.

Graber ngẩng lên

– Thế nào? Ông có thấy ai nhắn gì không?

– Không. Cha mẹ tôi không biết tin tôi về nghỉ phép.

Lão điên phác một cái nhăn mặt có thể cho là cái cười.

– Không ai biết ai ở đâu nữa. Chỉ những người vô tội chịu thay cho bọn lưu manh. Bao giờ chúng cũng có cách thoát thân. Ngoài mặt trận anh có biết không?

– Có chứ.

– Thế thì ghi tên vào đấy đi. Rồi làm như tôi này. Ngồi đây mà đợi cho đến lúc tan thành cát bụi.

Mặt lão nom thật ảo não hầu như bất thần bị xúc động đau đớn.

Graber quay đi. Y cắm cúi nhìn xuống đất tìm cái gì để viết. Sau y trông thấy một bức hình Hitler đã gãy khung. Đằng sau là giấy trắng. Y lấy trong túi ra một cái bút chì rồi đứng suy nghĩ không biết nên viết thế nào; sau cùng y viết câu này bằng chữ in hoa: “Yêu cầu cho tin tức ông bà Graber. Ernst nghỉ phép đã về đây”.

Trưởng xóm đứng đằng sau lẩm bẩm :

– Phản quốc.

– Sao?

– Phản quốc, anh vừa bôi nhọ bức hình đức Quốc trưởng.

– Thì hình đã lem luốc rồi, mà tôi thì cần. Anh cứ mặc xác tôi, đừng nói càn!

Không tìm thấy cái gì để gài cái biển, y phải lấy bớt hai cái ghim ở một tấm biển ký tên “Người mẹ” để gài biển của mình. Làm vậy y thấy áy náy, y có cảm tưởng như ăn cắp hoa ở một cái mộ của người lạ. Nhưng không có cách nào khác, vả chăng biển kia gài hai kim cũng đủ lắm rồi.

Lão trưởng xóm vẫn theo dõi anh từng li từng tí. Để kết luận, lão hô lên :

– Hitler muôn năm! Cấm để tang! Cấm buồn rầu! Thái độ ủy mị hại cho tinh thần dân chúng. Anh phải tự hào rằng đã hy sinh cho Tổ quốc. Nếu các anh làm hết bổn phận thì nước nhà đâu đến nỗi này!

Nói rồi lão quay phắt đi, hai cẳng dài nghêu và gầy gò bước xa dần. Graber quên ngay lão, y sắp sửa bước đi thì chợt nhớ ra, y vội vàng tháo bức hình dùng làm biển xé lấy một miếng ở phía dưới và ghi lấy một địa chỉ ở cánh cửa. Đó là địa chỉ ông bà Loose, y có quen biết nên định đến hỏi thăm chỗ ở của cha mẹ. Trước khi để miếng bìa nữa chép lại mấy chữ đã ghi. Y trở lại số nhà 18 để miếng giấy bìa vào một chỗ dễ thấy trước tường đá lối vào. Hai tấm biển vẫn có hy vọng hơn một. Lúc này vì chỉ có thể làm được thế là nhiều. Y thẩn thơ một hồi lâu trước đống gạch vụn lớn, không biết rằng nơi đây có phải là mồ chôn cha mẹ mình không. Chiếc ghế bành bọc nhung xanh óng ánh dưới nắng như một viên ngọc bích. Cạnh nhà y, một cây dẽ còn nguyên vẹn, không bị bom; giữa cảnh điêu tàn này vòm lá xanh tươi của nó có một vẻ êm dịu kỳ lạ. Đàn chim lẩn khuất trong bóng lá xanh ríu rít tiếng gọi đàn.

Y nhìn đồng hồ. Đã đến giờ đi tìm trung tâm tiếp đón.

Văn phòng trung tâm đặt trong một căn nhà gỗ, vách ván mới xẻ còn hắc mùi nhựa cây. Một toán thợ đang làm thêm một gian vào căn nhà cất tạm bợ. Trong phòng đầy người thuộc thành phần dân sự ngồi đợi với vẻ mặt rầu rĩ. Hai người đàn bà và một người công chức chỉ còn một cánh tay ngồi sau cái bàn gỗ trắng.

Một người đàn bà hỏi :

– Tên ông bà cụ là gì?

Bà ta mặt to, hai gò má cao, tóc quân một sợi băng đỏ. Graber trả lời :

– Paul và Marie Graber, công chức Thuế vụ, 18 đường Haken.

Bà ta đưa tay lên áp vào tai :

– Cái gì?

Graber nói to để nhắc lại giữa tiếng búa chan chát của thợ làm nhà.

Bà ta mở một cuốn sổ lớn :

– Graber, Graber.

Ngón tay đưa xuống rồi lại đưa lên những cột tên người, bà ta dừng lại :

– Graber, Graber. Đây rồi. Tên gì?

– Paul và Marie.

– Gì?

– Paul và Marie.

Y tức giận sôi ruột. Gân cổ lên mà hét thế này mãi thì chịu sao nổi.

– Không phải. Ông này là Ernst.

– Ernst là tên tôi. Trong họ chỉ có tôi tên Ernst.

– Dĩ nhiên không phải là ông rồi. Trong sổ không có tên Graber nào khác – Bà ta mỉm cười ngẩng mặt lên nhìn y – Nếu ông muốn biết thì vài ngày nữa trở lại đây. Bây giờ chúng tôi chưa có đủ danh sách. Đến lượt người khác!

Graber chưa chịu đứng dậy.

– Bà cho biết có thể hỏi tin tức ở đâu?

– Tòa thị chánh. Đến lượt người khác!

Người thư ký sửa lại cái nơ đỏ. Graber cảm thấy có ai đẩy mình. Đó là một bà già ngón tay quăm quắm như chân chim cắt. Y đi ra.

Y vẫn lưỡng lự dừng lại văn phòng một lát, không nhất quyết đi được. Sự đau đớn sâu xa như thế không dễ mà khuây được. Người công chức cụt tay trông thấy bèn lại gần.

– Ông nên mừng rằng ông bà cụ không có tên trong sổ này.

– Tại sao vậy?

– Đây là danh sách những người chết và bị thương nặng. Nếu chưa thấy tên thì ông cứ yên chí là chỉ mất tích thôi.

– Không có danh sách những người mất tích à?

Người công chức nhìn y với sự kiên nhẫn của những người hằng ngày chứng kiến những trường hợp tương tự trong suốt tám giờ đồng hồ.

– Ông thử nghĩ xem! Đã mất tích là mất tích. Lập danh sách làm gì? Danh sách cũng không cho ông biết gì hơn. Mất tích mà đã ghi vào thì còn mất tích gì nữa!

Graber nhìn ông ta mà không hiểu. Ông ta khoan khoái vì lý luận của mình. Nhưng lý luận và giải thích khó lòng dung hòa được với đau thương và bất hạnh. Graber trả lời :

– Vâng, có lý.

Y ra tòa thị chính, chỉ có một phòng duy nhất còn nguyên vẹn, cô thư ký đeo kính ra vẻ bù đầu. Graber phải ngồi đợi khá lâu trong hành lang nồng nặc mùi khói và axít. Lúc vào thì cô thư ký gắt om :

– Tôi không biết gì hết! Không làm gì còn hồ sơ. Phần lớn cháy rụi, còn lại thì vòi rồng cứu hỏa làm nát hết. Tôi không biết làm sao được bây giờ.

Người hạ sĩ quan vào sau Graber hỏi cô ta :

– Tại sao không cất hồ sơ vào nơi an toàn?

– An toàn, an toàn! Biết ở đâu là an toàn! Ông có biết chỗ nào là an toàn không? Tôi có phải ở trong hội đồng hàng tỉnh đâu. Ông đến đấy mà khiếu nại.

Cô ta đưa tay chỉ một đống giấy má ướt sũng nước :

– Đây sổ sinh tử giá thú chỉ còn có thế thôi, bây giờ ai muốn lấy căn cước của mình thế nào cũng được.

Viên hạ sĩ quan nhổ toẹt xuống đất và kéo Graber đi

– Thôi đi anh, ở đây họ hóa điên cả rồi!

Họ trở lại công trường tòa thị chính, không còn một căn nhà nào nguyên vẹn. Tượng đồng Bismarch chỉ còn lại một đôi ủng. Một đàn chim bồ câu sợ hãi bay xung quanh gác chuông nhà thờ Thánh Mari đã đổ mất một nửa. Anh hạ sĩ quan hỏi :

– Anh tìm ai.

– Cha mẹ tôi.

– Tôi tìm vợ tôi. Tôi về bất thần, không viết thư báo trước, định dành cho nhà tôi một sự ngạc nhiên lý thú. Còn anh?

– Tôi cũng không báo trước. Vì đã bị nhiều lần đình chỉ hết nghỉ phép cho nên tôi không muốn báo trước để cha mẹ tôi khỏi thất vọng lần nữa. Vả chăng người ta ký bất ngờ cho nên tôi cũng không có thì giờ viết thư.

– Đây mới thật là chuyện ba gai. Bây giờ anh định thế nào?

Graber nhìn ra khoảng đất trước kia là cái chợ. Từ năm 1933 gọi là công trường Hitler. Sau trận đệ nhất thế chiến đã có tên là công trường Ebert. Cho đến năm 1918 vẫn có tên là công trường hoàng đế Wilhelm.

– Tôi không biết làm thế nào. Tôi vẫn hiểu. Chả nhẽ sống ở giữa nước Đức mà bị thất lạc!

– Anh tưởng thế chứ!

Anh hạ sĩ quan nhìn y với vẻ giễu cợt lẫn thương hại.

– Anh còn ngây thơ quá, anh chưa nhìn thấy hết! Tôi tìm vợ tôi đã năm ngày nay, suốt từ sáng đến tối. Không biết nó biến đâu mất như phép lạ.

– Sao lại có thể thế được? Phải có cái gì…

– Biến mất. Hàng ngàn người cũng mất tích như thế. Người thì vào trại tập trung, người thì theo người khác kéo nhau lũ lượt về các làng lân cận. Sở Bưu điện bị phá hủy, đi đâu mà hỏi thăm được!

– Về làng à? – Graber nói ra vẻ phấn khởi – không biết sao trước kia mình không nghĩ đến? – Ở trong làng được yên ổn hơn. Chắc cha mẹ tôi về nhà quê ở.

Anh hạ sĩ quan cười chua chát :

– À anh có chút may mắn rồi. Anh có biết ven tỉnh này có đến hai tá hàng xóm không? Anh đi độ nửa cây số thì giấy phép của anh hết hạn lâu rồi!

Graber biết rõ lắm, nhưng cái đó không cần. Y chỉ cần biết một điều. Cha mẹ y còn sống, còn ở đâu thì ở.

– Anh hãy nghe tôi, phải hành động cho khôn khéo, không lẽ anh cứ chạy như điên như dại khắp nơi, chỉ mất thì giờ mà mang bịnh vào người. Phải hành động cho có phương pháp. Anh định bắt đầu làm thế nào?

– Tôi cũng không biết nữa. Có lẽ thử đến hỏi những người quen biết cha mẹ tôi. Tôi đã tìm được địa chỉ một người ở cùng phố với nhà tôi và đã tản cư đi nơi khác.

– Khó lòng mà biết được điều gì. Họ sợ không dám nói. Chính tôi đã nhận thấy thế. Nhưng anh cứ thử xem. A tôi có ý kiến! Chúng ta có thể hợp tác với nhau. Anh đến đâu cũng hỏi cả tin tức vợ tôi, còn tôi cũng làm vậy. Đồng ý?

– Đồng ý.

– Thế thì hay lắm. Tên tôi là Bottcher; vợ tôi là Anna. Anh ghi lấy.

Graber ghi Anna Bottcher vào cuốn sổ rồi ghi tên cha mẹ mình vào một mảnh giấy đưa cho Bottcher. Anh này đọc cẩn thận rồi gấp mảnh giấy cất vào bóp.

– Anh ở đâu?

– Chưa biết đi đâu đây. Tôi cũng phải kiếm một chỗ ở.

– Ở trại có giường dành cho người nghỉ phép bị nạn. Anh đến xin một giấy phép cư ngụ thì được ở. Đã đi xin chưa?

– Chưa.

– Thế thì cố gắng xin ở phòng 48. Tôi cũng ở đấy. Ăn uống khá hơn ở nơi khác.

Bottcher lôi trong túi ra một mẩu thuốc lá. Y ngắm nghía một lát rồi lại cất đi.

– Ngày hôm nay tôi đến cả nhà thương tìm. Tối hôm nay có thể gặp nhau ở chỗ nào đó, may ra một người tìm được tin tức gì.

– Đồng ý. Gặp ở đâu?

– Ở đây chẳng hạn. Chín giờ nhé?

– Đồng ý.

Bottcher gật đầu và ngửng lên nhìn trời xanh.

– Này, mùa xuân đây. Đêm nay là đêm thứ năm tôi ngủ với một lũ đực rựa râu không cạo, đáng lẽ ra mình đã ngủ với vợ con mũm mĩm.

***

Hai căn nhà đầu tiên khu phố cư ngụ của gia đình Ziegler đã bị phá hủy. Không còn ai ở nữa. Căn thứ ba còn nguyên vẹn. Chỉ có mái bị cháy mà thôi. Ziegler là bạn của cha mẹ Graber.

Y bước vào cầu thang. Trước thềm cầu thang nào cũng có thùng cát và thùng nước. Tường dán đầy thông báo. Y bấm chuông, ngạc nhiên rằng chuông còn dùng được. Đợi một hồi mới có một người đàn bà dáng điệu sợ hãi ra mở cửa

– Bà Ziegler? Tôi là Graber.

Bà già ngó y ra bộ ngập ngừng :

– Vâng, mời ông vào.

Bà mở cửa cho Graber bước vào rồi khóa ngay lại.

– Ba nó ơi! Có cậu Graber, con ông Paul Graber.

Căn phòng có mùi xi mới đánh. Thảm trải nhà sáng như gương. Trên khung cửa sổ bày những cây cảnh lá lấm tấm vàng bóng như thoa bơ. Phía trên ghế trường kỷ treo bức trướng thuê hoa và một dòng chữ: Ở nhà mình, mình là vua.

Ziegler ở phòng ngủ ra. Ông ta mỉm cười, nhưng vẻ lo lắng hiện rõ trên mặt :

– Bây giờ không biết chừng được. Không biết mình đụng độ với ai. Cậu ở mặt trận về phải không?

– Vâng, cháu đi tìm cha mẹ cháu, nhà cháu bị phá hết.

– Bỏ bị ra đi. Để tôi đi pha cà phê cậu uống. Nhà còn cà phê ngon.

Graber bước sang căn kế cất bị, vừa đi vừa nói :

– Người cháu bẩn thỉu quá. Đã lâu ngày quên cả sạch sẽ ngăn nắp.

– Không sao. Cháu cứ tự nhiên, ngồi kia mà nghỉ.

Bà Ziegler đi xuống bếp. Ông Ziegler nhìn Graber ngập ngừng. Graber hỏi :

– Thưa ông có tin tức gì về cha mẹ cháu không? Cháu không có tin tức gì cả. Tòa thị chính cũng không biết, sổ sách không còn.

Ziegler lắc đầu. Bà Ziegler bỗng hiện ra giữa khung cửa :

– Lâu lắm chúng tôi không đi ra ngoài. Chúng tôi không gặp ai, không biết gì cả.

Ông bà không gặp cha mẹ cháu bao giờ à? Lần cuối cùng gặp cha mẹ cháu cách đây bao lâu rồi?

Rồi bà im bặt.

– Cha mẹ cháu thế nào?

– Mạnh khỏe, hồi ấy mạnh khỏe. Nhưng về sau…

– Vâng. Ở ngoài ấy chúng cháu cũng biết ở nhà bị bom tàn phá. Nhưng không ngờ đến nỗi tàn tệ như thế này.

Một lúc yên lặng. Mọi người cúi gầm mặt nhìn xuống đất.

– Cà phê sắp được rồi, cậu ngồi chơi uống một tách.

Bà bày bộ tách hoa lên bàn. Graber nhớ lại nhà mình cũng có bộ tách kiểu ấy, kiểu tách gọi là tách củ hành, y không hiểu sao lại gọi thế.

– Thưa ông, ông có cho rằng cha mẹ cháu đã tản cư không?

– Có lẽ ông bà nhà đã tản cư. À bà nó xem còn cái bánh ga tô nào không, đem đây mời cậu Graber. Hộp bánh của Erwin cho đó.

– À ông Erwin bây giờ thế nào?

Ông già bỗng giật bắn người lên :

– Erwin mạnh khỏe, mạnh khỏe lắm.

