Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng sản: Tạ Chí Đại Trường

damau.org

Nguyễn Tà Cúc

 21.11.2025
Post by Sơn râu 7 Jun 2026

Kỳ 1

Những nhà văn và nhà báo này phấn đấu hầu như vô vọng. Sự kháng cự của họ bị bỏ quên ngoài quê hương,
số phận của họ được ngụy trang bởi chính phủ đương thời nhằm đánh lừa dư luận thế giới. Những gì đang diễn ra ở Việt Nam là một chương mới đáng xấu hổ trong lịch sử nhân loại, là một thách thức đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới và đối với hàng ngũ trí thức tại mọi quốc gia …

Ngày 2 tháng 10, 1980-Paris
Nhà báo/Trung Tá Không quân Trần Tam Tiệp
Trưởng Ủy ban Nhà văn-bị Cầm Tù 1979-1995

&

Người ra đi người đến phương nào
như mây bay lang bạt trời sầu
từ núi từ sông từ biển lớn
nhìn người đi hay nhìn mai sau…

1991 –Sài gòn
Nhà thơ/cựu quân nhân Khoa Hữu, Tiễn bạn diện HO đi Mỹ.

Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

Tìm đâu cho thấy cố nhân
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương…

[Nguyễn Du, Truyện Kiều]

50 năm 1975-2025.

Vận mệnh nào dành cho người lính, cho một quân đội đã chiến đấu để bảo vệ quốc gia Việt Nam Cộng Hòa? Họ đã bỏ mạng tại chiến trường? Bị giam giữ? Bị đẩy sang rìa xã hội? Lìa tan người tình, người vợ? Tàn phế? Chấp nhận lưu xứ vì không thể trú thân trên quê hương? Không nhận được chân dung chính mình tái hiện trên các trang giấy nhân danh nghệ thuật và sự thật của từ kẻ cựu thù trên trận mạc đến vài người từng cùng chiến tuyến vì đầy những điều man trá? Những viên đạn bắn đi có thể kết liễu đời họ trong tích tắc, nhưng những viên đạn mệnh danh những điều man trá ấy sẽ lưu lại mãi mãi trên hệ thống thông tin, trước đây giới hạn vào một quốc gia, nay đã toàn cầu.

Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa cũng từng có một nền văn học với nhiều nhà văn thuộc Văn học Miền Nam phục vụ trong quân đội. Sau 1975, họ bị bắt giam cũng vì không chỉ là người cầm bút mà còn là người lính. Tác phẩm bị cấm phổ biến. Giới quân nhân, kể cả vô số văn nghệ sĩ, bị giam giữ. Huyền thoại thời lập quốc của 50 con lên rừng và 50 con xuôi biển tái diễn. Ngàn ngàn người bị giam trong các trại Tù Cải Tạo dựng tại Miền Nam và vùng rừng núi tại Miền Bắc. Ngàn ngàn người vượt biển vượt biên. Một số–cả dân cả lính– bỏ nước sang Hoa Kỳ (Mỹ quốc) hay các quốc gia khác theo vài chương trình nhập cư khác nhau mà chương trình nổi tiếng nhất vẫn được biết đến thông thường là “Diện H.O.”. Diện này, bao gồm người tù chính trị và người lính (chiếm đa số) cùng gia đình, là một chương trình nhân đạo do chính phủ Hoa Kỳ thành lập, thực hiện vào đầu thập niên 90. Từ đây, họ hòa vào cộng đồng tỵ nạn và di dân người Việt. Dấu vết về lý lịch của chương trình H.O. vẫn để lại, không chỉ trong sự đóng góp chung mà còn trong văn chương. Nhà thơ Khoa Hữu, cựu quân nhân VNCH, từ giã các bạn bằng bài thơ 

Tiễn bạn diện HO đi Mỹ

Người ra đi người đến phương nào
như mây bay lang bạt trời sầu
từ núi từ sông từ biển lớn
nhìn người đi hay nhìn mai sau
 
Cả không gian coi hẹp dưới chân
 nhưng thời gian là sợi máu hồng
buộc tương lai vào ngày bất tử
buộc con người vào đất quê hương.

Người ra đi sao người ra đi
bốn nghìn năm lịch sử nằm nghe
tám mươi năm bước chân xiềng xích
những đau thương theo gió gọi về.

Ta tiễn người hay tiễn đời ta
những ngày những tháng cắt thịt da
ôi trái tim của thời nô lệ
như vết thương đau mãi không già.

Người ra đi và người ra đi
ba mươi năm huyết nhục còn nghe
dù nước Cửu long mài gươm bén
dù đá Trường sơn dựng lời thề.

Viên đạn nào trong trí nhớ tôi
hay dấu bom xâm trên hình hài
là vết thương của nghìn sự thật
là lương tâm Việt Nam, một mai…

[Khoa Hữu, “Tiễn bạn diện HO đi Mỹ”, tạp chí Văn Học số 68, trang 7, tháng 10. 1991, California, Hoa Kỳ]

Khoa Hữu (Ngô Đình Khoa, tháng 8. 1938-tháng 4.2012), Sài gòn, gửi sáng tác ra ngoại quốc. Tôi nhận được tờ Văn Học có bài thơ này trong một bao thư gửi qua địa chỉ Khởi Hành vào năm 2005. Nhiều tiếp xúc tương tự xác nhận ba vị thế của người lính VNCH: cầm súng, cầm bút và hoạt động sau khi không còn cầm súng. Giới cầm bút hai miền đã phán xét ra sao về giới nhà văn Miền Nam cùng tác phẩm của họ trước và sau ngày bị phần thư? Và về quân lực ấy sau ngày bị ra lệnh buông súng?

Lần này, tôi sẽ chọn các phát biểu về người lính VNCH và người dân Miền Nam của 3 cựu quân nhân cầm bút Miền Nam làm tiêu đề theo 3 tiêu chuẩn: hoặc là nhân chứng qua hồi ký hay nghiên cứu, hoặc về một vấn đề chưa được chú ý đúng mức; hoặc phát biểu về đồng đội của họ mà đủ quan trọng để đáng được khai triển. Trước hết, trong phần thứ nhất, tôi sẽ đề cập đến sử gia/Đại úy biệt phái Tạ Chí Đại Trường. Kế đó, là nhà văn/nhà tiểu luận/thương phế binh Phùng Nguyễn rồi nhà văn/họa sĩ/sĩ quan biệt phái Trương Vũ. Cả hai đều bắt đầu hoạt động văn nghệ tại Hoa Kỳ và không bị giam say 1975. Không kém phần quan trọng, tôi cũng sẽ trích dẫn phát biểu của nhân chứng trong đó có vài nhà văn thành danh Miền Nam, kiêm tù binh Cộng sản, liên quan đến các vấn đề thượng dẫn. Phần I này rất cần thiết để dẫn vào Phần II, phần hoạt động của Trung tá Không Quân/nhà báo Trần Tam Tiệp, Trưởng Ủy ban Nhà văn-bị Cầm tù (1979-1995) và Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Cuộc nghiên cứu này chỉ có một mục đích: Góp phần vào việc tái tạo chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa qua nhân chứng và tài liệu thu thập khoảng hơn 30 năm nay từ đồng đội tới đối thủ của họ. Thế nên, tôi thỉnh cầu những người được nhắc đến, độc giả và các bậc thức giả xa gần chỉ giáo cho những sai lầm và thiếu sót hầu chân dung ấy được đậm nét hơn. Bài này cũng là bài đầu trong hành trình ngoái nhìn 50 năm lìa xứ.

I-Người lính Việt Nam Cộng Hòa Khi thất thế tên rơi đạn lạc/Bãi sa trường thịt nát máu rơi/Bơ vơ góc bể chân trời/Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao? [Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh]

1-Sử gia/Sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa/Tù binh Trại Tù Cải Tạo Tạ Chí Đại Trường

1.1 Từ Sinh viên Tiến sĩ Môn Sử học, Đại học Văn khoa-Sài gòn tới người tù đào giếng trong các trại giam Cộng sản

Ø Trung úy Thủy Quân Lục Chiến/Đại úy biệt phái ngoại ngành/Giáo sư Trung học

Tôi không ngạc nhiên khi tiểu sử một số người cầm bút thuộc Miền Nam không thấy ghi rõ ràng thời gian phục vụ cũng như cấp bực trong Quân lực VNCH một cách chi tiết. Thí dụ như Khoa Hữu hoặc Tạ Chí Đại Trường. Tôi không cách nào tìm được tin tức tại ngũ với binh chủng phục vụ của nhà thơ Khoa Hữu, trong khi nhiều bài thơ của ông nhắc đến những địa danh từng nổi tiếng là nơi ác chiến một thời. Thật hết sức đáng tiếc. Tôi may mắn hơn với Tạ Chí Đại Trường. Bức ảnh ông nhìn nghiêng, mặc quân phục Bộ binh—có bảng tên, gắn 3 bông mai đen tượng trưng cho cấp bực Đại úy, ló một chút áo trắng bên trong quân phục như vẫn thấy nơi các quân nhân khác1— vẫn luôn luôn là một phần đời lưu lại của ông.

Ta Chi Dai Truong, soldat et historien © Thong Luan
Tạ Chí Đại Trường, quân nhân và sử gia
https://indomemoires.hypotheses.org/14212

Ông tốt nghiệp Khóa 18, Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức vào năm 1964 khi trình luận án Cao Học tại Đại học Văn Khoa, Viện Đại học Sài gòn. Thoạt đầu, ông phục vụ tại binh chủng Thủy quân Lục chiến, giữ chức Trưởng phòng Tiếp liệu của Quân y viện Đoàn Mạnh Hoạch tại Phan Thiết, rồi chuyển về Khối Quân Sử, Bộ Tổng Tham Mưu, Sài gòn. Nhiệm sở cuối là giáo sư biệt phái ngoại ngạch tại Trường Trung học Tân An, Long An, nơi ông tiếp tục chứng kiến những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa. Nhà thơ Lữ Quỳnh cho biết giai đoạn đầu khi Tạ Chí Đại Trường mới nhập ngũ:

– Năm 1964, lần đầu tiên tôi gặp anh Tạ Chí Đại Trường, sau khi chúng tôi rời trường Bộ binh Thủ Đức để về trường Quân Y học giai đoạn 2, ngành Hành chánh Quân y. Cùng thời gian này anh học cao học, chuẩn bị lấy bằng Thạc sĩ và đang sưu tập, nghiên cứu về tiền cổ. Anh từng cho tôi xem những đồng xu mà anh sưu tập được. Trường là người kín đáo, có lẽ do bản tính của anh. Ngày chọn đơn vị phục vụ, anh và tôi có tên sát nhau và đều cùng muốn chọn Đại đội Quân y Thủy quân lục chiến ở Thị Nghè. Với tôi chỉ vì muốn ở Sài Gòn, trong khi anh cần ở đây để học và viết cho xong luận văn Lịch sử nội chiến Việt Nam từ 1771 đến 1802, mà bấy giờ tôi hoàn toàn không biết… [Lữ Quỳnh, “Tạ Chí Đại Trường-Đời thường”, ngày 4 tháng 4.2016, https://hopluu.net/a2807/ta-chi-dai-truong-doi-thuong ]

Tiếp đó, Phan Chính cho biết về giai đoạn thứ hai cho đến tháng 4.1975:

– (…) Tôi có cơ may sống bên anh tại Quân y viện Đoàn Mạnh Hoạch từ khoảng đầu năm 1969 đến năm 1972. Đơn vị này đóng bên cạnh phi trường quân sự Phan Thiết (Bình Thuận) có tên Camp ESEPIC, xung quanh là bãi tha ma nối dài đến Bia đài- Cổng Chữ Y, cách trung tâm thị xã Phan Thiết khoảng 3 cây số. Khi Tạ Chí Đại Trường từ một đơn vị quân y của Thủy quân lục chiến về với cấp bậc Trung úy, là sĩ quan hành chánh quân y. Anh được giao chức vụ Trưởng phòng Tiếp liệu của Quân y viện. Dáng người anh cao lêu nghêu, lại đeo kính cận không có gì mang vẻ một người lính của binh chủng dữ dằn với bộ quân phục rằn ri như lúc mới trình diện (…) Thực ra công việc hành chánh cũng khá nhàn nhã, trừ khi nghe tiếng trực thăng Shinook đáp xuống khoảnh đất cạnh Quân y viện với hàng chục chiếc băng ca chuyển lính trận bị thương về mới thấy chuyện bận rộn, kinh hoàng. Khi nghe Hồ Tà Dôn, một nhà thơ trẻ trong nhóm văn nghệ ở Phan Thiết, ở Phú Hài vừa san ủi đất công trình đã lộ ra một số chum sành có nhiều đồng tiền cổ,Tạ Chí Đại Trường vội đến ngay, không biết bằng cách nào anh xin được vài chục đồng tiền điếu, có xu đã mòn hết chữ nhưng cẩn thận xếp vào valy sưu tập cất ở đầu giường. Sau này, không hiểu sao valy tiền cổ bị mất cắp, anh như người mất cả hồn phách, rồi cạo trọc đầu và trông anh thất thểu. Trong quân đội cấm lính để râu, cạo trọc nhưng là đơn vị chuyên môn cho nên cấp trên cũng lờ đi (…) Đến năm 1970, Tạ Chí Đại Trường nhận được giải thưởng văn chương toàn quốc với tác phẩm “Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802”, đây là luận văn cao học của anh từ năm 1964 nói về cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Đến năm 1971 với tên tuổi về tác phẩm này mà anh được điều về Ban Quân sử của Bộ TTM ở Sài Gòn. Đời lính từ nơi đối mặt với chiến trường, rồi về một bệnh viện quân y tưởng yên ổn nhưng lại phải thường xuyên ám ảnh cảnh chết chóc, những chiếc quan tài vội vàng bọc lớp tôle kẽm mỏng giao cho thân nhân hoặc đưa chôn ở nghĩa địa. Đêm đêm nghe tiếng rên rú của lính trận bị thương … mà nay được về Sài Gòn, ai cũng mong được vì đó là chỗ nương thân không gì bằng, nhất là đối với những người luôn sợ hãi chiến tranh. Có người nói do nội dung tác phẩm được giải này mang nội dung đề cao vai trò lịch sử của Gia Long, hạ thấp Quang Trung mà anh gặp nhiều rắc rối sau ngày giải phóng. Theo tôi, với cái lý lịch sĩ quan ngành quân y thì cũng được nhìn nhẹ nhàng thôi, nhưng đúng hơn có một phần chịu tiếng là một “sử quan” ngụy quân càng thêm nhiều nỗi thăng trầm, là thế! [Phan Chính, “Khó Quên Những Ngày Tạ Chí Đại Trường Ở Phan Thiết!”, Tạp chí Hợp Lưu, ngày 4.4.2016 – https://hopluu.net/a2803/kho-quen-nhung-ngay-ta-chi-dai-truong-o-phan-thiet-]

Quân Y viện Đoàn Mạch Hoạch được đặt theo tên của Y sĩ Trung úy Quân Y Đoàn Mạch Hoạch, bị trúng đạn tử thương tại một tỉnh Miền Trung vào năm 1964, khi tiếp cứu một thương binh ngay tại trận chiến. Phần đời trong quân ngũ đó sẽ thấp thoáng trong vài cuốn sử của ông sau 1975 và giải thích lý do ông thương tiếc một sĩ quan sử gia, có thời cùng hợp tác với tạp chí Bách Khoa, tuẫn tiết. Phần đời ấy cũng kết thúc khi ông bị bắt giam cùng với khoảng trống của Khối Quân Sử, Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa do Đại tá Phạm Văn Sơn — (1915-1979, Trại Tù Cải tạo Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú), Trưởng Khối Quân Sử, Phòng Nghiên Cứu — đứng đầu. Khoảng trống này sẽ giúp người Cộng Sản trở thành bá chủ trong Bộ Môn Quân sử sau 1975, một thực tế mà các sĩ quan sử gia/ Khối Quân sử VNCH sống sót như Tạ Chí Đại Trường phải đối đầu. Khối Quân sử VNCH đã xuất bản nhiều tác phẩm về cuộc chiến tranh 1954-1975. Tôi may mắn giữ được 1 bản về cuộc Tổng Công kích Mậu Thân thất bại của Miền Bắc vào Miền Nam. Cho tới nay, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài, cuốn sử ký lưu lại khoảng đời tù ngục hình như vẫn chưa xuất bản tại Việt Nam (?). Nếu đời tù của ông chấm dứt vào năm 1981, thái độ chống lại Chủ nghĩa Cộng sản cũng bắt đầu kết tinh bằng thời điểm ấy. Không chỉ bằng tác phẩm hậu-1975, ông đã bầy tỏ công khai căn cước quân nhân bằng lá thư ngỏ “Đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng Hoà là Chứng tích Lịch sử Quốc gia” khi tự nhận “Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hoà” trước tư cách “sử gia” trong trường hợp này:

-Westminster ngày 4 tháng 5 năm 2010

Đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng hoà là Chứng tích Lịch sử Quốc gia.

Lý do:

Đây là một tồn tại lịch sử từ một vùng đất (nửa nước), một thời gian (20 năm) có công nhận quốc tế. (Bằng lòng hay không thì cũng đã có một “quốc tế” bao gồm những nước công nhận Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện tại.)

Là một dấu tích lịch sử như những dấu tích khác đang được Nhà nước CHXHCN Việt Nam sử dụng: Dinh Norodom / Dinh Độc lập / Dinh Thống nhất… đã được sắp vào hạng 10 trong 10 di tích, chưa kể Toà Đô chánh Sài Gòn / Trụ sở Uỷ ban Hành chính Tp. Hồ Chí Minh, hay các xây cất mang chức năng hiện đại ở các vùng, thành phố thuộc Việt Nam Cộng hòa cũ…

Đây cũng là tưởng niệm duy nhất còn lại của một phía về những người lính, người Việt Nam, đã chết trong chiến tranh – tuy nhỏ nhoi, ít ỏi hơn những nghĩa trang liệt sĩ của phe thắng trận đang đứng chân hàng hàng lớp lớp trên đất nước Việt Nam.

Sự công nhận này là một hành động văn minh học được của thế giới ngày nay như khi công nhận, bảo trì Mĩ Sơn của người Chàm, khu phố Hội An gốc của người Hoa và người Nhật, cũng như trở lại giữ gìn thành trì lăng tẩm họ Nguyễn có lần đã bị bỏ luống, tàn phá, trở lại tiếp nối hành động văn minh của triều Nguyễn khi cho người coi sóc lăng tẩm các vua Lê…

Lời đề nghị có ngày tháng nên trước tiên là với Quốc hội CHXHCN Việt Nam hiện nay. Vì quan niệm chế độ nào rồi cũng qua, chỉ có đất nước là tồn tại nên lời ghi “Quốc hội Việt Nam” là để dành cho những lần mai sau liên tiếp một khi yêu cầu chưa được thỏa mãn.

Tạ Chí Đại Trường
Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Sử gia

[Đăng ngày 8. 5. 2010 – Talawas Blog- Nhà văn Phạm Thị Hoài chủ trương, https://www.talawas.org/20049/]

Ôngkèm thêm tin tức cập nhật về Nghĩa trang Biên Hòa và một viễn tượng bi quan nếu nhà cầm quyền không bảo vệ di tích này:

–Lời bên lề

Nghĩa trang Biên Hoà nay gọi là Nghĩa trang Bình An, thuộc quyền quản lí của Uỷ ban Hành chính huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Từ việc Chính phủ CHXHCN Việt Nam chuyển quyền quản lí từ quân đội sang bộ phận hành chính, có người, cả trong nước, đã coi như một cử chỉ hoà giải để địa điểm khỏi bị xoá vết tích như trường hợp Nghĩa trang Gò Vấp. Tuy nhiên vấn đề vẫn dẫn tới những nguy cơ tuyệt tích khác. Những người có liên hệ đến Nghĩa trang mà ít phải dè dặt thường là ở ngoại quốc, nay cũng đã già rơi rụng, lớp người nối tiếp hẳn rồi cũng phải chật vật bon chen trong cuộc sống với căn cước mới, không thể quan tâm lâu dài đến những mồ mả hoang vắng ở một nơi nào đã trở thành xa lạ với họ. Mặt khác, sự phát triển kinh tế sẽ khiến cho dân chúng xâm phạm mồ mả, cất nhà, kinh doanh trên ấy để rồi gặp một chính quyền địa phương có “sai lầm về nhận thức” sẽ ra lệnh tịch thu, tiếp tục sự phát triển dành cho Nhà / nước mình. Phải là người tại chỗ, một quyền bính tại chỗ có cam kết ở bậc cao nhất mới may ra còn hi vọng níu kéo sự tồn tại của nó. Vì thế mới nảy sinh lời đề nghị trên. Và vì đề nghị – có thể mang sơ sót về văn từ, ý tưởng, nhưng là có đối tượng cụ thể (Nghĩa trang Biên Hoà và Quốc hội Việt Nam), nhắm vào một mục tiêu chưa thấy khả năng thực hiện nên chúng tôi sẽ không quan tâm đến những bàn tán, theo hay chống, đến từ bên ngoài. Xin cáo lỗi trước. [Tạ Chí Đại Trường, sđd]

clip_image003Ông rời Miền Nam ngày 2 tháng 8. 1994, sang tiểu bang Oklahoma, Hoa Kỳ. Lời Đề nghị này ký vào tháng 5, năm 2010. Như thế, hơn 15 năm sau, ông vẫn đồng hành với những đồng đội bị truy diệt tới cả nơi an nghỉ. Lúc ấy, tôi còn nhớ đã đọc bản đề nghị này trên một tờ báo chợ trong một quán ăn đông đảo người qua người lại. Buổi chiều không nóng nhưng hơi oi bức. Mấy chữ “Cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa” nhẩy khỏi trang báo, khiến tôi phải đọc lại vài lần. Người bạn mang cho cả nhóm xem, trầm ngâm: “Viết thế này không biết họ có đọc không? Họ có làm gì không. Chắc là không.” Ai cũng hiểu “họ” ở đây là những người nắm quyền tại Việt Nam.

Ø Tác giả và tác phẩm: một khoảnh tự do nối dài bằng một khoảnh tù ngục

Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt nam Cộng hòa nối dài
Bìa Đinh Cường-Thanh Văn xuất bản, 1993, California

Tạ Chí Đại Trường cao dong dỏng, vẻ khắc khổ vì nụ cười âm thầm dù rất tươi, lông mày lưỡi mác, miệng rộng, có sôi nổi đến đâu cũng chờ đến phiên mình, không cướp lời bạn hữu. Ông viết cay, cái cay của một lối châm biếm hơi lộ, mà nói cũng cay không kém. Ông từng tặng tôi mấy chữ “Đồ Bắc kì răng đen mã tấu” sau khi tôi có loạt bài phản đối một số phát biểu của ông về sinh hoạt chính trị, văn nghệ của người tỵ nạn tại California. Chưa hết, không những phạm húy ông, tôi còn một loạt bài phạm húy vài người trong nhóm bạn thân ông. Tôi gửi lời nhắn, Cảm ơn lời khen, nhưng “Mã tấu thì có. Răng đen thì không”. Tại sao lại là “lời khen”? Nói cho công bằng, ông không tin nhà thơ (chủ nhiệm Viên Linh), hay bất kỳ ông nào, viết thay hay đưa ý cho tôi khi những lời bàn tán của người khác đến tai liên quan đến các bài này. Ông đã biết Viên Linh từ Sài Gòn, sang đây lại đọc Khởi Hành thường xuyên (có lần đã trích dẫn một bài viết từ Khởi Hành) nên chẳng bao giờ nghi hoặc về trách nhiệm của tôi. Từng sinh hoạt trong sinh hoạt báo chí Miền Nam– mà ngày nay Trần Phong Giao (Thư ký Tòa soạn tạp chí Văn) và Viên Linh (Thư ký Tòa soạn tạp chí Nghệ Thuật và Khởi Hành-Sài Gòn) thường được nhắc đến– ông đủ tinh tế để phán đoán và thừa kinh nghiệm để tránh lỗi của một người chưa bao giờ lai vãng đến nền văn học ấy hoặc/và vẫn bó mình vào ngõ cụt của những nhóm đoàn văn nghệ.

