Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 12 Jun 2026

Chúng tôi theo xe hàng từ Phnom Penh lên cảng Kampong Som, trễ mất gần hai tiếng đồng hồ. Ngày đã xế, nhưng nắng còn đổ lửa trên đầu. Trời đứng gió, cái nóng hừng hực như hắt ra từ lò sấy. Người dẫn mối cứ thôi thúc nhanh lên, nhanh lên. Đồ đạc cái xách cái mang tất tả đến được điểm hẹn, chúng tôi mệt phờ người. Ba gã chủ chốt người Miên còn kiên nhẫn chờ trên đầu dốc nơi ngã ba đường lên chợ, dưới bóng râm của một tàng cây. Hai gã ngồi trên hai chiếc xe Honda, phì phà điếu thuốc. Gã thứ ba đứng dựa lưng vào gốc cây. Thấy chúng tôi tới, họ bu lại vồn vã, cùng lúc những chiếc xe đò cổ lỗ xỉ ì ạch bò lên dốc. Khói xe và hơi nóng phả vào mặt. Đây là lần đầu tiên tôi gặp họ. Người dẫn mối giới thiệu chúng tôi bằng tiếng Miên. Họ cũng tự giới thiệu lại mình. Một gã tên Nu da xám, môi chì, mắt trắng, nói thạo tiếng Việt. Hai gã kia chỉ nói tiếng Miên, tên khó nhớ. Gã tóc quăn, có bịt răng vàng. Giữa cái răng vàng cẩn hình trái tim. Gã thứ ba mặt mày sáng sủa đẹp trai, Tàu lai Miên. Tất cả, trạc tuổi ngoài ba mươi, mặc đồ chải chuốt lịch sự, tư cách đàng hoàng đáng tin cậy.

Tôi xin lỗi vì trễ hẹn, và giải thích rằng đường từ thủ đô lên cảng có quá nhiều trạm kiểm soát làm mất thì giờ.

Gã tên Nu nói không sao, làm ăn đôi khi trễ nải là chuyện thường. Gã cho biết về phần gã đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi, còn phần tôi thì sao?

Tôi nói: “Cũng sẵn sàng.”

Gã hỏi nhỏ: “Có đem theo đủ số không?”

“Đủ. Đi liền bây giờ chưa?”

“Dĩ nhiên.”

Nu quay qua nói với hai gã kia điều gì đó. Trông họ rất phấn khởi. Tôi cũng mừng. Dù trễ hẹn, nhưng mọi việc vẫn tiến hành đúng như dự định.

Xe Honda bắt đầu nổ máy kêu lụp bụp như con ngựa cuồng chân nóng nảy lên đường. Tôi chào từ giã người dẫn mối. Anh là người Việt sống lâu năm ở Kampuchia, cũng là người cuối cùng của đường dây tiếp nhận lúc chúng tôi mới đặt chân đến Phnom Penh. Nhiệm vụ của anh là hướng dẫn, và giao chúng tôi cho người chủ chốt. Anh ta bắt tay tôi lần chót, chúc may mắn. Nu cho biết sẽ đi về hướng Tân Hao, bảo vợ con tôi ngồi xe của gã Tàu lai. Con tôi ngồi giữa. Vợ tôi ngồi sau, choàng tay qua đứa con, ôm eo gã Tàu lai. Nu và tôi đi chung với gã răng vàng. Mỗi chiếc Honda chở ba người. Xe chạy. Tôi ngó ngoái về phía sau, thấy người dẫn mối còn giơ tay vẫy vẫy.

Đường đi Tân Hao rộng thoáng. Mặt đường không tráng nhựa. Nhiều đoạn lởm chởm trơ ra những sỏi đá, hoặc trũng thành ổ gà. Thế nhưng hai chiếc Honda vẫn phóng như bay. Không khéo cán phải đá hay vấp ổ gà, quăng cả lũ xuống đường, sứt tay gãy gọng như chơi. Tôi nói với Nu, bảo gã lái xe chạy cẩn thận hơn. Nu cười rằng đừng lo, gã đã từng lái xe trên đường này hàng trăm lần rồi, chưa bao giờ xảy ra tai nạn.

Hai bên đường là rừng. Có lúc xe chạy ngang qua trảng trống, hoặc đồng cỏ tranh. Nhìn xa xa về bên trái, thấy bờ biển và mặt nước xanh rờn, bao la ngút mắt. Mùa này, gió lặng sóng êm. Mặt biển láng như trải lụa. Vùng biển từ đây tới Lem Ngộp, Nu bảo đảm không có hải tặc. Mọi việc chắc chắn sẽ êm xuôi. Và vào khoảng quá nửa đêm, sẽ đặt chân lên bờ biển Thái Lan. Nghĩ tới một chân trời mới sẽ mở ra cũng đủ thấy đời tươi đẹp. Tự nhiên yêu biển lạ lùng.

Xe đang chạy, Nu bảo: “Sắp tới nơi rồi. Đưa vàng.”

Tôi hỏi: “Sao không chờ lúc xuống bãi?”

“Tới nơi là gấp rút chạy ào xuống bãi lên ghe. Nếu lằng nhằng mất thì giờ vì chuyện này, sẽ bể việc lớn.”

Cũng có lý. Cái giờ phút quan trọng nhất là lúc bắt đầu lên ghe. Thành hay bại cũng từ nơi khởi điểm này. Tôi nghĩ, chiếc ghe đã chờ sẵn ở đâu đó. Honda vừa ngừng là chúng tôi nhào lên ghe liền. Bọn an ninh bờ biển có trở tay cũng muộn. Bởi người đầu mối đã cho biết, ghe được trang bị máy bốn lốc đầu bạc. Tôi chẳng biết máy bốn lốc đầu bạc là máy gì, mạnh yếu ra sao? Nhưng người ta đã khoe như thế thì chắc là phải ngon lành lắm. Dù công an tuần duyên có đuổi theo, cũng đành ngửi khói mà thôi. Chúng tôi sẽ chơi một cú thật ngoạn mục. Hồi hộp bất ngờ giống như phim trinh thám. Còn chuyện đưa vàng, trước sau gì cũng đưa. Thôi thì đưa ngay bây giờ, đổi lấy một chuyến đi định mệnh. Tôi luồn tay vào cái túi nhỏ may dính dưới đũng quần lót, móc hai thỏi vàng, đưa cho Nu.

Gã đặt vàng trong lòng bàn tay nâng thử để ước lượng sức nặng, rồi nhét vội vô túi.

“Chưa đủ.” Gã nói khi xe đang chạy.

Tôi nói: “Còn hai cây nữa, vợ tôi cất.”

“Bảo vợ anh đưa ngay bây giờ.”

Tôi gật đầu.

Nu nói tiếng Miên với gã răng vàng. Gã này phóng xe lên song song với gã Tàu lai.

Tôi bảo vợ: “Anh đưa vàng rồi. Em đưa luôn cho họ đi.”

Vợ nói: “Chờ xuống bãi.”

“Họ muốn ngay bây giờ.”

“Ngồi trên xe, không lấy ra được.”

Tôi biết lý do vợ tôi không thể lấy vàng lúc này.

Tôi nói với Nu: “Anh nghe chưa?”

“Tôi nghe. Xuống bãi đưa.”

Ba gã lại nói líu lo. Xe vẫn phóng như bay, tới một khoảng rừng rậm, họ dừng lại đột ngột. Nu nắm tay vợ con tôi lôi bừa, khom người chạy lúp xúp men theo rặng phi lao, vào rừng. Có lẽ gã sợ những chiếc xe đò ngang qua nhìn thấy. Tôi ôm cái túi xách, hấp tấp chạy theo. Hai chiếc Honda bỏ chúng tôi lại đó, vọt thẳng về hướng Tân Hao. Chúng tôi luồn lách qua những lùm bụi gai góc, đến một con suối cạn. Mùa nắng, lòng suối khô phơi bày cát đá.

Vừa ngồi xuống, Nu bảo: “Núp ở đây, chờ ghe đến, mình sẽ ra bãi.”

Tôi hồi hộp, tinh thần căng thẳng đến cùng tột. Nếu bị lính Miên bắt quả tang đang núp ló để chuẩn bị lên ghe thì đời khốn nạn ngay. Vợ con tôi ngồi nép vào nhau, thở hổn hển, mặt xanh như tàu lá.

Tôi hỏi: “Anh có đi theo ghe với chúng tôi không?”

Nu nói: “Tôi đưa anh tới Thái Lan.”

Rồi gã nhìn vợ tôi, xòe tay ra: “Đưa vàng cho tôi.”

Cách nói chuyện của Nu thẳng thừng, cử chỉ thô lỗ. Tôi nghĩ gã là người Miên quen tính bộc trực nên cũng không lấy đó làm khó chịu. Chỉ cảm thấy có điều gì bất thường, khi vợ ngó tôi, ngầm hỏi ý kiến. Xuống xe, chúng tôi chạy ào, nhưng không phải ào lên ghe như Nu diễn tả, mà ào vào rừng. Ghe đâu không thấy. Thế thì có gì gấp rút? Kế hoạch thay đổi chăng? Dẫu sao, đã tới mức này rồi, một liều ba bảy cũng liều. Tôi nhìn vợ, gật đầu.

Vợ tôi đứng dậy, đi khuất vào bụi rậm. Tôi biết vợ đang móc vàng từ trong cửa mình.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 11 Jun 2026

Cửa sổ trông lên trời vằng vặc sao, xung quanh là giàn nho từng chùm trái mọng khẽ rung rinh lặng lẽ như quả lắc đồng hồ.

– Bây giờ em không khóc nữa, mà em có khóc anh cũng đừng để ý. Không phải em khóc đâu, có cái gì mạnh mẽ hơn em mà em không cưỡng lại được. Nhiều khi, mình chỉ biết làm thế thôi, nhưng em không buồn, em sung sướng là khác.

Vai nàng đặt trong vòng tay chàng, đầu nàng nép chặt xuống đầu chàng. Cái giường rất rộng, gỗ hồ đào, đóng kiểu thôn dã, đầu giường nhô lên như một bức tường. Trong góc phòng kê một cái tủ áo cũng bằng gỗ hồ đào, trước cửa sổ có cái bàn và hai chiếc ghế. Dưới bóng đèn điện, một chiếc vòng hoa cô dâu lâu ngày đã ngả ra màu vàng, trên tường một cái gương lớn phản chiếu ánh sáng rung rinh ngoài cửa sổ.

Nàng nhắc lại:

– Em rất sung sướng. Mấy tuần nay xảy ra biết bao nhiêu chuyện em không nhớ hết được. Em thử nhớ lại mà không nhớ nổi. Đêm nay anh phải kiên nhẫn với em một chút.

– Giá trước khi đi, anh có thể mang em đến một làng nào ở ngoài tỉnh.

– Anh đi rồi thì ở đâu em cũng không cần.

– Em nghĩ lầm, làng xóm không bị bom.

– Bom mãi cũng có ngày phải chấm dứt chứ, trong tỉnh này không còn căn nhà nào nguyên vẹn. Vả chăng còn làm ở xưởng thì cũng không thể đi đâu xa. Giá được ở căn phòng xinh xắn của bà quán này!

Nàng bình tĩnh lại, hơi thở không dồn dập nữa:

– Em đã tỉnh ngộ rồi, em không còn điên loạn nữa. Em sung sướng nhưng sự vui sướng mong manh bất định! Thực không phải là thứ sung sướng yên ổn, chắc chắn như hạnh phúc của loài bò.

– Chắc chắn thì ai không muốn.

– Em không biết. Nhưng em cho rằng mình có thể hãy tạm vài phút chơi xuân kẻo già!

– Anh cũng vậy. Người ta kén cá chọn canh chỉ vì người ta không biết tìm ra mà hưởng.

– Mười năm hạnh phúc có bảo đảm, nhàm chán và trưởng giả như hạnh phúc của loài bò – em nghĩ rằng cả đời sống mà như thế cũng không đáng khinh bỉ.

Graber cười:

– Chính đời sống mãnh liệt khốn nạn này làm cho chúng ta nhớ cuộc sống trưởng giả. Nhưng ông cha chúng ta không nghĩ như thế, ông cha chúng ta chán ghét hạnh phúc của loài bò và khao khát phiêu lưu!

– Bây giờ chúng ta trở lại những người giản dị.

Với sở thích giản dị, Elisabeth nhìn chàng:

– Anh thèm ngủ lắm phải không? Một đêm ngủ một giấc thẳng đến sáng không vẩy tai. Biết đến bao giờ anh ngủ được như thế vì chiều mai anh phải đi rồi.

– Lúc đi đường ngủ cũng được. Cũng phải đi vài ngày mới đến nơi.

– Nhưng ít có hy vọng kiếm được cái giường.

– Ít thật. Từ ngày mai, may mắn lắm là kiếm được một mảnh ván hay một ổ rơm. Nhưng được cái người ta quen ngay. Không có gì quan trọng, sắp đến mùa hạ rồi. Chỉ có mùa đông ở bên Nga mới khổ sở thôi.

– Có lẽ phải sống một mùa đông nữa ở bên ấy.

– Nếu cứ lui binh mãi thì chẳng bao lâu sẽ về đến Ba Lan, có thể về đến nước Đức vào mùa đông sau. Sẽ bớt lạnh hơn, vả chăng mình cũng quen với cái lạnh nhà.

Y nghĩ thầm: “Bây giờ chắc nàng sẽ hỏi bao giờ mình lại nghỉ phép nữa. Mình muốn nàng đã hỏi rồi! Nàng sẽ hỏi những câu không thể tránh được và mình trả lời những câu nàng đã biết rồi. Thôi đừng có những chuyện ấy nữa. Mình ngồi đây mà nghĩ tới chuyện ra đi rồi, bây giờ mình như người bị lột da, hơi đụng một tí là đau nhói”.

Y đưa mắt nhìn cây nho trinh tuyết ngoài cửa sổ rồi nhìn bóng phản chiếu trong gương, y có cảm tưởng như một sự bí mật lớn đang quanh quất gần cửa sổ, lúc nào cũng có thể xuất lộ thình lình.

Bỗng dưng họ nghe tiếng còi báo động.

***

– Ở đây thôi. Em không muốn mặc áo vào để chạy xuống hầm núp.

– Tùy em.

Graber ra chỗ cửa sổ. Y đẩy lui bàn vào và đứng ngó ra ngoài. Đêm sáng sủa và yên lặng. Vườn sáng trăng. Ban đêm gợi giấc mơ màng và cũng đem lại cho phi công điều kiện lý tưởng để dội bom. Y trông thấy bà quán chạy ra vườn, người nhợt nhạt vì sợ hãi.

Trông thấy Graber bà ta nói lớn qua tiếng còi vang động:

– Tôi định kêu ông!

Graber gật đầu. Y còn nghe nói thêm:

– Hầm núp ở đường Leibnitz.

Y lại gật đầu. Rồi y thấy bà ta trở vào nhà. Y đợi một phút. Bà ta không thấy ra nữa. Bà ta cũng không xuống hầm núp. Y không lấy làm lạ. Căn nhà và mảnh vườn này không phải như đã có phép bí mật che chở rồi ư? Y đã cảm thấy như mình ở một khu yên tịnh giữa sự náo động của toàn tỉnh. Cây cối đứng cạnh gác đằng sau bãi cỏ ánh bạc mờ. Bụi cây đứng ngay đơ bất động, cả đến chùm nho cũng không rung rinh trong không khí lặng lẽ. Hòn đảo bình yên tắm ánh trăng xanh được bao vây bằng một bức tường vô hình chặn đứng bão tố.

Graber quay lại. Elisabeth giật bắn người lên. Ánh sáng mờ chiếu xuống hai vai, bóng tối nhạt làm cho cái ngực nhỏ và cao như nở thêm. Cái miệng tối đen và hai mắt sáng như trong veo. Người nàng thẳng đẵng, hai tay chống xuống gối như người bất thần ở thế giới khác đến, Graber thấy nàng cũng có cái bí mật giá băng như mảnh vườn thiêm thiếp ngủ dưới trăng.

Graber nói để phá tan sự yên lặng.

– Bà quán cũng ở lại trong nhà.

– Lại đây anh.

Đi qua trước tấm gương, y trông thấy khuôn mặt mình, khuôn mặt một người khác rồi.

– Lại đây anh.

Nàng nhắc lại.

Graber cúi xuống gần. Elisabeth ôm lấy người chàng.

– Mặc kệ nó, muốn ra sao thì ra.

– Không sao đâu. Ít ra đêm nay.

