Nhớ cao nguyên

baotreonline.com

24 Aug 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 1 Aug 2023

Kỳ trước: Cuối cùng chiếc trực thăng bay lạc, hết xăng bị rớt nhưng nhờ sáng kiến của Trung úy Vương Mộng Long nên đã liên lạc được với hậu cứ và được cứu thoát.

 Kỳ cuối

Ðáp lại, tôi thấy cô Ba lúc nào cũng tươi cười, vui vẻ với chú Ma.

Ði làm về cô lại xuống bếp nấu ăn, chăm sóc cho chú ấy.

Cô giặt giũ áo quần, thay chiếu trải giường cho chú hàng ngày.

Tháng Chín năm 1970 chú Ma giải ngũ, về quê. Sau đó tôi cũng không thấy cô Ba trong nhà chú Thuộc.

Hai năm sau, tôi gặp lại cô Ba. Cô trở về nhà Thuộc để thăm bà con. Cô đem theo đứa con trai đầu lòng vừa tròn một tuổi.

Cô kể chuyện rằng:

“Ngày đó, sau khi bị thương cụt hai giò, anh Ma tuyệt vọng vô cùng, muốn tự tử.  Anh sợ cô Ba dính líu vào một người tàn tật như anh thì sẽ chuốc khổ một đời. Vì thế anh đã đóng kịch thành một người tính tình hung dữ để xua đuổi cô Ba. Nào ngờ, anh càng chạy trốn, cô càng đeo theo. Thấy anh về quê, cô Ba cũng bỏ công ăn việc làm, về quê theo anh. Cô nói với anh rằng, bây giờ cô không còn lo mất anh nữa. Anh gãy chân rồi, không còn phải đi nhảy toán, phải đi đánh nhau. Anh sẽ không bị chết trận, sẽ sống đời với cô. Cô hết lo! Cuối cùng cha mẹ đôi bên đã tác thành cho họ. Họ đang làm chủ một quán cơm có tên là “Quán Biên Thùy” nơi bến xe Qui Nhơn. Họ đã có với nhau một cháu trai thật là kháu khỉnh.”

Thời chiến tranh, tôi biết có rất nhiều chuyện tình dang dở, đầy nước mắt đã xảy ra.

Nhưng trong thâm tâm, lúc nào tôi cũng mong được chứng kiến những mối tình “có hậu” như mối tình của cô Ba và một thuộc cấp của tôi, Trung sĩ phế binh Lê Sanh Ma.

Kể ra thì chuyện tình này không thơ mộng gì, nhưng với tôi đó là một cái gương tuyệt vời biểu hiện cho lòng chung thủy.

Vương Mộng Long ở Biển Hồ, Pleiku-1970

Nhìn hạnh phúc gia đình của những thuộc cấp dưới quyền mình, lòng tôi cũng thấy vui.

Khí hậu tháng Năm thật là ấm áp. Vết mổ nơi sườn trái của tôi cũng vừa lành. Ðại đội 2 Trinh sát Biệt Ðộng Quân có một tuần học bổ túc kỹ thuật xâm nhập ở Camp Enarie của Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ nên tôi thật là rảnh rang.

Tôi cảm như đang hồi sung sức nhất. Thấy tôi ngày nào cũng vác cái xuồng làm bằng cái vỏ xốp trắng dùng để bọc bom Napalm ra Biển Hồ bơi chèo hàng giờ, anh bạn Goodell bèn vào Camp Holloway xin cho tôi một cái phao cấp cứu của phi hành đoàn C 130. Chiếc phao cao su màu da cam này tuyệt đẹp. Khi no hơi thì nó dài cỡ hai mét, rộng một mét. Có lẽ cái phao này dư sức vận tải hai người có trọng lượng như tôi thời bấy giờ.

Vương Mộng Long ở Biển Hồ, Pleiku-1970

Sau chiến dịch Dak Séang, trên đặc lệnh truyền tin của liên đoàn thì vô tình tôi được gọi với danh hiệu là “Loan Vương”

Tôi thấy hai chữ “Loan Vương” nửa đầu là chữ “Loan”, tên người tôi yêu, nửa sau là chữ “Vương” họ của tôi, nên tôi dùng luôn cái danh hiệu này để đặt tên cho cái phao cấp cứu của mình.

Tôi dùng bút sơn màu tím, viết lên thành cái phao hai chữ “Loan Vương” thật to.

Nghe tôi giải thích ý nghĩa tên cái phao, anh bạn Goodell cứ gật gù phục lăn. Anh chàng nói, người Việt Nam thật là thâm thúy, khác hẳn giống nòi da trắng của anh.

Tháng 7 năm 1970, tôi lên đại úy. Tháng 9 năm 1970 tôi được đề cử theo học khóa “Tình Báo Tác Chiến” tại Bộ Tư Lệnh Viễn Ðông của Quân Ðội Hoàng-Gia Anh ở Singapore.

Trở về Việt-Nam được vài ngày thì tôi nhận được tờ giấy cho phép kết hôn của Bộ Tổng Tham Mưu, cùng lúc với cái sự vụ lệnh thuyên chuyển vào trại Lê-Minh thay thế Ðại úy Khánh, giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng đang trên lịch trình cải tuyển.

Tôi đem theo Trung sĩ Châu Minh Ðạt vào Lệ Minh. Anh này nguyên là tài xế kiêm nhiệm vụ hộ vệ của tôi sau khi hai chú Phạm Công Cường và Nguyễn Phượng Hoàng được tôi gửi gắm về đảm trách công tác bán tác chiến ở Bộ chỉ huy liên đoàn.

Thầy trò tôi ở Lệ Minh được một tuần thì Loan báo cho tôi một tin sét đánh:

“Ba không chịu cho em lấy anh nữa! Ba nói gả con gái cho mấy thằng lính tác chiến, thì lúc nào cũng lo, chỉ sợ con mình sẽ thành góa phụ!” 

Thế là tôi leo lên trực thăng bay ngay về Pleiku, năn nỉ Ðại tá Nguyễn Văn Can, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2, cho tôi được tá túc đâu đó ở văn phòng để tôi cưới vợ.

Ðại tá Can cũng thông cảm tình cảnh nguy kịch của tôi, nên cho tôi lên Kontum tạm thời giữ chức Trưởng Ban 2 của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Biệt Ðộng Quân Kontum đang thành lập.

Tôi rời Lệ Minh thì anh chàng Khánh bị ông Can bắt quay trở lại nhiệm sở cũ.

Ðại úy Khánh thấy chú Ðạt là một người can đảm và trung thành nên đề nghị giữ Ðạt ở lại với anh ta một thời gian, khi nào tôi có công việc nhất định thì anh ta sẽ trả lại.

Nhưng qua một tuần lễ thì anh Khánh đích thân chở chú Ðạt lên Kontum tìm gặp tôi rồi nói, anh ta “kết” chú Ðạt lắm, xin tôi cho anh ta giữ Ðạt ở với anh ta luôn, không trả lại cho tôi nữa. Chú Ðạt cũng thích anh Khánh, vì anh này và Ðạt cùng sở thích, nhậu như hũ chìm. Tôi thấy hai thầy trò họ có vẻ thương mến nhau nên cũng đồng ý.

Nào ngờ, sau đó không lâu, trong một trận pháo kích của Việt-Cộng nhắm vào Lệ Minh, có một viên DKZ 57 ly chui vào hầm chỉ huy, Ðại úy Khánh và Trung sĩ Ðạt bị tử thương. Anh Khánh đã vĩnh viễn ra đi khỏi cõi đời này, mang theo một trong những đứa em mà tôi thương mến nhứt.

Ngay khi nhận sự vụ lệnh đi Kontum, tôi liền chạy về Biển Hồ báo tin cho Trung tá Sâm biết. Trung tá Sâm bèn điện thoại lên Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh kể chuyện tôi được về làm việc ở văn phòng cho Trung tá Võ thân sinh của Loan. Ông Sâm còn hứa sẽ đem hai chiếc trực thăng chở toàn bộ ban cố vấn Mỹ của liên đoàn về Ban Mê Thuột dự đám cưới con gái của Trung tá Võ.

Hôm sau, tôi lên Kontum, vào doanh trại cũ của B12 Lực Lượng Ðặc Biệt để trình diện người chỉ huy mới của tôi là Thiếu tá Bùi Văn Baul.

Tên “Baul” của ông thiếu tá này quả là có một không hai trong danh sách gần một triệu quân của Quân- Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Chắc chắn trăm phần trăm là không tìm ra người thứ hai trùng tên với ông.

Gần hai chục nhân mạng của bộ chỉ huy này, kể cả quan lẫn lính, chỉ có mình tôi đội nón nâu, những người còn lại thì mang nón xanh Lực Lượng Ðặc Biệt. Trong số này có vài người đang chờ sự vụ lệnh về trình diện Bộ Tổng Tham Mưu để đáo nhậm đơn vị mới.

Bộ chỉ huy của ông Baul thời gian này cũng chưa có con dấu, chưa có Khu Bưu Chính (KBC) để gửi và nhận công văn hay thư từ.

Thời gian này, bốn trại Dân Sự Chiến Ðấu ở biên giới Lào, Miên và Kontum là Dak Pek, Dak Seang, Ben Het và Pơlei Kleng còn do Mỹ chỉ huy. Tin tức báo cáo hành quân hàng ngày của các trại này đều gửi thẳng về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Pleiku.

Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Biệt Ðộng Quân Kontum chỉ nhận các điện văn có tính cách thông báo.

Mỗi ngày chúng tôi có một buổi họp tham mưu kéo dài chừng nửa giờ, chỉ là để đọc lại bản tin của các trại gửi cho Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân ở Pleiku.

Sau đó là họp bàn chuyện số đề.

Ông Thiếu tá Baul và nhiều vị làm việc dưới quyền ông mê số đề lắm. Họ hăng say bàn đề suốt ngày, không chán. Chiếc xe Jeep của ông thiếu tá phải túc trực trước cửa văn phòng để anh tài xế có thể chạy đi ghi đề bất cứ lúc nào trước giờ đài phát thanh Sài-Gòn truyền đi bài hát vượt thời gian của nghệ sĩ Trần Văn Trạch với câu mở đầu là:

“Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người 

Được nên cửa nhà” (TVT)

Riêng tôi và một người nữa là Ðại úy Nguyễn Thái Bình, Trưởng ban 4 là không bao giờ có mặt trong các buổi họp mặt bàn số đề.

Anh Bình là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt nên được ông Baul châm chước, còn tôi là cái nón nâu lẻ loi ở đây, nên bị ông ta ghét cay, ghét đắng.

Ông Baul không ưa thích tôi, nếu tôi có vắng mặt vài ngày, ông ta cũng chẳng thèm hỏi tới.

Tôi nhờ Ðại úy Nguyễn Ðình Hùng, sĩ quan phụ tá cùa Thiếu tá Baul ký cho tôi cái giấy phép đặc biệt 5 ngày thăm gia đình ở Ban Mê Thuột rồi chuồn êm.

Tờ giấy phép không có con dấu, tôi phải ghé Pleiku xin Phòng 1 của Bộ Chỉ Huy chứng thực. Người mang giấy phép hay sự vụ lệnh có con dấu đỏ mới được Mỹ cho lên máy bay.

Về tới Ban Mê Thuột, tôi yên chí lớn vào thẳng văn phòng ông Trung tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh khoe,

– Ba ơi! Con được về văn phòng rồi! Ba cho phép tụi con làm đám cưới nhé Ba!

Biết rằng mình đã bị đưa vào thế bí, ông trung tá đành cười,

– Thì Ba có ngăn cản không cho hai con lấy nhau đâu?

Nói câu này xong, ông cụ móc túi dúi cho tôi tờ giấy bạc năm trăm có in hình con cọp,

– Con cầm lấy mà dẫn mấy đứa em đi ăn kem!

Cầm tờ giấy bạc của ông, tôi chợt nghĩ:

“Sao Ba hào phóng quá vậy? Trong nhà, ai mà không biết Ba nghèo rớt mùng tơi. Lãnh lương ra, được bao nhiêu, Ba đưa cho Me gần hết. Chắc là Ba vừa đánh chắn thắng nên mới có tiền cho mình.” (Đánh chắn là trò chơi đánh bài của người Miền Bắc trước năm 1975)

Hôm đó, trong khi chờ Loan tan học, tôi vào quán Mây Hồng.

Quán Mây Hồng buổi chiều vắng khách, khách nhà binh chỉ có mình tôi.

Lác đác vài vị khách học trò con trai, ngồi hút thuốc lá bên tách cà phê đen.

Một chàng học trò, có lẽ là lớp cuối trung học, sà xuống bàn tôi, cười làm quen,

– Chào Ðại úy! Ðại úy mới hành quân về?

– Vâng! Tôi về từ Kontum.

– Ðại úy là dân Võ Bị hay Trừ Bị.

– Tôi là Võ Bị khóa 20.

– Theo ý Ðại úy nếu đi lính thì nên chọn binh chủng nào?

Tôi cười,

– Tôi đi lính Biệt Ðộng Quân từ ngày ra trường, đâu có biết gì về các binh chủng khác mà có ý kiến.

Rồi hình như đã tới giờ đổi lớp, các chàng thư sinh vội vàng dời gót.

Nhìn thấy họ, tôi hồi tưởng lại những ngày vừa đậu Tú Tài 2, tôi cũng nhiều lần vào quán ngồi hàng giờ suy nghĩ vẩn vơ.

Cứ y như ngày xưa, tôi cũng từng đặt những câu hỏi vớ vẩn như thế với các ông thiếu úy, trung úy trẻ mà tôi bất ngờ gặp gỡ trong các quán cà phê ở Hội-An.

Ngồi một mình, tôi mới nghiệm ra, không có người yêu bên cạnh, thì quán này cũng mất đi cái không khí ấm cúng thường nhật của nó!

Thời chiến tranh, hạnh phúc của chúng tôi là niềm vui đếm từng ngày. Hôm nay còn ngồi bên, cầm tay nhau, ngày mai không biết có còn nhìn thấy nhau nữa không?

Mấy chục năm sau, nhớ lại, lòng tôi không khỏi bồi hồi. Bài thơ dưới đây được tôi viết và đăng trên “Người Việt Tây Bắc” ở Seattle tháng 1 năm 1996:

Truyện ngày xưa

Áo trắng tung bay, sân trường lộng gió

Chiều Xuân, tan học, đón em về,

Trong nắng vàng, bướm bay đầy phố,

Chuyện chiến trường, anh kể, em nghe…

***

Có tiếng lá thì thầm trong gió,

Vạn vật vươn mình sau giấc ngủ Đông

Lối cỏ thẹn thùng thương gót nhỏ

Cánh chim nào gọi bạn giữa thinh không…

***

Gió Xuân ấp ủ nghìn thương nhớ

Mây trắng, lưng trời, bay lang thang

Lá đỏ phủ đầy đường đất đỏ

Áo trận, song đôi áo trắng, dưới hoa vàng…

***

Năm ngày phép đi qua thật nhanh

Đường về nhà em ngắn lại vô tình

Vừa cầm tay nhau một phút,

Vừa hôn môi nhau một lần,

Đèn nhà ai cuối phố đã lên…

***

Chiến tranh héo mòn tuổi Xuân

Vun xới tình yêu bên cạnh Tử Thần

Một đời yêu nhau đắm đuối

Một đời yêu nhau ngắn ngủi

Nụ hôn chưa nguội trên môi…

Một người đã mất một người,

***

Chiến tranh cướp đi ngày xanh

Chiến tranh mang đi người tình

Mỗi lần phải tiễn đưa nhau

Tưởng chừng như đã mất nhau…

***

Nhớ lại một thời

Ngày ấy chiến tranh

Ấp ủ trong trái tim mình

Mỗi người có một chuyện tình…

(Vương Mộng Long-1995)

Cuối năm 1970, vào một ngày không có lớp, Loan cùng vài cô bạn lên chùa Dược Sư, Ban Mê Thuột xin một quẻ xăm.

Ðược lá xăm, Loan đã âm thầm cất giấu nó, không cho ai xem trong một thời gian khá dài. Chỉ vì, trừ bốn câu sau cùng ra thì hầu như trọn quẻ xăm chỉ chứa những điều không hay. Mãi tới ngày tôi được tha ra khỏi trại tù cải tạo, năm 1988, tôi mới được đọc những câu thơ trên quẻ xăm này.

Trên lá xăm, có những giòng, nếu đọc được chắc mẹ tôi, Bác Võ trai, Bác Võ gái sẽ không chấp thuận cho chúng tôi lấy nhau.

Theo quẻ xăm, thì người gieo quẻ cầu gì cũng thất bại: Thưa kiện thì thua, có bệnh thì khó qua khỏi, cầu tài chỉ uổng công, đi thi thì bị rớt, lấy chồng thì duyên phận bẽ bàng.

Dưới đây là 8 câu trích từ quẻ Số 6, “Quẻ Giá Sắc” mà Loan đã xin được từ chùa Dược Sư, Ban Mê Thuột:

Ra đi xứ lạ nhiều lầm lạc

Tính việc chi rồi cũng bất thành

Thưa kiện rốt sau e chẳng lợi

Bịnh nhơn trở chứng khó bình an

Cầu tài vô ích, sanh hao tốn,

Ứng thí rồng mây hội lỡ làng

Gả cưới kết hôn duyên chẳng hiệp,

Nói năng chưa được toại lòng toan.

Loan là người lúc nào cũng lạc quan và hy vọng, vì thế nàng chỉ nhìn vào bốn câu thơ sau cùng:

Phật bảo an phận thủ thường,

Nhẫn tâm theo dõi con đường trượng phu.

Chơn thành, phước đức cần tu,

Như người gieo cấy, tới mùa gặt thâu…

Vài ngày trước đám cưới, có một người con gái đã khấn thầm rằng:

“Yêu anh, em chỉ cầu xin Trời Phật phù hộ cho chúng mình lấy được nhau, thành vợ, thành chồng, dù chỉ được sống cùng nhau trọn vẹn một ngày thôi!”

Người con gái ấy là một nữ sinh mười bảy tuổi rưỡi ở Ban Mê Thuột.

Người yêu của cô ấy là một Ðại úy Biệt Ðộng Quân đồn trú ở Kontum.

Hai ngày sau lễ Giáng Sinh năm 1970 đám cưới của tôi và Loan diễn ra.

Thiếu úy Ðinh Quang Biện, anh ruột của Loan bận hành quân trong rừng Tiều Teo không về được.

Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đang chạm địch trong vùng Bắc Kontum, nên hai chiếc trực thăng dự trù để chở ông Liên đoàn trưởng và ban cố vấn Mỹ bay về Ban Mê Thuột dự đám cưới của tôi đã bị trưng dụng để chuyển quân.

Ông Trung tá Sâm và ông Trung tá cố vấn trưởng của liên đoàn chỉ còn cách gọi điện thoại về nhà nhạc gia của tôi để chúc mừng.

Khách dự đám cưới của hai đứa tôi thì một nửa là nữ sinh Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột, nửa kia là quân nhân trực thuộc Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Không có ai là lính Biệt Ðộng Quân có mặt ngày hôm ấy.

Ðám cưới vừa xong, đầu năm 1971 tôi được lệnh dời bỏ văn phòng, ra tác chiến.

Tôi từ giã cái bộ chỉ huy chưa có con dấu, chưa có Khu Bưu Chính (KBC) của ông Thiếu tá Bùi Văn Baul để nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 4 Mike Force do Mỹ vừa chuyển giao.

Thời gian này Thiếu tướng Ngô Du đã thay thế Trung tướng Lữ Lan đảm nhận chức Tư lệnh Quân Ðoàn II và Vùng 2 Chiến Thuật.

Tướng Ngô Du ra lệnh sát nhập Tiểu đoàn 4 Mike Force vào Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Bùi Văn Sâm, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.

Hai mươi bốn giờ sau khi nhận bàn giao, tôi được lệnh đem quân đi Cheo Reo tăng phái cho Tiểu Khu Phú Bổn.

Tiểu đoàn tôi là đơn vị mới thành lập chưa có trại gia binh, nên tôi cho vợ con binh sĩ đi theo hành quân luôn. Bốn chiếc xe GMC được gắn mui vải dùng để chở đàn bà và con nít.

Tôi mới cưới vợ, nếu để vợ ở Pleiku thì biết gửi cho ai? Tôi cũng đành phải đem vợ đi Phú Bổn chuyến này.

Trung tá Sâm thấy 4 chiếc xe Jeep của tiểu đoàn tôi đều là xe mui trần, nên thương tình, cho tôi mượn chiếc Jeep chỉ huy của ông để vợ tôi làm phương tiện di chuyển.

Chiếc Jeep của vợ tôi là chiếc xe “tráng lệ” nhất trong đoàn quân xa.

Xe này gắn cánh gà bít bùng, có hai cần angten cao nghều nghệu cùng một dàn loa của máy truyền tin, một VRC 47 và một PRC 25. Xe còn được ba anh lính trang bị súng M16 hộ tống.

Ông Trung tá Nghiêm tỉnh trưởng Phú Bổn thấy bầu đoàn thê tử chúng tôi, đầu tóc, mặt mũi, áo quần, lem luốc, đầy bụi đỏ, ào xuống sân Tòa hành chánh tỉnh, thì ra lệnh cho ông quận trưởng quận Thuần Mẫn đem toàn bộ nhân viên của ông ta về làm việc trong Tòa tỉnh, nhường lại doanh trại quận đường cho chúng tôi tá túc.

Văn phòng của ông quận trưởng trở thành căn nhà tạm trú của vợ chồng ông Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân.

Văn phòng của ông phó quận trở thành chỗ tạm trú cho ban cố vấn Mỹ của tiểu đoàn. Sĩ quan cố vấn của tôi là anh Trung úy Hick, sau đó là anh Ðại úy Jim. Hạ sĩ quan cố vấn vẫn là anh bạn Woodell, người đã làm việc với tôi hơn một năm dài trước đây.

Goodell nghe tin tôi trở lại Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân để làm tiểu đoàn trưởng thì đăng ký thêm một nhiệm kỳ thứ 2 phục vụ tại Việt-Nam.

Cho tới ngày Tiểu đoàn 4 Mike Force giải tán thì Goodell mới giã từ tôi để về Hoa Kỳ, không trở lại nữa.

Chúng tôi mới hoàn tất hai cuộc hành quân cấp tiểu đoàn nhằm tảo thanh vùng giáp ranh hai quận Thuần Mẫn (Phú Bổn) và quận Buôn Hô (Daklac) thì có lệnh gom quân.

Sáng 28 tháng Chạp Âm Lịch tôi nhận lệnh để lại một đại đội tăng phái cho Chi Khu Phú Túc, thành phần còn lại thì kéo nhau về Pleiku.

Dĩ nhiên bà vợ ông tiểu đoàn trưởng và một số đàn bà con nít gia đình binh sĩ cũng về theo.

Sáng Mùng Hai Tết năm Tân Hợi, ông Trung tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh từ Ban Mê Thuột gọi điện thoại cho ông Trung tá Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Pleiku, không phải để chúc Tết, mà là để mắng vốn,

– Vậy là thầy trò ông đã gạt tôi! Ông cam đoan với tôi rằng thằng Long sẽ về làm việc ở văn phòng, nên tôi mới chịu gả con gái cho nó. Ai ngờ, vừa cưới vợ xong nó lại ra tác chiến. Nó còn đem cả con gái tôi ra trận! Tôi bực mình ông lắm rồi đó, ông có biết không?

Ông Trung tá Biệt Ðộng Quân cười hì hì,

–  Thì ngày xưa, tôi với ông đều là dân tác chiến. Tụi mình đã nhiều lần chở vợ theo hành quân. Chẳng lẽ ông quên chuyện này rồi sao?

Nghe ông Sâm trả lời, ông bố vợ tôi chán quá, đành chép miệng, thở dài, cúp máy.

o O o

Nhớ cao nguyên…

Ngày xưa, cứ lái xe hoặc ngồi trên trực thăng, qua hết con dốc của ngọn đèo ranh giới hai tỉnh Pleiku, Daklac, nhìn thấy phi trường Buôn Blech thì tim tôi lại rộn ràng. Tôi chắc chắn rằng không bao lâu sau tôi sẽ gặp mặt người mình yêu dấu.

Mỗi lần trò chuyện cùng ai mà có nhắc tới tên Pleiku, Kontum hay Ban Mê Thuột thì những kỷ niệm êm đềm ngày nào ở cao nguyên lại hiện về trong trí nhớ của tôi.

Tôi lại hình dung ra rõ ràng trước mắt mình là cả một khung trời bao la, cảnh vật vừa hùng vĩ, oai nghiêm, lại vừa chen lẫn chút thê lương.

Một dải đất trải dài từ Bắc xuống Nam 300 cây số dọc Trường Sơn đã trở thành không thể nào quên.

Thời chiến tranh, nơi ấy mang tên “Cao Nguyên Trung Phần” của nước Việt-Nam Cộng-Hòa. Vùng này chỉ có núi và rừng trùng điệp nối tiếp nhau.

Ở cao nguyên đâu đâu cũng có lính; họ đến từ mọi miền đất nước; họ sống chết bên nhau và thương yêu nhau như huynh đệ.

Nơi đây năm nào cũng xảy ra những trận đánh long trời lở đất. Tôi đã trải qua mười năm chinh chiến ở xứ này.

Ðây cũng là nơi mà Thượng Ðế đã ban cho tôi một người tình trọn đời chung thủy.

VML

Seattle, July 2019

Nhớ cao nguyên

baotreonline.com

17 Aug 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 1 Aug 2023

Kỳ trước: Người sĩ quan Biệt Động Quân ấy bị thương, nhập viện, xuất viện… rồi xin đi phép về thăm nhà vài hôm. Trên chuyến trực thăng HU1 D mà ông “quá giang” sẽ xảy ra những sự kiện hồi hộp hơn trong phim sẽ được đăng tiếp dưới đây.

Bài nhiều kỳ – Kỳ 3

Phi cơ bốc lên lấy cao độ rồi lao nhanh trong không trung. Lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ trên chiếc quan tài cứ bật lên, bật xuống, từng cơn phần phật, như muốn thoát ly ra khỏi lòng con tàu để bay ra ngoài.

Chúng tôi đáp xuống Châu Sơn không khó khăn. Dưới sân nhà thờ đã có nhiều người đứng chờ, trong đó có trung đội chung sự của Tiểu Khu Daklac. Tôi bàn giao chiếc quan tài của người đồng đội cho những người phụ trách công tác tiễn đưa tiếp theo, rồi lên tàu tiếp tục cuộc hành trình.

Rời Châu Sơn, chúng tôi nhắm hướng Ðức Lập. Có một công văn khẩn phải trao cho đơn vị Công Binh đang xây dựng căn cứ Bu Prang. Sau việc này máy bay mới trở về Ban Mê Thuột, đi Nha Trang, ra Qui Nhơn, cuối cùng sẽ quay lại Pleiku. Tôi sẽ chấm dứt chuyến quá giang này khi phi cơ xuống Ban Mê Thuột đổ xăng.

Chúng tôi chỉ ghé phi trường của Trại Ðức Lập một phút, trao tay cho ông Ðại úy Tỵ cái bì thư rồi đi ngay.

Trực thăng vừa rời Ðức Lập thì trời chuyển cơn giông, trần mây quá thấp, lại đen kịt đầy chớp giật ngay trên đầu. Ông phi công vội vàng cho con tàu vọt lên cao tránh sét đánh. Gần tới cao độ bảy nghìn bộ tôi mới thấy trời quang đãng. Phi cơ tiếp tục lên cao hơn, càng lên cao, nhiệt độ càng giảm. Dù hai anh cơ phi xạ thủ đã đóng kín hai cửa hông của máy bay rồi mà hai hàm răng của tôi còn đánh vào nhau “Cộp! Cộp!…”

Bay được khoảng nửa giờ thì trực thăng giảm độ cao.