Bà Ziegler mang cà phê lên. Bà cũng đặt lên bàn cái hộp thiếc lớn nhãn hiệu Hòa Lan còn vài chiếc ga tô. Graber nghĩ thầm: “Đồ Hòa Lan”. Hồi mới có chiến tranh chính y cũng mua bánh từ Pháp về cho cha mẹ.

Bà Ziegler mời mọc ân cần, y cũng ăn một chút. Thứ bánh hồng hồng, ngọt đậm đã hơi có mùi mốc. Hai ông bà già không ăn gì cả. Tách vẫn để không. Ông già ngồi gõ nhịp vẩn vơ xuống bàn.

– Cậu ăn nữa đi. Bánh ngon đây. Chúng tôi không còn cái gì khác để đãi cậu.

– Vâng bánh ngon. Cháu ăn đủ rồi, cháu mới ăn sáng xong.

Y cảm thấy không thể biết được gì hơn, có lẽ họ không biết gì thật.

– Ông có thể cho cháu biết người nào để hỏi thăm được không.

– Tôi không có ý kiến gì. Chúng tôi không đi đâu, không giao thiệp với ai. Thật chúng tôi rất tiếc.

– Vâng, cháu hiểu lắm. Cám ơn ông.

Graber đi ra cửa. Bất thần ông già hỏi :

– Cậu ở đâu?

– Cháu sẽ tìm chỗ ở, nếu không thì vào trại.

Bà già liếc mắt nhìn chồng :

– Thật rất tiếc, chúng tôi không có chỗ nằm cho cậu. Hẳn quân đội cũng nghĩ đến việc tiếp đón những người nghỉ phép lỡ gặp nạn.

– Vâng, hẳn là thế.

– Hay là cậu cứ để bị ở đây, đợi lúc tìm được chỗ ở sẽ hay. Cái bị coi có vẻ nặng.

Graber nhìn bà già.

– Không sao. Cháu đeo nặng quen rồi.

Y đi ra rồi khép cửa lại, bước xuống thềm. Không khí nặng nề. Ông bà Ziegler rõ là có thái độ lo sợ. Nhưng từ năm 1933 đến giờ có biết bao nguyên nhân để lo sợ!

Gia đình ông Loose chiếm một chỗ trong phòng họp lớn thị sảnh. Phòng chật ních những giường cùng nệm. Trên tường, trang trí cờ quạt, phù hiệu chữ vạn, biểu ngữ với giọng quyết liệt, hình Quốc trưởng trong một cái khung thếp vàng. Vết tích những cuộc biểu dương lòng ái quốc ngày trước. Trong phòng đầy ắp đàn bà và trẻ con. Khoảng giữa giường nọ với giường kia chất từng đống rương với va li, nồi niêu xoong chảo, đủ mọi thứ còn sót lại.

Bà Loose ngồi trên một cái giường kê ở giữa nhà, vẻ mặt buồn thiu, tóc rối bù. Bà ta người to mập.

– Ông bà có biết cha mẹ tôi ở đâu không?

Hai mắt bà như hết thần sắc, bà như ráng sức bới tìm trong trí nhớ. Sau cùng bà nói:

– Chết rồi.

– Bà nói sao?

– Chết rồi. Cậu còn muốn biết gì nữa?

– Bà biết rõ tin này à?

Y thấy mình nghẹn lời nói không được. Y ráng sức nuốt nước miếng hỏi thêm:

– Bà có trông thấy không? Chết ở đâu?

Bà Loose từ từ lắc đầu.

– Không thể trông thấy gì được. Lửa cháy, tiếng kêu khóc inh ỏi, rồi không còn gì nữa….

Tiếng nói chỉ còn là lời ấp úng nghe không ra tiếng gì. Rồi bà ngồi yên, đặt khuỷu tay lên gối, hai mắt xa vắng; bà ngồi trầm ngâm suy nghĩ như chỉ có một mình trong phòng. Graber thất vọng.

– Xin bà nhớ lại, nhân dịp nào bà biết cha mẹ tôi đã chết?

Y cố nén lòng để khỏi nổi nóng nắm lấy vai bà mà lắc mạnh.

– Xin bà nhớ lại. Bà gặp cha mẹ tôi lần cuối cùng vào hồi nào?

Bà ta như không nghe thấy và lẩm bẩm!

– Tôi cũng không thấy mặt. Ông bà ấy không muốn để tôi lại gần. Nom bà gầy yếu lắm. Tại sao người ta gây ra cớ sự này? Cậu là quân nhân, hẳn cậu biết.

Graber đưa hai mắt ngơ ngác nhìn xung quanh.

Một người len vào giữa khe giường tiến lại. Đó là ông Loose, người gầy nhom, già sọm. Ông ta đặt nhẹ tay lên vai vợ, bà này muốn trở cơn mê sảng. Ông ta ra hiệu cho Graber :

– Graber! Nhà tôi không tỉnh trí đâu.

Người đàn bà lấy tay ra hiệu và nhìn chồng :

– Ông có hiểu gì không?

– Lena!

Bất thần bà ta nói oang oang :

– Nếu ông hiểu được tại sao người ta gây ra cớ sự này nhưng ông cũng không hơn gì tụi họ.

Ông Loose đưa mắt sợ hãi nhìn những giường bêncạnh. Không ai có thể nghe được vì con nít nô đùa ồn ào sau đống va li.

– Không hơn!

Bà Loose nhắc lại rồi nghiêng đầu đi, nom bà ta chỉ còn một đống thịt buồn rũ rượi.

Ông Loose ra hiệu cho Graber đi theo ra chỗ khác.

– Cha mẹ tôi bây giờ ở đâu? Bà nhà nói chết rồi!

Ông Loose lắc đầu :

– Nhà tôi không biết gì đâu. Nhà tôi hóa ra người rối trí. Hẳn cậu biết đấy.

Ông Loose nuốt nước bọt, cuống họng trồi lên hạ xuống trên cái cổ gầy gò :

– Nhà tôi nói những câu… Người ta đã tố cáo chúng tôi… Những người ở đây.

Bỗng dưng y có cảm tưởng như ông Loose ở xa tít, bé như con kiến trong thứ ánh sáng xám xịt. Rồi y trở về cạnh ông ta và thấy căn phòng trở nên yên lặng. Y hỏi :

– Thế cha mẹ tôi còn sống chứ?

– Tôi không thể biết đích xác được. Cậu không biết đã một năm nay tình hình tồi tệ đến thế nào. Người nọ sợ người kia, mọi người nghi kỵ nhau, không còn ai tin ai được nữa. Chắc ông bà nhà cũng được yên ổn ở một nơi nào đó.

Graber cảm thấy như bỏ được cái gì đó đè nặng xuống ngực, y hỏi :

– Thưa ông có gặp thầy mẹ tôi lần nào không?

– Có, một lần, gặp ở ngoài phố. Đã bốn năm tuần lễ nay rồi. Bấy giờ trời còn tuyết xuống, tôi nhớ rõ. Trước khi oanh tạc.

– Thầy mẹ tôi có khỏe không?

Loose không trả lời ngay, mãi sau mới trả lời :

– Có lẽ mạnh khỏe.

Bất thần Graber thấy ngượng. Y vừa chợt hiểu rằng không phải nơi mà cũng không phải lúc hỏi thăm một người mạnh khỏe cách đây đã bốn năm tuần lễ; ở đây người ta chỉ biết số người sống và số người chết chứ không biết gì hơn.

Y ngượng ngập, vội vàng :

– Xin lỗi ông.

– Không sao. Bây giờ không ai còn bụng dạ nào nghĩ đến người khác. Đau khổ quá nhiều rồi.

Graber không nhận ra khu phố nữa. Y đi qua đường vắng tanh và ảm đạm khi vào tòa thị sảnh. Bây giờ phố xá có vẻ sáng sủa, nồng ấm hương đời hơn. Y không nhìn thấy những căn nhà vỡ lở, y chỉ thấy cây đã khai nụ, chó vẫn đuổi nhau đùa giỡn, trên đầu, trời vẫn xanh. Cha mẹ y chưa chết, chỉ mất tích thôi. Một giờ trước đây, y xúc động đau đớn khi người ta cho biết tin ấy, nhưng bây giờ y được phấn khích vì tia hy vọng bí hiểm. Y biết rằng sự thể xoay ra như thế vì lúc trước y đã lâm vào cảnh tuyệt vọng. Chỉ cần một chút bám víu là nảy sinh hy vọng, hy vọng chóng bắt rễ xuống trái tim.

Giáng Sinh trắng

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 23 May 2026

Cửa kiếng phòng bếp của chiếc Tina tròn, đường kính rộng đúng sáu tất tây, chỉ đủ nhìn không gian bên ngoài biến đổi từng vùng, từng mùa. Bây giờ là mùa đông,  ngoài boong dầy lên một lớp trắng mịn, ấy vậy mà trên không tuyết cứ tuông xuống ào ào. Cái mững nầy tiếp tục cho tới ngày tàu xuống hàng mặt sức thủy thủ đoàn vừa xúc tuyết đem đổ vừa lạnh teo…

Chiếc Tina cặp bến Hamburg chiều hôm qua, tàu đậu nối đuôi chiếc Đại Dương. Hôm nay là ngày hăm bốn tháng Chạp dương lịch, vậy mà chiếc Đại Dương vẫn xuống hàng với hai cần trục và năm sáu xe vận tải chạy tới chạy lui dẫm tuyết dấy bùn nhầy nhụa. Trông công việc rấp rút chắc chắn chiếc Đại Dương sẽ khởi hành trong vài giờ sắp tới. Như vậy năm nay thủy thủ đoàn bên ấy sẽ mở tiệc Giáng Sinh trên biển và luôn cả tết tây tàu họ vẫn còn lênh đênh trên sóng nước.

     Ðúng ra nghe thông báo chiếc Tina đậu lại qua Giáng Sinh mới khởi hành, thủy thủ đoàn vui vẻ, hào hứng làm đẹp con tàu và cùng nhau sửa soạn cho bửa tiệc Giáng Sinh thêm phần sống động. Ðằng nầy mạnh thằng nào nấy rút vô phòng đóng cửa lại. Mùa đông ngoài trời tuyết rơi lạnh lẽo, ấy vậy mà không khí trong tàu còn lạnh hơn ở ngoài trời.

Mùa Giáng Sinh bên Âu châu người ta ăn uống nhiều lắm. Mặc dầu mấy ngày nầy thức ăn luôn lúc nào cũng đầy bàn,  đầy tủ lạnh. Thực đơn thường ngày cho thủy thủ tuy không sang trọng như những nhà hàng lớn nhưng phẩm chất ăn đứt những căn-tin tập thể trên đất liền và hơn hẳn bửa ăn bình thường ở nhà. Bửa ăn nào cũng năm món và một vài món tráng miệng. Ấy vậy mà có tên ngốc nghếch ngồi  ngó dáo dác bàn ăn, không biết chọn món nào. Cuối cùng đứng dậy đi vô phòng bếp hỏi:       

– Sếp! Hôm nay có món nào đặc biệt không?

Ðầu bếp hỏi lại:

– Cái gì đặc biệt?

Thì hắn ta giơ tay lên gãi gãi đầu, trơ cái bảng mặt đần độn ra, trả lời:

– Không biết.     

Làm như trong ngày Giáng Sinh không ăn được thỏ và gà tây thì sau khi chết sẽ sa vào hỏa ngục hay sao? Mỗi năm, hễ đến tháng Chạp thì có người nhắc nhở đầu bếp phải đặt mua hai loài vật nầy để sẵn trong tủ đong đá. Mấy ngày nầy gà Tây và thỏ bày bán lềnh khênh trong các siêu thị, rẻ như bèo, thịt gà thì lạt nhách, mùi tanh tanh, khô khốc như xơ dừa khô, may gặp đầu bếp khéo tay ướp gia vị đúng cách, pha nước xốt ngon còn nhấm nháp được, bằng không hai miếng thịt dưới ức coi như đồ bỏ. Thỏ nấu rượu chát trước kia còn có người ăn, ngày nay dọn ra để  ngó chơi chớ ít thấy người rớ tới.

     Hơn hai mươi năm làm đầu bếp, tuy tôi chưa từng cắt cổ, nhổ lông thú vật nhưng ngày nào tay tôi cũng dính máu, không con nầy cũng con kia. Trong những ngày cuối năm, tôi thịt ít nhứt cũng một chục ký gà tây và bốn năm con thỏ, đó là chưa kể tới thịt thà, tôm, cá mà tôi chế biến thức ăn hàng ngày và các món nhậu lai rai.  Quả thật, nếu có luân hồi, quả báo thì kiếp sau tôi khó trở lại làm người.

–  Chú, có chuyện gì phụ không?

   Tôi ngoái lại thấy Bobby đứng ngoài cửa phòng bếp. Tôi chỉ tay qua bình cà phê, nói:

–  Có, nhưng rót cà phê uống và ăn cái gì đi đã.

    Bobby là thủy thủ mới tập nghề, nó theo đạo Tin-lành và nói khá tiếng Anh, còn trẻ nên nói chuyện hay ra vẻ hiểu biết. Gặp mấy tên thủy thủ hải hành lâu năm theo đạo Hồi, nhưng không bao giờ đọc kinh Koran, ngoại ngữ đủ để cột dây tàu và gõ sét. Thấy Bobby ma mới nhưng khôn và lanh lợi hơn, mấy ông hè nhau cô lập thằng nhỏ. Bobby không biết chơi với ai nên nó mới lẽo đẽo theo tôi. Bề ngoài lúc nào tôi cũng giữ khoảng cách nhưng có cơ hội thì tôi giúp đỡ và an ủi nó. Làm đầu bếp cho một nhóm người tạp nhạp,  muốn thân thiện với người nào cũng cần phải có thời gian,  hấp tấp kết giao lỡ gặp những tên không biết điều sẻ gây rắc rối trong việc nấu nướng. Chờ Bobby ăn, uống xong tôi phân công nó lột tôm và chỉ cách đánh nước xốt làm cốc-tai. Phần tôi thì lo nướng gà và hầm thỏ.

–  Chú à.

–   Gì đó.

–   Năm nay mình có Giáng Sinh trắng.

–   Vùng nầy mùa đông nào lại không có tuyết.

–   Hồi nhỏ tới lớn lần đầu tui thấy tuyết.

–   Vậy là ở In-đô Giáng Sinh đen.

–   Ha ha…

–   Cười khỉ gì,  nếu không trắng thì đen, nhưng Giáng Sinh bên mầy có ăn gà tây và thỏ không?

Có, nhưng những gia đình theo đạo Tin-lành và Thiên Chúa thôi, chớ đạo Hồi thì không.

–   Hèn chi..

–   Gì chú.

–   Đúng ra giờ nầy thủy thủ xuống dọn dẹp và trang hoàng phòng ăn, chớ có đâu mạnh thằng nào nấy nằm trong phòng riêng lo thủ dâm.

Ha ha, để lột tôm, đánh xốt xong tôi ra trang hoàng phòng ăn cho. Hôm kia thuyền phó thấy cây thông bị sóng lắc ngã, kêu mấy ông dựng lại, mấy ông nói nói Giáng Sinh không phải lễ của đạo Hồi nên không ông nào chịu làm.

–  Chờ người ta làm sẵn nhào vô đốp. Đạo gì mà khôn quá vậy?

–  Đạo Hồi chớ đạo gì.

– Phải chi được ở bên In-đô tao cũng theo đạo Hồi cho sướng. Chiều hôm qua hội nhà thờ xuống tặng quà, ông nào ông nấy khúm núm, nhăn răng cười vui vẻ đưa tay đón nhận và cúi rạp đầu muốn đụng đất, miệng rối rít cám ơn, nhưng khi người ta đi rồi mấy ông lựa lấy quà, còn sách báo rao giảng về nước Thiên Ðàng và kinh Thánh mấy ông cầm lên, gằn giọng nói: “shit!”. Rồi đem liệng vô thùng rác. Nhưng thôi,  bỏ cái chuyện đạo Hồi qua một bên. Hôm nay Giáng Sinh mình lo chuyện đạo Chúa cái đã. Mầy cũng không cần phải trang hoàng phòng ăn làm gì. Lâu lâu đi nhằm chuyến tàu gì mà giống như chuồng thú. Thuyền trưởng thì như con lật đật không khi nào ngồi yên một chỗ, thuyền phó mặt mài râu ria như người tiền sử, phụ thuyền phó thì mỏ nhọn, răng hô nghe ra giống khỉ đột, thợ máy chánh mập như voi và ăn như heo, chỉ có thợ máy phụ còn trẻ và đep trai nói năng tử tế, phần còn lại mở miệng là chửi thề, ăn nói tục tĩu, cự nự nhau suốt ngay. Thủy thủ In-đô của mầy có bốn thằng mà cũng chia phe chia cánh, như vậy cũng đủ biết bữa tiệc hôm nay không kéo dài hơn một giờ đồng hồ đâu. Nấu cho người ăn thì phải khác hơn cho ngợm ăn,  bày biện làm chi tốn công tốn sức.