Ông còn biết đến tôi qua 1 việc không tình cờ: Cùng có bài trên Xưa Nay, tạp chí “Chuyên đề về Lịch sử Việt Nam của Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam”. Bài “Phan Khôi dịch Kinh Thánh Tin lành như thế nào” của tôi được chọn đăng thành 2 kỳ trên các số 429 và 430 vào tháng 6. 2013. Tên của bài còn được là 1 trong 2 bài ra bìa số 429, một hân hạnh khác 1. Ngay sau đó, bài “Y Khoa và Sử Việt: một gói viện trợ bội thực” của Tạ Chí Đại Trường xuất hiện trên Xưa Nay số 431 vào tháng 7.2013 2. Trước đó, 2 bài về “Tự Lực Văn Đoàn và thái độ với vấn đề Nữ quyền” của tôi được chọn đăng trên Xưa Nay số 411 và 412, tháng 9. 2012. Họ cũng đã đăng bài của ông ít nhất từ năm 2005. Theo tin tức của ông, sử gia/Tổng Biên tập Dương Trung Quốc đã có bài “Thần, người và đất Việt, một quyển sách cần được tái bản” trên Xưa Nay số 238 (6. 2005). Ông đặt mua nhiều tạp chí văn học và nghiên cứu từ Việt Nam và còn từng chỉ trích nhiều sử gia trong và ngoài nước, trước và sau 1975, nên phải nhận ra việc cho đăng các nghiên cứu, nhất là nghiên cứu từ hải ngoại, không là một sự hên xui may rủi nếu từ một Tổng Biên tập và ban chủ trương có chân tài và viễn kiến 3.

Thật ra, các cao thủ đều nhận ngay được loại vũ khí (mã tấu hay ám khí) và đường quyền (có dẫn chứng và dẫn chứng ra sao) của lẫn nhau. Sau khi có lời đính chính về việc “mã tấu răng đen”, tôi được nhận Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài từ một người bạn ông, tuy bên trong không có chữ ký lưu bút của tác giả. Bìa sách có thêm 4 chữ TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG đóng bằng dấu đỏ lên bìa rồi lên cả trang 1 và bìa 4 (bìa sau). Theo tôi, đây là một trong những tác phẩm đặc biệt vì đó là cuốn sử mà ông viết khi đang tham dự, khác những tác phẩm có nguồn từ quá khứ. Ông không phải là người cầm bút Miền Nam duy nhất ngưng cầm viết chỉ vì tù đầy. Bởi thế, nhận xét sau đây của nhà phê bình Trần Doãn Nho làm tôi hơi ngạc nhiên:

… Chẳng thế mà, trong lúc hầu hết những anh em đi ở tù về, thường tránh chuyện viết lách, anh vẫn tiếp tục nghiên cứu, vẫn viết và gửi ra hải ngoại để xuất bản… [Trần Doãn Nho, “Tạ Chí Đại Trường: Miên man chữ nghĩa”, Da Màu, ngày 12.4.2016- https://damau.org/41963/ta-chi-dai-truong-mien-man-chu-nghia]

Lời nhận xét trên trở thành một thứ khen Phò mã tốt áo một cách vô tình. Thời đó, Phò mã Miền Nam nào mà không tốt áo nếu chỉ căn cứ trên mấy tiêu chuẩn “vẫn viết và gửi ra hải ngoại…”? Hoàng Hải Thủy không những “viết” mà còn bị bắt giam vì tội gửi ra ngoại quốc. Doãn Quốc Sỹ, dưới bút hiệu Hồ Khanh, bị bắt vì cùng tội danh. Trần Tam Tiệp bị xử khiếm diện dù đang ở …Pháp. Thanh Tâm Tuyền cũng xuất hiện dưới 1 bút danh khác (Trần Kha), nhưng Văn Quang đáng được phong là Chưởng môn. Sau mươi năm tù, được thả ra, vẫn tiếp tục viết lách ròng rã, viết lách công khai, viết lách chính thức, rồi đem phân phát tứ phương đến nỗi bị quý Công An vào nhà lục soát, tịch thu đồ nghề và tịch thu luôn tiền nhuận bút kiếm được. Sau nữa, Tạ Chí Đại Trường không hề có chủ ý “gửi ra hải ngoại để xuất bản” trừ một quyển (hình như là Việt Nam, nhìn từ bên trong) ngoài nỗi khao khát được chia sẻ khám phá mới, nhu cầu tự nhiên của khoa nghiên cứu. Ông đã khẳng định “Lại cũng không nghĩ rằng có thể xuất bản, cần xuất bản…” hoặc trình bày về hoàn cảnh sáng tác của chính ông, của thân hữu đoạn giải thích lý do tác phẩm có mặt tại ngoại quốc trong phần “Đôi lời phân trần” khi cuốn Thần, người và đất Việt được tái bản tại Hoa Kỳ:

… Những năm vào trại cải tạo giúp chúng tôi có thực tế để suy ngẫm về những gì vừa xảy ra, đang xảy ra trước mắt mà không bị tràn ngập bởi sách vở trùng trùng lẫn tiếng la hét đe doạ của những tay thư lại mới, bởi sức nặng kiến thức của các học giả Tây Phương thừa phương tiện và đầy uy tín quốc tế (…) Vậy là bắt tay vào việc, bắt đầu “làm việc” sau những giờ làm việc mệt nhọc hay thời gian trống rỗng ngồi cà-phê-ghế dựa lưng vào tường nhìn người, xe qua lại hỗn độn sát mặt. Bây giờ ngồi nghĩ lại, chẳng hiểu tại sao đã có những ý nghĩ như đã được viết ra. Đúng là có sự tích tụ của kiến thức cũ từ nhà trường, trong sách vở, ngoài hiện trường. Nhưng trong sâu thẳm hẳn là có sự phản kháng với thân phận mình trong cơn lốc lịch sử, với đám học giả núp bóng quyền uy chính trị, ngang ngược trước mắt (…) Tại sao lại là “bản mới” trong lúc chẳng có gì mới hơn? Đã nói, không phải là một lời phân trần nhưng tập sách viết vào lúc ấy, ngoài cái hoàn cảnh chung ai cũng biết, còn có những điều riêng mà nay mới có dịp chấn chỉnh lại. Viết sau những giờ lăn gỗ, xúc bột giấy, theo xe áp tải ngơ ngơ không biết hối lộ để anh chàng công an đuổi: “Đi cho được việc!” Viết trong thời gian chưa có điện Trị An, ngọn đèn 60w trở thành đèn ngủ đành đánh một giấc, đổi giờ làm việc thành nửa khuya về sáng. Viết vào lúc không mong gì xuất bản, chỉ để tuôn ra ý tưởng thấy là mới mẻ, đánh máy trên giấy rơm đen điu, rồi chuyền cho bạn bè người quen đọc, chưa kịp thấy nỗi nguy hiểm của cách phát biểu “chui” như thế. Một bản liều lĩnh đi ra nước ngoài – cũng chỉ mong người quen đọc – được hỏi: “Đăng không? Muốn kí biệt hiệu gì?” –“Chữ nghĩa chính quy, ai lại phải cần giấu giếm!” Trả lời thí-mạng-cùi trong lúc chưa biết đến cái án mươi năm của Doãn Quốc Sỹ – Hồ Khanh… [Tạ Chí Đại Trường, “Đôi lời phân trần”, Thần, người và đất Việt–Bản mới, Văn Học tái bản-1999; Kệ Sách eBook Publishing Center, 2011, Hoa Kỳ]

Trần Doãn Nho còn có thêm nhận xét:

… Về viết lách, TCĐT có một giọng văn riêng, phải nói là rất riêng, khó lẫn với những nhà viết sử khác. Dùng lại một chữ của anh, văn sử. Viết sử như văn. Đúng hơn, phải nói là anh viết sử trong tâm thế của một nhà văn. Và viết văn trong tinh thần của một người nghiên cứu sử (…) Sử trong văn, văn trong sử, một vận dụng đặc thù của TCĐT. Không biết có phải do vậy không mà nói chung, đọc TCĐT tưởng dễ, nhưng lại không dễ. Sách và các bài viết của anh không thể đọc ngay, đọc hết một lần. Thích lắm mới đọc được. Mà có đọc thì đọc nhẩn nha, không thể vội. Với tôi, vì thích, tôi ráng đọc, nhưng phần nào chuyên môn quá, tôi đành bỏ qua. Đọc TCĐT vừa như đọc một câu chuyện kể, lại vừa như đọc một bài nghiên cứu… [Trần Doãn Nho, sđd.]

Về cách dụng văn của ông, thì mượn lời Tạ Chí Đại Trường: “bá nhân bá bao tử” hay mượn lời bà-mẹ-quê-của tôi: “nhân tâm tùy mạng mỡ”, nhưng về “tưởng dễ nhưng lại không dễ…”, thì là một độc giả, tôi muốn nới rộng hơn một chút, ra khỏi lời bàn-Trần Doãn Nho. Tạ Chí Đại Trường, như các sử gia khác, đang viết sử chứ có phải chuyện diễm tình đâu mà ước “đọc ngay, đọc hết một lần” như mì-ăn-liền được. Trong số tác phẩm của ông, có 2 tác phẩm hoàn chỉnh từ luận án Cao học và Tiến sĩ trước 1975. Tuy thế, cho rằng đọc ông “khó” vì …hàn lâm hay “không dễ” vì “Sử trong văn, văn trong sử, một vận dụng đặc thù của TCĐT” (Trần Doãn Nho, sđd) cũng chưa hẳn chính xác. Hãy đọc đoạn rất dễ hiểu sau đây từ bài “Gresham trong Sử học” để trước hết, xem ông tường thuật về đồng hương chuyên đọc báo chợ đặng kiếm thợ sửa xe, thợ may, thợ uốn tóc, thợ sửa ống nước vv.; đoạn xem ông đánh giá đồng bào lãnh trợ cấp oen-phe/welfare mà dám tập tễnh đòi làm sử gia ra sao. Sau nữa, để xem ông viết như-thế-nào:

… Hãy nghĩ nếu trước kia một nhà in nhỏ với khoảng ba phòng lớn chứa mươi lăm thợ sắp chữ, anh thầy cò, thợ in report, phơi bảng kẽm in ốpxét với máy móc so với thời di tản có sẵn một bộ phận sắp chữ trong computer, cái hộp in với mấy dây điện làng nhàng, tất cả để vừa trên bàn giấy mà đủ in khoảng 500 bản cho một đầu sách – số bản in sách khoa học xã hội cho 70 triệu dân trong nước – thì hẳn có tuyệt đối số người Việt lưu vong đi làm rồi chờ weekend, thấy tháng ngày đều đặn nhàm chán đến nỗi hai bà công nhân cùng line nhìn nhau riết đâm đổ khùng làm náo loạn cả sở: “Nó nhếch mép chọc giận tui!” “Nó chửi thầm tui!” Vậy là có sách báo để ông bạn ham đọc ôm vào sở nghe các đồng sự ngoại quốc nhăn mặt: “Sao mày chịu khó đọc các quảng cáo vậy?”. Ngày xưa ông học giả văn-học-sử-Hai-Bà-Trưng chỉ đủ xuất hiện ở một phần trang tư báo Chính Luận, còn bản thảo vẫn nằm trong cặp và hình như gần đây ông lại la cà nơi các bàn đánh máy mướn bày ra thời đổi mới. Trên đất Mỹ nhờ sự thuận tiện in ấn đã nói và tiền oen-phe, các loại sử viết bằng cái tâm – nồng nhiệt tin tưởng có, ôn ào hung hăng cũng không thiếu – đã phô bày trên kệ sách. Tâm tình lưu vong vốn nhạy cảm vì tác động của những biến cố kinh hoàng hay thê thảm mới xảy ra ngay trong đời đương sự. Bởi vậy khi nghe nói “viết bằng cái tâm” thì không ai dám cãi. Phiền một nỗi cái tâm đáng khen của cá nhân ấy lại muốn trở thành chân lí và tích tụ lại thành chân lí thật… [Tạ Chí Đại Trường, “Gresham trong sử học”, Văn Học số 125, trang 16, Tháng 9.1996]

Riêng vấn đề in ấn, không phải cứ có tiền oen-phe là in và bán được sách như chính Tạ Chí Đại Trường sẽ kinh nghiệm hoàn cảnh in ấn mà ông có dịp nhận xét. Văn học hải ngoại là một nền văn học tự do đúng nghĩa: có cầu mới có cung. Ngay từ đầu, tại hải ngoại, tác phẩm của ông ra mắt độc giả Hoa Kỳ hầu hết là nhờ tri kỷ (Nhà Xuất bản Văn Nghệ hay Thanh Văn), sách không bán được nhiều; sau này, ông nhờ mối quen biết với tay nghề Phùng Nguyễn đặng cho hết lên mạng Kệ Sách:

… Tại sao lại là “Bản mới”? Bản cũ in ra năm 1989 từ lúc chúng tôi còn ở trong nước, theo lời Nhà xuất bản Văn Nghệ, vẫn còn chất đầy kho, trong garage của ông chủ và bạn bè… [Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt, sđd]

Sau nữa, tôi vẫn nghĩ chuyện khó hay dễ (đọc) là tùy độc giả có lưu tâm về chủ đề hay tác giả nào đó hay không. Người ta đã muốn đọc thì… Đọc nhau tam tứ núi cũng trèo/Thất bát sông cũng lội/Cửu thập đèo cũng qua. Mà đã không muốn đọc thì thiếu gì cách đóng cửa từ quan? Việc đọc sách khác gì việc nghe nhạc? Với tôi, một người mù nhạc, không có nhạc nào quý phái không có nhạc nào nhạc sến; không sách nào khó đọc không sách nào dễ đọc. Tôi chỉ tránh không đọc những bài đầy-chữ-Hán Nôm không cần thiết (sở trường của các ông đồ nho tân thời) hoặc lũ lượt lê thê bóng bẩy (sở trường của Trường phái “Cao đơn hườn tán”) hoặc có những tin tức động trời mà không kèm dẫn chứng (sở trường của Trường phái Vô tội vạ) mà rút cuộc, vẫn không học được điều gì. Có phải Trần Doãn Nho cố đọc Tạ Chí Đại Trường? Có phải chính Tạ Chí Đại Trường đã nói ông chưa đọc Mémoires d’outre-tombe của François-René de Chateaubriand? Rõ ràng hơn, ông không ngại chỉ vào chính mình:

… Còn đã có đối tượng, ở đây là lịch sử, thì nếu có ai không thích thú lại phải tìm khuyết điểm ngay từ đối tượng ấy, từ những bài viết có gợi được sự tò mò của người đọc không, hay chỉ là sự lặp lại dửng dưng vô cảm?… [“Tạ Chí Đại Trường trả lời phỏng vấn của Nhã Nam”, Dương Thanh Hoài, Nhà Xuất bản Nhã Nam thực hiện, Ngày 30. 5. 2007- Sử Việt, Đọc vài quyển, Văn Mới tái bản, 2004- VietMessenger https://vietmessenger.com/books/?title=su%20viet%20doc%20vai%20quyen&page=13
Talawas Blog- https://www.talawas.org/26278/ ]

Xin báo động trước, rằng Một khoảnh Việt nam Cộng hòa nối dài cũng không dễ đọc vì sách dài 434 trang mà trang nào cũng kín những chữ là chữ, lại viết theo kiểu lan man, liên miên, nhớ đâu viết đó, biến cố này kéo sang biến cố kia, bao nhiêu thứ biến cố nêm chặt 6 năm tù. Tác giả cũng đôi khi không văn vẻ chi lắm như từng chỉ đích danh một anh họa sĩ Trẻ giờ đã “sồn sồn”, một cậu thi sĩ “cà lăm”.

Ông trải qua 6 năm bị giam cầm, từ đầu tháng 6. 1975 tới ngày 10.6.1981. Ông nhập cư Hoa Kỳ vào năm 1994, trở về Việt Nam dưỡng bệnh vào tháng 10. 2015 rồi qua đời vào tháng 3.2016.

1.2 Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài: Sử kýcủa sáu năm “chẳng giống con giáp nào hết” …

Tôi chọn Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài hầu cho thấy, qua các đoạn trích dẫn, tác già cho độc giả thấy nhiều khía cạnh của đời sống “chẳng giống con giáp nào hết” của dân Miền Nam qua 6 năm tù của chính ông.Tác phẩm nàydo Thanh Vănxuất bản (có lẽ là bản giấy in duy nhất?), 434 trang, vào năm 1993. Tôi sẽ gọi bản này là Bản Thanh Văn 1993 khi cần. Mới đây, khoảng cuối năm 2023, bản mà tôi tìm được, trình bày trong dạng một cuốn sách, là bản trên mạng vào năm 2012 do Kệ sách ebook Publishing Center và Smashwords phát hành, với thêm hai chữ “Sử ký”, 261 trang, xuất hiện ngay dưới tên tác giả và tác phẩm. Tổ chức này do Phùng Nguyễn lập:

– Sáng lập và xây dựng Thư viện Kệ Sách eBook (kesach.org). Đưa kesach.org vào sinh hoạt từ tháng 5, 2008. Cho đến nay đã xuất bản và ấn hành miễn phí hơn 150 tác phẩm văn chương tiếng Việt trong dạng ebooks trên các hệ thống ấn hành ebook Scribd.com và Smashwords.com. [https://damau.org/author/phungnguyen]

Như vậy, tôi có thể tin rằng đây là bản chính thức được tác giả xếp loại, hiệu đính và giữ bản quyền.So với Bản Thanh Văn 1993 (do Thanh Văn giữ bản quyền), Bản Kệ Sách 2012 (do tác giả giữ bản quyền) mở đầu bằng lời chính tác giả giải thích về hành trình soạn thảo gồm đầy đủ ngày tháng, hầu hiệu đính bản 1993. Cũng theo tác giả, Bản Thanh Văn 1993 đã được ấn hành tại hải ngoại mà không có sự hay biết của ông dù không e ngại hậu quả. Lời giải thích này được ông đặt tên “Kể lại chuyện trước năm 2000” khi hiệu đính vào năm 2012. Tôi xin mạn phép được dẫn toàn bản sơ lược hành trình 20 năm của cuốn Sử ký này từ lần phổ biến lần thứ nhất đến lần phổ biến thứ hai (một thứ phép lạ trong hoàn cảnh ngặt nghèo của tác giả):

-Viết như trên không phải để lân la làm quen với một tác giả nổi tiếng trong ngoài nước về quyển sách ghi lại kinh nghiệm tù đày của ông ta ở các trại Miền Bắc (Chuyện kể năm 2000, Bùi Ngọc Tấn, Hà Nội.) Tác giả nổi tiếng vì là con dân của chế độ hiện hành nên sách dù sao cũng đã được in ra cho 80 triệu người với chuyện lạ dễ gợi tò mò, lại vì hành động “phản động” đó đã gây ra phản ứng với cơ quan công quyền trong nước và sự hưởng ứng nồng nhiệt bốc cao của những người chống Cộng thường dễ dàng ca tụng những xuất hiện như thế. Tuy nhiên dù sao thì mượn một chuyện kể tương tự để nói chuyện mình, chuyện của những chuẩn công dân hạng nhì trong giai đoạn đổi thay quyền lực, nghĩ cũng là một cơ hội làm sáng tỏ thêm một thời đại từ nhiều phía, có hại gì đâu! Nguyên, cũng giống như người viết bài bạt đăng trên bìa 4 quyển sách in năm 1993, chúng tôi đã có ý nghĩ dùng những kinh nghiệm tù đày như một tài liệu lịch sử, thói quen của những người muốn viết sử mà không muốn chép lại lời người khác khi có dịp, như dịp này: biến động sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa và tác động đến một thành phần của nó, trong đó có chúng tôi. Trong thư viết cho Giáo sư Nguyễn Thế Anh khi ra tù, nói về việc đang làm, có câu ‘Biến động lớn quá, không ghi cũng uổng.’ Trong trại, không thể ghi chép và lưu giữ được chút gì, chỉ còn lại ý định ngay từ đầu làm khởi điểm nên trí nhớ là chỗ cất chứa duy nhất. Và vì thể không xa khi về nhà, chúng tôi bắt đầu làm việc ngay, cứ sợ để lâu ngày quên mất! Chính vì thế mà không cần câu cái, văn từ, cứ viết theo những gì mình cho là còn nhớ. Lại cũng không nghĩ rằng có thể xuất bản, cần xuất bản. Trong cuộc sống co rút của mình, chúng tôi không hề biết có những hồi kí cải tạo làm xôn xao bên kia bờ đại dương. Chưa kể những điều viết ra, vì mục đích ghi sự kiện, có thể đụng chạm đến những người còn sống, bạn bè quen thuộc đã đành mà còn có những người có danh vọng trong thời đại cũ, nổi bật so với đời sống ẩn khuất của chúng tôi. Lại còn về phía chính quyền đương đại, cách thức nhận xét của chúng tôi hẳn không thể làm họ bằng lòng nhất là khi họ đang được tung hô, những lời tung hô chưa bị những biến động tiếp sau 1975 làm họ nhụt ý thức kiêu căng mà chiến thắng, mà quyền bính thì còn thừa đủ để trút lên đầu những cá nhân “tội phạm” lẻ tẻ vừa tạm thoát khỏi vòng tay của nhà tù. Một đời người thì ngắn so với biến chuyển lịch sử cho nên đã có ý nghĩ để những điều ghi lại là một Mémoires d’Outre-tombe, mượn ý của ông văn sĩ Tây, chưa đọc! Xin những người cùng “phe” theo với sự tình cờ của lịch sử chớ coi đó là một biểu hiện bi quan. Kravchenko, người đầu tiên tố cáo chế độ Xô-viết Nga trong những ghi chép, kiện tụng lẫy lừng trước Thế chiến II vẫn không ngăn được phong trào cộng sản thế giới hàng hàng lớp lớp, cuối cùng phải tự tử (1946) khi Liên Xô mang sức mạnh chiến thắng quân sự phù trợ cho chính nghĩa diệt trừ phát xít nổi bật lên như một chứng minh hùng hồn ngược lại. Ông không thể đợi sống đến nửa thế kỉ sau. Trong tình hình suy nghĩ và hiểu biết cá nhân như thế thì tập hồi kí tuy có được đánh máy cho thoát khỏi tình trạng giấy rơm đen điu cũng không được chú tâm nhiều. Gởi qua Mĩ trong lúc biết mình sắp ra đi cũng không ngờ người quen biết đem ra phổ biến. Không có gì phải trách để phụ các tấm lòng ưu ái đó. Không có gì hối hận vì sợ hãi khi nó được in. Chuyện kí tên thật trên các chữ nghĩa viết ra đã được xác định từ lâu. Có điều vì sự lạo thảo đã kể mà bản in có quá nhiều điều không được ưng ý. Bây giờ ngồi chép lại, chắc vẫn không khỏi thiếu sót, nhưng hãy cứ coi như thêm một giai đoạn sửa chữa. Sửa chữa không đánh mất những suy nghĩ cũ, dù đến bây giờ thấy có sai sót, thấy vụng về. Chuyện của một tập thể nhìn từ một cá nhân, tính chất của một hồi kí đã đủ phân trần về sự thiếu sót kia trong khi vẫn giữ được tính cách nhân chứng lịch sử dành cho người khác, cho người sau nhận xét. Chúng tôi chỉ sửa chữ, kể cả những chữ sai sót vì người in không hiểu ý, nhưng như đã nói, không để sai lạc ý tưởng ban đầu. Lúc viết vì ngại ngùng đã ghi tắt các tên người, nay được chỉ thẳng ra, trừ một vài tên thấy không cần thiết, không nhớ được. Các cá nhân được đề cập nay có người vẫn còn sống, lại thêm danh vọng ở hải ngoại nữa, hẳn có chút ngứa mắt không bằng lòng tuy người viết rõ ràng đã ráng chỉ làm việc ghi chép, không thiên lệch. Nên, xin thưa: Lịch sử nay đã định hình, ân oán giang hồ tuy vẫn còn đấy nhưng ba mươi năm trôi qua rồi, tập sách dự định làm một tài liệu lịch sử nay đã có vị trí đúng của nó, ít ra là trong tính cách một vật nằm ở góc tủ nào đó chờ người đến phủi bụi đi tìm thời gian đã mất. Nên, xin chớ giận hờn làm chi. Chép lại sách cũ, có hứng cũng ghi thêm vài dòng nhỏ mới, đã cẩn thận không bỏ qua thời điểm “2004” để khỏi lẫn lộn. Việc làm, nhìn kĩ lại thì cũng chỉ vì mình, vì chút ý thích cá nhân, thấy cũng hơi ích kỉ. Nên, để đỡ ân hận, trong lời đề tặng có thêm một chứng tích về tình trạng nghĩ là post-traumatic syndrome của người đồng cảnh cùng chia xẻ với mình trong những cơn mơ nơi xứ cho đến bây giờ vẫn còn không biết là lạ hay quen mà vẫn phải chấp nhận nó.

Hãy cứ coi là xong lúc 8:06 ngày 8-1-2005 ở Westminster, California, USA.

Ngày 21-9-2004, bắt đầu chép lại trên bản in 1993 của Thanh văn xuất bản.

