Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Một đám người đã đứng đợi dưới nhà rẫy của nhà thờ. Hầu hết đều ngồi trên va-li hay hòm xiểng hay mang theo gói và bọc. Phần nhiều là đàn bà con nít. Một bà già mặt ngựa đứng cạnh Graber.

– Miễn là họ không di tản mình đi chỗ khác. Người ta nói đến những nơi ấy không vui sướng gì. Mấy căn lều, một chút đồ ăn, lẫn lộn với người nhà quê tham lam và bần tiện.

– Tôi thì tôi không cần. Tôi có thể đi chỗ khác được. Thà cái gì thì cái còn hơn là bom đạn. Người ta phải săn sóc mình chứ, mình mất hết trọi hết trơn.

– Mới mấy ngày trước tôi đã thấy một đoàn xe đi tị nạn. Gớm, nom họ mà phát ngán quá! Họ được đưa về Mecklembourg.

– Mecklembourg à? Dân quê ở đó giàu lắm mà.

– Giàu à?

Bà già mặt ngựa cười nhạt.

– Họ bắt làm việc đến sụm xương mới được đủ miếng ăn. Quốc trưởng sao không biết đến điều ấy.

Graber nhìn bà già và người con gái gầy guộc nói chuyện với nhau. Đằng sau, trông qua hàng cột kiểu trung cổ thấy vườn nhà thờ. Hoa thủy tiên mọc dưới chân những bức tượng trên đường đi, một con chim đậu trên vai chúa Ki-Tô cất tiếng hót.

Người con gái lại nói:

– Họ phải nuôi không mình chứ, họ có tiền của. Chúng ta là nạn nhân chiến cuộc. Nạn nhân chiến cuộc!

Ông thầy dòng đến. Ông ta là một người mảnh khảnh, mũi dài và đỏ, hai vai xuôi. Graber nhận thấy khó lòng mà con người như thế có thể can đảm giấu những người bị cảnh sát mật vụ lùng bắt.

Ông thầy dòng bảo mọi người vào. Mỗi người lãnh một tấm thẻ có số và đặt vào mỗi gói đồ một cái thẻ cùng số. Ông ta bảo Graber:

– Tối nay đừng nên về trễ quá, trong nhà thờ không có nhiều chỗ đâu.

– Không có nhiều chỗ à, coi nhà thờ lớn thế này.

– Nhưng không ai được vào thánh đường, chỉ được ở dưới hầm và bên rìa thôi.

– Người đến muộn thì nằm đâu?

– Trong nhà rẫy hay còn chỗ trống. Cũng có người nằm ngoài vườn.

– Hầm có chịu nổi bom không?

Ông ta nhìn Graber dịu dàng:

– Khi xây nhà thờ không ai nghĩ đến chuyện bom. Cái đó ngày nay người ta gọi là đêm dài trung cổ.

Khuôn mặt mũi dài buồn thiu không để lộ vẻ gì cả, cũng không có chút gì là hài hước. Graber nghĩ thầm: “Chúng ta đã tiến bộ rất xa về nghệ thuật che đậy. Ai cũng gần như là người lão luyện rồi”.

Y đi qua nhà rẫy, vào nhà thờ. Nhà thờ bị tàn phá nặng; một gác chuông đã sập, ánh nắng rọi tứ tung vào chỗ trang nghiêm. Nhiều bức bích họa cũng bị bể nát. Chim sẻ đuổi nhau giữa đám mảnh kính đủ màu sắc. Thánh cung chỉ còn là một đống gạch vụn. Từ nhà thờ Graber đi thẳng xuống hầm. Đây là hầm rượu cũ của nhà thờ. Giá đựng thùng vẫn còn. Không khí mát mẻ ẩm thấp và thoang thoảng mùi thơm. Mùi rượu nho già hàng thế kỷ còn mạnh hơn mùi khét những đêm dội bom; phía trong cùng có nhiều vòng sắt lớn gắn liền vào đá tảng. Bây giờ Graber mới nhớ ra rằng hầm này dùng làm hầm tra tấn kẻ ngoại đạo và các mụ phù thủy trước khi dùng làm hầm chứa rượu. Người ta cột tay tội nhân vào vòng sắt và nướng sắt đốt người họ kỳ cho đến lúc xưng tội. Sau mới đem giết chết, nhân danh Thượng đế và lòng nhân từ Thiên chúa giáo. Y nghĩ thầm: “Chẳng có thay đổi bao nhiêu. Những tay đồ tể Quốc xã có những tiền bối đáng làm thầy họ. Và con người thợ mộc ở Nazareth có những môn đệ kỳ dị…”

***

Graber bước vào đường phố Adler. Đã sáu giờ chiều. Suốt ngày nay y đi tìm một căn phòng mà không được. Vì mệt quá y định thôi không tìm nữa. Khu này bị tàn phá trọn vẹn. Hết đống gạch ngói này đến đống gạch ngói khác. Chân bước đi mà trái tim thắt lại.

Thình lình y dừng lại, hết sức ngạc nhiên. Giữa chỗ tàn phá bỗng nổi lên một căn nhà hai tầng trơ trọi. Nhà đã xưa và không được ngay ngắn lắm nhưng nguyên vẹn, xung quanh là mảnh vườn đầy hoa nở. Một vùng đất xanh tươi giữa bãi sa mạc. Từng bụi xoan ngả nghiêng bên rào không thiếu một cái cọc nào. Độ hai mươi bước nữa là cảnh xơ xác trơ trụi như ở mặt trăng. Nhưng căn nhà nhỏ và mảnh vườn con đã đượp yên lành như thường xảy ra trong những vụ tàn phá lớn. Một tấm biển ngoài cửa đề mấy chữ: “Quán Witte”.

Cửa vườn mở. Y cũng không ngạc nhiên rằng cửa kính không cái nào bị vỡ. Y vẫn đợi thế. Phép lạ không xa chỗ thất vọng là bao nhiêu. Một con chó săn tai dài nằm ngủ gần cửa vào. Từng khóm thủy tiên, từng khóm hoa tím, có cả hoa kim hương. Nhìn cảnh vật y có cảm tưởng như đã quen biết từ lâu, nay thấy lại sau nhiều năm xa cách và lãng quên. Có lẽ y chiêm bao chăng? Y mở cửa vào.

Nhà không có ai. Một cái ly trên kệ, không có một chai rượu nào, vòi nước bằng đồng sáng choang, bồn rửa sạch sẽ và khô ráo. Ba chiếc bàn ghế đẩy áp vào tường. Chỉ có một bức họa treo trên tường: bức họa một cảnh xứ Ti-rôn, một đứa con gái ăn mặc lối bản xứ đang chơi đàn, một chàng thanh niên cúi xuống gần. Không thấy hình Quốc trưởng. Thoạt bước vào Graber cũng biết rằng không có của ấy.

Một người đàn bà có tuổi bước vào. Bà ta mặc áo choàng màu lam đã bạc, hai tay xắn cao. Bà ta không nói Quốc trưởng muôn năm! Bà ta chỉ nói:

– Chào ông.

Trong tiếng chào của bà có hương vị yên tĩnh buổi chiều. Sau một ngày làm ăn, đó là ước vọng được hưởng buổi tối êm đềm thư thả. Y nghĩ thầm: “Tất cả đều tự nhiên quá và phi thường quá!”. Y muốn uống một chút gì để rũ bụi bặm đã phải thở suốt ngày hôm nay – nhưng bây giờ y nghĩ rằng điều quan trọng hơn hết là tối nay phải cùng vợ đến đây. Phải đến cái động thiên thai này, để lại ngoài rào tất cả thống khổ tang tóc của chiến tranh.

– Tối nay chúng tôi đến ăn có được không bà?

Bà ta nhìn y, ngạc nhiên; y vội nói thêm:

– Chúng tôi có thẻ thực phẩm. Tối mà ở đây thì tuyệt, ở trong vườn này. Ngày nghỉ cuối cùng của tôi đấy. Rồi tôi ra mặt trận. Nếu bà muốn trả bằng hiện vật thì chúng tôi cũng có đồ hộp.

– Tối nay chúng tôi chỉ có đậu trắng thôi. Lâu nay hàng không bán.

– Đậu thì ngon lắm rồi còn gì nữa. Từ ngày chiến tranh đến giờ tôi chưa từng ăn đậu.

Bà già mỉm cười. Một nụ cười bình thản như xuất hiện từ quá khứ xa xôi.

– Nếu ông chịu ăn thế thì mời ông cứ lại. Có thể ngồi ngoài vườn được nếu trời không lạnh.

– Bây giờ còn sớm, tám giờ chúng tôi lại được không?

– Giờ nào cũng được. Đậu để đến bao giờ cũng được.

***

Một bức thư đặt ngay ngưỡng cửa. Y nhận ra chữ mẹ mình. Bức thư từ mặt trận gởi trả lại. Y vội mở ra coi. Bà cụ viết mấy chữ vội vàng cho biết nhà sẽ rời thành phố vào hôm sau theo một đoàn xe tị nạn. Không biết trước được sẽ đến nơi nào. Không có gì đáng lo vì chỉ là phòng trước thôi.

Y tìm ngày gởi thư. Bức thư gởi đi một tuần trước ngày y về tới nơi. Thư không nói gì đến bom đạn. Bà cụ đã cẩn thận, có lẽ vì sự kiểm duyệt. Không chắc là nhà bị phá ngay trước ngày đi. Có lẽ trước nữa, vì đã đi lánh nạn thì tất nhiên bị nạn rồi.

Y gập thư lại bỏ vào túi. Như vậy là cha mẹ hãy còn sống! Y lấy làm chắc chắn như người ta có thể chắc chắn được cái gì trong lúc chiến tranh. Y nhìn chung quanh, hơi bị lóa mắt. Tấm màn màu xám bao phủ sự vật lúc trở về bỗng tan đi. Phố Haken chỉ là một phố bị bom phá hủy, thế thôi, không hơn không kém. Mây buồn, mây khắc khoải bao quanh ngôi nhà số 18 bỗng dưng tan biến, chỉ còn những đống gạch vụn hiền lành. Y mạnh mẽ thở hít không khí, nhưng không thấy gì là vui vẻ. Chỉ có gánh nặng đè trên vai từ hai tuần lễ nay đã cất đi được để y có một cảm tưởng nhẹ nhàng gần như choáng váng. Y không hề nghĩ đến hy vọng được thấy cha mẹ trước khi đi. Hy vọng ấy đã mất từ lâu. Y chỉ cần biết cha mẹ còn sống không. Cha mẹ còn sống: vậy là y có thể sống trọn vẹn.

Căn phố lại bị thêm một chuyến bom nữa. Căn nhà còn nguyên vẹn mặt tiền chuyến đến thăm trước nay đã bị phá hẳn. Tấm cửa dán đầy giấy nhắn tin nay dời ra chỗ khác cách đấy vài thước. Graber tự hỏi không biết lão trưởng xóm điên đâu thì bỗng thấy lão đi qua phố tiến lại.

– A! Ông lính! Vẫn còn đây à?

– Vâng, ông cũng còn đây à?

– Ông nhận được thư chưa?

– Rồi.

– Thư đến chiều hôm nay. Sắp sửa gạch tên ông đi thì vừa. Ở đây thiếu chỗ, mà có nhiều người đang đợi.

– Chưa đâu, vài ngày nữa tôi mới đi.

– Đã đến lúc rồi. Sự kiên nhẫn của người ta chỉ có hạn.

– Ông là chủ bút tờ báo thông tin này à?

– Trưởng xóm phải kiêm hết. Trưởng xóm tượng trưng cho trật tự. Mới có một bà góa mất ba đứa con trong trận bom mới đây. Chúng tôi cần chỗ cho họ nhắn tin.

– Thế thì lấy chỗ tôi đi. Bưu tá đã quen để thư của tôi trước căn nhà sập đằng kia.

Trưởng xóm gỡ biển của Graber đưa trả, y định xé đi thì lão ta ngăn lại:

– Ông điên à! Xé đi như thế xui chết, ông đã hết hy vọng sống sót! Bản tin đã cứu ông một lần sẽ cứu ông mãi mãi. Thật là dại dột chưa biết gì!

Graber nhét mảnh giấy vào túi mà rằng:

– Vâng, tôi chỉ muốn dại dột như thế chừng nào hay chừng nấy. Bây giờ ông ở đâu?

– Tôi phải dọn sang chỗ khác, một hang chuột trong cái hầm khá khang trang. Thuê lại của chuột kể cũng thú vị.

Graber nhìn ông ta. Khuôn mặt khắc khổ không lộ nét gì cả.

– Tôi định tổ chức một hội những người có thân nhân bị vùi dưới gạch ngói. Phải liên kết với nhau mà hành động nếu không chẳng ai để ý đến cả. Thí dụ, chúng tôi đòi hỏi rằng những nơi có người chết vùi dưới gạch phải được ban phép lành và kính trọng như một cái nghĩa địa. Ông hiểu không?

– Dạ hiểu, hiểu quá mà!

– Có thế chứ, có người hiểu cho tôi chứ. Người ta cho tôi là ngu đần. Nhưng ông không thể có chân trong hội được rồi. Ông đã nhận được bức thư khốn nạn kia!

Nét mặt căng thẳng bỗng rã rời, phản ảnh đau đớn và tức giận khôn tả. Con người đáng thương đó quay gót chạy hấp tấp đi chỗ khác.

Graber nhìn theo trong chốc lát, rồi cũng bước đi. Y định giữ kín không nói cho vợ biết rằng cha mẹ mình còn sống.

***

Chỉ có một mình nàng ở xưởng ra chạy mau lại với chàng. Nom nàng bé li ti giữa bãi rộng mênh mông mà hoàng hôn còn làm cho thêm rộng.

Nàng thở hổn hển mà rằng:

– Em lại được nghỉ nữa.

– Mấy ngày?

– Ba ngày, ba ngày cuối cùng.

Nàng im bặt vì cảm động quá, hai mắt rưng rưng lệ.

– Em trình bày cảnh ngộ cho họ nghe, họ không làm khó dễ. Có lẽ sau này phải làm bù, nhưng nghĩ cũng chẳng làm sao. Em chẳng cần. Có lẽ bận công việc túi bụi lại hơn.

Graber không trả lời. Y vừa thấy đau đớn mà nhớ ra rằng xa nhau sắp đến rồi. Y biết thế từ lâu nhưng chỉ biết rằng cái gì rồi cũng xảy ra, người ta vẫn biết thế nhưng không bao giờ ước lượng tầm quan trọng.

Biết bao lo toan, sợ hãi, hy vọng đã che lấp tâm tình về phút chia ly nhưng nay nó xuất hiện với vẻ một sự kiện hiển nhiên không thể chối cãi được, một tia quang tuyến X đã rọi qua bộ mặt mầu nhiệm của cuộc sống, chỉ làm biểu lộ phương diện thiết dụng thô thiển và lạnh lùng của nó.

Hai người nhìn nhau. Tâm tình họ như nhau, chàng cũng như nàng hiểu nhau trong sự đau khổ. Họ đứng yên lặng nhưng tâm hồn khuynh đảo như bão táp. Họ đã tránh thất vọng nhưng nay thất vọng dồn dập trở lại, họ đã thấy mình xa nhau và cô độc – Graber đã mường tượng thấy nàng trơ trọi trong xưởng may, trong một cái hầm hay một căn phòng đợi chờ trong hy vọng mong manh – còn nàng đã thấy chàng trở lại với sự nguy hiểm chiến đấu cho một lý tưởng mà chàng không còn tin tưởng. Họ chỉ được quỵ ngã vì đau khổ dồn dập mãnh liệt, nhưng họ dồn hết nghị lực để không quỵ ngã trước làn sóng mãnh liệt. Họ ôm sát người nhau trong giây lâu để chống lại xúc động như vũ bão. Thời gian đó như dài vô tận, mãi sau sóng mới rút đi.

Graber thấy nước mắt Elisabeth dần dần tan đi như đã chảy vào trong.

Khi đã nói được nên lời chàng bảo nàng:

– Như vậy là chúng ta có mấy ngày sống trọn vẹn bên nhau.

– Vâng, bắt đầu từ tối mai. – Nàng cố gắng mỉm cười.

– Thế là hay rồi. Vì nghĩ rằng mình chỉ có vài ngày cho nên anh có cảm tưởng như nghỉ phép dài ra hàng mấy tuần lễ.

– Vâng.

Hai người rủ nhau đi. Ánh chiều tà xuyên một tia hồng thắm vào khung cửa sổ rỗng không.

– Đêm nay ngủ đâu?

– Chúng ta vào ngủ trong nhà rẫy, nhưng may ra có thể kiếm được chỗ ở hành lang thánh đường. Trước hết hãy đi ăn một bữa đậu tươi.

Quán Witte nổi lên giữa những đống gạch vụn. Không biết sao Graber ngạc nhiên là lại tìm thấy nó, vì nó giống như cái gì không có thật.

Y đẩy cửa bước vào và bảo vợ:

– Em thấy thế nào?

– Một nơi yên ổn đã bị thời gian bỏ quên.

– Có thế thật, tối nay chúng ta phải có một nơi yên ổn như thế.

Hơi ẩm ướt xông lên từ các luống hoa. Chắc là người ta mới tưới. Một con chó chạy quanh nhà, nó ngoe nguẩy đuôi khi thấy hai người vào.

Bà quán đến trước mặt họ, bà ta choàng chiếc khăn trắng.

– Ông muốn ngồi trong vườn không?

– Có, giá bà có nước cho rửa tay thì hay quá.

– Có chứ cô!

Bà Witte đưa Elisabeth vào nhà, lên từng lầu nhất. Graber đi qua bếp ra vườn thì đã thấy kê một chiếc bàn phủ khăn ca-rô trắng đỏ. Hai chiếc ghế và hai bộ bát đĩa tinh tươm đã bày sẵn. Y cầm bình nước để giữa, rót một ly uống cạn. Nước uống còn ngon hơn cả rượu nho của lữ quán Germania. Thực ra mảnh vườn rộng chứ không bé nhỏ như đứng ngoài phố nhìn vào. Bãi cỏ mới xén, xung quanh mọc hương mộc và xoan, và một vài cây khác mới trổ lá non vừa gặp tiết xuân về.

Elisabeth trở lại:

– Làm thế nào mà anh kiếm ra chỗ này?

– Tình cờ, ở đây chỉ nhờ tình cờ mà sống.

Nàng trở lại gần chàng, sực nức mùi nước mát rượi, mùi xà bông, tuổi son trẻ.

– Ở đây thật là thoải mái. Lạ thật, em có cảm tưởng như trước đã đến đây rồi…

– Chiều nay anh cũng có cảm tưởng ấy.

– Cứ như là mình đã có đến đây hồi nào, em với anh, trong vườn này, nói với nhau những chuyện này. Và hình như chỉ có một cái gì không gì cả, một chi tiết cỏn con cũng làm em nhớ lại một kỷ niệm đích xác.

Nàng tựa đầu vào vai chàng.

– Nhưng cái không gì cả ấy không bao giờ trở lại thực sự, không bao giờ chúng ta nắm được chìa khóa bí mật của quá khứ. Có lẽ khung cảnh này vẫn nằm ngủ yên dưới đáy tâm hồn chúng ta, có lẽ một ngày mai nó trở lại ám ảnh chúng ta…

Bà quán mang lại một cái liễn đậy vung kín.

– Chúng tôi xin đưa ngay thẻ thực phẩm cho bà. Chúng tôi không có nhiều vì nhà bị bom cháy hết. Nhưng chỗ còn lại cũng đủ.

– Tôi không lấy nhiều đâu. Đậu này từ trước chiến tranh chỉ cần thẻ để mua xúc xích và bơ thôi. Ông uống gì? Đây chúng tôi có rượu bia.

– Thế thì tuyệt diệu rồi. Chúng tôi chỉ thèm bia.

Trời đã nhá nhem. Một con chim khuyên khuất trong cây cất tiếng hót. Graber nhớ lại lúc ban ngày đã nghe tiếng nó rồi, đó là con chim ở sân nhà thờ. Từ bấy đến giờ đã nhiều việc xảy ra cho y. Y mở vung liễn :

– Xúc xích này! Một đĩa đậu này! Bữa ăn này phải thú vị!

Y múc ra đầy đĩa, trong một giây y có cảm tưởng rằng mình có căn nhà, mảnh vườn, người vợ trẻ, cơm nước tinh tươm và sự an toàn bình ổn.

– Em ạ, thí dụ như người ta cho em sống mười năm nữa với anh trong mảnh vườn lạc lõng ở giữa cảnh tan hoang thì em nói sao?

– Em sẽ nhận lời ngay, hơn mười năm cũng được.

– Anh cũng thế.

Bà quán mang rượu bia ra. Chàng mở nút rót ra uống. Rượu bia mới và ngon. Họ ăn thong thả, nhìn mặt nhau, không tin rằng mình có được hạnh phức này.

Trời đã tối. Một tia sáng đèn rọi quét lia lịa trên trời rồi biến mất. Con chim khuyên đã im lặng.

Bà quán trở lại múc thức ăn thêm vào liễn.

– Ông bà ăn ít thế. Tuổi trẻ phải ăn ngon miệng hơn chứ!

– Chúng tôi ăn được bao nhiêu thì ăn, liễn đậu hãy còn.

– Để tôi lấy thêm rau ghém và phó mát.

Trăng lên. Nàng nói:

– Thế là đầy đủ. Ánh trăng, vườn hoa, bữa ăn thịnh soạn rồi ngủ yên lành tối nay. Nhiều hạnh phúc quá sợ mình không có sức hưởng hết.

– Thế mà ngày trước thì là chuyện rất thường.

Nàng gật đầu và đưa mắt ngó quanh.

– Không thấy sự tàn phá nào ở chỗ này. Cây cối che khuất cả. Giá có một nước mà chỗ nào cũng thế này!

– Hết chiến tranh chúng ta sẽ đi du lịch. Chúng ta sẽ qua những tỉnh còn nguyên vẹn đêm thắp đèn sáng trưng. Chúng ta sẽ đi dọc những tiệm áo có tủ kính choáng lộn, sáng sủa đến nỗi có thể soi gương thấy rõ mặt mình như ban ngày.

– Biết người ta có cho mình sang nước của người ta không?

– Đi du lịch thì làm gì họ không cho. Ta sang Thụv Sĩ chẳng hạn.

– Thế thì phải có tiền Thụy Sĩ, làm thế nào có?

– Chúng ta mang máy ảnh sang đây bán. Như thế có thể sống được vài tuần lễ.

Nàng cười :

– Máy ảnh hay đồ nữ trang, hay áo lông thú, toàn là thứ đắt tiền mà mình không có.

Bà quán mang rau ghém và phó mát lại

– Ông bà ở đây có thấy dễ chịu không?

– Tuyệt thú. Ở lại một lát nữa có được không?

– Đến bao giờ cũng được mà. Để tôi lấy cà phê.

– Còn uống cà phê nữa. Chúng ta sống như ông hoàng rồi.

Nàng lại cười:

– Mới đầu chúng ta sống đế vương thật. Ca-vi-a, gan béo, rượu nho. Tối hôm nay chúng ta sẽ sống như người thường, sau này chúng ta sống như thế này. Có phải đời sống là như vậy không?

– Chính thế đó em ạ.

Chàng ngồi ngắm nàng không chán mắt. Lúc mới ở xưởng ra nàng nhợt nhạt bơ phờ mệt nhọc. Bây giờ hai mắt nàng sáng ngời sinh lực và tuổi trẻ. Nàng chóng lại người thật và nàng không đòi hỏi nhiều.

– Chúng ta phải học sống lại, chúng ta đã quên mất cả cách sống rồi! Mà có lẽ chính vì vậy mà tương lai của chúng ta phong phú. Cái gì người khác thấy nhàm chán vô vị chúng ta sẽ thấy là cuộc phiêu lưu rất mê ly. Thí dụ, chỉ có bầu không khí không có hơi khói này, hay bữa cơm không cần thẻ thực phẩm, một tiệm để mình muốn mua gì thì mua, một thành phố không có nhà nào bị bom đạn có thể nói cái gì mà không sợ hàng xóm nghe được, không phải sợ hãi gì cả! Phải mất một thời gian người ta mới quên được sợ hãi, vả chăng sau này có thấy sợ nữa mình cũng sung sướng mà nói rằng sợ hão sợ huyền. Anh có thấy thế không?

– Có chứ, nếu đứng về phương diện ấy thì hạnh phúc lớn đang chờ đợi ta.

Họ ngồi lại rất khuya. Graber trả tiền rồi bà quán lui về phòng, chỉ còn hai người ngồi trong vườn.

Trăng đã tỏ. Mùi đất ẩm, mùi lá rau thoang thoảng, vì không có gió nên hơi đêm đánh tan được mùi a xít và bụi vôi cát vẫn lưỡng vưỡng khắp các dãy phố. Có cái gì động đậy trong bụi. Một con mèo đang vồ chuột. Thành phố giờ nhiều chuột quá, xác người chết và vật đổ nát thuận lợi cho chúng sinh sôi nảy nở.

Đến mười một giờ họ mới ra về. Họ có cảm tưởng như từ một hải đảo bước chân lên đại châu.

– Ông đến chậm quá, hết chỗ rồi.

Không phải ông thầy dòng ban sáng. Ông này trẻ, mày râu nhẵn nhụi và ra dáng người oai nghiêm lắm.

Có lẽ ông ta tố cáo Joseph.

– Chúng tôi ngủ trong vườn nhà rẫy có được không?

– Vườn nhà rẫy những chỗ có mái che chật hết rồi. Tại sao ông không đến trung tâm cứu trợ hàng tỉnh?

Vào lúc khuya này câu hỏi ấy thật là quá lố.

Graber trả lời:

– Chúng tôi muốn cầu đến Thượng đế.

Ông thầy dòng nhìn y, nghiêm sắc mặt :

– Nếu ở đây thì phải ngủ ngoài trời.

– Không sao.

– Ông có vợ không?

– Có, tại sao?

– Ông nên nhớ rằng mình ở đất thánh, những người không phải vợ chồng không được nằm gần nhau ở đây. Nhà rẫy cũng là nhà thờ. Chỗ tôn nghiêm phải giữ cho tinh khiết. Coi ông như chưa vợ thì phải.

Graber lấy sổ gia đình ra. Ông ta đeo kính gọng thép lên và đưa gần đèn đêm để đọc.

– Chưa được bao lâu mà.

– Bổn đạo đâu có bắt buộc phải đúng ngày tháng.

– Đã làm phép cưới tôn giáo chưa?

– Này thầy. Vợ tôi làm việc suốt ngày, bây giờ nhọc mệt. Chúng tôi xin ngủ trong nhà rẫy. Nếu thầy thấy trở ngại thì cứ tìm cách mà đuổi. Nhưng một mình thầy làm không nổi đâu, kiếm thêm người ra đây.

Bỗng có một thầy khác chạy ra, ông ta đi nhẹ gót không ai nghe tiếng.

– Có chuyện gì thế?

Ông thầy dòng trẻ tuổi muốn nói đầu đuôi câu chuyện nhưng ông kia gạt đi:

– Không nên cho mình là ông trời. Họ phải đến đây cũng đã khổ lắm rồi.

Rồi quay lại bảo Graber:

– Nếu ngày mai muốn có chỗ trú thì ông đến trước chín giờ, số 7 phố Nhà Thờ, hỏi trưởng tu viện Biedendieck. Người quản gia của tôi sẽ kiếm chỗ cho ở.

– Cám ơn cha.

Cha Biedendieck gật đầu rồi đi. Graber bảo ông thầy dòng trẻ:

– Đầy nhé, bề trên cho lệnh rồi cứ thi hành thôi. Chỉ có giáo hội là giữ được phong thể tuân thượng lệnh thật đúng trong bao nhiêu thế kỷ. Đường đi vào nhà rẫy lối nào?

Ông ta đưa hai người vào hậu đường. Đồ thờ óng ánh trong tối. Qua một cái cửa, một hành lang rồi họ vào vườn nhà rẫy.

– Đừng có ngủ trên ngôi mộ các giám mục. Người nọ phải nằm cách người kia một thước, và không được cởi áo ra.

– Bỏ giày ra được chứ?

– Giày thì được.

Họ lần từng bước mà đi. Tiếng ngáy đã vang rộn dưới vòm cửa. Graber trải miếng vải căng lều và chăn đệm lên cỏ.

Y nhìn vợ. Nàng cười.

– Sao em lại cười?

– Lão thầy dòng tức cười thật, chắc anh cũng tức cười.

Y để va-li áp vào tường và lấy bị làm gối. Thình lình tiếng một người đàn bà nổi lên giữa những tiếng ngáy :

– Trời! Trời! Chết rồi!

Tiếng nói biến thành một tiếng rên. Một tiếng đàn ông la mắng :

– Câm mồm!

Tiếng kêu lại nổi lên.

Người đàn ông lại thét:

– Câm mồm, con khỉ!

Tiếng kêu bỗng im bặt.

Graber nói:

– Đó là giống người làm thầy. Chúng ta phục tòng ngay cả trong lúc nằm mơ!

Họ nằm gần nhau. Chỉ có hai người ở gần tường, ở những góc tường còn những đống đen đen nữa tỏ ra có người nằm ngủ. Mặt trăng ngự trên đống gạch vụn sót lại của gác chuông, ném tia sáng mờ xuống một ngôi mộ giám mục. Cái mộ đã nứt nhiều đường, không phải bị trúng bom mà vì ảnh hưởng của thời gian, ở giữa vườn một cây thánh giá mọc giữa bụi hồng dại. Có thể trông thấy những hàng cột và những cửa vòng cung kiến trúc trung cổ mà đoán biết những trạm lễ trên con đường thập tự. Trên mỗi trạm đều có đặt giá cầu nguyện.

– Này em, nằm lại gần đây. Kệ lão thầy dòng với phép tôn nghiêm khắc khổ của lão.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 9 Jun 2026

Ông già giao cho tôi một cái đục bằng thép, một cái búa và một cái kinh đeo mắt để tránh những mảnh đá nhỏ bắn vào mắt. Công việc đơn giản. Tiện những phiến đá hình khối chữ nhật làm mộ bia, ông vẽ những bông hoa đối xứng hai bên. Nét màu đen, đục lõm xuống. Nét màu đỏ. đục theo đường viền cho nét vẽ nổi lên. Khoảng giữa để trống, tên họ người chết điền vào sau. Cả ngày ngồi đục đá, ông già và tôi có hàng trăm thứ chuyên kể cho nhau nghe. Ông cho biết, ông có biệt danh là Năm Thổ Mộ. Mấy chục năm trước, ông làm nghề đánh xe ngựa lộ trình Phương Sài, Cầu Đá, Thời thế đổi khác, ông giải nghệ lâu rồi. Biệt danh còn đeo theo ông mãi. Ông bảo tôi gọi ông là bác Năm. Ông cũng nói, một ngày nào đó, ông sẽ tự làm cho mình một bộ táng đá và mộ bia thật đẹp. Tôi nghĩ đến sự chết, thấy sợ. Tôi nói cảm tưởng đó với bác Năm. Ông cười, cái tướng bất cần đời của mày cũng sợ chết hay sao?

Tổi cũng kể về nghề ép mía làm đường của ba tôi. Đường nóng được đổ ra khuôn, phía dưới có lót tấm đệm.

Mật đường rỉ qua tấm đệm, chảy vào thùng chứa. Loại mật này không thể nấu cho đông đặc lại dược. Những nguoi bán mất ong, mua mật đường trộn một ít mật ong vào. Đôi khi chỉ là những mảnh tàng ong bóp vụn cho vào mật đường. Nhưng bao giờ họ cũng quảng cáo mật ong nguyên chất trăm phần trăm. Họ còn bày ra cách thử mặt ong bằng cách dùng cây tăm chấm vào mặt, rồi cho nhỏ giot xuống tờ giấy quyến. Nếu giọt mật không loang ra là mật ong nguyên chất. Tất cả dều là đánh lừa người mua. Mật đường khi nhỏ xuống tờ giấy quyến cũng không hề loang. Nghe xong, bác Năm chưởi sảng: “Tổ cha nó! Tháng nào, tao cùng mua mật ong, cũng thử bằng cách đó. Nó bảo, mỗi sảng uống một cốc rượu thuốc hòa với mật ong, trị được bệnh đau lưng. Tao uống hoài, bệnh vẫn hoàn bệnh.” Ngưng một lát, bác nói tiếp, “Hồi thời trai trẻ tao đánh xe thổ mộ, giao

tiếp với nhiều người, chơi bời trác táng quá độ. Cái hậu quả đó là di chứng của bệnh đau lưng kinh niên sau này,”

Tôi ngồi cấm cúi đục đá, cũng đau lưng. Có lẽ nào, đó cũng là di chứng của chơi bời trác tráng quá độ?