     Trong phòng ăn không căng giấy màu, cây thông dựng tuần trước bị sóng vật ngã mấy lần làm lá thông rụng sạch không còn lấy một màu xanh, những nhánh cây khẳng khiu bán vào thân cây xám xịt, mấy món đồ chơi và dây kim tuyến treo lủng lẳng làm quằn chiếc cành, vài nhành bị gãy cụp xuống, đèn điện bóng cháy bóng tắc.  Quả thật, nếu khắp nơi ai ai cũng mừng Chúa giáng sinh với cây thông thê thảm như vầy, chắc chắn ông Jêsu sẽ không bao giờ trở lại trần gian như lời ông đã hứa.

    Thuyền trưởng ôm thùng quà quà xuống, phát cho mỗi người một gói giống như người ta phát quà cứu nạn bão lụt. Không có nhạc Giáng Sinh, không nâng ly mời rượu, không chúc lành nhau. Mạnh ai nấy ăn,  nấy uống giống như dân Bắc Hàn bị nhịn đói lâu ngày…

    Đúng như đầu bếp tuyên đoán, chưa đầy một giờ đồng hồ, bàn tiệc bắt đầu rời rạc. Đám đạo Hồi In-đô xí xô xí xào kéo nhau định đứng dậy. Chợt nghe đầu bếp thông báo, buổi chiều phòng bếp đóng cửa. Mấy anh Hồi giáo như hay tin bão lụt sắp tới nơi, anh nào anh nấy hấp tấp chồm lên, buôn cả dao nĩa, trở lại truyền thống ăn bốc, vói tay bốc thức ăn bỏ đầy dĩa bưng lên phòng dự trữ.  Đám officer ngồi cầm cự một lát rồi cũng đứng dậy mạnh ai nấy về phòng. Bữa tiệc chấm dứt chưa đầy một giờ trưa.

   Coi như xong công việc sớm, đầu bếp khoẻ re. Tôi lên phòng tắm rửa sạch sẽ, thay đồ, leo lên giường đánh một giấc tới chiều.

Tôi có thói quen mùa hè bận áo mỏng, Xuân – Thu tôi khoác áo dầy vừa phải, mùa Đông tôi bận áo dầy cộm, choàng khăng cổ thảm nhiên tà tà thả bộ năm ba cây số là thường. Ðêm nay Giáng Sinh, tôi bận áo len bên ngoài áo sơ mi và đặc biệt hơn thắt lên cổ áo chiếc cà-vạt. Những ngày nầy tôi thích lang thang ngoài trời, sau đó ghé hội quán  mua chai rượu đỏ, tới chiếc bàn trong góc nơi có dựng cây thông, ngồi đây vừa nhâm nhi rượu vừa nhìn đồ chơi treo lũng lẵng trên nhánh thông, những bóng đèn màu chớp chớp đủ màu sắc, ngửi được mùi dầu thông tỏa thơm ngai ngái và nhìn được những sinh hoạt xôn xao trong hội quán.

     Khi bước lên bến, tôi thấy Bobby tay kẹp điếu thuốc đi tới đi lui trên kè đá. Ngạc nghiên tôi hỏi nó:

–   Sao mầy còn đứng đây?

Mặt rưng rưng buồn, nó nói:

–   Tôi không biết đi đâu hết chú à.

–   Sao mầy không theo xe hội quán.

Mấy người kia không cho tôi theo

Xe của hội quán chớ xe của mấy người kia sao?

Bobby lắc đầu:

–   Tôi không biết.

    Nhưng tôi biết! Đã sống chung chạ với dân In-đô ngót hai mươi năm. Tôi đâu còn lạ gì tánh tình cùa họ, mười người hết bảy tám, mới ra làm việc nước ngoài mặt thằng nào cũng ngơ ngơ ngáo ngáo như người rừng ra phố. Sau một hai năm, quen bơ, quen sữa bắt đầu hống hách nghênh ngang. Muốn chứng tỏ văn minh hơn đồng hương, không còn cách nào khác ngoài chuyện bỏ truyền thống ăn bốc và chê món ruốc khô (trassie),  món quốc hồn quốc tùy của In-đô, thúi ăn không vô. Lại thêm cái màn ma củ bắt nạt ma mới.  Mấy tháng nay Bobby bị mấy ông hiếp đáp.  Tôi biết hết nhưng đó là chuyện riêng tư của họ tôi không xía vào.  Biết đâu Bobby đi được một vài năm thì cũng cá mè một lứa.  Mặc kệ nó, tôi nhấn mạnh gót giày, quay lưng cất bước.

     Chiếc Đại Dương rời bến hồi nào không biết. Dấu nhầy nhụa như bùn của những bánh xe bốc hàng ban sáng đã được tuyết lấp không còn dấu vết nào, thay vào đó là một màu trắng tinh khôi.Trên những chiếc cần trục dọc theo bến cảng người ta kết hàng ngàn bóng đèn nhỏ thành hình ngôi sao, trái tim và hình cây thông đủ sắc màu nhấp nhau nhấp nháy. Chiếc cầu dài uốn cong nối hai bờ sông Elbe, ánh đèn rực rỡ chiếu xuống dòng sông hực sáng làm cho nền trời đã tối lại càng tối tăm. Tiết trời câm câm lạnh,  không gian im lìm nhưng tràn đầy thánh thiện. Vạn vật như thể hồi sinh câu chuyện cách đây hơn hai ngàn năm ở thành Bết-lê-hem…

     Khi chưn bước đều và tâm tư lắng đọng, chợt gương mặt dàu dàu của Bobby hiện ra làm tôi chạnh lòng. Tôi nhớ lại trong đời, tôi cũng có một đêm Giáng Sinh đầy tủi nhục. Cũng vì cái tật ưa ra vẻ hiểu biết trước những người không hiểu biết, nhưng thủ đoạn thì thâm độc vô cùng. Họ mời tôi tới dự tiệc, rồi cả đám xúm nhau vu khống, chửi rủa thậm tệ, thu vô chiếc băng nhựa, qua Giáng Sinh họ sang ra nhiêu cuốn gởi khắp bạn bè làm quà Tết.  Sau khi xối xả hết những lời lẻ bẩn thỉu, hạ cấp lên người, họ tống cổ tôi ra đường như tống một con vật dơ dáy và kèm theo lời nhân nghĩa, nếu không nghĩ tình đồng hương thì sẽ cho tôi một trận đòn hội chợ.

Khi thoát nạn, tôi run rẩy đạp tuyết bước đi nhưng trong lòng đầy oán hận. Trong lúc cô đơn và tuổi nhục đầu óc tôi toan tính chuyện trả thù. Bỗng tai tôi nghe trong không gian tiếng chuông nhà thờ reo inh ỏi. Tôi đứng lịm hồi lâu, đưa tay ra hứng từng nắm tuyết lấp lên mặt, chà tới chà lui, tỉnh táo. Tôi ngước nhình lên bầu trời trắng đục. Dường như trong tiếng chuông ngân giữa không trung lạnh lẽo toả sự ấm áp thiên liên nào đó. Chợt từ sâu trong tâm thức vọng về hai tiếng ăn năn. Bỏ qua chuyện rửa hờn, tôi đi một mạch về nhà, tắm rửa, thay đồ ngủ, tắc hết đèn phòng và đốt ngọng đèn cầy, lên giường nằm, kéo mền đắp lên tới cổ.  Ðêm nay là ngày Chúa xuống trần, những phiền não trong lòng, tôi có thể giao hết cho Ngài được rồi. Tôi hướng tâm tư tới những điều thánh thiện hơn, tôi nhớ lại những người ơn đã nâng đỡ tôi trong những ngày còn chưn ướt chưn ráo tới đây, kẽ cho áo, quần, người dạy tiếng nói, cho việc làm… Tính ra tôi đã mang ơn nhiều người quá, tới nay tôi chưa làm được điều tốt lành để đền đáp. Lòng tôi lâng lâng một niềm hy vọng và tôi thiếp đi trong giấc ngủ ngon lành. Sáng hôm sau thức dậy, mọi chuyện xảy ra trong đêm qua chỉ còn là cơn ác mộng.

    Tôi ngoái lại thấy Bobby đứng trơ như pho tượng, mặt ngó ra dòng sông Elbe. Tuyết lại đổ nữa rồi, tuyết tuôn đầy đầu, đầy cổ và trắng cả lưng mà nó vẫn không xuống tàu trốn tuyết. Có lẻ nó đương cô đơn, tủi nhục và nhớ nhà, những thứ nầy dễ làm cho con người ta sanh ra lòng thù hận. Trên bước đường lưu lạc nó không còn hy vọng trong tình đồng hương, vậy sao tôi còn hẹp hòi gì mà không chia sẻ cho nó chút tình người. Tôi chụm hai bàn tay lên miệng làm loa kêu lớn:

–   Bobby!!!

    Lâu lắm rồi tôi mới nghe tiếng kêu của mình rền vang trong không khí. Ngày còn là ngư phủ bên bờ vịnh Thái Lan, tôi đã từng quát tháo mỗi khi gặp bầy cá nổi ngoài khơi.  Âm thanh ấy đêm nay vẫn còn mãnh lực làm giựt mình cái pho tượng đứng trơ mặt ra dòng sông.  Bobby tức tốc day lại và đi nhanh về phía tôi:

–   Chuyện gì đó chú?

–   Mầy muốn đi chơi với tao hông?

     Như người đắm thuyền bá được phao, nó nói nhanh:

–    Dĩ nhiên.

–    Nhưng phải đi bộ lên hội quán.

–    Được, được chú đi đâu tôi theo đó.

–   Vậy thì mình đi.

Bobby hỏi tôi:

–   Đêm nay trên hội quán chắc vui lắm phải không chú?

Vui buồn là do lòng mình, tôi câu vai thân mật nói tiếp, đêm nay ngồi nơi yên ổn uống rượu nho, nghe nhạc Giáng Sinh, lòng ấm áp vô cùng.

Tôi khoa tay một vòng:

 –  Nếu lên hội quán mầy thấy hổng được vui thì năm nay mầy cũng có một Giáng Sinh trắng.  Phải không?.

  Gương mặt đưa đám biến mất, nó cất tiếng cười vang:

– Ha ha… đúng lắm,  đúng lắm…. nhứt định đêm nay tôi với chú uống cho say mới được.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 23 May 2026

Dọc thẹo hai hên lề dường thành phố Nha Trang, có trồng cây làm bóng mát. Loại cây này, tôi chưa từng thấy ở nơi khác. Người dịa phương gọi là cây tra. Cũng có người bảo, ñấy là cây bàng ngoài miền Bắc. Chẳng biết có phải hay không. Lá tra to gần bằng chiếc quạt. Mùa hạ, gió cuốn lá khô chạy trên đường, Lá bay xao xác vào sân nhà, gợi cảnh thê lương buồn bã. Mỗi ngày, bà lao công quét lá gom lại góc sân, châm một mồi lừa. Mùi khói ngùi ngùi, gợi nhớ những câu luc bát trong bài bình giảng ca dao tục ngữ của thầy Nguyễn Văn Xung, năm tôi học lớp đệ tam.

Ngồi buồn đốt một đống rơm

Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào

Khói bay lên tận Thiên Tào

Ngọc Hoàng phán hỏi, đứa nào đốt rơm?

Tôi nghĩ bốn câu này không phải là ca dao, thế nhưng vẫn nhớ hoài. Ngồ ngộ, khôi hài, và rất tào lao. Ca dao gì lạ vậy? Về sau, khi thầy dến chơi nhà anh Hòa, tôi có nêu lên sự nghi ngờ rằng những câu trên là do thầy sáng tác. Thầy cười, không xác nhận. Tính thầy vẫn thế, lững lơ với một nụ cười. Ai hiểu sao thì hiểu. Với tôi, mọi chuyện phải tách bạch rõ ràng trắng đen.

Tôi nói: “Nếu của thầy, thì không thể lấy làm ca dao.”

Thầy hỏi: “Ca dao là gì?”

“Là những câu đã được truyền miệng rộng rãi trong dân gian”.

“Hởi cô tát nước bên đàng. Sao có múc ánh trăng vàng đổ đi? Hai câu này của Bàng Bá Lân, nhưng ai bảo đó không phải là ca dao.

“Nhưng bốn câu của thầy, không được truyền miệng trong dân gian thì không thể gọi là ca dao.”

“Sao cm đám khẳng định là của thầy?”

“Vì em chưa nghc ai truyền miệng, ngoại trừ trong bài thầy cho em học.”

Có thể nào em đã nghe hết ca dao trong dân gian?”

Câu hòi của thầy làm tôi đuối lý, nhưng vẫn ấm ức trong lòng.

Tôi nói: “Mai sau, nếu đi dạy học cm sẽ làm thơ, bắt học trò học và bảo đây là ca dao. Đứa nào bảo không phải ca dao, em sẽ dùng lý luận của thầy, chận họng nó.”

Thầy cười: “Ừ, thì em cứ làm thế đi! Nhưng thầy nhắc cho em nhớ rằng, cuộc chơi nào cũng có cái giá phải trả.”

Lại câu nói mập mờ, lơ lửng với một nụ cười. Lá tra rơi rụng là báo hiệu mùa thi đã gần kề. Tôi mệt mỏi  nhiều vào thời gian này. Những con số và công thức toán học rối nùi trong đầu. Bài vỡ lãng đãng lúc nhớ lúc quên. Tinh thần sa sút. Thầy phê bình cách học của tôi là từ chương, không nhằm mở mang kiến thức, Tôi nói, tôi cần cái bằng cấp lận lưng lâm hành trang đi tới. Anh Hòa bảo, đừng để bị cái bằng cấp ám ảnh, lúc nào đầu óc căng thẳng nên đi chơi cho thanh thản.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 23 May 2026

Theo thông thường, chết khi trên 60 được gọi lả hưởng thọ, qua đời dưới 60 tuổi chỉ gọi là hưởng dương, nhung về chuyện trẻ và giả thật khó định nghĩa. “Cỡ bao nhiêu tuổi gọi giả, mà bao nhiêu tuổi gọi là trẻ con?” Trong bài này, tạm thời chúng ta xếp giới trẻ tuổi là đưới 40 vì trên 40 là trung niên, còn cao niên là tuổi giá mà không nghe nói đến mức tuổi (theo tự điển Hán Việt- Đào Duy Anh.) Tuy vậy, không ai trên 50 mà cho mình già, mà cũng ít người già công nhận tuổi 50 là giới trẻ. Tiếc thay ở giữa ranh giới già và trẻ không v phần đất “trái độn,” gọi tuổi “xồn xồn.”

Vậy thi trước mắt chúng ta, già và trẻ thế nào còn “tuỳ người đối diện,” Trẻ lả tuổi đã qua, và già là thời gian sắp tới, biết vậy nhưng giữa già và trẻ có rất nhiều khác biệt, không phải tương đồng mà rất nhiều tương phản. Ngay trong gia đình, con cái đã không hiểu được cha mẹ, mà cha mẹ chắc gì đã hiểu được con. Có khi, con cho cha mẹ là cổ lổ, cố chấp, còn cha mẹ thì nghĩ con là xốc nổi, mất gốc. Ở ngoài xã hội, cái hố ngăn cách giữa già và trẻ cũng thường rất sâu. Già coi trẻ như là “bọn nhóc con”, “miệng còn hôi sữa”, “hỉ mũi chưa sạch”. “chưa ráo máu đầu”, “thiếu kinh nghiệm sống,” và đương nhiên tuổi trẻ cũng có những thành kiến với lớp già, coi thường vị thế của cha ông mà nói rằng “già lẩm cầm,” “già gân,” đó là chưa kể già “xôi thịt,” “háo danh” hay “vô tích sự” …

Thực ra cũng có một số nhỏ giới già ý thức được sức mạnh của tuổi trẻ, mong mỏi có sự hợp tác giữa đôi bên. Nhưng phần lớn khi hợp tác với giới trẻ, giới già thường muốn giành ưu thế của “cha chú” coi bọn trẻ như “con cháu trong nhà.” Tuy hợp tác với nhau, nhưng tuổi trè luôn luôn được giao những nhiệm vụ “năng  động,” “đâu khó có thanh niên” như khiêng bản ghế (già sợ đau lưng), treo biểu ngữ (già sợ trèo cao té nặng), dọn rác (chuyện bần tiện), lo computer hay âm thanh ánh sáng (già không rành máy móc), v.v … chứ ít khi tuổi trẻ được tham gia một buổi họp tham mưu của tổ chức, hay từ nay đảm đương những chức vụ như cố vấn, giám sát. Giới trẻ như thế chỉ là “tay chân sai vặt.” Nếu không cũng chỉ là cây kiểng để người ngoài nhìn vào cũng thấy có đủ hoa, lá. cành. Nếu bắt phải kể ra có tuổi trả nào có khả năng lãnh đạo không, thì chắc ai cũng có thể kể được: này John F. Kennedy đắc cử Tông Thống Mỹ ở tuổi 44: Roosevelt Skerril lên Tổng Thống Cộng Hoa Dominican năm 32 tuổi; Phillip Roesler, một người Đức gốc Việt, năm 38 tuổi được bầu làm chủ tịch đảng FDP và sau đó được bổ nhiệm làm Phó Thủ Tướng Cộng hòa Liên bang Đức. Nhưng trong thâm tâm, người ta vẫn xem đó là những trường hợp hi hữu, chắc chì xảy ra bên Tây bên Tàu, chứ bên Ta và cái cộng dồng này thì tuổi trẻ, theo các cụ, vẫn còn “non nớt” lắm. Có cậu nào hơi thi thố tải năng một chút thi cũng dược xếp vào loại “chưa nóng nước đã đỏ gọng” mà thôi. Gần đây chúng ta thường nghe đến danh từ “hậu duệ” dễ nói dến một lớp trẻ trong nhiều tổ chức cộng đồng. Hậu duệ nói đến một lớp người kế thừa nối tiếp cho một dòng họ hay một công trình. Tạo diều kiện và vận động giới trẻ tham gia vào các tổ chức không phải là một ân huệ cho giới trẻ mà là một sự cần thiết. Mai đây lớp già tàn rụi đi thì ai mà đứng ra gánh vác chuyện non sông. Tre già thì măng mọc, Phi Khanh không thể sống đời mà phải trao đuốc cho thế hệ Nguyễn Trãi! Nhưng thực tình trong thâm tâm, chúng tạ đã đón tiếp và xem hậu duệ như là một thành phần cần thiết có mặt với chúng ta chưa hay chỉ là những thứ trang điểm?

