Bốn Mươi Năm (1978-2018) Nhớ Lại Chuyến Vưọt Biển Bi Thảm Từ Phan Thiết Tới Mã Lai.

vietbao.com

Mường Giang

Post on 16 Apr 2018

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Từ Phan Thiết chúng tôi gồm 34 người, quyết tâm ra đi nên đã liều mạng vượt biển để tìm tự do trên một chiếc thuyền đanh cá mỏng manh cũ kỹ và thiếu thốn đủ mọi thứ. Thời gian sống với biển cả tuy ngắn ngủi nhưng thập phần nguy hiểm và đầy bất trắc. Cuối cùng, lòng can đảm đã giúp chúng tôi vượt qua tất cả trở ngại. Chúng tôi đã đến bến bờ tiểu bang Trengganu thuộc Mã Lai Á vào buổi sáng ngày 26-10-1978, chấm dứt 6 ngày hải trình bi thảm.

Tôi ghi lại đây để nhớ mãi không quên những tấm lòng vàng của các vị ân nhân Nguyễn Đức Khôi, Nguyễn Đức Long, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Mến. Quý Ông nay đã trở về cõi vĩnh hằng nhưng lòng từ tâm trên chiếc thuyền PT.M1109 hôm nào đã giúp chúng tôi vượt thoát khỏi địa ngục trần gian trong thiên đàng xã nghĩa từ sau ngày 39-4=1975. Cũng chính nghĩa cử cao đẹp trên, Quý Ông đã dạy cho tôi long thương người trong cơn hoạn nạn và tôi đã theo đuổi lý tuởng đó cho tới nay, khi đưọc may mắn định cư tại Hoa Kỳ vào tháng 4-1979.…

Câu chuyện vưọt biên của tôi cũng là một kỳ ngộ, như có một bàn tay huyền diệu nào đó luôn giúp đỡ sắo xếp..Tôi còn nhớ cái đêm trước khi vưọt biển, vì buồn đủ thứ lại thương đứa con gái nhỏ tên Duyên bệnh nặng..nên khi mấy đứa em rũ nhậu, tôi đã quên là mình từ kinh tế mới trốn về sống chui không có giấy phép. Nhưng cũng thật kỳ lạ, giữa lúc anh em đang nhậu thì tên Hùng công an khu vực vào nhà tôi nhưng hắn không bắt mà chỉ ra lệnh cho tôi ngày mai phải lên lại KTM. Sau đó ai nấy về nhà ngũ riêng tôi thì ngổn ngang tram mối nên làm sao ngủ đưọc. Giữa lúc đang trăn trở thì chủ ghe tới kêu đi biển. Rồi đến lúc ghe cập đồn Biên Phòng Thương Chánh để trình diện. Tại đây lần nữa Tôi không bị công an bắt giữ vì đi biển lậu, mà chỉ ra lệnh cho chủ ghe đuởi tôi lên bờ vì không có tên trong sổ hành nghề. Chủ ghe dạ dâ nhưng vẫn chạy thẳng ra biển. Nhờ những may mắn trên, nên thành phần bị gạt ra bên lề xã hội lúc đó như bọn tôi mới có cơ hội ra đi.

Tôi nhớ sáng hôm đó trời đẹp chi lạ, biển lặng như trên sông Cà Ty. Phương đông mặt trời đã lên cao, thả những tia vàng đỏ óng nhảy tung tăng theo triền sóng. Gió thổi nhẹ từng cơn như mơn mởn làn da thêm thoải mái. Như thường lệ, ghe tôi từ Phan Thiết chạy ra địa điểm đặt cây chà, đúng vào lúc con nước đang lên để làm nghề. Thời gian sống ngoài biển là lúc mà chúng tôi vui sướng nhất vì được tự do la hét, chửi bới, được nhìn cảnh mênh mông của trời đất bao la và hạnh phúc nhất là ai cũng có quyền hy vọng được tàu ngoại quốc đến vớt sang bên kia bờ đất tự do.

Bây giờ là 8 giờ 30 ngày 21-10-1978, mọi công tác dành cho việc lùng bắt cá đã chuẩn bị xong. Hai đường neo dài hơn 100m đã được móc cứng sau và trước thuyền, kèm vào đó là hai sợi dây khác dùng để móc giàn lưới sắp sửa bủa xuống biển đón đàn cá trắng đang nhởn nhơ bơi lội dưới làn nước trong xanh thăm thẳm. Chúng tôi đã sẵn sàng bắt một mẻ cá lớn để chốc nữa trở vào bờ dâng cho nhà nước đổi lấy từng ký gạo sống dần mòn qua ngày. Đó, đời sống của con người nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa là thế.
Bỗng một tiếng la từ sau lái: Tàu vượt biển đến, hãy kéo neo lên để chạy cho mau, kẻo chúng đến cướp dầu, cướp ghe. Nhưng đã trễ rồi, vì không thể nào trong chốc lát triệt nổi hai cuộn neo thật dài, thêm vào đó là lưới đang hứng đầy cá, mà con tàu lạ thì từ xa chạy xăm xăm đến với một tốc lực tối đa. Đấy là một loại thuyền đánh cá kiểu Bắc Việt, toàn thể sơn màu đen nên nhìn rất cũ kỹ, dài khoảng 8m, trên thuyền lố nhố những người đang hò hét vẫy gọi, trông giống cảnh ăn hàng của các phim hải tặc. Con thuyền quá mỏng manh và cổ lỗ nên không có gì bảo đảm lắm cho chuyến vượt biển xa xăm mà mọi nguy hiểm như sóng gió, giông bão đang chực chờ, hơn nữa mùa gió Bấc đã đến, biển hay động bất ngờ, chỉ cần một trận cuồng phong nhỏ cũng đủ chôn vùi tất cả bao nhiêu người trên thuyền vào bụng cá. Nhưng nhìn những khuôn mặt cương quyết, chai lì của những người đang đứng trên thuyền đối diện, tôi cảm thấy thán phục cho những tâm hồn biết chết trước mắt nhưng vẫn cứ liều lĩnh, mạo hiểm dấn thân vào biển cả muôn trùng để tìm tự do

Ôi tự do cao quý đến thế sao? Biết chết vẫn lăn xã vào, biết tù đầy khổ ải nhưng cũng cứ bền gan tranh đấu, biết địch mạnh ta yếu mà vẫn cứ âm thầm chịu đựng để chờ ngày quật khởi. Hèn chi tại Nam VN trước tháng 4-75, chỉ vì “độc lập hay là chết “mà đã có hơn một triệu thanh niên nam nữ, hơn 20 năm chịu banh thây để giữ lấy nó. Bây giờ thì một làn sóng người ồ ạt, bỏ tất cả để dấn thân vào cõi chết, chỉ mong mỏi tìm ra con đường sống để nhìn thấy tự do thật sự.
Rồi con tàu lạ cũng tới, tiếng be gỗ chạm vào nhau nghe chói óc, tiếng người la ơi ới, tiếng kéo cò lên đạn gây thành những âm thanh hỗn độn, kỳ quái nghe hay hay.
-“Cho chúng tớ xin ít dầu, gạo và nước để ra đi, chúng tớ không thể quay về với đưọc, giúp chúng tớ đi anh em ơi” . Thật là thảm thiết, thật là cay đắng, nẻo đường sống của bọn người quyết lòng tháo gỡ gông cùm của giặc thù là thế đó. Tôi nhìn kỹ từng khuôn mặt, đều là bạn bẻ cũ thuộc tỉnh/tiểu khu Bình Thuận cả. Người đứng trên mui để chỉ huy tổng quát là Ng-Đ-M, cùng tôi học Triết ở Đại Học Văn Khoa SG. Trước mũi là Thưọng sĩ Ng-Đ L phục vụ tại Chi Nhánh 2 TMNN., Tài công là Trung sĩ I ĐPQ VS và thuyền trưởng là Thiếu Uý CSQG NĐK. Tất cả đều là khách hàng đắc giá của Công An Thuận Hải cả, thảo nào họ dám dùng con thuyền nhỏ này để vượt biên. Theo lời M, họ đã khởi hành đêm 19-10-1978 sau khi ba vị chủ ghe đồng nhận được trát của công an thị xã Phan Thiết mời đến để điều tra về vụ vượt biên mới đây có liên quan đến họ. Vì tin đến quá đột ngột nên tất cả số dầu dự trữ dành cho chuyến vượt biên sắp tới không thể đem xuống ghe được, cũng không thể mang nhiều gạo, thuốc và thức ăn vì sợ đồn biên phòng số 4 kiểm soát sẽ bại lộ. Nên cuối cùng Ban Chỉ Huy thuyền PTM 1109 quyết định đi liền với số nhiên liệu và thực phẩm dành cho 1 ngày làm cá đúng theo cấp số ấn định, nhưng cương quyết mang theo hai khẩu súng cũ đã chôn giấu từ lâu cùng đồ nghề dành cho chuyến vượt biên thế thôi. Như vậy họ đã quyết định ra đi với 40 lít dầu, 10 kg gạo và lòng tin tưởng tuyệt đối vào Chúa sẽ giúp họ thành công. Đúng 5 giờ 30 ngày 20-10-1978, con thuyền trên lại quay về bờ biển Phan Thiết và đâm ngay vào bãi Thương Chánh tại Vĩnh Phú, để vớt người như chương trình dự liệu, giữa lúc tiếng chuông nhà thờ Vĩnh Phú rền vang báo hiệu đợt lễ đầu, trong khi bọn du kích và công an phường canh gác bãi tắm đã lục tục kéo nhau về ăn cơm. Sự liều lĩnh đã đem lại kết quả khả quan nhưng vì thời gian quá ngắn nên chỉ cứu thêm được một số anh em và người nhà, để rồi vĩnh viễn rời xa quê mẹ, con thuyền sẽ điên cuồng lao vào đất chết.

London, Ontario: Trong phiên tòa diễn ra vào hôm thứ ba ngày 20 tháng 8, một phụ nữ 79 tuổi, lái xe…

Đêm đó thuyền đã xông xáo khắp nơi để xin dầu, gạo, nước ngọt dành cho chuyến hải hành, thuyền suýt đụng độ với 2 chiếc mành quốc doanh có trí súng đại liên làm anh em một phen mất vía.

Tiếng của thằng bạn làm tôi bừng tỉnh: “C còn chần chờ gì mà không nhảy sang đây để đi với tụi tớ, cậu thường ao ước tìm tự do lắm mà. Hãy đi đi, trời còn đó, đất còn đó và vợ con chúng ta cũng còn đó, nếu còn sống thì lo gì không gặp lại người thân. Vâng bạn tôi nói đúng lắm, tôi phải ra đi, đây là một cơ hội bằng trời mà tôi hằng mong đợi, tôi phải đi để sống và còn sống là còn tất cả.
Tôi nhảy sang con thuyền lạ giữa tiếng la khóc của những đứa em, giữa những vòng tay thân tình cật ruột giữ lại. Nhưng tôi đã cắn răng cắt đứt tình cảm gởi gấm vợ con trên kinh tế mới cho má tôi, rồi gục mặt ra đi.
Theo chương trình dự liệu, chúng tôi còn phải đi mua thêm dầu gạo và nước uống đủ để đi thẳng đến Mã Lai Á, vì không hy vọng ra đến hải phận quốc tế sẽ được tàu vớt. Bởi thế cần phải được chuẩn bị đầy đủ, ăn ít cũng được nhưng dầu và nước thì không thể thiếu được. Do đó thay vì trực chỉ ra hải phận, chúng tôi bắt buộc phải mạo hiểm đến gặp các thuyền bạn để xin dầu và kết quả thật khả quan: Dầu được 300 lít, gạo 50 ký, nước ngọt 2 thùng lớn còn thức ăn thì không cần, tuy vậy cũng tạm sống.
Vì sợ các thuyền quốc doanh bị lấy dầu quay vào bờ báo cho đội tuần duyên nên chúng tôi đành phải ngụy trang, thay vì chạy chúng tôi neo lại trên phần chà thường đến làm cá giả vờ đang hành nghề, cho tất cả đàn bà con gái trẻ em và những người không phận sự xuống khoang thuyền, chỉ để 7 người trai tráng ở lại lo công tác, súng thì lên đạn sẵn đầy đủ để quyết tâm chống chọi nếu bất trắc ập đến . Nhưng mọi lo lắng đều qua, 4 giờ chiều ngày 20 tháng 10-1978, chúng tôi chặt đõi, vĩnh viễn xa rời quê hương để ra đi tìm tự do. Hỡi ơi, phút cuối cùng sao nghe lòng quyến luyến và hờn tủi chi lạ, biết bao giờ mới được quay về để nhìn những thâm tình đang tuyệt vọng đợi chờ.

Buồn lắm, những trở ngại và thử thách đầu tiên đã qua, các em và các cô không quen đi biển cũng bớt nôn ọe. Trời lại đẹp và biển lặng một cách đáng yêu. Đúng 20 tiếng lướt sóng chúng tôi bắt đầu cho mũi thuyền hướng về 180 ly giác, trực chỉ hướng Bornéo, ra ngay hải lộ quốc tế rồi từ đó sẽ bẻ mũi ghe về hướng 220 ly giác để về Mã Lai Á. Theo hải trình này thuyền sẽ không gặp Côn Đảo và Thái Lan. Nhưng đời đâu có bằng phẳng và dễ dàng như thế. Và đúng 3 giờ chiều ngày 23-10-78 thuyền chúng tôi bắt đầu gặp tai họa, một máy bị hỏng, dầu không bơm được, máy bơm nước cũng hư và phía trước mặt là Côn Đảo với 2 ống khói trắng toát.

Dùng ống dòm chúng tôi có thể thấy được đỉnh của ngôi giáo đường. Nguyên nhân có sự lạc hương này, chỉ vì tài công V.S trong lúc lái ghe đã nhìn hai ống khói màu trắng tưởng lầm Côn Đảo là một chiếc tàu buôn. Bởi thế đã đổi hướng chạy đến thì cũng đã lỡ rồi. Ngay lập tức buồm được kéo lên, thợ máy Hòe cố gắng sửa lại bơm dầu và tất cả thanh niên phải thay nhau tát nước

Tai họa bắt đầu giáng xuống với những trận gió lớn làm biển động mạnh với từng đợt song dữ. Bao nhiêu bi thãm dồn cùng một lúc dành cho chúng tôi. Đây là Trường Sa, nơi giao liên của hai con nước vùng biển Đông Hải và vịnh Thái Lan, nên sóng rất lớn. Nhưng việc gì đến sẽ đến, giờ thì phải chạy, kẻo đồn canh của bọn công an trên đảo thấy được thì chúng tôi một là sẽ vào bụng cá hai là vào Côn Đảo nằm thiên thu.

Mưa xối xả như trút nước, làm giảm tầm quan sát của địch, V.S cho lên ga tối đa 1500, con thuyền lao như điên giữa tiếng gió gào thét, cánh buồm căng cứng gần muốn đứt lèo, sóng bủa tứ tung trên mạn thuyền, tất cả đều ướt át như chuột lội nước, lạnh dói và run sợ. Đêm đó không ai ngủ được cả, mọi người đều lo lắng và theo dõi nhiệm vụ không ai nói với ai một tiếng nào cả. Ban chỉ huy thuyền thì mãi miết chụm đầu vào mặt chiếc địa bàn để canh lại cho được hướng đi, nước trong khoang thuyền được thay nhau tát ra ngoài, và rồi mưa lại tạnh, gió bớt thổi và chung tôi đã ra khỏi vùng biển bảo tố lúc 6 giờ sáng ngày 24.10-1978 khi mặt trời đã bắt đầu mọc, báo hiệu một ngày đẹp đẽ đang trở lại với vạn vật, chấm dứt thãm họa đã hành hạ chúng tôi suốt 15 giờ qua …
Từ giờ thuyền chúng tôi đã ra khỏi hải phận VN và đang ở trên hải lộ quốc tế. Mỗi lần nhớ lại đêm bảo tố kinh hoàng trên biển, tôi vẫn thấy sợ và càng thương ông NĐK lúc đó, cứ luôn miệng cầu nguyện Thưọng Đế giúp đỡ cho chúng tôi qua khỏi tai họa khốc liệt kinh hoàng..không ai trên thuyền lúc đó nghĩ rằng mình còn sống sót với cơn bão cấp 10.
Giờ thì tất cả mọi người đều có quyền lên boong thuyền để thở không khí, trời đất mênh mông, biển cả miên man, con thuyền không khác chi chiếc lá vàng trôi giạt vô hạn định, trôi mãi, trôi mãi, tôi bâng khuâng tự hỏi, đời tôi rồi mai này cũng sẽ như con thuyền này xuôi ngược không biết đâu là bờ bến thế thôi .

Chúng tôi đang sống ngày thứ tư trên biển, gạo sắp hết, nước cũng gần cạn và dầu chỉ còn độ 100 lit. Ban chỉ huy ra lệnh tiết kiệm để sống cầm hơi nếu thuyền không tìm được bến. Trong ngày thứ tư này, chúng tôi 3 lần thấy tàu lớn, đã làm tín hiệu S.O.S, đổi phương hướng để xin cầu cứu, nhưng các con tàu kia đã vô tình bẻ lái bỏ trả chúng tôi lại với biển nước mông mênh. Cuối cùng lúc 12 giờ khuya đêm thứ 5 thuyền chúng tôi đã cập được vào giàn khoan dầu của Anh Quốc (trong hải phận Mã Lai Á) thế là chúng tôi đã tìm được đất sống..
Hỡi ôi đã 5 ngày qua, sống lầm lũi giữa biển khơi mịt mù mây nước, hôm nay mắt lại được nhìn thấy những ngọn đèn biểu hiện của cuộc sống. Đèn bốn hướng, đèn mông mênh, cả một vùng trời trước mặt toàn đèn, chúng tôi muốn thét to lên để tỏ sự sung sướng của những con người về từ đất chết, ai cũng vui cười hồ hởi. Làm sao diễn tả cho hết từ tâm của những người làm việc trên chiếc tày dầu Anh Quốc mang số EG 8721 mà chúng tôi đã gặp. Họ đã tiếp tế cho chúng tôi đầy đủ nào dầu, nước ngọt, gạo, thuốc lá, bánh ngọt, sữa v.v..đồng thời cho chúng tôi hướng sắp đến và khuyên nên đi Tân Gia Ba đừng đi Mã Lai Á. Chúng tôi rời chiếc tàu trên mà không khỏi ngậm ngùi và cám ơn đấng tối cao đã dành mọi ưu ái cho chúng tôi trên chuyến đi này..
Những ngày sau cùng không còn gì trở ngại, đồ tiếp tế đã có, anh em lại được chia sớt để ăn uống, biển cũng rất lặng, ban đêm trăng sáng vằng vặt cộng sự thoải mái cho mọi người và rồi đúng 3 giờ sáng ngày 26-10-1978 thuyền chúng tôi bỏ neo tại bờ biển làng Merang thuộc bang Trengganu, Mã Lai Á . Sau đó chúng tôi được thuyền đánh cá Mã Lai Á hướng dẫn vào vàm sông Mérang, được phép lên bờ nghỉ ngơi, lập thủ tục, giao thuyền và vật dụng cho cơ quan chánh quyền địa phương để rồi đúng 7 giờ tối cùng ngày, một chiếc xe đến chở tất cả mọi người về thị trấn Trengganu, nhập vào cộng đồng những người tị nạn đã đến từ những nơi khác để ngày 27-10-78 xuống tàu đến tạm cư tại đảo Pulau Bidong. Thuyền chúng tôi chính thức mang số 100 tại trại này.

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2018
MƯỜNG GIANG

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Chương 6

Chuyến xe lửa đưa Eliot Ness và Cathenrine cùng đứa con gái 6 tuổi xuống Chicago vào một buổi chiều nhạt nắng. Chicago, như mọi thành phố lớn khác giữa thời đại kinh tế khủng hoảng, mang một vẻ ảm đạm buồn rầu. Trên đường về ngôi nhà vừa mướn được tạm thời, thỉnh thoảng chiếc xe chở Eliot Ness chạy qua những khu phát cơm xã hội của chính phủ. Thấy mà tội nghiệp. Hàng trăm người thất nghiệp lẳng lặng xếp thành từng hàng dài ngoài trời cả tiếng đồng hồ để chờ lảnh một chén xúp hay một miếng bánh xăng-uých. Đầu họ cúi gầm, hai tay thọc sâu trong túi áo bành tô với vẻ chịu đựng buồn rầu. Eliot Ness nghĩ đến sự may mắn của mình. Tuy lương của một nhân viên cảnh sát đặc vụ tổng nha Ngân Khố không có là bao nhưng so với những người thất nghiệp kia thì chàng hơn họ quá nhiều. Rồi chàng sực nghĩ đến cái thế giới giang hồ của AI Capone. Thảo nào thằng chó này không trở thành một ông vua không ngai ở đây. Có gì đâu, thời buổi gạo châu củi quế, ai nấy chỉ mong có một việc làm để nuôi vợ nuôi con, nên đang sắp hàng chờ cơm mà có vài thằng anh chị với complê nguyên bộ xuất hiện, tay phe phẩy vài tờ giấy hai chục đô thì ai mà cưởng nỗi, muốn bảo gì lại không được ? Chỉ thị nào không nghe theo ? Mới đầu chắc chỉ là chân gác xòng bạc, rồi đến đấm đá vớ vẫn, rồi đến ôm súng đi giết người. Mà cái thế giới của tội ác đâu có phải là cái thế giới tầm thường hiền hoà như người ta vẫn nghĩ. Có mấy ai dính vào mà còn thoát ra được. Theo báo cáo thì dưới trướng AI Capone có đến khoảng từ 700 đến 1000 thằng đàn em cỡ vào tù ra khám, sẵn sàng bắn bất kỳ ai và thi hành bất cứ mệnh lệnh gì được giao phó. Eliot Ness lắc đầu, quả thật là chiếc xe này đang đưa mình vào hang cọp. Một anh cớm liên bang xuống một thành phố lạ quắc để dẹp băng cướp có ngàn thằng, với đầy đủ phương tiện lại nắm cả lực lượng cảnh sát trong tay thì là chuyện đội đá vá trời. Chàng chép miệng, cố gắng giấu nỗi lo lắng để Catherine khỏi phải nhìn thấy. Cuộc chiến đấu sắp tới với Al Capone sẽ là một cuộc chiến khốc liệt. Khốc liệt cỡ nào chàng chưa biết rõ nhưng cái điều chắc chắn là hôm nay, có một anh chàng thợ săn cô đơn đang lần mò bước vào hang cọp. Ngày đầu tiên đã thấy nản.

Eliot Ness nhìn người tài xế, bắt chuyện:

– Chicago có gì lạ không bác.

Ông tài xế đáp rất lịch sự nhưng cụt ngủn:

– Thưa ông cũng thường.

Rõ thật là chán đời, đúng là típ không ham nói, Eliot Ness thầm nghĩ. Ông tài xế này không phải là dân lái xe taxi nên cách nói chuyện cũng khác. Ông làm việc với hãng cho mướn xe nên cái mục ngoại giao lẩm cẩm này coi như khỏi có đi. Lái xe chở khách từ trạm xe lửa về nhà rồi giao xe cho khách là nhiệm vụ của ông. Ông chỉ cố gắng làm sao khi giao chiếc xe, khách ký nhận đầy đủ là ông xong việc. Một điều làm ông chú ý là người khách này phải là một nhân vật quan trọng, rất quan trọng là khác. Cái gì, thơ gối xuống cho hãng để mướn xe mà đóng giấu “U.s. Treasury” đỏ chói, lại niêm phong cẩn thận làm như là tài liệu mật quí giá lắm. Đã làm ra vẻ quan trọng ngon lành như vậy thì sao trong bì thơ không kèm theo một cái check cho hãng ? Được vậy thì đỡ khổ biết mấy. Đằng này chỉ trần xì một cái đơn đặt hàng với con dấu to tổ bố phía dưới như dằn mặt thiên hạ. Nhưng thôi, thời buổi kinh tế khó khăn này có khách là vui rồi. Hơn nữa khách đó lại là “U.S. Trearury” thì có chạy đi đâu mà sợ? Ông tài xế nghĩ thêm, ủa, tổng nha Ngân khố mà lại gởi người xuống Chicago làm con khỉ gì ở đây? Chẳng lẽ Chicago sắp mở thêm một nhà máy in bạc chăng ? Làm gì có chuyện đó. Dòm kỹ tướng tá ông khách thì thấy quả là một tay lực sĩ. Tướng người cao có gần cả 5 feet 6 chứ ít đâu. Không mập, dong dỏng cao nhưng xương to như thế kia thì sức mạnh phải biết, đánh một phát dám chết tươi con bò mộng. Chừng dòm tới khuôn mặt xương xương lạnh lùng với cặp mắt sáng quắc như đèn pha xe hơi thì ai cũng phải ngán. Tuy không phải là dân anh chị nhưng ông tài xế hình như cũng ngữi được chất “cớm” trong người Eliot Ness thoát ra. Mà không phải là cái mùi cớm thường, cớm cà chớn như ông đã gặp nhiều lần ở Chicago đâu. Đây phải là thứ “đệ nhất cớm”, thứ cớm ngoại hạng, lừng lẩy nhất của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Xe chạy ra khỏi khu trung tâm thành phố, ông tài xế vẫn không hết thắc mắc. Tại sao một anh cớm ngon như vầy của Hiệp Chủng Quốc lại mò về đây làm gì? Để bắt chuột chăng? Không, chắc là phải để bắt cọp. Chicago này có con cọp nào bự hơn, ngon hơn con cọp AI Capone? Thôi thôi đích thị rồi, ông khách này về đây để săn cọp AI Capone chớ còn gì nữa. Nhưng một mình một ngựa xuống đây, ông cớm này chắc tính tự tử. Cả lực lượng cảnh sát Chicago với 5 ngàn nhân viên mà còn trị không nỗi AI Capone thì một mình ông này làm được cái gì? Đầu óc lão tài xế mường tượng ra những trận đánh đẫm máu, những thây người chết đã lâu không thấy lại sẽ được đăng lên tờ Chicago Tribunes. Ông chép miệng, trẻ tuổi đẹp trai anh chàng này mà mai mốt lại có tên xuất hiện trong mục…cáo phó thì quả là uổng đời…

Không bắt chuyện gì được, Eliot Ness ngồi im suy nghĩ đến kế hoạch bắt cọp suốt quãng đường về nhà. Theo như tổng nha thì phải đánh vào mấy cái đường giây buôn lậu, mấy cái lò nấu rượu để làm tiêu hao khả năng tài chánh của AI Capone trước. Khi nó đã bị yếu thế rồi thì sẽ xuống tay cái rụp. Nhưng cái kẹt là không biết khi nào nó mới bị yếu thế? Nhiều năm qua, tài sản của nó tích lũy được bao nhiêu triệu đô la ai mà biết? Theo Eliot Ness, mình phải nghĩ ra một cú phật thủ, cú độc, tung ra một cái thì thằng khốn phải lên ghế điện hay ôm chừng vài chục cuốn lịch. Mà cũng khỏi cần vài chục cuốn lịch, chỉ cần hai ba cuốn là cả đế quốc của nó sẽ tan tành ngay. Trước khi lên đường, Eliot Ness đã đọc kỹ hồ sơ của thằng này. Tuy ngày xưa ở Brooklin New York nó là một thằng du thử du thực bị bắt vô bót cảnh sát mây lần nhưng bây giờ nó là một đại thương gia giàu có và thế lực, hồ sơ trắng tinh không một vết nhơ. Ai chẳng biết là nó đã giết hoặc ra lệnh giết không biết bao nhiêu người nhưng có bao giờ tìm ra nhân chứng hay thủ phạm gì đâu ? Đến ngay cả cảnh sát Chicago mà nó còn cho đi mò tôm thì còn ai để buộc tội nó được ? Và nếu có ráng buộc tội thì cũng chẳng có ma nà dám đứng ra làm nhân chứng.

Người tài xế thắng xe cái kít trước một căn nhà tuy không lớn nhưng xinh đẹp. Trước nhà có vườn hoa và ghế xích đu. Catherine xuống xe, nàng tặng cho Eliot Ness cái hôn nghe đến “chụt” một phát:

– Cái nhà ngân khố của anh không đến nỗi tệ như em nghĩ.

Eliot Ness đầu óc đang rối bù với những suy nghĩ, kiếm một câu để trả lời vợ nhưng nghĩ không ra, đành gật đầu đáp bừa:

-Ừ, không đến nỗi tệ.

Đồ đạc trong nhà đã được hãng chuyên chở dọn trước đó mấy ngày nên hành lý lần này chỉ có vài cái va ly nhỏ, chàng phụ người tài xế khiêng vào. Catherine cùng con gái chạy lăng xăng trước sân, rất thích thú với cái vườn hoa.

Trao chìa khóa chiếc xe Ford lại cho Eliot, người tài xế dỡ mũ chào:

– Chìa khoá xe đây ông Ness. Mỗi tuần một lần, ông nhớ kiểm soát nhớt và nước. Xe chạy tốt lắm, chúc ông may mắn.

Eliot Ness thò tay vô túi, lấy ra 50 xu cho ông tài xế:

– Cám ơn bác nhiều lắm.

Ông tài xế bỏ 50 xu vào túi, cám ơn. Ông còn lạ gì với mấy cha công chức nhà nước này, tiền đâu mà có cái mục “típ” lớn. Ông còn nhớ lần đi giao xe cho phụ tá Frank Nitti, nó nhét vô tay ông tờ giấy bạc. Mới đầu tưởng là một đô la nhưng khi dở ra, thây tờ giây 20 đô thì ông mừng quá muốn té luôn. Nhưng không sao, 50 xu cũng là tiền, ông tài xế lững thững bước xuống đường để đi bộ ra trạm xe buýt gần đó.

Trên đường tói trạm xe búyt, ông dòm tới dòm lui trước khi tạt vào một quán cà phê còn mở cửa. Vừa bước vào là ông nhào ngay tới cái trạm điện thoại công cộng nhấc ống lên quay một số bí mật. Ở đầu giây đằng kia, một đàn em của Frankie Rio nhấc máy trả lời. Trao đổi vài câu, thằng này càu nhàu:

– Tưởng gì, có một thằng cớm liên bang xuống đây mà ông cũng làm nhặng lên. Tụi nó muốn xin đi công tác Chicago để được sờ đít mây em vũ nữ và uống rượu free của xếp AI Capone chớ gì.

– Không, tướng thằng này coi hung dữ và sắc sảo không chịu được, mà nó có đem cả vợ con theo nữa.

– Thôi được rồi, cứ ghi nhớ địa chỉ nhà nó. Mà ông nói tên nó là gì?

– Ness. Eliot Ness.

Thằng đàn em của Frankie Rio “Yes” cái rồi cúp máy làm ông tài xế chưng hửng. Cái tin sốt dẻo tưởng là quý giá thế kia mà hóa ra chẳng có sơ múi gì cả. Ông tài xế thảy 10 xu lên quày gọi ly cà phê nóng….

Tối hôm đó, Eliot Ness ngồi nơi phòng ăn của căn nhà mới hút thuốc lá và uống cà phê để suy nghĩ đến sáng.

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Chương 5

“I come here to get Capone…”

Eliot Ness

Elliot Ness gõ ba tiếng vào cánh cửa phòng ông trưởng phòng cảnh sát đặc vụ nha ngân khố Liên Bang Hoa Kỳ. Tiếng bà thư ký nói vọng ra:

– Xin mời vào.

Khi nhìn thấy Eliot Ness, bà thư ký nở một nụ cười tươi như hoa:

– Kính chào ông Ness. Lâu lắm rồi mới lại thấy ông.

Eliot Ness lịch sự:

– Kính chào bà.

Như mọi công chức đứng tuổi khác đã “hiến dâng trọn cuộc đời” làm việc cho chính phủ liên bang Hoa Kỳ kể từ lúc còn là một thiếu nữ, sau mấy chục năm, con người bà thư ký đã trở thành một cái đồng hồ hen rĩ. Đã từ hơn 30 năm, qua mấy triều đại tổng thống, dưới quyền hàng chục ông trưởng phòng cảnh sát đặc vụ khác nhau, cứ 8 giờ sáng là bà cắp ô vô, 5 giờ chiều là bà cắp ô về. Những ngày xa xưa, lúc bà còn là một thiếu nữ mãnh mai trẻ đẹp ở lứa tuổi hai mươi, cuộc đời còn có nhiều thú vị với những cú tán tỉnh của mấy anh chàng cùng sở hay của những nhân viên cảnh sát đặc nhiệm đẹp trai lì lợm. Rồi theo năm tháng, bà lấy chồng, sinh con đẻ cái, ngày hai buổi nhìn thời gian đi qua trước cái cửa sổ cũ kỹ của văn phòng thư ký ông trưởng phòng cảnh sát đặc vụ. Theo luật đào thải của thời gian, người cũ đi, người mới tới. Những nhân viên đặc nhiệm lừng lẫy một thời với bà bây giờ hoặc đã bỏ mình vì công tác, hoặc đã trở thành những ông già lụ khụ. Nhiều người được giao cho một chức vụ khác an nhàn ở một xó xỉnh nào đó, nhiều người khác đã về hưu. Tất cả mọi vật và mọi người đều đổi thay, chỉ có bà là không bao giờ thay đổi. Cũng cùng một công việc đó, cùng trách nhiệm đó, cùng cái bàn viết cũ kỹ đó, bà vẫn còn là bà. Cái làm cho bà nhớ nhất là những anh chàng cảnh sát đặc vụ trẻ tuổi sau này không còn ai đến đùa cợt hay tán tỉnh bà nữa. Nhiều lúc bà buồn lắm, nhưng vẫn ở lại làm việc. Không phải vì bà ham tiền hay ham danh lợi. Bà chỉ thích làm việc, thích hoạt động. Bà rất có cảm tình với những nhân viên đặc vụ trẻ tuổi đẹp trai và đầy nhựa sống như Elliot Ness.

Bà coi bọn trẻ như những đứa con trai của bà. Nó làm cho bà nhớ lại cái thời huy hoàng của mình. Đặc biệt với Eliot Ness, chẳng những thương mà bà còn kính phục chàng. Chàng là một trong những nhân viên đặc vụ trẻ tuổi tài ba nhất của tổng nha Ngân Khố toàn quốc.

Có lẽ Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất trên thế giới mà tổng nha ngân khố quốc gia có cảnh sát riêng của mình. Loại cảnh sát này, hay còn có thể gọi là nhân viên đặc vụ tổng nha ngân khố, có nghạch trật ngang hàng và được ưu đãi như bất cứ nhân viên cảnh sát liên bang nào của Mỹ. Vào thời xưa, lúc cơ quan FBI chưa ra đời, Hoa Kỳ thường bị quấy nhiễu bởi những bọn cướp xuyên bang. Vì mỗi tiểu bang có luật lệ khác nhau, và hệ thống truyền tin liên lạc chưa được thịnh hành như bây giờ, các đảng cướp với những hành động cướp bóc rồi di chuyển từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, tiểu trừ chúng quả là một chuyện khó nhọc. Một trong những sở trường của bọn này là làm bạc giả. Bộ tài chánh phối hợp với bộ tư pháp thành lập một đội cảnh sát đặc nhiệm để lo vụ này. Hoạt động một thời gian, thấy kết quả khả quan, lực lượng đặc vụ được bành trướng, giao khoán luôn cho những nhiệm vụ khác có dính dáng tới tội ác. Từ giết người cho đến buôn lậu, đến đĩ điếm v.v.., nghĩa là bất cứ cái gì có liên quan đến tội ác mà cảnh sát địa phương không giải quyết được thì cảnh sát ngân khố nhảy vào can thiệp. Và từ đó, cảnh sát tổng nha ngân khố tồn tại qua nhiều triều đại, ngày một bành trướng cho đến hôm nay.

(Năm 1904, bộ tư pháp Hoa Kỳ thành lập ra một sở gọi là “Bureau of Investigation of the Justice Department”, tức là tiền thân của FBI. Những ngày ấy, họ chỉ chuyên lo những vụ điều tra đặc biệt và rất giới hạn. Năm 1924, ngành này được đổi tên là “Division of Investigation of the Justice Department” do “hung thần” Hoover đứng ra đảm trách. Tuy có thêm nhiều trách nhiệm nhưng cơ quan này cũng chưa dính tới những vụ tội ác về luật cấm rượu hay những trọng tội khác. Phải chờ đến năm 1935, lúc cơ quan được biến cải thành Federal Bureau of Investigation, gọi tắt là FBI thì họ mới bắt đầu làm việc như là những cớm liên bang chính hiệu cho đến ngày hôm nay.)

Ngày 27 tháng 1 năm 1920, lịch sử của Hoa Kỳ bước sang một khúc rẽ mới khi quốc hội thông qua đạo luật cấm bán rượu của ông nghị sĩ đảng Cộng Hòa tên Volstead, gọi là Volstead Act. (Prohibition Law) cấm rượu thì dĩ nhiên phải cấm nấu, cấm tàng trữ, cấm buôn lậu rượu. Không hiểu cái luật vô lý này có giúp gì được cho nước Mỹ không, nhưng kể từ hôm đó, nước Mỹ đi qua một khúc quanh mới. Các tay anh chị khắp nơi trên toàn quốc tự nhiên có một cơ hội ngàn vàng để hốt bạc: Nấu và bán rượu lậu.

Từ khắp nơi, các lò nấu rượu lậu mọc lên như nấm. Nấu công khai không được thì thiên hạ nấu lén trong nhà. Nấu trong nhà không được thì đem vô…cầu tiêu hay đem ra ngoài rừng nấu. Đã có biết bao nhiêu vụ hỏa hoạn hay tai nạn xảy ra chỉ vì cái luật quái quỷ này ? Đó là những mối làm ăn lẻ tẻ của dân nghèo hay các anh chàng nghiền rượu. Một khi các tay anh chị bự Mafia đã nhúng tay vào thì làm có gì có vụ chừng vài ba nồi rượu lậu. Đã mất công nấu là phải nấu làm sao để chất đầy từng…chục xe cam nhông một lần mới đáng. Toàn quốc chỗ nào cũng có cái nạn này, không làm sao tiểu trừ cho hết được. Nhưng mạnh nhất, tàn bạo nhất, giàu nhất, có quy cũ nhất thì phải kể đến 2 nơi là New York hay Chicago. Hai nơi này là thiên đàng của đảng bàn tay đen, của các tay anh chị bự…

Eliot Ness vừa mới đi một chuyến công tác từ New York về, và được gọi lên trình diện ông trưởng phòng cảnh sát nha ngân khố liền cấp kỳ.

Bà thư ký nhìn Eliot Ness. Nhìn mà như ngắm đứa con trai đi xa lâu ngày mới về kỹ càng từ đầu đến chân. Cũng như các công chức lương ba cộc ba đồng của chính phủ khác, Eliot Ness đóng một bộ áo vét nâu rẻ tiền. Cái áo sơ mi trắng hơi cũ được ủi rất thẳng nếp chứng tỏ vợ Eliot Ness là một người nội trợ đảm đang. Khuôn mặt chàng cương nghị với những nét rắn rỏi xương xương đẹp như nét điêu khắc của các tượng đá dân La Mã thời xưa. Nhưng cái bà thích nhất là cặp mắt của Eliot Ness. Cặp mắt trong sáng như sao, lộ vẻ thông minh và quyết liệt lạ lùng. Cái nhìn chiếu ra như bắn đi những tia hào quang sáng chói.

Eliot Ness đưa mũ cho bà thơ ký:

– Thưa bà vẫn bình thường chứ ạ?

Bà thư ký gật đầu:

– Ông trưởng phòng đang bận điện thoại, mời anh ngồi. Tôi khoẻ lắm, anh đừng có lo cho tôi. Cái thân già này ngồi trong phòng giây đâu có bao giờ chết được. Tôi chỉ lo cho những người xông pha như anh, không biết bao nhiêu là nguy hiểm đợi chờ….

– Coi vậy chứ nếu mình khéo léo thì chẳng có gì nguy hiểm lắm, thưa bà.

– Xin anh đừng có tự hạ mình quá như thế. Tôi thỉnh thoảng vẫn đọc hồ sơ của anh luôn. Lại còn báo chí nữa, anh biết báo họ gọi anh là gì không?

– Tôi có nghe nhà tôi nói mà quên rồi.

– Họ gọi anh là “The number one cop of America”.

Eliot Ness cười dễ dãi:

– Bà cứ tin mấy ông phóng viên bá láp. Để rồi bà xem, hôm nay thì vậy nhưng ngày mai thì họ lôi tôi mà ném xuống bùn cho bà coi…

Một tiếng chuông dóng lên nghe “boong” nơi bàn giấy bà thư ký. Bà ta biết ông trưởng phòng sẵn sàng tiếp Eliot Ness, liền đứng dậy tới hé mở cánh cửa văn phòng của ông ta:

– Thưa ông có thanh tra Eliot Ness đợi.

– Good, good, xin bà mời hắn vào.

Cửa mở, vừa thấy Eliot Ness, ông Trưởng phòng đã đứng hẳn dậy giơ hai tay lên trời đón mừng:

– Chào anh chàng “The Best Cop in America”.

– Kính chào ông.

Sau cái bắt tay, ông trưởng phòng vô đề liền, khỏi có trời trăng mây nước xa xôi chi cho mất công:

– Anh biết công tác mới ở đâu chưa?

– Thưa, tôi không có thói quen tập đoán những nơi mình sắp đi nên không biết.

Ông Trưởng phòng bật cười:

– Khôn ngoan, khôn ngoan. Không đoán thì mình không mong đợi, không mong đợi thì khỏi sợ bị thất vọng… Tôi phải bắt chước anh để kỳ nghỉ hè này tôi sẽ không đoán là mình sẽ đi nghỉ mát ở đâu hết. Năm ngoái tôi đoán là bà xã muốn đi chơi ở Canada thì rốt cuộc phải xuống miền Nam. Thật là thất vọng., ha..ha…

Đúng là ông già lẩm cẩm, Eliot Ness không cảm thấy tức cười chút nào trước cái câu pha trò trống trải này, nhưng cũng ráng nhe răng một chút cho ông trưởng phòng khỏi buồn.

Chờ Eliot Ness vừa ngồi xuống là ông thảy trước mặt chàng một tập hồ sơ:

– Mở ra xem thử coi Eliot Ness.

Eliot Ness dở tập hồ sơ, ngoài một mớ hình ảnh và những bài báo được cắt từ các tờ nhật trình khắp nơi trên nước Mỹ với cái tên AI Capone tổ bố, chàng nhìn thấy một xấp giấy báo cáo đóng dấu “Tối Mật” của Toà Án Liên Bang tại Chicago. Eliot Ness nhìn lướt qua mấy bản tin, gấp bìa lại:

– Nếu tôi đoán không lầm thì chuyến này sẽ là Chicago.

– Hà hà, đúng y bong. Chicago.

Ông đứng dậy, vớ cái tẩu thuốc, nhồi một nụm rồi đi đi lại lại trong phòng, ống tẩu đưa lên đưa xuống:

– Tuần trước, ông bộ trưởng mình có dịp gặp tổng thống Hoover tại toà bạch ốc. Tổng thống có nhắc đến cái tên AI Capone ở Chicago.

Ông tiến tới bàn giấy, chống hai tay lên mặt bàn, vừa nói vừa lắc đầu ra vẻ… thương hại lắm:

– Chỉ có thế thôi mà ông bộ trưởng nhà mình về đến nhà là đã bấn xúc xích lên. Ông quát tháo, ông chỉ thị, ông la lối, ông xài xể tùm lum…

– Thì công chuyện là công chuyện mà..

Ông trưởng phòng bây giờ mới chịu nhét cái ống vố vào miệng:

– Công gì? Cứ công chức như mình thì chẳng có gì phải lo. Mình chẳng có dính líu gì đến chính trị chính em gì hết nên chẳng bao giờ sợ mất việc, sợ bị sa thải. Tổng thống nào thì mình cũng là công chức nhà nước hết. Đảng Cộng Hoà thì mình là nhân viên cảnh sát, còn đảng Dân chủ thì mình là thầy đội cảnh sát… mà thôi, để tôi trở lại vấn đề: Chuyến này anh khăn gói lên Chicago dẹp thằng AI Capone cho tôi.

Eliot Ness hầu như đã đoán được kết quả buổi hội kiến hôm nay, nhưng cứ thử làm một quả phản đối… cầu may:

– Tại sao phải tôi xếp? Tôi đi New York gần năm mới vừa về mà.

– “Phi Eliot Nesss, bất thành đại sự…” Ông tổng giám đốc và tôi đã bàn qua rồi. Thằng AI Capone này không phải là loại găng tơ thông thường như những hạng khác. Nó còn là một triệu phú, là một tay doanh thương đại tài, một thiên tài về vân đề tổ chức và điều hành, một “businessman” có nhiều tài nghệ hơn cả mấy tay tài phiệt ấm ớ ở New York. Cú này không có chú mày thì không xong được.

Ông hạ ống vố, dở tập hồ sơ đọc một chút rồi tiếp tục:

– Cách đây khoảng mười lăm năm, nó xuất thân chỉ là một thằng ma cô chuyên gác động đĩ ở Brooklin, New York. Ở đó còn hồ sơ cảnh sát có ghi tên nó là “AI Mặt thẹo”. Vào tù một lần vì tội bị tình nghi dùng gậy Baseball đập vỡ sọ một thằng đã lường gạt nó 2 đô la. Nhốt nó mấy tuần, đem ra tòa, chẳng có ai ra làm chứng nên lại được thả ra. Ra khỏi tù, nó bị cánh Iatrino bên khu đường 89th cho người đi kiếm. Trốn mãi chịu không nổi, nó dọt về Chicago để làm ăn với hai bàn tay trắng. Cũng một thằng đó, nếu ở New York thì cà bơ cà bấc như chó đói mà không hiểu sao về đến Chicago thì lại ăn nên làm ra. Chỉ mấy năm thôi, nó đã trở thành một một tay anh chị khét tiếng ở vùng đất mới. Sau khi kết nạp được một thằng hung thần khác tên là Frank Nitti, cựu hạ sĩ Thủy Quân Lục Chiến…đào ngũ, thợ giết người, chuyên viên thượng thặng về vũ khí và chất nổ. Với thằng quái này dưới trướng, biết đã có đủ sức mạnh, nó mở một cuộc đại tấn công đẫm máu nhứt lịch sử Chicago, chiếm trọn tất cả 6 khu lớn thành phố. Trong vòng 5 năm, số người chết liên quan đến các cuộc tranh chấp này là gần 700 mạng, trong đó có ít nhất là vài chục cảnh sát và đặc biết nhất là có cả ông McSwiginn, một biện lý nổi tiếng là “Gang-buster” của toà án Chicago….

Eliot Ness lớn giọng cắt lời ông trưởng phòng, mắt tóe lửa ra:

– Một ông biện lý của tòa án Hoa Kỳ bị tụi AI Capone bắn gục?

– Đúng!

Eliot Ness thấy hai thái dương mình giựt giựt. Gần mười năm trong nghề, chàng đã gặp đủ thứ đầu trộm đuôi cướp, đối phó với những thằng liều có gan làm nhiều chuyện gian ác nhưng chưa bao giờ nghe nói có băng cướp nào dám đụng đến ông biện lý của chính phủ Hoa Kỳ. Theo hiến pháp, mọi công dân tại Hoa Kỳ đều được bảo vệ và đối xử ngang hàng với nhau trước mặt luật pháp. Cảnh sát không được quyền bắt ai nếu người ta không quả tang phạm pháp hoặc không có án lệnh của tòa. Tòa án lại là một nơi “chí công vô tư”. Ông biện lý là người đại diện chính phủ (đúng ra là nhân dân) để hò hét thuyết phục ông chánh án rằng cái thằng đang đứng trước mặt ông là kẻ có tội, xin hãy tặng nó một hình phạt đích đáng. Phía bên kia, ông luật sư của bị cáo cũng to tiếng không kém để ráng thanh minh với ông tòa rằng cái thằng đáng thương đó không có tội gì hết. Quan tòa, sau khi nghe hết hai bên, thấy kẻ nào có lý thì ngã theo mà tuyên bố nạn nhân có đáng ôm chiếu đi nằm tù hay không. Vì vậy, trong hệ thống tòa án, người quan trọng nhất nhiều khi không phải là ông quan tòa mà là ông biện lý. Ông muốn truy tố ai thì tòa phải xử, còn nếu ông xuề xòa bỏ qua một vụ nào đó thì ông quan tòa coi như cũng không biết.

Eliot Ness đã nghe chuyện cớm bị bắn, đã thấy cảnh nhân chứng bị cho đi mò tôm dưới đáy lòng sông, nhưng chưa bao giờ có chuyện một ông biện lý tiểu bang lại bị bắn chết khơi khơi ngay giữa thành phố. Chưa ra quân đã thây máu muốn dồn lên cổ, Eliot Ness không muốn tin những gì mình vừa nghe là một sự thật, nên gỡ gạc:

– Chúng nó bắn lầm hay cố ý?

– Lầm thế nào được mà lầm. Nếu chúng nó lầm thì Tổng Thống Hoover đâu có kêu ông bộ trưởng nhà mình lên xài xể làm gì. Tất cả mọi người ở Chicago, đến con nít cũng biết chuyện này. Chuyện đó xảy ra như sau:

Biện Lý McSvwginn sinh trưởng trong một gia đình có máu cớm ba đời. Ông nội và thân sinh của McSwiginn đều là những cảnh sát gương mẫu của Chicago. McSvwginn lớn lên, muốn theo gương cha nên ghi danh vào học luật tại đại học Chicago. Sau khi tốt nghiệp, McSvwginn âm thầm về cộng tác vđi nhóm luật sư Fabeck, là một nhóm chuyên cãi cho bọn lưu manh ăn cướp. Sau sáu năm, học hết được những mánh khóe của bọn ma đầu, ông rút lui đi đầu quân cho toà án Chicago với chức vụ phụ tá biện lý. Nhờ những mánh khóe học được của bọn bất lương trong sáu năm, bất kỳ vụ án nào mà phụ tá McSwiginn đứng ra truy tố, bọn ăn cướp luôn luôn bị kêu án rít nặng. Bao nhiêu nghề của bọn nó McSwiginn đã biết hết, chạy đi đâu? Tội sơ sơ như giựt bóp giựt đồng hồ mà gặp phải ông này thì nhẹ nhất là sáu tháng, khỏi có cái vụ án treo hay cảnh cáo làm gì cho mất công.

Còn giết người hay hiếp dâm thì khỏi nói, lên ghế điện là cái chắc. Chỉ trong vòng vài năm McSwiginn nổi tiếng trong giới pháp đình Chicago là “McSwiginn treo cổ” (Hanging McSvwginn).

Ngày bầu cử đến, thây thời cơ đã tới, ông ta ra tranh cử biện lý thành phố. AI Capone là một thằng tinh đời. Nó biết nếu cha nội McSvwginn mà làm biện lý thì có ngày không những đàn em thôi mà ngay chính nó sẽ bị lôi ra tòa nên chuẩn bị đề phòng. Theo tin tức riêng của sở thì vừa biết đươc, AI Capone đã cho người nửa hăm dọa nửa điều đình với McSvwginn. Nếu ông ta đổi ý chỉ cần không ra tranh cử thôi, sẽ được đền ơn liền lập tức 200 ngàn đô la, và còn sẽ được ăn lương tháng dài dài từ đó về sau…

Ông trưởng phòng ngưng một giây, gõ cái ống vố vào gạt tàn thuốc vài lần:

– Nhưng McSvwginn là một tay ngoại hạng. Là một phụ tá biện lý lại có máu cớm ba đời trong người thì đâu biết sợ là gì. Chẳng những không nhận tiền, tay luật sư trẻ tuổi này còn tuyên bố với báo chí là trong nhiệm kỳ của ông, ông sẽ làm sạch thành phố Chicago, hứa hẹn sẽ lôi thằng AI Capone ra tòa. Kể ra, nếu ngay sau khi McSvwginn đắc cử, tôi cử anh xuống dưới đó để hợp tác với ông ta thì có lẽ tình hình chưa đến nỗi nào. Mình phải công nhận chính quyền liên bang hơi chậm trễ trong công việc này.

Chừng vài tháng sau khi đắc cử biện lý, một hôm đang đi dạo ngoài đường thì có một em điếm trẻ tuổi chạy ào từ trong cái building ra nắm lấy áo ông ta khóc lóc ầm ĩ. Hỏi cho ra lẽ thì được biết em ở nhà quê, bị bọn đàn em của AI Capone hứa hẹn lừa cô bé lên Chicago làm việc. Công việc đâu chẳng thấy, bị chúng nhốt em vô cái nhà thổ, hảm hiếp rồi bắt em tiếp khách. Mới đầu em chống cự nhưng bị đánh đập quá chịu không nỗi đành phải vâng lời. Em khai đã bị nhót trong đó gần một năm. Thế là người hùng McSvwginn có chứng cớ để đập thằng AI Capone. Trong vòng 3 tuần lễ, gần 60 cái động điếm ở Chicago bị hành quân cảnh sát cày nát. Giới giang hồ Chicago rúng động, không làm ăn gì được với “McSvwginn treo cổ” này. Ngay cả cảnh sát dù ăn lương ngập mặt của AI Capone cũng chịu thua. Vụ hành quân nào cũng đích thân ông biện lý chỉ huy, hò hét chỉ chỏ cứ như là một ông tướng con thì cảnh sát nào mà dám không bắt, cho dù đã được ăn lương ngập mặt của bọn này? Báo chí đăng là những cuộc hành quân này đã giải thoát được gần 200 em con nhà lành khỏi địa ngục.

