Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 25 May 2026

Hôm tôi xuống tàu, khi xe đậu lại bến, Ama đang đứng trực trên đầu cầu thang, vừa thấy tôi từ trên boong nó chạy ào xuống làm chiếc cầu thang rung rinh và kêu lạch cạch. Nó quên luôn luật phòng chống dịch, nhào tới bắt tay mừng rỡ và ôm chầm lấy tôi:

– Biết chú xuống con chờ.

Tôi vỗ vỗ vào vai nó, nói:

– Lâu lắm rồi chú cháu mình mới gặp lại.

Nó khom xuống kéo chiếc vali nặng trịch và đầy nhóc đồ đạc của tôi vác lên vai rồi đi một mạch lên phòng, để vali xuống xong, nó nói:

–  Con còn phải trực, chú cháu mình sẽ gặp lại sau.

Ama dân In Đô thuộc giống người Ambon tóc quăn, nước da đen gần như người Phi Châu. Tôi quen ba của nó trong những ngày đầu tôi tập sự hải hành, ông tên là Verman, lớn hơn tôi bốn tuổi và gia đình theo đạo Thiên Chúa. Lúc tôi mới chân ướt chân ráo tới định cư nước Hoà Lan, xin được chân thủy thủ, những ngày sống chung nhau Verman thương và giúp đỡ tôi rất tận tình. Tới ngày tôi làm đầu bếp thì cũng là lúc Ama xuống tập sự làm thủy thủ, Verman dạy Ama kêu tôi bằng chú và dặn tôi nhắc nhở, giúp đỡ Ama trong lúc nó cần hoặc những khi ông không có mặt trên tàu. Thời gian sau Verman bệnh nặng không làm việc được nữa, lúc đó Ama đã thạo nghề và lương bổng được khá thì cũng là lúc Verman qua đời.

Sau giờ ăn trưa hôm đó, Ama dẫn tới một thanh niên trẻ, giới thiệu là con trai của nó tên Nando vừa tròn hai mươi tuổi, học xong trung học và mới xuống tàu đi chuyến đầu tiên. Tôi còn nhớ ngày đầu khi Verman dẫn Ama tới giới thiệu cho tôi, tuổi Ama cũng bằng Nando bây giờ và không khí gặp gỡ cũng giống như ngày hôm nay, khác cái là Verman dạy Ama kêu tôi bằng chú Tấn (uncle Tan), còn bây giờ Ama dạy Nando kêu tôi bằng ông Tấn (Mr. Tan.) Nước In Đô với nước Hoà Lan có hiệp ước lao động nên phần đông tàu Hoà Lan nhận người In Đô làm thủy thủ rất nhiều, cũng vì vậy nhiều thủy thủ người In Đô làm việc cho công ty hết đời cha tới đời con và bây giờ tới đời cháu rồi.

Trước đây Ama theo tôi học làm bếp, tới khi thấy nó thạo nghề tôi mới chỉ cách nó xin việc. Từ khi Ama nhận việc tôi với nó không đi chung tàu nữa, nhưng thỉnh thoảng cũng có nhắn tin thăm nhau. Nhờ vậy mà tôi biết nó làm bếp được một thời gian rồi nó gây lộn với mấy người Nga sao đó và xin trở lại làm thủy thủ. Ama thấy tôi chiều nào cũng lên bến đi dạo, nên tuần trước nó nhờ tôi hỏi thuyền trưởng cho nó đi theo. Sau giờ ăn chiều, tôi hỏi thuyền trưởng thì ông nói:

– Người nào đi thì người đó hỏi, hổng được người này hỏi dùm người kia.

Nói xong ông vô phòng đóng cửa lại. Những thủy thủ người In Đô thường ngại không dám gõ cửa phòng hoặc điện thoại cho thuyền trưởng, đúng ra tụi nó hỏi thuyền phó cũng được. Nhưng có lẽ vì sợ mắc dịch Covid 19 hoặc vì cái bản tánh ngại ngùng của dân thuộc địa trước kia còn đọng trong máu nên không dám hỏi, cũng như nhiều người Việt làm trên các xưởng ở đất liền, hể thấy sếp Tây thì rụt rè không dám đòi hỏi mặc dù biết đó là quyền lợi của mình, cũng vì vậy mà hơn tháng qua không có người In Đô nào lên bờ đi dạo hết. Chiều nay sau giờ ăn Ama vô bếp phụ tôi dọn dẹp, xong việc tôi lấy bia mời nó. Chúng tôi đứng trong bếp đưa lon lên cụng, ngước cổ uống một hớp. Chợt nhớ ra tôi hỏi:

– Con hổng muốn trở lại làm bếp nữa sao?

– Dạ, cũng muốn nhưng nhiều chuyện phiền phức, con sợ mình chịu hổng được.

– À, làm dâu trăm họ mà hổng cảm thông, nhẫn nại thì cũng phiền phức lắm.

– Sao con thấy không có người nào vô bếp đòi hỏi chú món này món kia.

– Có chớ, hồi chú mới vô nghề gặp nhiều lắm, chú chửi mấy thằng cà chớn đó hoài, thậm chí muốn lấy dao đâm cho nó lòi phèo luôn.

– À! Vậy hả chú, nhưng hồi biết chú tới giờ con thấy chú hiền khô.

– Lúc gặp con chú đã lớn tuổi rồi.

– Con thấy mấy người Nga sống vô kỷ luật, ăn uống hổng giờ giấc gì hết, mà lại kỳ thị, xấc xược đôi khi cũng bực mình.

– Trước kia chú nghĩ cũng như con vậy, sau này chú mới nhận ra, người nước nào cũng vô kỷ luật, kỳ thị, ganh tị và hay làm khó nhau.

– Sao con người hay kỳ thị nhau quá chú?

– Có lẽ từ khi có loài người trên trái đất thì chuyện phân biệt đã có rồi, là con người thì ai cũng có tánh phân biệt. Theo chú thì phân biệt là mầm mống của kỳ thị, nhưng tùy hoàn cảnh xã hội mà nó bộc phát, với lại còn cá tính của mỗi dân tộc và tùy trình độ của mỗi người mà tỏ thái độ khác nhau. Ngay người In Đô cũng vậy thôi, người Ambon không ưa người Java, ngườì Java ghét người Ambon, đạo Hồi không ưa đạo Chúa, đạo Chúa không thích đạo Hồi.

Ama nói:

– Đạo Hồi hổng thích đạo nào hết.

– Chỉ vì ba cái chuyện nhỏ nhặt vậy thôi mà con bỏ nghề.

– Dạ.

Tôi liếc qua nhìn thằng nhỏ, thấy nó chú tâm lắng nghe, tôi nói tiếp:

– Trên tàu con tức giận chửi lộn rồi bỏ nghề. Nếu con ở Mỹ mỗi khi tức giận chắc con hùa theo đám làm loạn đập phá cho đã.

– Chú nghĩ vậy sao?

– Chắc chắn luôn chớ nghĩ gì, biểu hiện của tức giận là phẫn nộ, mà phẫn nộ sanh ra phá phách.

– Con muốn bỏ tánh nóng nhưng khó quá chú.

– Ba con ngày trước hiền khô, có lần ba con thấy chú gây lộn với đồng nghiệp, ba con rầy chú và chú có kể cho ba con nghe về tánh nóng khó chừa của mình. Con biết ba con nói sao không?

– Sao chú?

– Khó nhưng không có nghĩa là hổng bỏ được, mình thay đổi người khác hổng được nhưng thay đổi chính mình thì được. Từ đó chú tập dằn cơn nóng giận khi gặp chuyện bất bình riết rồi tánh nóng biến đâu mất hồi nào không hay.

– Con thấy ngày Chủ Nhựt mà thuyền trưởng hổng cho đầu bếp nghỉ ngơi gì hết, chú vui vẻ làm, chớ những đầu bếp khác vừa làm vừa tức giận vừa chửi thề và mạnh tay với dao thớt.

– Trong số đầu bếp hổng vui vẻ đó có bếp Ama.

Chúng tôi cùng cười ha hả. Tôi hớp một hớp bia và vỗ lên vai thằng nhỏ, nhẹ giọng:

– Bỏ tánh nóng hổng phải là nhu nhược, con đừng tính toán, so đo với ai hết, sống tập thể mình nên cảm thông, chia sẻ và chịu thua thiệt một chút, có như vậy mình mới an tâm làm việc. Đầu bếp mỗi ngày làm chỉ có bao nhiêu việc, hàng hoá tự đặt, menu tự ra… Nếu biết sắp xếp công việc thì ngày nào cũng là ngày Chủ Nhựt.

– Ờ, con thấy chú nấu buổi sáng đủ ăn luôn cho buổi chiều.

– Thường là vậy, nhưng với viên thuyền trưởng này chú phải nấu thêm thịt.

– Ờ, thuyền trưởng ăn thịt nhiều quá.

– Ở nhà thiếu ăn nên xuống tàu ông ăn bù vậy thôi.

Ama tưởng tôi nói chơi nên hỏi lại:

– Oh, thiệt vậy hả chú?

– Thiệt chớ.

– Nhưng ông ta là thuyền trưởng mà thiếu ăn sao?

– Hồi trước ông cũng là chủ tàu nhưng sau đó bị phá sản, có lẽ cũng vì bất tài nên ở nhà vợ cho ăn cầm hơi, khi lên tàu được ăn miễn phí nên ông ăn cho đã.

– Trước kia con nghĩ là thuyền trưởng người nào cũng hiền, thông thái và dân ở Âu Châu hổng có người nghèo đói.

– Con nên biết rằng, trên thế giới này nơi nào có tỉ phú thì nơi đó có ăn mày, chú biết có nhiều người làm chủ công ty lớn bị phá sản đến đổi không còn nhà để ở, phải ở trong caravan. Theo chú nghĩ thì hoàng cảnh của viên thuyền trưởng này cũng tương tợ vậy thôi, hôm trước còn là chủ lớn, hôm sau trắng tay là lẽ thường tình. Còn nhân cách thì hổng phải người nào học cao cũng hiểu rộng, là người thông thái và biết cách đối nhân xử thế, con thấy trên tàu đó, có vài người học cao, có bằng cấp hẳn hoi nhưng giữa người và người họ cư xử với nhau còn thua phường vô loại nữa.

– Nhưng thuyền trưởng có một biệt thự lớn và một chiếc du thuyền buồm.

– Chú có thấy hình ảnh ông thường khoe với mọi người, nhưng biết đâu đó là hình ảnh của trước kia, hoặc nếu hiện tại ông đang sở hữu thì cũng có thể là ông làm việc để trả nợ cho những thứ ông đang có, trên tàu ông là thuyền trưởng khi về nhà ông sống ra sao ai mà biết được. Trong công ty những thuyền trưởng và những thợ máy người Hoà Lan trẻ hơn ông, họ đã nghỉ hưu hết rồi. Nếu ông là người giàu có thì tuổi này ở nhà nghỉ ngơi, hưởng thụ cuộc sống cho sướng cái thân già, chớ làm gì xuống tàu thèm ăn và kèo nài thêm từng miếng thịt, từng cái trứng gà.

– Ờ, trước khi chú xuống, có lần đầu bếp chiên cho mỗi người hai cái frikandel, ông ăn xong rồi vô bếp nói với đầu bếp là ông chưa ăn, làm đầu bếp phải chiên thêm cho ông hai cái khác.

– Chú cũng bị ông đòi ăn thêm theo kiểu đó hoài.

– Công ty biết không chú?

– Biết chớ.

– Họ hổng làm gì sao?

– Chuyện ăn uống trên tàu đâu có liên quan tới họ.

– Theo quy luật trên tàu thì không người nào được vô bếp làm phiền đầu bếp.

– Thật ra thì luật lệ dành cho những người biết sống kỷ luật thôi. Có lần chú gặp thuyền trưởng hay chèn ép chú và hay vô bếp đòi này đòi nọ, chú bực mình, lúc gặp chủ tàu chú mét. Con biết ông chủ nói sao không?

– Sao chú?

– Ông ta nói, ông là chủ trong bếp, bất cứ ai đòi này đòi kia thì mặc kệ, ông đừng làm theo.

– Rồi chú có làm theo lời chủ không?

– Có chớ, nên chú gây lộn hoài và chú cũng xin đổi tàu khác mỗi khi gặp thuyền trưởng khó khăn, nhưng qua tàu khác thì gặp chuyện bực mình khác, hổng lẽ xin đổi tàu hoài, từ đó chú thấy chuyện gì được thì chú làm, không thì chú lờ đi, nhờ vậy mà chú mới được yên thân. Cũng nhờ gặp khó khăn chú mới khám phá ra những người tham ăn, thường thì lòng dạ hẹp hòi lắm, mình làm dưới quyền họ mà, không nên cãi vã với họ làm gì. Chú nhớ có lần đi chung với viên thuyền trưởng ghiền rượu có vợ người In Đô và có một biệt thự ở Sumatra, mà lại không ưa thủy thủ In Đô. Mấy người nát rượu thường ăn nói bậy bạ lắm, có người nói bậy làm cho người ta cười, có người nói bậy làm người ta khó chịu. Ông ta lấy vợ In Đô thì hổng có tánh kỳ thị rồi, nhưng có tánh kỳ cục hễ mở miệng ra là chửi tục, cho nên nhiều thủy thủ ghét và hăm he khi về Sumatra sẽ đốt ngôi biệt thự của ông. Vậy mà đã mấy chục năm qua rồi, ông vẫn sống vui vẻ với vợ con và vẫn hổng ưa thủy thủ người In Đô, nhưng ngôi biệt thự của ông bên Sumatra vẫn chưa bị cháy.

– Ha ha…

Ama đang lớp bia, nghe tôi nói nó cười lớn bị sặc bia văng tùm lum. Tôi nói tiếp:

– Thật ra thì lâu lâu mới gặp một thuyền trưởng kỳ cục vậy thôi, chớ phần đông thì rất tốt. Mình hổng nói chuyện về  thuyền trưởng nữa, nói chung là không nên nói nói bất cứ người nào. Con xin làm bếp lại đi nhưng con đừng so đo, tính toán nữa. Mình là đầu bếp nấu cho nhiều người ăn, nên công bằng ai cũng như ai, lo làm cho tốt việc của mình và nấu cho ngon. Con làm được như vậy, chú bảo đảm hổng người nào dám vô bếp làm phiền con nữa đâu.

– Vậy mỗi sáng con vô bếp học thêm chú nhé.

– Hơn tháng rồi ngày nào con cũng vô phụ chú mà.

– Dạ, nhưng con cần học thêm kinh nghiệm.

Nói tới đây nó nhìn lên góc bếp thấy chiếc ba lô máng trên vách. Nó hỏi:

– Chú định lên bờ hả?

– Chiều nào chú cũng đi mà.

– Con muốn đi với chú nhưng mà thuyền trưởng khó quá.

– Thì con hỏi thuyền phó.

– Thuyền phó kêu hỏi thuyền trưởng.

Tôi hơi khó chịu và nhăn cái mặt, cao giọng hỏi:

– Con gọi điện hỏi thuyền trưởng hổng được sao?

– Sợ ổng ngủ.

– Giờ này mà ngủ nghê gì!

Thấy nó lưỡng lự, tôi day ngang chỗ máng điện thoại, nhấc ống nghe lên, bấm số rồi đưa ống nghe qua cho nó:

– Con hỏi đi, ổng hổng bắt con bỏ tù đâu.

Có như vậy nó mới đủ can đảm cầm ống nghe lên hỏi. Xong nó day qua tôi tươi cười nói:

– Được rồi chú, vậy chú chờ con tắm xong rồi đi.

– Khỏi, mình lên bến đi gần đây thôi, có được ra phố đâu mà làm bảnh.

– Đi liền hả chú?

Tôi chỉ qua đám dĩa đã rửa xong nói:

– Chú sắp mấy cái này lên kệ xong rồi đi.

– Để con sắp cho chú.

Tôi chưa kịp trả lời, nó liền day ngang lấy dĩa sắp lên kệ. Trong khi Ama sắp lại chồng dĩa, tôi chợt nhớ trong ba lô chỉ có hai lon bia, tôi đi lại góc phòng, vói tay lấy ba lô xuống mở ra lấy hai lon bia bỏ trở lại tủ lạnh và lấy một xâu sáu lon bia nhét vô ba lô. Ama sắp dĩa lên kệ, xong day nó qua tôi nói:

– Để con lấy bia.