Gần bốn mươi năm qua, việc trao ngọn đuốc dẫn đường cho thế hệ trẻ đưoc coi như đã quá chậm. Đấy thế mà đối với con em “hậu duệ,” các bậc “cha chú” vẫn thấy khó tìm cách cảm thông, phát triển, nâng đỡ, tận dụng vốn khả năng và tri tuệ đáng quý này. Hậu duệ nào mới mấp mé được mời ngồi vào chiếu. các ông đã rào đón, dè chừng, cản bước bằng các “biện pháp chế tài, khiển trách hay loại bỏ.”

Thể thì hỏi liệu con cháu chúng ta còn lòng dạ nào mà tham gia việc nước, tiếp sức với cha ông? Thực ra trong đầu óc, chúng ta vẫn coi thứ con cháu này như những đứa trẻ ngu ngơ trong vòng tay cha mẹ, chưa biết việc đời, phải luôn luôn ở dưới sự hướng dẫn, chỉ dạy của các bậc trưởng thành, thế hệ cha anh. Kẻ ôm riệt cái danh xưng một thời, người đi ra khói nước chậm, ở với Cộng Sản được vài năm, đã cho mình là “kinh nghiệm với CS đầy mình,” phải ra sức dạy dổ cho giới trẻ biết chống Cộng ra làm sao! Bây giờ nhìn giới trẻ từ cộng đồng hải ngoại đến trong nước, chúng ta đã thấy có những việc chúng ta làm dỡ hay không làm được, mà thể hệ sau không những chỉ làm được, mà còn làm giỏi giang, can đảm hơn bọn chúng ta nhiều. Một số người khác thì chẳng thực tâm gì với cái chuyện kế thừa và hậu duệ chống Cộng, đấu tranh dân chù, hay phục vụ cộng đồng. Có khi phải cần người bưng cờ bưng quạt, phò trợ để lấy danh trong cộng đồng. Khi vận động và khen ngợi tuổi trẻ dấn thân phục vụ thì các cụ chỉ chiêu dụ con cháu người khác chứ không phải con cháu của mình. Hỏi đến con cải của mình, thì chúng đang bận “dùi mài kinh sử” để thành bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, luật sư … hay dang lo làm giảu cho rạng rỡ tông môn nhà mình, rồi giải thích, chống chế, cho rằng mỗi người mỗi việc. Như vậy, vận động con chấu người khác tham gia chuyện công ích, mà không phải con cái nhà mình, chỉ là một lối “xúi trè ăn cứt gà!

Ông cha ta đã từng nói “con hơn cha là nhà có phúc”, vậy thấy giới trẻ hơn mình trong bất cứ chuyện gì thì cũng nền mừng chứ sao lại suy bì ganh ty. Lẽ thế gian thì “tre già măng phải mọc”, đó là quy luật tất yếu, không đi ngược lại được. Chúng ta chỉ còn mang được chút kinh nghiệm sống, đôi khi cũng không hoàn toàn ứng dụng được với môi trường mới, thời đại mới, đem ra tạm chia xẻ với lớp trẻ. Trẻ và già phải đối đầu với nhau trong tinh thần tương than tương kính. Đừng dể những tư duy “hương nguyện” làm trì hoãn tiến bộ của cộng đồng bên này và cho cả đất nước bên kia. Phải tin tưởng và bồi đắp cho tuổi trẻ, vì dó là niềm tin của chúng ta vào tương lai.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 23 May 2026

Chuyện xưa kể có chàng Trương Chi dung nhan xấu xí nhưng có tiếng hát tuyệt vời, mỗi lần chèo thuyền qua khúc sông trước cung điện nhà Vua, tiếng hát của chàng đã làm xao xuyến con tim của Công Chúa. Yêu tiếng hát, nàng tương tư luôn cả người hát và lâm trọng bệnh. Vua cho đòi chàng Trương Chi đến bên giường bệnh cho Công Chúa gặp, nhưng khi thấy khuôn mặt xấu xí của chàng, Công Chúa tỉnh mộng và lành hẳn bệnh.

Chuyện xưa, mộng bao giờ cũng đẹp hơn sự thật. Chuyện ngày nay, sự thật phũ phàng làm tan giấc mộng đẹp. Một ông chồng lập gia đình đã lâu, cho đến tuổi già ông vẫn còn vướng bận hình ảnh người xưa của mối tình đầu, hiện nay đang còn sống ở Việt Nam. Người vợ làm cho ông vỡ mộng bằng cách cuối đời tạo cơ hội cho ông tìm về chốn xưa để gặp lại người cũ. Người xưa trong trí nhớ của ông, là người thiếu nữ đẹp dịu dàng, mái tóc đen dài chảy xuống bờ vai, khuôn mặt thanh tú, làn da mịn màng, hai hàng mi cong, hàm răng đều đặn trắng muốt. Người mà ông gặp lại hôm nay là một bà cụ già lục tuần, da nhăn, mắt mờ, tóc rụng, hàm răng móm mém, nhìn ông hấp háy qua cặp kính trễ xuống sống mũi, mà hỏi ông: “Ai đây?” Ông như nàng Công Chúa trong tích xưa, giọt nước mắt của ông nhỏ xuống đã làm vỡ tan chén ngọc mang hình ảnh của người xưa trong mộng. Ôi cố nhân!

Vậy mà ông Phan Khôi “hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau” mà còn có thể “liếc đưa nhau đi rồi! con mắt còn có đuôi!” kể cũng lạ. Vậy thì câu hỏi “làm sao để giết người trong mộng, để trả thù cho kiếp phụ phàng?”hẳn đã có câu trả lời. Chúng ta đã đi một đoạn đường dài, trải qua những thăng trầm, ngoảnh nhìn lại, có khi đã nửa thế kỷ, mà vẫn tưởng như mới ngày hôm qua. Vẫn tưởng như trái me, trái sấu của ấu thời còn vị chua, vẫn tưởng như ly chanh đường nơi sân trường còn vị ngọt. Nhiều người bạn than phiền sao ngày nay trở lại quê hương, ăn những món ăn thời thơ ấu không còn thấy ngon. Ly chè đậu trong ngôi nhà của người phu trường, chiếc bánh khọt ngoài ngôi chợ nhỏ, nắm bắp rang một hôm trời mưa bão, tô phở một sáng thành phố trời trở lạnh, còn mang trong trí nhớ cho đến khi tóc đã bạc, chân đã yếu, con cháu đầy đàn và tấm thân đã lưu lạc ở xứ người. Dư vị của những món ăn ngày tháng cũ như đã phai nhạt không còn gì cho hôm nay, ngày trở về, thế mà chúng ta vẫn cất công đi tìm lại. Không còn gì nữa. Khung cảnh ngày xưa đã không còn, người xưa đã vắng bóng, bạn bè ly tán, vật đã đổi, sao đã dời. đi tìm lại. Hương vị xưa không còn nữa, sao chúng ta còn muốn. Rồi những thành phố của một thời ấu thơ, những thành phố trong kỷ niệm, bây giờ chỉ còn trong trí nhớ. Dù là Hà Nội, là Huế hay Saigon, dù là Nha Trang, là Đà Lạt hay Cần Thơ. Dù là lá bàng vàng mùa thu, phượng đỏ mùa hè, dù là rừng thông hay bờ dương liễu. Có khi đó chỉ là nền của một ngôi nhà cũ, có khi là một bờ thành đã rêu phong, làm sao tìm lại được dấu chân kỷ niệm của những ngày đã xa.

Hoàng Anh Tuấn xa Hà Nội từ những ngày hoa niên, mang theo mùa thu với gió heo may, nhớ tấm khăn san dịu dàng. Ông mang theo hình ảnh Hà Nội ngày ấy, cuộc hành trình dài hơn nửa thế kỷ, cho đến lúc giã từ cuộc đời, vẫn chưa một lần trở lại Hà Nội. Hà nội ngày ấy vẫn còn như y nguyên trong trí nhớ cho đến lúc ông ra đi:

“Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc

Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm

Giã từ em, mười bảy tuổi một lần

Thu rất mỏng, mưa hững hờ đẫm lá

Hà Nội yêu, áo lụa ngà óng ả

Thoáng khăn san nũng nịu với heo may”.

Thôi thà như thế, Hà Nội như cố nhân, gặp gỡ lại làm gì cho tan nát cõi lòng. Và Huế hôm nay đâu phải là Huế của ngày xưa. Có lẽ không bao giờ tôi trở lại Huế nữa. “Huế bây giờ không còn là Huế của ngày xưa. Huế không còn người cũ, chỉ là cảnh xưa xót xa hoang tàn và vô hồn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể “tắm hai lần trong một dòng sông,” như không thể tìm lại mùi vị của một món ăn ngày trước, hương thơm dịu dàng của một đêm trăng sáng trong vườn xưa, và một mối tình xa xôi đã mờ nhạt.”(Huế Của Một Thời)

Đối với tôi, Huế bây giờ cũng chỉ là cố nhân, một hình bóng “đi xa để mà nhớ!”.

Saigon, với những dòng thơ Nguyên Sa

“Nắng Saigon, em đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”.

Ngày nay cũng chỉ là một thành phố cũ trong kỷ  niệm của những người đã bỏ quê hương ra đi, với nỗi ngậm ngùi. Ngày nay, Saigon đối với chúng ta cũngchỉ là cố nhân. Đà Lạt bây giờ có còn là Đà Lạt của Hoàng Nguyên ngày trước:”Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi .. ” Ngày nay Hồ đã cạn nước, Đà Lạt đâu còn thướt tha, thanh lịch để thương để nhớ cho ai. Ta ngậm ngùi nhớ lại những hình ảnh cũ, nhớ lại người xưa. Thương cho cố nhân phong trần, tiều tuy, xác xơ. Ai còn nhớ đến Cần Thơ với những bến sông đầy tôm cá, với những khu vườn thơm ngọt trái cây Hậu Giang còn trong trí nhớ, để xót xa với cảnh đời hôm nay:

“Chiều chiều trước bến Ninh Kiều.

Dưới chân tượng Bác, đĩ nhiều hơn dân.”

Có những thành phố không bao giờ chúng ta còn trở lại. Có những bến sông chúng ta không còn có dịp trở về. Có những con người chúng ta không còn gặp lại. Mà thôi, thà như thế.

“Xây bao nhiêu mộng thế mà,

Đến nay phải gọi em là … cố nhân!” (Nguyễn Bính)

Xin đừng bao giờ hy vọng kéo lại ngày tháng đã qua, xin đừng hy vọng tìm lại những hình ảnh cũ.

Thôi, “Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta.” (Thiên Thai- Văn Cao)

Một thời để yêu & Một thời để chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 22 May 2026

Đến sáng thì cảnh vật đã thay đổi. Giữa một biển hơi man mác nổi lên từng cái đảo lấm tấm sáng. Graber ngồi gần cửa sổ, dán mắt vào cửa kính. Y nhìn không chán mắt đồng ruộng với luống cày đều đặn hiện ra từng rạch đen giữa làn tuyết trắng, đồng cỏ bắt đầu mọc cỏ xanh dờn xen lẫn với từng đốm tuyết như bông nõn. Không có hầm hố do bom đạn đào lên, không có dấu vết tàn phá đổ nát. Một cánh đồng phẳng phiu nhẵn nhụi. Không có hầm núp, không có công sự pháo đài, chỉ có miền thôn dã xinh tươi.

Làng thứ nhất xuất hiện. Nhà thờ với con gà thếp vàng trên nóc, trường học với cái chong chóng chầm chậm xoay. Một quán ăn với mấy nông dân, những căn nhà cửa mở, cô gái quê cầm chổi quét lá vàng, tia nắng thứ nhất rọi vào hàng ngàn cửa sổ kính còn nguyên vẹn, trại ấp sơn phết choang chóe như đồ chơi con nít, cây cối nguyên vẹn không dấu vết bom đạn, phố xá đầy học sinh. Đã từ bao lâu Graber không hề trông thấy một đứa trẻ con. Y thở nhẹ nhàng, lòng ấm lạ.

Y đang chờ đợi những cảnh tượng như thế những cái mà y muốn thấy lại, giản dị, yên lành, bền vững.

Một sĩ quan ngồi phía cửa sổ bên kia cũng bảo y:

– Ở đây cái gì cũng khác, phải không anh?

Graber cảm động trả lời:

– Vâng khác lắm.

Dần dần sương mù tỏa khắp. Chân trời xuất hiện từng khu rừng. Mắt có thể nhìn ra những khoảng rộng xa hơn. Đường dây thép vẫn chạy theo con tầu ở hai bên đường sắt. Từng chùm dây cất bổng lên trời rồi bất thần một cột thép hiện ra, chùm dây hạ xuống một cách phũ phàng – bản ký ghi âm một khúc hợp tấu yên lặng vô biên. Đàn chim tung cánh bay vù đi rồi tụ lại trên dây thép ở một nơi khác xa hơn một chút. Đồng quê yên tĩnh. Tiếng súng gầm ngoài măt trận đã yên. Không thấy bóng dáng một chiếc phi cơ nào. Graber có cảm tưởng như mình ra đi cả mấy tuần nay. Những khuôn mặt bạn bè bắt đầu mờ dần trong trí nhớ.

– Hôm nay là thứ mấy nhỉ?

– Thứ tư

– Ừ nhỉ, hôm qua là thứ ba. Không biết chúng ta có được uống cà phê không?

– Sao lại không? Ở đây đời sống vẫn như xưa.

Một vài người lấy bánh ra ăn. Graber vẫn đợi, y muốn dùng với cà phê. Y nghĩ đến những bữa ăn sáng thời bình, bà mẹ bày trên bàn phủ khăn tinh tươm nào là mật ong, bánh, sữa nóng, chung quanh bình cà phê. Ngoài hiên chim yến hót líu lo, mặt trời vuốt ve bỗng hương diệp dưới cửa sổ. Y thường lấy ngón tay vò nát mấy chiếc lá dày dặn màu xanh đậm để mùi thơm kỳ lạ gợi lên cảm tưởng những xứ xa lạ. Trong mấy năm gần đây, y đi không thiếu gì cảnh lạ xứ xa, nhưng trong hoàn cảnh khác hẳn điều mong ước. Y trở lại gần cửa sổ toa tầu, bây giờ y tin tưởng hơn trước. Thợ thuyền đang làm việc, ngẩng đầu lên nhìn xe hỏa đi qua. Trong chỗ vài người đàn bà đầu bịt khăn sặc sỡ. Viên hạ sĩ hạ cửa kính xuống giơ tay vẫy. Không ai trả lời. Y ngượng ngập lẩm bẩm: “Đồ ngốc! Thay kệ các người”.

Vài phút sau, họ đi qua một cánh đồng có một toán vừa đàn ông lẫn đàn bà đang làm việc. Anh hạ sĩ vươn người ra vẫy tay lia lịa. Họ thản nhiên mặc kệ. Anh ta chua chát mà rằng: “Mình hy sinh xương máu ngoài mặt trận cho những người như thế đó”.