Bác Năm có người con đi lính ở xa. Trong kỳ về phép,  anh cho tôi chiếc áo lính và chiếc mũ lưỡi trai màu cứt ngưa. Anh tên là Kiên, vui tinh, sõi đời. Chưa có vợ, nhưng rất sành phụ nữ. Tôi thích nghe những chuyện tình của anh. Chẳng biết anh có phịa hay không, nhưng chuyện nào cũng ly kỳ hấp dẫn. Anh nói, đàn bà con gái có thể yêu thằng ăn cuớp, nhưng không thể nào yêu thằng ăn mày. Tôi hỏi, sao thế? Anh giải thích, người phụ nữ vốn thích được che chở. Trong moi tình huống hiểm nguy, thằng ăn cuớp có thể che chở cho họ. Thằng ăn mày quen thói van xin quỵ lụy thì còn che chở được ai? Tôi nói, đây là một phát giác chân lý tình yêu vô cùng mới mẻ. Anh bảo, đừng bao giờ quỳ lụy van xin trước mặt đàn bà con gái. Họ sẽ khinh bỉ. Đã không yêu mà còn thêm khinh bỉ, họ sẽ chà đạp một cách tàn nhẫn không thương tiếc. Tôi hỏi, trường hợp họ đã yêu, chừng một thời gian sau không còn yêu nữa. Mình phải làm sao? Anh Kiên bào, họ xoay mặi thì mình cũng quay lưng. Tôi lại hỏi, nếu mình không muốn quay lưng, có cách nào dụ dỗ cho họ quay lại với mình? Anh lắc đầu, hết thuốc chữa! Tôi nghĩ đến Phương Nghi và thấm thích cho một mối tình hết thuốc chữa.

Bác Năm nằm trên chiếc chõng gần đó, nghe anh Kiên dạy tôi về bài học căn bản tình yêu. Bác bảo, mày nghe lời thằng Kiên, có ngày bán lúa giống. Tôi nói, anh Kiên phân tích tâm lý tình cảm xã hội đúng phóc. Đàn bà con gái có thể yêu thằng ăn cướp, nhưng không thể nào yêu thằng ăn mày. Bác bảo, mày cứ thử đi. Ra đường, chĩa dao vào hông con người ta, và giựt bóp đầm. Rồi hỏi, cô có yêu tôi không? Mày sẽ được trả lời bằng những móng tay nhọn cào rách mặt. Đó là chưa nói đến chuyện bị còng tay đi tù. Anh Kiên nói, cái thời đánh xe thổ mộ của ba, xưa rồi. Thời đại mới, phải dùng lực lượng xe tăng thiết giáp tấn công, mới mong chiếm đoạt dược tình yêu. Bác Năm nói, tụi bây là thứ de non động cỡn, thời kỳ đó, tao đã trãi qua từ mấy chục năm về trước. Chẳng có tình yêu gì đâu. Tất cả chì là tình dục được che đậy dưới danh nghĩa tình yêu. Hôn nhân là một cuộc gán ghép với nhau, cho có bạn đi trên đường đời mà thôi. Anh Kiên hỏi, đơn giản thế à? Bác Năm nói, không tin cứ hỏi má mày. Bác Năm gái đang ngồi ngoáy trầu nói, yêu cái con khỉ mốc. Tao ăn ở với ổng, thì sinh con đẻ cái cho ổng. Anh Kiên nói, quan niệm cổ lỗ xĩ như vậy, mà ông bà cũng sống được với nhau mấy chục năm. Lạ thật! Lời của bác Năm gái, làm tôi nghĩ đến chị Triều. Tôi có yêu chị không? Hay chỉ là tình dục? Tôi làm với bác Năm hơn nửa tháng. Những ngón tay sưng vù lên, bởi lơ đểnh đập búa vào tay, Bác hỏi, hồn vía tôi để tận đâu đâu? Sao lúc nào cũng thấy tôi mang bộ mặt đưa đám? Tôi nói, cải mặt tôi vốn đã hãm tài, nên không ngóc đầu lên nồi. Bác Năm cho tôi tạm ngừng đục đá, phụ bác đạp xe ba gác chở táng đá, mộ bia và xi màng lên nghĩa địa xây mả. Lại lẩn quẩn bên những nấm mồ. Không biết số tôi ra sao mà cứ khiến xui về nghĩa địa? Những khi buồn chán, tôi nghĩ, tại âm khí người chết che ám vận mệnh nên đời tôi khốn khó. Lòng tôi buồn bã. Suy nghĩ mông lung. Thèm sống lại những ngày ái ân dục lạc với chị Triều. Nhớ lại những kỷ miệm êm đềm mắt trao mày gửi với Phương Nghi, Bây giờ, tất cả đã qua rồi. Chị Triều, biệt vô âm tín, Phương Nghi, không còn nhìn ngoái lại. Nổi đời như cơn sóng dữ, nhấn chìm hết mọi thứ.

Mặt buổi trưa, tôi chở táng đá và xi măng lên nghĩa địa. Qua những doạn dường dốc, tôi phải xuống xe ba gác còng lưng mệt nhọc mà đẩy. Mỗ hôi ướt mặt. Lưng áo ướt dầm. Bổng lôi thấy Phương Nghỉ đạp xe ngược chiều trên đường Lữ Gia. Tôi nghiêng dầu cho vành mũ che khuất mặt. Tôi không muốn nó nhìn ra tôi trong cái lốt của một người phu cực nhọc. Nó dừng xe bên lề đường.

_Anh Hiên.” Nó gọi.

Không giấu mặt được nữa, tôi dừng lại, ngẫng lên. Tôi cười rất gượng và lau mồ hôi trán bằng cái mũ lưỡi trai. Nó nhìn tôi ngại ngùng. Tôi chào nó và muốn bỏ đi.

Nó nói: “Khoan đã. Anh cho Nghi nói chuyện.”

Tôi sợ nó gợi lại vấn để tôi dến nhà chị y tá chích thuốc, nên tìm cách thối thoát: “Còn có gì để nói nữa đâu?”

“Nghi muốn xin lỗi anh.”

“Về vấn đề gì?”

“Hôm ở trên chùa. Nghi làm anh buồn. Nghi áy náy mãi trong lòng.”

Tôi nhớ lại hôm ấy, nó nói một cách tàn nhẫn, trong tình yêu không có thương hại đâu. Câu nói đã làm tim tôi thắt lại. Bây giờ, rõ ràng nó thương hại tôi. Có một chút gì nghèn nghẹn như tự ái vừa bị tổn thương.

Tôi cay đắng: “”Thương hại không phải là tình yêu,”

“Nghi không ngờ anh vất vả thế này.”

“Lại thương hại nữa. Tôi không thích ai ban bố cho tôi cái thứ tình cảm dư thừa ấy đâu.”

“Nghi cảm thấy mình có lỗi với anh .*

“Không yêu thì thôi, chứ lỗi phải gì? Tôi quên hết mọi chuyện rồi.”

Dù nói cứng, nhưng tôi nghe chỉa lìa từng đoạn ruột.

Nó dựa xe đạp vào xe ba gác. Bàn tay nó đặt trên yên xe. Những ngón tay nõn nà trắng muốt. Những ngón tay mà ngày nào đó. tôi đã mân mê bằng tất cả nỗi niềm xúc động của một tình yêu đầu đời. Giờ đây, tôi cũng thèm được cầm bàn tay ấy mà vuốt ve. Nhưng nhìn lại bàn tay sần sùi thô nhám của mình, tôi cảm thấy có một khoảng cách quá xa giữa bàn tay nó và bàn tay tôi. Bất giác, tôi sờ lên những ngón tay tủi cực của mình.

Nó cau mày tỏ vẽ xót xa: “Sao tay anh sưng vù lên thế?”

Tôi khộng trả lời.

“Đừng buồn nữa. Hiên ơi, hai đứa mình là bạn.” Giọng nó tha thiết.

Tôi nói: “Tôi và Nghi đâu phải Kim Trọng với Thúy Kiều sau mười lăm năm chia cách, rồi đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ. Nó mím môi, xụ mặt. Đôi môi tươi thắm, ngày mới gặp đầu tiên đã làm tôi điên đảo thần hồn. Khi nó mím lại, đôi môi cũng biết nũng nịu giận hờn. Tôi nhìn lãng đi hướng khác, giả vờ lãnh đạm. Thật ra, lòng tôi như lữa cháy. Tôi muốn thốt những lời nóng bỏng tình yêu ngày củ. Nhưng, tôi nhớ đã đọc ở đâu đó một câu triết lý vặt rằng, tình yêu như trò cút bắt, khi ta tìm nó sẽ trốn, khi ta quay lưng nó sẽ đuổi theo. Có phải vậy không? Sao không nhân cơ hội này, thay vì thuyết phục Phương Nghi hàn gắn lại chuyện tình, tôi thử lòng nó bằng cách tỏ thái độ khước từ? Nó nói: “Tuần sau là bắt đầu tựu truờng cho niên học mới. Nghi coi trong danh sách, thấy anh và Nghi được sắp xếp học chung một lớp. Như thế, nếu không là bạn thì gọi là gì? “À, hóa ra sắp phải nhìn mặt nhau hằng ngày nên Nghi nói đến tình bạn. Nghi ơi, cái thử tình gượng ép này, nhạt lắm. Giữa trai và gái, làm gì có tình bạn đích thực? Thà coi như người xa lạ còn hơn. Không thích nhau nữa thì thôi. Việc gì cứ phải đóng kịch?”

Khi nói, tôi tạo nét mặt rất lạnh như thể dã chán chường lắm. Dường như bị bất ngờ tước thái độ của tôi, nó sững sờ trong giây lất, rồi cúi đầu suy nghĩ. Tôi chờ nó hạ mình năn nỉ.

Một lúc sau, nó ngước lên, nhìn thẳng vào tôi: “Anh Hiên! Nghi đã xin lỗi anh rồi, nhưng anh là nguời cố chấp. Vâng, nếu anh muốn coi như người xa lạ, thì từ nay đừng nhìn mặt nhan nữa. Chào anh.”

Bây giờ. đến phiên tôi bị bất ngờ. Sự thử thách bị phản tác dụng như con dao đâm vào tử huyệt. Tôi còn đang lớ ngớ chưa nói được lời gì, Phương Nghi lên xc đạp phóng đi. Tóc nó lả tả bay ngược về phia sau. Tôi á khẩu đứng như trời trồng, như Từ Hải chết đứng giữa trận tiền. Trời ơi là trời! Cải thẳng khốn nạn nào đã đã đặt ra câu triết lý rẽ tiền, tình yêu như trò cút bắt … Nó hại tôi rồi. Trên đời, không có cái ngu nào giống cái ngu nào. Không bao giờ tôi học đuợc những bài học kinh nghiệm từ những lầm lỡ chua cay. Tôi cứ di lừng lững từ những vấp ngã này đến vấp ngã khác. Cú vấp ngã làm tôi đau đớn nhất, có lẽ là mối tình vừa vĩnh viễn chia tay.

33. Lên đường trước Tết Ta

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 9 Jun 2026

Năm nay tôi được về nhà ăn Giáng Sinh và tết Tây. Hôm tôi về tới nhà thì bà xã đã dựng cây thông nhân tạo có trang trí những bóng đèn li ti, dây kim tuyến và đồ chơi treo lủng lẳng với nhiều màu sắc trông rực rỡ vô cùng. Nhưng năm nay hai đứa con gái không dám về nhà vì sợ lây nhiễm co-vi. Nhớ những năm trước vào những ngày Giáng Sinh và Tết tây cả nhà quây quần bên nhau đầm ấm, vui vẻ lắm. Năm nay chỉ có tôi và bà xã ở nhà nên hổng thiết tha gì tới Giáng Sinh. Đêm giao thừa dương lịch hai vợ chồng hâm một bình rượu ấm uống với oliebol, phó mát, trái ô liu và ngồi xem truyền hình, cứ để mặc cho dòng thời gian lặng lẽ trôi qua.

Nhớ hồi còn trẻ, hễ sau tết Tây tôi hay nhớ về Tết ta ở quê nhà, rất hứng thú viết bài cho báo xuân và chờ báo xuân ra cũng như chờ Tết. Có lẽ nhiều năm ở xứ người với mùa đông lạnh lẽo, đón Tết ta qua những trang báo xuân riết rồi nhàm, năm nào như năm nấy, cũng chỉ có bấy nhiêu màu mè, hoa tươi sắc thắm, én liệng trời cao, hoa mai, hoa đào nở, chùa chiền người đông như kiến cỏ và khói hương nghi ngút. Đọc thấy không khí xuân trên báo lúc nào cũng hao hao giống lúc chị em Kiều du xuân của mấy trăm năm trước:  “… Ngày xuân con én đưa thoi… Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa, Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh, Gần xa nô nức yến oanh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm…” Không biết thời gian phôi pha hay sao và cũng không biết từ lúc nào lòng tôi trống vắng khi nghe Tết đến và có năm tôi quên luôn ngày Tết cổ truyền của dân tộc mình. Tôi không đợi chờ năm hết, Tết đến nữa nên thấy thời gian qua mau và tuổi đời chồng chất bao nhiêu tôi cũng hổng màng. Có lẽ ở xứ nầy nó thiếu cái gì đó, mà người ta gọi là không khí tết, thấy hàng quán trang hoàng sặc sỡ, thiên hạ mua bán rộn ràng và nhạc xuân văng vẳng khắp nơi lòng mình cũng rộn ràng theo. Năm nay tôi biết được Tết đến là nhờ trước ngày tôi lên đường, bà xã rủ đi chợ Việt Nam mua đồ về gói bánh tét và làm dưa món. Về nhà bà xã kêu tôi phụ bà dẹp cây thông Giáng Sinh bỏ vô thùng và đem cất. Sau đó vô rừng lựa chặt một cành cây tươi đem về cắm vô chỗ cây Giáng Sinh để cho bà xã gắn bông mai bằng nhựa lên làm cây mai chưng trong phòng khách. Bà xã nói:

– Cho nhà có không khí Tết.

Khi tôi vô rừng chặt cây đem về, bà xã kêu tôi lấy cái xô và mấy cục gạch chèn hai bên để cắm nhánh cây cho khỏi ngã. Vợ kêu làm sao thì tôi làm theo vậy, trong buổi sáng tôi vừa dọn cây giáng sinh vừa chặt và cắm xong cành cây tươi, phần tôi đã xong rồi. Tới phiên bà xã đứng gắn từng cái bông mai nhựa nhỏ xíu màu vàng lên nhánh cây. Khi gắn hết bông rồi bà đứng ngắm nghía trông có vẻ hài lòng lắm. Tôi thì thấy nhánh cây có bông mà hổng có lá, tôi nói:

– Cây mai gì có bông mà hổng có lá trông hơi kỳ cục.

Bà xã cười cho cái sự thiếu kinh nghiệm về cây cảnh của tôi, bà liền giải thích cho tôi hiểu:

 – Ở ngoài trời lạnh cây hổng ra lá được, đen vô nhà ngâm trong nước và không khí ấm áp, từ đây tới Tết mình lá cây ra xanh màu đọt chuối trông cũng bắt mắt.

– Ồ, ngộ vậy…

– Ngộ gì, ông múc nước đổ vô gốc cây dùm đi.

– À, vậy  thì bây giờ gọi là cây mai được rồi.

Tôi lấy nước đổ vô gốc cây, coi như phần cây mai đã xong. Bà xã chợt nhớ ra một chuyện, liền nói:

– Hôm rồi đi chợ Việt định xin lịch về treo, nhưng năm nay bị cô-vi nên người ta hổng in lịch nữa, Tết năm nay nhà mình hổng có lịch Việt treo rồi. 

– Hổng có lịch Ta thì treo lịch Tây.

– Treo lịch Tây hổng thấy không khí Tết.

– Có lịch mới treo được rồi, năm nay không khí đại dịch cô-vi thì có, chớ Tết nhứt khỉ khô gì.

Bà xã càu nhàu:

– Nhưng cả nước Hoà Lan bị phong toả, tiệm đóng cửa hết, hơn nữa tết Tây qua lâu rồi, đi mua lịch năm tới chắc!

Tôi chợt nhớ ra hôm ở trên tàu người giao hàng có tặng tôi tờ lịch, tôi cuốn tròn nhét trong học trên nắp va li, nếu không có chuyện lịch Tết thì tôi đã quên luôn rồi. Tôi nói:

– À, anh có tấm lịch còn trong va li, để anh lên lấy xuống cho bà xã treo.

Tôi lên phòng mở va li lấy cuộn lịch đem xuống đưa cho bà xã. Bà xã mở ra thấy nguyên xấp lịch toàn hình phụ nữ trần truồng. Bà trợn mắt nói:

– Cái này làm sao treo được?!

Tôi cũng có hơi bị bất ngờ, tôi đi lại lấy xấp lịch lật xem, nhìn những cô gái Tây khoả thân. Chắc người tặng lịch nghĩ là những người làm việc trên tàu cũng giống những thợ sửa xe hơi trong garage, là thích treo hình phụ nữ sexy để nhìn cho ấm lòng. Tôi cười và nói dỡn chơi cho vui nhà vui cửa:

– Ờ, trông cô nào cô nấy cũng “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang… Mỗi người một vẻ, Mười phân vẹn mười”.

– Hứ, còn ở đó mà đọc Kiều.

– Anh thấy năm nào bà xã cũng vô tiệm Việt tìm xin cho bằng được lịch có hình các cô gái Việt Nam về treo, năm nay hổng có gái Việt thì treo gái Tây có sao đâu.

Bà xã nghiêm giọng nói:

– Ông già rồi mà còn ăn với nói, lẩm cẩm rồi hả, ông quên nhà mình toàn là con gái.

Tôi cười cầu hoà:

– Biết rồi bà xã, dỡn chơi thôi mà, để tôi đem bỏ thùng rác.

– Bỏ chi uổng vậy, mai mốt ông đi rồi, sao hổng đem theo xuống tàu treo.

– Thật ra thì trên tàu tui cũng hổng có treo lịch sexy trong phòng.

– Thì cho người khác.

– Trên tàu lịch thiếu gì.

Tôi để tờ lịch lên bàn. Bà xã thấy cũng không còn chuyện gì làm nữa mới đề nghị ăn bánh tét dưa món. Tôi nói: 

– Ô kê, cái này hấp dẫn à nha.

Trong khi chờ đợi bà xã cắt bánh tét, tôi nhìn lên tờ lịch cũ treo trên tường, một cô gái Việt Nam trong chiếc áo dài mà tôi thường nghe những nhà văn hoá ca ngợi là “quốc hồn quốc tuý” của dân tộc và được coi như là một trong những biểu tượng văn hoá truyền thống của Việt Nam. Tôi ngắm nghía nhìn kỹ, tự dưng trong đầu nảy sanh ra một ý nghĩ so sánh. Các cô người mẫu Việt Nam bận áo dài phủ từ cổ xuống chân, tuy kín đáo nhưng thân hình lồ lộ đầy gợi cảm, cũng bốc lửa đâu thua gì những cô gái Tây phương. Nhưng khác cái là các cô gái Tây phương chụp hình in lịch thì trần trụi khoe hết cả thân người, dù cho các cô gái Tây có mập, có ốm gì mà khoả thân chụp hình thì trông cô nào cô nấy cũng hấp dẫn như nhau. Còn các cô gái Việt Nam muốn mặc áo dài cho đẹp, hấp dẫn và cho bắt mắt mọi người thì người thợ may phải chọn những cô người mẫu ôm ốm, chân dài, ngực, mông đầy đủ và vòng eo càng nhỏ càng tốt, mà người ta thường gọi đó là “thắt đáy lưng ong”. Chọn xong, người thợ may cẩn thận đo từng ly từng tí những chỗ lồi ra lõm vào theo thân người của các cô để tạo nên sự gợi cảm tưởng tượng. Sau đó mới tới người thợ chụp hình, cho các cô người mẫu bận áo dài mới, đi tìm chỗ nào có bông hoa đẹp để các cô đứng làm kiểu, chụp mỗi cô vài ba chục tấm và lựa lấy một tấm đem về sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu bận mới vừa ý. Nhờ thợ may và thợ chụp hình tốn nhiều thời gian và công sức, nên trông hình cô gái Việt bận áo dài, cô nào cô nấy cũng đẹp giống như tranh vẽ, nó hổng giống thiệt như các cô gái Tây phương.

Bà xã bưng bánh tét và dưa món ra để lên bàn. Tôi lấy xấp lịch nhét vô thùng giấy, báo vụn và đứng lên phụ bà xã dọn chén, tôi thích ăn bánh tét chấm xì dầu cay cay mới lấy chai xì dầu xịt ra dĩa dầm thêm trái ớt hiểm rồi bưng mọi thứ để lên bàn. Bà xã gắp bánh bỏ vô chén mời tôi ăn. Chúng tôi im lặng ngồi ăn ngon lành. Tới khi ăn gần hết bánh bà xã mới lên tiếng hỏi:

– Sao, ông ăn thấy được không?

– Được, được, ngon bá chấy luôn, cám ơn bà xã.

– Coi như mình ăn Tết sớm đi.

– Ừa, không khí tết qua cây mai, hương vị Tết qua những thứ nằm trên bàn này đây.

– Còn chả lụa tôi cắt ra để trong tủ lạnh, lát tối tôi với ông uống bia. À, mà công ty có cho ông biết ngày đi chưa?

–  Chưa, họ chỉ kêu ngày mai đi khám sức khoẻ và xét nghiệm PCR.

– PCR là gì?

– Là Polymerase Chain Reaction, đại khái là thử coi mình có dương tính không?

– Nhớ coi đồ đạc, đủ thiếu gì nói tui biết để tui mua.

– Áo quần đi làm còn nguyên trong va li, có lẽ mua thêm bàn chải, kem đánh răng và dầu gội đầu.

– Được rồi, ông xem thiếu cái gì thì ghi vô giấy, mai ông đi lo thủ tục, tui ra chợ mua cho.

Cả đời tôi đi đi về về là chuyện bình thường. Có điều khác là lần này sắp lên đường tâm trạng tôi nao nao làm sao. Những ngày ở nhà, mỗi khi ra ngoài trở về thì phải khử trùng hai bàn tay và vợ chồng tránh tránh né né, ngồi nói chuyện cũng giữ khoảng cách, khi đụng chạm nhau cũng ngài ngại sao đó, như vậy còn nói gì tới chuyện săn sóc cho nhau. Ở nhà thì thấy hơi phiền, ra đi thì trong dạ không yên.

Canary Islands

 3/2/ 2021

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 9 Jun 2026

HUY PHƯƠNG

Một tiếng nói nhân bản

Một tâm tình quốc gia

GS NGUYỄN NGỌC BÍCH

.. Phải nói, tác-giả Huy Phương hiểu rất rõ khả-năng của mình. Ông đủ thực-tế để biết, cũng như chúng ta thừa biết, là sống trong một môi-trường văn-hóa mà căn-bản rất  khác với nhiều điều chúng ta được học trong quá-khứ,chúng ta khá bất lực, không bẻ ngược được lại những điều “trái tai gai mắt” ta chứng-kiến chung quanh ta. Do đó dù không đồng-ý, chúng ta cũng không cấm cản được nhưng cũng không ai cấm được ta có thái-độ, một thái-độ tự-trọng vì ta chung thủy, không phản phúc, không “qua sông đấm bòi” như một thành-ngữ của VN đã mô-tả một cách rất hình-tượng và linh-động.

Do đó nên ông dành những bài đanh thép nhất mắng thẳng vào những kiểu trí-thức hèn hạ như Nguyễn Hữu Liêm đã vì chút danh hão mà quay ra ca tụng “kẻ thù của dân-tộc” là chế-độ ở quê nhà.

Như vậy, nói đến ngòi bút Huy Phương là nói đến một ngòi bút dứt khoát, một ngòi bút kiểu Nguyễn Đình Chiểu, chính tà phân minh, không khoan nhượng. Ông đáng yêu cũng ở chỗ đó, chính vì vậy mà tôi thẳng thừng gọi ông là một ngòi bút Quốc gia-không mặc-cảm, không ngượng ngập. Vì sao? Vì tôi biết là ngày mai, sau khi cái họa CS không còn nữa trên đất nước quê hương tôi, người ta sẽ đọc như người Nga ngày hôm nay đọc Solzhenitsyn, mà vất vào sọt rác những bài ca tụng CS của một người vô liêm sỉ kiểu Nguyễn Hữu Liêm. Đó là lý do tại sao 35 năm sau khi chúng ta đi lưu vong vẫn còn những nhà văn viết tiếng Việt, vẫn còn những độc- giả đọc tiếng Việt như hầu hết chúng ta ngồi đây, và văn-học tiếng Việt của chúng ta ở hải-ngoại vẫn còn chỗ đứng vững mạnh của nó như trong hiện-tại. Đây cuối cùng là sản-phẩm của một niềm tin, niềm tin vào ngôn ngữ và chính-nghĩa bất diệt của chúng ta.

Và khi chính-nghĩa đó được viết ra bằng một ngòi bút, hay nói đúng hơn là “ngòi”(?) computer, tài-hoa như của Huy Phương thì chúng ta có được những tác-phẩm để đời.

(Đọc trong buổi ra mắt Hạnh phúc xót xa ở Mason District

Government Center Springfield, Virginia

Ngày 31 tháng 10 năm 2010)

Nhà Văn DIỆU TẦN

… Có ba nhà văn coi Huy Phương là người viết tạp ghi hay nhất hiện nay ở hải ngoại. Gom lại thấy có mấy nhận xét chính:

a. Vốn là nhà giáo nên văn phong của ông hiền lành, nhân hậu, trầm tĩnh, không gào thét, phá phách, nhưng ung dung, từ tốn mà sâu sắc, đầy thuyết phục. Văn ông như tên thật của ông: Nghiêm và Kính.

b. Gốc người Huế, Huy Phương viết về Huế, Quảng Trị là đúng chỉ số, gây xúc động độc giả, viết thật, viết đúng, không bi thảm hoá.

c. Huy Phương có tài viết câu kết khéo gọn, giàu ý nghĩa, Chỉ mấy chữ, nửa dòng hay một dòng thôi đủ gói ghém, đủ gây bất ngờ và khiến người phải suy nghĩ rộng hơn, sâu hơn.

… Trong tác phẩm thứ năm này có ba cái nhất:

Bài gây cảm động, xúc động nhất là «Ngày Tốt Nghiệp » (trang 12). Hãy lắng nghe: « Ngày ra trường kết thúc một thời gian theo đuổi việc học, có thể để bắt đầu cho cuộc đời mới mẻ của con, nhưng người mẹ mơ hồ cảm thấy đó là một giai đoạn kết thúc từng chặng đời của bà. Như con chim đủ lông đủ cánh, đứa con sắp rời tổ để bay xa. Đội mũ tốt nghiệp … nhưng có đứa con nào nói được một lời, chân thành với nước mắt, mà cũng không người mẹ nào mong được con nói một câu như: « Mẹ ơi! được như ngày hôm nay cho con, mẹ đã trải qua biết bao lo âu, hy sinh biết bao nhiêu tiền bạc, sức khỏe. Con mang ơn mẹ biết bao nhiêu ».

Mỉa mai, tức cười nhất trong bài Bà .. Tư lệnh”. Văn chương nhất là bài “Những tiếng còi tàu” (trang 158). Xin nghe: « Ngày tôi bỏ xứ ra đi, những người tiễn tôi trên sân ga, ngày nay đã khuất bóng. Con tàu chạy qua những con đường quen thuộc của thành phố nhỏ ngày ấy. Qua những cửa sổ toa tàu, tôi thấy mọi người dưới đường đều nhìn theo con tàu, trong đó có những người chưa bao giờ được đi xa, họ sinh ra và lớn lên và chết trong thành phố đó. Không những với một con tàu, tôi đã đi nhiều con tàu, qua nhiều sân ga, qua nhiều bến cảng, bỏ lại quê hương bất công nghèo đói sau lưng ».

Viết về đề tài phụ nữ ngòi bút ông thật xót xa, chua chát. Trong các tác phẩm ông không quên có những bài ca tụng, đề cao, cảm phục, tạ ơn, xót thương cho phụ nữ. Như tiến sĩ Nguyễn Kim Qúy đã viết: « Huy Phương có tham vọng đáng yêu, đáng qúy là muốn “ôm cả cuộc đời” qua những cuốn tạp ghi sâu sắc.” Để chấm dứt, chúng ta không cần khen phò mã tốt áo nữa. Cho nên phải nhái thơ Vũ Hoàng Chương:

“Một nét bút đưa đời vẫn đẹp,

dù khen hay chẳng cũng là dư”.

Vì đã có đến gần hai chục văn, thi sĩ có danh khen ngợi ông rồi. Chỉ nên mượn lời bài hát « Đời Còn Dễ Thương »:

« Cũng may đời còn dễ thương

Vì đã đọc Huy Phương ».

(trích bài nói chuyện trong buổi RMS ở Trung Tâm VIVO-San José ngày 12-9-2010)

QUỲNH GIAO

.. Cũng là người viết hàng tuần cho Người Việt, Quỳnh Giao rất phục sức sáng tác và những đề tài ông chọn. Nói là tạp ghi nên tưởng rằng dễ, nhưng chọn đề tài thì không. Huy Phương có một vốn sống rất dầy và trái tim rộng mở nên viết về mọi đề tài. Đôi khi chỉ cần đi dự một lễ cưới là tác giả đã cho chúng ta một nụ cười với lối châm biếm nhẹ nhàng, mà cũng có chút xót xa tội nghiệp nữa. Vì sao vậy?

Có lẽ với bản chất hiền hòa của một nhà giáo, Huy Phương không bao giờ cười trên sự đau khổ của người khác. Nếu có, thì chỉ đùa chút cho vui, rồi tự nhiên bài viết của ông mang một thông điệp mà chính độc giả tự suy ra. Cách viết của ông hơi gần với của Phan Lạc Phúc, chan chứa tình cảm và lòng bao dung. Ông không nỡ chê ai tận tình và bao giờ cũng cho người một lối thoát. Trừ những bài viết về chế độ Cộng Sản và kỷ niệm lao tù khốn khổ của hàng triệu người, trong đó có ông.

Nhớ lại chuỗi thời gian dài, mỗi cây bút tạp ghi lại để cho người đọc những suy tư của tác giả vào một hoàn cảnh và thời gian nào đó, có những cái rất riêng và những chuyện rất chung. Chính là những suy tư về cái chung của chúng ta qua rất nhiều biến động mới khiến tác phẩm tồn tại vì người đọc tìm thấy mình ở trong đó và còn muốn đọc lại. Huy Phương thuộc thành phần ấy …

Nhà thơ DU TƯ LÊ

(dutule.com)

Thời gian cho thấy, Huy Phương viết, không chỉ do sự thúc bách của nhu cầu tinh thần mà, ông còn viết vì trách nhiệm của một nhà văn trước quê hương, dân tộc và, thành những trang văn mang tên Huy Phương thấm đẫm thời thế. Hai tác nhân chính này, hòa quyện nhau làm tình yêu thương đất nước và con người. Với tôi, đó là những trang văn gần gũi nhất, tha thiết nhất và, cũng ân cần nhất mà, một nhà văn có thể có được cho cuộc đời viết văn của mình ở thể loại Tạp Ghi. Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi thấy tạp ghi Huy Phương được đông đảo quần chúng hân hoan đón nhận. Trước thực trạng thị trường chữ, nghĩa ngày một co cụm vì sự thờ ơ, hờ hững hoặc quay lưng của độc giả hải ngoại mà, tác phẩm của Huy Phương vẫn được khắp nơi đón nhận như một món ăn tinh thần cần thiết, tôi cho, đó là một ngoại lệ. Một hiện tượng hiếm, quý. Với 61 bài tạp ghi viết dọc lộ trình nhân sinh gập ghềnh, nhồi xóc nơi quê người, được tác giả chọn để làm thành tác phẩm “Hạnh Phúc Xót Xa,” theo tôi, một lần nữa, nhà văn Huy Phương lại ghi, khắc được một cách sâu sắc, thâm trầm những mảng đời Việt Nam, lênh đênh, ty nạn. Đóng góp của ông về phương diện văn chương, qua tác phẩm vừa kể, là một đóng góp ý nghĩa và hữu ích cho mai sau – Những ai muốn thở, sống với buồn vui một  thời, của những số phận Việt, đầu thiên niên kỷ 2000, nơi xứ người!

