Người chôn ký ức

vanviet.info

Hoài Ziang Duy

Posted on 11 Tháng Năm, 2019 by Văn Việt

Post by Sơn râu 19 Aug 2025

image Sơn râu’s collections.

Hai người già là hàng xóm của nhau, trên một đất nước không phải đất nước họ đã sinh ra, đã chia rẽ họ, khiến họ bước đi trên hai con đường ngược hướng. Họ có những nỗi niềm riêng hết sức khác nhau, nhưng vẫn có chỗ giống nhau: tự thấy mình đã mất mát quá lớn, không thể nào thay đổi, không thể nào bù đắp.

Người đào hố tâm trạng nặng nề, nhiều uẩn khúc hơn. Bởi ông là kẻ thua cuộc. Và ông đang phải chịu đựng nỗi đau đầy bất lực của tử biệt sinh ly. Người hàng xóm suy nghĩ đơn giản hơn, nhưng cũng chẳng là người vui sống. Bởi vì, dù thuộc về bên thắng cuộc, ông hiểu rõ cuộc đời mình đã bị phung phí một vô ích trên bàn cờ chính trị.

Điều an ủi duy nhứt là, dù không nói ra lời, họ đang chia sẻ cùng nhau những khoảnh khắc sống, rất nhỏ né, nhưng cũng rất con người…

VĂN VIỆT

Từ ý thơ trong em ta có cõi miền thịt da, đã buộc ông bồi hồi khi làm công việc này. Người đàn ông dáng cao gầy, đang cuốc xuống đất từng nhát. Khu vườn với hàng cây lá rậm, phía sau ngôi nhà lặng lẽ. Lúc này biết ai chia sớt cùng. Năm xưa Tử Nha câu cá chờ thời với sợi dây không lưỡi. Còn ông đang trốn chạy cuộc đời, trốn chạy chính bản thân mình. Những nhát cuốc chém xuống đất hay cuốc xuống lòng ông, cái hố thẳm của người lỡ vận.

Ông hàng xóm đứng kề bên tự lúc nào, từ phần đất nối liền không có rào ngăn cách, đôi khi chỉ chào hỏi qua loa. Lần này ông ta xen vào:                

-Mệt rồi, nghỉ chút đi. Đào hố trồng cây à?

-Không. Đào hố chôn người.

-Bác chôn ai thế?

-Nhà tôi.

-Chôn người thật à? Họ đâu cho phép mình làm vậy.

-Mặc tôi.

Ông vẫn cuốc xuống vừa đủ một chỗ nằm. Càng đào sâu, càng nhìn rõ hình ảnh vợ ông. Lần này chắc bà không trở về nữa. Gần năm tháng nay ông đã mỏi mòn vào ra  chăm sóc, phải bỏ cả việc làm để đánh đổi cái chi phí chánh phủ trợ cấp trị liệu. Bà nằm đó, ngồi lên để nói chuyện cùng ông, như người bình thường. Từ bình dưỡng khí, hai sợi dây thọc vào mũi. Tim đập, bà còn thở, còn nhìn. Còn được bao lâu, còn được bao ngày để ông nắm níu. Đã thử rút dây ra, bác sĩ làm vậy. Nhưng không ổn. Hỏi ông tính thế nào? Biết sao. Cái chữ biết sao đã làm ông trăn trở biết bao ngày. Khi bà nằm xuống, ông chỉ còn khả năng thiêu thôi. Ông không muốn bà biết điều đó. Cái hố ông đào cho bà nhập thổ. Được vậy để an ủi phần nào. Mấy lần bà cầm lấy tay ông nắm chặt. Muốn nói, muốn gởi gắm một điều gì đó, nhưng ngào nghẹn, không nhớ, không diễn tả được. Tấm lòng thương cảm, cô độc chỉ có mình ông hiểu. Còn được bao ngày! Cái ông hàng xóm vớ vẩn nào hiểu việc ông làm.

-Bác có xin phép được không?

-Phép gì?

-Đã bảo là chôn.

-Đâu cần xác.

Trên đầu tôi cái nón sắt, đã bỏ quên nơi nào đó. Bao lâu rồi không nhớ nữa. Tôi đang trốn chạy chính mình. Mỗi ngày với phần việc trong trường học, nhìn chúng, nhìn tuổi nhỏ. Tôi đang tập nói, tập sống, tập lớn lên ở phần đời còn lại, khác gì một đứa bé ngây thơ. Đừng hỏi chuyện năm xưa, đừng bắt tôi trả lời, chuyện oan khiên đất nước. Là người ai không có quê hương để nhớ thương, ấm lòng. Quê tôi có cây cầu sắt bắc ra sông, không có tên, họ gọi là cầu Quan, chỉ để dành riêng cho quan chức thuộc địa mỗi chiều ra hóng gió, nghe hòa nhạc. Thuở nhỏ chúng tôi lội dưới chân cầu, những khi trống vắng, leo lên. Cái quần xà lỏn trên thân thể gầy còm, đứng tồng ngồng dưới trời thanh gió mát. Nhìn lên trời cao, mơ một ngày công hầu khanh tướng. Tuổi thơ tôi bắt đầu từ đó.

-Bác này. Giọng ông hàng xóm. Thằng con tôi sang trước, bảo bác cũng một thời oanh liệt. Tôi nghĩ mãi vẫn không nhớ được tên bác trước kia. Chỗ hàng xóm, nói thật trông bác cầm cuốc, nguyên tắc đã sai cơ bản. Có ai ngờ một ngày tôi và bác lại trở thành láng giềng thế này. Trước kia là tướng à?

-Có đâu, tôi bỏ chạy mà. Còn ông?

-Tôi bỏ trốn.

-Vậy khác gì, cùng bỏ nước như nhau.-Trông hố bác đào tôi bắt nhớ, trông bác cuốc lòng tôi thấy đau. Cả đời chỉ một lần dự phần lầm lỡ, cứ ám ảnh mãi không rời.

-Ông cũng đào hố chôn người à?

-Không đâu. Trồng cây vú sữa. Người hàng xóm lắc đầu nói. Chính tôi là người chăm sóc, vun phân tưới nước mỗi ngày, ướp bằng trà sen, hoa nhài, hoa cúc đủ loại, đôi khi bằng cả nước tiểu chính mình để góp phần. Hồi đó ngoài Bắc chỉ có một cây đại diện cho miền Nam bác ạ.

-Tôi thấy đâu phải là ông.

-Ấy. Ông thấy hình Bác à. Chụp để làm cảnh thôi. Chính thật là tôi. Quê nhà tôi, vườn nhà tôi, trồng nhiều loại này, khi tập kết ra Bắc nghĩ rằng nó tuyệt chủng.

-Tuyệt giống chứ.

-Không, họ nói là tuyệt chủng. Nghĩ đến mẹ, tôi náo nức làm công việc này cho người. Dạo ấy họ đồn ngực Thẩm Thúy Hằng tài tử trong Nam to lắm ông ạ. Nghĩ đến trái vú sữa thơm tròn mộng nước, đêm nằm mơ cắn, áp mặt vào, máu nóng rần rật. Sáng ra bải hoải cả người, cung ứng một lần dinh dưỡng cho cây. Họ tôn kính trân trọng, đâu biết giấc thiên thai của mình. Hàm tôi là kỹ sư cây trồng, nghiên cứu giống vú sữa, phục vụ nhân dân đang khát khao loại cây trái hiếm quí này. Sau những công trình đi chuyên, tôi là tướng vú sữa ông ạ. Khi vào Nam, về lại quê nhà, mẹ tôi đã mất. Vườn cây trái vẫn còn đó, tự vươn lên, tự sống cho một chủ thuyết tự do. Tôi nản quá. Ông thua một trận đâu bằng tôi thua cả tâm huyết đi theo. Vú sữa ngoài đó, không đặt kề bên, vẫn thấy nó đèo hơn vú Thẩm Thúy Hằng ông ạ. Chỉ nói thế thôi, ông đừng nghe rạo rực. Ấy đấy, coi chừng ngã.

Hình như tôi vừa ngã xuống thật. Quần áo ướt, lội vào bờ. Lội theo dòng sông thơ ấu để lớn thành người. Những bàn tay níu kéo lên, giữ lại. Họ đặt tôi ngồi yên. Ngoài kia là biển cả, sóng gào. Tôi đang thua cuộc chính mình, không nói gì hơn, nghe lòng chùng xuống ở cuộc tháo chạy áp đặt. Cuối cùng gặp lại nhà tôi ở đảo Guam. Vậy là rời khỏi nước như giấc mơ bất chợt. Cái ân huệ là gặp lại người thân. Vợ chồng nhìn nhau thất vọng. Ông đừng ngạc nhiên khi nghĩ hạnh ngộ là niềm hạnh phúc. Cái tình riêng không lấp nổi sự tan hoang bất ngờ chụp xuống. Có sống, có nhớ lại trong hoàn cảnh bấy giờ ông mới hiểu, ai cũng quên thân, chỉ thấy nỗi đau đớn bị bội phản. Tôi còn gì ngoài một người đàn bà bên tôi ở phần đời còn lại. Nghiệp chiến chinh, bản thân bị mai mỉa bỏ chạy. Áo tôi đang mặc, danh tôi ngày xưa, có gì đáng giữ, khi mà chiếc áo thun của người lính nào đó, được kéo lên thay cho ngọn cờ trắng qui hàng. Tôi đang đứng chỗ nào ông nhỉ? Cái quần xà lỏn tắm sông ở phần dưới, cái áo thun tơi tả bay trên đầu, biểu hiện thành bại. Tôi đu ở giữa phần dây mà sống được chăng.

-Thế bác có viết nhật ký hay hồi tưởng không?

-Miệng đời nói đủ cả, đủ nghe, viết làm gì.

-Nhưng biết họ có nói thật?

-Mình nói, họ có tin là thật, hay chỉ khơi lên cái ảo giác không phải là mình, chính họ hay là bác không chừng.

-Nghe bác nói mà thấy xốn xang. Cả đời tôi sống dưới tàng cây vú sữa, gốc rễ bám vào thân, muốn cởi quần ra đứng đái một phát, chả nhẽ tôi chửi cha sự nghiệp của mình cho mọi người nhìn thấy!?

-Sao ông thích đề cập tới danh từ thân thể thế này. Còn không?

-Không còn nên tôi muốn nhớ. Người ta trông thấy nó nhiều, chứ không là một duy ngã độc tôn. Nó bị bỏ quên tàn nhẫn, quên cả công lao gian khổ hô hào của tôi năm xưa, quên cái gật đầu lịch sự. Sống mà không có quá trình chính trị không ổn được, nhưng bám vào theo, cuối đời chỉ thấy bội bạc.

Cuộc đời không nghĩ một ngày mình đối mặt. Đứng gần bên nhau, nói câu thân thiện, tự do trong cõi lòng bình yên. Chiến trường là cơn đau thương hồng thủy, không có nghĩa thủy chung, đã cuốn hút, trôi đi, bỏ lại sóng ghềnh đá cạn. Cái lớp trơ ra, cô độc buồn bã, chính là lúc tình già bên bờ vực cuộc sống. Em và tôi đã có bao năm, bao ngày gần gũi. Cái hạnh phúc chung thân biết đâu một ngày bất chợt. Năm xưa cái bất ngờ ụp xuống, không đo lường được. Còn bây giờ điều không mong lại đến. Lúc sắp mất đi là lúc sống với hoài niệm, với thứ tha, với phận đời bỏ dở. Tôi không muốn sống mãi với ngày tháng cũ, cầm bằng cái héo hon chỉ trở thành vô nghĩa. Bản thân hiện tại tôi chỉ là trẻ nhỏ, đầu óc như cá lội ngược dòng. Thân thể không dễ phân hai. Em, Tôi là một. Cùng chung sự bảo vệ sống còn. Tôi với Tôi lại là điều khác. Có tệ bạc, có dối trá, có hai tâm hồn trong một con người cũ mới. Tôi muốn đè xuống bỏ quên, vĩnh viễn không nhớ, vậy mà nó vẫn ngoi lên ở phút yếu lòng, làm người hùng của một bi kịch. Phải chăng đó là con người thật của tôi bên người đàn bà, suốt đời muốn em nhìn thấy tôi như một bức chắn chở che dù bên trong là tường đá mục. Cái hạnh phúc làm dáng này chỉ vỏn vẹn trong ngôi nhà, trong yêu thương thân cận. Ngoài ra, tôi là người bị bỏ rơi, thua cuộc.

Những nhát cuốc đào sâu xuống. Em vẫn ngồi đó, chờ mong mỗi ngày tôi đến thăm nom. Lặng lẽ với đôi lời xa vắng mơ hồ. Em đã quên thật ký ức cưu mang từ ngày cái nón lưỡi trai trên đầu tôi lột xuống, cây súng ngắn bị tước đi trước lần đứng nghiêm, người bạn đồng minh chào tôi lần cuối, danh dự sau cùng. Mừng biết mấy khi em quên thật, để từ nay thân phận tôi không dối trá tình cờ.          

Ngày đó khi bỏ trường mà đi, mối tình câm của gã con trai mới lớn không quên nổi cô bạn cùng lớp. Suối mơ hoa, cây đàn cũ một mình tập hát, tập yêu lãng mạn lần đầu. Con đường em đi qua. Chiếc áo trắng, vành nón lá che nghiêng không đủ nhìn thấy tôi dại khờ đứng đó. Tôi không nghĩ một ngày nào gặp lại cố nhân, chung cùng ngôi nhà trú ngụ tại một vùng đất miền Trung, chia sẻ niềm nhớ về một quê nhà, khởi đi từ mớ tro tàn nguội lạnh.

Tôi với Ngọc chung cùng đơn vị. Cái hôm sinh hoạt văn nghệ ở lần dưỡng quân, anh thấp thỏm chờ đợi cô vợ mới cưới ra thăm. Tôi đang hát bản Cây đàn bỏ quên, thì Ngọc dẫn cô gái tới. Tôi không nghĩ mình lầm.

-Giới thiệu em. Đại đội phó Tràng.

-Ủa. Anh Tràng.

-Chào chị.

-Tụi em biết nhau à?

-Thân nhau, cùng lớp mà. Anh ấy có biệt danh Tràng cù lần.

Chị vui vẻ cười nói, khép nép bên chồng. Anh Ngọc xen vào.

-Khờ với gái thôi, đánh giặc thì ngon lành, hát hay lắm đó.

Phải. Tôi dại khờ không dám nói yêu em, đối nhau chỉ như một tình bạn. Tôi mặc cảm xấu trai, thấp hèn so với em, đóa hoa Quỳnh thơm ngát một mùi hương. Từ ngôi nhà thuốc tây của gia đình em, từ con đường trường học ra về. Tôi chỉ biết lẽo đẽo theo sau, nói những điều vớ vẩn. Tôi không đủ can đảm nói yêu em, chỉ biết nhìn, biết cười trong thầm lặng. Sao em không hiểu dùm tôi, nói dùm tôi. Em dạn dĩ, em liếng thoắng, mọi điều muôn sự, em dẫn tôi đi xa hơn nỗi ngập ngừng. Bây giờ đây, chốn này em trở thành người đàn bà trẻ tuổi, biết chăn gối mặn nồng. Em trưởng thành hơn, đi xa hơn con đường tình ái. Còn tôi, chỉ như ngày nào. Có chăng tôi lớn khôn trong khói lửa chiến tranh, trên con đường binh nghiệp. Đêm đó, căn phòng anh chị cách nhau bức vách gỗ. Tôi nằm phía bên này nửa đêm thao thức. Lần đầu tiên tôi biết đau, biết chua xót, biết khó chịu, biết bực dọc cho chính bản thân mình, khi mà trí tưởng tôi, từ cõi miền thịt da, biết thầm thì câu mời gọi.

Từ đó chị theo anh Ngọc ở hẳn đơn vị. Hình như có khoảng cách nào đó bứt rời chị ra khỏi gia đình. Tôi không tiện hỏi. Chị tập sống chờ đợi những cuộc hành quân trở về. Chị tập sống khó khăn thiếu thốn hơn trong phương tiện. Rồi cũng qua đi. Tôi có niềm vui giấu kín những lúc chung cùng ngôi nhà.

Em là người đàn bà duy nhất lo cho mọi người, trong đó có tôi. Tôi vẫn kính trọng anh ấy, không thể đi xa hơn, cái gọi là mỗi người một duyên phận. Nhưng lần hồi trong những ngày chung đụng, chuyện kể moi lại ký ức ngày xưa. Quỳnh hiểu tôi thầm lặng yêu Quỳnh biết bao. Không nói ra, nhưng em đối với tôi dịu dàng, thông cảm hơn nỗi muộn màng năm cũ. Tôi tự nghĩ vậy an ủi chính mình. Tôi không còn cù lần, vụng dại như thuở ban đầu. Cả ba chúng tôi thân thiết hơn, cho đến ngày tang tóc đổ xuống.

Lần đó anh đạp mìn, phải cưa cả hai chân. Quỳnh khóc lả bên chồng. Dưới mắt anh, giờ là nỗi tuyệt vọng ở một tương lai mù mịt. Nhìn lấy vợ, nỗi xót xa bất lực chờ đón ở ngày tháng tới. Nhìn lấy tôi, anh nói như một gởi gắm:

-Quỳnh còn quá trẻ, không thể để cô ấy mang nỗi bất hạnh chung thân này, nhất là từ ngày lấy nhau Quỳnh không còn được gia đình chấp nhận. Chốn này đây chỉ có ba chúng ta thân thiết như ruột thịt. Tràng còn có tương lai. Anh tin con đường binh nghiệp của em. Anh muốn gởi gắm Quỳnh, đời sống Quỳnh.

-Đừng nghĩ quẫn. Anh không nói, tôi vẫn lo cho chị mà.

Quỳnh đứng đó. Sau nhiều ngày mất ngủ có vẻ phờ phạc hơn, như người mất hồn. Quỳnh thương anh ấy, mối tình đầu mãnh liệt, hy sinh tất cả, đâu ngờ nỗi nghiệt ngã này. Anh phải sống, dù thế nào anh phải sống. Nhưng không. Anh đi vào giấc ngủ chính anh chọn lựa, bỏ tôi, bỏ Quỳnh. Chỉ còn nước mắt.

Năm đó, Quỳnh hai mươi ba tuổi, thụ thai lần đầu không hay biết.

Rồi cũng qua đi. Bao nhiêu năm nhìn lại. Giờ đây em ngồi đó. Em muốn nghe chuyện  xưa, chuyện kể về mối tình cũ đầu đời. Cái hố cách ngăn đã lấp từ lâu, vô hình chung xới lên lúc này.

Trời hôm nay không gió. Hai người đàn ông vẫn lặng im bên nhau. Tóc hoa râm trên vầng trán mỏi. Người hàng xóm hỏi:

-Bác tâm sự gì thế?

-Tôi có nói à. Thế ông nghe gì?

-Đâu có. Người hàng xóm quay trước ngó sau.