– Bao nhiêu đó chưa đủ bằng cớ cho McSwiginn tròng vào cổ thằng AI Capone một cái cùm nặng vài trăm cân sao?

Ông trưởng phòng đứng lên, gậm gậm cái ống tẩu không có lửa, đi đi lại trong phòng:

– Tại sao trên đường đời lại có nhiều chữ nếu. Tôi ghét nhất cái chữ này. Nếu McSwiginn sống lâu thêm chừng một năm nữa thì có thể, nhưng lúc ấy, ông ta chỉ lôi được một ít thằng đàn em của nó ra tòa. Anh còn lạ gì cái màn khủng bố hăm dọa của tụi Mafia. Có đứa nào dám đứng ra để làm chứng đâu ? Không có nhân chứng thì tòa án đâu có buộc tội được ai. Vừa được giải thoát là em nào cũng chỉ muốn xin một cái vé tàu hỏa để dọt về nhà, xa khỏi cái địa ngục mình đã sống bấy lâu càng sớm càng tốt, còn chuyện gì đã xảy ra thì các em chỉ thỏ thẻ: “Em không biết”. Thế mới chán đời. Một số ít còn lại khi nghe hỏi tới là lắc đầu nguầy nguậy, xuất khẩu đúng luật Amerto: “Em không nghe, không thấy, không biết”.

Tiếng chân của ông Tổng Thanh Tra vẫn nện cộp cộp xuống nền nhà:

– Kể ra thì không thành công được bao nhiêu nhưng McSvwginn đã đập được AI Capone một búa đẹp ra gì. Hàng bao nhiêu vốn “thịt” đã đầu tư dành dụm từ nhiều năm bỗng bị ngọn gió McSwiginn thổi một cái, cuốn đi gần sạch, cả vốn lẫn lời, AI Capone coi như bị lỗ gần triệu đô la. Được cái tinh thần phân khởi của McSwiginn, mấy ông cha nhà thờ cũng hô hào con chiên xuống đường tuần hành, đả đảo tội ác tại nhiều nơi trong thành phố. Có một lúc, người ta tưởng rằng AI Capone phải bỏ xứ mà đi. Báo chí toàn quốc lại một lần nữa quay đầu về Chicago để viết phóng sự điều tra.

Nhưng thằng AI Capone đâu có ngồi im để nhìn những con thỏ dại khờ kia biểu diễn uy quyền trước hang cọp của mình. Nó nhịn vài tuần để lập kế hoạch rồi phản công đích đáng. Mấy cái vụ biểu tình lỉnh kỉnh của cố đạo thì giải quyết quá dễ. Một ngày nọ, các cha đang ngồi giải tội thì chúng nó cho người ló đầu vào, vừa khóc vừa xưng tội như sau:

– Xin cha tha tội cho con vì con sắp sửa giết người.

Ông cố đạo giựt mình. Xưa nay thiên hạ chỉ kể tội mình đã phạm, có ai xưng tội mình sắp làm ? Chưa kịp nói gì thì thằng nọ phạng luôn một câu:

– Nếu mấy cái vụ biểu tình lẩm cẩm không chấm dứt ngày mai thì tối con sẽ trở lại vào đúng giờ này để đặt dưới cái tòa giải tội này một trái bom nặng cỡ 200 cân. Cha biết không, 200 cân bom mà nổ oành ra đây một phát thì con bảo đảm là cái tòa giải tội này sẽ bay bỗng lên tới…trời. Cha sẽ về với Chúa sớm vài chục năm. Xin cha chúc lành cho kẻ có tội này…

Thằng cô hồn nói xong bèn làm dấu thánh giá, đứng dậy, từ từ đi ra như một con chiên ngoan đạo. Trong thánh đường có cái chỗ nào im vắng hơn là tòa giải tội nên cha phải nghe rõ là cái chắc. Ngày hôm sau tất cả các vụ biểu tình tự động giải tán không lời giải thích.

Eliot Ness lắc đầu:

– Ngay cả cha cố chúng nó cũng không chừa. Tụi Ý đa số là dân công giáo mà, thằng này bộ không biết kiêng nể chút gì sao?

Ông trưởng phòng nhíu mày:

– Đã là quỷ thì nó còn sợ ai, cha cố đối với chúng đâu có nghĩa lý gì. Rồi đến con bé nọ, cái con mà chạy ra ôm McSwiginn ngày nào đó, dù đã được bảo vệ kỹ lưỡng, một buổi sáng người ta lên phòng thì thấy cô bé đã bị đập chết queo từ lúc nào. Hồ sơ chỉ ghi là trước khi chết đã bị hành hạ dã man nhưng không nói hành hạ kiểu nào và ra sao nhưng ngon lành như biện lý McSvwginn mà còn muốn ngất xỉu khi nhìn thây cái xác chết bầm dập của cô gái.

Eliot Ness rùng mình, châm điếu thuốc lá:

– Vậy coi như kế hoạch phải bắt đầu lại từ con số không?

Ông trưởng phòng lắc đầu buồn bã:

– Nếu được từ con số không là may. Chẳng bao giờ còn có con số không nào cho McSwiginn nữa. AI Capone lại cho người đến điều đình. Nó đòi mua cái ghế biện lý với giá 500 ngàn đô. Lần này, không hiểu vì lạnh cẳng hay vì một lý do bí ẩn nào đó, McSwiginn chịu đi gặp tụi khốn để bàn thêm về chi tiết. Chỉ có trời hiểu là ông ta bắt đầu mê mùi kim tiền thật hay chỉ giả vờ để âm mưu tính quét một lưới trọn ổ, nhưng dù gì đi nữa thì đó là một lỗi lầm không thể tha thứ được. Chính lỗi lầm này đã đưa ông ta đến huyệt sâu. Chuyện xé lẻ này, ngay cả nhân viên của ta cũng không ai biết. Một buổi chiều vắng vẻ, sau bữa cơm hẹn hò, chúng nó cho hai thằng mặc áo măng tô đứng chờ ông biện lý ở ngoài một tiệm ăn. Không ai thấy và hay biết gì cả. Chỉ nghe một loạt súng liên thanh vang lên như vầy “tạch..tạch…tạch..”. Vậy là xong. Khi cảnh sát kéo tới thì biện lý McSwiginn và tên cận vệ chỉ còn là hai cái xác chết lạnh cóng nơi vĩa hè. Cái đau đớn nhất là sau vụ ám sát, chính thằng AI Capone gởi nguyên xấp hình của ông biện lý nhà mình đi ăn nhậu với bọn chúng cho các báo chí Chicago. Anh còn lạ gì nữa, tất cả báo ngày hôm sau đều chạy hình ông biện lý khả kính đang chén thù chén tạc, vừa uống rượu vừa sờ vú sờ đít các em điếm và say sưa với đám quân ăn cướp mà ông hàng ngày xỉ vả trong các tòa án. Anh cứ tưởng tượng nếu mình là một công nhân lương thiện, anh sẽ nghĩ gì về những tấm hình đó?

Ông trưởng phòng đứng lại, rút cái ống vố ra khỏi mồm:

– Thằng khốn nạn AI Capone đã thắng một trận lớn. Chưa hết, nó còn tung tiền ra cho báo chí bịa đặt và viết những bài tường thuật tưởng tượng về cuộc sống bê bối của McSwiginn khi còn tại chức. Hình ảnh rờ rờ ra đó, chối cãi vào đâu được. Hơn nữa, nó “nắm” hết báo chí Chicago. Đó là cái kẹt. Cũng bởi vì vậy mà chánh quyền hầu như bị bó tay. Giả thử như McSwiginn là người lương thiện thì khác, đằng này ông ta dù sao cũng có đi giao thiệp và ăn nhậu với bọn Mafia. Chính quyền Chicago và chính phủ liên bang không dám làm mạnh, sợ bị hố. Rốt cuộc chỉ có gia đình McSwiginn là những người chịu hết mọi đau khổ và tai tiếng.

Ông trầm ngâm một chút rồi tiếp tục:

– Anh phải biết những câu chuyện đó để đề phòng và tìm cách đôi phó với nó. Anh thấy đó, nó không phải là một tiếp anh chị thông thường chỉ biết xử dụng súng ống và tiền bạc thôi giống những thằng Mafia khác. Như một nhà chính trị đại tài, nó còn biết lợi dụng báo chí, biết chơi trò “chiến tranh tâm lý”, biết mua lòng dân, biết hướng dẫn dư luận đi theo con đường nó muốn….

Ông bật một diêm quẹt. Eliot Ness mừng thầm vì cuối cùng, cái ống vố sẽ được ông chiếu cố đến. Nhưng không, ông cứ đứng yên suy nghĩ, bàn tay giữ cho cây diêm cháy đến gần đuôi rồi phẩy một cái. Que diêm tắt ngúm. Ông thay que diêm xuống sàn:

– Anh xuống đó kỳ này sẽ thấy hết được những cái kỳ lạ của Chicago. Theo lời thiên hạ đồn đãi, AI Capone mới chính là thị trưởng của Chicago.

– Thị trưởng… muôn đời?

Cái ống vố lại được ông nhét vào miệng:

– Đúng. Thị trưởng cho tới…chết, khỏi lo tranh cử hay tái ứng cử gì cả. Theo tài liệu của nhân viên ta ở Chicago gởi về, Chicago đã trở thành một thiên đàng của giới ăn chơi mà báo chí gọi là “Thiên đàng hạ giới”. Ai muốn hưởng bất cứ cái gì trên cõi đời này thì cứ việc xuống Chicago là có đủ. Từ đĩ điếm cho đến rượu chè, cờ bạc, thoát y vũ v.v… không thiếu một cái gì. Tất cả những tổ chức ngoài vòng pháp luật này đều nằm trong sự quản trị hay đều phải đóng thuế cho AI Capone. Mà thế giới làm ăn của nó có chấm dứt ở đây đâu. Nó còn là đầu não của một đường giây buôn lậu rượu quý từ Canada và Âu Châu qua để phân phôi khắp nơi trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Theo sự ước lượng chính xác nhất của ông biện lý liên bang gởi về thì mỗi tháng thằng khốn này chi ra cở 2 triệu đô la để mua chuộc tất cả từ anh cảnh sát cho đến mấy ông quan toà, cả luôn ông thị trưởng. Chi nhiều như vậy thì nó thu vô ít nhất cũng gấp năm lần.

Eliot Ness không nén được tiếng kêu ngạc nhiên:

– Nếu vậy thì Chicago chẳng còn ai tin được nữa sao?

– Đó là lý do tại sao tôi gỡi chú em xuống dưới đó. Người duy nhất có thể tin được lúc này là ông biện lý liên bang Morgan. Ông này đã lớn tuổi và có một hồ sơ đẹp nhất nước Mỹ. Ông ta là một thứ “bất khả xâm phạm”. Tôi bảo đảm không ai có thể mua hay làm áp lực được ông ta. Đúng là týp người mà chúng ta có thể tin được trong lúc này. Anh xuống dưới đó hợp tác với ông này. Cũng theo báo cáo, Cảnh Sát địa phương than phiền là nhân viên của họ có hạn mà những cơ sở làm ăn của AI Capone thì nhiều vô kể. Mà họ đâu phải chỉ có lo một mình thằng AI Capone thôi đâu ? Còn hàng trăm việc khác phải lo như lưu thông, tù tội, hành chánh v.v… Nhưng cái đó chưa phải là cái kẹt. Nếu thiếu người thì có thể mướn thêm người, thiếu dụng cụ thì mua thêm dụng cụ…

Eliot Ness gõ gõ ngón tay trên mặt bàn:

– Vậy thì kẹt chỗ nào?

Cái ống vố ngậm từ hồi nào giờ mới được ông trưởng phòng dí cho một dúm lửa. Eliot Ness thở phào nhẹ nhỏm. Ông thở khói bay mù mịt:

– Kẹt ở chỗ bây giờ có tiền cũng chẳng kiếm ra được người nào làm việc cho ra hồn. Mấy năm trước còn có vài vụ hành quân cảnh sát, đóng cửa được vài cái lò nấu rượu. Tuần sau, mây thằng chủ mưu vụ hành quân này có đứa tự dưng biến đâu mất tiêu, đứa khác bị thuyên chuyển. Vài lần như vậy thì thằng chó nào còn tinh thần mà làm việc nữa?

Eliot Ness lạnh mình:

– Mình đang ỡ nước Hoa Kỳ vào thế kỷ thứ 20 hay là vào thế kỷ thứ 18 lúc còn đang lập quốc nhỉ ? Sao lại có chuyện nghe như hoang đường…

– Đó mới là tin tức của ông biện lý. Nhân viên thường trực của mình dưới đó bị phê điểm bết lắm. Có nguồn tin cho biết là họ cũng đã bị tụi AI Capone mua đứt rồi.

Eliot Ness nhổm người tới trước:

– Mua đứt cảnh sát liên bang? Impossible.

– Possible. Bởi vậy vụ này, “Không có Eliot Ness thì không xong.” Anh xuống đó kỳ này đúng ra có hai công tác: Thứ nhất là tìm cách bứng thằng AI Capone, thứ hai là điều tra và tổ chức lại cơ sở của mình dưới đó.

Không biết là xếp khen mình thật hay muôn đưa mình lên, nhưng Eliot Ness vẫn cảm thây hơi khoái chí trong bụng. Mà nghĩ cho cùng, có muốn từ chối cũng chẳng được. Đời công chức mà, chỉ đâu đánh đó. Được cái chàng là típ người thích những hoạt động giật gân, nguy hiểm, thích nhận lãnh trách nhiệm và công tác quan trọng. Hơn nữa, là một nhân viên ưu hạng của sỏ cảnh sát ngân khố đã lâu năm, Eliot Ness từng tham gia nhiều cuộc bắt cướp sôi nổi. Nhiều trận đụng độ với ăn cướp nhớ lại còn thấy rợn người. Mấy thằng anh chị từ Ý di cư qua sao mà lì lợm quá cở. Chính tay chàng đã hạ tại trận ít nhứt là trên chục đứa. Còn đưa ra toà để kêu án trên mười năm cấm cố thì nhiều quá, nhớ sao cho hết. Nhưng lần này, mục tiêu của Eliot Ness lại khác: Thằng triệu phú AI Capone, tay anh chị sừng sỏ nhất không phải của Chicago, của Hoa Kỳ mà có thể nói là của cả thế giới. Theo lời tường thuật của một phóng viên tờ New York Times thì nếu bạn qua Paris, hỏi một người tài xế taxi Tổng Thống Mỹ tên gì chưa chắc ai đã biết nhưng nếu hỏi AI Capone mấy tuổi và khoái hút xì gà loại gì thì hắn ta trả lời vanh vách cho bạn ngay. Làm ăn bạc triệu như nó thì thiếu gì phương tiện, thiếu gì nhân viên? Nếu nó đã mua được hết cả Chicago, ban ngày dám quất sụm khơi khơi một ông biện lý tòa án thì một cái mạng sống bé tí teo của ông cớm liên bang có đáng giá là bao… Eliot Ness không muốn nghĩ thêm. Chàng châm lửa điếu thuốc:

– Thưa…, đi thì phải chấp nhận là đi rồi, nhưng kế hoạch của mình lần này như thế nào?

– Good question. Chú mày xuống đó kỳ này quả thật cứ như là vào hang cọp. Ông biện lý Morgan sẽ cung cấp cho mình một thằng mật báo viên. Thằng này là một đàn em hạng bét của AI Capone chuyên phụ trách việc vác rượu từ xe vào nhà kho. Bảo đảm không ai biết nó hết. Chiến thuật sẽ như thế này: Muốn đánh gục một thằng thế lực và giàu có như nó thì phải đánh vào cái túi tiền của nó trước. Chú em còn lạ gì cái đất Chicago, dù là AI Capone hay bất kỳ ai, hể hết tiền là bắt đầu đi xuống. Tiền hết thì tự nhiên thế lực cũng hết. Với sự cộng tác đắc lực của cảnh sát địa phương, chú mày sẽ tân công vào những nơi nấu rượu lậu, những kho hàng chứa rượu, những nhà thổ, những sòng bài của AI Capone. Cái quan trọng là làm sao đánh sập được đường giây buôn rượu lậu toàn quốc của nó đồng thời làm cho khả năng tài chánh càng ngày càng yếu đi. Một chuyến hàng mua rượu quý của nó có thể lên đến cả triệu đô la. Chỉ cần chừng năm bảy vụ đột kích thành công thì thằng AI Capone có của núi cũng bị suy suyển. Nó suy suyển rồi, ta sẽ bước qua giai đoạn hai là giai đoạn lôi nó lên ghế điện.

Thì vào hang cọp đã là cái chắc rồi chứ còn “cứ như” cái gì nữa. Than ôi, nghe sao mà chán đời. Đã chẳng biết binh pháp, ông trưởng phòng đặc vụ này lại còn muốn nhiều quá. Gởi một thằng cớm lạ hoắc với trần xì một cây Colt 45 xuống sào huyệt của bọn đầu trâu mặt ngựa có cả hàng ngàn tay súng đang chờ sẵn mà ông làm như gởi một sư đoàn bộ binh ra trận. Hết muốn cái này rồi muốn tới cái kia. Rồi chuyện “…với sự cộng tác đặc lực của cảnh sát địa phương” nghe còn thấy nản hơn. Tụi nó mà đã đắc lực thì đâu đến nỗi phải gởi thằng Eliot Ness này xuống đó làm gì?

Thấy Eliot Ness ngồi sụ mặt một đống, ông trưởng phòng pập pập ống vố, ra vẻ thương hại:

– Chú em đừng lo, vài tuần lễ nữa tôi sẽ tăng cường cho chú em thêm…một phụ tá. Hơn nữa, mình là cảnh sát liên bang, dù gì tụi nó cũng còn nể.

Tụi nó có thể nể cớm liên bang nhưng mấy viên đạn đồng trong cây Tommy gun của chúng có nể hay không là chuyện khác. Nếu nể sao chúng nó dám ban ngày ban nhật bắn gục biện lý McSvwginn ngay giữa thành phố. cảnh sát Chicago đếm được 12 viên chì trong thân thể ông phó biện lý kia mà. Trong cuộc đời cảnh sát của Eliot Ness, chàng chưa bao giờ gặp được loại anh chị nào dám chơi bạo như tụi AI Capone này. Ngay đến tổng thống Hoa Kỳ Hoover cũng phải bực mình thì chuyện đã trở thành nghiêm trọng lắm rồi. Chàng cũng có đọc được trong báo việc ông thượng Nghị Sĩ Brown đã mấy lần đề nghị với Tổng Thống Mỹ đem TQLC ở Nicaragua về dẹp găng tơ nhưng vì thể diện, tổng thống không đồng ý. Thật là cổ kim chưa bao giờ có chuyện hi hữu như vầy. Chàng lại nghĩ xa hơn. Tại sao một chuyện dội đá vá trời như vậy, một chuyện mà có người đã đề nghị đem nguyên một sư đoàn TQLC Mỹ để thi hành thì Nha Ngân Khố lại gửi một mình chàng xuống đó. Chàng có phần hơi hãnh diện với đề nghị này nhưng không khỏi âu lo. Vì công vụ, chàng sẩn sàng hy sinh mạng sống, nhưng chỉ sợ sự dấn thân của mình không đem lại ý nghĩa nào.

Eliot Ness ngồi suy nghĩ một lúc. Chàng biết mình có thể mượn lý do gia cảnh để từ chối không đi. Nhưng làm vậy thì chàng đâu còn phải là Eliot Ness nữa. Hơn nữa, người ta đã tin cậy mình, không thể phụ niềm tin đó. Eliot Ness không biết nói gì hơn, cũng chẳng thèm xin xỏ. Vô ích. Xin thêm người ư? Ông trưởng phòng sẽ giảng cho nghe một bài học về ngân sách, về chi thu tràng giang đại hải không chừng đến tối cũng chưa xong. Đề nghị này nọ chăng? Lại phải chuẩn bị hai lổ tai để hứng thêm một bài học khác về quản trị điều hành… Thôi thì…lệnh là lệnh, đàng nào cũng phải xuống đó cái đã, có gì rồi sẽ hạ hồi phân giải. Hơn nữa, chàng cần phải mau mau rút khỏi cái văn phòng hắc ám này. Mới ngồi có một chút mà đã thấy chóng mặt. Chả trách gì ông trưởng phòng nào của tổng nha ngân khố Hoa Kỳ cũng có tính gàn gàn.

Chàng đứng giây bắt tay ông trưởng phòng. Ông già tặng chàng một điếu xì gà và chúc chàng may mắn.

Khi Eliot Ness bước ra khỏi tổng nha ngân khố, chàng mới sực nhớ trương mục trong nhà băng chỉ còn vài trăm bạc. Phải mất một năm chàng mới dành dụm được số tiền này, tính mua cho Catherine, người vợ yêu quí chiếc áo lông vào dịp lễ giáng sinh năm nay. Cái điệu này thì chắc nàng phải chờ đến sang năm. Số tiền dành dụm trên chỉ vừa đủ để trang trải mấy mục di chuyển và mướn nhà ở Chicago. Catherine giờ này chưa biết chuyến công tác Chicago sắp tới của chàng. Chàng rảo bước vừa thầm nghĩ đến gương mặt sửng sốt của vợ khi nhận được tin này. Chắc nàng sẽ buồn lắm. Nhưng đâu có sao, nàng có lẽ đã quen với những chuyến đi bất ngờ như thế này rồi. Nhìn lên bầu trời cao, Eliot Ness cảm thấy lòng rạo rực trước một cuộc phiêu lưu mới. Eliot Ness lẩm bẩm hai chữ: AI Capone…

Lý Tống-Một thuở Kinh Kha

Sơn râu 2019

“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp

Dù sai hay trúng củng là dư”

Hai câu trên được trích trong Bài thơ sông Dịch của Vũ Hoàng Chương nói về tráng sĩ Kinh Kha khi sang Tần với con dao Chuỷ thủ trong tay để hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng. Kinh Kha là ai và tại sao phải giết Tần Thuỷ Hoàng? xin đọc lại một chút điển tích xưa:

“Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về”, đây là một câu thơ bắt nguồn từ điển cố Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng. Đằng sau câu thơ này lại ẩn chứa một câu chuyện vô cùng bi tráng vào 2.000 năm trước.

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong. (Nguồn: iFuun)

Kinh Kha là người nước Vệ, tổ tiên là người nước Tề, khi di cư sang Vệ, người Vệ gọi là Khánh Kha. Sau đó sang nước Yên, người nước Yên gọi là Kinh Kha.

Kinh Kha thích đọc sách, đánh kiếm, bàn chuyện kiếm thuật. Không được Vệ vương trọng dụng, Kinh Kha buồn chán mới tìm đến Hàm Đan chơi. Ở đây, ông kết bạn với một người bán thịt chó và một người tinh thông đàn trúc tên Cao Tiệm Ly.

Ngày ngày, cùng nhau chơi đàn, hoạ thơ, hát vui, cười khóc với nhau ở giữa chợ, xem như bên cạnh không có người. Tính tình cảm khái, thích đi đó đây, đến nước chư hầu nào Kinh Kha cũng tìm kết bạn với những bậc hiền nhân, trưởng giả ở đó. Khi sang tới nước Yên, nhân sĩ nước Yên là Điền Quang tiên sinh cũng mến mộ đãi ngộ chu đáo.

Lúc bấy giờ, thái tử nước Yên là Đan đang làm con tin ở Tần quốc trốn về. Thái tử Đan đã có lần làm con tin ở Triệu, mà vua Tần Doanh Chính lại sinh ra tại đó nên ngày nhỏ vẫn thường làm bạn với nhau. Đến khi Tần Doanh Chính được làm vua, thái tử Đan lại trở thành con tin ở Tần, lúc này vua Tần đối đãi với bạn không tử tế nên thái tử Đan giận trốn về, tìm cách báo thù.

Cùng lúc, tướng Tần là Phàn Ô Kỳ có tội với vua, chạy trốn sang Yên. Cúc Võ vốn là thầy học của thái tử Đan mới can, e sợ việc dung nạp Ô Kỳ sẽ là hành động khiêu chiến với vua Tần nhưng thái tử Đan cương quyết gạt đi.

Thấy không lay chuyển được thái tử Đan, Cúc Võ mới bàn việc mời Điền Quang đến để bàn đại sự. Thế nhưng Điền Quang lại một mực chối từ, lấy lý do tuổi cao sức yếu, mới giới thiệu Kinh Kha cho thái tử Đan. Sau khi khích lệ Kinh Kha, Điền Quang liền tự sát để tỏ rõ nghĩa khí của mình.

Thái tử Đan đón tiếp Kinh Kha rất nhiệt thành, nhờ Kinh Kha vì bá tánh trăm họ giúp trừ khử Tần Thủy Hoàng. Kinh Kha từ chối: “Tôi hèn kém, e không làm nổi việc ấy”.

Thái tử Đan dập đầu cố xin rằng: “Vì trọng tấm lòng có nghĩa của ngài, Đan này xin uỷ sinh mệnh vào ngài đó, xin chớ chối từ”.

Kinh Kha ban đầu còn từ chối, nhưng nghe thái tử Đan bàn đến chuyện an nguy của bá tánh mấy nước chư hầu mới quyết định nhận lời.

Kinh Kha nói: “Theo lời Thái tử, thần nguyện đi yết kiến vua Tần. Chuyến đi lần này nếu không có vật làm tin, thì e rằng không thể đến gần vua Tần được. Nay vua Tần muốn mua thủ cấp của Phàn tướng quân với giá nghìn vàng, vạn hộ dân. Nếu có được thủ cấp của Phàn tướng quân và bản đồ Đốc Cương dâng lên vua Tần, vua Tần ắt sẽ phải gặp thần, vậy thần mới có thể giúp Thái tử được”.

Thái tử Đan nói rằng việc trao bản đồ Đốc Cương thì hoàn toàn không tiếc, nhưng chuyện lấy thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ e là không được.

Nghe thái tử Đan nói vậy, Kinh Kha bảo thái tử cứ chuẩn bị tấm bản đồ trước, còn mình sẽ lo việc thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ. Nói rồi, Kinh Kha bèn đi một mạch tới bái kiến Phàn Ô Kỳ. Ông nói:

“Nước Tần đối đãi với tướng quân có thể gọi là thâm độc. Cha mẹ họ hàng đều bị giết, nay nghe nói họ mua cái đầu của tướng quân nghìn vàng, ấp vạn nhà. Nay tôi có một lời, có thể cứu nguy cho nước Yên, báo thù cho tướng quân. Chỉ có điều, muốn thực hiện được nhất thiết phải xin cái đầu của tướng quân để hiến vua Tần. Vua Tần thế nào cũng mừng rỡ tiếp kiến tôi. Nhân cơ hội đó tôi sẽ nhanh chóng hành thích ông ta”.

Tần Thủy Hoàng (Ảnh: Novesoft.com)

Phàn Ô Kỳ nghe vậy, mới ngửa cổ lên trời, vái lạy tổ tiên rồi tự sát. Thái tử Đan nghe vậy, đau xót ruổi ngựa đến, khóc rất thảm thương nhưng không làm khác được nên bỏ đầu Ô Kỳ vào hòm và niêm phong lại. Sau đó lại cho người đi tìm trong thiên hạ được cái chủy thủ sắc của Từ phu nhân nước Triệu, mua mất trăm lạng vàng, sai thợ tẩm thuốc độc, hễ đâm vào người, máu chảy ra như sợi tơ cũng đã đủ lấy mạng người đó.

Rốt cuộc vụ ám sát không thành, để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại.

  Nước Yên có một võ sĩ tên Tần Vũ Dương, năm 12 tuổi đã từng sát nhân, không ai dám xem thường anh ta. Thái tử Đan liền phong Tần Vũ Dương làm phó tướng. Đến sông Dịch Thủy, mọi người bày tiệc tiễn khách. Cao Tiệm Ly gảy đàn trúc, Kinh Kha hát theo, tiếng hát chưa dứt, quân sĩ đều chảy nước mắt. Lại hát tiếp rằng: “Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về!” Sau đó ông lên xe đi, không hề nhìn ngoái lại.

Trong Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng có ghi chép rằng, Kinh Kha mang theo đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm bản đồ nước Yên, cùng với dũng sĩ Tần Vũ Dương đến gặp vua Tần.

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong, Kinh Kha bưng đầu của Phàn Ô Kỳ được đựng trong chiếc hộp. Tần Vũ Dương là dũng sĩ, nhưng trong hoàn cảnh này cũng không khỏi khiếp sợ đến biến sắc mặt.

Rốt cuộc vụ ám sát không thành, Kinh Kha và Tần Vũ Dương đều bị giết chết. Để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại, câu thành ngữ “Đồ cùng chủy hiện” (Ý đồ cuối cùng đã lộ ra) cũng ra đời từ câu chuyện này.

Kinh Kha chết, vua Tần bèn cả giận ra lệnh cho Vương Tiễn đem quân đánh Yên. 5 năm sau (năm 222 trước Công nguyên) nước Tần diệt gọn nước Yên.

Tinh Hoa tổng hợp

Trên đây là câu chuyện theo truyền thuyết nói về Kinh Kha tay tráng sĩ thời xưa sang Tần để hành thích Tần bạo chúa, việc lớn không thành để phải vong mạng nơi viễn xứ với nhiều tình tiết hùng tráng, đau thương và gây cấn. Câu chuyện vửa kể trên có liên quan gì đến Lý Tống? thử nhìn lại xem các việc Lý Tống đã làm qua Bách Khoa Toàn Thư mở trên Net:

Trước 1975

Lý Tống sinh ngày 1 tháng 9 năm 1946 tại Thừa Thiên – Huế, Việt Nam và bắt đầu phục vụ trong Không lực Việt Nam Cộng hòa năm 1965.

Tháng 4 năm 1975, chiếc A-37 thuộc biên đội Ó Đen do ông lái bị bắn rơi; ông bị giam giữ cải tạo trong vòng 5 năm. Ông vượt ngục bằng đường bộ đến Thái Lan, đi qua Campuchia, rồi xin tị nạn chính trị tại Singapore. Ông đến Hoa Kỳ năm 1984. Sau đó theo học cao học tại Đại học New Orleans.

Những hoạt động sau năm 1975

  • Năm 1992, Lý Tống uy hiếp phi công chiếc A310 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bay qua Thành phố Hồ Chí Minh rồi thả truyền đơn xuống kêu gọi nhân dân Việt Nam nổi dậy chống lại chính quyền. Lý Tống nhảy dù xuống một ao rau muống. Thấy một anh dân phòng mặc đồ dân sự đi ngang, Lý Tống nói mình là Việt kiều mới về nước, muốn thăm nhà bạn nhưng không nhớ đường và đưa địa chỉ nhờ chở đến. Anh dân phòng đồng ý rồi chở Tống lại công an; Lý Tống bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt và kết án 20 năm tù vì tội cướp máy bay. Tháng 9 năm 1998, chính quyền Việt Nam quyết định tha và trục xuất Lý Tống trong một đợt đặc xá.
  • Năm 1998, Lý Tống đã dùng máy bay, xâm nhập trái phép lãnh thổ Cuba để rải truyền đơn.
  • Ngày 1 tháng 1 năm 2000, Lý Tống dùng một chiếc máy bay nhỏ bay từ Florida sang La Habana, Cuba thả truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy. Khi bay trở về, ông bị thẩm vấn bởi Cục Di cư và Hải quan Hoa Kỳ nhưng được trắng án và tha bổng. Lý Tống bị Cục hàng không Liên bang rút giấy phép bay. Sau chuyến này, ông được những người Cuba chống Cộng coi như một “anh hùng”
  • Ngày 7 tháng 11 năm 2000, Lý Tống lại cướp một chiếc máy bay nhỏ tại Thái Lan bay sang Sài Gòn, thả hơn 50.000 tờ truyền đơn. Lúc trở về Thái Lan, ông bị bắt giữ và bị tòa án Thái Lan kết án 7 năm tù. Tòa án Thái Lan từ chối dẫn độ Lý Tống về Việt Nam với lý do ông không gây hại cho an ninh Thái Lan.

Giam giữ

  • Lý Tống là phạm nhân nhiều năm từ năm 1992 đến 1998 tại Trại giam Nam Hà, V26 Bộ Công an (Trại Ba Sao).
  • Tháng 3 năm 2006, Lý Tống bắt đầu tuyệt thực tại nhà tù ở Rayong.
  • Ngày 4 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan quyết định dẫn độ Lý Tống về Việt Nam. Quyết định này vấp phải sự phản đối của cộng đồng người Việt chống cộng tại Hoa Kỳ và Canada.
  • Ngày 26 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan chấp thuận kháng án từ Lý Tống. Quyết định cuối cùng sẽ được tòa án tối cao Thái Lan quyết định trong vòng 3 tháng.

Ra tù

Sau 7 năm ngồi tù ở Thái Lan, Lý Tống được ra tù. Tòa phúc thẩm tại Bangkok sáng ngày 3 tháng 4 năm 2007 đã tuyên bố hành động của Lý Tống mang tính chất chính trị chứ không phải là đe dọa an ninh, và dựa trên một điều luật của Thái Lan không cho dẫn độ những người đối diện cáo buộc chính trị, tòa phúc thẩm từ chối yêu cầu dẫn độ về Việt Nam của tòa sơ thẩm hồi tháng 9 năm 2006.

Chánh án Wisarut Sirisingh, người xét xử Lý Tống, đã viết trong phán quyết:

“Những gì ông Tống làm không gây ảnh hưởng về an ninh lãnh thổ Việt Nam. Thái Lan không dẫn độ những người đối diện các cáo buộc về chính trị.

Phần tiểu sử của Lý Tống còn nhiều tôi chỉ tóm lược một ít ở phần đầu bạn có muốn coi rõ hơn cứ vào bộ Bách Khoa Toàn Thư mở sẽ rõ. Việc làm đầu tiên của Lý Tống năm 1992 gây tiếng vang trên khắp mọi nơi trên thế giới đặc biệt ở các nơi có cộng đồng người Việt có mặt.

Theo thiển ý của tôi Lý Tống hành động có điểm tương đồng như Kinh Kha thuở xưa, có phần còn trội hơn một bậc. Kinh Kha sang Tần với sứ mạng hành thích Tần bạo chúa, việc làm quả là đội đá vá trời vì các quy luật nghiêm nhặt nơi cung điện vua Tần không dễ mà có thể đến gần Tần Thuỷ Hoàng với vũ khi trong tay để mong được chạm đến chéo áo nói chi đến việc mưu sát. Thứ nhì có phải là tay dũng sĩ biết trước việc nếu không thành mà phải táng mạng cũng không sờn chí lớn phải có gan mưu lược hơn người.

Tuy nhiên biết người biết ta, Kha tráng sĩ biết nếu đơn thân độc mã qua Tần làm việc lớn chắc chắn sẽ không đạt kết quả như mong muốn nên có đưa lời yêu cầu với Thái Tử Đan của nước Yên muốn sang Tần với một trang kiếm khách đồng chí hướng như Kinh Kha, đó là Cáp Nhiếp.

Thế nhưng muốn gặp Cáp Nhiếp phải đợi 10 ngày nửa mà với Thái tử Đan đó là khoản thời gian không cho phép nên thay vào Cáp Nhiếp là tay giang hồ Tần Vũ Dương làm sao bì cho được Cáp Nhiếp liệu có đủ bản lĩnh và thần khí khi đứng trước Tần bạo chúa hay không?

  • Mọi chuyện như định mệnh đã an bài và sắp xếp các trình tự nơi câu chuyện xưa: đãi ngộ Kinh Kha trước khi lên đường Thái Tử Đan bày yến tiệc cho vời các cung nữ vào ca múa, có một ca nhi đẹp tuyệt và điệu múa tuyệt vời làm mê mẫn Kha tráng sĩ, để phải thốt lên một câu khen cho đôi bàn tay ngà đẹp mê hồn trong buổi múa hát cho Kinh Kha thưởng lãm. Chỉ nghe qua câu nói đó mà Thái tử Đan đã cho thủ hạ cắt phăng đôi bàn tay của Ngọc Tỷ bỏ vào hộp mà dâng cho Kinh Kha, để nàng phải thác oan uổng.

“Yên thái tử

Trọng đãi ta vào bậc ân nhân

Biết làm sao gở nỗi việc sang Tần!

Ca vũ đê mê linh đình yến ẩm

Suốt ngày đêm nay còn trao tặng phẩm

Giúp cho mình tửu hứng được cao bay..

Nào thử xem tặng phẩm gì đây

(mở nắp hộp) Trời hỡi, đôi cánh tay nào đó,

Mà băng tuyết ngọc ngà hoen máu đỏ?

Thôi rồi ta đã giết nàng đây;

Một ca nhi vô tội, não nùng thay!

…Yên Thái tữ đãi mình tri kỷ thực.

Muốn vật chi củng lập tức dâng ngay!

Yêu đôi tay thì chặt hẳn đôi tay…

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

  • Lão tướng Điền Quang của nước Yên cảm khái vì chuyện lên đường sang Tần của Kinh Kha mà tự kết liễu đời mình để mong hồn thác sẽ theo Kinh Kha sang Tần làm chuyện lớn.

“Thanh gươm cùn, tay yếu hỏi dùng chi?

Âu là dưới gót kẻ ra đi

Lão đem chút hơi tàn trao gởi..

Tần bạo chúa lòng tham như hổ đói

Cậy hùng binh toan nuốt sống Yên bang

May được tướng quân động chí ngang tang

Một mũi kiếm trỏ Hàm Dương hỏi tội

Hào khí ấy cùng trăng sao chói lọi

Bước bước đi sông tiễn, núi nghiêng đầu

Lão phu đây kỳ vọng bấy nhiêu lâu,

Nguyền một thác đưa chân người kiếm khách

Hồn thiêng sẽ theo người qua bến Dịch

Bên tai người, nhắc nhỡ chí nam nhi

Với đất trời kia phải có danh gì!..”

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

  • Phàn Ô Kỳ là tướng của Tần Thuỷ Hoàng đã bỏ về với Thái Tử Đan của nước Yên, việc này đã làm Tần Thuỷ Hoàng vô cùng tức giận, hãy nghe lời tự thuật của tướng quân họ Phàn với Kinh Kha

“… Tần bạo chúa

Cơn sấm sét vẫn không nguôi thịnh nộ

Kể từ khi mạt tướng bỏ Hàm Dương

Huống nghe tin mạt tướng đã quy hàng

Yên Thái tử. Lòng y như lửa cháy

Lại quạt thêm và tưới dầu thêm vậy!

Nên chuyến này y tận khởi hùng binh

Để chiếm đất đai việc ấy đã đành

Nhưng củng để nổi căm hờn được thoả

Phạt Yên sau, bắt Ô Kỳ trước đã!”

Hỡi kẻ sắp sang Tần!

Phải hiểu rõ lòng ta cho xứng đáng

Chiều nay đây ta dâng ngươi tính mạng

Có phải đâu là ta đã vì ngươi

Vì Kinh Kha lưu tiếng tốt muôn đời

Củng chẳng phải ta căm hờn bạo chúa,

Mượn tay ngươi để thù riêng được thoả

Củng chẳng vì ta muốn báo ơn sâu

Của Yên triều Thái tử bấy nhiêu lâu

Đã biệt đãi một hàng thần phiêu đãng

Không, không phải! ta dâng ngươi tính mạng

Không vì ngươi mà củng chẳng vì mình,

Củng chẳng vì Yên quốc! Ta hy sinh

Chiều nay đây chỉ vì thiên hạ đó

Vì thiên hạ, đầu này ta cắt bỏ.

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

Qua các đoạn thơ trên bạn đã thấy Kinh Kha sang tần có rất nhiều lợi điểm:

_Bản đồ của nước Yên có dấu con dao chuỷ thủ trong đó

_Hộp gỗ đựng đầu của Phàn Ô Kỳ

_Cái chết của lão tướng Điền Quang và đôi tay ngà của ca nhi Ngọc Tỷ chỉ là một trong các yếu tố thúc đẩy việc Kinh Kha sang Tần ở thế không thể quay lui, cho dù không có một kiếm thủ song hành là Cáp Nhiếp (thay vào đó là gã giang hồ Tần Vũ Dương không đáng nói tới)

* Với Lý Tống bạn thấy gì, không có tất cả các thứ trên, không có đầu của Phàn Ô Kỳ, không bản đồ nước Yên, không dao chuỷ thủ, không Cáp Nhiếp, không Tần Vũ Dương, việc làm đầu tiên năm 1992 khi anh về VN trên chuyến bay thương mại anh chỉ có một tấm lòng, đúng vậy anh chỉ có một tấm lòng, anh có thể sống sót trong chuyện uy hiếp phi hành đoàn buộc họ phải mở cửa để anh rãi truyền đơn trên bầu trời thành phố Sài Gòn. Nhưng chưa chắc anh có thể sống còn khi tung người qua cửa máy bay để nhảy dù xuống đất.

_Các năm sau đó nào là việc xâm nhập không phận Cuba để rãi truyền đơn. Tháng 11 năm 2000 cướp chiếc máy bay nhỏ của Thái Lan bay sang Việt Nam để thả 50,000 tờ truyền đơn, trả giá cho việc làm đó là 7 năm tù trên đất Thái… và vân vân. Đó là các quốc gia của Cộng Sản hung bạo như đất Tần, Lý Tống đã bao lần qua sông Dịch vào Tần để diệt Tần bạo chúa?

Các việc của anh làm được kẻ khen người chê quả là không ít, nhưng riêng tôi vô cùng đồng ý với nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết

“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp

Dù sai hay trúng củng là dư”

Những ai đã từng phê bình Lý Tống cho rằng những việc anh làm vì danh lợi hay không tưởng…. xin thưa rằng có mấy ai đã từng làm được như anh hãy xét đoán và phê bình vì rằng cái dũng khí Kinh Kha không có mà bàn luận chi hỡi bạn ta?!

Nay nghe tin anh hấp hối trên giường bịnh, bên bờ tử sinh, tôi chỉ biết mượn những câu cuối trong bài thơ Tâm sự kẻ sang Tần của Vũ Hoàng Chương để gởi cho anh:

“Ngày xưa khói sóng hận chơi vơi

Những kẻ thi gan với chữ Thời

Ngàn sau khói lửa tơi bời

Sông nào Dịch Thuỷ, ai người Kinh Kha.”

Để kết thúc cho bài viết này cá nhân tôi xin chúc cho anh được qua cơn nguy kịch trên giường bịnh dần lấy lại được sức khoẻ hầu làm được nhiều việc sau này cho thoả chí lớn trong công cuộc xoá bỏ chế độ CS theo ý nguyện chung của mọi người Việt trong và ngoài nước

Viết bởi Sơn râu 2019

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Chương 8.

NHỮNG CON CÀ CUỐNG TỪ NHỮNG CÁNH đồng bên cạnh phi trường tới tấp bay về căn cứ sau những trận mưa đêm, chúng lượn vòng vòng dưới ánh đèn dẫn vào căn cứ, cho đến khi say ánh sáng lao xuống đường, bọn lính tráng và con nít cư ngụ trong căn cứ nhảy ra vồ, bỏ vào thùng. Đám người bắt cà cuống đem bán mỗi ngày một đông, mới đầu không có ai nghĩ đến mối lợi đó, người miền Nam ít người nghĩ đến con cà cuống, chỉ có mấy người lính Bắc, đêm đêm chịu khó ra đường bắt cà cuống mà thôi, sáng sớm họ mang từng thùng sắt tây ra Lăng Cha Cả bán cho mấy bà người Bắc, để làm mật cay, để hòa chất mật với nước mà người Bắc thường dùng để làm đồ gia vị.

Những người mua cà cuống ra giá, một con cà cuống một đồng bạc, có người trong một đêm bắt được tới hai ba trăm con, dần dần mối lợi đó nhiều người biết, số người bắt cà cuống mỗi ngày một đông, họ thức suốt đêm để bắt, cho nên một số lính trong căn cứ ban ngày đi làm mắc tật ngủ gật. Bộ Tư Lệnh tìm ra nguyên do, bèn làm một sự vụ văn thư, cấm lính không được bắt cà cuống, bây giờ những kẻ bắt cà cuống hầu hết là đàn bà trẻ con và những người thuộc gia đình quân nhân cư ngụ trong căn cứ.

Trong mấy ngày đầu mùa mưa Minh cũng bắt cà cuống đem bán kiếm tiền tiêu thêm, món nợ xanh xít đít đui của Minh trả hoài không hết, tới tháng lãnh lương Minh lại buồn, hắn không thiết gì đến lãnh lương vì hắn biết rằng mình không cầm được một món tiền nguyên vẹn trong tay lâu, Minh nghĩ bụng mình có mòn đời đi lính cũng trả không hết nợ. Tâm hồn Minh bây giờ mù mịt, hắn không còn vẻ tinh anh như ngày xưa, những hy vọng mỗi ngày thêm cùn cụt. Minh buồn bã, vậy là mình đã ở quân ngũ được ba năm trời, hình như tất cả mọi người trong Phi đoàn quên mất sự có mặt của Minh, suốt ngày hắn ở ngoài kho nhiên liệu, Đại úy chỉ huy Trưởng Phi đoàn đã đổi đi, bây giờ một vị Đại úy khác về thay ông ta, ông ta quên có Minh ngoài kho nhiên liệu, Minh có cảm tưởng mình bị bỏ quên, mỗi ngày Minh chỉ ngần ấy việc: phát xăng nhớt, nằm chán trong kho nhiên liệu lại ra bồn nước ngâm cho đỡ nóng nực. Minh ở hoài trong kho nhiên liệu đến nỗi người hắn xanh lét đi như tàu lá, một người bạn thương hại nói với Minh:

– Mày ở hoài trong này, bịnh chết, chịu khó ra ngoài trời…

Minh chỉ cái bồn nước:

– Chỉ có một cái bồn nước này, không có chỗ nào khác, mày thấy chứ? Không lẽ suốt ngày tao nằm ngâm nước.

Minh đã nhiều lần làm đơn xin đi học khóa chuyên môn nhưng những đơn của Minh đều không được chấp nhận vì lý do cần công vụ. Minh sống hoàn toàn trong tâm trạng một kẻ tuyệt vọng. Minh làm đơn xin giải ngũ, vì hắn đã ở hết thời gian khế ước, đơn cũng không được chấp thuận, với lý do lưu ngũ vì công vụ. Tất cả sự hăng hái, lòng nồng nhiệt khi mới nhập ngũ bây giờ tiêu tan như mây khói. Minh khô- ng còn một lối thoát nào. Đó là những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh do Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phát động, những trận đánh nhau dưới đồng quê. Phi đoàn trực thăng bắt đầu hoạt động, không ngày nào không có những chuyến bay tải thương. Chế độ Ngô đình Diệm càng ngày càng tỏ ra độc tài, thuở mà mỗi lần người ta đi coi hát đều phải chào cờ, và suy tôn Ngô tổng thống, không phải riêng Minh, mà nhiều người khác chán nản chế độ đến cùng cực.

Buổi chiều hôm nay, sau giờ làm việc, Minh đi bộ ra ngoài cổng trại, hắn xuống Phú Nhuận đón Ngọc. Ngọc làm việc tại một tiệm uốn tóc, nàng dễ thương tuy không đẹp lắm, nhưng coi được, Ngọc hiền hậu, tính nết đơn sơ, sau bao nhiêu ngày Minh săn đón, hắn mới được Ngọc để ý đến, nàng ở có một mình trên một căn gác nhỏ ở trong hẻm Phú Nhuận. Minh thường đến chơi với nàng, và có lần hắn đã ngủ lại đêm với nàng, Minh thấy mình có bổn phận có trách nhiệm với nàng.

Minh ngồi chờ Ngọc cả tiếng đồng hồ ở tiệm cà phê, trước cửa tiệm uốn tóc. Nàng ra khỏi cửa, sang thẳng quán cà phê, nàng hồn nhiên kéo ghế ngồi xuống trước mặt Minh:

– Anh chờ em có lâu không?

– Chừng một tiếng đồng hồ. Nàng đưa tay nắm lấy tay Minh:

– Xin lỗi, em hơi bận, hôm nay khách nhiều quá.

– Tiệm em làm có vẻ đắt hàng lắm nhỉ?

– Còn tùy vì những ngày này sắp tới Noël nên người ta đi làm đầu dần.

– Còn hơn một tháng nữa mới tới Noël kia mà.

– Dạ, nhưng người ta lo dần là vừa, cận ngày càng đông khách.

Ngọc thành thật hỏi:

– Anh có tiền trả tiền nước chưa?

– Có chút ít.

– Hôm nay để em trả, em được buộc-boa nhiều mà.

Minh quen thuộc với tính nết nàng, rất thành thật, Minh không hề mặc cảm trước thái độ của nàng.

– Tốt, ngày mai anh đi Mỹ… Tho.

– Anh cần thêm tiền không?

– Chắc không cần lắm.

– Em còn tiền nhiều, cần cứ lấy à, nhưng anh đi Mỹ Tho có việc gì?

– Cũng chẳng có việc gì, ngày mai có chuyến máy bay đi Mỹ Tho nên anh đi chơi vậy thôi, sáng đi chiều về mà.

Ngọc lơ đãng nhìn ra ngoài đường: – Tối nay ngủ nhà em nhé, sáng mai em đánh thức anh dậy sớm.

– Tối nay, không được, anh định ra nói với em đó, đêm nay anh về trại, sáu giờ sáng mai máy bay cất cánh rồi, anh ngủ trong trại cho tiện.

Ngọc ngồi chống tay lên cằm:

– Sao anh, anh quyết định chưa?

– Dĩ nhiên nhưng để thư thả đã.

Minh ngần ngại, Ngọc nói với hắn về ý định từ mấy hôm nay, nàng đề nghị sống chung với Minh, nhưng Minh chưa biết quyết định làm sao, dầu muốn dầu không Minh vẫn bị mặc cảm. Hắn nghĩ lại vụ sống chung với Lan hồi nào, từ đó Minh thề rằng sẽ không sống chung với một cô gái nào nữa, nếu chưa kiếm được tiền khả dĩ kha khá.

Ngọc nắm lấy tay Minh: – Sao anh?

Minh nhìn người yêu lắc đầu.

– Có gì là khó nghĩ đâu?

– Em hiểu là anh nghèo lắm chứ?

– Em biết, nhưng anh mặc cảm với em sao? Em nghĩ là anh hiểu em, em không như những người khác, em yêu anh thương anh.

– Đó mới là điều khó nghĩ cho anh.

– Bao nhiều lần em đã nói với anh, em không còn ai thân thuộc nữa, gặp anh, anh thấy em có tiếc gì đâu.

– Cám ơn em, anh cũng rất cảm động.

– Cứ về sống với em, no đói mình có nhau mà. Anh không tin cả em nữa sao?

Minh nắm bàn tay của nàng:

– Anh tin chứ, nhưng anh biết làm sao được.

– Anh không biết làm sao, anh không quyết định được cả cuộc sống của anh nữa à.

Nàng bỗng nhìn Minh chăm chú:

– Hay là… hay là anh…

– Cái gì?

– Anh có cô nào khác rồi phải không?

– Đâu có, em chỉ nghĩ bậy.

– Thế tại sao anh cứ từ chối thiện chí của em?

Minh cúi đầu lắc nhè nhẹ:

– Có lẽ anh phải cũng nói thật với em.

– Cũng vẫn chuyện anh nghèo mà thôi.

– Em thử nghĩ coi không lẽ anh sống bám vào em. Em cũng biết là anh tương lai không sáng sủa gì mấy, nếu không nói là đen tối.

– Anh nói hoài chuyện đó.

– Bắt buộc anh phải nói, anh có tự ái, nhờ vả…

Ngọc giận dỗi:

– Vậy là anh đâu có yêu em.

– Không yêu em anh săn đón mãi làm gì?

Minh ngước lên mỉm cười:

– Anh ao ước được sống chung với em, vì nghĩ như vậy cho nên anh mới thực tế.

Ngọc vùng vằng:

– Không, em muốn anh trả lời dứt khoát, anh có bằng lòng sống chung với em không?

– Mình đi chơi rồi nói chuyện. Ngọc lắc đầu:

– Em không đi đâu hết, ngồi đây anh trả lời rồi thì đi, nếu anh thấy rằng không thể sống chung với em thì đâu đi được, anh cứ tự do đứng dậy đi, em thề rằng không làm phiền anh, anh cứ đi, để mặc em, còn bây giờ em không nói gì hơn nữa, cũng không nghe anh giải thích, em… em…

Ngọc bỗng nghẹn ngào, nàng cúi mặt xuống. Minh thật khó nghĩ, hắn không biết phải làm sao, nàng cương quyết, Minh bồi hồi về sự nghẹn ngào của nàng. Minh đưa tay nắm lấy tay nàng:

– Em…

Ngọc vùng tay:

– Kệ tui.

– Sao em kỳ cục vậy chớ?

– Anh không thương tôi nữa, thì anh đi đi, đừng đụng vào tôi

– Em thấy quán nước đông người không? Mình tới một nơi nào đó nói chuyện.

– Tôi nói không có đi đâu hết, anh không thích tôi thì anh đi đi.