Không biết sao y nói được dõng dạc như thế. Có lẽ nhờ mảnh vườn sáng trăng, tấm gương phản chiếu khuôn mặt y khác đi, hai vai rực rỡ như ngọc trai của vợ mới cưới và sự yên tịnh bất thần nhập vào tận thâm tâm mình.

– Không thể xảy ra cái gì được.

Nàng đẩy chăn mền ra làm rớt xuống đất. Nàng đã bỏ hết quần áo, một thân hình tuyệt mỹ với hai chân thon và chắc, đường lượn trên vai trên ngực như sóng dợn, cái lưng ong xinh xắn và vòng háng nở nang. Không phải vóc dáng con gái nữa, nàng đã trở thành đàn bà.

Nàng nép người vào chàng, chàng cảm thấy sự hiện hữu của hàng ngàn bàn tay nhỏ giữ lấy chàng, vuốt ve chàng từ trong thâm sâu thớ thịt. Không phải hình thức ái ân sôi nổi như những ngày đầu, bây giờ một nhịp điệu êm ái phát ra từ mỗi nhịp tim lôi cuốn theo nó cả lời nỉ non, cả hình hài hữu hạn của con người, cả chân trời đầy đe dọa, cả ý thức về hiện hữu tại thế…

***

Graber ngửa mặt lên. Hình như y mới ở thật xa trở về. Y lắng tai nghe. Y vắng mặt ở thế gian đã bao lâu? Bên ngoài không một tiếng động. Tưởng như giác quan mình lầm lẫn, y tiếp tục lắng nghe. Không có gì cả, không có tiếng còi, không có tiếng xe cứu hỏa, không có tiếng nổ. Y nhắm mắt lại và nằm xuống. Rồi lại trỗi dậy.

– Phi cơ không đến rồi.

– Có chứ.

Hai người lại nằm gần nhau. Graber có thể trông rõ chăn mền dưới đất, tấm gương và cửa sổ mở. Trước y còn tưởng rằng đêm dài vô tận, nhưng bây giờ y đã cảm thấy thời gian trôi lặng lẽ. Chùm nho lắc lư ngoài khung cửa, bóng in trong gương cũng rung rinh, một tiếng nổ từ chân trời xa vọng lại. Y quay lại với vợ. Nàng đã nhắm mắt. Miệng nàng hé mở, nàng thở chậm và đều. Nàng còn thơ thẩn trong mơ trong khi y đã trở lại với thực tại. Xưa nay nàng vẫn thế, nàng bám riết lấy mơ mộng lâu mới trở về. Y nghĩ thầm: “Mình cũng muốn quên mình như thế, quên hẳn mình rất lâu!”. Y thèm muốn tâm hồn nàng, yêu nàng và kinh sợ nàng một chút vì nàng gạt bỏ được hết một cách dễ dàng như thế. Nàng xa vắng, nàng ở trong một vũ trụ khác mà y không thể đi theo được dù có được cũng chỉ trong khoảnh khắc mà thôi; chính vì thế mà y sợ. Bất thần, y thấy mình cô độc lạ lùng, thấy mình kém nàng nhiều.

Nàng mở mắt ra.

– Phi cơ đâu cả rồi?

– Không biết.

Nàng giơ tay lên vuốt tóc:

– Em thấy đói.

Graber trỗi dậy đi tìm vài hộp đồ ăn:

– Anh cũng đói, nhưng thiếu gì đồ ăn.

– Đây có thịt ngỗng và thịt bê lạnh. Có cả ba tê gan, thỏ và mứt.

– Ăn ba tê với mứt.

Graber mở hộp đồ ăn, để cho Elisabeth nằm dài không động đến tay chân. Y thích vậy, y không muốn thấy một người đàn bà của ban đêm và của bí mật bỗng dưng biến thành bà nội trợ đảm đang.

– Anh thấy hơi hơi thẹn vì lấy những đồ ăn này của Binding. Đối với Binding anh đã lãnh đạm quá.

– Có lẽ, nhưng Binding đã không được tử tế với nhiều người khác. Như vậy cũng có bù trừ. Anh có đi đưa đám không?

– Không. Có nhiều đảng viên mặc đồng phục quá. Anh chỉ để ý đến lời ông Hildebrandt. Ông nói rằng chúng ta phải noi theo cuộc đời gương mẫu của Binding, phải nghe lời cuối cùng của Binding. Ông ta muốn nói đến cuộc chiến tranh ác liệt chống lại kẻ thù. Nhưng ý muốn cuối cùng của Binding hơi khác. Binding mặc áo mát trong nhà hú hí với một cô tóc vàng cũng mặc áo ngủ.

Graber đổ thịt và mứt ra hai cái đĩa của bà quán cho mượn. Rồi cắt bánh và mở hai chai rượu. Elisabeth trở dậy đi lại trong phòng không mặc quần áo.

– Coi em không còn là cô thợ ngồi vá áo nhà binh. Coi em như người hàng ngày tập thể thao.

Nàng cười:

– Người ta chỉ tập thể thao khi nào thất vọng.

– Thật ư? Anh không nghĩ đến điều ấy.

– Một liều thuốc rất hay: tập cho đến mệt lử, chạy cho đến rời rụng hai chân, rửa nhà, làm giường đến mười lượt chải tóc đến sướt da đầu v.v…

– Có hết thất vọng không?

– Hết, nhưng chỉ công hiệu với sự thất vọng đã lâu thôi khi người ta không muốn suy nghĩ gì cả. Nhưng nếu mới bị thất vọng thì chỉ có một phương thuốc là mặc kệ nó muốn ra sao thì sao.

– Rồi sao nữa?

– Phải đợi đời sống tự nó trở lại dần dần. Đây em nói đời bình thường còn để cho người ta kịp thở chứ không phải đời sống lúc này.

Graber nâng ly.

– Theo ý anh thì chúng ta với tuổi của chúng ta, chúng ta biết hơi nhiều quá về sự thất vọng. Ta hãy quen đi.

– Vâng, nhưng chúng ta cũng biết khá nhiều về sự quên. Ta cũng phải quên cả sự quên.

– Trái lại, trong ước vọng của chúng ta, chúng ta không quên bà quản gia nhà anh Binding đã cho những hộp thức ăn này không quên bà chủ quán đã cho căn buồng và mảnh vườn này.

Họ uống cạn ly rượu nho mát mẻ thơm tho. Graber rót lần nữa. Trăng chiếu vào ly làm bật ánh lửa vàng.

– Anh yêu quý của em, ngồi gần nhau nói chuyện với nhau lúc đêm tối thú vị thật!

– Ban đêm em là đứa con của Thượng đế đầy tuổi trẻ và sinh lực, ban ngày em là cô thợ vá áo nhà binh, còn anh là một tên lính…

– Ban đêm người ta trở lại là con người xưa nay vẫn thế, ban ngày người ta là người mà xã hội đã làm méo mó…

– Có lẽ.

Graber nhìn bánh, rượu và đĩa thức ăn.

– Nhưng chúng ta đã sống hời hợt! Chúng ta chỉ biết đến đêm là ăn với ngủ.

– Còn yêu nhau nữa, đâu có hời hợt.

– Còn uống rượu nữa.

– Còn uống rượu nữa.

Nàng nhắc lại và đưa ly ra.

Graber cười.

– Đáng lẽ buồn rầu và tư lự, đáng lẽ nói những chuyện thâm thúy cao siêu, chúng ta ngốn hết nửa kí lô gan thỏ, chúng ta thấy đời sống tuyệt diệu và cám ơn Trời.

– Như thế có hơn không?

– Sự thật là thế. Khi không còn trông mong gì ở đời thì đời cho mình cái gì mình cũng cứ cho là phép lạ mà phép lạ phát không.

– Anh học điều ấy ở mặt trận phải không?

– Không, học ở đây đấy.

– Cũng là nguyên tắc hay, không cần biết gì hơn.

– Chỉ cần một chút may mắn nữa thôi.

– Chút may mắn ấy chúng mình có không?

– Có, chúng mình có cái gì con người hằng ao ước.

– Em có buồn không, nếu một ngày kia hết may mắn.

– Không hết được, chỉ thay đổi hình dạng thôi.

Nàng nhìn chàng. Chàng nói:

– Anh nói dối đó, thực ra anh buồn lắm, anh tự hỏi không biết mình có chịu nổi phút chia tay ngày mai không. Anh muốn nghĩ xem làm thế nào để khỏi buồn, anh chỉ thấy một cách là nếu không gặp em, như vậy, anh không buồn, anh sẽ thấy trống rỗng và lạnh lùng với hết thảy và lúc ra đi sẽ còn khổ hơn lúc trở về. Nghĩ như vậy thì buồn không phải là buồn nữa mà là một thứ hạnh phúc đen, mặt trái của hạnh phúc.

Nàng đứng dậy.

– Có lẽ anh nói không rõ. Em có hiểu anh nói gì không?

– Em hiểu, anh nói dễ hiểu lắm, không ai nói được rõ hơn. Vả chăng em biết trước rằng anh sẽ nói thế.

Nàng lại gần chàng, chàng ôm nàng trong tay. Bất thần nàng không có tên nữa, đồng thời nàng có hết các tên ở trên đời. Có một cái gì hiển nhiên và ghê gớm xuất hiện như một mặc khải; tất cả đều hiện ra bộ mặt trơ như đá của vĩnh cửu, đi rồi về, có mặt rồi vắng mặt, sống và chết, quá khứ và tương lai, quanh đi quẩn lại đâu vẫn đấy có gì là lạ đâu – Bỗng dưng y cảm thấy đất dưới chân như trôi tuột đi, mình thụt xuống một vực thẳm với người yêu trong tay. Y nhắm mắt lại để cho mình tan biến vào trong nàng.

***

Đây là buổi chiều cuối cùng. Hai người ngồi trong vườn. Con mèo đi qua như một cái bóng. Nó sắp đẻ con, nó như nhờ một sự bí mật lớn lao của tạo hóa mà sống tách biệt khỏi cuộc đời, nó không để ý đến ai cả.

Bỗng dưng nàng thỏ thẻ:

– Em muốn có một đứa con.

Graber nhìn nàng kinh ngạc :

– Có lẽ em muốn nghe anh nói sẽ hôn em, sẽ tỏ ra cảm động và âu yếm. Nhưng em ạ, anh không thể làm thế được. Điều ấy lạ lùng quá. Không mấy khi anh nghĩ đến cả!

– Chả cần nghĩ đến. Mấy lại anh cũng chẳng cần để ý. Em nói vậy chứ không chắc đâu.

– Một đứa con! Đến thời kỳ chiến tranh sau nó sẽ bằng tuổi chúng mình thời chiến tranh này. Anh nghĩ đến tất cả những cái khổ sở cho nó khi chào đời!

Con mèo cái lại đi ra, nó tiến về phía bếp.

– Ngày nào cũng có trẻ ra đời.

Graber nghĩ đến phong trào “Thanh niên Hitler” và những đứa trẻ đã tố cáo cha mẹ mình với Cảnh sát Mật vụ.

– Nhưng sao em lại nói đến những chuyện ấy? Có phải chỉ là ước vọng không?

– Hay là anh không muốn có con.

– Anh không biết. Thời bình thì có lẽ muốn. Anh chưa kịp nghĩ chín. Chung quanh chúng ta cái gì cũng thối nát cũng bị đầu độc, phải nhiều năm nữa mới gột rửa được ám khí này. Đời thế này thì có còn làm gì?

– Chính thế.

– Thế là thế nào?

– Để nuôi con và không cho nhiễm độc xã hội. Nếu những người sống dưới chế độ này không muốn có con thì tất cả đều suy sụp. Nếu thế hệ sau chỉ là con những tên tàn ác thì ai là người xây dựng xã hội?

– Vì thế mà em muốn có con?

– Không phải, đó chỉ là một ý nghĩ trừu tượng, em nghĩ đến một cách bất thần mà thôi.

Graber yên lặng. Y không biết nói sao để trả lời nàng.

– Em đi nhanh quá anh theo không kịp. Anh chưa kịp nghĩ hết về sự kiện làm chồng, em đã tống ngay cho chuyên làm cha.

Vợ chàng cười mà rằng:

– Anh không nghĩ đến điều chính. Vì yêu anh nên muốn có con với anh, anh hiểu không? Thôi để bây giờ em đi lo bữa ăn tối với bà chủ quán. Phải làm một bữa thịnh soạn bằng đồ hộp.

***

Còn một mình Graber ngồi lại trong vườn. Trên trời mây nhuốm hồng tỏa khắp nơi. Một ngày đã hết, một ngày ăn gian của Nhà nước. Y đã tự kéo dài nghỉ phép thêm hai mươi bốn giờ. Đã tối rồi, còn một giờ nữa phải ra đi.

Y lại trại một lần chót, vẫn không thấy tin tức của cha mẹ. Y đã làm tất cả cái gì có thể làm được cho Elisabeth. Bà quán sẵn lòng để cho nàng ở. Y đã xem xét hầm nhà, cũng khá vững nhưng không đủ sâu để làm hầm núp chắc chắn. Y cũng đến xem hầm núp công cộng khu ấy, cũng tốt như phần nhiều hầm khác trong tỉnh. Y ngồi ngả ra ghế bành, trong lòng thỏa mãn. Từ dưới bếp đưa lên tiếng bát đĩa lách cách. Mấy ngày nghỉ thật là lâu và y đã sống trọn vẹn những ngày ấy! Ba năm nghỉ phép chứ không phải ba tuần. Hẳn là cái gì y cũng làm một cách hấp tấp có khi xây nhà trên bãi cát, nhưng y không muốn nghĩ tới nữa.

Y không nghe tiếng nói của Elisabeth. Chợt nhớ lại những lời nàng nói về đứa con. Một bức vách đã bất thần sụp đổ, để lộ ra một mẩu tương lai bất định giống như một góc vườn. Không bao giờ y có sức lực để dám cả gan một mình đi vào mảnh đất lạ ấy. Hằn là lúc về phép y có mơ màng sẽ để lại cái gì là của riêng mình và mang tên tuổi mình – nhưng ý nghĩ chưa bao giờ phiêu lưu quá xa như thế. Y ngước mắt nhìn những cành xoan dần dần chìm vào trong tối. Trời! Viễn tưởng về thế hệ tương lai có thể kéo mình đi xa! Mới đầu y chỉ nghĩ đến một chút hạnh phúc trôi qua, một chút giành giựt của chiến tranh giữa hai chuyến tàu đi về nghỉ phép. Bây giờ thì hạnh phúc ấy hàm chứa một lời hẹn trở về, hy vọng hạnh phúc bình thản và thỏa mãn, tương lai trinh nguyên mà có lẽ đứa con sau này sinh ra sẽ bước vào đời với những bước tin tưởng. Trước những ảo ảnh mênh mang ấy y bỗng thấy lòng mình trìu mến một cách kỳ dị, không biết sao y thấy mình chấp nhận những hứa hẹn muôn thuở lừa phỉnh và thô lậu.

***

– Sáu giờ thì tàu chạy. Anh đã thu xếp cả rồi, bây giờ anh phải đi. Em đừng ra ga. Anh muốn từ biệt em ở đây để giữ lại hình ảnh khu vườn làm khung cảnh cuối cùng sống với em. Chúng ta nên tránh sự chen chúc ở sân ga và cái bịn rịn những phút cuối cùng. Lần trước mẹ anh đưa anh đến ga, anh không thể làm yên lòng bà cụ được. Cả hai mẹ con đều đau khổ. Phải lâu ngày mới quên được, mà sau này nghĩ đến mẹ, chỉ thấy kỷ niệm một bà cụ già mặt mũi nhếch nhác, mồ hôi nhễ nhại nhìn theo con tàu chạy miết. Anh không muốn thấy mẹ trong trí nhớ dưới cảnh đau thương ấy. Em hiểu không?

– Hiểu.

– Như vậy em cũng không nên thấy anh lếch thếch bị với súng nặng như con lừa chở gạo, anh đã trở lại là một con số trong quân đội rồi. Chúng ta nên từ biệt nhau trong lúc chúng ta thảnh thơi như lúc này. Em cầm lấy số tiền này, anh trữ sẵn cho em. Ngoài mặt trận anh không cần.

– Em không cần. Tiền lương cũng đủ rồi.

– Ở mặt trận không có dịp tiêu tiền. Em dùng để may áo, em may cái áo dài vô ích và vớ vẩn cho hợp với cái mũ hôm trước. Như vậy anh sẽ vui sướng đem lại chút vui sướng cho em.

– Em sẽ mua đồ gửi cho anh.

– Không, đừng gửi gì cả. Ở đấy ăn uống tử tế hơn ở nhà. Đừng quên mua áo dài. Ngồi xem em mua mũ anh đã hiểu đôi chút. Em hứa với anh là em sẽ mua chiếc áo dài, chiếc áo vô ích chứ không phải chiếc áo để mặc làm việc. Có đủ tiền không?