Tôi nói:

– Sáu lon, một người ba lon hổng đủ sao?

– Để con lấy thêm vài lon nữa.

– Thôi khỏi.

Tôi mở tủ lấy hai lon bia hồi nãy nhét trở lại vô ba lô, day qua nói với nó:

– Mỗi người bốn lon đủ rồi.

Nó cười hì hì:

– Để con lấy hộp đậu phộng.

Trong ba lô của tôi có một hộp phó mát đầu bò, nhưng thấy thằng nhỏ nhiệt tình quá tôi cũng gật đầu.

– Cũng được.

Nó vui vẻ và liền quay lưng đi nhanh lên phòng. Tôi cũng xốc chiếc ba lô lên vai rồi ra boong đứng đợi. Buổi chiều lang thang trên bến hoặc ngồi thơ thẩn uống bia trên bờ sông Maas nhìn mặt trời lặn xuống biển, đôi khi cao hứng tôi bấm vài câu thơ vô điện thoại thông minh rồi đăng trực tiếp lên facebook, nhưng hôm nay nó lại trở thành buổi picnic ngoài trời.

Dronten 30-8-2020

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Anh Hòa nhận sự vụ lệnh thuyên chuyển ra Đà Nẵng, trước ngày tôi thi Tú Tài. Không muốn tôi bị phân tâm trong lúc thi cử, anh chờ tôi thi xong mới báo tin. Cái tin đột ngột như sợi dây đang căng thẳng bong bị đứt lìa, làm tôi quá đà té ngữa. Cũng có thể do mất tin tưởng bài thi, làm tôi chới với.

Anh Hòa coi những tờ nháp của tôi trong phòng thi, nói chỉ hy vọng được năm mươi phần trăm. Năm mươi phần trăm là đứng một chân trên bờ vực, đang phân vân giữa hai đường đậu rớt. Nếu rớt, đời tôi lâm ngõ cụt.

Trước khi rời Nha Trang, anh Hòa làm bữa cơm từ giã. Mời sư Trí Tâm, thì sĩ Quách Tấn. giáo sư Nguyễn Văn Xung. Các món ăn do nhà hàng mang tới. Có món chay riêng cho sư Trí Tâm. Mọi người vừa ăn vừa nói chuyện bình thường, như chẳng có vấn đề sắp dời đổi chia ly. Bữa cơm thịnh soạn, nhung không khí tẻ nhạt. Tất cả đều là giao tế trong đời sống vốn dĩ mang nhiều nỗi bèo mây tan hợp. Ăn xong, tôi bỏ ra ngồi ngoài thềm hiên. Nhìn qua bên kia đường, sân nhà ai có trồng cây phượng. Bông nở từng chùm đỏ ối trong cái nắng hanh hè chói chang nhức mắt.

Sư Tri Tâm ra về, ngang chỗ tôi ngồi.

Sư hồi: “Rồi con sẽ ở đâu?”

“Trở lại chỗ cũ, trưức khi con về đây.”

Sư bảo: “Vào chùa ở tạm với chú.”

“Kè trần tuc như con, sợ làm khuấy động chốn trang nghiêm.”

Sư lại bảc: “Con có thể tu luôn. Cũng là một cách để bớt cái tâm vọng động của con.”

Tu ư? Kẻ xấu xa đầy dục vong như tôi, mặc áo nhà tu sẽ thành ác tăng phá đạo. Phá đời, thành quỷ. Phá đạo, tội vào địa ngục vô gián.

“Chùa chiền không phải chổ ở của con.” Tôi nói với giọng buổn rầu,

Sư thương hại: “Thành kiến và ngộ nhận chỉ khổ than con.”

Sư đi luôn ra cổng, buồn vui không lộ mặt. Tà áo nâu sòng lất phất bên kia tàng cây phượng đỏ.

Hộm sau, anh Hòa xếp gọn đồ dạc vào hai valise lớn. Vật dụng còn lại trong nhà là của chính phủ, Anh về Nam thăm gia đình, từ đó di luôn ra Đà Nẳng nhận nhiệm sở mới. Anh cho tôi số tiền bằng hai tháng lương kèm trẻ tư gia. Tôi nói những lời cám ơn, dù biết chỉ bằng thừa. Anh rất tốt với tôi, nhưng giữa anh và tôi khó mà hòa hợp trọn vẹn. Anh đạo mao trong đời sống, cẩn trọng trong cử chỉ lời nói. Còn tôi thì nông nổi bốc đồng theo cảm hứng nhất thời. Hai tinh tình quá khác biệt, nên nhiều khi tôi cảm thấy không thoải mái những lúc gần anh. Tôi xếp lại sách vỡ, quần áo cho vào thùng carton. Anh Hòa đi, tôi cũng rời khỏi nhà này, Anh lên phi trường bằng công xa. Toi tiển anh ra xe chờ sẵn trước đường, rồi quay vào. Bà lao công đang quét dọn ngôi hiệt thự. Bà lãnh lương chính phủ, anh Hòa trả tiền thêm cho bà giúp việc nấu ăn.

Bà nói: “Cậu đem ngay mấy cái thùng của cậu ra ngoài, để tôi lau chùi nhà cửa.”

“Tôi còn quên cái bàn chải đánh răng trong toillet.”

“Cái bàn chải cùn ấy à? Tôi vất rồi.”

Tôi khựng lại: “Sao vất của tôi?

“Lũ ăn mày cũng không xài bàn chải cùn đến thế.”

Mặt bà lạnh tanh. Nụ cuời thuờng ngày biến mất.

Tôi còn đang lừng khừng, bà nói tiếp: “Thấy sang bắt quàng … Người sang đi rồi, cậu dựa và ai mà chưa chịu bước xéo đi?”

Tôi sửng sốt như bất ngờ bị tạt nước vào mặt. Mới vài phút trước, bà nói rất mến tôi và bảo thỉnh thoảng tôi ghé lại thăm bà. Anh Hòa vừa đi khỏi, bà trở mặt nhanh như chớp bằng những lời thóa mạ hết sức cay độc. Tôi vừa tủi nhục, vừa kinh tởm bản chất con người thối tha hạ tiện này. Những khi tôi lên chùa, sư Trí Tâm thường nói về lòng sân hận, “một que diêm lửa giận, đã thiêu rụi cả một rừng công đức”. Lửa ngầm đang cháy trong tôi. Tôi cần ráng nhẫn nhục, ôm mấy cái thùng carton và xe đạp. Tôi đi mà ứa nước mắt. Có những sự việc trên đời, đôi khi chỉ có thể giải quyết theo luật giang hồ. Nhưng mỉa mai thay, tôi là đứa đớn hèn bị sỉ nhục mà chẳng làm gì được ai!

Tôi về lại căn nhà lá quạnh hiu bên nghĩa địa. Cỏ héo và nắng mênh mông, Có thêm vài nấm mộ mới lấp. Khu nghĩa địa dường như rộng thêm ra. Điều đó, tôi cảm thấy trong cõi lòng hoang vắng của tôi. Kéo cánh cửa liếp. Tiếng cót két dậy lên nỗi niếm chua xót. Một làn bụi mỏng phớt lên mọi vật trong nhà. Chiếc bàn gỗ thông. Cây đèn dầu nhỏ. Cái ấm nước ám khói den. Đồ đạc vô tri mà thân thiết gần gũi.

Những viên cứt chuột rơi vãi dưới chân bàn. Manh chiếu đơn vẫn còn trãi trên chiếc sạp như ngày nào. Tôi mệt mỏi buông mình nằm xuống. Thân xác rã rời, hồn tôi chìm đắm. Chập chờn trong mơ, tôi thấy tôi cẩm dao đâm chết người đàn bà lao công. Mắt bà vẫn mở trừng và cái lưỡi vẫn còn thò ra ngo ngoe ghê rợn. Tội bàng hoàng tỉnh dây khi mặt trời đổ nghiêng qua mái lá đầu hồi, chiếu một vết dài trên nền nhà. Mình mẩy tháo đầy mồ hôi. Bụng đói cồn cào. Tôi đạp xe về nhà bác Huế. Trên đường đi, phân vân không biết có nên nói với bác về chuyện anh Hòa rời khỏi Nha Trang và tôi đã trở lại căn nhà gần bên nghĩa địa?

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 25 May 2026

Hoàng Phủ Ngọc Tường, người lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu! Vào những ngày đầu năm Âm lịch ở Little Saigon, khi không khí những ngày Tết hải ngoại còn vướng vất đâu đây, tôi nhận được qua điện thư một đoạn phim (chưa edit) trong loạt phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982. (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer). Chúng ta cũng đừng quên rằng trong thời gian Tết Mậu Thân, Tường là Tổng Thư Ký của “Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ Hòa Bình” do Lê Văn Hảo làm chủ tịch.

Để trả lời câu hỏi: “Ông có thể mô tả biến cố về cuộc nổi dậy tại Huế và đặc biệt liên quan đến cuộc thảm sát từ khi ông có mặt tại đây”, Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) đã trả lời vòng vo, ấp úng trong 12 phút với một luận điệu gian dối, vụ vạ, sai sự thật một cách đáng khinh bỉ. Là một người lính có mặt ở Huế trong 21 ngày Cộng Sản chiếm cứ cố đô, sau đó, với tư cách phóng viên báo chí, đã trở lại đi theo những chuyến đào mộ tập thể, cũng như đã có dịp phỏng vấn nhiều nhân vật liên quan đến vụ thảm sát ở Huế, như ông Võ Văn Bằng, Chủ tịch Uỷ Ban Truy Tầm & Cải Táng Nạn nhân CS Mậu Thân, tôi thấy cần phải viết một vài dòng về bộ mặt và tâm địa độc ác của một “người” mang danh trí thức Cộng Sản như HPNT.

Điều phải nói trước tiên là Tường đã nói dối khi phủ nhận sự có mặt của y trong những ngày bộ đội CS vào Huế. Về sau này, trước dư luận và sự tấn công của báo chí hải ngoại, qua các nhân chứng xác nhận HPNT hiện diện tại Huế ngay trong các vụ xử án trong vùng Gia Hội, Tường đã chối rằng trong những ngày này, y đang ở trong khu an toàn trên núi. Chính câu hỏi của phóng viên đài truyền hình ờ đầu bài đã xác nhận sự thật, vì nếu Tường không có mặt ở Huế, sẽ không có cuộc phỏng vấn này cũng như nội dung câu hỏi được đăt ra ở trên. Mặt khác, sau này chính y không nhớ là mình đã thú nhận chuyện có mặt ở Huế vào phút thứ 6 của đoạn phim này, vào năm 1982, khi Tường mô tả chuyện y đang đi trong những con đường hẻm vùng Đông Ba và đã nói những câu “khi chúng tôi rút lui” hay “tôi là một chứng nhân” nghe rất rõ ràng.

Câu nói vào đề của Tường là vụ thảm sát ở Huế “do chính Mỹ gây ra” nhưng lại đổ cho tội lỗi của “cách mạng”, và xem đây như là một bửu bối để đưa ra trước cuộc hoà đàm Paris để bôi nhọ “Cách Mạng Việt Nam”.

Để nói về những người bị giết, Tường cho biết, trong số đó hiển nhiên là “có một số người” do du kích và “quân đội cách mạng” thi hành bản án tử hình tại chỗ, vì căm thù đã lâu, bị tra tấn, cả gia đình phải đi ở tù, và khi cách mạng bùng lên, họ (CS) lấy lại được thế của người mạnh, nên phải giết. Mặt khác đây là những tên ác ôn đã từng giết nhiều gia đình cách mạng, có khi cả nhà 10 người, nay “cách mạng” chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng. Chính những người chỉ huy của cách mạng không thể kiểm soát nổi họ, và chính họ (cấp dưới) đã thi hành bản án đối với kẻ thù của mình. Sau khi cho rằng “khối lớn người chết đã làm nên những nấm mồ, đã được Mỹ Nguỵ quay phim và đưa ra công luận”, Tường đã lớn tiếng đặt câu hỏi: “Những xác chết nằm ở dưới đó là ai?” và tự giải thích:

1. Nhân dân đã bị bom Mỹ trong các đợt phản kích chiếm lại Huế. Tường dẫn chứng Mỹ đã thả bom một bệnh viện nhỏ ở bên phố Đông Ba (?), “đúng” 200 người vừa chết vừa bị thương. Trong đêm tối y đã đi trên những đường hẽm, lội trong một vũng lầy, mà y tưởng là bùn, nhưng khi rọi đèn pin lên thì đó toàn là máu lầy lội, và trong những ngày “chúng tôi rút ra” thì chúng nó (Mỹ hay Nguy) đã gom lại và đem đi chôn. Dân chúng Huế đã hiểu đây quả là một điều dối trá, và nhờ câu nói này chúng ta biết rằng, người Cộng Sản thường lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh.

2. Hằng loạt gia đình có con em tham gia cách mạng, đi lên rừng sau Mậu Thân thì chúng (Nguy) đã bắn chết và cũng chôn vào trong những hố đó.

3. Xác của quân giải phóng mà chúng tôi không kịp mang theo thì cũng được chôn vào đó.

4. Có những đoàn thanh niên và thường dân bị lưu giữ, mà chúng tôi không hề có ý định giết nhưng vì đi thành một đám đông nên bị máy bay Mỹ cương quyết tìm cách tập kích vào để không còn ai có thể sống sót, chết nằm ở bìa rừng, kể các các cán bộ, binh sĩ hộ tống đoàn người đó cũng bị chết luôn. (Luận cứ này đã dược Bùi Tín lặp lại trong một lần trả lời báo chí năm 2007.)

5. Ba năm sau 1975, chúng tôi đi làm thuỷ lợi đã đào được những hầm gọi là “thảm sát Mậu Thân” mà trong đó đầy những người đội mũ tai bèo và mặc áo quần quân giải phóng. Để kết luận, Tường cho đây là sự ranh mãnh của thực dân mới, bắn một mũi tên được hai mục tiêu: che dấu tội ác đã làm và đổ tội tất cả cho quân giải phóng. Một cách thiếu luận cứ, Tường cho rằng “thảm sát mậu Thân” là một kế hoạch tuyên truyền rất lớn có tính cách chiến lược do Kissinger đề ra và nước Mỹ đã tốn một ngân sách rất lớn để dùng cho vấn đề gọi là Mậu Thân ở Huế.

Sau khi chối quanh, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở lại nói rằng đối với những người mà nhân dân đã thi hành bản án là lẽ đương nhiên vì lòng căm thù và khi đối diện với kẻ thù, trước họng súng, “nhân dân của chúng tôi phải đổi lấy máu của chúng tôi, thi hành bản án đó đối với những kẻ tử thù của dân tộc mình”. Tường cho rằng chiến dịch “Thảm Sát Mậu Thân” do chính quyền Mỹ bịa ra, dựng lên để “đổi trắng thay đen” và để “lừa bịp nhân loại”. Chúng ta, đồng bào Huế, gia đình các nạn nhân và nhất là các phóng viên báo chí quốc tế đã có mặt trong những ngày đào mộ và cải táng những nấm mồ tập thể tại Huế sau Tết Mậu Thân, và căn cứ vào danh sách nạn nhân, cách giết người, cách trói người trong các hầm tập thể, đã thấy những lời nói của HPNT là gian dối. Trong các hố chôn tập thể này chúng ta đã tìm thấy thi thể các giáo sư y khoa người Đức, các giáo sư trung học, các vị linh mục, sư huynh, tu sĩ, sinh viên, học sinh, công chức, quân nhân và cảnh sát không vũ khí, y tá, học sinh, thường dân … đầu bị bể nát hay thủng vì vết đạn, bị trói xâu chùm bằng giây điện thoại, thép gai, giây lạt tre. Phải chăng họ là những tử thù của các đồng chí của HPNT? Và trong 22 hầm chôn tập thể được khám phá không hề có một đôi dép râu, cái nón cối hay cái mũ tai bèo nào. Chúng ta nếu muốn lên án hay đổ lỗi cho Cộng Sản cũng không thể nguy tạo hay che dấu được điều gì trước sự quan sát của các phái đoàn quốc tế đến Huế. Bản chất “đổi trắng thay đen” để “lừa bịp nhân loại”, dối trá, vu vạ là những đòn chính trị lâu đời của Cộng Sản, mà những tên học trò tay mơ như HPNT không thể qua mặt được ai.

