Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh   

Post on April 21, 2024   

Post by Sơn râu 21 Aug 2025

“Thế sự du du nại lão hà…”

(Đặng Dung)

Hồi ký trong tù của Thảo Trường

Rừng Lá tàn lụi, không còn là rừng lá nữa. Chỉ còn là đồi hoang cỏ cháy. Trời nắng hè gay gắt, hừng hực, thỉnh thoảng một cơn lốc xoáy bốc lên cao những rác rưởi bụi bặm đem trải ra xung quanh. Sau nhiều năm làm trại tù ở đây đã tiêu diệt hết khu rừng nổi tiếng là nghiệt ngã: “Rừng Lá, Suối Lạnh”.

Cũng lạ, thời chiến, khu rừng ngày xưa là vùng oanh kích tự do với bao nhiêu bom đạn dư thừa trút xuống không bị huỷ diệt. Thời hậu chiến chỉ với dao cưa và nùi lửa của tù binh mà trong vòng muơi năm tất cả đều trơn trụi. “Trái đất bị bóc vỏ bằng tay”. Muông thú chạy trốn, vượt qua dãy núi Mây Tào, sang rừng Hàm Tân và Xuyên Mộc. Cây rừng bị chặt sạch, bán sạch, đốt sạch. Cá mú dưới suối lạnh bị vét hết và suối lạnh hóa thành suối cạn… Một cuộc tàn phá để xây dựng mang tính xã hội chủ nghĩa: Rừng xanh biến mất, thay vào đó là trại tù bề thế có nguyên một nghĩa địa riêng, với mấy trăm ngôi mộ sĩ quan, bộ trưởng, tu sĩ và nhà văn của miền nam. Trại tù được bao quanh bởi một hàng rào tre gai cho mang vẻ quê hương dân tộc nhưng vẫn phải có thêm mấy lớp kẽm gai ngoại hóa đế quốc thì mới ngăn chặn được đào thóat. Toán tù binh đầu tiên đến đây năm 1976 khởi đầu công trình lao động xây dựng là nhà giam và hàng rào nhốt mình. Sự vụ đã thành thơ: “Nhiều khi tôi muốn khóc hu hu, Tù cất nhà giam để nhốt tù!” Trải qua mười bảy năm, những hàng rào nay đã thành những lũy tre gai già dày đặc. Có trại đã phá đi nhà cửa nhưng hàng rào tre gai thì vẫn còn đó vuông vắn, thành quách, sừng sững như là dấu ấn của một thời hận thù nghiệt ngã, để lại cho lịch sử! Một ngàn năm sau hậu duệ của các bác tướng tá tù binh có đứa nào theo ngành khảo cổ tình cờ đến khu rừng này mà đào xới chắc sẽ tìm thấy nhiều điều lạ; có thể các nhà sử học ấy sẽ la lên đã tìm thấy một nền văn minh tạp lục gai tre cùng gai kẽm, với những cổ vật và di chỉ như nồi nấu ăn giống cái lon đựng sữa của hãng guigoz Hòa lan, đàn guitar làm bằng thùng đạn Mỹ, xương sọ trong các ngôi mộ là những xương dập bể, khẩu hiệu “bác hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… Rồi có thể họ sẽ tiếc nuối vì tiền nhân của họ đã tiêu diệt “cây buông”, một loại cây quí phải cần 60 năm mới có trái độc…

***

Họ đã đi hết ráo. Đi thực sự. Đi cả gia đình. Đi rất xa. Mãi tận Thụy Điển. Mới hôm nào họ ở tù chung với mình, họ ăn cơm chung với mình, họ bình luận thế sự với mình, họ đọc thơ đặt nhạc đàn ca cho mình nghe, họ họp đại hội “Trung Tâm Văn Bút Trong Tù” sáu người tình cờ gom được, một là tác giả “Bụi Tầm Xuân” hai là tác giả “Trắng Chiều” ba là thi sĩ “Người Đi Qua Đời Tôi” bốn là giám đốc đài phát thanh năm là nhà thơ xướng ngôn “Tao Đàn thi văn miền tự do…”, cả năm vị đều bị người tù già “bầu” lên giữ các chức trong ban chấp hành, chỉ có duy nhất một hội viên là người tù gìa. Nhưng lệ làng của “Trung Tâm Văn Bút Trong Tù” là tất cả mọi quyết định lớn nhỏ của Trung Tâm đều phải lấy biểu quyết của hội viên, các chức sắc không biểu quyết mà chỉ… thi hành các quyết nghị của đại hội. Đại hội Trung Tâm Văn Bút Trong Tù năm 1987 được tổ chức long trọng bằng một bữa ăn có thịt, cá, giò, rượu đế, do giám đốc đài phát thanh được thăm nuôi khoản đãi, ăn trên một cái giường người chết đặt trong góc một bệnh xá. Chủ tịch là Lão đại cao niên nhất nhưng cũng trẻ trung nhất lâu ngày vớ được rượu đế bèn uống mềm môi. Hôi viên duy nhất bèn biểu quyết:

– Đại hội dành ưu tiên chai đế cho “bé lão” chủ tịch!

Chủ tịch có rượu vào lại đâm ra tỉnh táo, đề cao cảnh giác:

– Liệu mà giữ mồm giữ miệng, đùa hoài chúng nghe thấy lại đi… tù cả đám!

– Sức mấy chúng dám đụng đến VBTT, đã có PEN Quốc Tế.

Thế mà bây giờ họ đã ở tận Bắc Âu xa xôi, tít mù, tuyết lạnh. Như bao nhiêu người khác cùng cảnh tù nơi đây hay nơi khác, bây giờ họ đang ở đâu? Hằng ngàn, hằng chục ngàn, hằng trăm ngàn người cùng tù rải ra khắp nước bây giờ họ đã ở đâu? Một số rất nhiều người đã chết, một số rất nhiều người đã ra tù, và một số may mắn đã đi xa, bây giờ ra sao? Tất cả bây giờ ra sao? Bây giờ đang làm gì? Riêng ta, ta sót lại, ta kẹt lại, ta là kẻ bao giờ cũng chậm chạp, bao giờ cũng sau chót, bao giờ cũng hạng bét. Hồi nhỏ ta đi học luôn đứng hạng nhất lớp cớ sao lớn lên biết suy nghĩ ta lại luôn luôn đứng hạng bét cuộc đời… Họ đã về hết cớ sao ta vẫn còn đây? Ta là một trong số mười hai người còn đây? À thì ra cũng còn tới mười hai người lận. Trong một cái trại tù có thời kỳ đông tới hơn một ngàn hai trăm bây giờ còn lại mười hai mống, người nào cũng ưu tư trầm lặng câm nín, mười hai cái bóng lầm lì khốc liệt, mười hai tâm trạng se sắt cô đơn, một bó củi mười hai khúc, một cái chậu cá mười hai con sằn sặt, một cái chai nhốt mười hai người khổng lồ… Họ đã đi thực sự, đi cả gia đình, đi hết sạch. Họ đã lên thăm nuôi từ giã người tù còn lại, từ giã Trung Tâm Văn Bút Trong Tù và đã báo cho biết ngày lên đường.

Hỏi:

– Đi cách nào?

Họ nói:

– Đi cách… văn hóa!

Thế là còn ta ngồi đây, dưới bóng bụi tre già gai góc, cót két, kẽo kẹt, rì rào… nhìn ra cánh đồng cỏ giữa rừng với đàn bò, gầy guộc, đủng đỉnh…

“… Trong hơi nước đầu tiên của mùa thu,

Con thiên nga mù,

Vỗ đôi cánh san hô,

Lờ lững trôi về mô…”

***

Bờ suối ngoằn ngoèo, thỉnh thoảng có một cây dừa cách quãng, trên cây có những buồng dừa rất nhiều trái nhỏ và bao giờ cũng chỉ có trái non, không bao giờ những cây dừa ở đây có được trái gìa. Cán bộ, nhất là cán bộ võ trang thường đi lùng sục có cái gì có thể ăn được là chụp liền. Sở dĩ hai bên bờ suối chỉ có những cây dừa lác đác cách quãng mà đáng ra là hàng dừa đều đặn hai bên bờ chỉ vì hồi mười năm về trước, khi trồng những bầu dừa giống này, cũng chính những đồng chí đêm đêm đã đi moi những quả dừa mầm lên ăn đỡ thèm. Thứ này ngoài bắc ít có.

Xa bờ suối quãng nữa, nơi gần đập nước, trước kia còn là rừng, là nơi đại úy Lam đã treo cổ tự sát trên một cành cây mãi ba ngày sau mới phát hiện do quạ kêu. Xác anh đã rữa thối, chim chóc rỉa thịt và móc mắt anh, lưỡi anh thè lè ra kiến bu đầy. Bọn chúng phải mời pháp y tới khám nghiệm mổ xẻ làm biên bản rồi mới đem chôn ở nghĩa địa. Anh cán bộ y tế phải làm việc ấy, anh ta bịt mồm bịt miệng nôn oẹ tùm lum, mấy ngày sau còn khạc nhổ càm ràm:

– Chết cũng khổ! Sống cũng khổ!