– Đủ, có thể mua thêm đôi giày nữa.

– Thế thì tuyệt, mua thêm đôi giày dạ hội.

– Đồng ý, giày cao gót, nhẹ như lông. Em sẽ đi giày ấy để ra đón anh lúc anh về.

Graber lấy trong bị ra bức hình khung thếp vàng tính mang về cho mẹ.

– Một kỷ niệm của nước Nga.

Nàng lùi lại một bước, biến sắc mặt:

– Không, không, đem cho người khác đi, giữ nó mình có cảm tưởng như xa lìa hẳn.

Y nhìn bức hình:

– Anh tìm thấy trong một căn nhà bị phá hủy. Có lẽ nó không hên, nhưng anh không nghĩ đến.

Y xếp lại vào bị bức hình về thánh Nicalas xung quanh là một bầy thiên thần.

Nàng đề nghị:

– Hay là để mang tặng nhà thờ, chúng ta đã ngủ nhờ một đêm.

Graber nghĩ thầm: “Hôm qua thì còn gần nhưng sang hôm nay đã là một kỷ niệm xa xôi”.

Y trả lời nàng :

– Họ không lấy đâu. Người Nga theo tôn giáo khác người Đức. Những người bảo vệ giáo điều của ông Trời Tình Yêu có quan niệm hẹp hòi lắm.

Y nghĩ rằng có thể mang vùi vào đất nhà thờ với hộp cốt của bác sĩ Kruse. Nhưng có lẽ như thế lại thêm tội phạm thượng chứ ích gì.

***

Y không quay lại nữa. Y bước đi không chậm mà cũng không nhanh. Bị trên vai thì nặng mà phố dài đi mãi không hết. Khi đã rẽ sang phố khác, sự thật để lại sau mình đã trở thành giấc mơ. Vài phút trước, y còn ngây ngất mùi hương thơm của mớ tóc Elisabeth, bây giờ chỉ còn mùi cháy khét lẹt lẫn với mùi thịt người chết đã rữa phảng phất trong khí trời nặng nề.

Y đi qua thành. Một bên lối đi trồng bồ đề cháy rụi, đen thui, bên kia cây xanh tốt. Dưới bãi sông lủng củng những gạch ngói, rơm, bao tải, giường gãy, dầm nhà cháy dở. Y nghĩ thầm: “Nếu có còi báo động thì mình phải xuống hầm và có cớ để nhỡ tàu. Bất thần mình trở về thì Elisabeth sẽ vui sướng biết bao?”. Tự hỏi vậy nhưng không có câu trả lời. Nhưng biết đâu cái gì đã êm dịu rồi đây lại không trở thành nguyên nhân những đau khổ khác, vả chăng mộng mị như thế để làm gì? Gặp báo động tàu sẽ không chạy, y cũng lại lên tàu khi hết báo động.

Y trở lại đường phố trước đây đã đặt chân lần đầu tiên khi về tỉnh nhà. Chiếc xe buýt vẫn đậu chỗ ấy. Y leo lên xe, mười phút sau xe chạy. Nhà ga lại dời đi một lần nữa, bây giờ là một cái kho chứa đồ, nóc lợp tôn, quét vôi xanh và nâu. Một tấm vải màu xám che một phía căn nhà tạm cất. Để che mắt phi công địch, người ta ngụy trang thành một cái trại bằng gỗ ở thôn quê với đầu một con bò bằng gỗ thò ra ngoài. Hai con ngựa gìa ăn cỏ trong bãi cỏ có đường rầy đi qua.

Chuyến tàu đã tập họp được đủ các toa, một vài toa có đeo biển: Dành cho quân nhân nghỉ phép. Một người đứng xét giấy tờ. Anh ta không nhận ra Graber đến trễ một ngày. Graber trèo lên tàu và tìm được một chỗ ở gần cửa sổ. Lát sau ba người nữa bước vào, một hạ sĩ quan, một binh nhất và một người lính pháo binh ngồi được một tí thì giở bánh ra ăn. Một xe đồ ăn do hai cô đeo phù hiệu Quốc xã đẩy đến sân ga.

Người hạ sĩ quan bảo anh binh nhất:

– Người ta cho uống cà phê, anh thấy không?

– Không phải mang cho bọn mình đâu. Đấy là cho tân binh lần thứ nhất ra trận. Lúc nãy tôi nghe họ nói thế. Còn đọc diễn văn nữa. Đối với chúng ta thì kém phần long trọng.

Một đám người tị nạn xếp hàng hai ngoài sân ga. Người ta gọi tên. Người nào cũng có bọc hành lý ở dưới chân, họ hình như bị thôi miên bởi chiếc xe đồ ăn. Một vài sĩ quan mật vụ xuất hiện, họ đi giày bóng và mặc quần kỵ mã, nom như những con cò. Ba người nghỉ phép nữa tiến vào trong toa. Một người mở cửa sổ nghiêng mình ra ngoài. Một người đàn bà dắt đứa trẻ đứng ở sân ga. Graber nhìn đứa trẻ rồi người đàn bà. Bà ta người bé nhỏ, mi mắt chảy xệ, ngực lép kẹp, người bó trong cái áo hè đã phai màu, in hình vẽ cối xay gió.

Y nhìn sự vật thấy hiện ra rõ nghĩa khác thường, đáng lo ngại là khác.

Người đàn bà nói:

– Thôi anh đi nhé!

– Cứ vững tâm, mình về nói tôi gửi lời chào cả nhà.

– Vâng.

Hai người yên lặng nhìn nhau. Đoàn quân nhạc hàng tỉnh đến đứng xếp hàng ở sân ga.

– Ngấy quá. Những khối thịt trẻ măng để làm mồi cho súng cối được hân hạnh quân nhạc đón chào! Tôi tưởng những trò hề này đã chấm dứt lâu rồi.

– Cho tụi mình một hớp cà phê có phải… Dầu sao thì mình cũng ra tiền tuyến.

– Đợi đến chiều sẽ được ăn xúp.

Tiếng hô nổi lên. Tân binh đi bước đều tiến lại. Phần nhiều còn trẻ măng. Tuy nhiên cũng lẫn vào một vài người nhiều tuổi và lực lưỡng hơn; hẳn là họ ở giới Mật vụ phái sang.

– Này coi mấy thằng nhãi kia, chưa phải cạo râu nữa. Trông mong vào chúng mà giữ vững phòng tuyến!

Tân binh đi lại ngoài ga. Hạ sĩ quan hô lệnh. Rồi yên lặng trở lại. Có người đứng ra nói lời hiệu triệu.

Anh binh nhất bảo người đang cúi xuống với vợ:

– Đóng cửa vào!

Người này không trả lời. Tiếng nói diễn giả lại vang lên, khô khan, đanh thép. Graber tựa mình vào lưng ghế nhắm mắt lại. Người tên là Heinrich vẫn nhoài người ra ngoài với vợ. Y không nghe tiếng bảo đóng cửa. Y nhìn vợ một cách hơi ngây ngô, vợ cũng nhìn y. Graber nghĩ bụng: “Mình bảo Elisabeth đừng ra ga thế mà hay”.

Diễn giả đọc xong bài diễn văn. Đoàn quân nhạc trỗi một loạt những bài quân hành. Mấy bản nhạc chỉ chơi một bản một đoạn nên xong ngay. Trong toa tàu không ai nhúc nhích. Anh binh nhất thò tay ngoáy mũi rồi nhìn xem ngón tay thế nào. Tân binh lên tàu, theo sau là các cô cứu thương. Một vài phút sau người ta đẩy ra chiếc xe không.

– Đồ đĩ, họ phó thác mặc trời cho những thằng già như chúng mình!

Người pháo binh ngừng ăn một lát hỏi lại:

– Anh bảo gì?

– Tôi bảo, đồ đĩ!

Người pháo binh cắn một miếng bánh khác.

– Đồ heo!

– Heo à?

Người hạ sĩ quan nói rồi đưa mắt tìm người biểu hiện đồng tình. Người kia có vẻ quên rồi, người đứng gần cửa sổ vẫn quay ra với vợ.

– Sao mãi không đi thế này, hơn sáu giờ rồi.

– Có lẽ còn đợi một ông tướng.

– Tướng tá họ đi bằng máy bay.

Phải đợi thêm nửa giờ nữa.

Thỉnh thoảng Heinrich lại nhắc vợ:

– Mình đi về thôi.

– Đợi một lát nữa cũng được.

– Về còn cho con ăn chứ!

– Suốt buổi tối hôm nay lúc nào ăn chả được.

Một hồi yên lặng nữa, rồi Heinrich lại nói:

– Mình nhớ nói chuyện với Joseph.

– Em không quên đâu.

Anh pháo binh ăn xong đánh rắm kêu vang, thở khoan khoái rồi ngả ngửa người ra ngủ. Hình như con tàu chỉ đợi có hiệu lệnh ấy để bắt đầu chuyển bánh.

– Mình nói lại tôi gởi lời chào cả nhà nhé!

Đoàn tàu dần dần tăng tốc lực. Marie chạy theo bên cửa sổ.

– Coi chừng thằng nhỏ!

– Mình cũng nên cẩn thận.

– Được rồi, được rồi!

Graber trông qua cửa kính thấy bộ mặt của người đàn bà sắt lại. Bà ta chạy theo, làm như tất cả đều tùy thuộc vào một giây theo dõi chồng. Thình lình y trông thấy Elisabeth. Nàng đứng đằng sau một cái kho cho nên trước không trông thấy được. Y còn ngờ ngợ, nhưng sau nhận ra ngay khuôn mặt nàng. Khuôn mặt một người chết rồi. Y chạy thốc ra cửa sổ kéo vai Heinrich lại.

– Cho tôi nhìn chút!

Bất thần y quên hết. Y không hiểu tại sao mình lại ra ga. Y không hiểu gì nữa cả.

Bây giờ phải gặp nàng với bất cứ giá nào. Y chưa nói được điều định bụng nói với nàng hơn cả.

Y lay mãi Heinrich nhưng anh này lấy sức đứng chặn hết cửa sổ, khuỷu tay chặn lối Graber định tiến lại.

Heinrich nói lớn qua tiếng tàu ầm ầm:

– Hôn Liese cho tôi nhé!

– Cho tôi nhìn ra với nào, vợ tôi đứng kia.

– Viết thư ngay nhé!

Graber cố sức mà không lay được anh lính đồ sộ quay lưng lại, anh ta làm hiệu cho vợ đã khuất rồi. Tàu đi vào khúc đường vòng. Graber nhìn qua đầu Heinrich vẫn thấy Elisabeth. Nàng đứng một mình gần cái kho, nom chỉ còn bé bằng cái châm. Y đưa tay qua đầu Heinrich vẫy. Có lẽ nàng trông còn thấy rõ người nhưng không thể phân biệt ra ai. Một dãy nhà xuất hiện, che khuất hẳn nhà ga.

Heinrich thong thả rời khỏi cửa sổ.

Graber nổi khùng định xạt Heinrich, nhưng vừa nói được:

– Đồ…

Y ngậm miệng lại liền. Heinrich quay lại, nước mắt chảy ròng ròng trên mặt. Graber lùi lại một bước, lẩm bẩm:

– Bẩn thỉu, bẩn thỉu!

Anh hạ sĩ khó chịu:

– Ôi dào! Lắm chuyện!

Mùa cá Đường hội

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post 12/9/2005

Post by Sơn râu 11 Jun 2026

(Cách đây mười măn tôi có trở về sông Ông Ðốc. Nghe ngư phủ nơi đây nói lại, cá đường không còn hội ở mũi Cà Mau nữa mà đời xuống rạch Gốc, nhưng hội cũng thất thường lắm. Nghề lưới gộc bây giờ cũng không còn nữa. Tiếc hùi hụi, nên tôi viết lại chuyện nầy để tặng các ngư phủ bên vàm sông Ông Ðốc, những bạn đồng nghiệp trước đây và cũng để đánh dấu trên quê hương chúng ta cũng có một thời tài nguyên thiên nhiên rất là phong phú…)  Hàng năm khi gió chướng nhẹ nhàng và nắng bắt đầu gay gắt, thì trên vàm sông Ông Ðốc ghe lưới, ghe cào, ghe te, vỏ lải… lớn nhỏ đủ loại của ngư dân ra vào nườm nượp. Ai nói chim trời cá nước mênh mông khó bắt, chớ đối với dân vùng nầy, họ có một niềm tin. Họ tin Ba Cậu, Nam ông và tin tưởng tài nghệ đánh bắt cao siêu của mình nữa. Mấy anh ngư phủ tin ở tài năng của mình bao nhiêu thì mấy chị mần khô, mấy bà bán buôn tôm, cá tin các anh bấy nhiêu. Nhiều chị tới nhà chủ nghe đặt cọc trước để khi trúng được tôm, cá chủ ghe dành phần cho mình.

Những ngày nầy thị trấn Sông Ðốc nhộn nhịp vô cùng. Tuy là mùa tôm, mùa cá cho các phần đánh bắt khác nhau, nhưng xóm lưới gộc là xóm bận rộn nhứt. Ngư phủ ở đây hẹn sẽ ăn tiệc lớn sau vụ cá đường hội. Họ o bế lại dàn lưới, tra cán và mài dũa lưỡi câu bắt (1), sửa lạ­i ghe máy cho ngon lành, tuyển chọn ngư phủ “cừ” để chuẩn bị cho những con nước chết từ giữa tháng hai đến tháng tư.

Lưới gộc dạ­o dài ba sải, cước lưới cỡ đầu đũa ăn, lỗ lưới mười phân chuyên dùng bắt cá gộc (2), ngoài ra còn bắt được cá sủ (3), cá sóc (4), cá sạo (5), cá đường và vài ba loại cá lặt vặt khác. Nhờ vừa cỡ bắt cá đường nên người ta dùng lưới gộc trong những ngày cá đường hội. Tuy nhiên khi vô sân hội ngoài lưới gộc ra còn có lưới năm (6), lưới chim. Những ngày này còn có các ghe nhỏ như te (7), cào, vỏ lải đẩy chủ (8), vỏ lải lưới tôm và cả những chiếc xuồng chèo từ rạch Cái Tàu ra tham hội.

Sớm lắm là mùng bảy, trễ lắm là mùng chín tháng ba, đoàn ghe lũ lượt nối nhau ra vàm sông Ông Ðốc rồi trực chỉ xuống mũi Cà Mau. Phía ngoài mũi Cà Mau có một bãi rộng vài trăm thước và tiếp liền một vùng nước cạn mênh mông, nơi đây nước xanh màu lá mạ vào những ngày nước chết (9), đục màu phù sa vào những ngày nước săng (10). Cạn lắm một sải, sâu lắm là ba sải. Chỉ có một vòng tròn độ bốn năm cây số trũng xuống trên ba sải chiều sâu nhứt, nơi đó được gọi là Lòng Chảo. Chính giữa Lòng Chảo có nhiều hàng đáy của dân trong đất Mũi nên dân ngư gọi đó là đáy Lòng Chảo.

Cá đường màu vàng, thân hình ốm và dài, có kỳ vi cũng như nhiều loại cá khác, vảy tròn nhỏ cỡ đồng xu, mỏng manh như lá lúa. Thịt làm khô mặn, đặt biệt bong bóng rất đắt tiền. Hàng năm cá đường về Lòng Chảo ép trứng vào những con nước chết mà dân ngư gọi đó là cá đường về hội.

Ngoài khơi dòm vô thấy dạ­ng rừng đước trong mũi Cà Mau lấp thấp như cù lao dài và nhọn. Ở phía nồm đông (11) hòn Sau và hòn Khoai, tròn như mu rùa khổng lồ úp trên mặt biển. Mênh mông một vùng nước phẳng lặng, bỗng hàng trăm chiếc ghe lớn nhỏ tụ tập về đây, ghe neo kết từng chùm với nhau giống y chang một thị trấn nhỏ nổi bềnh bồng. Bên hướng nồm tây, nhiều chiếc ghe đón cá đêm sợ trễ buổi hội nên sáng sớm đã phóng mút ga phun khói mịt mù trực chỉ vô sân hội.

Ðêm xuống, giữa Lòng Chão đèn điện sáng choang như một thành phố nổi trên biển. Vài chiếc ghe lưới gộc coi bộ nóng lòng mở máy vừa pha đèn tránh những hàng đáy, chạy bủa lưới cầu may.