Trong phần cuối của cuốn phim, HPNT đã lên án chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mặc dù không liên quan đến vụ thảm sát Mậu Thân, chúng tôi nêu ra đây, để thấy thêm sự xảo trá, quá quắt của y.

Thứ nhất, y nói rằng “hằng năm đến ngày Tết, tất cả giáo sư đại học, trí thức, nguỵ quyền, đều phải mặc “áo xưa” (ý y muốn nói đến áo thụng) đến quỳ ở trước sân để tung hô chúc thọ, mừng tuổi cho cả gia đình họ Ngô kể cả Ngô Đình Diệm ngồi trên những cái ngai vàng.” Thứ hai, muốn loại những ảnh hưởng của cách mạng tháng 8 ngay trong thành phố này (Huế), “những gia đình có con đi tập kết ra Bắc lần lượt bị tù đày và bị tra tấn.” Thứ ba, với “những gia đình có chồng đi tập kết để lại một đứa con ở trong bụng thì chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm dẫm lên bụng và cho đến lúc cái thai phải văng ra ngoài (sic)!

Người viết bài này và HPNT đều là công chức dưới thời TT Ngô Đình Diệm (năm 1966 Tường mới ra bưng), bản thân Tường và Tường có thấy tôi đến quỳ trước sân nhà ông Ngô Đình Điệm ở Phủ Cam không?

Về chuyện gia đình tập kết, một người bạn chung mà chắc Tường không thể không biết, là Tôn Thất Lan có cha đi tập kết, sau 1975 mới về. Lan và người em trai đều tốt nghiệp Y Khoa, Tôn Thất Lan nguyên là Thiếu Tá Quân Y phục vụ tại Long An, sau 1975 ở lại tiếp tục hành nghề ở Saigon. Em của Lan vượt biên sang Mỹ hiện làm việc tại Quận Cam. Ở miền Nam ai cũng biết, ông Dương Văn Minh và ông Trần Ngọc Châu đều có em trai đi tập kết theo Cộng Sản, mà người làm đến Tổng Thống, người là Tỉnh Trưởng rồi Dân Biểu. Cụ Trần Văn Hương cuối đời, sau năm 1975, đã sống với con trai cả là Lưu Vĩnh Châu, tên thật là Trần Văn Dõi, một cán bộ của Ban Công nghiệp Trung ương, nguyên là đại úy Bắc Việt đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ. Khốn nạn thay, vậy mà ở miền Bắc, HPNT nói điều này ra cũng có người tin, mới biết chính sách tuyên truyền của Cộng Sản điêu ngoa, chà đạp lên sự thật đến dường nào.

Điều cuối, ghê tởm nhất là Tường vu cáo những người đàn bà mang thai có chồng đi tập kết bị chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm dẫm lên bụng và cho đến lúc cái thai phải văng ra ngoài. Trước hết, sự thật, nếu HPNT dẫm lên bụng một người đàn bà mang thai, cái thai có văng ra ngoài được không? Trong thành phố Huế này, nơi mà tôi và HPNT đã lớn lên dưới thời Vua Bảo Đại, qua thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, rồi đến thời Đệ Nhị Cộng Hoà, có ai nghe, chứ chưa nói đến chuyện thấy hành động độc ác, chỉ có trong trí tưởng tượng của những con người Cộng Sản, và dùng nó để tuyên truyền cho đám dân ngu dưới chế độ CS Bắc Việt, chứ ở miền Nam, nói chuyện này, ai tin!

Người xưa gọi thái độ này của HPNT là “ngậm máu phun người” (hàm huyết phún nhân) và dân Huế có câu “nói mà không sợ cây nó mọc trong họng,” nôm na đặc sệt Huế nhất lại có thành ngữ “một lời nói là một đọi (bát) máu!” Người trí thức phải đặt sự thật lên tất cả phe phái, không uốn lưỡi vì danh lợi, phải “yêu ai thì nói rằng yêu, ghét ai thì bảo rằng ghét.” như Phùng Quán, đừng vì sợ hãi, lập công trạng mà bỏ sự thật. Muốn có một xã hội tốt đẹp không cần phải đào tạo con người theo “mô hình xã hội chủ nghĩa” mà phải đào tạo những con người chân thật, biết yêu sự ngay thẳng, ghét điều gian trá. Những con người tự nhận là nghệ sĩ, trí thức XHCN như HPNT sẽ đưa đất nước này càng ngày càng đi vào con đường tồi tệ. Những ai là người dân

Huế một thời với HPNT, những ai đã sống và biết đến tấn thảm kịch Mậu thân, sẽ phải đau lòng và cũng buồn cười trước những lời phát biểu của HPNT.

Tường ơi! Huế oan khuất, đau đớn lắm. Mi phải trả giá những gì mi đã tạo ra, nghiệp khẩu và hành động đã đưa mi đến tình cảnh ngày hôm nay. Đã đến lúc ăn năn, hối lỗi đi là vừa, những đứa con xứ Huế đem ác quỷ về giết bà con, anh em họ hàng:“lội trong máu mà cứ tưởng lội trong bùn vì không nghe mùi tanh của máu!”

(1) Muốn rõ thêm chi tiết xin vào:

http://openvault.wgbh.org/catalog/org.wgbh.mla:e67ef62e29a364dbb7faeb55837714f9163fe9ec

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 25 May 2026

“Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.”

Lê Bá Dương

Sau trận đánh Cổ Thành Quảng trị, tội là một người lính miền Nam được đọc hai câu thơ trên của một chiến binh Bắc Việt, mà lòng không khỏi bùi ngùi. Nhưng liệu cái chết của hàng triệu những người lính vô danh như trên có làm cho những người tướng lãnh cầm quân của họ. một phút nào nghĩ lại không? -“Non! Pas du tout!” Đó là câu trả lời lạnh lùng của Võ Nguyên Giáp cho bảo chí quốc tế khi người ta hỏi viên tướng này là ông có hối tiếc gi về chuyện 4 triệu người Việt chết vì chủ nghĩa Cộng Sản hay không?

Bắc Việt ghi nhận một đơn vị điển hình, trong trận đánh ở Cổ Thành Quảng Trị, Trung doàn 27-B5 với hơn 1.500 quân cố thủ trong Cổ Thành đã bị thương vong gần như toàn bộ tại trận địa, chỉ còn chưa dến 1 tiểu đội thoát ra ngoài vảo đêm 15.9.1972. Ông Tổng Tư Lệnh “Quân Đội Nhân Dân” Võ Nguyên Giáp đã chủ trương thí mười người lính dưới tay dể giết dược một quân thù. Những ngày tù trên vùng đất Hoàng Liên Sơn Bắc Việt tôi dã có dịp chứng kiến nhiều gia đình, bàn thờ và gian nhà treo đỏ cả bằng liệt sĩ, có gia đình hy sinh đến năm mười người con, xa là trận Điện Biên, gần là “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước!” mà nhà không có nổi một con trâu, trong bếp chỉ có mấy chén sành bể hay cái ca nhôm uống nước đã hoen rỉ của Trung Quốc, kỷ niệm một thời viện trợ của đàn anh.

Không phải bây giờ mà đúng ra thì Võ Nguyên Giáp thật sự đã chết từ tháng 2-1980, hay nói một cách khác “vai trò của ông Giáp trên thực tế đã kết thúc từ lâu rồi,” khi ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng và chỉ còn là Phó Thủ tướng phụ trách Khoa học – Kỹ thuật. Sau đó ba năm, Võ Nguyên Giáp được phân công kiêm nhiệm thêm vai trò Chù tịch “Ủy ban Quốc gia Dân số và sinh đẻ có kế hoạch,” mà dân chúng đã đàm tiếu dặt thành vè: “ngày xưa Đại Tướng cẩm quân” hay “ngày xưa Đại tướng công đồn … “

Giai nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu,” nhưng “danh tướng” Võ Nguyên Giáp lại có tội sống lâu, vì nghe nói ông thường ở xa trận dịa. Ông sống thêm 23 năm nữa, nhưng như cổ nhân đã nói: “đa thọ, đa nhục!” Từ lúc nghỉ hưu năm 1991, có nguồn tin từ các tay trong bộ chính trị nói rằng Võ Nguyên Giáp là “con nuôi của mật thám Táy,” cùng với Trần Văn Trà âm mưu đảo chánh, mục đích để loại uy tín ông. Tuy thất sũng, ông cố gắng đưa ra một số lời bình luận về tình hình đất nước như vụ PMU18, và không dưới 3 lần, ông đã viết thư yêu cầu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, anh chàng khiêng cáng cứu thương ở Kiên Giang khi ông đã là Đại Tướng Bộ Trưởng Quốc Phòng, dừng dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, vì lý do an ninh quốc gia và vấn đề môi trường nhưg không ai thèm đếm xia đến ý kiến của ông. Trong những ngày bị Lê Đức Thọ và Lê Duẩn lấn lướt cho dến lúc qua đời, dù là công thần của chế dộ. anh hùng ngoài mặt trận, ông cũng đã cam chịu như cảnh nhà văn “chết nhát” là Nguyễn Tuân; “Tộôi còn sống được dến ngày hôm nay là nhờ biết sợ … “

Võ Nguyên Giáp dã được ca ngợi và xếp ngang hàng với các danh tướng nhự Wellington, Ulysses S. Girant.

Douglas MacArhur và cả Alexandre Đại Đế, hay là một “Napoleon Đỏ”. Ông nổi tiếng nhờ chiến thắng trận Điện Biên Phủ đưa đến việc Pháp rút khỏi Đông Dương và các phe lâm chiến ngồi vào bàn hội nghị Geneve.

Nhưng ông ở trong thế Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng. Trận Điện Biên Phủ do bom đạn và dường lối chủ trương của Đàng và Chính phù Trung Cộng và máu xương của người Việt Nam. Kể từ sau năm 1950 do nối thông biên giới với Trung Quốc, lại được sự viện trợ quân sự to lớn của Trung Quốc và Liên Xộ, Điện Biên Phủ được quyết định bởi đảng Cộng Sản Trung Quốc. Lã Quý Ba, Bí thư Tỉnh ủy, Chính ủy trong Quân dội giải phóng nhân dân Trung Quốc, Trần Canh, Phó tư lệnh Quân khu Tây Nam kiêm Tư lệnh Quân khu Vân Nam, Vi Quốc Thanh, Chính ủy Binh doàn số 10 kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Quân quản thành phố Phúc Châu và các thành viên đoàn cổ vấn quân sự Trung Quốc lần lượt sang Việt Nam, Mai Gia Sinh làm Phó đoàn phụ trách Tham Mưu Trưởng, Đặng Dật Phàm là Phó đoàn phụ trách Chủ nhiệm Chính trị. Kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ bao giờ Trung Cộng cũng làm to, khoe công của cố vấn và vũ khí Tàu tham chiến.

Không có Điện Biên Phủ thì sau khi thế chiến II chấm dứt, các nước đô hộ cũng đã phải trả độc lập cho các nước bị trị vì đó là xu thể chính trị thời đại, mà không phải tốn hao xương máu của nhân dân. Từ năm 1954 trở đi, khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng Sản Việt Nam không chiỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thể giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bi thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, và trưởng kỳ kháng chiến chỉ vì chủ trương đánh cho Trung Cộng:”Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chù tịch … Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đầu, đó là vì Mao Chủ tịch dã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc!”

Nhà xuất bản Sự Thật của Đáng CSVN, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: “Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vộ sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các dồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người … Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”. Theo tài liệu của Trung Cộng, từ tháng 6-1965 đến tháng 8-1973 họ đã đưa sang Việt Nam tồng cộng 320.000 “quân tình nguyện” bao gồm phòng không, thợ máy, thông tin … (*)

Vậy thì người “Lính Cụ Hồ” dù có dược tô điểm với danh xưng giải phóng, dân tộc, tự do thì chẳng qua cũng chỉ là người lính đánh thuê mà thôi và Võ Nguyên Giáp đã tận tình nướng quân “mục đich biện mình cho phương tiện,” để đạt mục tiêu của hai đảng đàn anh. Con người như vậy đâu phải là một người yêu nước thương dân! Võ Nguyên Giáp thắng được quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh năm 1975 là do việc sẳn sàng bất chấp tổn thất thương vọng nặng nề. Về phía cộng sản, các trận đánh gần như không có thương binh, vì ở xa chiến trường và họ không có phương tiện hay không có chủ trương chuyển thương binh sau trận đánh, một số chờ chết và số lớn được “kẻ thủ” săn sốc và bị bắt trở thành tù binh. Người từng chí huy quản dội Mỹ ở Việt Nam, Tướng Westmorcland, đã nói về con số thương vong quá lớn trong các trận đánh dưới quyền Võ Nguyên Giáp: “Thái độ coi nhẹ mạng sống con người như vậy có thể khiến một người trở nên một đối thủ đáng sợ nhưng không thể làm ông ta ưở thành thiên tài quân sự được.” Theo nhà bình luận Cceil B. Currey, trong một cuốn sách viết về Tướng Giáp: “Võ Nguyễn Giáp tách rời cảm xúc với những người cấp dưới cho nên chỉ xem mạng sống của họ như những con cờ để mà xử dụng không hối tiếc!”

Nhắc dến Việt Nam, thế giới nhớ đến tên Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, đó cũng là sự hãnh diện của tập doàn CSVN. nhưng liệu hai cái tên này, sau bảy thập niên “Ngẫm từ dấy việc binh đao/- Đống xương vộ định đã cao bằng đầu,” đã đem lại những gì no ấm, độc lập, tự do, hạnh phúc cho con người Việt Nam hôm nay chưa. Đất nước dã hy sinh 4 triệu thanh niên ưu tú để ngày nay tồn tại một băng đảng trị vì. một xã hội phân hóa, băng hoại, phá sản và một tương lai đất nước mù mịt. Hoàng Phủ Ngọc Tường lúc về già đã viết những câu thơ:

“Những chiều Bến Ngự giăng mưa

Chừng như ai đó mơ hồ goi tôi

Tôi ra mờ cửa đón người

Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang.”

“Ai đó” phải chăng là những linh hồn oan khuất Mậu Thân. Còn “danh tướng” họ Võ, vào những ngày cuối đời, ông có nghe thấy gì không? Xin ông yên nghi, nhưng liệu những quốc gia láng giềng của chúng ta dã bỏ xa Việt Nam hằng nghìn dặm, đất nước họ có cần tới một cải tên như Võ Nguyên Giáp không?

(*) Theo phía Trung Quốc, tổng số viện trợ quản sự không hoàn lại của Trung Quốc cho Việt Nam gồm: 2,160 triệu khẩu súng cá nhân; 37.500 khẩu pháo; 12,9 tỷ viên đạn; 180 máy bay, 145 tàu; 1.500 xc tăng, thiết giáp; 16.330 xe tài: 16 vạn tấn lương thực quân đội; 22 vạn tấn nhiên liệu (Mân Lực, 10 năm Chiến tranh Trụng – Việt, Nhà Xuất bản Đại học Tử Xuyêu, 2-1994, Bản dịch của Tổng cục II, trang 129).

– Tại Singapore, Đặng Tiểu Bình nói với Lý Quang Diệu, trị giá hàng hóa mà Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam đánh Mỹ lên tới hơn 10 tỷ đô-la, cao hơn chi phí cho chiến tranh Triều Tiên (Ezra.F. Vogel, Deng Xiaoping and the Transformation of China, trang 271-272).

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 24 May 2026

Graber dừng lại trước một căn nhà. Trời tối cho nên không nom rõ số nhà. Một người đứng gần cửa vào hỏi:

– Ông hỏi gì?

– Đây có phải là số nhà 22 đường Marie?

– Phải. Ông hỏi ai?

– Bác sĩ Kruse.

– Kruse? Ông muốn hỏi gì bác sĩ?