Minh thở dài, nàng khó tính, Minh không biết phải giải thích chuyện này ra sao.

Minh im lặng, hắn bỗng nắm tay nàng:

– Ngẩng lên nhìn anh này.

Ngọc ngẩng lên, nước mắt doanh tròng, nàng chờ đợi, Minh mỉm cười với nàng, hắn nắm chặt bàn tay nàng hơn:

– Anh bằng lòng.

– Thật không?

Lau nước mắt đi, anh không nói dối em đâu.

Ngọc đưa chiếc khăn mùi-soa lên lau nước mắt, vẻ mặt nàng trở nên tươi tỉnh, nàng cười, hàm răng trắng bóng, Minh nói nhỏ:

– Mình đi chơi, mười hai giờ đêm nay anh về trại, chiều mai anh về, anh sẽ ra với em ngay bắt đầu từ tối mai mình sống với nhau.

– Dạ.

Ngọc đặt tiền lên bàn; nàng ngước lên nhìn Minh:

– Ngày mai em sẽ không đi làm, em nghỉ một ngày…

– Để làm gì?

– Em đi mua sắm ít đồ đạc cần thiết trang hoàng cho cái phòng của mình.

– Khoan đã, đi đâu vội. Ngọc kéo Minh đứng dậy:

– Bây giờ mình về nghe anh?

– Không đi chơi hả?

– Để tối mai đi ăn với nhau một bữa, em cũng phải kiếm mua cho anh một chiếc xe đạp, có gia đình rồi em muốn anh về nhà ăn cơm.

Minh cảm động, hắn đi cạnh người yêu, trong bao nhiêu năm buồn bã, lần đầu tiên Minh thấy lòng mình ấm lại, lần đầu tiên hắn nghĩ tới một hạnh phúc đơn sơ, nghèo nàn nhưng thắm thiết. Trong thời gian sống tuyệt vọng Minh thấy mình là một người xấu số, hoàn toàn chàng không còn hy vọng gì. Minh nghĩ đến kho nhiên liệu, hắn thấy rùng mình, mình sẽ chôn đời ở đó, nơi đó là một nơi đày ải.

Minh nắm nhẹ tay người yêu, nhìn sang nàng:

– Thú thật với em, cách đây năm phút anh còn ngần ngại, nhưng bây giờ thì anh hết rồi, anh hoàn toàn tin tưởng ở em.

Giọng Ngọc ngậm ngùi:

– Như em đã nói với anh, em không còn ai là thân thiết, trong bao nhiêu năm nay, em nghĩ đến một gia đình do em tao ra, em muốn có một người yêu rồi người đó sẽ là người chồng của em, em sẽ hết lòng thương yêu người đó.

Hai người đi vào trong con hẻm nhỏ, căn lầu Ngọc thuê nằm ở cuối xóm, nhìn ra bờ sông gió mát lộng lộng, căn lầu nhỏ có cái cầu thang riêng, một cái bao lơn nhỏ đúc xi măng chắc chắn, đủ kê một chiếc ghế xích đu.

Ngọc vào nhà, nàng bật ngọn điện, ánh sáng chan hòa căn phòng nhỏ, nàng ngắm căn phòng kê chiếc giường niệm, một cái tủ áo, một cái bàn và hai cái ghế, ở góc nhà có một cái bếp nấu dầu hôi, ấm đun nước và vài thứ đồ lặt vặt. Ngọc đứng tựa vào vai Minh:

– Anh thấy không, mình còn thiếu thật nhiều thứ để tao thành một gia đình có hai vợ chồng, khi đã sống với anh rồi, bắt buộc chúng ta không thề sống đời cơm hàng cháo chợ, ngày mai em nghỉ ở nhà, em đi sắm một ít đồ đạc cần thiết, điều bắt buộc phải lo là sao anh có một chiếc xe đạp để đi làm.

Minh cảm động, gục đầu vào vai người yêu:

– Anh không biết nói gì hơn là cám ơn em.

Minh nghe hơi thở của người yêu, ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng từ người nàng toát ra. giọng Ngọc ấm áp trầm trầm:

– Chiều mai anh có thể về nhà ăn cơm được rồi đó.

– Sao hồi nãy em nói mình đi tiệm.

– Nhưng bây giờ em đồi ý kiến, em muốn tự em nấu một bữa cơm cho anh ăn.

Minh không nghĩ thứ hạnh phúc này sẽ kéo dài được bao lâu, nhưng hắn cũng đã thấy rằng mình hạnh phúc lắm rồi. Minh chưa bao giờ được hưởng.

Bàn tay mềm mại của Ngọc vuốt nhẹ lên má Minh:

– Anh nghĩ gì đó?

– Anh đang nghĩ đến hạnh phúc của chúng mình.

– Anh nghĩ sao?

– Không biết những giờ phút này mình sẽ kéo dài được bao lâu?

– Anh bi quan?

– Không, thực tế thì đúng hơn.

Ngọc kéo Minh ngồi xuống giường:

– Em thì không nghĩ gì cả, ngoài những giây phút mình đang hưởng, em không lãng mạn.

Minh nói nhỏ bên tai nàng:

– Anh biết… anh biết…

Ngọc gỡ tay người yêu, nàng đứng dậy:

– Ngọn đèn này sáng quá phải không anh, em tắt đi, bật ngọn đèn khác mờ mờ nhé?

Ánh đèn mờ bật lên, căn phòng trở nên ấm cúng hơn. Minh thấy người yêu mình đẹp hơn dưới ánh đèn mờ ảo này, đôi mắt nàng long lanh, kẻ một vệt chì mỏng ở rèm mi, khuôn mặt nàng hiền hậu, đôi mắt thật bao dung, tia nhìn như bao kín tâm hồn Minh, lần đầu tiên Minh bắt gặp một tia nhìn như thế.

Nàng tiến đến gần Minh hơn, nàng ngã vào vòng tay chàng. Giường nệm êm ái, Minh nghe gió thời qua cửa sổ, tiếng đồng hồ tích tắc trên chiếc bàn nhỏ kê ở đầu giường, Minh cúi vén mái tóc xõa trên trán nàng, Minh lại nhìn thấy đôi mắt nàng, đôi mắt khẽ chớp. Vòng tay của nàng siết chặt hơn trên lưng Minh…

Ngọc mở bừng mắt, nàng nhìn Minh thắm thiết:

– Anh ở lại với em đêm nay nhé? Minh lắc đầu:

– Không, anh phải về.

– Ở lại không được sao? Sáng mai em đánh thức anh dậy sớm mà.

Minh hôn khẽ lên môi Ngọc:

– Mình còn cả tối mai, những ngày kế tiếp mà lo gì.

Ngọc thở dài:

– Em không biết em nghĩ gì nữa, nhưng em thấy mình làm sao ấy.

– Làm sao?

– Em thấy mình lo nghĩ thật là vần vơ, không hiểu tại sao, em chợt nghĩ rằng hạnh phúc của mình thật là mỏng manh.

– Chỉ nói bậy.

– Em mong rằng đang nói bậy, đang nghĩ bậy. thế.

– Anh không muốn em nghĩ như

– Anh yêu em thật chứ?

– Em nghĩ là anh nói đùa?

– Em không muốn nghĩ thế, nhưng em muốn tự miệng anh nói ra, vì từ khi mình biết nhau, có cả chuyện ăn nằm với nhau, nhưng chưa bao giờ em thấy anh nói câu đó, anh có cái vẻ gì lừng khừng.

Minh cười:

– Anh xin lỗi, anh không tể nhị chút nào hết.

Minh nhìn thẳng vào mặt nàng:

– Anh yêu em đó, chính miệng anh đã nói ra câu đó, em bằng lòng chưa?

Ngọc ôm ghì lấy cổ Minh, tiếng nói của nàng lúc này như những lời thầm thì:

– Mình sẽ sống với nhau suốt đời anh nhỉ, mình yêu nhau rồi, sau này thương yêu con cái.

Minh chợt thấy buồn buồn về đời sống quân ngũ của mình:

– Khi gần em thì anh thấy vui, nhưng cứ khi nào nghĩ đến đời sống quân ngũ của anh, anh lại buồn, anh thấy mình chẳng có chút ít tương lai nào hết, không lẽ anh cứ bám lấy em để sống sao?

– Anh có cái tự ái của anh, tự ái của một thằng con trai.

– Tình trạng hiện tại của anh thế nào?

– Không có một chút nào tương lai, anh là một người lính kém may mắn, anh đã hy vọng ba bốn năm trời rồi, bây giờ thì anh thấy cái hy vọng ấy càng xa vời.

Minh thở dài, tiếp:

– Anh không biết mình sẽ ra sao nữa, anh xin giải ngũ không được, anh chỉ mong được giải ngũ ra khỏi nhà binh thì chắc anh khá hơn.

Cả hai đều im lặng, gió ngoài sông thổi qua cửa sổ, làm căn phòng trở nên mát lạnh! Minh bỗng hỏi một câu bâng quơ:

– Đêm ở đây chắc có lẽ lạnh lắm em nhỉ?

– Lạnh và em còn sợ ma nữa.

– Có ma sao?

Ngọc cười khanh khách:

– Ma thì không có nhưng em sợ nhất là ma mãnh, em có một mình mọi khi cứ về đến nhà là em đóng kín cửa, ở dưới hẻm này có mấy thằng cứ thấy em về là chúng chọc.

– Sao anh về đây bao nhiêu lần mà không gặp?

Ngọc dí tay vào mũi Minh:

– Chúng ngán anh.

– Ngán anh, anh có làm gì đâu để chúng ngán.

– Cái mặt lầm lỳ coi khó thương.

– Vậy mà có người thương đấy, không thương mà khóc đứng khóc ngồi.

Ngọc nhéo Minh một cái đau điếng: – Nói xấu người ta nhé.

Minh nằm im lặng một hồi lâu, hắn ngửa mặt nhìn lên trần nhà, ở trên đó có hai con thạch sùng đang đuổi nhau, một lát sau Minh hỏi:

– Anh hơi lạ một điều, tại sao em lại yêu anh, sống với anh.

– Vậy mà cũng lạ!

– Lạ lắm chứ, với nhan sắc như em, với cuộc sống hiện tại, em có thề làm vợ một người bảnh hơn anh nhiều, vậy tại sao em lại bằng lòng yêu anh?

Ngọc mỉm cười, nàng nép đầu vào vai Minh:

– Vậy mới kỳ cục, mà cũng tại anh nữa.

– Tại anh?

– Chớ sao, nếu anh không chịu theo tán tỉnh người ta hoài, thì em biết anh là ai, em là người ưa cảm động.

Minh cười, chàng nhìn vào mặt nàng:

– Anh đâu biết em có tính cảm động như vậy, vậy mà hôm đầu tiên mắng người ta mất mặt mặt mũi.

– Anh còn nhớ anh nói những gì không?

Minh lắc đầu:

– Thú thật anh không nhớ mình nói những gì.

– Anh nói nham nhở, em không biết anh học cái trò tán gái đó ở đâu, chán anh ghê vậy đó, em sỉ vả anh như vậy vẫn còn nhẹ.

– Anh biết lắm chớ, bởi vậy ngày hôm sau anh phải tán gái kiểu khác.

Hai bàn tay Ngọc nắm lấy nhau, nàng bẻ cho kêu cụp cụp:

– Thôi mình bỏ chuyện đó đi, mình nói chuyện khác.

– Chuyện gì?

– Chuyện tương lai của chúng mình.

Minh thú thật:

– Anh chẳng biết chuyện gì mà nói hết. Ngọc nhổm lên, nhìn vào mặt chàng:

– Anh không biết chuyện gì nói sao?

– Thật vậy, chuyện này đến với anh bất ngờ quá, phải thú thật với em rằng anh hơi bàng hoàng, anh không hề nghĩ đến, hơn nữa, anh không đủ điều kiện nghĩ đến.

Đôi mắt mắt Ngọc tha thiết:

– Em hiểu, em hiểu anh, anh thành thật lắm, em thích có một người chồng thành thật, từ khi mến anh, kế rồi đến yêu anh, em càng yêu anh hơn vì đức tính thành thật của anh…

– Em có nghĩ rằng người chồng em có đức tính thành thật như vậy khi ra đời, sống với đời chỉ nhận được những thiệt thòi không?

– Có, em có nghĩ đến điều đó, nhưng điều đó đối với em không quan trọng, em biết chắc chắn rằng, người chồng ấy càng yêu mến em nhiều hơn, suốt đời em chỉ mong được có một người chồng thành thật. Em nói để anh hiểu rằng đời em cũng đã nhận nhiều thiệt thòi rồi, em sợ điều gì trắc trở, nhất là hạnh phúc của đời em, điều đó quan trọng nhất, thà rằng yêu và lấy một người lính như anh em yên trí hơn, em khôn chớ em không nông nổi đâu, em phải đi kiếm cơm từ hồi mười ba tuổi em tủi nhục nhiều.

Minh ôm lấy người yêu, chàng vuốt ve trên lưng nàng, chàng cảm động, chưa bao giờ Minh cảm động như vậy. Minh muốn khóc vùi trong mái tóc thơm ngát của nàng. Thế là từ nay trở đi chàng đã có một tình yêu, có một người để nghĩ đến tất cả nhọc nhằn, tất cả nỗi tủi nhục bất mãn, có thể nói với nàng.

Minh khẽ nói bên tai nàng: – Em thật tuyệt diệu.

Minh ôm chặt lấy nàng:

– Anh không ngờ đời mình có giây phút tuyệt diệu này.

Khuôn mặt nàng ngửa lên, Minh nhìn thấy nụ cười dễ thương của nàng, Minh cúi xuống, Minh bạo dạn hơn sau nụ hôn. Minh thì thầm trên môi của nàng:

– Anh cám ơn em, cám ơn em thật nhiều.

Đôi mắt của Ngọc từ từ khép lại, đôi mắt có hàng mi cong vút, vòng tay nàng siết chặt lấy vai Minh, nàng thì thầm:

– Ở lại với em nghe anh.

Minh im lặng, gió mát lồng lộng, Minh ngồi dậy, hắn hôn lên khuôn ngực đầy đặn của Ngọc. Ngọc xoay người lại, nàng ôm chiếc gối vào lòng, đôi chân dài thuôn trắng mịn, hờ hững bỏ thõng xuống giường. Minh cúi xuống nhấc chân nàng đặt lại trên giường:

– Anh phải về trại, chiều mai anh ra, chúng mình sống luôn với nhau cho đến trọn đời.

Nụ cười của Ngọc mệt mỏi:

– Muộn rồi đó, nếu anh phải về thì về đi, ngủ sớm rồi mai đi cho kịp, ừ mà tối nay anh ở đây sáng mai dậy không được đâu?

Minh cười:

– Tại sao vậy?

– Anh tham lam lắm anh không biết sao?

– Xin nhận lỗi.

Minh đã sửa soạn xong. Ngọc khoác lên người chiếc áo ngủ, nàng ngồi soi gương sửa lại mái tóc lòa xòa, nàng ra mở cửa. Minh nhìn thấy bầu trời ngoài kia lấp lánh sao đêm, dòng sông uốn khúc, trắng bạc trong đêm, tiếng chiếc ca nô nào đó tuần tiểu chạy trên sông. Minh ra đứng ngoài bao lớn nhìn xuống con hẻm nhỏ những mái nhà thấp ở bên dưới, đêm thật tuyệt diệu. Minh lưu luyến không muốn ra về, chàng đứng tựa tay trên lan can, chàng cảm thấy thèm hơi thuốc lá thơm, chàng móc túi tìm bao thuốc, bao thuốc hết, chàng vo viên bao thuốc không liệng xuống hẻm, chàng nghe tiếng bao thuốc chạm trên mặt hẻm. Đêm yên lặng. Ngọc đã đứng bên cạnh Minh, nàng nép đầu vào vai người tình, nàng hỏi bâng quơ:

– Rồi sẽ ra sao hả anh?

Minh hôn trên mái tóc nàng:

– Bây giờ anh chỉ thấy sung sướng, anh không biết rồi sẽ ra sao nữa.

Ngọc cười nhẹ, tiếng cười của nàng hồn nhiên:

– Em mong ước thật nhiều đó anh, nhưng bây giờ em không nói được gì, em cũng cảm thấy sung sướng, có lẽ như anh vậy.

Minh siết chặt lấy vai nàng, hôn trán nàng:

– Anh về, chiều mai anh cứ về thẳng nhà phải không?

– Dạ.

– Kìa, em nhét cái gì vào trong túi anh thế?

Ngọc cười:

– Tiền đó anh.

– Làm gì kỳ vậy?

– Ngày mai anh đi Mỹ Tho, nếu thấy cái gì lạ thì mua về.

– Cái gì?

– Ai biết được, à hay anh mua một ký sầu riêng, em thích sầu riêng.

– Nếu không có sầu riêng thì anh mua cái gì cũng được nhé.

– Dạ.

– Mai, em cho anh ăn món gì?

– Canh chua đầu cá lóc chịu không?

– Chắc phải ngon tuyệt.

– Ăn với bún.

– Anh đói lâu rồi, chắc phải ăn khỏe lắm.

– Còn nhiều món khác nữa.

– À, em có mời ai không?

Ngọc lắc đầu:

– Không mời ai hết trơn, vả lại em ít bạn lắm, anh có mời ai không?

Minh lắc đầu:

– Mời ai, anh không thích chơi với ai hết.

– Hai đứa mình ích kỷ dữ! Ngọc tiếp:

– Sau đó hai đứa mình đi coi hát bóng, lâu lắm em không đi coi.

Minh chợt ước:

– Nói ví thử hai đứa mình được nghỉ ít ngày đi chơi thích nhỉ, nếu anh biết trước anh sẽ xin nghỉ phép lấy vợ.

Tốt đen

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

KHÔNG GIAN xuất bản 1971

Post by Sơn râu 11 Apr 2025

Chương 7.

MINH NGỒI TỰA ĐẦU VÀO TƯỜNG KHO nhiên liệu, ngửa mặt nhìn lên bầu trời xanh chói nắng, hắn nghĩ đến những lời nói của trung sĩ Hà chiều hôm qua, ông ta đã chỉ vẽ cho Minh những mánh khóe ăn cắp, những mánh khóe giản dị dễ dàng.

“Nếu mày nghe lời tao mày sẽ khá, tội quái gì, tao hỏi có ai thương mày không, mày đã thấy đó, chúng nó tìm cách hành hạ mày. Mẹ, đừng có quân tử Tàu mà thiệt vào thân.”

Minh mở cửa vào kho, hắn đi quanh kho, nhìn những thùng sơn, những thùng nhiên liệu xếp hàng ngay ngắn trên kệ. Bỗng nhiên Minh nghĩ đến vị Đại úy chỉ huy trưởng của mình, nghĩ đến đôi mắt của ông. Minh và ông thật là xa vời với nhau, nhưng Minh thấy mến ông, kính nể ông, với một người như thể Minh không thể làm việc bằng một lương tâm hèn mọn. Minh khô- ng bao giờ muốn ông nhìn Minh bằng đôi mắt khinh rẻ. Minh lan man nhớ những lời nhắn nhủ của ông với Minh, khi Minh nhận coi kho nhiên liệu, ông biết tất cả mọi sự mất mát, không, mình không thể hành động đốn mạt như vậy được, Minh thấy tâm hồn mình yên ổn hơn, hắn lấy cuốn sổ ra, kiểm soát lại mọi đồ vật còn lại trong kho.

Minh nghe tiếng bước chân người ngoài kho rồi có tiếng gõ cửa, Minh nói vọng ra:

– Cứ vào.

Cánh cửa sắt mở, trung sĩ Hà bước vào, bắt đầu ra hiệu với Minh:

– Thế nào?

Minh buông cuốn sổ xuống, nhìn thẳng vào mặt trung sĩ Hà:

– Rất tiếc tôi không làm việc đó được.

– Không nhận lời hả?

– Vâng.

Trung sĩ Hà cau mặt:

– Tại sao kỳ cục vậy chớ, mày thiệt là giết tao.

Minh nhìn lại trung sĩ Hà:

– Tại sao tôi giết trung sĩ? Tôi không nhận làm cái việc đó được.

– Tại sao hôm qua mày không trả lời tao đứt khoát.

– Trung sĩ biết rằng tối hôm qua tôi say rượu chớ? Khi tôi say tôi thường hay ẩu tả, nhưng bây giờ tôi tỉnh táo rồi, tôi không thể làm được việc đó, và không bao giờ làm hết.

Trung sĩ Hà lắc đầu:

– Mày thiệt là trẻ con, quân tử Tàu, đếch ra cái chó gì hết.

Minh lạnh lùng:

– Tôi vậy đó trung sĩ.

– Tao biểu mày không có sao hết mà, cứ nghe lời tao đi, mày đừng để tao vào thế mắc kẹt chứ.

– Tại sao lại mắc kẹt, mình không nhận lời thì thôi chứ mắc kẹt cái chó gì.

Trung sĩ Hà làm vẻ mặt khó khăn:

– Mày biểu không mắc kẹt sao, tao kẹt thấy mẹ, tao đã trót nhận lời với người ta rồi, tao hứa chiều nay mang đồ ra.

Trung sĩ Hà tấn công thêm:

– Mình không hứa thì thôi, đã hứa thì mình phải giữ lời, mình giữ uy tín, lần này còn lần khác.

Minh lắc đầu:

– Đối với tôi thì không có lần nào hết, vì tôi không buôn bán cái kiểu đó.

– Mày quên mất bữa nhậu rồi sao?

– Nhậu là nhậu, tôi không hứa hẹn gì trong bữa nhậu hết, nhưng trung sĩ đã tiếc bữa nhậu đó tôi trả lại trung sĩ, tôi mời trung sĩ lại.

– Không phải, mày đừng có nghĩ thế chứ, tao muốn nói việc mình kết nghĩa trong bữa nhậu đó.

Minh vẫn cương quyết lắc đầu:

– Rất tiếc là tôi không thể làm được.

Trung sĩ Hà lưỡng lự một lát, rồi thú nhận với Minh:

– Tao thú thật với mày điều này, sở dĩ tao năn nỉ mày vì tao kẹt quá, tao trót nhận tiền của anh Tư Vespa rồi, tao lại tiêu mất vào số đó một ít, bây giờ tao còn lại ngần này tiền, tao đưa lại hết cho mày, mày cố giúp tao để giữ uy tín với người ta.

Trung sĩ Hà móc túi lấy một nắm tiền nhét vào tay Minh. Minh giựt tay lại, nắm tiền rơi cả xuống đất, những tờ giấy một trăm nhiều gấp mấy lần tiền lương của Minh, trung sĩ Hà cúi xuống lượm lên:

– Đó, tất cả số tiền này của mày. Bây giờ tao chỉ lấy đi năm hộp sơn thôi, còn bao nhiêu mình tính lại sau.

Minh lùi lại:

– Nhưng tôi không thể làm được chuyện ấy.

– Mày có thiệt hại gì đâu, mày thấy không, tao đưa mày hết.

Minh vẫn lắc đầu:

– Xin lỗi trung sĩ, tôi rách thật đó, nhưng tôi không thể làm được.

– Trời ơi, chiều hôm qua mình nói chuyện như thế nào bây giờ mày quên hết rồi sao?

– Chiều hôm qua tôi không hề nói gì hết, cũng không hứa hẹn gì cả, tôi nhớ chắc chắn như vậy đó, trung sĩ nhận tiền của người ta thì trung sĩ lo đi, tôi thề rằng tôi không lấy ở số tiền này một cắc bạc nào hết.

Trung sĩ Hà nhăn mặt:

– Tao đã năn nỉ mày hết lời, mày không thương tao, tao nhận tiền của người ta bởi tại tao tin tưởng ở mày, nếu tao biết vậy tao nhận lời làm chi.

Minh cương quyết hơn:

– Tôi không biết chuyện đó, trung sĩ nhận của người ta, thì trung sĩ rán mà giải quyết.

Trung sĩ Hà nổi nóng:

– Mày nhất định chơi gác tao đó phải không?

– Tôi không chơi gác ai hết, nhưng tôi không thể làm cái việc ăn cắp được, nghèo thì nghèo tôi cương quyết không làm việc đó, mong trung sĩ thông cảm cho.

Trung sĩ Hà bực bội:

– Tao kęt.

Ông đi đi lại lại trong kho, cuối cùng ông đề nghị:

– Thôi, thế này vậy nghe.

– Trung sĩ cứ nói.

– Mày giúp tao một lần vậy, chỗ tiền này mày lấy hết đi, tao không lấy xu nào hết, tao chỉ muốn giữ đúng lời hứa với người ta thôi.

Minh cười lắc đầu:

– Trung sĩ hiểu lầm tôi rồi, tôi đâu có ham tiền mà bắt ép trung sĩ đâu, nhưng việc này tôi không làm được vậy thôi. Mong trung sĩ hiểu cho tôi.

Đang lúc đó bỗng có tiếng chân người đi ngoài cửa kho, Minh nói với trung sĩ Hà:

– Thôi trung sĩ mang trả lại tiền cho người ta đi, tôi không thể làm được, việc này mà người khác biết, thì phiền cho trung sĩ và từ nay tôi xin xác nhận với trung sĩ là tôi không thể làm những việc như thế được.

Tiếng đập cửa gọi Minh. Minh lên tiếng:

– Vô đi.

Hạ sĩ Thành vào trong kho, Minh hỏi:

– Có chuyện gì đó?

– Lên phòng họp, hôm nay trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân tới nói chuyện.

– Lên ngay bây giờ hả?

– Lên ngay.

Minh cất cuốn sổ vào ngăn kéo, trung sĩ Hà bực mình chửi thề một câu rồi đi ra. Hạ sĩ Thành hỏi Minh:

– Có chuyện gì đó? Minh nói dối:

– Chẳng có gì, ông xuống đây để coi số sách chút mà.

Thành mỉm cười:

– Mày phải coi chừng thằng chả.

– Cái gì mà coi chừng?

– Tao còn lạ quái gì hắn nữa, một cây áp phe nhằng.

– Áp phe gì? Thành cười:

– Cái quái gì chả cũng áp phe được hết trơn, nhiều thứ lắm.

Hắn lại nhìn quanh kho, chỉ vào những món đồ:

– Chẳng hạn như những món đồ này không đủ cho hắn áp phe hay sao?

Minh không muốn nhắc đến những chuyện ấy nữa. Chàng hỏi bạn:

– Trung tá tới có việc gì không?

– Nghe đâu Trung tá tới để nói chuyện về việc bầu cử Tổng thống.

Minh lên trên phòng họp đúng lúc Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân đang nói chuyện, Trung tá đứng trên một cái bục cao, ông đang hùng hồn nói về cuộc bầu cử Tổng thống, ông ca tụng đương kim Tổng thống, ông hết lòng khen ngợi, những đức tính đáng quí của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Minh nghe một cách lơ là nhưng hắn cũng hiểu rằng Trung tá khuyên binh sĩ bỏ phiếu cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, chỉ có Tổng thống Ngô Đình Diệm mới xứng đáng ra lãnh đạo vai trò Quốc gia. Minh chán ngắn khi nghe những lời nói đó, hắn đã từng đọc những cuốn sách của ông viết, ông là một nhà văn có chút ít tiếng tăm đương thời, tất cả những tình cảm, những kính trọng, qua những sách vở ông đã viết, trong lòng Minh bao lâu nay, qua những lời nói vừa rồi của ông, tự nhiên tiêu tan hết.

Minh hỏi một người bạn ngồi cạnh: – Mình bầu cử tự do phải không?

– Dĩ nhiên là tự do, nhưng mày nên bỏ phiếu cho ông Diệm, mày khô- ng nghe trung tá quyền Tư Lệnh nói: chỉ có ông Diệm là người xứng đáng không? Ông là người có học cao, chắc chắn những nhận định của ông không sai lầm…

Minh mỉm cười.

– Đã tự do, tao có quyền bỏ phiếu cho ứng cử viên khác chứ?

– Dĩ nhiên, nhưng tự do có giới hạn, mày phải hiểu điều đó chứ. Trung tá muốn chúng ta tự đo bỏ phiếu cho ứng cử viên Ngô Đình Diệm, vị lãnh tụ anh minh của dân tộc.

– Bỏ phiếu trong phòng kín tao muốn bỏ cho ai thì ai biết được.

Người bạn vỗ vai Minh:

– Tự do mà, nhưng bây giờ tao chưa biết cách thức ra sao, người ta sẽ chỉ bảo sau, lặng yên nghe Trung tá nói chuyện kìa, thằng này ưa thắc mắc quá.

Minh ngồi bó gối dưới sàn xi măng, hắn ngước lên nhìn vị Trung tá khả kính, ông đang hùng hồn nói chuyện, hùng hồn ca ngợi những đức tính của Ngô đình Diệm là anh minh, mồ hôi lấm tấm trên trán ông. Mình lại nghĩ đến quyển sách, những bài báo ông đã viết, ông ca tụng đời sống Không Quân, ca tụng những người phi công đi mây về gió. Khi Minh đọc những dòng chữ ấy, Minh nghĩ ông là một người có tâm hồn thật đẹp, tuyệt nhiên Minh không nghĩ ông có những giây phút này, giây phút làm cổ động viên cho Tổng thống. Bây giờ Minh thấy ông như một tên mãi võ Sơn Đông đang quảng cáo một món thuốc cao gián ở một bến xe hay một góc chợ nào đó. Cuối cùng ông thòng một câu:

– Tôi thấy đương kim Tổng Thống là một người anh minh, tôi khuyên nhủ anh em nên bỏ phiếu cho ông, nhưng đất nước chúng ta là đất nước tự do anh em có toàn quyền tự do lựa chọn vị lãnh tụ của mình.

Ông ngừng lời một lát nhìn xuống dưới đám lính nở một nụ cười, ông rút khăn ra lau mồ hôi:

– Còn hai hôm nữa anh em đi bỏ phiếu, anh em nhớ cho một điều này, ngày hôm ấy anh em phải ăn mặc cho đàng hoàng, sạch sẽ, xe của Bộ Tư Lệnh sẽ tới đón anh em tới tận nơi đầu phiếu, Bộ Tư Lệnh sẽ giúp cho anh em mọi phương tiện, kề cả phương tiện ăn uống, tôi muốn Không Quân của chúng ta sẽ được một trăm phần trăm bỏ phiếu cho đương kim Tổng Thống, anh em có dám hứa với tôi không?

Ông nhìn xuống đám đông có vài tiếng lác đác nói đồng ý. Minh không nhớ có ai thúc vào lưng mình nói:

– Nói đồng ý đi.

Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân cười thật tươi:

– Thôi được, cám ơn anh em. Buổi họp chấm dứt:

– Anh em nhớ tôi nói như vậy chưa, tôi nói như vậy là quá rõ ràng rồi, ai còn điều gì thắc mắc không?

Một tên lính hỏi:

– Thưa Trung tá, như vậy là không được quyền bỏ phiếu cho người khác, ngoài ứng cử viên Ngô đình Diệm?

Trung tá quay nhìn vào mặt gã lính đó, mặt ông hầm hầm:

– Anh thắc mắc?

– Dạ thưa không, tôi hỏi vậy để cho biết chắc chắn…

– Anh ngu quá, tôi nói vậy mà anh không hiểu sao?

Ông nhìn khắp mặt đám lính:

– Đây, tôi nhắc lại một lần chót nữa, các anh phải nhớ cho kỹ, sau khi nghe lại một lần này nữa không có ai được hỏi lôi thôi hiểu không? Các anh đã chia ra từng tiểu đội, tiểu đội một đi đầu, phòng phiếu trống trơn, chưa có một người nào vô bỏ phiếu hết, sau khi lãnh xong những tấm phiếu của ứng cử viên, người thứ nhất vào trong phòng kín, chọn phiếu của ứng viên Tổng thống cho vào phong bì, tất cả những phiếu còn lại cho vào sọt rát, người thứ hai vào phòng phiếu, nếu thấy phiếu của ứng cử viên Ngô đình Diệm có trong sọt rác, lập tức báo ngay với tôi, người thứ ba cũng làm như người thứ nhì, nhưng tôi tin tưởng rằng các anh là người hiểu biết, tôi nói như vậy tức khắc các anh phải hiểu, nói tóm lại, tức là người nọ kiêm soát người kia. Nếu các anh trái lời tôi, các anh đừng trách tôi nghe chưa, trước khi dứt lời, tôi cũng cần nói cho các anh rõ, Tổng Thống gởi lời cám ơn các anh trước, các anh sẽ được đền đáp xứng đáng, các anh khô- ng bị thiệt thòi đâu mà sợ. Ngay trong buổi bỏ phiếu này tiền đài thọ các anh cũng là tiền của Tổng Thống cho các anh, các anh không có quyền phụ tấm lòng tin tưởng của Tổng Thống, có hiểu không?

Một người bạn nói nhỏ vào tai Minh:

– Vậy còn quái gì là dân chủ nữa.

Minh chỉ cười nhạt, người bạn lại hỏi Minh:

– Nói ví thử có một thằng làm trái lời của ông dặn thì sao nhỉ?

– Chắc bị tù.

– Lý do gì?

– Đâu cần có lý do.

– Bộ nhất định chơi nhau đó hả?

– Hay không, tao đâu có chơi mày mà mày hỏi tao, ra hỏi ổng đó, nhưng tao nghĩ người ta đâu cần bỏ tù mày, người ta có trăm ngàn lý do để chơi mày kia mà.

– Có thể cách chức tao xuống binh ba được không?

Minh cười:

– Có lẽ còn tới binh bốn bình năm gì nữa chớ không phải binh ba đâu. Tao bây giờ là binh ba này, lính không chỉ số như tao là binh ba chớ còn gì nữa.

– Cay đắng dữ.

Gã lại thân mật vỗ vai Minh:

– Nè tao hỏi thiệt mày có làm theo lời ông nói không?

– Hỏi chi vậy, hỏi để báo cáo hả?

– Đù mẹ cái thằng đa nghi, tao đâu có khốn nạn như vậy.

– Tao đâu biết, tao đâu có hỏi mày mà mày hỏi tao?

– Hỏi chút không được sao mà làm tàng.

– Không được. Gã binh nhì tư lự:

– Nếu mày đứng sau tao, tao không bỏ phiếu cho ông Ngô đình Diệm, tao liệng phiếu ông ta vào sọt rác, mày thấy, mày có báo cáo không?

– Điều đó chưa biết, nếu tao hèn quá, tao phải giữ lấy cái mạng của tao.

Đoàn lính lên xe sắp sửa tới địa điểm bỏ phiếu, gã binh nhì vừa nói chuyện với Minh đưa tay lên:

– Tôi thắc mắc.

Trung úy Thái nhìn lại:

– Anh thắc mắc điều gì nữa? Gã binh nhì bướng bỉnh:

– Thưa trung úy, nếu tôi không làm theo đúng những lời trung úy dặn, tôi sẽ bị hình phạt gì, thưa trung úy chẳng hạn tôi không thích ứng cử viên Ngô đình Diệm làm Tổng Thống của tôi, tôi khoái một người khác trong đám ứng cử viên này, tôi có quyền bỏ phiếu cho họ không?

Mọi người nhìn gã lo lắng, thằng này uống thuốc liều rồi. Họ nhìn lại trung úy Thái, mặt ông ta trắng xanh, lúc này mét hơn, nhưng ông ta giữ ngay được bình tĩnh:

– Mình đang sống ở mảnh đất tự do mà, đó là quyền của anh, tại sao lại phạt anh, chúng tôi chỉ kêu gọi sự hiểu biết của anh, hãy chọn mặt gởi vàng.

– Thưa trung úy, vậy là không có phạt hay bỏ tù gì ráo?

Mặt trung úy Thái lúc này hầm hầm:

– Anh không phải thắc mắc nhiều vì ngay bây giờ tôi nhốt anh.

– Thưa trung úy nhốt tôi, không cho tôi làm quyền bầu cử của một công dân?

– Anh phá hoại bắt buộc tôi phải nhốt anh, anh đừng nhiều lời.

Trung úy Thái quay đi, một lát ông trở lại với hai người cảnh vệ, gã binh nhì thản nhiên:

– Chào các bạn nhé, hôm nay tôi đếch đi bỏ phiếu, nhưng như vậy càng tốt…

Trung úy Thái nhìn lại đám lính:

– Chắc không còn ai thắc mắc, thôi ta đi.

Đám lính lục đục lên ba chiếc

G.M.C xe chạy ra ngoài cổng.

Minh để ý thấy hôm nay đường sá đông hơn mọi bữa, họ tới đứng đầy ở các nơi đầu phiếu, nhiều người đã bỏ phiếu xong ra về. Trên các nẻo đường còn dán đầy những bích chương cổ động cuộc bầu cử Tổng Thống. Minh để ý thấy nhiều bích chương của ứng cử viên bị xé, không phải do sự vô tình mà hình như cố ý, Những bích chương của ứng cử viên Ngô đình Diệm còn nguyên vẹn.

Minh càng lúc càng ngán ngẩm, hắn và các bạn hắn chỉ là những viên gạch lót đường không kém. Thân phận một người lính thì ở đâu cũng vậy. Từ hôm qua lúc Trung Tá quyền Tư Lệnh Không Quân, cổ động cho ứng cử viên Ngô đình Diệm. Minh mất hết mọi sự tin tưởng vào ông. Ở xa, Minh tưởng ông là một người ghê gớm lắm, nhưng tới gần, Minh thấy ông quá sức tầm thường, ông không hơn gì Trung úy Thái, Minh nghĩ đến những cuốn sách ông đã viết, những bằng cấp ông có. Minh thấy uổng phí.

Minh nghe nhiều lời bàn tán về ông ở giới lính tráng, có người ngồi ngay câu lạc bộ nói tùm lum:

– Sau vụ này, Tông Thống Ngô Đình Diệm trúng cử, Trung tá nhà mình khá ra cho coi, nếu không lên Đại tá thì chắc chắn có tiền nhiều, nếu có phải chia chác ra thì ông cũng còn bạc triệu, nhiều thằng sẽ giàu to.

Minh thấy xót xa khi nghe những câu đó, hắn mất tất cả tin tưởng. Nếu Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân chỉ là một sĩ quan tầm thường khác thì Minh không thấy buồn như vậy. Mỗi thằng lính chỉ có giá trị một viên gạch lót đường cho ông ta bước lên, để tới gần danh vọng tột đỉnh hơn.

Minh không biết rằng những hành động kém văn nghệ của ông ngày kia có ai nói tới không, hay rồi chìm theo thời gian lẫn lộn với đám sâu bọ bỉ ổi và mất hút.

Minh còn được nghe có người nói là ông được Tổng Thống nhận làm con nuôi, điều đó biết có thật không, hay vì người ta ghét ông, khinh bỉ ông mà đặt điều nói xấu. Nhưng dù sao ông cũng đã mất uy tín, đã mất tất cả những niềm tin của mọi người, hành động của ông chôn vùi sự nghiệp của ông.

Xe dừng lại trước một địa điểm đầu phiếu, lính tráng ùn ùn xuống xe, trung úy Thái chạy đi chạy lại có vẻ bận rộn lắm, ông ta hò hét tới khan cả cô, lính đứng theo từng tiểu đội, trung úy Thái còn hỏi lại:

– Tôi tin rằng các anh thông minh, có gì đâu mà không nhớ phải không?

Ông điểm danh lại một lần nữa, ông lột cái mũ Kepi ra cầm trên tay:

– Các anh chắc chưa ăn sáng, có bánh mì thịt cho các anh đây, ngoan ngoãn, buổi trưa này các anh còn được ăn cơm.

Một xe chở đầy bánh mì tới, trung úy Thái lần lượt phát cho mỗi người một chiếc, mặt ông lúc này vui vẻ, lần đầu tiên Minh thấy ông không cau có. Một người bạn ngồi cạnh Minh mở miếng bánh mì ra:

– Có lẽ mình bị ăn bớt thịt?

– Tao nói mày hay, miếng bánh mì này cũng chạy theo hệ thống quân giai rồi mới đến tay mình, nhưng theo hệ thống quân giai ngược, nghĩa là từ trên xuống dưới, mới đầu Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân cho mỗi miếng bánh mì là mười miếng thịt, khi xuống tới tay mình chỉ còn có ba miếng thịt, đồ chua bị ăn bớt, mày cứ tin như vậy đi, mày quên rồi sao, những người anh em nhà thầu có thể làm được mọi chuyện để thủ lợi mà.

Minh cười, không ngờ thằng bạn, còn nhiều bất mãn hơn mình, tinh thần khôi hài cao, họ biết biến những bất mãn, những đau thương để cười, Minh nghĩ mình làm người không biết cười nên mới rầu rĩ suốt ngày.

Gã lính giơ mãi khúc bánh mì lên cao:

– Mày thấy hai cái bánh mì này gầy còm không? Hai cái bánh mì này vốn dĩ đẹp trai, khi nó tới tay mình nó bị hành hạ nhiều quá nên nhan sắc tàn phai như thế này.

Hắn quay sang một người bạn khác: Mày thấy hai khúc bánh mì này mang cấp bậc gì.

– Binh nhì. Gã trề môi:

– Tao e rằng cho nó mang cấp bậc binh nhì nó sẽ mắc cỡ, chỉ đáng là tân binh quân dịch thôi.

Cả mấy thằng ngồi quanh đó cười lên hô hố. Trung úy Thái đi tới:

– Các anh cười gì vậy?

– Thưa trung úy, chúng tôi đang phong chức cho mấy cái bánh mì này.

Trung úy Thái không nói gì, ông ừ ừ trong miệng rồi quay đi, bọn lính thấy thế ngồi đấu láo um sùm với nhau, Minh thấy vui vui, từng tiểu đội đang vào phòng kín bỏ phiếu, đến lượt tiểu đội của Minh, hắn đứng dậy:

– Thôi vào bỏ phiếu cho xong chúng mày, chiều hôm nay được nghỉ, tao phải ngủ một giấc cho đã,

Tới lượt Minh, hắn lãnh những phong bì và những lá phiếu có tên ứng cử viên. Minh vào phòng kín nhìn lại những lá phiếu nằm trong giỏ, quả nhiên không có một lá phiếu nào của Ngô đình Diệm. Minh nghĩ bụng: không lẽ mình lại làm như các bạn, nhưng nếu Minh liệng một lá phiếu nào có hình của Ngô đình Diệm vào sọt rác, hắn sẽ nguy ngay, người bạn đi sau chắc sẽ báo cáo. Minh suy nghĩ thật nhanh, sau khi bỏ hết những lá phiếu có hình ứng cử viên khác vào sọt rác, Minh nhét liền tấm phiếu có hình Ngô đình Diệm vào miệng nhai ngấu nghiến, nuốt chửng. Minh bình thản đi ra, tay cầm cái phong bì giơ cao rồi bỏ vào thùng phiếu.

Người bạn đứng cạnh Minh hỏi:

– Bỏ cho cụ hả?

– Dĩ nhiên cụ là một vị lãnh tụ anh minh, không bỏ cho cụ còn bỏ cho ai nữa?

Sau đợt bỏ phiếu trung úy Thái có vẻ hài lòng, ông ta đi đi lại lại, hai tay xoa vào nhau:

– Tốt lắm, các anh khá lắm, đừng có dại dột mà mang họa vào thân.

Ông quay lại mấy người lính sắp sửa lên xe hơi về trại:

– Bây giờ các anh đi ăn với tôi, chiều hôm nay chúng ta còn việc làm nữa.

– Việc gì đó trung úy?

– Chưa cần biết việc gì, nhưng như vậy là Tổng Thống hài lòng lắm rồi.

Buổi trưa hôm ấy bọn Minh được ăn uống một bữa no nê, có thằng hỏi trung úy Thái:

– Ngày mai còn đi bỏ phiếu nữa không trung úy?

Trung úy Thái ba hoa vui vẻ, ông không cau có như mọi khi:

– Thôi chớ, làm ăn như vậy là đủ quá rồi.

– Tôi mong ngày nào cũng có bỏ phiếu một lần, đất nước chúng ta có nhờ…

Trung úy Thái đỡ:

– Này, không có nói tầm bậy tầm bạ nhé, coi chừng cái miệng anh, không như thằng ban sáng thì khổ thân đó.

Trung úy Thái chạy đi đâu một lát, ông trở lại:

– Tổng thống muốn nhờ các anh một việc nữa?

– Cái chi vậy trung úy?

– Đừng có hỏi nhiều. Một thằng lính lém lĩnh:

– Thi hành trước khiếu nại sau phải không trung úy?

– Ừ, thi hành trước khiếu nại sau.

– Mình lại ăn bánh mì thịt, ăn cơm gà, uống lave nữa phải không trung úy?

– Các anh ngoan ngoãn muốn gì cũng có, trong giai đoạn này, chúng ta bắt buộc phải chọn một vị lãnh đạo của chúng ta, đừng để cộng sản lọt vào ghế Tổng Thống là chúng ta khốn khổ. Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân đã nói chuyện với các anh nhiều, nhưng nhân dịp này tôi cũng cần nhắc lại với các anh một lần nữa, tình thế dầu sôi lửa bỏng, chúng ta là tiền đồn chống cộng của Thế Giới tự do, vậy chúng ta bắt buộc không để đất nước này lọt vào tay cộng sản, bằng mọi cách chúng ta phải giữ gìn cho đất nước này, chúng ta phải có một vị Tổng Thống thiệt tình chống Cộng, không ai hơn đương kim Tổng Thống Ngô đình Diệm.

– Dạ đúng đó trung úy.

Trung úy Thái ngó người lính mới nói, ông tiếp tục:

– Bằng mọi cách, chúng ta phải bầu cử cho đương kim tổng thống Ngô đình Diệm, ngoài tổng thống Ngô đình Diệm ra không ai đủ tư cách chống Cộng, không một nhân vật nào cương quyết, tài ba để ngăn chận bước tiến của Cộng Sản.

Một tiếng nói nhỏ bên cạnh Minh:

– Chúng mày xê ra cho tổng thống chống Cộng, lộn xộn chúng mày chết mẹ.

Minh phì cười, trung úy Thái ngừng lời nhìn xuống:

– Thằng nào cười? Minh khẽ nói:

– Thưa tôi cười.

– Tại sao anh cười?

– Dạ thưa… thằng đứng sau tôi… Minh nghĩ thế nào mình cũng bị Trung úy Thái phạt, nhưng Trung úy Thái hôm nay dễ dãi hơn mọi khi, ông hăm:

– Nếu là hôm khác tôi nhốt anh, nhưng hôm nay tôi tha thứ cho anh.

– Dạ cám ơn Trung úy.

Trung úy Thái lại thao thao bất tuyệt nói về những đức tính của Tổng Thống Ngô đình Diệm, cuối cùng ông nói:

– Bởi vậy tôi kêu gọi anh em đi bỏ phiếu thêm một lần nữa, nếu cần chúng ta đi bỏ phiếu hai ba lần.

– Dạ thưa trung úy càng nhiều càng tốt.

– Thôi chắc cũng không cần nhiều, chỉ một lần nữa mà thôi.

– Thưa trung úy lần này bỏ tự do hay như lần trước?

– Như lần trước không có gì thay đổi hết. Dạ thưa trung úy nên dặn lại mấy người này cho kỹ, tôi thì thông hiểu rồi nhưng mấy người này tôi nghi ngờ quá, bởi vì họ không mấy thông minh, họ chỉ quen ăn chớ không có tinh thần.

Bọn lính nhao nhao:

– Ê không có nói láo nói lếu nghe mày.

– Đâu có nói láo, tao nói thiệt đấy chớ, bộ chúng mày cũng có tinh thần chống Cộng như tao sao?

– Tụi tao thừa tinh thần chống Cộng.

– Vậy thì khỏi nói nữa.

Trung úy Thái vỗ tay bộp bộp:

– Thôi đừng cãi lộn nữa, bây giờ các anh cùng đi với tôi, tôi cũng xin báo cho các anh một tin mừng, ngày mai các anh được nghỉ nửa buổi.

– Hoan hô trung úy, hoan hô Tổng Thống.

Trung úy Thái cười:

– Thôi mà, tôi xin các anh, mình đi thôi.

Bọn lính nhao nhao lên xe. Trung úy Thái không quên dặn với:

– Nè, tôi dặn các anh đừng có nói năng gì lộn xộn nghe, ai có hỏi gài, thì nói sáng nay chưa bỏ phiếu, mãi bây giờ mới đi bỏ, nói vậy nhé.

– Thưa trung úy đừng lo, nghề của tụi tui mà, một cây đánh xì bịp! Trung úy Thái làm lơ như không nghe, đoàn quân xa chở lính đi bỏ phiếu xuống tận Chợ Lớn, một thằng lính nói:

– Nếu chưa đủ phiếu cho Tổng Thống đắc cử, mình còn đi tới Cà Mau bỏ phiếu nữa không chừng.

– Dám lắm.

Trung úy Thái hò hét lính tập họp thành từng tiểu đội, bọn lính đứng lộn xộn, ông nổi cáu:

– Có xếp hàng như buổi sáng hôm nay không, tụi mày muốn phá đám hả?

Đến mười phút sau bọn lính mới xếp hàng ngay ngắn, cuộc bỏ phiếu lại diễn ra như hồi sáng, một thằng lính láu lỉnh khi đi ngang mặt Trung úy Thái nói:

– Thưa Trung úy, có được thực tập như vậy là thành rồi Trung úy.

Trung úy Thái suỵt một cái, bọn bỏ phiếu xong, đứng phất phơ ngoài phòng phiếu chơi, một thằng than:

– Mình đi bỏ phiếu chán thấy mẹ, chẳng thấy bóng người đẹp nào hết trơn.

– Sức mấy, phòng phiếu này dành riêng cho lính mà, người ta đâu có cho dân chúng bỏ. Tổng thống Ngô đình Diệm lần này sẽ trúng cử một cách vẻ vang.

– Đó là cái chắc, miễn luận bàn.

– Nghe nói sau kỳ bỏ phiếu này, mỗi một thằng lính được lên mỗi cấp.

– Cái đó còn hỏi lại, tao không dám chắc, nhưng chắc có một điều những người như Trung tá quyền Tư Lệnh Không Quân và trung úy Thái nhà mình thì tương lai thấy sáng sủa ra.

Trung úy Thái thổi còi gọi lính về, ông ta coi bộ nhọc mệt nhưng mặt mũi hân hoan, ông vui vẻ:

– Thôi cám ơn anh em chúng ta về căn cứ.

Gã lính láu lỉnh hỏi:

– Thưa trung úy, thập phần hoàn hảo?

– Cám ơn, kết quả tốt.

– Thưa trung úy, tôi nghe nói, những người trung thành với cụ Ngô sẽ được cụ Ngô tưởng thưởng xứng đáng phải không?

– Đúng.

Gã lính láu lỉnh xoa tay một cách hân hoan:

– Vậy thì tôi có mòi rồi. Thằng đứng cạnh hỏi:

– Cái gì vậy?

– Tao sẽ được tưởng thưởng một cách xứng đáng.

– Mày có công trạng gì?

– Tao bỏ phiếu cho cụ Ngô, có lòng ngưỡng mộ cụ từ lâu, vậy không phải là công trạng thì là gì?

Trung úy Thái cũng biết bọn lính đứng nói xỏ nói xiên nhưng ông ta không thể bịt mồm được bọn chúng, ông chỉ biết mình hoàn thành nhiệm vụ được tốt đẹp, làm tròn bồn phận cấp trên giao phó là ông vui rồi.

Trời đã về chiều, trung úy Thái ra hiệu cho bọn lính:

– Thôi chúng ta lên xe.

Bọn lính ào ào lên xe, chúng chọc phá con gái dưới đường, hát hỏng ầm ĩ.

Lực lượng Hải thuyền (1960-1965)

dongsongxua.wordpress.com

Trần Lý

June 4, 2020dongsongxua

Post by Sơn râu 10 Apr 2025

Lực lượng Hải thuyền ban đầu là một Lực lượng bán quân sự không thuộc Quân đội Quốc Gia Việt Nam, nhưng theo thời gian đã trở thành một thành phần quan trọng trong Hải quân VNCH.. Tổ chức Giang đoàn, của quân đội Quốc gia VN, từ lúc còn trong Liên Hiệp Pháp đến khi chuyển sang  độc lập , không liên hệ đến.. hải thuyền..

“Hải sử Tuyển tập” (HSTT) đã dành một chương (trang 169-174) đề viết về Hải thuyền qua bài phỏng vấn với HQ ĐTá Nguyễn văn Thông, ‘người được coi là am hiểu nhất trong HQ về sự hình thành của Hải thuyền.

Wikipedia (Junk Force) trích nhiều đoạn viết của John Darrell Sherwood trong tập sách “War in the Shallows” , và bỏ một số chi tiết khi viết về Vùng 4 Hải trấn (Fourth Coastal District)..

Năm 1957, HQ Thiếu tá Quyền, Chỉ huy trưởng Căn cứ HQ Đà Nẵng đã nghĩ đến việc tuần phòng vùng biển phía Nam Vĩ tuyến 17, nên dùng ngân sách ‘tự trị’ mua 10 ghe đánh cá , dùng binh sĩ HQ tuần phòng ven biển.. Lực lượng này giải tán năm 1958 khi ông Quyền thuyên chuyển vế SaiGon

Đoàn viên hải thuyền vận hành ghe Kiên Giang tuần tiểu trên biển (Ảnh của LIFE).