-Ông nghe gì phần tôi?

-Không.

-May quá, không ai nghe mình nói thật. Ừ nhỉ. Có thể là tiếng vọng từ phần cuốc này.

-Từ nãy giờ, tôi muốn hỏi thăm lại sợ phiền bác. Mình già cả rồi, dễ lãng tai.

Tôi có nghe, hình như ông hay tôi gì đó. Một trong hai chúng ta có người nói thật. Chúng ta sống dối trá, xa cách như người đầu sông Gianh kẻ cuối sông, rốt lại phần đất giữa vẫn không nối được. Làm hàng xóm phải tốt người, tốt cả bụng dạ. Đất nhà mình không có rào ngăn cách. Dọn sạch đường đi, qua lại dễ hơn. Năm xưa Lưu Bang ngồi trên ngựa mà lấy thiên hạ, chứ đâu trị thiên hạ được. Ông với tôi không phải là Hạng Võ, là tướng công thành nữa, sá gì phải bận tâm. Quên đi. Mình già rồi cứ phải thuộc sách Tàu ông nhỉ, tư tưởng vọng ngoại vịn vào, bao che, rốt lại chỉ như tắm truồng thôi.

-Lần này mình nghe phải không. Cả hai ông buột miệng hỏi.

Ông hàng xóm quay lưng, cười xã giao nhẹ

-Bác không nói gì thì tôi về nghe. Cái hố đấy để mai tôi biếu bác cây trồng.

Người đàn ông dừng tay. Ông nghe tim mình đập mạnh. Đầu ông hơi choáng. Nhìn xuống hố cạn hời. Ông mệt mỏi. Hình ảnh người vợ đầu ấp tay gối đã xa ông mấy tháng trời. Lúc này ông cảm thấy thương bà quá. Đêm một mình, ông ngủ cô độc. Chốn kia bà cũng cô độc. Cả thế giới lẻ loi.

Có hiểu cùng nhau mới an ủi mà sống được. Lúc này ông muốn nhìn thấy bà bằng xương bằng thịt, dù bây giờ bà chỉ nói cùng ông với một tấm lòng. Có còn hơn không. Ông muốn bước đi, nhưng một bên chân hầu như tê cứng. Vết thương chiến tranh năm xưa lại hành hạ. Ông thở dài. Để mai.

Tưởng đã quên. Một ngày như mọi ngày có khác. Trời đang lất phất mưa. Ông hàng xóm nhìn sang. Người đàn ông đứng chống cuốc thờ thẫn.

-Thằng chả làm gì thế nhỉ. Người hàng xóm tự hỏi. Mình đã bảo đừng lấp đất, chờ đưa cây trồng, sao vội thế. Chả lẽ hôm qua mình không có nói à?

Người đàn ông đang lấp từng xẻng đất. Cái chữ để mai đến với ông thật lỡ làng. Ông đang chôn xuống. Ông muốn giữ bà lại, cho vẹn nghĩa, trân trọng cái hạnh phúc chung thân một đời gần gũi. Ông đang chôn phần đời trước của ông, lúc còn chở che bảo vệ. Ông muốn bà mang theo hình ảnh sống còn một thời liệt oanh, trên phần đất quê nhà. Cuộc đời lưu vong, với ông chỉ là bài toán không đáp số, giọng ca lỗi nhịp. Con người phân hai ở ông, ở hai thời điểm, chỉ cần bà hiểu. Mối tình tôi dành cho em là những bù đắp một thời dang dở.

Quãng đời còn lại, tôi chỉ là một đứa trẻ từ trước biết thủy chung.

Là trẻ thơ, tôi không nhớ lúc chết đi Quỳnh bao nhiêu tuổi.

Kẻ đứng bên lề

hung-viet.org

Thơ Hoài-Ziang-Duy

06 Tháng Mười Hai 2019

Post by Sơn râu 19 Aug 2025

saigon-caphewifi2

Nhớ buổi tàn canh ngày về lại

Quê nhà nay khác hẳn năm xưa

Đứng trước nhà mình sao thấy lạ

Tưởng chừng ủ dột một đời mưa

Cảnh trí, ngôn từ nay đổi khác

Thảnh phố bấy giờ đã tiếm danh

Tên những con đường theo đổi chác

Anh hùng đâu thấy ở sử xanh

Có đâu ta được xưng tên tuổi

Thứ lớp đời thường, phó thường dân

Chỉ đứng bên lề trong cuộc sống

Chẳng nơi trú ngụ, giấy tùy thân

Từ đó về sau đi hay đứng

Ở giửa chính đường, không có ta

Ta biết phận mình thân không vững

Cột đèn còn muốn bỏ đi xa

Đất nước nhiều năm nay trở lại

Đời khác bây giờ tựa bổng dưng

Năm xưa vắng khách lề phải, trái

Có chỗ cho ta tạm nghỉ dừng

Giờ đây trên, dưới, đường chen lấn

Xe cộ chiếm lề chung với dân

Ta đứng ở đâu trong cuộc sống

Lòng đường đâu phải chỗ dung thân

Mai mốt có khi về chốn cũ

Chỗ nào cho phép đứng yên thân.

HOÀI ZIANG DUY

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 19 Aug 2025

Phần I.

LÀM SAO THOÁT KHỎI VŨNG LẦY

Chương 1

Việt nam bầu Nixon

“Tôi tin chắc rằng sự việc đó (hành động của ông Thiệu) đã khiến ông Humphrey thất cử”

Lyndon B. Johnson

Hồi ký The Vantage Point 1971

Chiếc xe limousine đậu sẵn ngoài sân cỏ. Khách bắt tay Tạm biệt chủ, thong thả bước xuống bậc thềm. Đùng một cái, một trái pháo rơi nổ ngay phía trước mặt. Khách vội vã bước vào xe, tài xế đóng sập cửa. Chiếc xe mầu đen có còi hú phóng đi vun vút. Đoàn tuỳ tùng theo sau. Chắc là một điềm gở? Ông Nguyễn Văn Thiệu vừa thắng cử, Tổng thống Lyndon Johnson phái Phó Tổng thống Hubert Humphrey sang Sài gòn dự lễ tấn phong. Sau phần nghi lễ ông Humphrey vào gặp ông Thiệu ở Dinh Độc Lập, có Đại sứ Bunker và Ted Van Dyk tháp tùng. Trong giây phút huy hoàng của ngày đăng quang, ông Thiệu vui vẻ tiếp vị quốc khách. Chắc rằng Phó Tổng thống Hoa kỳ sẽ có những lời chúc tụng, an ủi, làm yên lòng vị Tổng thống đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng hoà.

Thế nhưng, vừa uống xong ly là, Humphrey đã chậm rãi: “Ngài cần biết về tình hình chính trị ở Hoa kỳ, hiện nay đã đến lúc cần phải có một giai đoạn chuyển tiếp để Miền Nam có thể tự lực, tự cường”. “Vâng tôi hiểu,” ông Thiệu đáp, “nhưng chúng tôi còn cần phải có sự hiện diện của Hoa kỳ với mức độ hiện tại”. “Thêm vài năm nữa với cùng một mức độ viện trợ quân sự và kinh tế như hiện nay thì chắc không thể có!” Humphrey nói tiếp ông Thiệu lắng nghe, tàn than điếu thuốc lá Gauloise ông đang hút dở rớt ngay xuống tấm thảm dầy. Nói xong, phái đoàn ông Humphrey tạm biệt. Ông Thiệu tiễn đưa khách quý ra thềm Dinh Độc Lập. Vừa bước xuống thềm, chính ông Humphrcy đã mục kích cảnh pháo kích.

Từ mùa hè 1967, lúc dư luận bắt đầu nói về cuộc bầu cử Tổng thống Hoa kỳ, nhiều người bạn Mỹ đã nói với tôi là phải hết sức thận trọng. Bây giờ nghe ông Humphrey nói như lúc này, tôi biết ngay là sắp tới lúc chính sách Hoa kỳ thay đổi như ông Thiệu kể lại. Và từ sau cuộc gặp gỡ ông Thiệu đã có một ấn tượng rất rõ rệt về ông Humphrey: ông này mà làm Tổng thống thì Mỹ sẽ rút hết, để Miền Nam “tự lực, tự cường”.

Chiến tranh Việt nam đã chấm dứt 30 năm qua mà dư âm cuộc chiến VN vẫn còn như phảng phất đâu đây. Người ta luôn nhắc đến nó trong các cuộc tranh luận, gần nhất là chiến tranh Iraq.

Chỉ nói về hai ứng cử viên Dân chủ, Cộng hoà trong cuộc tranh cử năm 2004 (John Kerry và George Bush) là đã có vấn đề tranh cãi kéo dài cả mấy tháng. Rồi đến chuyện bài học về chiến tranh Việt nam: nếu Hoa kỳ có tham chiến ở đâu thì phải đánh nhanh, đánh mạnh rồi rút ngay (như ông Bush “Cha” đã làm). Chớ có đóng quân lại mà bị sa lầy. Vì thế, nghị sĩ Edward Kennedy, một nhân vật có ảnh hưởng của đảng Dân chủ, đã gọi Iraq là “Việt nam của ông Bush (con)” bài học cho Hoa kỳ thì nhiều người đã rút tỉa. Nhưng về những bài học cho Đồng minh của Mỹ trong thời chiến thì ít ai nói tới. Một trong những bài học đó là mỗi khi có bầu cử Tổng thống, Hoa kỳ sẽ có biện pháp mạnh để chứng tỏ thiện chí xây dựng hoà bình. Sớm là vào trước năm tuyển cử. Muộn là vào cuối hè năm tuyển cử, lúc hai Đảng họp chọn ứng cử viên Tổng thống. Hiện tượng này cũng đã tái diễn trong cuộc bầu cử 2004. Mùa thu năm 2003, Chính phủ Bush đã tuyên bố là sẽ trao trả quyền hành cho Iraq vào cuối tháng 6, 2004, làm cho những người lãnh đạo mới của Iraq (được Mỹ ủng hộ) rất lo ngại, nhưng cũng phải đồng ý. Ảnh hưởng của bước đi này là làm giảm sự lo sợ của nhân dân Hoa kỳ về chuyện sa lầy. Rồi lúc chuyển giao quyền hành lại cũng đã được thực hiện vào thời điểm bất ngờ: hai ngày trước ngày đã ấn định. Báo chí đăng tin rầm rộ. Gần đến ngày bầu cử, Toà Bạch Ốc lại tuyên bố sẽ rút một số quân từ các địa điểm ngoại quốc về Mỹ. Washington còn công bố lịch trình bầu cử tại Iraq, ấn định vào cuối tháng Giêng 2005, dù có những phe phái của Iraq còn cho rằng điều kiện an ninh và xã hội của họ chưa cho phép bầu cử. Người được bầu làm Tổng thống chắc cũng biết được khi bầu cử xong là Mỹ sẽ nói tới việc rút quân. Và rồi tân Tổng thống của Iraq cũng sẽ nói “chúng tôi còn cần sự có sự hiện diện của quân đội Hoa kỳ trong một thời gian nữa”.

Cứ bốn năm, mỗi khi có bầu cử Tổng thống Hoa kỳ là có áp lực vào Đồng minh. Đó là một trong những kinh nghiệm của Miền Nam Việt nam trong suốt cuộc chiến. Thời Đệ nhất cộng hoà, trước khi Tổng thống Kennedy ra tranh cử nhiệm kỳ hai vào năm 1964, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị nhiều áp lực từ mùa Hè 1963, sau đó bị sát hại vào ngày 1-11 thời Đệ nhị Cộng hoà, trước cuộc bầu cử tháng 11, 1972, Tổng thống Nixon áp lực Việt nam cộng hoà ký Hiệp định Paris. Và vào năm trước kỳ tuyển cử 1976, Tổng thống Ford đã làm ngơ, để Miền Nam lui vào dĩ vãng cho yên ổn.

Trở lại thời Đệ nhất cộng hoà, sau Tổng thống Kennedy tới phiên Tổng thống Johnson.

Bắt đầu muốn tháo gỡ.

Tết Mậu Thân (31-1-1968) là cái mốc lịch sử quan trọng. Sau khi mọi chuyện đã ngã ngũ, về mặt quân sự, Mỹ coi đó như một thành công, nhưng về mặt tâm lý, nó đã là một thất bại lớn. Lần đầu tiên các cuộc thăm dò dân ý cho biết số người chống đối chiến tranh (50%) đã vượt lên cao hơn số ủng hộ (42%)

1. Báo chí đặt nhiều vấn đề về độ đáng tin cậy của lập trường Chính phủ Mỹ. Ngày mồng 10 tháng 3, khi tờ New York Times tiết lộ rằng tướng William Westmoreland vừa xin thêm 206.000 quân, một bầu không khí nặng nề hiện ra rất rõ từ loà Bạch Ốc.

 2. Lúc đó có mặt tại Washington, chúng tôi còn nhớ những buổi chiều khi ba hệ thống truyền hình Mỹ phát sóng báo cáo tin tức từ Việt nam, kèm theo là những câu hỏi hóc búa, những bình luận bi quan, ôi sao nó ê chề đến thế! Bộ Ngoại giao cũng như toà Bạch Ốc, khi trả lời báo chí rõ ràng là đã đứng vào thế thủ, chỉ chống đỡ. Vừa mới ba tháng trước, ông Westmoreland lên truyền hình trấn an nhân dân Mỹ là mọi việc đều tốt đẹp và sắp tới lúc nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm. Bây giờ, đùng một cái, Việt Cộng vào tới tận Toà đại sứ. Câu hỏi hóc búa là nếu đang thắng, tại sao lại phải xin tăng thêm tới 40% quân số?

 3. Nhiều nhà bình luận cho rằng biến cố Mậu Thân là Điện Biên Phủ đối với Tổng thống Johnson

4. Ông bị bại trận về tâm lý. Khi Tổng trưởng quốc phòng Robert Mcnamara xuống tinh thần, ông Johnson hết chỗ tựa. Năm 1984 ông Mcnamara mới thú nhận là ngay từ khi Mỹ mang quân vào (1965-1966), ông cũng đã có những hoài nghi về cuộc chiến. Như vậy tại sao ông lại hăng hái chủ trương mang quân vào Miền Nam? Người ta cho rằng ông chỉ muốn chiều ý Johnson lúc đó vì nhắm chức chủ tịch Ngân hàng thế giới.

5. Tết Mậu Thân là thời điểm tốt cho ông tính đến việc tháo lui. Bị chống đối dữ dội, lại thấy “diều hâu” Mcnamara bắt đầu tránh né, Tổng thống Johnson mệt mỏi, chán chường. Ngày 31 tháng Ba, đúng hai tháng sau Mậu Thân, ông tuyên bố sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ hai nữa. Đồng thời ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt từ trên vĩ tuyến 20 để kêu gọi đình chiến. Đình chiến xong là rút quân về.

Bầu cử, bầu cử: Hãy đi Paris? Tổng thống Johnson lại đề cử ngay Phó Tổng thống Hubert Humphrey thay ông ra tranh cử vào tháng 11, 1968.

Tuyên bố ý định không ra ứng cử từ cuối tháng Ba, Johnson đã cho Humprey đủ thời giờ để tổ chức, vận động. Humphrey tranh cử với lập trường chấm dứt chiến tranh, đem lại hoà bình. Nhưng nếu chấm dứt bằng cách đơn phương bỏ cuộc thì Hoa kỳ sẽ bị thế giới coi thường. Như vậy là thua rồi! Phải có một Hiệp định đình chiến do chính Việt nam cộng hoà ký thì mới danh chính ngôn thuận. Sau này, ông Thiệu kể lại ngay sau cuộc thăm viếng của ông Humphrey, nhân một chuyến đi quan sát chiến trường Miền Nam, Tổng trưởng quốc phòng Mcnamara cũng đã nhấn mạnh: “Chúng tôi cần có một cuộc bầu cử (ở Miền Nam) để điều đình với Bắc Việt. Đại sứ Bunker thì luôn nói tới “Cần có hoà đàm để chứng tỏ với Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ là chúng ta – Hoa kỳ và Việt nam cộng hoà – đều muốn hoà bình”

6. Kế hoạch của ứng cử viên Humphrey được thành hình vào tháng Năm 1968, khi ông Cyrus Vance đại diện cho Hoa kỳ và ông Hà Văn Lâu đại diện cho Bắc Việt đến họp tại Paris để thảo luận về chi tiết những cuộc hoà đàm chấm dứt chiến tranh. Lúc đó, Chính phủ Việt nam cộng hoà chưa chịu tham gia vì Sài gòn muốn trực tiếp đàm phán với Hà Nội, Mặt trận giải phóng miền Nam (MTGPMN) chỉ tham gia như một phần của phái bộ Bắc Việt mà thôi. Nhưng nếu Chính phủ Miền Nam không tham gia thì làm thế nào để có được một Hiệp định cho sớm? Ông Humphrey không thể thắng cử nếu viễn tượng hoà bình chưa sáng tỏ vào ngày bầu cử mồng năm tháng 11, 1968.

Càng gần ngày bầu cử, áp lực từ Washington đến càng mạnh. Đại sứ Ellsworth Bunker tìm mọi cách thuyết phục ông Thiệu gửi phái đoàn sang Paris dự hoà đàm, càng sớm càng hay.

Bầu cử, bầu cử: Đừng đi Paris?

Cùng lúc ấy, ông Thiệu lại nhận được những lời ve vãn từ phía đối thủ của ông Hubert Humphrey, đó là ông Richard Nixon. Thông điệp phía Nixon lại trái ngược hẳn: “Chớ tham gia hoà đàm Paris, cố trì hoãn càng lâu càng tốt để đợi ông Nixon lên Tổng thống, mọi chuyện sẽ tốt đẹp”

7. Những người làm trung gian lúc đó là bà Anna Chennault và Đại sứ Bùi Diễm. Bà Chennault rất được ông Thiệu tin cậy. Bà là người gốc Trung Hoa, quả phụ của tướng Claire Chennault, chỉ huy đoàn Phi Hổ (Flying Tigers), một nhóm tình nguyện của Mỹ chiến đấu chống Nhật hồi Đệ nhị thế chiến. Sau khi chồng chết năm 1958, bà thay thế ông làm quản trị viên của hãng hàng không Phi Hổ. Trong những chuyến bay qua Đông Nam Á, bà thường ghé Sài gòn và đến thăm ông Thiệu. Có lần bà còn được mời ra nghỉ ở villa Bảo Đại Vũng Tàu. Bà đóng một vai trò chủ yếu trong nhóm “Vận động cho Trung Hoa” (Chia Lobby) và gây quỹ tranh cử cho đảng Cộng hoà. Bà Chennault ra vào tự do trong chính giới ở Washington và rất hãnh diện về những quen biết của mình ở đó. Bà gặp Nixon lần đầu tiên vào năm 1954, khi ông sang thăm Đài Loan với tư cách Phó Tổng thống. Năm 1960, bà cổ động cho nhóm vận động của Nixon chống Kennedy.