Graber nhận ra trong tối đôi giầy ủng và y phục Mật vụ. Y nghĩ thầm: “À ra thế! Một nhân viên Mật vụ ranh mãnh!”

Y vừa đẩy cửa vừa nói:

– Để tôi sẽ nói thẳng với bác sĩ.

Y thấy mệt mỏi, mỏi mệt sâu xa hơn sự mỏi mệt ghi dấu vết vào hai mắt trũng sâu và các khớp xương lỏng lẻo. Suốt ngày hôm nay y đã tìm kiếm, thám người này người khác nhưng không biết được gì cả. Cha mẹ y không có họ hàng ở tỉnh này, láng giềng quen biết đều mất tích. Bottcher nói có lý: sự đảo lộn thật là sâu xa. Mọi người ngậm miệng vì sợ Mật vụ, họ chỉ cho biết những tin tức mờ mịt rồi bảo mình đi hỏi những người cũng không hay biết gì mấy.

Lên hết cầu thang thì thấy một hành lang tối. Bác sĩ Kruse ở tầng lầu nhất. Y vẫn chữa bệnh cho mẹ mình. Có lẽ ông ta biết địa chỉ mới của cha mẹ.

Một người đàn bà vẻ mặt thản nhiên, không biết bao nhiêu tuổi ra mở cửa:

– Ông muốn hỏi bác sĩ Kruse?

– Vâng.

Bà ta lẳng lặng ngó Graber, không dẹp chỗ cho y bước vào. Graber nóng ruột:

– Ông ta có nhà không?

Người đà bà không trả lời. Hình như bà ta đợi một tiếng động gì ở nhà dưới.

– Ông đến thăm bệnh à?

– Không, tôi có việc riêng.

– Việc riêng à?

– Vâng, tôi có việc riêng. Thưa bà là bà Kruse?

– May mà không phải.

Graber ngó kỹ con người kỳ dị. Suốt ngày hôm nay, sợ hãi, căm thù và dối trá hiện ra trước mắt y dưới đủ mọi hình tướng, nhưng kết cục người đàn bà này quả là cái gì mới mẻ.

– Thưa bà tôi không biết ở đây có chuyện gì, tôi cũng không muốn biết. Tôi chỉ muốn hỏi bác sĩ Kruse, thế thôi!

– Bác sĩ Kruse không còn ở đây nữa.

Người đàn bà nói câu ấy với giọng căm thù, gắt gỏng đột ngột.

– Tên bác sĩ còn ở ngoài cửa kia.

Graber chỉ biển đồng ghi giờ thăm bệnh.

– Đáng ra cái biển đồng này phải tháo đi lâu rồi.

– Nhưng biển vẫn còn đấy. Trong nhà còn ai là thân quyến của bác sĩ không?

Người đàn bà lặng yên, Graber muốn mắng cho mụ ta một câu rồi bỏ đi thì trong nhà có tiếng cửa mở. Một luồng sáng soi rõ hành lang. Có tiếng người hỏi:

– Ai hỏi tôi đấy?

– Có. Tôi muốn hỏi thăm ai biết bác sĩ Kruse. Nhưng sao mà khó khăn thế.

– Tôi là Elisabeth Kruse.

Graber quay lại nhìn người đàn bà trước mặt. Bà ta vội vàng lui vào, vừa đi vừa la:

– Thắp đèn sáng quá. Cấm xài nhiều điện như thế.

Graber đứng đợi. Một người con gái chừng hai mươi tuổi hiện ra dưới vùng sáng. Y thoáng nhìn thấy đuôi lông mày cong như vòng cung, cặp mắt tối và đợt tóc nâu mềm mại rũ xuống vai. Rồi người con gái đến gần y trong bóng tối hành lang.

– Ba tôi không làm việc nữa.

– Tôi không đến thăm bệnh, chỉ đến hỏi một việc riêng.

Mặt người con gái bỗng biến sắc. Nàng liếc nhìn xem người đàn bà đã đi hẳn chưa, rồi mở mau cửa:

– Ông vào mau đi.

Nàng theo sau vào căn phòng có ánh sáng. Nàng quay lại ngó y thay cho câu hỏi. Hai mắt không còn tối nữa, hai mắt sáng long lanh.

– Hình như tôi có quen ông. Ông có học trường trung học ở đây không?

– Có. Tôi tên là Graber.

Graber cũng nhớ ra. Một cô học sinh gầy ốm, tóc nhiều quá và mắt lớn quá. Mẹ nàng chết từ lúc nàng còn nhỏ. Nàng đến ở với họ hàng tại một tỉnh khác.

– Cô Elisabeth, nom cô khác ngày xưa quá, tôi không nhận ra.

– Lần cuối cùng gặp anh ở nhà trường đã sáu bảy năm rồi. Coi anh cũng khác nhiều.

– Không nhiều như cô.

Hai người nhìn nhau không nói gì.

– Ở đây có chuyện gì vậy? Người canh chừng cô như gác dinh đại tướng.

Elisabeth mỉm cười chua chát:

– Không phải như đại tướng mà như tù binh.

– Tại sao? Tại sao vậy? Thưa cô…

Nàng vội giơ tay bảo im:

– Đợi một chút.

Nàng đi quanh bàn đến bên cái máy hát. Một điệu nhạc quân hành vang lên.

– Bây giờ thì có thể nói chuyện được.

Graber nhìn nàng, không hiểu. Có lẽ Bottcher nói có lý. Trong tỉnh này mọi người đều hóa điên hết.

– Thế này là nghĩa lý gì? Thôi làm ơn làm phước dẹp thứ nhạc quân hành đi, tôi đã ngán quá rồi. Tốt hơn hết là cho tôi biết đã xảy ra chuyện gì ở đây. Tại sao người ta canh chừng cô?

Elisabeth tiến lại gần :

– Người đàn bà rình nghe trộm. Nó do thám. Vì thế phải để âm nhạc che lấp tiếng nói.

Elisabeth đưa mặt bối rôi nhìn lên Graber. Bất thần nàng nghẹn ngào.

– Ba tôi làm sao? Anh biết tin gì mới à?

– Không. Tôi muốn hỏi ba cô có một việc. Ba cô đâu rồi?

– Anh không biết à?

– Không. Tôi muốn hỏi xem ba cô có biết địa chỉ của cha mẹ tôi không. Cha mẹ tôi đã mất tích.

– Thế thôi à?

Graber mở to mắt nhìn Elisabeth.

– Tôi chỉ muốn biết thế thôi.

Người thiếu nữ trở lại bình tĩnh.

– Anh nói đúng. Tôi cứ tưởng anh đem tin của ba tôi.

– Ông nhà ở đâu?

– Ở trại tập trung. Từ bốn tháng nay. Có người tố cáo. Khi anh nói anh đến hỏi ba tôi, tôi tưởng anh có tin tức gì.

– Nếu có tôi đã nói ngay.

Elisabeth lắc đầu:

– Đừng có nói trước mặt con mụ già ấy. Phải cẩn thẩn mới được.

Graber nghĩ thầm: “Cẩn thận! Mình nghe thấy người ta nói đến cẩn thận với đủ các giọng”! Bài nhạc quân hành xoang xoảng như binh khí đụng nhau vang khắp phòng.

– Bỏ đĩa hát đi được không?

– Được, nhưng anh nên đi về thì hơn, anh cũng biết sẽ nguy hiểm cho anh.

– Tôi không phải là chó săn. Người đàn bà ấy là ai. Nó tố cáo ba cô phải không?

Elisabeth đưa tay nhấc kim máy hát nhưng vẫn để cho đĩa quay. Căn phòng yên lặng, rồi bỗng nổi lên tiếng còi hụ rên rỉ.

– Báo động! Lại báo động!

Có người gõ vào cửa kính

– Tắt đèn đi. Suốt ngày thắp đèn! Lúc nào cũng để đèn sáng quá! Biết mà! Có gì lạ lạ!

Graber mở cửa ra hỏi:

– Lạ lạ cái gì?

Người đàn bà đã chạy ra đầu đằng kia hành lang. Ba ta lắp bắp mấy tiếng không nghe rõ rồi biến mất.

Elisabeth đẩy Graber ra một bên và đóng cửa lại

– Nó là gì mà nó hống hách thế? Ai cho nó lại ở đây?

– Ủy ban Gia cư. Tôi được giữ lại căn phòng nay cũng là may rồi.

Ngoài phố ồn ào. Có tiếng trẻ con kêu, đàn bà gọi. Còi báo động Elisabeth cầm lấy cái áo mưa choàng lên vai.

– Phải xuống hầm núp.

– Còn đủ thì giờ mà. Tại sao cô còn ở đây? Sống với con mẹ chó săn ấy khác nào sống trong địa ngục!

Ngoài cửa lại có tiếng thét: “Tắt đèn đi!”

Elisabeth tắt đèn rồi đến gần cửa sổ:

– Tại sao tôi ở lại đây? Vì tôi không muốn đi trốn.

Nàng mở cửa. Tiến còi hụ tràn vào inh tai. Thân hình nàng nổi bật trên nền trời mờ trong khi nàng lấy đinh đóng chặt cánh cửa sổ.

Như vậy bom nổ đỡ làm vỡ kính. Rồi nàng trở lại bên Graber. Hầu như tiếng kêu đẩy nàng đi như một đợt sóng vô hình. Nàng nói qua tiếng còi vang động:

– Tôi không muốn đi trốn! Anh hiểu không?

Graber trông rõ mắt nàng. Mắt nàng lại trở lại tối sầm như lúc trước trong hành lang. Khóe nhìn kia âm ỉ một sức mạnh vô bờ của nghị lực, của say mê. Y cảm thấy hình như mình phải chống lại tất cả, sóng đời gay cấn hằn thù, khuôn mặt với hai mắt quyến rũ kia, tiếng còi hụ nhức nhối nọ, cảnh đảo lộn kinh khủng diễn ra dưới cửa sổ.

– Trời! Tôi không hiểu, ở lại đây chỉ làm cô điêu đứng mà không ích gì. Không chịu đựng nổi thì phải bỏ đi. Tôi học được điều đó ở ngoài mặt trận.

Nàng vẫn ngó y chăm chú

– Thế thì bỏ đi. Bỏ đi, để cho tôi yên thân.

Nàng muốn đẩy y ra để bước ra phía cửa. Y nắm lấy tay nàng. Nàng vùng mình giằng ra. Y không ngờ nàng khỏe đến thế.

– Đợi tôi với. Đợi tôi đi với cô.

Tiếng còi vây bọc lấy họ như một trận bão vô hình. Cả căn nhà rung chuyển, phòng ốc, hành lang, cầu thang, tiếng kêu đập vào tường rồi dội lại, tuôn đi ào ào khắp phía, không ai thoát được tay nó; nó chui qua lỗ tai, qua làn da, thấu vào trong người làm sôi máu sùng sục, làm giật gân phừng phừng, nó bít chặt lấy óc không cho suy nghĩ gì nữa.

– Cái còi ở chỗ nào vậy? Nó làm hóa điên mất!

Cửa đóng lại với một tiếng động. Tiếng còi nhỏ đi.

– Còi ở ngay góc phố. Mình phải xuống hầm công cộng. Hầm nhà không chịu nổi bom.

Từng chiếc bóng đen mang theo ba-lô với va-li hấp tấp xuống cầu thang. Một chiếc đèn bấm bật sáng soi rõ mặt Elisabeth trong giây lát. Một tiếng nói vọng đến: “Đến đây với chúng tôi nếu cô có một mình”.

– Cám ơn! Tôi không đi một mình.

Cửa lại mở, những bóng đen chạy xô vào cửa. Người ở trong nhà chạy túa ra ngoài như đứa trẻ đổ trong hộp đồ chơi ra một đống con chì. Trưởng xóm ra lệnh. Một người đàn bà mặc chiếc áo trong nhà bằng lụa đỏ chót tất tả chạy qua, tóc tung bay trước gió lộng. Những ông bà già rảo bước đi men bờ tường, vừa đi vừa nói, nhưng cảm tưởng như những cái miệng héo hon lặng lẽ nhai những lời nói đã tắt ngúm.

Hai người đến công trường, trước cửa hầm núp đông nghẹt người ồn ào. Trưởng xóm chạy tới chạy lui như những con chó chăn cừu, cố gắng lập trật tự.

Elisabeth có vẻ như ung dung không vội vàng. Graber đề nghị:

– Ta thử đi luồn phí bên cạnh lối vào.

Nàng lắc đầu :

– Đứng ở đây.

Đám đồng chảy cuồn cuộn như thác xuống hầm. Graber nhìn Elisabeth. Hầu như tất cả sự vật này không liên hệ gì đến nàng nữa.

– Cô can đảm thật!

Nàng đưa mắt nhìn Graber:

– Không, tôi sợ. Tôi sợ cái hầm.

Một người trưởng xóm la:

– Sao còn đứng đây! Chờ được giấy mời chánh thức mới xuống à?

Hầm rộng lắm, thấp và tối, có nhiều cột chống cho thêm chắc, có nhiều lối ra vào, lại có đèn sáng. Trong hầm có ghế dài, nhưng người ta mang theo nệm, mền, ghế xếp văn hóa… dần dần việc tổ chức cũng đem lại trật tự. Graber nhìn quanh với con mắt hiếu kỳ. Đây là lần thứ nhất y ở dưới hầm với dân chúng, lần thứ nhất y gần gũi với đàn bà con nít ở ngay tại nước Đức.

Ánh sáng xanh lơ làm mặt người nhợt nhạt, nom như một tốp người chết đuối. Người đàn bà mặc áo đỏ ngồi cách y không xa, áo đỏ ngả ra màu tím và tóc có ánh xanh xanh. Y nhìn Elisabeth. Mặt Elisabeth cũng hóa ra xám xịt, ngơ ngác, hai mắt sâu hoắm dưới hai cái hố tối đen, mớ tóc mất cả tươi sáng và trở nên mờ nhạt. Y thầm nghĩ: “Những người chết đuối, chết đuối vì dối trá và sợ sệt, họ bị xua đuổi xuống dưới lòng đất, họ trở nên thù ghét ánh sáng, thù ghét sự thật quang minh chính đại”.

Một người đàn bà ngồi thu hình trước mặt Graber với hai đứa con, hai đứa con nép vào lòng bà ta. Khuôn mặt hai đứa trẻ mất hết thần sắc, chỉ có hai mắt còn chút sinh khí. Trong ánh sáng mờ, những cặp mắt mở lớn quay ra phía cửa khi đợt súng cao xạ hoạt động ráo riết, trở lại đưa quanh trần nhà thấp, bờ tường bê-tông, rồi lại quay ra phía cửa. Hai đứa trẻ cứ theo tiếng nổ mà tìm chỗ đặt mắt nhìn. Đó là cặp mắt những con vật bị tê liệt hay bị sa bẫy, những cặp mắt vừa đưa nhanh vừa ngơ ngác phản chiếu đóm sáng ngọn đèn mờ. Hai đứa không nhìn thấy Graber, cả người mẹ với hai đứa con ngồi cạnh y cũng thế, chúng không còn sức lực để nhận ra ai, nói điều gì; trong người chúng vẫn có một sự chăm chú nghĩ đến cái nguy hiểm vô hình mà chúng không ý thức được, cái nguy hiểm đó có thể là một tiếng nổ dữ dội đem lại cái chết trong nháy mắt. Những đứa trẻ đã lớn rồi, chúng không thể không biết đến sự nguy hiểm, cũng không thể giả bộ can đảm vô ích, chúng sáng suốt nhưng chúng không có phương thế tự vệ…

Graber cũng nhận thấy thái độ đành chịu buông xuôi trong khi vẫn sáng suốt như thế không phải chỉ là thái độ của trẻ con; phần lớn những người thuộc thành phần dân sự ở trong hầm này đều để lộ thái độ ấy. Cặp mắt họ cũng thế. Khuôn mặt và thân thể họ ngay đơ ra. Họ lắng nghe bằng cả hai tai, bằng cái lưng khom, bằng hai đầu gối chụm lại, bằng hai bàn tay nắm chặt lấy nhau. Họ nghe ngóng, người ngay đơ không chút cử động, chỉ có hai mắt theo dõi tiếng nổ lúc dồn dập lúc thưa thớt như những mệnh lệnh ghê sợ.