Hôm tự vận chính Lam đã phải lao động trồng mấy chục cây dừa ở bờ suối, anh em nói rằng Lam đã làm việc rất cẩn thận, anh đo khoảng cách cho từng cây đào từng lỗ vuông vắn, đặt từng bầu dừa xuống lỗ, lấp đất phủ quanh cây con đẹp đẽ và còn cắm những cành que xung quanh cây con để bảo vệ chúng. Anh làm xong chỉ tiêu sớm nên xuống suối tắm rửa. Hết giờ lao động về trại thì thiếu anh, công an bắn ba phát súng báo động có tù trốn trại và chúng bủa đi lùng kiếm truy kích, đêm ấy hành quân mệt mỏi, chiến sĩ cũng có anh giải khát tạm bằng những quả dừa giống mà tù binh đại úy Lam mới hạ thổ ban chiều. Công lao động cuối cùng của người tù binh khổ sai để lại dường như cũng sẽ chẳng bao giờ có được một trái dừa có nước có cùi. Cũng như Lam, anh còn độc thân, lá thư để lại cho người em gái duy nhất có những lời lẽ đại ý rằng: “… anh chết đi vì anh không muốn sống trước những cái phi lý của cuộc đời… anh thương em gái vì chỉ có hai anh em mồ côi mà anh không săn sóc gì được cho em, lại còn là gánh nặng mà em phải lãnh chịu thăm nuôi tù, đáng lẽ anh phải tự chết ngày 30 tháng 4 mới phải, thế này đã là trễ nhưng phải làm để khỏi trễ hơn…”. Mộ phần của đại úy Lam, viên sĩ quan cảnh sát thảm tử này nằm ở nghĩa địa của trại tù. Từ bụi tre gai quay nhìn ngược trở ra phía quốc lộ sẽ thấy khu mồ mả đó. Mộ anh nằm gần mộ của vị bộ trưởng, đương thời đã cấp tặng cho anh huy chương “sắc tộc bội tinh”, ông bộ trưởng tử nạn vì ăn da trâu; và cũng gần với mộ tác giả “Con thằn lằn chọn nghiệp”. Nhìn ra xa đó ít nữa sẽ bắt gặp nấm mộ của vị thượng tọa, lãnh tụ tranh đấu, nổi danh một thời. Nếu xa thêm nữa bên kia núi Mây Tào thì có mộ tác giả “Truyện Một Người Đòi Trả Thù Cho Dân Tộc”… Nghĩa địa này đông lắm, mấy trăm bộ hài cốt mà chẳng cần phải ai tìm kiếm! Những hài cốt này là của thời hậu chiến, giai đoạn sau hiệp định ngưng bắn; cũng như hàng triệu bộ hài cốt của thời chiến trước đây, những hài cốt bản xứ, không có chương trình và tổ chức nào tìm kiếm và cũng chẳng cần phải ai tìm kiếm! Nói như người Úc đã nói “Ở đâu cũng là nước Chúa” hóa ra lại tránh được nạn biến thành món hàng trao đổi bán buôn. Hàng năm cứ vào ngày cận Tết nhà cầm quyền duy vật vô thần bất tín bất nghĩa cũng vẫn còn phải diễn trò tình nghĩa, cho người đi dãy cỏ ở các ngôi mộ tù. Thôi thì tù sống làm đẹp mồ mả cho tù chết, có mất mát gì cho nhà nước đâu. “Nước sông công tù!” Thế nhưng có một ngôi mộ cũng trong Rừng Lá nhưng ngoài vòng quản lý của trại tù, cũng vẫn được thường xuyên làm cỏ sạch sẽ và thỉnh thoảng còn có nhang khói và những bông hoa rừng lòng thành tự nguyện của chiến hữu. Đó là mộ phần của một thượng sĩ Quân Cảnh. Dân làng ngoài xóm Sông Giêng đã cho những anh em tù binh biết rằng dưới gốc cây Da bên bờ suối cạn cách hàng rào tre trại tù khoảng nửa cây số có ngôi mộ mà họ không rõ tên, chỉ biết rằng khoảng năm 1968 Việt cộng chặn xe đò ngoài quốc lộ bắt được một người lính Cộng Hòa đem vào rừng bắn chết rồi chôn ở đấy. Dân làng không biết tên nhưng thấy lon và huy hiệu thì biết là thượng sĩ quân cảnh. Từ đó những người làm rừng đi chặt lá buông và đốn gỗ bằng lăng mỗi khi ngang qua ngôi mộ đều có nhã ý làm những cử chỉ hành động săn sóc như nhổ cỏ, bồi đắp thêm đất, cắm bông hoặc đem theo nhang thắp lên lạy tạ cúng vái. Năm 1976 tù binh đến cắm đất làm trại giam, dân xóm Sông Giêng nói nửa đùa nửa thật rằng họ “bàn giao” ngôi mộ liệt sĩ ấy cho các chiến hữu của anh. Cuộc “bàn giao” âm thầm, truyền miệng, từ lớp tù này sang lớp tù khác nối tiếp cho đến ngày nay. Kẻ thù có thể giải tỏa các nghĩa trang của “chế độ cũ”, chúng đã đập phá nghĩa trang Quân đội kéo sập pho tượng “Thương Tiếc” như là một cách triệt hạ Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ QLVNCH, nhưng ngôi mộ chiến sĩ vô danh ở giữa Rừng Lá âm u này thì đã được nhân dân và chiến hữu âm thầm tự nguyện săn sóc thương tiếc!