Tôi ước tính nếu đi đúng đường thì dưới kia phải là thành phố Ban Mê Thuột. Nhưng ông phi công cứ bay vòng vòng hoài mà không tìm ra cái lỗ hổng nào để chui xuống. Dưới bụng con tàu là một biển mây trắng xóa.

Không ai biết độ dày của cái nệm mây dưới kia là bao nhiêu. Nếu mạo hiểm chui xuống, không may mà cánh quạt chặt phải cây cối hay cột đèn thì chết ngay.

Tôi thấy ông phi công chợt kéo cần cho con tàu đổi hướng sau một hồi đàm thoại với đài kiểm soát không lưu ở dưới đất.

Tôi đoán mò, chắc ông ta được lệnh bay tới một phi trường khác để hạ cánh chăng?

Thế là, chiếc trực thăng cứ “Bạch! Bạch! Bạch!…” vút đi, dưới bụng con tàu vẫn là mây trắng xóa.

Tôi bắt đầu chột bụng khi nhìn thấy, qua vai người lái, cái kim đồng hồ xăng đang tiến gần chữ “E” (E=Empty=Trống rỗng= Hết nhiên liệu).

Bên cạnh đồng hồ xăng là cái quả cầu đo thăng bằng của phi cơ. Phi cơ vẫn trong tình trạng bình phi, nghĩa là bay bình thường, nhưng không hiểu vì sao mà quả cầu của phi cơ lại liên tục lộn mèo, chao đảo, không yên. Cái kim la bàn dạ quang trên đồng hồ chỉ hướng của phi cơ cũng quay lung tung, chẳng biết máy bay đang đi theo hướng nào!

Tôi mở cái địa bàn ra, để trên đùi gióng hướng thì toát mồ hôi, trực thăng đang vùn vụt bay theo hướng Tây Bắc! Chẳng lẽ ông phi công này bay đi Tiêu Atar? Tiêu Atar ở giữa rừng, làm gì có xăng!

Tôi nhỏm người vỗ vai ông Mỹ,

-Where’re you going? Were you lost? (Anh đi đâu vậy? Anh lạc đường rồi à?)

Ông đại úy quay mặt, trợn mắt,

-Sit down! Shut your mouth! (Ngồi xuống! Câm miệng lại!)

Nghe ông phi công nẹt, tôi cũng chột dạ, nín thinh; tôi chỉ là hành khách, ông ta mới là người cầm vận mạng cái trực thăng này.

Anh cơ phi xạ thủ rời vị trí, leo lên chỗ tôi ngồi, ghé tai tôi nói nhỏ,

-Do not make a mess! Let him go with the instrument! (Ðừng quấy rối! Ðể cho ông ta bay theo phi cụ!)

Dứt lời, anh ta thân thiện vỗ vai tôi một cái rồi trở về vị trí cũ của anh.

Hình như ông đại úy này rất có uy, từ khi lên máy bay tới giờ, tôi thấy thuộc hạ của ông cứ răm rắp thi hành khẩu lệnh của ông mà chẳng dám có ý kiến gì.

Tôi là sĩ quan bộ binh, xía vào chuyện bay bổng, bị ông ta nẹt cũng là đáng đời.

Nhưng tôi vẫn cứ phập phồng lo. Nếu tiếp tục thế này thì chỉ vài chục phút nữa là trực thăng hết bay nổi, bình xăng trống rỗng thì làm sao mà bay?

Trong khi đó thì ông trưởng phi cơ tiếp tục công việc một cách rất tự tin. Ông ngồi với tư thế của một kỵ mã, tay phải nắm cần lái như nắm dây cương, lưng ông hơi chồm về đằng trước như đang ở trên yên ngựa. Tay trái ông liên tục vặn vặn, nhấn nhấn, hết nút này tới nút kia.

Qua khe hở của cánh cửa phi cơ khép chưa kín, tiếng nổ của ống phản lực trên nóc con tàu cứ đều đều, “Bùng! Bùng! Bùng! …

Thế rồi, khoảng chừng mười phút sau tôi thấy ông đại úy đột ngột giơ hai tay lên cao, vỗ mạnh mấy cái vào chiếc nón bay trên đầu mình, miệng lớn tiếng chửi thề,

“ F!…you! F! …you!…” (Mẹ kiếp! Mẹ kiếp!…)

Chắc ông ta đổ quạu sau khi thấy hệ thống phi cụ (flying instrument) của con tàu đã rối loạn, không thể điều chỉnh hay sửa chữa được nữa.

Rồi, bất thình lình, tôi cảm thấy như rớt cả tim, gan, phèo, phổi, vì con tàu đột ngột lao xuống, xuyên thẳng vào cái nệm mây trắng dày đặc dưới bụng. Qua lớp mây dày là trần mây thấp. Tiếp đó, bên hông con tàu đã có những cụm mây màu xám đục bay ngang. Rồi máy bay bồng bềnh trên biển sương trắng loãng; dưới bụng con tàu là một dải rừng bằng phẳng màu nâu trùng điệp. Phi cơ từ từ giảm tốc độ, khi trước mắt tôi hiện ra, không xa lắm, một khoảng đất trống, giống như một mặt hồ cạn nước mùa khô.

Viên phi công ghìm cần lái; con tàu sà xuống; một cú đáp thật lành nghề!

Máy bay vừa chạm đất, cánh quạt còn vèo vèo cuốn gió, bốn ông Mỹ đã vọt lẹ.

Trên tàu còn lại mình tôi. Tôi sợ rằng nếu mình nhảy ra, lỡ con tàu nghiêng đổ làm cho cánh quạt chặt lung tung, có khi bị đứt đầu, đứt cổ.

Tôi cứ hai tay giữ chặt chân cái ghế ngồi, dựa lưng vào vách máy bay, mặc cho thân mình lắc lư theo con tàu.

Một lúc sau thì ông phi công chính cũng quay trở lại. Ông leo lên đưa tay vặn vặn, bấm bấm, mấy cái nút, vài giây sau thì động cơ ngừng quay.

Chui ra khỏi trực thăng, tôi leo lên một ụ đất quan sát địa hình mà chẳng biết mình đang ở tọa độ nào.

Hiện thời chúng tôi đang ở giữa một cánh đồng, cỏ cao ngập đầu người, xung quanh là rừng cây trống chân. Rừng thì bạt ngàn nhưng chỉ có một loại cây dầu rái lá đỏ. Loại cây này chỉ cao tối đa là hơn mười mét, thường mọc trên vùng đất pha đá tổ ong, thân và cành sần sùi, lá lốm đốm xanh, vàng, nâu, đỏ. Nhựa của loại cây này dùng pha sơn, hoặc quết lên phên làm vách nhà, hay trét cho ghe thuyền không bị nước tràn vào.

Theo tôi biết thì rừng loại này chỉ có ở khu vực Cheo Reo và vùng hướng Ðông tỉnh Lomphat của Cao Miên. Vùng Cheo Reo toàn đồi núi, nơi đây thì bằng phẳng hơn.

Trước khi hạ cánh, chúng tôi đã bay rất lâu theo hướng Tây Bắc, như vậy chắc chắn giờ phút này tôi đang đứng trên đất Cao Miên!

Tôi xách chiếc PRC 25 ra giữa bãi tranh, mở máy gọi đài tiếp vận Hàm Rồng. Không nghe tiếng trả lời.

Tôi chợt nghĩ tới toán tuần tra biên giới của Phòng 2 Quân Ðoàn. Nếu gọi được họ, chắc họ sẽ có cách cứu mình.

Khổ một nỗi, chiếc PRC 25 của tôi chỉ có ăngten lá lúa, chúng tôi lại đang ở vùng đất thấp, không thể liên lạc được những đài ở xa.

Trong lúc tôi loay hoay với cái máy PRC 25 thì ông đại úy cũng bận rộn với chiếc máy phát tín hiệu cầu cứu Beacon của ông. Hình như ông không gọi được đài nào, mặt ông ướt đẫm mồ hôi.

Chợt trong trí tôi loé lên một ý mới. Tôi tiến tới bên ông đại úy Mỹ, đề nghị với ông ta rằng, ông ta thử cố gắng bay lên cao, giữ lơ lửng trên không một vài phút phát tín hiệu cho đài Peacok hoặc cho chiếc máy bay OV 10 đang bay tuần tra biên giới để cầu cứu xem sao.

Chẳng biết kế sách của tôi có đúng sách vở hay không, mà vừa nghe xong, mắt ông ta sáng lên ngay. Ông ra dấu cho ba người còn lại tản ra xa, ôm súng canh gác rồi kéo tay tôi leo lên tàu. Ông vặn nút cho máy chạy. Cái cánh quạt chuyển động từ từ chầm chậm, rồi nhanh dần, nhanh dần…

Con tàu bốc lên cao. Lên tới độ cao khoảng hai trăm thước thì hết lên nổi.

Trong khi ông phi công Mỹ nói lia lịa, tôi cũng lớn tiếng phát thanh bổng, hy vọng có ai đó ở đài Hàm Rồng nghe được tiếng kêu cứu của mình,

– Cấp cứu! Trực thăng của tôi rơi trong vùng biên giới Miên! Yêu cầu tuần tra biên giới bay theo biên giới Miên và Pleiku tìm chúng tôi!

Tôi mới gào lên được một câu thì trực thăng hoàn toàn hết xăng. Con tàu rơi tự do.

“Ầm!”

Bụng trực thăng chạm đất gây nên một tiếng động điếc tai. Bụi bay mù cả một vùng rộng lớn.

Tôi cứ lì lợm ôm chặt hai chân cái ghế ngồi. Cho tới lúc con tàu chao qua một bên, cánh quạt quật “Choảng! Choảng! Choảng!…”  vài nhát toé lửa trên mặt đá tổ ong, rồi nằm im, tôi mới buông tay ra. Con tàu không phát hỏa, hết xăng rồi, làm sao mà cháy được?

Vào lúc tôi vừa chui ra khỏi tàu thì vọng lại từ xa, hướng Tây có tiếng súng bắn “Bóc! Bóc! Bóc!…”

Hướng Tây thì làm gì có quân bạn? Chắc là Việt-Cộng rồi!

Bốn ông Mỹ này kể ra cũng là những tay có bản lãnh, vừa nghe tiếng súng, họ liền chạy ào lên chiếm lĩnh một mô đất cao, vào đội hình, hai phi công thủ súng ngắn, P38, hai cơ phi xạ thủ ôm súng dài, M16, dựa lưng vào nhau, chia hai hướng, sẵn sàng chiến đấu. Tôi cũng vội vàng chạy theo chân họ.

Tôi không mang theo súng ngắn, lại cũng chẳng có súng dài, chỉ có con dao găm giắt bên ống quần. Nếu phải đánh nhau thì không tử trận, cũng thành tù binh!

Nhìn quanh, thấy chỉ có cỏ tranh và cây khọt, không có hang động nào có thể chui vào để trốn lánh, không có gốc cổ thụ nào để ẩn núp, năm người ngồi chụm vào nhau giữa đồng trống thì không khác gì đang ngồi làm năm cái bia cố định cho những tên địch núp trong rừng nhắm bắn.

Sau vài giây do dự, tôi cắm đầu chạy về phía chiếc trực thăng, hy vọng trong lòng tàu có vật gì dùng làm vũ khí được không. Chiếc trực thăng giờ này trông sống động lạ kỳ!  Cái đuôi máy bay bị gãy một khúc dài chừng một thước. Phía sau hai càng thì cắm xuống đất, phía trước hổng lên cao, nhìn như một con cá voi đang vượt cạn. Dưới bụng con cá voi là một vùng bầy hầy nhớt nhát dầu mỡ đen thui. Chiếc trực thăng đã đứt hết kinh mạch rồi, máu huyết của nó là dầu mỡ tuôn ra tung toé, ngập lụt một khu rộng lớn dưới bụng và xung quanh nó.

Tôi hét lên vui mừng khi nhìn thấy hai khẩu M 60 còn nguyên không hư hại,

– Có súng rồi! Tôi có súng rồi!

Leo lên tàu, một tay kéo cơ bẩm khẩu M 60, tay kia giơ lên vẫy bốn anh lính Mỹ, tôi la lớn,

-Come here! Come here! Hurry up! Hurry up! (Lại đây! Lại đây! Mau lên! Mau lên!)

Bốn ông lính Mỹ tỉnh ngộ ngay, liền chạy ào lên tàu. Ngay tức khắc, đạn lên nòng, hai khẩu đại liên trong tình trạng sẵn sàng.

Chúng tôi chờ đợi khá lâu mới nghe trên trời có tiếng động cơ “O!…O!… ! O!…” của máy bay trinh sát. Trong máy PRC 25 của tôi có người gọi:

“Ðây là alpha! Có ai nghe không?”

Tôi cầm máy lên,

– Tôi là người kêu cứu, alpha có nghe được tôi không?

Người trên tàu ra lệnh,

– Giới chức đưa máy cho ông “mũi lõ” ngay đi! (Ông mũi lõ: có ý nói là người Mỹ)

Tôi biết, hàng ngày quân đoàn đều biệt phái một sĩ quan Việt-Nam theo phi hành đoàn Mỹ bay trên trinh sát cơ OV10 nhiều giờ để theo dõi hoạt động địch trên biên giới Lào, Miên và Việt Nam.

Trong một lần ghé Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II, tôi có gặp một Trung úy tên là Anh. Ông Anh là dân không ảnh và không thám của Phòng 2. Không biết người xưng danh là alpha trong chiếc OV10 trên kia có phải là ông Trung úy Anh không?

Tôi chuyền cái ống nghe cho ông đại úy Mỹ. Lập tức ông và người sĩ quan Hoa-Kỳ đang lái chiếc OV 10 trên kia hối hả lớn tiếng trao đổi với nhau những câu, tôi nghe mà không hiểu gì cả, có thể là họ dùng mật khẩu để xác nhận xem người đang nói chuyện có phải là bạn không?

Rồi ông đại úy rút khẩu súng phóng hỏa châu trong túi áo bay dệt bằng lưới của ông ra. Khẩu súng bắn hỏa châu có hình thù một điếu xì gà, nhỏ và gọn như đồ chơi trẻ con. Ông phóng một viên hỏa châu lên trời.

Sau khi nổ một tiếng “Bóc!” trái hỏa châu toả sáng như ngọn pháo bông trong khoảng thời gian chừng nửa phút.

Anh trung úy phi công phụ cũng bắn tiếp một hỏa châu nữa ngay sau khi viên hỏa châu đầu vừa tắt.

Tôi là “tay tổ” viễn thám, nào có lạ gì những dụng cụ thoát hiểm này. Trừ cái máy Beacon ra, tôi cũng được trang bị đầy đủ, nào là, một địa bàn, một gương chiếu, một súng hoả châu, một tấm banner sơn màu da cam óng ánh để chỉ điểm cho phi cơ, cùng với băng cầm máu, thuốc lọc nước, thuốc chống muỗi…vân vân.

Có điều, tôi chỉ mang những thứ này khi đi hành quân hay khi đi nhảy toán.

Lần này tôi quá giang trực thăng là để về thăm “bồ”, nên tôi không hề nghĩ tới chuyện vác theo mấy thứ đồ nghề lỉnh kỉnh này.

Trong khi hai ông phi công bận bịu liên lạc với quân bạn thì tôi và hai anh xạ thủ vẫn không dời mắt quan sát khu rừng hướng Tây.

Bất chợt, tôi giật nẩy mình khi thấy trong rừng tranh cao cỡ đầu người thấp thoáng có hai cái nón cối di động từ từ về hướng chúng tôi.

Tôi định giơ tay chỉ cho anh cơ phi xạ thủ biết vị trí hai tên địch đang đi tới, thì khẩu M60 đã nổ, “Ðùng!… Ðùng!…Ðùng!…”

Chớp mắt, mấy trăm viên đạn đại liên đã cày nát một khoảng đất rộng. Cỏ te tua rạp xuống, lộ rõ hai cái xác bộ đội chính quy Bắc Việt đẫm máu, nằm sõng soài trên nền đá tổ ong, bên cạnh là hai khẩu AK.

Lúc này trời đã quang đãng trở lại. Chiếc OV 10 tiếp tục bay vòng vòng trên cao.

Chừng nửa giờ sau, tôi nghe vọng lại, từ hướng Ðông, những tiếng “Bạch! Bạch! Bạch!…” của trực thăng. Có lẽ cũng vài ba chiếc đang trên đường bay tới.

Khi thấy trên trời có hai chiếc Cobra vừa lộ diện, tôi và anh phi công phụ vội tụt xuống đất nắm tay nhau, nhảy cẫng lên reo mừng.

Ông phi công chính cũng ra khỏi tàu, đứng bên tôi. Ông ta rút chốt và ném một quả lựu đạn khói tím ngay trước mặt.

Khói chưa lên tới đọt cây, Cobra đã bay vòng vòng trên bãi tranh.

Trên trời, hai anh phi công Mỹ đưa tay vẫy chào. Chúng tôi cũng quơ tay vẫy lại.

Khi vạt rừng lá đỏ hướng Tây bắt đầu hứng một trận mưa đạn đại liên và 40 ly của hai chiếc Cobra, thì một HU 1D ào xuống.

Chiếc máy bay cứu cấp không đáp trên đất mà chỉ lơ lửng chờ.

Gió của cánh quạt máy bay làm cho cỏ tranh rạp sát đất, lá đỏ thì bay tung lên như bươm bướm trong khói tím.

Chiếc tàu ở ngay trên đầu tôi, cao cỡ một đầu, một với.

Tôi nhún chân, lấy đà nhảy lên. Hai tay tôi níu được cái càng trực thăng.

Trên máy bay, anh xạ thủ làm như không nhìn thấy tôi, mắt anh ta cứ chăm chú nhìn về hướng bìa rừng, hai tay anh ta ghìm chắc khẩu đại liên M60 trong tư thế sẵn sàng siết cò.

Tôi chưa kịp đu mình đưa tay chụp cái chân ghế của xạ thủ đại liên thì đã bị rớt xuống trở lại.

Tôi vừa rớt xuống đất, thì ông đại úy và anh cơ phi đã nhanh nhẹn kê vai, xốc nách, nâng tôi lên cao, đẩy tôi vào lòng tàu. Rồi chỉ chớp mắt sau, họ đã leo lên ngồi bên cạnh tôi. Bên cái cửa đối diện, hai anh Mỹ kia cũng đã có mặt lúc nào tôi không hay.

Sau này, nhớ lại tình trạng nguy khốn ngày ấy, tôi vẫn còn sởn tóc gáy! Vì vào giây phút mười chết, một sống đó thì mạnh ai, nấy chạy, nếu hai anh bạn Ðồng Minh chỉ lo mạng sống của chính họ, nhắm mắt phóng lên tàu, bỏ mặc tôi dưới đất, thì cũng chẳng ai kết tội họ cả.

Chúng tôi đã an toàn ngồi trên tàu, nhưng cái máy PRC 25 của tôi và súng ống của phi hành đoàn đều bị bỏ lại.

Chiếc máy bay cứu cấp cất cánh gần như thẳng đứng. Hai khẩu đại liên M 60 bắt đầu “Cành! Cành! Cành!…” nhả đạn.

Lúc này thì từ rừng lá đỏ dưới chân tôi, đủ loại súng của Việt-Cộng bắt đầu đua nhau bắn lên trời.

Nhiều tiếng súng “Choang choác! “xen lẫn nhau của RPK, AK.

Có vài viên B 40, B 41 đã nổ “Ùng! Oàng!…”  trên bãi cỏ tranh, chỗ chiếc trực thăng nằm bất động.

Ngay khi đó từ hướng Ðông đã hiện ra hai chiếc phản lực cơ F 5 của Hoa Kỳ. Anh trung úy phi công phụ nói rằng hai chiếc F 5 này sẽ làm nhiệm vụ phá hủy cái trực thăng xấu số.

Trên đường về Pleiku, ông đại úy trưởng phi cơ đã nắm chặt tay tôi rồi nghẹn ngào:

“I’m so sorry!” (Tôi rất ân hận!)

Tôi cũng dang hai tay, ôm ông ta,

– You are a real brave warrior! (Ông thực sự là một chiến binh can đảm!)

Anh cơ phi xạ thủ cũng cho tôi biết, ông đại úy vốn là dân “Kỵ Binh Bay” kỳ cựu. Ông ta từng một thời bay trực thăng “Cán gáo” OH 6, gan dạ có một không hai của Ðại đội Trực Thăng Thám Sát trực thuộc Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ.

Ðầu năm 1969 tôi đã có dịp làm việc cả tháng trời với đại đội trực thăng thám sát này ở căn cứ Oasis, Thanh An, Pleiku.

Ðơn vị này được tổ chức từng hợp đoàn gồm một trực thăng “Cán gáo” loại OH 6 hai chỗ ngồi, hai trực thăng võ trang Cobra, một trực thăng HU 1D để tìm cứu và một trực thăng chỉ huy C&C.

Họ hành động nhịp nhàng và ăn khớp với nhau như những bộ phận của một cỗ máy.

Chiếc OH 6 cứ bay là là sát “da đầu” mục tiêu, gió từ cánh quạt trực thăng thổi tung từng tàn lá, mái tranh, lùm tre. Khi phát giác địch thì phi công phụ nhanh tay thả một quả lựu đạn khói trên mục tiêu, phi công chính lập tức kéo cần cho máy bay vút chạy ra xa, tránh đường cho Cobra chúc đầu xuống bắn phá.

Hai Cobra đánh phá vừa xong thì một hợp đoàn khác cũng có hai Cobra hộ tống, cõng một đại đội Biệt Ðộng Quân vào vùng để khai thác mục tiêu.

Qua một thời gian tiếp xúc, tôi biết rằng, đơn vị này quy tụ những tay phi công lỳ lợm nhứt của Lục Quân Hoa-Kỳ.

Những ông phi công này nốc Whiskey như uống nước lạnh. Nhứt là những tay lái “Cán gáo” thực sự là dân “gan cùng mình” và lỳ đòn, bạt mạng. Mỗi lần họ leo lên OH 6, ví như một lần Kinh Kha ôm kiếm qua sông.

Như vậy, chắc chắn năm ngoái, tôi và ông đại úy này đã có lần cùng nhau tham chiến đâu đó trong vùng Plei De Chi, Lệ Thanh, Ðức Cơ, Ia Drang và Chu Prong.

Chúng tôi chia tay nhau ở sân bay Holloway. Bốn ông Mỹ lên xe cứu thương để đi khám sức khoẻ, còn tôi thì lên xe đưa đón nhân viên của Camp Holloway để về Biển Hồ. Chuyến đi này của tôi đã không tới được Ban Mê Thuột mà còn bị “vượt biên” bất đắc dĩ, suýt chết.

o O o

Tình yêu thời chiến

Tôi và Thiếu úy Duyên tá túc trong nhà Trung tá Bé, nhưng lại ăn cơm tháng tại nhà tài xế Thuộc.

Nhà Hạ sĩ Thuộc nằm bên kia đường, đối diện với cư xá Trần Quý Cáp. Trong nhà Thuộc, ngoài vợ chồng Thuộc và hai đứa con nhỏ ra, còn một người em họ của Thuộc là cô Ba. Cô Ba mặt mày hiền hậu, dễ thương. Cô Ba và vợ Thuộc đi làm sở Mỹ.

Trung sĩ Lê Sanh Ma trưởng toán viễn thám dưới quyền tôi lại là người cùng xứ Bình Ðịnh của gia đình chú Thuộc. Thuộc và Ma thân nhau như anh em. Những ngày không hành quân, không trực gác, Ma đều về ở chơi trong nhà Thuộc.

Dự trù giữa năm 1970 thì Trung sĩ Ma và cô Ba sẽ về quê Qui Nhơn làm đám cưới.

Tháng Tư năm 1970 Trưởng toán viễn thám Lê Sanh Ma vướng mìn khi nhảy xuống Căn cứ Hỏa lực Tango.

Sau ba tháng nằm Quân Y Viện, Lê Sanh Ma thành một phế binh, hai chân bị cưa quá đầu gối. Anh phải đi trên đôi nạng và hai chân giả. Xuất viện trở về, anh Ma bỗng đổi tánh, hung dữ lạ kỳ, suốt ngày càm ràm, oán trời, trách đất.

Anh thường la mắng cô Ba rất nặng lời, dù cô chẳng làm điều gì phật ý anh.

Nhớ cao nguyên

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 31 July 2023

Kỳ trước: “Thái Sơn” nhận được cú gọi trên máy truyền tin là Trung sĩ Phong, một đệ tử cũ lặn lội tới thăm. Người đệ tử này đã kiên nhẫn ở chờ cả tuần lễ để gặp cho bằng được “ông thầy” của mình. Trong quân đội (VNCH) tình “thầy trò” thường khi còn nặng hơn tình ruột thịt vì thật sự ngoài chiến trường sống chết có nhau.

Kỳ 2

Ông thầy! Ông thầy ơi! Em chờ ông thầy gần chục ngày nay. Cứ tưởng sau khi nhảy toán ở Mang Giang xong thì ông thầy sẽ về, nào ngờ, tới hôm nay em vẫn chưa được gặp mặt ông.

Ðúng là chú Phong rồi! Vẫn cái giọng Bắc Kỳ khào khào, quê quê ngày xưa.

Tháng Hai năm 1966, vì lý do kỷ luật, Trung sĩ hiện dịch Nguyễn Hồng Phong bị giáng cấp xuống hạ sĩ, từ Quân Lao Mang Cá về trình diện Ðại Ðội 3/11 Biệt Ðộng Quân. Hôm đó tôi cũng vừa tới đơn vị này sau khi tốt nghiệp Khóa 20 Ðà Lạt và Khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy.

Từ ấy Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong thành người nấu cơm cho Thiếu úy Vương Mộng Long.

Ðầu đời lính, tôi có ba anh đồ đệ: Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong, nấu cơm, Binh nhất Mai Ðăng Vinh truyền tin và Binh nhất Lý Thí mang đồ ngủ.

Mười hai ngày sau, Lý Thí và Mai Ðăng Vinh chết trong trận Tháp Bằng An, Quảng-Nam, còn lại một mình Nguyễn Hồng Phong. Chú Phong trở thành thuộc cấp thân thiết nhất của tôi.

Tới khi Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân bị lôi cuốn vào vụ Phật Giáo Miền Trung thì chú Nguyễn Hồng Phong đã theo sát bên tôi suốt thời kỳ binh biến này cho tới khi tôi và Phong chạy vào chùa, cạo đầu, xuống tóc, thành hai tỳ kheo Thích Như Tùng và Thích Như Sơn của Long Tuyền Tự, Hội-An.

Sau đó tôi bị tù, bị giáng cấp xuống trung sĩ còn Phong thì phiêu dạt phương trời nào, tôi không biết.

Thế rồi, tháng 7 năm 1967 hết hạn phạt giam, tôi về Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ chờ lấy sự vụ lệnh để lên Pleiku, thì bất ngờ thầy trò tôi gặp lại nhau.

Trưa hôm đó tôi đang la cà trong câu lạc bộ thì thình lình bị một người nhào vào ôm chặt,

-Thầy ơi! Thầy ơi!

Người ôm tôi là một tân binh, đầu trọc lóc! Mặt anh ta, thật dễ nhận, với đôi mắt xếch, và một vết sẹo dài trên má trái. Tôi giật mình,

– Phong! Phong đó ư?