Bây giờ Graber cũng bắt đầu lo sợ như họ.

Không biết có cái gì làm thay đổi luồng không khí nặng nề. Bề ngoài vẫn nổ ầm ầm nhưng trong có luồng không khí mát không biết từ đâu đưa lại. Những khuôn mặt đông cóng bắt đầu có chút sinh khí. Hầm núp không còn là viện bảo tàng trưng bày những hình sáp, bây giờ là những người trở lại cuộc sống và hy vọng. Mỗi cái mặt nạ dần dần trở lại mặt người, cặp mắt nọ gặp cặp mắt kia. Một ông già ngồi gần Elisabeth nói :

– Họ đi xa rồi.

– Họ có thể trở lại lắm. Đã có lần thế rồi. Bất thần họ trở lại vào lúc kéo còi hết báo động.

Hai đứa trẻ bắt đầu đứng lên ngồi xuống. Một người ngáp dài. Một con chó không biết ở đâu ra chạy quanh hầm dò dẫm. Thỉnh thoảng có người đã mở khăn gói lấy thức ăn ra. Một người đàn bà to lớn bỗng la lớn:

– Chết rồi! Quên tắt hơi bếp lò! Đồ ăn cháy thành than mất còn gì. Có thế mà anh cũng không nhớ!

– Bà đừng lo. Có còi báo động là người ta khóa hơi.

– Cũng không hơn gì, khi có hơi thì hơi lại xông ra khắp nhà. Còn khổ hơn.

– Không phải cứ báo động là khóa hơi, chỉ khi ném bom mới khóa hơi.

Elisabeth lấy trong bóp ra gương lược và chải lại mớ tóc. Cái lược nom như thỏi mực khô dưới ánh sáng xanh mờ, nhưng mớ tóc lượn sóng dưới bàn tay Elisabeth.

– Làm sao ra ngoài mau mau đi, ngồi đây như nghẹt thở!

Phải đợi chờ nửa giờ nữa. Rồi cửa hầm mở. Họ đứng dậy kiếm lối ra. Vài ngọn đèn bọc kín soi sáng mội cửa ra vào. Bên ngoài ánh trăng rọi xuống thềm. Bước đi mỗi bước, Elisabeth có cảm tưởng như mình hồi sinh. Quầng đen dưới hai con mắt biến mất, nàng không còn nước da chì, tóc nàng ánh lên tia sáng ấm nước da trở lại tươi tắn. Hầu như trời trả lại cho nàng cái xác phàm, mạnh mẽ hơn, rắn chắc hơn trước. Nàng hít một hơi dài, không khí trời đêm, như để vội hưởng chút an nghỉ trời dành cho.

***

Họ dừng lại trước cửa hầm. Elisabeth có cử chỉ rũ đầu phủi vai nhưcon vật bị nhốt lâu ngày vừa được thoát thân.

– Gớm! Sao mà tôi ghét những cái hố chung thế!

Nàng lắc đầu hất mớ tóc trên vai.

– Ngồi trong hầm như cái hang làm người ta nghẹt thở. Chẳng thà ở giữa đống đá vụn lại hơn, ít ra người ta còn thấy trời ở trên đầu!

Graber nhìn nàng mà phải khen thầm. Ra khỏi cái hầm bê-tông như lối vào âm ti, nàng có một vẻ mạnh bạo và man rợ khác thường.

– Có về nhà không?

– Thì hẳn rồi, biết đi đâu bây giờ? Đi thơ thẩn trong các phố tối tăm à? Tôi làm thế đã nhiều rồi.

Họ đi qua công trường Karl. Gió lộng quanh người như con vật quen thuộc.

– Cô không thể đi ở chỗ khác được thật à?

– Đi đâu được. Anh biết đâu có phòng không?

– Không.

– Tôi cũng vậy. Trong tỉnh này có hàng ngàn người không nhà. Tôi không biết đi đâu bây giờ.

– Hẳn rồi. Bây giờ đã muộn rồi.

Elisabeth đứng lại:

– Vả chăng tôi cũng không muốn đi chỗ khác, tôi có cảm tưởng như bỏ liều cha tôi.

Hai người lại bước đi, Graber đã bắt đầu khó chịu với cô gái cứng cổ và không quen này. Y nhọc mệt và xao xuyến, bất thần y cảm thấy như cha mình đang ở khu Haken chờ đợi mình đến.

– Thôi, xin từ biệt cô, tôi có hẹn với người ta giờ đã trễ rồi. Chào cô.

– Chào anh Graber.

Y nhìn theo nàng đi khuất vào trong tối. Y nghĩ thầm: “Đáng lẽ mình đưa cô ta về nhà thì phải”. Nhưng điều đó không quan trọng. Y nhớ lại hồi nhỏ y ác cảm với Elisabeth.

Y quay lại đi về hướng Haken. Phố xá vắng vẻ không một bóng người. Chỉ có ánh sáng trăng và sự yên lặng lạnh lùng của những nơi mới đổ nát. cảnh đổ nát đứng sững ngoài trời như vang âm của một tiếng kêu câm lặng. Sự yên lặng của nhưng cảnh điêu tàn cổ xưa thì lại khác.

***

Bottcher đã đứng trước thềm tòa thị sảnh. Trên đầu y, đầu một máng nước mưa hình con vật nhăn nhó dưới ánh sáng trăng.

– Anh có tin tức gì không?

– Không. Thế anh?

– Tôi cũng không. Chắc chắn là không có ở bệnh viện. Tôi đã đi gần hết các bệnh viện. Trời! Thật là thê thảm. Đàn bà, con nít, khác hẳn ở trại lính. Đi đâu uống chút la de đi.

Hai người đi qua công trường Hitler. Tiếng giầy vang trên hè phố.

– Lại mất toi thêm một ngày nữa. Chẳng còn bao lâu sẽ hết phép mà vợ vẫn không thấy.

Bottcher đẩy cửa một cái quán và kéo Graber vào một bàn gần cửa sổ. Màn cửa buông kín cẩn thận. Bottcher có vẻ quen biết quán này từ lâu. Người nữ chiêu đãi đem hai chai rượu ra, không đợi gọi. Y nom theo hút, cô gái to đồ sộ, mỗi bước đi người núng na núng nính.

– Thế là mình vẫn ngồi đây một mình, lúc này vợ mình cũng ngồi một mình ở một xó nào đấy, ít ra tôi cũng hy vọng còn được như thế. Như vậy có đáng hóa điên không?

– Tôi không biết. Nếu biết rằng cha mẹ tôi sống mà ngồi uống bia ở một nơi nào đó thì tôi cũng đủ sung sướng rồi.

– Thì đã hẳn. Cha mẹ khác vợ chồng. Cha mẹ thì chỉ cần biết còn mạnh khỏe là đủ, nhưng vợ thì còn phải…

Họ gọi hai ly khác và lấy thức ăn ra. Cô nữ chiêu đãi lượn quanh bàn dòm ngó xúc xích và thịt mỡ của họ. Bottcher uống một hớp lớn và nói giọng chua chát:

– Như anh cũng còn là may, anh chỉ việc ăn no rồi đi kiếm một cô gái điếm mà quên việc đời…

– Anh làm thế không được sao?

Bottcher lắc đầu. Graber nhìn y mà ngạc nhiên, y không ngờ anh lính già này trung thành với vợ như thế.

– Họ gầy gò quá. Cái khổ là tôi chỉ thích những người mập mạp. Tôi chẳng thiết nhưng người gầy gò, mình có cảm tưởng như ngủ với cái cán chổi vậy. Phải mũm mĩm mới được. Nếu không tôi chẳng thiết gì cả.

– Thế thì cô kia kìa. – Graber ra hiệu cho y ngó thấy cô nữ chiêu đãi.

– Lầm rồi, anh! Mập mạp cũng có năm bảy đường mập mạp! Đấy là miếng thịt đông núng na núng nính. Tôi không nói đến chuyện đẹp xấu vội. Cô này nom như cái gối nhồi chứ không như vợ tôi, một cái giường lò xo chắc chắn! Úi chà! Khi mà mụ ta nổi tam bành thì cả nhà rung chuyển như một cái quán lò rèn. Khung ảnh treo tường rung rinh! Một người như thế không phải cứ ra đầu phố là có ngay.

Y ngừng nói, ngồi mơ màng. Bỗng dưng Graber ngửi thấy mùi hoa tím thoang thoảng. Y tìm quanh thì thấy một chậu hoa để trên bờ cửa sổ. Hương hoa ngào ngạt tỏa ra từng đợt gợi lại mộng mơ, tuổi trẻ, kỷ niệm êm đềm xa xưa. Mỗi làn hương thơm lại làm y ủy mị và mệt nhọc như vừa đeo ba-lô trên lưng đi một quãng đường dài trên tuyết. Y đứng dậy:

– Anh đi đâu?

– Tôi cũng không biết nữa, cứ đi xem đến đâu thì đến.

– Anh đã đến trung tâm chưa?

– Rồi. Đã xin được chỗ ở trong trại.

– Được rồi, cố xin ở phòng 18.

– Đồng ý.

Mắt Bottcher dõi theo người nữ chiêu đãi mà không vui thích lắm.

– Tôi còn ngồi đây chút nữa. Cho ly nữa cô!

Graber thủng thẳng về trại, về đêm hơi lạnh, ở một góc phố, đường rây xe điện cong lên vì một hố bom. Mặt trăng tỏa ánh sáng trong xanh xuống cửa vào và cửa sổ những căn nhà đổ. Y nghe rõ tiếng vang bước đi của mình như có người đi sau. Cái gì cũng trống rỗng, lạnh lùng và sáng lấp lóe.

Trại ở một chỗ đất cao ven thành phố, còn nguyên vẹn, không có vết tích bom đạn. Cái sân trắng xóa dưới ánh trăng nom như phủ tuyết, Graber bước vào cổng. Y có cảm tưởng như đã hết phép rồi. Quá khứ như tan biến mất và bây giờ như trở ra mặt trận. Nhưng đây là một mặt trận khác hẳn, không có súng có bom, nhưng không kém phần nguy hiểm.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 24 May 2026

Tôi có thói quen mỗi sáng tôi thường hay thức sớm, mở laptop gõ chữ ghi lại những chuyện xảy ra trong cuộc sống, nhưng từ đầu mùa dịch cho tới nay cái laptop cũng bị tôi cho “cách ly” nên tôi không gõ được chữ nào vô đó hết. Hôm đi làm lại, công ty định cho xuống chiếc tàu bên Tây Ban Nha nhưng không có chuyến bay qua Tây Ban Nha, công ty cho qua chuyến tàu bên Bỉ, hổng có xe lửa qua Bỉ, cho xuống chiếc ở Rotterdam, có xe lửa tới Rotterdam nhưng hổng có tắc xi xuống tàu, cuối cùng giám đốc lấy xe công ty chạy tới bến xe lửa chở tôi xuống tàu. Biết rằng ai cũng phải tuân thủ lệnh phòng dịch, nhưng có lẽ tại tôi suy nghĩ nhiều quá cho nên đầu óc khi thì trống rỗng, lúc thì nghĩ ngợi lung tung…

Tôi xuống tàu vào buổi trưa giữa tháng ba, thì ngay buổi chiều hôm đó tàu khởi hành. Chuyển một chuyến containers từ cảng Rotterdam, Hoà Lan, qua St. Petersburg, nước Nga. Thành phố có một thời rất đẹp và rất văn minh, nhưng bị suy tàn trong thời Cộng Sản và sau khi chủ nghĩa Cộng Sản Liên Xô xụp đổ đất nước này phục hồi lại cũng khá mau. Lâu rồi tôi chưa trở lại St. Petersburg, lần này trở lại, tôi dự định sẽ đổ bộ tham quan thành phố cổ kính của vài thế kỷ trước và muốn coi nó đã phát triển tới đâu rồi. Nhưng nhằm mùa dịch làm cho mọi sinh hoạt thay đổi hết, tàu vừa ghé cảng thì hải quan và công an xuống tàu, theo thủ tục trước kia, khi nhập cảnh nước Nga thì mỗi thủy thủ phải đứng sắp hàng cho công an nhìn mặt để đối chiếu với sổ thông hành. Nhưng lần này vừa xuống tàu họ phát cho mỗi người một khẩu trang, kêu mọi người mang vô, xong rồi mới đứng sắp hàng giữ khoảng cách đúng theo tiêu chuẩn phòng dịch. Khi bắt đầu làm thủ tục, một bà nhân viên cầm cái máy giống như cây súng ngắn cầm tay, nhắm thẳng vô trán từng người bấm thử nhiệt độ, sau đó mỗi người trình sổ thông hành và kéo khẩu trang xuống cho công an xem mặt, xong rồi kéo khẩu trang lên đậy miệng lại. Chuyến này họ xem giấy tờ rồi thôi, không cấp giấy thông hành cho thủy thủ như mấy lần trước nữa và dặn thuyền trưởng thông báo cho thuỷ thủ biết là không ai được phép lên bờ, kể cả thủy thủ người Nga.

Lên xuống hàng cảng St. Petersburg mất hai ngày, sau đó tàu quay trở về Rotterdam thì hợp đồng qua Nga cũng chấm dứt. Không còn hàng chở nữa, tàu phải chạy lại bến đậu chờ. Công ty có mười chiếc tàu mà đậu lại hết bốn chiếc, mỗi bến cặp nhau hai chiếc. Tuy tàu đậu chung một bến nhưng thuyền trưởng ra lịnh, thủy thủ tàu nào thì ở tàu nấy, không được qua lại với nhau và thủy thủ nào muốn lên bờ thì phải hỏi ông. Riêng tôi thì buổi sáng, buổi chiều hay đi dạo nên tôi nói cho ông biết trước để khỏi phải mỗi lần đi mỗi lần hỏi. Tàu đậu chờ nên công việc cũng ít bận rộn hơn, thủy thủ ngoài boong ngày nào cũng đục sét, sơn và rửa tàu, thợ máy thì lau chùi máy và hầm máy. Thuyền trưởng, thuyền phó chắc không có chuyện gì làm hay sao mà bày trò cho thủy thủ thực tập mỗi tuần hai, ba lần, hôm nay phòng cháy, chữa cháy, ngày mai tàu chìm, cứu người, ngày kia đề phòng cướp biển, ngày nọ khủng bố, tàu chở hàng mà làm như hải quân, ông bắt thực tập tìm chỗ đặt bom mìn và tháo gỡ bom mìn….

Chiều mùa xuân mát mẻ, mặt trời ngã xuống phương Tây, ánh hồng xuyên qua hàng cây dọc con đường bến cảng và toả chiếu lấp lánh mặt sông. Mặt nước dòng sông Nieuw Maas thật êm ả, bầy chim nhàn bay theo sau lái những chiếc tàu buôn ra vô hải cảng Rotterdam, có vài con chim no mồi bay lượn qua lượn lại giữa không gian thanh bình. Gió mơn man nhè nhẹ làm lòng tôi dâng lên niềm thương nhớ và cảm giác buồn buồn nhưng không rõ vì sao. Cái cảm giác mà lâu lắm rồi mới có lại trong tôi, có lẽ sự buồn bã không tên ấy là nguồn cảm hứng kéo tôi ngồi vào ghế và gõ vô phím chữ để bắt đầu ghi lại chuyến hải hành giữa mùa đại dịch đang bùng phát khắp địa cầu này.