Nhà văn PHẠM PHÚ MINH

.. Điều đáng nói thứ nhất là cách chọn đề tài của ông: toàn là những chuyện rất gần gũi với cuộc sống của chúng ta. Mỗi hăm mươi bốn giờ trôi qua, biết bao là sự việc, là tin tức đến với một con người sống trong xã hội, nhất là trong thời đại thông tin bùng nổ như bây giờ. Hầu hết chúng ta đón nhận thông tin một cách vội vã, có khi cầm tờ báo chỉ lướt mắt nhìn qua các tin chính, và ít khi chúng ta suy nghĩ sâu xa về một sự kiện nào. Nhưng đối với Huy Phương thì khác, ông nhìn tin tức với con mắt và tấm lòng khác hắn đa số chúng ta, có những cái đối với chúng ta rất bình thường, hầu như chẳng có gì đáng nói, ấy vậy mà đối với Huy Phương có thể là một đề tài rất hay.

Có đề tài là mẩu tin tức hay sự kiện làm nền rồi, cách khai triển đề tài ấy của Huy Phương cũng rất là đặc biệt. Ông suy nghĩ về sự kiện ấy, ông đặt tâm tình và lý trí của ông vào đấy, ông tìm thêm tài liệu dính dáng với câu chuyện đó, tất cả trình bày rất gọn, trung bình chỉ từ ba trang rưỡi đến bốn trang sách thôi. Viết ngắn là một biệt tài của tác giả. Hình như tác giả biết chúng ta đang sống trong một thời đại rất vội vã, ít ai có thì giờ và tâm tư để đọc những gì dài lê thê, nên chỉ viết vừa đủ, ngắn gọn mà súc tích, sâu sắc.

Một điều thú vị cho người đọc Tạp ghi của Huy Phương là những đề tài ông viết rất gần gụi với chúng ta, hầu như chúng ta đều có nghe qua rồi. Biết rồi thì đọc thêm làm gì cho mất công, chắc hẳn mỗi người trong chúng ta đều tự nhủ như thế. Nhưng mà không, ở đây có cái lạ là chính vì đã biết rồi mà chúng ta càng ham đọc ông. Đó là vì cũng với đề tài ấy, nhưng Huy Phương phát triển ra theo cách của ông, và cái cách ấy làm chúng ta say mê không rời ông ra được. Bí quyết của ông là gì? Thứ nhất ông bổ túc cho đề tài bằng một số kiến thức mới, giúp cho người đọc hiểu rõ lai lịch nguồn gốc câu chuyện ấy thực ra là như thế nào. Rồi dựa vào đó, ông trình bày, lý giải, biện hộ cho ý kiến riêng của ông, để bênh vực hay bài bác.

… Có thể nói đề tài của ông là bất tận, khi nào còn cuộc sống của con người thì ông còn đề tài để viết. Muốn thế, điểm then chốt là ông có một tấm lòng rất nhân đạo, từ căn bản và từ lập trường đó ông nhìn ra vấn đề cần phải bàn. Ông chống cái ác, không ưa sự lố bịch, và rất có cảm tình, luôn luôn biểu dương những tư tưởng và hành động dựa trên điều thiện. Và ông cũng nghiên cứu tài liệu một cách công phu để củng cố cho lập luận của mình, vì biết rằng chỉ đưa ra vài cái nhìn rất chủ quan thì không đủ thuyết phục ai cả trong thế giới đầy ắp thông tin này. Cuối cùng ông có một khả năng viết lách rất khúc chiết sáng sủa, giọng văn tự nhiên như trò chuyện thân mật với bạn bè, ai đọc cũng cảm thấy gần gũi, thích thú.

(phát biểu trong buổi RMS tại báo Người Việt ngày 19 tháng 8, 2010).

THƯ SINH (San José)

… Còn Huy Phương, khác hẳn. Anh chọn đề tài rộng rãi hơn. Và cách viết cũng nghiêm túc hơn. Nên nếu ta bắt gặp đâu đó nơi Tạp Ghi Huy Phương những nụ cười. Thì những nụ cười đó chưa hắn thoải mái một cách trọn vẹn. Tạp Ghi Huy Phương không dồn dập, không sôi nổi, mà trầm lắng. Có lẽ vì cái chất nhà giáo và một người lớn tuổi như anh. Mà một “ông đồ già” như anh, thì chọn những đề tài gì, ngoài những kinh nghiệm đời và những kiến thức anh tích lũy được hơn bẩy chục năm cọ sát với đời. Nên độc giả của anh, hầu hết là những người lớn tuổi. Đối với Tạp Ghi Huy Phương, là ôn cố tri tân, là thấy người lại nghĩ đến ta. Tạp Ghi Huy Phương đã nối kết được cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu quả đúng như thế, thì chúng ta sẽ không còn phải thắc mắc. Tại sao Huy Phương quá mặn mòi với thể văn Tạp Ghi. Có người cho rằng. Tạp Ghi là một bài tùy bút ngắn. Xem ra lối ví von này lại rất đúng với Tạp Ghi Huy Phương. Mỗi bài anh viết chỉ dài 4 hay 5 trang giấy (khổ sách bình thường). Nhưng làm sao, chỉ vỏn vẹn vài trang giấy Huy Phương lại có thể tuân thủ mấy nguyên tắc mà một bài tạp ghi đòi hỏi: Ghi lại những cảm nghĩ của mình, và trình bày một cách trung thực những sự kiện khách quan.

VŨ ĐÌNH TRỌNG/Việt Herald

Mỗi ngày, những tin tức trong nước hay cộng đồng người Việt hải ngoại, thường cho ta nhiều cảm xúc. Chính cảm xúc đó đã tạo nên một Huy Phương Tạp Ghi. Những cảm xúc của nhiều người cũng là cảm xúc của ông, nhưng ông biết “đãi vàng” trong hàng trăm tin tức để gởi đến độc giả chiều sâu sự việc. Cho dù, giọng văn có chua xót, ngậm ngùi, hay đôi khi có chút cay đắng, đọc xong một bài tạp ghi của ông, tôi chia sẻ được cái tâm của ông, cái tâm của một nhà giáo, muốn dùng ngòi bút để làm trong sạch xã hội, làm thăng hoa đời sống con người.

Tôi thích cách đặt vấn đề gián tiếp của ông. Ở những bài tạp ghi như thế, tôi lại được học thêm một điều gì đó ngoài những điều ông muốn nói. Tôi thích những đề tài ông viết về cuộc sống ở đây hơn, vì nó gần gũi, chia sẻ được với lớp trẻ ở đây điều mà các bạn ấy ít bận tâm. (2010)

ĐINH QUANG ANH THÁI

(Westminster, California)

“Quê Nhà”, ông Huy Phương nói về những nhục nhằn mà đồng bào tại Việt Nam phải cúi mặt gánh chịu; về nhân cách bất khuất của những người dám đấu tranh cho khát vọng dân chủ, tự do của dân tộc; về phận đời lây lất của những cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa. “Quê Người”, không cường điệu, không uất giận, nhà văn từng mặc áo lính này từ tốn nói lên những điều có thể gây phật lòng một số người, nhưng rõ ràng là những sự thật diễn ra hàng ngày trong cộng đồng Việt Nam; nhưng ông cũng không quên nhắc đến những đóng góp tích cực của người Mỹ gốc Việt nơi quê hương thứ hai này. “Quê Nhà-Quê Người” của Huy Phương, như cách nói của nhà văn Hoàng Tiến hiện ở Việt Nam, “là những giọt máu nhỏ trên giấy”. Máu của một người lúc nào cũng trăn trở, buồn vui với vận mệnh chung của con người và đất nước Việt Nam.

LM. Joseph NGUYỄN THÁI (Trung Tâm Công Giáo- Orange County)

Tại mỗi bài viết bút ký, tôi học và biết được những sự kiện hiện tượng xẩy ra, những kinh nghiệm cuộc đời. Đằng sau đó, kèm theo một cái nhìn sâu sắc về nhân bản và giá trị yêu thương của con người. Ở nơi bộ sách của anh đã giúp tôi như một tài liệu để dọn những bài suy niệm tôn giáo, hoặc giảng thuyết về một đề tài nào đó. Rất chân thành cám ơn anh như một người anh đi trước, đã ghi nhận các biến cố trong thời đại chúng ta đang sống và truyền lại những bài học làm người thật đáng quý. (2011)

NGUYỄN THANH HOÀNG

(Toronto, Canada)

Huy Phương viết về những sự việc gần gũi với đời sống bình thường, những trăn trở của người Việt tị nạn ở hải ngoại. Ông viết với một tấm lòng đôn hậu đầy ắp tình người khiến cho người đọc xúc động. Ông khéo léo trình bày những cảnh ngộ thường thấy hàng ngày, thêm vào những cảm nghĩ và nhận xét tinh tế của ông. Thảo nào những tác phẩm của ông đều được đọc giả đón nhận nồng nhiệt.

Nhà Văn PHAN LẠC PHÚC

(Sydney, Úc)

Đọc tạp ghi của Huy Phương tôi bắt gặp cái mực thước về văn phong cũng như suy tưởng của một ông thầy giáo, cái kiên định của một người lính chiến đấu không mệt mỏi cho tự do và phẩm giá con người.

Nhưng thấm thía hơn hết là cái xót xa của một người Việt Nam nhìn về quê hương thấy đất nước ta tan nát, xã hội ta băng hoại vì bè lũ lãnh đạo bất nhân đang sẵn sàng làm tôi tớ ngoại bang, công khai bán nước buôn dân. Là một người lính già thua trận, đã ở cái tuổi “mũ ni che tai”, tôi xin cảm ơn người anh em đồng đội Huy Phương đã nói giúp tôi những điểu tôi chưa kịp nói.

LÊ ANH DŨNG

(ký giả-Westminster)

Chúng ta thử điểm lại những tác phẩm của Nhà Văn Huy Phương từ trước đến nay thì sẽ thấy rõ ràng trong ông, thuần khiết, vốn là một nhà Giáo dục, một người Thầy đứng trên bục giảng … Toàn bộ những bài tạp ghi – phiếm luận – trong những tác phẩm của Nhà Văn Huy Phương như: “Ấm Lạnh Quê Người”, “Nhìn Xuống Cuộc Đời” …  Rồi giờ đây là “Hạnh Phúc Xót Xa”; đều có một nét rấtriêng, rất Huy Phương. Nó không giống bất cứ những tap ghi nào của những tác gỉa trước ông hay cùng thời với ông!

(2010)

ĐỖ XUÂN THẢO

Cũng cần để ý là các bài tạp ghi của HP tuy đại thể mang cùng chủ đề hoặc lãnh vực, nhưng không hề trùng lặp, mỗi bài một vẻ, tình tiết khác nhau. Có giống nhau là giống ở văn phong, lập trường quan điểm của tác giả, có trùng hợp là trùng hợp ở cách nhìn nhân bản và tấm lòng thương cảm của nhà văn vốn trải dài xuyên suốt trong các tập tạp ghi của anh. Chính vậy mà cùng một sự kiện, cùng một câu chuyện nếu người khác viết thì chưa chắc đã có cách nhìn và cách viết tương tự như “thương hiệu văn bút”

Huy Phương.

(Quận Cam 8-22-2010)

*LINH TRẦN

(độc giả Người Việt 7-2009)

Linhichiban@hotmail.com

Những bài viết thật hay nhưng cũng xót xa quá. Những gì qua ngòi viết chân phương của tác giả Huy Phương đều dễ làm cho dộc giả ngậm ngùi, nhưng luôn luôn làm cho mọi người muốn ngẩng đầu lên một chút, vì lòng tự trọng của con người, vì lòng tự trọng của một dân tộc.

BÌNH NGUYỄN (độc giả Cali Today 2007- San José)

Tôi đã đọc hết các tác phẩm của Nhà văn Huy Phương, và tôi đã khóc khi thấy chính mình cũng đã ở đó, một phần đời của tôi cũng có cùng chung nỗi đau thấm thía như trong văn của ông.

HOÀNG THU (độc giả Người Việt 2009)

Tôi năm nay xấp xỉ 70, sống ở Mỹ 26 năm, đã từng đọc rất nhiều sách báo VN đạo cũng như đời nhưng thú thật chưa có tác giả nào hay bài viết nào (kể cả các vị chức sắc tôn giáo) làm tôi cảm kích như bài viết “Người khách trọ vô tình” (Người Việt 30-8-2009) của Huy Phương. Xin được gửi lời cám ơn chân thành đến Ông Huy Phương.

Hải Quân Đại tá Cadeyrn Okely (gốc Việt), Giám đốc kỹ thuật Hạm đội, Hải quân Hoàng Gia Úc Đại Lợi.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on June 7, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 9 Jun 2026

HQ Đại tá Cadeyrn Okely (hình của portal.engineersaustralia.org.au).

Hải quân Đại tá Cadeyrn Okely hiện là Giám đốc kỹ thuật Hạm đội, Hải quân Hoàng Gia Úc Đại Lợi, ông gia nhập Hải quân Hoàng Gia Úc vào tháng 2 năm 1991. Khởi đầu hải nghiêp, ông là Thuỷ thủ chuyên viên thám xuất, phân tích âm thanh trong lòng biển trên tàu ngầm HMAS Oberon, sau đó ông chuyển sang ngành kỹ thuật điện tử và được thăng cấp Trung sĩ (petty officer) và thăng tiến dần lên Sĩ quan kỹ thuật điện vũ khí vào năm 2000. Ông theo học tại Học viện Kỹ thuật Hoàng Gia Melbourne (RMIT) 5 năm, thông qua Chương trình Sĩ quan Kỹ thuật và hoàn thành Văn bằng Kỹ sư với thành tích xuất sắc. Ông đã phục vụ trên các chiến hạm HMAS Anzac, HMAS Ballarat, HMAS Parramatta, và vị trí cuối cùng trên biển là Sĩ quan kỹ thuật điện vũ khí trên Khu trục hạm HMAS Perth.

Trong thời gian phục vụ trên các chiến hạm Hải quân, HQ Đại tá* Cadeyrn Okely đã đi nhiều nơi, với những trải nghiệm ở Nam Cực, Trung Đông và Đông Timor. Một điểm nổi bật trong sự nghiệp Sĩ quan Hải quân của ông là làm việc tại Washington DC Hoa Kỳ, nơi ông được bổ nhiệm làm Sĩ quan Kỹ sư điện tử vũ khí Hạm đội, tiếp theo là công việc với tư cách là Sĩ quan kỹ thuật hỗ trợ các Khu trục hạm hoả tiễn (Guided-missile destroyer).

HQ Đại tá Cadeyn Okley trao chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật, khóa 018 cho Trung sĩ Anable tại HMAS Cerberus, Victoria (hình của facebook.com/HMASCerberus)

HQ Đại tá Cadeyn Okely chuyển sang làm việc trong ngành công nghiệp vài năm trước khi trở lại phục vụ toàn thời gian vào năm 2025 với tư cách là Giám đốc kỹ thuật Hạm đội, nơi ông lãnh đạo và duy trì các tiêu chuẩn chuyên môn của các Sĩ quan kỹ thuật và kỹ sư trong Hải quân Hoàng gia Úc. Ông tốt nghiệp Học viện Giám đốc Công ty Úc (AICD) và có bằng cấp từ Viện huấn luyện điều hành và lãnh đạo (IECL), nơi ông hiện đang cung cấp dịch vụ huấn luyện điều hành cho các Sĩ quan và Thủy thủ Hải quân.
Cadeyn Okley được giải cứu khỏi một Cô nhi viện trong thời gian Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Những người cứu giúp ông là hai nhà ngoại giao Úc, sau này trở thành cha mẹ ông. Mẹ ruột của ông mất lúc ông mới sinh, cha ruột của ông là một người lính trong Quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Năm ông hai tuổi thì được đưa vào Cô nhi viện, và cha mẹ nuôi của ông đã đưa ông đến Úc trong cuộc di tản khỏi Sài Gòn. Cha nuôi ông tiếp tục làm nhà ngoại giao Úc, và sau một thời gian sống ở Úc, gia đình ông đã trải qua vài năm tiếp theo sống ở Anh, Nga và New York, nơi cha ông làm việc tại Liên Hiệp Quốc về giải trừ vũ khí hạt nhân.

Thuỷ thủ Cadeyn Okley và cha mẹ (hình của inkedin).

Trở lại Úc, HQ Đại tá Cadeyn Okley hoàn thành chương trình học lớp 12 và quyết định gia nhập Hải quân. Ông biết nước Úc đã cho ông một khởi đầu tốt đẹp và một cuộc sống tuyệt vời như vậy, nhưng ông nghĩ không có cách nào tốt hơn để đền đáp ngoài việc phục vụ đất nước. Hải quân cho phép ông bảo vệ nước Úc và cuộc sống mà đất nước này đã mang lại cho ông, đồng thời có thể đào tạo những người sẽ bảo vệ di sản của nước Úc.

Với vị trí Giám đốc kỹ thuật Hạm đội, HQ Đại tá Okely định hình và duy trì các tiêu chuẩn cho sự nghiệp kỹ thuật và chuyên môn của Hải quân, đồng thời bảo đảm bảo các chính sách kỹ thuật và an toàn được tuân thủ. Điều này có nghĩa là ông chịu trách nhiệm chứng nhận tất cả các Sĩ quan kỹ thuật đủ năng lực để đảm nhận vai trò trưởng bộ phận kỹ thuật trên tàu HMAS.

HQ Đại tá Okely đã tham gia vào các nhóm tham khảo của Bộ Quốc phòng nhằm hỗ trợ, đại diện và thúc đẩy sự hòa nhập của các Quân nhân phục vụ trong Lưc lượng Quốc phòng Úc đến từ các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau, giúp họ cảm thấy được trân trọng. Ông cũng dành thời gian làm cố vấn, tham gia huấn luyện lãnh đạo cho các Sĩ quan và Thủy thủ.

Ngoài HQ Đại tá Cadeyn Okely, Người Việt tị nạn tại Úc đã gia nhập Lực lương Quốc phòng Úc (ADF), từ thập niên 90 được ghi nhận như sau: Cựu Nữ Đại uý Trần Thanh Tâm, Bác sị Quân y Lục quân; Cựu Đại uý Trần Chính, Không quân; Cựu Thiếu tá Trần Thanh Nhơn, Bác sĩ Quân y Lục quân trừ bị; Cựu HQ Thiếu tá Tuan Vo, và một số vị Sĩ quan khác phục vụ Quân đội Úc trong thời kỳ đầu. Hiên nay, số Quân Nhân Úc gốc Việt còn rất khiêm tốn so với Quân nhân Mỹ gốc Việt, nhưng có nhiều nam nữ Sĩ quan Úc gốc Việt mang cấp bậc Đại uý và Thiếu tá được ghi nhận như: Đại uý Dangar Nguyen, Lục quân, Đại uý Brendan Nguyen, Lục quân; Đại uý Andrew Pham, Lục quân; Nữ Thiếu tá Vu Thuy An, Luc quân; Nữ HQ Đại úy Fiona Nguyen; Nữ HQ Đại uý Vicky Nguyen; Nữ Đại uý Dana Pham, Không quân; Nữ Trung uý Sophie Tran, Lục quân, và còn rất nhiều Sĩ quan cấp uý gốc Việt khác chưa cập nhật hết được. Riêng số Quân nhân Úc gốc Việt mang cấp bậc Hạ sĩ quan và Binh sĩ có thể lên đến hàng trăm.

Chú thích
: *HQ Đại tá=Navy Captain.

Nguồn: defence.gov.au/news; portal.engineersaustralia.org.au; linkedin.com.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 8 Jun 2026

Graber tỉnh giấc. Có bước đi rón rén làm đá sỏi kêu lạo xạo. Y khẽ vạch mền ra. Elisabeth cũng cựa mình nhưng vẫn ngủ. Có lẽ thầy Pohlmann, cũng có thể là kẻ cắp hay Mật vụ – vì giờ này là giờ họ hay đi qua. Nếu là Mật vụ thì phải báo cho Pohlmann biết kẻo mắc lưới họ.Y trông thấy hai bóng người. Y cố lẳng lặng đi theo. Chân không đi giày; nhưng đi được vài thước thì vấp phải một hòn gạch. Một trong hai cái bóng quay lại. Graber vội cúi xuống.

– Hình như có ai ở đây!

Graber nghe rõ tiếng Pohlmann, y đứng dậy.

– Tôi đây. Graber đây, thầy.

– Graber, có chuyện gì đây?

– Không. Chúng tôi bị nạn. Chúng tôi không biết đi đâu, tôi chợt nghĩ thầy có thể cho chúng tôi ở tạm vài ngày.

– Ai nữa mà chúng tôi?

– Vợ tôi và tôi. Tôi mới lấy vợ mấy ngày nay.

– Được, anh cứ ở lại.

Pohlmann đi lại gần. Bộ mặt nhợt nhạt của ông hiện ra một điểm trắng trong chỗ tối.

– Anh trông thấy tôi đi vào đây à?

Graber ngập ngừng một chút. Nhưng nghĩ lại, cần gì phải cẩn thận vô ích đối với Elisabeth và người lạ mặt chắc là nấp sau bức tường.

– Vâng, nhưng thầy có thể tin tôi.

Pohlmann đưa tay lên trán.

– Hẳn rồi, tôi tin anh.

Ông ra vẻ lưỡng lự:

– Anh trông thấy ai nữa không?

– Có một người nữa.

Pohlmann như quyết định cái gì :

– Được, cứ lại đây. Anh nói vài ngày? Không được rộng chỗ lắm. Nhưng bây giờ không nên đứng đây.

Hai người đi sang phía bên kia bức tường.

– Xong rồi, không sao cả.

Pohlmann nói vào trong tối.

Một người hiện ra. Pohlmann mở cửa đi vào rồi hỏi.

– Vợ anh đâu?

– Ở ngoài kia. Chúng tôi mang theo nệm và căng lều.

Pohlmann dừng lại trong tối.

– Tôi phải nói cho anh biết. Nếu người ta trông thấy anh ở đây có phải là nguy hiểm cho anh không?

– Tôi biết.

Pohlmann đằng hắng.

– Vì tôi bị tình nghi. Anh cũng hiểu chứ. Anh có nghĩ đến vợ anh không?

– Có.

Graber nghĩ một lát mới trả lời.

Cho đến bây giờ người lạ mặt vẫn đứng yên sau Graber. Chỉ nghe tiếng thở của ông ta thôi. Pohlmann đi trước, dẫn hai người đến cái hầm và thắp ngọn đèn để trên bàn sau khi đã kéo kín màn cửa.

– Không nên gọi tên nhau. Người ta không biết gì về mình thì người ta không nói đến mình… Anh này là Ernst. Ông này là Joseph. Gọi như thế là đủ rồi.

Joseph là một người độ bốn mươi tuổi, mặt mảnh mai, kiểu mặt người xứ Israel. Ông ta rất bình tĩnh, mỉm cười với Graber. Rồi ông ta phủi quần áo để rũ bụi cát.

– Chỗ này không chắc chắn lắm. Nhưng Joseph vẫn phải ở đây suốt ngày. Nhà ông ở trước bị phá rồi. Phải kiếm chỗ ở chiều nay, chỉ vì cái hầm này không còn kín đáo như trước nữa.

– Tôi biết.

Giọng của Joseph bỗng trở nên thận trọng bất ngờ.

– Còn anh. Tôi nhắc lại cho anh nhớ, tôi bị tình nghi. Anh thừa hiểu rằng người ta thấy anh ban đêm ở với một người bị tình nghi sẽ nguy hiểm cho anh thế nào.

– Vâng, tôi biết.

– Có lẽ đêm nay cũng không sao. Trong tỉnh còn lộn xộn vì mới dội bom. Nhưng ai biết đâu mà nói trước được. Anh có chịu nhận lấy sự nguy hiểm ấy chăng?

Graber không trả lời. Pohlmann và Joseph nhìn nhau.

– Riêng tôi, tôi không sợ gì cả. Vài ngày nữa tôi ra mặt trận, đối với vợ tôi thì khác. Tôi không nghĩ đến điều ấy thật.

– Tôi nói vậy không phải để từ chối đâu.

– Vâng, tôi biết.

– Cùng lắm ông có thể nằm ở ngoài không? – Joseph hỏi.

– Vâng chúng tôi trú mưa ở ngoài kia.

– Thế thì ở đây, cứ nằm đây. Ngày mai đem đồ đạc vào gửi đây, có lẽ cái đó làm ông bận tâm hơn cả. Hẳn là ông có thể đến nhà thờ. Nhà thờ bị phá rồi nhưng hầm còn nguyên vẹn. Đem đồ đến đấy gửi thì ban ngày được rảnh rang đi kiếm chỗ ở.

– Có lẽ ông Joseph nói phải. Ông có nhiều kinh nghiệm hơn chúng ta.

Graber cảm mến ông thầy học già như những năm về trước. Y nói:

– Vâng, tôi cũng nghĩ thế, tôi rất tiếc đã làm thầy sợ hãi lúc nãy.

– Sáng mai anh đến đây nếu cần cái gì. Gõ hai tiếng cách xa rồi hai tiếng gần nhau. Không cần mạnh lắm tôi cũng nghe thấy.

– Vâng, cám ơn thầy.

Graber trở lại lều vải căng. Elisabeth vẫn ngủ. Nàng khẽ rên khi y chui vào nằm gần, lát sau y cũng ngủ.

***

Sáu giờ sáng hôm sau nàng tỉnh dậy. Một chiếc xe ngựa lắc lư đi qua phố.

– Em ngủ ngon quá. Chúng ta nằm chỗ nào thế này.

– Công trường Jahn.

– Tối nay ngủ đâu?

– Ngày hôm nay đi kiếm.

Nàng lại nằm xuống gần chàng. Một tia sáng ban mai chiếu qua miếng vải lều. Chim hót quanh đấy. Nàng giơ tay kéo vải ra coi. Trời đã ửng hồng, không gợn chút mây.

– Thật đúng là đời sống bô-hê-miêng. Đầy thú vị phiêu lưu.

– Như thế gọi là nhìn đời dưới góc cạnh lạc quan. Tối hôm qua anh gặp thầy Pohlmann. Có thể nhờ thầy nếu có gì cần.

– Chúng ta không cần gì cả. Không biết có còn cà phê không? Nấu bếp ở đây có được không?

– Hẳn là bị cấm, cái gì hợp lẽ phải mà không bị cấm? Nhưng cần gì. Dù sao chúng ta cũng là bô-hê-miêng!

Elisabeth định chải đầu.

– Đằng sau nhà có cống nước mưa. Đủ để rửa mặt.

Nàng mặc áo vào.

– Y như ở nhà quê, ra máng nước rửa ráy. Ngày xưa mình thấy thế này rất thơ mộng!

Graber cười.

– Bây giờ cũng vẫn thơ mộng nếu so sánh với đời sống ngoài mặt trận. Cái gì cũng là tương đối cả.

Y lấy mền bọc nệm lại, đốt bếp rượu đặt ga-men đun nước. Thình lính y chợt nhớ ra quên mất thẻ thực phẩm ở nhà. Nàng vừa trở lại sau khi rửa mặt xong, mặt nàng tươi tỉnh trẻ trung.

– Em có giữ thẻ thực phẩm không?

– Không, để ở ngăn kéo chiếc bàn con gần cửa sổ.

– Trời! Anh lú ruột quên mất rồi. Ấy thế mà ngồi lần chần mãi đây!

– Anh phải nghĩ đến những chuyện khác quan trọng hơn. Thí dụ áo dài mặc dự hội của em. Thôi để làm đơn xin thẻ khác. Hẳn là hôm qua có nhiều người cháy mất thẻ.

– Đành là xin nhưng biết bao giờ được. Dù có đến lúc tận thế người công chức nước Đức cũng không chịu làm sai thể thức.

Elisabeth cười.

– Đến xưởng em xin nghỉ một giờ để xin thẻ. Viên trưởng xóm sẽ nhận thực cho mình cháy nhà.

– Hôm nay em trở về xưởng à?

– Phải trở về chứ. Cháy nhà thì có gì quan trọng!

– Thế này thì muốn cho xưởng may một mớ lửa không?

– Nhưng rồi họ lại tống mình đi nơi khác, đã chắc đâu bằng ở đây. Em không muốn làm súng đạn.

– Cứ lẳng lặng thế mà chuồn. Họ biết đâu hôm qua mình có yên lành không hay bị thương.

– Phải cho xem vết thương. Trong xưởng có thầy thuốc và cảnh sát. Khai bậy là họ phạt: làm việc thêm hay mất nghỉ phép – nếu cưỡng lại thì đi học tập công dân giáo dục trong một trại tập trung. Đã đi học về một lần thì không ai muốn đi học lại nữa.

Elisabeth cầm ga-men nước sôi đổ chậm lên vung, dưới để chút bột cà phê.

– Anh cũng chớ quên rằng em được nghỉ ba ngày để lấy chồng. Không nên đòi hỏi nhiều quá.

Y biết rằng vì cha bị bắt mà nàng chịu theo kỷ luật ấy. Đó là cách hạ nhục thân nhân những người bị giam.

– À! Đồ súc sinh! Họ làm cho chúng ta đến nỗi này!

– Thôi uống cà phê đi và hãy bình tâm. Chúng ta không có thời giờ để than thở.

– Quả như thế. Chúng ta chẳng còn bao nhiêu thời giờ!

Nàng gật đầu.

– Em biết, em biết. Anh gần hết phép rồi, mà mất bao nhiêu thời giờ để chờ đợi nhau. Em phải có can đảm không trở lại xưởng cho đến ngày anh đi.

– Em có đủ can đảm. Chẳng thà có người chờ đợi còn hơn chẳng có ai để chờ đợi cả.

Nàng mỉm cười ôm lấy chàng hôn.

– Kể ra anh học ăn học nói cũng chóng. Nhưng em phải đi đây. Tối nay gặp nhau ở đâu?

– Ừ nhỉ! Ở đâu! Chúng ta không cửa không nhà. Phải làm lại từ đầu. Anh đến xưởng đợi em.

– Nếu vì lẽ gì không gặp nhau, báo động hay bị ngăn cản?

Graber nghĩ ngợi.

– Anh sẽ mang đồ đạc đến nhà thờ. Ta lấy chỗ ấy làm nơi hẹn.

– Đêm cũng mở cửa à?

– Tại sao lại đêm? Không lẽ đến đêm em mới về?

– Biết đâu đấy. Có hôm phải ở trong hầm đến sáu giờ đồng hồ. Tốt hơn hết là kiếm một người mà chúng ta cũng có thể gặp để nhắn tin. Chỗ hẹn bây giờ cũng không chắc nữa.

– Em muốn nói đến trường hợp xảy ra cái gì bất thần cho một người.

– Vâng.

Graber gật đầu. Bây giờ y hiểu rằng rất dễ bị thất lạc.

– Ngày hôm nay sẽ nhờ thầy Pohlmann… À không, bây giờ không chắc nữa rồi. Nhà Binding thì không đến nỗi. Anh đã chỉ cho em biết nhà rồi. Hẳn là hắn chưa biết tụi mình mới thành hôn, nhưng không sao. Để anh đi qua báo tin cho hắn biết.

– Anh lại đến Binding làm một mẽ nữa?

Graber cười.

– Anh không nghĩ đến đấy. Nhưng mình cũng phải kiếm cái gì để ăn chứ. Sống mãi trong tình trạng này rồi mình cũng trở thành hèn nhát!

– Đêm nay còn ngủ đây không?

– Mong rằng không, ta có một ngày trời để đi tìm chỗ ở.

Mặt người thiếu phụ sa sầm lại giây lát.

– Anh thì có thời giờ nhưng em phải đến xưởng đây. Giờ thu xếp đồ đạc đem gởi thấy Pohlmann rồi anh đưa em đen xưởng.

– Không có thời giờ đâu. Em phải chạy mới kịp. Thôi, đến tối anh nhé, ở xưởng, hay nhà thờ, hay nhà Binding. Chà, cuộc sống phiêu lưu khá hấp dẫn!

– Gớm, phiêu lưu như thế này thì ngán lắm!

Nàng đi qua công trường, y đứng nhìn theo. Buổi ban mai sáng sủa. Trời xanh ngắt cao thẳm. Sương phủ cảnh hoang tàn một tấm màn bạc.

Nàng quay lại gửi chàng cái hôn tay rồi cắm đầu đi.

Graber thầm khen dáng đi nàng thật là đẹp. Hai chân lần lượt đặt thẳng đường se chỉ như nàng men theo một làn bánh xe. Bên Phi châu y đã thấy những người đàn bà có dáng đi ấy. Nàng quay lại một lần nữa trước khi mất hút sau căn nhà cuối phố “Chẳng khác nào ở mặt trận, không biết rồi có gặp nhau nữa không. Ngán với lối sống phiêu lưu hấp dẫn này!”