Anna Chennault thăm viếng Sài gòn thường xuyên vào năm 1968, để thông tin cho ông Thiệu về sự tranh cử của Nixon và những quan điểm của ông đối với Việt nam. Bà nói với ông Thiệu rằng Nixon sẽ là một người ủng hộ Việt nam mạnh mẽ hơn Humphrey nhiều. Sau này, bà kể lại cho chúng tôi: “Ông Thiệu bị phe Dân chủ làm áp lực nặng. Công việc của tôi hồi ấy là cố giữ cho ông ta đừng thay đổi ý kiến”. Đại sứ Bùi Diễm, qua sự giới thiệu của bà, còn được ông Nixon tiếp kiến và dặn là nếu có tin tức gì thì cứ đưa cho bà Chennault. Bà sẽ phúc trình thẳng cho John Mitchell, người phụ trách vận động tranh cử cho Nixon. Trong buổi gặp gỡ, Nixon hứa hẹn là nếu thắng cử, sẽ coi vấn đề Việt nam là ưu tiên số 1, và “bảo đảm sẽ dành cho Việt nam một sự đối xử thuận lợi hơn phe Dân chủ”.

9. Mưu lược của ông Thiệu

Ông Thiệu biết quá rõ về lập trường của ông Humphrey. Nếu ông ta thắng cử thì có nghĩa là sẽ có một Chính phủ liên hợp (với Cộng sản) trong sáu tháng; còn nếu Nixon thắng thì ông cũng còn có hy vọng, ông kể lại cho chúng tôi nghe vào một buổi chiều mùa xuân năm 1985 tại London. Ông cho rằng sau khi có một Chính phủ liên hiệp thì Mỹ sẽ rút đi hết, mặc Việt nam cộng hoà cho số phận quyết định. Bởi vậy, ông đánh một ván bài liều. Kế hoạch của ông Thiệu là cố gắng trì hoãn quyết định của Tổng thống Johnson về việc ngưng oanh tạc Bắc Việt và về việc Việt nam cộng hoà tham dự Hoà đàm Paris.

Lửng lơ con cá vàng, ông không hề nói “không” với ông Bunker, mà luôn nói “có, với điều kiện”. Cứ cù nhày để mua thời giờ cho ứng cử viên Cộng hoà Richard Nixon. Có lúc ông còn dùng ngay những “thể chế dân chủ” do chính người Mỹ giúp Miền Nam dựng nên để tránh né: ông viện cớ là vì lề lối làm việc dân chủ, ông còn phải tham khảo ý kiến Quốc hội và Hội đồng an ninh quốc gia. Ông Thiệu biết là nếu găng quá thì Johnson có thể lấy quyết định đơn phương, cho nên ông không công khai phản đối đề nghị của Johnson, mà chỉ phản đối những chi tiết, đòi thêm điều nọ, điều kia. Đúng là cung cách xoay xở để tồn tại của một người mưu lược.

Trong tuần lễ chót trước ngày bầu cử, John Mitchell “hầu như mỗi ngày” liên lạc với bà Chennault để thuyết phục ông Thiệu đừng tham dự hoà đàm Paris. Cả hai đều biết là Cơ quan điều tra Liên bang (FBI) lén nghe điện thoại, và bà nói đùa với Mitchell: “Ai đang nghe đầu dây bên kia?” Mitchell thì không cho câu rỡn đó là hài hước và nói: “Bà nên dùng điện thoại công cộng, đừng nói chuyện ở sở?”. Lời nhắn nhủ mà Mitchell chuyển cho bà lúc nào cũng giống như nhau: “Đừng để cho ông Thiệu gửi phái đoàn sang Paris”

10. Một vài ngày trước bầu cử, Mitchell điện thoại cho bà Chennault, nhờ chuyển một thông điệp khác cho ông Thiệu. “Anna, tôi nói đây là theo lệnh của Nixon. Điều quan trọng là những người bạn Việt của chúng ta cần phải hiểu rõ quan điểm của Đảng Cộng hoà, và tôi mong bà giải thích cho họ như thế”

11. Dù nhận được đầy đủ phúc trình của CIA và FBI về những cuộc điện đàm giữa bà Chennault và Sài gòn, ông Johnson quyết định không công bố việc ấy ra vì sẽ bị mang tiếng là “nghe lén” và cứ tiến hành sáng kiến hoà bình của mình để giúp cho ông Humphrey

12. Ông Thiệu “án binh bất động”, tiếp tục không nhúc nhích, nhưng cho phía Mỹ cảm tưởng mập mờ là trước sau rồi ông cũng sẽ nghe theo để dự hoà đàm. Đại sứ Bunker mắc mưu, phúc trình với Washington là nếu chờ thêm ít hôm nữa, Chính phủ Sài gòn có thể sẽ ngồi vào bàn hội nghị. Dùng chiến thuật đánh lạc hướng, ông Thiệu lại còn gửi một “phái đoàn tiền phong” sang Paris để “thu xếp chỗ ở và chuẩn bị cho sự tham dự của phái đoàn Việt nam cộng hoà. Và cứ đong đưa như thế; khi thì đưa ra những phản đối mới, khi thì rút lại những chướng ngại chiến thuật, và lần nào cũng mất hai ba ngày mới giải quyết xong.

Leo thang hoà bình.

Càng gần ngày bầu cử, Johnson lại càng phải xuống thang chiến tranh cho nhanh để còn leo thang hoà bình. Muốn tranh thủ được sự ủng hộ của phía quân đội, ông triệu vị tư lệnh quân sự lại Việt nam, Đại tướng Creighton Abrams, về Washington để tham khảo. Abrams đáp xuống căn cứ không quân Andrews lúc nửa đêm ngày 29 tháng 10, 1968, và đi ngay tới toà Bạch Ốc. Vào hai giờ 30 sáng, Tổng thống Johnson chủ toạ một phiên họp giữa các cố vấn cao cấp của mình trong phòng Họp Nội Các. Sau khi duyệt lại tình hình quân sự lừng chi tiết, Johnson ngó thẳng mặt Abrams trong giây lát, rồi hỏi:

– Đây là giờ phút nghiêm trọng. Theo những gì Đại tướng được biết, Đại tướng có ngần ngại hay dè dặt gì không về việc ngưng ném bom Bắc Việt?

– Dạ không, – Abrams đáp.

– Nếu là Tổng thống, Đại tướng có sẽ làm như thế không?

– Tôi không ngần ngại gì hết. Tôi biết làm thế sẽ gây nhiều phê phán trong dư luận. Nhưng tôi nghĩ làm như thế là phải. Làm như thế là đúng.

Giữa lúc đang họp thì có người cho biết rằng Đại sứ Bunker vẫn chưa gặp được ông Thiệu để buộc ông thoả thuận dứt khoát như Tổng thống Johnson mong muốn. Bunker cho hay rằng phía Việt nam cộng hoà đòi có thêm thời giờ: “họ chưa tổ chức được phái đoàn để gửi sang Paris cho kịp ngày mồng hai tháng 11”, như Johnson trông đợi

13. Buổi họp chấm dứt trước năm giờ sáng. Abrams về nhà ngủ, trong khi Dan Rusk trở lại Bộ Ngoại giao gọi dây nói cho Bunker ở Sài gòn. Bởi lẽ hai thủ đô cách nhau 12 tiếng đồng hồ và Sài gòn đã về chiều, nên Bunker có thể cho ông Rusk biết những gì đã xảy ra trong ngày. Lúc 6 giờ 15′ sáng, Johnson lại triệu tập một buổi họp khác trong phòng họp nội các cùng thảo luận với các cố vấn về những hoạt động hậu trường của bà Chennault. Hiện diện trong buổi họp có Ngoại trưởng Dan Rusk và Tổng trưởng quốc phòng Clark Clifford. Clifford nổi giận. Với cung cách đàng hoàng nhất của một luật sư ông phàn nàn rằng sự trì hoãn vào phút chót của Việt nam cộng hoà là một hành động “đáng trách cứ và hoàn toàn không có lý do chính đáng”

14. Johnson thời chỉ thị cho Rusk nói với Bunker là “Hoa kỳ đã sẵn sàng tiến hành phiên họp ngày 2-11-1968 với Bắc Việt tại Paris mà không cần có Thiệu?” Nhưng Bunker cố thúc giục Johnson hoãn việc loan báo ngưng dội bom lại chừng 24 giờ nữa và hoãn hoà đàm Paris đến mồng 4-11-1968 để Sài gòn có thêm thời giờ tổ chức phái đoàn tham dự hội nghị. Johnson nói với các cố vấn: “Tôi bằng lòng hoãn lại vụ này một, hay hai hôm, nhưng sau đó là hết Đồng minh”. Rồi Johnson gửi cho ông Thiệu một thông điệp riêng khẩn khoản giục ông gửi đại diện dự hoà đàm với Hoa kỳ ở Paris.

Vào buổi trưa 30-10-1968, tức là chỉ còn năm ngày trước bầu cử, Tổng thống Johnson nhận được hồi âm của ông Thiệu nói sẽ chấp nhận nếu các điều kiện của ông được thoả mãn

15. Đâm lao phải theo lao.

Như vậy là ông Thiệu chưa dứt khoát. Tới đây thì Johnson không còn chờ đợi được nữa, nên đã thông báo ngay cho ông Thiệu về việc quyết định hành động một mình. Johnson ấn định ngày giờ loan báo trên TV việc ngưng oanh tạc là tám giờ tối 31-10-1968 và quyết định sẽ có hiệu lực 12 giờ sau đó. Buổi họp ở Paris đầu tiên được ấn định vào mùng 6-11-1968, một ngày sau bầu cử. Với áp lực như vậy, ông Johnson hy vọng suốt ngày hôm đó là thế nào ông Thiệu cũng đồng ý đưa ra một thông cáo chung về việc ngưng oanh tạc và hoà đàm. Đại sứ Bunker họp liên miên với Tổng thống Thiệu, Phó Tổng thống Kỳ và Ngoại trưởng Trần Chánh Thành “để cố san bằng những dị biệt”.

Thế nhưng, chỉ còn một giờ trước khi Johnson lên truyền hình ông được Đại sứ Bunker thông báo rằng ông Thiệu vẫn còn đòi duyệt xét lại.

Quá muộn rồi, cần phải có ảnh hưởng ngay với cử tri. Ngày 1-11-1968, Johnson bèn công bố quyết định ngưng oanh tạc Bấc Việt và khai mạc Hoà đàm Paris nới rộng. Để che đậy tình hình căng thẳng với ông Thiệu, ông Johnson nói thêm rằng “Đại diện Chính phủ Việt nam cộng hoà nếu muốn tham dự thì cứ tự do”.

Đã đâm lao, phải theo lao. Tại Sài gòn, ông Thiệu phản ứng bàng cách tự tách khỏi quyết định ngưng oanh tạc. Ông tuyên bố đó là một quyết định “đơn phương” của Hoa kỳ. Phản ứng này giảm bớt tác dụng chính trị của nước cờ Johnson đối với cử tri Mỹ và khiến hy vọng hoà bình cũng mờ nhạt. Tuy nhiên dù tuyên bố như vậy, ông Thiệu vẫn nói riêng với Bunker rằng ông sẽ không làm gì để đảo lộn sáng kiến hoà bình của ông Johnson và sẽ tham gia hội nghị nếu Sài gòn thương thuyết thẳng với Hà Nội chứ không phải với Mặt trận giải phóng miền Nam. Khi Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc Bắc Việt, Humphrey vô cùng phấn khởi, cho rằng đó là sự hỗ trợ cho lập trường chấm dứt chiến tranh mà ông cổ võ trong mấy tháng vận động tranh cử. Giờ đây, vào những ngày chót, Johnson lại đi được một nước cờ tuyệt diệu, vừa chấm dứt chiến tranh, vừa bầu lên được người kế vị thuộc đảng Dân chủ. Hôm sau ngày Johnson tuyên bố, tờ Washington Post (số ra ngày 1-1 l-1968) tường thuật là “phản ứng sơ khởi của cấp lãnh đạo chính trị thuộc cả hai đảng là lời tuyên bố ngưng oanh tạc của Tổng thống Johnson đêm qua sẽ có thể làm tăng hy vọng cho đảng Dân chủ để giữ lại được toà Bạch Ốc và duy trì giữ được đa số tại Quốc hội trong cuộc bầu cử vào thứ Ba tới”. Humphrey thì được báo chí mô tả là “nghiêm nghị và nhẹ nhõm, hy vọng hành động của Johnson sẽ mang lại “hoà bình trong danh dự”.

Cạm bẫy của Nixon.

Cứ để Humphrey biểu diễn, Nixon đã giăng sẵn một cái bẫy cho ông ta. Qua những thông tin bí mật về hoà đàm Paris, Nixon biết được hết đường đi nước bước của Johnson. Ông này nắm được sáng kiến hoà bình để giúp Humphrey, lại có đầy đủ quyền hành trong tay, muốn ngưng oanh tạc bất cứ lúc nào cũng được. Sau đó đi tới thoả hiệp với Bắc Việt. Ngày 22-10-1968, Nixon nhận được một tờ trình của Bryce Harlow, một tuỳ viên chính trị của mình, rằng: “Tổng thống Johnson đang cố tìm mọi cách để có được một đổi chác với Bắc Việt… ông trở nên háo hức một cách dường như bệnh hoạn, đi tìm một cái cớ nào đó để có thể vin vào mà ra lệnh ngưng oanh tạc và sẽ chấp nhận bất cứ một cuộc dàn xếp nào…”

16. Đọc tờ trình nhiều lần, Nixon hết sức bực bội. Ông đề phòng cẩn mật. Ngày 26-10-1968, Nixon quyết định công bố một nhận định về hoà đàm như sau: “Trong ba mươi sáu giờ qua, tôi nghe nói có rất nhiều cuộc hội họp ở toà Bạch Cung và ở các nói khác về vấn đề Việt nam. Tôi nghe nói rằng các viên chức cao cấp trong chính quyền đang rất bận rộn để đạt tới thoả hiệp ngưng oanh tạc và tiếp theo là đình chiến. Trong những ngày gần đây, những việc đó được coi như là đúng. Tôi còn… nghe rằng hoạt động bận rộn ấy là một mưu toan đáng khinh bỉ vào phút chót của Tổng thống Johnson để cứu vãn ứng cử viên Humphrey. Điều này thì tôi không tin là đúng”

17. Rất khôn, cứ nói toạc ra, lên án, rồi lại phủ nhận. Ngày 31-10-1968 (giờ Washington), Johnson tuyên bố Hoa kỳ sẽ “ngưng mọi phi vụ oanh tạc, mọi vụ oanh kích từ ngoài khơi, và pháo kích trên lãnh thổ Bắc Việt kể từ ngày 1 tháng 11”. Ông Humphrey hết sức phấn khởi vì việc ngưng oanh tạc đã mang lại kết quả mau lẹ. Trước khi Johnson tuyên bố, ứng cử viên Nixon với lập trường mang lại hoà bình đã được dân chúng Mỹ ủng hộ hơn hẳn ứng cử viên Humphrey, người bị coi là kế vị “con diều hâu Johnson”. Trước đó mười ngày, Tổ chức thăm dò dân ý Gallup cho biết kết quả là Nixon sẽ dẫn đầu Humphrey tám điểm: 44% và 36% (ngày 21 tháng 10). Nhưng chiều mồng 1-11-1968, tức là chỉ hai ngày sau khi công bố ngưng oanh tạc, thì “sóng gió nổi lên, và Nixon chỉ còn dẫn đầu Humphrey có hai điểm: 42% và 40%”

18. Như vậy, chắc là Nixon phải lo lắng lắm. Thế nhưng không, vì ông biết được ông Thiệu đang toan tính cái gì ở Sài gòn. Nixon rất mừng khi thấy phe Dân chủ đang sa vào cái bẫy của mình. Ông biết là ông Thiệu sẽ không chịu đi Paris, vậy mà phe Dân chủ lại phóng mạnh lên viễn ảnh hoà bình bằng cách gắn liền việc ngưng oanh tạc với Hoà đàm Paris, được ấn định vào ngày 6-11-1968.

Từ thế thủ chuyển sang thế công, ông Nixon lại đi một nước cờ cao hơn: đó là cứ đổ dầu thêm vào lửa. Ông thổi phồng ngay cái hy vọng hoà bình cho lớn hơn, vì biết rằng chính ông Thiệu sẽ làm nó xẹp. Chắc chắn ông sẽ có lợi khi cử tri Mỹ vỡ mộng, hoài nghi lá bài hoà bình của Johnson. Trong một cuộc mít-tinh lớn tại Madison Square Garden, New York, đúng vào ngày ngưng oanh tạc, Nixon tuyên bố rằng ông sẽ “không nói bất cứ điều gì có thể phá vỡ cơ hội đưa đến hoà bình, và ông tin rằng rằng việc ông Johnson ngưng dội bom sẽ “mang lại một vài tiến bộ” tại Hoà đàm Paris nhóm họp vào ngày sáu tháng 11 sắp tới. Thực ra, Nixon thừa biết là ông Thiệu sẽ không tham gia, nên ông giăng lưới cho Humphrey và Johnson rơi vào.

Lá bài tẩy.

Ba ngày trước cuộc bầu cử, áp lực của Johnson gia tăng. ông gửi một thông điệp riêng cho ông Thiệu thúc giục “Chúng ta không nên bỏ nhau trong giờ phút nghiêm trọng này”.

Lá bài chót của ông Thiệu là bài diễn văn ông dự định đọc vào ngày Lễ Quốc Khánh, mồng một tháng 11, ngày lật đố Chính phủ Ngô Đình Diệm (31 tháng 10, giờ Washington). ông Thiệu dự định đọc diễn văn trong một phiên họp Lưỡng Viện Quốc hội Việt nam cộng hoà vào mồng một tháng 11. Buổi chiều hôm trước, nhân dịp lễ Quốc khánh, ông mở một tiệc tiếp tân khoản đãi ngoại giao đoàn tại dinh Độc Lập. Nhớ lại buổi đó, ông kể chúng tôi nghe hồi 1977: “Không thấy ông già Bunker nói chuyện với ai hết, mà cứ đến chỗ tôi nói về bài diễn văn tôi sắp đọc ngày mai. Bunker hỏi nhiều lần là “mọi việc êm xuôi cả chứ, thưa Tổng thống?”. Tôi trả lời “Cố nhiên, cố nhiên, mọi việc đều êm xuôi”.

Bunker lấy làm hài lòng và nâng ly chúc tụng tự do cho Việt nam cộng hoà. Ông báo cáo về Washington là ông Thiệu sẽ tuyên bố trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội (vào hôm sau, mồng 1-11) là Việt nam cộng hoà sẽ tham gia các cuộc Hoà dàm Paris. Riêng ông Thiệu thì đã dùng mọi cách để giấu cho kín nội dung bài diễn văn: ông tự viết lấy bản thảo, rồi cho ba người thư ký khác nhau đánh máy, mỗi người đánh một số trang chẳng theo thứ tự nào để không người nào có thể đọc được tất cả bài diễn văn. Họ lại phải ở luôn trong dinh hôm đó, không được đi đâu.