Ngày 8 tháng Mười hai 2004: dự định làm đề từ cho bản chép lại này.

Ngày 14-3-2005, về SàiGòn tìm lại bản thảo cũ, không thấy bản đánh máy, chỉ có bản viết tay, nửa phần trên giấy rơm đen, nửa phần trên mặt trái giấy pelure đã đánh máy bản Luận án Tiến sĩ dở dang (thiếu giấy quá mà!), định so sánh xem có gì thiếu sót để chấn chỉnh lại, cũng vẫn giữ ý định không làm sai ý nghĩ ban đầu. Chắc cũng không làm việc so sánh đầy đủ vì hơi làm biếng, vả lại cũng không cần thiết phải chi li đến như thế. Thấy tiêu đề sách, ghi tháng 8-81 là “Mémoires d’outre-tombe… nối dài”, Prélude – chắc cho chương đầu. Lúc đánh máy đã khác với lúc viết tay vì thấy bản viết tay dư nhiều đoạn không chắc người biên tập ở Mĩ có thì giờ sửa gọn như đã xuất hiện. Dòng chữ Một khoảnh VNCH nối dài có mặt bên trong bản thảo, không biết đã nghĩ ra để dùng làm tên sách từ lúc ấy không. Nhan đề có lẽ gợi từ tên lạ lùng của những con đường Sài Gòn lúc mới đến năm 1955 như: Rue Richau Prolongée (Phan Đình Phùng / Nguyễn Đình Chiểu). Đùa bỡn cũng có cái hay là khiến người ta nhớ dai nên thấy trên một tờ báo ở Úc có một tên khác: “Một khoảnh Liên Xô nối dài”, hay “Một khoảnh VNCH nối dài” dùng cho loại văn nghệ hải ngoại, cả những thứ “nối dài” mơ hồ nào đó chắc có bà con thân thuộc. [Tạ Chí Đại Trường, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài -Sử ký, “Kể lại chuyện trước năm 2000”, trang 3-4, Thư viện Kệ Sách eBook phát hành trên Mạng, 2012. Tác giả giữ bản quyền * Những chữ in đậm, có gạch dưới hay in ngả là theo nguyên bản]

Mở đầu là “Lời đề tặng” gợi lại kỷ niệm trong tù ngoài tù:

-Tặng anh bạn xích lô trên đường phố Sài Gòn một hôm nào đó, đạp xe chồm tới: “Ê, Trường, mạnh giỏi?” Không lúc nào nhớ tên anh nhưng biết vì sao anh quen tôi, nhớ đến tôi. Và tôi cũng đã quen anh, nhớ đến anh. Lại anh bạn cùng nghiệp “cu li” nằm đêm ở Mĩ (năm 2000), kêu khóc: “Sao tới bây giờ mà cũng vẫn chưa về?” để bà vợ thúc cùi chỏ đánh thức dậy! [Tạ Chí Đại Trường, sđd]

Bản sử ký này còn chứng thực một điều mà khi viết đến đây, tôi mới nhận thấy một cách sâu sắc: Sở dĩ Phùng Nguyễn được Tạ Chí Đại Trường tin cậy giao cho bản thảo Để ở đâu rồi biến thành di cảo vì mối giao tình mà quyển sử ký Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài chứng minh ngay từ năm 2012. Đôi bạn vong niên này đã gặp nhau ở chỗ chống Cộng kịch liệt. Phùng Nguyễn đã giúp Tạ Chí Đại Trường lấy lại vị trí xứng đáng cho một cuốn sử ký vì, trước hết, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài rất chi tiết kèm suy luận hay lý luận của một người đã từng kết thúc luận án Tiến sĩ về Sử học tại Miền Nam. Kiến thức học hỏi ấy khiến ông đẩy một thứ hồi ký cá nhân sang được hồi ký lịch sử “giữ được tính cách nhân chứng lịch sử dành cho người khác, cho người sau nhận xét” như suy tính. Ông nói rất đúng: hơn 30 năm sau khi cuốn sử ký này xuất hiện, một người sau—là tôi –sẽ có dịp nhận xét. Không chỉ nhận xét, tôi sẽ thừa tin tức để kiểm chứng người khác, nếu muốn. Bởi thế, theo tôi, một người có dịp quen hay biết Ngô Thế Vinh, Phùng Nguyễn rồi Tạ Chí Đại Trường, thì việc nhà văn Ngô Thế Vinh cho phổ biến di cảo của Tạ Chí Đại Trường trước Da Màu –một tạp chí trên mạng mà Phùng Nguyễn dự phần sáng lập, nhất là phần kỹ thuật, rồi khổ công góp sức gây dựng cho đến khi qua đời– là điều đáng tiếc, hết sức đáng tiếc. Trong thế giới văn nghệ, những mối giao tình riêng ngoài liên lạc chung, hoặc là một thứ tài liệu ngầm hầu góp phần suy luận phán đoán trong khi nghiên cứu hoặc một thứ kim chỉ nam hướng dẫn hầu khỏi thất thố khi xử sự với một/nhiều nhân vật nào đó.

So với Bản Thanh Văn 1993, Bản Kệ Sách 2012 (và các bản trên mạng) có thêm 1 chương vì tác giả tách Chương “Đi, về, Vào, Ra” thành 2 chương khác nhau. Như vậy bản hiệu đính 2012 có tổng cộng 10 Chương:

-Chương 1: Những ngày đầu và những ngày cuối

-Chương 2: Đi vào quyền sở hữu mới

-Chương 3: Những ngày đầu tiên của các chàng Từ thức ngụy

-Chương 4: Đường về Long Khánh

-Chương 5: “Sài Gòn gần biết là bao”

-Chương 6: Đi, Về, Vào, Ra

-Chương 7: Trong vòng tay “công cụ vô sản chuyên chính”.

[Tác giả cho biết “Bản thảo không có mục này. Ý định cắt là từ 1994 ở Oklahoma City khi nhận được bản in. Để bớt lệch quân bình của quyển sách, đúng với hai giai đoạn ở tù khác nhau. Lúc viết bản thảo, theo đà, quên mất điều này. * Chú thích của Nguyễn Tà Cúc: “Bản in”tức là Bản Thanh Văn 1993]

-Chương 8: K. 3.

-Chương 9: Cánh cửa trại hé mở.

-Chương 10: Đường trở về trần.

Tạ Chí Đại Trường là một quân nhân khoảng hơn 11 năm nên không xa lạ với thế giới quân nhân; mặt khác, khoác áo sinh viên khoảng trên dưới 10 năm nên quen thuộc với sinh hoạt và nhân sự tại đại học. Ông lại có bài hướng về thời sự văn hóa chính trị trên tạp chí Bách Khoa nên có dịp tái kiến nhiều tác giả của Sài Gòn như nhà văn/nhà xã luận Võ Phiến hoặc qua bài đăng như giáo sư Y khoa/nhà nghiên cứu/học giả Trần Ngọc Ninh. Từ vốn đọc nhiều, biết nhiều, nhất là về sử, ông đã hoàn thành một cuốn sử ký chứa hầu hết các sự kiện điển hình trong trại giam Tù Cải Tạo như sẽ dẫn chứng tiếp đây. Một số sự kiện hay chi tiết này sẽ tái xuất hiện trong các tác phẩm sau đó. Hơn thế nữa, điều tôi đặc biệt chú ý là nhiều đoạn ông tường thuật rất chi tiết rồi dẫn giải, bày tỏ cảm tưởng về bao cảnh thăm nuôi khốn khổ của phụ nữ, về những tan vỡ chia lìa giữa vợ và chồng, về người vợ bị hãm hiếp trên đường thăm nuôi chồng hay ngay tại địa phương . Sau này, ông còn sẽ viết về sự tái hiện của chiếc áo dài sau 1975, về những cô gái lấy chồng xa. Tôi không ngạc nhiên khi ông vô tình bầy tỏ về chính mình:

… Những buổi dọn cỏ – trong đó có buổi quá chân bị nạt – tôi đã ôm về các bụi huệ và những loại hoa gì không biết tên. Tôi đã đùa với các bạn: Có một nhân vật hình như của A. Dumas-père nhắn bạn trồng một chậu lan đặt bên cửa sổ để từ cachot anh ta có thể nhìn ngắm như một dấu hiệu níu kéo với cuộc đời bên ngoài. Chẳng biết hình ảnh bi quan tôi đưa ra có gây chút xáo động nào không… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày đầu tiên của các chàng Từ Thức ngụy, sđd, trang 70]

1.3 Sài gòn gần biết là bao- Về đây nắng suốt cả ngày/Trưa không buồn ngủ ngồi say thuốc lào/Sài Gòn gần biết là bao/Mà xa như cả vì sao trên trời/Ngoài sân chiếc lá vàng rơi/Khoanh tay ngồi để sự đời trôi qua… [nhà thơ/sĩ quan biệt phái Tạ Ký (1928-1979), Thơ làm trong trại Tù Cải tạo, Long Khánh]

Với tôi, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài vẫn là tác phẩm quan trọng nhất của người lính VNCH Tạ Chí Đại Trường khi ông bị giam và được thả theo cấp bực Đại Úy biệt phái mà, đồng thời, cũng của sử gia Tạ Chí Đại Trường khi ông ghi nhận một phần lịch sử của VNCH qua những năm tù này. Tôi sẽ trích dẫn theo các tiêu đề đã chọn hầu phản ảnh nội dung Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài nên sẽ không theo thứ tự số trang. Tôi trích dẫn theo Bản Thanh Văn 1993, cộng thêm số trang, hầu độc giả nào có sách tiện theo dõi. Tôi xin thâm tạ VietMessenger đặng mạn phép xin bản số hóa, chỉ xin điều chỉnh cho đúng với Bản Thanh Văn 1993 mà tôi có nên sẽ ghi cả 2 nguồn. Tôi dẫn bản này vì độc giả sẽ đọc được một cách dễ dàng hơn. Đây là một website mà tôi rất tin cậy vì sự chính xác của các bản do họ post lên dù là bản số hóa hay nguyên bản.

1.3.1 Những ngày cuối và những ngày đầu– Nên bắt đầu vào lúc nào? – Cái bắt đầu của một lúc nào mà sau này trong trại người ta gọi bằng những từ ngữ “lúc đứt phim”, “hồi trời sụp”, “khi sập tiệm” …?

Tạ Chí Đại Trường thuật lại một trong những quang cảnh xẩy ra vào “lúc đứt phim” của chính ông, tại Sài gòn:

… Vậy mà lúc radio loan tin Tổng thống Dương Văn Minh loan báo “chờ bàn giao chính quyền”, tôi vẫn bật dậy: “Đầu hàng rồi!” Cả hẻm ồ lên: “Hết chiến tranh!” Giản dị quá. Tôi quay ra chỗ quán cà phê. Độ mươi người lính cảnh sát còn lẩn quẩn ở đấy, hình như cũng chưa biết phải làm thế nào (…) Người ta nói chuyền vào trong hẻm: “Quân giải phóng tới!” Lại lấp ló rồi đứng hẳn giữa trời. Những chiếc xe Jeep còn bảng số vàng trắng cũ từ hai đầu đường dồn ứ trước cổng Tổng nha. Người trên xe nón tai bèo, áo quần đen mặc chẽn, giày bata thể thao hay dép râu. Cờ. Biểu ngữ. Hình ảnh mới: Những người phụ nữ áo ngắn, khô cằn hay sồ sề, lăng xăng nhưng đầy tự tín. Xe vẫn nhích từng bước. Một thanh niên rắn gọn có vẻ chỉ huy, đang ngồi buông thõng chân trên đầu xe, nóng ruột nhảy xuống, bước vài bước nghiêng ngó vào trong. Xe vẫn nhích từng bước. Nhưng hai bên đường dân chúng đã đông hơn. Hai đầu đường đã thông nhưng có người gác. Một thanh niên chạy mobylette ngang qua, áo thun trắng, quần dài da beo biệt kích, bị chận lại nhưng rồi cũng được đi. Lảng vảng đã có vài người đi sâu vào trong xóm, nghiêng ngó dò la. Mọi người đứng nhìn dè dặt. Buổi tối tivi mở ra, một vài người bộ đội lân la đứng ngoài song gỗ, ghé mắt dòm vào rồi được mời ngồi ghế xem “chiếu bóng trong tủ”, không phải lật đật như hồi Tết Mậu thân. Sáng 1-5. Tôi nhập vào đoàn xe, đoàn người, thoạt tiên chẳng định hướng, cứ đến chỗ nào có người ùn lại là quay sang lối khác. Đi ngang qua khu bộ Nội vụ cũ, trong đám người chồm lên tường ngắm kẻ qua đường có một thiếu uý còn mang nguyên bộ quân phục với cặp hoa mai trên cổ áo và huy hiệu hình như là Hành chánh Tài chánh. Nếu không vì một nguyên cớ tự tin nào khác thì anh chàng hoặc là bướng hoặc là ngu ngốc nên cứ dửng dưng bình thản như thế trong lúc người ta cuống cuồng đốt quần áo treillis, đốt giấy tờ cá nhân liên quan đến quân đội, chính quyền vừa qua và lùa huy hiệu, huy chương vào thùng rác. Trên đường Gia Long, trong một thùng rác dưới gốc cây, tôi thấy cả một bộ mạc chược ngà óng ánh. Những nghề kiếm ăn mới xuất hiện. Từng chặng đường có những đứa bé, những người phụ nữ đứng cầm bó cờ Mặt trận chặn xe nài mua và dễ dàng có khách. Cờ đỏ sao vàng ít hơn: Buôn bán với ý thức tự phát thì cần gì đến suy luận chính trị. Sao lấy từ màu vàng nền cờ ba sọc cũ, sọc đỏ cũ làm nền mới cho cờ nhỏ cầm tay, hay cờ treo nhà cho những người hà tiện. Cờ 5 sao vàng nhiều hơn; cờ búa liềm rời rạc. Chợ Lớn như rừng cờ 5 sao, có nhà cắm đủ thứ cờ Trung Quốc, cờ sao vàng, cờ Mặt trận – cho chắc ăn mà! Ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy bán ngoài đường Lê Lợi. Các chú nhạy cảm về việc làm ăn thật. Chỉ tội nghiệp cho một hình ảnh thần thánh bị đem ra buôn bán, dầm mưa dãi nắng, hứng chịu bụi đường lem luốc. Từ xưa người ta ghét cay ghét đắng thương buôn kể cũng phải. Và ngoài lề đường đã thấy bày bán tivi, chén bát…[Tạ Chí Đại Trường, Những ngày cuối và những ngày đầu, Một khoảnh Việt Nam Cộng Hòa nối dài, trang 22-23, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, California, 1993]

Cờ đã đổi. Người đã thay. Tiếng nói cũng khác.

1.3.2 Đi vào quyền sở hữu mới: Đăng kí vào xưởng đẻ một cách khẩn trương

Tạ Chí Đại Trường phân tích một loại ngôn ngữ từ Miền Bắc theo chiến thắng đưa xuống Miền Nam. Tôi trích đoạn này cũng vì có 2 chữ “đăng ký” được sử dụng rất phổ thông sau 1975:

-… Không hiểu tôi đã được nghe chữ đăng kí lần đầu tiên vào lúc nào trong các ngày 1, 2-5. Có lẽ vì nhiệm sở tôi ở tận Tân An, không dính tới những cơ cấu ở Sài Gòn nên không có những tin tức kịp thời bắt buộc (…) Các từ ngữ cũng gây nên những bỡ ngỡ lúc ban đầu. Có người ngẩn ngơ trước danh từ mới, và qua cơn khiếp sợ ban đầu, lại nhạo báng, ghép cùng loại với các tiếng lóng cái đổng, cái đài… Thật nhiều những từ ngữ mới đem ra sử dụng khiến dân Miền Nam bỡ ngỡ rất nhiều. Có những từ không phải là mới lạ nhưng chính vì những nét gần gần giống ấy mà có khi dẫn đến những lầm lẫn tai hại. Tai hại đáng kể tác động nhiều nhất đến với bọn người vô phúc, nên chúng tôi có lần đùa với nhau không phải là không có chút cay chua: “Có lẽ nên có một quyển Từ điển Bắc – Nam…” Có những chữ khác xuất phát từ ý thức dân tộc hoá quá đà mà người ta hùa theo lãnh tụ đề xướng “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. “Lính thủy đánh bộ”, “máy bay lên thẳng”… là những giao tiếp buổi đầu, sau đó là những từ ngô nghê thuộc loại Xưởng đẻ (nhà hộ sinh). Nhưng có sợ tính chất hán hoá làm tiếng Việt mất trong sáng thì chiều hướng tiến hoá mới dựa vào một tỉ dân tiếp tế cả rau muống để cái tiền đồn anh hùng chống đế quốc cũng bắt buộc người ta phải sử dụng ngôn ngữ của nước bạn vĩ đại. Sửa lại đảm bảo, giản đơn, điều chỉnh phản ánh cho sát với hán tự, đi ngược lại con đường phản ảnh sai, nhưng là dấu vết của một thời gian dài đổi thay bởi người Việt (…) Cứ giở một quyển sách mang tính cách chuyên môn thì thấy tha hồ mà nhức đầu với cú pháp, từ ngữ Hán Việt mới cũ, cái nhức đầu được biện hộ rằng ta đã đem lại trình độ cao cho tiếng Việt, trái với trình độ thấp kém của Miền Nam còn nằm trong nô lệ, không có chỗ cho ý thức dân tộc vùng lên – có nói rõ ràng trình độ thấp ấy tỏ lộ trên ngôn ngữ, báo chí Sài Gòn! Cái tinh thần nô lệ sâu kín đã đổi lốt thực thi trong một chính sách thực dân văn hoá gốc gác từ quan niệm vương hoá ngày xưa! Cái nguy hiểm của sự hẹp hòi là khi nó được khoác áo lí tưởng. Có điều thực tội nghiệp là loại tiếng “lính thủy đánh bộ”, “máy bay lên thẳng” sinh ra vào thời kì phe-ta chưa có cơ sở vật chất để xuất hiện thể chế, vật dụng đó, thành thử chỉ dùng nhắm vào đối phương – có thật nhiều điều xấu xa, chữ dùng hàm ý khinh bỉ, miệt thị, đến lúc cần để chỉ của mình thì lại thấy ngượng ngùng phải ráng xài thật tỉnh: thủy quân lục chiến, trực thăng… Vô tuyến truyền hình / tivi rõ ràng trên chân máy phát hình, rồi những tên ngoại quốc dịch âm ngớ ngẩn được thay bằng tên nguyên gốc một cách rụt rè (rồi lại quay về mốt cũ theo phản ứng co rút)… Chuyện như thế nhưng có ai dám vặn vẹo người chiến thắng? (…) Nhưng chắc không có chữ nào khi diễn giải ra khiến cho dân Miền Nam phải giật mình cho thân phận hơn là chữ “đăng kí”. Cũng may là thường thường người ta chỉ hiểu được lần lần để khi gặp trường hợp vấp váp cụ thể thì không giật mình tuyệt vọng. Có người quả quyết rằng mình chỉ mới nghe chữ đăng kí lần đầu sau ngày 1-5. Họ chỉ nghe đến “ghi danh”, “ghi tên”, “khai báo” (…) Chữ đăng kí là từ pháp lí, ngày trước chỉ liên quan đến một vài giới, bên ngoài các dáng người phây phây như cây như cỏ. Thế mà nhà nước Xã hội Chủ nghĩa thì lại có bổn phận phải quản lí, quản lí con người, quản lí tài sản. Hai tầng lí do quản lí: quản lí thêm về tài sản, con người trên phần đất chiến thắng – gọi là “giải phóng” cho hợp thời trang. Nhưng người chiến bại cầm tờ giấy chấp nhận một chủ quyền sở hữu trên thân xác, tài sản của mình chỉ thấy được một mối lo sợ vẩn vơ, chắc chưa có ý thức hãi hùng. Bởi vì có ý thức trước được thì người ta đã tự giải quyết rồi. Những người lính dù chĩa súng vào nhau bấm cò. Các viên tướng tự tử mặc lễ phục, mang đủ huy chương. Một viên trung tá cảnh sát cho các con uống thuốc độc rồi hai vợ chồng tự giải quyết, xác sình thúi lối xóm mới hay vì cứ tưởng ông ta đã di tản. Một tay nhà binh có máu văn nghệ, nặng tình bạn, lỡ chuyến bay, để lại cho đời câu nói tự an ủi mà nhuốm mùi vị thiền đạo một thời: “Đại sự thành tiểu sự, tiểu sự hoá vô sự.” Có khỏa lấp gọi đó là “những kẻ tội phạm” trốn chạy sự phân xử của “quần chúng nhân dân”, “những kẻ tránh phải trả lời về tội ác của mình trước toà án của nhân dân”, thì cũng chỉ chứng tỏ là những người chết kia đã đúng, thứ chân lí mà những người vì lẽ này hay lẽ khác còn sống đã dần dần hiểu ra, và thế nào cũng có một lần thấy những người kia quả đã tìm được lẽ “vô sự”…[Tạ Chí Đại Trường, “Đi vào quyền sở hữu mới”, Một khoảnh Việt nam Cộng hòa nối dài, trang 31-33, Thanh Văn xuất bản, Los Angeles, California, 1993 * Chữ in ngả là từ nguyên bản **Trong bản hoàn chỉnh như trên VietMessenger, tác giả ghi chú: “(2004: Trung tá Nguyễn Văn Nhỏ / Phạm Việt Châu)”, nhưng tên thật của sử gia Phạm Việt Châu là Phạm Đức Lợi. https://vietmessenger.com/books/?title=mot%20khoanh%20viet%20nam%2 0cong%20hoa%20noi%20dai&page=2 ]

Chiến thắng của Miền Bắc-Cộng sản mở đầu bằng 2 chữ “đăng ký” kéo theo chính sách lường gạt đã sửa soạn, đưa hàng trăm ngàn quân cán chính Miền Nam-Tự do tình nguyện “đăng ký” dẫn thân vào tù và vào thế giới của một nơi hoàn toàn thụ động, từ người giam tù đến người tù.