Theo thuyền trưởng thì trên tàu phải vui vẻ, khoẻ mạnh để chống lại viruscorona, ông đề nghị đầu bếp mỗi Chủ Nhật phải làm tiệc thịt nướng (BBQ), thừa dịp Covid 19 và tàu đậu lại nên ông đề nghị cho có ngày nhất định, chớ thật ra những lúc tàu chạy, nhằm tháng biển im, trời đẹp thì tuần nào ông cũng đòi (BBQ). Lúc mới nghe chuyện tiệc tùng, ăn nhậu để chống viruscorona, người nào cũng vui vẻ hân hoan, thợ máy thì hì hục đục thùng phi ra làm lò nướng mới thay cho chiếc lò đã cũ, thủy thủ thì đập mấy cái pallet cưa ván thông thành cục nhỏ thay cho than. Tôi là đầu bếp lo chọn thịt ướp, sợ ăn hoài một thứ mọi người ớn, tôi luôn thay đổi cách ướp thịt, tuần này ướp kiểu Tây thì tuần sau ướp kiểu Tàu, kiểu Mỹ, kể cả ướp sả ớt theo kiểu Việt Nam, kiểu nào thì nước chấm đó và rau sống trộn sà lách. Thực đơn ngày nào cũng có bao nhiêu thứ thịt, cá, thịt dồi mà toàn là loại rẻ tiền, thịt bò, thịt cừu, dai nhách, thịt gà nhão nhoẹt. Đã vậy mà chiều nào sau khi xong việc cũng bia, rượu lai rai và cuối tuần ăn nhậu riết rồi ngoài thuyền trưởng ra không ai còn háo hức BBQ nữa. Thằng Edy đại diện cho thủy thủ In Đô vô nói với tôi:

– Chú đừng làm BBQ nữa.

Tôi nói:

– Thuyền trưởng đề nghị mà.

– Nhưng chú hổng làm cũng đâu sao.

– Có sao nhiều lắm chớ.

Tôi không muốn lôi thôi vì ba cái chuyện ăn uống nên hổng giải thích thêm, tôi nói:

– Ờ, để chú nói lại với thuyền trưởng coi sao.

Tôi đem chuyện nói lại với thuyền trưởng, tưởng nghe vậy ông cho ngưng món thịt nướng cuối tuần. Ai dè trong giờ ăn, khi thủy thủ tập trung đầy đủ trong phòng ăn, ông đi qua hỏi tụi nó coi có còn thích món thịt nướng nữa không? Thủy thủ In Đô không dám trái ý ông, nên đứa nào cũng nói thích. Chỉ có viên thuyền phó và thợ máy người Nga không đồng ý và lời qua tiếng lại sao đó mà mặt mài ông hầm hì đi vô bếp nói với tôi:

– Thủy thủ đứa nào cũng thích BBQ, chỉ có mấy thằng Cộng Sản Nga khùng, tụi nó không thích thì cho tụi nó nhịn.

Ông đưa tay làm dấu ngón cái và ngón trỏ ra chữ o, đưa lên môi chu cái mỏ hun cái chụt, ông nói:

– Bếp ướp thịt nướng ngon lắm, tôi rất thích món sốt chua, ngọt và thiệt cay.

Khi ông đi rồi tôi mới qua nói với đám thủy thủ:

– Tụi mày than với tao là ăn nhậu riết rồi ớn, tao mới nói lại với thuyền trưởng, nhưng khi thuyền trưởng hỏi thì tụi mày nói thích lắm. Vậy là sao?

Mấy đứa mặt mày bí xị, nói:

– Xin lỗi chú!

Thằng Edy lên tiếng:

– Thuyền trưởng hỏi vậy, tụi con cũng đâu biết nói gì khác chú.

Không muốn làm mấy đứa buồn lòng. Tôi cười nói:

– Nói chơi thôi, thuyền phó, thợ máy tụi nó nói còn hổng ăn thua gì nữa, nói chi lính lác như tụi mình. Đúng ra ngày Chủ Nhựt tao ra menu đơn giản, dành thời giờ nghỉ ngơi, nhưng tao làm suốt mà không thấy phiền, tụi bây chỉ có ăn nhậu thôi mà còn phàn nàn!

– Tại chú hổng ăn thịt, chú nói vậy.

– Vậy thì tụi mày đừng ăn thịt nữa, ăn rau trộn với mì xào hoặc cơm chiên cũng ngon mà.

Nói qua cãi lại vậy thôi, thật ra Chủ Nhật tuần nào từ thuyền trưởng cho tới thủy thủ đoàn, hổng thiếu mặt nào hết. Họ tụ tập xung quanh lò nướng bốc khói thông mù mịt, đầu bếp bỏ công ướp thịt và trang trí mâm thịt rất đẹp mắt, nhưng các người đem nướng khói thông làm thịt đen thui như da người Phi Châu. Vậy mà cả chục ký thịt sống, dồi tươi, rau trộn xà lách và một chảo hổng mì xào thì cũng cơm chiên, cả đám ăn một hơi sạch bách.

Dĩ nhiên tánh tình thuyền trưởng mỗi ông mỗi khác, nhưng viên thuyền trưởng nầy có phần đặc biệt, phải nói là kì cục. Hình như trong đầu ông ngoài chuyện lái tàu, giao tiếp với nhân viên hải quan nước này nước kia ra, phần còn lại chỉ có ăn, ngủ, còn chuyện làm tình thì hổng biết ông còn chấm mút được gì không? Vậy mà hể mở miệng ra là nói tục. Ông đã trên sáu mươi lăm tuổi rồi chớ còn trẻ trung gì đâu, ông ăn rau rất ít và bắp cải đỏ không bao giờ ông rớ tới. Còn thịt, cá thì loại nào ông cũng đớp láng, một ngày ông có thể ăn cả ký lô thịt và gà đúc lò ông nít hết cả con. Ít khi ông ăn sáng, nhưng mỗi lần ăn ông đòi ăn bốn năm cái trứng gà ốp la với thịt ba chỉ hun khói. Chiều ăn, uống xong ông lên phòng đóng cửa ngủ, thủy thủ muốn lên bờ đi dạo cũng không dám đánh thức ông dậy để hỏi.

Thường thì trên tàu muốn làm BBQ thì thuyền trưởng đưa tiền cho thủy thủ, đầu bếp hoặc đích thân thuyền trưởng lên tiệm mua than và mua thêm những thứ cần dùng mà trên tàu không có. Nhưng ông thì không chịu bỏ tiền ra mua gì hết, trên tàu có gì thì làm cái đó, ông bắt thủy thủ cưa mấy cái pallet bằng ván thông ra từng cục rồi đốt lấy than nướng thịt. Lần đầu tôi thấy ghê ghê nên tôi mới nói với ông:

– Cây thông đốt khói nhiều lắm, nướng ra thịt đen thui, ông ăn hổng sợ bị ung thư sao?

Ông day qua đưa ngón tay trỏ lên ra dấu tục, gặt một cái rồi cười khằng khặc và đưa cánh tay ra khoe cơ bắp, nói:

– Cả đời tui, tui ăn như vậy hoài mà có bịnh hoạn gì đâu, tui còn khoẻ hơn ông nữa, ông Bếp à!

Thật vậy tướng người ông không mập cũng không ốm, chiều cao cũng vừa phải, trông ông còn rất khoẻ và ăn uống còn mạnh lắm. Ăn xong buổi trưa thì vô bếp hỏi:

– Bếp, buổi chiều ăn gì?

Ăn xong buổi chiều thì ông lại ló đầu vô bếp hỏi:

Bếp, trưa mai ăn gì?

Đã vậy mà sáng vừa bảnh mắt thì từ trong phòng ông gọi điện xuống bếp chào buổi sáng và tiếp theo câu hỏi:

–  Bếp, buổi trưa ăn món gì?

Biết tánh tình ông như vậy nên sau mỗi bữa ăn, vừa thấy ông ló mặt vô cửa phòng bếp, không chờ ông hỏi, tôi nói ngay cho ông biết bữa ăn kế sẽ là món gì.

Đúng ra thuyền trưởng không nên làm như vậy, vì trên tàu bốn tuần lấy thực phẩm một lần với số lượng vừa phải, nhưng ăn uống như ông chỉ có ba tuần là thịt ngon hết sạch, một tuần còn lại thì ăn thịt vụn, rau đông đá và cá đóng hộp. Nhưng ông cũng biết vậy nên tuần cuối cùng đưa ra cái gì ông ăn cái đó, luôn cả cá kho khô, cá đóng hộp, mì gói ông cũng đốp hết và còn khen ngon. Thật tình mà nói, giữa mùa dịch trên thế giới nhiều nơi bị thiếu lương thực và nhiều người thiếu ăn, mà trên tàu ăn uống phung phí như vầy, xem ra có cái gì đó không đúng.

***

Dịch Vũ Hán có tên là Covid 19, cái tên nghe trẻ trung và đẹp đẽ nhưng lợi hại vô cùng! Mới đó mà đại dịch hoành hành hơn ba tháng rồi, làm cho khắp nơi trên thế giới này đảo lộn  hết. Ngày nào nghe tin tức cũng có hàng ngàn người chết vì mắc dịch. Mấy người quen trên Facebook thường cập nhật thì xem và biết họ còn khoẻ mạnh. Chớ những bạn bè khác thì đành chịu thôi, chẳng lẽ lâu lâu gởi email hỏi thăm hết một loạt, không khéo họ nghĩ mình trù ẻo thì phiền lắm. Xem ra cái mòi này thì con người ta khắp nơi trên thế giới còn lâu mới được Covid 19 buông tha.

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 24 May 2026

Dạo này, tôi thuờng về nhà bác Huế tán gẫu với bé Đông. Bé Hà chuẩn bị thi vào đệ thất. Tôi không phải dạy kèm cho nó. Chuyện ấy đã có bé Đông lo. Năm nay, bé Đông bắt đầu đảm trách công việc nấu ăn cho cả nhà. Nó nấu ăn ra vẽ thành thạo. Tôi xuống bếp cho nó sai vặt như lặt rau, thái thịt và sau cùng là thợ nếm. Vì gần lửa bếp, má nó hồng lên, hai bên cánh mũi tươm mồ hội và đôi môi mỏng mọng quyến rũ lạ lùng. Tôi nghĩ đến nụ hoa vừa hé nhụy trong làn sương đêm. Nó lườm tôi: “Nhìn chi dữ na? Mặt em dính nhọ hả?”

“Không.”

“Rứa sao nhìn?”

O đến tuổi cập kê rồi. Mai mốt anh giới thiệu cho o môt thằng bồ.”

Nó cú thùm thụp vào lưng tôi: “Anh nì nói nhảm!”

Tôi vui với vẽ hồn nhiên của nó. Đời sống bác Quảng rất chừng mực. Nhiều khi tôi có cảm tưởng chuyện gì bác cũng làm thco đúng thời khóa biểu, Cứ vài tuần, bác bảo tôi dẫn hai em đi chơi. Không phải con bác còn bé đến mức tỏi phải đìu dắt. Ý bác muốn có tôi bên cạnh cơi chừng kiểm soát bé Đông. Bác biết con bác bây giờ là mục tiêu dòm ngó của bọn con trai. Trong rạp, tôi và bé Hà ngồi phòng thủ hai bên bé Đông.

Bé Hà nói: “Ai thò tay qua chị Đông, em véo sứt da.”

Nghe thế, bé Đông cười. Nó biết nó đẹp. Chuyện phim là một mối tình trái ngang đầy nước mắt. Có những cảnh trai gái quyện vào nhau hôn đắm đuối. Lòng tôi rạo rực. Tôi lần tay tìm bàn tay bé Đông, vuốt ve. Nó để yên. Ban tay mềm và ấm. Trong ánh sáng mờ mờ hắt xuống từ màn ảnh, tôi thấy nó nghiêng đầu nhìn về phía tôi. Tôi nghĩ đến bàn tay Phương Nghi …

Trên đường về, nó hỏi: “Anh còn nhớ chị Phương Nghi không?”

Tôi nói: “Còn.”

Nó quay đầu hất mái tóc bùng tạt qua, che một bên má. Nó ngó hướng khác.

Tôi hỏi: “Phương Nghì có nhắc gì về anh?”

Nó vùng vằng: “Không biết!”

Tôi kên; “Ơ … cái o này lạ chưa?”

Bé Hà đòi di ăn kem. Tôi dẫn hai đứa vào tiệm Tuyết Viên. Nó ngồi nhìn ly kem, không ăn. Giận dỗi điều gì. Tôi và bé Hà chia nhau, ăn luôn phần của nó. Ngày rằm, bác Huế dẫn tôi và Đông, Hà đi chùa. Bác quỳ truớc bàn thờ Phật, cầu nguyện rất lâu. Đông, Hà vào chánh điện ngắm Phật một lúc, rồi bỏ ra ngoài đi vơ vẫn. Tôi đi tìm sư Trí Tâm. Sư vừa làm lễ xong, đang dứng hóng gió sau chùa.

Tôi đến sau lưng sư: “Chào chú.”

Sư quay lại: “Con đi một mình hay với ai”

“Với mẹ con bác Huế.”

Lúc dó, hai con bé cũng vừa tới, chắp tay lễ phép chào.

Sư hiển từ nhìn bé Hà; “Con học tớp mấy?”

Bé Hà thưa: “Con học lớp nhất.”

Quay qua bé Dông, sư hỏi: “Còn con?”

“Bạch thầy, tựu trường năm ni con lên đệ ngũ.”

Sư bảo: “Ngoan lắm. Hai chị em vào nhà trai ăn trái cây

Hai đứa đì về hướng nhà trai.

Sư nhìn theơ: “Đứa chị lớn rồi, Con phải giữ gìn.”

Tôi nói: “Con vẫn dòm ngó, không để nó sa ngã vào đường tình với ai.”

“Chú muốn nói, con phải giữ gìn ý tứ của con.”

“Ý tứ của con? Lúc nào con cũng coi tụi nó như em,”

Sư ngước nhìn trời cao, im lặng. Tôi dứng sát vào sư, cảm thấy bình yên. Sư có cái phong thái thanh cao. Gần sư, lòng tôi hướng thượng. Một lúc sau, sư nói bâng quơ như không phải nói với tôi:

“Con trai thì nhiều phiêu lưu, trong khi con gái mang nhiều ảo tưởng,”

Khi chúng tôi sắp về, trời nổi cơn giông. Gió thốc vào chánh điện. Cơn mưa bất chợt như chực sẵn từ lâu lắm. Trời nhá nhem bóng tối. Bác Huế nói: “Cũng phải về thôi. Mưa trái mùa như ri, không dể tạnh.”

Tôi ra đường gọi xích lô. Bác Huế và bé Đông ngồi chung một chiếc. Tôi với bé Hà ngồi chung một chiếc. Phía trước xich lô căng tấm bạt che mưa, kín bít bùng

Bé Hà thích thú: “Xe chay tròng trành như như đi ghe trên sông.”

Toi đoán xich lô chạy rất nhanh. Bỗng xe thắng gấp, ngừng lại. Người phu mở tẩm bạt. Đây là ngã sáu, Nhà thờ Núi chênh vênh trên đổi. Mưa vẫn không ngớt. Dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường, tôi thấy bác Huế và bé Đông lóp ngóp bò ra khỏi chiếc xích lô lật nghiêng. Tôi chạy lại đỡ bác Huế. Bé Đông vịn vào tôi, đứng lên nhăn mặt. Gió thổi mạnh. Quần áo nó đính sát vào người. Thân thể lộ những đường cong dậy thì. Nhớ lời sư Trí Tâm, đứa chị lớn rồi …

Người phu của chiếc xích lô bị lật, nói: “May là không sao cả.”

Bác Huế nói: “Cái chân của tôi đau lắm, mà nói không sao à?”

Hai chiếc xích lô tiếp tục khoảng đường còn lại. Tôi dìu bác Huế vào nhà. Bác bị trặc nơi mắt cá chân trái, không di được. Toi thoa bóp dầu nóng chổ đau cho bác nằm nghỉ. Bé Đông ngồi ôm chân, rên rỉ. Bác Quảng vén ống quần nó lên. Đầu gối rướm máu, do trượt xuống mặt dường. Bác sát trùng bằng cồn và thoa thuốc đỏ. Nó giẫy tê tê. Chân nó thon dài trắng mịn. Cái chân ngọc ngà gợi cảm, làm nổi lên những dục vọng thấp hèn trong lòng người khác. Tôi quay đi, giã vờ không để ý. Bác Huế nằm trên chiếc băng dài, nhìn tôi. Hình như trên môi bác thoáng nụ cười chế giễu Có phài bác bắt gặp trong mắt tôi. một chút tà tâm vừa dấy?