19. Sáng thứ Bảy, 1-11-1968, một buổi sáng êm ả ở Sài gòn, khí trời khô ráo và dễ chịu vì mùa mưa vừa hết. Ông Thiệu kể lại là trên đường từ Dinh Độc Lập tới Quốc hội, ông hết sức lo ngại, có thể ông sẽ bị CIA ám sát nếu Johnson và Humphrey biết trước được là ông sắp sửa phản phé và bác bỏ kế hoạch hoà bình của Hoa kỳ, ngầm phá hoại cơ hội thắng cử của Humphrey. “Và nếu họ muốn ám sát tôi thì cũng dễ thôi. Rồi sau đó cứ đổ cho Việt Cộng hoặc là do “âm mưu đảo chính” là xong”, ông Thiệu kể lại. Nếu tình hình ở Miền Nam trở nên rối ren thì lại càng dễ bề biện minh cho việc ngưng oanh tạc và khởi sự đàm phán với Bắc Việt. Ông Thiệu cũng biết rằng một khi ông đã tới được toà nhà Quốc hội và đọc diễn văn công khai loan báo quyết định của mình rồi thì hết phải lo. Ông sẽ tránh được những thảm hoạ có thể xảy ra nếu như người Mỹ quyết định lật đổ ông.

Ngồi sừng sững ngay hàng ghế đầu trong Quốc hội, Đại sứ Bunker có vẻ thoải mái và luôn tủm tỉm cười, sau cả tháng giằng co với phía Việt nam cộng hoà. Khi ông Thiệu tới, máy quay phim của ba hệ thống truyền hình Mỹ đều hướng vào ông và cử toạ đồng loạt đứng dậy vỗ tay. “Này công dân ơi, Quốc gia đến ngày giải phóng…”. Mọi người nghiêm chỉnh chào quốc kỳ.

Khi bắt đầu nói, ông Thiệu tỏ vẻ xúc động rõ rệt, nhưng cương quyết. Sau phần mở đầu ngắn ngủi, ông cất cao tiếng nói. Bằng một giọng đanh và sắc, ông đòi Bắc Việt trực tiếp đàm phán với Việt nam cộng hoà. Việt Cộng sẽ chỉ tham gia như một phần của phái bộ Bắc Việt mà thôi. Nhấn mạnh từng chữ, ông nói: “Chính phủ Việt nam cộng hoà rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hoà đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”.

Cả Quốc hội nghe đến đó đều đồng loạt đứng dậy vỗ tay thật lâu. Đèn chiếu và máy quay phim bỗng đổ dồn về phía Bunker. Sau này, ông Thiệu kể lại: “Tôi còn nhìn thấy rõ là Bunker lúc ấy cố làm ra vẻ bình tĩnh mà không được. Ông toát cả mồ hôi ra. Nhìn gương mặt ông, tôi không khỏi ái ngại, nhưng tôi không thể làm gì khác hơn được. Tôi không thể chấp nhận tình trạng có thể đưa mình tới chỗ liên hiệp với Cộng sản” 20 . Bài diễn văn của ông Thiệu kéo dài 27 phút và bị những tràng pháo tay làm gián đoạn mười tám lần. Quyết định này của ông đã là một tin quan trọng 21 . Bài diễn văn ngày Quốc Khánh năm 1968 của ông Thiệu là một nước cờ then chốt từ một mưu lược do chính Nixon thúc đẩy

Tờ Washington Post đăng tít hàng đầu: “NAM VIỆT NAM TẨY CHAY HOÀ ĐÀM NGÀY 6 THÁNG 11”, và phần tin tức của bài báo ghi rằng: “Hậu quả hành động của Thiệu là làm người ta nghi ngờ về những nước cờ của Mỹ nhằm mở cuộc thương thuyết với Cộng sản để chấm dứt chiến tranh”. Ngày bầu cử Tổng thống là thứ Ba, mùng 5-11-1968. Như sử gia nổi tiếng Theodore White đã nhận định trong cuốn “Việc tạo dựng nên ngôi vị Tổng thống” (The making of the Presidency, 1968):

“Giả như hoà bình đã hiển nhiên như một sự thực trong ba ngày chót của cuộc bầu cử năm 1968, thì Hubert Humphrey có thể đã đắc cử; có thể ông ta đã là một Tổng thống thiểu số, nhưng dù sao cũng là Tổng thống. Thế nhưng, qua những xáo trộn của ba ngày chót đó, người ta thấy rằng vụ ngưng ném bom bắt đầu sáng Thứ Sáu, chắc không thể nào làm ngưng được máu người Mỹ vẫn đổ ở Á Châu; và dư luận quần chúng đang thuận lợi cho Humphrey, bỗng nhiên lại ngả về phía Nixon

22. Nixon thắng cử chỉ có 43.4% tổng số phiếu toàn quốc, so với 42.7% cho Humphrey, hơn nhau chỉ nửa triệu phiếu. Nếu tính cho tròn theo phương pháp thống kê thì mỗi người được bằng nhau là 43%. Dư luận cho rằng “nếu như ngày bầu cử nhằm vào Thứ Bảy hay Chủ nhật (tức là ngay sau ngày ngưng oanh tạc), thì có thể Nixon đã thua. Nhưng giá như ngày bầu cử được tổ chức một tuần lễ muộn hơn nữa, thì Nixon có thể còn thắng từ một triệu đến hơn năm triệu lá phiếu”

23. Sau này, chính Tổng thống Johnson đã xác định trong cuốn hồi ký của ông “The Vantage Point” rằng: “Ngày 1-11-1968, sau khi cho hay là sẽ đi dự Hoà đàm Paris, nhà lãnh đạo Việt nam cộng hoà lại quyết định không tham dự. Tôi tin chắc rằng sự việc đó đã làm cho ông Humphrey thất cử”

24.Vắt chanh bỏ vỏ.

Nếu như tin ông Nixon thắng cử có làm ông Thiệu hài lòng đôi chút thì nó cũng chỉ là trong chốc lát. Đại sứ Bunker và cả Bộ Ngoại giao Hoa kỳ vô cùng bực tức về ông. Ông Thiệu cũng cảm thấy rằng mình đã hơi quá tay. Ngày 12-11-1968, Tổng trưởng quốc phòng Clark Clifford công khai cảnh cáo ông Thiệu rằng nếu ông không tham dự hoà đàm Paris, Hoa kỳ sẽ hành động một mình và không cần đến ông. Tờ New York Times thuật lại việc ông Clifford đã không đè nén được sự nổi giận của ông về việc ông Thiệu đã chống lại cuộc đàm phán vào giây phút chót.

Ở Sài gòn, lởi cảnh cáo của Clifford lại được giải thích là Johnson đang nổi sùng với ông Thiệu và có thể quyết định lật đổ ông. Ông Thiệu kể lại: “Nếu Johnson lật đổ tôi trước khi Nixon nhậm chức, thì cái đó hẳn là một giải pháp êm đẹp nhất cho Nixon: ông ta sẽ khỏi phải đích thân lật đổ tôi. Tôi đâu có căn cứ chính sách của tôi vào một cá nhân duy nhất, mà vào chính sách của Hoa kỳ. Tôi biết chính sách của Hoa kỳ là thương lượng để đạt được một Chính phủ liên hiệp ở miền Nam, chứ không phải thắng lợi quân sự. Tôi không bao giở có ảo tưởng là chính sách Nixon nhằm giúp Miền Nam thắng Miền Bắc về mặt quân sự”.

Sau này, khi lên truyền hình đọc bài diễn văn từ chức vào ngày 22-4-1975, ông Thiệu còn nhắc lại rằng: “Vào những ngày vô cùng khó khăn năm 1968, áp lực của Mỹ đè lên chúng ta không phải là nhỏ?

Việc ông Thiệu lo ngại về đảo chính sau khi Nixon đắc cử cũng không hẳn là không có lý do. Tác giả Seymour Hersh trong cuốn “The Price of power”, sau khi đúc kết các tài liệu về vụ này cho hay rằng sau cuộc bầu cử 1968, chính ông Kissinger đã báo động cho phía Nixon về mưu đồ của Clark Clifford và cảnh cáo: “Nếu ông Thiệu chịu chung một số phận với ông Diệm thì tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ nghĩ rằng làm kẻ thù của Mỹ có thể là nguy hiểm, chứ làm bạn với Mỹ chắc chắn là chết”

25. Một tuần lễ sau khi bầu cử, ngày 11-11-1968, Nixon tuy đã thắng nhưng chưa chính thức nhậm chức (ngày 20-1-1969 mới đăng quang) đã tới thăm Johnson tại Bạch Cung và được hướng dẫn về chính sách đối ngoại. Cuối phiên họp, khi bàn về Việt nam, Nixon tuyên bố: “Chính phủ Johnson không những có thể hành động nhân danh chính quyền hiện nay mà còn nhân danh cả toàn quốc, và như thế có nghĩa là nhân danh cả chính quyền (của Nixon) sắp tới nữa”. Khi tin này được công bố, báo chí lập tức giải thích câu phát biểu của Nixon là chính Tổng thống tân cử cũng đã bắt đầu “làm áp lực” đối với ông Thiệu

26. Và đúng như vậy, chỉ vài ngày sau khi Nixon thắng cử, cố vấn của Nixon là Mitchell đã điện thoại yêu cầu bà Chennault nói với ông Thiệu là “nên tham dự ngay các cuộc hoà đàm ở Paris”. Bà vô cùng tức giận, cho rằng Nixon đã phản bội. Bà còn nhớ trước ngày bầu cử, Mitchell đã gọi các cuộc hoà đàm ở Paris là “giả mạo”, xúi ông Thiệu đừng tham dự, lúc nào cũng giục “hãy cố thử” (please hold on!) mà bây giờ lại trở mặt, cho việc gửi đại diện tham dự là quan trọng.

Thế nhưng, Nixon đã lên lưng ngựa rồi, bây giờ đâu còn cần ai nữa! “Đường ta, ta cứ đi”, Nixon trực chỉ phóng tới đích

27.

——————————–

1          Leslie Gelb and Richard Betts, The Irony of Vietnam, trang 160-161.

2          Leslie H. Gelb and Richard K. Betts, The Irony of Vietnam, trang 170.

3          Harry G. Summers, “Turning point of the war” in David Zabecki, Vietnam, A Reader, trang 240.

4          Leslie H. Gelb and Richard K.Betts, Irony of Vietnam, trang 171; và Harry Summers, “Turning point of the war”, trang 231.

5          Harry Summers. “Turning point of the war”, trang 235.

6          Phỏng vấn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, 3-5-1985.

7          Phỏng vấn bà Anna Chennault, 5-5-1985.

8          Về điểm này, nên đọc thêm: Bùi Diễm, The Jaws of history, trang 235-246

9          Phỏng vấn bà Anna Chennault, 23-2-1986.

10        Phỏng vấn bà Anna Chennault, 5-5-1985.

11        Anna Chennault, The Education of Anna Chennault, do Seymour Hersh trích dẫn trong the price of power, trang 21; cũng nên đọc Stanley Karnow, Vietnam: a history, trang 585-586.

12        Stanley Karnow, Vietnam: a history, trang 586.

13        Lyndon B. Johnson, The vantage point, trang 520-521.

14        Lyndon B. Johnson, The vantage point.

15        Lyndon B. Jonhson, The vantage point, trang 524.

16        Richard Nixon, Memoiry trang 326.

17        Richard Nixon, Memoiry, trang 327.

18        Theodore H. White, The making of the President 1968, trang 446.

19        Nói chuyện với Tổng thống Thiệu, 25-11-1976.

20        Nói chuyện với Tổng thống Thiệu, 25-11-1976.

21        Tổng thống Johnson đã điện đàm với Đại sứ Bunker: Bunker cam đoan rằng Sài gòn sẽ gửi phái đoàn tham dự hoà đàm Paris mặc dù John Negroponte, một chuyên viên chính trị nói sõi tiếng Việt, đã tiên đoán ngược lại. Phỏng vấn Richard Holbrooke, 26-4-1985. (Holbrooke thời đó là một chuyên viên cấp thấp, làm việc cho Averell Harrimam tại Hoà đàm Paris).

22        Theodore White, The making of the President 1968, trang 447.

23        Theodore White, The making of the President 1968.

24        Lyndon B. Johnson, The vantage point, trang 548-549.

25        Seymour Hersh, The vantage point, trang 22-23.

26        Washington Post, 12-11-1968.

27        Phỏng vấn Anna Chennault, 2-3-1986.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

9. Đỗ Ngọc Yến.

Chúng ta có một nhà văn ký tên Tam Ích. Rất nhiều người, nghe tiếng ông, biết tên ông, nhưng tận mắt chưa từng đọc một chữ nào của ông cả. Ông không chỉ viết sách bằng tiếng Việt. Ông còn viết bằng cả tiếng Pháp nữa. Những bài viết bằng tiếng Pháp thay vì ký tên Tam Ích, ông đã ký bằng ba chữ XXX. Chừng đó người ta mới vỡ nhẽ Tam Ích là “ba ẩn số” Không biết sự thực có đúng như vậy chăng? Bằng hữu thân thiết với Đỗ Ngọc Yến, nói về Đỗ Ngọc Yến, trong lúc cười đùa với nhau, cũng coi chữ “Y” trong tên anh như một ẩn số. Đùa thôi.

Bởi vì, sự thực, Đỗ Ngọc Yến không có vẻ gì bí ẩn cả. Ngược lại nữa là đằng khác. Anh sống gần như cởi mở với tất cả mọi người. Chẳng cần là bạn của anh, gặp anh lần đầu, nói chuyện với anh, nghe anh nói chuyện, thường, người ta có cảm tưởng hình như không có sự xa lạ nào giữa hai người, chỉ chưa có dịp gặp nhau thôi. Dĩ nhiên, gặp rồi, biết rồi, còn giao thiệp tiếp hay than thiết với nhau tới mức nào lại là chuyện khác.

Đỗ Ngọc Yến có một trí nhớ phi thường. Trong những buổi tình cờ trò chuyện như thế, năm bẩy năm sau, gặp lại nhau, anh có thể nhắc lại vài chi tiết nho nhỏ, một cử chỉ, một lời nói của đương sự trong cái ngày xa xưa ấy, chính đương sự không ngờ, cũng không hiểu vì sao anh nhớ được.

Anh nhớ những điều ấy vì tâm hồn anh tựa một tấm gương phản chiếu tự nhiên những ảnh hình bên ngoài, chứ không phải chú tâm làm việc ấy vào mục đích gì. Nhưng sự việc, tự nó, lại có ý nghĩa như là một sự bầy tỏ cảm tình đặc biệt gì đó đối với người đối thoại.

Giao thiệp như vậy là tuyệt hảo, dễ gây được cảm tình với người khác.

Nhưng, điều bí ẩn của Đỗ Ngọc Yến, nếu có, là đằng sau nụ cười có vẻ rất “thiệt thà” của anh, người ta không thể biết chắc anh nghĩ gì về mình. Điều này khiến anh giữ được khoảng cách với mọi người, đôi khi rất cần trong công việc. Anh vui vẻ, hóm hỉnh, có thể chọc cười mọi người chung quanh bằng những nhận xét, ý kiến rất riêng tư, sâu sắc về nhiều vấn đề, về nhân vật này nhân vật khác, đắng cay, chua chát thì có, nhưng không bao giờ anh nói lời độc ác.

Người Việt là tờ nhật báo tiếng Việt lớn nhất của chúng ta ở hải ngoại, đã được Đỗ Ngọc Yến khai sinh từ trong cái garage nhỏ xíu của nhà anh. Trước 75, có thể Đỗ Ngọc Yến có ghé vào công việc của một vài tờ báo nào đó ở Sài Gòn, nhưng mọi người biết đến anh như một người hoạt động xã hội, đặc biệt là những sinh hoạt học đường, các phong trào sinh viên, học sinh, nhất là chương trình ngày đó gọi là CPS, chứ không thấy ở anh là một người có ý định làm báo. Độc giả không biết Đỗ Ngọc Yến viết những mục gì trong tờ Người Việt, nhưng thấy rõ ràng anh là linh hồn của tờ báo. Không có Đỗ Ngọc Yến thì không thể có tờ Người Việt như hiện nay được.

Những ngày gần đây, mọi người trong tòa báo đều biết sức khoẻ Đỗ Ngọc Yến suy yếu, vậy mà nhiều khi từ nhà thương ra, anh đã về thẳng tòa báo, ghé chỗ người này, người kia, đôi lúc quanh quẩn một mình bên những chiếc máy computer, photocopy, các bằng hữu, nhân viên đã ra về, giữa căn phòng vắng vẻ, gặp anh những lúc bất chợt như thế, mới thấy lòng dạ anh dành cho tờ báo nặng thế nào. Mệt, anh nằm ngủ đâu đó trên chiếc ghế trong văn phòng của mình, hay một góc nào đó trong tòa báo. Hình như thì giờ Đỗ Ngọc Yến dành cho tờ báo nhiều hơn ở nhà. Không khí làm việc trong tòa báo, người nọ đối với người kia, có vẻ trong một gia đình nhiều hơn là một công sở là nhờ cách tổ chức của Đỗ Ngọc Yến.

Gần như hầu hết các bằng hữu cùng hoạt động với Đỗ Ngọc Yến trong phong trào CPS xưa, đều có một chỗ nào đó trong tòa báo. Thực tế ra sao không rõ, nhưng nhìn từ bên ngoài, có vẻ như họ vừa làm việc vừa đùm bọc nhau sống. Đỗ Ngọc Yến có rất nhiều sáng kiến. Anh hay nói nửa đùa nửa thật với các bạn chung quanh

– Tôi thách các anh làm hết được những mưu tôi bầy ra. Chữ “mưu” anh dùng ở đây có nghĩa là sáng kiến. Ngược lại, các bạn anh nhiều lúc lại la lên, “bố ấy chuyên môn đánh trống bỏ dùi, toàn bịa việc ra rồi bỏ đấy”.

Anh thường nhìn thấy trước những gì cần phải làm. Có lẽ điều đó cũng giải thích vì sao tờ Người Việt đã phát triển được như hiện nay. Dù đau ốm, đầu óc Đỗ Ngọc Yến luôn sáng suốt. Chuyện gì xẩy ra, ở đâu, anh biết anh đều nhớ rất rõ. Chẳng hạn bây giờ hỏi anh khi mấy ông tướng họp nhau ở Cap sau mấy cuộc đảo chính, chỉnh lý, rồi xé bỏ cái được gọi là Hiến Chương Vũng Tầu năm nào, ai đã làm gì, nói gì, Đỗ Ngọc Yến sẽ cho biết một cách khá rành mạch, dù không kiểm chứng, nhưng người ta có cảm tưởng có thể tin được.