Đến tám giờ thì Pohlmann ở trong nhà ra đến chỗ Graber:

– Tôi đến xem hai người có gì ăn không. Tôi có thể cung cấp bánh mì.

– Cám ơn thầy, chúng tôi cũng có. Thầy cho chúng tôi gửi va-li và chăn mền cho đến lúc chúng tôi ở nhà thờ về.

– Ừ, mang vào đi.

Graber mang đồ đạc vào. Joseph ngồi khuất mặt đâu đấy không thể thấy được.

Pohlmann nói:

– Lúc trở lại nếu không thấy tôi cứ gõ cửa hai tiếng mau hai tiếng khoan. Joseph sẽ ra mở.

Graber mở một chiếc va-li.

– Càng ngày càng hóa ra người bô-hê-miêng. Lúc về nghỉ phép có ngờ đâu lại ra thế này!

Pohlmann sẽ mỉm cười:

– Joseph sống như vậy đã ba năm nay. Ông ta ngủ trên xe điện trong nhiều tháng. Suốt ngày ông đi khắp nơi trong tỉnh. Dĩ nhiên ông ta chỉ có thể ngủ ngồi độ mười lăm phút mà thôi. Bấy giờ chưa có ném bom. Nhưng bây giờ làm thế không thể được nữa rồi.

Graber lấy một hộp đồ ăn ra tặng Pohlmann.

– Anh cho Joseph thì hơn. Tôi, tôi không cần lắm.

– Thịt đây! Thầy không cần thật à?

– Không. Để cho Joseph thì hơn. Phải giúp những người như ông ta thoát cơn nguy biến. Nếu không thì khi tan cơn ác mộng này nước Đức còn ai là nhân tài? Ai xây dựng lại đất nước?

Ông già lặng yên một lát, rồi ra đứng gần quả địa cầu đặt trên kệ đưa tay xoay đi.

– Anh thấy cái chấm đen này không? Đấy, nước Đức đấy. Một ngón tay tôi cũng đủ che lấp. Đó chỉ là một phần nhỏ nhoi của thế giới.

– Nhỏ nhoi thật, nhưng nước Đức đã thôn tính những phần đất quan trọng hơn trong mấy năm gần đây.

– Chiếm đóng thì có nhưng chưa chắc đã giữ nổi.

– Nhưng nếu giữ được những đất đã chiếm thì sao? Mười năm hay hai mươi năm? Chiến thắng và thành công là những sự kiện gây tin tưởng cho chúng ta một cách ác nghiệt. Cứ xem nước nhà thì thấy.

– Chúng ta chưa thắng.

– Đó không phải là một bằng chứng.

Pohlmann trả lời :

– Có chứ. Đó là một băng chứng. Một bằng chứng hùng hồn.

Tay ông nổi gân lớn vẫn xoay quả địa cầu.

– Cuộc đời vẫn tiếp tục. Khi người ta không tin tưởng nước mình người ta phải nhìn sang các nước khác. Nhật thực có thể xảy ra nhưng không phải đêm dài vĩnh viễn ở trên trái đất này. Thất vọng chỉ là một cách nhìn cận thị.

Ông xoay quả đất lại chỗ cũ.

– Anh tự hỏi ai là người xây dựng lại đất nước? Anh thử nghĩ xem. Thiên Chúa giáo lúc đầu chỉ có một số người sống chết với đạo ở trong hầm hố và những người sống sót sau cuộc tàn sát ở La Mã.

– Nhưng, thưa thầy, đảng Quốc xã cũng chỉ ra đời với một số thợ thất nghiệp cuồng tín ở Munich.

Pohlmann mỉm cười.

– Anh nói có lý. Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng bạo chúa không bao giờ ngồi lâu. Nhân loại không bao giờ tiến triển một cách liên tục và đều đặn. Phải có thăng trầm, nhảy vọt và thoái lui. Chúng ta đã phạm tội vì kiêu ngạo, chúng ta đã tự hào rằng vượt khỏi được quá khứ nhân loại tàn ác bạo lực, nhưng bây giờ chỉ vì một cơn khủng hoảng qua loa chúng ta lại trở lại tàn ác bạo lực.

Ông cầm lấy mũ:

– Tôi phải đi đây.

– Xin trả thầy quyển sách về nước Thụy Sĩ. Nó hơi ướt. Tôi đã đánh mất nhưng lại tìm thấy.

– Thà mặc cho nó “chết” vì bom đạn còn hơn, không nên bao giờ cứu vớt những giấc mộng.

– Nên chứ. Nếu không cứu vớt những giấc mộng thì cứu vớt gì bây giờ?

– Niềm tin. Còn những giấc mộng thì tự chúng sẽ hồi sinh lại.

– Thế cũng là may nếu không thì treo cổ mà chết cho rồi.

– Anh còn trẻ thật! Tôi vẫn tưởng tượng ra tuổi trẻ bây giờ khác.

– Tôi cũng vậy.

***

Joseph nói đúng. Ở nhà thờ người ta nhận cho gửi đồ đạc. Graber gởi ba lô rồi đến Sở Gia cư. Người ta đã dọn sang phòng giảng Tự nhiên học của nhà trường. Vết tích ngày xưa còn lại là một cái giá đựng bản đồ và một tủ đựng chai lọ. Người công chức làm việc ở đây lấy một mớ chai lọ ra làm đồ chặn giấy. Rắn, ếch, thằn lằn ngâm rượu trong cóng được hân hạnh canh giữ hồ sơ của dân bị nạn. Một con sóc nhồi rơm hai chân giữ viên hạt dẻ, giương hai mắt thủy tinh nhìn Graber. Bà công chức đã già, tóc hoa râm, mặt tươi cười.

– Tôi sẽ ghi tên ông vào sổ những người không có nhà ở. Ông có địa chỉ không?

– Không.

– Thế thì lúc nào trở lại đây xem có kiếm được chỗ nào ở cho ông không.

– Có hy vọng gì không?

– Không. Trước ông đã có sáu ngàn người, cố gắng đi kiếm lấy thì hơn.

Y trở lại nhà Pohlmann. Gõ cửa không ai trả lời. Y đợi một lúc rồi trở lại phố Marie để xem nhà còn lại gì không.

Nhà cháy đến lầu giữa. Lính chữa lửa mãi đến lúc cuối cùng mới tới nơi. Nước còn ướt đầm khắp nơi.

Phòng Elisabeth không còn gì cả. Cái ghế y khuân ra ngoài đã biến mất. Một đôi găng tay xanh ướt nhèo bỏ quên dưới cống, tất cả chỉ còn lại có thế.

Graber trông thấy khuôn mặt lão trưởng xóm đằng sau màn cửa. Y chợt nhớ ra mình đã hứa cho lão mấy điếu xì gà. Lời hứa ấy và tất cả mọi sự việc hình như đã thuộc về quá khứ xa vời; tuy nhiên đã biết đâu mà nói trước sau này sẽ thế nào. Y định trở lại nhà Binding – vả chăng y cũng cần tảo ít đồ ăn.

***

Chỉ có một căn nhà trúng bom. Vườn tược chan hòa ánh nắng ban mai, lá trên cành rung ào ào, lấp lánh sương đêm; ánh vàng bông thủy tiên kín đáo giữa bụi cỏ; cây cối mới trổ hoa nom như bám đầy bươm bướm trắng và hồng; chỉ có căn nhà của Binding biến thành một đống gạch ngói rác rưới ở trên một cái hố như miệng núi lửa phản chiếu nền trời xanh thẳm. Graber đứng ngoài hàng rào nhìn vào mà không tin mắt mình trông thấy thực, y yên chí rằng không thể xảy ra cái gì cho Binding được. Y đẩy cổng bước vào. Hồ tắm cho chim tan ra từng mảnh vụn. Cửa vào bật tung ra chỗ bụi xoan. Sừng hươu cắm xuống cỏ như con hươu bị chôn tại đây. Một cái thảm vắt ngang trên cành cây như lá cờ của một chiến sĩ Mọi. Một chai rượu còn nguyên vẹn cắm thẳng xuống luống hoa như một trái bí mọc bất ngờ. Graber nhặt lấy vuốt ve rồi bỏ vào túi áo. Y nghĩ rằng hầm còn nguyên vẹn, họ chuyển đồ đi và bỏ quên chai rượu.

Y đi quanh nhà một lượt. Lối vào bếp còn nguyên. Y mở cửa bếp ra thì thấy có người động đậy.

– Bà quản gia!

Bà quản gia nấc lên khóc và đứng dậy đi ra.

– Tội nghiệp ông chủ quá!

– Sao thế bà? Ổng bị thương à?

– Ông ấy chết rồi. Tội nghiệp quá!

– Chết rồi!

– Vâng, thật là bất ngờ, phải không ông?

Graber gật đầu. Không ai tin cái chết, dù chết trở thành cái gì thường quá rồi.

– Đầu đuôi thế nào bà?

– Ông ta ở trong hầm nhưng hầm không chịu nổi bom.

– Dĩ nhiên hầm xây sơ sài không chịu được bom hạng nặng. Nhưng tại sao ông ấy không xuống hầm công trường. Đây ra đấy mất có vài phút.

– Ông ấy tưởng rằng đây yên ổn, vả chăng…

Bà quản gia ngập ngừng:

– Ông ấy còn có bạn.

– Mới trưa đã có bạn đến à?

– Cô ta ở đây từ hôm qua. Một cô tóc vàng cao lớn. Ông ấy thích những cô tóc vàng. Tôi nấu cho ông ấy một món gà hầm rượu. Ăn xong thì còi báo động.

– Cô ta cũng chết à?

– Vâng, mà cả hai người ăn mặc không đàng hoàng. Ông ấy bận áo ngủ còn cô ta bận áo trong nhà, chiếc áo dài bằng lụa. Ông ấy chết như thế đây, không mặc đồng phục.

– Tôi thiết tưởng đồng phục cũng chẳng làm gì. Ông ấy có kịp ăn sáng không?

– Ông ấy ăn rồi, tôi làm cho món bánh kem mà ông ấy thích nhất.

– Như vậy thì ông ấy chết sướng rồi còn gì. Tôi, tôi cũng muốn được chết như vậy. Bà cũng chớ buồn phiền.

– Vâng, nhưng ông ấy còn trẻ. Chết sớm quá!

– Ai thì cũng tưởng mình chết sớm quá, mặc dù đã chín mươi tuổi. Bao giờ thì đưa đám?

– Ngày mốt, chín giờ. Hòm mua rồi, để kia.

– Đâu?

– Trong phòng chứa lương thực. Phòng ấy mát hơn cả. Hòm đã đậy nắp rồi. Phía này căn nhà còn đỡ, đằng tnước đổ nát hết.

Hai người đi qua bếp sang phòng chứa lương thực. Mảnh chai vỡ đã thu gọn vào một góc. Mùi rượu vang, mùi mứt kẹo xông lên khắp nhà. Các hòm gỗ chiếm một khoảng lớn. Kệ đóng trên tường chất đầy hũ và hộp, nước rớt xuống đầy nhà.

– Bà mua đâu được cái hòm đẹp thế?

– Đảng cấp cho đây.

– Đám tang sẽ khởi hành từ đây?

– Vâng.

– Tôi sẽ lại đưa đám ông ấy.

– Ông ấy sẽ được vui sướng lắm.

Graber nhìn bà, bà vội nói thêm :

– Ông ấy ở trên thiên đàng sẽ vui sướng lắm. Lúc sống ông ấy vẫn mến ông lắm.

– Tôi à? Tại sao thế?

– Ông ấy nói rằng chỉ có ông là người bạn không nhờ vả gì ông ấy cả. Mấy lại ông ở ngoài mặt trận luôn luôn.

Graber đứng một lúc trước áo quan. Y cảm thấy một nỗi buồn mờ mịt nhưng không có gì hơn và y phải ngượng ngịu với người đàn bà sụt sịt khóc chủ này, bà ta tỏ vẻ thương tiếc thật tình.

Y chỉ tay lên tường mà hỏi:

– Những thứ này bây giờ tính sao?

– Ông cứ lấy mà dùng không thì họ cũng khuân đi hết

– Bà cũng cất lấy mà dùng chứ, chính tay bà làm mà.

– Tôi đã để riêng ra rồi, không thể mang hết được. Ông lấy được bao nhiêu thì lấy. Đảng viên đã đến thăm rồi, họ giương mắt chầu ra dòm ngó. Tốt hơn hết là nên để lại đây một tí thôi, không thì họ lại cho rằng ông Binding làm chợ đen.

– Có thể thế lắm.

– Vả lại còn bao nhiêu thì rồi họ cũng lấy hết. Ông là bạn của ông nhà, chẳng thà tôi để cho ông còn hơn.

– Ông Binding không còn thân nhân à?

– Ông thân sinh còn sống nhưng hai cha con bất bình nhau. Vả chăng ông cụ vẫn đủ ăn. Hầm trong còn nhiều chai nguyên vẹn. Ông muốn lấy bao nhiêu thì lấy.

Graber nói:

– Nếu lấy được thì bà để tôi chọn lựa cẩn thận.

Y nhìn các hộp:

– Măng Hòa Lan, không cần. Cũng không ưa cá mòi và cá thu ngâm rượu.

– À phải, tôi rối ruột không kịp suy nghĩ.

– Nhiều quá, mang sao hết?

– Ông qua đây vài chuyến mà lấy, tội gì để cho ai hưởng? Ông là quân nhân, ông đáng hưởng hơn những đảng viên Quốc xã kia chỉ biết no cơm ấm cật ở nhà.

Graber nghĩ thầm: “Mà đúng như thế thật, Elisabeth, Pohlmann và Joseph cũng đáng được hưởng nhiều hơn. Mình sẽ ngu như lợn nếu không biết nhận lấy: Binding đã chết rồi cũng chẳng cần gì nữa”.

Mãi sau, khi đã đi xa rồi, y mới nghĩ đến sự ngẫu nhiên xui khiến, y không đến ở với Binding và không chết như anh ta.

***

Joseph ra mở cửa.

– Ông biết tôi đến à?

– Tôi trông thấy ông đi lại.

Joseph vừa nói vừa chỉ một lỗ hổng khoét ở cánh cửa.

– Như thế có ai đến mình đỡ lúng túng.

Graber đặt gói đồ xuống bàn.

– Tôi đã đến nhà thờ. Người ta nói rằng đêm có thể đến ngủ được. Cám ơn ông đã mách giúp.

– Đó là ông thầy dòng trẻ?

– Người này già.

– Ông gặp người già thì may, ông ta tử tế lắm. Tôi đã ở nhà thờ được một tuần lễ nhờ ông nhận tôi là người giúp việc. Một hôm lính đến khám xét, tôi phải nấp trong cây đàn lớn. Người thầy dòng trẻ đã tố cáo tôi. Người ấy thù Do Thái. Thù Do Thái vì tin đạo. Có sự căm thù ấy thật. Chỉ vì trước đây hai ngàn năm người Do Thái đã đóng đinh câu rút chúa Giêsu.

Graber mở một gói ra. Y đặt lên bàn một chồng hộp cá và ba tê gan. Y cũng lấy mấy chai rượu trong túi ra. Joseph thản nhiên nhìn y hành động, chỉ nói qua loa:

– Một kho tàng.

– Bây giờ chia mỗi người một ít.

– Ông có nhiều mà chia thế à?

– Ông thấy đấy, thế cũng là nhiều đấy. Tôi được thừa hưởng một gia tài. Đồ này của một người Mật vụ. Ông nghĩ sao?

– Ăn thế càng thêm thú. Ông quen họ thân lắm không mà họ cho quà?

Graber nhìn Joseph.

– Người này thì tôi quen. Y không có gì là độc ác.

Joseph không trả lời.

– Ông cho là không thể có chuyện ấy được à?

– Còn ông, ông cho là có thể có?

– Có thể lắm. Có người phải theo người khác vì lo sợ yếu ớt hay không có đủ cương nghị.

– Vì thế mà người ta trở thành Mật vụ à?

– Có lẽ thế.

Joseph mỉm cười mà rằng:

– Lạ thật, người ta tưởng tượng ra một kẻ giết người thì ở đâu và lúc nào cũng là kẻ giết người. Tuy nhiên, một người chỉ yếu ớt vì một khía cạnh nào đó cũng dám làm những tội ác tày trời.

– Vâng. Một con thú dữ chỉ là thú dữ, nhưng con người có nhiều tiềm năng để hành động khác.

Joseph gật đầu.

– Ở trại tập trung có nhiều người chỉ huy nhiều tinh thần hài hước, có những anh mật vụ tỏ ra rộng lượng và thân hữu với nhau lắm, vả chăng còn có quần chúng mê hoặc vì những cái họ cho là nhu cầu tối thượng, họ nhắm mắt lại mặc nhà cầm quyền tàn bạo, họ cho là sự đau khổ cần thiết. Như thế gọi là lương tâm co giãn.

– Và cũng có những người sợ sệt.

Joseph nhắc lại với giọng nhã nhặn:

– Cũng còn những người sợ sệt.

Graber yên lặng một lát rồi nói :

– Tôi muốn làm cái gì để giúp ông.

– Không cần gì nhiều, tôi sống có một mình. Một là tôi bị bắt, hai là tôi thoát nạn, chỉ có thế thôi.

– Ông không có gia đình?

– Gia đình tôi chết hết rồi, một em trai, hai em gái, cha tôi vợ tôi, con tôi đều chết hết. Hai người bị đập chết, một người chết cái chết tự nhiên, còn thì chết trong phòng hơi ngạt.

Graber nhìn ông ta.

– Ở trại tập trung à?

– Trại tập trung.

Joseph nói với giọng lạnh lùng.

– Trại tập trung tổ chức thật là chu đáo.

– Ông đã thoát ra được?

– Tôi thoát được.

– Chắc ông căm thù chúng tôi lắm!

Joseph nhún vai.

– Ai còn dám nghĩ đến chuyện căm thù? Căm thù làm cho người ta bất cẩn, dễ bị lộ.

Graber liếc mắt nhìn cửa sổ che lấp hẳn bởi đống gạch ngói. Ánh sáng ngọn đèn con càng như yếu đi. Ánh sáng nhợt nhạt rọi vào quả địa cầu để trong góc tường.

Joseph nhã nhặn hỏi:

– Ông sắp trở về mặt trận?

– Vâng. Tôi ra mặt trận để giúp những kẻ giết người giữ được địa vị ít lâu nữa. Có lẽ đủ thời gian để người ta bắt ông và đem xử giảo.

Joseph lẳng lặng tán đồng.

– Tôi phải đi nếu không họ sẽ xử bắn tôi.

Graber nói vậy nhưng Joseph không trả lời.

– Nếu tôi đào ngũ có lẽ cha mẹ tôi và vợ tôi bị bắt và giết chết.

Joseph vẫn không nói gì.

– Tôi phải đi tuy biết rằng lý lẽ của tôi không còn là lẽ phải tuy rằng đó là lý lẽ của hàng triệu người như tôi. Chắc ông khinh bỉ chúng tôi.

– Tôi làm gì được cái vinh dự ấy.

Graber nhìn Joseph, không hiểu.

– Còn ai nói đến khinh bỉ, chỉ có mình ông thôi! Tại sao chú trọng nhiều đến vấn đề ấy? Tôi có khinh bỉ Pohlmann đâu? Tôi đâu có khinh bỉ những người cho tôi ẩn núp và mỗi đêm họ liều mạng vì tôi? Nếu không có họ tôi sống sao được đến ngày nay? Kể ra ông cững ngây thơ!

Bất thần, ông ta mỉm cười, cái mỉm cười lạ hẳn đối với khuôn mặt của ông.

– Chúng ta đi xa đề tài quá, và chúng ta nói nhiều quá. Không nên nói nữa và cũng không nên suy nghĩ nữa. Đừng nên suy nghĩ vội, suy nghĩ làm cho yếu người. Việc cũ cũng làm cho người ta ủy mị. Bây giờ chưa đến lúc suy nghĩ. Bây giờ chỉ có một mục tiêu không được xao lãng: sống cái đã.

Joseph ngoảnh mặt lại đống đồ hộp.

– Cái này giúp mình sống. Tôi nhận, cám ơn ông.

Ông ta cầm lấy đồ hộp định cất vào sau chồng sách. Graber nhận thấy ông ta có cử chỉ ngượng ngập, mấy đốt ngón tay cong lại và mất cả móng. Joseph trông thấy mắt Graber bèn nói:

– Một chút kỷ niệm ở trại tập trung. Trò chơi hấp dẫn nhất của tụi mật vụ. Họ gọi như thế là đốt nến Noel. Nến là que diêm vót nhọn. Chẳng thà họ chọc vào ngón chân, đỡ lộ hơn. Ở ngón tay thì dễ thấy quá, không lẽ lúc nào cũng đeo găng.

Graber đứng dậy.

– Bộ quân phục và sổ quân bạ của tôi có giúp được việc gì cho ông không? Ông đem thay đổi chút ít đi mà dùng, còn tôi, tôi bảo cháy mất rồi.

– Cám ơn, tôi không dùng đến. Tôi sắp sửa trở thành người Lỗ-ma-ni đây. Pohlmann đã có sáng kiến ấy và đang vận động giúp tôi. Nom bề ngoài thì không ngờ ông ta có tài riêng ấy nhỉ? Tôi sẽ trở thành người Lỗ, nhân viên Mặt trận sắt, nghĩa là bạn của đảng Quốc xã. Diện mạo của tôi dễ cải trang ra người Lỗ, còn vết thương thì đổ tội cho tụi Cộng sản. Ông có muốn lấy va-li và chăn mền bây giờ không?

Graber hiểu rằng Joseph muốn ngồi một mình không phải tiếp khách. Y hỏi:

– Ông còn ở đây lâu không?

– Sao lại cần biết?

Graber đưa cho Joseph một phần đồ hộp rồi nói :

– Tôi còn có thể lấy nữa được.

– Nhiều quá rồi. Tôi không thể mang theo được nhiều. Vả chăng tôi cũng phải đi đây. Tôi không thể đợi được.

– À còn thuốc nữa, tôi quên mất thuốc. Mà thuốc thì thiếu gì. Để tôi mang lại.

– Thuốc lá à!

Ông ta nói như nói đến một người bạn.

– Thuốc lá đáng kể hơn hết mọi thứ khác. Được rồi tôi ngồi đây đợi.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 8 Jun 2026

Những ngày ăn không ngồi rồi ở nhà bai bác Huế Quảng, làm tôi mặc cảm. Muốn tìm một việc gì đó, góp phần với gia đình bác. Buổi sáng, tôi ra chợ giúp bác Huế bày hàng và buổi chiều dọn hàng. Nhưng bác Huế nói, công việc không có gì bề bộn, một mình bác làm cũng được. Tôi ở nhà, phụ bác Quàng đánh máy các hồ sơ và giấy tờ khai sinh. Vì không quen việc nên bôi xóa sửa chữa nhiều lần. Bác Quảng nói, con mó tay vào chỉ làm hư việc của bác. Tôi trở thành một thứ dây leo tầm gửi ăn bám vào gia đình bác Huế. Bác cũng chẳng giàu có gì, lại cưu mang tôi như một món nợ đời. Khi tôi tỏ những lời ái ngại này, bác Huế gạt ngang. Thêm một miệng ăn cũng chẳng tốn kém gì mô, thắc mắc chi chuyện nớ. Nếu con ngại, thì dạy kèm thêm cho hai em như trước kia vẫn đi dạy kèm cho người ta. Còn một điều khác, tôi không tiện bày tỏ. Đó là thái độ của Đông. Nó vừa xa cách với tôi, vừa gìn giữ e ấp bằng những cử chỉ hết sức kín đáo. Lòng tôi cũng dao động. Mỗi lần ngang qua nó, tôi cố tình chạm nhẹ vào vai, hoặc nói những lời cợt nhã. Nhiều đêm tôi hối hận. Cợt nhã với Đông là điều không thể tha thứ. Thế nhưng, một lúc nào đó, tôi vẫn không nén được rung cảm vì mắt vì môi của nó. Kể cả khi nó nhăn mặt nhíu mày hờn giận cũng làm tôi xao xuyến. Không biết xưa Bao Tự, Tây Thi mặt ủ mày châu thế nào mà kéo sập cả giang sơn của hai vua U Vương, Phù Sai? Dù Đông ngày nay không là tuyệt đại mỹ nhân, nhưng cũng đã làm tôi từng đêm mộng mị. Tôi tự hỏi lòng, sao nhìn đứa con gái nào tôi cũng thấy nó có cái nét duyên dáng quyến rũ đáng yêu? Có phải đó là bản chất của thằng mê gái, hay tại ông Trời sinh ra người nam nào cũng thế? Từ đó, tôi lan man nghĩ về một Thượng Đế. Đấng toàn năng làm nên tất cả. nhưng cái công trình tuyệt tác nhất của Ngài vẫn là người đàn bà. Với một cải xương sườn cong queo. Ngài tạo nên một sinh vật hấp dẫn lạ lùng. Nếu không có bà Eva, đời sống ông Adong không còn ý nghĩa, Và nếu trên mặt đất này, bỗng dưng người nữ biển mất, chắc tôi cũng không còn thiết sống nữa.

Sử sách xưa còn cho thấy, những đấng vua vì đam mê tửu sắc nên ông nào cũng chết sớm. Như thế, trên thế gian đâu phải chỉ mình tôi mê gải? Tôi nghĩ, nếu tôi được làm vua với một bầy cung phi mỹ nữ chờn vờn uốn éo truớc mặt, chắc tôi cũng không thể nào sống quá ba năm. Dù Thượng Đế nhân từ, nhưng cũng biết chơi khăm. Ngài tạo ra người nữ, giống như giăng một chiếc bẫy sập. Thằng nào léng phéng nhào vô, không thân tàn ma dại thì cũng thân bại danh liệt. Với những người trong gia đình bác Huế, tôi phải tuyệt đối giữ gìn tốt đẹp. Làm đĩ chín phương, chừa một phương lấy chồng, là thế. Tôi không muốn một ngày nào đó, bác Huế

nhìn thấy tâm địa xấu xa của tôi. Tôi phải rời khỏi gia đình bác, trước khi bác khám phá ra tôi là một thằng tồi. Tôi chạy rong kiểm việc bên ngoài.

Lên bến xc đò, xin làm phu khuân vác. Tất cả đều có băng có nhóm. Không phải tự nhiên mà được kê vai vào

việc. Gã đầu nậu vai u thịt bắp, mồ hôi ướt trán, mặt có ngầu. Dáng vẽ là một tay anh chị. Gã đứng chống nạnh, một chân ghếch lên thùng hàng, nhìn tôi như quan sát một quái vật: “Muốn làm với tụi tao à?”

Kiểu cách nới chuyện của gã làm tôi hơi rét.

Tôi nói: “Vâng, em xin làm kiếm cơm.”

“Cái tướng cò ma của mày thì làm được gì?

“Việc gi cũng làm được. “

“Vác nổi một bao tạ không?”

“Nhẹ hơn mot chut thì dưc.”

Gá cười lớn: “Đừng giỡn mặt! Những ngón tay quều quào của mày đi móc túi thiên hạ, thích hợp hơn là làm cu li.”

Tôi cười giả lã: “Anh khéo nói chơi, chứ em đâu phải hạng người như thế.”

Tôi thất vọng, bỏ đi. Với thái độ cùa tên đầu nậu, nếu gã nhận tôi vào làm việc, chắc gì tôi chịu đưng được lâu dài? Tôi lên Mã Giồng xin làm thợ đục đá. Tôi quen ông già đục đá vào thời gian còn ở nơi căn nhà lá. Ông thường chở những bộ táng đá và mộ bia đến nghĩa địa xây mã. Đôi khi ông vào nhà uống nước, hút thuốc. Nói vài câu bâng quơ chẳng đâu vào đâu. Dầu sao, đó cũng là người quen củ. Ông già nói nhận tôi làm có bạn cho vui, và hỏi sao tôi xin làm cái nghề chết tiệt này? Tôi tả oán về hoàn cảnh. Phần lớn là bịa. Ông hỏi cho có chuyện để hỏi, chứ hoàn cảnh của tôi thì có ăn nhằm gì tới ông. Cái quan trọng là tôi có làm được việc hay không mà thôi. Tôi rời nhà bác Huế, về ở chung với vợ chồng ông già đục đá.

Bác Huế hiếi không ngăn được, nên cũng buông xuôi:

“Con đi mô thì đi, nhưng cuối tuần cũng về ăn bữa cơm với gia đình bác.”

Tổi cảm động, ôm vai bác. Đôi vai gày mỏng mãnh mà có sức bao dung. Từ ngày má tôi mất, tôi khao khát một tình mẫu tử biết bao.

Tôi ra tới ổống. Đông đang đứng đó cắt tỉa những cành bông giấy. Trưa hè hanh nắng. Trán nó lấm tấm mồ hôi. Những sợi tóc thề vương bên má.

Tôi nói: “Đông ơi, anh đi nhé,”

Nó nhìn tôi. Mắt nó chứa đựng một vầng mây mùa hạ.

“Ai làm chi anh buồn mà anh bỏ đi?”

“Chẳng buồn ai cả. Anh có lý do riêng.”

“Em nghĩ, anh buồn em.”

Không đâu. Anh thương ern và bé Hà không hết. Nói chi chuyện buồn,”

Hình như nó còn muốn nói thêm điều gì nữa, nhưng không nói.

Tôi ngồi lên yên xe: “Thôi, anh đi nhé.”

Tôi đi trong tâm trạng bơ vơ mất mát. Gia đình bác Huế là một tổ ấm. Ở đó có tình thương yêu đùm bọc. Bỏ những tình cảm ấy ở phía sau lưng là dấn thân vào chặng đường bất trắc đắng cay. Chẳng biết tôi làm thế có đúng không, hay chỉ là bản tính nông nổi của tên ngông cuồng?