  • Hải thuyền trước 1962:

Theo ĐTá Thông: “Duyên đoàn là hậu thân của các đội hải thuyền. Vào năm 1960 khi CSBV thành lập Mặt Trận GPMN, chúng bắt đầu phát động cuộc xâm lăng miền Nam và lợi dụng đường thủy để chuyển vận người và vũ khí vào Nam.. Lúc ấy Hải lực của chúng ta còn quá đơn sơ.. nói trắng ra là ta không có khả năng, phương tiện để kiểm soát toàn thể lãnh hải.. ‘’

(Đtá Thông đã nhận định thật chính xác : Trước khi xảy ra vụ Vũng Rô, CSBV đã dùng đường biển làm phương tiện chính để tiếp tế cho lực lượng của họ tại miền Nam.. Tài liệu CSBV ghi rõ : chỉ trong khoảng tháng Giêng 1964 đến tháng 2-1965, đoàn vận tải biển 125 đã chuyển 4000 tấn vũ khí vào Nam bằng 88 chuyến tàu (đoàn 125 có 3 tàu vỏ gỗ và 17 tàu vỏ sắt), tất cả đều trót lọt trừ 4 chuyến bị mắc cạn và đụng đá (đều rút êm), CSBV không kể các vụ tiếp tế cho các đơn vị tại Quảng Trị, Thừa Thiên bằng các loại thuyền nhỏ..!)

Lịch sử của Tổ chức Hải Thuyền VN được thật sự ghi chép vào tháng Tư năm 1960, khi Đô Đốc Harry Felt , Tư lệnh Quân lực Mỹ tại Khu vực Thái Bình Dương (CINCPAC) đua ra nhận xét Quân đội VNCH cần ngăn chặn việc CSBV đưa quân dụng và võ khí từ miền Bắc vào Nam qua đường biển..Một phần do khuyến cáo này nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cho lập Lực lượng bảo vệ duyên hải hay Duyên lực , gọi tạm lúc đó là Lực lượng Hải thuyền, trực thuộc Bộ Quốc Phòng (nhưng do HQ Chỉ huy qua hệ thống Duyên khu). Ý kiến tổ chức Hải thuyền như một đơn vị ‘bán quân sự’ rất phù hợp với quan niệm của Chính phủ Kennedy, tin rằng , các lực lượng tự vệ  là phương tiện tốt nhất chống lại cuộc chiến tranh nổi dậy của VC… Do đó Chính phủ Kennedy đã yểm trợ cho  Chương trình tổ chức một lực lượng ‘mới’ bằng chi viện một ngân khoản để đóng 501 thuyền tại các cơ sở đóng thuyền-bè đang có tại Việt Nam.. (kể cà HQ Công xưởng cùng  thuê các trại đóng thuyền tư nhân)

Duyên đội Hải thuyền 15 (ảnh của Naval History and Heritage Command).

Tháng 4 năm 1960, HQ HK đã gửi đến thử nghiệm tại Việt Nam 2 loại thuyền có khả năng  hoạt động trong các khu vực nước cạn, mỗi loại có hai chiếc, thử nghiệm trong khoảng tháng 12-1960 đến tháng 2 năm 1961  : một là swamp buggy 19 ft, và loại thứ nhì là một thuyền water-jet gắn máy ngoài thuyền kiểu thuyền ‘du lịch trên sông..(hai loại này là từ các Wizard của Pháp cải biến)..nhưng cả hai đều bị bỏ vì swamp buggy quá ồn ào do động cơ , còn water-jet  thì bị cây cỏ cuốn.. chân vịt !

Cuối năm 1961, HK đã ‘mua’ cho VNCH 125 chiếc thuyền ‘hơi’ Zodiac của Pháp (không thấy tài liệu VN viết về việc này).

Kế hoạch ban đầu do ĐTá Hồ Tấn Quyền đề nghị là Lực lượng duyên phòng sẽ cần có 420 ghe buồm, 63 ghe gắn máy, do 2200 nhân viên bán quân sự điều hành , các nhân viên này sẽ được tuyển mộ từ các ngư phủ địa phương, và lực lượng sẽ tuần tra ven biển từ bờ ra ngoài khơi đến 8 km…ĐTá Quyền hy vọng lực lượng Hải thuyền có thể trà trộn, cùng sinh hoạt với ngư dân, giữ kín nhiệm vụ đến khi tìm được các thuyền bè nội tuyến và xâm nhập để chặn bắt : Ông định tổ chức 21 đơn vị hải thuyền, mỗi đơn vị có 23 thuyền, ghe và chịu trách nhiệm tuần phòng khoảng 30 miles (48 km) bờ biển, liên lạc với một Trung tâm Canh phòng duyên hải bằng radio, vô tuyến : Lúc này  HQVN chia vùng biển thành 4 Hải trấn…

Nhân viên ‘bán quân sự’ thuộc Hải thuyền lúc này không có quân phục, chỉ trang phục áo quần ‘bà ba’ đen (có thể có thêm một mũ nồi đen) hay áo quân dân sự như ngư dân.. vừa đánh cá để sinh sống , lãnh lương và cung cấp tin tức tình báo cho chính quyền địa phương..Nhân viên còn được gọi là tuần viên.

Năm 1960, Duyên khu ‘Đà Nẵng có 6 đội hải thuyền gồm : Đội 11 (Cừa Việt); 12 (Thuận An); 13 (Tư Hiền); 14 (Hội An); 15 (Chu Lai ) và 16 (Cổ Lũy-Quảng Ngãi). Mỗi đội trang bị (trên lý thuyết) 16 ghe buồm (ghe mành)

Năm 1961 : Duyên khu Phú Quốc lập 7 đội : 41 (Hòn Khoai); 42 (An Thới-Thổ châu); 43 (Hòn Tre); 44 (Kiên An) 45 (Hà Tiên );  liên đội 46-47 (An Thới-Phú Quốc). Trang bị mỗi đội 18 ghe Kiên Giang

Năm 1962 : Duyên khu Vũng Tàu lập 7 đội: 31 (Hàm Tân); 32 (Bến Đình); 33 (Vàm Láng); liên đội 34-37 (Tiệm tôm- Ba Tri); 35 (Hưng Mỹ-Vĩnh Bình); 36 (Long Phú-Đại Ngãi )  Trang bị ghe di cư có chạy máy và buồm

Đến dầu năm 1963 Duyên khu Nha Trang lập 8 đội: 21 (Deji); 22 (Gambir); 23 (Sông Cầu; 24 (Tuy Hòa) ; 25 (Hòn Khói); 26 (Bình Ba); 27 (Ninh Chữ) và 28 (Phan Thiết)..

Các đoàn viên duyên đội hải thuyền 11 trỡ về bến sau chuyến công tác ngoài biển (ảnh của LIFE).

  • Hải thuyền 1962-1965:

Theo ĐTá Thông (HSTT): Ông phụ trách toàn bộ kế hoạch của Tư lệnh Quyền với sự phụ tá của các vị sĩ quan (cấp bực năm 1962) HQ Tr úy Hoàng Nam và HQ Tr úy Nguyễn Công Hội. Trung tâm huấn luyện đầu tiên đặt tại Sơn Chà (Đà Nẵng),

HSTT ghi : “ ..đoàn viên tuyển mộ đa số từ ngư phủ địa phương, căn bản học vấn coi như không có; nhưng đi biển rất giỏi, việc huấn luyện chú trọng đến cách sử dụng vũ khí , truyền tin, đội hình và nhất là kỹ thuật tình báo..’ Các đơn vị thuộc Vùng 1 ưu tiên lập năm 1960, Vùng 4 năm 1961 và sau đó Vùng 3 năm 1962 và sau cùng Vùng 4, năm 1963..” Do là lực lượng ‘bán quân sự nên phải tuyển mộ dân địa phương, tránh khỏi đi lính xa nhà mà vẫn được hành nghề cũ.. Đoàn viên không .. quân phục riêng, ăn mặc như ngư dân..”

Đến cuối năm 1963, lực lượng Hải thuyền tăng thành 632 chiến thuyền  và 3700 đoàn viên (dân sự).. Tổ chức phát triển nhanh dẫn theo các vấn đề trở ngại : việc tuyển mộ nhân viên khó khăn hơn : ngư phủ sinh sống bằng nghề cá thoải mái hơn gia nhập ‘tổ chức bán quân sự’ có phần ‘bó buộc’ hơn (!) mà không hưởng được phúc lợi thực tế. HQVN buộc phải quay sang tuyển mộ đoàn viên từ dân ‘di cư’ hay dân quê buộc đi quân dịch..Do không có khả năng đi biển (như ngư phủ).. tỷ lệ bỏ ngũ tăng cao ngay sau khi thử.. thực tế lên thuyền ! (trong thời gian 1963-64 , trung bình mỗi tháng có đến 106 nhân viên.. bỏ cuộc)..

Ngoài khả năng ‘chịu sóng gió’ , điều kiện sinh hoạt và lương bổng cũng khiến các ‘nhân viên mới tuyển mộ’ bỏ việc..

Một bản phúc trình của Vùng 4 Hải trấn (Tr tá Wesley Hoch và HQ Tr úy Trần Bình Sang), tháng 2-1963 ghi lại ; ”500 trong số 657 đoàn viên Hải thuyền thuộc Vùng.. không nhận được tiền lương .. từ 6 tháng (!), chưa ai được huấn luyện căn bản.. nhiều người cũng chưa được thử bắn súng và chưa bao giờ ..đi thuyền(!) .. Tinh thần không có và mỗi tuần 50 người.. bỏ cuộc?

Cũng trong năm 1963, phúc trình y tế về tình trạng sức khỏe của đoàn viên Hải thuyền tại Duyên đội 33 ghi nhận : 50 % nhân viên mang bệnh (những loại bệnh có thể trị được), đa số do vấn đề nước uống không vệ sinh.. vì thiếu thuốc khử trùng nước (viên iodine), chỉ 30 % được chích ngừa tetanus (uốn ván) và 15 % uống chloroquine đều đặn để ngừa sốt rét ..

Thuyền bằng gỗ đòi hỏi tu bổ thường xuyên, bảo trì tốn phí..thuyền bị hà = Teredo worms  (sâu biển) ăn và gỗ bị mục; mỗi ba tháng cần lên ụ, hơ lửa và trét dầu chai.. Phúc trình (5/1964) của HQVN và Ban Cố vấn ghi nhận 174 thuyển nằm ụ chờ sửa và 64 chiếc khác.. hết xài được..(Riêng Vùng 4 Hải trấn 98 trong 121 ghe cơ hữu phải ngưng hoạt động vì vấn đề bảo trì ). Vùng 4 Hải trấn phải tự lo, lập các xưởng chữa ghe tại vùng Sông Ông Đốc, thuê thợ từ nơi khác đến..nhưng sau đó thiếu thợ do bị CQ hăm dọa và lương thấp..Ghe hư hỏng đành đưa về Dương Đông (Phú Quốc) và Rạch Giá..

Doàn viên hải thuyền xâm trên ngực hai chữ Sát cộng (ảnh của LIFE).

Một trong những truyện đặc biệt của Hải thuyền là : Nhân viên của Lực lượng rất hãnh diện khi xâm trên ngực hai chữ Sát công , khi xâm bằng các phương pháp thô sơ, người được xâm có thể bị nhiễm trùng.. Cố vấn HQ đã tìm xin và đưa được hai máy xâm chạy điện tử Mỹ sang, giúp tránh nhiễm trùng, hợp vệ sinh nhưng đưa đến một thắc mắc tại Ủy ban Chuẩn chi quân viện  .. là dùng máy xâm  làm gì (?)  mà không lời giải thích!

Sinh hoạt của Duyên đội:

Vì là một lực lượng bán quân sự , nên tổ chức và sinh hoạt của mỗi Duyên đội khác nhau: tùy điều kiện địa phương, quân số cũng tùy theo việc tuyển mộ.. Căn cứ của Duyên đội.. thiết lập như một.. đồn Địa phương quân/ Nghĩa quân..

Mac Barrow (cố vấn tại Duyên đội 26 [Bình Ba] ghi lại: (www.warboats-org/yabuta.htm)

‘’ Bình Ba trước đây là một tiền đồn của Lính Lê dương Pháp.. bỏ lại cả một doanh trại đổ nát và trống trơn.. Căn cứ (!) có khoảng 40-50 ‘quân’ do 2 Sĩ quan cấp úy HQ chỉ huy (1 Tr úy và 1 Th úy), lực lương có chừng 10 thuyền gỗ Yabuta gắn máy; thuyền ghi là dài 36 ft, có 1 súng .30 va 1 súng .50..nhưng căn cứ có thêm vài súng trung liên BAR bộ binh.. Căn cứ, vì ở ngoài đảo, nên không sợ VC tấn công, khác hơn các duyên đội khác. Căn cứ chỉ có một máy phát điện nhỏ chạy diesel, cung cấp điện đủ cho một máy vô tuyến PRC-32 liên lạc với Bộ Chỉ huy Vùng tại Nha Trang. và 2-3 ngọn đèn ban đêm. Quanh doanh trại chỉ là rào kẽm gai..Tôi tìm cách đưa được từ Nha Trang về một tủ lạnh chạy bằng dầu hôi..để uống bia lạnh ! Toán cố vấn cũng chỉ có.. hai người (khi được bổ nhiệm về đây, chúng tôi được Naval Advisory Group, MACV cấp quần áo pyjama đen, mũ beret đen.. thêm quân phục bộ binh, giày bốt, một súng Colt 45 và một Carbin M1) ..

Quân lính thuộc Duyên đội dùng súng Garant (bán tự động) lên đạn, tôi tự xoay trở mang được về Bình Ba thêm vài khẩu AR-15 (không số súng ), 2 khẩu .30 và 1 M-79.. rồi vài thùng mìn.. Quá đủ để phòng thủ (?) Căn cứ..Tuy nhiên khi Căn cứ HQ Cam Ranh bắt đầu được xây dựng.. Nhờ ngoại giao riêng nên chúng tôi có thêm vài thùng lựu đạn và nhất là..bia (ngoài cấp số)..

Các đoàn viên được phát thêm (mỗi khi tôi xin được) Ration C, thịt hộp .. cũng ngoài .. tiêu chuẩn của lực lượng ‘ bán quân sự’ không quân số này…”

Đoàn viên hải thuyền và cố vấn hải quân Hoa Kỳ (ảnh của LIFE).

Cố vấn và đoàn viên khi tuần tra, ăn cơm và cá, tôm mực.. nướng lò ngay trên thuyền, về bờ cũng cơm, cá.. có khi có thịt gà vịt, có khi có cả chó và ..rùa!

(Ghi thêm : lương tuần viên .. 300 đồng/tháng. Hối đoái chính thức 1 đô la Mỹ=35 đồng)

  • Hải thuyền.. chiến đấu

Phương tiện eo hẹp, đoàn viên Hải thuyền phải chiến đấu trong các điều kiện khó khăn Thuyền máy của CSBV chạy mau hơn và võ trang mạnh hơn ghe buồm Hải thuyền ! Thuyền vỏ gỗ không đủ bảo vệ cho đoàn viên chống đạn súng máy CQ.. Khi vào nhánh sông nhỏ gần cửa biển, ghe buồm không đuổi kịp.. xuồng máy CQ..

Tuy nhiên, Lực lượng Hải thuyền cũng tạo thành tích đáng kể; Năm 1963, phối hợp cùng Hải lực VNCH, khám xét được 127 ngàn ghe cá, kiểm tra 353 ngàn ngư phủ..Riêng Hải thuyền bắt giữ 2500 người tình nghi..

Đụng độ đầu tiên giữa Hải thuyền và thuyền CSBV diễn ra ngày 9 tháng 7 năm 1961: Duyên đội Hải thuyền 11 tại Cửa Việt đã chặn đánh đoàn 20 chiếc ghe BV vượt Vĩ tuyến và bắt giữ được một ghe đánh cá võ trang BV.

Theo thống kê quân số đầu năm 1965, Lực lượng có 526 chiến thuyền, phân bố trong 28 duyên đoàn hoạt động dọc duyên hải VNCH, trong đó có 81 ghe chủ lực, 90 ghe buồm gắn máy, 121 ghe máy (không buồm) và 234 ghe buồm (không máy)

Ghe buồm (không máy) là ‘gánh nặng’ cho Lực lượng vì chậm và không hữu hiệu! Ban Cố vấn HK (từ đầu năm 1964) đã khuyến cáo cần thay thế hết loại ghe này: 134 ghe.. bị loại bỏ trong năm 1965, số còn lại sẽ bỏ hết trong 1966..

Một số hoạt động của Hải thuyền được các Cố vấn ghi lại:

-Tháng 7 năm 1963, Duyên đội 33 (Vàm Láng) đột kích vào cơ sở kinh tài của CQ, của Đại đội 306/ TĐ 300 CS Địa phương tại rạch Vàm Sát (Lý Nhơn), phá hủy các trạm thu thuế..CQ rút sâu vào rạch Đồng Tranh..

-19 tháng 8-1963: Tr úy Dallas Shawkey (cố vấn) và Tr Úy Thịnh (đối tác) tại Vùng 2 Hải trấn ghi lại, ông và 8 thuyền hải hành đi Vĩnh Hy, do tin mật báo có  khoảng 25 CQ đang hoạt động tại làng. Ghe chủ lực bắn 12 quả 57 ly vào làng, các chiến thuyền khác bắn  thêm bằng súng đại liên .30 ly.. Khi lực lượng hải thuyền đổ bộ đã bị CQ bắn trả bằng súng M1.. Shawkey bị thương do bắn tỉa Hải thuyền rút vì không nhận định được mục tiêu và PGM (Tuần duyên hạm) Nam Du (HQ-607) đã pháo vào các vị trí nghi ngờ..Các đụng độ loại này cho thấy Hải thuyền chỉ hữu hiệu trong công tác tuần tra và chưa thể là một lực lương .. bộ chiến !

-13 tháng 12-1964: tại Duyên đội 33, Hải thuyền tiếp cứu cho đồn Nghĩa quân Hoa Thuận (Vĩnh Bình) bị CQ tấn công và bao vây. Ghe chủ lực yểm trợ bằng cối 60.. Tr úy Norman Mosher (cố vấn) cùng 12 nhân viên đổ bộ tấn công cạnh sườn CQ bằng võ khí cơ hữu.. CQ rút lui  bỏ chạy!

Ghe của duyên đội 33 hải thuyền (ảnh của LIFE).

-12 tháng Giêng 1965: Hải thuyền chuyển vận 2 Đại đội bộ binh đổ bộ lên đảo Long Sơn (Phước Tuy). Toán tiền phương có nhiệm vụ an ninh bãi cho TQLCVN đổ bộ .. Mosher và SQ Chỉ huy Hải thuyền đã giúp cuộc đổ bộ hoàn thành và bắt giữ được toán cán bộ thu thuế, hậu cần của CQ..

-Trận đánh nổi tiếng nhất của Lực lượng Hải thuyền là trận tấn công vào Mật khu Bãi ngao (Ba tri) đầu năm 1965, của Liên đội hải thuyền 34-37 (Tiệm Tôm) phối hợp cùng Địa phương quân..(Trận đánh được ghi lại rất chi tiết trong HSTT trang 187-197) HQ Trung úy Nguyễn Đức Bổng , Liên đội trưởng đã hy sinh trong trận này và Tên Ông được đặt cho Trợ-Chiến hạm HQ-231.

  • Tổ chức Duyên đoàn:

Tháng 6 năm 1965, Lực lượng Hải thuyền gồm 28 đội, quân số trên 3000 đoàn viên, sát nhập vào HQVNCH.. đội Hải thuyền đổi tên thành Duyên đoàn, danh số và nơi đồn trú của các đơn vị không thay đổi. Các tuần viên thành chiến binh HQ hưởng quyền lợi như các quân nhân HQ..

Việc cải tuyển được thực hiện:

  • Thuyền trưởng tương đương  với cấp bậc Hạ sĩ nhất
  • Tuần viên hạng nhất  tương đương với Hạ sĩ
  • Tuần viên hạng nhì = Binh nhất hay Thủy thủ nhất

(Xin xem bài viết riêng về Duyên đoàn)

  • Các loại chiến thuyền…

Đtá Thông cho biết;  giai đoạn đầu 1960-61: Tại Vùng Đà nẵng chúng tôi dùng loại ghe hai buồm gọi là ghe Mành..  sau này tại Vùng Phú Quốc chúng tôi dùng loại ghe Kiên Giang, đuôi vểnh lên hệt như những ghe ở vùng này. Tại Vũng Tàu và các Vùng Phan Thiết và Phan Rí chúng tôi sử dụng một số ghe buồm, có gắn máy, gọi là ghe Di Cư. những ghe này có một cột buồm như những ghe ở Vịnh Bắc Việt, do những người Trung Hoa lánh nạn CS năm 1949, sau đó lại di cư vào miền Nam năm 1954..

  • Xuồng Đồng Nai : Hầu như không có tài liệu nào của HQVNCH nhắc đến loại xuồng này! ( Bài duy nhất là “Lịch sử các chiến hạm và chiến đỉnh HQVNCH của Huỳnh kim Chiến trên www.denhihocap.com/ds2009 và cũng chỉ ghi “Xuồng đồng nai 33 chiếc” cùng 1 hình chụp

Xuồng Đồng Nai hay Swimmer Support Boat (SSB) có lẽ là chương trình trợ giúp đầu tiên của Chính Phủ Kennedy dành cho Hải thuyền.. Loại xuồng 14 ft này đã được Hoa Kỳ giúp đóng 20 chiếc ngay từ tháng 11-1960.

Cuối năm 1961 Hoa Kỳ đã cung cấp cho VN 222 chiếc SSB, sườn xuồng bằng ván styrofoam, bọc trong 2 lớp nhựa fiberglass. Dài 14.6 ft, ngang 6.10 ft trọng tải 400 tấn vận tốc 16 knots. Máy diesel 40 mã lực

Ghe buồm Di Cư của một đội hải thuyền tuần tiểu dọc theo bờ biển (ảnh của National Geographic)

  • Ghe.. Di cư và ghe Kiên Giang:

Số ghe Kiên Giang đến 1966 chì còn .. 6 chiếc sử dụng trong HQVN (?)

Các ghe này được đánh số: HQ 11104; 11112; 11121; 11173; 11237, 11238.

Gốc của ghe là từ Phú Quốc (An Thớị), loại ghe đánh cá vỏ gỗ do các thợ chuyên nghiệp đóng bằng tay qua những công đoạn rất tỉ mỉ.

Ghe di cư dùng buồm phế thải hết trong năm 1962..

Một số ghe này do các ‘nhân viên hải thuyền (bảo an) gốc công giáo di cư sử dụng tại vùng Vũng Tàu, Bà rịa..

  • Ghe Chủ lực: (Command junk): xem thêm trong phần ghi chú

HK đã tài trợ đóng 46 ghe này đánh số từ HQ 10000 đến 100045

Dài 16 m (54 ft), trang bị 1 đại liên .50 và 2 đại liên .30; vận tốc đến 12 mph. Động cơ Gray diesel, 3 cylinder. Có ghe còn trang bị thêm 1 cối 60

Theo Đtá Thông, ghe này lớn hơn ghe Yabuta, khi đi hành quân, Sĩ quan thâm niên thường ở trên ghe này, nên gọi là ‘command junk’

  • Ghe ferro-cement (còn gọi là ferro-concrete ‘Coastal Raiders’)

HQ VNCH gọi là Duyên kích đỉnh

Theo quân số HQ: 71 chiếc từ HQ 3200 đến 3270

Trong chiến tranh VN, HK đã thiết kế và cho chế tạo loại ghe này để thay loại ghe gỗ 31 ft của Hải Thuyền VN. Ghe ferrocement dùng sườn bằng ống thép hay thanh thép chịu lực cho nhiều lớp lưới đan, tạo thành vỏ thuyền, và xi măng được độ vào khung dựng sẵn. Khoảng 70 ghe đã được chế tạo tại VN.. Ghe dài 65 ft. Theo chuyên viên thiết kế Eric Baitis thì ghe ferrocement có nhiều ưu điểm :không ngấm nước, không cháy, không bị nước mặn ăn mòn, công lao động rẻ , không đòi hỏi tay nghề chuyên nghiệp, và ngay thời điểm này VN đang có xi măng thặng dư tại Đà Nẵng và việc lập xưởng đóng thuyền ferrocement tại đây ít tốn kém. Loại ghe này dựa theo kinh nghiệm của Phòng Nghiên cứu HQ HK đã thử chế tạo 3 chiếc làm tại một cơ xưởng tại Nam Hàn năm 1961: loại ghe CRABS (Cement Riverine Assault Boats) được đánh giá là đáp ứng nhu cầu hành quân.

Theo TTHS (trang 172): Ghe ferrocement do HQ Công Xưởng Sài Gòn đóng, vỏ bằng lưới thép, gắn vào sườn ghe bằng gỗ , ngoài trét xi măng (?) Trọng tài 31 tấn, dài 19.9 m, rộng 4.2 m gắn 2 động cơ diesel, 225 mã lực, vận tốc 6.5 knots, trang bị 1 đại liên .50, một súng cối 81, 1 máy truyền tin AN/PRC25, Nhân viên gồm 5 người.

Đtá Thông cho biết: Ghe ferrocement có cái hay là không dễ bị mục, nhưng xoay trở chậm chạp, ít chịu sóng vì mũi ghe khi gặp sóng ngược ngóc đầu lên rất khó. Do đó ghe này thường dùng để chuyên chở, liên lạc và ít dùng khi hành quân..

HQ Phạm Viết Khiết nhận xét về ghe ferrocement: “Khi tôi đi lãnh Duyên kích đỉnh 3207 ‘ferrocement’ tại HQ Công xưởng..phải chờ họ gắn la bàn, thử máy..’, tôi sợ.. tàu ciment mà đụng đá ngầm thì chìm rất nhanh,, tàu nặng và không nhảy sóng mà còn chúi mũi múc nước vào là khác..Tàu cũng có cửa kín nước để che hầm máy, nhưng chỉ là nắp gỗ, nước vào dễ dàng..”

Hải quân công xưởng đóng ghe Yabuta (ảnh của phái bộ cố vấn hải quân Hoa Kỳ).

  • Ghe Yabuta: có hai loại: vỏ gỗ sao và vỏ fiberglass

Còn gọi là Ghe Thiên Nga: 151 chiếc đánh số HQ 12000 đến 12150

Từ đầu năm 1965, HK đã tài trợ cho chương trình đóng 90 ghe Yabuta (tài khóa 65) cho Hải thuyền VNCH. Yabuta là tên một Kỹ sư Nhật đã làm việc tại Hải Quân Công Xưởng VNCH từ 1961 và là người thiết kế loại thuyền máy 57 ft này, vỏ  ghe bằng fiberglass (thủy tinh-sợi) HK cung cấp nguyên liệu và động cơ cho thuyền, phía VN chi trả tiền công cho thợ..(khi đóng ghe tại các cơ xưởng tư nhân)

Tổng số ghe được đóng cho HQVN là 151 chiếc

Theo TTHS (trang 172)  Ghe Yabuta vỏ gỗ dài 15m, rộng 3,3m; trọng tấn 13.9, tầm nước 0.9m, máy tàu là động cơ diesel 2 thì, sức đẩy 100 mã lực, tốc độ 6.5 mph.

Trang bị một máy vô tuyến AN/PRC 10, một đèn màu trên nóc mui và một đèn rọi. Vũ khí trang bị gồm 1 đại liên .30, 1 trung liên BAR, và các võ khí cá nhân như súng trường M1 và tiểu liên Thompson. Thủy thủ đoàn 10 người, có thể hoạt động xa bờ 5 miles..

HQ Phạm Viết Khiết  trong ‘Hải Quân Chiến binh, Từ bờ đến biển’ ghi lại các kinh nghiệm trên Yabuta như sau: ..’chúng tôi lái ghe Yabuta (ghe Thiên Nga) như dân dã cào, chẳng theo hải trình gì cả, cứ nhắm song song bờ biển mà chạy.Trên ghe Yabuta đâu có dụng cụ hải hành..nếu gặp VC thì cứ nã đạn vào nó..’

Trần Lý 5/2020

Ghi thêm :

Về các chiến tích của các Duyên đoàn (sau khi chuyển đổi) xin đọc

– “HQ/Đại tá Hồ Tấn Quyền với Lực Lượng Hải Thuyền “của Nguyễn văn Ơn trên: https://hon-viet.co.uk

Bài có ghi các trận đánh tại các Duyên đoàn 35, 11, 27, 16, 34-37 và 33

– Trận ‘Căn cứ Deji và Duyên đoàn 21’ của Trần đình Triết trên

https//www.denhihocap.com/ds2006/degi.htmi

– Tại Duyên đoàn 16 (Cổ Lũy) HQ Đại úy Nguyễn Ngọc Thông, hy sinh trong trận đột kích của CQ vào Căn cứ  đêm 07/08/1967.

Tập sách US Small Combatant của Norman Friedman ghi vài số liệu kỹ thuật về các Thuyền nhỏ do HQ HK cung cấp cho VNCH:

  • SSB (Swimmer Support Boat=Dong nai ) 14.6 ft x 6.10 ft ; Trọng tải 410. Vận tốc 40; vỏ foam gia cố .. fiberglass
  • Zodiac Mark 3: 15.4 x 4.4 ft.Trọng tải 320. V tốc 7; cao su bơm hơi bọc vải bên ngoài
  • Ghe (Sampan) 20 ft: 20.0 x 4.2 ft; Trọng tải 300. V tốc 7; Gỗ hay gia fiberglass gia cố.
  • Boston Whaler (Skimmer) 13.3 x 5.2; T/t 273; V tốc 9.4; Foam gia cố fiberglass

Số thuyền trong Kế hoạch Đặc biệt giao cho VN năm 1962:

210 chiếc SSB; Thuyền 524 chiếc cộng thêm 220 máy; 125 Thuyền Zodiac

12 thuyền vớt mìn (50 ft Utility Boat/Minesweeping Launch)

Ghe Chủ lực (Norman Friedman): ‘ghe Chủ lực hay 55-foot command junk do HQ Trung tá W.E Hanks . một cố vấn HQHK tại VN thiết kế dựa trên loại thuyền đánh cá và bắt sò huyết hoạt động trong Vịnh Chesapeake, trang bị động cơ American 6V71; 225 mã lực, chạy diesel, vận tốc 12 knots. Kích thước như sau 55.9 x 15.9 x 2.8 ft. Trọng tải 19 tons.. bỏ hết buồm (từ 1966)..Võ khí trang bị ca8n bản  : một 0.50 và một 0.30, tuy nhiên HQVN thay 0.50 bằng các 0,30 và sau đó ghe được  trang bị thêm một cối 69.

Tất cả có 46 chiếc được chế tạo.

Nguồn: Mr. TL chuyển

Chuyện Tình Thời Chinh Chiến

dongsongcu.wordpress.com

Posted on April 8, 2025

KỴ BINH VĂN CHI CHƯƠNG

Post by Sơn râu 10 Apr 2025

Ảnh minh hoạ

Rồi một hôm nào tim bốc men – Trên đường đơn lạnh gặp người quen – Tay không giấy bút buồn nghiêng ngữa – Nhắn hộ người xưa ta vẫn yên. (Thơ Trần Tuấn Kiệt) Đã hết nửa ngày phép rồi mà tôi chỉ loay hoay chẳng biết làm gì, đi đâu. Sáng sớm mai tôi phải lên đơn vị để Đại Úy Cẩm về nhà ăn Tết. Chiều 30 Tết sao mà buồn. Năm ngoái tôi không cô độc, nghĩa là còn có một “cô bồ” để làm tươi vui dịu mát lại đời lính mỗi khi về nhà. Tình yêu đến thật bất ngờ dù cô bồ ấy và tôi chẳng lạ gì nhau từ thuở tuổi còn tắm mưa. Và chuyện tình của hai đứa đã từng có lúc nồng nàn, tràn ngập yêu thương. Hai đứa là tình nhân đầu tiên của nhau.

Chuyện bắt đầu vào khoảng 2 tháng cuối khi tôi còn đeo “cá có đuôi”(cấp hiệu sinh viên sĩ quan) ở trường Thiết Giáp. Lúc ấy tôi gần thành “tinh” rồi, ra vào cổng Trường Bộ Binh dễ dàng. Cứ hai ba tối tôi lại “dù” về Sài Gòn chơi, bằng cách mượn chiếc mobylette cũ mèm của Hạ Sĩ Nhất Thành, thơ ký của chi đoàn khóa sinh. Anh Thành hiền lành tử tế. Anh chẳng biết gì về tôi nhiều hơn là cái tên trong danh sách, vậy mà anh tin tôi. Một bữa gặp anh quăng chiếc xe bên gốc cây phượng vỹ cạnh sân tập họp của chi đoàn khóa sinh, tôi hỏi chơi:

– Bữa nào mượn xe anh về Sài Gòn nghe?

Anh cười nói:

– Thiếu úy muốn đi lúc nào thì đi.

(Ngon chưa? Còn là “đeo cá” mà đã được gọi là thiếu úy rồi). Đi liền sợ gì. Một tối trong những lần dù đó khi đang ngồi tán dóc với thằng bạn trước nhà nó trên đường Võ Tánh, tôi thấy một cô gái lầm lủi đi về hướng nhà thờ Phú Nhuận, theo sau là một chàng trai. Nhận ra đó thằng Sáu Nổ đang theo tán tỉnh Kim Phú, cô hàng xóm, tôi quyết định làm kỳ đà cản mũi, phá chơi. Bước ra chặn đường tôi hỏi:

– Phú đi đâu đó? Tôi đưa đi được hôn?

Phú nhìn tôi mừng rỡ gật đầu. Tôi ngó Sáu Nổ như ngầm nói “quỡn không mậy, đi chỗ khác chơi” rồi sánh vai Phú bước đi. Sáu Nổ ráng nói theo mấy câu bâng quơ cho đỡ “quê” trước khi rút lui. Tôi nhìn lại chiếc mobylette đang bỏ dựa gốc cây dầu, chắt lưỡi thầm nghĩ “chắc không ai lấy đâu” rồi bước theo Phú. Trên đường đi tôi hỏi:

– Tối rồi mà Phú còn đi đâu dzậy?

Phú nói, giọng nhẹ như ru:

– Phú về thăm nhà, giờ trở lại nhà dì, ở đường Hồ Biểu Chánh.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Về thăm nhà? Bộ không còn ở nhà hả? Có chuyện gì dzậy?

Phú vẫn cúi đầu đi, giọng buồn buồn:

– Chuyện dài lắm. Bữa nào có rảnh Phú nói cho nghe.

Trời ơi! Có bữa nào nữa sao? Tim tôi hồi hộp vui mừng. Nhưng tôi cảm thấy mình vô tâm vô ý quá, không quan tâm chuyện của Phú, chỉ quan tâm đến chuyện “bữa nào khác”. Thật ra chuyện gì xảy ra ở nhà tôi cũng còn chưa biết, nói chi chuyện của cô hàng xóm. Từ khi đi Thủ Đức, lần nào được về phép tôi đều ghé nhà, nhưng ghé cho có, chỉ năm mười phút sau tôi dông mất.

Tôi quên ngay mọi thắc mắc vì lòng đang vui rộn rã. “Có bữa nào nữa sao? Thêm một lần nữa gặp Phú với tình cảnh êm ái dịu ngọt nầy chăng?” Tôi lặng im đi bên Phú lòng lâng lâng mơ mộng. Còn Phú vẫn cúi đầu lầm lủi đi. Qua khỏi một ngôi chùa trên một con đường nhỏ, Phú dừng lại nơi cuối đường. Bên kia đường Cách Mạng 1/11 là đường Hồ Biểu Chánh. Phú nói:

– Mình đứng đây nói chuyện đi. Dì Phú khó lắm. Thấy mình vầy dì đánh Phú chết.

“Trời ơi! Phú muốn nói chuyện với mình nữa à?” Tôi gặp lại Phú do tình cờ, nổi hứng tầm phào, ý định tán tỉnh cũng chưa bao giờ có. Một niềm vui khó tả, một nỗi sung sướng mơ hồ đến thật bất ngờ. Không biết từ thuở biết nhau đến giờ có lần nào tôi nói được hai câu với Phú chưa. Giờ biết chuyện gì mà nói. Chúng tôi đứng tựa vào tường của một biệt thự. Mùi dạ lý hương đâu đó thoang thoảng thơm. Qua ánh sáng lờ mờ từ trụ đèn đường, lay động xuyên tàn lá tôi thấy môi Phú tươi cười và đôi mắt sáng long lanh nhìn tôi. Một niềm mê đắm ngất ngây xâm chiếm lòng tôi làm tôi bất ngờ nắm lấy tay Phú và làm một chuyện mà bất cứ anh con trai nào, dù nhút nhát khù khờ đến đâu gặp tình huống này cũng làm. Đó là… hẹn đi xem ciné cuối tuần. Phú xích lại gần tôi, miệng vẫn tươi cười, mắt vẫn sáng long lanh, khẽ gật đầu. Tôi hỏi:

– Mình gặp ở đâu?

Phú nói:

– Ở nhà chứ đâu.

– Ở nhà? Sao vậy?

Tôi nhìn Phú, ngạc nhiên thầm hỏi. Rồi tự mình trả lời, “chắc Phú muốn cho cha mẹ mình biết, một cách gián tiếp, về sự quen biết gần gũi giữa nàng và tôi.” “Sợ gì chứ?” Phú đã 18 tuổi rồi. Còn tôi một hai tháng nữa sẽ là một sĩ quan, đủ sức lo liệu cho mình. Hơn nữa, hai gia đình chúng tôi chẳng xa lạ gì nhau. “Ờ! Sợ gì chứ mà không hẹn gặp ở nhà.”Tôi nói với Phú chừng 10 giờ sáng thứ bẩy tôi sẽ về tới.

– Khuya rồi. Anh về đi, để em về.

Trời ơi! Hai tiếng “anh”, “em” thốt lên từ miệng Phú sao mà ngọt ngào quá vậy! Đó là lần đầu tiên tôi nghe tiếng “em” ngọt ngào từ một người con gái như một người tình. Tôi nắm chặt bàn tay mềm mại của Phú, nói trong cơn mê ngây ngất:

– Không. Để anh đưa em về.

Phú không nói gì, chỉ nhìn tôi, miệng mỉm cười. Chúng tôi nắm chặt tay nhau băng qua đường, đi vào con đường nhỏ được chiếu sáng lờ mờ từ những ánh đèn đường và những biệt thự bên đường. Tôi muốn những giây phút đê mê này kéo dài mãi mãi thì Phú dừng lại, dịu dàng nói:

– Thôi anh về đi, tới rồi.

Tôi càng nắm tay nàng chặt hơn, không muốn rời.

– Lì quá à. Bộ anh muốn em bị đòn hả?

Phú nói vậy nhưng giọng không có ý nào trách móc. Khi tôi buông tay ra Phú nhẹ nhàng nói:

– Anh về đi. Đừng buồn. Mai mốt mình gặp nhau mà.

Phú chăm chú nhìn tôi, ánh mắt âu yếm, tay chạm nhẹ vào tay tôi rồi cương quyết quay đi. Tôi chôn chân đứng đó mãi. Phú vẫy tay hối thúc mấy lần không đuợc, bậm môi xua đuổi tôi mới chịu quay lưng đi.

Đêm ấy chiếc xe mobylette cà tàng của anh Thành chậm rãi đưa tôi về đồi Tăng Nhơn Phú, nhưng lòng tôi như bay lượn trên chín từng mây. Tôi ôn lại từ thái độ, cử chỉ của Phú. Chắc chắn Phú và tôi sẽ trở thành đôi tình nhân thôi, một cách bất ngờ, không thể nào mơ tưởng tới được.

7, 8 năm trước tôi và Phú biết nhau khi hai gia đình cùng dọn về nhà mới ở một dãy phố mới cất. Gia đình tôi đến trước gần tháng, ở căn bìa, nhà Phú căn kế. Lúc ấy Phú còn là một cô bé con mà tôi đã đến tuổi phá phách rồi. Cô có đôi mắt to, nhìn thẳng không chút nào biểu lộ sợ hãi. Ít khi nào cô ló mặt ra cửa trừ phi đi học, hoặc phải kêu gọi đứa em nào đó đang chơi ở ngoài. Cô có đông em nên sau lúc học về lúi húi trong nhà phụ giúp mẹ. Còn tôi đi học về là đi luông tuồng khắp xóm, bắn chim, hái (trộm) ổi hái xoài và chọc ghẹo người ta khi có dịp. Không biết sao mấy đứa con nít trong xóm không ưa ba của cô. Chắc tại bộ râu con kiến và cái vẻ hách xì xằng của ông. Gặp đứa nào ông cũng hỏi “phải mầy phá xe tao hôn” nên đứa nào cũng ghét. Tụi con nít ưa giả bộ cách nói năng đi đứng của ông để cười cợt với nhau. Sau cùng tụi nó khoái cái trò của tôi hơn cả: đeo kiếng làm bằng dây kẽm để “nhái” ba cô mang kiếng cận. Khi thấy tôi kéo cái mắt kiếng giả sề sệ xuống đầu mũi là chúng chịu quá, vỗ tay la vang rân. Nhiều lần Phú bắt gặp tôi làm trò đó nên cô ghét tôi ra mặt. Thấy vậy tôi càng làm tới. Canh lúc cô học về tôi đeo kiếng lên “biểu diễn” bên đường.Cô có muốn không thấy cũng không được. Có bữa tôi còn lấy lọ nghẹ kéo hàng râu con kiến lên mép nữa. “Giống hết cỡ”, tụi con nít la hét rùm trời. Phú mím môi nhìn tôi bằng đôi mắt oán hờn. Nhằm nhò gì chứ. Tôi bậm trợn mà, đã chọc phá thì phải chọc cho ghét, cho giận, giận xanh mặt mới thôi. Thế là tôi đã hủy hoại tất cả thiện cảm của cô đối với tôi từ những ngày đầu ở gần bên nhau…

Ngày dần qua, sự thân thiện (được hối lộ bằng ổi với xoài) giữa tôi và mấy đứa em của cô càng nhiều. Nhưng với cô thì không thay đổi. Chỉ ngó thấy tôi là cô quay mặt đi. Khi tôi đến tuổi biết mơ mộng thì cô đã trở thành một cô gái dậy thì xinh đẹp. Cô hay qua chơi với hai đứa em gái của tôi. Nhưng chưa cần thấy mặt, chỉ nghe tiếng tôi là cô đã vội về nhà. Em kế tôi có lần hỏi:

– Anh làm gì mà con Phú ghét anh dzữ dzậy, ghét tới không muốn thấy mặt luôn.

Tôi không biết trả lời sao. Cho tới lúc đó tôi không biết tôi đã trực tiếp nói được mấy câu với cô. Tôi biết tôi đã chọc cho cô giận bằng cách đem hình ảnh của ba cô ra làm hề với đám con nít. Có vậy thôi và chuyện đã xa xưa quá rồi. Sao mà giận dai vậy? Tôi tìm cách và bất ngờ gặp cô ngay trong nhà tôi. Tôi đứng chặn đường ra, hỏi:

– Sao Phú giận dzai dzậy?

Với vẻ mặt giận hờn, môi mím lại, cô nhìn tôi với đôi mắt sáng quắc rồi quay lưng đi vào trong. Tôi vẫn đứng chặn cửa chờ, không biết rằng cô ra cửa sau về nhà lâu rồi. Lần khác, tôi cố ý chạm mặt khi cô học về. Tôi vừa hỏi “Phú đi học về hả” thì cô bậm môi, quắc mắt nhìn tôi, quơ tay hù dọa, đuổi tôi như đuổi con nít. Sau đó cô còn “đạo diễn” cho bầy em đồng ca bài ca “làm quen”: “làm quen, con chó len keng, con chó thổi kèn, con chó làm quen,…làm quen…” Tôi giận lắm, nhủ lòng là dù có đụng mặt cũng không thèm ngó tới cô nữa.

Thời gian lại qua mau. Tôi theo lũ bạn cùng lứa, đã biết la cà quán xá, uống cà phê đen, nghe nhạc, lòng mơ mộng đến bóng dáng yêu kiều của ai đó. Lúc nầy tôi sử dụng thời gian để vòng quanh ngã tư Phú Nhuận nhiều hơn ở nhà. Tôi đã chú ý từ cô gái nầy đến cô gái khác, cặm cụi viết thư, gửi thư để rồi buồn khổ một mình. Mấy cô gái thật kỳ cục. Cô nào cũng muốn biết thư tôi viết gì trong đó nhưng không muốn nhận. Không muốn nhận nhưng mấy cô vẫn muốn tôi viết thư và gửi đến. Còn em tôi thì chán, có cho tiền cũng không thèm đưa thư giùm nữa. Lúc đó tôi ngu dại đâu biết tâm lý các cô. Dù không yêu nhưng các cô không bao muốn kẻ theo đuổi ngưng yêu mình. Những lúc đi về thỉnh thoảng tôi gặp Phú. Cô càng lớn càng đẹp, mặt trắng má hồng rực rỡ. Một lần chạm mặt, gần quá không thể nào tránh nên tôi mỉm cười thay lời chào hỏi. (Sợ bị “quê” vì quên mất lời thề nên không mở miệng.) Phú cũng vậy, gật đầu cười bẽn lẽn, ánh mắt dịu dàng hơn. Lúc đó là cơ hội cho tôi “làm quen” trở lại, nhưng (hỡi ôi!) tôi đã trót si mê một cô gái khác rồi.

Tôi cũng biết lúc ấy Phú cũng có nhiều chàng trai theo đuổi. Sáu Nổ là một. Khi nào tôi ra sau nhà thấy Sáu Nổ là biết có Phú ở đó, đang giặt hay phơi quần áo cho đám em. Sáu Nổ, khá cao ráo đẹp trai, biết tôi không phải là đối thủ – không có ý định theo đuổi Phú – nên khi nào gặp cũng chào hỏi đàng hoàng. Nhưng không những mình tôi mà cả đám nhỏ lối xóm, kể cả con gái đều không ưa anh chàng nầy. Nghe tên thì biết. Nó “nổ” điếc con ráy luôn. Chưa đi lính mà nó nổ từ liên thanh cho đến bom chùm. Nhà Sáu Nổ sau nhà Phú và tôi có mấy bước, nhưng cách một hàng rào kẽm không qua lại được. Nó thường lẩn quẩn quanh nhà chờ dịp. Như hôm nay nó không bỏ lỡ cơ hội, và đeo dai như đỉa. Không may cho nó. Nó “đeo dính” quá, miệng lại cười nói bô bô làm tôi ngứa mắt, ra tay làm “kỳ đà”. Và thật bất ngờ, tự nhiên cả Phú và tôi chuyện trò êm ái, rồi hẹn hò như mới hôm qua chúng tôi còn dịu dàng đối xử với nhau. Nhưng tôi không thể không thắc mắc. Sao tình cảm của Phú đối với tôi lại thay đổi trái ngược vậy? Lần chạm mặt nhau và dùng nụ cười thay lời chào hỏi sau cùng đến giờ chắc đã cả năm rồi. Nụ cười của tôi hôm ấy đẹp và có duyên quá chăng, nên làm cô nàng cảm mê mẩn? “Làm gì có chuyện đó. Đừng mơ, Tám ơi.” Nếu trong hai đứa có đứa phải “thầm thương trộm nhớ, đêm mơ ngày tưởng” thì đứa ấy phải là tôi. Phú đẹp, vóc dáng mảnh mai, da trắng tóc dài, mày thanh mắt sáng. Nụ cười tươi vui hiền hậu làm Phú thêm yêu kiều rạng rỡ. Nàng đẹp hơn hai đứa em gái kế được cha mẹ cho đi học ca nhạc để thành ca sĩ nữa. Vậy thì làm sao Phú đối tôi như thể là tình nhân từ lâu rồi? Không thể nói cô là một cô gái dễ dãi. Từ thuở mới lớn cô đã chững chạc, chưa bao giờ là một cô gái nhí nhảnh. Không biết ở trường học như thế nào chứ ở nhà tôi chẳng thấy cô có bạn bè, kể cả bạn gái. Ở lối xóm, cô chỉ qua lại nhà tôi với em gái tôi, nhưng rất chừng mực, ít cười đùa. Cô rất lặng lẽ, chỉ thoải mái nói cười, đùa giỡn với mấy đứa em thôi. Con trai trong xóm theo “tò vè” Phú tôi biết có hai đứa, Tám Lửa, nhà ở đầu ngõ, Sáu Nổ ở sau. Dĩ nhiên hai chàng nầy chẳng ưa nhau. Nghe nói Tám Lửa, con chủ đất, hăm rằng nếu Sáu Nổ bước qua đất nhà nó, nó sẽ “đục” cho phù mỏ. (Tên thật hai chàng nầy tôi không biết. Đám con nít đặt thêm biệt danh sau thứ tự trong nhà thôi). Tôi thật sự không biết cô có cảm tình, có trò chuyện hay trả lời câu nào với hai chàng nầy không. Chỉ biết có lúc cô nấn ná giả bộ làm gì đó trước cửa để cho Tám Lửa nói hết câu, hay chẫm rải trở quần áo phơi sau nhà để nghe Sáu Nổ nói. Chắc cô dù không ưa cũng thích nghe người ta tán tỉnh, như bao cô gái khác. Có mình tôi không tán tỉnh, hay đúng hơn cô đã không cho tôi cơ hội để nói. “Vậy sao tối nay Phú quá thân mật với mình vậy?” Hay là… “ghét của nào trời cho của ấy”? À! Coi bộ câu nầy trúng à nha. Tôi chẳng những không tán tỉnh, nói năng dịu ngọt mà còn chọc cho cô giận, làm cho cô ghét nữa. Thật vậy, tôi chỉ hơn hai anh kia ở chỗ chưa bị tụi con nít đặt thêm tên thôi. Tôi vốn đã đen, thêm 8 tháng “trui rèn” ở quân trường, nên trong bóng đêm hôm ấy chắc trông giống như cột nhà cháy, chỉ thua anh bẩy Chà có bộ răng trắng. Đã vậy lại còn bận bộ đồ trận cũ mèm sắp rách. Có cái sáng giá nhất, nếu cần phải chưng ra, thì do “giả dạng thường dân” để đi ra cổng tôi đã tháo ra khỏi áo đút túi quần mất rồi. Đó là “con cá có đuôi”.

Trên đường về quân trường biết bao câu hỏi, ý nghĩ bay lượn trong đầu tôi. Hay… “cô muốn trả thù mình cho bỏ ghét?” Chà! Cái nầy có lý nghen ta. “Ờ héng. Hẹn ở đâu không hẹn, sao lại hẹn ở nhà?” “Hẹn rồi cho “leo cây” chứ sao. Rồi ngó mặt kẻ bị cho “leo cây” coi “quê” như thế nào.” Tôi tự hỏi và trả lời một mình. “Thôi rồi. Chết chắc!” Tôi nghĩ tới cảnh cô về nhà nhưng chẳng ra cửa trước cửa sau gì hết, cứ ở lì trong nhà để bò lăn ra cười, bỏ mặc tôi đi tới đi lui chờ đợi. Chắc cô sẽ cho đứa em nào chờ ở cửa để ngó cái mặt đực ra của tôi. Không chừng khi tôi ra tới cửa sẽ có một dàn đồng ca đợi sẵn, hát lên bài “lỡ hẹn hò”. “Lỡ hẹn hò, thoa mỡ bò, cho leo cây… lỡ hẹn hò…” Dám lắm à. Cô đã từng cho tôi nghe bài “làm quen, con chó leng keng” rồi thì tại sao không thể có bài “cho leo cây” nầy? Ý nghĩ đó đưa tôi từ chín tầng mây xuống đất. Và nó cũng như một cây kim châm xì cái bong bóng mộng đẹp của tôi. Ngặt thiệt. Về mà bị cho “leo cây” thì quê xệ. Mấy đứa em Phú tha hồ la lớn: “muốn người ta người ta không muốn, xách cây dù đi xuống đi lên.” Không về lỡ Phú hẹn thật thì sao? “Không. Chết cũng phải về.” Tôi đúng là thứ mê gái mà.

Sáng thứ bẩy ấy tôi được đi phép. Từ xa, qua khoảnh sân rộng của xóm tôi thấy Phú đang chơi cùng với mấy đứa em trước cửa. Nàng mặc váy đầm bông, áo trắng, tay ngắn, vai phồng. Đang cười đùa Phú làm nghiêm quay mặt đi khi ngó thấy tôi. Cô em Phú reo lên:

– Anh Xê về phép hả? Bảnh quá ta.

Hôm nay tôi bảnh thiệt, trong bộ quân phục số 3 láng cón với mũ đen kỵ binh thay cho “kết-pi”. Tôi đứng lại định mở miệng chào thì Phú đã bậm môi lại, vẻ hù dọa như mọi lần. “Cái mặt thấy ghét.” Rồi cô nói thêm, với mấy đứa em:

– Vô nhà đi. Bữa nay chị chơi với mấy đứa nửa tiếng nữa thôi. Chị có chuyện phải đi.