Một khía cạnh không ngờ khác của Đỗ Ngọc Yến ít người biết là, anh rất am tường về nền tân nhạc Việt Nam, biết rõ từng tác giả như một nhà nghiên cứu chuyên môn. Không phải anh chỉ biết một cách tổng quát mà anh thuộc từng bài ca, những bài hiện nay rất ít người biết. Trong một cuộc trò chuyện có người hỏi Đỗ Ngọc Yến, tại sao các nhạc sĩ của chúng ta ở miền Nam xưa, nghĩa là trước 54, không ai sáng tác đuợc nhiều, mỗi người chỉ viết được một hai bài như: Nguyễn Mỹ Ca, Võ Hòa Thanh, Hiếu Nghĩa, Văn Sanh v.v … Đỗ Ngọc Yến cho rằng có hai lý do có thể giải thích hiện tuợng đó. Thứ nhất: Ở miền Nam khi ấy chưa có những phòng trà, hội quán hay các vũ trường, là nơi các nhạc sĩ có nhiều dịp gặp gỡ, trình bầy cho nhau cũng như các khán giả nghe các tác phẩm của mình, rồi người nọ gợi hứng cho người kia sáng tác, như các nhạc sĩ ở Hà Nội hay Hải Phòng chẳng hạn, nên họ không viết được nhiều.

Thứ hai: họ bị chết trong chiến tranh. Nghe thật buồn. Hôm rồi, vào thăm Đỗ Ngọc Yến, lúc ra tới cửa bệnh viện chúng tôi còn được bà Tiểu Huyền cho biết thêm một điều bất ngờ nữa về Đỗ Ngọc Yến: không biết anh học đàn ai và học từ bao giờ, nhưng có bữa thấy anh ngồi trước chiếc dương cầm và đàn như mưa bấc!

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 19 Aug 2025

8. Đinh Hùng

Có thể nói, tất cả các thi sĩ của chúng ta, không ít thì nhiều, ai cũng làm thơ tình. Nhưng hình như chỉ một mình Đinh Hùng, đã dành cả đời, để làm thơ ca ngợi tình ái. Suốt lịch sử của chúng ta, cho đến tận hôm nay, có lẽ chưa một

người nào có thể sống được nhờ thơ của mình, hiểu theo nghĩa cụ thể:

sống bằng tác quyền thơ. Đinh Hùng cũng vậy. Ông phải sống nhờ vào những công việc khác như làm báo, dạy học, cộng tác với các đài phát thanh. Song tất cả các công việc này chỉ giúp ông tồn tại để làm thơ. Ở miền Nam không có chế độ thi sĩ ăn lương nhà nước, nên các văn nghệ sĩ đều phải tự lo liệu lấy đời sống, như mọi người khác.

Và người ta rất tự hào về sự không lệ thuộc này. Đinh Hùng có làm thơ trào phúng, viết truyện hàng ngày cho các báo, và ông cũng có viết mấy vở kịch thơ nữa, nhưng sự nghiệp chính của ông vẫn là hai thi phẩm: Mê Hồn Ca và Đường Vào Tình Sử. Cả hai tác phẩm này đều là những tập thơ tình.

Gọi đó là những tập thơ tình chỉ là một cách nói giản dị.

Thực ra đây chính là vũ trụ thơ Đinh Hùng. Phải gọi là vũ trụ thơ Đinh Hùng vì từ khi ông mở ra cái thế giới ông gọi là mê hồn ca ấy, ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc của ông dành cho cái thế giới đó, cho đến những ngày

cuối cùng của đời ông, không hề thay đổi. Khi Đinh Hùng biến đổi ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc của ông thành tranh, bởi vì Đinh Hùng còn biết vẽ nữa, cái thế giới trong tranh và trong thơ của ông vẫn chỉ là một.

Nói về cái bìa tập Mê Hồn Ca do chính Đinh Hùng vẽ, ấn bản của nhà Khai Trí, Nguyên Sa viết:

“Thiếu nữ chắp tay nguyện cầu, trên nền ngọn lửa, tóc nàng chạm vầng trăng, trong vầng trăng có chữ Thơ. Góc trái của bức tranh có hình Phật Bà ngồi trên tòa sen, hai ngọn lửa một trắng, một đỏ chìm phía dưới làm tôn sự uy nghi của Phật Bà, chứ không làm suy giảm hay biểu lộ sự đe dọa nào cả. Phía trên, bên mặt là những vì sao, phía tận cùng dưới có hình đầu lâu và chữ ký Đinh Hùng, chữ Hùng nguyên chữ, chữ Đinh chỉ một chữ Đ viết hoa và dấu chấm. Chim, không rõ loại, mỏ dài, không phải là bồ câu, đậu trên đầu lâu trắng hếu, dưới mỏ chim có hai trái tim. Chim màu xanh nước biển, hai trái tim màu đỏ, cùng với mặt trăng có chữ Thơ, thiếu nữ mặc áo màu xanh rêu đậm, nền trời xanh. Phía dưới góc trái có một vật hình thể dài, không phân biệt được là hình gì, có vẻ như đền đài thời xa xưa, có vẻ như kim tự tháp, cũng có vẻ như chiếc mộc của người da đỏ”.

Những hình ảnh mà Nguyên Sa nói rằng không phân biệt được trong tranh Đinh Hùng cũng là những gì người ta cảm nhận được trong thơ Đinh Hùng, ông không viết ra, nhưng dường như nó lẩn khuất đâu đó ở đằng sau, ở đằng

trước, ở chung quanh những chữ ông viết ra, một thế giới u uẩn, gồm cả trăng sao, tín ngưỡng, chim chóc, đàn bà, cái chết và sự say đắm:

Ta thường có những buổi sầu ghê gớm

Ở bên em ôi biển sắc, rừng hương!

Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm

Em đến đây như đến tự Thiên Đường

Những buổi đó ta nhìn em kinh ngạc

Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly

Ôi mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ!

Ta trông đó thấy trời ta mơ ước

Thấy cả bóng một vừng đông thuở trước

Cả con đường sao mọc lúc ta đi

Cả chiều sương mây phủ lối ta về

Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ!

Có người cho rằng Đinh Hùng chịu ảnh hưởng thơ Tống, thơ Đường, thơ tượng trưng Pháp. Nhưng đọc những bài như Kỳ Nữ của ông hẳn người ta

phải thấy đó là cái thế giới của riêng Đinh Hùng, nó lẫn lộn giữa mộng và thực, tiền kiếp và hiện sinh, “ở bên em” mà “khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ”, trong một đôi mắt mà ông nhìn thấy cả “vừng đông”, “sao mọc” và “chiều sương”, nghĩa là một không gian thời gian hỗn mang:

Thèm ăn một chút hương man dại

Và ngủ như loài muông thú kia

Cái thèm ấy có dính dáng chút gì đó với con người tiền sử chăng? Cũng có người cho rằng, Đinh Hùng có một chút “máu xanh”, nghĩa là máu của các quan Châu, quan Lang, vùng Thượng du Bắc Viêt, vì trong thơ ông, rừng, núi, hang, động, suối, đèo, hoa cỏ hoang vu, đóng một vai trò rất quan

trọng. Song tất cả những điều ấy, cũng chỉ dùng để làm tang thêm nhan sắc của người đàn bà trong thơ ông, làm tang thêm nỗi say đắm trong lòng ông đối với các nàng thơ của ông thôi:

Ta run sợ cho yêu là mệnh số

Mặc tay em định hộ kiếp ngày sau

Vì người em có muôn phép nhiệm màu

Một sợi tóc cũng làm ta mê hoặc

Ta đặt em lên ngai thần nữ sắc

Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da

Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa

Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết

Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết

Rợn xuân tình lên bộ ngực thanh tân

Ta gần em mê từng ngón bàn chân

Mắt nhắm lại để lòng nguôi gió bão

Nói tóm lại, có thể nói Đinh Hùng mới thực sự là thi sĩ của tình yêu. Tất cả thơ của ông chỉ là những lời ngợi ca tình ái, dù ở trong đó có gai sắc làm chảy máu, có những giấc mơ dữ dội, có hương trầm trên các lối đi, trời đất đều thơm tho bởi vì có em trong đó, ông yêu từ lúc chưa gặp:

Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

cho đến lúc người không còn nữa:

Nằm trong đáy mộ chắc em sầu

Thu ơi đánh thức hồn ma dậy

Ta muốn vào thăm đáy mộ sâu

Đinh Hùng cũng là thi sĩ duy nhất cho ta thấy hình như tình yêu nối được cả đời sống và cõi chết, biến hung bạo thành dịu dàng và ngược lại:

Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

Ta vẫn gần, ôi sắc đẹp yêu ma

Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà

Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

Đinh Hùng muốn nói gì thì nói, thơ ông chỉ có một ý nghĩa: đó là những lời tỏ tình. Hay nói theo cách nói của chính Đinh Hùng:

Ta, suốt đời ngư phủ

Thả con thuyền trên mái tóc em

buồn lênh đênh

Tuấn Ngọc

Chợ Cũ Sài Gòn

baotreonline.com

Trang Nguyên

August 10th, 2024

Post by Sơn râu 18 Aug 2025

Người bạn lớn tuổi của tôi nhớ lại chuyện xưa có lần cùng má từ Dĩ An lên Sài Gòn thăm cha làm việc ở Tổng nha Ngân khố Sài Gòn từ thời Pháp thuộc. Tôi cứ tưởng câu chuyện hấp dẫn khi ông “lạc” vào kho bạc tha hồ nhìn thấy núi tiền hay đống vàng cất giữ trong toà nhà bê tông gạch dày 4 tấc. Nhưng ông nói có thấy gì đâu, hai má con đứng trước toà nhà chờ đến giờ nghỉ trưa gặp cha dẫn đi Chợ Cũ ăn cơm thố trên đường Chaigneau (Tôn Thất Đạm). Rồi ra chợ thú nuôi ở góc De la Somme (Hàm Nghi), cha mua cho con cưỡng mang về nhà nuôi. Ông kể rằng, ông thích loài chim cưỡng, bởi nhà người bác họ trong xóm có nuôi một con, cứ hễ thấy người lạ đến ngắm nhìn thì nó liền nói “có khách, có khách”.

Chợ Cũ Sài Gòn xưa ngó mặt ra kênh Charner (Nguyễn Huệ ngày nay) có từ năm 1811 và chính quyền quyết định di dời về chợ Bến Thành ngày nay vào năm 1912 (Nguồn: Manhhaiflickr) 

Chợ Cũ mà ông bạn tôi nói đến là khu vực buôn bán sầm uất xung quanh chợ Bến Thành cũ tức Tổng nha Ngân khố nơi cha ông làm việc. Hồi xửa hồi xưa nơi đây là khu nhà lồng 5 dãy cột gỗ mái ngói mặt ngó ra kinh Lớn (sau này lấp lại thành đường Charner – Nguyễn Huệ). Trong cuốn “Gia Định thành thông chí” miêu tả, khu Chợ Cũ nằm dọc theo bến sông. Hải quân của triều đình vẫn thao diễn hàng năm tại đây vào ngày tế mạ (lễ tế thần của quân đội xưa). Bến sông người ra, người vào buôn bán nhộn nhịp. Đầu bến về phía bắc là rạch Sa Ngư. Nơi này có cầu ván bắc ngang, hai bên đầu cầu, nhà ngói vách gỗ xây lên san sát, trong chợ bày bán đủ thứ hàng hóa thịnh hành như gạo, trầu cau, vải lụa, gốm sứ, thảo dược… Dọc theo hai bờ sông, thuyền bè đậu nhiều không thể tả”.

Về sau, chợ hư hỏng nặng. Đến năm 1912, chính quyền thành phố quyết định di dời chợ về vị trí khác tức chợ Bến Thành ngày nay mà người Sài Gòn hồi đó gọi là Chợ Mới Bến Thành (khánh thành năm 1914). Vương Hồng Sển viết trong cuốn “Sài Gòn năm xưa” rằng, người Tàu gọi Chợ Mới Bến Thành là “Tân Nhai thị” hay vỏn vẹn “Cái Xị”. Ngày khánh thành tổ chức lễ lạt ăn mừng, tiếng đồn rùm beng có cộ đèn, chưng cộ bảy bang, xe bông, hát ngoài trời v.v. các bài báo viết mừng bài “mừng lễ khai tân thị” xướng họa không dứt.

Theo tài liệu chợ Bến Thành cũ, trước khi người Pháp khởi công xây dựng công trình kho bạc nhà nước, con kinh này bị lấp đi đồng thời rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi) và vài con rạch lớn khác cũng được lấp luôn vì ở giai đoạn cuối thế kỷ 19, Sài Gòn đã phát triển đường sá cho các loại xe ngựa, xe kéo tay, phương tiện đường thuỷ cho ghe bầu, xuồng to xuồng nhỏ từ Lục Tỉnh, Gia Định len lỏi trên các kênh rạch đến bến chợ xuống hàng buôn bán như ngày trước không còn phù hợp. Người Pháp bắt đầu xây dựng những dãy nhà phố khang trang hai bên đường làm thay đổi diện mạo một phần khu trung tâm thành phố Sài Gòn vào thời kỳ đó. Đô thành Sài Gòn trở nên nhộn nhịp hơn, sang trọng hơn khiến người nhà quê quan niệm ai lên Sài Gòn sinh sống đều dễ thay lòng đổi dạ. “Chợ Bến Thành đời đổi / Người sao khỏi hợp tan / Xa gần giữ nghĩa tào khang / chớ ham quyền quý mà đá vàng phụ nhau”.

Trẻ con sống quanh Chợ Cũ vào thập niên 1960 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Ông bạn kể chuyện: “Thật ra hai má con lên Sài Gòn thăm cha vì mấy bữa ông không về nhà. Má tôi trong lòng nghi ngại, sợ ông có bà khác làm khổ mẹ con. Ba tôi đã giải thích chuyện không thể về nhà mấy hôm là do công việc kế toán nhiều quá, việc làm không hết nên viên chủ quản kêu làm thêm giờ nên ở lại nhà người bạn đồng nghiệp cho tiện việc đi lên đi xuống mỗi ngày. Để má tôi yên lòng, ba tôi dẫn hai mẹ con sang thăm nhà người bạn. Nhà người bạn đồng nghiệp với ba tôi có tiệm tạp hoá gần mấy tiệm bán heo quay vịt quay trên đường Tôn Thất Đạm thì lúc đó má tôi mới chịu”.

Chuyện ông bạn già kể khiến tôi hình dung Chợ Cũ trên đường Tôn Thất Đạm đã có từ hồi đầu thập niên 1950 hay trước đó nữa mặc dầu tên chợ không phải là tên chính thức của một ngôi chợ có xây nhà lồng. Chợ Tôn Thất Đạm dường như tự phát do nhu cầu chợ búa của cư dân gần đó tiện đến chợ gần nhà hơn là cuốc bộ xuống chợ Bến Thành. Dọc hai bên dãy phố người ta bày ra các sạp, che dù, che tôn buôn bán đủ loại hàng hoá, rau cải, cá mắm nhưng thời đó khu chợ này không có nhiều sạp hàng hai bên đường như thời gian sau này. Không phải chỉ có chợ Tôn Thất Đạm người ta mới gọi cái tên Chợ Cũ chung chung để lưu giữ hình ảnh một thời của chợ Bến Thành đầu tiên trên đất Sài Gòn. Câu ca dao xưa vẫn còn trong tâm trí qua nhiều thế hệ, trong lời ru con của những bà mẹ thuở thập niên 1960 khi còn chân ướt chân ráo di cư lên Sài Gòn sinh sống: “Sông Sài Gòn bao nhiêu nước / Chợ Cũ Sài Gòn kẻ tục người thanh / Mấy ai mà đặng như anh / Dù cho xao xuyến cũng chân thành với em…”.

Khu vực đường Hàm Nghi (từ góc ngã tư Công Lý, Pasteur, Tôn Thất Đạm và Võ Di Nguy – Hồ Tùng Mậu ngày nay) cũng được người Sài Gòn gọi là Chợ Cũ. Chợ Cũ như trên đã nói ở phía cạnh bên kia trên đường Nguyễn Huệ và những con đường chung quanh gần đó như Hải Triều, Ngô Đức Kế lại không được gọi là khu Chợ Cũ vì khu này được xây dựng nhiều công sở, khách sạn nhà hàng sang trọng. Cách gọi Chợ Cũ ở mấy đoạn trên đường Hàm Nghi của người Sài Gòn chẳng qua nơi đây trở thành khu vực buôn bán nhộn nhịp từ tiệm ăn, chợ búa, vải lụa cho đến hàng mã, thú nuôi.

Khu Chợ Cũ trên đường Hàm Nghi thập niên 1960 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Một chi tiết trong câu chuyện của ông bạn già về khu Chợ Cũ làm tôi thích thú. Đó là Chợ Cũ mua bán thú nuôi đủ loại chó, mèo, khỉ, thỏ, rắn, rùa, chim chóc đến các loại cá xiêm, gà chọi mà nhiều người sau này vẫn quen gọi là Chợ Cũ chó mèo. Hồi thời cha người bạn làm việc ở kho bạc Sài Gòn, trên đường Hàm Nghi đã có nhiều cửa tiệm và các sạp hàng trên vỉa hè bày bán loại đồ hàng mã đồ cúng và có năm ba ngôi nhà mở tiệm bán đủ các loại chim chóc cho người thượng lưu Sài Gòn mua về nuôi làm cảnh. Ông bạn già hồi còn bé thích nuôi chim cưỡng được cha dẫn lại tiệm còn nhớ lúc ấy người chủ tiệm giới thiệu con cưỡng đã biết nói hai ba tiếng. Ông kể: “Tôi ngắm con chim đen tuyền đứng trong lồng tre nghênh nghênh cái đầu nhìn mình bỗng nghe con cưỡng cất tiếng chửi thề. Cha tôi chưng hửng còn tôi thì thấy thích thú chửi nó một tiếng. Con cưỡng làm thinh nghểnh mỏ một hồi rồi lại cất tiếng lơ lớ ‘mất dạy’. Người chủ tiệm sợ cha tôi không mua, lóng ngóng giải thích chắc con cưỡng học theo mấy tiếng chửi tục từ đám người buôn bán trước tiệm của ông. Nhưng tôi cứ đòi cha mua cho bằng được. Mang con cưỡng về nhà, mỗi ngày cho ăn ớt để nó lột lưỡi học thêm nhiều tiếng thanh tao. Nuôi được vài ba năm thì con chim lăn ra chết mà không nói thêm được tiếng nào”.