– Có lẽ họ là tù binh hay công nhân ngoại quốc.

– Trong bọn có nhiều đàn bà, ít ra họ cũng trả lời mình chứ.

– Có lẽ họ là đàn bà Nga hay Ba Lan.

– Trông bề ngoài không phải người ngoại quốc. Vả chăng, thế nào cũng có người Đức.

– Chuyến tầu này chỉ chở thương binh. Đáng ra người ta phải xúc động khi thấy thương binh chớ!

– Họ là những người ngu si, chân lấm tay bùn chỉ biết chăn vịt nuôi heo.

Anh ta kéo cửa kính kêu “sầm”.

Anh thợ sửa khóa nói:

– Ở miền Cologne chúng tôi, người ta không tệ bạc đến thế.

***

Con tầu vẫn đi miết. Đến một đường hầm tầu dừng lại hai giờ. Trong toa không có đèn, mọi người chịu cảnh tối như đêm dày. Mặc dù đã quen ở dưới hầm tối, họ cũng thấy lòng nao núng bồi hồi, ai nấy im lặng. Trong tối lập lòe đóm đỏ thuốc lá.

“Hẳn là máy có gì trục trặc”.

Mọi người lắng tai nghe nhưng không có tiếng máy bay mà cũng không có tiếng nổ.

Anh thợ khóa hỏi Graber:

– Anh đã đến Rothenbourg chưa?

– Hình như đó là một tỉnh già nua lắm.

– Anh ta đến thăm rồi à?

– Chưa. Thế còn anh?

– Chưa. Mà tôi đến đây làm gì?

Anh mặt chuột xen vào :

– Giá anh xin phép đi Bá Linh thì hơn, ít khi được phép nghỉ. Đến Bá Linh chơi thú vị hơn đi chỗ khác.

– Tôi không muốn đi chơi, mà khách sạn đắt đỏ lắm. Tôi muốn về thăm nhà.

Tầu chuyển bánh.

“À, có thế chứ! Tôi tưởng chúng mình bị chôn sống ở đây!”

Trong tối đã hiện ra vài vết sáng. Sáng thêm. Rồi thình lình cảnh vật hiện ra, xinh tươi hơn cách đây hai giờ. Mọi người chạy xô về phía cửa sổ. Họ theo bản năng đưa mắt tìm vết tích bom đạn. Không có gì dấu vết tàn phá. Buổi sáng tinh sương làm họ say sưa như rượu êm nồng.

Vài giờ sau tầu dừng lại ở một ga. Anh lùn bước xuống, kế theo là anh hạ sĩ và hai người khác. Trời tối sầm lại. Mây xanh từ hướng tây nổi lên. Lần thứ nhất Graber nhận thấy địa hạt này quen thuộc với mình. Y không nhận ra một cái nhà, một ngọn đồi hay một cái làng nào quen thuộc, nhưng toàn thể phong cảnh này đối với y không có gì xa lạ. Kỷ niệm từ xa xưa tràn đến với vẻ quyến luyến mãnh liệt. Cảnh vật hiện ra với những nét mờ tỏ, trí nhớ hiện lên với những nét mông lung, hầu như y mơ màng lúc trở về chứ không sống lúc trở về, nhưng chính cái vũ trụ thấy lại ấy, chính những hình ảnh không thực ấy vấn vít cõi lòng với sức mạnh hơn bao giờ. Dần dần tên các ga trở nên quen thuộc. Y thấy lại những thị trấn trước kia đã qua chơi. Trí nhớ làm cho khí trời trong sáng, ngát hương rừng sim, rừng thông, rừng cỏ. Tỉnh nhà không còn xa, Graber khóa chặt ba-lô và đợi những căn nhà đầu tiên xuất hiện.

Tầu dừng lại. Nhiều người bước xuống. Graber nhìn xuống sân ga. Người ta hô tên tỉnh nhà.

Anh thợ khóa bảo y:

– Thôi về nhà chơi thỏa thích nhé!

– Chưa đến nơi mà, ga ở trung tâm thành phố cơ!

– Có lẽ mới dời ra đây. Anh thử hỏi xem.

Nhiều quân nhân đã leo lên, ba-lô làm nghẽn cả lối. Bấy giờ y nghe tiếng một nhân viên hỏa xa nói :

– Hành khách đi Werden, xin mời xuống!

Y vội ném ba-lô lên vai, chen qua đám đông đến hỏi:

– Tầu không đi xa hơn nữa sao?

Người ấy ra vẻ mỏi mệt ngước mắt nhìn y:

– Ông đi Werden à?

– Vâng.

– Ông đi về phía trái qua đường rầy xe buýt.

Graber đi quanh xe lửa sang bên kia thì thấy một căn nhà gỗ mới sơn dầu hắc trước đây chưa trông thấy. Xe buýt đậu ở phía sau. Y đến gần người tài xế.

– Xe đi Werden à?

– Vâng.

– Tầu không vào tỉnh nữa à?

– Không

– Sao vậy?

– Vì không vào tỉnh nữa.

Graber nhìn người tài xế, và hiểu rằng hỏi nữa cũng vô ích, không biết gì hơn. Y thong thả leo lên xe ngồi vào một góc. Trời tối xuống, cặp đường rây còn có vẻ mới, nom sáng bóng lượn vòng sang phía đông thành phố Werden. Tầu chuyển bánh, Graber ngồi nép vào một góc xe. Y nghĩ thầm tuy không tin hẳn: “Có lẽ người ta cẩn thận sửa lại cho đường rây chạy ra ngã khác”.

Đến lượt xe buýt bắt đầu nổ máy. Chiếc xe đã cũ lắm sửa đi sửa lại nhiều lần. Nhiều xe Mercedes vượt qua. Xe chở các sĩ quan Bộ Tham mưu và sĩ quan Mật vụ. Hành khách yên lặng nhìn họ. Không ai nói một câu nào, chỉ có tiếng la hét vui vẻ của gái nhỏ chạy giữa hai hàng ghế. Con bé tóc vàng, đeo một cái nơ lam. Nó chừng hai tuổi.

Bắt đầu trông thấy phố xá, nhà cửa còn nguyên vẹn không bị hư hại. Graber thở nhẹ nhàng. Chiếc xe lắc lư đi độ một trăm thước nữa thì dừng lại.

– Xuống đi.

– Đây là đâu? – Graber hỏi người bên cạnh.

– Đường Bramsche.

– Đến đây thôi à?

– Đến đây thôi.

Mọi người xuống, Graber nói:

– Tôi về nghỉ phép. Đã hai năm, giờ tôi mới về đây.

– Ông ở đâu?

– 18, đường Haken.

– Ở bên phố cũ à?

– Phải. Đường Louise, gần nhà thờ Thánh Catherine.

– À!

Người ấy ngẩng mặt lên nhìn trời tối

– Ông biết đường chứ?

– Dĩ nhiên. Ai mà quên đường về.

– Ừ phải. Thôi chúc ông may mắn.

– Cảm ơn!

Graber bước vào đường Bramsche. Y nhìn nhà cửa, lòng e ngại. Không cái nào bị hư hại. Y nhìn cửa sổ. Tối thui. Y nghĩ thầm: Phòng không thụ động. Y thất vọng, nhưng vội cho là mình ngu muội, vì vẫn yên chí là trở về sẽ thấy thành phố sáng trưng như ngày trước. Y rảo bước đi, qua một tiệm bánh không thấy dấu vết một chiếc bánh mì nào. Khách qua đường nhìn vào tủ kính chỉ thấy một bình hoa giấy. Rồi đến một tiệm tạp hóa chỉ có những hộp với thùng rỗng không.

Xa xa, y nhận ra là liệm đồ da. Lúc còn bé y tấm tắc khen ngợi con ngựa nhồi rơm thắng một bộ yên cương màu hung. Lại gần tủ kính coi thì thấy con ngựa vẫn đấy nhưng bộ yên cương đã biến mất. Y cũng thấy con chó lớn nằm yên ngậm một tiếng sủa yên lặng, thuở nhỏ, mươi năm về trước đã có lần y nổi “máu anh hùng” dám vuốt ve nó. Như vậy là không có gì thay đổi cả, thành phố vẫn nguyên vẹn như lúc ra đi. Gặp một người qua đường y chào một tiếng vui vẻ. Mãi sau mới có tiếng trả lời:

– Chào ông!

Giầy móng sắt đập vang trên hè. Trong vài phút nữa y sẽ xỏ chân vào đôi dép trong nhà, để tắm nước nóng, xức nước hoa, rồi mặc sơ-mi sạch sẽ. Y rảo bước đi mau hơn, đường phố như một tấm thảm thần.

Bây giờ y mới ngửi thấy mùi khói, làm y đứng dừng lại. Không phải mùi khói quen thuộc củi gỗ hay lò sưởi. Mùi khói một đám cháy. Nhìn xung quanh thì thấy những căn nhà đen thui, mái còn nguyên, đứng sững trong trời tối.

Hết con đường ấy là một công trường nhỏ trồng nhiều cầy to. Mùi khói hắc càng thêm mạnh, mùi khói hình như bám vào cành cây. Y định tìm xem ở đâu ra. Hình như nó bám ở khắp cả mọi nơi, khác nào trời mưa than tro xuống thành phố.

Ở một góc phố hiện ra căn nhà bị tàn phá thứ nhất. Y xúc động mạnh mẽ. Đã hai năm nay y sống giữa những cảnh đổ nát đã nhiều, nhưng lúc này y chăm chú nhìn đống gạch vụn như lần đầu trông thấy một căn nhà trúng bom.

Y thầm nghĩ: chỉ có một căn. Một căn nhà lẻ loi. Các nhà khác không sao. Đi qua một căn nhà đổ y thở mấy hơi dài. Mùi khói dai dẳng hẳn là ở căn nhà này, nom có vẻ đã đổ hư từ lâu. Có lẽ bị trúng bom lạc, như thỉnh thoảng vẫn xảy ra khi oanh tạc cơ đi ném bom về.

Y tìm tên đường phố: đường Brême. À, nếu vậy thì đường Haken hãy còn xa. Còn đi ít ra chừng nửa giờ nữa. Người đi lại thưa dần. Dưới một cái cổng, bóng đen nhuộm xanh chiếu ra thứ ánh sáng bệnh hoạn âm thầm.

Sau cùng y bước vào một khu bị phá hủy hoàn toàn. Nhà cửa chỉ còn là những mảnh tường nhám đen hình răng cưa đứng trơ trọi giữa trời. Đà sắt lòi ra ngoài tường đá, cong queo như những con rắn đen. Gạch vụn chất từng đống. Dấu vết đổ nát cũng đã lâu ngày. Trong tối, bóng người mờ mờ đi trên đống gạch như những con bọ hung.

“Có ai đấy không?”

Có tiếng gạch đá xô xuống, rồi tiếng chân người chạy xa dần. Những bóng người biến mất. Y chợt nghe thấy tiếng thở dốc. Lắng tai nghe kỹ thì ra là tiếng thở của mình.

Bây giờ thì y chạy chứ không đi nữa. Mùi khói khét thêm ngột ngạt. Hết khu tàn phá này đến khu tàn phá khác. Sau cùng y đến khu phố này đẹp đẽ vì những căn nhà cổ, mái nhọn, đầu hơi thò ra ngoài, trước nhà bảng hiệu trưng đèn sáng rực. Nhà cửa nay đã cháy rụi như que diêm. Bây giờ chỉ còn là một đống đá ám đen, gạch ngói nát vụn còn bốc khói che lấp cả đường đi. Trên không lơ lửng làn khói trắng mờ.

Graber vẫn chạy miết. Sự hồi hộp hành hạ y như một cực hình. Y vừa nhận ra một xưởng đúc nhỏ gần nhà cha mẹ. Có lẽ cái xưởng ấy là mục tiêu của những sự oanh tạc. Y trèo lên những đống gạch còn khói lên ngùn ngụt, vấp ngã túi bụi, va vào khách qua đường làm họ quái dị, đưa mắt nhìn theo. Bất thần y dừng lại, không biết mình ở đâu nữa. Tất cả khu phố đầy kỷ niệm tuổi thơ nay đã bị tàn phá đảo lộn lung tung, y không còn nhận ra nữa. Y hỏi một người đàn bà đi qua:

– Bà chỉ dùm đường Haken.

– Cái gì?

Ba ta kinh hoảng vì đang mặc chiếc áo rách hở thịt, vội vàng lấy tay che ngực.

– Đường Haken?

– Đằng kia, phía tay mặt.

Graber chạy vội về phía ấy. Hai bên rìa đường hàng cây xác xơ vươn những cành trụi lá như giơ tay van lơn. Y tìm cách định hướng. Ngày xưa y vẫn nhìn mặt tiền các dãy nhà để định hướng, bây giờ không còn nhà cửa nữa. Đứng đây có thể thấy nhà thờ, nhưng nhà thờ có lẽ sụp đổ rồi, chỉ thấy trống không. Y không dám hỏi ai cả. Ở giữa một đường phố, cáng xếp thành từng hàng dài. Một toán người dùng cuốc đào bới đống gạch vụn, một toán lính cứu hỏa đang chữa cháy. Nước vòi rồng bốc hơi trước khi tưới xuống lửa. Căn nhà bị cháy là xưởng đúc đồng. Khi nhận ra xưởng đúc, y tìm ra được đường Haken.

Gái Nga gốc Việt

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 22 May 2026

Google photo

Tàu ghé bến St. Petersburg lúc giữa khuya. Gepson cùng với mấy thủy thủ đồng hương của nó lên bờ chơi, khi chúng kéo nhau về tàu thì đã tới giờ điểm tâm. Mấy đứa khác thân thể bèo nhèo như tấm giẻ rách, mặt mày chù ụ, không chào hỏi ai hết, gầm mặt đi thẳng vô phòng ăn. Riêng Gepson thì áo quần thẳng nếp, râu ria nhẵn nhụi, mặt mày tươi rói, dừng lại phòng bếp chào tôi một cái rồi mới đi vô phòng ăn. Nó không  ăn gì hết, chỉ rót tách cà phê ngồi nhâm nhi. Chờ mọi người ăn, uống xong nó đứng dậy đi vô bếp phụ tôi dọn dẹp. Sau khi sắp xếp muỗng nĩa ly tách vô máy rửa, nó khoe với tôi:

– Hồi hôm tui ngủ với Ilona.

– Xạo đi.

– Tui nói thiệt, chú hổng tin sao.

– Mầy thường tuyên bố rằng tới nước nào thì mầy chơi con gái nước đó, tự nhiên đổi món tao thấy làm lạ.

– Tội nghiệp chị ta.

Gepson nhìn đồng hồ tay thấy đã tới giờ làm việc, nó quay lưng đi xuống phòng thay đồ, tới cầu thang chợt nhớ ra chuyện gì, nó quay lại nói với tôi:

– Ilona nhắn chú tối nay lên hội quán cho chị ta gặp mặt.

– Nói sao nghe giống người sắp chết quá mậy?

Nó cười:

– Chắc chị ta cũng sắp chết thiệt rồi, tối nay chú không lên thì sau nầy sẽ không có dịp gặp chị ấy nữa đâu.

 Từ khi đám thủy thủ In Đô biết Ilona là phụ nữ Việt Nam, hễ tên nào ngủ được với cô ả thì vui mừng như được ngủ với người mẫu, hay hoa hậu không bằng, sáng xuống tàu thế nào cũng hí hửng tìm tôi để khoe. Trước đây Gepson chê ngực, mông của Ilona lép xẹp, thân hình thì ốm nhom ốm nhách giống y bộ xương trong các phòng thí nghiệm, thà nó bỏ gấp đôi tiền để bao một cô gái Nga trẻ đẹp, chớ cỡ như Ilona cho nó thêm tiền nó cũng không thèm, nhưng không hiểu vì sao hồi hôm nó lại hứng tình ngủ với con nhỏ. Không biết Ilona có chuyện gì mà nó úp úp mở mở làm tôi có hơi lo.