Sinh nhật bé Đông, tôi mời anh Hòa đến chơi nhà hai bác Huế Quảng. Hai bác đã nghe tôi nói về anh, nhưng chưa biết. Đây là dịp để tôi giới thiệu. Sau những lời xã giao với hai bác, anh Hòa chúc bé Đông mọi điều tốt đẹp. Anh mừng tuổi nó bằng cặp viết Parker. No mừng ra mặt. Trong nỗi mừng vui, nó hồn nhiên như một đửa trẻ. Tôi tặng bé Đông xân chuỗi xinh đẹp làm bằng những con ốc nhỏ. Mọi người đang ăn bánh sinh nhât, và tán gẫu. Bé Đông nói: “Em có món quà tặng anh Hiên.”

Tôi hỏi: “Món gì?”

Nó không trà lời, làm ra vẽ bí mật, đi lên tầng gác. Tôi lên theo. Nó mở chiec cặp, lấy ra hai chiếc khăn tay. Khăn màu trắng viền chỉ hồng. Nơi góc chéo có thêu một bông hoa nhỏ.

“Khăn ni em thêu trong giờ nữ công.” Nó nói.

Tôi cầm chiếc khăn giơ lên: “Anh chẳng bao giờ dùng khăn tay.”

Nó ngỡ ngàng.

Tôi hiết lỡ lời, vội bào chữa: “Anh muốn nói tính anh lơ đãng … “

“Thôi, không cho nữa.” Nó giật lai chiếc khăn trên tay tôi.

Giận hả?” Tôi đặt bàn tay lên vai nó.

Nó hất ra: “Không dược chạm vào người tôi!”

“Coi kia, cặp mắt lườm lườm thấy mà ghê !”

Nó mim môi, ngoảnh mặt.

Tôi đi xuống nhà.

Bác Huế hỏi: “Anh em to tiếng chi rứa?”

Tôi nói: “Nó giận con.”

Bác bảo: “Tính con nở vẫn rứa.”

Anh Hoà và tôi về lúc mười giờ tối.

Anh hỏi: “Hiên nghĩ thế nào về Đông?”

Tôi nói: “Nó như dứa em hay dỗi.”

“Đơn giản thế à?”

“Chứ còn gì nữa?

Bao giờ tôi cũng coi bé Đông như người em ruột thịt. Với tất cả mọi người, tôi cũng khẳng định diều đó. Anh Hòa nhún vai, nghi ngờ. Sau lần cầm tay bé Đông trong rạp ciné, sau lần nhìn thấy cái chân thon dài trắng muốt, hình ảnh nó chen vào giấc ngủ tôi. Trong mơ, không thể kiểm soát được hành động của mình. Tôi thấy tôi hôn nó trên tầng gác nhà bác Huế, nhưng khi nó ngẫng lên thì hóa ra là khuon mặt Phưong Nghi. Giấc mơ chấp nối kỳ quặc vô lý. Thình thoảng, tôi cũng mơ thấy ăn nằm với chị Triều. Lần nào cũng bi xuất tinh. Theo y lý Đông Phương, đây cũng là một thứ bệnh kín của đàn ông. Mộng tinh như thùng đầy mà tràn, hượt tinh như thùng nghiêng mà đổ, di tinh như thùng lủng mà chảy, Tôi xấu hổ không dám tỏ cùng ai. Soi gương, thấy mặt tại tái như màu đất sét khô, đôi mắt lờ đờ bệnh hoạn. Tuy thế, tôi vẫn âm thầm muốn lập lại giấc mơ nhục cảm với chị Triều.

Anh Hòa thấy tôi xuống sức, bảo đừng thức khuya quá, có hại sức khỏc. Anh đâu biết những đợt sóng ngầm trong da thịt, trong tâm hồn tôi ngày đêm xói lở.

Huế ơi!

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 May 2026

… Người ta đã bán Huế của tôi với những đồng tiền rẻ mạt. Buổi sáng nay, giữa chút không khí giá lạnh còn sót lại của mùa Xuân, tôi không khỏi nhớ lại chốn quê nhà. Đó là Huế của tôi, quê hương nghèo đói khó khăn, nằm trên cái đòn gánh èo uột, yếu đuối giữa hai miền Nam Bắc, nơi đã gánh chịu thời tiết khắc nghiệt, bão lụt triền miên và tai ương của số kiếp. Tôi đã bỏ nơi ấy ra đi, không phải mãi đến năm 1975 khi mà những gì biểu tượng cho sắt máu, tang tóc và hãi hùng phủ lên quê hương của tôi, mà từ khi khôn lớn, tôi hiểu được thế nào là sự nghèo đói, đơn điệu và buồn bã của xứ sở mưa buồn mà tôi phải đành lìa bỏ, không một mảy may ngậm ngùi thương tiếc. Có ai cắt nghĩa được vì sao, bây giờ xa cách nghìn dặm, mỗi lần nghe làn điệu ca cổ của những mảnh đất đã được đổi bằng sự hy sinh của một nàng công chúa đời Trần mang tên Huyền Trân, hay những bài tân nhạc chất chứa chút hơi hám dân ca trĩu nặng lời tả oán mất nước của dân Chiêm, lòng tôi lại buồn phiền thương nhớ đến ứa lệ. Có phải chăng, vì nơi đó tôi đã để lại những nỗi vui buồn của một thời trẻ dại, để lại quê hương nghèo đói, để lại nắm mộ của ông bà, tổ tiên hay những thành quách cung điện đã rêu phong của tiền nhân để ra đi biền biệt. Câu nói “Huế bây giờ không phải là Huế của ngày xưa”, câu nói sáo mòn đó không những là cảm nghĩ của riêng tôi mà cũng là ý nghĩ của những người đã nặng lòng vì Huế. Sự tàn phá của thời gian và tai họa của đất trời, nếu có, cũng không thay đổi được một mảnh đất bằng sự thay đổi của một chế độ cầm quyền, nó muốn biến một thành phố thành một món quà biểu diễn lập trường, tô vẽ nơi đó thành một món hàng có thể kiếm chút lợi nhuận, hay muốn chứng tỏ chút quyền uy cục bộ bằng một mảng vôi mới quét hay một nét vẽ vụng về trên những di tích của cha ông.

Sau tám năm trời lưu đày trên chính quê hương của mình, tôi trở lại Huế với tấm lòng xót xa của một người không giữ được Huế. Tôi thấy Huế nghèo hơn, xót xa hơn, lạnh lùng và nghi kỵ hơn. Tôi đi trên những con đường cũ, qua những con phố cũ, ngang những ngôi nhà cũ nhưng thấy mình lạc lõng và cô đơn. Tôi ít gặp người quen, hay những người quen với những đôi mắt xa lạ. Con đường ngang qua cửa Ngọ Môn mà ngày xưa, trên đường đến trường học, ngày hai buổi tôi vẫn thong dong qua lại, ngày nay phơi bày những nét tàn phai, đổ nát. Cổng thành cũ đã trở nên những phòng chiếu những cuốn phim đen trắng đã theo ngọn gió chủ nghĩa đến từ những xứ Bắc Âu hay Liên Xô xa xôi. Những khẩu hiệu thấy nghe đến nhàm chán, sặc màu đỏ giăng mắc đó đây cùng những chiếc loa khuếch âm vang lên những âm thanh chua lè, dọa nạt. Đàn Nam Giao, nơi ngày xưa các vị Vua triều Nguyễn dùng làm nơi tế Trời Đất thì thấy sừng sững một đài “Tổ Quốc Ghi Công” những xác chết đã rải rác từ Bắc chí Nam trong vòng ba mươi năm để “hồ hởi” cống hiến cho đất nước cái ngày buồn thảm hôm nay. Ngày nay vào thời mở cửa, thì cũng nơi ấy, cờ xí rợp trời, chiêng trống vang lừng, người ta đang dựng lại hoạt cảnh tế Nam Giao để làm thỏa lòng du khách. Ngày xưa thuyền Rồng chỉ dành cho các bậc Vua Chúa, đâu có tới phần dân gian, bởi vậy mới có câu:

“Một đêm nằm tựa thuyền rồng

Cũng bằng muôn kiếp nằm trong thuyền chài.”

Bây giờ trên sông Hương, đâu cũng thấy thuyền Rồng, mà sang trọng gì cho cam, đó chỉ là hai miếng gỗ được sơn vẽ đầu rồng sơ sài, kẹp hai bên đầu thuyền. Phải đi xa hơn mới tìm lại được một chiếc thuyền chài để lòng vương một chút u hoài:

“thuyền ai thấp thoáng bên sông,

đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non”.

Những Huế Festival được dựng lên với ánh đèn màu, nhung lụa và nhan sắc xem chừng quá xa lạ với cảnh nghèo nàn nghìn năm của những người dân cố đô. Trên sân khấu đã đổi thay nhiều lần, mới lạ, đẹp đẽ sang trọng hơn, nhưng dưới sân khấu, trên bãi cỏ kia, người xem vẫn là những bà con đói nghèo, hốc hác và lam lũ của tôi ngày nào. Và những linh hồn oan khuất của Huế chưa được một nén hương an ủi hay một ngày giỗ chung. Có một điều gì đó mỉa mai, cay đắng giữa những thú vui chơi, trình diễn với những đau đớn, cam chịu của một kiếp người. Huế có tô son điểm phấn, cài hoa thì cũng loại sân khấu diễn tuồng về làng nghèo quận nhỏ hay một loại đám cưới chạy tang. Ngày hội qua mau, xiêm y, nhạc nhã như một giấc mộng thần tiên lướt đi, hình như nó không liên quan, gắn bó gì với người và cảnh đời héo hon. Những anh “bộ đội” mặt búng ra sữa sau những ngày chiếm Huế năm 1975 có thể vui đùa hí hửng ngồi trên ngai vàng trong điện Thái Hòa, nhưng những người đã một lần bỏ nước ra đi, những tay khoa bảng hay những kẻ có chút học thức, xu hào rủng rỉnh, không thể đòi đóng vai Hoàng Đế, Hoàng Hậu với những xiêm y, trang sức, phong cảnh của phường chèo, trông nhếch nhác vô văn hóa tới mức độ làm cho người ta phải đau lòng, nhăn mặt. Người ta đã bán Huế của tôi với những đồng tiền rẻ mạt. Người ta đã xây lại Huế của tôi bằng những màu sắc của chất phẩm đỏ xanh trong những phiên chợ Tết ngày nào với những con vật nắn bằng bột gạo sơn phẩm màu bày trên cái mẹt rách của những bà mẹ quê nghèo đói. Người ta đã có dự án xây một khách sạn trên đồi Vọng Cảnh (Belvédère), nơi mà từ đó có thể nhìn toàn cảnh sông nước của kinh đô Huế mà không xót xa gì đến vẽ mỹ quan cũng như những di tích lịch sử mà từ nghìn đời nay, những người có văn hóa, có liêm sỉ không ai dám làm. Bây giờ ông Bộ Trưởng Văn Hóa CSVN lại hoan nghênh, cổ vũ cho ý kiến mua xây một cái khách sạn trong Hoàng Cung nữa thì không còn gì để nói. Phải chăng di tích lịch sử, văn hóa dân tộc đều là những thứ mà quốc gia nào cũng lấy đó để tự hào, hãnh diện thì đối với những người Cộng Sản người ta có thể đem bán công khai, miễn kiếm được đồng đô la béo bở. Chế độ này đã bán tất cả từ sông núi của cha ông, từ trinh tiết của gái vị thành niên, cơ bắp của người dân lao động, danh dự, nhân cách của con người, sá gì là Huế của tôi. Những ấn tượng về lửa cháy ngày thất thủ kinh đô năm xưa, về những ngày Mậu Thân tanh mùi máu, về oan khuất của những ngày lui binh trên cửa biển Thuận An làm cho những con dân Huế càng xót xa, thương cảm cho mảnh đất này hơn bao giờ hết. Tôi thương Huế từ trong máu tim của mình. Tuổi trẻ tôi đã nghe được mùi của nước sông, đã nghe mùi rơm rạ nấu bữa cơm chiều, mùi củi cháy trong gian bếp nhỏ, mùi khói ai đốt cỏ trên cánh đồng. Tôi còn nghe được mùi mưa những chiều đông rét mướt trên đường đi học về. Trong ấu thơ của chiến tranh nghèo đói, tôi còn nghe được mùi nắng khét của da con trâu mà tôi đang ngồi trên đó. Rồi mùi của mớ bắp rang đang nổ rộn ràng trên bếp lửa, mùi cơm gạo mới, mùi nồi cá kho mới bày ra trên mâm buổi cơm chiều. Đó là tất cả những gì thuộc về quê hương, một quê hương xa tắp, chẳng được gần mà cũng mờ nhạt cùng năm tháng. Huế để lại trong lòng tôi những ngày hè áo trắng và màu phượng đỏ, Huế cho tôi những chiều trên chuyến đò ngang, những đêm trăng ướt sương trên sáu nhịp cầu Trường Tiền, Huế cho tôi những câu hát điệu hò gần như những tiếng ai oán của một thời vong quốc, ngày xưa là Đồ Bàn di hận, ngày nay là cuộc đời lưu lạc tha phương.

Có lẽ không bao giờ tôi trở lại Huế nữa. Huế bây giờ không còn là Huế của ngày xưa. Đền đài rêu phong, thành quách đổ nát. Huế không còn người cũ, chỉ là cảnh xưa xót xa hoang tàn và vô hồn. Huế ơi!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 May 2026

Những ai đã đọc Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng đều không quên được nhân vật bà Phó Đoan, một người đản bà lấy chồng Tây, đã hai đời chồng và cực kỳ dâm đãng nhưng lúc nào cũng tỏ ra là một quả phụ gương mẫu. Xuân Tóc Đỏ đã biết cách che đậy tội lỗi cho bà Phó Đoan, sau khi hiếp dâm y thị, đã biết cách vận dộng nước Xiêm La để xin cho Phó Đoan một cái bằng “Tiết Hạnh Khả Phong” để che mắt thiên hạ. Câu chuyện này mia mai không khác gì việc Cộng Sản Việt Nam, một quốc gia tàn bạo trong việc tước đoạt quyền làm người của dân chúng, đản áp dã man, bắt bớ tù đày những tiếng nói bày tỏ bất đồng chính kiến mới được vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.

Tin từ New York, ngày 12 tháng 11-2013, Việt Nam đã đắc cử vào Hội Dồng Nhân Quyền LHQ với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên của Hội Đồng, Bản tin từ VNexpress cho rằng “đây là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về việc bảo đàm quyền con người được thực hiện càng ngày càng tốt hơn tại Việt Nam.”