Riêng ký ức của tôi về khu Chợ Cũ lại là chợ bán thú nuôi. Đến nay, tôi vẫn nhớ những ngày còn bé ham nuôi gà tre. Không phải tôi ham thích đá gà mà con gà tre lông đủ màu đẹp dáng làm tôi thích. Đó là khoảng thời gian đầu những năm 1970, cứ vài ba tháng, tôi lén nhà đạp xe chạy ra khu Chợ Cũ chó mèo bán dọc bên vỉa hè đường Hàm Nghi dắt xe đạp đi một vòng ngắm chim gà cá cảnh. Tôi không biết khu chợ thú nuôi này hình thành từ lúc nào, có lẽ cũng như Chợ Cũ Tôn Thất Đạm hồi đầu thập niên 1950 chỉ là vài mươi sạp chợ tụ họp buôn bán những thứ cần thiết cho nhu cầu dân chúng quanh vùng rồi sau thời gian theo kiểu buôn có bạn bán có phường nhiều người kéo nhau dựng sạp bên lề đường bày bán, họp thành khu chợ cho đến ngày nay (nghe đâu chợ bắt đầu giải toả từ tháng 2/2017 khiến nhiều người buôn bán qua hai ba thế hệ nơi này tiếc nuối hình bóng của Chợ Cũ Sài Gòn ngày xưa).

Các tiệm bán thịt quay trên đường Tôn Thất Đạm khu vực Chợ Cũ năm 1960 (Ảnh Tài liệu)

Chợ thú nuôi chỉ một đoạn ngắn hơn trăm thước trên vỉa hè đường Hàm Nghi, người ta bày bán từ phía dưới ngã tư Công Lý qua đến ngã tư Pasteur. Có chỗ dựng sạp bằng tôn hẳn hoi, tối về sập xuống khoá lại, có chỗ che dù căng bạt buôn bán đủ loại thú nuôi. Thích nhất là xem mấy người lớn mang gà chọi ra đá bên đường xe lửa giữa đường Hàm Nghi. Chỉ có phần vỉa hè đường rầy mới có nền đất hẹp dẫu sao cũng đủ chỗ cho một trận đá độ hơn thua hấp dẫn cả người đi bộ, đi xe dừng lại bu xem, có khi lấn ra tới lòng đường xe chạy.

Sau năm 1975, Chợ Cũ thú nuôi ngưng bán một thời gian ngắn, vài năm thì chợ này họp lại bán chó mèo, cá cảnh và gà đá. Một người quen di dân sang Mỹ năm 1995 kể lại, sau thời gian học tập cải tạo mấy năm về nhà không biết làm gì theo bạn bè ra chợ bán chó mèo ở đường Hàm Nghi kiếm sống qua ngày. Đến năm 1990 thì chợ lề đường này bị giải toả. Một số người bán chó tập trung ở đầu đường Lê Hồng Phong mua bán. Thời điểm này, người Sài Gòn mới biết được giống chó chihuahua nhỏ con đắt tiền. Còn mấy người chuyên bán chim cá cảnh thì lui về cuối đường Cộng Hoà, bên hông vách tường an ninh phi trường Tân Sơn Nhất tập trung mua bán. Nhưng chợ búa hay chợ vỉa hè chó mèo, chim cá cảnh lại lần lượt “dời đô” để lại một vài ký ức trong lòng người xa xứ.

TN

Người Rơm

baotreonline.com

Tưởng Năng Tiến

January 21st, 2024

Post by Sơn râu 18 Aug 2025

Cuối năm, blogger Hoàng Giang (VOA) gửi đến độc giả một câu chuyện rất “nhẹ nhàng” và “đáng yêu” ngăn ngắn:

“Tôi mới đọc được mẩu tin nho nhỏ, mà chắc chả mấy ai bận tâm, mẩu tin cũng nhẹ nhàng tình “củm” có tựa đề là “How did this Swedish cat turn up in south France?”. Tức là có một chú mèo tên là Glitter sống ở Bromolla, miền nam Thụy Điển mất tích đã 8 tuần. Anh chủ Sammy Karlsson tưởng chừng như sẽ không có hy vọng tìm lại được Glitter nữa thì bỗng dưng vào đúng tuần lễ Thanksgiving, anh nhận được một cuộc gọi từ vùng Nimes tại miền nam nước Pháp hỏi anh về chú mèo lông xù này. Sammy ngạc nhiên tới mức anh tưởng người ta đang đùa cợt mình, nhưng khi bức hình được gửi đến, thì chú mèo đó chính xác là Glitter của anh. Trong một bài phỏng vẫn, anh nói đùa rằng “Có lẽ Glitter đã phải lòng một cô gái Pháp nào đó, và chàng quyết định đội chiếc mũ bê rê.” Hiện chàng mèo đang được tiêm phòng và làm quốc tịch Pháp sau đó sẽ được gửi trả về với chủ tại Thụy Điển. Câu chuyện mới đáng yêu làm sao, cứ tưởng tượng một chú mèo thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu, chu du hơn 1,700km, mà tự dưng cũng muốn mình được như thế, vô lo vô nghĩ… 

Ước muốn được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” của Hoàng Giang tuy không có gì là viển vông nhưng vẫn rất xa vời, và mỗi lúc một thêm xa, nếu chúng ta (chả may) sinh ra là… người Việt Nam – cái xứ sở mà nhiều người dân phải cầm cố nhà cửa/ruộng vườn mới đủ chi trả cho con cái một chuyến đi ra khỏi nước.

Dù giá quá đắt nhưng không phải ai đi (rồi) cũng đến. Hãy nghe qua một mẩu đối thoại của hai người Việt, từ hai phòng giam sát cạnh nhau, trong một nhà tù nào đó ở Âu Châu:

Tuyết ho, tôi xót ruột. Ho xong, nó nói:“Em mơ còn nằm trong cái xe thùng chở em sang đây. Ðứa con gái nằm ngay bên cạnh em chết ngạt.”

“Chết!?”

“Chết. Bị nhốt trong thùng xe hai ngày hai đêm. Khi bọn đầu gấu mở cửa xe ra, thấy bốn người chết từ bao giờ. Con ấy thân với em nhất. Chúng em đã từng chia phiên nhau kề mũi vào cái lỗ nhỏ để thở.

Thương hại nó hay nhường cho em thở lâu hơn. Dọc đường nó cứ đòi về, không muốn đi nữa. Nhưng em biết về thế nào được với bọn đường dây. Nó mà sống sót cũng bị đường dây hành tới chết về cái tội đòi về… Anh có nghe không đấy?”

“Nghe rõ cả.”

“Nó nói khổ đều quanh năm chịu được, dồn vào một ngày thì chết. Anh nghĩ có đúng không?”

“Chắc đúng.”

“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm ‘Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.’ Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.” (Tâm Thanh. “Người Rơm” – Diễn Đàn Thế Kỷ 01/07/2010).

Người rơm còn có một tên gọi khác – dễ nghe hơn – theo ngoại ngữ: nouveaux boat people, những thuyền nhân mới. Khác với lớp người tị nạn từ Việt Nam vào cuối thế kỷ trước, những kẻ đến sau không còn được thế giới chào đón nữa.

Nhân loại, xem chừng, đã oải. Không ai còn đủ kiên nhẫn và bao dung với những kẻ khốn cùng (không tiền bạc, không ngoại ngữ, không nghề nghiệp, không cả một mảnh giấy tùy thân) cứ tiếp tục đến mãi từ một xứ sở… Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc!

Thêm một điều khác biệt nữa là tuy được gọi tên “những thuyền nhân mới” nhưng họ không vượt biên bằng thuyền. “Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày…” (Phương Vũ Võ Tam Anh, “Người Việt Khốn Khổ Tại Paris”).

Sau khi đặt chân được đến miền đất hứa (Anh Quốc) có một hiện tượng lạ xẩy ra là lớp người rơm, ở tuổi vị thành niên, đều mất biến – theo bài tường thuật (Missing Kids UK) của Sam Judah, qua Tạp Chí Thời Sự BBC:

“Người ta tin rằng hầu hết các trường hợp đều được các băng đảng đưa lậu vào Anh, bị cảnh sát phát hiện và đưa vào các trung tâm chăm sóc. Các em rõ ràng là không bỏ trốn khỏi những kẻ bắt giữ mình, mà còn thường trốn khỏi các gia đình nhận nuôi dưỡng mình và các trung tâm chăm sóc để trở lại với những kẻ đó, nhằm tìm cách trả các khoản nợ lớn và nhằm để gia đình ở Việt Nam khỏi bị trả thù.

Văn, một cậu bé người Việt 15 tuổi, mà dường như được đăng tải trên trang mạng trẻ mất tích dưới một cái tên khác, đã được đưa lậu vào Anh bằng xe tải và đã bị buộc phải giúp việc nhà cho những kẻ đã đưa cậu vào. Sau đó, cậu được đưa vào làm ‘thợ vườn’ ở một số trại trồng cần sa trên cả nước…

Hồi năm ngoái, 96 thiếu niên người Việt đã được chuyển tới cho cơ quan quản lý tình trạng buôn bán người của chính phủ, khiến Việt Nam trở thành quốc gia có nhiều đối tượng được cho là nạn nhân ở tuổi vị thành niên nhất tại Anh. BBC còn cho biết thêm một khía cạnh tồi tệ khác: “Số liệu từ Cơ quan Tội phạm Quốc gia Anh Quốc (NCA) cho thấy trẻ em từ Việt Nam nằm đầu bảng danh sách bị đưa lậu vào Anh vì mục đích lạm dụng tình dục.”

Cảnh sinh hoạt của những người Việt nhập cư lậu–image BBC tiếng Việt

Cập nhật hơn, The Guardian  có bài tường thuật (“3,000 children enslaved in Britain after being trafficked from Vietnam”) của hai ký giả Annie Kelly và Mei-Ling McNamara. Xin ghi lại vài đoạn ngắn, theo bản dịch (“3.000 trẻ em bị buôn bán từ ‘đất nước Hồ Chí Minh’ sang Anh làm nô lệ”) của blogger Nguyễn Công Huân:

“Giống như nhiều trẻ em Việt Nam khác, Hiền đã được đưa đến Anh để sống một cuộc đời nô lệ hiện đại. Em cuối cùng phải vào tù về tội trồng cần sa…

Chuyến đi của Hiền tới Anh Quốc bắt đầu khi em bị bắt cóc khỏi làng lúc 5 tuổi bởi một người nói rằng ông ta là chú của em. Như một đứa trẻ mồ côi, em không còn lựa chọn nào khác ngoài làm theo những mệnh lệnh của người khác. Em đã mất năm năm đi qua nhiều quốc gia bằng đường bộ, hoàn toàn không biết mình đã đi qua những đâu, từ Việt Nam qua biên giới giữa Pháp và Anh để tới một căn nhà ở London. Ở đây em phải làm nô lệ trong nhà trong 3 năm, nấu ăn và dọn dẹp cho nhóm những người Việt đi ra vào ngôi nhà em bị giam giữ.”

Ước mơ của đám trẻ con Việt Nam đang bị giam giữ trong những trang trại trồng cần sa, hay những nơi mua bán tình dục – nếu có – hẳn không phải là được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” (như chú mèo Glitter trong câu chuyện của Hoàng Giang) mà là được trở lại quê hương. Được “cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời,” như nguyên văn tâm sự của một nhân vật (dẫn thượng) của nhà văn Tâm Thanh.

Chuyện hồi hương, buồn thay, cũng không dễ dàng chi – theo tường trình của thông tín viên Lê Hải, từ Luân Đôn: “Khi đã vào đến nước Anh rồi thì tùy thuộc vào chính quyền Việt Nam có chịu nhận những người này về hay không. Thường thì số lượng người bị trục xuất về Việt Nam gia tăng khi giữa hai nước có các đoàn công tác cấp cao, và chính phủ Anh có thể đề nghị tăng viện trợ để đổi lại bằng chuyện Việt Nam nhận người về.”

Cách ứng xử của những người lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay (Luân Đôn phải tăng viện trợ Hà Nội mới chịu nhận người về) dễ làm người ta liên tưởng đến lời lẽ cứng rắn trong bức thư mà ông Lý Quang Diệu gửi cho bà Thủ Tướng Anh, về vấn đề thuyền nhân Việt Nam, vào ngày 5 tháng 6 năm 1979. Xin được trích dẫn đôi dòng, theo bản Việt Ngữ của nhà văn Phạm Thị Hoài:

“Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á…

Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời thu về thì rất nhanh.”

(People and leadears throughout the world must be told, again and again, that this is the government of the Socialist Republic of Vietnam which has actively promoted this massive migration, causing havoc to the countries of Southeast Asia… They have cold, calculating minds, which, whilst incapable of compassion to their own people, are nevertheless most acute in computing cost-benefits.)

Từ 1979 đến nay là gần nửa thế kỷ. Trong khoảng thời gian này đã có hai đợt di dân tập thể từ Việt Nam: thuyền nhân cũ và những thuyền nhân mới – ancient boat people and nouveaux boat people. Giữa hai lớp người này có nhiều điểm dị biệt nhưng chính sách của nhà đương cuộc Hà Nội thì trước sau như một, hoàn toàn xuyên suốt và nhất quán: “Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh.”

Nói cho nó gọn thì đây là một hình thức buôn dân của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nước họ còn dám bán thì buôn dân, tất nhiên, chỉ là chuyện nhỏ.

TNT

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 18 Aug 2025

MỤC LỤC [−]

Phần I. LÀM SAO THOÁT KHỎI VŨNG LẦY

  1. Việt nam bầu Nixon

  2. Kissinger, ông là ai?

  3. Củ cà rốt và cái gậy

  4. Lui vào bóng tối

Phần II. THÂN PHẬN TIỂU QUỐC

  5. Tự túc tự cường

  6. Cú sốc mùa Thu

  7. Làm thế nào để bớt lệ thuộc?

Phần III. KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY

  8. Năm của định mệnh

  9. Nhát gươm đao phủ

  10. Lúc tuyệt vọng

  11. Che dấu Quốc hội, nhân dân Hoa kỳ

  12. Hãy giúp chúng tôi

  13. “Sao chúng không chết phứt cho rồi!”

Phần IV. RƯỚC CỦA NỢ HAY ĐƯỢC CỦA CÓ?

  14. Ai không muốn di tản người Việt?

  15. Vào để giúp… Ra lại bắn nhau?

  16. Vĩnh biệt ông Đại sứ

  17. Một cố gắng cuối cùng

Phần V. NHÌN LẠI LỊCH SỬ

  18. Bao nhiêu trắc trở lúc ban đầu

  19. Tại sao sụp đổ

  20. Những bài học từ cuộc chiến Việt nam

Thay lời cuối

  Thiện tâm của nhân dân Hoa kỳ

Lời nói đầu

Sao lẹ thế

Rồi cuộc di tản tiếp theo. Trước hết lạ thời gian di tản, sao nó quá ngắn ngủi? Tuy hai cuộc chiến năm 1954 và 1975 kết thúc trong những hoàn cảnh khác hẳn nhau, ta vẫn có thể hỏi tại sao khi Pháp rút khỏi Miền Bắc, thời gian được quy định là 300 ngày. Bây giờ đến lúc Mỹ rút hết khỏi Miền Nam thì không có quy định gì hết, cuộc di tản chỉ kéo dài được vỏn vẹn năm ngày!

Nói tới cung cách ra đi, sao lại quá thê thảm? Năm 1954, dù chỉ là di tản từ Bắc vào Nam và năm 1975 thì di tản sang Mỹ nên hai biến cố khác nhau, nhưng phần nào ta cũng so sánh được việc đoàn người ra đi có trật tự, rất ít nguy hiểm ở lần đầu, với cuộc di tản nháo nhào, đầy rủi ro, hãi hùng vào lần thứ hai. Rốt cuộc, tại sao số người được cứu vớt lại quá ít ỏi? Hồi 1954, Mỹ chưa trực tiếp dính líu vào Việt nam mà đã giúp chuyên chở, rồi định cư cho một triệu người, tức là 7% dân số Miền Bắc. Sau hai mươi năm can thiệp với hơn một nửa triệu quân, sống chết với 20 triệu dân quân Miền Nam, giờ đây lại chỉ định cứu có 50.000 người. Tới phút cuối cùng mới vớt thêm. Tất cả không tới 130.000 người, nghĩa là có 0,6% dân số.

Phóng viên: “Thưa ông, cứ cho là Hoa kỳ đã bội ước, nhưng còn lý do gì khác khiến chúng tôi phải đưa người Việt vào Mỹ không?”

Tác giả: “Tượng Nữ thần Tự do đang nhắc nhở cho chúng ta rằng nước Mỹ là đất của những kẻ bị truy nã, của di dân”.

Phóng viên: “Tôi xin nhắc nhở cho ông là Nữ thần Tự do quay mặt về phía Đại Tây Dương”.

Ý nói là bà quay lưng về phía Á châu, phía Việt nam chúng ta.

Đây là một giai thoại trong phiên họp báo của chúng tôi ngày 30-4-1975 (ngày 1 tháng 5 giờ Sài gòn) tại khách sạn May Flower trên đường Connecticut, Washington, D.C.

Mục đích của cuộc họp nhằm kêu gọi Hoa kỳ cứu vớt những con thuyền đang lênh đênh như lá tre ngoài bờ biển Vũng Tàu.

Vô cùng xúc động, chúng tôi không cầm được nước mắt. Câu mỉa mai này đã ám ảnh chúng tôi từ giây phút đó, và chắc sẽ không bao giờ phai nhoà đi được trong ký ức.

Sau 30 năm rồi mà ta chưa tìm được câu trả lời thoả đáng cho những thắc mắc trên. Biến cố lịch sử năm 1975 đã để lại những ấn tượng sâu đậm trung tâm trí của tất cả chúng ta, những con người Việt nam, dù ở trong hay ngoài nước. Mỗi người một hoàn cảnh, một cảm xúc, một số phận. Một số quý vị đang cầm cuốn sách này trong tay là những người thuộc thành phần may mắn, không nhiều thì ít, đã thoát được bao nhiêu rủi ro. Thành phần khác đã chịu số phận nghiệt ngã, giờ đây chỉ còn là những oan hồn vất vưởng trong lòng Thái Bình Dương.

Và sau này, những thế hệ mai sau, con cháu chúng ta sẽ tiếp tục thắc mắc: tại sao cha mẹ, ông bà mình lại bỏ quê cha. đất tổ chạy sang Mỹ? Sang bao giờ? Trong hoàn cảnh chính trị xã hội, kinh tế ra sao? Sang bằng cách nào? May mắn? Lúc đầu như thế nào? Làm sao mà sinh sống? Không bà con, không tiền, không nghề nghiệp thích hợp, không cùng ngôn ngữ, làm thế nào mà nuôi được con cháu ăn học thành tài như ngày nay?

Gần 20 năm trước, năm 1986, tôi đã cùng Jerold Schecter, nguyên chủ bút tuần báo TIME xuất bản cuốn “The Palace File” (Hồ sơ mật Dinh Độc Lập – Hồ sơ mật Dinh Độc Lập). Cuốn sách đề cập nhiều tới Hiệp định Paris và ảnh hưởng bất lợi của nó.