Tính ra tôi quen với Ilona cũng lâu lắm rồi, có chừng hơn năm năm, tàu đi đi lại lại bến St. Petersburg có mấy chục bận. Tôi còn nhớ vào mùa đông năm ấy tuyết đổ ngập trời và trắng đầy mặt đất. Tôi cùng với mấy thằng bạn đạp tuyết lên hội quán thủy thủ, hội quán ở St. Petersburg trang trí đèn hồng mờ, sàn nhảy rộng và một phần sân khấu thiết bị cho các vũ nữ nhảy sexy không thua những hộp đêm kiểu Mỹ. Các bà, các cô ăn bận sang trọng và mặt mày lúc nào cũng tươi như hoa. Ngồi chơi cho tới giữa khuya thì mấy thằng bạn mỗi người dẫn một cô đi du dương đâu đó. Còn lại mình ên ngồi bên chiếc bàn lớn quá, sợ các bà, các cô tới rủ rê mời mọc, tôi bèn đứng dậy đi tới quày ba leo lên chiếc ghế cao cẳng ngồi, kêu một ly bia nhâm nhi và coi người ta nhảy nhót. Bỗng từ trong góc tối một phụ nữ vóc dáng Á Châu, mình dây mặt mày tô son vẽ phấn trông già dặn, chừng trên ba mươi tuổi, đi lại đứng bên cạnh khều khều sau lưng tôi nói hê-lô. Tôi không có ý tiếp chuyện nên lơ là ngó lại chào một cái rồi day qua tiếp tục uống bia. Cô hỏi tôi có phải là người Phi Luật Tân không. Vẫn không nhìn lại tôi nói:

– Không.

– Vậy ông là người gì?

– Người Việt.

– Ồ, tui cũng là người Việt.

Ngay trong lúc nầy dù có thần nữ Rạng Đông phương Bắc (Aurora borealis) xuất hiện tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên, huống hồ chi một phụ nữ Việt Nam làm gái bán hoa trên đất Nga nầy. Tôi lơ là quay qua cười gượng gạo hỏi một câu bằng tiếng Việt. Cô ta lắc đầu giải thích bằng thứ tiếng Anh nửa nạc nửa mỡ, đại ý là cô qua Nga hồi còn nhỏ nên không nói được tiếng Việt. Tôi nghĩ đây chỉ là mánh khoé của những cô gái giang hồ, các cô thường hay tưởng tượng ra những câu chuyện vui cười hoặc chuyện thương tâm làm cảm động lòng người để dễ dàng câu khách, lời nói của cô ai tin cho được, nhưng vì phép lịch sự tôi hỏi lại:

– Cô biết Việt Nam?

Một tay cầm diện thoại di động một tay đưa ra làm dấu bóp cò súng cô nói.

– Tui biết, ở Việt Nam có chiến tranh, bắn nhau bang bang…

Tôi khoa tay một vòng lên khoảng không:

– Chiến tranh Việt Nam cả thế giới ai cũng biết nhưng đã qua lâu rồi.

Cô gái để điện thoại lên mặt quầy rồi leo lên chiếc ghế trống bên cạnh ngồi, day ngang hỏi tôi:

– Ông không mời tui uống gì sao?

– Các cô chê bia là loại rẻ tiền không chịu uống, còn tui thì không đủ tiền trả cho một chai Champagne.

– Không sao, tui uống bia với ông.

– Ô kê.

Tôi gọi bia và day ngang nói:

– Tui chỉ đủ trả tiền bia cho cô uống tới say, nếu muốn ngồi với tui thì cô không được đòi hỏi thêm gì khác.

Thường những cô gái khác nghe những lời tôi vừa nói thì thế nào cũng  mắng thẳng vô mặt và chưởi tôi là một tên bần tiện trước khi các cô khinh khỉnh bỏ đi. Nhưng cô gái nầy lại cười vui vẻ:

– Ông có gì để tôi đòi.

– Bởi vậy tôi mới dặn trước.

Người đứng trong quày đưa bia ra cho cô gái. Tôi bưng ly lên mời. Cô gái bưng bia lên uống rồi để ly xuống, cô hỏi tên tôi và tự giới thiệu tên cô là Ilona. Từ đó trở đi mỗi lần tôi tới, lúc nào có khách thì Ilona ngồi với khách, còn không thì tới ngồi uống bia, trò chuyện với tôi.

Một hôm Ilona đem cho tôi xem tấm hình người đàn ông chụp chung với một người đàn bà, cả hai bận đồ chánh quy, đầu đội nón cối, nhìn qua biết ngay là bộ đội miền Bắc Việt Nam. Ảnh vàng ố, cũ mèm, cô cho biết đó là tấm hình duy nhứt của cha, mẹ mà cô còn giữ được. Tuy trao đổi với tôi bằng thứ  tiếng Anh ba rọi nhưng lâu dần tôi cũng hiểu được hoàn cảnh của cô. Đại khái ba, má cô chết trong thời chiến tranh, sau đó người ta đem cô cho một gia đình người Nga. Thời Xã Hội Chủ Nghĩa cô sống với ba má nuôi, sau khi nước Nga thay đổi, ba má nuôi về hưu, lương hưu không đủ nuôi cả nhà nên cô bỏ ra đây làm cái nghề nầy… Thú thật tôi nghe chuyện của cô có bị xúc động cũng giống như xem phim truyện về một bi kịch để rồi sau đó quên luôn. Nhờ quen với Ilona tôi mới biết, dù trong một xã hội khắt khe, tồi tệ cách mấy vẫn có những con người giống như ba, má nuôi của Ilona, sống vị tha và giàu lòng nhân ái…

Mỗi lần ngồi với nhau, Ilona hay nói chuyện về Việt Nam, những hiểu biết của cô có thể lượm lặt qua báo, đài và xem trong phim truyện, cô hay lầm lẫn Campuchia là Việt Nam, như xem phim Cánh Đồng Chết (Killing Field) cô cho là chuyện xảy ra ở Việt Nam. Nghe cô kể chuyện quê hương Việt Nam mà tôi thấy giống như chuyện của mấy nước nghèo đói nào đó ở Châu Phi. Có lẽ thấy tôi không mặn mà về những chuyện kể nên có lần cô thắc mắc hỏi tôi:

– Ông không nhớ Việt Nam sao?

– Nhớ rồi làm gì? Hổng nhớ rồi làm sao?

Ilona móc thuốc ra châm hút, ngẫm nghĩ một lát, cô nói:

– Khi nào có được nhiều tiền tui sẽ về Việt Nam giúp đỡ mấy người nghèo bên đó.

Tôi đương hớp ngụm bia, nghe cô ta nói tôi cười làm bia tràn lên mũi muốn sặc ra, nhưng tôi kịp ém hơi và khặc nhẹ một cái. Tôi nuốt nước miếng rồi hít vô một hơi dài, thở ra một hơi mạnh và nói:

– Dân chúng nước Nga sống cũng đâu khá hơn dân chúng Việt Nam bao nhiêu.

Ilona vân vê cái điện thoại cầm tay:

– Tui thấy dân Việt Nam sang Nga đi làm việc rồi trốn ở lại, không nhà cửa, ngủ ngoài đường.

Tôi hất hàm hỏi:

– Cô không thấy những người Việt giàu có ở Nga sao?

Ilona lắc đầu:

– Không.

– Ở Việt Nam cũng như ở nước Nga vậy, có rất nhiều tỉ phú và cũng có nhiều ăn mày ngủ bờ ngủ bụi. Tui đã thấy nhiều người Nga lang thang ngoài đường giữa mùa đông đầy tuyết, họ lục lạo thùng rác kiếm ăn và ngủ trước bến xe điện hoặc trong các hóc hẻm tối tăm, trông họ ăn bận dơ dáy hơn ăn mày ở Việt Nam và mùa đông nào cũng có ông già, bà lão chết vì đói lạnh…

Thấy Ilona ngồi trầm ngâm nghĩ ngợi, tôi nói tiếp:

 – Cô nên sống với hiện tại và vui hưởng những gì mình có, nếu thấy có cái xấu xa thì cố gắng sửa lại cho tốt lành, còn chuyện quê hương đất nước hay cái gốc rễ cội nguồn gì gì đó chỉ là ảo ảnh thôi, cô quên phứt đi cho khoẻ.

– Nhưng tui chưa biết nước Việt Nam.

–Vậy thì dành dụm tiền đi chơi cho biết. Mà nè, nếu cô muốn cứu giúp người thì nên tự cứu giúp bản thân cô trước đã.

– Tui đâu có gì.

Từ ngày nước Nga đổi sang kinh tế thị trường, các cô gái bán hoa cũng tăng giá cho đúng theo tiêu chuẩn quốc tế. Phải công nhận con gái mới lớn ở Nga đẹp tuyệt vời, giá những cô gái nầy, tính luôn tiền phòng, trên một trăm euro cho một giờ. Còn xồn xồn như Ilona hoặc mập quá ký, ốm quá cỡ thì trên dưới năm chục euro, tùy theo mặc cả trao đổi giữa người mua kẻ bán, giá nầy vừa túi tiền thủy thủ, nhờ vậy mà Ilona vẫn còn làm ăn được. Ở đây các cô sẵn sàng phục vụ thủy thủ đủ kiểu, đủ cách và bất cứ ở đâu. Nếu tàu sắp khởi hành, anh nào muốn xả xú-báp mà không có thời gian thì cứ bỏ tiền ra rủ một em cùng chui vô nhà cầu đánh nhanh, rút gọn… Mỗi khi có anh nào rủ “đánh nhanh” thì Ilona kêu các bạn đồng nghiệp khác làm, cô chê nhà cầu dơ dáy không bao giờ vô đó làm cái chuyện “ấy”. Nhìn người phụ nữ quá thời, giống như bó hoa úa héo hạ giá đem rao bán giữa chợ chiều, tôi đâm ái náy cho cái tấm lòng từ bi của cô, muốn vạch cho cô thấy những cái “có gì” của cô…

Nhưng nghĩ lại, tôi đương ở giữa một nơi người ta dùng bia, rượu thay cho nước, tiền đô xem như giấy báo. Một tên keo kiệt như tôi không dám bỏ tiền ra mua một chai rượu thết đãi thì lấy tư cách gì lên lớp dạy dỗ ai. Về sau có những lúc ngồi với nhau, khi nào Ilona hỏi tôi mới trả lời hoặc có chuyện vui góp vài câu, bằng không thì ngồi nghe cô tha hồ thao thao bất tuyệt về một quê hương mà cô chưa từng biết…

Đầu mùa xuân năm nay, Ilona báo cho tôi biết, cô sẽ sang Tiệp Khắc làm ăn và không trở lại đây nữa. Không hiểu sao, sau thời Cộng Sản ở mấy nước ở Đông Âu, đi tới đâu cũng thấy đầy dẫy gái bán dâm. Định hỏi cô sang đó làm gì, nhưng nghĩ lại có biết chuyện thì tôi cũng chẳng giúp được gì cho cô, hơn nữa nếu cô đổi nghề thì thế nào cũng khoe với tôi rồi, cần gì phải đợi tôi hỏi. Hôm tàu sắp rời bến, tôi dẫn Ilona đi ăn nhà hàng Tàu và sau đó chúng tôi đi dạo bên bờ sông Neva cho tới khuya mới chia tay. Ilona bịn rịn ôm hôn tôi và khóc thiệt nhiều. Tôi khuyên cô một vài câu gì đó mà giờ đây tôi không còn nhớ nữa và tôi cũng có cho tiền nhưng cô không lấy. Thật ra thì từ ngày tôi biết Ilona cho tới ngày chia tay có chuyện vui mừng cô ôm tôi và có chúng tôi cũng có những đụng chạm nhau lúc ra sàn nhảy nhót, nhưng tôi chưa bao giờ để cảm xúc mình hướng về thân thể của cô. Thiết nghĩ tôi với Ilona bất quá chỉ là hai lữ khách tình cờ gặp nhau trên một đoạn đường rồi đi chung một hướng, bây giờ đã tới ngã rẽ mỗi người phải về một nơi, âu cũng là chuyện bèo bọt thường tình nên tôi không cảm thấy xúc động chút nào trong lúc chia tay. Vậy mà từ hôm đó tới nay cũng gần năm tháng rồi, không hiểu sao cô ả vẫn còn lẩn quẩn ở đây?

Chiều nay thấy bức rức trong lòng, tôi mở cánh cửa sổ rộng ra cho  thoáng gió. Suốt ngày nay đầu óc tôi cứ nghĩ đến Ilona, khi bất chợt nghe gió lành lạnh thổi vào phòng, tôi có cảm giác như gió báo hiệu mùa thu đến. Tôi đứng dậy, đi tới đóng cánh cửa lại, nhìn xuyên qua cửa kiếng. Từ lúc nào không biết, những lá trên cây đã ngả màu vàng và rơi lả tả bay vòng vèo trên bến cảng. Bỗng dưng tôi cảm thấy một nỗi xót xa tràn ngập trong lòng. Tôi nghĩ đến cuộc đời hèn, sang, vinh, nhục… sống như thế nào đi nữa rồi cũng xong một kiếp người… Tự dưng tôi nghe lòng mình thấp thỏm, một cảm giác thèm thuồng không rõ rệt… tôi muốn gặp lại Ilona ngay trong đêm nay và gặp cô để làm gì tôi cũng chưa biết…

Tôi ghé hội quán vào giữa đêm, giờ nầy là giờ hội quán ồn ào sôi động nhờ các màn vũ sexy, hấp dẫn nhứt vẫn là màn vũ bàn. Bàn nào có vũ nữ chiếu cố, các anh reo hò mừng rỡ, chào đón bằng cách khui champagne nổ đôm đốp, bọt rượu xịt trắng như vòi rồng. Hai ba anh bợ cô gái để lên giữa bàn, trong lúc cô gái uốn éo mặc cho các anh chồm lên vạch quần lót, áo nịt ngực xem bên trong trước khi nhét tiền vô đó. Bàn nào các cô chưa kịp tới thì đã nghe tiếng huýt sáo, hò hét rân trời và những bàn tay cầm tiền xoè như xoè quạt giơ lên vẫy vẫy…

Tôi đi hết một vòng, ngó quanh ngó quất mà không thấy Ilona đâu hết, định đi lại quầy mua bia uống, chợt nghe mắc tiểu, bèn quay người đi thẳng về phía nhà cầu. Dãy bồn dành cho đàn ông đứng tiểu không còn trống và lối ra ngoài có năm sáu người đứng sắp hàng chờ. Tôi đứng phía sau chót, dựa lưng vô vách cạnh máy bán condoms. Có ba bốn gã đàn ông lần lượt bỏ tiền vô máy rút ra mỗi người mấy vỉ,  tới gã cuối cùng hắn tưởng tôi cũng chờ mua nên có ý nhường tôi mua trước, tôi lắc đầu khoát tay nói không và cười thầm trong bụng. Ngoài kia thì rượu bia được tuôn như nước phông tên, còn trong chỗ khuất nào đó tinh trùng tuôn ra được người ta cho vô bọc. Quả thật, loài người là giống cực kỳ ác độc và vô cùng dã man, không biết mỗi đêm người ta sử dụng hết bao nhiêu condoms và biết bao mầm sống phải chịu chết ngộp trong những bao cao su đó… Tôi dòm qua dãy cầu tiêu, thấy một phòng không khoá, bèn bước tới mở cánh cửa, chợt giựt mình đánh độp khi thấy người đàn ông đứng bên trong, quần tuột xuống tới bắp chưn đưa cái mông to tổ bố và trắng nhách. Một người con gái nhỏ thó, tóc đen tém gọn, quần áo hở hang đương quỳ gối ôm chưn gã đàn ông, mặt cô ngước lên, miệng táp táp giống như bê con đương bú vú bò mẹ… Nghe tiếng cửa mở ông ta hơi sững người day lại, miệng hừ hừ như chó gặm xương và cô gái cũng giựt mình ú ớ trong cổ họng và đưa bàn tay lên lắc lắc… Ở nơi nầy chuyện xảy ra như vầy cũng thường thôi, nhưng tôi có hơi ngỡ ngàng vì chợt thấy mặt người con gái quá quen, tôi nói một hơi mấy câu xin lỗi bằng tiếng Anh lẫn tiếng Nga và vội vàng đẩy ập cánh cửa lại…

Tôi đi tuốt ra ngoài, đi như ma đuổi, và cảm thấy không còn mắc tiểu nữa. Tự dưng tôi thấy xấu hổ trong lòng nhưng không biết xấu hổ về chuyện gì, đầu óc cứ lởn vởn hình ảnh người con gái trong nhà cầu, không biết có bịnh đau gì không, so với mấy tháng trước cô ta ốm nhiều và thân hình rút lại nhỏ xíu… Tuy chỉ thấy thoáng qua, nhưng tôi không thể nào lầm lẫn được, cô ta chính là Ilona, người con gái Nga gốc Việt.