Kỷ niệm sông Elbe

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 8 Jun 2026

    Tôi quen gia đình chị Hoàng từ hồi qua trại tị nạn Pulau Bidong. Má chị mất trên đường vượt biển, chị còn lại bốn đứa em với ông già. Người em trai kế tên Hải, tiếp theo cô Hoa, tuổi tôi, cô Cúc mười tám và đứa em trai mười bốn. Năm đó tôi hai mươi hai tuổi, chị Hoàng không bao giờ cho tôi biết tuổi, tôi đoán tuổi chị chừng trên dưới ba mươi. Chuyện xảy ra hơn hai chục năm rồi, mãi tới hôm nay tôi vẫn chưa biết chuyện tình cảm giữa tôi và chị ra làm sao nữa. Đi xa thì lúc nhớ lúc quên. Nhưng mỗi lần trở về Hamburg, nhứt là những chiều nhìn tàu đò chở đầy du khách ngược xuôi trên dòng sông Elbe thì lòng tôi chạnh nhớ, nhớ cái thời xa xôi ấy.      Năm 1980 gia đình chị Hoàng sang Đức định cư. Trong một căng nhà lớn, ở ngoại ô thành phố Hamburg. Tánh tình chị trầm tỉnh, nghiêm nghị và không cười nói ồn ào như hai cô em kế. Nhan sắc chị trung bình, duyên dáng nhờ thân hình mảnh mai và trang phục giảng dị. Dạo đó con gái Việt Nam sang đây lèo tèo dâm ba mống, còn con trai Việt Nam thì lủ khủ. Hễ nghe chỗ nào có gái, bất kể đẹp xấu, dầu ở xa xôi cách trở, bọn đực rựa sẵn sàng vượt đường xe lửa, băng xa lộ tìm tới. Tuổi chị Hoàng nếu còn ở Việt Nam thì lỡ thời rồi, nhưng sang đây chị vẫn còn ngon và có giá lắm. Rất nhiều anh tới lui săn đón, mời chị đi chơi nhưng không bao giờ chị nhận lời, các anh theo riết, thấy không chấm mút được gì hết, cháng không đeo đuổi nữa. Chị dửng dưng, lạnh lùng với mọi người, ngày lo chuyện bếp nút, dọn dẹp nhà cửa, tối giữ nhà cho mấy đứa em đi chơi.  Cùng thời gian ấy, tôi sang định cư Hòa Lan, cách chỗ ở của chị Hoàng trên năm trăm cây số, tôi thường đáp xe lửa qua thăm gia đình chị Hoàng. Thật ra chuyện thăm viếng chỉ là cái cớ để tôi săn đón hai cô em kế của chị.  Lần nào tôi qua khách khứa cũng chật nhà, toàn là con trai cùng lứa, mặt mài người nào cũng sáng sủa, đầu tóc mướt rượt, áo quần bảnh bao và có người đã sắm xe hơi. Hồi còn ở Việt nam tôi làm ngư phủ, da ăn nắng đen thui, lại mắc chứng mụng bọc mặt mài nổi u nổi cục, rổ chằng rổ chịt. Tôi không rành thời trang, ăn bận lè phè, nói năn không biết chao chuốt, bị chúng bạn sửa lưng hoài. Hôm ra hội chợ chơi bắng súng, tôi bắn điểm cao, lấy được con gấu và con khỉ đột nhồi bông lớn bằng chiếc gối ôm, tôi tặng Hoa con gấu, Cúc con khỉ. Dạo đó tôi còn cà nhỗng thất nghiệp, có đủ tiền mua vé xe lửa bận đi, bận về là quá lắm rồi, còn tiền đâu mà quà với cáp. May nhờ tài thiện xạ, tôi có được quà đắc giá tặng cho hai em. Hai em ôm hai con thú bông đi theo, miệng không ngớt khen tài bắn bá phát bá trúng của tôi, làm tôi nở mũi và hãnh diện quá chừng. Không ngờ cái tài vặt của tôi lại làm cho mấy thằng bạn đi chung đâm ra khó chịu, sẵn thấy mặt con gấu nhồi bông có in lấm chấm màu đen đen, chúng liền gọi tôi là chàng Mặt Gấu.  Rất tiếc tài của tôi được thi thố trước mặt hai em chỉ được một lần trong đêm hôm đó. Lần sau ra hội chợ chúng bạn cho xe vô St. Pauli rồi bỏ tôi xuống đường Reeperbahn, viện cớ là tôi ở Hòa Lan qua chơi, nên tham quan khu nầy cho biết, chúng nó hẹn tôi đúng mười hai giờ đêm ra chỗ cũ đứng chờ chúng sẽ tới rước về. Dầu có ngu ngốc đến mấy đi nữa tôi cũng đoán được trong bụng chúng toan tính những gì, tất nhiên chúng lo ngại tài bắn súng của tôi, biết đâu tôi day qua bắn trúng một trong hai trái tim của hai em thì phiền quá!    
Mùa hè, bảy tám giờ đêm trời vẫn còn sáng. Người ta chen chút nhau đi trên đường phố, các bà các cô bận đồ mát mẻ, mặt mày hớn hở vui tươi, nhiều cặp ngực, cặp đùi, rún và bụng để lộ ra ngoài trắng như bông bưởi. Mấy thuở mới được đi dạo khu ăn chơi nổi tiếng Hamburg, nhưng bực mình mấy thằng bạn chơi xỏ lá nên tôi đâu còn lòng dạ nào mà dạo mà chơi. Tôi không dại gì đợi tới mười hai giờ mới ra chỗ hẹn, tin tưởng tụi nầy đêm nay có nước tôi phải lang thang ngoài đường suốt đêm. Tôi xuống xe điện ngầm tìm đường về nhà. Thề có đất trời,  kể từ đêm nay trở đi tôi sẽ không giao du với mấy tên cà chớn đó nữa!  Sang xe điện, đổi xe bus và bị lạc hết mấy trạm xe, hơn một tiến đồng hồ sau tôi mới lót tót về tới nhà. Tôi bấm chuông, chị Hoàng ra mở cửa. Vừa thấy tôi chị trố mắt ngạc nhiên hỏi:
– Sao anh dìa mình ên vậy?  Còn mấy người kia đâu? Tôi trả lời.
– Mấy người kia chắc ra hội chợ.
– Sao anh hổng theo chơi mà bỏ dìa ngang xương vậy?  Không biết trả lời sao, chuyện chẳng hay ho nói ra thêm mắc cở. Tôi nín lặng lách người bước vô nhà. Chị cũng không hỏi gì thêm, nhẹ gót bước qua nhà bếp, rót hai ly nước cam bưng ra chiếc bàn tròn sau vườn, mời  tôi ngồi uống với chị. 
– Nhà đi đâu hết rồi chị? Tôi hỏi.
– Ba với thằng Út ngủ trên phòng.  Chị nhìn tôi mĩm cười. Sao hôm nay tôi thấy cái nhìn của chị rất thân thiện và nụ cười của chị thật tươi, làm tôi quên hết mọi chuyện phiền phức vừa rồi. Tuy nhiên, tôi hay mặc cảm về gương mặt mụng của mình, hễ gặp ai ngó thẳng mặt thì tôi ngượng. Để tránh cái nhìn của chị tôi ngó mông lung. Trên trời mây không gợn, sao thưa thớt, không biết đêm nay mùng mấy mà trăng khuyết một bên, ánh sáng chang hoà cùng bóng đêm làm nhạt nhòa cỏ cây hoa lá.
– Qua đây thường chắc anh biết nhiều cảnh đẹp của Hamburg?  Nghe chị hỏi tôi ngoái lại:
– Ồ, đâu có chị,  ngoài cái bến xe lửa tới nhà chị  và cái hội chợ ra tui hổng biết chổ nào khác hết.
– Hamburg có nhiều cảnh đẹp lắm mà.
– Qua đây đi xe ké, ai chở đâu thì đi đó chớ biết gì đâu. Chị bưng ly nước cam lên nhấp một cái, nhẹ nhàng để ly xuống rồi ngã người dựa lưng ghế, chị đưa lưỡi rà vị nước cam còn đọng bên vành môi và mím môi lại ra chiều suy nghĩ. Hồi sau chị nói:
– Sáng mai anh đi chợ mua cá với Hoàng nghen.
– Cá biển hả chị?  Chị cười một cái thiệt tươi.
– Ở bên nầy làm gì có cá đồng.
– Mấy giờ đi chị?
–Sớm chừng nào tốt chừng nấy, mình đi sớm mới mua được cá tươi.  Chúng tôi bắt qua chuyện về cá tôm hồi còn ở quê nhà. Đúng ra chị kể nhiều về chuyện quê hương Bạc Liêu của chị. Trong lúc chị nói tôi nhìn chị được tự nhiên hơn, chị bận bộ đồ vải bông, áo ngắn tay, ôm sát thân hình mảnh mai của chị. Chị  khoanh hai cánh tay cao ngang ngực, hai bàn tay vén tay áo lên xoa xoa vuốt vuốt đôi vai, hai cánh tay chị suông nhưng không gầy guộc, trắng bật dưới bóng trăng mơ màng. Thấy tôi chăm chú nhìn, chị tưởng tôi lắng nghe chuyện, nên hăng hái kể, càng kể tôi thấy chị càng có duyên, chưa lần nào tôi thấy chị xinh đẹp như đêm nay. Thật ra tôi thích ngắm chị hơn là nghe chị nói, quê tôi ở Cà Mau, giáp giới Bạc Liêu, sông nước miệt nầy tôi đâu lạ gì, những địa danh trong vùng chị nói ra ít nhiều gì tôi cũng biết. Khi kể hết chuyện, chị hỏi tôi:
– Anh có tới Bạc Liêu lần nào chưa?
– Có chị, ở một tháng và đi ngang nhiều lần bằng đường xe lẩn đường sông.  Tôi muốn chị ngồi lại kể chuyện để tôi được ngắm chị thêm hồi nữa, nhưng chị đứng dậy dọn hai cái ly, rồi kêu tôi đi ngủ và căn dặn sáng mai thức sớm đi chợ mua cá với chị.  Chị  dịu dàng bước vô nhà bếp xả nước rửa ly. Tôi lên phòng tắm đánh răng, rửa mặt. Khi  trở về phòng, tôi nghe tiếng mấy người kia vừa đưa Hồng và Cúc về. Mặc kệ, tôi nghĩ mình cũng không nên dây vào bọn họ làm gì. Tôi  leo lên giường nằm vắt tay lên tráng, chưa biết chuyện làm ra sao hết mà trí óc tôi toan tính đủ điều. Tôi chọn lựa giữa chị Hoàng, Hoa và Cúc. Cuối cùng hình ảnh chị Hoàng hiện trong đầu tôi rất đậm. Cảm giác vừa rạo rực vừa thích thú chạy khắp thân thể làm suốt đêm tôi trằng trọc, giấc ngủ cứ chập chờn….Đến khi nghe tiếng giựt nước trong phòng tắm. Tôi mở mắt ra, thì đã thấy ánh sáng bên ngoài xuyên qua màng cửa sổ. Tôi đoán chừng chị Hoàng đã thức. Tôi bước xuống mang dép đi qua phòng tắm, đầu óc tôi tù mù, tôi bèn xả nước lạnh đầy chậu, rồi cúi xuống nhúng nguyên đầu vô, nước lạnh giúp tôi đôi phần tỉnh táo. Đánh răng, rửa mặt, thay áo quần, mang dớ, dày xong. Tôi đi xuống, thấy chị Hoàng đứng làm bửa điểm tâm trong phòng bếp. Tôi chưa kịp chào, chị đã ngước lên.
– Hồi hôm anh ngủ ngon hông? Tôi ngập ngừng. –Cũng…được…                                                                                                                Nghe mùi thuốc lá toả ra từ phòng khách, biết chú Ba, ba của chị, đã thức. Thấy chị định bưng mâm điểm tâm lên. Tôi đi tới hỏi chị cho tôi bưng. Chị đưa mâm cho tôi và dặn:
– Anh bưng lên cho ba tui rồi trở xuống ăn sáng.  Ông già đương ngồi hút thuốc và đọc báo trong phòng, thấy tôi vô ông để tờ báo xuống và hỏi tôi.
– Sao thức sớm vậy mậy?
– Dạ, chị Hoàng rủ con đi chợ mua cá. Tôi để mâm đồ ăn xuống mời ông và hỏi vài câu vấn an. Sau đó tôi trở xuống ngồi uống cà phê, ăn bánh mì với chị  trên chiếc bàn nhỏ kê trong phòng nhà bếp.  Khi chúng tôi ra khỏi nhà mặt trời đã lên khỏi đọt cây. Sáng nay cỏ cây tươi, không khí sạch, trời trong và có nhiều tiếng chim réo ra réo rít gọi nhau trên những cành cây xanh lá.  Sang một lần xe bus, hai lần xe điện mới tới nơi. Chợ cá nằm bên bờ sông Elbe, dác nầy người đi thưa thớt, chuyện mua cá rất dễ dàng. Cá còn tươi rói chị ham quá lựa mua, nhét vô giỏ một hồi sau chiếc giỏ phình ra như bụng người có chửa. Chị khệ nệ rinh giỏ cá đầy, đã vậy thấy cua tươi chị còn tấp vô lựa mua thêm mấy con cua biển nữa. Thấy chị xách nặng, tôi kêu chị đưa giỏ cá cho tôi xách. Chị đưa giỏ cá qua cho tôi, rồi chị nắm lấy tay tôi dẫn đi ra bờ sông. Chúng tôi đứng nghỉ mệt và ngắm sông. Nắng sớm mai đã tỏa vàng lên thành phố cảng, sinh hoạt trên sông bắt đầu nhộn nhịp hơn. Những chiếc tàu đò ngược xuôi theo giòng, sóng nước lăng tăng, chưng vịt tàu quấy nước ào ào. Chị nghĩ gì không biết, nhưng sao chị cứ nắm chặt tay tôi, đứng lặng yên ngắm cảnh dòng sông sống động.  Một hồi sau chị ghì tôi sát lại, ngước mặt lên nói nhỏ nhẹ. 
– Đi mua thêm một mớ rau tươi rồi dìa, trưa nay cơm nước xong, mình ra đây chơi.  Tay bên nầy xách giỏ cá nặng trịch, nhưng tôi không muốn đổi, vì tay bên kia được chị nắm chặt trong bàn tay mềm mại của chị, như sợ chị buông ra rồi tôi không còn cơ hội nào để nắm lại lần nữa.  Trưa hôm đó không hẹn mà tôi và chị Hoàng bận đồ gần như giống nhau; quần Jean, áo thung cổ rộng, chưn mang dày thể thao, chỉ khác nhau áo tôi màu xanh cứt ngựa, áo chị màu trắng. Lúc chúng tôi ra khỏi cửa, mấy người khách hôm qua cũng vừa dậu xe trước bãi. Chị phớt lờ, câu tay tôi đi thẳng ra bến xe bus.  Khác với tánh dịu dàng trước kia, chị nhanh nhẹn như con sóc. Sang xe bus, xuống xe điện ra bến đò. Mua vé, xuống đò, chị dắt tôi lên mui tàu ngồi ngắm cảnh trên sông và hải cảng. Hết đuờng tàu chúng tôi đi đường bộ từ khu phố nầy qua khu phố khác. Khi mỏi chân, khô cổ thì vô quán dọc đường ngồi nghỉ, mua nước uống. Đói bụng ăn Hamburger và khoai tây chiêng xốt mayonaise.
– Tới Hamburg ăn Hamburger là đúng điệu.  Nghe tôi nói chị phân trần.
– Hamburger của Mỹ chớ hổng phải của Đức đâu.  Chị kể tôi nghe chuyện nhà họ McDolnalds ở Mỹ là người đã chế biến ra món Hamburger kẹp bánh mì. Thức ăn tuy bình dân nhưng nhờ khung cảnh nơi ăn, uống sạch và vui vẻ nên được tiếng tăm khắp thế giới…    Khi không còn biết chỗ nào để đi nữa, chúng tôi xuống đò trở vô phố. Nắng chiều vẫn còn trải vàng lên thành phố cảng. Tôi với chị ngồi trên mui tàu cùng với nhiều du khách. Gió trên sông  phất phơ mát rượi, tóc chị phả qua mặt tôi mơn trớn, tôi choàng tay qua vai chị, chị ngã đầu lên vai tôi. Chợt nhiên chị ngó xuống ngực, tôi ngó theo, cổ áo chi hở, ngực chị dẹp lép, áo ngực xệ xuống, chi thọc hai ngón tay kẹp vành áo ngực kéo lên, rồi ngữa mặt nhìn tôi mĩm cười.  Hồi sau chị hỏi tôi.
– Chừng nào anh dìa? Tôi nói.
– Định mốt dìa, nhưng vui quá chắc ở thêm vài ngày nữa.  Chị muốn nói gì đó nhưng thôi. Chị day người, ngã đầu trở lại vai tôi. Tôi choàng tay xoa xoa vai chị, da thịt chị mềm mại làm tôi đê mê. Chị vẫn ngồi yên, mắt mơ màng hướng ra mặt sông, nơi có nhiều chim nhàn đương sớt cá. Phút dây thần tiên ấy trôi qua khi con tàu cặp bến cuối cùng và chúng tôi là người lên sau chót.   Bắt đầu từ hôm đó, ngày nào chị cũng sắp xếp dẩn tôi đi chơi. Lúc đi rừng, khi vô khu phố lạ, đến những khu du lịch mướn thuyền đạp nước. Chị nói, nhiều nơi chị cũng không biết, nhưng cứ đi cho biết. Chuyện đi chơi, thắng cảnh đối với tôi bây giờ không thành vấn đề. Được lẻo đẽo theo chị, được chị cặp kè đi dạo là tôi thấy đời lên hương rồi. Những toan tính lúc ban đầu tôi cho qua, thật ra tôi cũng có để ý tới Hoa và Cúc vài lần, nhưng sao tôi thấy trong lòng không còn háo hức như trước nữa.  Ngày tôi trở về chỉ có chị Hoàng đi theo tiễn. Trước khi lên xe tôi hôn lên hai bên má chị, chị cũng hôn lại tôi và ân cần dặn tôi nhớ sang chơi thường, khi  xe chạy một đoạn, tôi ngó ra thấy chị vẫn còn đứng bên kè đá nhón giò, giơ thẳng cánh tay lên cao vẫy vẫy…  Về lại Hoà Lan tôi xin được chân thủy thủ. Tôi theo tàu hơn một năm sau tôi mới trở lại thăm gia đình chị. Tôi vừa ngạc nhiên vừa ngỡ ngàng khi biết chị là sinh viên đại học. Tuy bận rộn học hành, nhưng chị cũng dành  một ít thởi giờ dẫn tôi đi chơi và xem trường học của chị. Chị giới thiệu những người bạn sinh viên chung lớp, toàn là con trai ngoại quốc, chị nói chuyện với họ bằng tiếng Đức. Tôi nghe như vịt nghe sấm, chỉ biết nhe răng ra cười khi người đối diện chìa tay ra bắt. Tới giờ ăn, chị rủ tôi vô căn tin thưởng thức món ăn sinh viên với chị.  Chị  cư xử với tôi rất thâm tình. Nhưng tôi cảm thấy không được tự nhiên và trong lòng áy náy làm sao. Khỏi bận tâm tính toán nữa, tôi biết tới lúc mình phải rời khỏi nơi đây, đi càng xa càng tốt. Tôi nán lại chơi một tuần. Sau đó tôi trở về và tiếp tục đi, đi miết…    Hơn hai năm sau, tôi nhận được thiệp cưới của chị. Đọc thiệp tôi mới biết chị lấy chồng người nước ngoài. Tôi đoán người cưới chị là một trong những anh sinh viên chung trường chung lớp. Không nhớ lúc nhận thiệp trong người tôi vui hay buồn. Tôi còn nhớ là, tôi không qua dự đám cưới mặt dầu lúc đó tôi đương nghỉ dài hạng trên đất liền.

                                                               ***                                               

Những năm gần đây tôi đi tuyến Bắc Âu. Tàu ghé cảng Hamburg hàng tuần. Một năm bốn bận đi, về. Mỗi bận tôi đều lên xuống xe ở nhà ga Hamburg. Thành phố nầy đối với tôi không còn xa lạ nữa và khu St. Pauli tôi đã thuộc lòng, nhưng tôi đã mất liên lạc với chị Hoàng từ lâu. Thỉnh thoảng tôi đi dạo phố hoặc ngồi chờ xe lửa ở nhà ga, tôi thường ngó quanh, ngó quất mong tìm một người Việt nào hỏi dò, may ra có người biết địa chỉ của gia đình chị. Nhưng mấy năm rồi tôi không thấy người Việt đi dạo phố, hoặc tiễn đưa hay chờ đón người thân nơi sân ga như cách đây hơn hai mươi năm về trước.   Rồi một ngày tôi chợt nhận ra, những người Việt tỵ nạn hồi đó, bây giờ ai cũng có xe hơi, đâu còn dùng xe công cộng nữa. Đời sống máy móc Tây phương bắt họ phải chạy theo, dư chút thời giờ dành lo chuyện nhà cửa, con cái muốn hụt hơi có rảnh đâu mà đi dạo. Chỉ có tôi, một tên không nhà cửa, không bận chuyện gia đình mới dư thời giờ đi lang thang, đầu óc rảnh rang nghĩ ngợi chuyện tình cảm cũ xì và cái kỹ niệm của một thời xa lơ xa lắc…   Baltic zee, tháng 3-2007
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Khóc ông Nguyễn Cao Kỳ

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 8 Jun 2026

Nghe tin ông Nguyễn Cao Kỳ qua đời, bắt chước người xưa, tôi là tên lính già qua đường, đứng lại khóc ba tiếng, sau đó lại cười ba tiếng. Nếu có ai lấy làm lạ, hỏi lý do làm sao mà khóc, tôi xin thưa rằng: “Ba tiếng khóc dành cho nửa đời trước của ông, một thời liệt oanh, được kể như anh hùng gặp vận, danh tiếng lẫy lừng, mà nay cuối cùng, theo quy luật của tạo hóa, cũng mồ chôn ba thước đất (nếu ông không chịu thiêu!) Nghĩ chuyện đời “sắc sắc không không”, buồn mà khóc thương cho ông!” Có người lại hỏi vì sao sau khóc lại cười, xin đáp: “Ba tiếng cười dành cho nửa đời sau của ông, nửa đời nặng nề lưu lạc, chia ly, chán chường, thất bại. Nửa đời tiếng bấc tiếng chì, ông chịu bao nhiêu búa rìu dư luận, mỉa mai, cay đắng, nguyền rủa. Ông nằm xuống, đi vào cõi tĩnh lặng, gác hết mọi sự, từ nay không còn nghe, không còn thấy những điều bất như ý, không còn vận dụng trí óc để đua chen, không còn vận dụng thể xác để rày đây mai đó. Sống ký tử quy, mừng ông đã về (không biết về đâu?) mà cười ba tiếng là vậy!

Thi sĩ Cao Tần ngày bỏ đất nước ra đi, lưu lạc đến xứ người đã than rằng:“Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”Cao Tần tự hỏi vậy mà không làm gì, nên ông sống cuộc đời bình an. Nhiều người cũng tự hỏi như Cao Tần mà loay hoay chuyện này đến chuyện nọ, rút cuộc đời chẳng ra chi.

Có người bất như ý về nửa đời sau của ông để gọi những thăng tiến tột cùng và may mắn của ông ở nửa đời trước là những may mắn của “Xuân Tóc Đỏ”. Ví von như vậy là không công bằng và nặng lời, vì trong khi nhân vật “ma cà bông” của Vũ Trọng Phụng là trẻ mồ côi, sống ngoài lề, nhặt banh quần vợt, lớn lên dù có mang danh “cứu nước” thì cũng là danh hão, thì nhân vật Nguyễn Cao Kỳ, xuất thân không phải là danh gia thì cũng vọng tộc. Ông nội của ông làm tới chức thương tá (tức thương biện hay thương tá tỉnh vụ), thân phụ của ông là nghề thầy giáo, đương nhiên thường phải dạy con “giấy rách phải giữ lấy lê”. Di cư vào Nam, giữa tình thế đất nước nghiêng ngửa, ông cũng làm nhiệm vụ người trai tòng quân nhập ngũ. Xưa nay thời thế vẫn tạo nên anh hùng, nhất là buổi loạn lạc. Nói cho công bằng, ông Nguyễn Văn Thiệu xuất thân thế nào, gia thế ra sao, mà làm đến chức Tổng Thống, sao không nghe ai nói lời cay đắng, mà ông Nguyễn Cao Kỳ lên đến Thủ Tướng, rồi Phó Tổng Thống lại có kẻ dèm pha? Phải chăng một chuyện không nên, thì mười chuyện cũng bỏ. Người xưa đã có câu “cờ đến tay ai, người đó phất, chỉ sợ cờ đến tay rồi mà không biết phất, hay phất không nổi đó thôi. Thời trước, đã có lúc tưởng như ông Nguyễn Cao Kỳ lên tuyệt đỉnh, như Tết Mậu Thân, ông Tổng Thống “an tâm, tin tưởng” hưu chiến, về quê vợ ăn Tết (!) để Cộng Sản bất thần tiến công vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã và nhiều quân ly, khiến ông Phó phải tả xung hữu đột, hay thời biến động miền Trung, nếu không có ông Kỳ chơi đòn quyết liệt xả láng thì Quân Khu I có thể đã tách rời miền Nam thành vùng đất trung lập.

Trong cuộc tranh chấp ai là người lãnh đạo miền Nam, nếu ông Kỳ cầm đầu một liên danh tranh cử Tổng Thống và đắc cử thì việc gì đã xẩy ra cho miền Nam? Đó là câu hỏi tôi đã từng đặt ra cho một ông bộ trưởng, dân biểu thân cận với ông Nguyễn Cao Kỳ. Câu trả lời là: “Chúng ta sẽ chịu nhục nhiều lần hơn!”

Nghĩa là nếu một ông cựu Phó Tổng Thống quay về với Việt Cộng thì chúng ta đỡ nhục hơn là một ông Cựu Tổng Thống của chúng ta đi làm việc ấy. Nhân vật này hiểu tính nết của ông Nguyễn Cao Kỳ!

Sự lỗi lầm của ông Kỳ theo quan điểm của đồng bào tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại là ông đã từng khẳng định, “muốn làm sứ giả cho sự hoà giải và kết hợp đại đoàn kết dân tộc” khi ông theo bà vợ sau cùng về Việt Nam năm 2004, khen ngợi chế độ Cộng Sản và lên án những người chống Cộng ở hải ngoại là thiểu số và muốn quay về với quá khứ. Ông về Việt Nam, trong va li, lập trường chính trị nằm chung với dự án môi giới làm ăn mở sân golf và khách sạn tại một khu du lịch ăn chơi tại Hạ Long trị giá 4.5 tỷ đô la. Tiếc rằng ông đã qua đời quá sớm và đột ngột, có lẽ chưa được hưởng những lợi lộc mà ông hy vọng kiếm được qua vai trò trung gian, môi giới và hòa hợp, hòa giải, đổi bằng tất cả danh dự của đời ông.

Ngoài những lời nói đãi bôi, thù tiếp có tính cách tuyên truyền, mà ông Nguyễn Cao Kỳ đứng về thế “hạ phong” (dưới gió) như trường hợp khi Nguyễn Minh Triết đến Dana Point năm 2007, dù không được mời, ông cũng từ Việt Nam bay về để có dịp cụng ly  và nói đôi lời tâng bốc, như ông thực sự là đại diện cho tất cả chúng tôi, kể cả những người đang đứng la hét phẫn nộ ngoài đường. Hầu hết hội đoàn cựu quân nhân, là những người đã từng là chiến hữu của ông, đã đồng loạt lên án và gọi ông là “tên phản bội”. Ở trong nước, ngoài những cựu quân nhân VNCH, thương binh đã đổ máu vì ông, coi rẻ ông, mà ngay cả những cựu thù, cũng không đánh giá cao về ông, một người của “thời cơ” và “phản bội”. Những đãi ngộ của chính phủ Cộng Sản Việt Nam dành cho ông, nếu có, cũng chẳng là bao, không xứng với danh phận và những gì ông đã làm lợi cho họ. Khi chết, ông cũng chỉ được gọi là “nhân vật của chính quyền Saigon” mà thôi!

Gần đây vợ cũ của ông đã về Saigon mở tiệm phở, rồi con gái ông chọn Đà Nẵng mở quán cà phê cao cấp theo sự khuyến khích của ông, làm cho tên tuổi ông càng xấu thêm ở hải ngoại. Giá như ông thuộc một gia đình dân giả tầm thường, hay là một người lính dưới quyền ông, dư luận có lẽ không mẩy chú ý, nhưng 36 năm trước đây, gia đình này hưởng “ơn Vua lộc Nước” đã nhiều, sợ rằng những việc như thế nó không phải, với lòng tự trọng và nề nếp “giấy rách phải giữ lấy lề” theo đạo lý Việt Nam.

Tôi mừng khi nghe tin ông Nguyễn Cao Kỳ chết ở quê người rồi đem về Việt Nam, dù chôn hay thiêu, như vậy là đúng theo ý nguyện của ông và tôi không chắc sẽ có Nguyễn Minh Triết đến viếng ông, vì ông chưa đủ thời gian và cơ hội để trở thành hàng “quốc táng”. Nếu ở Mỹ này, không khéo lại có người quý mến, hăm hở đem quốc kỳ đến phủ quan tài cho ông cũng nên!

Tàu có câu “Cái quan định luận” có nghĩa là khi người chết đã nằm trong quan tài, nắp hòm đậy lại thì mới định công luận tội. Tôi là kẻ hậu sinh, một tên lính quèn thời ông lên cao ngất ngưỡng, đâu dám định công luận tội, chỉ dám có đôi lời bộc bạch lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng về ông. Nhưng Tây lại có câu “Laissez les morts tranquille” nghĩa là xin để yên cho những người đã chết.

Khóc ông, nhưng cũng cười, mừng ông được yên nghỉ.

(7/22/11)

Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng sản: Tạ Chí Đại Trường

damau.org

Nguyễn Tà Cúc

2.11.2025

Post by Sơn râu 8 Jun 2026

Sử gia Tạ Chí Đại Trường (1938 – 2016)
Ảnh: Nguyễn Việt

1.3.7 Vì thế chỉ đoành một phát là xong

Một trong những lý do góp phần vào hố chia cắt dân tộc—ngoài chính trị, giáo dục và văn học– là sự khác biệt giữa mức sống, cách sống của người dân và sự chênh lệch giữa 2 nền kinh tế hai Miền khi chiến tranh kết thúc vào ngày 30 tháng 4. Những thí dụ do Tạ Chí Đại Trường ghi nhận sau đây cho thấy như vậy:

… Chúng tôi cũng bắt đầu có một vài lần được gởi mua đồ dùng qua trại. Bảng đăng kí–lại cũng đăng kí–theo với nhu cầu đủ thứ loại tam khoanh tứ đốm. Lẽ tất nhiên không được thoả mãn – người ta không thể hiểu dược đời sống bọn này sao mà phức tạp quá. Chúng tôi còn gặp phản ứng bất ngờ nữa. Có người đã gởi mua giấy vệ sinh, vì thói quen, vì có người đau trĩ, vì chưa hề sử dụng giấy dán tập, giấy báo, nói gì đến lá cây, cành cây, đất đá cục! Đội trưởng chuyển lại lời mắng mỏ mà mặt anh phừng phừng như chính mình bị xúc phạm: “Người chiến thắng không đi mua giấy chùi đít cho kẻ chiến bại!” Viên y sĩ tiểu đoàn lân la đến chơi, nghe chuyện đã mắng: “Sao các anh ngu thế? Người ta bảo anh không phải là tù nhưng mà là tù thật đấy! Tù sao mà đòi hỏi nhiều thế?” (…) nhưng thói quen của cả một lớp người không được chuẩn bị để chịu đựng sa sút thì phải trải qua những vấp váp nhục nhã thế thôi…! (…) Trong sinh hoạt người ta vẫn cố tránh gọi chúng tôi là “tù”. Chúng tôi chỉ là những người “đi học tập”, và thỉnh thoảng thêm chữ “cải tạo”, “học tập cải tạo” (…) Tự do hiểu như thế thì cũng là giản dị và cũng có khía cạnh thật là đúng. Này nhé: Mình tự nguyện đi trình diện học tập (có ai lại tự nguyện đi ở tù bao giờ?), ăn, ngủ, chơi thong thả, hàng rào gọi là có với một hai đường kẽm gai mỏng manh. Nhưng chớ bước qua: Tự do nào cũng có giới hạn! … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 93-94]

– … Lại nổi lên sự va chạm của hai lối sống Nam, Bắc. Có anh kêu lên: “Tôi còn ba trăm ngàn đồng, một triệu bạc cất chỗ này, chỗ nọ, vợ tôi không biết. Cho tôi gởi thư về nhà…” Đề nghị được chuyển đạt, thư cho gửi cấp tốc, chẳng biết kết quả ra sao. Có điều chúng tôi lại được tập họp nghe một lời trách mắng: “Giáo dục đế quốc nó làm hư hỏng các anh, đến vợ chồng cũng không tin tưởng nhau…” Làm sao giải thích được điều này – cũng như những điều khác nữa của những người sống trong một nền kinh tế tầm mức rộng, phức tạp cho những người của nền kinh tế tiểu nông, công chức thư lại có tiền bạc nằm trong lòng bàn tay cũng không trọn nói chi đến chuyện cất giữ? … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 97-98]

Và đoạn sau đây thì muốn cười mà không cười nổi. Hết còn AK47 chống lại M16 mà là “quần dải rút” chống lại “quần dây thun”, “che bẹn” chống lại “tồng ngồng” (!):