Đối tượng chủ yếu là độc giả Mỹ, đặc biệt là các nhà làm chính sách Hoa kỳ. Tổng trưởng ngoại giao thời đó là ông George Schultz (trong chính quyền Reagan) có viết cho chúng tôi là ông đã đưa cuốn này vào thư viện nhỏ của Văn phòng Tổng trưởng ngoại giao ở Foggy Bottom. Các vị kế nghiệp ông sẽ được đọc. Năm 1988, tờ New York Times đã chọn cuốn “The Palace File” dể vào số những sách mà các ứng cử viên Tổng thống cần phải đọc, với tựa đề: “Vừa đọc vừa vận động: Một lớp cấp tốc cho chức vị Tổng thống” (Read and Run: A Ram Course for the Presidency).

Khi Đồng minh tháo chạy, được viết căn bản là cho độc giả Việt nam.

Sách gồm năm phần chính:

Phần I: bàn về thời điểm và cách thức Mỹ tháo khỏi chiến trường Việt nam.

Phần II: nói đến thân phận một tiểu quốc muốn cố gắng vượt ra khỏi sự lệ thuộc.

Phần III: kể lại những gì đã xảy ra tại Washington và Sài gòn sau khi quân đội Mỹ rút hết cho tới khi Miền Nam sụp đổ.

Phần IV: trình bày diễn tiến vào giờ hấp hối, việc một số chính trị gia Mỹ đã không muốn cứu vớt người Việt nam, đặc biệt là về cơ nguy Mỹ- Việt suýt bắn nhau; phần này cũng thuật lại một cố gắng cuối cùng của tác giả đặt trách nhiệm tinh thần cho Hoa kỳ đòi hỏi phải giúp cho ít nhất một triệu người ty nạn.

Phần V: nhìn lại lịch sử để ghi nhận cho con cháu những khó khăn, chống đối lớn lao cha ông chúng đã gặp lúc ban đầu; phần này thâu tóm một nguyên nhân chính làm sụp đổ Miền Nam, cũng như những bài học rút ra từ cuộc chiến cho những thế hệ tương lai của Việt nam và các Đồng minh của Hoa kỳ hiện đại.

“Thay lời kết”, chúng tôi đề cập tới thiện tâm của nhân dân Hoa kỳ, vì sau cùng, cánh tay của đại đa số đã rộng mở, tiếp nhận đoàn người tỵ nạn trong một thời gian trên hai thập niên.

Sách này dựa vào một phần cuốn Hồ sơ mật Dinh Độc Lập và vào những nghiên cứu thêm của tác giả trong mười năm qua. Trong cả hai cuốn, ngoài phần tài liệu, chúng tôi đã bổ sung bằng những phỏng vấn với các viên chức hữu trách cả hai phía Việt nam cộng hoà và Hoa kỳ; đặc biệt là Tổng thống Nguyễn văn Thiệu (tại London và Boston), Tổng thống Gerald Ford, Ngoại trưởng Henry Kissinger, tướng Alexander Hai, tướng John Murray, các Tổng trưởng quốc phòng liên hệ như James Schlesinger, Melvin Laird, Elliot Richardson và các viên chức cao cấp Cơ quan Tình báo CIA. Tổng thống Richard Nixon khi còn sống đã từ chối cuộc phỏng vấn vì lý do sức khoẻ.

Điều mà cuốn Khi Đồng minh tháo chạy muốn nhấn mạnh, nhất là cho người Việt nam chúng ta rõ, là cung cách mà một số chính khách Hoa kỳ, đặc biệt là ông Kissinger, và phần nào, hai ông Nixon, Ford cũng như một số nghị sĩ, dân biểu với con mắt thiển cận, đã hành xử đối với nhân dân Miền Nam. Nó phản bội nguyên tắc “minh bạch” (transparency) của thể chế dân chủ, và đi ngược lại tinh thần công bình của đại đa số nhân dân Hoa kỳ. Trong bóng tối, trước hết hai ông Kissinger – Nixon đã dùng thủ đoạn ép buộc Miền Nam đi theo đường lối của mình, mục đích chính chỉ là để cho quân đội Mỹ rút đi, và tù binh được thả về. Khi Chính phủ Miền Nam phản kháng thì đe doạ với “cái gậy” (đảo chánh và cắt viện trợ), và hứa hẹn với “củ cà rốt” (bảo đảm hoà bình và viện trợ đầy đủ).

Hứa hẹn xong thì lờ đi, giấu cho thật kỹ. Quốc hội không biết gì hết nên đã cắt giảm viện trợ một cách quá nhanh và quá thẳng tay. Hoá ra, củ cà rốt chỉ là một công cụ che giấu một kế hoạch gọi là “khoảng thời gian coi cho được”. Kế hoạch này chỉ nhằm ban phát cho Miền Nam Việt nam một thời gian ngắn ngủi, một khoảng cách từ khi Mỹ rút hết cho tới khi sụp đổ. Trước khi cuốn sách này lên khuôn, một nhân chứng về những hành động hắc ám của ông Kissinger, ông John Negroponte vừa được Tổng thống George Bush trao phó chức vụ Điều khiển toàn bộ tình báo Hoa kỳ. Ông là liên lạc viên giữa Kissinger và phái đoàn Bắc Việt tại mật đàm Paris. Ngày 19 tháng Hai, 2005, tờ Boston Globe có bài viết về ông này và bình luận: “tuy hồi đó Negroponte chỉ là nhân viên cấp dưới, ông đã có tinh thần rất độc lập và đã phản đối Kissinger về việc chấp nhận để quân đội Bắc Việt đóng lại Miền Nam, cho rằng như vậy là đưa Miền Nam tới chỗ sụp đổ và hành động này có nghĩa là đã bỏ rơi Đồng minh của Hoa kỳ. Ông Richard Holbrooke (Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc thời Tổng thống Clinton, và là bạn đồng liêu với Negroponte lúc còn ở Hội đồng an ninh quốc gia) có nói rằng chính vì Negroponte đã chống lại Kissinger mà bị hạ tầng công tác trong gần suốt thập niên 1970”.

Đối với Miền Nam, ngay trước lúc sụp đổ hoàn toàn, ông Kissinger còn thốt lên: “Sao chúng không chết phứt cho rồi?”. Sau đó, kế hoạch tháo chạy dược thiết kế lúc đầu căn bản chỉ là để di tản 6.000 người Mỹ và một số rất ít người Việt. Cho dù nhiều người có thể biện luận rằng việc giải kết khỏi Miền Nam là điều có lợi cho nước Mỹ đi nữa, nó cũng chỉ là ích lợi đoản kỳ, ở vào thời điểm đó thôi. Trong trường kỳ, việc bỏ rơi, nhất là cung cách tháo chạy đã làm tổn hại rất nhiều tới “mức độ tin cậy” (credibility) của chính sách ngoại giao cũng như uy tín Hoa kỳ. Bạn thì bớt tin tưởng, thù thì hết kính nể. Sau Việt nam, vào tháng 10, 1979, Iran đã táo tợn đến độ bắt ngay cả nhân viên Toà đại sứ Mỹ ở Teheran làm con tin hơn một năm. Rồi từ đó, bao nhiêu vụ tấn công vào người và tài sản của Mỹ. Liệu những hành động của Saddam Hussein, Al-qaeda, biến cố gây nổ tàu Cole ở Qatar, hay sự cố 11-9 có phải là những hậu quả của việc coi thường Hoa kỳ hay không? Bởi vậy, về lâu về dài, cái giá phải trả chắc chắn đã không phải là thấp.

Tất cả những sự việc ở hậu trường bang giao Việt – Mỹ trong giai đoạn từ khi Mỹ tháo gỡ cho tới lúc bỏ chạy được rất ít người biết tới. Lý do là vì: về phía Mỹ, hồ sơ mật về Việt nam trong giai đoạn này đã được giấu kín trong văn phòng Cố vấn Kissinger tại Toà Bạch Ốc; và về phía Việt nam cộng hoà, nó được hoàn toàn bảo mật trong văn phòng riêng của Tổng thống Thiệu tại Dinh Độc Lập.

Nhiều tác giả nổi tiếng của Mỹ về vấn đề Việt nam cũng đã phải bình luận về việc này. Trong cuốn Uncertain Greatness, chính ông Roger Morris, nhân vật quan trọng trong Hội đồng an ninh quốc gia (National Security Council (NSC) do ông Kissinger điều khiển, đã phàn nàn: “Dù rằng nó là một vấn đề được viết và bàn luận nhiều nhất trong chính sách ngoại giao, nhưng hồ sơ của Nixon – Kissinger về Đông Dương trong nhiều phương diện đã ít được hiểu biết nhất… Sự việc mà dưới thời Johnson là một mạng rối rắm giữa các động lực hành chính ở Sài gòn và Washington… bây giờ hầu như đã trở nên một sự khống chế của chỉ hai bộ óc trong Toà Bạch Ốc (Kissinger và Nixon).

Một tác giả nổi tiếng khác, ông Leslie Gelb trong cuốn The Irony of Vietnam: The System Worked, đã viết: “Câu chuyện về chính sách Việt nam dưới thời Richard Nixon và Gerald Ford là một chủ đề quan trọng…, nói về việc Hoa kỳ đã rút ra chứ không phải đã nhảy vào Việt nam như thế nào… (thế nhưng) những nguồn tài liệu cần thiết để phân tích giai đoạn từ sau 1968 chắc sẽ không có được trong một thời gian nữa”.

Hy vọng rằng cuốn Khi Đồng minh tháo chạy sẽ lấp được phần nào cái lỗ hổng này của lịch sử. Âu cũng do định mệnh mà người viết được chứng kiến một số sự việc xảy ra tại dinh Độc Lập cũng như tại Bộ Quốc phòng và Quốc hội Hoa kỳ trong những ngày tháng đầy tuyệt vọng. Trước hết với tư cách là một Phụ tá Tổng thống, rồi Tổng trưởng Kế hoạch trong nội các. Là người điều hợp viện trợ trên bình diện kinh tế toàn quốc người viết làm việc trực tiếp với Tổng thống Thiệu trong những ngày tháng cuối cùng. Trong cương vị này, hồi 1974-1975 nhiều lúc chúng tôi đã phải dẹp bỏ tự ái, lui tới Quốc hội Hoa kỳ như một người đi cầu xin.

Vì đã quen với lề lối làm việc ở Mỹ trong nhiều năm trước khi trở về nước giúp tái thiết nền kinh tế, chúng tôi đã luôn luôn mang theo cuốn sổ tay nho nhỏ màu vàng mỗi khi đi họp để ghi chú diễn tiến buổi họp. Kèm theo là những nhận xét hay cảm nghĩ của riêng mình vào ngay lúc đó, viết trong ngoặc. Ở Sài gòn, những cuộc họp gồm có các buổi giữa cấp lãnh đạo tối cao, các buổi họp giữa Tổng thống Thiệu và giới chức Hoa kỳ. Tại Washington là các buổi họp với một số viên chức cao cấp tại bộ Ngoại giao, bộ Quốc phòng, và một số Nghị sĩ, Dân biểu tại Quốc hội Hoa kỳ.

Ngoài ra, tôi có ghi lại những cuộc đàm thoại, những chỉ thị cũng như tâm tư, cảm xúc của Tổng thống Thiệu trong nhiều bữa ăn một mình với ông, hay trong những lúc thư giãn nhấm nháp ly rượu vào buổi chiều tối.

Một phần của những ghi chép đó được dùng trong cuốn sách này. Nhằm bổ sung phần ghi chép, chúng tôi đã cố nghiên cứu thêm trong thời gian qua để tìm hiểu sâu rộng hơn về những diễn tiến đưa tới sự sụp đổ mau lẹ của Miền Nam và cuộc di tản tiếp theo.

Trong phần nghiên cứu và trích dẫn thêm, ngoài những tài liệu nội bộ, chúng tôi còn dựa vào hồi ký đã được xuất bản của các nhân vật chính yếu tham gia vào lịch sử của thời gian này (như các Tổng thống Nixon, Ford, ngoại trưởng Kissinger, Phụ tá Ehrlichman, Haldeman, Phụ tá báo chí Nessen), và sách của một số tác giả uy tín (như các ông Butler, Hersh và hai anh em ông Kalb). Chúng tôi ghi nhận và cám ơn các tác giả và các nhà xuất bản (xem phần “Sách tham khảo”).

Về những tài liệu nội bộ, quý nhất là tập hồ sơ tối mật về bang giao Việt – Mỹ dưới thời hai Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford. Đầu tháng Ba, 1975, Tổng thống Thiệu có cho chúng tôi xem một vài lá thư, rồi một tháng sau, ông đã trao phó toàn bộ văn kiện. Thật là một may mắn mà hồ sơ đó đã được cứu vãn cho lịch sử. Mang nó theo khi bước chân lên chiếc máy bay Pan Am đi Washington ngày 15-4 trong công tác cuối cùng cho Việt nam cộng hoà, chúng tôi hết sức lo âu. Lo là vì về phía Mỹ, Bộ Ngoại giao đang chối đi là không có cam kết gì bí mật hết. Tài liệu này đã được giấu kín, kín đến độ chính Tổng thống Ford cũng như ở trong bóng tối. Mãi tới sau khi Huế bị bỏ ngỏ và Đà Nẵng đã di tản, ông mới được đọc vài bức thư trong số những văn kiện tối mật của Tổng thống Nixon gửi Tổng thống Thiệu. Và việc ông Ford đọc được là do chính chúng tôi khởi xướng.

Cái trớ trêu là vào những ngày giờ cuối cùng, giữa Dinh Độc lập và Toà Bạch Ốc đã chẳng còn có đường dây nào để liên lạc, trao đổi?

Nguyên thuỷ, tôi chỉ là một giáo sư kinh tế học, rồi làm Tổng trưởng kế hoạch, có ngờ đâu lịch sử lại đưa đẩy vào cái thế phải chạy loanh quanh để đi tìm “người đưa thư” (là tướng Fred Weyand) cho Tổng thống Việt nam cộng hoà. Cái khó vào lúc đó là làm sao chuyển được thư của một Tổng thống Mỹ này tới tay một Tổng thống Mỹ khác mà không qua Bộ Ngoại giao? Sau này, nghị sĩ Henry “Scoop” Jackson (Dân chủ, tiểu bang Washington) đã phải phàn nàn rằng: “Thật là lố bịch và nguy hiểm khi Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ phải nhờ vào quan chức ngoại quốc (ông Hưng) mới biết được những văn kiện tối quan trọng này” (xem Chương 17).

Rồi tới những bức thư cầu cứu cuối cùng của Quốc hội Việt nam gửi Quốc hội Hoa kỳ: chắc đã bị “thất lạc” rồi? Cho tới nay, không có một dấu vết gì là chúng đã đến tay Quốc hội. Làm sao có thể hiểu được là guồng máy ngoại giao của một đại cường quốc như Hoa kỳ lại trở nên lạ lùng như vậy?

Khi đọc được ba trong số những bức thư của Tổng thống Nixon gửi Tổng thống Thiệu, Tổng thống Ford đã xúc động, sau đó ông ra phi trường đón tiếp lớp trẻ mồ côi Việt nam vừa được chở tới San Francisco. Tay bồng một em bé, ông bước xuống máy bay, có chiều âu yếm. Và từ giây phút này có lẽ ông đã thay đổi thái độ về vấn đề tỵ nạn. Ông còn xin thêm quân viện cho Việt nam cộng hoà, dù biết rằng đã quá muộn. Trước đấy, sau cuộc rút lui cam go của Quân đoàn II và cuộc di tản kinh hoàng từ Đà Nẵng, ông Ford vẫn bình chân như vại, đi Palm Springs đánh gôn. Năm 1985 khi chúng tôi phỏng vấn và đưa ông Ford đọc lại mấy bức thư của Tổng thống Nixon, ông vẫn còn tỏ vẻ ngậm ngùi: “Không còn một nghi ngờ nào hết, đây là những lời cam kết hết sức quyết liệt” (Well, there is no doubt these were very categoncal commitments). Tổng thống Ford nhận xét như vậy là chính xác.Tuy nhiên, nghe như đãi bôi vì kể cả sau khi ông được biết như trên, ông vẫn để cho Ngoại trưởng kiêm Cố vấn của ông che dấu Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ. Vào ngày cuối cùng, trong một cuộc họp báo, chúng tôi quyết tâm phơi bầy cho công luận những cam kết vô cùng quyết liệt ấy với mục đích yêu cầu cho một triệu người Việt được tỵ nạn. Cấp lãnh đạo hành pháp cũng như lập pháp Hoa kỳ đã rất ngạc nhiên về những tiết lộ này. Sau đó, rõ ràng có sự thay đổi thái độ về vấn đề chấp nhận đoàn người tỵ nạn. Và chúng tôi đã có dịp được đóng góp thêm cho việc sắp xếp các trại cũng như việc xuất trại, tìm công ăn việc làm cho đoàn người tỵ nạn đợt đầu.

Ngoài những tài liệu mật về bang giao Việt – Mỹ, tác giả đã đàm đạo với Đại sứ Martin, sau khi ông về hưu. Ông là Đại sứ Mỹ cuối cùng ở Miền Nam và là người đã bị bắt buộc phải thi hành mệnh lệnh tháo chạy. Bản thân chúng tôi đã gặp ông nhiều lần để tìm hiểu những gì đã xảy ra bên trong Toà đại sứ trước khi chiếc trực thăng Lay Ace 09 mang lệnh Tổng thống đến bốc ông đi. Ông cho biết một số những diễn tiến quan trọng lúc con thuyền Miền Nam nghiêng ngửa sắp chìm đắm. Ông còn cung cấp một số tài liệu quý giá cho lịch sử. Trong những tài liệu này, phải kể tới bức thư Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt nam. Ngoài ra, còn một số mật điện trao đổi hết sức quan trọng giữa ông và Kissinger vào lúc những ngày giờ cuối.

Đại sứ Martin cho hay là ông muốn chờ một thời điểm thuận tiện để sẽ “nói lên lời cuối cùng” về những mánh lới, những thủ đoạn đâm sau lưng của một vài chính trị gia tại Washington. Ông rất muốn bình luận thêm về một nguy cơ thực sự có mà chính ông đã giúp tránh né được. Đó là suýt nữa có đụng độ lớn giữa mấy sư đoàn Thuỷ quân lục chiến Mỹ với quân lực Việt nam cộng hoà vào giờ chót. Nó có thể đưa tới chỗ đổ vỡ hoàn toàn. Và trong tình huống ấy, sau hai mươi năm kề vai sát cánh, Việt nam cộng hoà lại trở thành kẻ thù của Hoa kỳ? Nếu như vậy thì số phận của mỗi người trong chúng ta đã ra sao?

Về phương diện cá nhân, ông Martin còn muốn viết về chuyến ra đi nhục nhã của chính bản thân ông. Ông cho rằng việc này đã làm tiêu hao biết bao nhiêu uy tín của nước Mỹ. Bộ Ngoại giao dường như không để ý nhiều tới những khổ tâm của ông, lại còn trừng phạt, cho ông ngồi chơi xơi nước tại Bộ trước khi về hưu. Và ông đã về hưu sớm hơn là đến kỳ hạn.