À! Tôi hiểu rồi. Đằng nào Phú cũng phải về thăm nên hẹn ở nhà luôn. Lời Phú vừa rồi là lời hẹn khác. Khôn thiệt. Con gái khôn hơn con trai thiệt. Hèn chi cái cô bằng tuổi tôi kia cứ gọi tôi là “cu Chê cu Chê” miết, coi tôi như con nít. Đơn giản vậy thôi mà tôi nghĩ không ra, lại lo âu vơ vẩn suốt mấy ngày. “Vậy là hổng có màn đồng ca đồng kiết gì hết.” Tôi thở ra như trút đi được một gánh nặng, rồi chộn rộn đi ra đi vô. Vậy mà hai đứa em tôi chẳng chú ý gì, cứ lo ủi quần áo, chuẩn bị đi chơi. Lúc nầy ba tôi đi làm xa, hình như ở Pleiku, vài tháng mới về một lần, nên nhờ bà nội tôi coi chừng hai đứa. Nội tôi đi chợ chưa về. Chắc tụi nó nghĩ tôi mong nội về, đâu biết tôi đang vểnh tai chờ nghe tiếng Phú, còn mắt chăm chăm ngó đồng hồ mong thời gian qua mau. Chốc chốc tôi lại vào bàn rót nước uống. Cuộc hẹn hò đầu tiên sao mà hồi hộp quá chừng!

Tôi hết kiên nhẫn, định ra sân rồi đi trở vô để có thể nhìn vào nhà Phú thì nghe tiếng Phú dỗ ngọt mấy đứa em. Biết đến giờ nên tôi đứng dựa cột hàng hiên, giả bộ ngó đâu đâu. Phú ra cửa, mắt hơi liếc nhìn về phía tôi rồi bước đi. Chừng hơn phút sau tôi theo, đi lững thững mắt nhìn lên tàn cây, như tìm chim tìm trái gì ở đó. Ra đến đường Võ Di Nguy tôi thấy Phú đứng trước một tiệm tạp hóa nhìn tôi tươi cười. Tôi vẫy tay đón một chiếc taxi, mở cửa cho Phú lên. Ngay lúc ấy có người xô tôi ra, tay nắm váy Phú, miệng la lên:

“Chị hai hén… Anh Xê hén… Về “méc” má.”

Đó là thằng Mẫn, em trai Phú. Thiệt là cái thằng..Không biết nó ở đâu mà xuất hiện đúng lúc vậy, bắt “quả tang” tôi và chị nó hẹn hò. Tôi gỡ tay nó ra, lên xe, kêu ông tài xế chạy đi, rồi lo lắng hỏi Phú:

– Có sao hôn?

– Kệ nó. Cho nó méc. Hổng sợ.

Phú nắm tay tôi, miệng cười thật tươi, nói tiếp:

– Không sợ.

Tôi thở ra nhẹ nhỏm. Tôi chỉ sợ cho Phú thôi, quên mất rằng ba má nàng không thể đánh, phạt gì được bây giờ. Cũng chẳng sợ bị đuổi vì nàng đã đi khỏi nhà rồi. Tôi nhìn mặt Phú chăm chú. Niềm vui đang tràn ngập trên khuôn mặt rạng rỡ với đôi mắt lóng lánh sáng và môi hé cười. Và hình như tôi cảm thấy nàng có một nét gì khác nữa bên cạnh cái vẻ hiền lành, đằm thắm ấy. Một nét gì khác lạ lẩm mà tôi chưa rõ. Trên suốt quảng đường ra Sài Gòn hai đứa luôn nắm tay nhau, nhìn nhau cười hoài. Niềm vui của tình yêu thật ngọt ngào dù chỉ qua sự thố lộ đơn sơ ấy. Thỉnh thoảng Phú tựa đầu vào vai tôi, mái tóc đen mịn màng cọ vào má vào tai tôi tạo nên sự nhột nhạt rất là dễ chịu. Và trời ơi, lần đầu tiên tôi ngửi thấy một mùi hương con gái, thật lạ lùng, quyến rũ. Một mùi hương thoang thoảng lúc đây lúc đó làm tôi dụi mũi mãi vào mái tóc nàng kiếm tìm, lòng mê đắm ngất ngây.

Cuối chiều, khi tôi vừa về đến nhà thì má Phú bước qua ngay. Bà chất vấn, nhỏ tiếng nhưng cũng đủ biểu lộ sự giận dữ:

– Con đưa Phú đi đâu vậy? Con không thể làm như vậy được.

Tôi lần khân trả lời, mặt lạnh tanh:

– Con không đưa.

Giọng bà càng giận:

– Con không đưa? Hai đứa lên tắc xi đi mà còn chối nữa hả?

Tôi lừng khừng:

– Con không chối.

“Hai đứa cùng lên xe đi với nhau chứ không phải tôi đưa”, tôi nói thầm. Phú đã dặn tôi không nói gì hết. Cùng lắm là nói Phú đi nhờ xe, xuống ở Tân Định. Vậy thôi, không biết gì nữa. Thấy có vẻ không ép được tôi nói gì khác má Phú dùng đòn tình cảm. Bà vừa khóc vừa nói:

– Con như anh của Phú mà.Con đâu làm như vậy được.

Tôi yên lặng, suy nghĩ về những lời nói của bà. “Đâu làm như vậy được là sao? Không muốn cho tôi “cặp bồ” với Phú à?” “Đưa- đi- đâu, Không- được- làm- như-vậy là làm gì?” À! Tôi hiểu ý bà rồi. Bà sợ tôi đưa Phú đi nơi nào để làm chuyện… làm tầm bậy tầm bạ gì đó. Tôi đã có nghĩ đến chuyện của tôi và Phú bị phát giác và chỉ lo rằng bà gọi tôi qua bảo tôi xin ba tôi qua thưa chuyện. (Ba tôi hăm mẻ răng rằng nếu tôi học hành lôi thôi thì đừng mong ổng cưới vợ cho, mà tôi đã bỏ học đi lính). Nhưng giờ đây bà làm như tôi không đáng cặp bồ với con bà vậy. “Không sợ.” Tôi nhớ tới lời Phú nói. “Vậy thì cho bác biết luôn.” Khi bà tra vấn lần nữa tôi nói luôn rằng tôi và Phú chỉ đi xem ciné thôi. Bà lại tiếp tục:

– Đi ciné rồi đi đâu nữa? Không lẽ xem ciné từ sáng đến chiều tối?

Bà nài nỉ:

– Con đừng giấu bác. Tụi con đi đâu nữa?

– Tụi con chỉ xem ciné thôi. Hết rạp nầy sang rạp khác.

Không muốn bị tra hỏi nữa, tôi nói:

– Giờ con có hẹn. Xin lỗi bác, con phải đi.

Thật vậy. Ngày ấy hai đứa tôi chỉ xem phim thôi. Xem xong ở Casino Sài Gòn, chúng tôi nắm tay nhau qua Thanh Bạch. Ăn xong, cả hai ngược đường Lê Lợi đi một vòng thương xá Tax, ngắm nhìn những hàng hóa sang trọng lộng lẫy trong tủ kiếng, rồi chui vào Eden xem phim tiếp. Mục cuối cùng trong ngày là đến nước mía Viễn Đông ăn bò bía, bò khô của mấy chú chệt, và bánh rế bánh cay của anh Bẩy Chà. Ngày ấy tôi sung sướng như bao nhiêu chàng trai trẻ Sài Gòn khác, dắt đào đi “bát phố”, xem ciné và ăn quà vặt ở đường Lê Lợi, trung tâm Sài Gòn….

Những cuộc gặp gỡ hẹn hò giữa Phú và tôi không những của những tuần sau đó mà mãi đến sau nầy khi tôi từ đơn vị về cũng giông giống vậy thôi. Hai đứa không thể đưa nhau về nhà. Bạn bè còn trẻ cả, chẳng có đứa nào có nhà riêng để mượn chỗ nói chuyện riêng tư. Còn khách sạn, phòng ngủ không nằm trong ý nghĩ của tôi vì nó không xứng đáng cho Phú. Vả chăng lúc đó tôi cũng còn khù khờ lắm. Hôn nhau là hạnh phúc lớn nhất rồi. Có một lần, trong rạp ciné tay tôi “lỡ” chạm vào người nàng, ở chỗ không nên (mà đáng) chạm. Phú giật mình phủi tay tôi ra, “xực” liền:

– Giữa ban ngày ban mặt mà làm dzậy… anh coi có được hôn?

Nàng còn dí ngón tay vào trán tôi, nói:

– Hổng được làm dzậy nữa à nghen.

Tôi quê quá, làm “mặt nghiêm mà buồn”, khoanh tay ngồi ngó thẳng.

– Đụng có chút xi..íu mà làm gì dzữ dzậy. Trong rạp hát tối thui mà ban ngày ban mặt gì? Ừ. Ban ngày ban mặt không “đụng” được thì bữa nào tối “đụng” thử coi có la nữa không.”

Tôi lầu bầu một mình. Lát sau, Phú ngả đầu vào vai tôi. Làm bộ giận, tôi tránh ra. Nhưng không quá lần thứ hai, tôi nghiêng vai để má nàng chạm vào má tôi. Những giọt nước mắt nóng từ má nàng lăn qua má tôi.

– Đời mình khổ quá rồi, mình đừng bỏ nhau nghen anh. Nàng thút thít khóc.

Trời đất! Gì mà “đời mình khổ” khi hai đứa mới cặp bồ chưa được hai tháng và đang mê man trong niềm vui tình đầu? “Đời mình” gì mà khi tôi chỉ hơn 20, nàng chỉ có 18? Nhưng rồi tôi hiểu. Nàng đã biết anh em tôi lớn lên bên mấy bà dì ghẻ, hiện tại là bà thứ ba. Dì ghẻ không thương con chồng thì chẳng có gì đáng nói, nhưng bà này chẳng những không chăm sóc mà lại còn keo kiệt khi ba tôi đi làm xa. Bà chỉ lo cơm nước cho anh em chúng tôi thôi, những chuyện khác anh em tôi tự mình lo liệu. Khi nào ba tôi về nhà bà còn nói ra nói vô làm cho tôi bị đòn nữa. Còn với nàng, những chuyện xảy ra từ hơn nửa năm qua thật quá phũ phàng, quá sức tưởng tượng, quá sức chịu đựng cho một cô gái nhỏ. Nó không những chấm dứt cuộc sống êm đềm trong gia đình, làm rụi tàn những giấc mơ của tuổi thanh xuân của nàng mà còn cho nàng biết những cảnh đời chua ngoa, xảo trá, lừa lọc, những thế thái nhân tình mà nàng chỉ biết trên màn ảnh, sân khấu. Phú đã kể cho tôi nghe lý do tại sao nàng phải rời nhà đi ngay lần đầu tiên chúng tôi hò hẹn, trong rạp ciné.

——-

Một buổi sáng nào đó, ba Phú, người có râu con kiến và mang kính cận, định làm gì đó với Phú. Nàng phản đối. Ông ta đã tàn nhẫn cho Phú biết rằng nàng không phải là con ruột ông ta. Phú hỏi mẹ chỉ làm cho mẹ bị ông kia nổi cơn điên vì chuyện cũ, dở thói vũ phu đánh đập, mắng chửi. Phú bỏ nhà về với bà ngoại ở Bình Dương. Dù ngoại cố giấu nhưng nàng cũng biết chút ít về chuyện cũ của mẹ. Nàng lân la dò hỏi tung tích của cha. Qua tin tức những người bà con xa của cha ruột, cuối cùng nàng tìm đến ông. Ông nhận ra nàng ngay dù ngày ông xa mẹ nàng, nàng chỉ là một bào thai mới tượng. Nàng giống mẹ ngày xưa như đúc, lúc cha mẹ nàng xa nhau. Thế là nàng ở lại với cha cùng với các anh chị em cùng cha khác mẹ trong một tòa nhà xưa rộng lớn ở gần cuối đường Trần Hưng Đạo, cạnh một dãy phố của cha. Tuy nhiên Phú không cảm thấy thoải mái khi sống trong khung cảnh giàu sang ấy. Nàng sống xa lạ trong một thế giới khác, một nền văn hóa khác. Những người thân lại chẳng khác gì người xa lạ. Cha nàng đã trở lại “xì thẩu”, ngượng nghịu nói tiếng Việt với nàng. Các chị cũng vậy. Mấy chị thường nói rằng “giờ cha đã già rồi, công chuyện làm ăn sút kém, mọi thứ anh chị em phải lo toan chống đỡ”. Họ nói bằng thứ tiếng Việt khó khăn, cách diễn tả ngọng nghịu, cứng ngắt, thô lổ, gây cảm tưởng rằng Phú nhận cha để ăn gia tài. “Gặp được cha ruột chỉ vui mừng chút chút thôi. Làm con gái trong nhà ấy đã thấp kém rồi, huống chi là con rơi rớt như em. Rồi buồn quá, em tủi thân quá. Em đau lòng nghĩ mình thật vô phước khi được sinh ra,” Phú nói, nước mắt tuôn tràn ướt má tôi.

Cha Phú từ Sài Gòn về quê đám giỗ họ, gặp mẹ Phú là mê ngay. Ông ở lại dùng tiền bạc mua chuộc gia đình ngoại, dùng lối sống sang giàu quyến rũ mẹ Phú, dù ông đã có gia đình và lớn tuổi hơn nhiều. Trong khi đó người cha ghẻ hiện giờ cũng dùng quyền lực xin cưới. Không xin cưới được nhưng cha Phú không chịu từ bỏ, nhất là khi biết mẹ nàng đã mang thai. Ông tìm cách đưa mẹ Phú về Sài Gòn. Đối với ông, người có nhiều máu Tàu hơn trong huyết quản, thì lấy vợ hai, vợ ba là điều bình thường. Vả chăng xã hội đương thời cũng chấp nhận điều đó. Nhưng người cha ghẻ quyết tâm ngăn cản bằng mọi cách. “Sợ xấu hổ với xóm làng vì bụng má ngày càng lớn, ngoại phải gả,” Phú nói dì nàng kể cho nghe vậy. Cha nàng từ đấy không về quê nữa. Khi sống với cha, Phú biết ông còn mấy dòng con nữa. Có đám còn nhỏ tuổi hơn nàng nhiều.

“Dù cha có đi đi về về tụi nó cũng đủ mẹ đủ cha. Chỉ có em…” Tủi thân, Phú thút thít khóc. Tôi ôm siết đầu nàng vào má tôi. Thương em quá, nước mắt tôi cũng ràn rụa.

Sống ở nhà cha gần 2 tháng nhưng chưa bao giờ Phú có cảm giác sống ở nhà mình. Ánh mắt các chị em có bớt đi vẻ soi mói châm chít, lời nói cử chỉ có ít đi vẻ cọc cằn, nhưng sự thân mật của Phú với mấy chị không nảy nở được. Có khoảng cách nào đó, khi lập lờ khi lộ liễu. Mấy chị ngày này ngày kia bàn nhau rằng Phú đã đủ tuổi lấy chồng rồi, nên liệu sớm, kẻo muộn. Cho đến một ngày chính cha Phú nói sẽ gả nàng cho con một thương gia nào ở Chợ Lớn, Phú sợ hãi bỏ đi. Phú đến nhà dì, em kế của mẹ, với cái túi vải đựng quần áo cũ từ ngày rời nhà mẹ. Sau nửa năm, những niềm đau thương và nỗi khổ tâm lắng đi, Phú về thăm mẹ và mấy đứa em, quên đi lời tự hứa với lòng, quên đi nỗi niềm cay đắng.

“Má với em và mấy đứa nhỏ ôm nhau khóc một buổi. Tội nghiệp mấy đứa nhỏ sanh ra ở đây, cứ ôm chân em khóc hoài, không cho đi. Em hứa một hai tuần em về một lần tụi nó mới chịu buông ra.”

Rồi Phú nắm chặt tay tôi nói:

– Nhờ vậy tụi mình mới gặp nhau lại.

Hết buồn tôi bắt đầu bông lơn:

– Thấy chưa! Hồi đó anh thương em muốn chê..ết mà em còn làm bộ… Giờ đuổi nữa đi…

Phú háy mắt ngó tôi, nói:

– Xí! Ai biểu anh chọc em chi! Người gì đâu mặt thấy ghét.

Tôi chọc thêm:

– Theo tò tò như thằng Sáu Nổ em thương chắc?

Phú cười, nói:

– Ngộ héng. Sáu Nổ theo tò tò vậy mà em không ưa. Còn người gì đâu nhảy ra chận đường đại vậy mà em..

Tôi cười hớn hở:

– Em thương… Phải không? Sao không nói luôn đi?

Tôi tiếp, một câu chắc có trăm ngàn chàng trai đã nói:

– Người ta nói “hữu dzuyên thiên lý năng tương ngộ… vô dzuyên…

Phú ngắt lời tôi, quay mặt đi:

– Duyên gì? Nợ anh thì có…

Tôi nâng cầm Phú quay lại, nói

– Cho coi cái mặt vợ hụt của thằng tửng chút coi.

Rồi hun trộm lên môi nàng. Phú xô ra, dơ tay dọa tát, nói:

– Vô dzuyên dzậy mà cũng nói được. Anh muốn hôn? Bây giờ cũng chưa muộn mà… Em về nhà cha ngay cho coi.

Tôi bụm miệng nàng lại, vội vàng xin lỗi. Tính tôi hay giởn nhây. Cũng may ngậm miệng lại kịp thời, nếu không sẽ là “xin lỗi vợ thằng tửng.” Không giận nhau lâu được hai đứa tựa đầu nhau nhìn lên màn ảnh. Nhìn màn ảnh được một chút hai đứa quay lại ngó nhau. Và hai đứa hôn nhau say đắm. Tôi chẳng nói lời tán tỉnh yêu thương, còn Phú chẳng hỏi tại sao, hai đứa cứ lặng lẽ hôn nhau. Chuyện ấy được coi như là chuyện tự nhiên phải đến thôi. Cũng như chúng tôi được sinh ra để sống với nhau thôi.

Sau đó chúng tôi vẫn hẹn nhau cuối tuần, dĩ nhiên bắt đầu từ nhà. Dù Phú chưa được đi học lại, dì Phú cũng chỉ cho nàng về thăm nhà mỗi tuần một ngày. Ngày đó ông cha ghẻ tệ hại kia biến đi đâu mất. Ngày đó cũng là ngày thứ bẩy, ngày tôi đi phép. Lần nào tôi về, má Phú cũng bước qua liền, cũng khóc lóc năn nỉ tôi rằng “con đừng làm vậy; làm vậy coi không được…” Bà không dám làm lớn chuyện, sợ lối xóm biết. Nhưng tôi và Phú đã định với nhau rồi, tôi không làm căng thẳng, cũng không trả lời. Phú đã dặn “Cứ nói, má muốn gì cứ về nói với em đi”. Phú kể cho tôi nghe rằng má Phú nói gì thì nói, Phú không bao giờ mở miệng, nói nhiều quá thì bỏ đi chỗ khác. Dần dà má Phú đổi lời năn nỉ tôi thành dặn dò:

– Con dắt Phú đi ciné rồi về liền nghen con. Đừng về tối, bác lo, bác chờ.

Nhìn ánh mắt van lơn của bác tôi không nỡ lặng thinh nên nói:

– Tụi con chỉ đi xem ciné thôi, không đi đâu nữa đâu. Bác đừng lo.

Tôi xưng con với má Phú chắc từ hồi mới đến đây. Thằng Mẫn trưa trưa thường lén nhà ra chơi với con nít trong xóm. Giữ nó trong nhà không được bác nhờ tôi ngó chừng ở bên ngoài. Sau nầy khi tôi biết chạy xe bác hay nhờ tôi đưa đón hai đứa em gái của Phú. Bác cũng thường hay qua nhà coi anh em tôi ăn uống thế nào khi dì tôi đi thăm ba tôi, có khi cả chục ngày nửa tháng. Nhiều lần bác mang thức ăn qua vì em tôi chỉ biết luộc trứng và bắp cải. Trong xóm chỉ có gia đình tôi chơi thân với gia đình Phú mà thôi, và tình thân ấy tăng theo thời gian. Nhưng cảm tình giữa Phú và tôi lúc ấy không đổi. Nhiều lần tôi ngồi trong nhà Phú cả buổi để nghe hai em Phú tập ca. Phú không ra phòng khách. Nếu phải bước ra, Phú làm như không nhìn thấy tôi, không biết có tôi trên đời. Tôi gọi má Phú bằng bác là gọi theo chồng, chứ thật ra bác còn nhỏ tuổi hơn ba tôi, chắc chưa tới 40. Sanh đẻ nhiều có làm bác già đi nhưng nét đẹp vẫn còn phảng phất. Trừ khi đi chợ bác hầu như không ra khỏi nhà, nơi bác và Phú thu vén mọi thứ, cố gắng giữ bộ mặt giàu có, sang trọng của gia đình. Điều này được thể hiện bởi ông chồng, bằng thái độ hách dịch với lối xóm, sự ăn xài và nhất là qua chiếc Renault, rồi chiếc Simca nhỏ xíu – mục tiêu phá phách của đám con nít.

Nhìn bác ra khỏi nhà tôi không khỏi phân vân thầm hỏi “sao bác có thể chịu đựng được người chồng ấy, và sống đời lủi thủi trong nhà.” Câu trả lời cuối cùng là lòng thương con. Chắc vậy. Đã sống với nhau có đến 7,8 đứa con bà không thể làm gì khác được. Biết được điều ấy, mỗi lần nghĩ tới chuyện bác ngăn cản tôi không giận nữa. Những gì bác nói với tôi dù đúng hay sai, dù nặng hay nhẹ cũng do lòng thương yêu, lo lắng cho Phú, sợ nàng gặp đau khổ trên đời. Bác chỉ muốn tôi làm anh của mấy đứa thôi, kể cả Phú. Sao tôi không là rể được? Và lần đầu tiên tôi chợt có ý nghĩ rằng chắc bác sợ tôi sẽ giống ba tôi, có nhiều vợ.

Những cuộc hẹn hò hằng tuần giữa Phú và tôi vẫn giống cũ. Những rạp hát, tiệm kem, cà phê có thể khác nhau, luân chuyển, nhưng đại thể sự việc không khác nhau mấy. Có lần hai đứa nắm tay nhau lang thang qua chợ chó, chợ chim rồi đến cuối đường Hàm Nghi chỉ để mua một trăm gram hột điều rang. Hôm khác đứng lớ ngớ trong phòng triển lãm tranh ở góc đường Tự Do – Lê Lợi để ăn kem. Nhờ vậy tôi phát giác ra nhiều tiệm ăn, như hủ tiếu Thanh Xuân, không những thức ăn ngon hơn mà còn có chỗ ngồi thích hợp cho bồ bịch, không trống trải trơ trẽn như Thanh Bạch, chỉ thích hợp cho kẻ lẻ loi.

Cuối cùng cái ngày tôi mong đợi rồi cũng đến – ngày ra trường. Nhưng đơn vị tôi chọn, đúng ra là bị chọn vì không còn chỗ nào khác, là Trung Đoàn 4 Thiết Giáp ở xa quá, ngoài Đà Nẵng. Nén chua chát trong lòng, tôi tự bảo mình: “Mình làm mình chịu. Đi đâu cũng đi. Sợ gì.” Dù không được phép cuối khóa tôi cũng còn ở lại Sài Gòn hai ba tuần gì đó vì chờ chuyến bay. Dì Phú cũng cho nàng rời nhà mỗi tuần một lần nên hai đứa chỉ gặp nhau thêm có hai ba lần. Trong bóng tối ở rạp ciné hai đứa tựa nhau yên lặng, lâu lâu nhìn nhau thở dài. Biết làm gì hơn trong hoàn cảnh nầy. Nhưng tôi biết những gì đang chờ tôi khi tôi đến đơn vị. Trước khi tôi ra trường tin những trận lớn như Bình Giã, Đồng Xoài, Ba Gia, nơi quân ta tổn thất nặng nề, đã lan tràn. Tôi biết những trận chiến khốc liệt đang chờ tôi. Tôi hồi hộp chờ đợi nhưng không hề run sợ. Nhưng phải xa Phú. “Phải xa Phú…”, lòng tôi buồn tê tái. Bỏ Phú ở lại lẻ loi. Thương quá. Nhưng biết làm sao hơn được. Là lính tôi phải đi. Hai đứa lặng lẽ hôn nhau, thật nhiều, và đầy nước mắt.

Trung Đoàn 4 Thiết Giáp đóng trên một ngọn đồi bên ngoài vành đai phi trường Đà Nẵng, gần Cầu Đỏ trên đường vào Nam. Xung quanh là doanh trại mới của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Ở cuối đường băng nên ở đây đêm ngày rền rĩ âm thanh của máy bay phản lực. Muốn đi Đà Nẵng thì xuống đồi đón xe lam đi ngã ba Cây Lan, rồi đi tiếp. Nhưng xuống đồi là cả một nỗi khổ trần ai. Lúc ấy vào mùa mưa nên các con đường đã bị xe thiết giáp Mỹ làm thành bải lầy. Những người muốn rời trại thường phải chờ quá giang xe ở cổng trại Đoàn Mạnh Hoạch. Lần đầu tôi không biết nên “chụp ếch” liền ngay ngoài cổng. Dính dơ tay chân mặt mũi là chuyện nhỏ, tìm nơi giặt bộ đồ trận mới là chuyện lớn. Với tôi hơn tuần ở đấy thật buồn thúi ruột. Chỉ có vui vào giờ cơm, nhờ sự kể chuyện dí dỏm và duyên dáng của Đại Úy Hòa, sĩ quan hành chánh tài chánh. Trong giờ ăn hầu như chỉ có tiếng ông nói, còn mọi người lâu lâu chỉ rộ lên cười.Ông kể chuyện người nầy người kia, những kẻ “tai to mặt lớn”, đều có dính dáng đến đàn bà con gái, dâm dâm, tục tục, nghe hoài không chán. Nên tôi không ghét và giận “mệ” Ưng Hòa dù ông có đề nghị với Đại Úy Tôn Thất Đường, Trung Đoàn Phó, rằng “cái thứ mặt sắt đen sì như tôi phải đưa đi chi đội thám thính ở Ashau, A Lưới cho trắng mắt ra, cho biết sợ rồi mới đưa về.” Nhưng rồi tôi không được đưa lên rừng bắn khỉ mà được về Chi Đoàn 4/4 Thiết Quân Vận (tiền thân CĐ 2/4 Thiết Kỵ) ở Tam Kỳ do Đại Úy Nguyễn Hữu Lý chỉ huy. Tôi phải chờ khi nào có đoàn công voa mới đi được. Trong thời gian ở trung đoàn tôi có vị sĩ quan đỡ đầu là Trung Úy Bác Sĩ Đức, y sĩ trưởng trung đoàn, dân Sài Gòn như tôi mà sinh đẻ tuốt ngoài Hà Nội. Buổi tối tôi trùm mền nằm suy nghĩ vẩn vơ, còn ông ngồi bàn đọc lại sách y khoa. Gặp gì thích thú ông cười to khoái trá. Có một lần ông gọi tôi lại chỉ cho xem hình hai cái hạch Bar… và giải thích. Thấy tôi cấm cúi xem mãi ông cười nói:

– Xem kỹ vào. Nhớ kỹ nhé.Hôm nào có dịp thử xem nhé.

Tối nào bác sĩ Đức cũng nấu thêm cho tôi một gói xúp vì tôi chưa quen thức ăn, nên ăn rất ít ở câu lạc bộ sĩ quan. Sống chung phòng với ông chỉ hơn chục ngày nhưng tôi nhớ mãi vị bác sĩ tốt bụng và vui tính ấy. Tôi tiếc đã không nhớ rõ tên ông lót chữ Văn hay Ý. Ít lâu sau trên một chiếc M113 bổ sung cho chi đoàn tôi vào Tam Kỳ. Liền sau đó tôi tham dự cuộc hành quân đầu đời qua những động cát đến vùng sông Trường Giang và chợ Được. Thật là một kinh nghiệm khó quên. Hơn hai tháng sau chi đoàn dời vào Quảng Ngãi. Sau nhiều cuộc hành quân, khoảng đầu năm 66 tôi được đề cử về tham dự Đại Hội Toàn Quân ở Sài Gòn cùng với Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 4 Thiết Giáp, Trung Tá Nguyễn Văn Toàn. Tôi mừng “hết lớn”. Ít nhất tôi sẽ có 10 ngày, nửa tháng ở Sài Gòn thân yêu của tôi.

Phú biết tôi về chỉ một hai hôm sau. Nàng về thăm nhà, biết tôi về nên ở lại chờ. Buổi chiều gần tối sau khi đi chơi về tôi tắt máy dựng chiếc vespa trưóc nhà thì nghe tiếng “anh” êm ái sau lưng. Phú đứng ngoài cửa nhà nàng nghiêng mình nhìn tôi, miệng mỉm cười, mắt đẫm lệ mừng. Rồi Phú biến ngay, chắc má Phú theo ra. Đêm đó thật là hạnh phúc. Hai đứa lần đầu tiên nằm cận kề nhau nói chuyện, chỉ cách có một… bức tường, có gạch thông gió. Dãy phố nhà tôi có thiết kế giống nhau. Trước hàng hiên, rộng chừng 2 thước, là một lan can thấp bằng gạch có lỗ thông gió. Hàng hiên mỗi căn cũng cách nhau một tường gạch thấp loại đó. Cửa được xây cùng một bên nên cuối hàng hiên nhà tôi là cửa nhà Phú. Nhà Phú được xây thêm phòng khách phía trước, khoảng trống bên trên được xây kín, vách ngăn bên dưới vẫn giữ nguyên để thông gió. Hai đứa nằm hai bên vách ngăn đó. Dù có miếng lưới chống muỗi tôi và Phú vẫn thấy nhau khi thầm thì nói chuyện. Nhưng Phú ít ngó về phía tôi vì phải giả vờ đọc sách và canh chừng mấy đứa em,sợ tụi nó lại gần nghe chuyện. Hai đứa cứ nói chuyện đâu đâu. Phú ít lời, còn tôi thì rất ngượng nghịu khi nói tiếng yêu thương. Tôi chỉ giỏi chuyện trêu chọc. Tôi rủ Phú:

– Tối nay hai đứa mình ngủ đây nha.

Phú nghiêng mặt, đảo đôi mắt sáng quắc về phía tôi chẳng nói gì.

– Rồi khuya mở cửa cho anh vô nha… nha…

Phú liếc tôi, mắt bén như dao:

– Nữa à… nói chuyện gì đâu không à.

Tôi van vỉ:

– Anh nhớ em quá mà. Anh muốn hun em.

– Chờ tới mai không được hả?

– Hông. Anh muốn hun em liền.

Phú quay mặt đi, giả vờ đọc sách. Tôi nài nỉ:

– Hay mình ra cửa sau đi…

– Sáu Nổ đang rình ở đó. Anh ra đó coi chừng nó đập bể đầu đó.

– Nó dám… Mình đi liền nghe.

Phú cương quyết lắc đầu:

– Hông.

Tôi cố vớt vát:

– Chừng nào má với mấy đứa ngủ hết em mở cửa nghe… Anh chỉ muốn hun em thôi.

Phú bỏ sách xuống, liếc mắt về phía tôi, ngồi dậy rồi đi vô nhà. Nằm chờ hồi lâu chẳng thấy Phú trở ra, tôi đến ngồi trên lan can phía đối diện hút thuốc. “Rồi ra đó nằm một mình đi,” tôi lầm bầm giận dỗi. Hút luôn mấy điếu thuốc mà Phú vẫn chưa quay ra tôi đành chịu thua, trở lại chỗ nằm chờ.

Phú trở ra cùng tiếng nhạc, nhỏ nhưng thánh thót. Nàng nằm xuống bỏ hộp nhạc bên gối. Âm thanh thánh thót thanh tao lững thững phát ra những âm điệu buồn vời vợi. Từ tối tới giờ má Phú không lại gần cửa. Phú kể rằng hôm qua khi biết Phú ở lại chờ tôi má Phú đã làm rầy rà rồi. Bà hăm sẽ nói cho dì Phú biết để cấm cửa không cho Phú về nhà. Phú nói:

– Anh biết hôn. Em nói nếu má và dì không cho em gặp anh nữa, em sẽ theo anh đi Quảng Ngãi luôn. Má sợ xanh mặt.

Khi tiếng nhạc trở nên nhỏ và chậm Phú vừa lên dây thiều vừa nói:

– Anh vô nhà ngủ đi.

Tôi năn nỉ:

– Không. Anh muốn ngủ đây với em. Anh không kêu em mở cửa đâu. Anh muốn ngó thấy em.

Phú cười:

– Anh nầy ngộ. Ngủ rồi làm sao ngó thấy được?

– Kệ anh. Nằm đây với anh đi.

Phú mỉm cười, cầm cuốn sách lên.

Đêm đó tiếng nhạc buồn của bản “Mắt Huyền” ru tôi vào giấc ngủ. Khuya tôi giựt mình thức giấc thì đèn trong nhà Phú đã tắt, tiếng nhạc đã im. Không biết Phú còn nằm đó hay không.

Lần về nầy ba tôi cho tôi sử dụng hẳn chiếc vespa nên hai đứa đi chơi với nhau nhiều hơn. Có lần tôi đưa Phú ra xa lộ Biên Hòa rồi đến chơi ở khu suối Lồ Ồ. Tuy nhiên Phú có vẻ không chịu được nắng gió nên chúng tôi lại quanh quẩn trong Sài Gòn như cũ. Ngồi một bên, ôm lấy hông tôi nhưng Phú còn giữ một khoảng cách. Tôi muốn Phú dựa ngực vào lưng tôi và tôi… đạt được điều ấy dễ dàng. Chạy xe nhanh một chút rồi bất ngờ đạp thắng là tôi cảm thấy được một sự va chạm êm ái đê mê từ phía sau. Lần đầu Phú xích ra, cung tay đập nhẹ lưng tôi, miệng nói:

– Anh nầy kỳ… làm chuyện tầm bậy tầm bạ không à. Hổng được “mần” dzậy nữa à nghen.

Dĩ nhiên tôi “mần” nữa. Phú nói:

– Thôi à nghen. Em không giỡn với anh à nghen.

Tôi lại mần nữa, mần hoài, để thích thú cười thầm. Lại giả ngộ nói:

– Anh bị đau lưng.Anh muốn em đấm lưng nhiều nữa đi.

Cuối cùng Phú áp má vào lưng tôi nói:

– Lì quá à. Người gì đâu mà lì quá à.

Có một lần tôi đưa Phú ra bến Bạch Đằng vào lúc chiều tối. Hai đứa ngồi ở băng đá, cạnh mấy lỗ golf cho con nít chơi, nhìn ra những chiếc tàu hàng tràn ngập ánh sáng. Gió từ ngoài sông lồng lộng đưa về mát rượi. Chợt Phú rùng mình. Tôi tưởng gió làm Phú cảm lạnh. Nhưng không phải vậy, Phú nói:

– Thôi mình về đi anh.Em sợ. Khu này bị nổ mấy lần rồi.

Hơn nữa, chỗ nầy cũng không thích hợp với chúng tôi. Rất nhiều người bán dạo đến quấy rầy, mời mua nầy mua kia. Chúng tôi về nhà.

Nhưng những ngày ấy chuyện vui ít hơn chuyện lo âu. Khi trình diện Trung Tá Toàn nhận sự vụ lệnh, ông bảo tôi xin phương tiện vào Sài Gòn trước, ông sẽ vào sau. Tôi ngu ngơ hay sợ quá không hỏi gặp ông ở đâu ở Sài Gòn. Tôi cứ tưởng đến Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh thì sẽ biết. Nhưng không, những người tôi hỏi không ai biết cả. Những sĩ quan cao cấp hơn có thể biết, nhưng sĩ quan “cắc ké” như tôi làm sao dám mò tới mấy ông đó mà hỏi. Tôi lên Trường Thiết Giáp nơi Chi Đoàn 7/4 Thiết Quân Vận đang huấn luyện sau khi thành lập. Cũng không ai biết Trung Tá Toàn ở đâu. Ngày nào tôi cũng chạy tới chạy lui hai nơi ấy để rồi thất vọng trở về, vò đầu bứt tai tự trách mình. Lúc ấy tôi biết ở Sài Gòn có Câu Lạc Bộ Sĩ Quan An Đông nhưng tôi chưa biết nơi ấy là nơi sĩ quan các nơi đi công tác Sài Gòn thường trú ngụ.Tôi không đến đó để tìm Trung Tá Toàn. Đến ngày, tôi đến sở Ba Son nơi Đại Hội được tổ chức, nhưng không được vào vì không có thẻ. Tôi đứng chờ. Nhưng Trung Tá Toàn nào có đi bộ vào cổng như tôi mà nhìn thấy tôi. Tôi áo não trở về. Hy vọng xin được một tuần phép từ Trung Tá Toàn sau Đại Hội đã trở thành ảo vọng. Chút công trận lập được mong gầy lại chút tín nhiệm với thượng cấp, xóa bớt những sai phạm cũ đã trở thành mây khói. Không những thế, sai lầm nhỏ dẫn đến sai lầm lớn hơn. Ngày đưa Phú đi chơi suối Lồ Ồ là đã hơn tuần sau Đại Hội, nhưng tôi chưa đến Phòng 4 Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh để xin phương tiện về đơn vị. Chắc tôi về trễ ít nhất phải hai tuần. Một ngày vắng mặt bất hợp pháp lãnh “hai củ”. Cứ thế mà nhân lên, chưa kể tội không tham dự Đại Hội. Mỗi ngày tôi sống với niềm vui bên người yêu và nỗi lo âu thắc thõm, không biết rồi sẽ bị phạt ra sao, ra đơn vị rồi có còn ngày trở về hay không.

Tôi không đành lòng đi được. Phú đang bị rắc rối với gia đình. Từ ngày tôi về, Phú về ở lì nhà mẹ. Dì Phú nói Phú “luông tuồng” quá, phải “cột chân” lại. Phú nói:

– Dì nói đã hứa gả em cho một người rồi.Nếu em không chịu thì đi đâu thì đi.

Tôi chọc:

– Gả cho thằng nào? Thằng Rư hay thằng Rết?

Phú ngó tôi ngạc nhiên:

– Rư Rết nào? Sao anh biết?

– Thấy bả cho thằng T., con C. học trường Tây, chơi với dân Tây nên anh tính bả muốn gả em không cho thằng Hăngrư thì cũng là thằng Hăngrết.”

Đang cười ngất vì được dịp chọc ghẹo tôi phải dừng lại vì Phú nhéo tay một cái đau điếng:

– Chuyện vậy rồi mà anh còn giỡn được? Bộ hổng thương em hả?

Phú xê ra khỏi mình tôi, giọng buồn hiu:

– Em biết mà. Em thương anh nhiều chứ anh không thương em bao nhiêu.

Kéo Phú lại gần, tôi nghiêm chỉnh nói:

– Anh thương em nhiều mà. Tại anh không biết cách nói thôi.

Tôi nói thật. Nhưng tôi vô tâm vô ý quá. Từ khi hai đứa yêu nhau tôi chỉ biết Phú sống với dì, nhưng không quan tâm đến những điều khác. Những lần hò hẹn tôi chỉ biết hạnh phúc bên nàng, hôn hít vuốt ve nhưng không bao giờ biết hỏi nàng sống thế nào, ra sao. Tôi cho rằng Phú sống trong nhà dì giàu sang danh vọng, chắc rằng dù không được thương yêu chăm sóc như mấy đứa em bạn dì nhưng sẽ không bị thiếu thốn gì. Tôi đâu biết có những nỗi khổ tâm khác Phú phải chịu đựng. Dì Phú vừa trải qua một vụ rắc rối lớn qua đó bà nổi tiếng, nhưng nó cũng hủy hoại tinh thần và thể xác của bà, cũng như hạnh phúc gia đình. Mấy đứa con oán trách mẹ, trở nên không nghe lời. Tụi nó muốn làm gì thì làm, bất chấp cha mẹ. Để che giấu sự đau khổ, xuống dốc của gia đình bà ít ra khỏi nhà. Sự giao thiệp của bà chỉ còn gói gọn lại với một số ít bạn thân.

“Tuy nhiên dì không bao giờ nặng lời, không tỏ thái độ gì khác thường với em. Gần đây nhiều lần em thấy dì ngó em thật lâu rồi quay đi, không nói gì. Em đâu biết dì đã định gả em từ đó,” Phú nói, giọng buồn muốn khóc.

Người mà dì Phú muốn gả nàng là em người bạn đã giúp bà trong lúc khó khăn. Đó là một sĩ quan mới góa vợ và đang tùng sự ở một cơ quan ở Sài Gòn. Phú kể:

– Má với dì biểu em ưng người đó, có lớn tuổi hơn em một chút nhưng chắc chắn tương lai em được sung sướng an toàn. Ai ưng cho được. Người đâu lạ quắc lạ quơ, già ngơ già ngắc mà nói lớn hơn em có chút. Mà… có trẻ hơn nữa em cũng không chịu đâu. Không thương làm sao ở với nhau được.

Nắm chặt tay Phú tôi nói:

– Hay để anh xin ba qua hỏi cưới em.

Phú giẩy nẩy nói ngay:

– Chưa được đâu. Má với dì không chịu đâu.

Tôi nói, lòng dâng lên cơn giận đột ngột:

– Biết ngay mà… Chê anh nghèo phải không? Chuẩn úy quèn chứ gì? Không cho ba anh qua..Má em là người…

Phú bịt miệng tôi, nói:

– Đừng nói bậy. Em sợ ba qua rồi xẩy ra chuyện nầy chuyện kia mích lòng, không tốt cho tụi mìmh về sau.

Phú ngừng một chút, mắt chăm chú ngó tôi, rồi giọng trở nên âu yếm:

– Anh biết mà…Anh không cưới…em cũng theo anh mà.

Tự ái được vuốt ve tôi ngừng giận:

– Ừ! Em theo anh ra Quảng Ngãi đi.

Nói xong tôi biết mình lỡ lời nên ngồi lặng thinh. Hai đứa sống với nhau ở Quảng Ngãi cũng được. Bao nhiêu tiền lương đưa hết cho nàng. Bỏ cà phê hủ tíu buổi sáng, nhịn rượu chè buổi chiều..thì hơi khó, nhưng vẫn làm được. Còn thuốc lá không bỏ được thì làm theo kiểu chàng lãng tử Lucky Luke, ngồi lưng ngựa (sắt) vừa mần một cú bốc se lăn vừa ca “một mình ta… lang thang…trên đồi…một mình ta..lang thang..trên đời”. Hút thuốc vấn như mình từng làm khi cuối tháng có sao đâu. Nhu cầu, thói quen của mình thì mình kiểm soát được mà. Nhưng than ôi! Muốn sống chung với Phú như vậy có cái tôi không vượt qua được. Là lính, nhất là lính tác chiến, tôi biết mình không kiểm soát được đời mình, không dành thời gian bên vợ thường xuyên được. Làm sao một cô gái trẻ, sinh đẻ và lớn lên ở Sài Gòn như Phú có thể sống một mình ở một nơi xa xôi, thiếu thốn mọi thứ, đêm đêm nghe tiếng đại bác, nhìn ánh sáng hỏa châu chờ chồng đi hành quân về được. Ở Quảng Ngãi Chi Đoàn 4/4 Thiết Quân Vận là đơn vị chủ lực, sau Trung Đoàn 4 Bộ Binh. Tuần nào chi đoàn cũng phải hành quân đôi ba ngày. Những ngày còn lại phải ứng trực để đi tiếp viện các đồn hay đơn vị bộ binh bị địch tấn công. Ban đêm các chi đội còn phải thay nhau đi phòng thủ phi trường, hay bảo vệ các pháo đội. Một hai tháng lại có cuộc hành quân lớn, xa, có khi kéo dài cả nửa tháng. Những cuộc hành quân như vậy thế nào cũng có tổn thất, kẻ chết người bị thương. Không! Không thế nào Phú có đủ tinh thần để chịu đựng được. Nhưng điều trở ngại lớn nhất sẽ xảy ra trước mắt là sự “trả giá” cho việc ở lại Sài Gòn, sự vô kỷ luật. Hai tội, vi phạm trước mắt cấp chỉ huy trực tiếp, người vừa tưởng thưởng mình. Bị nhốt là cái chắc, không còn nghi ngờ gì. Viễn cảnh như vậy thì làm sao tôi đem Phú theo được. Trong lúc tôi thẫn thờ suy nghĩ Phú cũng lặng thinh.Chắc nàng cũng có mối ưu tư riêng khi muốn theo tôi. Bất chợt Phú hỏi, giọng ngập ngừng như tò mò:

– Ở ngoài đó… anh có quen ai… quen cô nào không?

Được giải thoát khỏi một vấn đề mà tôi không muốn tiếp tục nên tôi mừng rỡ dắt chuyện qua hướng khác:

– Có, anh quen mấy cô luôn.

Phú nắm cánh tay tôi, chắc định ngắt:

– Đẹp hôn?

– Chưa biết được. Mấy cổ mới… 11,12 tuổi hà.

Phú vuốt ve tay tôi:

– Xạo. Anh mà quen con nít hả?

– Thật đó. Chỉ quen được con nít thôi. Mấy cô ở ngoải ngộ lắm, mới lơn lớn chút xíu đã sợ đàn ông con trai nên trốn đâu mất biệt, không thấy ló ra khỏi nhà để “bắt đèn”. Mà em đừng lo. Ở ngoải mấy cổ nói anh nói tiếng Việt gì đâu, ngọng ngọng, đớt đớt, kỳ kỳ. Không ai thèm anh đâu.

Dù tôi nói thật nhưng cũng không tránh được một cái nhéo đau điếng, đành trân mình chịu.

– Vậy mà nói hổng có quen ai. Xạo quá. Ai tin anh được. Ai không biết, thấy mặt tưởng anh khờ câm. Chứ còn em… ở gần anh từ hồi nhỏ… em biết anh quá mà.

Quá quen thuộc với bàn tay Phú lần trên tay tôi lần nầy tôi tránh được một cái nhéo khác. Nắm tay Phú tôi kéo nàng sát vào người tôi:

– Anh nói thiệt mà. Em ráng chờ anh đi. Ra ngoài đó rồi anh sẽ kiếm cách… Rồi anh sẽ báo cho em hay.

Giọng Phú bùi ngùi:

– Em không ở nhà dì được nữa đâu. Lần nầy cũng không thể về ngoại nữa. Em… em hổng biết đi đâu.

Tôi xoa má Phú, rồi xoa bàn tay đẫm nước mắt ấy vào má tôi.

– Em ráng chờ chút nữa đi. Anh sẽ tìm ra cách mà.

Tôi biết mình nói dối. Tôi trấn an nàng, nhưng tôi không trấn an được tôi. Sau cùng Phú ngập ngừng nói là Phú có quen một chị bạn ở Bàn Cờ.

– Chỉ nói nếu dì và má ép quá, đến nhà chỉ ở đỡ một thời gian rồi sẽ tính.

Phú hỏi:

– Cùng quá em tới đó. Anh chịu hôn?

Sau khi biết chị bạn ấy sống cùng cha mẹ tôi đồng ý. Không có cách nào khác. Không thể nào làm gì khác hơn được. Chiều ấy, sau buổi ciné tôi đưa Phú đến đó để tôi biết ngôi nhà mà Phú có thể ở trong tương lai. Đó là một căn phố lầu trên đường Nguyễn Thiện Thuật, gần đường Hồng Thập Tự.

Tôi lại ra đi. Tội nghiệp Phú. Nàng muốn mà không lần nào có thể tiễn tôi đi. Hai đứa chia tay sau buổi ciné hôm trước. Nước mắt chỉ rơi đầm đìa trong bóng tối.

Đến Quảng Ngãi được mấy ngày tôi theo chi đoàn đi hành quân ở Đức Phổ. Đây là lần chi đoàn đi xa nhất về phía nam, gần tới ranh Bình Định. Gần 2 tuần sau tôi được trực thăng bốc từ vùng hành quân về Đà Nẵng thọ phạt. Trước khi được gởi vào trại kỷ luật tôi may mắn gặp Răng, chi đội trưởng thám thính, bạn cùng khóa và cũng từ Nam ra như tôi. Răng tốt bụng, thấy tôi hết thuốc hút, chạy xuống Phước Tường mua cho tôi một bịch thuốc rời “Half and Half”, một bịch “Seventy Night” và mấy tập giấy quấn thuốc. Còn tiền Răng nói sau khi đưa đoàn công voa đi Quảng Ngãi về, lãnh lương rồi sẽ thăm tôi. Trong trại tôi ngóng chờ Răng để có tiền đóng tiền cơm. Tôi đâu biết rằng đoàn công voa bị phục kích, Răng phải dừng lại chiến đấu bảo vệ đoàn xe. Chi đội không bị thiệt hại nhiều nhưng hầu như toàn bộ các bánh xe đều bị bắn bể, phải ở lại Quảng Ngãi chờ tiếp liệu. Khi về Đà Nẵng Răng mang thuốc mang tiền đến thì tôi đã gần mãn hạn thọ phạt. Đúng ra sự đói ăn thiếu thuốc là do lỗi của tôi. Tôi đã không biết đến ban tài chánh trung đoàn mượn lương trước. Một lần nữa tôi bị sự khù khờ của chính mình làm khổ không ít. Hơn tháng sau tôi được hoàn trả về đơn vị.

Lúc nầy tình hình chiến sự ở Quảng Ngãi đã khả quan hơn nhiều, so với lúc chi đoàn mới đến. Các cuộc hành quân Liên Kết của ta đã đẩy địch ra khỏi các vùng chúng chiếm từ lâu, từ mũi Batangan ven biển cho đến miền cận sơn Trà Bồng, từ Thạch Trụ đến Đức Phổ. Tiếp theo những cuộc hành quân lớn đó là Hành Quân Liên Kết 36 (?) (Operation Texas?) ở vùng chân núi Trà Bồng.Chi đoàn đi với cánh quân Trung Đoàn 4 Bộ Binh. Hai cánh khác là Tiểu Đoàn 5 Dù, do Thiếu Tá Nam chỉ huy và 1 đơn vị Mỹ, tôi không nhớ danh hiệu. Tôi không nhớ hành quân đến ngày thứ mấy thì chi đoàn được lệnh đổi hướng, tăng viện cho Tiểu Đoàn 5 Dù đang bị 1 trung đoàn địch với vũ khí nặng bao vây, đang “cài răng lược”. 2 chi đội 2 và 3 của tôi và Nguyễn Tráng nôn nóng tiến nhanh, bỏ lại chi đoàn vướng lầy ở phía sau. Chúng tôi bị phục kích khi tiến qua một dãy đồi thoai thoải với những cây sim và lùm bụi nhỏ, thấp cỡ ngang ngực. 2 chi đội tiến hàng dọc nên khi bị bắn bên trái chúng tôi đổi hướng thành hàng ngang và càn luôn. Theo thường lệ 2 đứa tôi cỡi ngựa sắt, ngồi trên xe chứ không đứng trong cửa vuông ló đầu lên, xung phong. Than ôi! Tráng tử trận ngay khi cán qua phòng tuyến địch. Đạn AK bắn gần phá nát ngực của nó. Tôi cũng bị một viên cháy da đầu, bay mất cái nón vải đi rừng của người bạn học, thông dịch viên cho TQLC Mỹ, tặng. Không mang theo bộ binh để cận chiến và lục soát nên tôi cho lệnh dùng xích xe quậy nát, chà đi chà lại và tung lựu đạn xuống các vị trí địch. Phá xong tuyến phục kích mới biết phòng tuyến Dù nằm dưới chân đồi, trong 1 làng cũ. Tôi chỉ huy 2 chi đội nhào tới nữa, đến ngay chỗ “cài răng lược”, và kẹt ở đấy. Tại đây chúng tôi không thể dùng ưu thế của mình để đánh địch được, vì con cái Dù bị kẹt nằm tứ phía. Dù “chì” thiệt, dính đâu nằm đó, không lui. 2 chi đội tôi cũng nằm lì ở đấy, bắn đại liên lên cây để triệt đám bắn sẻ, để quân Dù kéo mấy đứa con bị kẹt phía trước về ngang. Trong những khoảnh khắc đó thiết giáp bị thiệt hại mấy người. Xe tôi bị hai, trưởng xa bị thương nặng, xạ thủ 30 tử trận. Đạn bắn sẻ làm bay tấm bản đồ trước mặt tôi. B40 nhiều lần nổ ở bụi tre lớn chắn trước xe tôi. Gần nửa giờ sau đại úy Lý dắt phần còn lại của chi đoàn tới, xung phong vào phòng tuyến địch bên trái tôi. Đại úy Lý bị thương trong đợt xung phong nầy. Địch bị đánh bung ra. Nương cơ hội Nhẩy Dù phía tôi cũng tấn công phá vỡ thế cài răng lược. Trước khi trời tối chúng tôi đã đẩy địch ra xa. Đêm đó cả hai cánh quân lùi lại đóng quân trên đồi.

Sáng hôm sau chúng tôi lại tấn công xuống phòng tuyến địch. Nhưng địch đã rút, chỉ để lại vài toán nhỏ để trì hoãn chiến. Địch rút vội vàng, bỏ lại nhiều vũ khí và nhiều đạn dược của vũ khí nặng rải rác trên đường “chém vè”. Chắc địch bị thiệt hại nặng nề, không còn đủ nhân sự nên bỏ lại các chiến cụ. Sau gần một ngày lục soát, thu lượm vũ khí, Dù và Thiết giáp cũng rút về Quảng Ngãi chiều đó.