… Tất nhiên trong cuộc sống ở đây, chúng tôi có buông thả hơn ngoài xã hội- tù mà! Nhưng những lời chỉ trích cũng toát ra một cái gì từ thứ lễ giáo đã qua không biết đến sự thay đổi của thời đại cũng như thực tế của chúng tôi. Họ trách chúng tôi suốt ngày “ở trần trùng trục như lai (nai)!”, gặp họ không chắp tay chào, “cứ trương mắt ếch lên”. “Bọn thực dân đế quốc đã tung tiền biến các anh thành những con người mất gốc, không biết đến những gì tốt đẹp của truyền thống dân tộc, những gì quý báu ông bà ta đã tạo ra và tâng tiu gìn giữ nó. Phải tách rời những cái tốt đẹp, thân thiết đó, các anh mới đang tâm dội bom xuống xóm làng, xuống đầu những người thân thích các anh mà không chút ân hận xót xa…” Ừ, cũng đúng sách vở đấy, nhưng giá lúc nào anh gặp một tên cải tạo cũ, được hắn mời về nhà chơi trong tư thế làm chủ bản thân của hắn, anh sẽ thấy hắn như thế nào. Trừ khi anh còn nhớ sách vở và hắn còn khinh ghét anh. Bộ đội còn dạy chúng tôi cả cách đi đái. Bỏ ra ngoài tính chất hoàn cảnh ràng buộc thì đây cũng là một mối xung đột do hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau. Họ không biết chúng tôi không ai mặc quần dải rút mà tất cả đều là dây thun, cho nên vào cầu tiêu một mình một cõi sao không tuột ra cho nó thong thả? Bây giờ bạ đâu đái đấy – đất rộng mà là tù mà! Lại cũng vẫn cách ấy mà làm, gặp quản giáo tới, luống cuống xoay đàng nào cũng chẳng được, càng ngơ ngơ ra đấy (…) Hành động như thế là mất dạy rõ ràng. “Thực dân đế quốc – lại cũng thực dân đế quốc, dạy các anh trâng tráo không biết xấu hổ là gì hết, ông bà mình xưa (!) làm việc đó một cách kín đáo, khuất lấp, vén quần che bẹn chứ có đâu như các anh bây giờ cứ tồng ngồng ra, chẳng văn minh, văn hoá gì cả!”. Kinh nghiệm trực tiếp và những hiểu biết về sau sẽ cho chúng tôi biết và chứng kiến mức độ tàn bạo của họ được hướng dẫn bằng sự quá khích lí tưởng vượt ra ngoài những ràng buộc pháp lí thông thường. Lí tưởng cách mạng biện minh cho mọi hành động đẫm máu đối với những kẻ tự nhận hay bị coi là kẻ thù – bị đặt bên kia biên giới của sự khoan dung. Nhưng những con người ưu việt kia không được biết ranh giới giới ấy co dãn là chứng nào khi bước từ lí thuyết đơn giản qua cuộc sống phức tạp để từ đó thấy bộ mặt con người thù bạn cũng thiên hình vạn trạng, nay thế này mai thế khác theo đường lối, chính sách mang tính thực dụng đến ngỡ ngàng quay quắt – hay đường lối, chính sách đẻ ra từ những sai lầm ngớ ngẩn, ngu ngốc không được thú nhận. Tuy nhiên, chẳng thắc mắc nhiều – mà thắc mắc cũng chẳng được, về đường lối giai đoạn, các tín đồ mới chỉ thấy những kẻ thù trước mắt, tức khắc, chỉ thấy lí tưởng, hay nói đúng hơn, giáo dục lí tưởng là luật pháp đã trao quyền áp dụng cho họ. Vì thế chỉ đoành một phát là xong, là đủ… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 148-150]

Sự cách biệt (và khác biệt) giữa 2 miền càng được chứng minh một cách thuyết phục thêm bằng khả năng của người tù Miền Nam. Tạ Chí Đại Trường cho thấy khả năng ấy xuất phát từ một kiến thức chung đã được nâng cao trong một xã hội đa dạng, tự do và tiến bộ khiến họ có thể “tùy cơ ứng biến”. Sự kiện ấy cũng khiến ông có thể liên kết được người Tù Cải tạo tay không bấy giờ với tù binh đã dựng những “công trình cổ đại” từ bao nhiêu thế kỷ trước:

… Không phải chỉ làm cho trại, dân cải tạo còn nghiền ngẫm làm vật dụng riêng cho mình nữa. Ống sáo, điếu cày, lược, kẹp, đàn guitare… Mỗi thứ mới ra đời, mỗi một kiểu là thành một phong trào, càng ngày càng cải tiến. Dây đàn quấn bằng các dây điện phối hợp theo cỡ cần thiết, bộ trục bằng gỗ trợt lên trợt xuống, khung tôn, khung gỗ, hộp vuông, chữ nhật (vì thiếu phương tiện cưa xẻ), nhiều cạnh rồi uốn dợn sóng như đàn ngoài đời. Và chính trong những công việc phức tạp một cách lặt vặt này mà khả năng những con người cũ nổi bật. Trước kia ngày thường họ chẳng động tay động chân đến những công việc này. Không phải vì muốn “ngồi không ăn bám” như lí thuyết mới nói, nhưng vì họ đã có những công việc khác để làm. Ở đây, thời gian dư thừa giúp họ kéo dài thí nghiệm, thử thách, bằng mày mò đã đành mà căn bản còn vì sự hiểu biết từ trong sinh hoạt có kĩ thuật cao đã giúp họ nhận định một vật liệu có thể làm được cái gì, biến cải thì sử dụng làm được việc gì. Những người quản giáo trong các kì kiểm soát tập thể thật ngạc nhiên mà cũng tỏ vẻ bực mình khi lục tung túi xách nguỵ ra thấy một cuộn dây, một miếng bìa, lớp lớp bao cát mục từng mảng, cái ông bơ rỉ… “đủ các thứ trên đời”. Thế mà cuộn dây điện tách ra làm dây đàn, cái bánh xe, vòng cao su, thỏi sắt lắp lại làm cái xa quây để xe các sợi tháo ra từ bao gạo, bao cát làm dây đan túi, đan võng; bao sợi nhựa cắt ra thành cái áo sơ mi thật thời trang, thật có gu; tút đạn uốn làm bình hoa. Viên tiểu đoàn trưởng nhờ làm giùm cái nồi ngồi trên cái cốc đã phải lắng nghe tên nguỵ chỉ dẫn cách pha cà phê sao cho gọn, cho ngon. Và gật gù nhẹ nhàng, riêng tư… “Bọn chúng toàn là đại uý, bác sĩ, kĩ sư…” Dưới mắt người bộ đội tâm sự với gia đình thì sự kiện ở đây thật đáng ngạc nhiên không phải chỉ ở cái cấp bậc đại uý cao ngất đối với anh binh nhì, không phải chỉ trình độ trí thức cao nói chung mà là một tinh hoa của chế độ bị vào tròng vì bại trận. Số đông với trình độ cao có thêm sự ép buộc đã đưa đến sự thành công không ai ngờ tới: Với tay không và vài cục sắt họ tháo gỡ cả một giàn sắt thép di chuyển đi cất một ngôi nhà đồ sộ, đập nước đắp bằng tay không nhiều hơn xẻng cuốc, nhà cửa hàng hàng lớp lớp xây dựng nên… Vai trò của người tù binh ở các công trình cổ đại có vẻ được chứng minh bây giờ… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 170-171]

Nhân đây, tôi muốn cho thấy bức ảnh của một chiếc bút nịt/khóa dây lưng/bell buckle bằng đồng được chạm trổ hình “Long Phượng” công phu, chi tiết (những chiếc vẩy) và tuyệt đẹp của Tâm Hữu, một người Tù Cải Tạo. Ông giải thích cách “khắc chạm” từ khi chế tạo “cái ve” đến khi khắc chạm:

– Trước hết phải có dụng cụ là vài cái “ve” (đồ nghề của thợ kim hoàn dùng để khắc chạm).

Cái ve dài khoảng 10 cm, có mũi khác nhau, cái nhọn, cái rộng 1mm đến 2mm, đầu sắc bén như mũi đục. có cái mũi cong lưỡi liềm… Đến tổ rèn (anh em tù cải tạo đang rèn dao đi rừng, cuốc xẻng làm rẫy hay làm lưỡi cưa, cưa cá mập để xẻ gỗ cây…) lượm vài que sắt vụn. Chọn sắt vụn từ mấy cái nhíp xe hơi cho cứng vì bằng thép. Lượm đá làm lò nung nhỏ. Nung lên khi thấy que thép đỏ hồng lên rồi thoáng qua xanh là bỏ lên đe lấy búa gõ cho tròn hay dập cho dẹp lại. Muốn có mũi cong lưỡi liềm thì nung tiếp thanh mũi dẹp rồi lấy kềm mũi nhọn mà uốn. Khâu tiếp theo là mài trên đá cho nhẵn. Và cuối cùng là “tôi”. (Dùng tro gỗ lim ngâm nước vôi để qua đêm. lấy nước nỗi trên mặt làm nước tôi). Nung mũi ve cho cháy hồng, nhúng nhanh vào nước tôi khoảng 1 cm. Mũi ve ánh lên màu ánh xanh và màu ánh vàng là đã đạt được độ cứng và độ bền.

Khắc chạm: Sơ thảo bản vẽ lên giấy, dùng mũi ve vẽ lên trên mặt cái bút nịt (belt buckle). Lấy miếng sắt dày để dưới, dùng gỗ nhỏ chêm dưới cho chắc để khi chạm trổ cái bút nịt không bị móp. Xong dùng các mũi ve thích hợp để khắc chạm hình ảnh. Không có dầu đồng để chùi cho bóng nhưng có thể dùng bàn chải làm bằng những sợi kẽm trong dây điện thoại để đánh bóng tác phẩm [Tâm Hữu].

Ông còn cho biết thêm: bút nịt/khóa dây lưng được làm bằng đồng cho cấp sĩ quan, bằng nhôm cho cấp từ hạ sĩ quan trở xuống.

Bút nịt (bằng đồng) chạm trổ Long Phượng của Tâm Hữu

Những người tù này còn tạo được cả các loại đàn, như đàn của Hà Thúc Sinh:

… Hà Thúc Sinh đêm nào cũng nói với tôi rằng thèm một cây guitar quá, nhưng mới đến chưa thể tìm gỗ và dụng cụ được, cũng như chưa biết tình hình ra sao… Còn nhớ bên Trảng Lớn, Đặng Thế Tiến cũng thèm đàn và tự chế được cây “độc huyền” nho nhỏ, tối uốn lên uốn xuống, sau đó trong bữa ăn nói với tôi, chiều nay đi làm nhớ mang nhiều nhiều thứ đó một chút để hắn làm…đàn. Chuyện quá dễ, khu phi trường loại đó nhiều lắm. Thế là những ngày sau, Sinh xin làm việc nhẹ ở nhà, cặm cụi chặt, cưa, mài, đánh lõm những đoạn thép dài ngắn khác nhau rất ư là năng nổ và say mê, rồi lại đo đạc cẩn thận. Vài ngày sau, công việc đã xong, buổi tối tôi phụ Hà Thúc Sinh cột những đoạn thép đó vào những sợi dây dù, treo lên trước đầu nằm. Cây đàn coi cũng khá, loại nhạc cụ gõ Xylophone, Sinh cầm cây kẽm lớn có bịt vải ở đầu gõ thử, tiếng kêu không lớn lắm, nhưng thanh khá chuẩn, cả những nốt thăng và giáng. Thế là Sinh chơi ngay vài đoạn của Mozart, Bach… Anh em trong nhà giật mình kéo đến nghe, đông quá, nhà trưởng Bính phải “van nài” Sinh thôi chơi. Cây đàn thật tuyệt, đối với tù là quá “đã” rồi. Từ đó, tối tối cơm nước xong là HTS lại “gõ”, khởi đầu cứ làm như tập nhạc “Cách Mạng” để đánh lạc hướng “ăng-ten”, sau đó thì “tới luôn bác tài” đủ thứ loại nhạc “vàng” mà anh em lâu quá không được nghe nên thèm chết đi được … [Trích trong một bài báo khoảng 1984, không rõ xuất xứ]

Từ những quan sát đó, Tạ Chí Đại Trường đặt giả thuyết về lối ngồi kiểu nước lụt kèm theo sự lặng lẽ của người dân hay nhân viên mà ông được chứng kiến.

1.3.8 Tránh nước lụt nhân tạo kinh niên

Theo ông, kiểu ngồi nước lụt — hai chân co lên, “đầu gối quá tai”– đi kèm với sự lặng lẽ khác thường của người dân (trái ngược với lối sống cởi mở và kiểu ngồi thong dong của dân Miền Nam) phản ánh sự tự bảo vệ một cách vô thức trong khuôn phép của hoàn cảnh sống đã được định hình:

… Khi có việc lên tiểu đoàn (lãnh gạo, muối…), lên trung đoàn chúng tôi kịp nhận ra cảnh vắng lặng trái ngược. Không phải cái không khí lặng lẽ của một nơi làm việc nghiêm túc. Vài người lính lui cui ngoài vườn tưới nước, xới cây. Đám anh nuôi lăng xăng qua lại nhưng cũng không nói một lời. Những anh trai tán gẫu cô thợ may mà như người thăm bệnh. Trong các phòng, họ xúm lại quanh tách trà, điếu thuốc lào, im lặng. Những người ngồi góc cột, dưới gốc cây, ngó vẩn vơ. Tất cả cùng ngồi một kiểu – kiểu nước lụt, hai chân co lên trên giường, trên ghế, trên đất với hai tư thế: hoặc là đầu gối quá tai như hai cái càng muốn che khuất cả thân mình, hoặc là chống trên hai bàn chân để bộ mặt nhô ra, nhưng tất cả đều có một vẻ gì gò bó, muốn thu nhỏ lại chừng nào hay chừng nấy. Cái lối sống đó đối chọi với chúng tôi nhưng tất nhiên lại là căn bản cho khuôn mẫu học tập. Sự sửa sai thường xuyên được nhắn nhủ qua các lần giao ban hoặc lên lớp… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 148-150]

1.3.9 Đi, Về, Vào, Ra trại giam Tù Cải tạo: Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng…

Một trong những đoạn quan trọng nhất về tiểu sử văn học của Tạ Chí Đại Trường nằm trong chương này, trong cuốn sử ký này. Ông thuật lại về việc, ngay trong khi bị giam, đã viết phản bác khi Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 bị sử quan thắng trận kết án ròng rã. Tác phẩm này nguyên là luận án Cao học, Đại học Văn Khoa (niên khóa 1962-1964)- Viện Đại học Sài Gòn, rồi đoạt giải thưởng quốc gia VNCH về Bộ Môn Lịch Sử, 1970, do Văn Sử Học xuất bản, 1973, Sài gòn. Năm 1976, hai nhà phê bình Nguyễn Phan Quang và Nguyễn Đức Nghinh chỉ trích cả tác phẩm lẫn tác giả qua bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2 và 3. Được tin và được đọc, ông viết tay bài phản bác khi bị giam tại “Trại tập trung 7590-L19 T5, Long Khánh” từ tháng giêng, 1978 đến tháng 7. 1978. Sau đó, ông nhờ được một bạn đồng tù không quen biết–một “giặc lái”-viên phi công mãn hạn tù– giấu xấp bài vào chỗ kín nên thoát được kiểm soát của quản tù rồi gửi đến Tòa soạn. Giới sử quan Miền Bắc thắng trận đang kiêu ngạo nhận được một cách đột ngột bài phản bác với câu kết đầy thách thức từ một sử gia Miền Nam thua trận đang bị giam giữ:

-… Và nhất là đừng đe dọa chúng tôi. Đừng để chúng tôi phải mang tiếng hợm mình nhắc lại chuyện Galilée sau khi phủ nhận vũ trụ quan Copernic trước tòa Inquisition lại tuyên bố: “Tuy vậy trái đất vẫn cứ quay.” Thân xác có sự run sợ chính đáng của nó, nhưng chân lí lại ở bên ngoài sự hèn nhát đáng thông cảm ấy: xin hiểu cho…

Điều tôi chú ý, ngoài sự can đảm của ông và thêm của người sĩ quan Không quân chuyển thư, là ý thức được việc làm của họ. Người phi công nhận chuyển chắc chắn phải biết nội dung và nơi sẽ đến (nên đem giấu vào chỗ kín), nhưng chấp nhận hậu quả nếu bị phát giác. Hậu quả đó quả là kinh khiếp nên có nhiều người, dù quen ông, đã không dám nhận. “Không dám nhận” không đồng nghĩa với hèn nhát. Chính ông đã phải giấu mấy bài thơ của mình (sđd, trang 352) đến nỗi khi được tha, chữ nhòe mực, mất hết. Lần này, ông bất chấp hậu quả hầu bảo vệ không những “phẩm giá” chính mình mà còn cho cả thế hệ (có người sĩ quan kia) hầu chu toàn điều mà ông nhắc đến 2 lần: “bổn phận”.Khi ông phát biểu: “Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng…” là ông đã khẳng định vị trí không đứng bên lề thời thế, nhưng ngược lại, chủ động hầu vận hành chung với một tập thể có cùng quá khứ, giá trị và văn hóa. Không chỉ ở đây, ông cũng đã lập lại quan điểm chủ động -trong-thế-bị động đó khi quyết định “phản kháng với thân phận mình trong cơn lốc lịch sử, với đám học giả núp bóng quyền uy chính trị, ngang ngược trước mắt…” [“Đôi lời phân trần”- Thần, người và đất Việt-Bản mới]

Thế nên, có lẽ sự phản kháng của ông còn bắt nguồn từ hoàn cảnh vô vọng khi không được tiếp tục học hỏi hầu chia sẻ các tìm kiếm mới và nỗi uất ức khi bị cô lập với sinh hoạt nghiên cứu. Ông không còn được, như một ngày đã xa, làm công dân trong một chế độ cho phép có sự khác biệt hầu đạt được tiến bộ chung, trong và ngoài nền đại học tự trị của Miền Nam, đã hiện diện mấy thế hệ sử gia trước và sau, bên cạnh những sử gia khác với kiến thức chuyên môn riêng. Một chương sử mới mở ra với nhiều cái chết như cái chết của sử gia/Đại tá Phạm Văn Sơn hoặc sử gia /Trung Tá Phạm Việt Châu vv. . Chương sử ấy sẽ tiếp tục với sự phấn đấu của nhiều cá nhân hầu bảo vệ danh dự tập thể, mà sử gia/Đại úy Tạ Chí Đại Trường và viên sĩ quan Không quân vô danh là thí dụ qua lời chính ông ghi lại rất rõ ràng:

– … Về đến đây tôi mới biết được một chuyện có tầm mức vượt ngoài cá nhân của tôi. Việc các nhà sử học Miền Bắc phê bình tác phẩm của tôi. Thực ra việc cố công học hỏi trong bao nhiêu năm, ý thức thầm kín muốn làm một người viết sử của thời đại khoa học – chuyện ở nước người đã có từ khuya – muốn tách khỏi thế hệ cũ như Trần Trọng Kim, muốn chuyên môn hoá không theo kiểu những anh bàn-sử, luận-cổ-suy-kim, công chức già về hưu… ý muốn xây dựng tác phẩm theo một quan điểm riêng biệt — điều mà Mạc Đường chắc thấy rõ nên gọi một cách hằn học là “lập dị” — tất cả những công sức, ước muốn thật to rộng ấy, than ôi “trời chẳng chiều người”, cả mươi năm trời có hơn chỉ gồm trong một quyển sách còn nặng đầy tính chất compilation rụt rè của học trò. Có ước muốn tìm hiểu cơ sở của xã hội Đàng Trong, lấp một sự ơ hờ lớn trong dòng sử cũ cứ coi như 200 năm mở đất ấy chỉ là một phóng ảnh của Đàng Ngoài trên đất mới — Tôi coi quan niệm ấy như là quan niệm sử về vương triều xưa cũ được nối tiếp một cách không ý thức. Có ước muốn viết cuốn thông sử sơ sài bao gồm cả Phù Nam, Champa vào sử toàn-Việt — biết chắc là khó có người chia xẻ nên định đặt tên là “Bài sử Việt cho người ngoài phố”, ước muốn ấy chưa được nơi phát tiết trừ vài mươi trang lộn xộn, tả pín lù mang tính cách của dân-mới-ra-trường trên tờ Sử Địa 1964. Chỉ có quyển sách “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam” ấy mang dấu vết truân chuyên của đời mình tạo được một tiếng vang nhỏ với một giải thưởng mà “bên trong (cũng) có lắm điều hay…” Sách ra đời không nghe được một lời phê bình nghiêm túc, có lẽ vì sự cả nể của một giới quá thu hẹp, vì tình hình thời sự không phải của chuyện quá khứ chững chạc. Chỉ có những lời tán dương vuốt đuôi, ở những bài báo giới thiệu lạng quạng vì tình thân hữu, vì cần người tiêu thụ…Cho nên nghe có một chiều hướng phê bình khác, thấy thật háo hức kể như một đáp ứng. Nhưng hoàn cảnh gặp gỡ quả không thuận tiện cho sự trao đổi quan điểm– và sau này lại thấy rằng nếu có trao đổi cũng thật là vô ích. Một ít lâu sau khi nhóm Kà Tum về, một người bạn trẻ nghe nhắc đến tên, chợt nhớ đến một số báo Xuân Đại Đoàn Kếtđược nhà gởi cho: “À, tôi thấy có ông Phạm Huy Thông nói qua về anh một vài câu nặng nề.” Chẳng biết câu ấy ra sao. Chuyến về phép cha chết, nghe nói có bài phê bình trong hai số Nghiên Cứu Lịch Sửlại bị anh bạn cũ tận Mĩ Tho hỏi mượn hẹn đến hè sẽ đem lên trả — Đường sá xa xôi, lưu thông đâu có thuận tiện nữa. Trên đường đi rông ở Sài Gòn tình cờ gặp Nguyễn Mộng Giác nhắc đến bài phê bình. Hỏi về nội dung thì Giác cũng chỉ nói được: “À cái kiểu cả vú lấp miệng em, nói anh viết với tư cách người bán nước, phục vụ chế độ thực dân kiểu mới…” Lời nói ậm ừ mơ hồ cũng cho thấy đó là cốt cán của bài phê bình, được thấy ngay, nổi bật và quán xuyến trong toàn bộ các trang viết. Kì thăm nuôi khoảng tháng 5 gì đó (1977), ở nhà bảo rằng đã đem vào nhưng bị quản giáo chặn lại để “đọc cho biết”. Trong một buổi giao ban, quản giáo hỏi quan điểm, ý kiến tôi về bài phê bình. Chẳng biết trả lời sao với người có quyền, với người không có thẩm quyền chuyên môn, đành tìm cớ tránh né: “Tôi chưa được đọc nên không thể bày tỏ ý kiến…” Người quản giáo cũng bỏ qua nhưng không giấu chút thán phục: “Không ngờ anh cũng là một nhà tư tưởng (!) nhưng tôi cũng tiếc và không đồng ý về việc anh ca tụng Gia Long…” Làm sao giải thích được bây giờ? Khi anh ta nghe hai nhà phê bình nhấn mạnh những đoạn tôi trích dẫn lời ca tụng “tên bán nước, rước voi về giày mả tổ…”, điều đó va chạm đến tinh thần yêu nước có hướng dẫn, có tính Đảng của anh ta! Nhưng một câu chuyện khác, mãi về sau này mới cho tôi một cảm giác ấm lòng để thấy, ngoài sự tự ái được vuốt ve, thoả mãn còn thấy có những người đặt trong ranh giới bạn thù rõ rệt, trong quan điểm thù nhìn thù phân minh, mà vẫn có suy nghĩ riêng tư, không bị thống nhất hoá, không trở thành con robot trong hệ thống (…) Tập báo phải chờ đến tháng 11, có một anh bạn về phép, được dặn dò mãi, không mang giùm gì vào hết, ráng đưa các thứ ấy cho tôi (có thêm ít tờ Khảo Cổ Họcnữa mới oai!) Ngoài cái tự ái riêng tư bị động chạm, quả thật tôi đã thấy thất vọng với các học giả Miền Bắc. Trước kia, trong khung cảnh giấu giấu giếm giếm của các người có sách, cộng với sự háo hức được thấy loáng thoáng một vài tác phẩm nghiên cứu của ngoài ấy, có khi chỉ được thấy nhan đề mà không thể nào biết nội dung, tôi cứ nghĩ rằng “dù sao người ta cũng đã làm việc”. Bây giờ thì phải thêm “Làm như thế, thà đừng làm còn hơn.” Cách làm như thế là một bằng cớ để mấy ông theo Lão Tử chối bỏ ngôn từ, văn tự… bởi vì quả là làm loạn đời, phủ thêm đám mây mù lên quá khứ để cho một khoa học có nền tảng bấp bênh như sử học tụ tập thêm nhiều thành phần chống đối nhau, hoài nghi hay tán thưởng với chỉ một mục đích là có lợi cho mình, phe mình. Tờ Nghiên Cứu Lịch Sửcó những bài không hơn một lời hô hào trong một cuộc mít tinh, muốn chứng minh cho lời nói của một lãnh tụ hơn là một sắp xếp giải thích sự kiện một cách thông minh, chứng tỏ khả năng, trình độ của người viết. Tạp chí Khảo Cổ Họcmang tính chiến đấu cũng không rời được mục đích hiện đại hoá: Có câu chuyện cãi nhau về cái sọ thuộc giống người nào mà ông Phạm Huy Thông gán buộc cho người bác sĩ nghiên cứu là “vẽ đường cho nguỵ chạy”! Và sau này tôi được biết vì nhu cầu chống Trung Quốc mà ông Viện trưởng lớn Nguyễn Khánh Toàn đã viện dẫn đến cả tiểu thuyết kiếm hiệp! Cái dáng sâu sắc của chuyên môn không lấp được cái sơ hở, cẩu thả không ngờ được (…) Không biết cái “cơn” nào đã khiến cho tôi viết bài trả lời. Có lẽ tại thói quen hay-cãi không có được ở những người dĩ hoà vi quý (quý cái sinh mạng). Có người bĩu môi chê cái thói hay cãi ấy: “Lí của kẻ mạnh, đó là chuyện thường tình, việc gì phải đi tranh hơn thua?” Có người tưởng tìm ra một ý khôn ngoan để cản tôi bỏ ý định: “Hiện giờ anh ở trong tay họ, làm việc dại dột chỉ tổ thiệt thân. Sao không đợi họ thả ra ngoài kia rồi hãy tìm cách tranh luận?” Cứ kể ra cái thói hay cãi của tôi cũng chẳng hay ho gì nhưng các lí lẽ đưa ra chưa đủ thuyết phục. Chuyện ngụ ngôn chỉ dạy được một sự khôn ngoan bình thường mà cuộc sống có giá trị đòi hỏi phải vượt lên. Trong thư tôi có viện dẫn đến lí do thúc đẩy: Dù biết bài trả lời không được phổ biến, tôi vẫn phải viết vì trước hết đó là “làm tròn bổn phận đối với chính mình”. Lời công kích chỉ đích danh một cá nhân thì sao cá nhân ấy không có phản ứng nếu thấy mình cũng còn có chút phẩm giá – đã bị vùi giập? Cái ta không phải chỉ là riêng tư, mà dù không phải là của một chế độ, cũng còn là của một tập họp, một thành phần thế hệ, một tập thể biết tự trọng. Không phải gàn bướng, không phải là làm theo kích động nhất thời, anh hùng rơm, quân tử Tàu, làm vì thấy có bổn phận phải làm… Mà cũng không nên chờ đợi, lần lữa. Hiện tại đã không dám làm thì mai mốt sao lại không có cớ khác để chần chừ? Ngưới khuyên có ý tốt tìm giúp cho tôi một thứ “hoãn binh chi kế”, nhưng có lẽ vẫn tưởng như ở chế độ cũ, bước ra khỏi nhà tù là có phương tiện rộng rãi để tranh đấu cho ý tưởng của mình mà không biết rằng ở cái nhà tù lớn ngoài kia cũng như ở cái nhà tù nhỏ trong này không bao giờ có thể có kiểu cách tranh luận như anh thường thấy trước kia. Đành phải làm cái hành động cô đơn vậy. Thực tình lúc đầu tôi vẫn coi bài phê bình như là phản ứng riêng lẻ của một vài cá nhân “say men chiến thắng” thôi. Trong hoàn cảnh bưng bít của trại tập trung, tôi không ngờ mình đã được đề cao quá mức – dưới khía cạnh xấu, cố nhiên. Khi lên Gia Trung tôi được đọc tập Kỉ yếu của hội nghị Tây Sơn tổ chức tại Quy Nhơn, cũng thấy có bài công kích nhưng chỉ là rút gọn từ tờ Nghiên Cứu Lịch Sửvà chỉ một trong hai tác giả trước kí tên. Lời văn, nội dung cẩu thả hơn nhiều, dường như sự kiêu ngạo của một trí thức thủ đô đối với địa phương không thể kềm giữ được (…) Thư trả lời được viết trên trang giấy học trò, giữa hàng gạch nhỏ. Từ lâu lắm, kể có mấy mươi năm rồi tôi mới lại viết chữ chen vào hàng giữa của khuôn dành cho cậu học trò. Nhưng lúc ở Bồng Sơn năm 1950 viết như vậy vì tiếc rẻ giấy, tưng tiu cái phần thưởng cuối năm chỉ được mỗi cái tập vở trăm trang giấy trắng có gạch hàng, quá sang trọng so với các trang giấy đen dùng hàng ngày, làm bằng xơ bẹ chuối, bông (cây) gòn còn mắc vào đầu ngọn bút lá tre làm nhoè mực văng tứ tung. Bây giờ viết vào hàng nhỏ là để thu gọn các trang giấy, tiện giấu giếm gởi đi. Nhưng cũng thật là muôn vàn khó khăn. Không phải ở những người quản lí mới là đáng tiếc. Sự phóng thích ồ ạt càng làm tăng thói quen ơ hờ của những người quản lí ở đây khiến việc kiểm soát người về hầu như chỉ làm lấy lệ. Thế mà đi tìm một người chịu việc “vác ngà voi” cũng thật như người xưa cầm đèn ban ngày. “Xắc tôi không có chỗ giấu… Tôi cho anh em hết cả đồ dùng, chỉ về tay không…” Những người có lúc tự nguyện làm giùm cho tôi! Cũng không nên trách họ. Việc tôi nhờ bao hàm một đe doạ lớn lao cho họ. Chứ mỗi một người về bao giờ cũng được người quen, người không quen gởi hàng tá thư mà họ vẫn chịu giấu mang đi. Có bị phác giác thì lí do viện dẫn cũng có vẻ vô tội. Đằng này…Tôi tưởng đã không còn hi vọng thực hiện ý định của mình nữa. Cho đến lúc bất chợt hỏi nhờ một anh bạn “giặc lái” không quen gì lắm, tôi biết mình chỉ có thái độ ơ hờ cầu may thôi. Nhưng anh ta lại nhận lời. Trong cả nửa năm trời tôi không biết rõ được kết quả bức thư giấu vào chỗ kín ấy đã đi về đâu. Cũng ngại anh ta vứt vào cầu tiêu hay muộn lắm là ngoài sân khám xét – như khi ở Long Khánh nhờ gia đình một anh bạn đem mảnh giấy nhỏ về nhà xin món tiền nhỏ trả cho nhu cầu bất khả kháng thuộc loại nhà nước và nhân dân (tù) cùng làm, vợ anh ta nhận lời rồi gởi lại hàng rào nhờ gió đưa về Sài Gòn! Tên giặc lái vẫn còn chút hào hùng liều lĩnh! Lại sợ gia đình ngại tôi sẽ gặp khó khăn nên không gởi đi – dù rằng tôi đã dặn anh ta nhắn rất cương quyết. Tôi có nghe nhắn rằng việc đã xong, và kiểm chứng lúc về nghe anh bạn nói Lê Văn Sáu đã gầm gừ trong một buổi hội: “Có những người như Tạ Chí Đại Trường đến giờ này mà vẫn còn cho mình đúng!” Giờ này hay giờ nào thì chẳng cần quan tâm lắm. Mục đích tôi đã đạt. Và lại còn có một bất ngờ hơi “bậy bạ”: Tôi cứ tưởng tượng những con người chiến thắng vững tin ở chân lí của mình đó – vì nói một mình – đang chuyền tay xấp giấy mỏng, nhoè mồ hôi, dán mắt vào đọc những dòng chữ li ti, không phải chỉ đoán nghĩa chữ mà còn phải đoán mùi!…[Tạ Chí Đại Trường, Đi, Về, Vào, Ra, sđd, trang 181-188]

Sau khi đề cập tới “phẩm giá” của Tạ Chí Đại Trường và của tập thể, tôi sẽ dẫn tới “phẩm giá” của người lính tù, người tù và người vợ cùng gia đình của họ.