Anh tân binh vừa khóc thút thít, vừa kể lể,

-Vâng! Em đây! Thầy ơi! Em nghe Bác (mẹ tôi) nói, sau khi ra khỏi Quân Lao Mang Cá, thầy đã bị đưa lên Pleiku, em liền mua một tờ khai sinh với cái tên mới rồi tình nguyện làm tân binh Biệt Ðộng Quân. Mãn khóa này em sẽ xin lên Pleiku gặp thầy! Tên em bây giờ là Lê Văn Ơn! Thầy cứ gọi em là Ơn! Ðừng gọi là Phong nữa!

Nghe vậy, tôi đoán chắc Phong đã ghé Hội An, và được nghe mẹ tôi kể cho biết chuyện tháng Mười năm 1966 tôi đã bị đưa lên Vùng 2 sau khi ra khỏi Quân Lao Mang Cá. Chắc chú ấy không hay những chuyện xảy ra sau này. Vì tôi giấu, nên chính mẹ tôi còn không hay chuyện tôi lận đận lao đao cả năm dài vì vụ Ðà- Nẵng 1966.

Chúng tôi không nói chuyện với nhau được lâu, vì thời gian ở câu lạc bộ của tân binh rất giới hạn, và hình như một tuần lễ, họ mới có dịp tới đó một lần.

Sau hôm ấy, cho tới khi lên đường về Pleiku, tôi không còn gặp lại Phong.

Ở Pleiku, mỗi khi có tân binh bổ sung, tôi đều nhờ ông Trung úy Trọng, sau là Trung úy Giáp, Sĩ quan Trưởng Ban 1 Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân tìm xem có ai là Lê Văn Ơn không, nhưng tuyệt nhiên chẳng có tân binh nào mang tên này.

Giữa năm 1968, tôi đọc được, trong thư mẹ tôi gửi vào, có câu:

“Thằng Phong đang làm trung sĩ ở ngoài Huế.”  

Bà mẹ tôi biết chuyện này cũng vì nhân dịp vào Hội An thăm nhà tôi, Phong đã kể:

“Năm 1967, sở dĩ có chuyện Phong đổi họ, đổi tên, tình nguyện làm binh nhì Biệt Ðộng Quân cũng chỉ vì chú ấy hy vọng sau khi ra trường, sẽ được đưa lên Pleiku, ở gần ông thầy của chú. Nhưng tới khi mãn khóa tân binh Dục Mỹ, thấy tên Lê Văn Ơn nằm trong danh sách bổ sung quân số cho Liên Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân ngoài Ðà Nẵng thì chú ấy lại đào ngũ lần nữa!”  

Phong tiếp tục cuộc sống bất hợp pháp nơi quê vợ Quảng Trị cho tới sau biến cố Tết Mậu Thân.

Sau Mậu Thân, chính phủ ban lệnh ân xá và miễn tố cho tất cả quân nhân đang tại đào. Cho phép họ phục hồi cấp bậc cũ và trở về phục vụ trong quân ngũ.

Thế là chỉ nửa năm sau khi trình diện và cầm súng trở lại, Hạ sĩ tiểu đội trưởng Nguyễn Hồng Phong đã lên tới trung sĩ, được giao cho chức vụ trung đội phó bộ binh.

Ðã mấy lần tôi về thăm Hội-An nhưng không có thì giờ ra Huế. Thầy trò tôi từ ngày nói chuyện được vài câu năm 1967, ở Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ, tới 1970 vẫn chưa nhìn lại mặt nhau.

Cư xá Trần Quý Cáp, Pleiku 1970. Từ trái: B2 Hoàng, Tài xế Thuộc, Tài xế Tiến, B2 Hà

Tôi thấy mắt mình nhòa đi, khi nghe đầu dây bên kia, người đàn em của tôi đang khóc,

– Thầy ơi! Thầy ráng giữ gìn sức khoẻ! Nếu trời không cho chúng mình gặp lại nhau kiếp này, kiếp sau em lại xin tình nguyện làm đồ đệ của thầy lần nữa!

Tôi vội hứa,

– Mai nếu không có gì thật quan trọng xảy ra, anh sẽ về gặp chú.

– Vâng! Em sẽ chờ ông thầy! Hai ngày nữa khóa truyền tin khai giảng. Nếu trình diện trễ, họ không nhận và đuổi về. Nói thế chứ, việc em cần là gặp mặt ông thầy, dù có trễ và bị đuổi về đơn vị em cũng chẳng ngán!

Sau khi trò truyện với Phong vài phút nữa, tôi gác máy rồi sang khu Cố Vấn Hoa Kỳ của Trung Ðoàn 42 gặp Goodell. Tôi nhờ anh ta ngày mai xin cho tôi một trực thăng để đi quan sát vùng hành quân, sau đó lấy cớ có việc cần phải về hậu cứ Pleiku, tôi có dịp nói đôi câu với Phong trước khi chú ấy đi Vũng Tàu.

Hình như số trời không cho thầy trò tôi được gặp nhau lần nữa, nên mới mờ sáng hôm sau, qua đài tiếp vận, toán Cam Ranh của Trung sĩ Lê Sanh Ma báo cáo chạm địch. Một con chó săn (?) của du kích Thượng đã đánh hơi, phát giác ra trong ruộng ngô bên đường xe be có người. Toán này phải chạy bán sống bán chết. Hiện giờ chưa rõ vị trí chính xác của toán này đang ở đâu.

Vậy là thay vì xin trực thăng để về Pleiku, tôi lại dùng trực thăng để thả tôi và hai anh Mỹ cùng một toán viễn thám khác xuống đài tiếp vận. Ðỉnh Ngok Long cao 1075 mét nên từ đây tầm quan sát của tôi thật là mút mắt. Cách Ngok Long chừng hai cây số về hướng Tây Bắc là con đường xe be nhìn giống như một con trăn lớn, nằm ngoằn ngoèo theo hướng Ðông Nam, Tây Bắc vắt ngang một ngọn đồi tranh.

Trưa hôm đó tôi bắt liên lạc được toán Cam Ranh. Toán đang cố gắng tìm cách đánh lạc hướng địch.

Xế chiều, toán Cam Ranh mới bơi qua con suối Dak Sing. Toán không thể thoát chạy nhanh như mọi lần trước đây, chỉ vì có một người bị thương vì…chó cắn!

Tôi dẫn theo anh y tá và bốn viễn thám viên xuống núi đón ông Ma. Sáu người của tôi tới cái yên ngựa cách Ngok Long chừng một cây số thì nghe tiếng súng AK nổ rộ từ bờ Bắc của suối Dak Sing.

Thung lũng Dak Sing toàn là đầm lầy và đồng cỏ tranh rất trống trải. Có lẽ địch đã nhìn thấy quân ta bên bờ Nam, nên nổ súng bắn theo.

Chẳng đặng đừng, tôi phải gọi Trung Ðoàn 42 xin pháo binh Hoa-Kỳ từ Dak Mot bắn phủ vùng một đoạn đường từ Dak Long 1 tới bờ suối, hy vọng chặn được đoàn quân địch đang truy kích quân ta.

Ở Dak Mot có một pháo đội 16 khẩu 105 ly của Mỹ. Muốn yêu cầu bao nhiêu tràng họ cũng thỏa mãn ngay.

Hai tiếng đồng hồ sau, toán Cam Ranh mới về tới cái yên ngựa. Quần áo người nào cũng đỏ lòm vì bùn lầy. Bùn vùng này thật là đặc biệt, màu bùn đỏ như máu tươi, đi tới đâu, bùn từ quần áo giày vớ lại bám trên ngọn tranh, không có cách gì xóa dấu vết được.

Anh y tá vội dùng rượu cồn để rửa vết chó cắn trên đùi anh thương binh. Tôi cũng ngồi bên, giúp anh một tay. Người bị chó cắn là Binh nhì Lê Hóa. Vết thương trên đùi chưa được băng bó, lại bị ngâm nước bùn nhiều giờ, nay đã sưng tấy lên.

Bất ngờ, “Xoẹt!”

từ dưới dốc, một vật gì đó hình thù như một cái gối ôm đen thui phóng lên ngay bên hông tôi!

“Rẹt! Rẹt! Rẹt!”

Hạ sĩ Chạy đã nhanh tay “đẩy” một băng M16. Cái gối ôm màu đen văng sang bên lối mòn, thì ra đó là một con chó săn! Ðầu con chó bị đạn bắn vỡ toác. Máu chó văng tung toé.

Tôi hét lên,

“Tụi thằng Chạy ở lại cản đường! Tụi thằng Ma kéo thằng Hóa lên đài tiếp vận! Nhanh lên!”

Chúng tôi vác anh viễn thám bị chó cắn leo lên chưa được nửa đường tới đỉnh Ngok Long thì dưới chân núi toán của Hạ sĩ Chạy bắt đầu đánh nhau.

Nghe tiếng súng địch, tôi thấy không phải là tiếng súng hỗn tạp của du kích Thượng Cộng, mà rõ ràng là tiếng AK và RPD của quân chính quy. Súng của du kích thường là loại bắn từng phát một, không có súng bắn liên thanh từng tràng.

Lực lượng địch đang truy sát chúng tôi chắc chắn là trực thuộc một đơn vị chính quy Cộng-Sản.

Tới đài tiếp vận, tôi cho anh em bố trí một vòng cung hướng về con đường mòn đầu dốc.

Mặt trời lặn từ từ…

Dưới chân núi vọng lên năm sáu tiếng “Ùm! Ùm! Ùm!…”  liên tiếp rồi im. Chắc quân ta đã cản địch bằng lựu đạn M26 trước khi rút.

Không lâu sau, toán bốn người của Hạ sĩ Chạy về tới chỗ quân bạn.

Toán của Hạ sĩ Chạy vừa lên tới đỉnh núi thì dưới chân dốc có tiếng mìn nổ và tiếng chó kêu “Ăng ẳng!”

Chắc chắn vài con chó săn và vài tên địch đã bị bẫy gài của chú Chạy đốn gãy cẳng rồi.

Nhớ lại, hồi sáng, vừa nghe toán của chú Ma báo cáo là bị chó cắn, tôi đã hơi nghi. Vì xưa nay tôi đã hành quân qua nhiều buôn làng của người Thượng, hiếm khi thấy chó sủa người, chứ đừng nói tới chuyện chó tấn công người. Chó của dân Thượng chỉ sủa và cắn thú rừng, tuyệt nhiên chúng không cắn người!

Tối đó chú Ma kể lại tường tận diễn tiến sự việc, tôi mới rõ nguyên nhân vì sao mà toán của chú bị địch đuổi phải chạy vắt giò lên cổ.

Số là, sau khi đặt chân xuống bìa làng Dak Long 1 đã bỏ hoang, Trung sĩ Ma cho quân tụt xuống suối ém quân suốt bốn ngày. Tới khi nghe các toán khác phát giác dấu vết địch, Ma mới cho quân leo lên đỉnh ngọn đồi tranh hướng Bắc để dễ liên lạc và dễ bắt tay với hai toán kia.

Tới đỉnh đồi, họ đụng phải một bãi ngô đang có cờ, anh em tưởng đây là nương rẫy của dân Thượng từ ngoài Dak Tô vào canh tác.

Gần nửa tháng ở trong rừng, từ Mang Giang qua Dak Tô không có cọng rau nào trong bụng, ai cũng thấy xót ruột.  Sáu chàng viễn thám lủi vào ruộng ngô, mỗi người cạp vài bắp ngô non cho mát ruột.

Nào ngờ,

“Gâu! Gâu! Gâu!…”

bốn, năm con chó xông vào tấn công. Năm viễn thám viên vọt nhanh xuống suối. Riêng Binh nhì Lê Hóa vì luống cuống bởi chiếc ba lô chứa cái máy PRC 25 nên chậm chân.

Hai con chó săn bự xự nhào vào hai chân của Hóa. Hai hàm răng chó vừa nhọn, vừa sắc cắn tới tấp rồi nhay qua nhay lại.

Ðau quá, Hóa nhắm mắt quơ đại một băng hai chục viên M 16 rồi phóng xuống đồi.

Thì ra đỉnh ngọn đồi đó là vị trí một đơn vị tiền tiêu của địch.

Từ đỉnh đồi này chúng có thể kiểm soát hai trục lộ tiến sát từ Dak Tô và từ Tân Cảnh.

Chắc chắn đây là một đơn vị Trinh Sát hay Ðặc Công; các đơn vị cấp tiểu đoàn Ðặc Công hay Trinh Sát Việt-Cộng mới có chó săn để dò đường và dẫn đường.

Cũng may là mùa này gió theo hướng Ðông Tây, mấy ngày qua, toán Cam Ranh nằm cuối gió nên không bị chó đánh hơi, phát giác.

Tới khi nghe tiếng súng của viễn thám viên Lê Hóa nổ “Ðùng! Ðùng!” bọn Việt Cộng mới biết có địch xâm nhập. Tới khi chúng tập họp đủ quân số để truy kích thì kẻ địch của chúng đã chạy xa rồi.

Tôi thở ra nhẹ nhõm khi thấy quân ta không bị tổn thất gì đáng kể.

Hiện thời chúng tôi chỉ có hơn hai chục tay súng, kể cả anh Hóa thương binh và hai anh cố vấn Mỹ. Ðỉnh núi Ngok Long lại quá rộng và bằng phẳng, không có chỗ nào có thể cho chúng tôi dựa lưng để chống đỡ nếu địch mở ra những đợt tấn công liên tiếp.

Ðạn mang trên lưng chúng tôi cũng không nhiều, nếu phải đánh nhau suốt đêm thì chúng tôi sẽ nguy ngay.

Tôi nghĩ, nếu địch tiếp tục truy kích chúng tôi thì chắc chắn chúng sẽ theo con đường mà tôi đã dùng để đổ dốc sáng nay. Tôi bèn trải quân theo hình cánh cung đóng chốt đôi ngay đầu con đường mòn.

Ngoài hai quả Claymore sẵn sàng, chúng tôi còn chuẩn bị gần chục trái lựu đạn M26 để nghênh đón địch ngay đầu dốc.

Ðêm xuống, bóng tối dâng lên, tinh thần chúng tôi càng lúc càng thêm căng thẳng.

Sợ địch sẽ lợi dụng bóng tối để leo lên tập kích, tôi nhờ Goodell xin không quân yểm trợ gần. Chỉ nửa giờ sau, hai trực thăng võ trang Cobra đã đảo một vòng trên đầu tôi. Tôi điều chỉnh Cobra đánh sát chân Ngok Long, rồi từ đó kéo dài vùng oanh kích xa dần về hướng Tây Bắc.

Khi Cobra rời vùng, tôi đã có sẵn một máy bay Hỏa Long AC 47 lên thay thế.

Chúng tôi được Hỏa Long bao vùng cho tới gần sáng.

Ðêm đó Binh nhì Hóa bị vết chó cắn làm độc, lên cơn sốt mê man.

Mặt trời chưa lên, mọi người đã ba lô, súng đạn gọn gàng.

Tôi cho người thay nhau cõng chú Hóa và theo chân nhau tụt xuống núi lánh nạn.

Tôi quyết định không đổ thêm quân vào vùng. Trừ bị của tôi chỉ còn một trung đội nằm ở Tân Cảnh. Nếu sử dụng nốt trung đội này, sẽ không còn ai tiếp cứu nữa. Sau đó lại phải đánh nhau với một lực lượng địch bốn năm lần mạnh hơn mình trong rừng rậm thì chết là cái chắc!

Rút lui khỏi đây càng nhanh càng tốt mới là thượng sách.

Tới trưa, bên một vách núi chênh vênh, chúng tôi an toàn leo lên trực thăng về Tân Cảnh.

Ngày sau nữa tôi triệt xuất hai toán còn lại không trở ngại.

Về tới Tân Cảnh, tôi tập họp các toán lại, để đúc kết tình hình.

Dịp này toán Bắc Bình báo cáo rằng trong những ngày vừa di chuyển vừa theo dõi địch, họ phát giác ra năm sáu vị trí khói bốc lên rải rác trong thung lũng Dak Sing, cặp theo con đường xe be chạy dài từ Dak Men vào tới chân núi Ngok Sie.

Ngày nào cũng thế, các lùm khói chỉ xuất hiện vào lúc mờ sáng khi sương mù chưa tan; tới khi nắng lên thì cảnh vật trở lại yên tĩnh, không có gì đáng nghi.

Thiếu úy Nhờ cho rằng những cuộn khói ban mai đã bốc lên từ các bếp nấu cơm hàng ngày của Việt-Cộng.

Từ những dữ kiện trên, tôi suy ra, đơn vị Việt-Cộng nằm dài theo thung lũng Dak Sing dưới kia chính là Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công của Mặt Trận B3 Cộng-Sản.

Chúng tôi có một ngày nghỉ ngơi rồi lên trực thăng rời Tân Cảnh.

Trung tá Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn không tiếc lời khen ngợi chúng tôi đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ được giao phó.

Trung tướng Lữ Lan, Tư lệnh Quân Khu 2 cũng đã vui vẻ ra tận bãi đáp trực thăng của Thành Pleime để bắt tay và nói lời khích lệ tinh thần chúng tôi.

Tôi về tới Cư Xá Trần Quý Cáp, Pleiku thì chú Phong đã đi rồi.

Trung tá Bé kể lại,

– Thằng học trò của Long đúng là một tên “gàn” hết cỡ! Có mười con cua của bà má Long gửi vào, anh bảo nó luộc lên rồi cất đi chờ Long, nó không nghe. Mỗi ngày vài con cua chết; qua năm ngày thì chẳng còn con nào. Cả ngày nó cứ đi ra, đi vô, không yên. Ðêm nào anh cũng nghe tiếng nó khóc. Tội nghiệp quá!

Không lâu sau, mẹ tôi bất ngờ vào Pleiku báo cho tôi một tin thật là buồn,

– Vợ thằng Phong mới bế đứa con gái nhỏ vào Hội An báo cho mẹ biết rằng thằng Phong chết rồi! Vợ nó nói, thằng Phong được đi học truyền tin ở Vũng Tàu, nhưng cứ mải đi chơi, trình diện trễ, bị trả về nhiệm sở cũ. Ít lâu sau thì tử trận! Mẹ đã cho vợ nó một số tiền, và dặn, bất cứ lúc nào nó cần giúp đỡ thì cứ vào Hội An gặp mẹ.

Vừa kể chuyện này, mẹ tôi vừa lau nước mắt. Chú Phong mồ côi mẹ. Từ đầu năm 1966, khi nhà tôi còn cư ngụ tại Khu Hồ Sen chùa Âm Bổn, Hội-An, chú Phong tới thăm mẹ tôi lần đầu, chú ấy đã coi mẹ tôi như là mẹ chú ấy. Mỗi khi ghé nhà tôi, chú thường gọi mẹ tôi:

“Mẹ ơi! Mẹ ơi!…”

Chú Phong mất, mẹ tôi cũng đau lòng như vừa mất một người con mang nặng, đẻ đau.

Tin này đã khiến lòng tôi áy náy không yên một thời gian khá dài.

Nếu ngày đó mẹ tôi không gửi mười con cua Cửa Ðại vào Pleiku cho tôi, chắc chú Phong đã đi thẳng một lèo từ Hội-An vào Vũng Tàu rồi. Nếu ngày đó chú Phong tới Pleiku, tôi vắng nhà, chú không chịu chờ, chắc chắn chú ấy đã không bị trình diện trễ.

Nghĩ xa hơn, nếu năm 1967 anh tân binh có tên Lê Văn Ơn được bổ sung cho Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Pleiku, thì biết đâu anh ta vẫn còn sống!

Cuối cùng tôi đành tự an ủi:

“Con người sống chết có số. Cái số của chú ấy đã như vậy rồi, thì có cưỡng cũng chẳng được!”

Ðầu tháng Bảy năm 2013, một người đàn ông, giọng trọ trẹ, từ Phong Ðiền, Quảng Trị, Việt-Nam gọi điện thoại cho tôi ở Seattle,

– Trung úy ơi! Cái bật lửa Zippo có khắc giòng chữ “TA LÀ VUA” của Trung úy có còn đó không? Nếu còn, ông cho em mượn để mồi một điếu Lucky!

Vừa nghe câu này, tôi biết ngay rằng người ở đầu dây bên kia phải là người đã từng cùng tôi chia ngọt sẻ bùi trong suốt thời gian dài ở Ðại đội 1/11 Biệt Ðộng Quân từ 1967 tới 1969. Họ biết ngày đó tôi có cái Zippo khắc giòng chữ “TA LÀ VUA” vừa khinh mạn, vừa ngổ ngáo, cũng như họ biết trong túi tôi lúc nào cũng có một bao thuốc lá hiệu Lucky không đầu lọc.

Sau này, dù tôi đã đeo lon đại úy, thiếu tá lâu rồi, những thuộc cấp cũ của tôi và cả vợ con họ, mỗi khi gặp lại, đều kêu tôi là “Trung úy”.

Tôi không giấu nổi nỗi vui mừng nên la lớn,

– Ai đó?

– Lụa đây trung úy! Trung úy có nhớ tên em không?

– Okay! Nhớ rồi! Trung sĩ nhất Ðoàn Văn Lụa ở Ðại đội 1!  Lụa đang ở đâu vậy? Có khoẻ không? Gia đình bình yên chứ?

-Dạ, em đang ở quê Quảng Trị, em mới tìm được số điện thoại của Thái Sơn, em gọi Thái Sơn, trước là để thăm Thái Sơn và gia đình, sau là báo cho Thái Sơn biết rằng vợ thằng Nguyễn Hồng Phong đã mất cách nay mấy tháng rồi!

Trung sĩ nhất Ðoàn Văn Lụa là một tiểu đội trưởng ở Ðại đội 1/ 11 giải ngũ sau khi bị thương ở Ðà-Lạt trong trận Tết Mậu Thân.

Tình huynh đệ chi binh vẫn còn đó, bốn mươi lăm năm qua đi, mà ông trung sĩ nhất tiểu đội trưởng vẫn chưa quên ông trung úy đại đội truởng của mình.

Tôi thắc mắc,

– Ủa! Lụa quen nhà thằng Phong à? Ðứa con gái của thằng Phong bây giờ đâu?

– Trình Thái Sơn, vợ thằng Phong là em ruột của Lụa. Sau khi thằng Phong chết, cô ấy đem con về quê Quảng Trị ở nhà em. Cách nay vài tháng cô ấy qua đời vì bệnh. Còn đứa con cô ấy thì bỏ xứ, đi làm xa, lâu lắm rồi không có tin tức gì.

Vì từ năm 1974 mẹ tôi đã di chuyển vào Sài-Gòn định cư, nên gia đình tôi không còn biết thêm tin tức gì của vợ con chú Phong.

Mẹ tôi cứ áy náy rằng vợ chú Phong còn quá trẻ, năm chú Phong tử trận vợ chú mới trên hai mươi tuổi mà đã thành góa phụ, thật là tội nghiệp.

Tôi không hỏi thêm, nhưng qua cung cách nói chuyện của chú Lụa, tôi tin rằng người em gái của chú ấy một đời chỉ có một mối tình.

o O o

Lá đỏ trong rừng lạ

Ðầu tháng Năm năm 1970 có một anh lính của Tiểu Ðoàn 23 vừa chết trận. Quê quán anh ở xã Châu Sơn, Ban Mê Thuột, thân nhân của anh đã áo tang, khăn trắng túc trực ở Quân Y Viện Pleiku. Trung tá Sâm muốn nhờ tôi bay theo trực thăng, đưa quan tài của người lính đó về thẳng Châu Sơn, đáp giữa sân nhà thờ.

Tôi vừa xuất viện sau khi mổ lấy một mảnh cối 82 ly bên sườn, còn rảnh rang, nên cũng muốn nhân dịp này ghé nhà thăm Loan vài hôm nên nhận lời làm công tác này ngay.

Thói quen, cứ lên trực thăng thì thế nào tôi cũng đem theo một cái PRC 25 có tần số của đài tiếp vận Hàm Rồng. Nếu đi đâu bằng máy bay cánh thẳng thì tôi không mang máy.

Chiếc trực thăng có nhiệm vụ bay con thoi cho Quân Khu 2 ngày hôm đó đã trình diện rất đúng giờ. Họ tới từ Camp Holloway, Pleiku. Phi hành đoàn gồm bốn quân nhân Mỹ trắng. Ông đại úy trưởng phi cơ hơi lớn tuổi, ăn nói có vẻ cộc lốc, thô lỗ nhưng dứt khoát. Ba người còn lại, gồm một trung úy phi công phụ và hai cơ phi xạ thủ thì còn trẻ măng.

Chiếc HU1 D phải dựng ghế lên thành tàu mới đủ chỗ cho tôi và bốn thân nhân tử sĩ ngồi bệt hai bên chiếc quan tài.

Mặc dù quan tài đã được hàn thiếc xung quanh, nhưng mùi tử thi vẫn khiến hành khách không chịu nổi. Hai cánh cửa trực thăng đã được mở rộng tối đa mà tôi vẫn còn cảm thấy khó thở.

Nhớ cao nguyên

baotreonline.com

3 Aug 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 31 July 2023

Kỳ 1

Một ngày trên núi cao…

Hạ tuần tháng Giêng năm 1970, Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân có nhiệm vụ hành quân thám sát vùng Tây của Ðèo Mang-Giang (Mang Yang), Pleiku, để yểm trợ tin tức tình báo chiến thuật cho Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân tiến vào Căn Cứ Ðịa 203 của Việt-Cộng.

Ba toán Viễn-Thám đã được tôi thả xuống thung lũng Plei Bon. Tôi cùng hai cố vấn Mỹ và ba nhân viên truyền tin đóng quân trên đỉnh núi Ngô-Sơn.

Chúng tôi được một trung đội trinh sát bảo vệ. Cuộc hành quân kéo dài một tuần lễ, hôm ấy đã được sáu ngày, chỉ một bữa nữa thôi, nhiệm vụ của chúng tôi sẽ chấm dứt. Thời gian này đã là mùa khô Cao Nguyên, nên bầu trời trong vắt. Trong gió, lan rừng ngát hương. Cỏ cây thay lá. Tiếng côn trùng rên rỉ lớn hơn. Tiếng chim muông cũng rộn rã hơn. Dưới nắng, tôi cũng chợt nhìn thấy những cánh hoa quen, mà tôi thường gọi là “hoa vấn vương”. Những cánh hoa mỏng như sương, đang vờn bay chập chờn trong không trung.

Tôi hay góp nhặt những bông hoa này bỏ vào bao nylon; để lâu lâu, lại lựa vài chùm, kèm với những dòng thư viết vội từ chiến địa, gửi về Ban-Mê-Thuột cho người tôi thương. Cái tên “hoa vấn vương” là tôi đặt cho loài hoa ấy. Thực ra, hoa vấn vương, giản dị chỉ là những chùm bông gòn bay lênh đênh trong gió.

Do tình cờ, có lần vào cuối mùa mưa, tôi nhìn thấy những quả bông gòn thấm nước, nổ tung. Những chùm bông trắng như tuyết vỡ, tan tác bay, rồi rơi rụng dần. Cứ thế, hoa theo gió phiêu du, cho tới khi chỉ còn là một chùm tơ trắng với cái cuống màu nâu nhỏ như đuôi kim, bay dật dờ, lãng đãng trong rừng.