Những ghe còn lại thì ghe lớn quăng neo, xuồng nhỏ đeo đít ghe lớn. ngư phủ xúm năm tụm bảy nấu nước pha trà, cà phê uống với kẹo đậu phộng, đường tán. Còn mấy tay bợm nhậu thì bày rượu và khô nướn ra nắp hầm nhậu lai rai. Rồi những chuyện gió mùa, đánh bắt, cá hội, nước chết, nước săng nổ giòn tan. Những người có chút máu văn nghệ, hổng thích ồn ào thì cứ tự nhiên ra dựa lưng sau lái ghe ca vọng cổ. Trong mui mấy ghe lưới gộc, nhiều sòng bài được bày ra. Họ ăn thua đủ, đánh lớn bạc trăm ngàn. thế nào cũng có người cháy túi và nợ luôn cả kỳ hội cá đường nữa là khác. Nhưng hề gì, dân hạ bạc (12) mà, lỡ thua hết chuyến nầy thì họ tìm cách gầy lại chuyến sau, rừng vàng, bạc biển lo gì, miễn sao mạnh tay khỏe chưn, đừng bịnh hoạ­n bậy bạ­ là họ còn kiếm ra tiền.

Có câu tháng ba bà già đi biển dùng để chỉ mùa gió chướng êm ái chớ thiệt ra bà già đâu có đi biển. Con gái với đàn bà thì có và có nhiều lắm, mấy bà mấy cô nầy thường mần chung với gia đình đẩy te, đẩy chủ hoặc lưới tôm dọc theo bãi quanh năm suốt tháng. Vào những con nước cá đường, mấy chị cũng tụ hết về đây. Trong nhóm nữ ngư phủ, chỉ có hai chị em Liên và Hoa được nhiều người nhắc tới một cách cảm phục. Hai chị em mần nghề đẩy te trên chiếc ghe máy Yanmar ba lốc đầu xanh. Liên là chị mần tài công, Hoa là em mần tài cải. Hai đứa giỏi dàng trời mây, tay chưn của tụi nó gân guốc như con trai. Cái máy ba lốc đầu xanh đôi khi những đứa con trai phải cà ì cà ạch quay lấy trớn trước khi đóng súp bắp. Con Hoa thì khỏi cần, nó đóng súp bắp trước rồi cầm maniquên rà qua rà lại cho ngay tăng, mới dùng cánh tay lực sĩ của nó giựt mạnh một cái là máy nổ ngon lành. Ðêm nay Liên buột ghe ở cột đáy bên kia cùng mấy cô mấy chị bên ghe khác bày tiệc chè, cháo gì đó ở bển. Dĩ nhiên cũng có vài anh con trai cà kê dê ngỗng tan chuyện trời trăng mây nước. Lâu lâu họ cười ré lên nghe vui vẻ lắm.

Khoảng năm 1968 trở về trước, cá đường hội đúng những ngày nước chết tháng ba, trễ lắm là trong vòng mùng mười tháng tư. Sau nầy kỹ thuật đánh bắt tối tân, máy móc ầm ỹ, bị động ổ nên cá đường hội thất thường. Do đó ngư dân phải chờ từ mùng bảy cho tới mười ba mười bốn âm lịch mới chịu đi. Ðợi cuối tháng, ngày hăm ba hăm bốn con nước yếu dần người ta mới trở l­ại chờ cho tới hăm chín ta. Có nhiều người kiên nhẫn cơm ghe bè bạ­n túc trực trên sân hội từ đầu tháng ba đến cuối tháng tư, đến chừng gió nam sòng ngọn, mây giông nghịch trời họ mới chịu chạy ghe về.

  Sáng nào cũng vậy, khi phương đông trời vừa đâm mây ngang là ngư phủ lo mần cá nấu cơm ăn no nê, họ sẵn sàng “chiến đấu” với bầy cá đường từ sáng tới trưa không cần ăn uống.

Mặt trời vừa nhô lên khỏi dạng rừng đước trên mũi Cà Mau thì cơm nước cũng vừa xong. Tất cả ghe máy chuẩn bị nhập hội. Bác tài phân công, tài cải coi lạ­i dầu nhớt và đề máy để sẵn, ngư phủ coi lạ­i lưới, thắt lạ­i ranh nhiệm vụ ngưòi nào ở đâu thì đứng ở đó, chờ lịnh bác. Còn bác thì ra mũi ghe ngồi… nghe ngóng tình hình.

Biển im phăng phắc gió như ngừng thở, tất cả mọi người nôn nóng ngó về Lòng Chảo. Mắt các bác tài công láo liên như mắt nhàn. Bỗng từ xa một chiếc ghe xịt khói, rồi hai chiếc, ba chiếc… rồi cả đám hè nhau xịt khói. Tiếng hô cá đường! Cá đường !!! hoà cùng tiếng máy nổ vang dội không gian đất mũi. Ghe chạy xịt khói đen hướn mũi về phía cá đường hội. Chính giữa Lòng Chảo mặt nước vẫn phẳng lặng, bỗng nhiên một dợt sóng dài hàng trăm thước nhô lên như một mô đất cao. Những chiếc ghe tới trước vừa bủa lưới xuống tức thì cá đóng nước văng lên tung toé, có con tung lưới nhảy bổng lên không. Tiếng quát tháo, chửi thề ỏm tỏi. Bên nầy tiếng la the thé trong veo của mấy cô ngư phủ, nhứt là những nữ ngư phủ trên ghe của con Liên. Ðầu đội nón lá, tóc bới cao, tay cầm câu bắt, chạy tới chạy lui, miệng quát om xòm trông chẳng khác gì nữ tướng trong tuồng hát cầm giáo xông trận quần thảo với quân thù.

Con trai con gái đều là lực sĩ, một con cá đường tệ lắm cũng bốn năm ký lô mà họ kéo lên liên tục như kéo một chiếc phao. Cá sặc lưới nổi lên một dải vàng lườm như sân lúa ngày mùa. Ngư phủ nhào xuống biển giữ lưới nhà, họ bất kể nhớt nhao, ôm sát vô mình những con cá sút lưới, kề lại be ghe cho cho mấy anh ngư phủ trên ghe dùng câu bắt giựt lên. Xong đợt hội đầu cũng gần hết buổi sáng, mọi ghe đều giạt ra khỏi Lòng Chảo để chờ đợt hội sau. Mấy chiếc ghe nhỏ, trọng tải ít mới đợt đầu mà đã khẵm. Người ta sợ chìm mới mổ bụng moi lấy bong bóng, còn thân cá họ liệng bớt đi.    

Vài ba đợt hội thì trời đã chiều, ngày hội đã tan, ngư phủ neo ghe lạ­i một nơi gỡ cá, mổ bụng moi bong bóng ngâm nước muối. Khi mặt trời đỏ ngầu lần lần lịm xuống mặt nước phía trời tây, tủa ánh hồng lên áng mây vừa đen vừa đỏ như những dám than ngầm cháy. Bên dưới, mặt biển xanh từ từ đổi ra màu xám xịt, thì đoàn ghe hội cá đường khẳm mẹp nối hàng nhau chạy hướng về vàm sông Ông Ðốc.

Gió chướng nhẹ thổi, thoảng mùi thơm của lá phất ra từ khu rừng mắm ven biển. Không ai nói với ai lời nào nhưng trên mặt các anh ngư phủ ánh lên rõ rệt nét mừng vui. Đêm hôm ấy xóm lưới gộc bên sông Ông Ðốc, đèn điện bật sáng choang như hoa đăng ngày hội lớn. ánh trăng mười bốn chênh chếch trên không cũng mờ đi vì những ánh đèn. Mấy anh lính ngoài đồn cao hứng bắn lên không những trái sáng màu chia xẻ niềm vui cùng dân xóm lưới.

Tiếng máy điện chạy rầm rì hoà cùng tiếng dao chặt cá bôm bốp lẫn tiếng mấy anh ngư phủ kể chuyện tiếu lâm làm mấy chị xẻ cá cười lăn nghiêng ngả. Trên boong ghe, bánh bao, xíu mại đầy mâm lave, nước ngọt chất đống, họ khui lách tách mời nhau.

Bong bóng cá đường là loại mắc tiền. Hình tròn cỡ cườm tay, dài hai gang có hơn, lúc còn tươi màu trắng đục. Sau khi ngâm nước muối, người ta cạo bỏ lớp mỡ đóng bên ngoài đem phơi cho dốt dốt, đem mổ một đường giữa, lột lớp màng nhớt ở trong bỏ đi và lấy hết những chỉ máu li ti ra đem phơi gió cho ráo mặt. Sau đó mới cán bong bóng ra hình bầu dục rồi lấy dao con chó vành bìa cho đẹp. Lần nầy mới đem phơi cho thiệt khô, sau đó đem phân hạng. Hạ­ng nhứt ba cái một ký giá bằng hai lượng vàng, hạng nhì bốn đến năm cái một ký giá hơn một lượng vàng, hạ­ng ba từ năm tới bảy cái một ký giá non một lượng, còn nhỏ quá thì vạt ra bán rẻ hoặc mấy bà dành lại nấu thuốc bắc cho mấy ông ăn để …sung sức.

Tại sao bong bóng cá đường mắc dữ  vậy? Thật ra ngư phủ miệt nầy chỉ đoán mò thôi. Có người nói bong bóng cá đường ăn bổ. Ðành rồi! Mà bổ ra làm sao và bổ ở chổ nào. Hổng lẽ đem chưng chung với nhãn nhục, thục địa và vài ba vị thuốc bắc khác để thành một chất nhơn nhớt như cứt mũi xanh con nít, rồi đem cho mấy ông già hết xíu quách ăn để hồi dương. Cho dầu thiệt sự có hồi dương đi chăng nữa thì cũng đâu đến nỗi mắc dữ thần ôn vậy.     

 Ở trong khu vực hai có ông già vợ chú ba Mùi đã ngoài sáu mươi, thuộc hạng giàu có trong xóm, nghe nói ông thường ăn bong bóng cá đường treo giàn bếp lâu năm (17) chưng thuốc bắc để cải lão hoàn đồng. Vậy sao ông vẫn cúp bình thiếc, mỗi khi ra đường ông phải chống gậy, cây gậy vừa tầm vậy mà ông khom đến đổi đầu gậy còn cao hơn đầu ông nữa. Nhiều người ác mồm ác miệng đồn rằng, tạ­i ông ăn nhiều bong bóng cá đường chưng thuốc bắc, sung sức ‘làm’ nhiều quá nên mới ra nông nỗi. Ðó chỉ là chuyện tiếu lâm cho vui, chớ thiệt ra chuyện ăn bong bóng cá đường có hồi dương hay không, bổ như thế nào đối với dân chúng miệt nầy vẫn còn mù mờ chưa rỏ lắm.

Chú thích:

1.- Lưỡi câu bắt bằng thép, cọng lưỡi lớn cỡ bằng ngón tay út uốn cong như lưỡi câu không có ngạnh, cán bằng tre cỡ cườm tay dài bốn năm thước, rất tiện giựt mấy con cá xẩy lưới.

2.- Cá gộc là loại cá xuất cảng, thân cá dài màu vàng, vảy cứng nhỏ cỡ đồng tiền cắc, đúng lứa nặng từ bảy tới mười ký. Có nhiều ở ngoài khơi mũi Cà Mau.

3, 4.- Giống như cá gộc nhưng thịt bở hơn nên không được xuất cảng, ăn tươi cũng không ngon nên thịt nó phần lớn được dùng để xẻ khô mặn.

5.- Như cá chép, vảy cứng màu xám trắng, chót đuôi màu vàng đậm lợt tùy loại. Ðầu cá sạo nấu canh chua, thịt cá sạo, nhứt là cá sạo sực, tả pí lù nhậu rượu đế … hết xẩy.

6.- Lưới năm: lỗ lưới năm phân, cước số 70.

7.- ‘Te’ tức là ‘xệp’. Ngày trước người ta đẩy xệp bằng hai gộn tre gác chéo có gài lưới đằng trước. Người đẩy ‘xệp’ phải lội xuống nước cong lưng đẩy. Sau nầy tối tân hơn, người ta cải tiến lại làm gộn bằng cây đước lớn hoặc cây sao, tùy máy lớn nhỏ đương lưới cho vừa sức đẩy.

8.- ‘Chủ’ giống như ‘te’ nhưng người ta không xài lưới mà xài tấm nilông mành lỗ nhỏ li ti như vải mùng lưới để bắt con ruốc về làm mắm ruốc.

9.- Nước chết là nước không chảy xuôi một chu kỳ của thủy triều lên xuống. Những con nước chết chánh là mùng mười và hăm lăm âm lịch.

10.- Nước săng là nước chảy mạ­nh, đầu nước từ mười bốn cuối nước là hăm hai âm lịch.

11.- Ngư phủ gọi hướng nồm là hướng nam. Nồm đông: đông nam; nồm tây: tây nam.

12.- Hạ bạc: theo truyển thuyết thì có hai nghề làm ra tiền nhưng bạc bẽo, vì tiền vô cửa trước ra cửa sau. Thượng bạc: Nhứt phá sơn lâm, chỉ những người làm rừng. Hạ bạc: Nhì đâm Hà Bá, chỉ những người theo nghề sông, biển, đóng đáy.

13.- Theo lời đồn, bong bóng cá đường treo giàn bếp lâu chừng nào công hiệu chừng nấy, có thể dùng làm thuốc… cải  tử hoàn sanh.

Thư cho SCL Tác giả viết: Mấy tuần qua tôi kẹt trên Nga và Ba Lan, vừa về tới Hamburg, lên hội quán liền ghé vào thăm SCL. Và in truyện đủ đọc một chuyến đi…

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Ngày đăng: 12.09.2005

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 11 Jun 2026

Đêm cuối cùng, tôi ở nhà bác Huế cho tiện lên bến xe. Sáng mai, tôi sẽ rời Nha Trang. Trong đêm chờ sáng, tôi đứng ngoài hành lang trên tầng gác, nhìn về cuối con đường. Những ngọn đèn mờ ảo trong sương như những con mắt âm u buồn thăm thẳm. Tôi nghĩ về ba tôi. Với một quê nhà mấy năm xa cách. Con đường đất tử nhà tôi dẫn về quê ngoại, hai bên là đồng ruộng mênh mộng, Mùa khô, mặt đồng trơ cuống mạ. Lũ nhỏ chúng tôi đã chơi đùa lăn lộn, dầm mưa dãi nắng ở đó và lớn lên tự nhiên như cây cỏ ngoài đồng nội, Đứng trước nhà tôi, nhìn xa xa thấy những rẫy mía trổ bông trắng xóa cả một vùng. Tôi mường tuợng, mỗi ngày ba tôi đi làm ngang qua đó. Bao nhiêu năm, ngày nào cũng thế. Ông đi, đầu hơi cúi xuống, chẳng nhìn chẳng ngó ai. Dáng đi lầm lũi, khép kín, cô đơn như người di một mình trên sa mạc. Gợi lại hình ảnh ấy, tôi xúc động, và thương ba tôi hết sức. Từ trước dến nay, có lẽ chưa bao giờ tôi cảm thấy thương ông như thế. Nhất là khi cô Hường nói cho tôi hiểu ra rằng ba tôi đuổi tôi đi như một thử thách ý chí tôi trước hoàn cảnh xã hội, chứ không phải là thái dộ ruồng bỏ con cái. Giờ đây, tôi sắp trở về. Một đứa con đi hoang trở về, mang theo trong tâm hồn nhiều vết thương, Phương Nghi là nỗi ước mơ tình yêu tuyệt vọng. Chị Triều đưa tôi vào đời bằng con đường tình dục. Xa chị, những tế bào đam mê dục vọng trong tôi hàng đêm thôi thúc. Tôi đi, cũng mang theo hình ảnh của Đông, một dứa con gái chớm tuổi dậy thì, e ấp rụt rè mà thân thiết biết bao. Tôi miên man nghĩ ngợi hết người này đến người khác, cùng những kỷ niệm vui buồn. Đêm đã khuya lắm, Đông lên tầng gác, đứng sau lưng tôi từ lúc nào.

Nó bảo: “Khuya rồi. Anh vào ngủ để mai đi sớm.”

Tôi nói: “Có nằm cũng không ngủ được.”

Tần ngần một lúc, nó lại hỏi: “Anh Hiên về lần ni, rồi chừng mô trở lại Nha Trang?”

“Anh không biết, Ba anh cần có anh bên cạnh, trong lúc này. Nó dựa vào thành lan can, im lặng nhìn xuống đường. Tóc rủ một bên vai, sương xuống ướt lá dương lả ngọn vào hành lang hẹp.

“Em vào ngủ di. Đứng đây coi chừng cảm lạnh.”

“Em củng không ngủ dược. Em thức chờ sáng với anh.”

“Anh có nhiều tâm sự. Em có gì đâu mà cũng thức?”