1.3.3 Những ngày đầu tiên của các chàng Từ Thức ngụy: Nhìn lại, có ai ngạc nhiên về cái thua ngày 30-4 vừa qua không?

Từ Thức Tạ Chí Đại Trường—số tù Ngụy 7886–bắt đầu cuộc đời bị giam giữ vào ngày 23.6.1975 và một bài thơ:

… Một buổi sáng có lệnh báo tập trung để chụp hình. Mỗi người có một con số viết trên tấm bảng kê trước ngực, ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế dài đặt ngoài trời. Thế là từ đây ngoài cái họ chung là Nguỵ, mỗi một người chúng tôi đã có tên là một hàng số. Hình như tên mới của tôi là Nguỵ 7886… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 207]

… Câu chuyện thần tiên thơ mộng xưa không vẽ lại hình ảnh hãi hùng của cảnh Từ Thức về trần biết được mình đã đi bao lâu, khiến phút chốc từng sợi, từng sợi trắng dần phủ lên lớp da mặt nhăn nheo, co rúm, đè còng tấm thân vừa mới còn thanh xuân, cường tráng kia (…) Chẳng ai có tờ thông báo trong tay lúc ấy để kẽ vạch phản bác. Nhưng nội một sự đinh ninh “đi học 10 ngày” của toàn thể sĩ quan cấp uý cũng đủ chứng tỏ sự thực nếu không nằm trên văn bản thì cũng nằm trong mưu mô tính toán có ý thức lường gạt của người chiến thắng. Này nhé! Mở đầu cho hạ sĩ quan và binh sĩ học 3 ngày cấp giấy cho về làm ăn, không còn nghi ngờ gì cả. Việc gọi các chức quyền cấp cao và tướng tá đi học “mang tiền ăn một tháng”, chưa hết thời gian ấy để nghi ngờ thì có lệnh “mười ngày” tiếp theo lập lờ giữa cái thực và cái giả, cái giả nấp sau cái thực để giả toàn vẹn. Người cộng sản đã dạy cho người Việt Miền Nam bài học thấm thía bàng hoàng về cách làm chính trị (…)  Người chiến thắng nói họ quá thừa kiêu hãnh để không cần lừa gạt kẻ chiến bại họ nắm trong tay. Nhận như thế thì làm sao có thể nói về chính sách “khoan hồng đại độ, trước sau như một” được? Trăm điều chỉ tại mi u tối! Ờ hé! “Có ai bắt bớ gì các anh đâu? Các anh tự động mang giỏ xách đi trình diện đấy thôi!” Trong lời nói ấy có chút đểu cáng hả hê của con mèo vờn con chuột. Một chút sai lầm trong chi tiết là có người bị bộ đội lùng sục cả trước khi hết hạn trình diện. Nhưng cũng thật đúng là hầu hết đều bình thản đến cổng, xin vào (…) Nhìn lại, có ai ngạc nhiên về cái thua ngày 30-4 vừa qua không? (…) Sáng 23-6, tôi đi vòng vòng giã từ phố phường rồi cầm khúc bánh mì đến cổng trường Taberd. 10 giờ 30. Hai viên sĩ quan cầm súng lặng lẽ chỉ lối vào. Ngoài đường vắng, cổng trường kín chỉ chừa chỗ lách, không thể biết bên trong có gì (…) Chung quanh tôi mọi người đã ngủ. Bầu trời tối đen. Mưa còn nặng hạt rơi qua vùng sáng đèn, tủa xuống đám người nhích dần, nhích dần vào phía trong, mình ướt đầm. Có cái gì nghẹn ngào dâng trong tôi, tôi cúi nhìn đồng hồ. Đúng 12 giờ. Tôi vào làm bài thơ đầu tiên trong đời của tuổi lớn, tuổi tưởng chừng không còn xúc động để làm thơ (…) Những người như chúng tôi hoặc do kiến thức mà có, hoặc bởi cuộc sống coi thì giờ là tiền bạc của xã hội kĩ nghệ, thành phố xô đẩy nhau nên thắc mắc, chán ghét lối làm việc này, nhưng về sau thấy những người bộ đội ngồi kiểu nước lụt, buồn thiu hay tán gẫu với nước trà, thuốc lào, có xông xáo hoạt động thì với ý niệm nông dân là thời gian được tính bằng tháng, bằng năm không phải bằng ngày, giờ, phút, giây, chúng tôi mới không lấy làm lạ. Thì giờ không cần, công sức không kể, cái họa da vàng hồi còn tản mạn đối với người Tây Phương còn làm cho họ hoảng sợ đến thế huống hồ là khi được những người lãnh đạo lái cho hướng vào một mục đích. Mục đích đó họ đã đạt, đến 30 năm. Không tính rằng trong 30 năm đó ta sẽ đi đến đâu! Và bây giờ họ đem sức lăn ỳ ạch đó đem huấn luyện trên cả nước (…) Hoạ sĩ tài tử lẫn hoạ sĩ chuyên nghiệp tha hồ vung vẩy trổ tài… Có cả một panneau to tướng trưng ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh do một giáo sư trường Mĩ thuật Gia Định vẽ. Nhưng sau đó có lệnh không được vẽ ảnh chủ tịch và tấm panneau được khiêng về trung đoàn. Phải biết phận mình. Lãnh tụ là của riêng không thể để cho bọn nguỵ lập lờ thoát xác làm con cháu được. Hình ảnh lãnh tụ là một cái gì thiêng liêng, được tiêu chuẩn hoá ngay từ lúc xuất hiện trước ống kính. Mỗi một thế đứng, dáng đi, nụ cười… của lãnh tụ là cả một sự cân nhắc góp phần vào việc huyền thoại hoá một nhân vật lịch sử: Bác với chòm râu bạc phất phơ tiên phong đạo cốt – chòm râu khi vẽ lại phải lệch đúng một phần bao nhiêu; Bác đứng tưới cây vú sữa để nhớ Miền Nam… Cho nên từ đầu tháng năm ở Sài Gòn đã có lệnh cấm bán hình lãnh tụ ngoài đường. Một nhân viên đồn điền Michelin thấy hương án, bàn thờ khói hương nghi ngút quanh hình lãnh tụ đã thốt ra: “Ils le considèrent comme un Bouddha.” Đồng hoá lãnh tụ với Phật, đó là cách nhìn “lạc hậu”, người ta không chịu đâu! Tuy nhiên nếu bởi dân chúng còn có lòng tin, còn cảm theo một dạng như thế thì có thể dễ chấp nhận để phục vụ Cách mạng. Cũng như tính chất thần quyền, vương quyền ấy đã từng có ích trong thời tranh chiến khi người nông dân Nam Bộ bảo nhau: “Đảng xuống lịnh phá ấp chiến lược, phá bình định ác ôn…” (…) Văn chương phục vụ ở Việt Nam đã được dọn đường từ những năm trước Thế chiến theo khuôn mẫu – cũng từ chương, đầy tính chất tôn giáo từ nước Nga đến, thứ lí thuyết đó chỉ cần đợi thêm có khẩu súng hỗ trợ là trở thành thống soái, khó bài bác. Khoan nói đến những toan tính ích kỉ, cuộc sống hướng về quá khứ khiến cho người ta khó chấp nhận rằng một vĩ nhân – dù là vĩ nhân thực, chết đi cũng là điều đáng mừng cho những người còn lại, cho đám hậu sinh, cho dân tộc, một cách thế thoát khỏi sự kềm kẹp họ không làm được hay không muốn làm mà tự nhiên đã ra tay thay (…) Chiến thắng 1975 làm ngợp mặt người Cộng sản, những người vừa có sự trì níu của quá khứ và sự lôi cuốn của tương lai, sức nào cũng thật là mạnh đến nỗi không chấp nhận ai khác mình vào lúc quyết định tới hay lui. Sự biến chất nằm ở hai cực đó tạo ra hai mẫu người chậm lụt và xông xáo mà sự cách biệt nổi bật lên sau chiến thắng. Người nào chậm lụt, ở vị thế không thuận lợi thì rụt rè mặc cảm – và bất mãn, đó là số đông. Người nào biết chớp thời cơ, ở vị thế mà mối lợi từ sự liều lĩnh đủ lấn át sự sợ hãi thì tha hồ buông tuồng, quên hết kinh kệ, và sử dụng sự thần bí của quyền bính làm bức màn che cho hành động tư lợi của mình, bù lúc thiếu thốn… [Tạ Chí Đại Trường, Những ngày đầu tiên của các chàng Từ Thức ngụy, sđd, trang 47-64, 83]

Các Từ Thức-ngụy, tuy thế, vẫn không đau bằng Từ Thức bù nhìn, một tên khác cho các nhóm “trí thức”, sinh viên, văn nghệ sĩ thiên tả hoặc nằm vùng đã hoang tưởng đến một Miền Nam tự trị trong vòng tay của cuộc thống nhất huy hoàng.

1.3.4 Từ Thức bù nhìn không được giữ cả dưa

Từ Thức bù nhìnđã đánh giá ý định của chính phủ Miền Bắc quá thấp và tự tôn quá mức về tài năng của họ. Đúng như Tạ Chí Đại Trường nhắc đến, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã cho biết toàn cuộc “chủ động tấn công từ Hà Nội” trong Đại thắng mùa xuân, một cuốn quân sử in ấn rất công phu, dầy 324 trang, gồm 4 trang bản đồ màu khổ to, mỗi trang gập làm 4, kèm vào sách. Cuốn này, khổ nhỏ 12 cm1/2 x 18cm1/2, do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân tái bản 130.000 cuốn lần thứ 2 vào tháng 4, 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh (tên mới của Sài gòn). Tạ Chí Đại Trường cũng hết sức chính xác khi đối chiếu sự bùng nổ của thành phần thiên tả trong một xã hội dung thứ mọi thứ nhân quyền. Họ lợi dụng sự tự do ấy để len lách, tựa trăm loại hoa vươn lên từ nhiều kẽ hở của xã hội; thành thử họ sẽ bại liệt trong một chế độ đòi hỏi sự tuân phục hoàn toàn—toàn những cúc vạn thọ– như đã thấy sau 1975:

… Gọi là không có gì mới lạ bởi vì bài học, lí luận vẫn chỉ là cách giải thích cho lí thuyết, biện minh cho chính sách trên các sự kiện ai cũng thấy. Gọi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Chính Phủ Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam là bù nhìn cũng đúng với cái nghĩa một cơ cấu được xếp đặt sẵn tuy thật là khôn ngoan – nhưng cũng không nên phủ nhận sự nồng nhiệt ở nơi những người lãnh đạo, tham gia phong trào. Chính quyền Quốc gia, Cộng hoà trong hoàn cảnh riêng biệt của nước nhà, và các chính quyền tư sản Tây Phương với quan niệm xây dựng chính quyền của họ, đã để trống thật nhiều những cơ hội tung hoành ở cơ cấu hạ tầng xã hội mà những người chống đối tưởng có thể tìm ở đấy ước mơ muốn thoả mãn. Xã hội thành thị giúp họ lòng tăng tiến can đảm. Thế rồi đường dây bí mật dẫn họ ra bưng, bảo vệ họ hoạt động ở đấy đủ là một sự đe doạ vô hình cho sự hèn nhát không kịp thành hình trong khi sự tính toán khôn ngoan đẩy họ tiếp tục theo phong trào. và những người lãnh đạo thực của phong trào đã tìm cách đặt họ đúng chỗ – có xộc xệch chút ít thì những người kém may mắn ráng chịu, gắng phấn đấu để tương lai sẽ đền bù. Họ không là bù nhìn nhưng người ta đã dùng họ như bù nhìn với lời dẫn dụ tự nguyện: “Bù nhìn giữ dưa cũng có ích cho người lắm chứ!”. Khả năng “sinh hoạt” lãnh đạo của họ chỉ vừa đủ trong nhóm, trong vòng thân thuộc quen biết nên ở chính phủ này, mặt trận nọ cũng đủ cho họ thi thố tài năng, công kích đế quốc tay sai, phát biểu ý kiến về đường lối chính sách (tất cả đều dễ vì có sẵn rồi). Còn sự chỉ đạo, tuyên truyền trong ngoài nước, chỉ đạo chiến tranh, kết hợp quần chúng, họ không với tới được cũng chẳng sao. Họ bồng bềnh trong một môi trường có sẵn nâng đỡ, nuôi sống họ, nên đủ thấy gắn với “đất nước” để tự phô trương mà không thấy thắc mắc. Cho nên hết dưa, bù nhìn mất tác dụng, hay đúng hơn mất tác dụng dần dần trong mùa hái dưa. Sau 30-4 còn thấy dáng chính phủ đây đấy với một ít bộ trưởng, thứ trưởng nhưng chỉ có những người ngờ nghệch mới chờ ông Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát về đóng ở dinh Độc lập. Cả một bộ máy tiếp quản không để ai nghi ngờ về thực chất quyền bính nằm ở đâu. Chỉ sau này, như một phản ứng – kín đáo – của kẻ bị cướp công, người ta mới thấy bày tỏ công tác chiến đấu ở địa phương trong hồi kí của tướng Trần Văn Trà, chứ ở quyển Đại thắng mùa xuân, người chỉ huy từ Miền Bắc đưa xuống đã công khai nói đến sự chủ động tấn công từ Hà Nội. Nếu có cần giải thích cho một biểu tượng thì người ta cũng sẵn một lời giải đáp: “Cờ đỏ sao vàng là cờ Tổ quốc, cờ xanh đỏ sao vàng là cờ Mặt trận.” Hay nói như một kẻ nào đấy không biết mình là ngụy khi tìm ra lời giải thích: “Cứ kéo màu đỏ đè xuống màu xanh là ra cờ thiệt chớ còn gì phải hỏi!” Vở kịch cổ điển quá nên hồi kết cục chẳng ai ngạc nhiên. Chỉ người khó tính mới thắc mắc với chữ “hiệp thương thống nhất”, còn thì: “Như mẹ bảo con đưa tiền hai mẹ con ta tiêu chung.”… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 153-154]

Từ Thức-ngụy chợt nhận ra đã đi quá nhanh. Từ Thức-Mặt trận lẽo đẽo nối đuôi. Cùng một đường, nhưng sau lưng là Từ Thức-Miền Bắc đang gắng sức bắt kịp.

1.3.5 Từ Thức-Miền Bắcvề trần Miền Nam Người Bắc trở nên rất già. Như chàng Từ Thức mở cái hộp thần kỉ niệm, tóc lượn làn sóng bạc, da uốn nếp nhăn nheo, lưng còng gối mỏi…

Từ Thức-ngụy già vì bị tước hết một đời xuân trong lúc Từ Thức-Miền Bắc còn lâm vào thế bí hơn. Họ bỗng nhiên bị đẩy vào một thế giới khác với tiện nghi đầy cám dỗ mà một đời hy sinh cho “đánh Mỹ cứu nước”, “đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” hay “còn cái lai quần cũng đánh” chưa hề được thấy hay được hưởng. Còn được… “quần” đã là may, nói chi tới đồng hồ, xe gắn máy:

… Người ta có nhận xét rằng trong mấy mươi năm qua người dân Miền Bắc sống rất trẻ. Bao nhiêu năm chiến tranh họ có vẻ không phải đói. Không phải chỉ vì chế độ ưu việt đã mang lại no ấm cho tất cả mọi người, mà vì có viện trợ các nơi cùng phe dồn lại – không thừa mứa vì bà con cũng còn nghèo, nhưng vừa đủ để người dân đứng khỏi run đầu gối mà chiến đấu. Quá khứ khốn khổ hàng thiên niên kỉ không đòi hỏi nhiều quá sự mong ước ấm no nên chỉ cần một sự tiếp sức nhỏ giọt cũng giúp người ta chịu đựng. Cuộc sống ấy, dân Tây Phương trong sự xa hoa của mình, không tưởng tượng ra nổi. Khi người ta đã quen với điện năng với thành quả thiết thân của nó, người ta không thể nào hiểu tại sao kẻ khác có thể sống với ánh trăng sao, với đèn dầu tù mù. Một cái building bị cúp điện, gây rối loạn thần kinh, gây tai nạn chết người trong khi ở những ngôi nhà tre lá, nhà ngói cũng được, ở thôn quê dân chúng vẫn ung dung hoạt động. Cái bi thống trầm hùng ở đây mà một số người Tây Phương tô vẽ trong quan điểm nhân bản của mình, thật cũng là bình thường để người dân có thề chịu đựng được mà chờ sắp hàng lãnh tiêu chuẩn. Không có thịt cá thì cà mắm tương rau, không có xe cộ thì lết bộ cũng tới – nhà nước lại chẳng cần họ đi xa, đi nhanh vì muốn thấy bóng họ để dễ bề kiểm soát. Họ chẳng cần lo nghĩ nhiều vì cái không với tới được thì nghĩ cũng vô ích, còn chuyện bình thường thì đã có nhà nước lo sẵn rồi. Sự cô lập tạo thêm yếu tố khách quan để khỏi thấy sự phiền tạp của cuộc sống – vô tri bất mộ mà! Quyền bính hờm sẵn về mặt tích cực, và mối lo cơm áo về mặt tiêu cực giúp chận những ý nghĩ rắc rối riêng tư. Quả thật người ta đã sống rất trẻ. Ấy thế rồi chiến thắng mở ra thế giới – không phải thế giới “của chúng ta”. Sài Gòn như là ngoại quốc đối với Hà Nội, một thứ ngoại quốc có cách biệt hàng trăm năm về phía trước dù bộ máy tuyền truyền ra sức phủ nhận. Người Bắc trở nên rất già. Như chàng Từ Thức mở cái hộp thần kỉ niệm, tóc lượn làn sóng bạc, da uốn nếp nhăn nheo, lưng còng gối mỏi... ý thức được không gian vô cùng, ý thức thời gian biền biệt, ý thức cuộc sống quay cuồng. À, thì ra thế giới là thế đó. Cái huênh hoang chiến thắng không đủ che lấp nỗi dằn vặt, chưa kể dằn vặt không xuất hiện kịp vì khối chiến lợi phẩm lù lù đè xuống. Thói quen phục tùng khiến không đủ sức khơi dậy những biến động có ý thức. Nhưng như mối mọt đục ruỗng bên trong, nền tảng chính trị phải sụp đổ: Cái trong sạch của thời Kháng chiến, cái lí tưởng nhiệt thành chung tan biến, người ta lo xây dựng chủ nghĩa xã hội cho riêng mình mặc dù nhà nước, lãnh đạo cố gào thét, kìm cương, cái dây cương không còn hiệu quả vì phải buộc vào hàng trăm hàng nghìn con ngựa tuột mất cái tích che mắt. Chỉ còn lại những quyền lợi ráng chia nhau mà hưởng, còn lại lòng tự ái về quá khứ oanh liệt cố trì níu thời kì lù lù trước mắt! Người trong đã vậy mà người ngoài thì cũng chẳng khác. Giấc mơ nhân bản của họ tan biến sau một chặp thiếp đi ngắn. Có bàng hoàng thì họ kêu khóc về thân phận kiếp người. Thiếp đi nữa thì họ có thể đi vào một giấc mơ nhân bản mới với đối tượng cập thời. Đó là biểu hiện của những người phản chiến cũ, những nhân vật mà còn vì nể nang, hay đúng hơn để khỏi chứng tỏ mình quay quắt, chính quyền “ta” gọi là “những người nhẹ dạ” trước đường lối tuyên truyền của bọn phản động quốc tế… Biện minh là quyền của tất cả, vấn đề là biện minh có tính thuyết phục hay không… [Tạ Chí Đại Trường, “Đi, Về, Vào, Ra”, sđd, trang 272-273]

“Chiến lợi phẩm” không chỉ bằng vào số tiền, vàng khổng lồ trong ngân khố, ngân hàng, trong những thương xá ngập ngụa hàng hóa ngoại quốc và biệt thự, cao ốc cùng xe hơi, máy điều hòa không khí mà chỉ có giới cao cấp mới phân phát cho nhau được, nhưng còn truyền xuống những trại giam Tù Cải tạo một cách bất ngờ với loại sản phẩm thực dụng khác. Người giam tù cũng có thể lợi dụng được số binh khí, quân trang bỏ lại từ sự viện trợ của Hoa Kỳ với sức lao động của người tù:

… “Hòm” của cấp trên làm bằng nhôm, dura. Các bình xăng phụ sáng loáng của phi cơ, vèo cái là hết… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 170]

Hoặc qua sự trao đổi giữa người giữ tù và người tù tại các trại tù. Người giữ tù (quản giáo, vệ binh) ở Miền Bắc chuyển hộ thư từ cho gia đình người tù ở Miền Nam bằng một giá được hai bên đồng ý. Nhờ đó, thân nhân biết rõ người tù cần gì. Đôi khi, họ nhận đổi hộ tiền cũ của người tù mang theo thành tiền mới. Theo thời gian, giới giữ tù cũng nhìn người tù khác đi khi nhận ra sự phú cường của dân Miền Nam là do sức lao động, không phải do Đế quốc đổ tiền vào hay “ăn bám nhân dân”. Bởi thế, theo tôi, sự hàn gắn giữa dân chúng hai miền đã bắt đầu ngay tại các trại tù này, từ ngay hồi những năm cuối 1970.

1.3.6 Chính sách “cái bụng”…

Ông phân tích về một chính sách sử dụng nhu cầu sống còn nhắm triệt tiêu giai cấp tiểu tư sản–giai cấp đông đảo có tiềm năng chống lại họ mạnh mẽ– và giữ mọi giai cấp khác tại mức chỉ có thể tồn tại hầu không còn thừa năng lượng mưu cầu những thứ xa xỉ khác, nhất là thứ xa xỉ làm cách mạng chống lại nhà nước:

… Chính sách “cái bụng” kể cũng hay, và chẳng ai thực hiện có căn bản chừng mực như chính quyền này – tầm mức xã hội lại vừa với khả năng cai trị của họ. Mọi người tuôn ra đường kiếm ăn không kịp suy nghĩ gì khác dù là để than vãn. Người công nhân viên chức chờ chực nhu yếu phẩm, đúng là phần nhu yếu để không dám có ý nghĩ lệch lạc khiến phải mất đi. Đám trí thức cấp cao cũng được tập tành sống trong sự ràng buộc đó từ lúc còn là sinh viên với khoản lương nhỏ sống hàng tháng. Số ít người được ưu thế thì tuy ưu thế thật quá nhỏ so với các nước khác nhưng thật quá, quá to đối với người thường chung quanh nên cũng nơm nớp sợ mất. Ấy thế mà chính sách cũng khôn ngoan không để người dân phải đói – số đó thật quá ít để khỏi phải lưu tâm sợ gây nên biến động, nhất là trong tình trạng có sự ràng buộc kiểm soát chính trị chặt chẽ không để hở cho một lực lượng chống đối nào. Những cuộc chống đối có hệ thống còn để lại trong lịch sử không phải của những người cùng đinh xơ xác mà là của những người sống trong một hoàn cảnh còn đủ ý thức nhận định riêng. Những người này còn đủ ăn nhưng ở mức bấp bênh để lo sợ suy sụp hơn nữa, và đủ ăn để còn mong muốn, hi vọng có khả năng vượt qua tương lai đen tối, có đủ ăn riêng biệt để không bám vào ơn huệ của chính quyền mà còn đặt nhà cầm quyền vào vị thế đối lập để trút căm hờn vào chính quyền như là tác nhân của sự khốn cùng của chính họ. Hãy xem những người Xô viết Nghệ Tĩnh gây biến động năm 1930 vốn là những người đủ ăn, thuộc khu vực giàu có tương đối trong vùng trong khi những vùng khác, cằn cỗi, nghèo nàn thì im lìm thụ động… Sự truy bức những người giàu có lan xuống đến tầng lớp trung nông, được mệnh danh là “cải tạo tư sản”, và những lời nhắc nhở trông chừng tư sản ngóc đầu dậy là phương tiện kiến hiệu áp dụng chủ thuyết để phục vụ chính sách cái bụng, bảo đảm an ninh chính trị, củng cố quyền lực của Đảng…[Tạ Chí Đại Trường. Đường về Long Khánh, sđd, trang 214-216]

Cai trị người dân bằng “bao tử” –ở đây thì không còn bá nhân bá bao tử vì bao tử cũng đồng nhất do chính phủ ban phát—kèm theo một sự thuần hóa cán bộ bằng bàn tay sắt không bọc nhung khiến bộ máy hành chánh và quân lực chạy đều. Ở đây, ông cho rằng sự thuần hóa đến nỗi phi lý này xẩy ra được vì nhiều thế hệ cán bộ lớn nhỏ đều bị giáo dục và tiếp tục bị giáo dục từ chủ đích chính trị kèm bạo lực:

– … Có những cái giả thật trơ tráo nhưng không phải được nghe nói y như thật mà chính là sự thật qua công trình uốn nắn giáo dục lâu dài. Chúng tôi hiểu rõ được điều đó qua một nhân vật trẻ tuổi dược cử làm phụ tá quản giáo đội chúng tôi, anh P. có lúc đã vỗ ngực xưng “từng học Đại học” để chứng minh thêm cho cái dáng nhanh nhẹn, cái lối ăn nói lưu loát của anh. Trong một buổi tham dự thảo luận tổ, anh đã góp ý kiến nhận xét phê bình với chi tiết về tinh thần tham gia học tập của chúng tôi, về những ưu khuyết điểm của cuộc thảo luận, đọc từ quyển sổ anh rút trong túi ra, không biết đã được hí hoáy ghi chép vào lúc nào. Trong buổi chúng tôi cắn bút làm tờ khai, anh cũng bước vào, giật lấy một bản nháp nhìn qua rồi góp ý: “Này, anh nói thế này thì ai tin? Đến ngày đến tháng thì lên thiếu uý, đến ngày đến tháng thì lên trung uý, ai mà tin cho được? Anh giấu làm gì? Anh đã hiếp dâm bao nhiêu lần để lên đại uý?” Tội nghiệp cho anh chàng bác sĩ lai Đức, con một cựu tổng trưởng, thừa tiền ăn chơi, thừa dáng sắc và giáo dục để hấp dẫn người mà cũng đủ nhút nhát để sợ đàn bà con gái la lên! Câu chuyện đó được bàn tán sôi nổi vào buổi chiều, và người ta biết thêm không phải chỉ có một trường hợp bị vạch mặt như thế. Bực tức và khinh miệt. Làm sao giải thích được rằng một xã hội đầy dẫy đĩ điếm như lời tố cáo mà lại không giải toả được những ham muốn nhục thể? Nếu còn có phần không kềm được thì những hành động bạo lực sao không bị trừng trị bởi một xã hội dù sao cũng phải có kỉ cương để sống còn – cũng theo lời tố cáo, là sống còn cho giai cấp nắm quyền? Lí trí bình thường, cái thứ lương tri đó, đã bị đàn áp như thế nào để không gượng nổi trước những lời tuyên truyền tinh vi, một thứ giáo dục quần chúng chỉ cần đạt mục đích chính trị? Mức độ tham gia sự phóng đại của anh chàng bộ đội tốt nghiệp phổ thông này, chắc là bắt nguồn theo đà chiến thắng nâng cao, nhưng giáo dục lâu dài hẳn phải cấu thành căn bản vững chắc cho suy nghĩ của anh… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 114-115]

Thế nên, không lạ gì khi đoàn xe tăng Miền Bắc tiến vào Sài gòn, họ không cần che giấu chi hết:

– … Một nhà nước muốn mang danh nghĩa chính thống thì phải biết kềm hãm cái đà sắt máu mình đã khuyến khích vì nhu cầu cướp chính quyền – câu chuyện đã xảy ra từ sau tháng 8-1945, chưa phải đợi tới Tây, Mĩ. Phải kềm hãm được một chừng mực nào đó để chứng tỏ mình làm chủ được tình hình, tức là có thực quyền. Lúc này, khi đã có tiếng la hét “tắm máu” thì phải chứng tỏ chúng toàn đồ láo khoét, phải chứng tỏ chúng đã thất bại ngay cả sau chiến tranh. (Có một tên nguỵ nói: “Không có tắm máu chỉ vì có tiếng la tắm máu rồi. Vả lại cứ giết đi thì làm sao sống yên với 24 triệu người còn lại!”) Nói như thế chứ cái đà hăng say chiến thắng đã khiến người ta không thể có một tầm nhìn xa rộng hơn. Mãi sau này, mỗi khi kỉ niệm ngày 30-4, người ta vẫn cứ hãnh diện nhắc chuyện người sĩ quan vào Dinh Độc lập nói với tướng Dương Văn Minh: “Không bàn giao gì hết, các anh thua trận, bây giờ là tù binh!” Chúng ta có thể thấy cái ngớ ngẩn của mấy ông Tối cao Pháp viện thắt cà-la-oách ngồi, cứ tưởng để chứng kiến thi hành một thủ tục pháp lí mà không hiểu tính chất cuộc chiến của những người phủ nhận cái pháp lí được coi là riêng của kẻ thù bị thất bại, và chỉ xử sự như là kẻ chiến thắng mà thôi. Lời nói vớt vát của một lãnh tụ: “Chỉ có đế quốc thất bại, còn dân Việt là người chiến thắng” nồng nàn tình cảm dân tộc đậm đà như thế, lại chỉ có ý nghĩa với tiền đề “phe ta” là cả dân tộc, không tranh cãi. Một nền độc lập ghép với một chính kiến được theo đuổi với nhiệt tình – quá nhiều nhiệt tình, rốt lại đòi hỏi sự nô lệ của người trong nước! Nỗi đau nhục còn dài lâu… [Tạ Chí Đại Trường, Đường về Long Khánh, sđd, trang 138-139]

“Nỗi đau nhục” trước hết là hai lối sống, hai lối suy nghĩ hoàn toàn khác nhau giữa 2 miền khiến người giam tù không chỉ sỉ mạ người tù vô cớ mà còn sử dụng bạo lực cũng vô cớ vì lối giáo dục bất chấp sự thật cần đến bạo lực mới tồn tại được.