Tôi đã yêu loài hoa này, vì tôi thấy loài hoa này rất chung tình. Khi cánh hoa đã ghim vào áo trận của tôi rồi, thì hoa sẽ dính trên áo tôi cho đến hết một cuộc hành quân. Những sợi tơ trắng mềm mại của chùm hoa cứ dính cứng trên vải áo rằn ri, gỡ hoài, gỡ mãi không ra. Ngày này qua tháng khác, vào sinh, ra tử, chết chóc, gian lao, niềm vui của những người lính bạt mạng như tôi thật là giản dị: Chỉ mong lâu lâu được về hậu cứ Pleiku, có vài giờ quây quần bên nhau; ôm cây guitar nghêu ngao đôi khúc nhạc tình; rồi vào một quán quen, ngâm thơ, uống rượu. Qua một đêm vui là chúng tôi quên hết sự đời, hôm sau lại lên đường ra trận.

Ở hoài trong rừng, suốt tháng, quanh năm, mùa nào chúng tôi cũng thấy lạnh, mùa nào cũng thấy nhớ nhà.

Có lần đóng quân bên dòng Pơ-Kô, đang buồn, vừa mở radio lên, nghe Thái Thanh hát, lòng tôi càng buồn thêm:

“Tôi xa đô thành một đêm trăng mông mênh

Tuy ra đi rồi, mà vẫn nhớ vẫn thương.

Hình bóng ấy, người em thơ đang từng giờ đợi chờ…”

(Hoàng Thi Thơ)

Ða phần quân nhân Cao-Nguyên Vùng 2 đến từ nơi khác.

Nghe “Nhớ Thành Ðô” mỗi người tơ tưởng tới một thành phố yêu thương của riêng mình. Nhiều bạn tôi than:

“Lâu không về qua Sài-Gòn, nhớ Gia Long, Trưng Vương quá!” Trước đây, đi hành quân, tôi thường nhớ Hội-An và Pleiku. Hội-An có mẹ tôi, Pleiku có hậu cứ đơn vị tôi. Trước đây, dù đã có hai lần ghé Ban Mê Thuột, nhưng tôi chẳng mảy may để ý gì tới thành phố này. Tôi đã từng nghe nhiều người than rằng xứ Thượng Ban Mê Thuột là nơi buồn quanh năm, chẳng thế mà mấy anh bạn cùng Khóa 20 Võ Bị của tôi đang phục vụ ở Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh cứ gọi thành phố ấy bằng cái tên “Buồn Muôn Thuở”. Nhưng từ sau lần đi họp Hội-Ðồng Kỷ-Luật tại Bộ Tư Lệnh Sư-Ðoàn 23 Bộ Binh hồi đầu tháng 5 năm 1969, tôi có dịp ghé nhà một người bạn, được gặp mặt em gái anh ta, thì Ban-Mê-Thuột đã trở thành một nơi, đi đâu tôi cũng nhớ, ở đâu tôi cũng muốn về. Từ đó tôi cũng ít khi về Hội-An. Vì mẹ tôi cũng đã thương cô ấy, và thương cái gia đình “cũng là người Bắc Di Cư như nhà mình ấy mà!”

Những lần mẹ tôi vào thăm vợ chồng Bác Võ, thân sinh của Loan, thế nào tôi cũng nài nỉ Trung Tá Sâm cho tôi rời đơn vị vài ngày để gặp mẹ tôi và gặp Loan. Bất cứ lần nghỉ dưỡng quân nào, dù chỉ hai, ba hôm, ông Thượng Sĩ Woodell, cố vấn của tôi, cũng phải tìm cho tôi một chỗ ngồi trên những chuyến bay con thoi đưa thư hàng ngày của Mỹ, nối liền Pleiku, Ban-Mê-Thuột, Quảng-Ðức, Ðà-Lạt, Nha-Trang, Qui-Nhơn. Cứ về Ban-Mê-Thuột thì tôi đương nhiên trở thành người lái xe đưa đón Loan và các em cô ấy từ nhà tới trường. Vì thế con đường rợp bóng phượng vĩ từ khu Cư-Xá Ðộc-Lập, qua Bưu-Ðiện, tới nhà thờ Vinh-Sơn, rồi rẽ sang trường Trung Học Tổng Hợp Ban-Mê-Thuột đã trở thành quen. Tôi cũng không còn thấy xa lạ với những cái tên Y Jut, Ama Trang Long, Ciné Lodo, Chùa Dược-Sư, Kem Chi-Cao, Lâm-Tuyền Cốc, …

Tôi rất thích cái không khí ấm cúng của quán cà phê học trò Mây Hồng gần trường. Những lần lái xe tới sớm, tôi thường vào đây ngồi nhâm nhi ly cà phê đen chờ giờ tan học. Nói cho cùng, tôi thương nhớ Ban-Mê-Thuột cũng chỉ vì nơi đó có nàng. Ba toán Viễn-Thám đã được thu hồi bằng phương tiện bộ chiều hôm qua. Hôm nay tôi có trọn một ngày bình yên, không lo lắng. Tôi có thói quen viết miên man, mỗi khi ngồi buồn một mình. Có bài thơ ghi vội vàng trên chiến địa, rồi bỏ lại trên chiến địa. Có bài thơ ướt đẫm máu hồng từ những vết thương, bạn bè tôi tiếc rẻ, nên chép lại, gửi về Sài-Gòn cho người ta đăng báo.

Trước ngày tôi gặp người nữ sinh Trung Học Ban-Mê-Thuột đó thì thơ tôi viết chẳng để tặng cho riêng ai. Nhưng từ khi tôi quen cô ấy, rồi yêu thương cô ấy, thì những bài tôi viết đều có ghi thêm câu “Gửi người tình nhỏ ở Ban-Mê-Thuột”. Sáng hôm đó, trên núi cao, sau một giờ bình yên, tôi đã có sẵn một bài thơ ngắn để gửi về cho người mình yêu dấu. Ít lâu sau, ông Hàng Vĩnh Xuân cũng đưa bài thơ này lên trang thơ của “Nguyệt San Biệt Ðộng Quân”. Ông Xuân và tôi vốn có chút giao tình; Ðại úy Hàng Vĩnh Xuân là Chủ Bút Nguyệt San Biệt Ðộng Quân Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Trong sớm mai

Buổi sáng thức dậy

Thấy mình nằm trong rừng

Núi rừng từ nghìn xưa đã buồn…

Buổi sáng thức dậy

Thấy lòng nhớ thành phố

Thành phố bây giờ xa vô cùng…

Buổi sáng thức dậy

Lật tìm manh bản đồ

Những dấu mực xanh, những đường gạch đỏ

Mục tiêu nào gần, mục tiêu nào xa?

Một ngày trong đời rồi cũng đi qua.

Và một đời người rồi sẽ trôi qua…

Sáng nay thức dậy

con chim nhỏ trên cành ngái ngủ

nhìn mái poncho đôi mắt thờ ơ

Người lính vừa thay phiên gác

trở về lều xếp gọn chiếc ba lô

Bếp lửa ngại ngùng, đợi chờ những viên trái phá

Tôi ngồi một mình, đợi chờ giờ lên đường

Nhớ nhung hoài, cũng thành thói quen!

Em biết không?

Giờ này tôi đang nghĩ về em…

Và sáng nay thức dậy

Chợt thấy mặt trời hồng

Nhớ người Ban-Mê-Thuột vô cùng…

(Vương Mộng Long- 1970)

(Gửi người tình nhỏ ở Ban-Mê-Thuột)

o O o

Xế trưa, một chiếc trực thăng đáp xuống đài tiếp vận để trao cho tôi cái phóng đồ vùng hành quân mới. Hậu cứ cũng chuyển cho tôi một bì thư của Loan gửi từ Ban-Mê-Thuột. Phong thư hơi dày, trong đó chứa một lá thư viết bằng giấy học trò và ba cái bảng tên mới thêu. Tôi đã biết cô ấy là người vẽ rất đẹp. Nay mới thấy cái tài thêu thùa của cô ấy. Những đường chỉ ngụy trang vắt chéo nhau một cách tỉ mỉ và khéo léo, vừa chắc chắn, lại vừa mịn màng. Trên nền vải rằn ri, chữ “LONG” thoáng nhìn, thấy sắc nét như vẽ bằng bút lông trên tranh. Cầm trên tay ba cái bảng tên mới, tôi nhủ thầm:

“Thêu kỹ thế này thì năm, sáu năm sau chưa chắc đã sút chỉ!” Trước đây ít năm, tôi đã có vài cái bảng tên do các cô nữ sinh Trung Học Pleiku thêu giùm. Tiếc rằng chỉ sau đôi lần đưa áo cho thợ giặt, thì những cái bảng tên ấy đã rách bươm.

Thượng sĩ Goodell mời tôi một điếu xì gà vừa tiếp tế. Anh đưa cho tôi xem cái ảnh vợ con anh vừa từ Mỹ gửi qua. Trong ảnh, thằng bé trai cười toét miệng. Miệng nó sún mất hai cái răng cửa. Hóa ra nó đang thay răng! Nhìn cái ảnh, tôi không thể nhịn cười. Vì thằng Goodell con trông giống thằng Goodell bố như in. Thằng Goodell bố cũng vừa bị gãy hai cái răng cửa hôm tuần trước. Hôm đó, sau chầu rượu đón chào anh Thiếu úy Ðinh Quang Biện từ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân vừa đáo nhậm đơn vị, nhận chức Ðại Ðội Trưởng, Ðại Ðội Trinh-Sát Liên Ðoàn 2 thì ông Trung sĩ Triêm lái xe đâm xuống ruộng. Thiếu úy Biện lọi giò, Thượng sĩ Goodell gãy hai cái răng. Goodell chưa kịp làm răng mới, chúng tôi đã có lệnh vào vùng.

Thấy hình ảnh gia đình anh cố vấn Mỹ, tôi mơ ước thầm:

“Biết tới bao giờ tôi và Loan mới có thằng Long con dễ thương như thằng con anh bạn?”

Nhớ có lần tôi đưa Loan đi chợ. Thấy cửa hàng bán sách vở và đồ chơi trẻ con, tôi nói,

-Anh muốn mua một quyển sách “Tập Ðánh Vần” để dành cho con chúng mình. Em nghĩ sao?

Nghe tôi nói đùa, Loan đỏ mặt, cười mắc cỡ, không trả lời…

Chiều nắng xế, hoa bay chập chờn trong núi, tôi ngồi dựa lưng vách đá, thả hồn về phương Nam. Có lẽ bây giờ ở Ban-Mê-Thuột đang là giờ tan học. Tôi hình dung ra cảnh người tôi yêu đang vén vạt áo dài xanh, rụt rè bước ngang qua sợi dây xích nối giữa hai cột trụ xi măng cổng trường để ra đường chờ xe. Ước gì lúc này tôi có mặt nơi đó nhỉ? Trưa nay tôi đã nhận cái phóng đồ hành quân mới. Ngày mai sẽ có tiếp tế trước khi chuyển vùng. Có lẽ còn lâu chúng tôi mới được về nghỉ dưỡng quân. Có lẽ còn lâu tôi mới được thấy lại Ban-Mê-Thuột. Bên cạnh tôi, người bạn Mỹ cũng đang ngồi dựa lưng vào một gốc cây. Mắt Goodell mang kiếng đen. Tôi không biết anh ta đang ngủ gật hay đang nhớ nhung một cái trang trại nhỏ nơi miền quê Texas, bên kia đại dương. Trời chiều không có mây. Một cặp chim hồng hoàng vừa sóng đôi bay qua đỉnh núi. Bốn cánh chim khổng lồ nhịp nhàng quạt gió. Vài phút sau, hai bóng chim chập vào nhau thành một chấm đen cuối trời…

o O o

Nghĩa, tình, và nhiệm vụ…Chúng tôi được tiếp tế mười ngày lương khô rồi chuyển vùng. Hơn nửa năm sau trận Dak Tô 1969 tôi mới quay lại Bắc Kontum. Trực thăng vừa bay qua cầu Diên Bình, trước mắt tôi đã thấp thoáng những mái tôn chói nắng từ Tân Cảnh. Bên trái tôi, xa xa là Phi trường Phượng Hoàng, rồi tới Ngok Ring Rua, và Ben Het. Cảnh cũ vẫn chưa thay đổi, nhưng người anh cả của chiến trường đã không còn nữa. Vào vùng, tôi chạnh lòng nhớ tới “Thẩm Quyền 5”. “Thẩm Quyền 5” là danh xưng truyền tin của Ðại tá Nguyễn Bá Liên, Tư lệnh Biệt Khu 24. Thẩm Quyền 5 đã không ngừng theo dõi bước chân đại đội tôi suốt một tuần lễ dài của trận đánh đẫm máu nhất năm 1969 của Vùng 2.

Ngày đó bất cứ lúc nào tôi lên máy cũng nghe tiếng Thẩm Quyền 5:

“Thái Sơn! Ðây là Thẩm Quyền 5! Cố gắng lên em! Em giỏi lắm! Cố gắng lên em!”

Ngay khi chiến dịch kết thúc, dù đang bận rộn, Thẩm Quyền 5 cũng cố gắng bay về Quân Y Viện Pleiku thăm hỏi tôi một lần. Trận này tôi bị thương nặng, vỡ xương vai. Ðầu tháng 12 năm 1969 trực thăng của Thẩm Quyền 5 đã bị địch bắn cháy ngay khi vừa cất cánh rời Căn cứ Hỏa Lực số 6 Ngok Ring Rua. Tôi được tin đau lòng này trong khi đang tham dự chiến dịch giải vây cho Trại Lực Lượng Ðặc Biệt Bu Prang, Quảng Ðức. Nay tôi đem quân trở lại chiến trường xưa, thì người chỉ huy vừa can trường vừa đức độ của tôi đã không còn! Thêm vào đó, vùng hành quân này cũng đã mất tên, danh hiệu quân sự “Biệt Khu 24” chỉ còn trong dĩ vãng. Chúng tôi vỏn vẹn chỉ có trên dưới sáu chục mạng, chứa không đầy tám chiếc HU1D (thường được gọi là UH1D) nên việc đổ quân xuống sân của hậu cứ Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cũng thật là dễ dàng.

Tôi để lại trên đỉnh Ngok Long một anh y tá, một toán sáu trinh sát viên, ba anh truyền tin cùng với hai máy PRC 25 và cây angten 292, rồi bay về Tân Cảnh ở với Ðại đội 2 Trinh Sát của Thiếu úy Ðinh Quang Biện.

Chúng tôi tá túc trong căn nhà tôn sát nách câu lạc bộ. Còn hai anh cố vấn Mỹ của tôi thì ngủ nhờ trong căn nhà vòm chứa ban Cố Vấn Hoa Kỳ của trung đoàn. Tôi vào Trung Tâm Hành Quân để họp bàn với ông trung tá trung đoàn trưởng. Ông trung đoàn trưởng là một sĩ quan đã luống tuổi, phong cách rất từ tốn và hiền hòa.

Thấy tôi có vẻ băn khoăn trước bức tường sừng sững, ghép bằng những tấm bản đồ tỷ lệ 1/100,000 trước mặt, trên đó, nơi tôi dự trù sẽ đổ quân lại nằm trong vùng oanh kích tự do, ông vội nói:

– Trung úy yên tâm! Quân đoàn đã thông báo rằng, ranh giới oanh kích tự do sẽ bị đẩy xa về hướng Ðông thêm 6 cây số nữa trong suốt thời gian Biệt Ðộng Quân hiện diện.

Ông tỏ ra rất vui khi biết tôi xuất thân Khóa 20 Võ Bị. Ông cho tôi hay đại đội phòng vệ hậu cứ của ông hiện giờ cũng do Trung úy Tuân, bạn cùng khóa của tôi chỉ huy. Ông cho chúng tôi mượn một chiếc xe Dodge 4×4 để sử dụng cho việc chợ búa và tiếp tế nước dùng hàng ngày. Lần hành quân này tôi được chỉ thị rõ ràng là chỉ làm công tác trinh sát thuần túy. Do đó, tôi không dự trù bất cứ hành động nào nhằm sử dụng pháo yểm hay không yểm cho các cánh quân.

Tiêu lệnh đề ra cho ba toán Viễn Thám bắt buộc phải tuân theo:

“Nếu bị bại lộ thì tự vệ, rồi chạy!”

Trước khi bay lên Tân Cảnh, tôi có ghé Phòng 2 Quân Ðoàn vài phút, tôi đã trực tiếp nghe Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Khu 2 nhắc nhở:

– Trung tướng (Lữ Lan) muốn cậu vào vùng là để tìm mục tiêu cho Ðại úy Ngọc! Tránh giao tranh, càng ít càng tốt!

Ðại úy Ngọc là Trung Tâm Trưởng, Trung Tâm Mục Tiêu của Phòng 2 Quân Khu 2. Trung tâm này là nơi tổng kết tin tức địch toàn Vùng 2 Chiến Thuật rồi thiết lập các sơ đồ oanh kích B 52 để Tư lệnh Quân Khu chuyển giao cho Mỹ thi hành. Nhiệm vụ của tôi là theo dấu Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công của Mặt Trận B3 Cộng-Sản. Ðơn vị Việt-Cộng này lâu nay thường quấy rối, đánh mìn, phục kích đoạn Quốc lộ 14 gần Tân Cảnh và quận lỵ Dak Tô. Trung tá Tiếu cho tôi hay, trước đây, Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công hoạt động trong vùng Bắc Dak Mot tức là hướng chính Bắc của Phi Trường Phượng Hoàng. Nhưng gần đây, các đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu của hai trại Dak Séang và Ben Het liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân liên ranh hướng Tây Quốc lộ 14, nên đơn vị này phải chạy về ẩn náu trong khu vực núi non hướng Ðông thị trấn Tân Cảnh.

Theo tôi suy đoán thì khu vực rừng rậm quanh chân hai ngọn núi Ngok Wan và Ngok Sie là vùng đáng nghi ngờ nhứt để Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công Cộng-Sản trú ẩn. Hôm sau, ba toán Viễn Thám được thả; toán An Giang xuống làng Bon Du bốn cây số Ðông Bắc Quận lỵ Dak Tô; toán Bắc Bình xuống làng Dak Men cách Tân Cảnh năm cây số về hướng Ðông Bắc; còn toán Cam Ranh thì nhảy xuống ngọn đồi tranh chỉ cách đài tiếp vận Ngok Long chừng hai cây số về hướng Tây; toán này vừa giữ nhiệm vụ tiếp cứu hai toán đầu, vừa kiểm soát con đường xe be từ làng Dak Long 1 tới Quận lỵ Dak Tô.

Hai ngày trôi qua bình yên. Ngày thứ ba toán An Giang của Thiếu úy Minh báo cáo rằng, trên bờ suối Dak Rơnu có nhiều dấu chân voi thồ vượt cạn theo hướng Ðông, Tây. Ước tính đoàn voi vận chuyển này cũng cỡ năm, bảy con voi thồ, cùng hàng chục người đi theo bảo vệ. Tôi ra lệnh cho toán này men theo con đường thồ leo lên đỉnh ngọn núi nằm giữa Dak Rơnu và Dak Sing, rồi kiếm một vị trí thuận lợi giăng mìn phục kích địch để kiếm tài liệu. Qua ngày thứ tư, Thiếu úy Nhờ trưởng toán Bắc Bình cũng báo, toán của anh vừa phát giác một khu doanh trại bằng tre nứa có nhiều hầm hào phòng thủ trong khu rừng già, bên cạnh một bãi ngô. Nơi này nằm trên con đường xe be cũ cách Dak Men khoảng một cây số về hướng Bắc. Lực lượng địch ở đây ước chừng một đại đội chính quy, người Bắc

Tôi thấy con đường từ Dak Men vào tới khu trú quân của địch là độc đạo, bên trái là đồng cỏ tranh, bên phải là vách núi, nếu bị địch phát giác chặn nút hai đầu thì toán của ông Nhờ khó thoát. Tôi bèn ra lệnh cho Bắc Bình leo ngay lên đỉnh ngọn núi hướng chính Ðông con lộ. Sau đó toán sẽ men theo triền núi tiến về hướng Ngok Sie. Từ trên cao họ có thể nhìn thấy những ngọn khói bốc lên trong thung lũng dưới chân núi. Những cụm khói này cho ta biết khái quát vị trí nghi ngờ có địch. Xế chiều, khi bản tin trong ngày của tôi vừa được mã hóa chuyển đi thì ông hạ sĩ quan trực hành quân của bộ binh tìm gặp tôi và báo rằng Trung tá Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân cần gặp tôi gấp trên hệ thống máy PRC 74. Trên hệ thống truyền tin này chúng tôi có thể đàm thoại với nhau bằng bạch văn.

Ðầu dây bên kia, Trung tá Trịnh Văn Bé, Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân nói:

– Này Long! Có thằng đồ đệ của cậu từ Hội An vào. Nó ở nhà mình cả tuần lễ rồi. Nó đang chờ gặp Long! Có về được không thì cho nó hay? Nghe nói nó còn phải đi Vũng Tàu học truyền tin. Nếu phải chờ lâu, chắc nó bị lỡ ngày khai giảng.

Nghe hỏi, tôi ngớ người ra,

– Tôi không có thằng đồ đệ nào đang ở Hội An cả! Chắc là ai đó lầm người!

– Nó xưng tên là Nguyễn Hồng Phong, lính của Long từ ngày Long mới ra trường, khi Tiểu Ðoàn 11 còn ở ngoài Ðà- Nẵng.

Thế là tôi nhớ ra ngay,

– Nếu nó xưng tên là Nguyễn Hồng Phong thì nó là thằng đồ đệ ruột của tôi ngày xưa đó! Bình Minh cho nó tá túc ít ngày, chờ tôi về!

“Bình Minh” là danh hiệu truyền tin của Trung tá Trịnh Văn Bé. Ông Bé có căn nhà trong cư xá Trần Quý Cáp, vợ con ông còn ở Sài-Gòn, nên ông cho tôi và Thiếu úy Ðặng Hữu Duyên, sĩ quan tiếp liệu của liên đoàn ở nhờ một phòng. Trong nhà còn có hai người đàn em của tôi là Trung sĩ Nguyễn Lác và Hạ sĩ Nguyễn Tiến, tài xế. Có lẽ chú Phong đang tá túc trong nhà Trung tá Bé, nên ông Bé mới nói:

“Nó ở nhà mình cả tuần lễ rồi.”

Ngay lúc ấy, Trung sĩ Nguyễn Lác cũng xen vào,

– Trình Thái Sơn, năm 1966 em là binh nhì, tân binh ở Ðại đội 1, anh Phong đã là hạ sĩ ở Ðại đội 3. Anh Phong là người nấu cơm cho Thái Sơn. Anh Phong bây giờ là trung sĩ đang ở Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, nhân chuyến đi học truyền tin, anh ấy ghé thăm Thái Sơn. Ảnh có đem theo mười con cua Cửa Ðại. Cua là do má của Thái Sơn gửi vào, nhưng chờ lâu quá, cua chết hết rồi! Ðể em đưa máy cho anh Phong nói chuyện với Thái Sơn nhé!

Hình như chỉ chờ có thế, đầu dây bên kia đã có tiếng người nghẹn ngào:

Mặt trận Đông Nam – Xuân Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

August 7th, 2020

Kỳ cuối

Tuyến phòng ngự mới của chúng tôi bây giờ là cái mương thoát nước nằm sát đường băng của phi trường. Ở vị trí này chúng tôi không thấy gì bên kia suối, nhưng xạ trường và thị trường trước mặt thì rất trống, nếu có chỉ dấu gì mới của địch thì chúng tôi cũng phát hiện ngay.

Cũng trong khoảng thời gian này, vào một buổi trưa, Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 gọi cho tôi, bắt tôi xác nhận đi, xác nhận lại, xem trên một tọa độ cách tôi 6 hay 7 cây số về hướng Bắc Ðông Bắc có quân bạn hay không? Tôi cứ một tiếng “Không!” mà trả lời.

Sau đó tôi thấy trên trời có chiếc vận tải cơ C 130 bay vòng vòng trên cao, rồi một tiếng “Ùm!” âm vang.

Hóa ra đó là một quả bom loại tối tân nhất đã được thả xuống chiến trường Long-Khánh.

Mãi lâu lắm, sau chiến tranh tôi mới biết đó là một quả bom nhiệt hạch, có tên CBU 85 (?) hay CBU 82 (?) gì đó có tầm sát hại rất là khủng khiếp. Tôi cũng nghe nói trong thời gian này còn một quả bom cùng loại đã được thả xuống vùng hướng Tây của thị trấn Xuân-Lộc.

Hình như hai quả bom đó đã dẫn chiến trận rẽ sang một khúc quanh. Ðịch quân bỏ Xuân-Lộc, đi vòng về hướng Tây để vây hãm thủ đô Sài-Gòn.

Năm giờ sáng ngày 18 tháng Tư có tiếng chiến xa gầm rú ầm ầm ngoài xa hướng Bắc và hướng Ðông. Pháo binh từ Tân-Phong và Núi Thị đều bắn tập trung thành một tuyến rào cản sát vành đai thị trấn.

Suốt ngày hôm đó chúng tôi chờ mãi không thấy xe tank địch tiến lên, không thấy chiến xa địch bắn một viên đạn nào. Tới chiều tối, đoàn chiến xa Việt-Cộng theo nhau rút đi mất.

Ðêm 18 tháng Tư tôi nhận được tin kiểm thính cho biết, một tiểu đoàn Cộng-Sản đang bị quân Dù vây hãm trong đồn điền của Thống tướng Lê Văn Tỵ sẽ kéo cờ trắng đầu hàng.

Tôi nghĩ đơn vị Việt-Cộng này đã bị lính của Lữ Ðoàn 1 Dù vây kín ba mặt Ðông, Tây và Nam, chỉ còn mặt Bắc là bỏ ngỏ, biết đâu chúng nó sẽ kéo nhau về hướng Bắc, là chỗ tôi đóng quân để đầu hàng thì cũng vất vả cho chúng tôi lắm! Chỉ có cái việc lo chuyện ăn, ở cho họ cũng đã đủ mệt rồi!

Ai ngờ chiều 20 tháng Tư tôi được Ðại tá Lê Xuân Hiếu gọi vào Trung Tâm Hành Quân Chiến Ðoàn 43 để thông báo rằng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vừa ra lệnh cho chúng tôi phải lập tức rút quân, bỏ rơi Long-Khánh!

Tôi phải hoàn trả đại đội bộ binh tăng phái cho Thiếu tá Dư vì Tiểu Ðoàn 3/43 của anh Dư sẽ giữ vai trò tùng thiết cho Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh trong cuộc hành quân triệt thoái này.

Tới giờ phút đó thì Ðại Ðội Ðịa Phương Quân Bình-Long không còn thống thuộc ai, vì thế đại đội này cứ theo chân đơn vị tôi như một thành phần của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân cho tới ngày về tới căn cứ Long-Bình.

Tôi nhận được lệnh rút lui, mà trong lòng không khỏi ngỡ ngàng.

Mười hai ngày qua chúng tôi đã chiến đấu quên mình để bảo vệ quê hương và bảo vệ danh dự của Quân- Ðội

Trong chiến dịch Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975 Cộng Quân có hai yếu tố quan trọng là “Thiên Thời” và “Địa Lợi” nhưng những người tử thủ Xuân-Lộc, lại có yếu tố quyết định sống còn, đó là “Nhân Hòa”

Vì có yếu tố “Nhân Hòa” ngàn người như một, quyết chiến, quyết thắng, nên Quân- Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã đánh cho địch ngất ngư, đánh cho địch “tà đầu”.

Tháng Tư năm 1975, chiến trường Xuân-Lộc đã là mồ chôn của quân xâm lăng!

Rõ ràng chúng tôi đang là người chiến thắng!