Sau khi tắm rửa xong tôi đang lên phòng y tá để băng mắt phải bị sưng đỏ vì hơi thuốc súng thì nhận lệnh của Tiểu Khu đi trực xác Tráng. Cũng được thôi. Hai đứa cùng khóa, cùng đơn vị và cùng chiến đấu bên nhau sáng qua. Xác Tráng được đặt trong “Nhà vĩnh biệt” của bệnh viện tiểu khu. Không hiểu sao chỉ có một mình xác Tráng ở đấy. Và cũng chỉ có mình tôi trực. Tráng được đặt nằm trên bàn, trước đầu có bình hương và hai ngọn đèn cầy. Hai ngọn đèn cháy chập chờn, mờ ảo không xua được bóng tối của căn phòng nhỏ. Tôi ngồi ngoài cửa nhìn vào chợt giựt mình vì hình ảnh ấy tôi thấy rồi, chỉ thiếu bình hương và đèn cầy. Cái ảnh năm rồi “công tử” Trần Tấn Minh chụp Tráng ngủ trưa khi còn ở Trường Thiết Giáp. Minh không những chụp ảnh Tráng mà còn nhiều người nữa, những ai hớ hênh, hoặc đang có điệu bộ xấu xí. Minh chụp để lâu lâu mang ra chọc cười chọc tức thôi. (Minh tử trận năm 68). Trong trường tôi và Tráng không thân nhau lắm vì khóa sinh quá đông, 48 người, đông nhất từ trước đến giờ. Tội nghiệp Tráng. Khi gặp nhau ở trung đoàn Tráng dắt tôi về Đà Nẵng, đưa lại nhà anh Tráng ở sát bờ biển Thanh Bình. Anh Tráng giăng lưới bắt cá làm mồi, và đào hũ rượu bách nhật sau vườn lên đãi tụi tôi. Khi vào Tam Kỳ tối sáng gì chỉ có 2 đứa lận “côn” trong bụng lội bộ cả 2,3 cây số ra phố chơi. Mấy vị sĩ quan khác trước tụi tôi 5,7 khóa, không có huỡn đi chơi với tụi tôi. Mấy ảnh mắc ở nhà chơi với vợ. Hai đứa thường vào quán mì Quảng của chị Th., người có đôi mắt buồn rười rượi, uống bia. Hiếm khi nào có đá, nên khi đứa nầy khi đứa kia..xin chị cầm giùm ly rượu lâu lâu để bia… được lạnh, vì chị có trái tim lạnh lùng, băng tuyết. Chị Th. lớn hơn hai đứa mấy tuổi, chỉ cười cười, mắt ngó nơi xa thẳm nào đó. Vào Quảng Ngải chỉ còn 2 đứa là sĩ quan chi đội trưởng nên càng thân hơn, đi đâu cũng có nhau.Vậy mà giờ nó im lìm nằm đó, đã đền xong nợ nước. Tội nghiệp Tráng. Tráng lớn hơn tôi 1 tuổi, quê Quảng Trị, chưa vợ. Không biết có bồ bịch gì chưa, không nghe nhắc tới.

Nhắc đến vụ bồ bịch của Tráng tôi chợt nhớ đến Phú và lời hứa tìm cách đưa Phú ra đây. “Không. Không thể nào đưa Phú ra đây được.” Tôi không bao giờ muốn Phú biết cảnh thê lương này. “Dù có ham muốn sống chung, làm chồng vợ với Phú cách mấy, mình cũng không thể đưa Phú ra đây.” Trời ơi! “Nếu lỡ mình bị đạn và tử trận thì sao? Ừ. Dễ xảy ra quá mà. Như Tráng đó. Mới sáng hôm qua, sau buổi họp Tráng còn ngậm điếu thuốc xề xệ trên môi, còn đùa giỡn với mình. Vậy mà hôm nay nằm im lìm mãi mãi nơi kia. Chuyện đó cũng có thể dễ dàng xảy ra với mình chứ? Tại sao không? Mình đền xong nợ nước cũng là chuyện thường tình của người lính, nhưng tại sao mình lại đưa nàng, một thân một mình, vào cảnh khổ não bi thương đó?” Tôi dứt khoát. Không. Không bao giờ đưa thêm khổ đau vào số phận hẩm hiu của nàng.

Sau đó vài tháng tôi nhận được thư Phú, lần đầu viết cho tôi. Trong thư viết trên giấy pelure màu xanh da trời có một bài thơ ngắn kể lòng nhung nhớ chờ đợi. Ngoài ra Phú cho biết đã đến ở và đi làm chung với chị bạn. Tuy nhiên nàng dặn tôi khoan viết thư, chờ khi nào nàng báo rồi hẳn viết. Thư nàng vắn tắt, ít lời như khi nàng nói chuyện với tôi vậy. Nàng cũng không nói đến chuyện đi Quảng Ngãi nữa. Tôi rất mừng, cứ đem ra đọc hoài, nhất là bài thơ ngắn. Lúc ấy tôi ở chung với Hạ Sĩ nhất Lâm Vậy và Hạ Sĩ Lê Đức, cùng là dân Quảng Trị, ở một phòng nhỏ, cạnh cổng sau của doanh trại chi đoàn. Lâm Vậy, lớn hơn tôi 5-6 tuổi, mặt vuông càm bạnh, là dân lãng tử, đa tài, lắm tật. Khi say rượu Vậy hay làm thơ và ngâm thơ. Chỉ những lúc ấy tôi mới thấy anh buồn, mắt mờ dại hẳn đi. Tháng tháng anh gửi hết tiền lương về cho vợ nhưng không bao giờ về phép. Hỏi anh chỉ thấy mắt anh đỏ ngầu, càm bạnh ra không trả lời. Không tiền nhưng anh vẫn sống được, say đều đều. Nhiều lần giữa đêm khuya anh về với rượu và mồi bắt Đức và tôi thức dậy uống rượu với anh. Lê Đức hiền lành, có nụ cười nhỏ nhẻ như con gái. Xong bổn phận ở chi đội, 3 đứa chúng tôi không cùng chi đội, Đức về phòng học và đọc sách. Có bao nhiêu tiền Đức đều dành cho sách. Anh có nhiều sách văn chương, triết lý, hàng tháng đều mua tạp chí văn nghệ ở Sài Gòn. Cuốn sách của Đức tôi đọc lâu nhất là một quyển dầy cộm của Phạm Công Thiện, không nhớ tựa đề. Tôi bỏ qua phần triết lý vì nuốt không trôi, nhưng say sưa thích thú về phần bình luận văn chương. Tác giả thiệt là người tài hoa. Qua ông tôi cũng “lượm” được một ít hồn thơ và giai điệu của những thi sĩ mà ông hết lời tán tụng. Trong một lần say với Vậy tôi có làm một bài thơ, định riêng tặng Phú. Bài thơ nầy có số phận hẫm hiu, dù hay dù dở nó cũng không bao giờ được người được đề tặng biết đến. Làm sao gửi cho Phú được vì đoạn kết như một lời chia tay:

Trời ướt đêm thâu

giá buốt về đâu

thương em gái nhỏ

một năm chờ đỏ mắt sầu.

Trời mưa trời mưa

thôi nhé người xưa

ta còn xa mãi

chờ mong biết mấy cho vừa.

Sau khi bài thơ “Mùa Thu Paris” của Cung Trầm Tưởng, được Phạm Duy phổ nhạc trở nên quá nổi tiếng, tôi quên bài thơ của tôi luôn. Rồi tôi cũng không còn sử dụng thời giờ rảnh để đọc đọc viết viết như Đức nữa. Tôi đi với Vậy la cà quán xá, không uống cà phê nữa mà uống rượu. Tử thần đã đến gần tôi lắm rồi. Sau khi Tráng tử trận, trong vòng hai tháng tôi còn mất thêm 3 trưởng xa, có 2 là trưởng xa xe tôi. Lúc nầy đi hành quân bị 57 không giật bắn hoài mà chưa lấy được. Buồn và tức.

Sự say sưa rượu chè của tôi tăng nhiều khi Lê Thọ Lăng, cũng là dân Quảng Trị, chi đội phó cũ của tôi học xong ở Thủ Đức về.Lăng lớn hơn tôi vài tuổi, rời trường Thiết Giáp trước tôi 1-2 năm. Có thể gọi Lăng là “chàng đẹp gái” được vì anh trắng trẻo, có nụ cười tươi,đôi môi đỏ và có đeo một khuyên nhỏ bằng vàng nơi tai trái. Anh nói vì xấu háy nên cha mẹ anh cho đeo bông tai từ nhỏ để quý ông bà tiên thiên quỷ thần gì đó nhìn không ra, không “bắt” được anh. Chính anh là người đã biến tôi thành “pilot Thiết giáp”, có nghĩa là 1 cấp chỉ huy khi có lệnh hành quân chỉ thẩy ba lô lên xe rồi đi, hết hành quân xách ba lô nhẩy xuống xe dông mất, chẳng cần biết đến bảo trì tu bổ, chẳng xin bổ sung nhiên liệu đạn dược gì hết. Mọi chuyện Lăng lo hết. Mấy ông phân đội trưởng, có người lớn hơn anh cả chục tuổi, rất nể trọng anh. Khi mới vào Quảng Ngãi do không quen thuộc địa thế cả chi đoàn mắc lầy. Với kinh nghiệm học được từ lúc chi đoàn còn tăng phái cho ChiếnĐoàn 6 Thiết Quân Vận trong Nam, trong 1 đêm Lăng kéo cả chi đoàn lên. Lăng thật giỏi. Tôi chỉ hơn anh được cái liều lỉnh, chỉ biết hô “dzô… dzô…” Khi ra trường Lăng chưa về được Thiết giáp. Anh về Sư Đoàn 2 BB và được cử làm Chi Đội Trưởng Chiến Xa M24, thuộc Đại Đội Tổng Hành Dinh Sư Đoàn. Các chiến xa cũ kĩ nầy chỉ để dùng làm “kiểng” trong Bộ Tư Lệnh chứ không di chuyển xa được. Bấy giờ Lăng “ngon” hơn tôi nhiều. Là chi đội trưởng anh vẫn đội mũ đen kỵ binh, có 1 ngôi nhà gần câu lạc bộ để làm chỗ ngủ và văn phòng, có xe jeep để đi… chơi. Thêm nữa, anh có 1 cô bồ người Sài Gòn, là ca sĩ của phòng Chỉnh Huấn, chiều chiều tối tối hát riêng cho anh nghe. Từ đó tôi ít về phòng Đức đọc sách. Văn phòng của Lăng là nơi cả đám tụi tôi rượu chè ca hát hầu như mỗi chiều tối, khi không đi hành quân. Ở nơi đây lần đầu tôi được nghe bài “Hồ Trường” của Nguyễn Bá Trạc do Vậy ngâm. Cả đám lặng im nghe anh. Vậy vừa ngâm thơ vừa uống rượu, mắt đỏ ngầu đẫm lệ, lúc hào sảng, lúc thê lương, lúc cười sằng sặc như điên cuồng. Giọng Quảng Trị của anh lúc rổn rảng như suối trên ngàn đổ xuống, lúc thầm thì như sóng sông vỗ về lau lách.

Nào ai tỉnh, nào ai say?

Chí ta ta biết, lòng ta ta hay,

Nam nhi sự nghiệp ư Hồ thỉ

Hà tất cùng sầu đối cỏ cây.”

Những đêm ấy sao mà sảng khoái vậy! (Lăng và Vậy tử trận năm Mậu Thân. Cuối cùng, quý ông bà thiên tiên thần quỷ gì đó cũng nhận ra Lăng và bắt anh đi, khi vợ anh, cô ca sĩ người SàiGòn mang bầu được mấy tháng. Còn Đức không biết phiêu bạt nơi nào, số phận ra sao).

Cũng khoảng thời gian này tôi nhận được thư của Lê Văn Nghĩa, bạn cùng khóa, từ Chi Đoàn 2/1 Thiết Quân Vận. Nghĩa đề nghị hoán chuyển với tôi. Nghĩa cũng báo cho tôi biết Lê Báu, bạn thân nhất trong khóa, cũng là dân Phú Nhuận như tôi đã tử trận ở Bến Cỏ, Phú Hòa Đông, Bình Dương. Lê Báu là trưởng lớp, chỉ một ngày của khóa tôi. Nghĩa cho tôi biết đơn vị anh đồn trú tại Phú Cường, Bình Dương, cách Sài Gòn không xa. Tôi cứ tưởng tôi “lì” lắm, đi lông bông 5,7 năm chưa chắc đã thèm về. Nhưng không. Không suy nghĩ gì nhiều, 1-2 ngày sau đó tôi viết thư báo cho Nghĩa biết tôi đồng ý. Hai chúng tôi cùng làm đơn gởi đến Bộ Tổng Tham Mưu. Gần nửa năm sau mới có lệnh hoán chuyển. Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh chờ Nghĩa trình diện rồi mới cho tôi về Đà Nẵng. (Nghĩa tử trận ở Quế Sơn, Quảng Ngãi năm 72).

Tôi nôn nóng về Nam, nhưng phải chờ ở nơi vẫn buồn thúi ruột ấy, không biết khi nào có chuyến bay về Sài Gòn. Trong một lần sốt ruột tôi xuống ban tư và gặp Phan Phụng Chương,người thay Răng. Biết chi đội anh thường yểm trợ đoàn công voa qua lại đèo Hải Vân tôi xin theo chơi. Dù mới gặp nhau lần đầu, Chương, khóa đàn em, rất tử tế với tôi. Khi nào đi anh cũng cho xe rước tôi về chờ ở ngã ba Cây Lan. Thế là 2-3 ngày tôi có 1 chuyến đi ngắm phong cảnh dọc đèo Hải Vân, rồi la cà quán xá ở Lăng Cô. Chao ôi! Lần thứ hai tôi gặp được các cô gái nói năng dịu ngọt chi lạ, dịu ngọt đến đổi không rời chân đi được. Rồi cứ vài ngày tôi lại đến LăngCô, say đủ thứ.NgàyNoel năm 66 tôi theo Chương về nhà anh ở Hội An. Chương đưa 2 người chị em ruột hay chị em họ gì đó về Đà Nẵng tham dự lễ hội Noel do quân đoàn tổ chức cho các đơn vị đóng quanh vùng.

Trong những ngày cuối cùng ở đây tôi lại đâm lòng thương mảnh đất mà tôi đã sống gần năm rưỡi qua. Tội nghiệp mảnh đất nghèo khổ nầy đã thấm máu hận thù từ bao nhiêu năm trước. Nó cũng đã và đang thấm máu những sĩ quan trẻ từ nơi khác đến như Tráng như tôi, không chỉ ở chiến địa mà còn ở những vụ mỹ nhân kế trong đó những tên trai trẻ ngu ngơ bị lừa bắt và bị cắt cổ chẳng tha. Tôi rời nó mà chẳng bỏ lại cô nào; quen lung (1) còn chưa có nói chi bồ.

Tôi cũng luyến thương mảnh đất bên kia đèo nơi tôi có một “cô em gái” thường cùng nhau trao đổi thư từ. Tôi gặp cô một lần nhưng không rõ mặt vì khi B., bạn thân tôi khi còn ở Trường Bộ Binh và là anh cô, giới thiệu cô ngồi trong bóng tối. Chúng tôi quen và thư từ cho nhau là chuyện tình cờ khác. (Về Nam sau gần năm tôi được thư cô báo đã làm đám cưới. Năm sau nữa cô báo rằng B, bạn tôi đã tử trận).

Khoảng đầu năm 67 tôi lên máy bay về Sài Gòn.

Chiều ngày thứ nhì sau khi về Sài Gòn tôi đi gặp Phú. Đến căn phố trên đường Nguyễn Thiện Thuật tôi bấm chuông rồi đứng chờ. Phút chốc sau tôi nghe có tiếng phụ nữ nói từ trên ban công, “anh chờ chút”, nhưng không thấy người. Thì ra người trong nhà từ trên ngó xem ai gọi cửa rồi mới trả lời. Tôi ra ngồi chờ trên xe vespa, dựng ở vỉa hè. Tiếng Phú mừng rỡ từ trên ban công:

– Anh! Về rồi hả?

Phú mặc áo bà ba trắng, đứng tựa lan can ngó xuống, mắt lóng lánh, nụ cười tươi rói. Trên mái tóc nàng còn dính một nụ hoa giấy.

– Anh qua bên kia đường đi. Chờ em chút xíu.

“Một chút xíu” của nàng tôi hút xong 4-5 điếu thuốc mà vẫn chưa tới. Tôi cứ ngó hoài cái ban công nơi nàng vừa xuất hiện. Cái ban công nhỏ trống trơn, chỉ có một bồn hoa giấy đỏ cạnh cửa. Tôi hút xong một điếu thuốc nữa nàng mới mở cửa bước ra lan can. Phú vẫy vẫy tay miệng vẫn cười, nói:

– Anh chờ em chút nữa nghen.

Đã kêu chờ thì phải chờ thôi, làm gì khác được. Chừng chục phút nữa Phú mới bước ra khỏi cửa. Ai đó bên trong cửa sắt vẫy chào chúng tôi. Phú, thơm lừng nước hoa, ngồi sau xe ôm hông tôi như thường lệ, hỏi:

– Anh mới về hả? Nhớ em hôn?

Không trả lời, tôi hỏi lại:

– Làm gì lâu dzữ dzậy?

Phú cười, nói:

– Có chút xíu mà lâu gì. Làm gì bộ anh hổng biết hả?

Tôi dấm dẳng:

– Biết ai hỏi làm chi!

– Muốn biết mai mốt lấy vợ rồi thì biết.

Phú đấm lưng tôi, rồi hỏi:

– Giờ mình đi đâu?

– Ciné chứ đâu nữa.

Trên đường đi tôi cho Phú biết tôi được đổi về Bình Dương. Giọng Phú có vẻ mừng:

– Vậy hả? Quê ngoại ở đó đó.

Hôm ấy chúng xem ở Casino Sài Gòn. Đến giờ thật tình tôi không còn nhớ hôm đó chúng tôi nói với nhau những gì. Sự việc xảy ra sau hầu như bao giờ cũng bắt đầu cho hồi tưởng của tôi. Chắc bên cạnh những lời chọc ghẹo của tôi là những lời yêu thương nhung nhớ như bao lần khác. Hình như hai đứa cũng chẳng nói chuyện tương lai. Bình Dương gần Sài Gòn quá mà, chúng tôi sẽ còn nhiều lần gặp nhau nữa. Xem phim xong Phú kêu tôi đưa nàng về. Hình như nàng có nói là hẹn với ai. Lấy xe từ chỗ gởi, xeo xéo cửa rạp Casino, tôi rẽ phải đưa Phú về. Vừa qua ngã tư Lê Thánh Tôn Phú kêu lên:

– Anh đưa em đi đâu vậy?

– Về chứ đi đâu.

– Về sao đi đường nầy? Sao không quẹo trái?

Tôi bực mình xẵng giọng:

– Đường nầy cũng về nhà em vậy.

Gặp đèn đỏ (cái đèn đỏ chết tiệt nầy, tôi rủa nó thậm tệ rất nhiều lần trong đời), hình như ngã tư Nguyễn Du, tôi dừng lại. Phú thình lình xuống xe. Tôi quay lại hỏi, chắc với giọng nói và bộ mặt khó coi lắm:

– Gì nữa đây…?

Giọng Phú vẫn như cũ:

– Anh định chở em đi đâu?

Trời ơi! Định… định… tôi định gì đâu chứ.

– Chở đi về chứ đi đâu.

Phú vẫn không chịu lên xe. Khi đèn xanh bật lên tôi hỏi:

– Lên hôn?

Phú trả lời:

– Hông.

– Lên hôn?

Phú trả lời, giọng càng lúc càng cao như tôi:

– Hông.

– Lên hôn?

– Hông.

Biết bao nhiêu lần rồi tôi cứ tưởng cảnh ấy mới chỉ xảy ra ngày hôm qua. Hay chỉ vừa mới đây thôi để tôi sửa lại lỗi lầm, ngăn chặn không cho nó xảy ra. Than ôi! Thời gian vô tình cứ qua, không có ai có thể làm cho nó ngừng lại. Ngày ấy tôi vô số “dọt” thẳng, bỏ Phú tại nơi nàng đứng. Tôi chỉ muốn dọa Phú thôi, nhưng vì đường Pasteur chỉ có một chiều nên tôi phải đánh một vòng mới quay lại chỗ cũ được. Phú không còn đó nữa. Nàng đã biến mất. Tôi thầm nói: “Bộ quê rồi độn thổ luôn hả?” Tôi đi nhưng lòng chợt nghĩ chắc Phú trêu ghẹo tôi, trốn đâu đó nên vòng trở lại nữa. Dựng xe bên lề, tôi xuống xe ngơ ngác tìm. Nhưng làm gì có chỗ trốn nơi ngã tư đó. Chắc Phú đã lên taxi về rồi. Tôi đến căn phố ở đường Nguyễn Thiện Thuật bấm chuông đứng chờ. Lần nầy tôi biết nên không đứng sát cửa nữa mà ra lề đường để ngó lên ban công. 5-7 phút trôi qua vẫn không có động tỉnh gì. Tôi đem xe qua vỉa hè đối diện, hút thuốc ngồi chờ. Không có ai xuất hiện. Cánh cửa có chậu hoa giấy trên lầu vẫn đóng im lìm.Tôi chờ lâu lắm. Chắc sau khi hút hết 5-10 điếu thuốc rồi mới bỏ đi.

Suốt cả 1 tuần sau ngày nào tôi cũng đến bấm chuông ngôi nhà ấy, rồi qua bên kia đường ngồi hút thuốc chờ. Không một lần có người trả lời cửa. Không một ai xuất hiện. Cuối tuần Phú cũng không về nhà như lệ thường. Nàng không muốn gặp tôi nữa. Chắc nàng giận tôi bỏ nàng lại tại ngã tư, làm nàng mắc cỡ với người qua đường. Mấy ngày đầu tôi nghĩ nàng giận vài bữa rồi thôi. Tôi hứa lòng sẽ xin lỗi nàng nhiều và sẽ không bao giờ xử sự thô lỗ như thế nữa. Đến 1 ngày tôi không còn nghi ngờ gì đến sự quyết tâm tránh mặt của nàng nữa. Tôi linh cảm cuộc tình giữa Phú và tôi sẽ không còn.

“Tan vỡ ngay lần đầu tiên gặp lại sau 1 năm xa cách ư? Vì một lý do không đâu ư? Cay đắng quá!” Tôi nuốt cay đắng vào lòng. Lỗi tại ai chứ? Nếu Phú không nghi ngờ bậy bạ thì tôi đâu lên cơn cộc cằn thô lổ? Tôi đưa Phú đi đâu chứ? Chẳng có nơi nào. Nàng biết quá mà. Năm ngoái sau khi xem ciné nàng ngồi sau xe âu yếm ôm hông tôi, tôi đi đâu thì đi nàng không dò hỏi, thắc mắc. Tại sao lần nầy nàng lại tỏ thái độ nghi ngờ tôi đưa nàng đến chỗ nào, để làm chuyện gì. Làm chuyện gì? Thực sự tôi chẳng nghĩ đến điều đó nữa. Mà tôi có nghĩ đến cũng chẳng sao. Chiều ấy chắc cách biểu lộ tình yêu của tôi có nhiều lả lơi hơn trước, nên nàng nghi ngại? Nhưng từ năm rồi hai đứa đã đoan chắc mình sẽ là vợ chồng rồi mà. Tôi giận Phú nghi ngờ không đúng lúc không đúng chuyện. Tôi giận tôi nổi cơn cộc cằn lãng xẹt. Tôi đổ thừa cái đèn đỏ khốn nạn kia bật lên không phải lúc làm tan vỡ tình tôi. Chắc rồi. Phú không muốn thấy mặt tôi nữa, không mắc mớ gì với tôi nữa. Giận hờn, nghi ngờ, than van, trách móc gì cũng chẳng đến tai nàng.

Dù biết rằng nếu không tìm gặp Phú ngay tôi có thể mất nàng vĩnh viễn tôi cũng phải đi. Là lính tôi phải đi, phải đi. Trước Tết năm ngoái, tôi trình diện đơn vị ở Gò Đậu, Bình Dương. Trễ hơn tuần.Trễ hạn ở đơn vị mới thì đâu dễ dàng gì yên được, nhất là kẻ đã từng bị phạt vì trễ phép, trễ hạn trình diện nhiều lần như tôi. Sau đó tôi được đưa đến Chi Đoàn 2/1 Thiết Quân Vận (tiền thân của Chi Đoàn 2/1 Thiết Kỵ) do Đại Úy Trương Hồng Cẩm chỉ huy, đang tăng phái cho Tiểu Khu Bình Long bằng máy bay. Đến nơi tôi nằm liệt mấy ngày nơi đóng quân, xung quanh một cái chùa nằm ngoài rìa thị xả Hớn Quản, không biết vì tâm sự não nề hay khí hậu cao nguyên khắc nghiệt.

Lúc ấy vào cuối đông trời thật lạnh, cái lạnh khác biệt với cái lạnh Quảng Ngãi, Đà Nẵng mà tôi vừa rời bỏ. Ban đêm hầu như tôi không ngủ được, dù khoác, đắp lên người mọi phương tiện chống lạnh mà tôi có được. Lạnh như lạnh trong xương bò ra, không ngăn được. Tôi nhớ đến Phú, cố ghi lại hình ảnh tươi vui của nàng trước khi chúng tôi đi xem ciné lần cuối để quên cơn lạnh. Khi chịu được lạnh cũng là lúc tôi đi lại được. Tôi lại bị khí hậu cao nguyên “hành” cách khác, mặt nổi vẩy và môi nứt toát. Vậy mà các cô gái ở đây lại đẹp ra, má đỏ môi hồng với miệng cười tươi như hoa đào ở đại lộ Hoàng Hôn. Mùa lạnh cũng là lúc các cô chưng diện, khoe những quần áo khăn nón mà các cô sắm từ Sài Gòn. Nhưng với cái mặt dị hợm tôi đâu dám ghé đâu, kể cả ghé nhà cha mẹ vợ Nghĩa. Đám cưới Nghĩa, nghe kể lại, là đám cưới rất độc đáo, một sự kiện “có một không hai” được nhắc hoài ở cái tỉnh lỵ nhỏ bằng hạt tiêu này. Đàng trai toàn mặc áo lính, chủ hôn là Đại Úy Cẩm, xe hoa là một chiếc M113. Sau một buổi tiệc nhỏ, đàng trai rước cô dâu lên chiếc M113, bửng sau đã hạ sẵn, được trang hoàng lá dừa, dây ti-gôn và hoa dại, rồi đưa nàng “dzìa dinh” ở cái chùa, nơi hiện tại chi đoàn đóng quân. Đám cưới Nghĩa được làm mới đây thôi, sau khi nhận được lệnh hoán đổi với tôi.

Tuy tăng phái cho Tiểu Khu Bình Long, nhưng thực tế chi đoàn chỉ hành quân với các đơn vị Mỹ. Các chi đội thay phiên nhau đi tuần tra dọc bìa rừng ngoài đồn điền cao su với 1 tiểu đội hay 1 trung đội Mỹ. Ban đêm 1 chi đội vào Quản Lợi phòng thủ phi trường. Mười bữa nửa tháng gì đó có một cuộc hành quân Dân Sự Vụ, chuẩn bệnh phát thuốc cho dân ở các “sóc” ở trong rừng. Dân ở đây thuộc bộ tộc Stiêng.Ở gần đồn điền, có nhiều tiếp xúc với người Việt nên họ đã “lanh” lắm rồi. Đi khám bệnh nhận thuốc, lớn nhỏ gì ai cũng mang theo một cái nỏ. Ai muốn có một kỷ vật lạ từ rừng là “dính chấu” với họ ngay. Những cái nỏ họ mang theo lúc này chỉ là “kiểng”, để trưng bày chứ không xử dụng tốt được. Dĩ nhiên tôi cũng được “ôm” một cái. Lỗi không phải tại họ, vì họ không bao giờ kêu bán hay đổi những cái nỏ đó.

Dịp nầy lính Mỹ thường góp đồ hộp, thuốc lá hay các thứ không xài tới khác để trao đổi một màn trình diễn cồng chiêng, và uống rượu cần. Khi cồng chiêng đã nổi, rượu uống đã say thì nó kéo dài cả buổi. Thỉnh thoảng chi đoàn dự hành quân lớn xuyên rừng, vào vùng hoạt động của công trường 7 của địch. Ở đây rừng le dầy đặc. Xe đi đầu ủi chừng 15-20 phút là nóng máy, phải thay xe khác, rồi chi đội khác. Loay hoay cả buổi nhưng tiến chẳng được bao nhiêu. Đóng quân đêm trong rừng với quân Mỹ là một kỷ niệm khó chịu. Ta gọi là “ngủ đêm” còn Mỹ gọi là “qua đêm”. Thực vậy ngủ gì được khi cứ 15 phút họ cho nổ 1 trái claymore, khi vị trí nầy, khi vị trí khác, 1 giờ sau đã lộ vị trí đêm. Ta gọi làm như vậy là “lạy thầy tôi ở bụi nầy”, mời Việt cộng “thẩy” pháo vô. Nhưng không, “mấy ảnh” ngán Mỹ nên im re, không cục cựa. Chắc “mấy ảnh” có kinh nghiệm rồi. Thẩy mấy trái pháo vô đơn vị cấp tiểu đoàn Mỹ thì chẳng nhằm nhò gì, nhưng sẽ nhận lại bom, bom cháy, bom nổ, bom bi rồi “bò rống” suốt đêm. Tệ lắm cũng sẽ “ăn pháo bầy”, cở “pháo đội vài trăm tràng”.

Gần 3 tháng sau chi đoàn về dưỡng quân tại hậu cứ ở Gò Đậu.Sau 1 tuần rửa xe, sửa chữa, thay đổi, lau chùi quân dụng thiết đoàn thanh tra sự sẵn sàng của đơn vị. Mọi sự tốt đẹp. Một buổi chiều, chắc là thứ sáu, tôi vào văn phòng ông Cẩm xin đi phép 24 giờ. Ông Cẩm lắc đầu cho biết về đây phép cho sĩ quan do Thiếu Tá Tỷ, Thiết Đoàn phó ký. Ông kêu tôi làm đơn, ông sẽ ký chuyển. Tôi ngần ngại lắc đầu. Chuyện mới ràng ràng đây. Trình diện trễ hạn tôi bị “Ba Lần Tư Tưởng”, cách gọi ông Tỷ của hầu hết quân nhân thiết đoàn, “quất” cho “mấy củ” và “dũa” cho một trận thê thảm te tua. Chuyện nầy tôi giấu ông Cẩm. Chừng nào ổng biết thì biết, dại gì mình nói, lộ mặt ba gai của mình ra. Ông Cẩm ngó tôi, nói:

– Có xin chắc cũng không được. Ông Tỷ khó lắm.

Tôi ngần ngừ nói:

– Tôi có chuyện cần phải về Sài Gòn; sáng mai lên cũng được.

Đại úy Cẩm không nói gì, cấm cúi xem công văn. Hồi lâu ngẩng lên thấy tôi vẫn đứng tần ngần cạnh cửa, ông nói:

– Ông làm gì thì làm. Tôi không biết.

Vậy là ông Cẩm làm ngơ tôi “dù” rồi. Tôi mừng rỡ vội vàng ra khỏi phòng kêu Hạ Sĩ Hạ,tài xế xe jeep đi ngay. Tôi nóng lòng gặp Phú. Mấy tháng qua tôi cố không nghĩ tới, mong rằng chuyện còn nguyên như vậy đến khi tôi về. Hạ Sĩ Hạ cho biết không có sự vụ lệnh xe không qua cầu Bình Lợi, không vô Sài Gòn được đâu. Tôi đành phải đến bến xe để đi xe “lô”. Vừa lên ngồi trên chiếc xe sắp chạy thì có một người tới hỏi tôi ngay:

– Tôi là tài xế xe nầy. Chú có giấy phép hôn?

Tôi ngạc nhiên chưa hiểu, chưa kịp phản ứng thì người ấy nói tiếp:

– Không có giấy phép Quân Cảnh ở cầu Bình Lợi sẽ bắt đó.

Tôi chán nản xuống xe. Thấy dáng vẻ của tôi chắc áo não lắm, ông tài xế lại gần, móc thuốc mời rồi nói:

– Muốn về Sài Gòn chú chỉ có thể trà trộn trong xe mấy cô bán bar trong Phú Lợi mà thôi.

Mừng rỡ tôi kêu Hạ đi. Người tốt bụng kia lại nói:

– Cần gì đi đâu. Chú chờ đây, lát nữa xe tụi nó về, qua cả đống. Có giang xe nào lớn, đông người, dễ trà trộn.

Chiều ấy trên chiếc xe chật cứng mấy cô gái bán bar làm tôi quên lo, quên buồn. Xe mới chạy được một quảng đã có người ghẹo tôi rồi:

– Dù chi dzậy? Cái mặt khó đăm đăm. Bộ vợ đẻ hả?

Thấy mấy cô vui tánh tôi cũng ỡm ờ:

– Tui chửa vợ.

Mấy cô cười rú lên:

– Chửa hả? Chửa mấy tháng rồi?

Có cô nói:

– Mặt chả non choẹt dzậy mà dzợ con gì. Bộ anh về xin má cưới dzợ hả?

Cô khác chêm vô:

– Ờ. Chắc dzậy. Thấy cái mặt đực ra là biết muốn dzợ lắm rồi.

– Anh cưới em đi. Em muốn chồng muốn chết nè.

Mỗi người một câu, cười giỡn ầm ĩ. Giỡn đã rồi mấy cô mời hút thuốc ăn kẹo. Qua khỏi Lái Thiêu mấy cô lột áo một chàng nhạc công “trồng” lên cho tôi. Đội cho tôi một cái nón vải, mấy cô đẩy tôi vào trong cùng, dựa lưng vào thùng xe, rồi ngồi che chắn. Thế là tôi qua trạm quân cảnh dễ dàng. Tôi xuống xe ở ngã ba Nguyễn Văn Học – Chi Lăng. Khi cám ơn từ giã mấy cô lại rộ lên cười đùa, trêu ghẹo:

– Anh về nhớ nói má đi hỏi em nha. Em chờ anh lắm đó..ó.

Thiệt là mấy cô quỷ sứ tốt bụng.

Tôi về đến nhà trời vẫn chưa tối. Sau một hồi suy nghĩ tôi quyết định không đi tìm Phú ngay. Lúc nầy đi đêm ở Sài gòn dễ gặp ma… quân cảnh. Nếu bị quân cảnh tóm lần nầy chắc tôi sẽ bị đưa xa khỏi Sài Gòn “mút- mùa- lệ- thủy, mút- chỉ- cà- tha- luôn.”

Đêm đó tôi ngủ ngoài hàng hiên, lâu lâu ngó qua lỗ thông gió. Tôi nhớ đến những lần Phú và tôi bên nhau, môi kề môi má kề má. Tôi nhớ đến mái tóc thơm, đôi mắt sáng và đôi môi mềm ướt của nàng. Tôi nhớ đến lần hai đứa nằm đây, yên lặng nghe từ hộp nhạc tiếng đàn thảnh thót gợi buồn xa xăm. Mới đó mà tưởng như xa lắm rồi. Không biết mấy tháng qua Phú có về nhà hay không. Tôi nhứt định không hỏi má nàng. Tôi không muốn tỏ ra mình là người yếu đuối. Đêm đó tôi thức rất khuya, lầm thầm những lời nói để dịu cơn giận của Phú ngày hôm sau.

Tôi ở nhà chờ suốt buổi sáng hôm sau. Phú không về. Quá trưa tôi lấy xe đi đến đường Nguyễn Thiện Thuật. Vẫn như trước, không có ai trả lời cửa, không có ai xuất hiện. Chắc trong nhà người ta nhận ra kẻ ù lì nầy. Không biết bao lâu sau tôi nổi nóng bỏ đi. “Vừa thôi chứ. Được không được thì thôi… Hành người ta dzữ dzậy…” Nhưng tôi tắt cơn giận ngay. Dù có giận hờn nguyền rủa, dù có năn nỉ van xin chi đi nữa cũng có mình tôi nghe, mình tôi biết. Rõ ràng Phú không cần biết đến tôi, không dính dáng đến tôi nữa. Nếu nàng không còn ở nơi ấy nữa, hay không muốn găp tôi chỉ cần có một người mở cửa nói rằng nàng đã không còn ở đấy thôi. Tôi sẽ không còn đến tìm. Chiều ấy tôi về Bình Dương, lòng đã quyết không tìm Phú nữa. Biết là thừa thãi vô ích nhưng tôi vẫn nói thầm một câu: “Tôi vẫn cố đi tìm đấy nhé. Mai mốt đừng đổ thừa tại tôi.” Tôi nói cho yên lòng mình.

Mấy tháng sau chi đoàn hành quân yểm trợ công binh Mỹ gần Lái Thiêu. Lúc nầy tôi rỗi rảnh nhiều. Mỗi ngày chỉ có 2 chi đội hoạt động, một theo xe ủi ủi rừng Cò Mi, một yểm trợ xa. Ông Cẩm ít đi đâu, cứ ở nhà “giữ chùa” nên tôi rất huỡn để đi chơi. Một đôi lần tôi về nhà ở Phú Nhuận. Má Phú không qua như những lần trước. Chắc bà đã biết và hài lòng việc tình Phú với tôi đã tan. Em tôi hỏi “Bộ anh với con Phú rã rồi hả?” Tôi cũng chẳng trả lời. Tôi giả vờ quên chuyện đã qua, và thường cùng đám “nghệ sĩ cầm ống tiêu”, các trưởng xa chịu chơi, đi uống rượu ở các bar Phú Lợi. Tối về say rượu, nằm võng ngoài một bụi tre miệng cứ ong ỏng rên hoài hai câu thơ của thầy Vũ Hoàng Chương:

“Đêm nay lửa tắt bình khô rượu,

Đời vắng em rồi vui với ai…”

Rồi cứ lập đi lập lại mãi câu “đời vắng em rồi vui với ai… Vắng em rồi vui với ai… vui với ai…” Vui với ai?…

Nhưng không. Tôi không đành lòng để cho mối tình của tôi chết, chết một cách tức tưởi như vậy được. Tôi tự hẹn lòng mình đó sẽ là lần cuối tôi tìm Phú. Khoảng tháng 8 tôi bị thương ngay ngày đầu tiên trong 1 cuộc hành quân trong mật khu Tam Giác sắt. Từ lộ Bến Cát vào, qua khỏi mật khu Long Nguyên thiết đoàn rẽ phải tiến về hướng bắc trong rừng cao su. Chi đoàn tôi đi cánh trái. Sau khi dừng quân ăn trưa gần Rạch Bắp, hơn giờ sau chi đoàn tiếp tục đi. Xe tôi bị mìn khi xuất phát chừng chục thước, còn trong vòng phòng thủ. Xe chi đoàn phó, thường đi theo vết xích xe trước, bị mìn là chuyện hi hữu. Tài xế tránh một chiếc chiến xa bị vướng, lách qua hàng lô cao su khác thì tôi cảm thấy đất đá, cây lá đổ rào rào định mở miệng la tài xế nhưng không biết gì nữa. Khi tỉnh dậy tôi thấy mình nằm trong xe đầu gát lên tay và xe đang cháy. Biết xe bị mìn, thấy cửa sau mở tôi tuôn ra ngay, chạy một khoảng xa theo bản năng sinh tồn. Có mấy người lính đến đỡ tôi nơi tôi hết hơi té xuống. Trưởng xa và tài xế được khiêng đến đặt nằm bên tôi. Mìn nổ ở bánh lăn đầu, dưới đít tài xế. Anh bị hất ra khỏi xe, gãy từng khớp xương, hấp hối rồi chết bên tôi. Trung Sĩ Nhất Tưởng, trưởng ban sửa chữa kiêm trưởng xa, ngồi trước tôi trên nắp cửa tài xế bị hất tung lên trời rồi rơi vào trong xe như tôi. Nhưng anh không được may mắn, khi rơi chắc bị chạm vào thành “cửa vuông” và chết trước khi được cứu ra. Hạ Sĩ nhất Tòng đỡ tôi ngồi dậy, vừa nói vừa vuốt bụi đen trên cánh tay phải của tôi: “Thẩm quyền hên quá”. Tôi cảm thấy đau và nhận thấy cánh tay bị cháy phỏng. Cái vuốt của Tòng lột luôn một mảnh da lớn. Khi y tá dùng kéo cắt hết quần áo mới biết tôi bị phỏng bên phải từ chân lên đầu. May mắn mặt tôi không bị gì, chỉ bị cháy góc đuôi chân mày (thêm chuyện tiếu lâm cho Hạ Sĩ nhất Y). Tôi nhờ ai đó trong đám “nghệ sĩ cầm ống tiêu” giữ giùm tôi cái “bóp” mà tôi luôn luôn bỏ trong túi áo bên trái ngay trái tim (vì có lần nó giữ được một mảnh miểng cối). Trong đó có vài kỷ vật của Phú. (Than ôi! Tôi quên mất tiêu luôn). Tôi được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa. Chỉ vài ngày sau tôi đã “dù” ra định đi tìm Phú. Nhưng tôi kịp nghĩ lại rằng đến với Phú trong tình trạng bị thương như vậy có vẻ khêu gợi lòng thương hại nên về nhà ba tôi. Hơn 2 tháng trước sau nhiều phen lần lựa tôi lại đi đến đường Nguyễn Thiện Thuật tìm Phú, trước khi về đơn vị vì hết phép dưỡng thương. Tôi vẫn chờ như nhiều lần trước. Chỉ hoài công vô ích mà thôi.

Chiều 30 Tết ấy tôi từ bỏ ý định tìm Phú lần nữa. Chim đã xa bay, biết đâu mà tìm. Đã hơn năm rồi kể từ ngày tôi gặp Phú lần cuối. Niềm hy vọng của tôi đã cạn. Trước kia tôi vẫn ước ao không có điều này điều kia xảy ra. Phải chi tôi đi với Phú bằng taxi; phải chi tôi không đưa Phú đến rạp Casino; phải chi cái đèn không bật đỏ; phải chi Phú đừng nghi ngờ bá vơ; phải chi tôi không nổi nóng..Phải chi tôi đưa Phú đi Quảng Ngãi (để làm chuyện “ván đã đóng thuyền”)… Và với lý do nào đi nữa bao giờ tôi cũng nhận lỗi về tôi. Chiều cô đơn ấy tôi mới chua chát nhận ra rằng tôi cố nhận lỗi về mình để… không chấp nhận một ý nghĩ rằng chính tôi mới là kẻ bị tình phụ. Tại sao không chứ? Sự nổi nóng nông nổi của tôi có thể hiểu được. Phú thình lình xuống xe cũng làm tôi “quê”, giống như nàng bị bỏ lại tại ngã tư ấy. Giận vì bị “quê” thì cũng có lúc nguôi ngoai được. Không cần nàng nói tự tôi cũng biết và sẵn sàng xin lỗi mà. Tại sao trốn, không cho tôi gặp? Một trong hai đứa có kẻ cố tình làm chuyện tình mình chết. Kẻ đó không phải là tôi. Tôi biết Phú không bị cám dỗ gì khác hơn là tình yêu. Nuốt cay đắng tôi nghĩ rằng trong một năm tôi xa vắng đã có kẻ nào đó, chắc đẹp trai lắm, theo đuổi tán tỉnh và nàng đã xiêu lòng. Sao lại không chứ? Phú trẻ đẹp lại sống một mình. Nàng cũng cần có người tâm sự và yêu đương. Than ôi! Nếu chuyện xảy ra như thế thì tình nàng với tôi chỉ là những bong bóng nước trong mưa sao? Nàng đã coi nhẹ tình mình, và… tình tôi thế sao? “Không, không, khô…ông…” Tôi muốn kêu to lên cho toát máu, từ chối ý nghĩ nàng đã coi thường tình tôi. Sau này tôi mới biết rằng khi người ta có tình yêu mới thì tình cũ chỉ là bọt bèo chẳng đáng chi. Người ta muốn quên càng nhanh càng tốt, làm như nó chưa từng có, chưa từng xảy ra. Một lần nữa tôi lại nuốt cay đắng vào lòng. Nàng phải yêu kẻ kia say đắm lắm nên mới không chịu gặp tôi để nói lời cuối. Nàng sợ gặp, sợ dính dáng đến tôi sẽ làm cho tình nàng với kẻ kia sẽ mất đi chút ít lòng chung thủy. Nàng tránh mặt tôi để tôi không thể tìm tới làm hại tình nàng và người yêu của nàng. Trời ơi! Những ý nghĩ đó xé nát lòng tôi.Một niềm đau đớn, uất hận xâm chiếm đầu óc tôi. Tôi đau lòng muốn khóc. Nếu vậy sao chiều ấy khi gặp tôi nàng lại vui vẽ mừng rỡ như thường? Tôi tự hỏi, cố vùng vẫy thoát ra khỏi móng vuốt của những ý nghĩ quái ác kia. Không thể không gặp được. Hoặc là nàng chỉ mới xiêu lòng trước những lời tán tỉnh, hoặc là nàng muốn gặp lại lần nữa để so tình nàng với tôi và với kẻ kia. Có thể lắm chứ. Và sao khi đã biết lòng mình, nàng chấm dứt với tôi bằng cái cơ hội mà tôi dại khờ đem lại. Không. Không phải tôi mà chính nàng đã tìm cớ bằng cách nghi ngờ tôi sẽ đưa nàng đi đâu đó, để làm gì đó. “Phú à, vậy là anh, coi vậy mà không phải vậy, vẫn chỉ là một chàng khờ câm, phải không?” Nhưng nghĩ kỹ lại xem. Phú của tôi lại có lòng dạ và đầu óc hiểm sâu vậy sao? Không. Không phải đâu. Phú không phải là người như vậy đâu. Hay là Phú đã bị má thuyết phục rằng tôi sẽ giống ba tôi. Đời lính đưa tôi phiêu bạt nhiều nơi và tôi sẽ có vợ nầy vợ kia, vợ đây vợ đó. Trước nàng không nghe mẹ, biết đâu giờ “mưa lâu thấm đất?” Nhưng nếu chỉ như vậy cần gì phải tránh mặt. Bao nhiêu ý nghĩ trái ngược quay cuồng trong đầu, thay phiên hành hạ tôi.

“Ví dầu tình bậu muốn thôi

Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.”

“Em biết em thương anh nhiều…” Thật vậy không? Hay trong lúc cô đơn tuyệt vọng nàng chỉ mượn vai tôi để khóc và mượn tai tôi nghe những lời kể lể về số phận hẩm hiu của mình? Không. Tôi biết Phú thương tôi. Nàng đã bất chấp lời mẹ và dì. Yêu lính đã là một nỗi khổ rồi. Yêu một người lính tác chiến, luôn ở phương xa, không biết khi nào về, không biết còn thân để về hay không thì còn khổ hơn bao lần nữa. Nàng vẫn chờ tôi về hy vọng có ngày sống bên nhau mà. “Nhưng Phú yêu mình vì cái gì chứ?” Tôi chưa hề hỏi, không hề biết.

Tôi nhớ đến lời Phú nói: “… mà anh không thương em bao nhiêu…” Tôi biết tôi thương Phú, thương nhiều nhưng sự biểu lộ không được như vậy. Hơn 1 năm xa vắng tôi không hỏi nàng làm thế nào để sống, và sống ra sao. Ôi! Sao cái thằng tôi vô tâm quá vậy! Bao nhiêu đó chưa đủ, tôi lại nhẫn tâm bỏ nàng giữa đường ngay sau lần đầu gặp lại. Trong một cơn giận không đáng giận tôi đã nhẫn tâm bỏ nàng giữa đường thì tại sao không có một ngày nào đó trong một cơn giận khác tôi lại không bỏ nàng giữa đời chứ? Chỉ mới là tình nhân thôi mà tôi đã vậy rồi, khi là vợ chồng tôi sẽ còn giở thói vũ phu đến đâu nữa. Làm sao Phú không nghĩ như vậy. Một sự liên tưởng dễ dàng. Ôi! Chỉ có thằng ngu như tôi mới không nghĩ đến. Một năm qua nàng đã sống xa gia đình, kiếm sống một mình. Nàng như một con chim vừa sổ lồng, tự do bay nhảy, ngắm nhìn. Trong lần gặp cuối cùng, qua những lời nói và thái độ của tôi tại ngã tư ấy chắc nàng đã đọc được trên mặt tôi dòng chữ “ăn hiếp vợ” và liên tưởng tới số phận của mẹ và dì. Nó nhắc đến viễn cảnh của cuộc sống chung sắp tới với tôi và chắc nó làm nàng sợ. Nàng như một con chim tự do đậu bên ngoài lồng đang ngắm nghía nhìn trước khi bước vào trong thì cơn giận của tôi làm nàng sợ hãi cất cánh bay. Nàng bay đi mất, không bao giờ ngoái lại. Phải mà, dì nàng ở trong cái lồng bằng vàng mà còn khổ đau. Còn cái lồng tre xấu xí của tôi nào có nghĩa lý gì. Tôi lờ mờ hiểu cái vẻ lạ trong ánh mắt sáng quắc cùng với lời nói “không sợ” của nàng trên chiếc taxi ngày nào: quả cảm và dứt khoát. Dù lỗi do ai lời hứa “đừng bỏ nhau” ngày xưa của 2 đứa đã theo nước trôi qua dưới cầu. Nỡ lòng bỏ nhau ngay sau lần gặp đầu tiên sau 1 năm xa vắng vì một lý do hết sức là vu vơ thì thật đau đớn, không làm sao hiểu được. Ngày ấy tôi không quay lại nên không biết mặt nàng lúc đó ra sao. Chưng hửng, ngẩn ngơ, uất hận, mắt đẫm lệ? Tôi nhớ đến bài thơ định tặng nàng có đoạn kết như một lời lặng lẽ chia tay. Ngày ấy tôi không cố ý làm vậy, chắc là ảnh hưởng bài thơ của Trần Tuấn Kiệt mà tôi thích từ mấy năm trước, trước khi đi lính.

Ta chẳng về đâu người biết chăng

Đi là đi trọn kiếp lang thang… (2)

Tôi còn thích hơn hai câu thơ mà Kiệt dùng làm đề từ cho bài thơ của mình:

Mã thượng tương phùng vô chỉ bút

Bằng quân truyền ngữ báo bình an. (3)

Mặc dù chữ Hán Việt, học mấy năm đầu trung học, đã trả lại cho thầy Hồng Tiêu hết rồi nhưng tôi cảm thấy hai câu thơ ấy hay quá. Hay đúng hơn, nó hợp với tâm cảm của tôi. Ngâm lên nho nhỏ, âm Hán Việt gợi lên một cảm xúc bùi ngùi. Lời nhắn gửi có vẻ bình thường ấy với tôi nó chất chứa một tâm sự gì u uất, thê lương, não nề lắm. Nghe buồn mang mang.

Tôi vẫn còn thích bài thơ ấy của Trần Tuấn Kiệt, chắc còn mãi mãi. Nhưng tôi không còn định đi lang thang nữa. Tôi đã về để lấy vợ. Thế mà… Về để rồi chia tay vĩnh viễn. Sự trùng hợp sao có vẻ định mệnh quá. Một cuộc chia tay lặng lẽ, nhưng người thực hiện là Phú.

Ước chi tôi gặp Phú một lần để nói: “Phú à, em muốn sao cũng đươc. Em cứ đi theo trái tim em đi. Nhưng anh không cố ý làm vậy đâu.”

Ước chi Phú nói: “Thôi anh quên em đi. Duyên nợ mình chỉ bấy nhiêu thôi.”

Chỉ vài câu đơn giản, có vẻ cải lương một chút, cũng đủ làm lòng tôi đỡ bị dày vò. Tôi nhớ câu Phú nói: “duyên gì, nợ anh thì có”. Câu nói đó trong tiểu thuyết chắc cũng có hàng chục cô đã nói, nhưng riêng trong chuyện tình của tôi sao nó thấm thía quá. Hai đứa ở gần nhau rất lâu mà không thân nhau được. Rồi chỉ có một lần trò chuyện đôi câu, đôi lần liếc mắt, một cái nắm tay chúng tôi đã yêu nhau đắm đuối, bất chấp mọi thứ. Để rồi vì một lý do không đâu mối tình nồng nàn, tràn ngập yêu thương của chúng tôi đứt đoạn, chết tức tưởi, một cách lãng nhách. Ôi! Chuyện tình tội nghiệp của tôi, chấm dứt do duyên hay nợ cũng làm tôi đau lòng. Thôi, hãy cứ cho là hết nợ như Phú đi. Hết nợ, nàng đã biến mất khỏi đời tôi.

Chiều 30 Tết ấy, tôi đã quyết không bao giờ đi tìm Phú nữa. Nhưng sao lòng còn mãi luyến tiếc. Luyến tiếc không nguôi.

Khi còn yêu, mắt môi còn ướt…

Làn hương, màu tóc chưa cạn hết…

Niềm yêu đầu… mà dở dang nhau… (4)

Tháng ngày trôi qua. Tôi vẫn theo đơn vị phiêu bạt khắp nơi. Chuyện về Phú tôi cố đè nén lòng mình, không hỏi, không nghe, không nhớ, không biết. Tôi không muốn hỏi lại lòng mình, không dò lòng Phú nữa.

Năm tháng trôi qua. Tôi tưởng tôi đã quên được Phú, quên luôn mối tình tội nghiệp của tôi.