Xuân Nháy – Một đời xâm nhập

dongsongcu.wordpress.com

Phạm Sơn Liêm.

Posted on June 5, 2026 by dongsongcu

Trích đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Post by Sơn râu 7 Jun 2026

Có những người lính, nhắc tên lên là cả một bầu trời kỷ niệm hiện về…

Không phải vì họ nói hay.

Không phải vì họ thích kể công.

Mà vì sau lưng họ là quá nhiều lần đi mà không biết có ngày trở về.

Lê Thanh Xuân… anh em gọi thân thương là “Xuân nháy”, là một người như thế.

Một đời lính âm thầm đi giữa lằn ranh sống chết, công tác Bắc Bộ, từ rừng sâu Hạ Lào, Campuchia cho tới tận đường mòn Hồ Chí Minh… để hôm nay, những thằng lính sữa như tụi tôi còn được ngồi nghe lại chuyện đời binh lửa qua giọng kể bình thản của anh.

Tôi viết, không phải để thần tượng hóa một con người.

Mà để nhắc nhau nhớ rằng… đã từng có những người lính sống rất thật, rất gan lì, rất khiêm nhường giữa một thời máu lửa.

Và “Xuân nháy”… là một trong những người như thế.

LÊ THANH XUÂN, “XUÂN NHÁY”

Một cái tên mà anh em Đoàn 11 nhắc hoài không chán…

Nhiều người hỏi:

“Tại sao bài viết nào cũng thấy nhắc tới anh Xuân nháy vậy?”

Xin thưa… anh là tự điển sống , của một phần nha kỹ thuật, vì đời lính của anh quá dữ dội, quá nhiều chuyện để kể.

Một đời lính thật sự. Một đời sống giữa ranh giới sống chết.

Anh Lê Thanh Xuân, anh em gọi thân thương là “Xuân nháy”, gia nhập Đoàn 11 từ năm 1965… rồi đi cho tới ngày “đứt phim”.

Cả cuộc đời lính của anh gần như chỉ có hai chữ:

“XÂM NHẬP.”

Bắc Việt có mặt anh.

Hạ Lào có dấu chân anh.

Campuchia có bóng anh.

Đường mòn Hồ Chí Minh, dọc biên giới, vùng tam biên… nơi nào hiểm độc nhất, nơi đó thường có Xuân nháy.

Đi công tác riết thành huyền thoại.

Nhưng điều anh em quý anh nhất… không phải vì thành tích, mà là cái khí chất rất lạ của anh.

Sống sót qua biết bao trận đụng độ, bao lần trực thăng bốc nóng, bao lần rượt chạy giữa mưa đạn… vậy mà chưa bao giờ thấy anh khoe khoang hay tự nhận mình giỏi.

Ai hỏi bí quyết sống còn… anh chỉ cười nhẹ:

“Tao nhờ ơn trên thôi mày…”

Nghe đơn giản vậy thôi… mà lạnh sống lưng.

Vì tụi tôi hiểu… những người từng đi công tác thật sự, mới hiểu mạng người nhỏ cỡ nào giữa rừng già và họng súng.

Anh Xuân nháy giàu kinh nghiệm lắm. Nhìn dấu rừng là biết có phục kích.

Nghe tiếng động là đoán được hướng địch.

Đêm ngủ, mắt thì nhắm, tai vẫn mở.

Máu lính trong người anh chắc chưa bao giờ nguội.

Mà lạ một điều… càng dữ dội bao nhiêu, anh càng hiền bấy nhiêu.

Tụi tôi là lính sữa, hân hạnh được cùng đơn vị với anh.

Lại may mắn sống gần anh hôm nay… nên mới có dịp ngồi “bà tám”, nghe anh kể chuyện đời các chuyến xâm nhập năm xưa.

Mỗi câu chuyện của anh không phải để khoe chiến công… mà là những mảnh đời còn sót lại sau chiến tranh.

Có những lần nghe anh kể… cả bàn cà phê im re. Không ai chen vô nổi.

Bởi có những người lính…

không cần quân phục nữa vẫn làm người khác đứng nghiêm khi nhắc tới tên mình.

Lê Thanh Xuân.

“Xuân nháy.”

Một bóng già Đoàn 11…

nhưng với anh em, cái tên đó chưa bao giờ cũ.

Phạm Sơn Liêm.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 7 Jun 2026

Đến trưa lại có một trận dội bom. Buổi sáng trời đã u ám oi ả như sắp có cơn giông. Mây thấp lắm, ánh sáng bom nổ chiếu lên từng thác lửa từ mặt đất đổ lên rồi dội trở xuống. Giờ nghỉ buổi trưa làm phố xá đầy ắp người. Một người trưởng xóm bảo Grabe phải xuống hầm núp gần đấy. Graber nghe lời, y tưởng rằng chỉ có còi báo động lấy lệ, nhưng khi bom bắt đầu nổ, y định chen qua đám đông về phía cửa hầm. Cửa mở để vài người ăn mặc dân sự đi xuống, y thừa dịp lẻn ra ngoài.

– Vào ngay! Không ai được ở ngoài, trừ trưởng xóm.

– Tôi là trưởng xóm.

Y chạy vội về phía xưởng may. Không chắc có thể tìm thấy Elisabeth nhưng y cũng ráng đưa nàng đi chỗ khác vì xưởng là mục tiêu thường lệ của trận bom.

Y rẽ sang phố khác. Đầu phố, một căn nhà bay bổng lên không trung, phân ra từng khối, rồi lại phân tán nhỏ ra, sau cùng xoay tròn mà rơi xuống rất ngoạn mục; tiếng bom nổ liên tiếp làm cho người ta có cảm tưởng rằng căn nhà rớt xuống không có tiếng kêu. Y nằm rạp xuống cống, hai tay bịt chặt lấy tai. Một tiếng nổ thứ hai có gió làm như một bàn tay khổng lồ nhấc bổng người lên quẳng xa mấy thước về sau. Chung quanh mình đá tảng rớt như mưa. Giữa những tiếng nổ kinh khủng hình như đá rớt không tiếng kêu. Y đứng dậy ráng sức cựa mình cho khỏi hoa mắt. Dãy phố trước mặt là một rừng lửa. Không thể đi được; y quay trở lại.

Nhiều người chạy lại gần y, mặt mày hớt hải, miệng la hét. Y không nghe thấy tiếng la. Họ đi bên y như những người câm điếc đang lên cơn điên khùng. Người cuối cùng lê cái chân gỗ đi chậm chạp, tay còn cắp cái đồng hồ treo. Một con chó chạy theo sau, cụp lại, quắp đuôi vào giữa hai cẳng sau. Một đứa con gái độ năm tuổi ẵm đứa bé đứng đợi dưới một cái cổng. Graber dừng lại:

– Đến hầm núp kia! Ba má đâu, đứng đây làm gì?

Con bé không đưa mắt nhìn lên, nó đứng nép chặt vào tường, sợ hãi đến tê liệt cả người. Bấy giờ y chợt thấy một người trưởng xóm bảo y cái gì đó nhưng không nghe được. Y cũng la lớn đáp lại nhưng không ai thấy gì cả. Người trưởng xóm lại mở miệng, vung hai tay lên. Graber không nghe, lấy tay chỉ hai đức bé. Hai người như đóng kịch câm. Người trưởng xóm đã đến giơ tay dắt đứa bé. Bấy giờ y mới thấy mình cất được gánh nặng có thể nhảy từng bước lớn qua dãy phố. Chỉ vài giây sau có một bàn tay vô hình đẩy y ngã giúi xuống đường. Một cái tủ đứng, hai cánh mở tung lượn qua đầu y như một con chim tiền sử. Ngay trước mặt y vừa mở ra một ngọn núi lửa trùm lên cái cổng, đổi ra màu trắng bạc, hơi nóng rát mặt, thấu vào phổi. Y vòng tay che lấy mặt, nhịn thở rất lâu, cho đến lúc mình muốn bể tung mới thở lại và ngẩng mặt lên. Một bức ảnh mờ mờ, nhảy múa loạn xạ trước hai mắt đầm đìa nước mắt; dần dần cảnh vật hiện rõ: một bức tường đổ xuống thềm nhà. Đứa con gái nằm sóng sượt, hai tay bắt tréo, chiếc váy ngắn hất lên để lộ hai đùi khẳng khiu, một chiếc gióng sắt đâm ngang mình – xa xa một chút, người trưởng xóm mất hẳn đầu, người nát bấy, khớp xương hình như xoay ngược lại, hai chân quặp vào vai. Đứa trẻ sơ sinh biến mất, chắc là bị hơi nổ cuốn đi; bây giờ có một luồng hơi đi ngược trở lại làm chuyển động ngược chiều trước. Graber nghe có tiếng nói:

– Quân khốn nạn! Quân khốn nạn!

Y ngửa lên nhìn quanh thì ra chính là tiếng nói của mình.

Y chạy miết theo dãy phố, và không biết tại sao y thấy mình ở gần xưởng may. Xưởng may gần như không sao cả chỉ có cháy bên phải lủng một lỗ lớn, còn những nhà khác vẫn nguyên vẹn.

Người canh cửa cản lại.

– Vợ tôi ở trong ấy, cho tôi vào.

– Không được. Hầm núp ở ngay kia, hầm của xưởng không để cho người ngoài vào.

– Trời ơi! Ở đây cái gì cũng cấm hết! Nếu anh không để cho tôi vào thì liệu hồn.

Anh gác đưa tay chỉ một cái lô-cốt thấp ngay lối vào xưởng:

– Trong ấy có hai người canh với một khẩu liên thanh. Bây giờ anh thử làm gì xem. Đồ ngu!

Không cần nói thêm gì nữa. Y hiểu rằng khẩu liên thanh lia quanh chỗ này không trừ một chỗ nào.

– Súng liên thanh, rồi còn gì nữa? Trong này là đàn bà may áo lính hay là tội nhân mà phải cẩn mật thế?

– Anh ngu thật! – Anh ta ra vẻ khinh bỉ – Nào chỉ có may áo lính mà thôi đâu; còn cả hàng trăm tội phạm chính trị làm ở dưới hầm. Anh đã hiểu chưa?

– Hiểu rồi. Hầm ở đây tốt không?

– Dĩ nhiên hầm tốt. Người ta cần bảo vệ người làm. Thôi đi đi. Không ai được đến gần xưởng may. Anh còn lảng vảng ở đây người ta nghi phá hoại thì chết mất xác!

Những tiếng nổ lớn đã chấm dứt nhưng súng phòng không vẫn nổ ầm ĩ. Graber đi theo dọc tường xưởng may, tránh ra xa. Y không muốn vào hầm núp và đến ngồi xổm trên một hố bom còn bốc khói ở phía bên trái. Mùi hôi hắc làm y nghẹn cổ, y bèn trở ra nằm lên trên chỗ đất bom đào lên, mắt quay lại nhìn về phía xưởng. Chiến tranh ở đây có bộ mặt khác hẳn! Ở mặt trận, ai nấy lo cho tính mệnh mình, ít khi có anh em ruột trong cùng một đơn vị. Ở đây mỗi người lại lo cho người thân trong gia đình. Chiến tranh được nhân với hai, với ba, với mười – Y nghĩ xác đứa con gái nhỏ bị xúc phạm vì bom nổ, y nghĩ đến cha mẹ, đến vợ mới cưới và thấy căm thù xoắn lấy ruột như cơn đau bụng. Đó là mối căm thù không ngừng lại ở biên giới xứ mình nữa, một mối căm thù không còn kiêng nể gì công bằng đạo đức và không nghĩ đến sự giao hảo trở lại với lân bang.

Trời bắt đầu mưa xuống. Hạt mưa như từng giọt nước mắt rớt mau trong bầu không khí ngột ngạt hơi độc. Rớt xuống mặt đất giọt nước xòe ra thành từng chấm thấm xung quanh tua tủa gai nhọn. Bấy giờ là lúc oanh tạc cơ bay đến.

Y có cảm tưởng như phổi mình rách tung. Tiếng gầm nổi lên, trở thành một tiếng rít như tiếng kim khí, chái bên trái xưởng may cất bổng lên không, tan thành từng mảnh đen trong một vùng lửa đỏ. Dường như có một người khổng lồ chơi tinh nghịch, ném đồ chơi của hắn từ trong lỗ đất của hắn ra.

Graber há hốc miệng nhìn lửa trắng xanh bốc lên trời.

Y nhảy chồm lên chạy đến cửa xưởng.

– Trời lại làm chi đây, con khỉ? Không thấy xưởng trúng bom rồi à?

– Vì thế nên tôi trở lại. Chỗ nào bị trúng bom thế, chỗ vá đồ chăng?

– Vá đồ! Nói càn, vá đồ ở xa cơ.

– Thật hả? Vợ tôi…

– Câm mồm. Đàn bà ở cả dưới hầm. Để yên cho người ta làm việc. Có cả chục người chết và bị thương phải mang ra bây giờ.

– Đã ở hầm sao còn bị thương.

– Đây là những người khác, người ở trại tập trung. Anh không biết gì cả. Người ta không đưa họ xuống hầm. Anh tưởng rằng họ có hố cá nhân hả?

– Không.

– À! Anh bắt đầu hiểu rồi đó. Nhưng không sao. Đi lính đã lâu như anh thì phải bình tĩnh một chút chứ. Thôi có vẻ êm rồi. Ngày hôm nay chắc chỉ có thế thôi.

Graber lắng tai nghe. Chỉ còn tiếng súng phòng không.

Y hỏi:

– Này anh, tôi chỉ hỏi anh có một điều, có ai bị thương trong số những thợ đàn bà ở xưởng may quần áo này không? Cho tôi đi một chút. Anh cũng có vợ mà.

– Có vợ! Anh làm như tôi không lo cho vợ tôi đến mất mật à?

– Thế thì vào hỏi giúp tôi. Nếu anh giúp tôi chắc vợ anh cũng không sao đâu.

Anh ta chỉ cười gằn lắc đầu:

– Anh thật là!… Anh là người điên hay là ông trời?

Anh ta đi vào, một lát sau trở ra.

– Gọi dây nói hỏi rồi. Xưởng may không bị. Chỉ có mấy anh trại tập trung ăn bom thôi. Thôi nhé, mời ông đi cho khuất mắt.. À này anh lấy vợ từ bao giờ?

– Được năm ngày rồi.

– Sao anh không nói ngay, tôi sẽ hiểu!

Graber nghĩ thầm: “Mình muốn có cái gì ràng buộc mình ở lại đây, không ngờ rằng chính sự ràng buộc ấy làm cho mình dễ bị ảnh hưởng khốc hại hơn”.

***

Trận bom thế là hết. Trong tỉnh, chỉ còn là khói lửa và chết chóc. Có đến hàng ngàn đám cháy. Đủ các màu lửa: đỏ, xanh, vàng, trắng, có những đám cháy chỉ bò sát trên mặt đám gạch vụn, đám khác lẳng lặng bốc lên thành từng cột; có những ngọn lửa vui mừng liếm quanh mấy cái cửa sổ còn nguyên vẹn, có những ngọn lửa rụt rè sờ soạng tìm từ cửa nọ sang cửa kia, nhưng có những cái cửa sổ khạc ra từng đống lửa đỏ rực hung dữ lạ thường. Lửa vừa la hét, vừa ở trong nhà xô ra, chạy từng vòng tròn, xoắn xít lại với tiếng rít mỗi lúc mỗi thêm mạnh, nhảy lồng lên rồi mới tắt ngúm tỏa ra mùi thịt đốt thành than tanh lộn mửa.

Một người đứng gần Graber nói :

– Những bó đuốc người. Không thể cứu được. Họ có thể cháy vì bom phun ra một chất tẩm cho da thịt xương họ rất đượm lửa.

– Tại sao không thể dập tắt được?

– Phải có một vòi thán khí riêng cho mỗi người mà chưa chắc đã đủ.

– Thế thì tốt hơn hết là bắn cho họ một viên đạn, nếu không thể cứu họ được.

– Anh cứ thử mà bắn coi để mà mang tội giết người! Vả chăng họ cứ chạy lồng lên, vì có gió nên họ hóa ra bó đuốc. Tại gió, anh hiểu không?

Graber nhìn người ấy. Dưới cái mũ, hai mắt sâu như hai lỗ đáo đen, miệng thiếu mấy cái răng.

– Vậy thì họ phải đứng yên à?

– Cứ theo lý thuyết thì như vậy. Đừng giẫy giụa, tìm chăn mền trùm lên người. Nhưng làm thế nào có chăn mền? Vả chăng bị cháy bỏng thì ai mà đứng yên được?

– Khó thật… Anh là lính chữa lửa hay trưởng xóm?

– Không. Tôi chỉ đi nhặt xác chết và người bị thương. À xe đã đến rồi, sớm quá!

Graber thấy một cỗ xe ngựa kéo tiến lại.

– Đứng lại! Không thể đi xa hơn được nữa. Để khiêng cả lại đây. Có cáng không?

– Có hai cái.

Graber đi theo hai người. Người chết nằm sau một bức tường. Y nghĩ thầm: “Y như ở lò heo vậy”. Không, không được như lò heo, ở lò heo người ta còn làm việc theo thể thức rõ rệt con heo được mổ ra, cạo lông và chọc tiết. Nhưng ở đây người ta bị đè bẹp, nát thây, hay đốt thành than. Từng mảnh áo còn dán chặt vào thịt, một tay áo len, một cái váy vải hoa, một ống quần nỉ, một bộ nịt ngực dây kim khí còn quấn chặt lấy hai vú đen thui và máu me. Xác trẻ con chất thành một đống, chúng bị chết một loạt vì hầm lún. Có những bàn tay, bàn chân đứt riêng ra, những cái sọ bóp nát, những cái cẳng long khớp, lẫn lộn vào đấy còn có cả đồ vật, một cái cặp sách học trò, một cái giỏ trong đó có xác con mèo cong queo. Xác một đứa con trai trắng như bạch tạng, trông không thấy thương tích gì rõ rệt, y như vớt ở âm ti lên đợi bà mụ truyền cho hơi sống. Xa xa, một xác chết bị cháy qua loa nhưng cháy đều, trừ chân phải đỏ lửng và phồng lên, không thể biết đàn ông hay đàn bà vì lửa cháy hết ngực và hạ nang. Một cái nhẫn vàng ở ngón tay cong queo ném ra tia sáng rực rỡ.

Có người nói:

– Mắt cũng cháy. Ai có ngờ mắt cũng cháy.

Xác chết được chất đống lên xe.

“Linda Linda”. Một người đàn bà vừa đi theo cáng vừa khóc thảm thiết.

Mặt trời chọc thủng mây đen. Phố xá đầm nước mưa sáng loáng. Cây cối còn nguyên lành rung rinh những chòm lá xanh mơn mởn sau cơn mưa rào.

– Không có xá tội gì cả.

Một người đứng gần Graber nói vậy.

Y quay lại thấy một người đàn bà đội mũ đỏ rất chải chuốt đang cúi xuống với mấy đứa con.

– Không bao giờ có xá tội, dù ở kiếp này hay kiếp khác.

Một toán người đi tuần qua la om sòm:

– Các ông các bà đi giùm, cấm tụ tập ở đây!

Graber bỏ đi: “Tại sao lại không có xá tội?” Y tự hỏi. Sau trận chiến tranh có biết bao nhiêu cái không thể tha thứ được, nhưng người ta cũng phải tha thứ. Một đời người không đủ. Còn biết bao nhiêu người, bao nhiêu trẻ con bị giết ở Pháp, Hòa Lan, Ba Lan, I Pha Nho, Phi châu, Nga, đứa trẻ nào cũng có cha mẹ thương xót, chứ không phải chỉ có ở nước Đức mà thôi (nếu cha mẹ chưa bị mật vụ thủ tiêu). Nhưng tại sao y lại có quyền nghĩ vô tư như vậy? Một giờ trước đây có phải chính mình đã ngửa mặt lên trời nhìn phi cơ kéo đến mà mắng người ta là quân khốn nạn không?

***

Nhà Elisabeth không bị bom trực tiếp, nhưng một trái bom lửa đã rớt trúng một căn nhà cách xa một chút, lửa bị gió thổi lại có thể làm cháy nóc.

Lão trưởng xóm ngồi vỉa hè nhìn đám cháy.

– Sao không tìm cách dập tắt ngọn lửa?

Lão ta chỉ về phía tỉnh:

– Chẳng thấy ai thử dập tắt đám lửa cả.

– Không có nước à?

– Có nước nhưng vòi yếu quá, chảy nhỏ giọt, vả chăng không thể đến gần được. Mái nhà sụp xuống đến nơi rồi.

Ngoài hè ngổn ngang đủ thứ, ghế, va-li, họa phẩm, gói, bọc. Có cả con mèo với cái lồng chim. Từ cửa sổ lầu nhất nhiều người mặt vã mồ hôi đang ném hết gói nọ đến gói kia xuống đường.

Graber hỏi:

– Suốt căn nhà có thể cháy được không?

– Có thể lắm nếu lính cứu hỏa không tới ngay. May mà trời ít gió. Chúng tôi đã đóng hết cửa và mở vòi nước cho chảy. Bây giờ không biết làm gì nữa. Xì gà ông hứa đâu? Lúc này nên hút một điếu.

– Ngày mai. Chắc chắn.

Y đưa mắt tìm cửa sổ nhà Elisabeth. Căn phòng không bị đe dọa trực tiếp, còn nhiều từng lầu trên mới đến nóc. Nhưng nóc đã bắt đầu bốc khói, cửa sổ bên cạnh bóng mụ Lieser qua lại lãng xăng. Mụ ta đang gói một bọc lớn, chắc là chăn mền. Trong bóng tối mờ nom mụ như một con ma mập ú.

– Mình cũng phải thu xếp vài gói đồ mới được.

Một người đeo kính đụng phải Graber ở cầu thang, ông ta như sụm xương vì mang một gói lớn quá.

– Xin lỗi.

Y nói lễ phép rồi đi không nhìn mặt người hàng xóm.