Vậy mà bỗng dưng chiều nay Tổng thống dọa cắt tiếp liệu, tiếp vận, không cho chúng tôi tiếp tục chiến đấu, bắt chúng tôi cấp tốc lui binh.

Vì hai chữ “tử thủ” mà mới hôm qua, những người anh em của tôi còn đổ máu giành giựt từng thước đất với quân thù, tôi đã chôn họ dưới những cái huyệt moi vội vàng, sâu chưa tới đầu gối.

Hôm nay, có khi xác của họ còn chưa kịp lạnh.

Trong mười năm chinh chiến, tôi đã từng nhiều lần đóng vai trò của một người “tử thủ” từ một ngọn đồi không tên nơi biên giới Việt Miên, tới những cái tiền đồn mà địa danh của chúng đã được ghi vào quân sử như Ðức-Cơ, Pleime, bây giờ là Long-Khánh.

Không biết ngày mai, sau Long-Khánh tôi sẽ còn phải “tử thủ” rồi lại phải bỏ rơi nơi nào nữa đây?

Tôi có mặt ở Xuân-Lộc đúng nửa tháng, vậy mà hình thù, dáng dấp thị trấn này như thế nào tôi cũng không hay. Ngoài cái phi trường và vài đoạn đường ngắn quanh đó, tôi không biết gì hơn.

Trước lúc ra lệnh cho quân vào đội hình di chuyển, tôi dẫn theo toán Viễn Thám của Mom Sol đi tới đầu phi đạo hướng Ðông để có đôi lời khấn nguyện cho linh hồn 12 chiến sĩ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã ngủ yên trên chiến trường Xuân-Lộc sớm phiêu du nơi chốn Thiên Ðường.

Ðoàn người bắt đầu rời vị trí, tới đầu con lộ đất, trong bóng đêm, tôi ngừng lại vài phút lặng nhìn con đường hẻm ẩn mình dưới vòm tre đen. Con đường hẻm này tôi đã ví như Lạc Phụng Ba của Phụng Sồ thời Tam Quốc.

Nơi cuối con hẻm và trên đồng cỏ ngoài kia là xác những chiếc chiến xa Việt-Cộng đã bị bắn cháy nằm rải rác. Trên lưng mỗi chiến xa đó đều được sơn một giòng chữ bằng khói màu vàng “Tiểu Đoàn 82 BĐQ diệt tank”

Sự hiện diện của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975 quả là một điều quá bất ngờ, ngoài dự liệu của Thiếu tướng Hoàng Cầm.

Vì thế trên đoạn sạn đạo này, “Người giỏi đánh” và “Người giỏi giữ” đã tình cờ đối đầu nhau.

Và trên con hẻm oan nghiệt ấy, danh tướng Hoàng Cầm của Bắc-Việt đã thành bại tướng.

Phải chăng chuyện hội ngộ của hai người cầm quân ngày đó đã được thiên cơ tiên liệu, an bài?

Ði qua cái nhà chứa máy bay đã tan tành, đổ nát, tôi thấy 2 chiếc L.19 vẫn còn nằm trong đó.

Tới trước tòa tỉnh trưởng, Ðại tá Phạm Văn Phúc chạy ra cổng, nắm tay tôi và ngỏ lời muốn tháp tùng theo đoàn quân của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, tôi đã chối từ.

Tôi không cho ông Ðại tá Tỉnh trưởng đi theo, vì tôi đã được lệnh chỉ bảo vệ Chuẩn tướng Tư lệnh chiến trường và Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 thôi.

Bốn mươi lăm năm sau, tôi vẫn chưa quên được hình ảnh thật là cảm động lúc chia tay, trong bóng tối, ông Ðại úy trưởng quầy hàng Quân Tiếp Vụ Tiểu Khu Long-Khánh đã hối hả chạy đi, chạy lại, giữa chiếc xe Dodge chở hàng và đoàn quân đang di chuyển để dúi vào tay những người lính vài gói mì ăn liền và vài bao thuốc lá.

Không rõ sau ngày chiến tranh kết thúc, ông đại úy này có còn sống hay không?

Trong cuộc lui binh rời bỏ Xuân -Lộc, Long-Khánh đêm 20 tháng 4 năm 1975, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.

Sáng 21 tháng 4 năm 1975 Chuẩn tướng Tư lệnh chiến trường và Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 đã được chúng tôi bảo vệ an toàn về tới Bình Ba, Phước-Tuy.

Tôi cũng không thể ngờ rằng, vì tôi đã từ chối không cho ông Ðại tá Tỉnh trưởng Long-Khánh đi theo Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân mà chỉ vài tiếng đồng hồ sau thì Ðại tá Phạm Văn Phúc đã bị địch bắt sống khi ông đang trên đường lui binh.

Ông tiểu đoàn phó của tôi là Ðại úy Ngũ Văn Hoàn vì bị đau chân nên không theo kịp đơn vị. Ông ta bị tụt lại đàng sau phải đi theo quân Dù. Tới tối ngày 21 tháng Tư ông Hoàn mới tới chỗ chúng tôi trú quân.

Những anh lính người Nùng trong toán bảo vệ cho ông đại úy như Trung sĩ Nông Văn Tụi, Binh 1 Vi Văn Trung và toán Viễn Thám của Binh 1 Nguyễn Tuấn cũng không thấy về, không rõ họ đã bị thất lạc, hay họ đã chết trên đường Liên Tỉnh Lộ số 2.

Ngày 21 tháng Tư năm 1975 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức.

Người lên thay ông Nguyễn Văn Thiệu là Phó tổng thống Trần Văn Hương đã hết lời ca ngợi chiến thắng Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975.

Sau khi nhậm chức, Tổng thống Hương đã ra quyết định thăng một cấp đặc cách tại mặt trận cho tất cả quân nhân có mặt ở Xuân-Lộc trong suốt thời gian dầu sôi lửa bỏng. Trận Xuân-Lộc đã trở thành chiến thắng oanh liệt sau cùng của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Chiều 22 tháng 4 năm 1975 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân về tới Long-Bình.

Tôi được tin báo rằng hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng đã được bốc về đây ngay sau khi bị Cộng Quân đẩy lui ra khỏi phi trường Phan-Thiết. Ngày đó đoàn trực thăng đi đón một Lữ Ðoàn Nhảy Dù ở mặt trận Phan Rang đã không liên lạc được với quân Dù nên phải về không, trên đường về họ đã xuống cứu đơn vị Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Ðàng.

Những ngày cuối tháng Tư năm 1975, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nằm ứng chiến sẵn sàng trong căn cứ Long-Bình, trong khi người thủ đô Sài-Gòn cuống cuồng tìm đường đưa gia đình di tản.

Giữ lời ước nguyện, anh em của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã không lìa bỏ nhau. Ngày 28 tháng Tư năm 1975 tôi dẫn quân vào vùng. Cho tới trưa 30 tháng Tư năm 1975 chúng tôi vẫn còn vững tay súng, sát cánh bên nhau, cùng nhau đi tới cuối đường để bảo vệ quê hương.

Trong 48 giờ cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt-Nam, hơn một trăm người anh em Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi đã phơi thây trên chiến địa.

Trong số những anh hùng vị quốc bị nghiền nát dưới bánh xích chiến xa T54 của quân thù có Ðại úy Ngũ Văn Hoàn, Tiểu đoàn phó của tôi và Binh 1 Lê Văn Bích, người nấu cơm cho tôi.

Trong cuộc chiến tranh này, tôi đã cố gắng hết sức mình để làm tròn nghĩa vụ một công dân Việt-Nam Cộng-Hòa. Là một người lính, tôi đã chiến đấu tới giờ phút cuối cùng để bảo vệ đất nước, bảo vệ danh dự Quân Ðội.

Vì thế, suốt những năm dài bị giam giữ, tù đày, lúc nào đầu tôi cũng ngửng cao.

Mười ba năm sau khi thua trận, tôi được tha về.

Cám ơn Trời! Vợ con tôi vẫn còn là của tôi.

Thời buổi ấy, kỷ niệm chiến chinh của dĩ vãng, hầu như đã quên; suốt ngày tôi chỉ lo chuyện cơm, áo, gạo, tiền.

Thế rồi số phận đổi thay, tôi được nhận vào định cư ở Hoa-Kỳ theo diện H.O.

Qua tới Mỹ, tôi có dịp gặp lại những người chỉ huy cũ của chiến trường Xuân-Lộc, Long-Khánh năm 1975 là Thiếu tướng Lê Minh Ðảo, Ðại tá Hứa Yến Lến, Ðại tá Lê Xuân Hiếu, Trung tá Nguyễn Văn Ðỉnh, và Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế.

Từ đây, tôi biết tin Trung tá Trần Văn Nô Thiết đoàn trưởng Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh đã qua đời vì bạo bệnh sau khi được tha về từ trại cải tạo.

Tôi cũng nghe tin, chỉ một ngày sau lệnh buông súng đầu hàng, thì anh bạn của tôi là Thiếu tá Nguyễn Văn Dư, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/43 Bộ Binh đã bị Việt-Cộng tìm tới tận nhà, đánh gãy hai chân rồi đem đi thủ tiêu mất xác.

Tướng Ðảo cũng cho chúng tôi hay, cựu Ðại tá Phạm Văn Phúc sau ngày ra tù thì tình nguyện ở lại Việt-Nam và đã qua đời.

Ở Hoa-Kỳ, hiện thời cựu Trung tá Nguyễn Văn Ðỉnh đã phải ngồi xe lăn, đi đâu cũng cần người phụ giúp.

Cựu Ðại tá Lê Xuân Hiếu và tôi thì chọn cuộc sống âm thầm, ẩn dật, chỉ giao thiệp với một số bạn bè giới hạn.

Còn cựu Thiếu tướng Lê Minh Ðảo, Ðại tá Hứa Yến Lến, và Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế lại thường xuyên xuất hiện trước công chúng, họp mặt với các hội đoàn.

Tướng Ðảo hay nói với tôi và anh Hiếu câu này:

“Mình là chứng nhân của lịch sử. Mình không kể lại, không nói ra, thì ai sẽ thay mặt cho mình đây?”

Hằng năm, cứ tới gần ngày 30 tháng Tư, thì cựu Thiếu tướng Lê Minh Ðảo lại bận rộn với những buổi thuyết trình, họp báo.

Nhân dịp này, đồng bào Việt Hải Ngoại lại được nghe Tướng Ðảo tường thuật lại diễn tiến từng ngày của chiến thắng lẫy lừng Xuân-Lộc năm xưa.

Trong những buổi họp báo đó, thế nào Tướng Ðảo cũng nhắc tới Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của Thiếu tá Vương Mộng Long như là một bất ngờ của trận đánh này.

Có một lần, khi trả lời phỏng vấn, vị cựu Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh đã cao hứng, khen Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là một đơn vị có cung cách đánh giặc thật “Thần Sầu”.

Tôi nghĩ rằng ở thế giới bên kia, linh hồn những người đàn em của tôi đã nằm xuống vì đất nước sẽ rất vui khi nghe được những lời tuyên dương của ông Tướng Tư lệnh Mặt Trận Long-Khánh.

Với người khác thì Thiếu tướng Lê Minh Ðảo là “Tư Lệnh” là “Người hùng” vì Tướng Lê Minh Ðảo là linh hồn của chiến thắng Xuân-Lộc lẫy lừng. Thiếu tướng Lê Minh Ðảo là người ở tù cải tạo lâu năm nhất. Sang Mỹ, ông cũng là một chiến sĩ chống Cộng không mệt mỏi. Ông Lê Minh Ðảo còn là một thuyết khách, đồng thời là một nghệ sĩ tài hoa.

Nhưng với riêng tôi, thì ông Ðảo lại là một người anh mà tôi thực lòng quý mến.

Ngoài tình đồng môn Võ-Bị, tình chiến hữu, giữa tôi và Tướng Ðảo còn những kỷ niệm khó quên trong thời gian chúng tôi chung sống khi bị giam giữ tù đày ở Trại cải tạo Nam-Hà A, ngoài Bắc-Việt.

Từ lâu rồi, ông Ðảo đã là “Anh Tư” của vợ chồng tôi.

Theo thông lệ, hàng năm chúng tôi đều hẹn gặp Thiếu tướng Lê Minh Ðảo một lần ở tư gia của Ðại tá Lê Xuân Hiếu dưới Portland, Oregon, để tâm tình và thăm hỏi nhau.

Mỗi khi gặp lại, tôi đều phải “báo cáo” với “Anh Tư” tình trạng hiện thời của cháu Tiên Giao, đứa con gái thứ ba của tôi, mà tên nó đã trở thành danh hiệu truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975.

Trong số một vài người mà tôi coi là thân thiết thì Anh Tư là người độc nhất biết tường tận từng bước trưởng thành của cháu Tiên Giao, từ khi nó bắt đầu vào đại học cho tới ngày nó trở thành một manager của một công ty lớn, rồi có gia đình, và có một cháu trai.

Lần chúng tôi gặp nhau gần nhất là tháng 9 năm 2014.

Từ năm 2015 chúng tôi không còn hội họp ở nhà anh Hiếu nữa, nhưng vẫn thường xuyên gọi điện thoại hỏi thăm nhau.

Và mỗi năm, theo thói quen, cứ tới ngày đầu tháng Tư tôi vẫn không quên vấn an vị cựu Tư lệnh chiến trường Long-Khánh; lần nào tôi cũng được nghe ông cổ vũ:
“Bây giờ em không còn súng! Nhưng em còn cây bút! Em cố gắng nói cho đồng bào mình, cho con em mình và thế hệ mai sau biết rằng, anh em ta đã đem hết sức mình để phục vụ quê hương, phục vụ đồng bào! Cố gắng nghe em!”

Cuối tháng Ba năm 2020 trên vòm trời Bắc Mỹ có một vì sao rụng.

Hằng Minh đã ra đi rồi!

Thế là từ đây, con chim đầu đàn của chiến trường Xuân-Lộc, Long-Khánh tháng Tư năm 1975 mãi mãi xa bầy.

Giờ này ở nơi thế giới mới xa thăm thẳm, Anh Tư có còn nghe được tiếng của em không?

“Hằng Minh đây Tiên Giao gọi! Tháng Tư lại về rồi! Hằng Minh ơi!”

VML

Seattle tháng Tư năm 2020

Mặt trận Đông Nam – Xuân Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 30th, 2020

Post by Sơn râu 30 July 2023

Kỳ 8

Tôi giao cho đại đội bộ binh tăng phái đóng quân dọc theo khu nhà chứa máy bay L19, thay thế cho Ðại Ðội Ðịa Phương Quân Bình-Long. Ðại đội bộ binh này sẽ giữ vai trò trừ bị. Còn Ðại Ðội Ðịa Phương Quân Bình -Long chuyển sang trấn giữ đoạn đường từ bìa rào trại 181 Pháo Binh tới đầu cầu, bắt tay với Ðại Ðội 4/82.

Giữa trưa bỗng có một chiếc tank T54 đơn độc đi cặp theo bờ đất phòng thủ của Xuân-Lộc rồi tiến vào vùng phục kích của Ðại Ðội 1/82. Chiếc tank bị bắn cháy ngay lập tức.

Tôi đang ngồi ăn cơm thì nghe ông phóng viên nhà báo và Binh nhì Phan Thọ hí hửng gọi nhau rồi theo nhau nhanh chân chạy vào vòng rào Trại 181.

Không lâu sau có tiếng phòng không 12.8 ly giòn giã phía ngoài xa. Rồi có tiếng Thiếu úy Học trong máy,

– Trình Thái Sơn! Thằng Thọ bị thương lủng ruột, máu ra nhiều lắm!

Binh nhì Phan Thọ thấy chiếc T54 nằm cách hàng rào không xa, nên rủ anh nhà báo ra đó để chụp cho nó cái hình kỷ niệm ghi lại cảnh nó hiên ngang đứng bên pháo tháp, chuẩn bị tháo khẩu đại liên đem về sân bay làm chiến lợi phẩm. Ðâu ngờ, chiếc tank thứ nhì vừa trờ tới, lập tức đạn đại liên vãi như mưa.

Chỉ trúng có một viên đại liên thôi, Binh nhì Thọ đã bị vỡ bụng, lộn cổ xuống đất rồi. Anh chàng phóng viên vứt máy chụp hình bò lê bò càng, nằm nép sau lưng chiếc xe bị cháy để tránh đạn.

Cũng may, lúc này pháo binh từ vòng đai kịp thời yểm trợ, bắn ào ào về hướng chiếc tank thứ hai khiến cho nó trở đầu chạy vào vườn chuối.

Tôi phải cho đại đội bộ binh tăng phái mở rộng vòng đai an ninh để Ðại Ðội 1/82 yên tâm làm công tác tải thương và kéo thép gai vòng quanh chiếc T54 vừa cháy, không cho địch kéo nó đi.

Tản thương xong, tôi cho Ðại Ðội 1/82 rút ra ngoài sân bay, đại đội bộ binh vào giữ trại Pháo Binh 181.

Xế chiều địch mở một cú đột kích bằng hỏa lực, với đủ loại súng bắn thẳng từ trong bìa rừng nhắm vào bờ rào trại. Tiếp sau đó là một đợt tấn công bằng bộ binh.

Mục tiêu của đợt tấn kích này là bờ rào chính Ðông của trại 181 Pháo Binh.

Chắc chắn đơn vị Việt-Cộng có mặt chiều nay là thành phần của E 209 Sư Ðoàn 7, vì cách tiến sát và tác xạ không khác những cán binh đã xuất hiện ở đây ba ngày trước. Kỳ này địch không có chiến xa tham chiến.

Lúc này hai phần ba quân số của tôi đã trải dài trên bờ Bắc con suối, nên tôi chỉ còn trông cậy vào những khẩu M16 của anh em Ðịa Phương Quân Bình-Long đang trấn giữ ngoài đầu cầu bắn tập trung về hướng Ðông Bắc để chi viện cho đại đội phòng thủ.

Tôi cũng gọi được anh Thiếu tá Dư, và yêu cầu anh cho khẩu cối 81 ly yểm trợ tối đa cho tôi.

Sau đó, không rõ do lệnh của ai mà trên đầu tôi có hai chiếc trực thăng võ trang xuất hiện rồi cứ vần vũ trên cao như có ý chờ.

Hình như hai chiếc tàu này đang giữ nhiệm vụ hộ tống cho hợp đoàn trực thăng nào đó, nay bất ngờ được chuyển vùng để yểm trợ cho chúng tôi.

Tới khi chiếc UH1 chỉ huy có mặt trên vùng thì tôi mới được người trên tàu gọi trong tần số của Chiến Ðoàn 43 Bộ Binh.

Hỏa lực hùng hậu của hai chiếc trực thăng võ trang đã khiến mũi tấn kích của địch bị bẻ gãy ngay. Vì không thấy khẩu phòng không nào của địch ló dạng, nên tôi yêu cầu trực thăng vũ trang tiếp tục đánh dọc theo hướng địch rút chạy, xa về hướng Ðông. Không lâu sau thì tiếng súng im.

Kết quả lần chạm súng này đã khiến cho đại đội bộ binh bị thiệt hại khá nặng, với năm người chết và hơn chục người khác bị thương. Công tác vận chuyển gần hai chục thương binh, tử sĩ ra khỏi vùng cũng tốn một thời gian khá lâu mới hoàn tất.

Tới tối, Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 báo cho tôi một tin vui là Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù Việt-Nam Cộng-Hòa đã vào vùng để tiếp viện cho Xuân-Lộc. Ông cũng yêu cầu tôi cố gắng cầm cự, chịu đựng thêm vài ngày nữa, hy vọng tình hình sẽ sáng sủa hơn.

Sáng 13 tháng Tư, nhiều cụm khói bốc lên trên vùng trời của xã Bảo-Ðịnh hướng Nam, cùng với tiếng nổ ì ầm của đại bác. Có lẽ giao tranh đã bắt đầu giữa quân Dù và đơn vị Việt-Cộng đã từng đánh nhau với tôi ngày trước đây.

Tới trưa thì nhiều đợt máy bay F5 và A37 luân phiên nhau nhào lộn trên trời.

Chiều 13 tháng Tư, trong tần số của Hằng Minh, tôi nghe được lời nhắn của Trung tá Nguyễn Văn Ðỉnh, Lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 1 Dù,

– “Nhí” yên chí giữ vững vị trí! Có anh vào tiếp tay với chú đây!

Trung tá Nguyễn Văn Ðỉnh xuất thân khóa 15 Võ Bị, tôi tốt nghiệp khóa 20, anh Ðỉnh gọi tôi là “Nhí” cũng là đúng thôi!

Bốn ngày nay, nguyên mặt trận hướng chính Ðông tôi chống đỡ đã khờ rồi, hai ngày vừa qua, tôi lại phải đối diện thêm một trung đoàn địch tiến đánh từ hướng Nam. Tôi nghĩ, không chóng thì chày Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi cũng tan hàng mất!

Nay được tin có một lữ đoàn Dù vào tiếp viện tôi mừng quá!

Những ngày kế đó, mặt chính Bắc và chính Ðông của tôi thật là yên tĩnh.

Tôi đã cho người đi vào khu vườn chuối, tìm được xác năm người lính chết trong rừng vì xe tank mấy ngày trước.

Ðại úy Hoàn nảy ra sáng kiến dùng lựu đạn khói màu vàng xịt trên thành chiếc PT76 và bốn chiếc T54 nằm sát hàng rào những giòng chữ “Tiểu Đoàn 82 BĐQ diệt tank”

Sáng 14 tháng Tư năm 1975 Ðại tá Hiếu ra lệnh cho tôi phải chuẩn bị đón tiếp một phái đoàn nghị sĩ và dân biểu Quốc Hội từ Sài-Gòn sẽ tới thăm chiến sĩ tiền tuyến.

Phái đoàn này dự trù sẽ tới quan sát những chiếc chiến xa bị Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bắn cháy.

Tôi cho Ðại Ðội 1/82 bung ra xa để giữ an ninh cho quý vị đại diện dân muốn có chứng tích chiến trường thì ra đứng chụp hình, chụp ảnh bên xác mấy chiếc chiến xa rồi đem về văn phòng mà treo.

Tới trưa thì phái đoàn Quốc Hội tới cổng trại 181 Pháo Binh trên chiếc xe GMC mười bánh.

Phái đoàn có bảy ông, ba bà, quần lượt, áo là thẳng nếp, lịch sự vô cùng.

Tôi dẫn phái đoàn đi một vòng quanh bờ Bắc con suối để các ông bà đại diện dân thăm hỏi và trao những gói quà tượng trưng cho những anh em hiện diện.

Phái đoàn còn đem cho chúng tôi một thùng sách báo Sài-Gòn. Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên và thích thú khi thấy trên mặt báo Chính Luận, Trắng Ðen và Tiền Tuyến có in hình những chiếc T54 được các báo ghi chú rõ ràng là do Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bắn cháy.

Thì ra những hình ảnh này đã được chụp và gửi đi do anh phóng viên đang có mặt ngay bên cạnh tôi kể từ ngày 10 tháng Tư năm 1975. Ngày nào anh ta cũng thậm thụt đi về giữa sân bay và tòa hành chánh để nhờ xe của Tiểu Khu chuyển tin ra Tân Phong.

Tin tức và hình ảnh từ Tân Phong sẽ bay về Sài-Gòn trên những chiếc trực thăng liên lạc, tiếp tế, tản thương. Ðôi khi tin tức còn được “quá giang” trên chiếc C&C của Chuẩn tướng Tư lệnh chiến trường.

Thấy quý vị dân biểu, nghị sĩ có vẻ háo hức muốn đi xem những chiếc chiến xa T54 đã bị bắn cháy, nên tôi giao cho ông tiểu đoàn phó nhiệm vụ hướng dẫn họ ra ngoài rào để chụp ảnh.

Vì con hẻm đã bị rào, khách quý đành phải khom lưng chui qua lỗ bò, lỗ dê mà ra.

Có vài vị thượng khách sau khi chụp hình xong, còn nhanh tay túm được mấy cái vỏ đạn đồng của đại bác, tính đem về văn phòng cắm hoa cho đẹp.

Trong khi chờ đợi quý vị dân biểu trở về, tôi đi một vòng quanh trại. Tới bên cái lô cốt hướng Ðông tôi giật mình khi bị một cháu bé bất thình lình níu tay,

– Chú ơi! Chú ơi! Ba con đâu rồi? Ba con đâu rồi? Con đói quá chú ơi!

Tôi cúi xuống nhìn mặt cháu bé, cháu gái cỡ chừng 5 hay 6 tuổi, mặt cháu xanh xao vì đói. Thấy cháu, tôi bỗng nhớ con tôi, đứa con gái đầu của tôi còn nhỏ hơn cháu gái này, tôi ôn tồn,

– Ba cháu đi hành quân chưa về! Cháu đói lắm hả? Ðể chú lấy cơm cho cháu ăn nhé!

Cháu bé dang hai tay ôm chân tôi rồi nức nở,

– Con đói! Con đói! Chú ơi!

Tôi bế cháu lên rồi thò đầu vào cửa lô cốt quan sát. Mùi hôi thối xông ra làm cho tôi nghẹt mũi. Có lẽ từ ngày đầu chiến trận, số gia đình binh sĩ trú ẩn trong cái pháo đài này đã không dám đi ra ngoài. Họ đã phóng uế ngay trên vị trí ăn ngủ của họ. Diện tích của cái lô cốt này chỉ chừng hơn một sải tay mỗi chiều mà chứa tới gần chục nhân mạng.

Một chị vợ lính tóc tai bù xù, ló đầu ra cửa sụt sùi,

– Thiếu tá ơi! Mấy ngày nay tụi em đói quá! Thiếu tá có gì cho mấy đứa bé ăn! Nếu không tụi nó chết mất!

Tôi quay qua ra lệnh cho anh lính cận vệ,

– Thằng Bích đem nồi cơm trưa của thầy trò mình ra chỗ nhà chứa L 19 chờ tao!

Vợ chồng Th/Tá Vương Mộng Long & Th/Tướng Lê Minh Đảo (USA-2009)

Cũng may là, trong thời gian qua Ðặc-Công của Việt-Cộng không nhắm vào cái trại 181 Pháo Binh bé tí này. Nếu chúng nó vào được đây thì chỉ cần một trái bộc phá ném qua lỗ châu mai thì gần chục nhân mạng nằm trong cái lô cốt hướng Ðông chắc chắn đã đi đời!

Tôi vội vàng bảo các chị vợ lính thu xếp những thứ cần thiết rồi đem con cái ra sân bay chuẩn bị di tản.

Nồi cơm trưa của ba thầy trò tôi chia không đủ một chén nhỏ cho mỗi thân nhân binh sĩ.

Những đứa bé ăn xong bát cơm rồi mà miệng vẫn còn nhóp nhép, thòm thèm. Dù đã vét sạch mấy hộp thịt Quân Tiếp Vụ, các cháu vẫn còn le lưỡi cố liếm láp những cái vỏ hộp mà chẳng chịu vứt đi.

Tôi ra lệnh cho ông tài xế sắp xếp chỗ cho ba bà vợ lính và mấy cháu nhỏ quá giang chiếc GMC này để về Tân-Phong lánh nạn.

Ðoàn quan khách đi thăm chiến trường đã quay trở lại. Tôi thấy mặt mũi vị nào cũng hớn hở, tươi vui.

Sẵn có ông phóng viên nhà báo đang ở đây, quý vị dân biểu, nghị sĩ đua nhau phát biểu những lời tuyên bố thật hùng hồn nhằm khích lệ tinh thần binh sĩ và trấn an dân chúng đô thành.