——-

Mấy năm sau, ở một nơi và lúc nào đó Hạ Sĩ nhất Ngọt, một trong những “nghệ sĩ cầm ống tiêu”, bấy giờ là tài xế của tôi, đưa cho tôi một tấm hình. Tôi ngạc nhiên nhìn tấm hình, nhìn Ngọt hỏi:

– Mấy thứ kia đâu?

Ngọt trả lời xụi lơ:

– Mất tiêu hết rồi. Không biết đứa nào lấy.

Đến lúc bấy giờ tôi mới nhớ đến cái bóp mà tôi đã nhờ ai giữ giùm khi bị thương mấy năm trước. Than ôi! Vậy là tôi làm mất hết số kỷ vật nhỏ nhoi mà Phú đã trao cho tôi, giữ trong cái bóp cũ ấy. Những kỷ vật gợi biết bao nhung nhớ. Hai tấm hình, một chiếc cà rá nhỏ bằng bạc trên mặt có chữ P, và bức thư màu xanh có bài thơ ngắn, lá thư đầu tiên cũng là lá thư cuối cùng Phú viết cho tôi, và một lọn tóc. Lọn tóc đó tôi xin Phú cắt cho tôi trước khi ra Quảng Ngãi. Tôi nhớ Phú ngạc nhiên hỏi:

– Chi dzậy?

– Để anh hun mỗi khi nhớ em.

– Nhớ thì người ta hun hình, chớ ai hun tóc?

– Anh hun tóc. Tóc có mùi của em, còn hình thì không.

Phú nhoẻn miệng cười:

– Khùng. Anh nầy khùng!

Tuy vậy hôm sau Phú đưa cho tôi lọn tóc ấy, gói trong một tờ giấy pelure trắng, và thêm một tấm hình. Tôi bùi ngùi ngó tấm hình cũ. Đó là tấm hình Phú trao cho tôi trước khi tôi đi ra Trung lần đầu, cỡ 6/9, hình ảnh trong đó đơn sơ bình dị, chắc được rửa lại từ ảnh chụp cho thẻ học sinh. Một khuôn mặt đẹp, đường nét rõ ràng, mái tóc hơi quăn che góc trán, môi hơi hé cười và ánh mắt thơ ngây dưới hàng lông mày thanh tú. Tôi bồi hồi ngó hoài bức ảnh của Phú, lúc tuổi chừng 15-16. Mấy năm rồi tôi không gặp Phú, không hề biết, không hề hỏi nàng ra sao, ở đâu. Sau ảnh Phú viết ba dòng: “Tặng anh. Để nhớ em. Kim-Ph.” Tôi đọc lại những dòng: “Để nhớ em. Kim-Ph.” “Anh đã nhớ em, Ph… à. Mà anh cũng đã quên em.”

Tôi bùi ngùi muốn khóc. Bao nhiêu hờn giận đã tiêu tan lâu rồi. Đưa tấm hình lại cho Ngọt tôi nhẹ nói:

– Anh giữ giùm tôi đi.

Năm đó tôi đã cưới vợ rồi. Ngọt ngần ngừ cho tấm hình vô túi, nói:

– Tôi muốn giữ tấm hình nầy như giữ lại hình hồi nhỏ của con Ph.”

Con Ph. là con gái đầu của Ngọt mới hơn 10 tuổi. Tội nghiệp anh Ngọt. Trận chiến dai dẳng ở cầu Bình Lợi năm Mậu Thân làm cháy nhà anh, cướp mất mạng sống vợ anh, làm cháy phỏng và hư nửa mặt của con Ph. mà anh nói đẹp như Phú.

5 năm nữa trôi qua… Chiến tranh đã chấm dứt hơn một năm rồi. Tôi đã không còn là người lính chiến lâu lâu mới được về nhà nữa. Tôi trở thành người tù không biết bao giờ được về nhà. Nói nhà là nhà của ba tôi, nơi tôi gửi vợ tôi lại từ ngày cưới, chứ tôi chưa đủ tiền mua nhà cho vợ. Năm 76, tôi đang ở một trại tù cải tạo, nơi hốc gió đìu hiu nào đó bên cạnh hồ Thác Bà, Yên Bái. Thiếu thốn đủ mọi thứ. Mùa đông đầu tiên nơi đất Bắc sao mà lạnh lẽo. Gió buốt rít từng cơn xuyên qua phên vách bằng nứa trống trải làm tôi thức giấc nhiều lần trong đêm. Đó cũng những phút giây yên ổn ngắn ngủi cho tôi để lòng thương nhớ về người vợ trẻ và đứa con thơ chưa đầy 8 tháng tuổi tôi bỏ lại nhà khi đi tù. Tôi chỉ còn mong được gặp lại vợ con tôi trong giấc mơ thôi. Nhưng không bao giờ được.

Trong một đêm cái hình ảnh tôi cố quên đi gần 10 năm trước lại hiện ra bất ngờ, với miệng tươi cười, ánh mắt âu yếm. Phú đến với tôi trong mơ. Hai đứa đi bên nhau, tay trong tay, dạo phố Sài Gòn. Tự dưng tôi thèm thuốc mà trong túi chẳng còn điếu nào. Tôi nói Phú chờ tôi nơi góc phố để tôi tìm nơi mua thuốc. Tôi đi, đi mãi, tìm mãi mà chẳng thấy có sạp thuốc nào. Đến khi nhớ đến Phú tôi quay lại tìm thì không thấy nàng đâu. Tôi hốt hoảng kêu lớn “Phú ơi” để rồi nghe tiếng mình gọi và thức giấc. Trong đêm tối lạnh lẽo tôi nằm trằn trọc, ướt khóe mắt không biết sao mình nằm mơ mà không thấy vợ, lại thấy kẻ mình đã quên gần chục năm rồi. Và cũng tự trách mình ham hút một điếu thuốc để lạc mất nàng lần nữa trong giấc mơ.

Không phải đó là lần đầu vì ghiền thuốc mà tôi để mất giấc mơ đẹp, niềm vui duy nhất và nguồn hy vọng của tôi trong đời tù. Nhiều lần tôi nằm mơ được thả về nhưng không lần nào về đến nhà được.Có lần lẩn quẩn mãi trong vùng rừng núi. Có khi về đến Sài Gòn. Có lần chỉ còn một quảng nữa là tới nhà gặp lại vợ con, tôi lại lên cơn thèm thuốc. Lại đi tìm nơi mua thuốc, tìm mãi, tìm mãi mà không được, quên mất cả chuyện về nhà. Lần đầu tiên hình bóng của Phú xuất hiện trong mơ mà không tạo cho tôi cái cảm giác bị dày vò cắn rứt. Tôi mừng cho Phú. Dù đúng hay sai, dù lỗi của ai, dù hết duyên hay hết nợ, sự quyết định chia tay ngày ấy đã giúp Phú thoát khỏi thêm một cảnh đời hẩm hiu nữa: làm vợ một tên tù không biết ngày về. Nhưng rồi một cảm giác chua chát tràn ngập lòng tôi. Phú hết “nợ” thanh thản biến mất khỏi đời tôi, để trống chỗ cho kẻ khác là vợ tôi, không biết “nợ” tôi nhiều hay ít, nhào vô lãnh đủ. Tôi thương vợ tôi quá. Tội nghiệp vợ tôi. Nàng còn trẻ, có con còn thơ, chưa biết việc đời không biết có chịu đựng được nỗi tủi nhục của cảnh đổi đời hay không? Và có “tri vong quốc hận?” (5).

Nhiều năm nữa trôi qua….Rồi nhiều năm nữa trôi qua…. Chuyện cũ đã chìm theo thời gian trong bụi mù ký ức. Đời đà tơi tả. Tim đà mỏi mệt. Yêu thương, hờn giận, vui sướng, khổ đau hầu như không còn có nghĩa.

Hồi đầu năm tôi thỉnh thoảng viết vài dòng về những ngày đáng nhớ trong đời lính cũ. Thật khó khăn. Mọi thứ quên đã lâu giờ phải mài mò học lại nên tôi viết rất chậm. Đã vậy tôi còn bị Ms Word hành hạ đủ thứ. Nó cắt dấu, đảo lộn thứ tự chữ, kéo dài khoảng cách, hoặc ghi rời rạc từng chữ từng dấu đã đánh. Tệ nhất là nó làm biến mất cả câu hay cả đoạn vừa mới đánh. Tôi giận lắm, định bỏ viết. Cũng may, tôi vẫn còn ghiền thuốc nên khi nào trở ngại tôi bỏ đó đi hút thuốc, lúc khác viết tiếp. Bài viết kéo dài dù tôi viết rất chậm, có ngày được đôi câu, có ngày được một đoạn. Hơn nửa năm tôi viết được vài chục trang, không nhớ gì đến chuyện tình buồn. Bỗng một đêm hình bóng Phú lại thình lình hiện về trong giấc mơ. Vẫn với dáng trẻ trung, mắt sáng long lanh, nụ cười vui vẻ của lần gặp sau cùng, Phú nói “anh chờ em chút nữa nghen”. Những bông hoa giấy đậu trên tóc nàng dù không thắm tươi rực rỡ như loài hoa nàng mang tên nhưng cũng đủ làm cho hình ảnh tươi trẻ của nàng thêm sống động trên nền trời. Tôi mừng rỡ kêu “em ơi, xuống đây”. Phú cười, quay đi rồi biến mất. Thức giấc, tôi ngẩn ngơ trong bóng đêm quạnh quẽ.

Phú hiện về trong mơ như nhắc tôi thêm chuyện tình tội nghiệp của tôi vào những trang viết. Ban đầu tôi định viết một vài đoạn, hay 1-2 trang, nhưng rồi nó kéo dài. Tôi cắt nó khỏi thiên hồi ký kia, và nó cứ kéo dài mãi. Nó cũng kéo tôi trở lui về quảng đường đời với những nỗi đau đớn phẫn uất đã qua. Cùng với nó là hình ảnh các bạn tôi, các chiến hữu của tôi. Những kẻ cùng tôi xung trận năm xưa và đã đền xong nợ nước, giờ đây thịt xương chắc đã hòa cùng cát bụi. Tôi luyến tiếc những hình ảnh trẻ trung, vui vẻ của họ và tôi ngày nào. Tôi cũng nhớ lại nhiều lúc phẫn hận, giận mình đã kêu lên: “Sao hồi xưa xung trận không chết mẹ đi cho rồi, sống làm gì cho chật đất.” Tôi nhớ đến những ngày vui bên Phú. Rồi nhớ đến những dòng chữ sau tấm hình “Tặng Anh. Để nhớ em. Kim Ph…” Tôi buồn muốn khóc. “Ph. à, chỉ có em nỡ lòng quên thôi.” Nỗi buồn làm tôi không muốn đi trở lại con đường khổ não. Tôi không muốn nhắc lại, viết nữa. Nhưng rồi tôi không đành lòng bỏ rơi mối tình tội nghiệp của tôi một lần nữa. Vài ngày sau khi viết lại,tôi không dừng được.Trong suốt 2 tháng, ngày ngày tôi buồn vui khóc cười với những ngày tháng cũ. Tôi tưởng khi lòng tôi thấm đậm với những kỷ niệm xưa, hình bóng cũ của Phú sẽ lại hiện về trong mơ. Nhưng không một lần. Như Phú ngày xưa, hình bóng nàng bây giờ cũng biến mất. Có lẽ nó đã tìm được một chỗ nào ngóc ngách trong tim tôi và trốn ở đấy, chỉ khi nào muốn trêu ghẹo tôi nó mới hiện ra. Hồi trước tôi ao ước thấy gương mặt Phú trước lần xa nhau vĩnh viễn. Giờ tôi mừng khi đã không được vậy. Nếu không có lẽ gương mặt ngơ ngác, uất hận, mắt đẫm lệ sẽ theo tôi mãi trong mơ. Người về trong mơ ấy mãi mãi vẫn tươi vui đẹp đẽ như ngày nào. Hình ảnh cô gái Sài Gòn….. ấy trẻ mãi không già.

Đã gần 40 năm qua tôi không một lần gặp lại Phú.

Thơ Đường thầy dạy và đọc cho nghe cũng nhiều, sao chỉ nhớ chi những câu buồn.

“Nhân diện bất tri hà xứ khứ…” (6)

KỴ BINH VĂN CHI CHƯƠNG

(1) “Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được…”, Tình Già. Thơ Phan Khôi.

(2) Tiễn Đưa. Thơ Trần Tuấn Kiệt.

(3) Phùng Nhập Kinh Sứ. Thơ Sầm Tham.

(4) Giấc Mộng Đêm Hè, Nhạc. Không nhớ tên tác giả.

(5) “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa,” Bạc Tần Hoài. Thơ Đỗ Mục.

(6) Đề Đô Thành Nam Trang. Thơ Thôi Hộ.

Đi Theo Xác Chồng

baovecovang2012.wordpress.com

Đồi Bắc, K19

Posted on April 25, 2024 by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Apr 2025

Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình.

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.

★

Sau khúc nhạc Hồn Tử Sĩ dạo đầu, cô ca sĩ vừa cất tiếng hát: “Ngày mai đi nhận xác chồng” thì người đàn ông ở tuổi 82 với 13 năm cầm súng bỗng rụng rời chân tay, mặc dù đã nghe nhiều lần khi còn là lính. Dù nghe ngoài chiến trường, nghe ở hậu phương, nghe khi còn trẻ, nghe khi đã về già, nghe ở mọi thời gian và không gian thì con tim nào mà không xúc động với lời thơ của thi sĩ Lý Thị Ý do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, xúc động cho nỗi đau mất chồng của người vợ lính, sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng.

Thi sĩ đã tâm sự với nhà báo Đinh Quang Anh Thái về hoàn cảnh sáng tác bài thơ:

– Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku, thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep, hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.”

Không là vợ lính, chưa là vợ lính mà tác giả đã sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng thì còn nỗi đau nào hơn của người goá phụ đi nhận xác chồng.

Đi nhận xác chồng để đem về lo hậu sự thật là đau đớn, nhưng rồi thời gian sẽ xoa dịu vết thương lòng khi biết “anh” đã mồ yên mả đẹp, “em” còn biết anh ở nơi nào để đến thăm với bó hoa, nén nhang, còn được ngửi mùi hương mà nhớ tưởng hơi chồng.

Nhưng còn những bà mẹ, goá phụ không đi nhận mà phải đi tìm xác con, xác chồng thì không còn nỗi đau nào hơn. Trịnh Công Sơn rên xiết:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh.
Mẹ già lên núi tìm xương con mình!

Khi không còn chiến tranh, đồng đội đã về đoàn tụ với gia đình mà chẳng thấy bóng dáng các anh đâu, các anh đã nằm lại nơi rừng sâu, góc biển, không manh chiếu rách phủ xác, côn trùng, mối mọt đục khoét thân xác người lính mất tích nên nỗi đau người goá phụ càng thêm chồng chất ngày đêm nên phải đi tìm, nhưng biết anh nằm ở đâu mà tìm!

Khi không còn chiến tranh, đã có biết bao goá phụ TQLC đi tìm xác chồng, trong đó có các chị goá phụ HNH, chị ĐHT, chị NXP v.v… đã vượt trăm gian ngàn khổ, liều mình tìm đến chiến trường xưa, nhưng vật đổi, sao dời, biết ai mà hỏi, biết đâu mà tìm, đứng giữa chốn hoang vu, chiến trường xưa mà khóc, ngay cả đám đất, nơi anh nằm xuống cũng không biết để thắp nén nhang.

Mà dẫu có tìm đến nơi anh tử trận, biết anh nằm chung cùng đồng đội, nhưng làm sao phân biệt xương cốt để rước anh về.

Chị quả phụ Tô Thanh Chiêu cùng người anh là Tô Hạnh*, em Tô Giao đã tìm đến thôn An Dương để tìm xác chồng, xác em, xác anh, nhưng xương cốt Đại Uý Chiêu đã trộn lẫn cùng với 132 bộ hài cốt đồng đội, nên người goá phụ chỉ còn biết khóc than:

– Anh! Xưa anh chiến đấu cùng đồng đội, thì nay xin anh tiếp tục cùng đồng đội chung một nấm mồ: “Thập Loại Cô Hồn Hiển hách Chi Mộ”.

(* Từ Mỹ và Úc, Hạnh – Giao đã đôi lần về thôn An Dương thắp nhang cho Chiêu, tháng 2/2023, Hạnh chuẩn bị về thăm em Chiêu lần nữa thì bất ngờ Hạnh mất, Hạnh không về thăm em bằng máy bay mà bay theo gió!)

“Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình!”

Mẹ già Tô Thị Tiếp lên núi Bá Hô tìm xương con mình là Kình Ngư Vũ Văn Tuấn.

Vũ Văn Tuấn được Tiểu Đoàn Trưởng Trần Xuân Quang TĐT/TĐ4 Kình Ngư cho làm tài xế theo lời đề nghị của mẹ Tuấn, vì em ruột là Vũ Văn Hùng, tuy chưa tới tuổi đi lính, nhưng đã dùng khai sinh của Tuấn để tình nguyên vào Cọp Biển rồi Hùng tử trận. Nhưng Tuấn nói với mẹ Tiếp: “Con không thể chết 2 lần”, thế là Tuấn xin ra tác chiến.

Năm 1972, trên đỉnh Bá Hô, VC tấn công vào cánh B TĐ4 của ông Phó Nguyễn Đăng Hoà, quân ta thiệt hại và Vũ Văn Tuấn được báo cáo là mất tích!

Khi hết chiến tranh “mẹ già lên Bá Hô tìm xương con mình” nhưng bà có biết Bá Hô là nơi mô. Núi đồi nhấp nhô trùng điệp, bà hốt nắm đất Quảng Trị, tin rằng có xương cốt con mình trong đó, rồi nhớ thương con, nắm đất con đã nằm trong quan tài mẹ!

Mẹ già Kình Ngư Hữu Dũng thở dài: “Biết tìm con nơi đâu!”

Kình Ngư Nguyễn Hữu Dũng Đại Đội Tiểu Đoàn 4 cùng đồng đội tham dự hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Hỏa lực của địch tàn khốc quá. Dũng bị tử thương ngày 21/3/1971, mất xác ở một ngọn đồi, mà sau nầy không ai biết ngọn đồi nằm ở toạ độ nào.

Huyền Nga – em gái Dũng viết:

“Thằng Hèn” Tô Hải trong đoàn quân của phía bên kia, đã chứng kiến và khóc lặng trước cái chết của một tiểu đoàn, của một đoàn xe, hàng trăm thây người, xác người lính Quốc Gia, xác lính bộ đội nằm lẩn lộn, chất cao như ngọn đồi, mà chẳng bên nào kịp chôn cất hoặc thắp bó hương cầu cho linh hồn họ được siêu thoát. Chiến tranh thật là tàn nhẫn!

Mẹ già đã khóc rất nhiều vì thương con trai ra đi khi chưa được 22 tuổi đời. Mẹ già đã tìm đến rừng núi Hạ Lào, “Mẹ già lên núi tìm xương con minh ” nhưng rừng núi mênh mông, mắt mờ vì mẹ giả khóc con thì còn biết tìm nơi đâu! Thôi thì đành nhờ vào thần linh, nhờ vào bói toán, nhờ nhà “ngoại cảm” v.v… nhưng không ai tìm ra được nơi nào là ngọn đồi vùi xác con nên mẹ già đành bốc nắm đất mang về.

Hoài Thanh – đồng đội Dũng, thay bạn báo mộng về cho Mẹ Già Bình Thạnh:

Hồn Gọi

Đây nắm xương tàn, đây nắm xương
Nằm trơ vất vưởng ở ven rừng
Qua bao niên tuế, vùi chôn mãi
U uất vong linh chốn tục trần

Bao nắm xương tàn, bao nắm xương
Hồn hoang đêm xuống khóc thảm thương!
Mẹ ở phương trời xa có thấu?
Hồn con thổn thức, bấy thu trường!

Sao mẹ không lên núi tìm con?
Máu xương con hòa đất tha hương
Nhưng hồn con mãi mong về mẹ
Sao mẹ không về núi tìm con?

Đồng đội Dũng khóc thay cho Mẹ Già Bình Thạnh.

Mẹ Ru Hồn

Mẹ đã bao lần lên núi non
Tìm con mù mịt, sức hao mòn,
Đôi chân rời rã, lòng tơi tả,
Nhưng mẹ không tìm đâu thấy con?

Mẹ ở chân trời, xa núi non,
Nhớ con tóc mẹ nhuốm u buồn!
Khóc con mắt mẹ khô dòng lệ!
Mẹ nhớ con nhiều, ôi hỡi con!

Thôi nhé con ngoan ngủ thật nồng
Dù trời giông bão nắng mưa chang
Lời đau mẹ vẫn ru hồn ngủ
Qua mấy Thu tàn, qua mấy Đông./.

☆

Nỗi đau đi nhận xác chồng!
Niềm sầu thương nhớ đi tìm xác chồng.

Chúng tôi xin kết thúc câu chuyện nỗi đau mất chồng của các chị goá phụ TQLC bằng câu chuyện bi thảm hơn, sau khi đã tìm được xác chồng thì người goá phụ lại “đi” theo chồng, để lại sầu thương cho đàn con dại.

“Đi” Theo Xác Chồng.

Tôi đã đọc nhiều lần bài viết
“Hoạ Vô Đơn Chí” của chị Trần Thị Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC nói về người goá phụ “đi” theo xác chồng. Câu chuyện quá bi thương đậm nét “tâm linh”, khó tin nhưng có thật nên tôi cố đi tìm hiểu, nhưng ít ai biết. Tưởng chuyện đã đi vào quên lãng thì bất ngờ tháng 2/2023, TQLC Nguyễn Kha Lạt từ Dallas chuyển cho tôi bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” và hỏi tôi có biết gì về chuyện này không, các em mong ước được nghe rõ đầu đuôi.

Lời yêu cầu của các đồng đội làm tôi suy nghĩ, chỉ có một người có thể biết đầu đuôi. Nhưng tôi hơi e ngại, vì từ ngày tị nạn CS tại Hoa Kỳ, ông và tôi chưa liên lạc với nhau bao giờ, nay có người thúc dục, giúp tôi thêm can đảm nên tìm cách kiên lạc với ông.

Người đó là Trung Tá Hồ Quang Lịch, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5/TQLC, đặc lệnh truyền tin của ông là Quang Dũng. Quang Dũng là tên con trai đầu lòng của ông, Quang Dũng luôn quấn quýt bên chú Trần Ba. Trần Ba là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ.5/TQLC- người Quang Dũng coi như em ruột. Trần Ba mất tích trong trận đánh tháng 4/1972.

Hiện nay (3/2023) Quang Dũng
(Tr/Tá Hồ Quang Lịch) đã 87 hiện định cư tại North Carolina, tôi liên lạc với ông bằng cell-phôn mà cứ tưởng như đang dùng máy truyền tin C25

* * *

– Cần Thơ gọi Quang Dũng nghe không trả lời?

– Quang Dũng nghe Cần Thơ 5/5, có gì nói đi.

Giọng một ông đã 87 mà nghe sang-sảng như lão Ngoan Đồng?

– Anh khoẻ không?

– Khoẻ, nhưng đang chạy chơi với thằng cháu nội – con Quang Dũng nên hơi mệt.

– Ông mà còn được chạy vui chơi với cháu nội, ngoại là một điều hạnh phúc nhất trần đời. Tôi đọc bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của bà Huy Lễ, xin Quang Dũng cho biết một số tin tức về Thiếu Tá Trần Ba.

– Th/Tá Trần Ba tốt nhiệp Khoá 3 Nha Trang (Đồng Đế), cùng với Th/Tá Đoàn Đức Nghi, nay thì cả hai đã tử trận rồi! Nghi tử trận khi là TĐP/TĐ1, Ba tử trận khi là TĐP/TĐ5 của tôi. Có chuyện gì mà Cần Thơ lại đi cào vào vết thương của tôi?

– Bà Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội đã viết bài “Hoạ Vô Đơn Chí”, nội dung bi thảm quá, nhưng nhiều TQLC chưa biết về Th/Tá Trần Ba, xin anh cho biết thêm chi tiết.

Hồi lâu mới nghe Quang Dũng nói:

– Quang Dũng đã đọc bài viết này rồi, nội dung đúng, ngoại trừ một vài chi tiết về thời gian ngày tháng liên quan. Đây là sự thật quá đau lòng nên Quang Dũng giữ im lặng từ đó đến nay, không muốn nói với ai cả, vì mỗi khi nhắc đến, anh đều bị nghẹn họng không nói được, anh cũng không viết ra được, nay Cần Thơ hỏi thì Quang Dũng sẽ nói rõ, có những chi tiết thuộc về tâm linh, tùy lòng tin của mỗi người. Trần Ba không chỉ là cánh tay mặt, mà còn hơn thế nữa, một nửa đời người của Quang Dũng, “niềm đau nhớ đời” nên những gì xảy ra với Trần Ba nó hằn sâu trong đầu anh, nhớ từng chi tiết cho tới chết.

Thì ra Quang Dũng biết là sẽ khó nói, vì suốt trong câu chuyện, Quang Dũng cứ nghẹn lời, có những lúc anh ngừng lại hơi lâu khiến tôi phải “a-lô” thì mới nghe tiếng xụt-xịt. Quang Dũng tiếp tục:

– Trần Ba là một trong những sĩ quan giỏi và can đảm nhất mà anh từng chỉ huy. Trước ngày TĐ.5/TQLC đi hành quân Quảng Trị, sáng 4/4/1972, anh dẫn mấy sĩ quan ra ngã ba Cái Lơn (Dĩ An, Biên Hoà) ăn sáng, gồm có Tiểu Đoàn Phó Trần Ba, các Đại Đội Trưởng Ngô Thành Hữu, Dương Công Phó, Nguyễn Văn Quang v.v.., Ngô Thành Hữu nói nhỏ với anh: “Em có bạn là cảnh sát đi theo, xin Quang Dũng cho nhập tiệc nhá”. Anh nói với Ngô Thành Hữu cứ tự nhiên, “tứ hải giai huynh đệ” mà…

– Alo! Alo! Quang Dũng, stop, stop cho Cần Thơ hỏi.

– Hỏi đi!”

– Thời gian tháng 4/72 cả Sư Đoàn TQLC đang ở tuyến đầu, Huế Quảng Trị, sao ngày 4/4/72 anh vẫn còn ở ngã ba Cái Lơn, Biên Hoà?

– Không phải cả Sư Đoàn, mà chỉ có Lữ Đoàn 147/TQLC và 258/TQLC đang ở tuyến đầu, ngày 2/4/72 Bộ Tỗng Tham Mưu mới điều động Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn 369 từ Sài Gòn ra Huế. Lữ Đoàn 369 của Đại Tá Phạm Văn Chung gồm có TĐ2 của anh Nguyễn Xuân Phúc, TĐ9 của Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ và TĐ5 của Quang Dũng lần lượt được không vận ra Huế. Quang Dũng đi chót nên ngày 5/4 mới đi.

Quang Dũng nói tiếp về bữa ăn sáng:

– Ăn được chừng 10 phút thì anh bạn Cảnh Sát của Hữu xin phép nói đôi lời. Chuyện hơi lạ, hiếm khi trong bàn ăn của đàn Cọp Biển mà có người ngoài dám xen vào lên tiếng trước, Quang Dũng tò mò nên đồng ý ngay.

Anh Cảnh Sát ấp úng thưa:

– Thưa quý anh, vì quá thương mến và kính phục các anh TQLC nên em xin đi theo anh Hữu để được làm quen, không ngờ tới đây, em thấy có chuyện cần thưa, có thể điều em nói làm các anh không vui, nhưng vì em là bạn thân của anh Ngô Thành Hữu.

Thấy anh Cảnh Sát có vẻ lo âu rào đón, Quang Dũng phất tay:

– Bạn cứ nói đại đi.

Anh Cảnh Sát ngó thẳng vào Trần Ba nói:

– Thưa anh, (tức Trần Ba) “thiên cơ bất khả lậu”, nhưng vì em vô cùng quý trọng anh, nên em nghĩ rằng phải nói ra, dù sau này em gặp điều không may. Anh (tức Trần Ba) phải hết sức thận trọng, đề phòng bất trắc, nếu không thì trong vòng 10 ngày tới anh sẽ gặp đại nạn, có thể mất mạng, em báo cho anh biết trước để đề phòng.

Quang Dũng thở dài rồi nói tiếp:

– Sau khi nghe anh Cảnh Sát nói thế, không khí bữa ăn sáng không còn ồn ào, nhưng ai đã là lính đánh giặc thì cũng đôi lần gặp những lời “tiên tri” như thế này rồi, đôi khi sai, đôi khi đúng. Dù sai hay đúng, đã là lính cầm súng ra trận thì không có quyền đề phòng gì cả, mà chỉ việc tuân lệnh cấp chỉ huy, dù nhìn thấy cái chết trước mắt. Chúng ta đã từng chứng kiến trong chiến trận như: Binh Nhất A xung phong vào mục tiêu, chưa tới nơi đã gục ngã, tức thì Hã Sĩ B tiến lên, nhưng vẫn gục ngã giữa đường, trung đội trưởng ngó vào Trung Sĩ C ngoắc tay, thế là C phóng tới, không có đề phòng con mẹ gì cả. Tuy vậy để trấn an thằng em, buổi chiều hôm ấy (4/4/72), vợ chồng Quang Dũng mời vợ chồng Trần Ba qua ăn cơm, nhà hai thằng cùng trong trại gia binh TĐ5/TQLC (cạnh suối Lồ Ồ, Dĩ An), 4 con gái của Trần Ba và thằng Quang Dũng con của anh vẫn vui đùa. Sau một hớp rượu cay, Trần Ba ghé tai anh nói nhỏ:

– Đại Bàng! Em thương vợ em quá, nếu có chuyện gì thì em sẽ đem vợ em theo.

Tôi tưởng nghe lầm, nghe không rõ lời Quang Dũng nên vội ngắt lời:

– Anh Lịch, anh còn nhớ rõ không mà nói thế…

– Mày* không tin lời tao nói phải không? Tao là thằng Hồ Quang Lịch, đã 87 tuổi rồi, mày cũng đã 82, chúng ta có thế quên chuyên hôm qua, nhưng chuyện sống chết mấy chục năm về trước thì nó hằn sâu trong đầu, trong tim, vì đó là những nỗi đau vô cùng tận. Hơn nữa Trần Ba nó đang ở trên cao, đang nghe tao nhắc lại chuyện xưa, chuyện 51 năm về trước, làm sao tao dám phịa chuyện?

* Hình như Quang Dũng phật lòng về câu hỏi của tôi nên anh “mày tao”, điều này chứng tỏ anh nói là thật lòng nên tôi vội vàng xin lỗi:

– Xin lỗi anh, vì lời tâm sự của Trần Ba làm tôi phát hoảng, xin anh nói tiếp.

– Chiều ngày 5/4/72 Tiểu Đoàn tao đáp xuống Phú Bài, GMC chở tiểu đoàn tao về chỗ Cao Bằng LĐ 369 của Đại Tá Chung để hoạt động trong khu vực Mỹ Chánh.

Ngày 6/4/72 một đơn vị Địa Phương Quân bị VC tấn công, ông Cao Bằng lệnh cho tao bảo đưa cánh B đi tiếp viện. Nhớ lời của người cảnh sát, thay vì đưa cánh B của Trần Ba đi tiếp viện theo lệnh Cao Bằng, tao dẫn 3 đại đội đi tiếp viện còn Trần Ba với 1 đại đội ở lại để làm trừ bị. Chuyện tiếp viện chẳng có gì khó, VC bỏ chạy để lại 10 xác. Chắc mày hiểu quyết định của tao đề Trần Ba ở lại làm trừ bị.

Nghe giọng Quang Dũng sôi nổi như đang điều quân rồi muốn chửi thề nên tôi cần giảm “nhiệt độ” của anh xuống bằng cách nhắc lại chuyện của tôi:

– Quang Dũng, tôi hiểu quyết định của anh đầy lý và tình, tôi cũng đã có lần làm như anh. Đại Đội Phó của tôi mới cưới vợ trước khi đi hành quân, Chính than buồn, nên khi nhảy trực thăng vào kinh Cái Thia, tôi sắp xếp cho Chính nhảy sau cùng với trung đội súng nặng, nhưng Chính vẫn lên tuyến đầu và rồi tử trận, để lại mẹ già và..

Quang Dũng ngắt lời khi tôi chưa nói hết câu, anh bảo:

– Sao giống trường hợp của tao: Ngày 7/4/72, tiểu đoàn tao nhận năm ngày tiếp tế để hành quân lục soát. Mờ sáng ngày 8/4/72 xuất phát, cánh A tao tiến chiếm những mục tiêu chính, nặng, còn cánh B của Trần Ba có đại đội của Dương Công Phó và Đỗ Trung Giao tao cho tiến theo các mục tiêu phụ (nhẹ). Nhưng tao luôn nhắc Trần Ba là phải đi thật chậm, nếu cần thì dừng quân lại ngay, không cần ngang hàng với tao.

Khoảng 8 giờ 30, cánh A tao chạm địch, cùng lúc nghe súng nổ bên cánh B, tao luôn nhớ lời anh cảnh sát nói lúc ăn sáng tại ngã ba Cái Lơn nên tao thét Trần Ba dừng lại, kiếm vị trí cố thủ để tao lo điều động cánh A sang giúp nó.

Vài phút sau, tao nghe Trần Ba báo cáo tịch thu được súng cối và đại liên, tao biết tính Trần Ba khi đụng trận nên tao thét bạch văn luôn:

– Trần Ba, tao ra lệnh cho mày dừng quân lại ngay, nghe chưa Ba?

Nhưng rồi tao không nghe Trần Ba trả lời, tao gọi cho Phó, Giao cũng không nghe, mất liên lạc với cánh B! Tao liếc nhìn đồng hồ lúc đó là 8.45 sáng ngày 8/4/1972! Mất liên lạc với cánh B, mất liên lạc với Trần Ba, người tao lạnh toát, cứng đơ, tao kêu trời:

– Chưa tới 10 ngày, mới chỉ có 4 ngày thôi mà! Trần Ba ơi!

Im lặng hồi lâu, Quang Dũng nghẹn lời, tôi biết, tôi thấy anh đang khóc! Tôi cũng đã thét lên khi nghe Th/Uý Quang báo Tr/Uý Chính chết! Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn hỏi, tôi khóc không trả lời được nên ông mắng:

– Cậu đừng làm người khác mất tinh thần”. (Hiện nay Đồ Sơn đang ở San Jose, ông còn nhớ chuyện này)

Tôi cần tôn trọng những giọt nước mắt của Quang Dũng đối với Trần Ba, không được phép hỏi thêm bất cứ điều gì lúc này, nên tôi (nói dối) xin phép tạm ngưng “vì còn phải đi đón cháu ngoại”. Nghe tôi phải đi đón cháu ngoại thì anh cũng nói:

– Ừ đi đi, tao cũng đi chơi với cháu nội, nó đang ngó tao khóc, mai gọi lại.

Thiếu Tá Trần Ba “mất tích” lúc 8 giờ 45 phút sáng ngày 8/4/1972 cùng với trung đội đi đầu! Nếu có gọi lại, tôi sẽ không hỏi Quang Dũng bất cứ chi tiết nào liên quan tới trận chiến Th/Tá Trần Ba mất tích, vì anh có giải thích thế nào tôi cũng không hiểu, đơn giản là tôi không ở trong cuộc, và không muốn cào thêm vết thương đau cũ của anh.

Từ tháng 4, tháng 5/1972, và những tháng sau đó, trận chiến khốc liệt liên tiếp xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến Huế, Quảng Trị. Ngoài Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 3BB, thượng cấp còn đưa luôn toàn bộ 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và TQLC tham dự, cho tới khi tái chiếm được Quảng Trị ngày 16/9/1 972, xương máu đổ ra, có biết bao quân tử trận, mất tích, bị thương. Trận chiến tiếp diễn ngay cả sau khi có đình chiến ngày 28/1/1973.

Cho nên ngày hôm sau tôi gọi lại Quang Dũng, tôi chỉ cần nghe anh nói về việc tìm ra hài cốt của Th/Tá Trần Ba.

– A-lô, Cần Thơ gọi Quang Dũng!

– Quang Dũng nghe đây, tao chờ chú mày.

– Anh kể vắn tắt cho nghe việc tìm thấy hài cốt anh Trần Ba.

– Mày biết là sau cái ngày gọi là “đình chiến”, TQLC vẫn hành quân “giữ đất”, trong một lần hành quân vào vùng nơi Trấn Ba mất tích, tao nhận được lệnh từ cấp trên cho tạm dừng quân. Tao không thắc mắc dừng quân để làm gì, nhưng tao sực nhớ ra đây là toạ độ, là vùng Trần Ba mất tích nên tao vội cho Thượng Sĩ Thường Vụ tên Đông cùng anh em Đại Đội Chỉ Huy đi lùng sục trong phạm vi dừng quân. Khu vực này đã bị bom đạn cày nát, chỉ còn những bụi cây nhỏ và những bãi cỏ may. Lục tìm bụi cây, bới đất, tới chiều toán của Thượng Sĩ Đông báo cáo tìm được 12 bộ hài cốt, không còn ai nữa. Tao cho lệnh Thượng Sĩ Đông dẫn anh em về vị trí đóng quân. Một lúc sau Đông gọi máy báo cáo không hiểu tại sao Đông cứ bị vấp té hoài, không đứng dậy được, kêu tao lên cứu.

Linh tính cho tao biết có chuyện., tao gọi thầm tên Trần Ba và nói Thượng Sĩ Đông khấn vái xem sao. Thượng Sĩ Đông bèn quỳ gối vái lạy:

– Lạy Đại Bàng Trần Ba, xin Đại Bàng hướng dẫn cho chúng tôi tìm được..

Thượng Sĩ Đông đứng dậy được, đi tới như có lực đẩy sau lưng, đi quanh co một hồi thì Đông trông thấy một vạt cỏ xanh, xanh hơn những chỗ khác, Đông vẹt đám cỏ xanh ra và trông thấy bộ quân phục rằn ri đã mục nát, rồi Đông hốt hoảng báo cho tao: “Tìm thấy rồi, thấy rồi Quang Dũng ơi”.

Toàn thân tao nổi gai ốc, không biết nói thế nào về cảm xúc của tao trong lúc đó. Nhớ thương thằng em cả năm nay rồi, nay tìm thấy hài cốt thì lại đau lòng, em tao chết thật rồi, không còn tia hy vọng mất tích rồi có ngày sẽ trở về!

Dưới vạt cỏ, Đông tìm thấy bộ quân phục TQLC đã mục nát, nhưng trên nắp túi áo có thêu chữ: TRAN BA. Tìm thêm được thẻ bài mang tên TRÂN BA và bộ xương.

Trần Ba đã về với đồng đội và gia đình vào tháng 4/1973 sau 1 năm “mất tích”.

Tối hôm đó, Quang Dũng cho rửa sạch hài cốt, cho binh sĩ thay nhau đứng gác bên hài cốt suốt đêm, sáng hôm sau tao xin phương tiện đưa hài cốt Trần Ba về Saigon, đồng thời lệnh hậu cứ biệt phái 1 xe Jeep cho chị Trần Ba dùng tới khi nào không cần nữa.

☆

Hoạ Vô Đơn Chí

Hậu cứ TĐ 5 báo cáo cho tao tin tức hằng ngày, và đúng như bà Huy Lễ đã viết. Hậu cứ sắp xếp quàn hài cốt Trần Ba tại chùa thì chị Trần Ba xin quàn tại nhà và chôn tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà, thay vì nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Đại Tá LĐQ, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn đã đến tư gia viếng hài cốt, truy thăng Cố Trung Tá và gắn Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc cho Thiếu Tá Trần Ba.

Tài xế hậu cứ lái xe Jeep đưa chị Trần Ba, bố và em trai Trần Ba là Trần Lành đến nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà để lo việc xây kim tĩnh cho Cố Trung Tá Trần Ba.

Khi gần đến nghĩa trang, một xe GMC của Mỹ đi từ Biên Hoà về hướng Saigon, bất ngờ lạc tay lái, bay qua đường ngăn đôi xa lộ, đâm trực diện vào xe Jeep!

Hậu quả là Bố và chị Trần Ba tử nạn tại chỗ, tài xế và Trần Lành bị thương nặng. Quang Dũng nghẹn lời, dù anh biết như thế nhưng vẫn tự đặt câu hỏi:

– Có phải Trần Ba đã về đón vợ đi theo như đã nói trong bữa cơm chiều tại nhà Quang Dũng ngày 4/4/1972 không?

Im lặng.

Dù độc giả cũng như tôi còn muốn biết thêm nhiều chi tiết khác liên quan tới trận chiến cuối cùng của “Người Hùng Trần Ba”, nhưng sau khi nghe Quang Dũng tự đặt câu hỏi như trên thì độc giả và tôi không nên hỏi thêm bất cứ chi tiết nào khác nữa, ngoài những chi tiết mà Quang Dũng đã bộc lộ sau hơn 50 năm chôn chặt trong long.

Tôi hỏi câu chót:

– Hiện nay anh có liên lạc được với các con của Cố Trung Tá Trần Ba không?

– Hiện nay tao còn liên lạc được với một trong bốn cháu gái con Trần Ba, cháu này ở Maryland, ba cháu kia vẫn còn ở Việt Nam./.

Đồi Bắc, K19/TVBQGVN
CA 29/11/2023
(nguồn: Đa Hiệu số 127/tháng 1-2024

Xếp Al Capone

vietmessenger.com

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 10 Apr 2025

Chương 4

The Saint Velentine’s day massacre

(Cuộc thảm sát ngày Lễ thánh Valentine)

Trong một cái ga ra vắng nằm ở khu Near North Side thành phố Chicago, Đàn anh Antonio cùng 5 thằng đàn em thân tín nhất đang ngồi bên lò sưởi chùi lại mấy cây Tommy Gun. Lúc ấy vào khoảng 4 giờ sáng. Trời Chicago đến tháng 2 rồi mà sao còn lạnh đến khiếp. Tất cả đều im lặng lau lau chùi chùi, không ai thèm nói với ai một câu. Thỉnh thoảng có tiếng kéo cơ bẩm vang lên sột soạt. Đàn anh Antonio đích thân kiểm soát từng viên đạn một trước khi nhét vào băng. Dân giang hồ Chicago thời đó có cái tật là thích tự nhồi thuốc đạn lấy cho cây Tommy gun của mình.

Cây tiểu liên Thompson, còn được gọi là cây Tommy Gun mới có từ sau đệ nhất thế chiến. Cha đẻ của cây súng quái quỷ này là đại tá Thompson của lục quân Hoa Kỳ. Một ngày ở chiến trường, sau khi lau chùi cây súng lục Colt .45 mới tinh của mình, ông vô ý ráp nó lại thiếu một bộ phận hay làm gãy một cái gì đó mà không để ý. Lúc đụng trận, ông rút súng ra tính bóp cò một phát nhưng không ngờ cả 7 viên đạn liên tiếp theo đuôi nhau chui ra làm thành một loạt liên thanh bất ngờ không cách nào tốp lại được. Địch tưởng ông có súng nặng nên không dám tiến lên. Được trớn, ông tiếp tục lắp băng khác vào bấm cò. Ngạc nhiên trước sức công phá, ông nghĩ đến việc lắp thêm cho cây Colt .45 một cái nòng dài hơn, một băng đạn nhiều hơn và một cái khóa lựa chọn để bắn từng phát hay liên thanh. Sau khi chiến tranh kết liễu, với số tiền về hưu của một đại tá bộ binh, ông Thompson bỏ thì giờ ra nghiên cứu và cho ra đời khẩu tiểu liên Thompson đầu tiên trên thế giới. Nặng chỉ có 8 pounds rưỡi, cây súng này có thể bắn xuyên thủng một tấm ván dày 3 inches ở khoảng cách 500 thước dễ như chơi. Xách lại trong tầm nhìn, nó dư sức đốn ngã một thân cây có đường kính là 27 inches hoặc phá thủng tấm thép dày 1/4 inches. (Tài liệu của New York Corporation Auto Ordnance) Lúc nó mới ra đời, các ông cảnh sát New York cười vào mũi ông già Thompson, chê ông này lẩm cẩm, coi đó là một thứ đồ chơi con nít chỉ vì nó bắn bằng đạn súng lục. Các cơ quan an ninh liên bang (Lúc ấy FBI chưa được thành lập) cũng chê. Ai cũng chê hết, chỉ có một giới chơi súng duy nhất thời đó đánh mùi được sức công phá dữ dội và tầm quan trọng của cây Thompson là mấy tay anh chị Mafia. Giá bán rẻ rề, chỉ có 149 đô một cây nên thầy chú thi đua nhau đặt mua rào rào. Chỉ một thời gian ngắn, cán cân lực lượng giữa cảnh sát và bọn này bị thay đổi hẳn. Số cảnh sát bị Tommy Gun quất nằm chỏng gọng giữa đường càng ngày càng tăng. Nhiều vụ đấu súng, ăn cướp chỉ có vài thằng mà cảnh sát phải huy động cả đại đội đến bao vây tại vì mấy thằng khốn quạt Tommy Gun quá đẹp, không có thầy nào dám bò vô. Phải mất mấy năm sau, chính phủ Hoa Kỳ mới biết mình hố và bắt đầu đặt mua một lần mấy chục ngàn cây Tommy Gun để cấp tốc trang bị cho tất cả các nhân viên an ninh cảnh sát. Danh từ Tommy Gun nổi tiếng cũng kể từ đó.

Dĩ nhiên khi cây Tommy Gun bắn bằng đạn súng Colt .45 nên thuốc súng thường được nhồi rất ít hay giới hạn. Các tay anh chị Chicago, “bao nhiêu năm trong nghề” biết cách biến cây Tommy gun thành một cây súng lợi hại hơn. Có gì đâu, chỉ tháo đầu đạn ra, nhồi thuốc vào cho đến khi nào nó đầy ắp, không thêm được chút nào nữa thì mới nhét đầu vô trở lại. “Overboost” như vậy, bắn một phát thì sức công phá phải biết, đúng là “bắn phát nào đáng đồng tiền phát đó”. Khổ thân cái nòng súng, chỉ sau vài trăm viên đạn nhồi Mafia là đã bị nở toang hoát như cánh hoa về chiều. Không sao, cái quan trọng là người bị bắn có chết không chớ nòng súng thì rẻ rề, hai chục đồng một cái mới nguyên, tha hồ mà thay thế. Hơn nữa, đụng trận trong thành phố, có ai bắn quá vài chục viên đạn? Năm ba viên đầu là những viên quyết định, sau đó là co giò chạy thục mạng rồi… Có nhiều tay anh chị kỹ hơn, như xếp Al Capone và Đàn anh Antonio, chỉ cần bắn vài chục phát là đã cho đàn em đi thay nòng gấp gấp, mấy đồng bạc tiếc làm gì?

Từ lúc 2 giờ sáng hôm nay, Đàn anh Antonio và bọn đàn em đã tụ tập đầy đủ ở cái “trung tâm hành quân” mới tinh này để duyệt lại kế hoạch lần cuối cùng trước khi xuất trận. Cách đây vài tháng, sau khi vùng hoạt động càng ngày càng bị thu nhỏ vì áp lực tụi Al Capone, đánh hơi được cái sào huyệt mình thế nào cũng bị bại lộ, Đàn anh Antonio đã ra công tìm kiếm một địa điểm bí mật mới để dời sào huyệt. Thật không còn chỗ nào tốt hơn cái ga ra vắng vẻ ở khu North Side này. Thời đại kinh tế còn phồn thịnh, đây là trung tâm phân phối hàng hóa nhộn nhịp mỗi ngày với hàng trăm chuyến hàng lên xuống của các chiếc truck đủ loại đến từ khắp nơi trên nước Mỹ. Nhìn cái sân rộng đủ chỗ đậu cho gần trăm chiếc xe vận tải hạng nặng, cộng thêm cái building vĩ đại mà ngày xưa tài xế thường vào đây để nghỉ ngơi qua đêm, cặp mắt …gian ác của đàn anh Antonio biết ngay là dưới bàn tay nó, cái khu vực hoang vắng này sẽ trở thành một nơi hái ra tiền. Một nửa phía sau sẽ được biến cải cấp tốc thành những lò cất bia to lớn nhất thế kỷ. Vĩ đại như vậy, không chừng có thể cất đủ Bia để cung cấp cho toàn thể Chicago. Rồi nó tưởng tượng đến những chuyến xe truck hạng nặng 18 bánh chở đầy ắp rượu và bia đi vô đi ra hàng ngày. Xưa nay, rượu và bia lậu từ Canada chở về vì chưa có kho hàng nên vẫn phải cho tản mác đi nhiều chỗ, rất khó kiểm soát, và kẹt nhất là dễ bị đối phương phục kích. Đàn anh Antonio còn nhớ khi cuộc chiến lên đến thời cao độ, có ngày nó bị ăn cướp mất đến hai chiếc xe cam nhông đầy rượu. Bọn Al Capone sau này nhờ tung tiền như nước nên đã thiết lập được một đường giây tình báo vô cùng hửu hiệu. Những chiếc cam nhông chở rượu của trùm Colosimo từ Kansas City qua chưa kịp chạy hết vòng thành phố là chúng nó đã biết nên cho người sách súng đứng rình sẵn ở một khúc đường nào đó, chờ xe tạt qua là nhảy phóc lên kèm cứng thằng tài xế. Khốn nỗi, tài xế xe rượu lậu thường phải mướn những đứa lương thiện có bằng cấp và thẻ hành nghề đàng hoàng để qua mặt cảnh sát. Mấy thằng này, vì không phải là dân chơi chuyên nghiệp cho nên khi nhìn thấy cây Rouleau đen thùi lùi kê vô màng tang mình thì còn biết trời trăng gì nữa, nó biểu đi đâu mà chẳng tuân lệnh? Có thằng còn hãi quá, lính quýnh làm sao mà quẹo chiếc cam nhông vô lề đường, phải de tới de lui mấy bận mới ra nổi kia mà. Thông thường thì bọn cô hồn bắt thằng tài xế lái thẳng về kho rượu của xếp Al Capone. Đây là thượng kế. Lấy hết rượu bia xong tụi nó cho thằng tài xế xách xe không ra về kèm theo một cái thiệp cám ơn có ký tên của xếp Al Capone đàng hoàng. Đôi lần khác, nếu thấy khó ăn quá, tụi nó cho lủi mẹ chiếc xe xuống đường mương. Thế là gần nguyên cả khu phố tự nhiên có mùi bia mùi rượu bốc lên nồng nặc từ mấy ống cống. Dĩ nhiên, mày ăn cướp xe tao thì tao lại không biết cho đột kích xe của mày chăng? Antonio cũng đã cho trả đũa nhiều cú đẹp ra gì. Trả đũa đẹp lắm nhưng làm ăn kiểu này thì đứa nào sống được lâu? Một chiếc xe rượu lậu nhiều khi trị giá đến cả mấy trăm ngàn đô la, bị mất chừng hai chiếc là coi như tháng đó làm ăn chỉ mong lấy huề, tiền đâu mà ăn xài? Chiến tranh Mafia, vì ở trong thành phố nên luôn luôn bị chi phối nặng nhất bởi sức mạnh kinh tế. Kẻ chiến thắng luôn luôn là kẻ có nhiều tiền hơn đối thủ. Hết tiền là hết tất cả, kể cả mạng sống. Vì vậy, cáo già cỡ trùm Colosimo và Al Capone làm sao không biết áp dụng cái quy luật “đập túi tiền” nó trước? Cái ga ra to lớn sẽ giải quyết được nhiều vấn đề, một trong những vấn đề đó là có một kho chứa rượu vĩ đại.

Mặc cả thương lượng để mướn xong miếng đất là ông trùm Colosimo cho xây gấp một bức tường cao lớn chung quanh để biệt lập mình với thiên hạ cái đã. Trước cổng đàn anh Antonio còn cẩn thận cho đóng luôn một cái biển: “Hãng thầu Xây Cất Ferro Corporation” bằng đồng sáng chói, nhỏ thôi, nhưng coi rất là đẹp mắt. Để làm ra vẻ thương mại hiền lành, cái cổng sắt ra vô con đường lớn của hãng không bao giờ thấy người gác. Coi “sạch sẽ” vậy nhưng nếu ai để ý dòm xéo vô bên trong và …lên cao chút nữa, nơi có cái phòng kính ở đầu lầu hai, thì sẽ nhìn thấy mấy thằng cô hồn luôn luôn ôm Shotgun ngồi nhìn xuống.