Theo chúng tôi được biết, Tổng thống Thiệu cũng đã có ý định viết hồi ký. Thế nhưng cả hai người đều đã không đủ thời giờ để viết. Cả hai đều đã đi về nơi chín suối, mang theo bao nhiêu ngậm ngùi, chua xót. Một người thì ngậm ngùi, hổ thẹn cho tư cách của một đại quốc, một người thì ân hận, chua xót cho thân phận của một tiểu quốc.

Nhân ngày đánh dấu mười năm sụp đổ Miền Nam (30 tháng 4, 1985), tờ New York Times đăng câu phê phán cuối cùng của Đại sứ Martin: “Rút cuộc, chúng ta chỉ lo tháo chạy. Ý chí dân tộc của Hoa kỳ đã sụp đổ” (In the end, we simply cut and ran. The American national will have collapsed). Tôi xin mượn một phần câu ông nói làm đầu đề cho cuốn sách này.

Tác giả hoàn toàn không ở địa vị đủ cao cấp để nói lên lời cuối, nhưng nhờ một cơ duyên của lịch sử đã may mắn được gặp lại cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần ở London và Boston để nghe và ghi lại những lời cuối cùng của ông về cuộc chiến. Ngoài ra, còn được nghe những lời thổ lộ từ tâm huyết của vị Đại sứ Mỹ cuối cùng tại Miền Nam, Graham Martin, trước khi ông qua đời. Ông còn căn dặn là chúng tôi nên viết lại những gì được nghe và được chứng kiến để đóng góp cho lịch sử.. Cuốn sách này không đề cập tới toàn bộ những lý do đã dẫn tới sự sụp đổ của Việt nam cộng hoà. Dĩ nhiên là trước thất bại, ta phải tự trách mình trước: “tiên trách ký hậu trách nhân”, hay “mea culpa “(lỗi tại tôi). Về khía cạnh chính trị nội bộ của Miền Nam chẳng hạn, tác giả không đề cập tới những nguyên nhân mà các tác giả khác đã phân tích rất nhiều: như sự chia rẽ nội bộ, tư cách và khả năng cấp lãnh đạo, tham nhũng, độc tài; hay những thái độ chống đối, thờ ơ, tránh né từ phía một vài thành phần nhân dân. Cũng không bình luận là lãnh vực quân sự, cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Về những địa hạt này, tuy chúng tôi có được nghe nhiều điều đáng buồn về các cấp lãnh đạo chính yếu, nhưng không đủ khả năng, hiểu biết, và kinh nghiệm để nhận xét cho thấu đáo. Về phía Hoa kỳ, tác giả cũng không đề cập nhiều tới những yếu tố khác như phong trào phản chiến, vai trò báo chí Mỹ, hay chiến thuật quân sự, những đề tài dã được phân tích khá rộng rãi.

Hy vọng rằng cuốn Khi Đồng minh tháo chạy sẽ giúp độc giả có thêm được những dữ kiện mới và chính xác để tìm ra câu trả lời cho nhiều thắc mắc, nhiều uẩn khúc còn đeo đẳng, và qua dòng thời gian, vẫn chưa được sáng tỏ. Đây chỉ là một cố gắng thuật lại cho trung thực những gì mình đã mắt thấy tai nghe, và những gì đã tìm hiểu dược để chia sẻ với người đồng hương về một chương lịch sử quan trọng của đất nước, đồng thời đúc kết lại những bài học cho các thế hệ mai sau. Ngoài ra, nó cũng có thể cung cấp một số dữ kiện cho các nhà làm chính sách về bang giao với Mỹ của các Đồng minh khác. Nhờ đó, họ có thể hiểu rõ hơn về thể chế dân chủ cũng như về cơ cấu và khung cảnh chính trị tại Hoa kỳ, chứ đừng nhìn vào Hoa kỳ với cặp kính cận riêng của mình.

Chúng tôi đã chờ một thời gian khá dài mới bắt đầu viết cuốn sách này vì ba lý do: thứ nhất, để hầu hết người Việt nam chúng ta có thể nhìn lại giai đoạn lịch sử cuối cùng của VNCH một cách khách quan hơn, không bị quá nhiều tâm tình, hoàn cảnh cá nhân chi phối; thứ hai, để chúng tôi có đầy đủ thời giờ nghiên cứu, phỏng vấn, suy gẫm cho thật sâu, thật kỹ; và thứ ba, để cho chính tác giả bớt được cường độ xúc động trước khi viết, giúp cho tác phẩm được trung thực. Về điểm này, chúng tôi đã dẫn chứng tất cả những sự việc, hành động, lời nói bằng văn bản hoặc bằng những ghi chú về nguồn gốc sự kiện (footnotes).

Tuy nhiên, dù đã cố gắng hết sức, chúng tôi vẫn không thể tránh khỏi một số suy nghĩ hay ngôn từ có tính cách chủ quan. Về nhược điểm này, cũng như những sơ sót, lầm lẫn trong cuốn sách, tác giả tin vào sự thông cảm của độc giả.

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ tất cả những bạn bè xa gần đã khích lệ và hỗ trợ tác giả trong việc sưu tầm và soạn thảo cuốn sách này. Đặc biệt là: Hứa Chấn Minh, Chủ tịch công ty Phụng hoàng, người dã theo đuổi công việc của chúng tôi trong nhiều năm, và đã xuất bản cuốn sách này. Anh Chu Xuân Viên, người đã giúp nhuận sắc cuốn HSMĐL, lại giúp sửa chữa thêm cuốn Khi Đồng minh tháo chạy. Bạn Tạ Văn Tài đã tận tâm đóng góp cho tôi nhiều ý kiến xây dựng, nhờ đó cuốn sách được xúc tích hơn. Các anh Trần Khánh Liễm, Thuần Trương, và Vũ Huy Hoàng đã chịu khó đọc bản thảo, thêm ý kiến và giúp nhuận sắc. Các bạn Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Văn Liêm, Đỗ Ngọc Hiển, Vũ Chính Trực, Lê Ái sẵn sàng tiếp tay, cho tôi những nhận xét, và gợi ý rất hữu ích. Bạn Nguyễn Xuân Nghĩa đã dành thì giờ đọc bản thảo cuối cùng, giúp sửa chữa, trình bày thêm phần khởi sắc. Bạn Nguyễn Thiện Cơ giúp sắp xếp về kỹ thuật, và phần danh mục (index). Bác sĩ Phó Ngọc Văn, người luôn thúc đảy tôi kiên tâm, và dù lúc còn nằm trên giường bệnh, cũng vẫn gọi điện thoại dể khích lệ, đóng góp thiều ý kiến. Các bạn Lê Văn và Virginia Lê, Đăng Khánh và Hương Hoa cũng như Vũ Văn Hoa, đã không ngơi cổ võ, làm tôi thêm hăng say trong việc sưu tầm và biên soạn.

Tôi xin thành thật cám ơn Jenold L. Schecter, nguyên chủ bút ngoại giao của tạp chí Time, cựu Phụ tá giám đốc báo chí Toà Bạch Ốc, và Phát ngôn viên Hội đồng an ninh quốc gia, đã cùng tôi viết cuốn The Palace File (1986) , và đã giúp đỡ khích lệ tôi viết cuốn sách này.

Sau cùng tôi không thể không nhắc đến sự giúp biên soạn, sửa chữa, hy sinh của nhà tôi Therese N. Hưng; và các anh, chị, em, con, và cháu, thuộc đại gia đình cụ ông cụ bà Cố Chánh Nguyễn Xuân Phi, luôn luôn nâng đỡ tinh thần tôi trong những giai đoạn thăng trầm của cuộc đời.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

7. Đặng Trần Huân

Chữ Nghĩa Bề Bề của Đặng Trần Huân gồm 20 đoản văn viết về những chuyện liên quan tới các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ … nhặt ra từ những cuốn sách các lỗi người ta quen gọi là những hạt sạn. Ai đã từng đọc sách Đặng Trần Huân đều biết rằng, ngoài văn chương, ông còn thích kể truyện cười. Ông đã cho xuất bản nhiều tập truyện cười, đặt dưới một cái tên chung là Chuyện Cấm Đàn Bà. Ngay cái tên cuốn sách lần này của ông, cũng đầy vẻ ỡm ờ theo cái kiểu Đặng Trần Huân. Ai không biết cái câu Chữ Nghĩa Bề Bề lấy ở đâu ra, xin hãy tìm trong ca dao Việt Nam. Nhưng Chữ Nghĩa Bề Bề không phải chỉ là những chuyện để cười, mặc dầu đọc bất cứ trang nào của cuốn sách, người ta cũng có lúc phải cười một mình.

Ở trang 83 tác giả viết:

“Đọc một cuốn sách hay, dù là một cuốn sách gần như toàn bích mà bỗng gặp một chi tiết nhỏ nhỏ, rất nhỏ bị viết sai, độc giả khựng lại, nhăn mặt giống như đang ăn bát cơm gạo tám thơm trắng ngần mà gặp một mảnh sành”. Đặng Trần Huân đã nhặt ra không biết bao nhiêu mảnh sành, hạt sạn như thế, trong sách của chính các bạn bè ông và những người khác nữa. Nếu đó là những truyện dài, truyện ngắn, nghĩa là những sáng tác, chúng ta có thể coi như những điều đáng tiếc.

Nhưng nếu sự việc lại xảy ra đối với các sách nghiên cứu, sách học thì sao?

Chúng tôi xin trích dẫn một đoạn Đặng Trần Huân nói về cuốn Từ Điển Việt Anh của Bùi Phụng, xuất bản tại Hà Nội năm 1977, tái bản năm 1986, được nhà nước khen ngợi, để mọi người cùng suy nghĩ và tự rút ra những kết luận. Soạn giả Bùi Phụng dịch các từ:

Á đông là: Asian.

Các nước Á đông là: Asian countries.

Phim hoạt họa là: Walt Disney movie.

Bí danh là: Pen-name.

Lung tung là: Roll and drum.

Học thuyết chủ nghĩa cộng sản là: Accept the communist doctrine.

Trong tiếng Việt có từ Âu tây có nghĩa là châu Âu, là phương Tây, nhưng từ Á đông không có nghĩa là châu Á, mà chỉ có nghĩa là miền đông châu Á. Tiếng Anh từ Asian có nghĩa thuộc về châu Á nhưng không có nghĩa là miền đông châu Á. Vì thế, không thể dịch Asian countries là các nước Á đông mà chỉ có nghĩa là các nước Á châu. Nói như Bùi Phụng thì Ấn Độ, Ba Tư cũng là hai nước Á đông như Nhật Bản, Cao Ly hay sao, vì đó là những Asian countries.

Để nói về phim hoạt họa người Anh, Mỹ viết cartoon movie chứ không dùng Walt Disney movie. Walt Disney là người Mỹ nổi tiếng khắp thế giới về những phim hoạt họa của ông như Cô Bé Lọ Lem, Bạch Tuyết, nhưng tên ông chưa trở thành một danh từ chung như các nhà khoa học Watt, Hertz hay Bell. Bí danh là một tên hiệu để dấu tung tích thật của mình, còn pen name là bút danh mà các nhà văn ký trên tác phẩm. Học thuyết chủ nghĩa cộng sản dịch là Communist doctrine là đủ và đúng rồi, can chi phải thêm “accept”là “chấp nhận” vừa thừa vừa sai nghĩa.

Về chính tả, soạn giả đã quá dễ dãi trong một cuốn tự điển. Chúng ta thấy ông dùng những từ như anh mấy tôi [you and me] gái giá [widow] răng há [whore] săn seo [wrinkled] hoi hóp [very weakly] v.v … Phát âm mấy chỉ là phát âm sai của từ với mà đồng bào miền quê hay mắc phải. Khi nói tới các chị em ăn sương người ta mỉa mai là giang hồ, giăng há chứ không viết là răng há. Da người khi ngâm nước có thể săn lại, và người già thì da nhăn nheo chứ không nói săn seo. Người ta cũng nói thoi thóp chứ không dùng hoi hóp. Người có chồng hay vợ chết gọi là góa, đôi khi chấp nhận hóa. Ở miền Nam đồng bào nói là ở giá, gái giá, giá chồng nhưng không viết là giá.

Cuốn từ điển của ông Bùi Phụng còn nhiều, còn rất nhiều điều cần phải nói lại như vậy. Chúng trở thành không phải là những hạt sạn nữa mà là những cục đá, tảng đá. Người ta cũng có thể viện lẽ, chúng ta chưa có một hàn lâm viện để phán xét xem ai đúng, ai sai, trong những trường hợp xử dụng từ ngữ như vậy. Nhưng chấp nhận lập luận ấy thì không thể viết sách được nữa, vì không còn điều kiện thông cảm. Vì thế, Chữ Nghĩa Bề Bề của Đặng Trần Huân không phải chỉ là cuốn sách để đọc chơi. Nó có ý nghĩa nghiêm chỉnh hơn thế nhiều.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 18 Aug 2025

6. Cung Trầm Tưởng

Đối với những người yêu thơ và yêu nhạc cái tên Cung Trầm Tưởng luôn được nhớ tới với “một thời tình ca Việt Nam”.

Thơ ông mới, lạ. Dường như Cung Trầm Tưởng đã mang vào thơ ông, mang vào thơ Việt Nam, mang về Việt Nam, rõ hơn, mang về Sài Gòn một chút nắng gió, một chút sương mù, một chút tuyết, cái rét lạnh của Paris. Thơ Việt Nam được phổ nhạc tới lúc đó đã có khá nhiều rồi. Nhưng đến Cung Trầm Tưởng và Phạm Duy nó trở thành một hiện tượng. Có cả một tập thơ được phổ nhạc. Nó khẳng định cái nhân  duyên giữa nhạc và thơ. Có xa không, có lạ không cái mối tình với “tóc vàng sợi nhỏ?”.

Nó xóa bỏ một số giới hạn hay ít nhất nới rộng một số giới hạn. Giới hạn địa lý. Giới hạn của tình.

Lên xe tiễn em đi

Chưa bao giờ buồn thế

Trời mùa đông Paris

Suốt đài làm chia ly

Tiễn em về xứ mẹ

Anh nói bằng tiếng hôn

Không còn gì lâu hơn

Một trăm ngày xa cách

Trong ngôn ngữ của chúng ta, người ta nói: chia ly, biệt ly, “làm một cuộc chia ly”, kiểu như Nguyễn Bính “Một mình làm một cuộc chia ly”. Cung Trầm Tưởng nói: “làm chia ly”, “suốt đời làm chia ly”. Có một chút khác biệt giữa hai cách nói ấy. “Làm một cuộc chia ly”thì hai chữ “chia ly”

chỉ là danh từ. Còn “suốt đời làm chia ly” thì hai từ “chia ly” trở thành danh động từ. Câu thơ của Nguyễn Bính cho đến bây giờ hình như vẫn mới.  Cùng một ý ấy chưa ai nói hay hơn ông: “Một mình làm một cuộc chia ly”.

“Làm chia ly” và “Nói bằng tiếng hôn” cũng là cách nói, đến Cung Trầm Tưởng mới có. Và cũng đến ông thơ lục bát Việt Nam như được khoác một bộ áo mới:

Chiều đông tuyết lũng âm u

Bâng khuâng chiều tới tiếp thu trời buồn

Nhớ ngày tầu cũng đi luôn

Ga thôn trơ nỗi băng nguồn héo hon

Phường xa nhịp sắt bon bon

Tầu như dưới tỉnh núi còn vọng âm

Sân ga mái giọt âm thầm

Máu đi có nhớ hồi tâm đêm nào

Mình tôi với tuyết non cao

Với cồn phố tịnh buốt vào thịt da

Vào thời điểm tập “Tình Ca” ra đời cũng là lúc các phòng trà ca nhạc ở Sài Gòn hoạt động mạnh giúp thêm vào việc phổ biến rộng rãi tác phẩm chung này của Cung Trầm Tưởng và Phạm Duy.

Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa và Hoàng Anh Tuấn đã góp phần rất lớn vào việc đổi mới thi ca Việt Nam một thời. Rồi khi các nhạc sĩ đem thơ của họ phổ nhạc thì có thể nói họ cũng góp phần đổi mới cả âm nhạc Việt Nam nữa. Biến cố 1975 khiến sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật miền Nam tắt hẳn.

Bao nhiêu tang thương biến đổi. Kể từ ngày ra khỏi nước sau những năm tù cải tạo, Cung Trầm Tưởng đã cho xuất bản 5 tập thơ: Lục Bát Cung Trầm Tưởng, Lời Viết Hai Tay, Bài Ca Níu Quan Tài và Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định. Chỉ cần nghe cách ông đặt tên cho các tác phẩm của mình sau này người ta có thể biết Cung Trầm Tưởng đã có nhiều thay đổi trong cách nghĩ, cách viết. Chính ông cũng tự cho rằng, trước kia thơ ông chủ yếu là một tiếng hát trữ tình, lãng mạn của tình yêu đôi lứa, có hơi hướm dị chủng và một màu sắc tư tưởng không mấy vui về một thân phận bị triền miên cuốn hút trong chiến tranh khốc liệt, đầy tính phi lý, làm hao tổn sinh lực quốc gia, băng hoại nhân tính và nhân tình. Sau 1975 thơ ông chuyển sang một chân trời khác, người làm thơ rời bỏ tháp ngà mơ mộng và duy ngã để hòa nhập vào một nhân gian rộng lớn hơn, với những giọt nước mắt cụ thể của hàng triệu con người cá biệt, cụ thể, bị áp bức, bị chà đạp, bị vây khổn, bị khổ sai một cách rất là cụ thể.

Tóc vấn phong ba em đứng mũi

Một thuyền lèo lái cõi càn khôn

Đau thương nhuốm mắt em kỳ diệu

Ngời tỏ lưu ly, tuyệt bích hồn

Phố ấy Đồng Đăng trùng điệp núi

Đá mòn thành tượng của tình chung

Em đứng ôm con bồng mưa nắng

Sắt son dũng cảm đến kỳ cùng

Cung Trầm Tưởng đang muốn đổi mới cái nhìn của mọi người đối với pho tượng Hòn Vọng Phu hay ông đang ca ngợi chính những người đàn bà đang sống quanh chúng ta?

Em như dây đàn lục

Rưng rưng tì bà hành

Như thuở mới linh phong

Trong trời ngây ngất

Em lao như chim hộc

Em tuyệt như mây hồng

Quả thật thơ Cung Trầm Tưởng có nhiều thay đổi. Sự thay đổi ông nhìn như một sự mất mát. Nhưng cũng cho đó là một sự mất mát cần thiết, cái giá mà tuổi tác, lịch sử và cuộc trải nghiệm qua một cõi nhân sinh rối rắm, lắm hệ lụy bắt người làm thơ phải trả. Ông khẳng định:

“Thi sĩ phải đảm nhận cái đau khổ của dân tộc mình”. Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định là dấu tích cụ thể của Cung Trầm Tưởng đối với nỗi đau khổ của dân tộc theo cách nghĩ và cách nói của ông, với tư cách là một thi sĩ vậy.

Sĩ Phú