“Răng anh biết được em?” Nó nhìn tôi, trong đáy mắt u ẩn đựng đầy bóng tối. Tôi nhìn về phía những ngọn đèn vàng, buồn tím ruột gan. Bầu trời trắng một màn sương đục. Không thấy những vì sao. Đêm thành phố miền biển, thoảng nghe có muối măn tan hòa trong hơi sương.

“Trước khi đi, anh cần nhắn lại điều chi cho ai không?”

“Ngoài sư Trí Tâm và những người trong gia dình em, anh không còn ai thân thiết”

Nó hòi nhỏ: “Với em, chừ anh cũng không có điều chi để nói răng?

Câu hỏi làm tôi xúc động mãnh liệt. Tôi đứng nhích lại gần Đông, muốn quàng lấy đôi vai nhỏ bé thấm đẩm mù sương mà ấp ủ. Đêm lắng đọng chìm vào tịch mịch hư vô. Tôi như nghe hơi thở của Đông lùa rất nhẹ trong chùm dương rủ lá. Đồng thời, tôi cũng chợt nghĩ đến bác Huế. Tôi tưởng tuợng trong bóng tối ở phía sau lưng, đôi mắt bác đang theo dõi từng cử chỉ của tôi. Nếu tôi cầm lòng không đậu, thì bao nhiêu gìn giữ tốt đẹp bấy lâu, sẽ tức khắc tan tành sụp đổ trong lòng bác.

Tôi nói thầm: “Đông ơi, em vào ngủ đi.”

Nó ngó xuống bàn chận một lúc, buồn bã quay vào. Tôi đứng một mình trong đêm chờ sáng. Lòng đẩy sương giá cô đơn. Năm giờ sáng, trời còn chạng vạng. Hai bác Huế Quảng và bé Hà đưa tôi ra cổng. Không có Đông. Tôi ôm bé Hà, hôn tóc nó, nới lời từ giã hai bác, rồi lên xích lô. Lúc xe bắt đầu lăn bánh, tôi ngoái nhìn lên tầng gác. Đông đứng ngoài hành lang, ngó theo. Tôi vẫy tay. Nó vẫn im lìm như tượng đá.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 11 Jun 2026

Thấy vợ đang nấu ăn ở trong bếp, ông chồng đang đọc báo ở phòng khách bên, bỏ tờ báo xuống bước vào cạnh vợ, ông nhìn vào nồi canh rồi nói: “Sao ít nước quá vậy. Chắc mặn rồi đấy Thêm nước kha khá vào đi em!” Ông lại giở nắp song nồi thịt bằm, cúi xuống hít hà mấy cái, góp ý kiến: “Cái này em đã ướp đủ gia vị chua? Sao không thấy thơm tho gì cả vậy?” Ông quay người lại chổ để nồi cơm điện, đưa tay định dở nắp ra. Bà vợ nãy giờ im lặng theo dỡi cử chỉ lạ lùng của chồng, nhưng đến lúc ông sắp chõ miệng vào nồi cơm, thì bà nổi nóng, hết chịu đựng, la lên: “Ông đi ra khỏi nhà bếp đi! Khi nào xong, tôi mời ông cầm đũa. Việc bếp núc là của tôi, tôi yêu cầu ông đừng xen vào: Giỏi thỉ ông vào nấu đi, cho tôi ra ngồi đọc báo!”

Bấy giờ ông chồng chậm rãi trả lời: “Nấu ăn là việc của bà, lái xe là việc của tôi, thế mà lúc tôi lái xe, ngồi bên cạnh bà cứ hết nhắc nhở hết chuyện này đến chuyện nọ, hết kêu chậm lại, lại kên nhanh lên! Hết nhắc đừng, lại giục đi, mà tôi có nổi nóng hồi nào đâu?”

Trong một cuộc phỏng vấn điều tra các vị đàn ông lái xè, thì đã có 908% quý ông bị các bà vợ ngồi bên can thiệp bằng cách cố vấn thô bạo vào việc lái xe. Ngày xưa quý vị phi công nếu có cho vợ đi nhờ máy bay thi cũng chỉ được để vợ ngồi ở thân tàu, nếu ngồi ở cockpit, dù các bà chẳng hể học lái máy bay ngày nào, cũng muốn lái cả phi công. Quý bà thường hay xen vào công việc của ông chồng, nếu có đàn bà thích lái tài xế, lái phi công, thì ngày xưa cũng có bà lái cả tướng, tá. Cò bà tư lệnh mỗi đêm thường goi các vị trung đoàn trưởng để nhắc nhỡ chuyện “hụi hè” cho nên chúng ta mới phải chịu cái cớ sự bỏ nước mà đi ngày nay.

Tôi đã từng ngồi chung xe với nhiều cặp vợ chồng, nhất là khi ông chồng lái thì bà vợ hình như không bao giờ chịu ngồi yên:

-” Bảng “stop” kìa auh!”- Đèn đỏ kìa anh!” – Xanh kìa đi đi anh!” – “Sao chậm vậy anh!”- “Nhanh lên một chút anh.”

Hình nhự đa số phụ nữ thường không chịu ngồi yên khi ông chồng lái xe, nhưng chưa có ông chồng nào dám nói:

“Nào, giỏi thì bà lái xe đi, cho tôi ngồi đọc báo!”

Tôi tin rằng người lái xe có nhiều kinh nghiệm và phản ứng hơn là người ngồi bên cạnh, nên không thể hỏi họ, sao lúc này hay đoạn đường này chạy nhanh, mà ở chỗ kia lại giảm chân ga. Trong bản chất người phụ nữ nào cũng có chút ít mầm móng của người mẹ, người chị, cô giáo mà ít thấy điều gì tỏ ra họ là đứa con, đứa em, thích chủ động hơn là thụ dộng. Thông thường là người phụ nữ ít giữ đuợc bình tĩnh hơn người đàn ông, Xe dang chạy trên đường mà thấy ở phia tay phải có xe cảnh sát đang chớp đèn dừng lại biên phạt một xe hơi khác là mấy bà đã quýnh lên: “Cảnh sát kìa! Cảnh sát kìa anh!”

Người lái xe sẽ hỏi lại: Nếu có một con sư tử đang nhai ngấu nghiến một con nai đầy máu me bên bìa rừng, thấy một con nai khác chạy qua, nó có bỏ mồi đi rươt theo con nai mới không?” Câu trả lời là không. Nhưng thấy ông cảnh sát đang đứng biên giấy phạt lên đường thì nên đổi lane, gọi là “pass over” nếu không sẽ bị phạt nặng, vì đã có trường hợp tài xế chạy gần đụng chết ông cảnh sát vì có lẽ muốn quan sát chuyện gì đã xảy ra.

Có khi thấy xc cảnh sát chạy bên kia đường các bà đã la hoảng: “Cảnh Sát kìa! Cảnh Sát kìa!” Thì thây kệ nó. mình chạy xe đúng luật là được rồi. đừng hoảng. Thật tình nếu giao tay lái cho mấy bà, ông chồng làm người quan sát ngồi một bên chắc cũng phải lên ruột. Tôi vẫn nghĩ là đàn ông lái xe giỏi hơn đàn bà. Ở Bolsa này đă có hai trường hợp lái xe tông thẳng vào quán ăn, hay ngoài chợ lui xe cán phải bà giả dều là … phụ nữ. Nhưng cũng có trường hợp đản ông lái xc đụng cột đèn làm mất điện cả khu phố như một ông nghị viên. thì đó là vì … xỉn, chứ không phải vi lái dỡ!

Tôi cũng dã từng biết chuyện một bà lai xe vào thẳng garage, thay vì rà chân thắng thi lại đạp mạnh chân ga, may mà ông chồng đang đứng trước xe nhảy kịp, chỉ làm đổ vách, chứ chưa đụng đến người. Ở các lớp học xóa ticket, phụ nữ đông hơn đàn ông. Có lẽ cảnh sát Mỹ có lòng kỳ thị, phân biệt giới tính chăng?

(Thuy Sĩ, theo hãng bảo hiểm Suva, một hãng bảo hiểm có khách hàng đông nhấ, thì đàn bà gây nhiều tai nạn lái xe hơn đàn ông. Phái đẹp hiện nay có tỷ lệ gây tai nạn cạo hơn nam giới là 25″%, lý do là hay bị căng thẳng và “lo ra” hơn cánh mày râu. Tại Anh Quốc theo Telegraph, một cuộc khảo sát cho thấy có tới 13 nam giới cho biết họ không cảm thấy an toàn khi để vợ hoặc bạn gái lái xe hơi, với lý do chị em ta quá dễ bị xao nhãng, chia trí bởi chuyện con cái, cảnh vật trên đường hoặc người lái xe khác.

Nhưng thco nghiên cứu trên 700 người của Công ty Carrentals cũng ở Anh thì phụ nữ lái xe ít vi phạm an toàn

giao thông, ít gây tai nạn hơn đàn ông. Có đến 57% nam giới vướng phải mệt hoặc nhiều tai nạn, trong khi tỷ lệ này của phụ nữ chỉ 44%. Cũng theo các thử nghiệm của Đại học Braford (Anh) lại cho thấy khoảng thời gian tập trung và khả năng học luật ở phụ nữ tốt hơn nhiều so với nam giới. Nguyên nhân có thể do lượng hóc môn ocstrogen của phụ nữ dã kích thích lên một phần não gọi là thùy trán chuyên xử lý các kỷ năng liên quan. Điều này cũng giải thích vì sao học sinh nữ dễ tập trung ở trường hơn nam và vì sao phụ nữ lái xe cẩn thận hơn đàn ông.

“Ông nói gà bà nói vịt.” Vậy biết tin ai bây giờ? tôi không phải là người viết tạp ghi nói xấu phụ nữ nhưng đôi lúc cũng là người trong cuộc, cũng như đã nhiều lần chứng kiến cảnh quý bà đang tận tụy dạy lái xe cho chồng, nói rõ là “làm nghiệp vụ lái tài xế.” Có điều, trong 23 năm lái xe ở Mỹ, tôi đã nhiều lần bị cảnh sát theo chớp đèn sau xe, bắt dừng lại bên vệ đường để viết giấy phạt và những lần đó là những lần trong xe không có “bà thầy” dạy lái xe ngồi bên cạnh. Ơ một lớp học “xóa ticket,” tôi gặp một ông bạn già khá thân, ông “nhày nhỏ” với tôi: “Đừng nói với vợ tôi là mình gặp nhau ở đây nghe anh!” Tôi bắt tay ông thật chặt. nói nho nhỏ với ông một câu nửa Tàu, nửa Tây: OK! OK! Me too! Kỷ sơ bất dục, vật thị ư nhân!” (Dịch theo hòan cảnh này là: – Điều gì anh không muốn tôi nói với vợ anh, thì anh cũng đừng nói với vợ tôi nhé!)

“Không Thầy đố mày làm nên!”

Chân lý ấy không bao giờ thay đổi!

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 10 Jun 2026

Một con chim én lượn quanh gác chuông đã sạt mất nửa. Tia nắng thứ nhất làm bừng sáng những viên ngói ngũ sắc còn lại. Graber thắp bếp đun rượu. Không biết ở chỗ tôn nghiêm này có được phép nấu bếp không, y theo tác phong nhà binh, cứ làm trước đi đợi lệnh cấm hãy hay. Y lấy ga-men ra và đi tìm vòi nước. Đằng sau trạm thọ hình thập tự giá có một vòi. Cách đấy không xa, một người nằm ngủ miệng há hốc, cằm lởm chởm râu đỏ. Y chỉ có một chân. Cái chân gỗ đã tháo ra để bên cạnh. Nắng chiếu vào nom như một cái máy dị kỳ. Graber bây giờ mới thấy rõ những lối đi có che mái và những cột trụ cách nhau rất đều. Người ta đã tôn trọng lời dặn của ông thầy dòng: nam nữ biệt tịch, phía nam dành cho phụ nữ.Graber trở lại thì Elisabeth đã tỉnh dậy. Coi nàng tươi tắn và tỉnh táo, không giống những người khác trong nhà rẫy này.

– Có chỗ rửa mặt rồi. Em nên đến trước không thì lát nữa đông không chen được. Những nơi tôn nghiêm phần nhiều kém về mặt thiết trí y tế. Ra đây anh chỉ cho buồng tắm của các thầy tu.

– Anh ở lại coi chứ không về đến nơi thì chẳng còn đèn bếp với cà phê nữa. Anh chỉ cho em tìm lấy cũng được.

Nàng theo lời chỉ đi qua vườn. Nàng ngủ yên cho nên áo không nhàu. Chàng trông theo mà bỗng cảm thấy xúc động lòng yêu mạnh mẽ.

– À ra bây giờ ông đun nấu trong vườn của Chúa?

Hẳn là ông ta rón rén bước lại nên không ai biết:

– Mà lại còn đun nấu trước trạm thánh?

– Nếu có bếp riêng cho người tị nạn chúng tôi đến nấu.

– Bếp à! Ông nên nhớ rằng đây là đất thánh. Ông không thấy mộ các giám mục à?

– Không phải lần thứ nhất tôi nấu bếp trong nghĩa địa. Nhưng có lẽ ở đây có quán ăn hay xe bán đồ ăn.

– Quán ăn ở đây?

Ông ta nuốt những danh từ ấy như trái cây thối.

– Có cũng hay chứ sao?

– Hay với người vô đạo như ông. May mà không ai nghĩ như ông! Quán ăn trên đất của Chúa! Thật là gàn dở!

– Đâu đến nỗi. Đấng Ki-Tô đã cho một số lớn người ăn với vài chiếc bánh và vài con cá, ông phải biết những điều ấy chứ. Hẳn là Chúa không phải là người ác nghiệt như ông. Thôi mời ông đi đi! Bây giờ là chiến tranh, phải nói cho ông biết thế!

– Tôi sẽ trình với viện trưởng.

– Ông cứ lên trình, viện trưởng sẽ tống cổ ông ra, với lũ quỷ cho ông chết rã thây!

Ông thầy dòng quay đi với điệu bộ người đáng kính bị ngạo mạn. Graber lấy ra một gói cà phê, thừa hưởng của Binding. Để gần mũi ngửi, đúng là cà phê bột. Đổ nước nóng vào mùi thơm bay khắp nơi. Thấy ngay hậu quả. Một cái đầu râu ria không cạo nhô lên đằng sau ngôi mộ và hít gió. Một người nhọc nhằn trỗi dậy đến gần.

– Này ông bạn, có nhiều cho uống một chút.

– Thôi xin ông. Đây chúng ta đang ở nhà của Chúa người ta nhận của bố thí chớ không ai bố thí cả.

Elisabeth trở lại. Nàng đi nhẹ nhàng vui vẻ như đi chơi về.

– Cà phê ở đâu thế?

– Của anh Binding, uống ngay đi không thì cả nhà rẫy này đổ đến tranh phần bây giờ.

Mặt trời lần lượt chiếu từng trạm trong đường thập tự. Một bó hoa tím vừa tàn hết trong một chậu để dưới trạm thọ hình thập tự giá. Graber lấy bánh mì và bơ trong bị ra, cầm dao bỏ túi phết từng miếng.

– Bơ tươi à? Cũng của anh Binding?

– Của Binding hết. Lạ thật, y luôn ăn ở rất tốt, mà anh không thể nào cảm tình được với y.

– Có lẽ vì thế mà y phải hết lòng với anh. Ở đời có những trường hợp như thế đây.

Elisabeth ngồi trên bị, gần Graber:

– Gần như cuộc đời mà em mơ màng khi lên bảy tuổi.

– Anh thì anh muốn là thợ làm bánh.

Nàng cười.

– Thế thì không làm bánh lại đi chạy hàng và kiếm được những thứ thiệt hay. Mấy giờ rồi?

– Thu xếp lại rồi đưa em lại xưởng.

– Không, chúng ta ở đây thật lâu. Gởi đồ đạc đây cũng lâu lắm, lại phải đứng nối đuôi để xuống hầm. Nhà rẫy cũng đông rồi. Em đi rồi anh có đủ thì giờ thu xếp.

– Đồng ý. Không biết ở đây có được phép hút thuốc không?

– Chắc là không, nhưng hút thì có sao?

– Thôi ta cứ làm cho thỏa thích đợi lúc họ tống ra cũng chẳng lâu gì đâu. Để anh đi kiếm chỗ ngủ tối nay, nằm không phải mặc cả áo ngoài. Ta đồng ý rằng không đến làm phiền viện trưởng nhé!

– Thà đến nhà thầy Pohlmann còn hơn.

Mặt trời đã lên cao rồi chiếu xuống cổng hình vòng cung, in bóng cột vào tường. Người cụt chân đeo chân giả vào và buông ống quần xuống. Graber gói bơ, bánh mì và cà phê lại.