Bức tường vừa dựng lên xong là cảnh sát khu North Side được đàn anh Antonio chi địa đầy đủ liền. Chi đẹp lại là đằng khác. Cảnh sát khu này tuy đã ăn lương tháng của Al Capone rồi nhưng đâu có sao, thời buổi kinh tế khó khăn, người ta làm hai ba việc là chuyện thường mà. Mới vài tháng thì làm sao gây dựng một đại bản doanh đầy đủ được, nhưng đàn anh Antonio có cái nhìn rất lạc quan. Chỉ cần năm ba tuần nữa thôi là mọi chuyện đâu sẽ vào đó. Al Capone sẽ chết. Khi thằng khốn Al Capone bị bứng rồi thì Frank Nitti sẽ như con cá bị vớt ra khỏi nước. Nó biết thằng này khéo léo, cẩn thận, có tài giết người và tài tổ chức nhưng không có bộ óc thương mại, năng khiếu tổ chức và quan trọng nhất là cái nhìn chiến lược sâu sắc của một đàn anh Mafia. Đàn anh Mafia dòm đâu cũng phải thấy …tiền ở đó, bắn giết chỉ là chuyện phụ, chuyện cực chẳng đã. Đàn anh Antonio đánh giá Frank Nitti chính xác như người thợ kim hoàn lâu năm kinh nghiệm ước lượng món trang sức mình cầm nơi tay, không sơ xẩy một chút nào: Nó sẽ chẳng bao giờ trở thành một lãnh tụ cỡ Al Capone, mà chỉ luôn luôn là một thằng đao phủ thủ tài giỏi và trung thành. Có lẽ xếp Al Capone đã biết thằng phụ tá mình rõ hơn ai hết nên mới tin dùng nó mà không sợ bị tạo phản hay bán đứng. Ai cũng ngán Frank Nittie, chỉ có đàn anh Antonio dám chắc là sẽ cho thằng này “đi luôn” một cách dễ dàng. Đám còn lại, kể cả Frankie Rio thì sẽ như rắn mất đầu, không có gì đáng lo. Tóm tắt, cái nhìn chiến lược của đàn anh Antonio là: Một khi cánh Al Capone không còn …Al Capone nữa thì lâu lắm là ba tháng tụi này sẽ bị dẹp yên, sự nghiệp lẫy lừng của Al Capone sẽ chỉ còn trong mấy đống hồ sơ dầy cộm của ty cảnh sát Chicago và sở bài rượu liên bang.

Và hôm nay là cái ngày mà Antonio quyết định cho Al Capone “đi luôn”. Với kế hoạch đột kích bất ngờ “Bộ tư lệnh Lexington” đã soạn thảo kỹ lưỡng trong đầu, nó tự lựa lấy năm tay súng sừng sỏ nhất trong đám đàn em còn lại để làm công tác này. Đứa nào cũng trên dưới mười lăm năm tung hoành trong thế giới của bàn tay đen. Dĩ nhiên, tất cả đều là những tay súng cự phách, nhưng bắn tiểu liên giỏi cũng chưa chắc là đã trở thành được một tay chơi ngon lành đáng để đàn anh Antonio để ý. Nhiều yếu tố khác cũng không kém quan trọng như lòng can đảm, sự quyết tâm, tài ứng biến v.v… Tụi nó nhất định phải nhìn thấy xác thằng Al Capone ngày hôm nay.

Antonio tự tay kiểm soát từng viên đạn một. Còn một mớ lựu đạn nữa, nó tháo ngòi từng trái, kiểm soát thuốc nổ bên trong. Trái nào cũng được nhồi thêm thuốc. Đàn anh hoan hỉ vặn kíp lại. Lựu đạn quan trọng nhất là cái kíp nổ, sơ xẩy một chút là cả phòng biến thành một cái …hộp thịt người như chơi mà đàn anh xem ra chẳng có ý tứ gì cả, cứ thong thả vặn hết trái này đến khác. Tiếng vặn nghe ken két đến lạnh người. Kiểm soát của mình xong, Antonio còn cẩn thận coi lại mấy cây khác của đám đàn em. Tất cả đều ở trong tình trạng hoàn hảo, không chê vào đâu được.

Antonio ngước nhìn đồng hồ treo tường rồi bốc điện thoại gọi tổng đài xin số của thằng Strado. Chuông reo hai tiếng, giọng ông chủ lò bánh mì vang lên bên tai, đầy sự kính cẩn:

– Lò bánh mì Naples, Strado tôi nghe.

– Antonio!

– Dạ… tôi đang ngồi chờ.

Đàn anh Antonio đáp nhẹ nhàng:

– Kế hoạch phải hủy bỏ giờ chót. Ông bạn thông cảm, tụi này không tới tối nay được…

Strado giật mình đánh thót một cái. Như vậy là hoài công phí của. Hay là Antonio đã biết được bọn Al Capone có mặt ở đây từ chập tối? Trán Strado chưa gì đã thấy lấm tấm mồ hôi, mặt tái hẳn đi. Nó chưa lấy hồn lại được sau vụ đột kích vừa rồi của Al Capone, nếu Antonio hoãn tấn công thì mọi chuyện lại sẽ bắt đầu từ con số không. Đầu óc Strado trở nên tê dại.

Sắc mặt thất thường của Stado không qua khỏi cặp mắt của xếp Al Capone đang ngồi sát bên đó. Xếp đưa hai tay ra dấu cho nó phải bình tĩnh. Strado líu ríu nói:

– Có chuyện gì không đàn anh Antonio? Tôi đã làm theo như ý của đàn anh, đâu có gì trễ nải đâu.

– Tôi biết rồi nhưng không được. Thành thật xin cảm ơn ông bạn, chắc có lẽ chúng tôi sẽ chẳng nhờ ông bạn nữa đâu?

Strado chưa biết trả lời sao, miệng méo đi một cách thảm hại:

– Thì anh em muốn sao cũng được. Muốn mượn xe tôi cho mượn xe, bây giờ nếu không cần nữa thì thôi…

– À, mà ông bạn đừng có đi đâu hết nghe, có thể lát nữa đàn em tôi cho ghé ngang qua để biếu ông bạn món đồ. Chỗ anh em với nhau mà.

Chỉ có vậy thôi là Antonio gác điện thoại cái rụp, khỏi bye bye làm gì cho mất thì giờ. Strado thẫn thờ như người mất hồn, nhìn Xếp Al Capone lắc đầu:

– Hỏng hết rồi xếp ơi! Antonio vừa gọi thông báo nó hủy bỏ cuộc tấn công tối nay. Không chừng chắc nó đã biết xếp có mặt ở đây rồi…

Xếp Al Capone lắc đầu, mồi một điếu xì gà:

– Ông bạn lầm rồi, tôi đâu có lạ gì thằng chó này. Nó còn sống đến giờ này cũng nhờ những cái vụ úp mở này. Chưa bao giờ có người nào, trừ tôi, đoán trúng được chuyện nó sắp làm. Vậy nó có dặn ông ở nán lại đây không?

– Có, nó dặn đừng đi đâu, sẽ có người ghé tặng món quà đền ơn.

Xếp Al Capone vỗ mạnh vào mặt bàn làm thằng làm Strado giựt bắn mình:

– Xong rồi. Ông cứ ngồi đó chờ điện thoại đi, lát nữa thế nào nó cũng gọi lại cho coi. Nó không hủy bỏ chương trình đâu.

Cũng vừa lúc ấy, Frank Nittie bước vào phòng, kề tai xếp nói nhỏ:

– Chuyên viên điện thoại của mình vừa thông báo là họ đã phăng ra chỗ ở của Antonio rồi: Khu Near North Side.

Xếp hất đầu một cái:

– Cho tụi nó ra xe chờ sẵn. Tao ra là mình dọt liền.

Xếp Al Capone dụi tắt điếu xì gà. Những khi sung sướng cực độ, xếp thường không làm được gì cả, chỉ muốn ngồi yên để thưởng thức. Xếp tưởng tượng cái hình của Antonio máu me be bét trên trang nhứt của tờ Chicago Tribune chiều nay. Như vậy là xong một đoạn đường.

Quả như lời xếp đoán, chỉ chừng nửa tiếng sau, chuông điện thoại của Strado lại reo vang. Ống nói vừa nhấc, đã nghe đàn anh Antonio sủa gọn lỏn:

– Từ bây giờ đến sáu giờ sáng, tụi tôi có mặt ở lò bánh.

Strado thầm kính phục sự ước đoán của xếp Al Capone, chả trách gì xếp trở thành một tay anh chị sừng sỏ nhất thế giới. Giọng nó sảng khoái như vừa trút được một gánh nặng:

– Đàn anh muốn sao cũng được. Thằng Strado này luôn luôn chiều ý đàn anh. Tất cả đều sẵn sàng, đang chờ đàn anh tới.

Antonio cẩn thận:

– Tụi trên Lexington có gọi cho ông không?

Lần đầu tiên Strado dám nói dối với đàn anh Antonio:

– Không, không thấy gì hết.

– Có đứa nào bén mảng tới đó không?

– Không, chỉ có mình tôi và thằng nướng bánh.

– Very good!

– Đàn anh có thể cho biết mấy giờ không? Tại tôi còn phải đi ngủ nữa…

Câu trả lời thoáng vẻ hơi khó chịu:

– Biết vậy đủ rồi. Rán chờ chút đi người anh em.

– Dạ dạ,.. thì phải vậy chứ sao. Đàn anh cứ tin tôi đi.

Antonio gác ông nói. Nó lại ngước nhìn đồng hồ treo tường. Bốn giờ sáng. Antonio chợt nhớ hôm nay là ngày lễ thánh Valentines, một ngày biểu tượng của tình yêu, của những trái tim nồng thắm trên thế giới. Ngày của tình yêu mà đổ máu tùm lum như thế này thì thật là uổng, Antonio chặc lưỡi. Bọn nó còn nửa giờ nữa để dợt lại kế hoạch lần chót trước khi phóng xe ra đi. Antonio đốt điếu thuốc lá, ngoắc tay cho sáu đứa đàn em quây chung quanh mình. Dưới sàn nhà, một cái họa đồ sơ khởi của khách sạn Lexington được vẽ sơ sài. Đúng ra, đó chỉ là một cái hình vuông lớn chứa nhiều …ô vuông nhỏ trên tờ giấy bằng nét vẽ nguệch ngoạc. Không hiểu sao chúng có thể định đâu là đâu được nhưng đàn anh Antonio bình thản chỉ vào cái hình vuông ở một góc:

– Tao lập lại thêm lần nữa những gì tụi mày đã biết. Khách sạn này có hai cái nhà hàng, cái lớn nhất ở từng dưới và cái kia ở từng thứ hai. Sau khi đút đít chiếc xe của lò bánh mì Naples vào cửa sau, tụi mình cứ việc bình thản chất bánh lên bốn cái xe nhỏ rồi đẩy vào. Đừng làm mau quá mà cũng không làm chậm quá, cứ đúng điệu tà tà của công nhân lương thiện là ăn tiền. Dĩ nhiên, đừng quên chất luôn mấy cây Tommy gun và mớ lựu đạn dưới những ổ bánh mì. Xong xuôi, lúc đẩy xe vào, hai thằng tài xế cứ tà tà ngồi ngoài đó mà chờ cho tao. Nhiệm vụ của tụi mày là “clear” cái bãi đậu xe từ nhà bếp ra tới ngoài lộ. Đ. M. đánh mà không có đường rút là tự sát. Nên nhớ, nhiệm vụ hai đứa này rất quan trọng, nếu bãi đậu xe có bị gì trục trặc, phải dọt vào trong thông báo cho tao biết. Nếu không thấy ai, tao sẽ coi như là bãi đậu xe an toàn. Có thằng nào thắc mắc gì không?

Antonia quét mắt một vòng chờ đợi ý kiến. Không có tiếng trả lời. Có vài tiếng nuốt nước bọt ừng ực. Antonio lại chỉ vào một ô vuông khác, tiếp:

– Từ trong bếp, một thằng đẩy chiếc xe bánh ra tới hành lang chính rồi tìm cách đứng luôn tại đó cho tao. Nhiệm vụ thằng này là chận hết những đứa nào muốn dọt lên cầu thang sau khi súng đã nổ. Chiếc xe bánh thứ hai sẽ vô thang máy để đi lên lầu 2. Đích thân tao sẽ đẩy chiếc này với ba thằng nữa. Ở trong thang máy, phải chuẩn bị súng đạn xong. Tới lầu hai, thay vì đi thẳng vào nhà hàng, mình sẽ đi vòng qua trước phòng của thằng Al Capone.

Antonio lấy cây viết chì, đưa lên miệng liếm rồi gạch chữ “X” vào một cái ô đen bên cạnh:

– Tao biết, khoảng giờ đó, thằng Frank Nitti chưa có mặt, nó chỉ có hai thằng gác hành lang là có mặt 24/24 thôi. Dĩ nhiên, tụi mày phải nhớ là cho tới lúc đó, mình vẫn còn là những thằng thợ bánh mì làm ăn chân chỉ của hãng Naples. Cứ tà tà đẩy xe qua mặt tụi nó. Qua khỏi rồi, thằng Mac Coy và Roberto, tụi mày quay trở lại bất ngờ để tặng cho mỗi đứa một đường giây lụa. Làm sao cho đẹp mắt, không được sơ hở. ĐM cứt sẽ phun ra tùm lum đầy hành lang nhưng đỡ hơn máu. Ngày lễ thánh Valentines không nên để máu chảy nhiều quá…

Một tràng cười hềnh hệch cất lên, rồi hai tràng, rồi đến cả đàn anh Antonio cũng cười:

– Gần bốn chục năm tao chưa bước vô nhà thờ nên phải tỏ lòng tôn kính một chút.

Tràng cười chấm dứt, Antonio lại trở nên nghiêm trang:

– Phải chắc chắn là tụi nó bị siết cổ chết ngắc trước khi mình tiếp tục. Lúc này, tất cả súng ống phải cầm tay, lựu đạn sẵn sàng. Phòng sát bên phòng Al Capone là “trụ sở” của đám cận vệ. Đích thân tao sẽ gõ cửa phòng thằng Al Capone. Trong lúc đó, thằng Baker sẽ trổ tài mở khóa, mày, Roberto, thủ sẵn hai trái lựu đạn. Cửa vừa mở ra là thảy vào đó hai trái cho tao. Lựu đạn tung đi rồi là phải đóng ập cửa lại liền để dọt xuống giữ an ninh cầu thang, đừng có ham máu mà hư việc lớn. Thằng Al Capone thì có lẽ lúc ấy tao cũng lo xong rồi. Thằng còn lại ở dưới khi nghe súng nổ phải dọt ra cầu thang chính để phụ cho Mac Coy và Roberto dọn đường xuống.

Bảy khuôn mặt anh chị dưới ánh đèn điện vàng coi lầm lì đến khiếp. Antonio vò nát tấm sơ đồ trong tay:

– Tầng dưới chắc chắn sẽ còn một ít cận vệ của nó nữa. Nhiệm vụ của 3 thằng ở cầu thang chính lúc đó là khóa họng tụi này. Lúc ấy không được ham máu ở lại bắn nhau với tụi nó mà phải kiếm đường rút lẹ. Kể cũng không có gì khó vì khi nghe súng nổ, mọi người trong khách sạn đều ở yên trong phòng. Chỉ có đám cận vệ mới xách súng ló mặt ra, mà chưa chắc tụi nó đã dám vì không biết mình có bao nhiêu thằng. Hễ thấy cánh cửa phòng nào hé mở là cứ quạt Tommy vào đó cho tao…

Còn một điều gì làm bận tâm Antonio, nó nhíu mày:

– Cái tao chưa tìm ra được là không biết thằng Frank Nitti giờ đó sẽ ở đâu?

Antonio ngừng một chút suy nghĩ:

– Nếu nó có mặt ở Lexington sáng nay thì mình hơi kẹt nhưng cũng không đến nỗi nào vì mình có yếu tố bất ngờ. Thằng nào bị thương không tự ý chạy được coi như …bỏ. Nếu vào nhà thương hay bị bắt, tao sẽ lo sau.

Antonio xốc lại sợi dây đeo súng:

– Có đứa nào hỏi gì không?

Hỏi mẹ gì, dân anh chị mà. Đây đâu phải là lần đầu chúng nó đi thi hành những mission như vầy. Như cơm bữa. Bọn cùng thời với chúng, thằng nào chịu không nổi thì đã giải nghệ, nhiều đứa khác đang đếm vài chục cuốn lịch trong tù hay đã nằm yên trong nghĩa địa. Những thằng còn lại toàn là dân chơi thứ thiệt, bắn rất chính xác, …chạy rất mau và sống rất đế vương. Chúng nó vô cùng hãnh diện lần đột kích này, đích thân người hùng Antonio, nổi tiếng là đệ nhất đao phủ thủ của Chicago đi với chúng.

Đàn anh Antonio bấc giác lắc đầu, cảm thấy tiếc thằng John Alario. Nó ngon thật nhưng hấp tấp quá, chưa xứng đáng là đối thủ của Frank Nitti. Nếu nó cứ bình tĩnh một chút, chờ cho đến sáng nay thì nội công ngoại kích, thằng khốn Al Capone làm sao đỡ được? Một tay súng ngon cũng quý như con tuấn mã, cần được điều khiển bởi người cưỡi giỏi. Ngựa hay mà không được dìu dắt thì có hơn gì bày ngựa thường? Đàn anh quyết chí sáng nay sẽ rửa hận cho thằng Alario.

Antonio quay người ra sau, tự tay bưng bình cà phê rót đầy bảy tách. Ít khi đàn anh thèm biểu diễn cái màn “tự do bình đẳng” như vầy. Thường thì nó chỉ ngoắc tay một cái rồi chỉ vào bình cà phê là hai thằng cận vệ ruột đã lo chạy thụt mạng để điếu đóm cho đàn anh. Nhưng hôm nay, không hiểu vì hứng tình gì, Antonio làm một nghĩa cử quá đẹp. Roberto nhìn đàn anh ngạc nhiên tự hỏi: Trước khi xung trận sao Antonio lại đổi tính bất thường? Không biết đây là điềm tốt hay điềm xấu?

Antonio dòm đồng hồ: 4 giờ 30 phút. Nó hít một hơi thở dài, nhìn đám đàn em:

– OK tụi mày, trước sau gì cũng một lần chết. Đã tới giờ lên đường.

Lại thêm một câu nói gở! Đám cô hồn lục đục đứng dậy, mặt mũi đứa nào cũng tĩnh bơ như sắp sửa lên đường đi chơi, không hề thấy một chút căng thẳng hay lo lắng. Những cây tiểu liên, shotgun được chúng xách lên kiểm soát lại lần chót. Antonio là người đầu tiên bước tới cánh cửa:

– Tao và thằng Roberto sẽ chờ tại góc đường số bốn. Tụi mình sẽ thay quần áo tại đó.

Ngay lúc ấy, bỗng có tiếng còi hụ của xe cảnh sát. Cả sáu thằng cùng nhìn nhau thắc mắc, lặng yên đứng nghe. Tiếng còi xe từ xa đưa tới, càng lúc càng gần. Ủa, tụi này chạy đi đâu mà sao nghe y như là nó quẹo vô trong khu đất của mình. Antonio lẹ làng thò tay tắt ngọn đèn ngoài cửa, vén màn nhìn xuống. Đích thị rồi, nó đang quẹo vào cổng, ánh đèn pha sáng quắc lướt một vòng ngang ga ra, đèn đỏ trên xe chớp chớp liên hồi.

Một thằng đàn em của Antonio lên đạn cây shotgun săm săm chuẩn bị đi xuống. May mà Antonio xông tới kịp túm áo thằng em, gầm vào mặt:

– Roberto, mày tính làm cái trò gì. ĐM muốn bắn lộn với cảnh sát ở đây hả? Dẹp cha cái trò ngu ngốc đó lại. Tao cấm không thằng nào được đụng đậy gì hết. Cảnh sát quận này là “người nhà” của mình, ĐM lại chắc hôm qua có thằng khốn nào ăn cướp nhà băng hay bậy bạ gì ở đâu đây nên tụi nó mới biểu diễn cái trò hành quân cảnh sát này cho dân chúng yên tâm đó mà.

Roberto hạ nòng cây shotgun. Trong đầu nó văng ra một câu hỏi kỳ lạ: cái ga ra này có mẹ gì mà cảnh sát lại hú còi xông vào đây? Thầy chú ở đây ai cũng biết mình đang trong giai đoạn gầy dựng cơ sở, làm gì có giọt rượu nào trong này. Hơn nữa, nếu có chuyện nghi ngờ thì thiếu gì cách thông tin cho nhau? Hầu hết cảnh sát ở quận này ăn lương tháng ngập mặt của mình mà? Nó gác cây shotgun trở lại kệ, lắc đầu suy nghĩ ráng tìm ra đáp số của bài toán.

Antonio quát lên như sấm:

– OK, tất cả súng đạn để hết trên đây rồi dọt xuống dưới hết với tao để coi mấy thằng khùng này muốn gì. Tao lập lại, cấm không thằng nào được lạng quạng, nếu chúng có xúc lên xe cây, cứ việc leo lên, cùng lắm mình hủy bỏ cuộc đột kích ngày hôm nay, tao sẽ lo sau. Tụi mày nghe rõ hết chưa?

Đàn anh Antonio vừa càu nhàu vừa mở cửa bước xuống. Lệnh đã ban ra rõ ràng như vậy, đứa nào dám cãi. Vả lại, cái lệnh này hợp lý: dân anh chị không bao giờ thèm đi ăn thua với …cảnh sát. Nếu muốn thịt thằng cớm nào thì cứ chờ cho nó về nhà rồi thanh toán một mình. Khi chúng nó hú còi đi khơi khơi như vậy, có cho kẹo cũng không thằng nào muốn rước họa vào thân.

Cả sáu đứa bước xuống ga ra, tiếng gõ cửa từ bên ngoài cũng bắt đầu vang lên:

-Cảnh sát, cảnh sát đây, mở cửa gấp.

Antonio cẩn thận cho đàn em khoá trái cánh cửa ăn thông lên lầu trước khi đích thân ra mở cửa chính của ga ra.

Tiếng gõ bây giờ đã trở thành những tiếng đập cửa ầm ầm:

– Cảnh sát đây. ĐM làm fuck gì trong đó mà lâu quá vậy, có mở cửa không hay tao phải cho xe ủi bể cửa ra hết?

Vặn hai ba vòng khóa, Antonio từ từ kéo cánh cửa ra để nhìn thấy hai thầy cảnh sát mặc sắc phục đang giận dữ lóe ra hai cái mộc hiệu bằng đồng lóng lánh:

– Cảnh sát, làm fuck gì trong nhà mà nãy giờ mới chịu mở cửa, bộ muốn phi tang mấy mớ đồ nghề nấu rượu hả? ĐM đi hành quân lục soát mà gặp chừng ba đám như tụi mày thì tao làm sao về kịp giờ cơm?

Chưa thèm mở rộng cánh cửa vội, Antonio quan sát hai thầy cảnh sát thêm chút nữa. Mặt mày đám cớm này coi lạ hoắc. Chắc đây chắc là cớm ở xa mới đổi về nên chưa biết mặt trời, còn hung hăng. Lo gì, cảnh sát bao giờ chả vậy, chỉ cần ở đây vài tuần lễ là chúng trở thành dễ bảo như con nít ngay.

Nó liếc mắt nhìn ra ngoài xe. Ủa, sao còn tới hai ba thằng khác ngồi lù lù trong xe không chịu đi vào. Một ý nghĩ ghê gớm lóe lên trong đầu tay anh chị từng trải, nhưng nó trấn an được ngay. Có thể tụi này là nhân viên an ninh liên bang của sở bài trừ rượu. Tụi này thường đi hành quân bắt rượu chung với cảnh sát nhưng rất kín đáo, ít khi ló mặt ra với những vụ cỏn con như vầy. Antonio nói ngọt:

– Đang ngồi bàn chuyện …làm ăn. Mấy thầy muốn gì?

Rõ là đồ cảnh sát …mất dạy. Hai thầy không thèm trả lời, cứ hùng hổ đẩy cửa vừa xông vào vừa hoa cây dùi cui loạn lên. Antonio bước lùi nhường chỗ cho hai thầy dọt vô. Vào hẳn trong ga ra, một thầy chỉ cây dùi cui vào mặt Antonio:

– Giờ này tụ họp làm con mẹ gì ở cái ga ra vắng vẻ này mà đông quá cỡ vậy? ĐM tính tổ chức đi ăn cướp nhà băng hả. Đưa chút giấy tờ ra coi coi.

Một thầy khác quát to lên vào đám còn lại:

– Mấy thằng này nữa. ĐM sao mặt mũi đứa nào coi cũng hung ác quá chừng giống như quân ăn cướp. ĐM mới dòm đã thấy muốn giộng cho mỗi đứa một cái dùi cui. OK, tất cả móc giấy tờ ra rồi đứng quay mặt hết vào tường cho tao coi. Lẹ lên!

Năm thằng đàn em của Antonio tuy nãy giờ đứng yên nhưng đâu phải là hạng thèm nghe lời cảnh sát dễ dàng như vậy? Có cây dùi cui thì nghĩa lý mẹ gì mà bày đặt lớn lối. Đúng ra, chỉ cần một cái lệnh ngầm của đàn anh là chúng nó sẽ xông tới tước vũ khí và đè cổ mấy thầy xuống thềm xi măng dợt cho một trận dễ dàng như trở bàn tay.

Không đứa nào thèm nhúc nhích, cũng không thèm trả lời, mắt tóe lửa chỉ nhìn Antonio chờ lệnh. Đúng là một lũ du côn, có đứa nào coi cái quyền uy của cảnh sát quận North Side này ra cái chó gì đâu? Hèn gì dòm mặt thằng nào cũng thấy có chất lưu manh mất dạy. Thầy cảnh sát làm như đã quen thói nạt nộ, thấy lệnh của mình đã rõ ràng vậy rồi mà thằng nào cũng lì ra một đống, liền nỗi giận túm cổ một thằng, chỉ cây ma trắc vào mặt quát lên như cọp rống:

– ĐM có đứng quay mặt vô tường không hay tao phải giộng cho một dùi cui lên đầu rồi mới chịu qùy xuống. Tụi mày muốn giỡn mặt cảnh sát à, lát nửa toán tăng cường tới đây là tao cho lên xe cây xúc hết tụi mày về bót.

Thày nói xong là dơ cao dây dùi cui lên liền, làm như sắp sửa nện xuống thật. Vậy mà thằng bị túm cổ cái mặt vẫn lầm lì trơ trơ như đá. Nó còn nhìn thầy đầy vẻ thách thức như ngầm bảo: “Có ngon thì giộng thử một cái là biết liền. Ông đụng vào người tôi là tôi cho ông nằm thẳng cẳng tại đây liền tức thì.”

Đàn anh Antonio đâu dám để cho chuyện đổ bể đến nước đó, liền quát to lên chữa lửa:

– Tụi bay không nghe lời thày nói sao? Tụi mình là dân lương thiện mà, mau lẹ lẹ đứng quay mặt vô tường đi. Có thể mấy thầy hiểu lầm… Mình là dân lương thiện mà.

Đến bây giờ năm tay anh chị mới ngoan ngoãn quay người đứng chống tay vào tường, hai chân chàng hãng. Một thầy cảnh sát xách cây dùi cui đi sửa thế đứng của từng đứa, tiện tay kiểm soát một vòng. Tốt, không tìm thấy cây súng nào hết, cả đến dao cũng không. Những đồ đạc giấy tờ trong túi bị thầy móc ra, thảy xuống nền nhà.

Kiểm soát xong, thầy cảnh sát nhìn bạn, gật đầu một cách bí mật. Antonio phân trần với thầy kia:

– Thầy, sao thầy làm khó anh em, tụi này có làm gì đâu? Chỉ tụ họp đánh chút bài xì phé chơi thôi. Đại úy Deerman là bạn thân của tôi mà. Thầy chắc ở xa mới về, tụi tôi hiểu…

Người cảnh sát thọc cây dùi cui vào bụng Antonio:

– Ai thèm bạn bè với “chú”, ĐM nãy giờ hỏi giấy tờ sao không thấy gì hết? Đưa “chút” giấy tờ coi thử coi.

Antonio ngoan ngoãn thò tay vô túi. Chưa kịp kéo ra thì thầy cảnh sát đã nhanh như chớp thọc sâu cây dùi cui vào nách nó, kèm cứng cánh tay. Đau nhức không chịu nỗi, Antonio thả bàn tay xuội lơ. Thày cảnh sát thò tay kia vô trong áo nó vừa vặn chụp được mớ giấy tờ mới rớt ra.

Antonio thầm phục thầy cảnh sát. ĐM hành xử như thế này thì đúng là dân cớm lão luyện trong nghề, không tin bất kỳ ai và không bao giờ để cho thằng nào móc cái gì trong túi ra. Nhưng Antonio lần này “sạch”, nó đâu có súng ống gì trong người. Antonio chỉ hơi khó hiểu một chút là thầy cảnh sát ngon lành vậy thì chắc phải ở xa đổi về, không phải thứ cớm mới ra trường.

Thày cảnh sát tay cầm ma trắc, tay kia lật lật xấp giấy trong tay xem xét. Thầy bỗng đổi giọng nói với Antonio:

– A, té ra đây là ông bạn Antonio. Sao nãy giờ không chịu giới thiệu? Ông chịu phiền đứng quay mặt vào tường cho tụi tôi kiểm soát một vòng rồi thôi. Thủ tục hành chánh mà, mấy ông thông cảm.

Antonio nghe nói cảm thấy thoải mái trong người. Thày vừa đọc ra cái tên của nó, cái tên mà tất cả những thày cảnh sát ở quận Near North Side này ai cũng biết nhờ chuyên môn chi địa đẹp. Phải vậy mới được. Antonio chỉ sợ gặp mấy ông cớm mới ra trường còn hăng tiết vịt, nỗi nóng bậy bạ xúc nó về bót thì công việc sáng nay coi như bỏ. Thầy đã xuống nước mềm mỏng như vậy thì chắc là yên chuyện.

Nó lững thững đi tới bức tường, ngoan ngoãn đứng nhập bọn với đám đàn em. Antonio chống tay nhìn tường chờ đợi. Chờ nửa phút, không thấy thày cảnh sát tới kiểm soát. ĐM cái giòng cảnh sát, lúc thò tay ra đớp bạc thì sao mà mau thế, còn làm việc thì chậm hơn rùa, Antonio chửi thề trong bụng. Nó đã quá quen với cái màn đứng quay mặt vào tường rồi, nên không lấy làm khó chịu lắm, chỉ cần chờ thêm một chút nữa là mọi chuyện đâu sẽ vào đó. Suốt cuộc đời anh chị, không biết đây là lần thứ mấy trăm nó bị đứng như thế này? Antonio tính ngày mai phải gặp thằng đại úy Deerman để xài xể thằng đại úy cảnh sát này một trận mới được. Nó đã dặn Deerman không biết bao nhiêu lần về cái vụ này. Người ở xa mới đổi về thì phải thông báo cho nó biết liền, hay phải cắt đi tuần ở một khu khác. Sắp đánh lớn mà còn bị cái vụ lỉnh kỉnh này xui lắm. ĐM, đã cho ăn ngập mặt mà sao làm việc bê bối quá, không chừng phải cảnh cáo nó mới được. Antonio tiếp tục suy nghĩ.

Một phút đồng hồ nữa trôi qua cũng không nghe được một tiếng nói, hay tiếng la hét quát tháo thường lệ của mấy thầy. Cái giác quan bén nhạy của bao nhiêu năm giang hồ cho Antonio biết có chuyện lạ. Đứng bên cạnh Antonio là thằng Roberto. Nó cúi đầu nói nhỏ với đàn anh:

– Antonio, đàn em nghĩ có chuyện gì bất ổn trong vụ này, nếu chúng nó không phải

là cớm thiệt thì đời tụi mình tàn…

Antonio nghe xong câu nói là giật mình đánh thót một cái, hồn vía bay lên tận chín tầng trời. Có vậy mà từ nãy giờ nó chưa nghĩ ra. “Nếu chúng nó không phải là cớm thiệt thì đời tụi mình tàn!”

Antonio muốn đập đầu vào tường. Vào sinh ra tử, sống sót sau trăm trận lớn nhỏ như nó mà sao hôm nay ngu dại thua một đứa mới ra nghề. Sao nó chưa hiểu cái định luật bất di bất dịch của chiến tranh là phải tấn công và sẵn sàng để bị tấn công ở cái chỗ, cái lúc mà mình không ngờ nhất. Nó và đàn em đã tính giả dạng nhân công bánh mì đi đột kích người ta thì chắc gì tụi này đã không mặc đồ cảnh sát để đi thanh toán nó trước. Mồ hôi trán Antonio toát ra, bàn tay đang dựa vào tường bỗng run lên bần bật. Lần đầu tiên trong cuộc đời anh chị, Antonio nhìn thấy những ngón tay mình run lên như vậy. Có thể đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng của cuộc đời anh chị.

Đằng nào cũng chết, Antonio xoay người lại để vừa vặn nhìn thấy những gì đàn em Roberto nói là đúng. Trước mặt nó là hai thằng cảnh sát và 2 đứa khác đang thủ mỗi đứa một Tommy Gun sẵn sàng nhả đạn. Antonio nhận ra ngay 2 thằng bên góc trái: hai thằng đệ nhất đao phủ thủ của Al Capone chớ ai: Frank Nitti và thằng Frankie Rio đứng sát bên nhau, mắt rạng ngời sung sướng. Cái sung sướng của kẻ thắng trận pha lẫn cái sung sướng bệnh hoạn của những thằng sắp sửa giết người.

Vậy là tàn một đời anh chị.

Đã đến nước này thì còn suy nghĩ gì nữa, Antonio thét to lên một tiếng, dùng hết sức nhào người ra phía trước, tính ôm cứng lấy thằng Frank Nitti để gỡ gạc cú chót. Nhưng làm ăn gì được với một thằng thiện nghệ như Frank Nittie? Đấu súng tay đôi chưa chắc nó đã sợ ai, bây giờ kẻ thù tay không ở trước mặt, làm sao nó để người ta thoát?

Bốn cây liên thanh cùng khạc lửa ra một lần, tiếng nổ vang lên đinh tai nhức óc. Hai thằng mặc đồ cảnh sát theo đúng chỉ thị, quạt từ trái qua phải, hai thằng kia “đi” ngược chiều, từ phải qua trái. Như lời dạy dỗ của phụ tá Frank Nittie, các loạt đạn đầu tiên đều bắn thấp. 7 cái thân người cùng bị đốn ngã một lượt, nằm la liệt trên sàn nhà. Đạn tiếp tục nổ xuống chúng nó, máu me, thịt và óc bầy nhầy văng tung toé khắp nơi. Riêng đàn anh Antonio được Frank Nitti chiếu cố đặc biệt. Khi nó vừa ưởn người lên định phóng tới thì ngón tay của Frank Nitti cũng vừa siết cò súng. Cây Tommy Gun trong tay Frank Nitti nổ dòn dã. Nổ thật chính xác như là nó đang tập bắn bia vậy. Loạt đạn đầu tiên bay thẳng vào ngực, chạy một đường lên tới mặt Antonio, làm như muốn chẻ đôi cái khối thịt nặng 200 cân ra. Kẻ thù nguy hiểm cuối cùng của xếp Al Capone bị đẩy dội ngược, rồi rớt xuống nền nhà, lăn lộn, co quắp. Frank Nitti hạ thấp mũi súng, tiếp tục tưới thêm một tràng nữa. Tiếng súng hòa lẫn với tiếng la hét của nạn nhân làm thành một thứ âm thanh kinh khủng, quyện lẫn với khói thuốc súng bay mịt mù trong cái ga ra nhỏ.

Khói súng đâu mà nhiều quá chừng, làm bọn Frank Nitti chảy cả nước mắt nước mũi. Nhưng có sao đâu, chỉ chịu khó bắn hết băng đạn là chúng nó có quyền rút. Sau mấy loạt, khi thấy ai nấy đã co quắp lăn lộn trên vũng máu rồi, Frank Nitti và đồng bọn lẹ làng bước đến trước từng cái xác một, kê súng vô đầu nạn nhân, bóp cò tiếp. Khi chắc chắn không để đứa nào “vô nhà thương còn ngáp ngáp”, Frank Nitti thét to lên: “Xong rồi tụi bây, dọt!” Bốn thằng tỉnh queo dọt ra khỏi cái ga ra đầy khói thuốc súng, leo lên xe mở máy phóng đi mất hút.

Lúc ấy vào khoảng 5 giờ rưởi sáng ngày thứ năm, 14 tháng 2 năm 1929. Ngày hôm đó, không những cả Chicago, cả nước Mỹ mà cả thế giới rúng động về vụ tàn sát này. Hình của đàn anh Antonio và 6 thuộc hạ được đăng lên trang nhất của ít nhất mấy ngàn tờ báo khắp nước Mỹ. Có cái xác nào còn nguyên vẹn đâu, chỉ là những đống thịt bầy nhầy coi phát gớm. Ngay đến tổng thống Hoover cũng phải lợm giọng, tuyên bố: “Đây là một ngày ô nhục của lịch sử tư pháp Hoa Kỳ.” Ngài tổng thống còn hứa là sẽ “cho điều tra về các tội ác của thế giới bàn tay đen ở Chicago và toàn thể nước Mỹ.”

Vụ này đã đi vào lịch sử Chicago, được báo chí Mỹ gọi là “The St. Valentine’s Day Massacre.”

Khi cảnh sát đến nơi, dù đã quen với những vụ án mạng, nhiều thầy đã nôn mửa thốc tháo khi nhìn thấy cái cảnh hãi hùng trong ga ra. Thịt, máu, óc, ngón tay ngón chân văng khắp nơi: Trên tường, dưới sàn, ngay cả trên trần nhà cũng dính đầy máu óc…

Dĩ nhiên, cũng như hàng trăm vụ thanh toán khác ở Chicago, cảnh sát không bao giờ tìm ra thủ phạm….

Cuộc đại chiến đẫm máu nhứt của hai tay anh chị lừng danh Chicago chấm dứt ngày hôm nay, sau vụ “The Saint Valentine’ s Day Massacre”. Kẻ chiến thắng, Xếp Al Capone, bắt đầu xây dựng lại những “đổ vỡ của chiến tranh”. Chicago chỉ còn lại 3 cánh mà mạnh nhất và giàu nhất là của xếp Al Capone, kiểm soát hoàn toàn trung tâm thành phố và lãnh thổ mới, khu North Side của Chicago. Hai cánh kia, một của O’Bannon (cánh Do Thái) và của Rusky yếu hơn nên chỉ nhận coi vùng phía Nam và phía Tây, nơi có nhiều người da đen và dân nghèo. Đúng ra, Xếp Al Capone biết mình có thể dẹp được hai cánh kia để “gồm thâu lục quốc” một cách dễ dàng nhưng xếp thấy giang sơn mình đã lớn quá rồi, vả lại, chinh chiến suốt mấy năm, nên nghỉ ngơi để tái tổ chức cơ sở và …đếm bạc.

Bọn O’ Bannon và Rusky biết thế lực của xếp, tuy có kiêng nễ thật đó nhưng chưa chắc chúng nó đã sợ. Biết thân phận, O’ Bannon và Rusky gặp nhau một buổi chiều để soạn thảo “mật ước tương thân”, cả hai đồng ý rằng nếu AI Capone đụng vào bất kỳ cánh nào thì chúng nó sẽ hợp lại để phản ứng. Cho kỹ hơn, hai ông trùm còn lại của Chicago còn hoàn thành xong một kế hoạch phản công để phòng trường hợp này. Trùm Rusky cho thằng phụ tá tín cẩn bay về Sicily gấp. Chỉ vài tháng sau, trên chuyên tàu di cư qua Mỹ, thằng đàn em dắt theo khoảng 50 đứa Sicilian chính gốc. Nước Ý nghèo quá, quần quật suốt năm không đủ ăn, bây giờ có người đến tuyển mộ sang “tân thế giới”, thằng nào không ham? Mà muôn đi đâu phải ai cũng đi được? Nghề làm ruộng và làm bánh mà muốn qua Mỹ thì dẹp đi, đừng hòng. Chỉ có nghề cầm súng mới được cứu xét. Nhập cảng New York, chích ngừa chích nghiếc, thủ tục vài tuần xong là tụi này leo lên xe lửa, theo chân ông chủ mới phóng tuốt về Chicago. Trùm Rusky mở tiệc đón rước linh đình.

Phải càng linh đình thì càng tốt, cố làm sao cho chuyện này tới tai xếp AI Capone thì mới có nhiều ép phê. Theo binh thư, chiến tranh chỉ xảy ra giữa một kẻ quá mạnh và một kẻ quá yếu. Nếu hai bên gần gần bằng sức nhau thì ít ai nghĩ đến tử chiến. Trùm Rusky tuy chưa bao giờ bước chân vào trường võ bị nào nhưng những quy luật này hắn đều nắm vững. Trùm mà.

Sau đó là một giai đoạn “huấn luyện quân sự” ra gì. Cho ngon lành, trùm Rusky còn mướn một thầy giáo đến tận nơi để dạy Anh Văn cho tất cả. Chỉ dạy những điều căn bản thôi nhưng với bọn nhà quê không biết đọc biết viết này cũng mất mấy tháng. Chừng chúng nó nói được câu “How do you do” hơi đúng giọng một chút thì những mánh lới, những nghề mọn của giới giang hồ ở Mỹ đều thuộc nằm lòng. Còn kỹ thuật giết người thì khỏi nói, với mớ kinh nghiệm có sẵn bên nhà, chỉ cần thêm chút ít huấn luyện bổ túc là đứa nào đứa nấy đều trở thành những chiến sĩ ưu hạng của Mafia. Đúng ra là những thợ…giết người.

Nhờ đó, trùm Rusky có vẻ an tâm. Tuy vậy, có bao giờ ông trùm dám đi đâu mà không có bốn năm thằng ôm liên thanh tiền hô hậu ủng?

Tăng cường lực lượng hùng hậu gấp hai lần ngày xưa nhưng trùm Rusky cũng né xếp AI Capone một mực. Dân giang hồ Chicago sau cuộc binh lửa dai dẵng gần mấy năm đã biết cái giá của chiến tranh. Tốn quá, tội gì mà phải gây máu lửa. Thôi thì cứ nhịn nhau một chút, miễn là đừng có ai làm quá thì coi như có thể sống hòa bình được. Khôn lanh như trùm Rusky, trong đầu hắn và mấy thằng consiglorie cũng biết câu châm ngôn ngàn đời của ngày xưa là “Muốn có hoà bình, phải chuẩn bị chiến tranh”. Ban tham mưu của Rusky luôn luôn đề phòng. Chúng tung tiền ra để “học tập” rất kỹ về xếp AI Capone. Những sở thích của xếp, giờ đi giờ về, cận vệ bao nhiêu đứa, tên gì, ở đâu, xử dụng loại vũ khí gì, ăn ngủ thế nào v.v… Và riêng Frank Nitti, đệ nhất hung thần của Chicago thì làm sao mà không được chú ý đặc biệt? Thằng phụ tá giết người không tanh máu này sau vụ thảm sát St. Valentines, hễ ra đường là có nguyên cặp cận vệ đeo cứng. Chuyện nó làm chỉ che mắt nổi cảnh sát thôi chứ làm sao qua mặt giới giang hồ được? Frank Nittie biết dân Sicilian có một bộ trí nhớ rất tốt nên cẩn thận vô cùng.

Còn cánh Do Thái thì có một kế hoạch táo bạo hơn. Chúng đã chuẩn bị sẵn một chiến lược hẳn hòi, để nếu chiến tranh bùng nổ, thằng Frank Nitti dù có tài giỏi tới đâu cũng sẽ bị bắn gục trong vòng 12 giờ đồng hồ đầu tiên. Cáo già O’ Bannon biết rõ “bộ tư lệnh Lexington” hơn cả AI Capone. Frank Nitti mà ngủm thì tụi này sẽ khốn khổ với cánh Rusky bằng thích. “Tình báo gián điệp” xưa nay vốn là sở trường của tụi Do Thái mà.

Tuy âm thầm và từ từ nhưng băng Rusky và O’ Bannon cũng tạo cho mình được cái thế mạnh. Giang hồ mà, yếu quá thì chỉ có chết hoặc phải đi làm tôi cho thiên hạ. Chỉ trong mấy tháng sau khi Antonio bị quít sụm, biết chắc lực lượng của mình và Rusky nếu họp lại có thể nghiêng ngửa được với cánh AI Capone, lão O’ Bannon bắn tiếng với giới giang hồ rằng giữa lão và xếp AI Capone chưa bao giờ có oán thù nhưng nếu xếp muốn xâm lăng lãnh thổ của lão, lão và thằng Rusky sẽ “chiến đấu đến tay súng cuối cùng.” Dĩ nhiên, khỏi cần nghe tiếng đồn, con người thương mại như xếp AI Capone chẳng dại gì đi gây với hủi. Cái thời có thể diệt được chúng thì lực lượng mình đã tơi bời sau cuộc đại chiến, còn bây giờ thì có ai hơn ai nửa mà bày cuộc can qua làm gì? Mà nghĩ cho cùng, ba cái khu phố của người da màu, nhà cờ bạc hạng bét thì có gì đáng để phải bận tâm tới. Xếp đang có một âm mưu khủng khiếp hơn: Liên lạc và mở một đại hội Cosa Nostra toàn quốc để hệ thông hoá đường giây cung cấp rượu lậu cho toàn thể nước Mỹ.

Năm sau, đúng như xếp dự tính, lần đầu tiên một Đại hội “Cosa Nostra” toàn quốc được triệu tập tại New York gồm tất cả trùm Mafia khắp nơi về dự. Luciano đại diện New York, xếp AI Capone, ngôi sao đang lên của giới giang hồ đến từ Chicago với gần 20 thằng cận vệ, Clark “cá mập” đại diện San Francisco, Joseph Marcello đại diện New Orleans v.v…, trước sau có khoảng gần 40 trự. Sau tuần lễ hội họp và ăn nhậu, đại hội đạt được sự đồng ý chung của các ông trùm, chấp nhận và tôn trọng khu vực làm ăn của mỗi phe. Kể từ nay, giang sơn nào anh hùng nấy, sẽ tuyết đối không còn cái màn qua đất người khác làm ăn lẩm cẩm. Tất cả các lãnh thổ của mọi người đều được công nhận. Ai xâm phạm sẽ bị cả hội động xúm lại làm thịt. Ai phản phé lại càng chết sớm. Một ủy ban kỷ luật cũng được bầu lên để xét xử những vụ vi phạm hay bất công xảy ra trong giới giang hồ. Nếu có kẻ nào cần bị trừng phạt, mỗi hội viên phải cung cấp người hoặc tiền bạc cho Cosa Nostra để hội đồng thi hành. Những hội viên nào bị kẹt cần giúp đỡ, cũng phải được hội đồng thông qua. Quyết định của hội đồng là quyết định tối thượng, không ai có quyền cãi. Và quan trọng nhất, chống lại hội đồng là tội nặng nhất, ngang với tội “phản quốc” trong một nước. Chừng đó, nhiệm vụ chung của mỗi hội viên là phải góp sức để tiêu diệt kẻ “phản quốc” cho bằng được. Lời hứa của các ông trùm Mafia tuy không có cắt máu ăn thề nhưng ai cũng hiểu nó quan trọng như thế nào. Thì mọi chuyện làm ăn đều dựa trên những lời hứa như thế này mà. Hứa chơi chơi mà làm thiệt, tuyệt không có cái màn “lỡ quên”.

Sau tuần lễ hội họp, xếp AI Capone cùng phụ tá Frank Nitti ra về lòng tràn ngập phấn khởi. Giang sơn của xếp từ nay coi như vững vàng. Rất vững vàng. Trừ khi, phải, trừ khi có một chuyện gì bất trắc lắm đến từ trời cao mà xếp không thể đoán trước được như chuyện động đất làm cả thành phố Chicago chìm sâu trong lòng biển chẳng hạn. Bằng không, Chicago là của xếp AI Capone….

Chỉ vài ngày sau cuộc thảm sát “The St. Valentine’s Day massacre”, bộ trưởng tư pháp Hoa Kỳ và bộ trưởng tài chánh được tổng thống Hoover mời vào tòa Bạch Cung nói chuyện. Tổng thống đưa cho ông bộ trưởng Tư Pháp coi tấm hình “The Saint Valentine’s Day Massacre” đăng lên báo, nói nhẹ nhàng:

– Ông thấy tình hình dưới Chicago như thế nào?

– Trình Tổng Thống, Chicago bây giờ là một trong những vấn đề nhức đầu nhất của tôi.

Tổng thống Hoover lắc đầu:

– Ông có nghe bài nói chuyện của Thượng Nghị Sĩ Brown mắng mỏ tôi ngày hôm qua trên diễn đàn quốc hội không? Để tôi lập lại cho ông nhớ, xin lổi ông Bộ Trưởng Tư Pháp, ông ta bảo tôi nếu không có đủ lực lượng để dẹp bọn côn đồ thì phải đem hai sư đoàn TQLC từ Nicaguara về mà…hành quân tại Chicago….

Ông bộ trưởng tư pháp không biết nói gì, chỉ gật đầu. Tổng thống tiếp:

– Ông thấy đó, đây là nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của tôi, phải làm một cái gì coi cho được. Nếu vụ thằng AI Capone gì đó mà không giải quyết trong nhiệm kỳ này thì tôi e rằng cái giá của cuộc chạy đua lần tới sẽ rất đắc.

– Trình Tổng Thống, tôi đã có một kế hoạch riêng để giải quyết vụ này, xin Tổng Thống cho tôi một ít thời gian.

– Cho tôi một con số.

– Thưa, hai năm.

Tổng thống Hoover nhíu mày tư lự. Ông nhìn ông bộ trưởng Tài Chánh:

– Còn ý ông thế nào? Tôi được biết ông có nhiều “nhân tài”.

– Thưa, chúng tôi phải phối hợp vởi nhau mới làm việc được. Thời gian hai năm rất là phải chăng.

Vẻ mặt ông Tổng thống dường như dịu lại. Đối với ông, thời gian chỉ quan trọng vào những ngày gần bầu cử tổng thống thôi. Hai năm rất là hợp lý. Ông biết rõ luật pháp Hoa Kỳ có rất nhiều kẻ hở, đúng hơn luật pháp của đất nước này được chế ra để bảo vệ…mấy thằng ăn cướp. Ông nhìn ra ngoài sân cỏ:

– Phải tìm ra một cái gì, một cái gì đó để mà lôi tụi nó ra tòa chứ. Cả thế giới đang nhìn về chúng ta như một cây đuốc dẫn đường sau thế chiến vừa rồi. Tôi hiểu là quốc gia chúng ta đa hợp, nhiều chủng tộc, nhiều khó khăn và quá to lớn, nhưng chúng ta không thể nào để tình trạng này kéo dài mãi được.

Giọng ông bộ trưởng tư pháp quả quyết:

– Trình Tổng Thống, phôi hợp với Tổng Nha Ngân Khố để làm việc tôi tin là tôi sẽ làm được. Nếu không được, tôi sẽ xin từ chức Bộ Trưởng.

Tổng thống Hoover có vẻ hài lòng với câu nói quyết liệt đó. Ông đứng dậy từ giả hai ông bộ trưởng:

– Xin Chúa giúp các ông, chúc hai ông may mắn. Tôi biết là quý vị sẽ làm được.

Ông mỉm cười nhấn mạnh:

– Hai năm có thể quá ngắn không ? Tôi cho các ông thêm một năm nữa là ba. Nhớ nhé, phải làm sao trước này bầu cử là được.

Hai ông bộ trưởng chào từ giả. Tổng Thống Hoover nhìn theo. Ông nhớ cách đây mấy năm, khi còn là một ứng cử viên Tổng Thống, trong một chuyến vận động tranh cử tại Florida, ông đã chạm mặt AI Capone trong khách sạn sang trọng nhất của thành phố. Sự ăn xài của thằng du côn này làm ông ứng cử viên Tổng Thống Hoover thấy mình thua sút. Ông có đám cận vệ bu quanh thì nó, ngồi ở bên kia phòng, cũng có nguyên một đám du thử du thực đông hơn gấp mấy lần vây quanh. Nếu ai để ý sẽ thấy tụi cận vệ của AI Capone ăn mặc lịch sự và quý phái hơn đám nhân viên đặc biệt của chính phủ. Thức ăn bàn ông dọn lên cho phái đoàn tranh cữ, món nào cũng… standard để tiết kiệm tiền trong khi dãy bên kia, chúng nó đđp hít liên miên, hết tôm hùm rồi đến bí tết, hết ngỗng quay qua tới thịt nướng v.v… Cả chục thằng bồi hầu hạ chạy vắt giò lên cỗ mà vẫn không kịp thì đủ biết là chúng ăn xài tới cỡ nào. Tối hôm đó khi lên giường ngủ, ông thấy đời quả thật bất công, và có hơi ghen tức với tụi kia. Ông chỉ nghe được lỏm bỏm đứa xếp xòng bàn đó là một thằng tên AI Capone, ở Chicago lâu lâu mới xuống nghỉ mát một lần. Sau khi đắc cử tổng thống, nhiều chuyện quốc gia quan trọng phải lo giải quyết, ông quên bén thằng AI Capone cho đến tuần trước, thấy hình ảnh ghê rợn của cuộc tàn sát đăng trên báo, cái tên AI Capone lại trở về trong trí ông. Và cho đến ngày hôm qua, khi bị thượng viện Hoa Kỳ lôi ông ra làm thịt thì ông mới giật mình, cho gọi hai ông bộ trưởng tư pháp và Tài chánh tới trình diện.

Nhìn hai ông Bộ Trưởng bước theo con đường hình cung đi ra xe, tổng thống Hoover quay sang nói với ông bộ trưởng phủ tổng thống:

– Ông nhớ để ý vụ này. Mỗi tháng một lần phúc trình cho tôi biết diễn tiên nội vụ…

– Yes Sir, Mr. President!