Cửa nhà mở. Ngoài hành lang đầy những gói với bọc. Mụ Lieser tất tả chạy qua nhanh như luồng gió, răng nghiến chặt, mắt mũi nhếch nhác. Graber vào phòng Elisabeth và đóng cửa lại.

Y ngả người xuống chiếc ghế bành và đưa mắt nhìn quanh. Trong nhà im lặng và bình ổn một cách kỳ dị. Y ngồi một lúc lâu, đầu rỗng không, không nghĩ ngợi gì cả. Rồi y bắt đầu đi kiếm va-li. Dưới gầm giường có hai cái. Y tự hỏi không biết mang cái gì đây.

Y bắt đầu chọn mấy cái áo dài có vẻ thường dùng, rồi mở tủ lấy chăn mền, bít tất, nhét một xấp thư vào giữa đôi giày. Bên ngoài tiếng gọi nhau ấm đi. Y nhìn ra cửa. Không phải lính cứu hỏa, chỉ có dân cư trong phố chở đồ đạc đi. Một người đàn bà mặc chiếc áo lông thú ngồi trong một chiếc ghế bành nhung đỏ để trên vỉa hè, tay giữ một két tiền đặt trên đầu gối. Chắc là nữ trang. Y tìm các ngăn kéo xem có nữ trang của Elisabeth, nhưng chỉ thấy một cái vòng vàng nhỏ và một cái trâm nạm ngọc. Ngập ngừng một chút, sau y quyết định mang cả chiếc áo Elisabeth mặc hôm đi ăn ở lữ quán Germania. Y cảm thấy xúc động khi sờ tư trang của Elisabeth, hơi e lệ như mình xúc phạm bí mật của người yêu.

Y để hết đồ đạc vào một cái va-li thứ hai của cha vợ và khóa lại, rồi ngồi xuống ghế đợi. Y lại thấy căn phòng bình ổn lạ thường. Có lẽ nên mang theo cả chăn mền thì hơn. Y bèn cuốn hết chăn mền vào một tấm khăn phủ lớn như đã thấy mụ Lieser làm. Khi đẩy gói đồ ra cửa y mới trông thấy ba lô của mình bỏ quên sau giường nằm. Y nhấc bị lên, cái mũ rớt xuống sàn với tiếng kêu mềm nhũn. Y nhìn cái mũ như một vật lạ lùng khó hiểu rồi lấy chân hất vào đống đồ đạc.

***

Nhà cửa dần dần sụp đổ trong đống lửa. Lính cứu hỏa vẫn chưa đến. Có lẽ họ mắc ở nơi khác. Xưởng may có vẻ quan trọng hơn biệt thự lẻ loi này. Vả chăng suốt khu phố đang bị cháy.

Ai có gì mang được đã mang ra ngoài hết. Họ tự hỏi không biết bây giờ làm thế nào? Không có cách nào chở đi mà cũng không có chỗ trú. Cách căn nhà cháy vài thước phố bị chặn rồi. Từ ấy đến đây, hè và đường đẩy nghẹt bàn ghế và đồ đạc. Người ta ngồi vào ghế quay mặt nhìn nhà mình như ngồi xem hát. Một gia đình ngồi quây quần lại xung quanh cái bàn xếp như đợi người ta dọn ăn. Những người khác chiếm lấy một góc hè, thấy ai cũng níu lại phân bua. Người trưởng xóm lăn ra ngủ trên một cái ghế thêu. Bức ảnh Quốc trưởng lớn của mụ Lieser để tựa vào góc tường. Mụ ngồi vào một chiếc đi-văng bế con vào lòng.

Graber lôi trong phòng Elisabeth ra một cái ghế bành bèn ngồi xuống nghỉ mệt, xung quanh để đồ đạc đã chạy được. Y đã thử tìm cách tạm trú vào một ngôi nhà còn nguyên vẹn ở gần. Nhưng bấm chuông hai lần không thấy ai ra tuy trông qua cửa sổ thấy lấp ló bóng người. Hỏi nhiều nhà khác họ trả lời rằng đã có người đến trước rồi. Đến sau một người đàn bà kêu lên:

– Nếu ông thấy ở đây yên ổn ông có ở mãi không?

Nghe nói vậy y không muốn nhờ nữa. Khi trở về soát gói đồ đạc thì thấy mất gói thực phẩm của Elisabeth, đến sau y nhận thấy gia đình ngồi quanh cái bàn bếp đang ăn cái gì có vẻ kín đáo và vội vã.

Nhưng có lẽ thức ăn của họ không muốn chia cho láng giềng.

Thình lình y trông thấy Elisabeth. Nàng trèo qua rào cản mà vào, nàng đứng nhìn ngọn lửa cháy chập chờn. Graber đứng phắt dậy.

– Elisabeth! Anh ở chỗ này

Nàng quay lại nhưng không trông thấy ngay. Trong chỗ ấy nom nàng chỉ thấy một cái bóng đen thui, ngọn lửa chập chờn hiện ra sau mớ tóc rủ như qua bức mành.

Y gọi lần nữa và lấy tay ra hiệu.

Nàng chạy lại.

– Trời ơi! Anh!

Họ ngả vào tay nhau.

– Không thể đến xưởng kiếm em được, anh phải ở lại đây coi đồ.

– Em tưởng đã xảy ra chuyện chẳng lành cho anh.

– Tại sao lại xảy ra cái gì được?

Y ngạc nhiên mà hỏi.

Nàng nép vào ngực chàng thở mạnh.

– Ừ mà thế thật, anh không phải là cái gì bất khả xâm phạm! Anh chỉ nghĩ đến em trong lúc bom dội.

Nàng ngước mắt lên.

– Ở đây làm sao vậy?

– Nhà cháy nóc. Em ngồi đây mà nghỉ.

Nàng vẫn chưa hết thở hổn hển. Y trông thấy ở rìa đường một thùng nước và cái chén để cạnh. Y chạy đến rót đầy chén đưa cho nàng.

Một người đàn bà la lên:

– Này, nước của tôi đó.

Một đứa trẻ độ mười hai tuổi, mặt đầy tàn nhang đỏ tru tréo:

– Chén của tôi!

– Uống đi, mặc kệ họ.

Graber bảo nàng rồi quay lại bảo những người kia:

– Khí trời cũng của các người nữa đấy hẳn?

Nàng bảo:

– Đưa trả họ nước và chén, hay là úp thùng lên đầu họ thì hơn.

Graber vẫn để ly nước gần môi Elisabeth:

– Không, em cứ uống đi. Em đã chạy nhiều phải không?

– Chạy không nghỉ.

Graber trở lại thùng nước. Người đàn bà lên tiếng trách Graber thuộc gia đình ngồi xung quanh bàn xếp. Y lại rót chén nữa, uống một hơi hết rồi để trả lại gần thùng nước. Không ai dám cự nự. Nhưng khi y đã để trả chén thì đứa con trai vội vã cầm lấy để vào bàn nhà. Người trưởng xóm mở mắt ra:

– Quân khốn nạn!

Ông ta nói rồi thì ngủ nữa. Mái nhà thứ nhất sụp xuống phun ra một đống tia lửa lớn.

Graber nói:

– Anh đã khuân ra đây được ít đồ. Gần hết quần áo và bức ảnh của ba, cả chăn mền nữa. Hay là vào lấy bàn ghế nữa cũng chưa muộn.

– Thôi anh ạ, cho nó cháy đi lại rảnh chuyện.

– Cái gì rảnh chuyện?

– Quá khứ đau khổ ấy. Những kỷ niệm ấy chẳng được việc gì cả, chỉ làm bận thêm. Bây giờ chúng ta bắt đầu từ số không. Trang sách đã lật rồi.

– Nhưng em có thể bán được đồ đạc.

– Ở đây có mà bán cho ma!

Nàng giơ tay chỉ dãy phố:

– Không thể tổ chức một cuộc bán tầm thường ở giữa phố. Những nhà ai còn lại cũng nhiều đồ rồi. Cảnh tình này cũng chưa chấm dứt đâu.

Trời lại mưa. Những hạt mưa lớn nóng hổi rớt xuống mặt đường. Mụ Lieser giương ô ra. Một người đàn bà chạy được cái mũ mới đội lên đầu cho tiện, bây giờ bà ta vội tụt ra giấu vào trong váy. Viên trưởng xóm hắt hơi. Từng giọt nước mắt lớn chảy trên má Hitler trong bức hình. Graber lấy trong bị ra áo choàng và vải căng lều, làm chỗ tạm trú cho mình và vợ.

– Phải nghĩ đến một mái nhà để nghỉ đêm nay.

– Có lẽ mưa sẽ làm tắt lửa. Những người này không biết họ ngủ đâu.

– Không biết. Người ta bỏ quên dãy phố này.

– Chúng ta có thể ngủ đây với chăn mền này, áo choàng và vải lều.

– Em có thể nằm được không?

– Khi mệt thì ngủ đâu cũng được.

– Binding có một căn phòng bỏ không. Nhưng có lẽ em không muốn đến đây.

Elisabeth lắc đầu.

– Thế thì chỉ còn nhà thầy Pohlmann. Dưới hầm ấy còn có chỗ. Mới mấy ngày trước đây anh đã hỏi thầy. Những trung tâm tiếp tế đầy ắp cả rồi.

– Ta hãy đợi. Gác mình chưa cháy mà.

Mưa rớt lộp độp trên nóc lều tạm bợ. Elisabeth không ra vẻ đau xót vì cảnh ngộ.

– Cho em uống cái gì. Đừng cho uống nước.

– Có đây. Anh tìm thấy một chai vốt-ca đằng sau chồng sách. Chắc chúng mình bỏ quên.

Graber giở gói chăn mền ra. Y giấu một chai dưới gối, vì thế không mất cắp, trên miệng chai cồn rượu úp một cái ly.

– Đây rồi. Chúng ta uống đừng cho ai biết nếu không mụ Lieser sẽ tố cáo chúng ta bêu nhục một quốc nạn.

– Muốn không ai để ý tốt hơn là đừng giấu diếm. Em đã có kinh nghiệm ấy rồi.

Nàng cầm chai tu một hớp.

– Ngon quá, chúng ta đang cần. Tưởng như mình ngồi ngoài hiên một tiệm cà phê. Anh có thuốc lá không?

– Mang hết chỗ thuốc còn lại.

– Tốt lắm.

– Em không muốn khuân bàn ghế thật à?

– Bây giờ họ không cho lên nữa rồi, vả chăng khiêng xuống cũng chẳng làm gì được. Không lẽ kéo đến chỗ ngủ tạm tối nay.

– Hay một người ở lại coi đồ, một người đi tìm chỗ trú.

Nàng lắc đầu. Nàng uống cạn ly. Đến lượt mái nhà Elisabeth sụm xuống. Tường như rung rinh, rồi đến lượt sàn các lầu trên cao sụp đổ. Khắp phố người ta thốt ra một tiếng giận dữ bất lực. Từng thác tia lửa vọt ra ở các cửa sổ. Màn cửa bùng cháy trong nháy mắt.

– Tầng lầu của mình còn nguyên.

Một người đứng sau vội nói:

– Không được lâu đâu.

– Sao vậy?

– Tại sao ông lại muốn may mắn hơn tôi. Tôi ở nhà này đã hai mươi ba năm. Bây giờ phòng tôi cháy rồi. Tại sao phòng ông lại không cháy?

Graber nhìn người ấy. Người ông ta mảnh khảnh, đầu hói. Y nói:

– Tôi cho rằng ngẫu nhiên chứ không phải vấn đề đạo đức.

– Đây là vấn đề công bình, nhưng có lẽ ông không hiểu rõ thế nào là công bình?

– Không rõ thật nhưng không phải lỗi tại tôi.

Y cười gằn :

– Nếu ngày nào ông cũng nghĩ vậy thì không có gì làm cho ông vui cả! Ông dùng với tôi một ly vốt-ca! Như vậy còn hơn vì đạo đức mà nổi lòng căm phẫn.

– Cám ơn, xin để cậu. Cậu sẽ cần đến khi nào đến lượt nhà cậu cháy.

Graber đặt chai rượu xuống.

– Ông có muốn cùng tôi đánh cá rằng tầng lầu của tôi không cháy không?

– Hử?

– Tôi muốn cá với ông.

Elisabeth bật cười. Ông già nhỏ bé sói đầu nhìn nàng ra bộ ghê tởm.

– Lúc này mà còn đánh cá! Còn cô, cô còn cười sao. Thật các người đã xuống thấp quá rồi!

Graber hỏi:

– Tại sao lại không cười! Cười còn hơn khóc, khóc cũng vô ích như cười.

– Cầu nguyện là hơn!

Phần trên mặt tiền lật nhào vào trong. Khói che hết cửa sổ nhà Elisabeth. Mụ Lieser bật ra tiếng khóc tấm tức. Gia đình ngồi xung quanh bàn xếp nấu cà phê bằng đèn đốt rượu. Người đàn bà ngồi trong ghế bành bọc nhung lấy nhật trình che lưng ghế cho khỏi mưa. Một đứa trẻ la inh ỏi.

– Thế là hết, tổ ấm mới được hai tuần.

Ông già hói thích chí:

– Thế mới công bình!

– Giá ông cá có phải ông được rồi không.

– Tôi không duy vật đâu cậu ơi.

– Thế sao than thở vì nhà của ông?

– Nhà tôi, tổ ấm của tôi. Cái đó quá tầm hiểu biết của cậu.

– Vâng, phần nào đó. Tôi đã thành ra dân du mục từ lâu.

– Vậy cậu phải cám ơn nền Đệ tam Đế quốc.

Lão xoa miệng định khạc nhổ.

– Bây giờ thì tôi không từ chối một cốc vốt-ca.

– Đây là để tang nhà của ông. Ông cầu nguyện đi thì hơn.

Lửa bốc ra từ phòng mụ Lieser. Elisabeth lẩm bẩm:

– Bàn giấy của con mẹ chó săn cháy rồi.

– Mong rằng cháy hết giấy má đi. Trước khi đi ra anh đã tưới một chai dầu vào đây. Bây giờ chúng ta phải làm sao đây?

– Phải tìm chỗ trú, nếu không kiếm được thì ngủ ngoài đường phố.

– Ngoài phố hay kiếm cái vướn hoa nào.

Graber nhìn lên:

– Đã có miếng vải lều nhưng không tốt. Dầu sao mình cũng kiếm được một mái nhà. Còn ghế bành với sách thì làm thế nào?

– Cứ để đây, sáng mai lại nếu còn sẽ liệu.

Graber đeo bị lên lưng và vác chăn mền lên vai. Elisabeth xách va-li.

– Để anh mang cho. Anh có thói quen ôm đồm cắp nắp mà chạy.

Các tầng lầu thượng căn nhà kế bên bắt đầu sụp đổ. Từng lưỡi lửa nhỏ bay lên không. Mụ Lieser nhảy lồng lên kêu gào. Một cục lửa vừa rớt trúng giữa mặt mụ. Bây giờ lửa vọt ra cửa sổ phòng Elisabeth. Trần sụp xuống.

– Thôi ta đi.

Graber nhìn lại cửa sổ một lần cuối cùng.

– Chúng ta đã sống những phút êm đềm trong ấy. Có lẽ những phút đẹp đẽ nhất.

Ánh lửa chiếu hồng mặt Elisabeth. Hai người đi quanh đống đồ đạc và gói bọc. Phần nhiều những người bị nạn có vẻ cam chịu. Có người chỉ mang xuống được một ít sách. Ông ta mở sách ra ngồi đọc chăm chú, quên cả sự vật bên ngoài. Hai người già bọc chung nhau một cái áo tơi nom như con dơi lớn hai đầu.

Elisabeth nói:

– Lạ thật, không biết sao em thấy mình từ bỏ dễ dàng những vật mới cách đây mấy giờ còn coi là cần thiết cho cuộc sống!

Graber quay lại nhìn một lần cuối cùng, đứa con nít mặt tàn nhang đỏ đã ngồi chễm chệ vào chiếc ghế bành nhung.

– Trong lúc mụ Lieser thét lên, anh đã phỗng của mụ cái cặp giấy má này, đến đám cháy kia ta quẳng mẹ nó vào đó có lẽ cứu được khối người sắp bị tố cáo.

Elisabeth gật đầu. Nàng bước đi không hề nhìn lại đằng sau.

***

Graber gõ cửa rất lâu rồi đẩy mạnh cửa. Không ai mở.

Y trở lại chỗ Elisabeth.

– Giáo sư Pohlmann không có nhà, hay ông ta không muốn cho ai vào.

– Có lẽ ông ta không ở đây nữa.

– Vậy thì ông ấy ở đâu? Làm gì có chỗ nào khác. Đi đã ba giờ đồng hồ rồi.

Y quay lại cửa:

– Không. Mật vụ không qua đây. Không có dấu phá phách, đi đầu bây giờ? Hay xuống hầm núp?

– Không, ở quanh đây có được không?

Y nhìn quanh. Trời đã tối. Đống gạch lởm chởm in hình trên nền trời đỏ ối.

– Trên còn chút trần nhà, đất khô. Có thể căng miếng vải lều làm một tấm vách, cái áo choàng làm tấm vách khác.

Y lấy báng súng đập thử lên trần. Một chút thạch cao rớt xuống nhưng trần còn vững. Y lựa hai cây dằm cắm xuống làm cột căng vải lều.

– Được một bên, bên kia dùng cái áo tơi. Em nghĩ thế nào?

– Để em làm giúp.

– Không, đứng đấy mà coi đồ đạc.

Y dọn một khoảnh đất, bỏ hết đá và gạch, rồi mang đồ đạc vào, trải nệm ra.

– Thế là có cái nhà mới. Nhiều khi anh phải ngủ chỗ tồi tệ hơn. Nhưng em thì khác.

– Đã đến lúc em tập cho quen.

Graber lấy một cái bếp đun và một chai rượu đốt bếp.

– Họ lấy mất bánh mì rồi nhưng chúng ta còn ít đồ hộp trong bị.

– Có soong để làm bếp không?

– Lấy cái ga-men. Ở đâu cũng lấy được nước mưa. Chai vốt-ca còn một nửa. Lấy nước nóng pha vào đấy. Để chống cái lạnh.

– Em muốn để nguyên thế uống.

Graber đốt bếp đun rượu. Ngọn lửa xanh mờ soi sáng trong lều. Họ mở một hộp thịt xào đậu, cho thêm xúc xích của người bạn lính già làm chứng hôn lễ.

– Chúng ta đợi Pohlmann hay đi ngủ?

– Đi ngủ thôi, em mệt nhoài rồi.

– Phải để cả quần áo nằm ngủ. Em ngủ được không?

– Mệt thì may ngủ được.

Elisabeth tụt giày để lên đầu nệm cho khỏi bị mất cắp còn bít tất thì cuộn lại bỏ túi. Graber quấn nàng vào trong mền.

– Em thấy thế nào?

– Như ở khách sạn.

Y nằm bên cạnh.

– Em có buồn vì không còn phòng của em không?

– Không. Em vẫn đợi từ lúc bắt đầu có bom. Mới đầu cũng buồn. Những ngày sau đây cuộc đời đã tặng không em.

– Như thế lại hay. Làm sao mà biết rõ về cuộc đời, về ý nghĩa của mình được?

– Em không biết. Có lẽ không trông mong gì nữa.

Nàng ngủ thiếp đi. Graber nằm thức nghe nàng thở đều và yên tĩnh rất lâu. Ở mặt trận y thường nói với bạn hữu rằng những đêm yên ổn âm cúng bên cạnh người đàn bà mình yêụ là giấc mơ khó thực hiện, điều mơ ước thiết tha nhất.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 7 Jun 2026

Tôi nằm trên tầng gác. Toàn thân ê ẩm. Tức ngực. Đau lưng. Vùng mắt bên trái tím bầm, tròng mắt hằn máu đỏ. Cú đấm của thằng dầu trâu ác thật. Cũng may là không bị đui! Tôi vùi mặt vào gối, nghiền ngẫm hận thù. Thành phố Nha Trang nhỏ hẹp, đi tới đi lui mãi rồi cũng có ngày gặp lại hại thằng thú vật ấy. Đánh lộn với chúng ư? Đem sức trói gà mà đọ sức voi, chẳng những không làm được gì, còn bị rêm mình lần nữa. Bất ngờ lụi cho chúng một dao ư? ở tù! Hận này có đáng để tôi dấn thân vào tù không? Suy đi tính lại, vì quá thương thân mình nên tôi sợ bị tù. Mọi sự hèn nhát đều bắt nguồn từ đó. Đã bao nhiêu lần tôi hèn nhát, tôi nuốt hận

cũng vì không dám liều mạng thí thân. Không trả được thù bằng hành động, tôi trả thù tưởng tượng. Tôi nghĩ, tôi sẽ quật cho mỗi thằng đầu trâu mặt ngựa một hèo vào ống quyển. Chúng sẽ gãy giò, nằm quằn quại rên la. Tôi sẽ đái vào mặt chúng bằng thứ nước đái mang vi trùng bệnh lậu. Vi trùng lậu sẽ làm đui mắt. Thằng đui sẽ xách rổ lê lết đi ăn mày. Thiên hạ đều biết cái quá khứ du côn của chúng, họ sẽ nhổ nước bọt. Thật đáng kiếp! Những ngày nằm dưỡng thương, tôi tưởng tượng như thế. Tôi bị người ta đánh bằm giập lỗ đầu, bác Huế vừa an ủi, vừa trách rằng tôi sống lông bông ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà. Bác Quảng nói, làm thanh niên là phải biết lăn xả vào xã hội. va chạm với đời. Đó là môi trường dạy cho con người những bài học thực tế nhất. Như con gà bị nhốt trong chuồng lâu ngày, khi thả ra nó không biết bươi, không biết tránh mặt quạ diều chồn sói. Tôi nghĩ, mọi chuyện giống như đùa. Tự dưng lại can thiệp vào chuyên người khác để bị người ta đánh gần bỏ mạng. Bài học làm người thật là nguy hiểm. Bác Huế nói, tôi trở về sau hai năm không ở nhà bác, tinh tình tôi thay đổi đến kỳ lạ, hành động của tôi khó hiểu. Tôi nói, bao giờ tôi cũng thế. Bao giờ tôi cũng coi đây là gia đình mình, là chỗ gần gũi thân yêu duy nhất. Bác vẫn nghi ngờ tôi có điều gì giấu bác. Làm sao tôi có thể thố lộ cùng bác, chuyện đã từng dan diu với chị Triều? Làm sao tôi dám nói với bác, chuyện tôi cặp theo thằng Hoàng, suýt nửa đã thành ma cô? Nếu biết những sự thực này, có lẽ bác không dám chứa tôi trong nhà. Người ta nói, tuổi mười chín hai mươi là tuổi của giấc ngủ không trở mình. Nhưng tôi cứ thao thức hoài với những nghĩ ngợi mông lung. So với ngày mới vào nhà bác Huế, tâm hồn tôi già hơn thấy rõ. Cay đắng, buồn rầu, và bất mãn với đời. Ra đường nhìn vào ai, tôi cũng tự hỏi ở phía sau lưng họ còn che giấu những bỉ ổi xấu xa gì? Chơi với thằng Hoàng một thời gian rất ngắn, nhưng tôi bị đầu độc theo cái lối suy nghĩ của hắn, Chi rhìn vào mặt trái xã hội. Nhất là sau ngày bị đánh lỗ đầu, tôi càng hận đời nhiều hơn. Theo yêu cầu của mãnh giấy nhỏ dán ở đầu giường, tôi không còn gọi bé Đông là bé nữa. Tôi cũng ít khi đùa với nó. Và nó cũng it khi lên tầng gác. Tôi đóng vai người anh đàng hoàng đạo mạo một cách giả dối. Sau lần tôi bất chợt ôm nó trong căn nhà lá, nó tỏ ra dè dặt giữ khoảng cách với tôi. Hình như đứa con gái nào lớn lên, cũng mơ hồ biết rằng có một cái gì đó trong tiềm ẩn sâu xa, cần phải bảo vệ. Mãi đến khi cái tiềm ẩn sâu xa ấy mất đi rồi, vẫn tiếp tục bảo vệ cái cuống không cho đến mãn đời. Mỗi ngày, Đông giúp tôi thay băng chổ vết thương đầu.

Nó nói: “Đầu anh Hiên cứng lắm. Đá đập vào không vỡ.”

“Nếu vỡ thì toi mạng rồi.”

Nó lau rửa vết thương bằng cồn như một y tá chuyên nghiệp.

Tôi xuýt xoa đau rát: “Làm ơn nhẹ tay giùm một chút.”

“Cứng đầu rứa mà cũng biết đau hè?” Nó kéo mạnh tóc tôi.