Bỗng đâu, từ hướng Ðông, một trái 75 ly bay “Vèo!” qua đầu phái đoàn, rơi xuống cuối phi trường hướng Tây, rồi nổ một tiếng “Ùm!”

Thế là quý vị đại diện cho dân miệng la chí chóe, chúi đầu xuống đất, nằm đè lên nhau ngay trên mặt lộ!

Tôi hét,

– Tất cả lên xe!

Ông hạ sĩ tài xế lập tức nổ máy, bóp còi, “Te! Te! Te!”

Bảy ông, ba bà dân biểu, nghị sĩ, vội vàng chen nhau leo lên xe, có người đánh rơi cả máy chụp hình và giày dép.

Chiếc xe lao đi, trên mặt đất còn lại năm sáu cái vỏ đạn 100 ly bằng đồng nằm chỏng chơ.

Quý vị dân cử mãi lo chụp ảnh, chụp hình, nên đã quên, không trao cho tôi số tiền mà Quốc Hội đã hứa thưởng cho mỗi chiếc chiến xa bắn được là 30 ngàn đồng một cái.

Tính tới ngày 14 tháng Tư năm 1975, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã bắn cháy và bắn hư hại trên một chục chiến xa địch, nhưng chúng tôi chỉ kiểm soát được sáu chiếc tank bị cháy ở gần vòng rào Trại 181 Pháo Binh.

Mỗi chiến xa Việt-Cộng chỉ có một khẩu 12.8 ly thôi, do đó chúng tôi chỉ gỡ được 6 khẩu phòng không đem về trưng bày nơi đầu phi đạo. Như vậy là Quốc Hội đã nợ Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân 180 ngàn đồng!

Nhưng ngày chúng tôi rút quân về tới Long-Bình, tôi chỉ nhận được 30 ngàn đồng tiền thưởng, gọi là tiền thưởng “tượng trưng”.

Tôi đã giao cho ông Ðại đội trưởng Ðại Ðội Ðịa Phương Quân Bình-Long 7 ngàn đồng, số tiền còn lại tôi chia đều cho các đại đội của tôi, vừa đủ cho mỗi người mua một bao thuốc lá!

Từ 15 tháng Tư tới 20 tháng Tư năm 1975 vùng trách nhiệm của tôi không có gì biến động lớn.

Sau khi Lữ Ðoàn 1 Dù tái chiếm xã Bảo-Ðịnh, thì đơn vị tôi chỉ còn giữ vai trò của một cái đe, yên tâm án ngữ mặt Tây Bắc suối Gia Liêu để cho quân Dù giáng những nhát búa chí tử lên lực lượng địch đang đóng chốt trong đồn điền của Thống tướng Lê Văn Tỵ.

Từ khi Lữ Ðoàn 1 Dù lâm trận thì ngày nào pháo binh của quân bạn cũng bắn liên tục vùng hướng Nam, rồi cứ thế tiến dần lên hướng Bắc.

Khi Pháo binh và Không quân oanh kích gần tuyến phòng thủ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân hơn thì Việt-Cộng bắt đầu thoát chạy ra bờ suối.

Con suối không lớn lắm, và cũng không sâu lắm, nhưng những cán binh Bắc-Việt đã không thể vượt qua, vì nơi bờ bên này hàng chục khẩu súng của Biệt Ðộng Quân đã sẵn sàng.

Những toán Việt-Cộng vượt thoát sau này đã biết bên bờ Bắc con suối có người, nên thay vì cắm đầu chạy thục mạng, chúng đã khôn hơn, biết cởi áo lót ra làm cờ trắng đầu hàng, rồi theo chân nhau từ từ bước tới.

Những tên bộ đội Bắc-Việt còn rất trẻ, mặt không còn hột máu, mắt không dám nhìn lên mỗi khi tôi và anh phóng viên nhà báo có lời hỏi han. Tên tù binh nào khai cũng giống nhau:

“Thưa Thủ trưởng, nhà cháu mới mười lăm. Nhà cháu là thanh niên xung phong, sau đổi thành tình nguyện quân đi giải phóng Miền Nam. Nhà cháu được học tập là vào Nam chỉ để tiếp thu, không cần đánh nhau! Nhà cháu sợ đánh nhau lắm!”

Ðại khái, cung từ khai thác tù binh, ngoài tên tuổi, đơn vị và ngày xâm nhập của chúng, chúng tôi không còn biết gì hơn. Cũng may là thời gian canh giữ tù không lâu, chỉ vừa nghe chúng tôi thông báo, thì vài ba phút sau ông Tỉnh trưởng đã cho xe ra mang chúng đi rồi.

Chúng tôi tiếp tục làm đe cho quân Dù làm búa, cho tới một hôm, pháo binh Dù “Xè! Xè! Oành! Oành!” nổ ngay trên tuyến phòng ngự của tôi! Gặp cảnh tản đạn này thì chỉ còn cách vắt giò lên cổ mà chạy, chần chờ gọi máy liên lạc được với quân bạn, chờ cho họ ngưng tác xạ, thì mình đã chết hết rồi! Tôi cho quân cấp tốc bỏ tuyến lui vào giữ sân bay.

Bố trí xong, tôi quay đầu nhìn lại thì thấy sau lưng mình có vài người lạ đang đuổi theo. Hóa ra đó là một tốp Việt-Cộng bị pháo dội trên đầu, nên bỏ hàng ngũ mà chạy chết. Bọn này vứt súng, cùng nhau phóng về hướng Bắc, ào qua suối rồi theo chân Biệt Ðộng Quân!  Tới đầu phi đạo thì bốn tên bộ đội Bắc-Việt vội vàng giơ hai tay lên trời đầu hàng! Ðợt pháo tập trung của quân Dù sáng hôm đó đã khiến cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi thiệt mất ba người chết, bốn bị thương!

Mặt trận Đông Nam -Xuân Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 24th, 2020

Post by Sơn râu 30 July 2023

Kỳ 7

Ba công tác này phải được ba Viễn Thám viên thực hành thật ăn khớp, nhịp nhàng. Thực hành mà trật nhịp thì cả toán Viễn Thám đó coi như khó mà thoát chết!

Nơi bìa rừng đột nhiên biến động!

Mặc cho chiếc tank cháy cản đường, những chiếc đi sau né sang một bên rồi tiếp tục tiến lên.

Khẩu Bazoka khai hỏa! Thêm một chiếc T54 nữa đứt xích!

Lúc này từ trong vòng đai phòng thủ của Chiến Ðoàn 43 cũng có nhiều họng súng nhắm vào đoàn T54. Lại thêm vài chiếc tank nữa bị hạ!

Nhưng, đoàn chiến xa bỗng đồng loạt tạt về bên trái hướng tiến. Vì bị tường đất phòng thủ che khuất, nên các chiến sĩ trụ trên vòng đai không còn thấy những chiếc xe tank, họ không còn có thể tiếp tục yểm trợ trực tiếp cho chúng tôi nữa.

Giờ này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bắt đầu lâm nguy! Hàng chục quả đạn 100 ly ào ào bay vào Trại 181 Pháo Binh và phi trường!

Tôi la lên,

– Anh em 1 mau vào núp sau các lô cốt! Còn tất cả anh em 2 và 3 men theo bờ rào rút ra đầu cầu!

Ra tới ngoài rào, tôi cho quân dàn theo cái rãnh thoát nước từ phi trường xuống đầu cầu, người này bố trí sát cánh người kia.

Bỗng đoàn chiến xa ngừng lại không tiến nữa. Chúng ẩn mình trong khu đồng tranh lòng chảo, nơi này nằm trong tử giác của những khẩu đại bác trong vòng rào của tỉnh.

Có tiếng Thiếu úy Học gọi cho tôi rồi báo cáo,

– Có mấy chiếc T54 bị bắn cháy đã được xe ủi đất của tụi nó kéo đi!

Tôi đánh liều chạy vào quan sát tình hình, quả thực ngoài kia có vài cái máy cày hạng nặng đang ì ạch kéo đi những chiếc chiến xa đã bị thương.

Tôi liên lạc được với Thiếu tá Nguyễn Văn Dư, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/43 Bộ Binh đóng trong vòng rào. Khẩu cối 81 ly của anh Dư đang rảnh, tôi yêu cầu anh bạn Dư bắn tập trung hai chục viên đạn nổ ngay nơi cửa rừng. Từ lúc đó cho tới chiều tối, không thấy chiến xa địch quay trở lại.

Chiều 10 tháng Tư tiếng súng trong thành phố có chiều lắng dịu. Ðại tá tỉnh trưởng báo cho tôi hay rằng cái tháp chứa nước đã bị chiến xa của Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh bắn sập, tụi Việt-Cộng nằm trên bể nước chết hết rồi!

Ông tỉnh trưởng cũng thông báo cho tôi biết, từ tối 10 tháng Tư, Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của Long-An sẽ được điều động vào trong hàng rào tiểu khu để bảo vệ tiểu khu.

Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của Long-An đi rồi, tôi không còn quân giữ nửa phần hướng Tây của phi trường, nên đành gọi Ðại Ðội Ðịa Phương Quân Bình-Long rút hết về đóng quân với tôi, phi đạo Xuân-Lộc đành bỏ trống.

Rạng đông 11 tháng 4 năm 1975, khởi đầu ngày thứ ba của trận Xuân-Lộc, thành phố lại lãnh thêm một trận mưa pháo kích lâu chừng hơn một tiếng đồng hồ.

Tôi không biết những khu vực khác tình hình ra sao, riêng mặt trận Ðông Nam thị xã thì phi đạo Xuân-Lộc đã hứng ít nhất là vài trăm viên đại bác. Phi trường này bị bỏ trống từ tối hôm trước, nên quân bạn không có ai bị thương.

Lúc pháo binh địch vừa dứt thì khói tím bốc lên trong vườn chuối, thêm một T54 bị làm thịt.  Hai toán chống tank của Ðại Ðội 3/82 đã ém quân chờ ở cửa rừng từ mờ sáng. Chiếc tank này đi riêng lẻ, có vẻ như đang bò ngu ngơ làm nhiệm vụ dò đường, nên chết liền tại chỗ.

Trưa ngày 11 tháng Tư lại có khói tím bốc lên trong vườn chuối, nhưng không thấy khói đen bốc lên, không nghe tiếng đạn nổ “Bùng! Bùng! Lép! Bép!”  do xe tank bị cháy, mà chỉ có tiếng đại liên 12.8 ly “Chóc! Chóc! Chóc! Chóc!” giòn giã vọng lại.

Tôi lo lắng ngồi chờ hoài. Mãi tới xế chiều, một anh trưởng toán diệt tank của Ðại Ðội 3/82 mới về tới cái cổng sau của doanh trại.

Anh binh nhì này tay trái ôm vai phải máu còn đang chảy, vừa nhăn nhó, vừa nói, “Toán 1 của em mới bắn được thằng Việt-Cộng giữ đại liên trên xe tank thứ nhất thì bị chiếc xe thứ hai phát giác. Hai thằng bạn của em chết liền, còn em bị đạn trúng vai. Toán 2 lên cứu tụi em thì chết hết rồi!”

Có lẽ địch quân đã biết chiến thuật diệt tank của chúng tôi rồi, nên chúng đã tìm ra cách đối phó lại. Từ giờ đó, tôi không dám cho quân mạo hiểm vào khu vườn xoài, rừng chuối nữa.

Cũng lúc này Ðại tá Lê Xuân Hiếu báo cho tôi hay, ông vừa ra lệnh cho khẩu đội hỏa tiễn TOW chạy ra giúp sức cho tôi ngăn tank của địch. Ở trong vòng rào và tường đất phòng thủ, họ không nhìn thấy những chiếc chiến xa này.

Nghe nói có TOW tới trợ lực tôi mừng quá, vội leo ra khỏi cái rãnh thoát nước rồi đứng chờ.

Chỉ mấy phút sau chiếc Jeep chở khẩu đội TOW xuất hiện.

Ông chỉ huy khẩu đội TOW nón sắt, áo giáp dềnh dàng, chẳng biết cấp bậc gì, chậm rãi bước xuống xe.

Tiếng ông sang sảng,

– Chiến xa Việt-Cộng đâu? Các anh mau mau chỉ cho tui! Chiến xa Việt-Cộng …

Ông ta chưa dứt câu thì, “Oành! Oành!”  hai trái 100 ly của chiến xa Việt-Cộng đã bắn trúng một gian chứa máy bay L19, làm cho mái tôn bay tung toé, khói bốc mịt mù.

Theo phản ứng tự nhiên, để giữ mạng, tôi và hai anh lính cận vệ nhảy ào xuống cái rãnh nước bên đường.

Các ông xạ thủ hỏa tiễn TOW cũng bỏ xe mà nằm bẹp xuống mặt lộ để tránh bị văng miểng.

Trái 100 ly thứ ba rơi trên phi đạo, quét một vệt lửa kéo dài cả chục thước rồi đốn ngã một gốc điều lộn hột.

Một phút sau, thấy tình hình có vẻ yên, tôi ngóc đầu lên quan sát xung quanh, thì thấy mấy ông xạ thủ TOW đang vội vàng giành nhau leo lên xe.

Thấy tôi đứng giương mắt ngó, ông khẩu đội trưởng bèn lớn tiếng phân bua,

– Ở đây cũng không có xạ trường! Chúng tôi chẳng nhìn thấy gì cả!

Lúc này tôi cũng nhận ra, ngoài miếng đất cao ở đầu cầu Gia Liêu thì không chỗ nào có thể đặt TOW được, nếu đem TOW ra đầu cầu thì khẩu đội này sẽ không được tường đất bảo vệ, chắc chắn sẽ bị tank tấn công. Tôi đành khoát tay cho phép khẩu đội TOW rời vị trí. Từ đó cho tới ngày trận Xuân-Lộc kết thúc, tôi không còn dịp tái ngộ khẩu TOW này nữa.

Chuyện khẩu súng chống tank TOW ra đi không làm cho tôi lo lắng bằng tin vừa nhận được là cây Bazoka 82 ly Trung Cộng đã bị đại bác 100 ly bắn nát rồi!

Chiều hôm đó Ðại tá Hiếu báo cho tôi hay, tin tình báo vừa ghi nhận có một đơn vị lớn của Cộng-Quân, không rõ phiên hiệu, mới được điều động tới vùng Ðông của xã Bảo-Ðịnh nằm trên Quốc lộ 1. Ông khuyên tôi nên lưu ý đề phòng. Sau đó, ông Ðại tá cũng hứa sẽ tìm cách kiếm thêm quân để gửi tăng viện cho tôi.

Vợ chồng cựu Th/Tá Vương Mộng Long nhận nón kỷ niệm của Sư Đoàn 18 BB.

Tôi nghĩ rằng, nếu đêm nay địch đồng thời mở hai mũi giáp công chính Ðông và Ðông Nam thì tôi chỉ còn cách cho anh em, ai ở chỗ nào nằm chỗ đó mà tự vệ, vì không còn lực lượng nào trừ bị cả.

Ðể có địa thế tương đối tốt có thể chống lại một cuộc tập kích từ hướng Nam, tôi cho quân căng hàng ngang từ bờ rào Trại 181 rồi cứ thế, kéo dài sát bờ Bắc suối Gia Liêu.

Con suối này không sâu lắm, bên hướng Bắc là vườn điều lộn hột, bên hướng Nam là một vạt cỏ trống trải, sau vạt đất trống là vườn cây chôm chôm và măng cụt. Mãi sau này tôi mới nghe biết tên của vườn cây này là Ðồn Ðiền Thống Tướng Lê Văn Tỵ.

Trời sập tối, tôi đang buồn vì chuyện năm anh lính diệt tank của Ðại Ðội 3/82 vừa chết mất xác thì Ðại Ðội 1/82 đã báo cáo rằng có tiếng chiến xa gầm rú vùng vườn chuối.

Tôi cho Ðại Ðội 1/82 bỏ phòng tuyến, rút vào cố thủ trong các pháo đài, chỉ để hai toán diệt tank nằm ở đầu hẻm, nơi chiếc PT76 bị cháy.

Ðồng thời, tôi liên lạc được với Ðại tá Hiếu, nhờ súng chống tank của Chiến Ðoàn 43 bắn tối đa vào khu vực này để ngăn địch.

Không lâu sau, ông chiến đoàn trưởng báo cho tôi hay đoàn chiến xa địch đã di chuyển về vùng Tây Bắc, nơi này là khu vực trách nhiệm của Chiến Ðoàn 52 Bộ Binh. Nghe xong tin này, tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Vào giờ đài BBC tiếng Việt bắt đầu phát tin thì Thiếu úy Phạm Văn Thủy Ðại đội trưởng Ðại Ðội 4/82 báo cáo rằng có nhiều ánh đèn pin lấp lóe trên hương lộ hướng Nam.

Tôi ở với Ðại Ðội 2/82 của Chuẩn úy Gấm cách cuối sân bay chừng một trăm mét, trước mặt tôi là con suối, xung quanh là vườn điều, cây cao, nên không nhìn thấy gì.

Tôi phải đem toán Viễn Thám của Mom Sol đi cùng tôi ra đầu cầu theo dõi tình hình. Rõ ràng bộ binh Việt-Cộng đang chuyển quân từ Ðông sang Tây.

Những chớp loé của ánh đèn pin không di chuyển mà lại nằm cố định như những cột mốc đánh dấu cho quân Việt-Cộng đi theo một hướng.

Tôi không có tiền sát viên pháo binh, muốn xin hỏa yểm phải gọi qua Chiến Ðoàn 43 Bộ Binh. Ðại tá Hiếu nói rằng, pháo binh trong vùng còn rất bận rộn, tôi không được ưu tiên vì chưa chạm địch.

Tôi mở tần số của Hằng Minh thì được biết pháo binh ở Tân-Phong cũng không rảnh.

Tôi mô tả tình hình địch cho Chuẩn tướng Ðảo, ông bảo tôi chờ sẽ có cách giúp đỡ. Mười phút sau tôi được tin sẽ có AC 119 cho tôi.

Cả tiểu đoàn chẳng có cái đèn pin nào để làm tín hiệu cho máy bay. Cuối cùng, tôi nghĩ ra một cách là gỡ vách ván, cột gỗ từ cái nhà chứa L 19 ra đốt một đống lửa giữa sân bay nơi đầu phi đạo, rồi chỉ hướng cho AC 119 cứ hướng 180 độ, tầm xa một cây số mà tưới đạn.

Chiếc AC 119 mới bay được một vòng, thả xong mấy trái hỏa châu và phun được một tràng đại bác 20 ly xuống vườn chôm chôm, măng cụt, thì từ hướng núi Chứa Chan phòng không 37 ly của Việt-Cộng bắt đầu khai hỏa.

Thế là con rồng lửa AC 119 bỏ ngang nhiệm vụ yểm trợ cho Biệt Ðộng Quân, quay qua đánh nhau tay đôi với phòng không Bắc-Việt.

Ðêm cuối tháng 2 Âm Lịch, bầu trời tối đen, chiếc máy bay lại tắt hết đèn cánh, đèn đuôi, nên chẳng biết nó đang ở chỗ nào. Ðùng một cái, nó tưới đạn, “Ồ! Ồ! Ồ!” trên rừng lá.

Phòng không Việt-Cộng vội đổi hướng, “Bụp! Bụp! Bụp!” đại bác 37 ly nhắm mắt bắn theo đuôi những lằn lửa 20 ly của máy bay.

Chiếc AC 119 có vẻ thắng thế, vì nó ở trên cao, nhìn xuống biết ngay địch thủ đang nằm chỗ nào. Còn giàn phóng 37 ly của Việt-Cộng nằm trong rừng, nên xoay trở đã khó, lại thêm tầm quan sát bị hạn chế nên hai bên đánh nhau được chừng mười lăm phút thì không còn thấy 37 ly hoạt động nữa.

Chiếc AC 119 trở lại vùng, thả hỏa châu và bắn yểm trợ cho tôi chừng mười lăm phút nữa thì bay đi.

Chiếc Khủng Long AC 119 rời vùng, nhưng tôi vẫn ngồi trên bờ suối, thức gần như trắng đêm.

Ðâu ngờ mới mờ sáng ngày 12 tháng Tư, tôi vừa chợp mắt được vài phút đã nghe bên tai, tiếng súng tay nổ rền, đồng thời trong phi trường sau lưng tôi, là ánh chớp chói lòa của thủ pháo “Ùm! Ùm! Ùm!”

Thì ra, có một mũi Ðặc-Công Việt-Cộng đã chui ra khỏi xóm nhà hướng Nam sân bay Xuân-Lộc. Chúng vừa chạy vòng vòng trên phi đạo, vừa ném bộc phá vào căn nhà vòm chứa vật dụng tu sửa và làm vườn không có người canh giữ.

Tiếp đó, bọn này tràn qua đường băng, tung bộc phá vào dãy nhà chứa máy bay L19, khiến cho nhiều tấm vách và mái tôn bay tung.

Chưa kịp bén mảng tới cửa trại 181 Pháo Binh, đám Ðặc-Công này đã bị các chiến sĩ Ðịa Phương Quân Bình-Long bắn chết hết.

Ngay khi mặt trời vừa lên thì nơi khu rừng hướng Nam có tiếng súng lệnh: “Bép! Bép! Bép!” chen lẫn tiếng la hét, và bóng người thấp thoáng.

Phút sau, tôi thấy bên kia suối, một toán bộ đội Việt-Cộng xuất hiện. Dạo này địch có vẻ thích đánh nhau ban ngày và đánh công khai!

Trước mắt tôi, địch quân từng đợt hàng ngang tiến, trông chẳng khác một đơn vị bộ binh đang diễn tập trong quân trường!

Việt-Cộng đánh nhau kiểu này thì chẳng khác gì nạp mạng cho Biệt Ðộng Quân!

Bên kia suối, từng hàng người tiến lên thật nhịp nhàng. Những tên bộ đội Bắc-Việt quân phục màu xanh, nón cối cũng màu xanh, ôm súng ngang hông, sát vai nhau; có một điều quái lạ là chúng không bắn một viên đạn nào, cứ lừng lững tiến.

Chẳng lẽ bọn này là những con người máy? Hay chúng là những hình nộm biết đi!

Ðịch không bắn ta, nhưng ta vẫn phải bắn địch vì địch đang tiến lên, địch chỉ còn cách ta chưa đầy một trăm mét, ngay bên kia bờ suối!

Vì đóng quân một hàng ngang, tuyến phòng ngự không có chiều sâu, nên tôi cũng chỉ là một khinh binh, với khẩu M16. Ðằng trước tôi không có ai, đằng sau tôi cũng không có ai.

Hôm đó tôi bóp cò súng mà cảm thấy ngón tay mình hơi nhờn nhợn, không biết những sinh vật đang lừng lững xông tới để cho mình giết có phải là con người hay không!

Sau này, lần đầu được xem phim “The Walking Dead” tôi vẫn tỉnh bơ, không thấy sợ, chỉ vì mấy chục năm trước, tôi đã tận mắt chứng kiến những thây ma đang sát cánh bên nhau, hàng hàng, lớp lớp, đi từ vườn cây Thống tướng Tỵ ra bờ suối Gia Liêu một ngày tháng Tư năm 1975 ở Xuân-Lộc.

Ít hôm sau, qua cung từ của những tù binh, tôi mới biết lý do vì sao những người lính Bắc-Việt cứ ôm súng lừng lững đi lên mà không bắn; chỉ vì họ đã được học tập là vào Nam, họ không cần phải đánh nhau, chỉ cần xếp hàng mà tiến vào “tiếp thu” những phi trường, quận lỵ và thành phố mục tiêu.

Sáng hôm đó, sau ba, bốn đợt tiến hàng ngang bị đốn ngã, đè lên nhau mà chết thì Cộng Quân có vẻ đã chùn bước.

Thấy vậy, tôi cho anh em cứ nhắm mắt bóp cò, đuổi bọn chúng đi càng xa càng đỡ lo.

Bắn địch bằng súng tay được chừng nửa giờ thì tôi được Hằng Minh đích thân thông báo rằng tôi sẽ có pháo binh yểm trợ tập trung.

Tọa độ vừa gửi đi không lâu, thì cả một vùng cây cối sum sê bên kia suối bị đạn đủ loại đánh cho tan tành, tơi tả.

Hằng Minh bay trên trời, hướng Tân-Phong, ông Tướng lớn tiếng thúc quân,

– Ðánh cho tụi nó tà đầu nghe em!

– Tôi nhận 5! Tụi nó tà đầu rồi!

Pháo binh tàn sát cái đồn điền xong thì mặt trận trở lại yên tĩnh.

Tới mười giờ thì Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 tăng phái cho tôi một đại đội tác chiến trực thuộc Tiểu Ðoàn 3/43 Bộ Binh.

Anh trung úy đại đội trưởng đại đội này là một sĩ quan hiện dịch tôi không nhớ tên, hình như chú ấy xuất thân khóa 24 Võ Bị (?)

Mặt trận Đông Nam -Xuân Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 16th, 2020

Post by Sơn râu 29 July 2023

Kỳ 6

Thấy pháo địch tạm ngưng, tôi chạy ra ngoài vòng rào, ra lệnh cho toán quân đang đóng chốt ở đầu con hẻm tiến lên chiếm cái PT76, rồi dùng nó làm một pháo đài phòng thủ.

Mặt khác, vì sợ rằng địch quân nhìn thấy chiếc PT 76 đã nằm chặn mất con đường hẻm, thì chúng sẽ dùng con hương lộ hướng Nam mà tiến lên, nên tôi lập tức ra lệnh cho Thiếu úy Thủy gỡ hai quả mìn chống chiến xa nơi đầu cầu, rồi dùng một trái Claymore kích hỏa cho hai quả mìn đó đánh sập cây cầu bắc ngang suối Gia Liêu.

Tôi cũng dặn chú Thủy nhớ cho hai toán chống tank của Ðại đội 4/82 lội qua suối, ém quân trong bụi để đề phòng những chiếc tank tiến lên theo hương lộ.

Ngay lúc này từ đầu sân bay, một chiếc Cessna đang vượt đường băng. Chiếc L 19 chất đầy hành khách, có những cái áo màu xanh, màu đỏ của phụ nữ.

Tôi đứng ngay cuối phi trường; anh phi công đã thấy tôi đưa cái bản đồ lên vẫy vẫy mấy cái, ngụ ý: “Chúc may mắn!”

Anh ta cũng thò tay ra cửa vẫy lại. Mấy chục năm qua rồi, nếu tình cờ đọc được những giòng chữ này, anh bạn Không Quân lái chiếc Cessna ngày ấy chắc sẽ nhớ lại kỷ niệm này.

Tôi trở vào tuyến phòng thủ, tiếp tục leo lên pháo đài.

Trong phố có tiếng súng giao tranh nổ rộ, đủ loại súng đang bắn nhau. Chắc địch đã có mặt trong trung tâm thành phố rồi!

Hình như sau khi pháo kích, địch bắt đầu mở những đợt tấn công trực diện vào các đơn vị trấn thủ trong vòng đai có bờ đất và hàng rào để hỗ trợ cho các mũi Ðặc-Công và Trinh-Sát đang có mặt trong thành phố.

Ðối lại, trên bờ đất phòng thủ, những khẩu đại liên, đại bác của quân ta cũng liên tục tưới đạn như mưa về hướng Bắc. Giờ đây bốn phương, tám hướng của Xuân-Lộc đều có đạn bay, lửa cháy thật là hỗn loạn.

Từ khu vườn chuối, vườn xoài, bộ binh địch bắt đầu đợt xung phong lần thứ hai. Vẫn những cành lá ngụy trang nhấp nhô trong đồng tranh.

Ðịch quân vẫn chưa nhìn thấy chúng tôi, địch quân lại bị đốn ngã.