– Tám giờ kém mười lăm. Em đi thì vừa. Anh sẽ lại xưởng kiếm. Nếu có xảy ra cái gì thì đến nơi hẹn: vườn quán Witte, sau đến nhà rẫy này.

– Vâng, cứ thế nhé, lần cuối cùng em xa anh suốt ngày.

– Tối nay có thể đi ngủ muộn hơn, lâu rồi mình sẽ bù lại thời gian đã mất.

Nàng hôn chồng rồi rảo bước đi. Graber nghe tiếng cười đằng sau, y bực tức quay lại. Một người đàn bà trẻ đùa giỡn với con. Đứa trẻ đứng trên tường vừa kéo tóc và tai mẹ. Hẳn là người ấy không để ý đến chàng và nàng.

Y đến vòi nước rửa ga-men thì nghe tiếng chân gỗ của người phế binh chạy theo mình:

– Này bạn, lúc nãy anh uống cà phê phải không?

– Phải, nhưng không còn.

– Tôi đã ngờ thế. Nhưng tôi nghĩ đến cái bã. Nếu anh định đổ đi thì cho tôi để nấu lại.

– Ừ, anh lấy mà dùng!

Graber đổ bã cà phê vào cái vung anh ta chìa ra. Rồi anh ta đi tìm đồ đạc xếp vào chỗ để với những người mang vào hầm. Y đợi một chuyến cãi vã nữa với thầy dòng. Nhưng lại thấy một ông già mũi đỏ. Ông này hơi rượu sặc sụa và không nói gì.

***

Viên trưởng xóm ở từng lầu thứ nhất một căn nhà đã cháy hết những từng khác. Trông thấy Graber, ông ra hiệu gọi lại.

– Ông có thư cho tôi à?

Graber vừa bước vào vừa hỏi :

– Có thư cho vợ ông. Đề tên cô Kruse, tôi đưa cho ông cũng được chứ gì?

– Vâng được.

Graber cầm lấy phong thư. Hình như lão trưởng xóm nhìn y với đôi mắt khác thường. Y đưa mắt nhìn phong bì mà thấy máu đông lại. Bức thư của Sở Công an. Y xoay bức thư trong tay. Bức thư dán vụng về, hình như có người bóc ra rồi dán lại.

– Thư gởi đến bao giờ thế ông?

– Chiều hôm qua.

Graber nhìn bao thơ. Y chắc chắn rằng lão ta đã mở. Mở ra xem là giấy gọi Elisabeth phải đến Sở Cảnh sát Mật vụ sáng nay vào lúc mười một giờ rưỡi. Y xem đồng hồ. Đã gần mười giờ rồi.

– Được rồi. Kể ra không sớm quá, chúng tôi vẫn đợi từ lâu.

Y để thơ vào túi.

– Có thế thôi à ông?

– Thế chưa đủ à?

Ông ta nheo mắt lại, hiếu kỳ.

Graber cười.

– Ông có biết một căn nhà nào không mách giùm tôi.

– Không. Ông cần nhà à?

– Tôi không, nhưng nhà tôi cần.

– Thật à?

Ông ta hỏi lại vẻ như không tin lắm.

– Thật, tôi trả tiền vô cửa hậu.

– Thật à?

Ông ta nhắc lại lần nữa.

Graber bước ra. Y cảm thấy lão ta đưa mắt qua cửa sổ nhìn theo. Y dừng lại và làm như nhìn mấy cái xà nhà. Rồi y thong thả bước đi. Khi đã đi khuất y lấy thư ra. Một cái thư in sẵn, cả chữ ký nữa, chỉ có ngày tháng và tên Elisabeth mới đánh máy điền vào. Chữ A nào cũng ở trên đường kẻ.

Y không thể rời mắt khỏi mảnh giấy hình chữ nhật đã choán hết chỗ trong tâm hồn không để cho y nghĩ đến cái gì khác. Nó có ý nghĩa như một sự đe dọa, nó như có mùi vị cái chết.

***

Không biết sao y lại trở về nhà thờ mà không biết.

– Graber!

Một tiếng gọi khẽ ở đằng sau. Y giật mình. Thì ra Joseph. Joseph mặc cái áo tơi kiểu nhà binh, lẳng lặng bước vào nhà thờ không để ý đến Graber. Graber nhìn quanh và một phút sau thì đi theo Joseph. Joseph ngồi trên một cái ghế không có ai gần hậu đường, ông ra hiệu cho Graber bảo phải cẩn thận. Graber tiến tới bàn thờ, nhìn quanh mình, quay lại, rồi đến quỳ ở bên Joseph.

– Pohlmann bị bắt rồi.

– Sao?

– Pohlmann. Cảnh sát Mật vụ sáng nay đến bắt đi.

Graber bỗng tự hỏi trát đòi Elisabeth có liên lạc gì với Pohlmann bị bắt không. Y nhìn Joseph.

– Pohlmann cũng bị bắt, thế thì…

Joseph đưa mắt lên.

– Còn gì nữa?

– Vợ tôi mới nhận được trát đòi của Cảnh sát Mật vụ.

– Ngày nào?

– Sáng hôm nay, mười một giờ rưỡi.

– Ông có mang trát đòi theo đây không?

– Có, đây này.

Graber đưa mảnh giấy cho Joseph.

– Pohlmann bị bắt thế nào?

– Tôi không biết. Lúc vào tôi thấy một hòn đá mất dấu. Chắc là Pohlmann bị bắt đã làm lệch hòn đá đi để báo tin. Chúng tôi đã hẹn với nhau báo hiệu như thế. Một giờ sau tôi thấy họ mang xe cam-nhông đến chở sách đi.

– Có cuốn gì khả đĩ nguy hiểm cho ông không?

– Có lẽ không. Cái gì nguy hiểm để chỗ khác, cả đồ hộp nữa.

Graber cúi nhìn bức thư Joseph cầm ở tay.

– Tôi vừa định đến hỏi thầy xem phải làm thế nào.

– Vì thế cho nên tôi phải đến gặp ông. Hẳn là họ nấp trong nhà ấy.

Joseph đựa trả bức thư:

– Ông định làm gì?

– Tôi cũng không biết. Tôi không có thì giờ để suy nghĩ. Theo ông thì ông làm thế nào?

– Tôi đi trốn.

Graber nhìn Joseph trong bóng mờ tối nhà thờ :

– Tôi muốn đến trước xem họ muốn gì.

– Nếu họ muốn bắt vợ ông thì họ không nói gì cả.

Người y toát ra một thứ mồ hôi lạnh. Tuy nhiên Joseph chỉ xét sự việc một cách sáng suốt.

– Nếu họ muốn bắt vợ tôi thì họ chỉ việc đến nhà mà bắt như Pohlmann. Chắc có chuyện gì khác. Để tôi đi xem. Có lẽ không quan trọng lắm (y nói vậy chứ không tin hẳn). Nếu như vậy thì không nên trốn đi.

– Vợ ông là Do Thái à?

– Không.

– Thế thì khác. Khi mình là Do Thái thì mình phải trốn đi. Cứ nói là bà nhà đi vắng có được không?

– Không. Vợ tôi làm việc ở xưởng may, dễ phối kiểm quá.

Joseph suy nghĩ.

– Có lẽ họ không có ý bắt. Ông nói có lý, nếu định bắt thì họ cứ đến xưởng mà bắt. Ông có một ý kiến gì về lý do đưa trát đòi này không?

– Ông già vợ tôi ở trại tập trung, có thể rằng vợ tôi bị một người đàn bà ở bên cạnh tố cáo. Bây giờ, cũng có thể rằng vì lấy chồng mà người ta để ý.

– Ông hủy tất cả cái gì đáng ngờ vực như thư từ, sách vở, báo chí, v.v… Rồi đi một mình. Ông định hành động như thế chăng?

– Vâng. Tôi sẽ nói rằng thư mới đến hôm nay và vợ đi làm xưởng không đến được.

– Như thế là hơn cả. Cố gắng tìm hiểu xem chuyện gì. Ông thì ông không lo vì ông sắp ra mặt trận. Người ta không muốn giữ ông đâu. Nếu muốn tìm chỗ ẩn náu cho vợ ông tôi cho ông địa chỉ. Thôi ông đi đi, tôi ở đây cho đến tối.

Joseph ngập ngừng một lát :

– Phòng xưng tội của viện trưởng, ngoài có tấm biển “Vắng mặt”. Tôi đến đấy ngủ được vài giờ.

***

Graber đứng dậy. Ở trong chỗ mờ tối ra ánh sáng nắng chói chang như xuyên thủng qua người chẳng khác nào đèn rọi của Cảnh sát Mật vụ. Y đi thong thả qua các đường phố.

Y có cảm giác như sống trong một cái chuông bằng thủy tinh làm cho vật bên cạnh mình mà xa lạ không với được. Một người đàn bà đi qua, tay bế con, trước mắt y đó là biểu tượng của sự tin cậy yên ổn, y thèm thuồng, lòng đau đớn. Một người ngồi trên ghế với tờ nhật trình. Hình ảnh bằng xương bằng thịt của sự vô tư vô lự; hai người thanh niên đi qua cười cười nói nói, họ đã thuộc về một thế giới xa xôi đổ vỡ hoàn toàn. Y có cảm tưởng như mình bị một thứ hủi lở vô hình khiến cho mình cách biệt với mọi người.

Y bước vào Sở Cảnh sát Mật vụ và đưa trát đòi ra. Một người dẫn vào phía bên phải, có một cái hành lang dài, thoang thoảng mùi hồ sơ để lâu ngày, rồi đến phòng giấy kín cửa và trại lính. Phải ngồi đợi trong một căn phòng với ba người nữa. Một người ngồi gần cửa sổ nhìn ra sân, hai tay để sau lưng gõ nhịp vào chỗ không. Hai người khác ngồi sâu xuống ghế nhìn thẳng trước mặt. Còn một người hói trán, luôn lấy tay sờ lên chỗ sứt môi; bên cạnh là một người khác râu kiểu Hitler, hai má mềm xìu xa xị xuống. Thấy Graber đến họ đều giương mắt nhìn rồi làm ra dáng không để ý đến.

Một người Mật vụ vào. Họ đứng dậy. Graber ngồi gần hơn ba người kia.

– Ông làm gì ở đây? Quân nhân thì thuộc quyền chỉ huy của hội đồng chiến tranh.

Graber đưa trát đòi. Hắn đưa mắt nhìn qua.

– Không phải ông, giấy gọi cô Kruse.

– Cô ấy là vợ tôi, mới thành hôn mấy ngày nay. Vợ tôi làm việc tại xưởng may hàng tỉnh. Tôi nghĩ rằng đi thay vợ cũng được.

Graber đưa sổ gia đình ra, y đã cẩn thận mang theo. Hắn gãi tai, phân vân.

– Ồ! Cũng chẳng can dự gì đến tôi. Ông xuống phòng 72, dưới hầm một.

Hắn đưa trả giấy má. Graber nghĩ thầm: dưới hầm. Người ta đồn rằng Cảnh sát Mật vụ làm những việc tàn ác ở dưới ấy.

Y đi theo một cầu thang. Hai người đi trở lại nhìn y với vẻ thèm thuồng. Họ cho rằng Graber được phóng thích còn họ chưa biết cái gì đang chờ đợi mình.

Phồng 72 là một phòng lớn có vách ngăn làm hai. Một nhân viên ngồi sau một cái bàn gỗ trắng. Graber trình giấy và cắt nghĩa tại sao mình đi thay vợ.

Nhân viên gật đầu.

– Ông ký thay bà nhà được không?

– Được.

Ông ta đưa hai tay ấn chỉ ra bàn:

– Ông ký vào đây. Dưới đề: chồng Elisabeth Kruse, ghi cả ngày tháng và phòng hộ tịch làm phép cưới. Tờ kia ông giữ.

Graber ngồi ký thong thả. Y không để cho nó biết rằng y đọc những hàng chữ ở trên. Trong khi ấy thì viên chức văn phòng nóng ruột tìm kiếm hồ sơ :

– Hộp hài cốt ở đâu! Holtmann, để lung tung thế này biết đâu mà tìm? Hộp cốt ông Kruse đâu?

Một tiếng gầm gừ trả lời ở đằng sau vách. Graber hiểu rằng mình ký nhận hộp tro hài cốt của người tù nhân chính trị tên Kruse. Tờ giấy kia ghi chết về bệnh gì: tim ngừng đập.

Viên chức biến mất sau bức vách. Y trở lại với một hộp đựng xì gà bọc tờ giấy ngắn quá. Ở một góc ghi chữ Le Caire, thỉnh thoảng còn sót lại vài mảnh giấy thếp vàng dán hộp thuốc, có vẻ một người Da đỏ tay cầm phù hiệu của nhà sản xuất.

Y nhìn Graber với cặp mắt buồn rầu:

– Hài cốt đây. Ông là lính, tôi không cần phải dặn ông phải giữ thật kín những tin tức này. Không có chia buồn đăng báo gì cả, không có nghi lễ tôn giáo. Yên lặng tuyệt đối. Ông hiểu không?

– Hiểu.

Graber cầm hộp cốt đi ra.

Y định bụng không nói cho vợ biết. Đối với nàng thì bao giờ đưa tin bố chết cũng là sớm quá. Chắc hẳn Cảnh sát Mật vụ không buồn đưa giấy báo tin lần thứ hai nữa. Bây giờ chỉ cần để nàng yên bụng một chút, không nên đưa tin bố chết về để nàng đau khổ thêm.

Y đi thong thả về nhà thờ. Phố xá đã trở lại nếp sống tấp nập. Nguy hiểm xa rồi, bây giờ đã thành ra cái chết xa lạ, không tránh được và hiền lành như một việc đã rồi. Y đã quen với cái chết của người khác, vả chăng y chỉ biết cha của Elisabeth lúc y còn nhỏ tuổi.

Y cắp hộp tàn cốt dưới tay. Rất có thể rằng đây không phải là cốt của bác sĩ Kruse.

Nhân viên Sở Cảnh sát có thể lầm lẫn hộp nọ với hộp kia, vả chăng ở lò nấu người, chả có lẽ người ta còn cất công để riêng tro của xác này và tro của xác khác vì phải đốt hàng trăm xác chết, ấy là cho rằng có thể làm như thế được. Chắc là họ để cho một người xúc đại một xẻng tro đổ vào một hàng hộp để sẵn rồi ghi tên những người bị hỏa thiêu vào sau. Y tự hỏi, không biết sao họ còn cất công làm trò múa rối này để làm gì. Hẳn là sáng kiến nhân đạo của mấy ông công chức, nhưng thực ra chỉ làm cho càng thêm vô nhân đạo.

Y tự hỏi không biết phải làm gì với hộp hài cốt này. Có thể để vào chỗ nào trong những đống nhà đổ nát kia cũng được, thiếu gì chỗ. Có thể mang ra nghĩa địa được nhưng lại phải phép tắc và tìm nơi chôn cẩn thận, vợ chàng sẽ biết.

Y qua nhà thờ, dừng lại trước phòng xưng tội của viện trưởng. Tấm biển vắng mặt để trước cửa. Y kéo bức rèm xanh. Joseph trông ra, ông ta ngồi cách nào để có thể chồm ra đẩy ngã người đến bắt mình mà chạy thoát. Graber buông màn xuống và đến ngồi trên chiếc ghế dài gần hậu đường. Lát sau Joseph cũng đến. Y đưa cho coi cái hộp.

– Họ gọi lại để đưa cho hộp cốt này.

– Không có gì khác nữa?

– Thế thôi. Ông có tin thầy Pohlmann không?

– Không.

Hai người cùng cúi xuống nhìn cái hộp.

– Một hộp xì gà. Thường thường người ta dùng cái hộp bằng bìa, cái hộp đồ ăn hay một bao giấy. Hộp xì gà nom đã gần như cái săng rồi. Làm gì với cái hộp này bây giờ? Bỏ lại đây à?

Graber lắc đầu. Y vừa mới nảy ra một ý kiến:

– Để tôi mang vào nhà tu kín, đó cũng là một thứ nghĩa địa.

Joseph gật đầu.

– Tôi có thể làm gì giúp ông không?

Graber hỏi.

– Nhờ ông ra cửa ngách xem ngoài phố có gì đáng ngờ không. Trong năm phút nếu ông không trở lại nghĩa là không có gì lạ. Tôi phải đi đây. Lão thầy dòng chống Do Thái làm việc từ một giờ trưa.

– Được.

***

Graber ngồi đợi ngoài nắng. Vài phút sau Joseph cũng ra. Ông ta đi gần Graber mà không nhìn y, chỉ lẩm bẩm: “Cứ vững chí”.