Tôi la: “Làm cái gì vậy?”

“Tóc bết dính vào vết thương. Em cắt bớt một lõm hì?”

“Ử, thì cất bớt”

Khi nó cắt, tôi nói: “Đừng cắt nhiều quá, sói đầu.”

“Sợ chị Phương Nghi cười?

“Không sợ. Nhưng đừng cho Phương Nghi biết chuyện này.”

“Tối qua, chị Phương Nghi đến nhà thu tiền đóng hụi, em có nói anh bị nguời ta đánh lổ đầu. Chị muốn thăm anh, em bảo anh đang ngũ.”

“Rồi sao nữa?”

“Chị về.”

“Không nói gì?”

“Không.”

Nhắc đến Phương Nghi, tôi lại buồn. Tình yêu như những giọt cường toan cháy bỏng, mỗi lần khơi động mỗi lần đau. Ngừng một hồi lâu, nó hỏi: “Anh còn nhớ chị Phương Nghi?

Tôi nói dối: “Chuyện cũ. Nhớ làm gì?”

“Rứa chừ, anh nhớ ai?”

Tôi nhìn sâu trọng mắt nó: “Em muốn biết không?”

Nó chớp chớp đôi mắt: “Chuyện của anh. Em cần chi biết!”

Trong cái chớp mắt, tôi nghĩ ra biết bao điều thơ mộng ẩn giấu trong con tim lay lắt của một đứa con gái dậy thì. Hàng ngày ra vào đối mặt, cử chi nó thiếu tự nhiên. Nó dã biết biết làm dáng. Và lòng tôi cũng xao xuyến khi nhìn thấy nó soi gương chải tóc. Tóc nó mượt trên cổ tròn vai phấn. Nó mỉm cuời e thẹn khi nhìn thấy bóng tôi phản chiếu trong gương. Nụ cười như hoa nở vuờn xuân. Tôi như con bướm chập chờn muốn đậu xuống đài hoa, nói những lời gợi tình bóng gió xa xôi, Nó đỏ mặt, nhưng vờ đi như không hiểu.

Khoảng lặng giữa đêm Xuân

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 7 Jun 2026

    Cuối tháng Tư, đêm Hòa Lan chuyển mình sang xuân với một vẻ yên tĩnh đến lạ thường. Tôi ngồi trong căn phòng nhỏ tại thị xã Dronten. Khi những màu sáng cuối ngày tắt lịm phía chân trời, tôi ngồi bên khung cửa kiếng, nghe tiếng gió mùa xuân nhẹ thoáng qua như hơi thở của thời gian. Trong không gian yên bình ấy, lòng tôi lại dâng lên một nỗi nhớ quê hương. Tuy khoảng cách địa lý một nửa bán cầu dường như bị xóa nhòa khi tôi mở chiếc laptop, tìm về những âm thanh của tiếng Việt, những dòng chữ mang hơi thở của đất nước quê hương tôi.  Nhưng cũng chính trong những ngày cuối tháng Tư này, không gian mạng lại trở nên chông chênh hơn bao giờ hết. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng vết thương cũ dường như vẫn còn âm ỉ, dễ dàng bị chạm vào bởi những lời qua tiếng lại, những tranh luận chưa hồi kết. Tôi thấy những định kiến cũ kỹ vẫn còn đó: người trách người, miền này nhìn miền kia bằng ánh mắt nghi ngờ. Những người cùng dòng máu, đôi khi chỉ thấy nhau qua màn hình máy tính với những lăng kính đầy màu sắc sắc tộc, chính trị hay quan điểm sống trái chiều. Lịch sử của nước Việt tôi dường như chưa bao giờ thực sự ngủ yên, dù lớp bụi thời gian đã phủ dày hơn năm mươi năm cuộc đời. Nhiều khi tôi tự hỏi, đến bao giờ chúng ta mới có thể thực sự ngồi lại bên nhau mà không cần nhìn vào những nhãn dán của quá khứ?  Giữa những ồn ào ấy, tôi lặng lẽ quan sát và nhận ra vẫn có những con người chọn lối sống ôn tồn, hòa nhã. Họ là những người mang trong mình một trái tim bao dung, bởi họ thấu hiểu một sự thật giản đơn: thù hận không bao giờ nuôi lớn được điều gì ngoài những nỗi buồn truyền đời. Họ chọn cách không lặp lại những chia rẽ mà cha ông đã phải đánh đổi bằng quá nhiều xương máu và nước mắt. Ước nguyện của họ, cũng là ước nguyện của tôi, chỉ là được nhìn nhau như những người Việt Nam thuần túy, những con người cùng chung một gốc rễ, cùng một huyền thoại Rồng Tiên, dù sóng gió cuộc đời có đẩy đưa mỗi người về một phương trời khác nhau.  Tôi thường mơ về một ngày quê hương mình sẽ thực sự trở thành nơi của sự nhân bản và văn minh. Mong ước ấy không bắt nguồn từ một tham vọng lớn lao nào, cũng không phải để đối kháng hay lật đổ bất kỳ ai. Đó đơn thuần là mong mỏi của một người con xa xứ về một bầu trời rộng mở cho thế hệ mai sau. Tôi mong mỗi đứa trẻ sinh ra trên mảnh đất hình chữ S, dù ở thành thị hay vùng sâu vùng xa, đều được lớn lên trong sự thân ái, nơi các em được dạy cách yêu thương thay vì cách phân biệt đối xử.  Tôi mong người nông dân chân lấm tay bùn, những người cả đời gắn bó với thửa ruộng, mảnh vườn sẽ có đầy đủ cơm no, áo ấm. Tôi mong mỗi người dân đều có thể nói lên sự thật từ lòng mình mà không phải lo sợ, để lòng tốt không còn bị nghi ngờ và sự khác biệt không bao giờ trở thành lý do để chúng ta coi nhau là kẻ đối nghịch. Một xã hội văn minh không phải là nơi tất cả mọi người đều nghĩ giống nhau, mà là nơi người ta tôn trọng sự khác biệt của nhau trong hòa bình.  Chúng ta cần hiểu rằng hai chữ “tự do” hay “nhân bản” không nên chỉ là những khẩu hiệu khô khan trên mặt giấy và trên những khẩu hiệu băng rôn. Tự do đích thực bắt đầu từ khả năng nhìn người đối diện bằng sự tôn trọng và thấu cảm. Nhân bản chính là cách mà một xã hội đối xử với những người yếu thế nhứt, người nghèo khổ nhứt và người lạc lõng nhứt của mình. Hòa giải, xét cho cùng, không phải là cố gắng quên đi những gì đã xảy ra trong quá khứ. Lịch sử là sự thật cần được tôn trọng, nhưng chúng ta không nên biến quá khứ thành xiềng xích trói buộc đôi chân của tương lai.  Có lẽ, điều đẹp nhứt mà một con người có thể làm cho quê hương mình trong những ngày này là giữ cho trái tim không bị biến thành một chiến trường.
Chúng ta cần những khoảng lặng. Khoảng lặng để lắng nghe tiếng lòng của chính mình và khoảng lặng để lắng nghe nỗi đau của người khác. Mỗi người chúng ta đều mang theo một câu chuyện riêng, một nỗi đau riêng và cả một niềm hy vọng riêng. Nếu ai cũng chỉ muốn nói mà không ai chịu lắng nghe, thì vết thương sẽ mãi mãi không lành.  Là người con Việt Nam xa xứ, tôi vẫn hằng đêm thầm cầu nguyện.
Tôi hy vọng rằng chính từ những khoảng lặng đầy thấu cảm ấy, một ngày nào đó, người Việt sẽ thực sự tìm lại được nhau. Khi ấy, chúng ta sẽ không còn đứng trên tư thế của kẻ thắng hay người thua, không còn bị chia cắt bởi những lằn ranh Nam hay Bắc, trong nước hay ngoài nước. Chúng ta sẽ gặp lại nhau như những người anh em chung một nguồn cội, cùng nắm tay nhau xây dựng một đất nước thanh bình, nơi mà tình yêu thương là sợi dây duy nhất thắt chặt mọi trái tim. Đêm đã về khuya, gió xuân ở Dronten vẫn nhẹ nhàng thổi. Tôi khép lại chiếc laptop, lòng cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Quá khứ là một phần của chúng ta, nhưng tương lai mới là thứ chúng ta đang bước tới. Và tôi chọn bước đi về tương lai bằng một tấm lòng không mang thù hận.   Dronten, đêm 30/4/2026
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by6 Sơn râu 7 Jun 2026

“Úc Khùng” không phải là danh từ do chúng tôi, một người mới thăm viếng nước Úc đặt ra và do chính những cư dân tại nước Úc vẫn đùa cợt với quốc gia đã cho họ định cư từ nhiều năm nay. Quả thật, nước Úc thuộc Anh có nhiều chuyện nho nhỏ khác Mỹ như lái xe bên lề trái, đi ăn nhà hàng không cần bỏ “tip”, “to go” thì gọi là “take away” hay phòng mạch bác sĩ thì để bảng “surgery”, nhưng những điều đó không quan trọng.

Người ta cho biết khoảng năm 1979-80, vì thiếu sức lao động, Úc có chính sách cho nhập cư nhiều thanh niên Việt Nam tại các trại tỵ nạn vào Úc để bù đắp khoảng trống này. Những thanh niên này đến Úc,

không có gia đình, không có cộng đồng người Việt, không có phái nữ để lập gia đình nên cô đơn, đâm ra rượu chè, hút xách, quậy phá. Rút kinh nghiệm này, những năm kế tiếp, phái đoàn Úc tại các trại tỵ nạn lại chỉ nhận những ông bà già mà không nhận thanh niên độc thân vào Úc, điều này trong một thời gian lại gây khó khăn cho những ông bà cụ “già cậy con”. Nước Úc quả là thiên đàng của người tỵ nạn, không thiên đàng sao không làm mà vẫn có ăn; đàn bà không chồng đẻ năm một vẫn có trợ cấp nuôi con; vợ chồng đóng kịch để single mom lãnh tiền hằng tháng; có người không đi lính một ngày vẫn lãnh trợ cấp như quân nhân Úc; ngày Tết Nguyên Đán, những khu phố Việt Nam vắng hẳn vì dân “tỵ nạn” bận “về quê” ăn Tết. Ai cho Mỹ là thiên đàng? Thiên đàng đang thật sự hiện hữu ở “miệt dưới” là nước Úc.

“Úc Khùng” vì không chịu thẳng tay với bọn buôn ma tuý, không có án tử hình cho bọn người đã đầu độc tuổi trẻ nước Úc. Vào tháng 12/2002, một thanh niên Việt, 25 tuổi là Nguyễn Tường Vân bị bắt và ba năm sau chịu án tử hình tại Singapore vì mang 396g bạch phiến từ Việt Nam trên đường về Úc, mà thời gian gần đây vẫn còn nhiều dân Việt về Úc mang theo bạch phiến bằng cách bỏ vào bịch cao su nuốt vào bao tử và bị bắt ngay khi xuống phi cơ tại các phi trường nước Úc. Điều này chứng tỏ mang chất độc hại này qua phi trường Tân sơn Nhất là “chuyện thường ngày ở huyện”, và thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đã trả ơn nước Úc bằng những món quà đáng giá. Vì không có án tử hình, nên ai thèm sợ chết, lọt một chuyến sống thoải mái “nửa đời sau”. Nếu trong chuyến bay về Úc ghé qua Singapore tại phi trường Changi, nếu Nguyễn Tường Vân đã không ngủ quên đến nỗi phải lật đật làm cho nhân viên an ninh sinh nghi khám lại xách tay thì gần 400g bạch phiến (có thể cung cấp hơn 26,000 lần chích cho dân ghiền) đã được đưa vào Úc. Khốn nỗi, trước toà Vân lại cho biết động lực buôn ma tuý này là để trả món nợ luật sư cho người anh em sông sinh của y là Khoa, cũng can tội liên quan đến ma túy trước đó. Đẹp thay tình huynh đệ! Hai tử tội khác, cũng người Việt tại Úc đã cố gắng đem ma tuý về mảnh đất đã giang tay đón mình trong cơn hoạn nạn, đang chờ bị xử tử tại Việt Nam. Chúng chơi bạo, cho đáng “đồng tiền bát gạo”, Nguyễn Văn Chinh mang 1kg và Mai Công Thanh 1.7kg.

Nước Úc cũng đã bãi bỏ án tử hình từ 1973, Samoa và Tân Tây Lan từ năm 2004. Tại Việt Nam, mang 100g bạch phiến hoặc 5kg thuốc phiện đã bị tội tử hình; tại Lào trên 500gam bị xử tử; Nam Dương và Thái Lan bị tử hình nếu sở hữu chủ bạch phiến; Singapore và Mã Lai mang 15gam đã bị lên giá treo cổ; Phi luật tân chỉ cần mang 10gam, Trung Cộng 50gam cũng đủ tội chết. Nếu 369g bạch phiến này của Nguyễn Tường Vân bị bắt tại Úc thì can phạm sẽ thoát chết, với tội danh nêu trên, theo luật pháp hiện hành các tội phạm này chỉ phải chịu 25 năm tù hay/và $550,000 tiền phạt. “Úc Khùng” vì một người có tội buôn ma túy như Nguyễn Tường Vân được coi hơn cả một anh hùng, được một chiến dịch mang tên “Reach Out” do Bronwyn Lew và Kelly Ng., hai người bạn cùng đi trong chuyến hành trình này chủ xướng nhằm cứu can phạm. Chưa bao giờ trong lịch sử thế giới lại có một cuộc vận động nhân đạo lớn lao đến thế chỉ nhằm cứu một người phạm tội “tày trời”. Các lãnh tụ chính quyền Úc như cựu Tổng Toàn quyền Úc Sir Dean William, các cựu và đương kim Thủ Tướng Úc như Gough Whitlam, Bob Hawke, John Howard, cho đến các Bộ Trưởng Ngoại giao, Bộ Trưởng Tư pháp liên bang và tiểu bang, đến Giáo hội Công giáo mà Đức giáo hoàng là đại diện cùng các Giám mục Úc, cho đến các vị Dân biểu và Nghị sĩ thuộc các đảng ở quốc hội, kể cả cộng đồng người Việt ở Úc, Hội Ân Xá Quốc Tế lên tiếng. Chỉ thiếu có tiếng nói của Nữ Hoàng Anh Elizabeth II là đủ bộ, bà này đã từ chối khéo vì lý do phải thông qua nội các.

“Úc Khùng” vì chưa hết! Phát ngôn viên ngoại giao của phe đối lập Kevin Rudd đã kêu gọi thủ tướng Úc đưa vấn đề này ra ở Hội nghị Lãnh tụ các nước trong khối Thịnh Vượng Chung ở Malta. Chính phủ liên bang cũng có ý định đưa vụ này ra kiện ở Tòa án Công lý Quốc tế, nhưng không thành công vì chính quyền Singapore không thừa nhận phán quyết của tòa này. Cũng có một đề nghị, nên có “một phút im lặng” trên toàn quốc để tưởng niệm Nguyễn Tường Vân Vân vào giờ hành quyết. Một số cảm tình viên với Nguyễn Tường Vân đã tụ tập đốt nến trước sân cỏ của tòa nhà Quốc hội ở thủ đô Canberra để cầu nguyện và tiễn đưa linh hồn Vân về bên kia thế giới. Cũng chưa hết, Thủ tướng Tân Tây Lan, bà Helen Clark cũng đã đưa ra lời kêu gọi không chính thức đối với thủ tướng Singapore. Ông Douglas Wood, một con tin được cứu sống nổi tiếng tại Iraq cũng đã lên tiếng kêu gọi dân Úc nên tiếp tục vận động tha tội chết cho Nguyễn Tường Vân. Ông nói: “Dân Úc đã cùng nhau hiệp lực để cứu tôi khỏi chết thì giờ này hãy một lần nữa bằng mọi cách phải ngăn cản thảm cảnh này xảy ra”.

Lấy gì để so sánh giữa một anh hùng làm lợi cho nước Úc như ông Wood và một kẻ làm hại cho nước Úc như Nguyễn Tường Vân? Nguyễn Tường Vân đã bị treo cổ tại nhà tù Changi, ở Singapore vào lúc 6 giờ sáng sớm thứ sáu ngày 2/12/05. Tại giáo xứ nhà thờ St Ignatius ở Richmond, nơi Nguyễn Tường Vân ở, đã có vài trăm người đã tụ tập cùng với sự hiện diện của con tin người Úc tại Iraq là ông Douglas Wood để tổ chức buổi lễ cầu hồn và thắp nến. Chưa đủ, tại Martin Place ở Sydney, một đám đông tụ tập và cầu nguyện, người ta đã trổi lên 25 tiếng phèng la tượng trưng cho số tuổi 25 của Nguyễn Tường Vân. Nhiều người đã đặt nhiều tràng hoa vàng ở phía dưới tấm chân dung của tử tội. Tại Canberra, một lễ cầu nguyện và cũng gần như một cuộc biểu tình để phản đối án tử hình của Singapore đã diễn ra ngay trước tòa nhà Cao Ủy đại diện quốc gia này. Cũng nơi đây, vào đúng lúc Nguyễn Tường Vân lên giá treo cổ, tháp chuông tại Thánh đường St Christopher cũng đã rung lên 25 tiếng “chuông gọi hồn ai” để tưởng niệm 25 năm tuổi đời của Nguyễn Tường Vân.

“Úc Khùng” vì cái chết của một tội phạm ma tuý đã được Bộ trưởng Tư pháp Philip Ruddock lên án đây là hành động mọi rợ của Singapore. John Howard, thủ tướng Úc cho rằng việc thi hành án tử hình này sẽ ảnh hưởng quan hệ song phương giữa Singapore và Úc. Ghê chưa! Có gì khác giữa một anh hùng của dân tộc được cả nước tưởng niệm, truy điệu với một tội phạm độc hại, không phải chỉ giết một vài người mà giết cả một thế hệ. “Úc Khùng” hơn nữa vì Ngoại trưởng Úc Kevin Rudd vừa qua, đã hổ trợ kế hoạch lính Úc sẽ diễn hành chung với bộ đội Cộng Sản trên vong linh 512 chiến sĩ Úc đã hy sinh tại miền Nam, theo sáng kiến “khùng” của Chủ tịch Liên bang của RSL (Royal Services League), ông Ken Doolan.

***

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 Jun 2026

Cổ nhân vẫn cho rằng “phi thương bất phú.” Kỹ sư, giáo viên, công chúc đồng lương cố định là lẽ đương nhiên; bác sĩ, luật sư ngay thẳng, không lảm diều mờ ám thì lợi tức cũng giới hạn. Duy chỉ có giới thương mại tùy thời cơ, đối tượng, nhu cầu mà xoạy chuyển, thu lợi tức cho mình, cho nên người ta có nói: Người mua lầm chứ người bán không lầm.” Có món mua một bán hai, nhưng cũng có món mua một bán mười.

Thời VNCH có bao nhiệu người kể cả giới có chức có quyền. trong khi quân đội đổ máu ngoài chiến trường, thì hậu phương người ta “luồn” thuốc tây, xăng, gạo, vãi vóc và cả … vũ khí cho địch quân dể làm giàu, chỉ vì đồng tiền, dù là đồng tiền vấy máu. Thị trấn nhỏ bé Gò Dầu Hạ sát biên giới Kampuchea, dân số không đến vài chục nghìn mà đã có hơn 10 nhà thuốc tây, thuốc thời đó không cần toa bác sĩ, bán cho ai, nếu không mua đem về tiếp tế cho Việt Cộng bên kia biên giới. Bảy giờ trong khi Trung Cộng thôn tính Hoàng Sa, Trường Sa, ngang ngược trên biển Đông, bắt bớ giam cầm ngư phủ Việt Nam ngay trong hải phận quốc tế, cắt giây cáp của tàu dò dầu khí của Việt Nam, lập làng, thuê đất, thuê rừng, khai thác bauxit trên đất Việt Nam, toàn dân phải chịu nhục vì tập đoàn cai trị muốn bán nước, Trong khi đó thì bọn con buôn, sẳn sàng vì lợi nhuận. nhập hàng độc hại giết người và để giết dân mình, con buôn du lịch thì tổ chức cho đồng bào mình. viếng thăm đất nhà của bọn bành trướng, nơi mà gần đây đã có cửa hiệu trương bảng cấm người Việt Nam và chó mà không biết nhục. Ngay cả các dịch vụ du lịch người Việt tị nạn ở Mỹ, ở Úc. ở Canada, ở Âu Châu, .. mỗi năm đã tổ chức bao nhiêu chuyến du hành đi thăm Bắc Kinh, Thượng Hải … đem thêm ngoại tệ cho mấy nước nầy, qua các trạm hải quan của Trung Cộng mà không thấy xấu hổ, đứng chụp ảnh tại quãng trường Thiên An Môn mà không nghe mùi máu tanh của 5,000 người đã chết chỉ vì đòi hỏi dân chủ trong đêm 4 tháng 6-1989.

Nhưng những nhà buôn kiếm lời trên những chuyến du lịch đi Trung Cộng không quan tâm đến điều này, dù họ là những người Việt Nam, vô cảm vì nỗi đau chung của người Việt.

Công ty du lịch của ông Trần Nguyên Thắng ở ngay đất Bolsa này đã làm được một điều mà tôi nghĩ chưa một công ty du lịch nào làm được, đó là ông từ chối không làm tour cho đồng bảo của ông đi Trung Quốc.

(đây là đất tự do, ông không là giảm dốc một cộng ty du lịch của nhà nước CSVN, làm dịch vụ theo chỉ thị, nên ông có quyền làm ăn theo ý ông. Ai thấy tiền mà không tham, vì tour du lịch Trung Cộng là tour rẽ nhắt, dễ ăn nhất, vì rẽ nên có nhiều người tham dự. Trước hết, ông giám đốc công ty du lịch này không ưa Cộng sản, ông cho rằng: -Văn hóa cộng sản là một thứ văn hóa tồi tệ nhất trọng lịch sử Á Châu. Đấu tố giai cấp, tình yêu giai cấp đã đạp đổ đi tất cả mọi truyền thống củ. Để sống sót trong hệ thống cộng sản, con người buộc phải sống thay đổi nhiều bộ mặt để có miếng ăn, để có chỗ ngủ. Đởi sống dạy cho cán bộ, cho người dân phải biết cách luồn lách, biết cách nịnh bợ, biết cách sống giả nhân giả nghĩa. biết cách bè phái tham nhũng hối lộ để sống còn trong xã hội đó. Có người nào trong tổ chức chính phủ và đảng của Trung Cộng ngày nay đã không từng là những Hồng Vệ Bình năm xưa dưới thời của Mao Trạch Đông. Những hung thần con nít đó đã làm lại lịch sử và nền văn hóa cộng sản cho đất nước Trung Hòa. Chỉ nói riêng về danh xưng của đất nuớc cộng sản đông dân nhất thể giới này, vì sao phải goi họ là Trung Quốc như CSVN đã gọi, mà không gọi họ là Trung Cộng cho … chính danh? Tôi đã đồng ý với Trần Nguyên Thắng khi ông viết rắng: ” … danh từ Trung Quốc hình thành từ tên Trung Hoa Dân Quốc từ thời Tôn Dật Tiên, tên mà Thông Chế Tưởng Giới Thạch vẫn dùng khi chiếm Đài Loan. Còn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa với Cộng Sản chủ nghĩa do đảng Cộng Sản chỉ huy không gọi là Trung Cộng thì gọi là gì bây giờ. Có chữ “Quốc” nào trong cái tên đó đâu! Đến danh từ tên mà cũng có ý lừa đảo lập lờ, nếu họ thật tốt thì có sợ gì mà không tự nhận là Trung Cộng, Vì thế tôi không gọi họ là Trung Quốc mà gọi họ là Trung Cộng cho đúng tên và chính danh.” Là một người hướng dẫn du lịch nhiều năm, đi nhiều nơi trên thế giới, ông Thắng cho rằng danh lam thắng cảnh của nước Tàu không thể so sảnh được với Ai Cập, Peru, Ấn Độ. Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Slovenia, Kampuchea. Miến Điện và ngay cả Việt Nam. Ông chê văn hóa Trung Cộng còn thấp kém vì chỉ biết dối trá, lọc lừa, chụp giựt, ăn cắp, chen lấn, vô lễ … Không dấu diếm, sợ hãi vì còn mong muốn đi về Việt Nam, ông Trần Nguyên Thắng, một người kiếm tiền lương thiện bằng những tour du lịch, cũng cho rằng “chế độ cộng sản hiện nay tại Việt Nam còn tệ nạn tham nhũng, thối nát, quan liêu … ” Trong một bài báo gần đây sau khi có tin một nhà hàng ở Bắc Kinh treo bảng “miễn tiếp khách Nhật, Phi, Việt và chó,” ông dã mong có một ngày nào đó khi về Việt Nam ông sẽ mở một cửa hàng, với những thực phẩm “đặc biệt” để dành cho cán bộ cộng sản và … lợn: -For Communist members and pig only!”