Có thật như vậy không? Trước đây, theo lời ông Ruperl Abott của Hội Ân Xá Quốc Tế, Việt Nam đang có nhiều cơ hội để vào Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc (United Nations Human Rights Council.) Đây là một tổ chức trực thuộc Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các công ước về nhân quyền của các nước thành viên, Việc thành lập Hội đồng Nhân quyền là một trong những hành động nhằm cải tổ Liên Hiệp Quốc và các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc; khi Ủy ban Nhân quyền (CHR) giải tán từ năm 2005, bị nhiều chỉ trích rằng đã để những quốc gia có nhiều hành động phi nhân quyền làm thành viên và thao túng Ủy Ban. Ông Rupert Abou cũng nói rằng, như Việt Nam, trước đây cũng có những quốc gia “không tử tế với nhân quyền” cũng vào được tổ chức này. Không phải bây giờ mà từ những năm về trước. Nhân Quyền LHQ đã mang tai tiếng vì những quốc gia đàn áp nhân quyền nhất trên thế giới lại có ghế trong tổ chức này. Một bải xã luận của tờ New York Times ngày 26/02/2006 cũng đã gọi Ủy ban Nhân Quyền là “một nổi nhục của Liên Hiệp Quốc,” vì năm 2003, Libya dưới quyền cai trị sắt máu của Đại tá Gaddafi, người được Tổng Thống Mỹ Reagan gọi là “con chó điên của Trung Đông,” đã được bầu làm Chủ tịch Ủy Ban. Ngày nay, Ủy Ban Nhân Quyền LHQ đã duợc gia tăng quyền lực để trở thành Hội Đồng Nhân Quyền, năm nay lại thêm sự hiện diện của Việt Nam, một khuôn mặt đàn áp nhân quyền có hạng. Chuyên gia cùa Amnesty International này cho rằng:

“Việt Nam dã nhanh chóng biến thành một trong những nhà tù lớn nhất thế giới tại Đông Nam Á, giam cầm những người bảo vệ nhân quyền và những nhà tranh dấu khác.” Trang lúc đó Human Rights Watch cũng kêu gọi Việt Nam tỏ ra xứng đáng với chiếc ghế của Hội Đồng Nhân Quyền, bằng cách phóng thích 10 tù nhân chính trị.Ông Võ Văn Ái dã phát biểu tại khóa họp lần thứ 42 của Hội Đồng Nhân Quyền đã nhắc lại chuyện sau khi Trương Tần Sang đi gặp Tổng thống Obama về thì tình hình nhân quyền bước sang một giai đoạn mới, cộng an không từ bất cứ hành động côn đồ nào để đàn áp tinh thần của những nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động nhân quyền. CSVN đã ra thông báo về Nghị Định 72 hạn chế quyền tự do thông tin trên internet, đi ngược lại cam kết của họ với quốc tế .. Họ cũng đã bắt bớ giam cầm 49 bloggers để khóa miệng tự do, ngôn luận. Hồi tháng 6 -2013. Dân hiểu Anlhony Bymc lên tiếng tại quốc hội Úc về tệ nạn nhân quyền tại VN, ông đòi hòi “các sinh viên trẻ phài có quyền phàn đối mà không bị cầm tù, đánh đập, không thể bị bắt bở vô cớ. Những điều nay đang tiếp diễn tại Việt Nam. Chinh quyền Úc không thể cứ bàn thảo đối thoại với Việt Nam mà không tiếp tục nêu lên những vấn nạn trên.” Có thể nào một quốc gia thành viên của Hội đồng Nhân Quyền LHQ lại đàn áp người dân của họ phổ biến bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của LHQ?

Nếu Việt Nam vào dược Hội Đồng Nhân Quyền LHQ thì chẳng khác gì chuyện “Sáu Búa” Lê Đức Thọ, một tên tội phạm chiến tranh lại được giải Nobel Hoà Bình năm 1973 sau khi dưa quân vào cưỡng chiếm miền Nam, đem 200.000 quân Bắc Việt vào chiếm đóng Kampuchia 10 năm, đánh qua cả đất Thái Lan, giết cả Trường Chinh và cô lập Hồ Chí Minh, đến nỗi Tồn Đức Thắng cũng phải thốt lên:

“ĐM! Tao cũng sợ nó!”

Trước dây. Trần Quốc Hoàn, tên Bộ trưởng Công an đầu tiên xuất thân là một tên tù hình sự, được Trường Chinh nâng đỡ với vai trò trùm công an đã cùng Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Duẫn, sau năm 1975, thực hiện chính sách cuớp doạt tài sản của nhân dân miền Nam bằng chiến dịch đánh tư sản, đẩy dân chúng miền Nam đi kinh tế mới, đổi tiền, xua người ra biển cả, thì lại được đảng Cộng sản tuyên dương thành tích năm 1978 như sau: “Đồng chí Trần Quốc Hoàn là một tấm gương xuất sắc trong việc thúc đẩy ổn định kinh tế chính trị, xã hội sau năm 1975. Chính đồng chí trực tiếp lãnh đạo thành công việc “sắp xếp ốn định an ninh trật tự trong việc di dân đi kinh tế mới và cải tạo công thương” thông qua chiến dịch XI và X2 … “

Bản tuyên dương này cũng mang máng như một lời khen ngợi “tiết hạnh khả phong” của bà Phó Đoan ngày nào, chẳng khác chi Ủy Ban Nobel Na Uy trao giải Hòa Bình cho Lê Đức Thọ và chẳng mẩy chốc Cộng sán Việt Nam, như Libya ngày trước sẽ nắm chức Chủ Tịch, ngày nay không còn la Ủy Ban, mà là Hội Đồng Nhân Quyền LHQ.

Nhiệm vụ của Hội Đồng Nhân Quyền là chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các công ước về nhân quyền của các nước thành viên. Trong trường hợp này, liệu trọng tài có thối còi khi cầu thủ vi phạm luật chơi và một người có thể nhận cả hai vai trò, vừa là kẻ móc túi, vừa đóng vai cảnh sát trị gian hay không?

Việt Nam! Tại sao?

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 23 May 2026

Phan Nhật Nam

Lời Người Viết:

Vào buổi “ngoại cuộc” (không phải trong nghĩa chính trị “Bên Thắng/Bên Thua Cuộc”) thanh thản cuối đời, nhân đọc Thơ Haiku của Nhật (bản dịch tiếng Mỹ) thấy điều thú vị nên chấp bút bài viết phiếm đàm giữa thơ Haiku của Nhật và Lục Bát Việt Nam. Nhưng lần hồi, nhận ra tiếp, vấn đề không chỉ là chuyện văn chương, thi ca mà có tầm quan trọng, tổng quát hơn, liên hệ đến Sinh Mệnh/đúng ra là Vận Mệnh của Dân Tộc Việt. Vấn đề lớn quá, người viết biết rõ bản thân chỉ là một Người Lính Già (rất già) của một quân đội thất trận từ 51 năm trước, và hiện là một thứ dân hạng thấp nhất của xã hội Mỹ xét về tiêu chí sinh lợi. Nhưng dẫu gì, cũng là một “Con Người/Người Việt Nam” nên cố gắng tìm cho ra lẻ (đối với bản thân), chứ không ai khác. Người Đọc có thể không đồng ý về những điều sẽ trình bày nhưng chắc phải nhận ra điều THẬT – Cũng bởi Sự Thật chỉ có Một.    

Dẫn Nhập:

Hình như người Tây Phương (điễn hình, cụ thể người Mỹ) trước đây có phần “khớp” đối với người Nhật (như hiện nay, Thế Kỷ 21 (Trước thời kỳ Donald Trump) đối với Tàu cộng). Theo nhận định (từ chủ quan cá nhân), có lẽ do “mặc cảm có tội” về vụ hai quả bom nguyên tử thả xuống Nagasaki và Hiroshima trong tháng 8/1945; nhưng đồng thời cũng “ngán” người Nhật từ vụ tấn công Trân Châu Cảng (7/12/1941); lần kỹ nghệ, khoa học, tài chánh Nhật bộc phát vượt trội trong thập niên 1960’s. Riêng về lãnh vực văn hóa-nghệ thuật thì loạt phim ảnh với “chủ đề” như Rashomon; Bảy Người Hiệp Sĩ… rõ ràng hơn hẳn loại phim xanh đỏ màu mè của đào kép Hollywood, Paris trong thập niên 50, 60 của thế kỷ trước. Cuối cùng, điện ảnh Âu Mỹ (xin lỗi) phải dựng nên loại “người hùng” kiểu OSS 117; 007, Superman, Người Dơi, Người Nhện… chỉ với một cây súng ngắn đánh tan kẻ thù đông đúc có xe tăng, máy bay, hỏa tiễn yểm trợ từ bàn rượu ở New York, sòng bài Monaco đến Bắc Cực mà chiếc sơ-mi trắng không vết dơ, lại luôn có một cô gái sexy bên cạnh! Chiến sĩ Rambo một mình với hai tay hai súng đại liên đánh tan một tiểu đoàn Vi-xi! Cộng sản Hà Nội, Lộc Ninh không chết vì sặc cười kể cũng lạ. Chuyện tư bản Âu Mỹ với tài phiệt Nhật, cộng sản Tàu không nằm trong nội dung câu chuyện muốn trình bày.

Trở lại ý chính của bài viết, người viết (lại) thấy ra: Văn học-Nghệ thuật Người Việt thật ra không kém cỏi so với thế giới. Tất nhiên, VN không (thể) có được Tứ Thư, Ngũ Kinh; Đại tác phẩm như Tam Quốc, Thủy Hữ… của văn hóa Hán Tộc 5000 năm; VN cũng không (thể) có Chiến Tranh và Hòa Bình, Anh Em Nhà Karamozov… của Đế Quốc Nga rộng lớn (nhất địa cầu). Nhưng với văn chương bình dân, đại chúng thì Người Mẹ trong thơ Lưu Trọng Lư, văn Thanh Tịnh trước 1945; nhạc Phạm Duy, Y Vân, Duy Khánh sau 1954 ở Miền Nam… không kém kịch tính, cảm xúc so với bất kỳ Người Mẹ nào của văn học-nghệ thuật thế giới. Không kể loại “Mẹ cách mạng giải phóng với lựu đạn dấu trong lưng quần” của đám văn công Việt cộng trong chiến tranh gọi là “chống Mỹ cứu nước (1960-1975); hoặc “mẹ ngồi dưới hầm sâu” tại Phú Nhuận, Tân Định, Sàigòn trong “Đại thắng mùa Xuân 1975” của nhạc Trịnh!

Tóm lại, có thể nói Người Mẹ Nga của Gorky không “Đau” hơn Người Mẹ Gio Linh của Phạm Duy cho dù chung chịu cảnh cùng khổ thương tâm. Người Mẹ VN cũng tìm thấy rất nhiều trong lần trong Mậu Thân, Huế 1968, trên Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị, nơi Trường Trung Học Bình Long, An Lộc, 1972; trên đường di tản từ Cao Nguyên Trung Phần sau lần Ban Mê Thuộc bị quân cộng sản Bắc Việt đánh chiếm (10/3/1975)… Mẹ Việt Nam còn thấy trôi lềnh Biển Đông, xác rãi dài đường bộ vượt biên sau 30/4/1975. Nỗi Đau không của riêng Ai! Ở miền Bắc, trong mật khu “giải phóng” miền Nam không thiếu Mẹ có sáu đứa con, ảnh năm con xếp hàng trên bàn thờ, thằng út quá nhỏ nên “cách mạng” chưa kịp xung vào bộ đội. Tôi lại đi quá xa về phía “phản chiến/chống cộng”. Trở lại vấn nạn Việt Nam – Tại sao?!  

Một.

Từ “Đêm qua ra đứng bờ ao”

Một ngày cuối năm 1950, thằng bé bảy tuổi vô cớ không muốn vào chơi nhà Bác Thoại thợ điện,  cùng xóm Kiệt 1 Trung Bộ, gia đình có bốn con trai, hai người anh hơn nó mấy tuổi, hai thằng em, bằng buổi luôn bày những trò chơi hấp dẫn. Nhỏ đi ra đường Gia Hội, rẻ trái xuống phía rạp hát đang xây cất, mới xong mặt trước với bảng hiệu Gia Hội Hí Viện. Qua tiệm thuốc Bắc có hàng Mụ Ta bán những đồ ăn (chơi) đựng trong những mẹt nhỏ đặt trên hàng hiên tiêm thuốc. Mệ bán cho con một đồng khoai ngào. Mi có tiền không? Dạ có một đồng. Món quà gồm những lát khoai ngào đường đen đúa, vụn nhỏ được gói trong tờ giấy tập vỡ đã viết đầy chữ mực tím. Thằng bé có ý nghĩ “mình mua lương thực để đi (chơi) xa” Nó đi theo hông tường hí viện, đến bờ sông, leo qua đống rơm, ngồi lên đống gạch ngói của ngôi miếu nhỏ bị phá dở. Thằng bé nhìn ra sông đang trôi chảy giòng lũ của trận lụt vừa qua. Trên mặt nước có con chuồn chuồn Ớt màu đỏ bay chập chờn, nước chảy im lặng hắt nắng vàng long lanh. Bên kia kia sông, Cồn Hến có ngôi nhà thờ sơn màu trắng, và phía xa cầu Trường Tiền sáng màu bạc… Thằng bé có ao ước “Khi lớn sẽ lội qua Cồn Hến và đi lên Cầu Trường Tiền”. Nhưng nó tránh liếc về chỗ Bến Ôn Bồi (tên người em ôn nội) vì ở đó ba bồng mình lội xuống nước! Ba đi Việt Minh rồi! Thằng bé thấy năng nặng ở ngực và mắt cay cay… Nó vất gói khoai xuống nước cho bầy cá cấn, cá mại… Cho tụi mi đó. Nhỏ trở lại nhà. Nền đất lạnh lạnh dưới chân, hắn thấy lại đầu tóc trắng của mệ nội và cái hòm màu đỏ để ở góc phòng chuẩn bị cho người sắp chết. Chỗ trũng ngực hình như năng hơn. Nó đưa tay lên nút áo trên ngực lay lay.

***

Thời gian sau, khi theo học lóp Năm của cô giáo Lạc Trường Mai Khôi, đứa nhỏ dần đọc thông tiếng Việt, mở cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư bài Đêm qua ra đứng bờ ao… Hình vẽ một người đàn ông mặc áo dài đứng nơi một bờ ao… Nơi đứa nhỏ cư trú không có ao, nhưng vẫn còn những người đàn ông mặc áo dài (phần đông màu đen, đi guốc mộc, tay cầm ô)… Nên nhỏ THẤY RA CẢNH BUỒN của một lớp người đang đi qua, dần biến mất. Hình vẽ kèm bài thơ chỉ miêu tả ước lệ, có phần thô thiển, đơn giản nhưng – Buồn Thật. Thật buồn (đúng) với nội dung…Buồn trông con nhện giăng tơ… Đêm đêm tưởng giải ngân hà… Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn… Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ. Không biết “giải ngân hà” là gì? “Tào khê” ở đâu? Nhưng “nước chảy hãy còn trơ trơ” thì chắc để nói về cảnh mõi mòn, chờ đợi như mẹ và hắn chờ ba về! Hóa ra, bản thân đứa nhỏ hay bao thế hệ người Việt đã thấy ra/sống với Nỗi Buồn từ rất lâu – Rất lâu với Sự Buồn – Dẫu chưa biết gọi tên.

Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820) nguyên ủy là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (1521-1593) Đời nhà Minh Trung Hoa (1368-1644). Chuyện kể đời truân chuyên của một ca nhi (có thật) tên là Vương Thúy Kiều người vùng Lâm Tri. Chuyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân là một loại tiểu thuyết có chương hồi chỉ là một văn phẩm hạng hai của kho tàng đồ sộ của văn học TrungHoa với nhiều yếu tố bất cập về bố cục tiểu thuyết và tâm lý nhân vật. Bối cảnh chính trị-xã hội được mô tả là “…Gia Tỉnh triều Minh bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng…” Nhưng điểm mấu chốt của bi kịch câu chuyện (của Kiều) là do cáo gian của gã bán tơ khiến Kiều phải bán mình chuộc cha – Xã hội không có pháp luật, đầy rẫy tham nhũng, hối lộ, buôn người! Từ Hải được mô tả “… Giang hồ quen thói vẫy vùng. Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài…”- Một lãnh đạo lớn của vùng Việt Đông! Nhưng do chỉ nghe lời khuyến dụ về danh lợi của một ả tình nhân (Kiều) mà mang thân “về với triều đình” để bị loạn tiễn tan thân!

Nhưng khuyết điểm (tiểu thuyết) của Thanh Tâm Tài Nhân như kể trên đã được tài nghệ trác tuyệt của Nguyễn Du Việt Hóa qua Tâm Thức Đoạn Trường khiến Thúy Kiều trở thành một mẫu mực thương tâm không phải (riêng) trong thi ca mà sống mãi cùng Nỗi Đau Dân Tộc Việt! Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang… Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Không phải là tiếng kêu than “tình phụ” của cô Kiều đối với tình nhân nhưng là lời thống thiết (âm thầm) của Bà Huyện Thanh Quan trước một Thăng Long hoang phế; là mối đau cắt của (toàn) họ Nguyễn (Nghi Xuân/Hà Tĩnh) triều Nhà Hậu Lê phải vào Huế chịu cảnh hàng thần lơ láo với Gia Long, Minh Mang. Và “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh. Giật mình mình lại thương mình xót xa” chắc không thể là lời kêu đau  thương vì một mối tình (trai gái) không trọn mà chỉ là khối nguồn uất hận lần “nước mất nhà tan” – Tình cảnh của Người Miền Nam sau 30/4/1975. Nguyễn Du sống mãi với Phận Người-Vận Nước VN.

Hai. Đến “Buồn vào hồn không tên”.  (Còn tiếp)