Bỗng tôi thấy khói trắng liên tiếp phụt lên trong khu đất thấp của thung lũng trước mặt.

“Oành! Oành! Oành!”

Cái lô cốt mà tôi đang đứng lãnh hai, ba trái đạn đại bác 100 ly thì nghiêng qua một bên!

Tai tôi nghe được tiếng đạn nổ trước khi nghe tiếng súng khai hỏa chỉ vì đại bác của địch bắn tôi với cự ly quá gần.

Lúc này tôi mới phát giác, cách hàng rào của trại 181 Pháo Binh chừng hai trăm mét là năm hay sáu chiếc T54 xếp hàng ngang đang khạc đạn.

Cỏ tranh cao quá, súng lại nổ rền trời, nên đoàn xe tank tới gần bên mà tôi không hay.

Trên ngọn cỏ chỉ thấy những cái cần ăngten nhún tới, nhún lui, và thấp thoáng những cái pháo tháp nhấp nhô vì xe chạy trên thế đất lòng chảo quá lồi lõm và gập ghềnh.

Nơi bìa rừng, trên dốc, tôi còn thấy cả chục chiếc T54 khác đang chui ra từ con lộ đã được Công-Binh Việt-Cộng đánh dấu trước đây.

Nhìn đoàn T54 này chẳng khác gì một đàn bọ hung đang bò lổm ngổm.

Tôi vội nằm áp bụng trên nóc lô cốt, rồi theo chiều nghiêng của cái pháo đài, buông tay cho thân mình trượt xuống sân. Nhảy hai bước, tôi đã ngồi trong cái giếng cạn.

Ðoàn chiến xa bỗng chuyển đội hình, theo hàng một, vừa tiến vừa bắn “Ðùng! Ðùng!” nhắm vào hệ thống tường đất phòng thủ bao quanh thị trấn.

Chiếc T54 đi đầu mở hết tốc lực, rồi phóng tới húc mũi vào chiếc PT 76 đang nằm im.

Tiểu đội Biệt Ðộng Quân núp sau chiếc PT 76 bị hàng rào thép gai concertina chặn đường lui, bèn theo nhau chui vào cái lỗ trống trong rặng tre đực mà nhào vào sân trại.

Sau khi tông mạnh vào hông chiếc thiết vận xa, chiếc tank T54 cố sức hất chiếc chiến xa lội nước này sang bên phải con hẻm, để dọn đường cho nó tiến lên.

Bên phải là tường đất cao, với nhiều lớp hàng rào. Bên trái chỉ có lũy tre đực với một lớp rào, xe tank có thể đè lên rào tre để vòng qua chiếc PT76 đang nằm ụ.

Vị trí hiện thời của chiếc tank T54 chỉ cách ban chỉ huy của Ðại Ðội 1/ 82 chừng hai chục thước.

Ngồi trong cái giếng khô, tôi thấy Thiếu úy Ðặng Thành Học, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/82 đứng xõng lưng với khẩu súng chống tank trên vai phải.

Thiếu úy Học bóp cò!

Ðuôi cái ống phóng M72 phụt ra những tia lửa chói lóa cùng với tiếng “Ùm!”

Nhưng khổ thay! Khẩu M72 này quá cũ, quả đạn vừa ra khỏi nòng súng thì rơi ngay trên mặt lộ, cách hàng rào chỉ ba hay bốn mét. Trái đạn M72 lăn long lóc như củ khoai!

Tên xạ thủ súng 12.8 ly trên xe của Việt-Cộng đã nhìn thấy Thiếu úy Học, nó xoay mũi súng về bên trái,

“Choác! Choác! Choác!”

hàng tre đực bị đốn gãy gục xuống, đè trên đầu những người đang ngồi dưới dãy hố sau rặng tre.

Vừa hay chiếc T54 lui lại để lấy đà, vô tình cái đuôi của nó phơi bày trước mắt Hạ sĩ Mom Sol.

Anh Trưởng toán Viễn Thám 821 bấm nút!

Viên đạn M72 nhắm ngay bộ phận mềm nhất của chiếc chiến xa mà chui vào!

“Bùm!”

Con quái vật T54 hung hãn banh xác! “Năm anh em trên chiếc xe tăng” cũng banh xác theo!

Xăng, đạn trên xe phát nổ, “Ùng! Oành! Ùng! Oành!”

Chiếc tank này bị bắn cháy ngay bên hàng rào, đám lửa bùng lên, phừng phừng phà ra xung quanh, làm cho lớp rào tre cũng phát cháy theo, quân ta phải bỏ tuyến ùa nhau chạy vào sân, núp sau mấy cái lô cốt.

Lúc này trong cái lô cốt hướng Ðông, lũ trẻ con cũng bắt đầu khóc như vỡ chợ.

Nhìn thấy một chiếc AC 119 bay trên cao, tôi vặn máy truyền tin sang tần số giải tỏa của Chiến Ðoàn 43. May quá, tần số này không bị nhiễu loạn! Tôi xin được tần số không lục để liên lạc với chiếc AC 119.

Ðại tá Hiếu đang lo chống đỡ những đợt tấn công trực diện đang đè nặng trên phòng tuyến của ông, nên ông không có thì giờ liên lạc với cái máy bay trên trời, ông giao nó cho tôi.

Thế là chiếc AC 119 trút từng cơn mưa đạn 20 ly trên đồng tranh. Ðạn đại bác 20 ly không đục thủng được pháo tháp của chiến xa, nhưng chắc chắn có nhiều tên xạ thủ giữ súng 12.8 ly đã bị bắn chết, nên đột nhiên bọn T54 trở đầu chạy lui về hướng Ðông.

Tôi yêu cầu hỏa lực của AC 119 cứ tự do nhả đạn từ vùng đồng tranh, cách hàng rào 200 mét kéo dài về hướng Ðông.

Có một chiếc T54 còn nổ máy nằm ngay trong cái thung lũng thấp, nó bị M72 của Ðại Ðội 3/82 bắn đứt xích. Tên Việt-Cộng, xạ thủ 12.8 ly chết rồi, xác nó nằm vắt trên lườn xe, bốn người anh em “Sinh Bắc Tử Nam” của nó đã bỏ xe mà chạy mất dạng.

Trung úy Trần Văn Phước xin tôi cho phép chú ấy gửi người chui ra khỏi rào dùng lựu đạn thanh toán cái T54 này cho dứt hậu họa. Tôi trả lời đồng ý; vài phút tiếp đó, chiếc chiến xa này bốc cháy.

Xa hơn, về phía Ðông, còn một chiếc T54 nữa cũng đang nằm im trên đồi tranh. Tôi không dám cho người đi tới đó để kiểm soát.

Chiếc C&C của Hằng Minh lại xuất hiện trên trời, hơi xa về phía Nam, hướng Tân-Phong,

– Tiên Giao đây Hằng Minh!

– Tiên Giao nghe Hằng Minh!

Tướng Ðảo hỏi,

– Hình như có thêm mấy chiếc tank nữa vướng mìn của em rồi phải không?

Nghe ông Tướng nói, tôi phì cười,

– Không phải tụi nó bị mìn đâu! Tụi tôi vừa bắn đó!

Ông Tư lệnh reo lên,

– Qua biết em giỏi lắm mà! You’re excellent! Okay! Ðánh cho tụi nó tà đầu hết cục cựa nghe em!

– Vâng! Tôi sẽ đánh cho tụi nó tà đầu, hết cục cựa!

Chuẩn tướng Ðảo cho tôi biết rằng vài phút trước, Ðại tá Tỉnh trưởng đã đề nghị ông Tư lệnh cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vào tái chiếm các cơ sở, căn cứ mà địch đang chiếm giữ trong thành phố, nhưng Tướng Ðảo đã từ chối, vì thời gian này chúng tôi đang bị xe tank địch tấn công.

Tới xế chiều thì sự liên lạc giữa Tiểu Ðoàn 82 với Chiến Ðoàn 43 và Tiểu Khu Long- Khánh đã trở lại bình thường.

Tôi vắn tắt báo cáo cho hai ông đàn anh biết tình hình trong khu vực của tôi.

Tổng kết thiệt hại ngày hôm đó Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân có ba người bị thương nhẹ, không có người chết; Ðại Ðội Ðịa Phương Quân của Long-An hoàn toàn vô sự; còn Ðại Ðội Ðịa Phương Quân Bình-Long có hai người chết vì bị pháo kích, không ai bị thương.

Tôi xin hai ông chỉ huy tiếp tế thêm hỏa tiễn M 72 cho tôi, càng nhiều càng tốt.

Ông Ðại tá Tỉnh trưởng cho tôi hay Khách-Sạn Long-Khánh bị Ðặc Công chiếm giữ từ nửa đêm qua, tới giờ này Cảnh-Sát Dã-Chiến vẫn chưa lấy lại được.

Cái tháp chứa nước giữa phố cũng bị Việt-Cộng leo lên đặt một khẩu đại liên trên nóc. Từ đó, khẩu súng này đang là mối nguy cho các cánh quân của ta, Ðại tá Phúc đang yêu cầu xe tank của Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh đánh sập cái tháp chứa nước này.

Ðại tá Phúc cũng cho tôi hay, trong đợt pháo kích dữ dằn sáng nay của Cộng Quân, tư dinh của ông đã bị pháo địch bắn sập một phần, còn tư dinh của Tướng Ðảo hiện thời chỉ là một đống gạch vụn! May mắn là đêm qua Tướng Ðảo ngủ ở tiền cứ Long-Bình nên thoát nạn!

Giờ này, trong đường phố vẫn còn đánh nhau rất dữ, súng nổ không dứt.

Ðịa Phương Quân của Tiểu Khu Long-Khánh và quân của Chiến Ðoàn 43, Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh, cũng như Ðại Ðội Trinh Sát của Sư Ðoàn 18 còn đang tiếp tục tranh giành với địch từng thước đất trong vùng trung tâm thị trấn. Quân bạn phòng thủ vòng đai hướng Ðông và Bắc thị trấn cũng đã bắn hạ được nhiều xe tank của Cộng-Quân.

Cuối cùng, ông Phúc yêu cầu, nếu tôi còn quân (?) thì gửi vào tăng viện cho Tiểu Khu.

Mãi tới khi nghe tôi kể lại diễn tiến tình hình suốt ngày hôm đó của vùng Ðông Nam Xuân-Lộc, Ðại tá Phúc mới biết rằng chúng tôi không còn là đơn vị trừ bị cho chiến trường nữa, mà chúng tôi đã sớm trở thành một lá khiên ngăn địch ngay bên cạnh Tòa hành chánh tỉnh.

Nghe hiểu chuyện này, ông Ðại tá Tỉnh trưởng bèn gửi lời khen ngợi và cám ơn anh em đơn vị tôi đã giữ cho sân bay Long-Khánh và Tòa hành chánh tỉnh thoát một cuộc tấn công bất ngờ bằng xe tank của Cộng Quân.

Tôi cũng được Ðại tá Hiếu, Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 thông báo rằng, do tin kiểm thính của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh thì đơn vị Cộng-Sản tấn công chúng tôi là Trung Ðoàn 209 của Sư Ðoàn 7 Cộng-Sản Bắc-Việt phối hợp với một đơn vị tank của Quân-Khu 7 Cộng-Sản.

Cũng do tin kiểm thính mà tôi được biết rằng đơn vị cơ giới nặng gồm có xe tank T54 và xe ủi đất của Cộng-Sản đã tới tuyến xung phong chậm 15 phút vì đi lạc. Từ đó tôi mới hiểu vì sao đoàn chiến xa T54 đã tới sau chiếc PT76 một khoảng thời gian khá lâu.

Tôi leo ra ngoài hàng rào, đến quan sát cái lỗ mìn đôi đã nổ. Mặt đất chỉ bị khoét một cái hố to bằng cái thúng, vậy mà cả một phần bên trái chiếc thủy xa PT76 đã nát bươm. Còn chiếc T54 ở cách đó vài thước thì nằm bẹp sát mặt đất, bánh xích cháy đen, hình thù không khác một cục than.

Ngay ngày đầu chiến trận, đoàn chiến xa Việt-Cộng đã bị Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân chặn lại tại đầu con lộ đất dẫn vào phi trường Xuân-Lộc. Lưỡi dao găm của Thiếu tướng Hoàng Cầm đã bị chặt gãy ngay khi vừa rút ra khỏi vỏ!

Ðúng là, “Nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền định!” (Chuyện lớn, chuyện nhỏ trên đời đều đã do Trời sắp đặt!)

Nếu ngày 6 tháng Tư năm 1975 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi không có mặt ở đây, nếu tôi không chịu bỏ công đi thám sát con lộ này, không thấy những quả mìn đã bị tháo ngòi nổ, thì chắc chắn sáng ngày 9 tháng 4 năm 1975 những chiếc tank T54 của Quân-Khu 7 Cộng-Sản đã nằm đầy trong sân Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh và trên sân Tiểu Khu Long-Khánh rồi!

Tới tối thì Ðại tá Chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 43 gửi cho tôi một khẩu Bazoka Trung Cộng cùng 12 viên đạn. Ðây là một khẩu súng cá nhân chống tank với nòng 82 ly, rất nhẹ nhàng và dễ sử dụng. Khẩu súng này là chiến lợi phẩm do Sư Ðoàn 18 Bộ Binh tịch thu được của Việt-Cộng trước đây cả năm.

Ðêm xuống, thành phố Xuân-Lộc không ngủ, thành phố ngập trong lửa khói. Dưới đất, xung quanh vành đai phòng thủ là những hỏa tập pháo binh theo nhau bùng lên rồi tắt. Từ bờ thành phòng thủ, những tràng đạn lửa nối đuôi nhau và đan vào nhau bay ra đồng cỏ; trên không trung thì sáng lóa vì hỏa châu của quân bạn và đạn phòng không của địch.

Giờ này mặt trận Ðông Nam của tôi lại rất yên. Doanh trại 181 Pháo Binh ẩn mình dưới vòm tre xanh ví như một hòn đảo nhỏ dính vào cái đảo lớn, trên cái đảo lớn Xuân-Lộc là những hỏa diệm sơn đang sùng sục sôi và đang phun khói.

Ngồi trong chiến hào, chúng tôi chong súng chờ địch tới, mà trong lòng thì bình tĩnh như không. Vì mới qua một ngày đọ sức, chúng tôi đã thấy khả năng tác chiến của Trung Ðoàn 209, Sư Ðoàn 7 Cộng-Sản còn thua xa nếu đem so sánh với các trung đoàn chủ lực trực thuộc Sư Ðoàn F 320 A Cộng-Sản ở Tây Nguyên.

Nhất là trong tình hình hiện thời Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi còn có cả một sư đoàn quân bạn đang giữ lưng, nên chúng tôi cảm thấy thật là vững tâm, chẳng thấy lo lắng gì.

Sáng ngày 10 tháng Tư, tôi đích thân bắn viên đạn chống tank đầu tiên từ khẩu Bazoka 82 ly Trung Cộng nhắm vào cái T54 nằm trên đồi tranh. Chiếc xe này đã bị bắn đứt xích ngày hôm trước. Kết quả là, chỉ cần một viên 82 ly trúng ngang hông, chiếc chiến xa này đã cháy ngay!

Có một chuyện vui đã xảy ra sáng hôm đó là, sau khi tôi bắn cháy chiếc chiến xa trên bãi tranh thì lập tức, nhiều khẩu đại pháo của quân bạn nằm trong vòng đai thị trấn cũng nhắm vào nó mà bắn liên tục, khiến cho xác của chiếc T54 lúc thì bị quay ngang, lúc lại quay dọc!

Sau đó, Thiếu úy Ðặng Thành Học, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/82 là người được tôi ủy nhiệm cho công tác đánh tank T54 do Liên Xô chế tạo bằng khẩu súng chống tank 82 ly do Trung-Cộng chế tạo.

Mười giờ sáng thì có tiếng súng nổ nơi đầu vườn chuối, rồi một đám khói tím bốc lên.

Từ khuya, tôi đã gài sẵn hai toán Viễn Thám chống tank nơi bìa rừng. Trong trận này Viễn Thám không có máy truyền tin, nhưng nhìn và nghe những tín hiệu vừa xảy ra, tôi hồi hộp đợi chờ.

Chỉ một phút sau khi cụm khói tím dâng cao thì trong vườn chuối, một chiếc T54 đã bắt đầu nổ và bốc khói.

Tôi la lên: “Hoan hô! Hoan hô!”

Thiếu úy Ðặng Thành Học cũng nhảy tưng tưng, phụ họa theo, “Hoan hô! Hoan hô!”

Toán Viễn Thám 823 quả là giỏi! Thuộc bài quá!

Trong thời gian còn ở Kiến-Ðức tôi đã bỏ công, bỏ sức ra nhiều ngày để huấn luyện cho một số chuyên viên, thực hành nhuần nhuyễn bài học đánh tank có một không hai này.

Ai cũng biết, khi di chuyển trên đường trường, nhất là trên những đoạn độc đạo nguy hiểm, các đơn vị xe tank, dù của ta hay của địch đều phải giữ cự ly khá xa. Ðó là dịp may để ta có thể bắn hạ từng chiếc một.

Trước hết, ta phải bắn chết tên xạ thủ 12.8 ly, nó là tai mắt của chiếc tank; tiếp theo là bung một quả lựu đạn khói, làm màn chắn che mắt cái tank bạn của nó ở cách nó không xa, không cho xạ thủ cây đại liên trên xe thứ hai có thể thấy mình mà bắn; sau cùng là bóp cò khẩu M72, nhắm ngay phần phun khói sau đít cái tank mục tiêu, đây là phần mỏng nhất, dễ bắn thủng nhất.

Mặt trận Đông Nam – Xuân Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 10th, 2020

Post by Sơn râu 29 July 2023

Kỳ 5

Tướng Ðảo ngỏ ý muốn tôi dẫn ông đi một vòng của tuyến phòng thủ để thăm hỏi và khích lệ tinh thần anh em binh sĩ.

Lúc này tôi mới rõ dụng ý của ông Tướng, cố ý đi một mình, không đem theo tùy tùng, để thuộc cấp nhìn vào, thấy được sự hòa đồng, bình dị của ông.

Dừng chân nơi đầu con hẻm, chỗ tôi đặt cái chốt hỗn hợp Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân, Tướng Ðảo thắc mắc,

– Hình như Long mới cho rào con lộ này thì phải?

Tôi phải từ từ kể cho ông Tướng nghe chuyện tôi đã phát giác ra những quả mìn đã bị tháo ngòi, chuyện Việt-Cộng đã đánh mốc con đường ở ngoài kia, và chuyện tôi chuẩn bị bãi mìn, rồi rào giậu ra sao cho ông Tướng Tư lệnh Sư Ðoàn biết.

Nghe xong, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh vội nắm tay tôi,

– Ði! Long phải dẫn qua đi quan sát con hẻm này ngay!

Tôi ra lệnh cho các quân nhân đang giữ cái chốt đầu con hẻm gỡ một bên rào, rồi tiến ra ngoài bãi tranh giữ an ninh, để cho ông Tư lệnh chiến trường đi thám sát trận địa.

Tướng Ðảo đã thận trọng bước từng bước một theo con hẻm, bỏ công quan sát từng hố mìn, từng lớp kẽm gai, rồi đứng ngẩn người hồi lâu như đang suy tính điều gì đó.

Ra tới ngoài đồng cỏ, ông Tướng còn muốn tôi dẫn ông tiếp tục thám sát con đường mà Việt-Cộng đã cắm mốc trong vườn xoài, vườn chuối, nhưng tôi không đồng ý,

– Tôi không thể đưa Chuẩn tướng đi vào rừng được, nguy hiểm lắm! Nếu có chuyện bất trắc, sợ rằng mình trở tay không kịp.

Sau vài phút ngắm nhìn khu đồng tranh và vườn chuối ngoài xa, ông Tướng giơ tay chỉ về phía bìa rừng,

-Tối nay em nhớ gửi cho qua một hỏa tập đánh chặn ngay cửa rừng, phòng khi địch ào vào cánh đồng tranh kia thì mình khóa đít nó lại bằng pháo binh, khiến cho chúng nó tiến không được, mà thối cũng không xong!

– Thưa Chuẩn tướng, chiều hôm qua tôi đã đưa những hỏa tập tiên liệu cho Ðại tá Hiếu rồi!

Về tới cổng trại 181 Pháo Binh, Tướng Ðảo dang hai tay ôm vai tôi thật thân thiết,

– Em giỏi! Qua công nhận là em giỏi! Hổm rày qua đã coi thường em, tính cho em ở càng xa thành phố càng tốt, không ngờ chuyện cho em đóng quân ở đây lại là điều may! Nếu giao chỗ này cho ai khác, không phải là em, thì yếu điểm này đã bị bỏ quên rồi! Chúng ta sẽ chết vì con hẻm này! Mai mốt phải đánh nhau mà xe tank địch bị chận lại ở đây thì em là người có công đầu đó! You’re excellent!  

Nghe lời khen của Tướng Ðảo mà lòng tôi cứ dửng dưng, không mảy may vui thích hay tự hào.

Ở Vùng 2, tôi đã từng được Tướng Ân, Tướng Du, Tướng Toàn, Tướng Cẩm, Tướng Niệm… vỗ vai khen giỏi nhiều lần rồi, vậy mà đầu tháng 3 năm 1975, trên đồi Kiến-Ðức, tôi chỉ biết chết đứng giữa trời mà nhìn gia đình vợ con tôi đắm chìm trong biển lửa Ban Mê Thuột.

Tôi đưa ông Tư lệnh vào căn cứ 181 Pháo Binh để cho ông trò chuyện với anh em binh sĩ đang tạm trú nơi này. Sự ân cần, thân ái của ông đã làm những người lính Thượng của Vùng 2 cảm thấy được an ủi phần nào.

Lúc trở ra, qua cái lô cốt cổng chính, nhìn thấy mấy cháu bé đang chơi đùa giữa sân, Tướng Ðảo ngạc nhiên,

– Gia đình binh sĩ của Long hay của đơn vị nào vậy?

Tôi lắc đầu,

– Ðó là gia đình của các anh em Pháo Binh Sư Ðoàn. Con cái của chúng tôi đã mất hết rồi! Ở Ban Mê Thuột!

Nghe tôi trả lời, Tướng Ðảo bèn cầm tay tôi, nhỏ giọng,

– Qua biết vì sao về tới đây em lại dùng danh hiệu “Tiên Giao” Mong rằng hiện thời cháu bé Tiên Giao, con gái của em, vẫn bình an. Ðại tá Hưng đã kể cho qua nghe tình trạng hiện thời của gia đình em. Qua cũng đã nghe Trung tướng Tư lệnh Quân Ðoàn nhắc lại những chiến tích của em ở Vùng 2. Trung tướng ngợi khen em lắm! Qua rất ân hận trong mấy ngày vừa qua, qua đã đối xử với em không tốt. Bây giờ thì qua biết lỗi rồi. Qua tin rằng những ngày sắp tới, anh em mình sẽ không còn gì lấn cấn nữa. Em và những người lính của em đã chịu thiệt thòi quá nhiều mà vẫn còn giữ được kỷ luật như thế thì quả là rất đáng khen. Trong cuộc chiến tranh này, những quân nhân nơi tuyến đầu là những người chịu hy sinh và thiệt thòi nhiều nhất. Qua rất thông cảm với em và những người lính dưới quyền em! Từ nay có gì cần tới qua giúp thì em cứ nói, đừng ngại ngùng gì cả”

Nghe Tướng Ðảo nói, tôi chợt thấy được an ủi phần nào.

Ông Toàn và ông Ðảo là hai hình ảnh trái ngược nhau, ông Toàn thô lỗ, cộc cằn bao nhiêu thì ông Ðảo ân cần, lịch sự bấy nhiêu.

Trung tướng Nguyễn Văn Toàn là một sĩ quan Quân Phiệt; ông ta chỉ huy bằng quyền lực, và hình phạt. Trong thời gian hơn hai năm làm việc dưới quyền ông, tôi chưa từng được nghe ông nói một câu thân tình. Với Tướng Toàn chỉ có “lệnh!” và “lệnh!” cùng với hình phạt.

Trong khi đó, làm việc với Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo, tôi thấy dễ chịu hơn, thoải mái hơn. Qua tiếp xúc lần này, tôi đã thấy rằng Tướng Ðảo là một người chỉ huy còn có một trái tim biết rung động, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn của những người dưới quyền mình.

Ít có ông Tướng nào tự nhận mình có lỗi trước mặt thuộc cấp, rồi có lời hối lỗi.

Ngày hôm nay Tướng Ðảo đã cho tôi một cái gương sáng về nhân cách để noi theo.

Trước khi lên máy bay để về Long-Bình, Chuẩn tướng Tư lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh móc túi đưa cho tôi mảnh giấy nhỏ ghi tần số riêng của ông và căn dặn tôi phải có một cái máy vô tuyến giữ tần số đó để cho ông có thể liên lạc trực tiếp với tôi khi cần.

Sau thời gian một tháng, đêm nào cũng chập chờn, tối ngày 8 tháng Tư năm 1975, tôi an tâm lên võng, đi ngủ sớm.

Thế rồi, rạng đông ngày 9 tháng Tư năm 1975, lúc trời còn mù sương, tôi giật mình thức dậy.

“Ùm! Ùm! Ùm!” – “Vèo! Vèo! Vèo!”- “Xèo! Xèo! Xèo!”- “Oành! Oành! Oành!” từ ba hướng Ðông, Tây, và Bắc, đủ loại đạn xé gió bay vào Xuân-Lộc.

Tôi phóng xuống đất chạy ra tuyến phòng thủ của Ðại Ðội 1/ 82, ở đó tôi có cái hầm dã chiến với hình thù của một cái giếng lộ thiên.

Ðất Xuân-Lộc là loại đất pha đá tổ ong, moi được một cái lỗ đường kính bốn gang tay, sâu tới đầu gối đã là trần ai rồi, mong gì đào được những đường giao thông hào cao một đầu, một với và những cái hàm ếch chống pháo như ở Pleime!

Hố cá nhân chỉ che được nửa người, nếu bị cối bắn tập trung trên mục tiêu thì lính của tôi bị đứt đầu như chơi.

Tôi nghĩ rằng, khi điều nghiên trận địa, thấy căn cứ này chỉ là mấy cái nhà tôn bị bỏ trống, không người canh gác, nên địch đã loại cái trại này ra ngoài danh sách những mục tiêu cần đánh phá.

Thêm vào lý do đó, có thể bề mặt của trại 181 Pháo Binh này quá nhỏ, nếu so với diện tích của toàn thị trấn Xuân-Lộc thì chẳng thấm vào đâu. Vì thế mà, trong suốt thời gian địch pháo kích, chẳng có trái đạn đại bác nào rơi trên vị trí Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trú đóng cả.

Ðạn cứ “Vèo! Vèo! Xèo! Xèo!” bay qua đầu chúng tôi rồi nổ “Oành! Oành! Ùm! Ùm!” toé lửa trên phi đạo, trên đường phố, trên các tòa nhà lầu của Tòa hành chánh tỉnh.

Trong gần hai giờ đồng hồ, thị trấn Xuân-Lộc đã hứng chịu hàng chục nghìn trái đạn 130 ly, 122ly, 105 ly và 120 ly.

Tôi leo lên cái lô cốt giữa sân trại nhìn về hướng thành phố. Thành phố Xuân-Lộc đang bốc cháy! Lửa đỏ, khói trắng, khói đen ngùn ngụt bốc lên cao.