1.3.10 A Thăm nuôi Tù Cải Tạo: dấu hiệu một thảm trạng về sự bất lực của chính bản thân mình, của tập đoàn bại vong của mình, của cả chính những người chủ mới…

Sau khi người tù tình nguyện “đăng ký” vào tù, đến phiên người vợ và thân nhân lũ lượt kéo nhau đi tình nguyện “động viên” người tù. Ngay trước và trong khi đó, gia đình người tù đã bị xiểng liểng, kiệt quệ về mấy vụ đổi tiền, vụ đuổi đi Kinh tế Mới vv. nên bao nhiêu thảm cảnh xẩy ra là chuyện đương nhiên. Nhất là khi người duy nhất làm ra tiền trong gia đình bị vào tù. Nhiều bài viết hoặc hồi ký của người Tù Cải Tạo đã ghi lại những cuộc tự tử của người tù quen biết hay không, từ dân đến quân. Đời tù không ngày về, không rõ số phận người thân, có khi bị lìa khỏi nỗi an ủy duy nhất còn lại khi người vợ bỏ đi vv. đã đẩy người tù vào cõi miên viễn. Tạ Chí Đại Trường viết về một cuộc tự tử trong tù rất thê thảm. Ông cực tả nỗi tuyệt vọng của người tự tử mà khi chết, nỗi kinh sợ chính phủ hà khắc vẫn còn bám theo, căn cứ vào lời xin tha tôi cho vợ con vì đã tìm đến cái chết! Sự kinh sợ này có lý do khi chúng ta được biết phản ứng phi lý một cách máy móc theo giáo điều của người quản tù; một thứ phản ứng chỉ có trong một thế giới không nhân tính:

– … Một vụ tự tử đầu tiên xảy ra. Đêm của những ngày trước Noel càng ảm đạm hơn khi có hiện tượng sao chổi xuất hiện. Đêm về sáng đứng ở sân cát trong ánh mờ sao vây phủ, nhướng mắt nhìn về một hướng để từ trong khoảng không bắt gặp một chùm bụi sáng lung linh, sao mà không lúc nào cảm thấy sự hư ảo, mong manh của kiếp người hơn những ngày cuối năm ấy. Chính cái cảm giác ngợp hư vô ấy chứ không phải sự sợ hãi mê tín đã khiến tôi bước vội vào nhà. Trong mơ màng tôi nghe tiếng xì xào bàn tán về một người chết nào đó. Bước ra sân, còn cảm giác ngây ngây, tôi thấy từng nhóm tụ tập rầm rì giữa ánh chân trời rựng sáng. Người chết là một dược sĩ khủng hoảng tinh thần đã hơn nửa tháng và không giấu diếm ý định của mình. Anh em xúm lại khuyên can và có người nói dỗi: “Mày cứ chết đi, thiệt thân mày, khổ vợ con mày thôi chứ những thằng khác vẫn sống nhăn răng ra, chúng còn cười mày dại nữa, ngu lắm con ạ!” Tổ trưởng, đội trưởng báo cáo lên trên, hi vọng quàng xiên về một sự can ngăn nào có hiệu quả của quyền hành. Vô ích, sao lại cứ tưởng mình còn có một giá trị nào đó? Rồi cả tổ dặn nhau canh chừng. Đêm về sáng một người thức dậy, ngồi trong bóng tối gật gù, thoáng thấy một bóng đen lướt qua, tưởng mình hoa mắt lại tiếp tục gật gù, đầu óc lửng lơ. Một lúc sau anh mò xuống bếp, trong bóng tối đụng phải một vật gì đu đưa. Cái gì thế này? Chết cha! Thằng G.! Chuyện bàn quanh cũng nhiều, nào là hoạ sĩ TC. trong bức họa đương sự đã thấy cái dáng sầu muộn tử khí phảng phất, nào là những dấu hiệu hiển linh ngay sau đó trong nỗi sợ hãi vẩn vơ của tôi: ‘Đến vô thần như thằng T. mà cũng rùng mình kia mà!” Những khám xét tử thi, cái hòm gỗ chôn thì cũng là thường thôi. Nhưng quả thật tử khí đã tràn ngập cả trại. Không có tiếng cười đùa như thường ngày. Tôi đã đến đấy, liếc qua: Từ trong gian bếp vẫn còn cái xác thòng nhưng cặp chân co lên cho khỏi chạm đất hàm một ý quyết định. Nghe nói bức thư để lại có câu: “Xin đừng bắt tội vợ con tôi…” Chúng tôi được tập họp lên lớp. Bầu khí nặng nề ảm đạm vây phủ. Chẳng có tiếng rì rầm nào mặc cho người trưởng quản giáo giải thích về cái chết, kể tội người chết, kết tội chúng tôi là bi quan, không tin tưởng ở chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước… Nhưng khung cảnh im lìm bỗng vỡ tan, người quản giáo vừa nói: “Anh H. (?) chết tức là trốn học tập…” Chúng tôi cười ồ lên. Người quản giáo ngơ ngác lặp lại. Vẫn cười ồ. Sau này có người xầm xì: “Trốn sao được mà trốn, còn gặp Bác kia mà…” Nhưng sự kiện ấy là một trong những lúc hiếm hoi gây xúc động ở tôi trong những ngày cùng khốn đó. Phải đặt mình vào cái buổi sáng âm u, người trĩu buồn, tuyệt vọng, không ai muốn hé môi của ngày hôm ấy. Phải nhớ lại cái xác còn treo tòn teng như hình ảnh có thể có của mỗi người trong chúng tôi. Thế mà có những tràng tiếng cười, tràng cười ồ không vươn dài ra biểu lộ một nỗi vui mà cắt đứt cụt ngủn, đột ngột, đã ngưng lại mà người cười còn ngơ ngác. Đó là tiếng cười của một lũ điên, tiếng cười không còn dấu vết của lương tri. Nhưng ai đã đánh mất lương tri? Lễ chôn cất làm vào lúc sập tối. Hình như người ta cố ý trùng trình để chờ lúc thuận tiện tránh xáo động hơn. Chỉ có một số người khiêng quan tài qua bên kia suối. Chúng tôi bị đuổi hết vào nhà nhưng từ trên các chái chúng tôi vẫn theo dõi được con đường của ánh đuốc, ánh nến bập bùng trồi lên trụt xuống của chiếc quan tài trên đường thung lũng vắng lặng. Đêm đổ xuống ôm lấy con người yếu đuối kia nhưng cũng ôm choàng tất cả chúng tôi, bất lực… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 122-123, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, Hoa Kỳ, 1993]

Ông quan sát, ghi nhận và tổng hợp bao nhiêu cảnh éo le, oan khốc của người tù và thân nhân một cách chi tiết với lòng cảm thương dành cho nạn nhân phụ nữ và phẫn nộ dành cho một chế độ đã mắt nhắm tai ngơ trước cảnh lầm than nhục nhã của họ:

  … Ở địa điểm này chúng tôi được hai lần gia đình gởi “quà” bằng đường bưu điện cách nhau ba tháng và hai lần gia đình đến “thăm viếng” cách nhau sáu tháng. Ngay đến cách dùng từ cũng làm ngạc nhiên chúng tôi, kể cả các tay Bắc Kì tàu há mồm. Sự lựa chọn từ ngữ thể hiện được cả tính chất Bắc Kì phong kiến được nâng lên mức độ thể chế hiện đại hóa. Chẳng phải ở tù –có người bị kiểm điểm vì đã thốt lên ý nghĩ này — cho nên không có chuyện “thăm nuôi”. Đấy chỉ là sự vắng mặt dài lâu được nhà nước tính toán chu toàn đủ, nên không có sự thiếu thốn, không có chuyện đi nuôi tù. Thấm nhuần tinh thần nhân đạo truyền thống, nhà nước mới tổ chức cho thân nhân đi thăm viếng những người đang học tập cải tạo, mang “quà” đi động viên, khích lệ chồng con học tập tốt để sớm trở về với gia đình, sớm trở thành người công dân tốt phục vụ đất nước. Cái ngọt ngào sao mà đầy vị đắng cay! Và đắng cay nhân đôi với những người nghèo trong trại. Ở nơi khác đã có người mang cả con heo quay đến trại, có người lãnh “quà” lôi luôn cả tổ trên 10 người đi khuân vác. Lại có người lủi thủi đi thăm chồng với ổ bánh mì kèm theo như lời trối trăn: “Lần này ráng chạy tiền đi thăm anh, không biết lần sau có vay được không.” Ở T. này cũng có người từ nhà thăm nuôi vào vừa khiêng vừa vác, vừa réo gọi anh em tiếp tay, và cũng có người lặng lẽ xách một bọc nhỏ về phòng mà trí óc vẫn băn khoăn không biết làm sao con vợ nuôi nổi mấy đứa con mà còn chạy được tiền đi thăm mình nữa? Cái dấu hỏi to tướng này không mấy người đặt ra. Có người thản nhiên không nghĩ tới vì tưởng có đủ tiền để được thăm nuôi suốt đời. Có người không nghĩ tới vì thói quen đòi hỏi hưởng thụ đã che lấp tất cả. Một thảm cảnh gia đình từ đấy mà ra: Người vợ phải đi bán thân và phân trần với người mẹ cải tạo cùng phố: “Dì tính, nhà còn gì nữa đâu, còn phải nuôi mấy đứa con mà anh ấy cứ viết thư về giục gởi thứ này thứ nọ, cứ tưởng như là hồi trước kia!” Chúng tôi cũng từng ghé mắt nhìn qua các bản danh sách yêu cầu này và đặt tên cho chúng là những “tờ sớ”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd,trang 182-183]

– … Thư viết chỉ một trang giấy học trò mà thôi. “Quản giáo còn bận nhiều việc”, không thú nhận rằng mình ít chữ, đọc nhanh không được mà tính đa nghi lại khiến anh ta nhìn thư dài ngoằng không biết bọn nguỵ cầu kì rắc rối nói chuyện sinh hoạt phức tạp có chen vào ẩn giấu âm mưu gì không. Nội dung thư cứ nói “học tập tốt, lao động tốt”, “động viên gia đình lao động tốt” để “xây dựng chủ nghĩa xã hội” là đủ rồi. Thế mà có những đứa viết thông báo cho gia đình biết chỗ ở của mình với các câu đại khái “Lúc này vườn anh Long chị Khánh chắc cỏ mọc um tùm”… Phần lớn khác nói chuyện mùi mẫn anh anh em em đầy tính cách tiểu tư sản uỷ mị, kéo dài hàng lô món ăn xin gởi liệt kê cả một dọc! Thế thì làm sao gọn trong một trang giấy cho được! Không vuốt ve vợ thì tình cảm không chỗ phát tiết đã đành, nhưng nếu không mùi với con vợ thì làm sao nó chấp nhận cái “toa” kê ra? Cho nên vẫn có kẻ kéo dài hai tờ giấy học trò, chữ viết nhỏ đi, theo hàng gạch hẹp, tái bút lên tái bút xuống, lại xoay ngang tờ giấy viết vào cái lề còn chừa trắng trước kia, mất cả ý định dành cho thư có tính cách trang trọng. Thư các ông có mục đích “đồ ăn” rõ rệt thì thư các bà lại nặng về tình cảm kể lể, thương mến lẫn giận dỗi ghen tương– có cả chuyện phòng the ẩn giấu nhưng khá trắng trợn, có nhắc cả chuyện vợ lẽ con riêng đâu tận đời kiếp nào trong năm bảy tờ giấy làm dày cộm bức thư. Chắc tức vì đọc mệt, Ban Chỉ Huy bèn tổ chức một hai cuộc lên lớp, bắt đương sự lên bục đọc thư vợ, kéo dài cả buổi tối. Tất nhiên chẳng phải vì ác ý nhưng mọi người đều cười ngả nghiêng tán thưởng cái dâm của người vợ trẻ xa chồng. Nhưng sau đó là những điều phải suy nghĩ liên hệ đến gia đình từng người: Cô giáo nọ vốn đã trải qua một thời làm tình nhân, làm vợ đầy hạnh phúc, nay mang từng cái bánh ra bến xe bán, lạc lõng bơ vơ ngoài đường, cô đơn khi về nhà, nhắc đến chuyện ái ân cũ với chồng có phải dùng kỉ niệm để làm bức thành ngăn chận những quyến rũ của cuộc đời lôi cuốn từng giây, từng phút trước mắt không?

Những bức thư viết đi cũng được cho lên lớp vì có những lời lẽ tuyệt vọng động chạm đến lòng tự cao tự đại phình to của người chiến thắng. “Thôi, đời anh như vậy là hết rồi, em nên đi tìm hạnh phúc mới, coi có người bộ đội nào…” Lời gầm phản đối thật đầy vẻ kiêu hùng: “Nhà nước giam giữ các anh không phải nhằm mục đích chia rẽ gia đình, và chúng tôi chiến đấu không phải là để cướp đoạt vợ con của các anh!” Thật đầy lí tưởng nhưng chẳng thực tế chút nào… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 186-187]

-… Một thảm kịch cũng diễn ra với một nhân vật ý thức thật đúng hành động của mình. Người vợ trẻ dắt theo cả mẹ chồng, thuật với anh chồng phi công về chuyện mình bị công an hãm hiếp bao nhiêu lần, những lúc bị đòi lên lấy khẩu cung chuyện nguỵ. Một vài lần riêng lẻ, một lần bề hội đồng và kết quả là cái thai mấy tháng. “Mẹ nói để một mình mẹ lên nói với anh cũng được, để tránh cho em điều khó nói. Nhưng em nghĩ em chẳng có điều gì phải ngượng vì không hề có ý nghĩ phản bội anh. Em muốn tự tử nhưng cũng muốn gặp thẳng anh, bởi vì nghĩ rằng trước sau gì anh cũng biết chuyện – biết một mình chắc có nhiều điều vương vấn thắc mắc hơn là biết với em để ít ra em còn sống mà chia xẻ, chịu đựng với anh…” Đêm kéo dài với những lời kể lể và anh phi công nọ về trại ngẩn ngơ mấy ngày rồi vượt biên giới trong một buổi đẵn cây rừng. Bây giờ anh ở nơi nào? Chuyện có thể được bào chữa là do sai trái của một vài cá nhân lẻ tẻ, như thói quen biện hộ thông thường. Nhưng “con dại cái mang”, một quyền bính chối bỏ trách nhiệm của mình thật chẳng bình thường tí nào, huống chi đối với một chính quyền cứ tự cho mình không chỉ bênh vực lẽ phải mà chính là hiện thân của lẽ phải, văn minh. Đây chính là điều đáng nói. Thường nhân sai lầm có thể bị mắng mỏ, đánh đập nhưng cũng được tha thứ. Còn những người tự xưng là thánh thiện có thể được kính trọng tôn sùng nhưng khi đổ vỡ thì thật là tai hại, tan tành không phương cứu vãn. Sống mà cái gì phải, cái gì thành công thì vơ về mình, cái gì trái, cái gì thất bại thì đẩy cho người khác, sống như thế, cai trị như thế cũng “dễ” thôi. Tất nhiên đây chỉ là bàn tới trên lí lẽ mà thôi. Nếu sức mạnh khiến cho lí lẽ không giành được ưu thắng thì đối lại chỉ còn sự khinh miệt- tuy rằng khinh miệt chẳng nhằm nhò gì đối với quyền thế. Về Sài Gòn ít lâu tôi thấy thái độ trên chất chứa thật sâu xa, thật lan tràn trong dân chúng. Và cả người cán bộ cũng ngượng ngùng, lẩn tránh…Không thể không nhìn nhận sự hấp dẫn của Sài Gòn đối với người chiến thắng hấp dẫn về mức sống cao, từ đó là hấp dẫn bởi con người, đầu tiên bao giờ cũng là đàn bà! Lúc mới giải phóng, con gái ngõ hẻm đã chê bộ đội “không láng”. Có nghĩa ngược lại là con gái đàn bà Sài Gòn “láng” lắm. Văn chương Giải phóng có vào khuôn phép cho mấy cũng lộ ra một sự vùng vẫy chống cự sự hấp dẫn đó. Với uy thế chiến thắng sao họ không biết lợi dụng tình thế? Kẻ đạo đức trong vụ này là những tên chậm lụt, ì à ì ạch. Những người ở địa vị lãnh đạo tiếp thu cơ sở có đủ quyền uy, tiền bạc để che cái “không láng” của họ, mà có còn thì cũng dễ dàng nhanh chóng khắc phục… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 188-190]

– … Huỳnh Tấn Phát quy định thời gian cải tạo là ba năm. Tuy cũng đã trải qua một năm rồi nhưng khoảng thời gian còn lại vẫn thấy là ngút ngàn! Quy định có nói đến trường hợp được về sớm nếu có cơ quan bảo lãnh, có người thân là Cách mạng. Thế là tự nhiên nảy nòi những tay bà con Cách mạng, từ những bà con thực sự, tuy xa lắc xa lơ mà honda, tivi rút ngắn con đường thân thuộc đến những tay bà con chẳng biết từ đâu, bằng cách nào lại trở nên cùng họ hàng! Trong đó yếu tố can thiệp mạnh vẫn là đàn bà. Nhiều anh nôn nóng viết thư trách mắng vợ không giỏi giang như người khác để lo chạy cho mình về. Và một anh nhận được bức thư nhẹ nhàng, cay đắng nhưng có hiệu quả như một lời nhiếc mắng nặng nề ngoài ý muốn của người viết: “Anh trách em không lo cho anh, nhưng nếu bắt chước như chị A, chị B thì sợ khi anh về rồi, chúng mình không dám nhìn mặt nhau…” Nhưng có vẻ như không chỉ có sự lợi dụng xấu xa. Một bức thư với mục đích phân trần về hành động rẽ bước nhưng có chi tiết tình cảm không đơn giản: “Nhà ta đã không thong thả gì mà bây giờ em phải gánh lấy 7 đứa con dại với một tương lai mờ mịt. Nhớ ngày nào ở nhà anh vẫn thường ước muốn sao cho em được hạnh phúc, sao cho các con được sung sướng. Phần em bây giờ không đáng kể gì rồi nhưng các con vẫn là điều quan trọng. Thời thế đã đổi thay, các con sống chật vật đã đành mà quá khứ ngụy của anh còn là một trở ngại lớn cho chúng nó nữa. Nay có người chịu nhận nuôi nấng con anh, hi vọng dây liên kết với người của chế độ mới sẽ bảo đảm một chừng mực nào đó cho chúng sống dễ thở hơn, em tưởng tuy không dùng đến chữ hi sinh, nhưng dù mọi người chung quanh có nhìn em bằng cặp mắt khinh bỉ, dù anh có bực tức thế nào đi nữa, em cũng nghĩ là em đã làm theo ý nguyện của anh…”. Bức thư được những người đọc lên tỏ vẻ hoài nghi, khen chê rối mù, nhưng không ai không cảm động với lời tâm tình mà vì hoàn cảnh lúc bấy giờ không ai biết đến sự bao vây khắt khe của chế độ, không ai thấy được sự tính toán sai lầm của người vợ kia. Xã hội không có quy mô công nghệ nữa mà lại suy sụp trở về với thời làm ăn tủn mủn, vụn vặt, một thứ “chạy chợ” tuy ở khung cảnh đô thị nhưng vẫn mang dáng dấp của sinh hoạt “con cò lặn lội bờ ao”. Người “làm ăn” được là đàn bà, con gái, trẻ em đi làm để nuôi đàn ông vào tù hay co rút lại. Những người này không được chuẩn bị sẵn để chống đỡ với những cạm bẫy do chính bởi cái ưu thế đàn bà đã giúp họ làm ăn dễ dàng: Qua mặt công an, luồn lọt công quyền, ứng biến khi sơ thất ngay cả trên đường xa… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 190 -191]

– … Nhà nước mới cũng nên biết ơn những gia đình có con em cải tạo đã giúp cho chính sách có bằng cớ khoan hồng hơn bằng cách moi vàng ra, bán đổ bán tháo rađio, tivi, tủ lạnh cho cán bộ đem về Bắc, để lấy tiền nuôi nấng người thân trong rừng sâu núi thẳm, cho cuộc sống họ đỡ cực nhọc hơn. cho họ đủ sức chịu đựng hơn: “Này, đi học tập về béo tốt như thế đó…” Chút tiền của bòn mót từ cái đuôi của tư bản, chút cặn thừa của thời kì thực dân kiểu mới “phồn vinh giả tạo” đã gợi nên câu nói khôi hài đen: “Mai sau có con, tôi nhất định khuyên nó đi lính cho phe xã hội chủ nghĩa. Chẳng phải vì muốn nó ‘yêu nước, yêu nhân dân, yêu đồng bào, vì nhân loại tiến bộ’ đâu! Mà vì lỡ nó có bị làm tù binh thì tư bản nuôi nó sướng như tù Phú Quốc hồi đó, chớ đi lính cho tư bản mà bị phe xã hội chủ nghĩa bắt thì ôi thôi, chém-tre-đẵn-gỗ-trên-ngàn!” Đi thăm nuôi cũng không dễ dàng gì. Đã nói hơn 30km đường xe bò đi, có thể đếm bao nhiên hang ổ gập ghềnh là bấy nhiêu cay đắng cực nhọc cho người chinh phụ thời hậu chiến của một phe này. Sầu hận họ lắng sâu, sâu mãi để có thể đối xứng với tiếng reo hò tở mở của tiếng người trực tiếp, tiếng người nhắn qua phương tiện truyền thông của nhà nước tập trung, qua những trang giấy in triệu triệu tờ tung ra khắp đất nước, vòng quanh trái đất để hoan hô chiến thắng, reo mừng ngày thống nhất của một phe họp mặt, sum vầy (…) Có người giữa đường rừng đã bị chặn lại, cướp đồ đạc, bị chọn lựa để dẫn sâu vào bên trong. Người thân còn kể rằng đã đọc thấy trong đôi mắt của chị mình một lời trăn trối – không phải chỉ sự tuyệt vọng không bảo vệ nổi tiết trinh mà còn là dấu hiệu một thảm trạng về sự bất lực của chính bản thân mình, của tập đoàn bại vong của mình, của cả chính những người chủ mới, của đất nước với trống với kèn, với tiếng súng đạn nổ mừng hội hoa đăng, trùm lấp những lời than vãn – còn nói chi đến một cử chỉ thầm lặng buông xuôi! Lượng tiền tích trữ của Sài Gòn cũng còn là lớn. Anh thiếu uý bên nhà tôi được gia đình mang cả con heo quay ra đãi bạn. Nhưng một bà mẹ đã nói nhỏ với con về thảm trạng của người bạn gái nhỏ cùng khu phố. Bà già thuật chuyện ấy đâu phải để làm quà thóc mách nhưng để gợi về giá trị những gói mì, cái bánh… trên đường xa lặn lội… [Tạ Chí Đại Trường, “Đi, Về, Vào, Ra”, sđd, trang 250 -251]

Liệu có ai còn nhớ để so sánh quang cảnh náo nhiệt rợp màu đỏ tại Việt Nam mới đây khi kỷ niệm 50 năm “Giải phóng Miền Nam” và “Thống nhất đất nước” với đoạn bình luận cách đây hơn 30 năm của một sử gia về những người vợ, người chị, người em gái Miền Nam bị hãm hiếp trên đường thăm nuôi thân nhân bị giam tại các trại Tù Cải Tạo Miền Bắc?

1.3.10 B Vài suy nghĩ về Phụ nữ Việt Nam và Phụ nữ Miền Nam sau 1975

Tuy bị Tạ Chí Đại Trường rủa là “đồ răng đen mã tấu”, tôi vẫn có mỹ cảm với ông về một khía cạnh mà hình như chưa ai bàn đến khi viết về ông: quan tâm và chia sẻ với phụ nữ về những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến họ, nhất là sau năm 1975. Ngoài những đoạn thượng dẫn về chuyện Thăm Nuôi người Tù Cải tạo, tôi còn được đọc những lời bàn sau đây trong tác phẩm khác. Ông bàn về vị trí của người phụ nữ qua tên họ và gia phả:

-… Nhưng ngay cả ở cội gốc, ở quan niệm tông phả của Trung Hoa cũng đã có sự thiếu sót trong sự kết nạp các thành phần làm nên một dòng tộc. Không phải người nào cũng được ghi chép như nhau. Ðược chú ý nhất là các nhân vật thuộc ngành Trưởng, và là người nam. Gia phả mang tính phụ hệ, chỉ giữ lại cái “họ” của thành phần nam. Ngưởi nữ được ghi theo chồng, cả theo con, với những chi tiết tối đa gán ghép theo ý nghĩa phục vụ kia, nghĩa là ngoài những điều khoản căn bản phải theo thì những thuộc tính của người nữ được thêm là từ sự liên hệ với người nam gần gũi: công dung ngôn hạnh không có, không cần thiết cũng được nêu ra, chức tước ân thưởng về mặt xã hội được nhận lãnh từ người cha, người chồng, người con (…) Tính chất bất toàn của gia phả theo quan niệm phụ hệ dẫn đến sự bất công đối với người nữ, đã được ông Phan Khôi nêu ra theo bằng chứng gia đình: bà cố của ông tái giá, dựa vào sinh kế nhà chồng mới, nuôi con chồng cũ học hành đỗ đạt, với chức tước hưng vượng cả nhiều đời sau đó cho những người họ Phan của ông mà vẫn bị nhà chồng cũ bỏ bài vị, không cho cúng giỗ! Bây giờ, thoát khỏi ảnh hưởng của quan niệm Tây phương đã gây nên sự bất mãn kia của ông Phan Khôi, xã hội Việt Nam trở về với “truyền thống” cũng cho thấy bóng dáng người phụ nữ năng động xưa. Tuy các nhân vật nữ trong chính quyền chỉ làm việc tô điểm cho một chính quyền Ðực đến mức thô bạo nhưng nấp sau các công cuộc “làm ăn”, “chạy mánh”, kể cả ở các tập đoàn kinh doanh đều có bàn tay những người phụ nữ tháo vát. Rồi như minh chứng cho sự chèn ép của xã hội, những người nữ chống đối hiện nay cũng nổi bật lên, chịu đựng nặng nề quyền uy sấm sét của những người cầm đầu đất nước đang lúng túng níu kéo quyền lực. Ðã có sự dọ hỏi về số người nữ bị tù đày về chính trị ở Việt Nam hiện nay, cho thấy là họ có số lượng vượt lên mọi nước trên thế giới… [Tạ Chí Đại Trường, Sử Việt thời thổ tả (IV): Chuyện Gia Phả, Tông Phả Họ Hàng Nhà Ta, Da Màu, ngày 8. Tháng giêng. 2014

Rồi ông bàn đến đến những cái họa ngày nay. Chiếc áo dài cũng lợt phai trên sân trường trên dưới 10 năm cho đến khi cô Đàm Thị Ngọc Thơ, Hiệu Trưởng một trường trung học tại Cà Mau cổ võ thành công cho việc tái xuất loại đồng phục này vào khoảng 1984:

-… Thiếu Gia miếu là dấu hiệu hiện diện của thần Bạch Mã Thái Giám cũng từng cứu vớt người đi biển tận trong tít mù thời gian. Tính nữ đã nổi bật với người đi biển xưa, người nữ vượt biển của thời nay, trong ý thức xông xáo cố hữu mạnh hơn người nam với toan tính bứt ra khỏi sự nghèo đói bình thường mà bức xúc, khỏi sự chèn ép của hệ thống phụ hệ còn đó hàng ngày, người nữ đi tìm sự giải thoát cho chồng cho con, tìm sự giải phóng cho mình hẳn cũng một lần kêu gọi đến vị nữ thần bảo trợ (“Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát”) khi thấy sóng gió, gặp hải tặc? (…) Cô đã thật có sự an bình – an phận – bên trong chiếc áo dài kia? Chiếc áo dài cũng tội nghiệp vì tuy được ca ngợi liên miên nhưng lại chỉ là khuôn mẫu độc nhất của trang phục dân tộc trên thân người phụ nữ Việt ngày nay. Vậy mà có một thời nó đã phải biến mất như một dấu vết đáng xấu hổ của tầng lớp trưởng giả, tiểu tư sản. Nó chỉ xuất hiện lại trong khuôn khổ nhỏ hẹp, trong nhà trường với màu trắng đơn sơ, ở tận xứ Cà Mau hóc-bà-tó của đất nước. Và cô hiệu trưởng hồi kết ấy phải chịu bao điều mắng mỏ, đe dọa của cấp ủy địa phương. Họ không chịu thấy rằng chính bộ đồng phục ấy mới là dấu hiệu bình đẳng ít ra là ở trong nhà trường, nơi dù sao cũng là khởi điểm của những người điều hành đất nước, công cũng như tư. Học sinh có gì mặc nấy, có cô cậu te tua rách rưới, có cô cậu như ông hoàng bà chúa, thế mà cấp ủy Đảng không thấy ra điều ấy chỉ nhìn việc theo thói quen định kiến và quyền uy, thói quen tuân phục của thuộc lại thời mới. May mắn cho cô Hiệu là đàn bà trong một chế độ tuy thường tuyên truyền về vai trò bình đẳng của phụ nữ nhưng ưu thế đó không phải là từ trong lý tưởng thực hiện được mà từ trong thực tế có sự nể nang lẫn coi thường kiểu cách luồn lọt xông xáo của đàn bà… [Tạ Chí Đại Trường, “Từ nơi sóng vỗ bềnh bềnh”, Văn Học số 123, trang 99, Tháng 7. 1996]

Là một nữ sinh mặc áo dài trắng suốt 7 năm Trung Học, nhiều lúc còn cột 2 tà áo vào nhau cho dễ đá banh, trèo cây (hái trộm hoa quả), nhưng sau đó ít mặc hơn mà khi ra đi, không biết tại sao lại quơ đúng 1 chiếc áo dài mang theo, tôi rất ngậm ngùi khi đọc đoạn này. Đọc đến đây thì đã quá đủ mà không cần lời bàn thêm. Đến đây, cũng đã đủ để chúng ta sang phần người lính VNCH trong các trại giam Tù Cải tạo.