Baltic sea tháng 20 11 2008

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 22 May 2026

Bởi tôi học cua, nên không có chứng chì đệ nhị. Kỷ sư kiều lộ Nguyễn Văn Hoa, trưởng ty Hỏa Xa Nha Trang, là người cấp giấy chứng nhân trình độ tương đương cho tôi nộp đơn thi tú tài. Tôi vào văn phòng của anh, tự giới thiệu và trình bày lý do. Anh vui vẻ nhận lời, đi cùng tôi ra xã thị thực chữ ký. Xong việc, anh nói, muốn thử trình độ học vấn của tôi, Qua hai dêm sát hạch, anh nói, khả năng tôi còn yếu lắm. Anh đề nghị, mỗi tối tôi đến nhà anh sớm hơn, anh sẽ bỏ thì giờ dạy kèm cho tôi. Tôi nói, tội không thể đến sớm, vì còn phải đi kèm trẻ kiếm sống. Tôi cũng nói sơ qua về tình cảnh hiện tại. Anh thco tôi về căn nhà lá, sau một chiều nghỉ việc. Giống như con bé Đông mỗi lần đến đây, anh đi quanh bên ngoài một vòng. Nhìn vẻ bệ rạc tàn tạ của căn nhà. Rồi đứng trầm ngâm nhìn ra nghĩa dịa. Không ai thích nằm ở đó, nhưng lại hay hướng mắt về cái nơi chốn cùng tận của đời người. Chiều xuống âm u. Từ những nấm mồ, bốc lên một làn sương mỏng. Chẳng biết anh nghĩ gì mà nhìn lâu thế. Mắt anh đăm đấm mông lung. Khi buớc vào nhà, anh kêu lên: “Ăn ở thế này thì học hành sao được? Đèn đuốc tù mù sẽ bị hư mắt.” Anh ngước lên mái nhà quan sát, “Trời mưa sẽ dột. Vợ dại, nợ đòi, nhà dột. Người xưa cho đó là ba cái khổ của đàn ông.”

Anh hỏi tôi về sự ăn uống.

Tôi nói: “Có gì ăn nấy.”

“Cũng phai mua chứ?”

“Vâng. Phải mua.”

“Tiền đâu?”

“Kèm trẻ.”

Anh lắc đầu: “Thì giờ không còn nhiều nữa. Bận rộn lo toan đủ thứ việc. Tâm tri đâu mà học?”

Tôi im lặng.

Anh bảo: “Nghỉ kèm tre. Dành thì giờ cho sự học.”

Tôi lập lại lời Kinh Thánh: “Chim chóc bay trên trời, không làm gì vẫn có thức ăn. Hoa cỏ ngoài đồng nội, không làm gì vẫn có áo đẹp. Các con là con của Chúa, lại sợ đói hay sao? Dẫu Chúa nói thể, nhưng nếu em không kèm trẻ, thì đói thật đấy.”

Anh Hòa nói: “Bảo em nghỉ kèm trẻ là đã có cách giải quyết. Em ở nhà anh, khỏi lo chuyên tiền bạc ăn uống. Anh rãnh lúc nào, sẽ dạy thêm cho em những môn còn yếu, gấp rút cho kịp kỳ thi.”

Hôm sau, tôi dọn lại nhà anh Hòa. Thằng Ẩn trách, tham phú phụ bần. Tôi nói, tùy cơ ứng hiến.

Anh Hòa ở trong cái biệt thự của chính phủ. Nhà rộng, có nhiều phòng trống. Trên tường nơi phòng khách, treo cái bản đổ thiết lộ ghi các trạm phụ và nhà ga ở mỗi địa phương. Tôi thường đứng nhìn bản đồ, mơ ước một chuyến viễn du qua những địa danh xa lạ, những nơi đèo heo hút gió. Bữa trước, đọc ké quyển xách anh Hòa để trên bàn, Tự Do Đầu Tiên Và Cuối Cùng của Krishnamuiti. Tôi nhớ câu, “Đi là sống. Dừng là chết nguy trong đời sống hiện tại”. Ý tác giả nói đến sự thăng hoa trong tư tưởng, nhưng tôi vẫn muốn hiểu thco cái nghĩa den cuộc đời. Không biết tự lúc nào, trong tâm hồn sâu thẳm của tôi có tiếng thì thầm rén gọi ra di. Không dự dịnh sẽ tới nơi nào, mà vẫn muốn ra đi. Ở đâu, lòng tôi cũng nhấp nhồm khong muốn ở lâu. Chính cái tâm trạng này làm tôi bứt rứt không yên. Anh Hòa sống một mình. Hàng ngày, có một bà giúp việc mang thức ăn đến, gom quần áo đi giặt, và quét dọn trong ngoài biệt thự. Xong việc, bà về nhà của bà. Tôi không biết chính xác tuổi của anh, chỉ đoán chừng ngoài ba mươi. Nhìn anh, người ta dễ liên tưởng một nông dân chất phác, thuần hậu. Mỗi chiều, sau khi cơm xong, anh hay rủ tôi ra ngồi hóng gió trên hãi biển, nói là để thư giãn tinh thần. Có lần, tôi hỏi anh về chuyện gia đình. Anh bảo, còn độc thân. Tôi thắc mắc, vì số tuổi đời của anh, sao chưa lấy vợ? Anh nói, người minh muốn lấy, họ không chịu lấy mình. Lý lịch của anh, tôi chỉ biết có thế. Không nghe anh nhắc đến đàn bà con gái. Mẹ anh Hoa từ Long Xuyên ra thăm. Bà nhắc nhờ anh từ miếng ăn giấc ngủ, dạy bảo anh nhiều điều về đời sống đạo đức, làm như anh còn là đứa trẻ con. Ban đêm, tôi thấy bà lần chuỗi hạt. Bà ngồi im lặng trong vùng ánh sáng mờ mờ. Người bà như thu nhỏ lại khi đang hướng tâm về một thế giới huyền ảo. Tôi nghĩ, thế gian có quá nhiều người tu, sao xã hội vẫn tràn đầy những bất công đau khổ?

Thỉnh thoảng cũng có những người đến chơi nhà anh Hòa. Nhà sư Thích Trí Tâm. Thi sĩ Quách Tấn. Giáo sư Nguyễn Văn Xung. Ông Xung là người dạy Việt Văn năm tôi học đệ tam, tôi gọi bằng thầy. Ngoài ba người ấy, tôi chẳng thấy có ai. Sư Trí Tâm hỏi tôi theo đạo gì? Tôi nói, lúc đói có vào chùa ăn cơm chuy. Đêm Giáng Sinh, có vào nhà thờ cầu nguyện. Đôi khi cũng theo người quen vào quỳ trong hội thánh Tin Lành. Thuộc kinh Cao Đài, Hiểu giáo lý Hòa Hảo. Không làm thiện, cũng không làm ác. Sư cười, như thế là hòa đồng tôn giảo. Anh Hòa kính cần gọi sư bằng thầy. Sư nhận tôi làm cháu nuôi. Tôi gọi sư bằng chú. Nhờ làm cháu nuôi của su, nên mỗi khi tôi đến chùa, sư bảo xin trái cây trên bàn thờ Phật, đem xuống mà ăn. Sư có chiếc xe hơi hiệu Renaul, thường chở tôi chạy tà tà dạo mát dọc bờ biển. Tôi ngồi phía sau. Nhìn nữ sinh tản bộ, thích cái đáng cặp đùi sau vạt áo dài quyện gió. Tôi đưa tay vẫy vẫy, trêu ghẹo. Nữ sinh chửi, thẩy chùa mắc dịch. Sư tưởng vô cớ bị chửi. Sư nói, mình chẵng làm gì, vẫn bị nguyền rủa. Khẩu nghiệp của người thế gian năng nề lắm. Tôi cảm cái tâm lành của sư. Những lúc sầu đời, cũng muốn vào chùa quy y niệm Phật. Ý nghĩ ấy chỉ phớt qua. Cái mùi tục lụy đối với tội, dẫu sao cũng còn nhiều hấp dẫn.

Thầy Nguyễn Văn Xung và thi sĩ Quách Tấn hay đi chung đến nhà anh Hòa. Anh Hòa đưa tiền, bảo tôi ra chợ mua thức ăn làm cơm đãi khách. Tôi mua cá, phổi bò. Rau muống, Bữa cơm có hai món: cá kho và phổi bò xào rau muống. Anh Hòa xin lỗi khách, vì bà giúp việc đi vắng, nên bữa ăn chỉ có thế. Thi sĩ Quách Tấn gắp miếng phổi bò, nhai mãi. Miếng phổi qua dai, ông muốn nhả nhưng không biết nhả vào đâu. Đành nuốt. Miếng phổi nhợn ngang cổ, làm nước mất ông trào ra. Anh Hòa lại xin lỗi, vì đồ ăn được chế biến bởi tay đầu bếp bất đắc dĩ.

Thái dương bên trái của thi sĩ Quách Tấn có cái sẹo tròn to bằng đồng xu. láng bóng. Ông kể rằng, nhà thơ Hàn Mặc Tử khó chịu vì cái sẹo này, yêu cầu mỗi lần gặp nhau, ông nên ngồi xoay qua vị thế khác để nhà thơ đừng nhìn thấy cái sẹo. Ông nói, chính vì tâm hồn dể xúc động, nên Hàn Mặc Tử làm đuợc những bài thơ truyền cảm đặc biệt. Tôi thích nghe những giai thoại về các văn nhân thi sĩ, Ông bảo, sa vào cái nghiệp thơ van là luy cả cuộc đời. Ông cho biết, hồi còn trẻ ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu thảm thiết của con quạ. Tiếng kêu khoắc khoải điều gì như tuyệt vong. Mãi dến hai mươi năm sau, ông thể hiện được điều ấy qua hài “Đêm Thu Nghe Qua Kêu”, Tôi ngạc nhiên về thời gian thai nghén một tứ thơ.

Ông ngâm bằng cái giọng đặc sệt Bình Định:

Từ Ô y hạng rủ rê sang

Bóng lần đêm thâu tiếng rộn ràng

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

Thu sống Xích Bích nguyệt mơ màng

Bồn chồn thương kẻ nương song bạc.

Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng

Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi

Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.

Thầy Xung, và anh Hòa nghe xong, ngồi trầm ngâm. Tôi phải thu thật rằng, tôi chỉ hiểu từng câu rời rạc, nhưng ghép lại toàn bài thì không hiểu gì cả. Thầy Xung bảo, yếu tính của thơ là truyền cảm. Tôi nói, tôi cũng không cảm, nếu không có cái tựa để thì không ai biết vì nghe tiếng quạ mà ông liên tường đến những địa danh đâu đâu ở tận bên Trung Quốc. Thi sĩ Quách Tấn cười, không nói gì. Anh Hòa liếc mắt nhìn tôi như ngẩm bảo, tôi chưa đủ tư cách để nói về bài thơ của một thi sĩ đã thành danh.

Thầy Xung tuối ngưài bốn mươi, vẫn sống độc thân. Hờ hững với đàn bà. Ông nói, đàn bà vốn nông nổi, nên tính họ bạc. Có lẽ, trên đường đời, ông từng bị phụ nữ từ khước và đá văng vào nổi ê chề đau khổ, nên mang nặng thành kiến. Nhiều lần nghe thi sĩ Quách Tấn và thầy Xung đàm luận văn chương, tôi hiểu ra rằng tâm địa con người biểu hiện qua chữ nghĩa. Trong văn chương ẩn chứa biết bao điều cao cả. cũng không thiếu những tư tưởng thấp hèn. Người có tư cách, hành văn cần thận, chắc bóp từng chữ, gạn lọc từng câu. Kẻ tiểu nhân, khi hành văn thì chữ nghĩa như chó chay rong trên đường, cắn bậy. Tội thử viết bài văn xuôi, nhờ thầy Xung bình phẩm. Đọc xong, thấy không nói gì. Mấy ngày sau, thầy vẫn ngơ luôn.

Tôi hỏi: “Xin thầy cho nhận xét về bài văn của em?

Thầy nói: “Văn em là văn bửa củi.”

“Sao gọi là văn bửa củi?”

“Hành văn nhát gừng, lổn nhổn những đá sạn thô nhám.

Loại văn này chỉ thích hợp cho đề tài chửi lộn, hoặc đòi nợ.”

“Em chưa hiểu ý thầy?”

“Nói đến thế mà vẫn chưa hiểu. Em không phải là người của văn chương.”

Nhận xét của thầy, làm tôi thất vọng.

“Xin thầy chỉ dần cho cm.”

Thầy cười: “Học hành, lấy vợ đẻ con.”

Anh Hòa bảo: “Hãy chờ sau mùa thi, tập làm văn sĩ cũng chưa muộn.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 22 May 2026

Việt Cộng xem những người trình diễn văn nghệ như những người thợ không hơn không kém. Thợ hát, thợ đàn, thợ múa tập họp thành những toán văn công, được điều động làm việc theo chỉ thị và đường lối của đảng, để hoặc là tuyên vận, hoặc để giải trí cho đám đông. Vì vậy chúng ta cũng quen gọi những người này là văn công. Văn công phải được huấn luyện tư tưởng chính trị, có lý lịch, có lập trường, được nuôi dưỡng và nhận công tác theo nhu cầu của từng chiến dịch. Ngày nay văn công được đưa ra nước ngoài trình diễn dưới visa du lịch, dù là dưới hình thức kiếm ăn riêng của cá nhân, do nhu cầu hay được sự cho phép của các cơ quan trách nhiệm trong nước, do đường lối của đảng đều có lợi cho chế độ. Dù những ca sĩ này không hát những bài ca tụng bác hay đảng như hồi chiến tranh “chống Mỹ” hay lúc mới vào Saigon, nhưng những khuôn mặt này vẫn tượng trưng một đám ca hát đang được trọng dụng của chế độ hiện nay ở Saigon.

Chúng ta cũng không thể xem những khuôn mặt này chỉ là cá nhân, “đồng bào” ruột thịt không liên quan gì với chế độ Cộng Sản, nên sẵn sàng giang tay đón nhận. Việc cấm cửa những thể thao gia, nghệ sĩ của một quốc gia khác đến trình diễn là một sự cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với một quốc gia thù nghịch. Ca sĩ trong nước không sang Mỹ, Úc hay Canada để trình diễn cho dân bản xứ các nước này xem, mà là cho những người Việt Nam di dân, trong nước “dốt chữ” gọi là Việt Kiều, đa số là những người tỵ nạn Cộng Sản đã bỏ nước ra đi vì chế độ Cộng Sản. Vậy chuyện “trừng phạt” này không phải là không hợp lý. Chúng ta không có chính phủ hay đường lối để đối phó, mặc nhiên chấp nhận sự tự do hỗn tạp, tuỳ tiện, mở cửa cho những “văn công” được gởi đi từ trong nước. Câu hỏi của chúng ta là có phải tất cả ca nhạc sĩ hiện nay của chúng ta tại hải ngoại đều có cơ hội đồng đều để về trình diễn ở Việt Nam không, hay phải qua những giai đoạn sát hạch về đường lối chính trị, và mỉa mai thay, cả tài năng trước một ban giám khảo như theo tiết lộ của một vài ca sĩ đã xin về nước trình diễn trước đây? Những nghệ sĩ này trước đây đã được cộng đồng hải ngoại nuôi sống từ khi đặt chân đến Mỹ, nay về nước gặp gỡ giới báo chí, trở thành những kẻ cơ hội, ca tụng chế độ đương thời, nói xấu hải ngoại coi mình như “con không cha”, nay về nhận bố đẻ Cộng Sản ở Saigon, khi trở lại đây vẫn được khan giả đồng bào chấp nhận. Bây giờ chúng lại đứng trên sân khấu hải ngoại, cười khẩy vào mặt chúng ta. Nghệ sĩ trong nước ra trình diễn trước hết là cạnh tranh với ca sĩ hải ngoại, vì mỗi nghệ sĩ đều có sân chơi riêng của mình. Xin dành cho những ca sĩ đã cùng hoàn cảnh sống chết với chúng ta chứ không phải tất cả đều “cá mè một lứa”. Cách đây vài năm những ca sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn đều gặp nhiều sự phản đối, dai dẳng nhất là trường hợp Bằng Kiều, cho đến lúc Bằng Kiều “xin nhận nơi này làm quê hương”. Không phải những giới chức trách nhiệm về vấn để đưa ca sĩ ra nước ngoài lưu diễn không biết đến việc này, nên họ dùng kế hoạch “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”. Trước tiên “những ông bầu” cho thử nghiệm bằng cách chỉ để các ca sĩ này chỉ hát thuần tuý ở những sòng bài, xen lẫn với những ca sĩ hải ngoại. Khi thấy không có sự phản đối của người nước ngoài, trái lại còn được báo chí, truyền thông quảng cáo, phỏng vấn, các ca sĩ này bắt đầu hiện diện trong những show hát tại các thành phố lớn có nhiều người Việt, bước tiếp theo là tổ chức những buổi trình diễn toàn là những ca sĩ từ trong nước ra. Vì hải ngoại vẫn mua vé đi xem, một số người muốn đổi món ăn, thiếu ý thức chính trị, nên có lúc báo chí trong nước đã loan tin con số thù lao của một hai ca sĩ ra hải ngoại đã lên đến con số $10,000.00 đô la, số tiền mà ca sĩ hạng nhất ở đây cũng không bao giờ với đến. Trong chủ trương đem văn hoá thâm nhập cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trước đây, Cộng Sản đã tổ chức những chuyến lưu diễn “Duyên Dáng Việt Nam” quy mô và tốn kém, nhưng không có kết quả vì sự chống đối của đồng bào hải ngoại, Cộng Sản xoay qua chiến thuật đánh du kích bằng cách gởi đi những ca sĩ được nuôi dưỡng và ưu đãi từ trong nước, với tính cách cá nhân đi du lịch ra nước ngoài để tránh danh nghĩa là do các cơ quan trong nước tổ chức. Một nguồn tin từ cơ quan thuế vụ Hoa Kỳ cho biết các nghệ sĩ ngoại quốc đến trình diễn tại Hoa Kỳ phải thông báo cho cơ quan IRS ít nhất là 30 ngày trước khi lưu diễn và ký thoả thuận CWA (central withholding agreement) để tránh lỗi lầm không đóng thuế. Sở thuế Hoa Kỳ hiện nay để ý rất kỹ về các cuộc lưu diễn của các nghệ sĩ ngoại quốc, nhất là ở đây lại dưới visa du lịch, vì nhiều năm qua Hoa Kỳ đã thất thu trong các trường hợp này. Các ca sĩ Việt Nam ra kiếm ăn ở ngoại quốc rồi đây sẽ sợ sự thăm hỏi của sở thuế hơn là sợ bị biểu tình phản đối. Hiện nay có nhiều tổ chức chính trị tại hải ngoại đã hô hào biểu tình “chống văn công”, nghĩa là chống những ca sĩ “con cưng” của chế độ trong nước ra trình diễn. Những cuộc biểu tình này nhiều lúc cũng khiến cho buổi trình diễn phải dẹp bỏ, nhưng cũng đôi lúc, “trong vỗ tay, ngoài la hét”, ai mua vé đi xem thì cứ việc đi xem, ai biểu tình phản đối thì cứ biểu tình, vì người biểu tình không được vào rạp để bị kết tội phá rối và ông bà bầu, ca nhạc sĩ thì được nhân viên an ninh hoặc cảnh sát bảo vệ chặt chẽ. Cũng có những cuộc biểu tình nhắm sai mục đích hay thiếu cơ sở không được nhiều người hưởng ứng như cuộc biểu tình chỉ vì một cái khuy nịt có hình ngôi sao trắng chỉ thấy in trên poster, cuộc biểu tình chống một trung tâm ca nhạc chỉ vì ngày trình diễn có xa gần với ngày sinh của Hồ chí Minh (thì đã sao?) Chúng ta đã từng phung phí, tiêu hao quá nhiều năng lực không đúng chỗ, đúng lúc.