– Vững chí.

Graber trở lại nhà thờ và vào khu nhà rẫy. Lúc này vắng vẻ. Hai con bướm vàng lốm đốm đỏ nhởn nhơ xung quanh một bụi cây đầy hoa trắng bao bọc mấy ngôi mộ. Nhiều ngôi nứt rạn thông vào trong. Chỗ này rất thích hợp để cất hộp cốt.

Y ghi vào mảnh giấy: “Hộp này đựng hài cốt một người theo đạo Thiên Chúa bị giam chết”, rồi cột vào hộp cốt. Y lấy lưỡi lê cắt một khoảng cỏ, đào to lỗ, chôn hộp cốt xuống và trồng lại cỏ. Như vậy bác sĩ Bernhard Kruse – nếu phải là hài cốt của chính bác sĩ – sẽ được táng vào đất thánh, bên cạnh một nhân vật cao cấp trong giáo hội..

Làm xong y ngồi trên bức tường nhỏ. Mặt trời chiếu xuống làm đá nóng ran. “Có lẽ như thế này là phạm thượng, hay là một cử chỉ nặng về tâm tình vô ích”. Bác sĩ Kruse theo Thiên Chúa giáo, mà giáo hội nghiêm cấm sự hỏa thiêu, đã đành là trường hợp này có thể châm chước. Vả chăng nếu không phải hài cốt của bác sĩ Kruse mà là của những người khác, Tin Lành, Do Thái giáo chẳng hạn, thì cũng không tai hại là bao nhiêu. Mà Jéhova hay ông Trời của Thiên Chúa giáo, đúng lý ra, cũng chẳng phiền trách gì.

Y nhìn một lần cuối cùng nấm mồ mà y đã vùi hộp cốt của ông già vợ – y như con chim cu vùi trứng của nó. Xong rồi y mới thấy lòng buồn tê tái. Người chết mới này dần dần có ý nghĩa to rộng hơn, nắm xương tàn y vừa cầm trong tay tượng trưng cho Pohlmann, cho Joseph, cho tất cả đau khổ đã chứng kiến, tất cả chiến tranh, cả vận mệnh đen tối của mình.

Ở Ba lê, y đã đến thăm mộ chí người chiến sĩ vô danh, công lao người Chiến sĩ vô danh được nói lên một cách huy hoàng bởi Khải hoàn môn ghi lại những chiến thắng của Pháp. Hầu như khoảng đất cỏ vuông vuông đào lên rồi trồng lại này, cái hộp xì gà hài cốt này rốt cuộc sẽ tượng trưng cho cái gì tương tự hay lớn hơn thế – tuy rằng không vinh quang, không chiến thắng quân sự.

***

– Đêm nay ngủ đâu anh? Hay lại nhà thờ?

– Không. Đã xảy ra phép lạ. Anh gặp bà quán. Nhà có căn phòng trống. Con gái bà ta mới về quê. Chúng ta có thể đến ngủ ở đây và anh đi rồi em có thể tiếp tục ở đấy. Anh đã mang hết đồ đạc về đầy rồi. Bây giờ em nghỉ chưa?

– Bắt đầu từ chiều nay. Anh không phải đợi nữa.

– Cám ơn trời! Ta phải ăn mừng mới được! Đêm nay chúng ta thức chơi, mai ngủ thật trưa.

– Chúng ta ngồi ngoài vườn cho đến lúc sao mọc. Nhưng bây giờ em phải đi mua mũ.

– Mua mũ à?

– Vâng, mua bây giờ, chứ không thì không bao giờ mua nữa.

– Nhưng em mua mũ làm gì? Để tối hôm nay ngồi ngoài vườn đợi à?

Nàng cười.

– Sao lại không? Nhưng cái đó không quan trọng, điều quan trọng là đi mua đã. Đó là một hành động tượng trưng. Cái mũ cũng như cái cờ. Người ta mua mũ khi người ta sung sướng hay đau khổ, hiểu không?

– Không. Nhưng không sao, ta mua cái mũ để ăn mừng tự do. Cái này phải làm trước bữa ăn mới được. Không biết bây giờ còn tiệm nào mở cửa không? Không biết có phải có thẻ mua vải vóc không?

– Em có, và em cũng biết nơi bán mũ nữa.

– Đồng ý, mua cái mũ hợp với bộ áo mặc dạ hội.

– Mặc đồ dạ hội thì không đội mũ. Thôi mua cái mũ để mua thôi, để tỏ ra không có xưởng may nữa. cần lắm.

Mặt tiền cửa tiệm còn nguyên. Nhưng trong thì phải lấy ván đóng lại. Rồi câu chuyện đàn bà với người bán hàng liến láu một hồi, Graber chẳng hiểu gì cả. Y đến ngồi trên cái ghế thếp vàng mỏng mảnh ở gần cửa. Bà già chủ tiện bật đèn sáng trưng tấm gương ba mặt rồi đi tìm vải và bìa cứng. Bỗng dưng cửa tiệm tồi tàn biến thành cái động tiên. Những chiếc mũ xanh, hồng, trắng bày ra tứ phía trong khi băng và vóc dợn sóng hay mỏng bay như dải mây như làn khói phất phới xung quanh hai người đàn bà Elisabeth tiến lên, lùi lại, quay mình uốn éo trước gương phản chiếu khung cảnh trong mơ ấy vô cùng tận. Graber ngồi trong chỗ tôi giương mắt nhìn cảnh vật của một thế giới khác lạc lõng vào cảnh điêu tàn này mà không ngờ một ngày lo âu tất bật lại kết thúc một cách kỳ lạ thế này. Hầu như đây là lần thứ nhất Elisabeth cởi bỏ được hết sầu muộn, trở lại với chính mình để thử thách vũ khí quyến rũ của đàn bà với sự trầm ngâm ý nhị. Y nghe hai người ríu rít nói những gì xa lạ với mình nhưng vuốt ve lỗ nhĩ như tiếng suối reo. Elisabeth đi lại dưới ánh đèn sáng như tỏa từ người nàng ra, nàng cũng tỏa ra cái hạnh phúc êm đềm, thậm chí y phải tự hỏi đâu là thực, đâu là hư, chết chóc và khắc khoải là hư hay lụa là gấm vóc rực rỡ kia là thực?

Elisabeth nói:

– Một cái mũ chỏm thôi, một cái mũ chỏm gọn trên đầu.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 10 Jun 2026

Như thường lệ, cuối tuần, tôi trở lại nhà bác Huế. Bác hỏi: “Con làm ăn chi mô mà thân thể xác xơ tàn tạ, mắt thâm quầng như thiếu ngủ?

Tôi sa sút và thất tình Phương Nghi, nhưng bịa lý do nói dối: “Chỉ còn hai ngày nữa là khai trường. Con lo quá, không ngủ được”

“Bác chưa thấy ai chăm học như con. Trời Phật sẽ gia hộ độ trì cho kẻ có lòng. Con ráng đi. Hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai.”

Đông chen vào câu chuyện: “Mạ có dành cho anh món gà xào gừng.”

Tôi cười: “Đúng là sau một tuần bỉ cực, bây giờ tới hồi thới lai.”

Bác Huế nói: “Nhà vừa cơm xong. Con ăn một mình đi.”

Tôi ăn cơm ở nhà sau. Đông ngồi nhìn tôi ăn.

Nó hỏi: “Món này tự tay em nấu đó. Ngon không?”

Tôi nói. “Tiểu thư nấu, của có dỡ cũng thành ngon.”

Nộ nguýt đài: “Hứ! Nói rửa cũng nói được.” Rồi như trực nhớ va điều gì, “À, anh có thư.”

“Đưa dây.”

“Đừng có mà ham. Không phải thư của chị Phương Nghi.

 Tôi dối lòng: “Phương Nghi như cơn gió thoảng. lâu không gặp. Bây giờ, nếu có gặp nhau ngoài đường, chưa chắc anh đã nhìn ra cô ta là ai.”

“Hổi trước, em thích chị Phương Nghi lắm. Chừ, em hơi chán. Chị có vẽ kiểu cách chi mô không biết. Chị hỏi thăm anh ở mô, làm gì? Em bảo, anh không nói nên em cũng không rõ. Chi cười nhạt. Chắc chị biết em không muốn nói.”

“Bỏ qua chuyên Phương Nghi đi. Thư của ai gửi cho anh?

“Xa lắm. Tây Ninh.”

Tôi đùa. “Thư của ba anh gọi về cưới vợ đấy. Trước khi anh đi, gia đình anh có hứa hôn cho anh một cô bé tóc thề mắt xanh môi thắm như em vậy. Nhưng cô ta không hay giận hờn như em.

Nó đọa: “Anh chế nhạo em, em giấu thư luôn.”

“Thằng khờ nào cưới em. Thường xuyên bị em hành hạ khó dễ thế này, thì trước sau gì cũng vào nhà thương điên.”

“Nếu thằng khờ không chịu khôn ra, thì cũng đáng cho nó vào nhà thương điên.”

Tôi chồm tới, nói thật nhỏ: “Anh là một trong những thằng khờ trên thế gian.”

Nó bẻn lẽn: “Cái anh ni, vô duyên!”

Tôi lên nhà trên. Đông đưa thư. Thư của mẹ kế, dì tôi. Trong thư, dì bảo nhờ cái thư tôi gửi về, do cô Hường trao lại, nên biết địa chỉ của tôi. Sau đó, dì kể ba tôi chuẩn bị đi tìm đưa tôi về thì bị tai nạn, Tôi đọc thư bằng tất cả nỗi lòng đau xόι. Bao nhiêu năm, gia đình ba tôi sống nhờ vào cơ sở làm đường. Tôi lớn lên, đã thấy có sẵn như thế rồi. Trước kia, công việc ép mía làm đường còn dùng sức trâu. Sau này, dùng máy thay trâu. Cơ sở càng khuếch trương rộng lớn, ba tôi càng bận rộn nhiều hơn. Quán xuyến nhân công. Tính toán sổ sách. Lo cho cho có đủ mía để cái máy ngốn hằng ngày. Theo dõi giá cả thị trường và tiêu thụ nhanh chóng lượng đường sản xuất. Một mình ba tôi lo liệu tất cả. Ông không còn thì giờ để ý đến tôi. Máy lớn có nhiều bánh răng cưa ăn khớp với nhau, từ dưới sàn lên cao quá đầu người. Từ giàn máy truyền lực ra ngoài bộ phận ép mía. Người vào phòng máy, chỉ mặc duy nhất cái quần đùi, đề phòng những bánh răng cưa cuốn vào quần áo. Theo thư dì tôi kể, người thợ máy bận việc nhà, ba tôi tạm thay thế. Nữa khuya, ba tôi vào phòng mở máy để bắt đầu cho công việc hàng ngày. Không biết loay hoay thể nào, ong trượt chân ngã vào giàn máy. May mà có nguời kịp kéo ra. Nhưng bánh răng cưa đã nghiến mất một bàn tay phải, và liếm tận xuơng một mảng thịt bên mông. Thương thế trầm trọng. Hiện giờ, ba tôi đang nằm trong nhà thương Chợ Rẫy.

Tôi thuật lai chuyện đó với hai bác Huế Quảng, Hai bác giục tôi mau thu xếp về với ba tôi trong thời hạn sớm nhất. Bác Huế mua một chục cam gởi theo như tấm lòng ân cần thăm bệnh. Tôi bỏ lại tất cả sách vỡ. Chỉ mang vài bộ quần áo như ngày mới ra đi.

Miền kinh rạch

Vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post 4/10/2019

Post by Sơn râu 10 Jun 2026

Tiện dịp gia đình người em từ Úc sang thăm gia đình tôi và gia đình đứa em kế. Sau hơn hai mươi năm ba anh em mới gặp, phải tính chuyện đi chơi coi sao cho được. Tôi là anh lớn và tất cả qua ở nhà tôi, nên tôi phải chọn một nơi thắng cảnh đẹp của Hoà Lan để mọi người cùng thưởng ngoạn. Tôi hỏi ý kiến bà xã và con gái, bà xã tôi thích bông nên chọn đi vườn bông, con gái thì thích những thắng cảnh thành phố nên chọn Amsterdam, Den Haag hoặc Rotterdam, hai người nói qua nói lại cả buổi nhưng chưa chọn được chỗ nào. Bà xã tôi bèn day qua hỏi tôi:

– Anh đi nhiều chắc anh biết chỗ nào đẹp?

Tính ra cả đời tôi thường xê dịch đó đây, mang tiếng là dân Hoà Lan nhưng thường thì tôi sống ngoài Hoà Lan nhiều hơn, nên sự hiểu biết về đất nước con người ở xứ hoa tulip của tôi có phần giới hạn. Tôi cười và nói:

– Ở Hoà Lan anh biết ít lắm.

– Anh thường tìm hiểu chuyện du lịch mà, bộ ở Hoà Lan anh hổng có ấn tượng chỗ nào sao?

Nghe hỏi tôi chợt nhớ ra và buông lời không do dự:

– Theo anh thì ở Hoà Lan, Giethoorn là ấn tượng.

Con gái tôi thắc mắc:

– Chú và mấy em bên Úc tới Hoà Lan thì phải đi những nơi có tiếng và nhộn nhịp, ai mà tới một nơi hẻo lánh và buồn hiu.

Con gái tôi sanh ra và lớn lên ở xứ sở bông tulip, trên vùng đất thấp. Nơi đây tuy ẩm ướt nhưng rất thanh bình, tên nghe có vẻ cổ tích là quê hương ếch hoặc nhái (Kikkerlandje), cho nên đầu óc nó không phức tạp và sự so sánh của nó khác biệt hơn thế hệ cha chú. Vì vậy tôi phải một phen giải thích cho nó và mọi người cùng nghe:

– Giethoorn thuộc về tỉnh Overijssel ở phía đông của vương quốc Hoà Lan,  nơi đây kinh đào chằng chịt trong một khu vực rộng lớn, nước có màu lục, cỏ màu xanh và một nơi rất thanh bình. Ngôi làng nhỏ phụ thuộc rất nhiều vào kinh rạch, nhiều ngôi nhà cheo leo không thể đến được bằng đường xe hoặc đường bộ, nhân viên bưu điện đưa thư phải dùng xuồng bơi hoặc xuồng máy. Nhứt là những đám cưới người ta cũng tổ chức trên thuyền, thuyền được treo đèn kết hoa và chạy chầm chậm trên kinh trông đẹp lắm. Thật ra thì Giethoorn hẻo lánh nhưng không buồn hiu, vui vẻ nhưng hổng ồn ào và cũng là một trong nhiều nơi có tiếng Âu Châu về bảo tồn cảnh đẹp của thiên nhiên.

Đứa em ở Hoà Lan chen vào:

– Ờ… ờ… ở đó giống quê mình.

– Theo anh thì du khách dùng xuồng bơi, trong nhiều năm qua ca nô hay đò dọc rất thịnh hành ở Giethoorn. Với hơn chín mươi cây số đường nước và nhiều xuồng máy cho mướn, nên trông có vẻ giông giống miệt đồng bằng quê hương mình.

Đứa cháu hỏi:

– Mà sao tên là Giethoorn chú?

– Theo chú biết thì tên Giethoorn bắt nguồn từ những cư dân đầu tiên tới đây sinh sống, họ phát hiện ra hàng trăm sừng của con dê (gietehorens) ở vùng đầm lầy, sau một trận lụt hồi thế kỷ thứ mười. Hôm nay không còn thấy sừng dê ở đây nữa, cảnh quan cũng khá khác biệt, tuy do bàn tay con người xây đắp, nhưng đất, nước, kinh, rạch gần như còn nguyên vẻ đẹp của thiên nhiên. Từ bìa của những ao hồ rộng lớn bên ngoài vô tới những con kinh, con rạch nhỏ hẹp trông đẹp đẽ, rất lý tưởng cho du khách di chuyển bằng thuyền để thắng cảnh hoặc câu cá. Theo chú thì nếu quan cảnh của hồ Sils ở Thụy Sĩ và trong thung lũng Engadine được bao quanh bởi cây kaneelkleurige trông đẹp như cảnh thiên thai trong tranh vẽ thì Giethoorn đẹp đơn giản với bờ cỏ xanh um và cây gì hổng biết mà trông giống như cỏ lát hoặc rau bồn bồn mọc khích khao xung quanh trảng nước. Một trảng nước minh mông đến đổi tưởng như không phải thật giữa cái xứ sở văn minh này. Có lẽ cũng vì đơn giản và trông như hổng phải thật, nên du khách ta từ xa tới đây tha hồ mà tưởng tượng.Đứa em hô lên:

– Ồ, anh nói đúng rồi. Là người Việt Nam, nhứt là sống trên vùng sông nước miệt đồng bằng sông Cửu Long thì hình dung nó ra cảnh đồng quê miền Nam.