1.3.11 Có điều cũng nên minh oan chút cho “lính ngụy”

Tạ Chí Đại Trường là một người lính. Ông có những quan sát, suy nghĩ của một người lính. Trong đoạn sau đây, ông đặt sự tương phản giữa những phương tiện truyền thông ngoại quốc không thấu nổi lúc thập tử nhất sinh của nền tự do chìm theo đáy vực của một quân đội chưa đánh hết mà phải bỏ súng. Tạ Chí Đại Trường đứng trong đoàn quân ấy để ca than:

– … Có điều cũng nên minh oan chút cho “lính nguỵ”. Những ngày di tản, chuyện bạo tàn của lính kể không hết từ những người quen thuộc cuộc sống ấm êm sát bên lửa đạn bao nhiêu năm, từ phương tiện truyền thông quá thừa chỗ trống. Sau khi Đà Nẵng thất thủ, một người lính Biệt động quân vào chi nhánh tiết kiệm Việt Nam Thương Tín Ga Sài Gòn gởi một số tiền tròn giản dị: một triệu đồng. Nhưng có ai thấy họ đói khát thất thểu lê bước, có ai thấy nỗi tủi nhục của họ khi đội ngũ còn mà phải bỏ chạy một cuộc phục kích của du kích địa phương? Sức căng chiến đấu đẩy mũi súng trở về phía trước mà quay đầu lại thì cò súng ấn vào viên đạn tất chĩa về hậu phương. Nhưng khi đã quăng súng, lột áo quần giày mũ, rời rã về với cá nhân thì chỉ còn mong trốn chạy cho yên thân, núp vào đám đông mà trốn, chui vào sinh hoạt bình thường mà trốn, ở nơi người phổ ki bưng tô hủ tiếu cho khách, người chủ cà phê ghế, cả cái anh đang mơn mơn anh bộ đội gạ bán cái đồng hồ không người lái gốc Chợ Lớn kia nữa… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày cuối và những ngày đầu, sđd, trang 27]

Từ đó, ông giải thích lý do người dân Miền Nam phản ứng với chế độ Cộng sản bằng sự ưu ái công khai với tù nhân Trại Cải Tạo vì chính họ–không chỉ có thân nhân trong tù—cũng thuộc về quá khứ chung với đoàn tù:

– … Câu chuyện về cảnh đồng bào ùa ném quà bánh cho tù binh có thật nhiều, nhiều pha thật cảm động và cũng thật không ngoài tiên liệu của những người quản lí chúng tôi cứ phải di chuyển chúng tôi trong xe bít bùng vào đêm tối. “Trời sụp”, tai nạn tràn đầy, trên 25 triệu dân Miền Nam có ai là không có thân nhân phải vào trại tù? Đứa bé bán thuốc lá ném cả gói lên xe, có chút hi vọng nào là trong những người hút có cha của nó? Người vợ thầy giáo bộc lộ tâm tình son trẻ trong thư nghe đọc ở hội trường mà chúng tôi đã cười nhạo cợt, khi bán bánh kẹo ở bến xe, thấy một xe tù, dám tung cả rổ lên mà không tiếc chút nào! Lí thuyết giai cấp không đủ phủ nhận sự nghèo đói thời hậu-giải-phóng, thời đại đầy ước mơ của thời tiền-giải- phóng. Chạm trán với thực tế, người ta à một tiếng: “Cũng thế thôi!” Và bây giờ thì chỉ có chuyện biện minh – biện minh có sự phù trợ của sức mạnh. Sách vở, chữ nghĩa đâu có phủ lấp được đời sống! Bà già từng nuôi giấu cán bộ, chờ chực đến bao nhiêu ngày để xin cái giấy gì đó không được, chửi bới lung tung không kể gì bọn nguỵ dân cười thầm với nhau. Người trí-thức-một-chút ngơ ngẩn trước sự lệ thuộc tư tưởng đến trắng trợn, loại lệ thuộc không giấu diếm đã đành mà còn được hãnh diện khoe khoang. Chưa kể đến sự bàng hoàng cuống quýt vì thất nghiệp trước quan niệm “lao động là vinh quang” được hiểu với tính chất cầm cày, cầm cuốc, chọc lỗ, bới tay chứng tỏ một trình độ kĩ thuật kém cỏi đến mức họ không thể nào thích nghi được. Trong một hai tờ báo lọt đến tay chúng tôi, thỉnh thoảng có các câu chuyện xa gần đến sự quay đầu (về đâu?) của đám thanh niên tả phái cũ từng làm nổ tung thành phố một thời. Lí lẽ chê bai họ của chính quyền mới thật nhiều nhưng không đủ phủ nhận đuợc sự kiện. Còn chính sách bao tử kềm cho người dân ở mức độ bận tâm đến sinh sống hàng ngày khỏi gây nguy hiểm cho chính quyền, đem lại vững chắc cho điều theo lí thuyết gọi là chuyên chính vô sản, thì lại dẫn họ đến sự so sánh thực tế mà thốt nên lời mỉa mai: Gạo được trị giá ba phần khoai lang được gọi là gạo Ba lan(g), xe đóng hộp cá người xộc xệch trên đường đi gọi là xe Liên Xô – xô liên liên, liền liền… Người con gái gốc Sài Gòn mót lúa trên vùng kinh tế mới, trả lời tên cải tạo: “ Đúng là nhân dân làm chủ tập thể (tiền của, lúa gạo) nhưng mà nhà nước quản lí, anh ơi!” Đã bất mãn với hiện tại mà không mơ ước nổi tương lai thì người ta hay tẩn mẩn quay về quá khứ. “Luyến tiếc quá khứ” bị buộc là cái tội nhưng quyền lực nào xua đuổi được quá khứ? Quá khứ còn trước mắt họ không chỉ là căn nhà đổ nát, tàn tạ, con đường thưa vắng mà còn là nhúm người được tách ra như vi trùng nguy hiểm thành một cuộc sống “Việt Nam Cộng hòa nốidài”riêng biệt bên trong hàng rào dây kẽm gai, vọng gác… Với phần lớn thì chẳng ai có hành động gì tích cực mà chỉ có luyến tiếc thôi! Nhưng trên sự luyến tiếc ấy một tình cảm đẹp đẽ được trỗi dậy: người ta dễ tha thứ, khoan dung với những lỗi lầm đã qua và cảm thương cho sự thất thế, cùng khốn thấy trước mắt. Họ quên chuyện những “tên” cảnh sát đậu xe bít bùng bên hàng xóm, thân mình mang súng, lựu đạn cay, khiên mộc rầm rộ ngoài đường phố rượt đuổi đám thanh niên tay không chơi trò cút bắt với đại diện chính quyền, như một phần thể hiện sức trai trẻ thừa mứa cho lí tưởng. Họ quên đám lính lùng sục trong làng khi chạm trận thì cũng có thể quơ con gà, con vịt, xẻo vội cái đùi để con heo ba chân chạy trốn… Họ quên đám quan lính nhậu nhẹt nổ súng tưng bừng. Họ quên… Họ quên… Trước mắt họ bây giờ chỉ có sự tồi tàn sa đoạ, chỉ những gương mặt lầm lì, những bộ đồ rách tả tơi mà dù người bộ đội có thúc giục “Vui lên… Vui lên… Áo quần lành lặn vào” cũng không làm thay đổi được. Và từ đó quà bánh ném lên xe, không phải của những nhà giàu, nhà tư sản — họ đang trốn tránh, trong nhà riêng hay ở ngoại quốc — mà là từ những người buôn gánh bán bưng, những bà già lụ khụ với cái mẹt kẹo ruồi bu, những người mà lí thuyết không phủ nhận được tính cách tầng lớp thì lại chuyển lí luận trừu tượng về sự “tàn dư của chế độ”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 198-200]

Không chỉ dân Miền Nam, dân Miền Bắc có dịp tiếp xúc với Tù Cải tạo cũng dần thay đổi cách đối xử với “bọn ngụy”:

… Giáo dục tinh ranh trong độc quyền phải mang lại hiệu quả. Chỉ đến khi có sự kiện lạ ngoài đường lối chung, sự thực khác đến mới làm lung lay hệ thống. Không có ý thức tích cực nhưng đám nguỵ thu nanh, cùn vuốt — dù là nanh vuốt cá nhân — cũng trở thành yếu tố tiêu cực làm rạn nứt hệ thống. Ừ, đám người mà sách báo, đài của Đảng, bài nói của cán bộ đều chỉ rõ ràng đó là những tên ác quỷ ăn gan uống máu người không tanh, hiếp dâm từ trẻ lên ba, cắt vú đàn bà, quăng ông già vào lửa rồi rú lên cười man rợ, đám ngưởi ấy sao cũng áo rách tả tơi, sao lù đù mà sao cũng có kẻ xốc vác, vui đùa, sao cũng biết thưa gởi, sao cũng biết nói tiếng cám ơn, tiếng nói mà dưới chế độ mới người ta đã quên? Hoàn cảnh cũng giúp họ một ít. Dân Miền Nam tiếp xúc với thần tượng mới, gặp những sự kiện bết bát không có một hệ thống truyền thông vĩ đại nào đủ sức cải chính, bèn quên ngay rằng bọn binh lính, viên chức cũ đã làm phiền họ nhiều, từng hoạnh hoẹ, nhậu nhẹt phá phách họ, cũng từng vác khẩu súng ra giải quyết chuyện kình cãi lặt vặt trong xóm làng, từng mặc bộ rằn ri bắt con gà đá ưa thích… Cái biến đổi của dân Miền Nam xảy ra mau hơn vì còn mối liên hệ ruột thịt với những tên bị làm dê tế thần cho chế độ sụp đổ. Nhưng tình cảm vốn là chung của con người. Cho nên bọn tù nguỵ cũng lần lần biến cải thành kiến của nhóm dân Miền Bắc tiếp cận với họ, chưa vướng víu sâu đậm vào “lí thuyết” của Đảng ta. Những người đi làm gần các vùng Mường, Thái… vẫn thường được cho ăn, tuy chỉ là khoai củ – họ còn có gì hơn để cho? … [Tạ Chí Đại Trường, K3, sđd, trang 416-417]

Người lính thất trận VNCH bị đẩy vào lịch sử với tội “ăn thịt người” và nhiều thứ tội tưởng tượng khác bởi những người Miền Bắc không biết chút gì về sinh hoạt hay cả tiếng nói của họ.

1.3.12 “Bớ lính”…

Tính chất lính VNCH của Tạ Chí Đại Trường lại được ông cho thấy trong bốn chữ “Hàng ngũ chúng tôi”:

… Trong lúc ấy thì chúng tôi cũng có vài tờ báo Tết bên ngoài gởi vào theo các gói quà, theo một vài cách mua đặc biệt mà những kẻ có tiền lanh tay lẹ mắt nào cũng kiếm được. Báo tất cả đều xuất xứ từ Sài Gòn. Dù là của chế độ mới, báo chí Sài Gòn vẫn có một cái gì quen thuộc. Hẳn không phải chỉ vì là của những người cũ chuyển hướng – dù là dưới quyền lãnh đạo của Đảng. Báo chí, sách vở Giải phóng ở một mức độ nào đó có những người tiếp xúc với thực tế ở Miền Nam không thể viết một cách trắng trợn như của Miền Bắc. Cái lối viết “không có ai cãi lại”, bất kể đến lí luận sơ đẳng nhất, do một lẽ giản dị là người viết không cần biết đến những thực tế tầm thường nhất. Đường lối Đảng hướng dẫn ngòi bút họ chứ không phải là sự thực. Trong các trang feuilleton ở báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, chúng tôi đọc vừa tức cười vừa bực mình với các đoạn tác giả cho lính, dân Miền Nam thưa với sĩ quan – có khi chỉ với thượng sĩ, là “Bẩm quan, bẩm ngài”, xưng là “con” ngon ơ!… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 130-131]

… Hàng ngũ chúng tôi, lính cũng kêu “trung uý, đại uý” chẳng bẩm lạy gì cả, và chúng tôi không như một vai kịch của đoàn Kịch nói Trung ương gọi “Bớ lính” như trong tuồng hát bội, chúng tôi đã thành thị hoá đến mức trở thành thô lỗ, du côn, chỉ sai lính trống không “Ê, mày đi lại đàng kia…” … [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 140]

Ông nói quả không ngoa: cứ đọc một đoạn đối đáp trong Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh) là thấy hiện ra mấy “hiện tượng” quái gở thượng dẫn. Ông tác giả này là… “Bắc kì giải phóng” chứ không phải “Bắc kì ‘tàu há mồm’ di cư 1954-1955” (mượn chữ Tạ Chí Đại Trường), nên đã có những câu nói gán cho một anh lính thám báo (lại thám báo!) Miền Nam gốc di cư lẽ ra phải dành cho chính ông (!) Đây là vài câu đối đáp của anh lính VNCH gốc Bắc di cư bị Kiên (và nhóm lính Miền Bắc) bắt được, theo Bảo Ninh:

-… Đột nhiên tên giọng Bắc rống to và vùng dứt khỏi đồng bọn, nhào xô tới quỳ xụp, ghé mặt xuống chân Kiên ư ử rên lên, và ằng ặc nấc lên, hắn quằn quại không thốt ra lời.

– Mày tình nguyện đi tiên phong à? – Kiên chọc móc súng vào trán hắn.

– Ối giời ơi? Con van ông, con van các ông. . . cho con sống! Cắn rơm cắn cỏ con lạy. Lạy các ông. . . ông ơi . . .

Tiếng tru tréo như xóc vào óc Kiên. Anh thúc một báng súng tống ngược tên ngụy ngã ngửa ra. Cú đánh như làm hắn bừng tỉnh, ngừng bặt kêu la. Hắn nhổm dậy, vẫn quỳ, lờ đờ nhìn Kiên, tay hướng tới anh. Từ vết thương ở trán một dòng máu nhóng nhánh chạy dọc xuống sống mũi.

– Em xin tình nguyện lấp huyệt. Các anh khỏi nhọc sức. Và em xin được tình nguyện được khai nhiều tin với cấp chỉ huy của các anh. Chính sách của Đảng ta, đánh kẻ chạy đi, tha người chạy lại. Các anh không có quyền giết em… Không có quyền! Ối giời ơi, em lạy các anh rồi mà!..” [Bảo Ninh, Thân phận của tình yêu, trang 42-43, Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn tái bản, 2005-In 1.000 cuốn]

“Cắn rơm cắn cỏ con lạy”?!!! “Chính sách của Đảng ta, đánh kẻ chạy đi, tha người chạy lại…”?! Ối giời ơi/Trời ơi là trời! Bảo Ninh nhầm rồi: Cái “Đảng ta” này là của quý ông, xin tha cho chúng tôi thứ “ngư tiều vấn đáp” ấy, nhất là trong một tiểu thuyết có 2 chữ “tình yêu” ngay trong tên.

Sau cùng, Tạ Chí Đại Trường cũng được phóng thích khỏi trại giam do “Đảng ta” lập ra đặng bắt giam tất cả những kẻ chưa kịp…chạy đi và luôn nhiều kẻ dại dột chạy lại mà không khôn hồn chạy luôn. Ông theo “Đường trở về trần” vào “buổi trưa ngày 10-6-1981”. Cuốn sử ký có ghi lại tất cả những điều trên được bắt đầu vào tháng 9. 1981 và kết thúc vào ngày 5, tháng 6. 1982. Hơn mười năm sau, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài được Thanh Văn xuất bản tại Hoa Kỳ lần thứ nhất vào năm 1993. Việt Nam Cộng Hòa nối dài trở thành một thuật ngữ để chỉ sự tái xuất hiện tại hải ngoại của một số sản phẩm tinh thần thuộc Miền Nam trước đây. Trên phần đất Hoa Kỳ tự do, ông nghiên cứu, viết sách trở lại, tái gia nhập cộng đồng văn nghệ gồm giới di tản- vượt biển-vượt biên-H.O. – đoàn tụ tại Nam California. Không những thế, với thời gian, nhiều tác phẩm mới và cũ của ông vượt biên vượt biển trở ngược ra mắt bạn đọc trong nước, lần này được chính thức công nhận ngay từ giới sử gia trong nước. Có điều chắc chắn: ông không bao giờ ngừng bàn luận trong loạt sử mới về hậu quả điêu đứng mà chính phủ mới đã áp đặt lên dân Miền Nam, không bao giờ ngừng cảnh báo về nỗi điêu đứng ấy sẽ có thể xẩy ra trong tương lai.

Hình ảnh cuối tôi giữ về ông là một người cô lẻ, nhậy cảm nhưng giữ kín tâm sự (không hiểu vì sao lại có cảm tưởng đó). Một buổi chiều cuối năm, nhà văn Bùi Bích Hà và tôi đi sắm Tết tại một khu chợ tại Little Sài gòn. Đúng là chị ấy lôi đi vì tôi không thể đậu xe trong những ngày đông đảo có hội hè đình đám. Hai chị em mua bán đã xong, vừa định băng qua một con hẻm nhỏ thì chị Bùi Bích Hà kêu lên: “Ai như anh Tạ Chí Đại Trường?” Rồi gọi. Ông quay lại, tiến về phía chúng tôi, tay mang túi vải. Lập tức, chị Bùi Bích Hà xếp nào chả lụa, nào kẹo mè xửng, nào lạp- xưởng, nào trái cây vào túi chia cho ông. Còn tôi thì trông chẳng giống con giáp nào. Số là tôi đến thẳng chị Hà từ sở làm nên vẫn mang giầy cao gót. Mới qua vài cửa hàng thì gót giầy sụp xuống một kẽ hở giữa mấy viên gạch. Tôi phải mua vội một đôi dép– khổ lớn cho vừa nhưng, vì thế, quai lại quá rộng khiến giống Minnie Mouse– lê đi khắp nơi với đôi giầy trọng thương buộc vào lủng lẳng một bên tay, tay kia vòng ôm mấy bó hoa khổng lồ. Ông tiến lại gần hơn, đưa cho một túi giấy nhỏ (sau này mới biết là bánh đậu xanh) rồi cứ đứng đấy, không lùi lại. “Vâng, ông cho tôi xin”. Chợt nhớ ông đã cảm khái về hoa trong tù, tôi rút vài cành hoa cúc, hoa huệ, cành đào và cành mai đưa biếu: “Ông cầm lấy cho chị em tôi vui. Cung kính không bằng tuân lệnh.” Ông đỡ lấy hoa, tay kia nhận túi thức ăn từ chị Hà, ngần ngừ một lúc nhưng không nói gì hơn ngoài gật đầu, cảm ơn rồi quay đi. Chắc chắn ông biết tôi có ý khi tặng hoa (không ai lại tặng hoa cho một người đàn ông bao giờ) mà lại có cả hoa huệ lẫn cúc đại đóa.

Vừa lên xe, chưa an vị, chị Bùi Bích Hà đã lườm xiêu đình đổ quán:

-Đồ Điêu Thuyền! Vào trong mã tấu, ra ngoài tặng hoa!

Không thấy trả lời, chị hỏi lại: “Em đang nghĩ gì thế?” Tôi nói đang liên tưởng về thế hệ đàn ông trong đó có nhiều người bạn. Vào năm 1975, họ chỉ khoảng dưới 40. Như Tạ Chí Đại Trường. Như Tô Thùy Yên. Thế rồi họ bị bắt vào tù, mất một thời thanh xuân không bao giờ quay lại. Tôi đọc ông không đủ, ngoài cuốn sử ký tù ngục, nhưng ấn tượng sau cùng vẫn là loạt tiểu luận về chính sách không lịch sự của chế độ mới với dân Miền Nam, trong đó có phụ nữ, mà ông cập nhật với đầy đủ tin tức, như bài này:

– Người hải ngoại– ít ra là ở Mĩ –thì biết ai nói câu này. Người trong nước chắc là không, vì nếu có chú ý đến thời sự, đọc tin tức chỉ thấy các phái đoàn ta đi công cán ở nước ngoài đều gây được thành tích rực rỡ, đến đâu cũng được kiều bào – những người tốt – đón tiếp niềm nở, thân thương. Chỉ có người chứng kiến tại chỗ, không ghi lại trong báo cáo, mới nhận ra có bọn người xấu phất cờ la ó, xua đuổi, để ngạc nhiên thấy mình không được quỳ luỵ như ở trong nước, nên nhẹ nhàng vì không thể giận dữ quát mắng – trách: “Sao các anh thù dai thế?” Đó là lời của ông Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin nói ở Washington D.C. năm 2003. Lời nói chỉ nhắc đến “anh” mà không có “chị”, lộ ra một ý thức quyền đàn ông truyền thống bao trùm, nhưng thôi, chớ nên bắt bẻ thái quá.

Nhưng có thù có hận thì cũng phải sống trong thực tế, có lúc cũng quên đi, hay tưởng người ta quên đi. Và người người đi về Việt Nam (đi hay về?) Trong đó có tôi. Nhân cơn bệnh hoạn, hết xí quách, không làm việc nổi nữa, ráng đủ sức cầm tấm vé máy bay on sale, tiền nào của nấy, ê ẩm mình mẩy với với chuyến du hành vòng lên Alaska, trở xuống Kamichatka (hèn chỉ có lúc bị Liên Xô anh hùng vô địch bắn tan xác!) ghé Inchon (Nhân Xuyên) với mấy chú Củ sâm đánh lộn trong phi cơ trên bãi đậu, trễ đến 6 tiếng đồng hồ mới tới Tân Sơn Nhứt. Phi trường khuya về sáng, lưa thưa người, như một sân bay tỉnh lė. Những ngày lang thang trên đất quen mà lạ. Bởi vì đã là khách, lạ mà quen. Tờ mờ sáng, bận quần xà lỏn, bắc cái ghế ngồi nhâm nhi cà phê, đọc hết mấy tờ báo hàng ngày thì đường đã đông. Ngay trước mặt, chỉ cách vài thước, chắc là tám thước như của ông Tố Hữu, là cổng Bộ Công An, có lúc tự hỏi không biết vào lúc nào thì mình phải bước qua. Không. Tuy chẳng phải ăn cắp ăn trộm bẻ bí bắt gà nhưng thói quen áy náy vẫn cứ buộc mình thanh thản ở thế trông chờ. Không. Làm người dân của thời đại văn minh, không phạm luật – cả đến luật của nước người, khỏi vào Công an không phải là chịu một ơn huệ, tuy nhiên vì phép lịch sự vẫn thấy nên nói lời cảm ơn.

Nhưng vẫn phải hỏi “Sao các anh thù dai thế?”

Một buổi sáng mở tờ Thanh niên, thấy có chuyện về cái DVD hải ngoại “Tuyển lựa…” gì đấy mang hình các cô ca sĩ, mô-đờ trong nước bị công kích dữ dội nhiều kì báo, với thời mới có cả thư độc giả bốn phương imeo, imiếc nữa. À thì ra bọn xấu hải ngoại lúc nào cũng tìm cách bôi đen chế độ ta! Bọn xấu đó không nằm trong các thùng hàng gởi về tiếp sức lúc chế độ điêu đứng không phải vì bọn đế quốc thả bom. Chúng không in hình trên gần ba tỉ đôla trong năm vừa qua, như của trên trời rơi xuống mà thực ra có ý nghĩa như tiền chuộc tội cho hàng chục triệu con tin ngụy không kịp thoát chạy, bị nhà nước mới cầm giữ. Chúng không cố bám trong các tỉa dầu vọt lên từ biển Đông, tỉa dầu không có ở miền Bắc, nơi chỉ có nước lũ sông Hồng đi theo nền thống nhất tràn ngập miền Nam vì người ta phá rừng bừa bãi, lúc đầu là theo chủ trương khai hoang vỡ hóa của ý thức nông dân thời vua Hùng dựng nước, tiếp theo và dài dài đến nay là chủ trương di dân chiếm đất củng cố chế độ, theo sức mạnh công phá của những người “ăn theo” chiến thắng, những người quen sống bất hợp pháp trong một chế độ kềm thúc gắt gao (chui lọt thỏm giữa rừng sâu phá ra!), phải sống như thế mới tồn tại được. “Vào miền Nam, đẻ sướng!”, không quen với capote/condom để khỏi lo sợ có con, không sợ bị người khác dòm ngó phê bình, chuyện trên giường còn như thế kia mà! Mà hãy nhìn lại hình các cô được trưng dẫn. Tuy có nghèo, có thiếu vải, vì nhởn nhơ trên bãi tắm, nhưng không phải là không vải như chắc chắn là ở hình của hai cô cậu 21, 22 tuổi đóng phim X 16 phút cho người trong nước thưởng thức. Chắc chắn không nhiều vải hơn cô giáo đi thi thạc sĩ hở rún, hi vọng giám khảo nhìn nơi khác mà không chú ý đến bàn tay quay phim của cô. Thế thì căn cớ gì cứ chỉ vào mặt bọn hải ngoại? (…) Ngày trước, văn công của các ngài đặt ra câu vè muốn mang tính chất khêu gợi tình yêu nước, yêu dân tộc mà rẽ ra tinh thần kì thị chủng tộc và ngầm ý miệt thị người phụ nữ Việt: “Rớt Tú tài anh đi trung sĩ. Em ở nhà lấy Mĩ nuôi con. Đến khi yên nước yên non, Anh về anh có Mĩ con anh bổng.” (…) Như chuyện người Đài Loan đi “con mắt” con gái Việt. Mà ngày trước Mĩ có lột truồng đàn bà con gái Việt thì chỉ trong bóng tối, tiền trao cháo múc chứ có đâu săm soi giữa thanh thiên bạch nhật dưới con mắt của bàng dân thiên hạ, để cân nhắc trinh tiết, cò kè bớt một thêm hai như mấy ông già Đài Loan bây giờ? Hay đó không phải là phụ nữ Việt? Chỉ là Việt của nguy? (…) Chưa nghe ai giải thích XHCN là Xấu Hơn Cả Nguy ư? Sao phải cần là ngụy mới xấu? Vậy thì “thù dai” chỉ là cái cớ che đỡ, một mặc cảm của sự chiến thắng không toàn vẹn, càng lúc qua sàng lọc của thời gian càng bộc lộ những che giấu xưa, vì sơ hở hay vì đầy tự tín nghênh ngang, để xem “ai làm gì ai nào!” Kỉ niệm Điện Biên Phủ oai hùng “chấn động toàn cầu” ghi dấu cho tương lai bằng việc tách ra lập tỉnh Điện Biên, với khí thế hào hùng ngút trời, văn chương tuyệt đỉnh, chỉ có ông già gần chết Trần Văn Giàu là nhắc tới ngoại viện (hay một chữ gì tương tự, quên mất) chung chung, chứ sử gia tò mò quen thói phản động mới thấy thung lũng Điện Biên trở thành hẩm sụp chiến tranh chỉ vì Việt Minh có súng lớn từ Trung Quốc đưa sang, và nay lại biết thêm rằng có cả cố vấn điều khiển bắn nữa — nghĩa là suy thêm, còn là chuyện cố vấn “hò kéo pháo” tuy thân chèn pháo là của người khác! Và sau này có “chuyên gia nước bạn” vào tận chiến trường Miền Nam tính toán, điều hành tiếp liệu… Đến lúc nào thì ta biết thêm được điều gì khác nữa? (…)

Không thể hối hận vì đã ra đi khi nhìn những người ở lại. Đành rằng sự kế tục thế hệ có thể làm cho một lớp người phải lùi vào bóng tối nhưng ở đây không chỉ là sự hủy hoại của thời gian. Người trở về còn thấy quá khứ của mình nơi người ở lại, đã rủi ro ở lại với một sự nhẫn nhục cam chịu trong cuộc sống lầm lũi, trong những nỗi bực dọc không lời. Và có cả nỗi ân hận xót xa vì sự hiện diện của mình đã gợi lại sự thất thế tủi nhục mà người ở lại dằn nén từ lâu, đã tưởng quên đi trong tê diếng của cuộc đời lỡ bước với những thăng trầm không tùy thuộc bản thân. Ân hận với cả những lớp người mới mà hiện thực không đủ sức ghìm giữ ước mơ. Có thể coi đây là chuyện cá nhân, nhưng đời sống không phải chỉ là lí tưởng cao vời tự đặt để để rồi ép buộc người theo. Giữa cảnh rộn ràng tiễn đưa, tôi chỉ loáng thoáng nghe cô cháu gái ngày thường nhí nhảnh, nói giọng trầm trầm: “Con muốn ông mang cái vali thật lớn bỏ con vô, qua Mĩ…” Sau này mới nhớ là đã hai lần lặp lại. Và giật mình. Trong những ngày rộn ràng gặp gỡ, huyên thuyên kể chuyện xứ người, không ngờ đã làm khuấy động một cuộc sống đang bình yên. Chắc thời điểm chia tay đã làm cảm xúc thành lời. Nhưng ước mơ vừa thốt ra là đã thấy ngay tuyệt vọng. Sao tôi lại phải là người gây nên nông nỗi ấy? Với tuổi trẻ, và với thực tế, cô cháu rồi sẽ trở về với cuộc sống thường nhật nhưng tôi có nên lại gây nên xáo trộn lần nữa không? Đi/Về đâu có phải là giản dị như những đầu óc khô cứng tưởng nhìn ra cái cớ cho sự kiêu căng không dời đổi về sự chiến thắng của mình, để trút trên đầu lũ người thất thế rồi cứ nghênh ngang dửng dưng lên tiếng giả vờ ngạc nhiên “Sao các anh thù dai thế?”

Những người quen với cuộc sống hoà hoãn, văn minh có thể không bằng lòng với cảnh tuột quần, chổng mông, chửi tục… nhưng nếu đừng quên chuyện cũ được nhắc nhở bằng sự chịu đựng những tấn công trước mắt, liên tục của quyền lực ở bên kia, từ thực tế đổi thay dẫn đến gần như là tuyệt vọng, những người đó có thấy cả một thương cảm, với cả chính mình không? Lưu dân nào thì cũng không thể là một khối đồng nhất huống chi là lưu dân tan tác vì chính trị của thời hiện dại. Hãy nhìn xem từ phong trào Thiên An Môn mà Nguy Kinh Sinh và Vương Đan chống đối nhau. Dân Trung Hoa còn có hai thực thể địa vực Lục dịa và Đảo quốc để ai có phe người nấy, chứ còn lưu dân Việt thì chỉ có đất người mà cứ tự an ủi là xứ tạm dung, với cuộc sống mất dần về phía đất khách và sự tấn công từ quê hương cũ. Họ phản đối người gởi tiền về, họ chống đối người trở lại, rốt cục chính họ cũng phải gởi cho người thân và lò mò im lặng về (…) Các chính sách “kiều vận” và vừa qua, Nghị quyết của Bộ Chính trị về sự nâng đỡ người Việt Nam ở nước ngoài với những hiểu biết kém cỏi về tương quan quốc tế, với những rơi rớt của tinh thần tiến công liên tục, trông chúng như một mặt trận đuổi tận giết tuyệt trong hồi chót đến những người đã trốn chạy xa, thật xa nhưng vẫn không có cách nào rời bỏ trái đất, đồng loại. Có cần hỏi vì “sao các anh thù dai thế” không? Ý thức lấn lướt, không nhường bước không chỉ dừng lại ở người sống. Nó cần đến cả các xác chết, cần giết người đã chết nếu đó là dịp để vinh danh chính nghĩa cao vời của phe mình.

Kỉ niệm Điện Biên Phủ, người ta lôi ra người đội trưởng công binh thời ấy, là con của Thủ Tướng / Tổng thống Trần Văn Hương của “chế độ cũ”. Lại có dịp cho người ta nói đến “sự ăn năn muộn màng của người cha” và “sự ưu việt của chế độ ‘dánh kẻ chạy di chứ không đánh người chạy lại””. Tuy nhiên người ta vẫn ghi lại những lời “sám hối” (chữ của báo Công an TP. HCM) của ông, nghe như phát xuất từ các trại cải tạo khoan dung của “Cách mạng” lập ra cho “những người chạy lại”. Không thấy nhắc tới chuyện ông già nghe nói bị ung thư, đã từ chối không nhận quyền công dân của chính quyền mới, cho đến khi người lính cuối cùng của ông trong trại giam trở về nhà. Chỉ nghe nói chính quyền cho phép người con “về ở cùng cha mình để chăm sóc cha lúc tuổi già cho đúng đạo lí làm con của người Việt Nam” mà không thấy nói đến nỗi điêu đứng của người con trên đất Bắc nếu, hình như, Bộ trưởng Ung Văn Khiêm không che giấu giùm ông. Không chỉ ra chuyện con gái Thủ tướng Huỳnh Tấn Phát vẫn học trường Gia Long, ngôi trường nội hoá sang nhất thủ đô Miền Nam. Không nói đến con trai ông ta vẫn đậu tú tài để đi vào Thủ Đức như mọi công dân khác, để so sánh với tình cảnh điêu đứng ở Miền Bắc của vợ con ông Ba Quốc / Đặng Trần Đức, người điệp viên tài ba tuyệt vời làm việc ở Phủ Đặc uỷ tình báo, không cần chút công lao đánh phá Cách mạng mà vẫn được tín nhiệm, xúi người này người nọ đảo chính, nắm được các tài liệu bí mật nhất để sao chép chậm chạp theo lối bán thủ công mà kẻ địch không hay biết! Về mặt nghiệp vụ thì sự đàn áp kia là để che giấu công tác của người bình thường khác. Một nửa sự thật không phải là sự thật nhưng người ta có thể sử dụng nửa sự thật chế tạo để sơn phết mình trước người đương đại, từ “chân lí” đó vinh danh mình trong lịch sử, để vùi dập kẻ thù thất thế đến tận đất đen. Nói làm gì đến kẻ thù, có thể mà không chịu buông tha. Có khi không phải chỉ vì hận thù – thắng thì cũng hả rồi, chỉ còn chút áy náy là không đày đọa tiếp được “chúng nó” nữa, là không bằng “chúng nó”. Không buông tha vì thói quen phải có đối tượng để bày tỏ quyền uy. Ở đây không có chuyện phe phía như một chức quyền đã trả lời anh bạn “Việt kiều” trẻ “Sao thắng đã lâu, quyển bính đã vững mà vẫn cứ ngụy này ngụy nọ mãi”: “Thì họ vẫn gọi chúng tôi là Việt cộng đó sao?” Ông quan mới này vẫn không thấy mình cầm quyền ở một nước mà cứ khăng khăng là chỉ của một phe, phe cộng sản, phe thắng. Người phỏng vấn ông Tô Hoài thì hẳn không coi ông ta là ngụy, mà đích danh là của “phe ta”. Hỏi như thế nào? Đại khái, sao trước 1945 được nổi danh là những người ngang tàng mà sao sau đó lại co đầu rút cổ. Ơ kìa, ai làm cho ông ta trở nên hèn nhát? Chẳng phải là bởi chính chế độ của người phỏng vấn đang phục vụ đấy sao? Không thấy ra cái nhục của mình khi đặt câu hỏi mà cũng không chỉ thấy cái nhục của người bị hỏi. Trong tận cùng chỉ là nỗi hả hê của kẻ cầm quyền được bày tỏ quyền uy, được có dịp làm nhục kẻ dưới quyền mình. Thế thì kẻ ngụy cũng không nên thù dai nữa, để ông Nguyễn Đình Bin được bằng lòng sống với đám dân đang thù mà không được phép, không có dịp nói ra cho ông rõ. Có ai như anh thanh niên ở Bình Định dằn đạp lên “lá cờ Tổ quốc” thì bắt bỏ tù nó là xong!

Này cháu gái bé, nếu để dành được tiền vé máy bay, ông lại sẽ về, không phải để cháu thoả mãn ước mơ mà là để cho cháu quen thuộc với khổ tâm rồi đủ sức đương đầu với cuộc sống chắc chắn sẽ còn nhiều gian truân lâu dài của cháu.- 4-4-2004 [Tạ Chí Đại Trường. “Sao các anh thù dai thế?” Không chỉ là chuyện thời sự hay cá nhân”, Văn Học, số 217, trang 66-75, tháng 5.2004, Hoa Kỳ – https://issuu.com/nvthuvien/docs/tapchivanhoc_217?mode=window&viewMode=doublePage]

Tạ Chí Đại Trường sang đây với nỗi buồn xa xứ. May mắn thay, trong cái điêu tàn có cái phục sinh. Ông được tự do đọc, tự do viết bù lại bao năm mất tự do. Ông gặp gỡ và kết thân với bạn cũ bạn mới. Trong số đó, Phùng Nguyễn, nhà văn kiêm thương phế binh VNCH, sẽ là người bạn trẻ chung lý tưởng đến cuối đời. Phùng Nguyễn đả phá huyền thoại “Lính thám báo/lính ngụy ăn thịt người”, thứ huyền thoại đã xâm nhập vào tiểu thuyết của nhà văn Miền Bắc, song song với tin tức được cấp phát cho người dân Miền Bắc.