Chúng ta buồn vì cứ nghĩ có khi con trẻ ngồi xem trong rạp mà cha mẹ già đứng ở ngoài biểu tình. Các bậc cha mẹ đã giáo dục được con trẻ chưa? Các đoàn thể đã giáo dục được quần chúng chưa? Cộng đồng hải ngoại đã đoàn kết chưa? Lại còn những con cái của những cựu tù nhân chính trị, quên quá khứ của cha ông, chấp nhận ca hát bên các ca sĩ do Cộng Sản đưa ra nước ngoài, chỉ vì mùi thơm của đồng đô la, thật đáng xấu hổ. Nhiều ca sĩ hải ngoại đã có lập trường trước đây, không muốn hay không được về Việt Nam trình diễn, nay trước luật đào thải và thị hiếu của quần chúng cũng đành đứng chung sân khấu với những “văn công”, mà không hề thấy hổ thẹn. Ba mươi lăm năm rồi, Cộng Sản chưa thao túng hay chưa có khả năng khống chế sân chơi hải ngoại vì chúng ta tuy không có chính phủ, không có quân đội, không có công an trấn áp, không có một tổ chức đại diện duy nhất, nhưng còn giữ vững được tinh thần của những người đã bỏ đất nước ra đi vì chế độ Cộng Sản đương thời. Nhờ tinh thần đó, mà hôm nay, Cộng Sản Việt Nam mặc dầu có toà Đại Sứ, Lãnh Sự trên đất Mỹ nhưng chưa treo nỗi một lá cờ trong khu phố của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy trên mặt trận văn hoá, sản phẩm băng nhạc, báo chí, phim ảnh và nhất là ca sĩ trong nước ồ ạt tuôn ra nước ngoài, đến những địa điểm từng hãnh diện mang danh là thủ đô chính trị, thủ đô tỵ nạn … Lý do là vì cộng đồng người Việt của chúng ta chưa đoàn kết đúng mức, chưa một lòng, chưa nhìn rõ lại mình, nên mãi vẫn còn có cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược.”

Muốn loại bỏ ảnh hưởng nghị quyết 36 của Cộng Sản trong công tác văn hóá tư tưởng, hải ngoại có một kho vũ khí tuyệt đối, khá lớn mà không chịu xử dụng. Vũ khí đó là đồng đô la. Trong nước đang cần đô la, chúng ta lại tiếp tế đô la cho trong nước. Các ca sĩ trong nước ra hải ngoại cần đô la chúng ta lại xếp hàng mua vé đi xem. Hải ngoại phải biết nói không và quyết định “không”: đó là không mua vé các buổi trình diễn có văn công, đại lý nhà buôn không nhận bán vé, báo chí truyền hình không chạy quảng cáo thì ca sĩ trong nước không còn đất dụng võ. Khi hải ngoại chúng ta đồng tình nói được chữ “không”, trong rạp hát vắng người xem thì ngoài rạp không cần phải giăng cờ treo biểu ngữ, hay chịu mưa, giang nắng đi biểu tình nữa.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 22 May 2026

Chưa có một dân tộc nào mà sự chia rẽ, phân hóa đã nằm ngay trong khởi thủy, từ lúc mới tạo lập, thành hình. Đó phải chăng là chuyện trăm trứng của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ ngày xửa ngày xưa! Trăm trứng ấy nỡ thành trăm người con. Đang ăn yên ở yên, hòa thuận một nhà thì một ngày kia, bổng Lạc Long Quân “trở chứng” nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được”. Thế là hai người bèn chia con, kéo nhau đi mỗi người mỗi ngã, năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biến. Truyền thuyết này không giải thích anh em khắc nhau như thế nào đến nổi khỏng ở với nhau được mà phải ruột thịt cắt đứt, thân ái chia lìa?

Từ đó, cùng là giòng giõi Rồng Tiên, nhưng họ khinh ghét nhau, xem nhau như thù địch. Mảnh đất miền Trung chật hẹp lại hiểm trở, núi non lại gần biển cá, được cắt ra nhiều mảnh bằng những con sông. người Việt trong lịch sử đã nhiều lần dùng những con sông này, để cắt đất, dựng lên biên giới cho sự thù nghịch, không đội trời chung. Con sông chia cắt Nam- Bắc đầu tiên trong lịch sử là Sông Gianh, còn được gọi là Linh Giang, nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Bình là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nữa thế kỷ (1627-1672). Đất nước chia cắt, bên kia sông là Bắc Hà, bên này sông là Nam Hả, bên ấy là Đàng Ngoài, bên này là Đàng Trong.

Trong thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia ra làm ba kỳ: Nam Kỳ (Cochinchine) đặt dưới quyền cai trị của Pháp, Trung Kỳ (Annam) và Bắc Kỳ (Tonkin) thuộc chế độ bảo hộ. Hầu hết người bình dân Việt Nam vẫn nghĩ đây là ba nước riêng biệt. Người Nam vẫn coi mình là người Việt (Diệt), còn Huế và Hà Nội là nước Huế, nước Bắc. Nhiều người cho đây là chính sách “chia để trị” của Đế Quốc Pháp, nhưng người Việt Nam, khi không ai “chia để trị” cũng tự mình chia năm, xẻ bảy. Sau hơn mười năm, cuộc chiến tranh Quốc-Cộng dằng dai, làm tan nát đất nước, ngày 20 tháng 7-1954, kết thúc bằng hội nghị Geneve (Thuy Sĩ), đã chia cắt Việt Nam ra hai miền Nam- Bắc, lấy con sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị, gần với vĩ tuyến 17 làm đường ranh giời, Sau gần 21 năm, đất Việt Nam “gọi lả thống nhất” nhưng thực sự lại càng chia rõ sâu xa về nhân tâm, chính kiến khó hàn gắn được. Cái chế độ quái đản phát xuất từ Liên Xô đã làm nhiều quốc gia tan nát, chia rẽ trầm trọng. Nước Đức đã sớm thức tỉnh vì dân trí cao, thống nhất trở thành một đất nước không Cộng Sản, nhưng Bắc Hàn còn mê ngủ với chế độ bưng bít, phong kiến, so với Nam Hản còn cách biệt quá xa về kinh tế. văn hóa, khó lòng cho người dân được mở mắt mở lòng, tự do đến với loài người văn minh. Cuộc đấu tranh giai cấp của chế độ Cộng Sàn đã xô đẩy đất nước và con người Việt Nam vào chỗ chia rẽ hết sức khốn nạn. Dù trong thời Pháp thuộc, ở Việt Nam, nông nghiệp lả chủ yếu, dù có là phú nông, trung nông nhưng không hề có chế dộ nông nô, người có của, kẻ có công, đã tạo nên sự no ấm và thái bình cho xóm làng. Sau khi chiếm được miền Bắc, dưới chỉ đạo của đàn anh Trung Cộng, Bắc Việt đã cho phát động chiến dịch cải cách ruộng đất. Đội Cải Cách Ruộng Đất ra mắt làng xã, chiến dịch này chủ trương tất cả các gia đình trong xã làng phải được phân loại thành 5 thành phần: địa chủ. phú nông, bần nông, cố nông. Gia đình có hai con lợn đã có thể gọi là phú nông. Thành phần địa chủ còn được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành: địa chù gian ác, địa chủ thường, địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Chia rẽ nông dân, để giảm sức chống đối, đó là đưởng lối của chiến dịch. Khẩu hiệu của chiến thuật lả: “dựa vào bần cố nông, tranh thủ trung nông, cô lập phú nông, tập trung mũi nhọn vào địa chủ.” Đó là chiến thuật “bẻ đũa thì bẻ từng chiếc”. Ai gây chia rẽ thâm độc bằng bọn Cộng Sản. Theo con số của nhiều nhà nghiên cứu. 15,000 người đã bị xử tử công khai hay bị bỏ đói cho đến chết. Theo báo Nhân Dân thi chiến dịch sửa sai cũng gây thêm chết chóc khi những người được phục hồi trả thù những người đã đấu tố họ oan ức, hoặc chưa kịp trả thù thì đã bị thủ tiêu.

Cộng Sản luộn luôn hô to khẩu hiệu “Đoàn Kết, Đoàn Kết, Đại Đoàn Kết,” nhưng thực tế Cộng Sản là chế dộ tìm cách phân loại nhân dân trầm trọng, chia rẽ dân tộc. Sau khi chiếm miền Nam, chế độ phân chia thành phần nhân dân thực hiện gay gắt, ai là “có công với cách mạng,” ai là “có nợ máu với nhân dân” rạch ròi, minh bạch. Chế độ tuyển sinh vào dại học cũng phân chia ra 13 thành phần. trong đó con cái “Nguy” dược xếp “ưu tiên” vào hạng chót. Chúng kêu gọi đoàn kết “để xây dựng đất nước.”nhưng dung “hồng” thay “chuyên” nên hao nhiêu trí thức đã phải bỏ nước ra đi, chết sông chết biển, nay chúng lại nhọc công mở chiến dịch kêu gọi nhân tài về “phục vụ đất nước!”

Đổi với ngay trong hàng ngũ cán bộ, ăn ở cũng chia thành phần “đại táo” “tiều táo”, chết cũng phân biệt chỗ chôn, như nghĩa trang Mai Dịch là một nghĩa trang liệt sĩ ở Hà Nội, chỉ dành cho những nhân vật có “đóng góp” cho đảng như các thứ trưởng, bộ trườởng, các ủy viên trung ương đảng trở lên; các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ dược giải thưởng Hồ Chí Minh; các tướng lĩnh xuất sắc; anh hùng lực lượng vũ trang v.v .. trong khi ở miền Nam, tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Đại Tướng Lê Văn Tỵ cũng có thể nằm gần một người dân thường. Không có một chế độ nào chia cách phân biệt bằng chế độ Cộng Sàn. Hà Nội đã có câu ca dao sau dây dể chỉ nơi tiêu thụ, mua bán hàng hóa:

“Hàng Bải là chợ Vua Quan. (bộ Chính Trị)

Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần (bộ trưởng vả đảng viên cao cấp)

Đồng Xuân là chợ thương nhân.

Vĩa hè là chợ nhân dân, anh hùng!”

Dưới mắt người miền Nam thì sau năm 1975, người miền Bắc được chia làm ba loại: Bắc Kỳ Cũ (mộ phu vào những năm 41-42 bay di dân vào Nam sinh sống,) Bắc Kỳ 54 và Bắc Kỳ 75.

Có lẽ trong các loại chia rẽ, kỳ thị, đối với người Việt Nam, Nam Bắc có lẽ là vấn đề nhậy cảm nhất. Vì miền Nam khí hậu tốt, đất đai màu mỡ, nên sau năm 1975, cộng sản đã chủ trương đưa hàng triệu người Bắc vào Nam, chiếm cứ dất đai, nhất là vùng cao nguyên, vừa là để đồng hóa miền Nam vừa để giãn dân miền Bắc, Tuy vậy, miền Nam ngày nay vẫn mang mặc cảm Bắc thuộc.

Trờ lại với bản tính dân tộc, người Việt dược xem là một dân tộc thông minh, cần cù, chăm chỉ nhưng đại … chia rẽ. Một người Việt Nam là tuyệt hảo, nhưng ba người Việt ngồi lại là … sinh chuyện, vì không ai phục ai, không ai nhường ai. Cổ nhân nói “tam nhân đồng hành tất hữu ngã sự- trong ba người cùng đi, tất phải có một người là thầy ta!” nhưg chúng ta phải nói lại: “trong ba người Việt cùng đi, ai cũng cho mình là thầy cả, chẳng ai nhận là học trò của ai.”

Trøng hoàn cành phải bỏ nước ra di, dựa vào sự chết để tìm sự sống, đáng lẽ người Việt hải ngoại phải đoàn kết hết lòng dể tìm ra sinh lộ, nhưng ở đâu chúng ta cũng thấy phơi bày sự chia rẽ, bất phục lẫn nhau. Tình trạng các hội đoàn, cộng đồng ở hải ngoại không nói riêng gì nước Mỹ, đã có nhiều nơi chia rẽ, phân hóa trầm trọng, dùng mọi cách để bêu xấu, công kích nhau, Nhiều hội đoàn tuy cùng một màu áo, cùng một mục đích đấu tranh, nhưng lại không thể ngồi chung với nhau. mà chia thành hai ba hội đoàn, làm mất đi sức mạnh đoàn kết. Ngay trong một dịa phương, một cộng đồng đại diện người Việt dã được tổ chức bầu bán, nhưng cũng còn một cộng đồng khác, khi ẩn khi hiện, nay ra tuyên cáo này, mai có thông cáo khác, để chứng tỏ sự có mặt của mình, cũng như để cho những ý kiến cộng dồng kia đưa ra là sai. Tình trạng tôn giảo ở nhiều địa phưong cũng vậy! Trên internet mỗi ngày, người đọc gặp phải những bài viết chữi bới, với loại văn phong hạ cấp, không phái dành cho kẻ thù đã khiến cho anh phải bò nước ra đi, mà chính cho bạn bè, đồng hương, đồng ngũ của anh hay là những người chỉ vì không … đồng ý với anh. Vậy mà chúng ta luôn luôn cho mình là  người yêu nước, kêu gào, đòi hỏi “giải thể” chế độ, đòi hỏi những chuyện long trời lỡ đất, trong khi chính cá nhân nhỏ bé, ích kỷ của mình chưa bước qua nổi cái tôi, cái danh, cái ích kỷ đang đè nặng trong lòng, thì mơng gì chúng ta làm nổi được chuyện lớn,

Bản chất của cộng sản là chia rẽ, nhưng cũng dùng chinh sách “chia để trị” nhất là trong chính sách đối với người Việt hải ngoại. Nhưng bản chất chia rẽ trong máu  huyết của những con người gọi là “con Rồng, cháu Tiên,” dã có từ nguồn gốc, từ thời khai thiên, lập địa, chắc ngày một ngày hai, khó lòng mà gột rửa.

“Gió mưa là bệnh của Trời

Chia rẽ là tât của người Việt Nam!”

“Bệnh” hy vọng chữa lành, còn “tật” phải còn xem lại.