Tôi nói chỉ có bao nhiêu đó mà thuyết phục được mọi người. Nhưng cả hai phe, một phe Hoà Lan và một phe ở Úc cộng lại gần chục mạng. Em tôi day qua hỏi tôi:

– Đông người quá, mình phải đi bằng cách nào?– Để thưởng ngoạn vùng trời và khám phá nhiều kinh rạch ở Giethoorn, có hai cách, một là tham gia một chuyến du thuyền trên kinh, trên thuyền có những nhân viên người địa phương hướng dẫn, giải thích qua các địa điểm và  những nơi quan trọng nhất trong ngôi làng yên tĩnh này. Vì du khách đến Giethoorn tăng vọt trong vài năm qua và số lượng tàu, xuồng, hạn chế, nhứt là những ngày nắng đẹp, du khách phải đặt chuyến du hành trên kinh rạch trước. Cách thứ hai thì mình có thể mướn một chiếc xuồng máy điện nhỏ, chiếc xuồng này không đòi hỏi kỹ năng lái, ai cũng có thể lái được, lái một chút là quen, nếu lỡ lái đụng nhau với xuồng khác cũng không sao, có thể nói đụng nhau cũng là một thú vui để cho mọi người cùng cười. Ngoài ra còn có ba bảo tàng bên kinh để tham quan và xưởng đóng tàu Schreur, nơi đóng những chiếc tàu và những chiếc xuồng nhôm ở Giethoorn.

Vậy là tất cả đồng ý đi Giethoorn. Ngày hôm sau trời trong và nắng rất đẹp, tất cả kéo nhau tới Giethoorn lúc mặt trời đã lên cao. Chúng tôi mướn một chiếc xuồng lớn, vỏ nhôm, chạy bằng điện, rộng rãi cho chín người ngồi rất là thoải mái. Mấy đứa nhỏ hôm nay được giao nhiệm vụ lái xuồng, chúng thích thú và thấy mình quan trọng lắm. Tiếng máy điện thì thào, nhẹ nhàng lướt trên dòng kinh. Thả tà tà dọc theo những con kinh hẹp quanh co vừa đủ cho hai chiếc xuồng qua mặt nhau. Khi ra khỏi những trang trại trước bãi cỏ xanh với những mái tranh cũ kỹ, ven bờ có những con đường nhỏ tráng nhựa và những chiếc cầu gỗ bắc ngang nối liền qua hai bờ kinh thì tới một trảng nước minh mông, ở giữa trảng là một cù lao rộng vừa đủ cho du khách sau khi chạy vòng trảng tham quan, cặp vô bờ cắm xuồng, cột dây rồi leo lên cù lao, trải khăn ra ngồi thư giãn, ăn, uống. Nếu ai thích thì có thể bơi lội trên vùng nước sạch sẽ, trong màu lục và mực nước sâu không ngập khỏi đầu.

Khi xuồng trở vô kinh hẹp, tới nơi đông đúc, mỗi khi hai chiếc xuồng đụng nhau làm mọi người cười rộ lên vui vẻ, nhìn các cháu vui vẻ cười nói hồn nhiên, đầu óc không phức tạp, không suy tưởng mông lung như những người lớn. Làm tôi nhớ lại cách đây hơn hai mươi năm, mỗi khi nhớ quê hương, tôi và vài người bạn hay tới đây mướn xuồng máy chạy tà tà trên những con kinh và ra trảng nước chạy vòng vòng. Nhứt là mỗi khi vô kinh, chạy ngang những chiếc cầu gỗ vững chắc dành cho người đi dạo hoặc cho những người già đi qua thăm bạn bè hàng xóm. Khi đi ngang một chiếc cầu, có người bạn đi cùng hô lên:

– Ồ, Cầu khỉ!

Nhiều người cũng hùa theo:

– Giống cầu khỉ ở quê mình quá.

Tuy hổng giống cầu khỉ chút nào, nhưng vì ai cũng còn nặng tình quê hương đất nước nên nghĩ ra vậy thôi. Ngày đó tôi cũng nghĩ vậy và khi nhìn trảng nước rộng minh mông, chiều sâu không quá hai thước, làm cho tôi nhớ quê hương sông nước miền Tây Nam Việt với những trảng nước rộng trong rừng và cỏ lát mọc chen nhau hoặc là một đầm nước đầy rau bồn bồn. Hổng phải người Việt Nam vì nhớ nhà, nhớ nước non rồi sanh ra viễn tượng. Người Tây phương du lịch tới đây cũng tưởng tượng không kém, họ đặt cho nơi này biệt danh là “Dutch-Venice”, nghĩa là Venice Hòa Lan. Theo tôi thì so sánh giữa Giethoorn với thành phố Venice, một trong bảy kỳ quan thế giới ở nước Ý thì có thể bị sai lầm về mặt diện tích và sự ồn ào náo nhiệt của du khách, sự bán buôn và ăn uống trong thành phố, hơn nữa Venice thành phố ven biển. Đây là làng quê Giethoorn của Hoà Lan, buổi trưa nghe văng vẳng tiếng gà, thỉnh thoảng vài tiếng chó sủa vu vơ rồi trở lại yên tĩnh, nhẹ nhàng, thanh thản, thân thương và gần gũi. Cũng có hàng quán, bán buôn nhưng nó không náo nhiệt, sự yên bình của miền quê đến đổi du khách tới đây cũng tự mình hạn chế sự ồn ào. Âm thanh nổi bật thường nghe thấy là tiếng vịt kêu cạc cạc trên dòng kinh hoặc tiếng hót, tiếng kêu của những loài chim khác nhau ở trên các cành cây cổ thụ.

Trên đây là những cảm xúc mà tôi còn nhớ được hơn hai mươi năm về trước. Hình như nỗi nhớ quê hương trong tôi đã nguội lạnh, nên hôm nay tôi trở lại đây thì những ý nghĩ, cảm xúc và tưởng tượng ngày trước tan biến hết. Còn những đứa con, đứa cháu lớn lên bên này thì chúng đâu biết gì về quê hương đất nước, chúng chỉ biết giành nhau lái xuồng đùa dỡn khi gặp chỗ đẹp thì dừng lại chụp hình. Riêng tôi thì không tưởng tượng nữa mà so sánh thực tế hơn, thắc mắc và tự hỏi. Cũng rơm rạ, xi-măng, vôi gạch mà người Hoà Lan cất lên cái nhà rất kiên cố, bền vững cả trăm năm. Còn người Việt mình thì cất cái nhà lên chưa bao lâu thì nhà đã dột, cột đã siêu, ấy vậy mà hể có dịp thì đem ra thở than rất là văn hoá với giọng điệu ca dao “Ví dầu nhà dột cột siêu…”. Và cũng chừng đó cây, ván, đinh, ốc vậy mà người Hoà Lan đóng một cây cầu bắc qua con kinh nhỏ rất vững chắc, người đi bộ hoặc đạp xe qua cầu rất an toàn. Còn người Việt ở đất nước Việt Nam thì cũng chừng đó dụng cụ, cây ván có thể nói là tốt hơn ở đây nữa, mà lại đóng một cây cầu chỉ một người bước qua nó lắc lư như đưa võng, nhứt là những mùa mưa trơn trợt, người nào đi hổng khéo thì bị té nhào đầu xuống kinh. Ấy vậy mà còn tự hào văn hoá và đặt tên là “cây cầu khỉ, cầu dừa, cầu ván…”. Cách đây bốn năm, tôi về Việt Nam thăm nhà người em họ ở Bến Tre, thằng cháu chở tôi trên chiếc xe gắn máy hai bánh, mỗi lần băng qua những chiếc cầu xi măng lót ván ở quê, tôi thót ruột thót gan khi thấy chiếc cầu hẹp té mà hổng có lan can, lại còn long đinh, sút ván, xe chạy nghe tiếng ván khua lụp cụp làm tôi  sợ khiếp vía, xanh máu mặt, trong khi đó thằng cháu nó tỉnh bơ, còn ra vẻ anh hùng, nói:

– Trước đây có vài người phóng xe qua cầu và bị lọt xuống kinh đó chú.

Sau khi đi thuyền thấm mệt lên quán ngồi nghỉ ngơi uống nước. Ven bờ kinh có rất nhiều quán cà phê, nhà hàng và hầu hết các nhà hàng trên kinh đều có phòng cho du khách từ xa tới ở trọ. Con đường nhỏ tráng nhựa bên cạnh các kinh đào là nơi lý tưởng để đi bộ hoặc đi xe đạp. Du khách cũng có thể đi dạo trên những con đường nhỏ bên bờ kinh, dưới những tàn cây cổ thụ mát mẻ, ngang những ngôi nhà tranh ấm áp và thong thả đi qua những chiếc cầu cây nhỏ duyên dáng, chắc chắn, rất an toàn và bảo đảm hổng sợ té nhào đầu xuống dòng kinh hay dòng sông.

Dronten cuối hè 2019

 Nguyễn Lê Hồng Hưng

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 10 Jun 2026

Thế là ngày 21 tháng 12-2012 đã đi qua, trong khi trái đất vẫn bình an. Sáng nay, ngoài đường chiếc xe đổ rác vừa chạy qua, người phát thư mới dừng lại truớc cổng nhà. Tin tận thế đã loan truyền từ lâu, nhưng không ai hồi hộp đợi chờ vì người ta không còn tin tưởng ở những lời sấm ký, tiên đóan nữa. Có ăn mừng khi ngày tận thế đã không xảy ra, cùng chỉ là cái cớ để vui chơi, chứ không phải sự mừng rỡ thật sự như khi một người vừa thoát nạn sau một vụ đắm thuyền ngoài biển khơi hay như người du khách ở Phuket Thái Lan được sống sót qua trận sóng thần năm 2004. Tôi nghĩ là không ai tin rằng ngày 21 tháng 12 năm vừa qua là ngày tận thế, bằng chứng là vào chiều ngày trước đó, ngày 20, tại phòng mạch, ông bác sĩ đã cố gắng nán lại khám cho xong người bệnh cuối cùng hay nhà hàng bán thức ăn “to go” ráng vét món canh trong cái chậu nhôm bán cho khách dể lấy thêm đồng bạc, trước khi đóng cửa. Ở Las Vegas, du khách vẫn đông như mọi ngày và chuyến xc buýt chỡ khách lên sòng bài hôm nay cũng không vắng người. Không ai lo sợ mà cũng chẳng ai hối hả về tin ngày mai trái đất sẽ nổ tung và mọi người trở thành cát bụi. Không có tuổi trẻ mà chẳng có tuổi già, không có nhan sắc mà cũng không có tình dục. không có giàu má cũng không có nghèo, không có hạnh phúc mà cũng chẳng hề có đau khổ, không có ngày cũng chẳng có đêm. Mọi sự đều tan biến, tưởng chừng như chưa bao giờ hiện hữu, như chúng ta chưa bao giờ tới nên cũng chẳng đi.

Thế giới đã có những ngày nào sự việc xảy ra như ngày tận thế. nên người ta định nghĩa tận thế tương tự những điều có thể xảy ra ở trên. Đối với cư dân Hiroshima và Nagasaki, Nhật Bản thì hai quả bom nguyên tử đuợc Mỹ ném xuống ngày 9 và ngày 12 tháng 8-1945 tàn phá nơi này thành bình địa, giết hơn 200 nghìn người quả là một ngày tận thế đối với họ. Sức tàn phá lớn gắp nhiều lần một quả bom nguyên tử như thế. nguời ta đã nói đến thảm họa sóng thần vào Sumatra một ngày sau Giáng Sinh năm 2004, thực sự gấp

đôi nguồn năng lượng bùng nổ trong chiến tranh thế giới thứ 2, bao gồm cả hai quả bom nguyên tử. Tính riêng cuờng độ và nguồn năng lượng của riêng trận động đất gây ra, ước tính đã phải xấp xỉ khoảng 23.000 quả bom nguyên tử ở Hiroshina. Thảm khốc hơn thế nữa, trận đói xảy ra ở Bengal, Ấn Độ n m 1770. làm chết 10 triệu người, lụt ở Trung Quốc năm: 1931 giết gần 4 triệu người, cơn lụt năm 1887 của riêng con sông Hoàng Hà đã giết gần 2 triệu nguời. Và mới đây thôi, tai họa của cơn sóng thần ngày 11 tháng 3 năm 2011 tại Nhật làm thiệt mạng gần 20 nghìn người. Đó không phải là hình ảnh của tận thế hay sao?

Nhưng bản tính con người vẫn mau quên. Khi kề cận với cái chết, người ta có những suy nghĩ khác, nhưng sau khi sống sót, người ta trở lại với tính tình cố hữu của mình. Có bao nhiêu người thập tử nhất sinh trên đường vượt biển khi cái chết chỉ trong gang tấc, họ cầu nguyện những gì, mong mỏi những gì, nhưng sau đó, khi đã đặt chăn được đất liền, không còn đói khát, hết đối mặt với sự hãi hùng, cơn người trở lại tầm thường, cùng chẳng hiền lành, đạo đức hơn đuợc chút nào. Vì thật sự, chắc chắn, ngày mai là ngày tận thế, trái đất hoàn toàn bị hủy diệt. tất cả chỉ còn là những dúm tro rải rác trong không gian rộng lớn. vô tận này, thì hôm nay con nguời dã có suy nghĩ và hành động khác hẳn rồi. Nếu ngày mai đã là ngày tận thế, hôm nay chúng ta vẫn cộn chăm chỉ nhặt nhạnh thêm vài đồng bạc cuối cùng để lảm gì” Nếu ngày mai là ngày tận thế, hôm nay đâu cần phải nói ra một lời cay đắng với nhau? Nhưng con người không phải ai cũng giống ai. Có người nói nếu có ngày tận thế, chỉ mong được nắm tay một ai đó vào thời điểm ấy và trước khi nhắm mắt thì chỉ cầu mong được ai đó hôn một nụ hôn cuối, được nghe ai đó nói là yêu mình. Một người khác thì nghĩ nên làm những việc gì mình chưa làm, nên nói những gì mình chưa nói, nên yêu đi nếu chưa yêu. Có nhiều người đi mua cho gia đình một chiếc hầm trú ẩn cho ngày tận thế, sẽ được chôn sâu dưới đất giá $75,000.

Trên trái đất này có hàng tỷ tỷ người thì nhà sản xuất chi bán ra mỗi ngày được một cái, nghĩa là con người ít có ai tin rằng ngày mai sẽ là ngày cuối cùng của mình. Trong khi có người muốn dành những giờ phút cuối cùng để cầu nguyện thì cũng có những người muốn lêu giường ngũ với người khác phái lần cuối trước khi ngày tận thể ập đến. Cô cô gái kên lên:

-Tôi chưa muốn tận thế vì tôi chưa có chồng!”

Tôi cũng không nghĩ là sống sót sau ngày tận thế là hạnh phúc! Cử tưởng tượng một mình đi giữa cảnh hoang tàn, không thức ăn, nước uống, không có gia đình, bạn bè, thân quyến, không cả một đồng loại. không cả tiếng chim kêu hay tiếng một con chó sủa … thì sống như vậy cũng như đã chết. Trịnh Công Sơn chỉ mới thấy rừng thay lá. Đã gọi hãy yêu nhau đi, huống gi ngày mai đã là ngày cuối cùng của nhân loại! Chúng tôi xin nhắc lại một câu nói các bạn dã nghe nhiều lần: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương, “(Kahlil Gibran) Nếu ngày mai tận thế, tối hôm nay gia đình chúng ta sẽ quây quần ôm lấy nhau, nghĩ đến những người đã khuất, mong đợi những người ở xa chưa về và nghĩ rằng từ cát bụi chúng ta sẽ trở về cát bụi, cũng chẳng có chi để tiếc nuối và nhận ra, cuối cùng trên cuộc đời phù du này, tiền tài, danh vọng chẳng là gì cả!

Vậy là ngày tận thế đã qua: Cuộc đời không chỉ những cho chúng ta thêm một ngày mà còn thêm nhiều ngày để sống yên thương. Phải chi ngày mai chắc chắn là ngày tận thế, để hôm nay người ta sống với nhau đàng hoàng, tử tế hơn và tôi sẵn sàng tha thứ cho ai đó đã ném những viên đá thù hận, ganh ghét vào tôi hôm qua!

Nhưng ngày tận thế đã qua rồi, Tất cả cần phải xem xét, suy nghĩ lại! Khổ quá, tôi cũng chỉ là một con người tầm thường thôi!