Tôi không quen ông Trần Nguyên Thắng của công ty du lịch mang tên ông, cũng như chưa hề giáp mặt ông một lẩn, nhưng tôi nghĩ ông là người can đảm, biết hổ thẹn và có tấm lòng yêu nước. Trong giới làm thương mãi, không ai chê tiền, ông cũng cần tiền, nhưng không phải ở chỗ đó, vì ông còn biết nhục.

Khi trí tuệ nhân tạo bước vào văn chương

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by6 Sơn râu 6 Jun 2026

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra một giai đoạn mới cho nhiều lĩnh vực sáng tạo, trong đó có văn chương. Đối với nhà văn và nhà thơ, AI không chỉ là một công cụ kỹ thuật đơn thuần mà dần trở thành một dạng “đối tác tư duy”, hỗ trợ hình thành ý tưởng, sắp xếp cấu trúc và hoàn thiện văn bản.

Tuy nhiên, cùng với những lợi ích rõ rệt, việc sử dụng AI cũng đặt ra nhiều câu hỏi về chiều sâu cảm xúc, bản sắc sáng tạo và cách người đọc tiếp nhận tác phẩm khi công nghệ tham gia ngày càng sâu vào quá trình viết.

AI như một công cụ hỗ trợ sáng tác

Thực tế cho thấy AI đang thay đổi cách các tác giả tiếp cận công việc viết lách trên nhiều phương diện.

Trước hết là tăng năng suất sáng tạo. Các mô hình ngôn ngữ có thể gợi ý dàn ý, đề xuất cách miêu tả cảnh, thậm chí hỗ trợ tìm nhịp điệu cho thơ. Với nhiều người viết, AI giúp vượt qua cảm giác “trang giấy trắng” – khoảnh khắc khó khăn khi ý tưởng chưa kịp hình thành.

Bên cạnh đó, AI còn có thể khơi mở những hướng suy nghĩ mới. Nhờ khả năng xử lý lượng lớn dữ liệu ngôn ngữ, các công cụ này đôi khi gợi ra những cách diễn đạt

hoặc góc nhìn bất ngờ, góp phần kích thích trí tưởng tượng của người viết.

Một vai trò khác là hỗ trợ biên tập. Các công cụ chỉnh sửa tự động có thể giúp rà soát ngữ pháp, điều chỉnh giọng điệu và tăng độ mạch lạc của văn bản, từ đó nâng cao chất lượng bản thảo trước khi hoàn thiện.

Ngoài ra, AI còn giúp mở rộng khả năng tiếp cận việc viết. Với những người mới bắt đầu hoặc những tác giả sử dụng phương ngữ, công nghệ có thể giảm bớt rào cản kỹ thuật để họ tập trung nhiều hơn vào nội dung và cảm xúc.

Những yếu tố này cho thấy AI có thể mở rộng không gian sáng tạo, miễn là người viết vẫn giữ quyền kiểm soát và định hướng nghệ thuật của mình.

Những giới hạn cần nhận diện

Bên cạnh các lợi ích, AI cũng mang theo những giới hạn mà người sáng tác cần ý thức rõ.

Trước hết là sự thiếu vắng trải nghiệm sống. AI không có ký ức, cảm xúc hay những va đập của đời sống, vì vậy khó có thể tái hiện trọn vẹn chiều sâu tâm lý – yếu tố vốn được xem là linh hồn của văn chương.

Một nguy cơ khác là sự phụ thuộc. Nếu quá dựa vào gợi ý của AI, người viết có thể dần suy giảm khả năng tư duy độc lập và làm mờ đi phong cách cá nhân.

Vấn đề tính nguyên bản cũng thường được nhắc tới. Do hoạt động dựa trên dữ liệu đã tồn tại, AI đôi khi khó tạo ra những ý tưởng thật sự đột phá hoặc mang dấu ấn riêng biệt.

Ngoài ra, chất lượng của văn bản do AI hỗ trợ còn phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đầu vào. Một ý tưởng nghèo nàn sẽ dẫn đến kết quả nhạt nhòa; ngược lại, vốn sống và vốn đọc phong phú của người viết sẽ giúp AI trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả.

Trong bối cảnh xuất bản hiện nay, câu chuyện minh bạch về việc sử dụng AI cũng được quan tâm nhiều hơn. Việc công khai hay không mức độ hỗ trợ của công nghệ là lựa chọn của mỗi tác giả, nhưng sự minh bạch có thể góp phần xây dựng niềm tin với người đọc.

Những giới hạn ấy nhắc nhở rằng AI chỉ là phương tiện; giá trị nghệ thuật của tác phẩm vẫn phụ thuộc vào tư duy, cảm xúc và trải nghiệm của con người.

Một vài nguyên tắc khi sử dụng AI

Trong quá trình làm việc với AI, tôi dần hình thành một số nguyên tắc cá nhân để giữ cho sáng tác không bị hòa lẫn hay lệ thuộc.

Trước hết, AI chỉ nên được sử dụng như một công cụ khơi gợi ý tưởng hoặc hỗ trợ kỹ thuật. Phần cốt lõi của tác phẩm – cảm xúc, trải nghiệm và giọng điệu – cần xuất phát từ chính người viết.

Thứ hai, mọi gợi ý từ AI nên được xem như chất liệu tham khảo, chứ không phải khuôn mẫu. Tác giả phải là người quyết định giữ lại điều gì và loại bỏ điều gì.

Thứ ba, mức độ AI tham gia vào bản thảo cần được cân nhắc một cách minh bạch, không phải để chứng minh điều gì, mà để tôn trọng mối quan hệ giữa tác giả và người đọc.

Và cuối cùng, người viết vẫn cần duy trì thói quen rèn luyện ngôn ngữ, quan sát đời sống và tích lũy trải nghiệm – những điều mà không công nghệ nào có thể thay thế.

Người đọc trong thời đại AI

Khi AI ngày càng hiện diện trong sáng tác, cách người đọc tiếp nhận tác phẩm cũng cần được nhìn nhận lại.

Một bài thơ hay truyện ngắn có sự hỗ trợ của AI không nhất thiết làm giảm giá trị cảm xúc mà người đọc cảm nhận. Điều quan trọng vẫn là chất lượng của tác phẩm và khả năng nó chạm tới tâm hồn người đọc.

Trong thực tế, sự xuất hiện của nhiều nội dung giải trí được tạo ra nhanh chóng bằng AI có thể khiến một số người hình thành định kiến rằng tác phẩm có AI hỗ trợ thì kém giá trị. Tuy nhiên, việc đánh đồng mọi sáng tác như vậy có thể khiến người đọc bỏ lỡ những trải nghiệm văn chương đáng quý.

Văn học, suy cho cùng, vẫn là cuộc đối thoại giữa tác phẩm và người đọc. Nếu một tác phẩm mang lại rung động thật sự, nguồn gốc kỹ thuật của nó không nên trở thành rào cản.

Một trải nghiệm cá nhân.

Tôi bắt đầu tập tành viết văn, làm thơ từ thời còn viết tay. Sau đó chuyển sang máy đánh chữ, rồi đến máy tính cá nhân và laptop. Khi internet xuất hiện, tôi tra từ điển, tìm tư liệu và đọc tin tức trên Google, khi ấy cũng có không ít người khuyên rằng không nên quá tin vào công cụ này.

Những năm gần đây, khi sử dụng AI, tôi lại nghe những lời cảnh báo tương tự. Nhưng qua thời gian tìm hiểu và trải nghiệm, tôi nhận ra rằng mỗi bước tiến công nghệ đều mang đến những công cụ mới cho sáng tạo. Điều quan trọng không phải là từ chối hay lệ thuộc, mà là biết sử dụng chúng một cách tỉnh táo.

AI đang dần trở thành một phần của đời sống sáng tạo đương đại. Với nhà văn và nhà thơ, nó nên được nhìn nhận như một công cụ hỗ trợ mạnh mẽ, chứ không phải sự thay thế. Sau tất cả, quyền lựa chọn nghệ thuật, chiều sâu cảm xúc và bản sắc sáng tạo vẫn thuộc về con người.

Và đối với người đọc, một tâm thế cởi mở, không định kiến sẽ giúp họ tiếp nhận trọn vẹn giá trị của văn chương trong thời đại công nghệ.

Dronten, 12/3/2026

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 6 Jun 2026

Trong thành ngữ Việt Hán có câu “dĩ hoà vi quý”, khuyên người ta lấy sự làm hoà với nhau là quý, cũng đồng nghiã với các thành ngữ Việt Nam “chín bỏ làm mười”, hay “một sự nhịn chín sự lành”. Một thế giới thật sự đẹp đẽ khi người ta không còn tranh chấp, thù hận, kèn cựa, ghét bỏ nhau. Đối với kẻ yếu, dĩ hoà là chấp nhận sự lấn áp của kẻ mạnh, không chống cự, không phản kháng, chống cự, phản kháng chỉ thêm u đầu chảy máu, thôi thì một sự nhịn có đến chín sự lành. Đối với người dân bị cường quyền áp bức, đương đầu chỉ nhận sự thiệt hại, nên đành “chín bỏ làm mười”, miễn cho qua chuyện. Với tranh chấp giữa hai người, giải hoà là điều khôn ngoan, vì người xưa đã nói “vô phúc đáo tụng đình”, kẻ bị thiệt cũng đành im lặng, kẻ thủ lợi cũng yên tâm vì không ai dám kiện ra toà án thêm dây dưa, tốn kém nên lần sau lại càng lấn lướt. Đó là bản chất “hiền hoà” của người Việt thích cầu hoà, an phận, khôn ngoan hay dại dột,”tuỳ người đối diện.”

Ngày xưa thời thơ ấu, đi học, bị lũ trẻ du côn hàng xóm chận đường, doạ nạt, chống lại, đánh lộn với chúng nó, về nhà cha hay, thì bị lãnh thêm một trận đòn với lời la rầy:“Mày có làm gì mới bị chúng hiếp đáp, sao không chịu nhịn chúng nó đi!” Vì vậy, lần sau, bị gây hấn chỉ còn cách bỏ chạy, cúi đầu nhịn nhục mà đi, hay dùng đường tắt mà lánh nạn, vì “tránh voi không xấu mặt nài” hay “thương cha chớ chọc người phàm.”

Tránh voi thì có gì mà phải xấu, không chọc người phàm còn được khen là con có hiếu. Vì vậy đi học thì bị bạn bè chơi gác, thầy bất công, đi làm thì bị đồng nghiệp lên mặt, sếp chèn ép là không dám nói một lời, vẫn được khen là người hiền lành, thuận thảo. Lớn lên, làm người, nhớ lời cha dặn, quen thói an phận, “một sự nhịn chín sự lành”, mọi việc đều qua! Xưa hay nay thì cũng vậy, những cơ quan như thanh tra, giám sát không thực hiện được chức năng “cầm cân nẫy mực” công chính của mình, bảo hoà xấu tốt, trắng đen, mọi hồ sơ đều tốt, mọi chuyện đều vô sự, bỏ qua tội lỗi của người thì phần mình lại càng có lợi.

Trong cộng đồng người Việt xa xứ, có lẽ vì lời kêu gọi “bầu ơi thương lấy bí cùng”, tôi xin sửa lại câu sau: “dẫu rằng xấu tốt cũng chung một giàn” nên cứ nhịn nhục. Bị ông bác sĩ bills tiền vô tội vạ, định phản đối, kiện tụng thì bạn bè khuyên răn “tiền Mỹ, tiền gì của mày!” hay “làm gì cho thêm mất thời giờ, rắc rối, làm thinh cho qua chuyện”. Bạn bè có người bị mổ lầm con mắt trái thay vì mắt phải, được năn nỉ mổ lại, mắt vẫn thấy đường mà đi, “có chuyện gì đâu mà làm ầm ĩ”. Nhận tiền cọc sửa nhà đồng hương rồi bỏ chạy, lường gạt, cũng cho qua, không kiện tụng, thêm rắc rối, chịu thiệt cho xong. Mua thức ăn siu thối cũng làm thinh cho qua chuyện, gia đình khuyên, “lần sau đừng mua là xong”. Một người làm nghề mua bán nhà, lấy hồ sơ của một người đã mua nhà với mình, dùng để mua nhà cho một khách hàng khác không đủ điều kiện, sự việc vở lỡ, thay vì vạch mặt chỉ tên để cộng đồng biết mà tránh, theo luật pháp là ở tù, thân bại danh liệt, nhưng là đồng hương với nhau, nhịn nhục cho qua, làm ơn làm phước, để đức về sau cho con. Chuyện cộng đồng có gì thì “đóng cửa bảo nhau”, đừng dở trò “vạch áo cho người xem lưng”. Lối cư xử “dĩ hòa vi quý” càng phổ biến thì, kẻ xấu vẫn nhan nhãn, lộng hành, nên người tốt vẫn chịu thiệt dài dài. Không ai đứng lên chống với cái xấu, vạch mặt chỉ tên để làm tốt cộng đồng, một phần vì sợ hãi, sợ phiền hà, một phần quan niệm “chín bỏ làm mười” … Cũng không ai đoàn kết với ai để chống gian trá, với quan niệm “đèn nhà ai sáng nhà đó”, “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”.

Thời phong kiến, bị nạn cường hào ác bá, bị vua quan bách hại, bị nạn cậy quyền, dựa thế, người dân Việt Nam vẫn có truyền thống chịu đựng, “dĩ hoà vi quý” cho xong chuyện, má sưng rồi thì cũng chẳng còn cần kêu mạ! Thời ông Khổng Tử cũng khuyên người ta thấy nước đạo thì ra làm quan, nước vô đạo thì lui về ở ẩn, quân tử như Bá Di, Thúc Tề chứ không khuyên người ta phải tranh đấu với cái ác, tranh đấu với nhà cầm quyền là làm loạn, bất nghĩa, bất trung, dĩ hoà để cầu an cho yên nước yên nhà. Trung Cộng thời nay phục hồi Khổng Giáo cho trên dưới có tôn ty trật tự, nước có Vua, làng có Thành Hoàng để dễ bề cai trị.

Thời Cộng Sản thì hoà hoãn, che dấu để chuyện khỏi xé ra to, dân khỏi làm loạn. Chuyện lớn thì “xử lý nội bộ”, chuyện nhỏ thì “đả thông tư tưởng” để đi đến việc đồng tâm nhất trí. Có mâu thuẫn nội bộ hay chống đối thì đã có chi bộ đả thông, thu xếp trước khi ra tập thể.

Nhà nghiên cứu Cao Cự Thanh cho rằng báo “Ong Đất” của Bungary đã có cái nhìn chính xác về thời kỳ “bao cấp” của chế độ Cộng Sản, một thời kỳ làm thui chột khả năng của con người, xuề xoà, xếnh xái, nhịn nhục, cái gì cũng “nhất trí” “tất tần tật”. Trong xã hội này:

– Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc.

– Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương.

– Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống.

– Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng sống.

– Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng (trong riêng tư).

– Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay “đồng ý”, “nhất trí”(ở chỗ tập thể).

Cuối cùng “úm ba la”, ba ta đều có lợi. Canh bạc cuối cùng: “hoà cả làng”.

Hoan hô lối sống “dĩ hoà vi quý”! Toàn dân nhất trí! Thế giới hòa bình!

***

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 6 Jun 2026

Tục ngữ Việt Nam có câu “Trời sinh voi, sinh cỏ,” hay “Trời sinh, Trời dưỡng.” Nếu quả thật là Trời hay có người cho đó là Thượng Đế  xếp đặt vũ trụ, thì khi sinh ra những sinh vật trền trái đất này thì Trời cũng phải cung cấp những gì cần thiết cho sự sống, dó là khi trời, nước và các loại trái cây, rau dại và thú hoang trên rừng. Đó là thời kỳ sơ khai của hái lượm và săn bắt, có sự góp sức của lữa để luộc, nướng. Sau thời kỳ này là giai đoạn gieo trồng và thu hoạch so với hái lượm trong tự nhiên tại Tây Á, Ai Cập và Ấn Độ …Nông nghiệp xuất hiện ở phía Bắc và Nam Trung Quốc, Sahel của châu Phi, New Guinca và một số khu vực của châu Mỹ. Cây lưong thực là các loai cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột trong khẩu phần thức ăn cho toàn dân số trên thế giới.

Hiện nay, trên thể giới có năm loại cây lương thực được trồng chủ yếu, bao gồm: ngô, lúa nước, lúa mì hay lúa mạch, sắn và khoai lang. Trong đó, ngô, lúa gạo và lúa mì chiếm khoảng 87% sản lượng lương thực toàn cầu và khoảng 43% calori từ tất cả mọi lương thực, thực phẩm. Trong khi đó lương thực chính của Việt Nam dã chiếm bốn thứ là lúa, ngô, sắn và khoai lang. Nghề nông, dù có sự tiến bộ cùa cơ khí, cũng là một nghề vất và, như lời Giê Su đã cảnh báo: “các ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn … ,” nhất là trong giai đoạn

chiến tranh, bom đạn, ly tán … nông dân không dược ra đồng, con người lâm vào cảnh đói, thì lúc bấy giờ những món lương thực căn bản, thô sơ như sắn khoai là “món quả” cứu tinh ma trời đã ban cho nhân loại. Dân miền Nam đã nếm mùi tân khổ sau tháng 4-1975 với khoai sắn và hạt bo bo (câv lương) mà trước kia chỉ dành cho gia cầm, gia súc, thậm chí có người chết dói vì không kiếm ra các thức ăn này. Hiện nay lục địa Châu Phi là nơi thiếu ặn nhất. Trong trường hợp này Thượng Để cũng đành bất lực! Thể mà bây giờ lại có người tìm ra chân lý: “Rượu vang là món qua của Thượng Đế!” Rượu vang (vin, winc) hay rượu chát, rượu nho cùng là một thứ. Vào thế kỷ VI, trước Thiên Chúa giáng sinh, người Hy Lap đã biết làm rượu đem qua bán ở Pháp vả từ Pháp xuất cảng rượu sang xứ Anh, nhưng sau đó, khắp Âu Châu bắt đầu sản xuất rượu vang. Dân La Mã (Ý cổ) cũng khoái uống rượu vang Pháp hơn là rượu vang La Mã. Đến thế kỷ thứ III hoàng đế La Mã Probus cho phép dân Gaulois trồng nho làm rượu tự do trong vùng đất do chính họ lựa chọn. Các nhà thờ Thiên Chúa Giáo cũng bắt đầu sản xuất và có những hầm lưu trữ rượu. Linh mục cũng đóng góp vào trong phần sản xuất và nhà thờ nào cũng có ruộng trồng nho, và cả xưởng làm rượu nho riêng, Thời ấy, các viên chức công quyền và tôn giáo, ai nấy cũng có khu trồng nho và làm rượu, ngay cả vua chúa cũng vậy. Trong khi các tôn giáo khác cấm dùng chất nước uống lên men, thì nhà thờ có món rượu lễ (Sacramental Wine.)

Uống rượu vang là một nghệ thuật, phải biết uống rượu loại gì tủy theo mỗi thức ăn và phải biết ăn món nào trước món nào sau cho đúng diệu và đúng khẩu vị. Từ đó ở Âu Châu có nhiều khóa dạy tổng quát các loại cây nho, vùng  trồng nho, cách làm rượu, hương vị riêng biệt của mỗi loại rượu, cách lưu trữ rượu, cách phục vụ rượu (khui rượu. ly dùng rượu, rót rượu … ), cách thưởng thức và phân biệt các loài rượu từng vùng cùng số năm tuổi của rượu. v.v …Trong khi người nghèo kiếm ăn, “ăn để sống.” thì người giàu dư dật, không phải sống chi để ăn, cho có ăn. mà người ta sống, để thưởng thức một bữa ăn ngon, dầu cho đó là một bữa ăn thanh đạm, hòa hợp với rượu vang cho đúng cách, sành điệu. Mặt khác, người ta còn khuyến khích dùng rượu vang như là một liều thuốc chống bệnh, rượu vang chứa rất nhiều chất thuốc, chống lại bệnh tim, bệnh ung thư phổi và ung thư nhiếp hộ tuyến. Những người dân ở vùng Tây Nam nước Pháp, uống rưou vang với món gan ngỗng, số tử vong rất ít về các bệnh tim mạch, hơn những nơi khác không dùng rượu chảt!

Rượu vang còn chứa đựng những chất polyphenols với những tính chất chống lão hóa (đặc biệt là chất catéchine).

Một bài báo khác, tờ New York Times’, đã nhấn mạnh trên để tài này rằng sự hiện diện của chất resveratrol trong vỏ nho ngăn chặn tác dụng của những mầm có khuynh hướng tạo ra bệnh ung thư. Đản bà mỗi ngày dùng tối thiểu hai ly rượu vang, tránh được bệnh ung thư buồng trứng, qua sự nghiên cứu của đại học Queensland ở vùng Brishane, Úc châu. Và các tạp chí y học cổ động rằng rượu chát đỏ góp phần giúp là bảo vệ hệ thần kinh, nhờ nang tinh toc hiện diện trong vỏ nho!

Nhưng liệu những dân tộc nghèo đói nhất trên quả đất này (cũng là sản phẩm của Thượng Để,) trong khi không có hạt gạo, hằng ngày bỏ vào miệng, phải ăn cả vỏ cây, liệu có thể nào chữa bệnh bằng cách mỗi tối dùng hai ly rượu vang không? Thượng Đế cho anh quả nho, quả táo, quả dừa, quả lê, quả sim … , có thể nói hàng nghìn loại cây trái, nhưng không hề dạy cách cho anh làm rượu vang, nên không thể nói rượu vang là món quà từ Thượng Đế. Nếu có, Thượng Đế phải đứng về phần đám đông nhân loại, phải cho lúa ngỏ được mùa, con bò, con dệ nhiều sữa, Nho được mùa chỉ làm cho các nhà sản xuất rượu giàu thêm và người uống rượu có thể trả ít tiền hơn cho một chai rượu. Theo thống kê của nghề rượu vang, trên quả đất này có 7 tỉ 180 triệu người nhưng chỉ có 100 triệu người hân hạnh được thấm môi “món quà của Thượng Đế” còn hơn 7 tỉ người chưa hề biết đến hơi hám của mùi rượu này, như vậy không lẽ Thượng Đế chỉ ưu đãi cho một thiểu số quá ít ỏi trong toàn bộ con cái của Người?

Chai rượu đắt nhất của thế giới là chai rượu xưa gần một thế kỷ. Rượu sản xuất năm 1907, được cho từ Pháp cho một gia dình hoàng gia Nga năm 1916, tàu bị chìm ngoài khơi Phần Lan, mãi đến năm 1997 thợ lặn vớt được 200 chại, giá cho một chai là $275,000. Chai rượu vang rẻ nhất ở Mỹ khoảng S3.00. Nó quả thật không cần thiết như rau, hạt, quả cho người lớn và sữa cho trẻ thơ. Một thiểu số người Việt từ lúc “nhờ” Tây đô hộ, được bước vào giai cấp mới, “ăn trắng mặc trơn,” mới biết nhấm nháp chút rượu vang và biết cám ơn Thượng Đế, mà quên Thượng Đế đã cho con người những món quà căn bản, như cỏ cho voi, nhưng bây giờ voi cũng không đủ có mà ăn, phải xuống bản làng quậy phá. Thượng Đế cho loài người quặng sắt để làm cuốc, xẻng.

dao, rựa, máy cày … nhưng chúng dùng món quà của Thượng Đế để làm bom, đạn, giáo, mác. Thượng đế cho con người trí khôn để sống no đù, nhưng chúng dùng trí khôn để tranh giành, lấn áp và giết hại nhau.

Cộng đồng kinh tế các quốc gia Tây Phi (ECOWAS) vừa thông báo khẩn cấp đến loại người: hơn 6 triệu người ở khu vực Sahel Châu Phi đang có nguy cơ chết đói, trong đó có một triệu trẻ cm. Thượng Đế bị trói tay hay vô cảm?

Xin cầu nguyện Thượng Đế mầu nhiệm cho thế giới qua cơn hạn hán, binh đao, cho mưa thuận gió hòa, lúa ngô được mùa, con người có thực phẩm, “hàng ngày dùng đủ,” và xin đừng rêu rao cho rằng “rượu vang là món quà của Thượng Đế” cho loài người, một sự áp đặt bất công, thiên vị, làm xấu đi hình ảnh Thượng Đế.