Trong thời gian ba ngày ở đây, tôi mới có dịp đi qua thị xã này hai ba vòng nên chẳng biết gì, ngoài Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, và cái chợ. Hình như lúc này cái chợ đang cháy, và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn cũng đang cháy.

Ông đại đội trưởng Ðịa Phương Quân Bình-Long gọi tôi, báo cáo rằng phi đạo đã lãnh hàng trăm viên đại bác, ông ta phải cho quân dạt về hướng Nam, tá túc trong vườn chuối và vườn cây điều lộn hột trong xóm nhà dân.

Ông trung úy còn yêu cầu tôi cho phản pháo ngay trên vài tọa độ mà ông ta mới chấm được.

Cựu Th/Tá Vương Mộng Long & cựu Th/Tướng Lê Minh Đảo cùng vài anh em cựu sĩ quan của Sư Đoàn 18 BB (USA 2009)

Tôi nói với ông ấy cứ yên trí bám sát bìa Nam của sân bay. Có gì lạ, tôi sẽ cho lệnh sau. Hiện thời thì pháo binh của ta cứ mạnh ai nấy bắn. Pháo địch có mặt khắp nơi vùng hướng Bắc, Ðông, và Tây; không có ai rảnh mà nhận đơn phản pháo!

Tôi không liên lạc được Trung Ðoàn 43 Bộ Binh, cũng không liên lạc được Tiểu Khu Long-Khánh; các tần số đều tắc nghẽn, đài này át đài kia, chẳng nghe được gì cho trọn câu.

Tôi mở tần số của Hằng Minh thì nghe ông Tư lệnh đang đàm thoại với anh sĩ quan điều không tiền tuyến đang bay trên chiếc phi cơ L 19. Không Quân Việt-Nam Cộng-Hòa đã hiện diện, hai chiếc F 5 vừa trút bom xong, bay đi, thì hai chiếc A 37 đã có mặt.

Bom đạn của oanh tạc cơ tạo thành một màn khói bụi thứ hai bốc nhanh lên trời cao. Bầu trời sáng nay không có gió, nên khói, bụi cứ cuồn cuộn tới mây mà chưa tan.

Có nhiều tiếng “Lụp bụp! Lụp bụp!” giòn giã trong mây, đó là tiếng nổ do đạn 37 ly và 57 ly phòng không của địch.

Những lúc máy bay của ta vắng bóng trên vùng thì 37 ly của Việt-Cộng lại hạ nòng quét qua quét lại trên tường thành phòng thủ.

Có lúc góc quét của những giàn phòng không này chệch về hướng Ðông Nam khiến cho từng chùm lửa của 37 ly cứ bay “Vèo! Vèo!” qua đầu chúng tôi rồi toé khói trong rừng cây.

Tôi đứng trên pháo đài, tay cầm điếu Lucky nhìn từng đám khói đen, khói trắng, bốc lên trong phố, cứ như mình là một người ngoại cuộc, đang nhìn người khác biểu diễn cho mình coi.

Thấy chỗ mình đóng quân yên như bàn thạch, ông tiểu đoàn phó cũng leo lên đứng cạnh tôi.

Bất thình lình, trên ngọn tranh trong đồng cỏ ngoài xa, có một lá cờ xanh đỏ đang nhấp nhô lao tới! Khẩu 12.8 ly trên chiếc xe tank liên tục nhả đạn “Ðùng! Ðùng! Ðùng!” về phía trước.

Có lẽ xạ thủ Việt-Cộng không biết địch nằm, ngồi chỗ nào, nên hắn cứ tưới đạn lên hàng rào kẽm gai của tường đất phòng thủ.

Ðứng trên lô cốt, tôi và Ðại úy Hoàn nhìn thấy một chiếc PT76 hình thù như một cái xà lan, với lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam căng gió đang nhắm hướng con hẻm bên hông trại 181 Pháo Binh mà từ từ tiến tới. Sau lưng nó là những cành lá ngụy trang của một đoàn quân rất đông đang di động.

Trong gió, tai tôi nghe tiếng cán binh tùng thiết bắt đầu reo hò “Xung phong! Xung phong!”

Trên đồng cỏ, Cộng Quân đang diễn tập màn đánh hiệp đồng bộ binh, thiết giáp trước mặt những tay súng bách chiến vừa về từ Vùng 2 Chiến thuật.

Có điều những người đang diễn tập đó không biết chúng tôi đang có mặt trên phòng tuyến để chờ đợi họ. Còn họ thì cứ cắm đầu chạy trong đồng tranh cao quá đầu người, không biết rằng sau rặng tre xanh, có hàng trăm cặp mắt đang theo dõi họ.

Tôi ra lệnh cho Ðại úy Hoàn,

– Cho tất cả anh em bắn đan cánh sẻ!

Ông Hoàn lớn tiếng ra lệnh:

“Chuẩn bị! Chuẩn bị!”

Tiếp đó ông Ðại úy dang hai tay ngang vai rồi đánh chéo hai cánh tay lại thành chữ “X” trước ngực, giống như người ta ra thủ lệnh cho một chiếc trực thăng hạ cánh; hiệu lệnh này tất cả anh em trong đơn vị đều đã thuộc nằm lòng, họ tự động xoay mũi súng, một về trái, một về phải chờ đợi.

Khi nghe ông tiểu đoàn phó ban khẩu lệnh “Bắn!” thì cứ thế, xạ thủ bóp cò, chỉ một hướng không thay đổi.

Hàng trăm lằn đạn M16 giao nhau, ngoài đồng cỏ tranh, những cành lá ngụy trang bị đốn ngã, không đứng lên được nữa.

Chỉ một phút sau, không còn cán binh Việt-Cộng tùng thiết nào chạy sau chiếc xe tank.

Trong hàng rào các chiến sĩ Cộng-Hòa vừa siết cò súng, vừa la: “Biệt Ðộng Quân! Sát! Biệt Ðộng Quân! Sát!”

Tiếng la vang dội trên cánh đồng lồng lộng gió, khiến cho những bộ đội Cộng-Sản mới ló đầu ra khỏi vườn chuối đã hoảng hồn vội vàng quay đầu co giò chạy ngược vào rừng.

Trong khi đó chiếc thủy xa PT76 cứ lừng lững tiến vào con hẻm; tên xạ thủ phòng không 12.8 ly và năm, sáu cán binh ngồi trên lưng nó đã bị Biệt Ðộng Quân bắn chết hết rồi.

Bên hàng rào tre đã có bốn năm khẩu M72 sẵn sàng! Có lẽ việc bắn hạ chiếc xe này còn dễ hơn là chuyện bắn cho trúng cái mục tiêu giả nằm ẩn hiện trong rừng Kiến-Ðức mỗi khi thực tập.

Vượt qua cửa ngõ của tử lộ vài thước thì guồng quay xích của chiếc chiến xa Việt-Cộng bị thép gai vòng cuốn chặt khiến cho nó cứ xoay dọc, rồi lại xoay ngang; nó rướn lên hai mét rồi lại lui hai mét.

“Ùm!” xích xe cán trên quả mìn đôi! Cùng lúc, một trái đạn M72 bay tới! Ngay lập tức, chiếc thủy xa PT76 bốc cháy như ngọn đuốc!  Nó đã cháy trong thế quay ngang, nên đương nhiên biến thành một cái ụ bằng thép chắn trước mặt con hẻm độc đạo dẫn vào sân bay Xuân-Lộc!

Xăng cháy, đạn dược chứa trong xe cũng cháy theo rồi nổ “Ùng! Ùng! Ùm! Ùm! Lép bép! Lép bép!”

Cột khói đen từ chiếc PT 76 ngùn ngụt bốc lên cao ngút, đã gây chú ý cho những người ngồi trên chiếc trực thăng chỉ huy đang bay trên không phận Xuân-Lộc.

Trên máy vô tuyến có tần số riêng của Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo tôi nghe ông la lên,

– Tiên Giao đây Hằng Minh! Tiên Giao đây Hằng Minh!

Tôi chụp ống liên hợp,

– Tiên Giao nghe!

– Tiên Giao vừa bắn cháy một chiếc tank có phải không? Qua thấy khói đen đang bốc lên ở chỗ em!

 – Ðúng ra thì chiếc PT 76 này vướng mìn trước khi bị bắn!

– “Dzậy” là tụi nó tới số rồi! Tụi nó chui đầu vào cái bẫy của em! Em là Number One đó!

Bất thình lình trên trời, chiếc C&C hạ cao độ một cách thật đột ngột, thật khẩn cấp, như thể là nó đang rơi tự do!

“Bụp bụp! Bụp bụp!” đạn phòng không 37 ly của Việt-Cộng đua nhau nổ như pháo bông giữa ban ngày để nghênh đón chiếc C&C của ông Tướng Tư lệnh! Cuộc điện đàm bị cắt đứt. Chiếc C& C bị bắn rớt rồi hay là đã bay đi đâu mất tôi cũng chẳng biết.

Mười lăm phút sau tôi mới nghe lại được tiếng Chuẩn Tướng Ðảo, lúc này trực thăng của ông đang bay xa về hướng Nam để tránh phòng không.

Mặt trận Đông Nam – Xuân Lộc 1975

baotreonline.com

Vương Mộng Long

July 3rd, 2020

Post by Sơn râu 28 July 2023

Kỳ 4

Người ta nói trong trận Xuân-Lộc tháng Tư năm 1975 cả hai ông Tướng Hoàng Cầm và Lê Minh Ðảo đều được đánh giá là toàn hảo. Cả hai vị chỉ huy Nam Quân và Bắc Quân đều đã bỏ ra rất nhiều công sức để chuẩn bị trận đánh này.

Nếu không có những biến chuyển bất ngờ thì chắc chắn trận Xuân- Lộc sẽ diễn tiến đúng theo bài bản đã dựng sẵn của cả hai ông tư lệnh.

Chiều hôm qua trong lúc vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn để xin mấy bộ bản đồ Xuân-Lộc và cái đặc lệnh truyền tin, tôi đã được nghe Ðại tá Hứa Yến Lến kể sơ lược tình hình bạn và địch trong vùng.

Lực lượng bạn gồm có Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, và lực lượng Ðịa Phương Quân của Tiểu khu Long-Khánh, nay được tăng cường thêm một đơn vị Biệt Ðộng Quân duy nhất là Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi.

Qua lời Ðại Tá Lến, tôi biết thêm, trong thời gian vừa qua Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo đã bỏ công thiết trí nhiều vị trí chỉ huy tiền tiêu, phòng khi chiến trận xảy ra, bộ chỉ huy hành quân có thể di động từ vị trí này tới vị trí kia. Pháo binh cũng di động không ngừng. Ðặc biệt là khi bắn phá thì tập trung hỏa lực để tăng cường hiệu quả.

Về phía địch thì hầu như ai cũng hay, sau khi thanh toán xong Vùng 1 Chiến Thuật và Cao-Nguyên Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa, Cộng Quân đã có đủ trong tay yếu tố tất thắng gồm cả nhân lực và khí tài.

Bản tin tình báo do Phòng 2 Quân Ðoàn III cung cấp cũng ghi rõ, người chỉ huy binh đoàn Cộng Quân sẽ tiến công Xuân-Lộc là một danh tướng của Miền Bắc, Thiếu tướng Hoàng Cầm.

Tôi đã biết Hoàng Cầm là người từng chỉ huy các đơn vị Cộng-Sản đánh chiếm căn cứ Biên Phòng Bu Prang ở làng Bù Bông, Quảng-Ðức cuối năm 1973.

Hoàng Cầm cũng là người chỉ huy trận Phước- Long đầu năm 1975. Ngày đó tôi đang trấn giữ vùng giáp ranh Quảng-Ðức và Phước-Long; những quân nhân thoát chạy từ Phước- Long về Quảng-Ðức phần nhiều đều do đơn vị dưới quyền tôi tiếp cứu, trong số đó có ông Thiếu tá Cảnh-Sát Quốc-Gia Phước-Long tên là Tư.

Từ cuối năm 1974 tôi đã từng đối mặt với Trung Ðoàn 271 trực thuộc Sư Ðoàn 7 Cộng-Sản Bắc-Việt của Hoàng Cầm trong một thời gian khá dài.

Vài ngày, trước khi rút khỏi Quảng-Ðức, tôi đã đánh cho đơn vị này một trận thất điên bát đảo.

Hiện thời, tại chiến trường Long-Khánh, dưới quyền Thiếu tướng Hoàng Cầm có 3 sư đoàn bộ binh cùng với một trung đoàn xe tank và một trung đoàn pháo binh. Ðó là chưa kể tới lực lượng địch dự bị tăng viện cho mặt trận này có thể lên tới cấp quân đoàn.

Ai cũng biết ba yếu tố quyết định thắng lợi của một trận đánh là: “Thiên Thời, Ðịa Lợi, và Nhân Hòa”

Trong chiến dịch này, Tướng Hoàng Cầm đã nắm chắc hai trong ba yếu tố quan trọng trên.

1) Về “Thiên Thời” bây giờ đang tiết cuối Xuân, đường sá khô ráo, việc vận hành quân lương, binh lính và cơ giới thật thuận tiện.

2) Về “Ðịa Lợi” xung quanh Xuân-Lộc là rừng lá xanh rì, dù có bay rà sát đọt cây, trinh sát cơ của Việt-Nam Cộng-Hòa cũng khó mà tìm ra vị trí trú quân của những binh đoàn Cộng-Sản.

Trong khi đó thì Thị trấn Xuân-Lộc của Việt-Nam Cộng-Hòa lại nằm phơi mình lồ lộ, đứng từ xa mà dùng ống nhòm, người ta có thể thấy từng nóc nhà, từng khu phố.

Cũng vì có “Ðịa Lợi” nên Hoàng Cầm có thể tự do đi đâu thì đi, có thể đích thân điều nghiên thực địa, rồi chọn lựa mục tiêu. Từ đó, ông ta biết được nơi nào có thể đánh, nơi nào không cần đánh.

Trong thiên “Hư Thực” còn gọi là thiên “Biến Hóa” của Tôn Tử Binh Pháp có ghi:

“Người giỏi đánh, quân địch không biết đâu mà giữ. Người giỏi giữ, quân địch không biết đâu mà đánh.”

Hoàng Cầm là một tướng tài, ông ta là “Người giỏi đánh, quân địch không biết đâu mà giữ.”

Dù cho không phải là Hoàng Cầm, mà bất cứ người cầm quân nào cũng phải biết rằng, “Ðánh mà chắc chắn lấy được, phải đánh vào chỗ họ không giữ.”

Bởi vậy, khi thấy con hẻm chiến thuật bên hông phi trường Xuân-Lộc đã bị lực lượng trú phòng chẳng những “không giữ” mà còn coi nhẹ, bỏ quên, nên Hoàng Cầm đã “biến hóa” nó thành một lưỡi dao găm để đâm một nhát trí mạng xuyên qua trái tim của thị trấn.

Nhưng đâu ngờ ngày đó trong số những người chỉ huy phòng thủ cũng có “Người giỏi giữ, quân địch không biết đâu mà đánh.”

Người đó đã nhìn ra sự lợi hại của con hẻm này, nên đã “biến hóa” nó thành tử lộ đón chờ những chiếc tank T54 của Hoàng Cầm sẽ đi qua.

Tóm lại, sự thắng bại trên mỗi chiến trường không chỉ do tài thao lược của cấp chỉ huy, do tay nghề và lòng quyết chiến của người lính, mà nó còn phụ thuộc vào những nước cờ “biến hóa” đúng thời, đúng khắc của người cầm quân.

Gần tối ngày 7 tháng Tư, giữa cái nhà vòm có mái tôn rộng thênh thang, tôi ngồi một mình với chai bia cổ cao. Thường thì người đối ẩm của tôi là Thiếu úy Ðặng Thành Học. Giờ này chú Học còn bận gài mấy quả mìn chưa về.

Có tiếng động cơ xe gắn máy hướng sân bay, rồi tiếng léo nhéo từ cái lô cốt ngoài cổng chính, người to tiếng là Ðại úy Ngũ Văn Hoàn,

– Mi cứ vào trình diện ổng đi! Chắc ổng không la đâu!

Rồi ai đó nói nhỏ hơn,

– Nhờ Hoàng Long dẫn em vào gặp Thái Sơn! Vào một mình, em sợ lắm!

– Hồi sáng mày ngon lắm mà! Sao giờ này lại “thỏ đế” vậy! Rồi! Ði! Ði theo tao!

Ðại úy Hoàn, danh hiệu là Hoàng Long, chân chưa kịp cột dây giày, bước thấp bước cao, đang đi về phía tôi, sau lưng ông là một người tôi chưa nhìn rõ mặt.

Ông Hoàn nói,

-Thằng Thọ vừa về lại tiểu đoàn. Nó không dám vào gặp Thái Sơn, nó nhờ tôi dẫn nó trình diện Thái Sơn đây!

Thấy Binh nhì Phan Thọ cứ nép mình sau lưng ông Hoàn, tôi lấy làm lạ, bỏ chai bia xuống rồi nhẹ nhàng,

– Sao mi không đi luôn mà còn về đây làm chi vậy?

Anh Binh nhì nấu cơm của tôi lúc này như vừa hoàn hồn, hết sợ, ào tới ôm chân tôi rồi khóc,

– Hu! Hu! Hu! Em đâu có bỏ Thái Sơn! Em chỉ chạy về thăm má em rồi em trở lại! Em đâu có bỏ ông thầy!

– Ủa! Nhà mi ở gần đây à? Sao không xin phép về thăm mà vội vàng bỏ súng chạy đi, làm cho anh em cứ tưởng rằng mi bỏ hàng, bỏ ngũ?

– Dạ! Nhà em ở sát bến xe. Má em bán bún trong chợ. Tại vì Thái Sơn ra lệnh cấm quân, em đâu dám xin phép! Em cũng không dám “dù” về thăm má. Sáng nay nhân lúc Thái Sơn không có mặt, em đánh liều chạy về nhà. Anh Hai em có cái xe đò. Cả nhà em đã chuẩn bị, sáng mai thì chạy về Hố-Nai. Anh Hai em và mấy đứa em của em đều khuyên em đi theo gia đình. Nhưng em biết rằng giờ này Thái Sơn không còn ai thân thuộc. Em không nỡ bỏ Thái Sơn. Má em cũng nói, tùy ý em, muốn đi thì đi, muốn ở thì ở. Nhưng em biết ý má muốn em ở lại với Thái Sơn. Có điều… có điều… một ngàn đồng của Thái Sơn, em tiêu mất hai trăm rồi! Thằng xe thồ đòi hai trăm tiền công chở em từ chợ về đây. Tám trăm còn lại, em đã đưa cho Hoàng Long để trả lại cho Thái Sơn!

Thằng em tôi vừa khóc sụt sùi, vừa nói một hơi không nghỉ. Rồi nó cầm bàn tay phải của tôi, bóp bóp không chịu buông. Tôi thấy hình như bàn tay lạnh giá của tôi vừa ấm lại. Ðồng thời cũng giây phút ấy, tôi thấy hai mắt mình hơi cay cay… 

Ðêm đó người căng võng, đắp mền cho tôi vẫn là thằng em Phan Thọ.

Sáng hôm sau, người pha cà phê cho tôi cũng vẫn là nó.

Cho tới năm ngày sau nữa thì Binh nhì Phan Thọ bị phòng không 12.8 ly của Việt-Cộng bắn thủng ruột khi đang leo lên tháo khẩu súng đại liên gắn trên chiếc chiến xa T54 vừa bị bắn cháy.

Chiến tranh đã tạo nên nhiều trang sử liệt oanh, quang vinh, nhiều tấm gương hy sinh can đảm, những mối tình đẹp, những mối tình buồn, những cuộc chia ly, những chiến công rất phi thường. Nhưng cũng còn có những chuyện rất lạ thường phát sinh từ cái tình “huynh đệ chi binh” mà ra.  Chính vì cái tình “huynh đệ chi binh” đó, mà thầy trò tôi, dù gặp hiểm nguy, dù cho sắp chết, cũng không nỡ lòng nào mà bỏ nhau.

Đ/Tá Hứa Yến Lến, Th/Tá Vương Mộng Long, Th/Tướng Lê Minh Đảo, Th/Tá Nguyễn Hữu Chế (USA 2009)

Tôi là một người đã trải qua một đời chinh chiến, những kỷ niệm in sâu trong tâm tưởng của tôi, suốt đời không quên được, chính là những chuyện liên quan tới ân tình của những thằng em dưới quyền tôi.

Tới tối ngày 7 tháng Tư, sau khi nghe Ðại tá Phúc báo cho biết rằng gần 5 giờ chiều hôm đó hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân đã được Chinook của Phi Ðoàn 237 bốc về thả ở phi trường Phan-Thiết, tôi bèn vào Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Long-Khánh, gọi cho Trung Tâm Hành Quân Quân Ðoàn III xin liên lạc với Trung tướng Tư lệnh Quân Khu 3 để cám ơn.

Qua ba cửa ải là, một ông Chuẩn úy sĩ quan trực mà tôi không biết tên, tới ông Thiếu tá Nho, rồi đến ông Ðại tá Thọ, tôi mới được nói chuyện với Tướng Toàn.

Tôi cám ơn Trung tướng Tư lệnh Quân Khu 3 đã nể tình tôi quen biết nên ông đã ra tay cứu vớt Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân của Vùng 2.

Ðầu máy bên kia tôi không rõ Tướng Toàn nghĩ gì, chỉ nghe ông “Ừ! À!” mấy tiếng.

Tới lúc tôi hỏi ông,

– Sao Trung tướng không đem toàn bộ Liên Ðoàn 24 về Long-Khánh cho tôi, mà lại để hai tiểu đoàn kia ở Phan-Thiết vậy?

Thì ông Toàn nổi dóa,

– Ð! M! Ðem tụi nó về Xuân-Lộc làm chi? Tau đâu cần tụi nó!

La hét xong, Tướng Toàn cúp máy.

Sau trận Long-Khánh, gặp lại nhau ở Bình-Ba, nghe tôi nhắc lại chuyện tôi đã làm cho ông nổi giận, khiến ông vì tự ái mà cứu hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân bạn, thì ông Toàn cười,

– Nếu hôm đó tau không ghé thăm mi, thì tau đâu có bị mi khích tướng? Tau đã để tụi nó chết trong rừng rồi! Tau là Tư lệnh Vùng 3! Tau đâu có trách nhiệm gì với Vùng 2? Không ai có quyền bắt tau phải bốc tụi nó cả! Tau chỉ cần mi thôi, nên tau bỏ tụi nó ngoài Phan-Thiết.

Tôi đâu có lạ gì ông Tướng Nguyễn Văn Toàn? Ông ta là người hứa đó rồi quên đó!

Ấy vậy mà lúc này đây, lần đầu tôi thấy ông ta tỏ ra là một người coi trọng nghĩa khí, đã hứa thì phải làm, đã nợ thì phải trả.

Tôi sẽ mãi mãi không quên cái phong cách giang hồ trượng nghĩa mà Trung tướng Nguyễn Văn Toàn đã đối xử với tôi, và các đơn vị dưới quyền tôi ngày ấy.

Như vậy là từ giờ phút này, điều băn khoăn, áy náy nhất của tôi đã được giải quyết, tôi đã không còn phải lo lắng gì tới số phận của hai Tiểu Ðoàn 63 và 81 Biệt Ðộng Quân nữa.

Mặt khác, tôi cũng đã yên tâm về mặt trang bị, vì chỉ sau một ngày, chúng tôi đã được cấp phát gạo, đạn, giày vớ, và điện trì đầy đủ. Dù không nhận được khẩu súng cộng đồng nào, chúng tôi vẫn có thể coi như một tiểu đoàn khinh chiến, dạn dày kinh nghiệm, đủ sức chiến đấu trong bất cứ tình huống nào.

Sáng ngày 8 tháng Tư tôi đang ngồi bên cái lô cốt cổng chính, uống cà phê cùng ông tiểu đoàn phó thì một anh lính tay cầm chiếc radio nhỏ chạy ào tới, miệng lắp bắp,

– Trình Thái Sơn, Sài-Gòn có loạn! Sài-Gòn có đảo chánh!

Tôi giựt cái máy thu thanh trên tay người lính. Trong máy, là tiếng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang kêu gọi toàn dân, toàn quân hãy đoàn kết sau lưng ông để chống lại một cuộc dấy binh lật đổ ông.

Tiếp đó là nhạc quân hành, giống y như cảnh đã xảy ra nhiều năm trước đây, khi chính trường có biến động.

Tôi rời cái pháo đài, đi một vòng ra lệnh cho anh em tu sửa hệ thống hầm hố và giao thông hào, cốt ý là để cho họ bận bịu công việc mà đừng bàn tán xôn xao về những tin tức phát đi từ thủ đô Sài-Gòn.

Ðại úy Hoàn đi kế bên, nhìn tôi dọ dẫm,

– Thái Sơn nghĩ sao, nếu có đảo chánh?

Tôi là người có quá nhiều kinh nghiệm với những vụ đấu đá của các sứ quân thời hậu đảo chánh năm 1963, và tôi đã từng là nạn nhân với nhiều năm sống xấc bấc, xang bang vì dính líu tới mấy chuyện này rồi.

Tôi buột miệng,

– Buồn quá! Sắp mất nước tới nơi mà mấy ông to đầu còn lo tranh giành nhau!

Tới trưa thì mọi chuyện sáng tỏ, không có đảo chánh, mà chỉ có chuyện một phi công nội tuyến đem bom thả xuống dinh Ðộc-Lập.

Tôi tản bộ ra khỏi vòng rào, ghé thăm Thiếu úy Thủy và Ðại Ðội 4/82, rồi tiện thể đi quan sát cây cầu nằm cách bờ rào hướng Ðông Nam của Trại 181 Pháo Binh không xa.

Tôi còn hai quả mìn chống chiến xa và vài cuộn concertina chưa dùng tới, nên tôi giao cho Ðại Ðội 4/82 lo gài mìn và rào kín một đầu cầu. Cẩn tắc vô áy náy! Dư vật liệu chống tank thì ta cứ đề phòng trước là hơn.

Khoảng hai giờ chiều, trong máy truyền tin, trên tần số của Chiến Ðoàn 43 có tiếng Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo,

– Tiên Giao đây Hằng Minh!

– Hằng Minh đây Tiên Giao nghe!

– Em đang ở đâu vậy? Qua muốn gặp em ở đầu phi đạo.

– Tôi đang ở đó!

– Qua xuống ngay!

(Hằng Minh = là danh hiệu của Tướng Ðảo, Tiên Giao = là tên đứa con gái thứ ba của tôi, cũng là danh hiệu do tôi chọn cho Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.)

Chiếc C&C đáp, một người nhảy xuống đầu phi đạo, chiếc tàu bay đi. Tướng Lê Minh Ðảo vẫn gọn gàng, súng ngắn, nón sắt nhưng xuống đất mình ên, không có người hộ tống, không tùy viên, không máy truyền tin.

Ông Tướng thay vì đưa tay cho tôi bắt, lại dang tay ôm tôi một cái thật chặt rồi thả ra, cứ như phong cách của các ông chỉ huy Phương Tây.

Với cử chỉ thật là vồn vã, Tướng Ðảo vỗ vai tôi,

– Qua mới từ Long-Bình lên đây cốt ý là để thăm đơn vị của em vài phút rồi qua phải đi ngay.

Sau đó ông Tướng nhìn tôi, nhẹ giọng,

– Em đã cảm thấy okay với không khí ở đây chưa?

Thật hững hờ, tôi đáp lời ông,

– Cám ơn Chuẩn tướng! Ở đây chắc chắn là thoải mái hơn những ngày vừa đói, vừa đánh, vừa lui, ở trong rừng.