Khi khu rừng bị tàn phá để “cải tạo” thành đất trồng trọt, đến chỗ ngôi mộ người lính quân cảnh thì anh trại trưởng vốn nổi tiếng là một tên cộng sản ma mãnh hắc ám cũng phải dừng tay, hắn nói với đám công an dưới quyền:

– Tụi bay đừng có đụng vào! Coi chừng oan gia cả lũ.

Thế là đám công an chừa ra cho ngôi mộ một khoảng đất vuông vắn không bị đào xới, nhưng chúng cũng cho hạ cây Da cổ thụ ngã nằm vắt ngang suối cạn. Bác tù già chống cây roi bò rời bụi tre đi ra chỗ ngôi mộ. Xung quanh mộ là những cây táo mới trồng, khu rừng này chúng đã “biến” thành vườn táo xuất khẩu với kế hoạch dự kiến lấy đô la Mỹ, cũng như bao khu vực kinh tế khác trồng dâu cho công nghiệp tơ tầm xuất khẩu, trồng thuốc lá sợi vàng xuất khẩu, trồng bạch đàn cao sản và tràm bông vàng xuất khẩu tính tiền theo từng pound kể cả cây cả rễ cả lá, trồng ớt xuất khẩu, trồng sả xuất khẩu, trồng mía (cái này thì tự túc trong nước để khỏi nhập của ngoại quốc) ép mật làm đường… Rừng Lá “biến” thành nông trường, thành khu kinh tế mới, thành khu du lịch an dưỡng… làm giàu cho đất nước bằng những “luận chứng kinh tế giám nghĩ giám làm giải quyết táo bạo”. Hằng năm đều có ra quân xuống đồng rồi có thu hoạch mừng công rầm rộ, trại trưởng lên cấp từ thượng sĩ tới trung tá cục phó trong mười năm, được thưởng đi tham quan Trung quốc, còn phó giám thị thì tự bắn vào đầu chết khiến người vợ góa khóc vật vã “sao anh dại thế, sao anh không bắn “nó” rồi hãy bắn anh!”. Công cuộc làm kinh tế xã hội chủ nghĩa đầy kinh dị này cứ diễn ra hàng năm, mỗi năm mỗi kiểu. Mới. Sáng tạo tài tình. Và cũng chưa bao giờ thấy trại xuất khẩu được một mặt hàng nào và cũng chưa thấy đem về cho đất nuớc được đồng ngoại tệ nào. Táo không đủ cho cán bộ hái trộm ăn. Ớt không đủ làm nước mắm đường. Dâu không mọc. Thuốc lá sợi vàng để mốc thối trong kho hóa thành sợi đen. Bạch đàn cao sản và tràm bông vàng mọc lởm chởm chỗ này chỗ kia bị cháy rừng mất sạch. Mía ép được mấy thùng nước đen thui để mãi lên men có mùi khai thủm…

Bác già vung roi bò quơ quơ trên không miệng lẩm bẩm:

– Bố tiên sư! Cha tiên sư!

Bác trèo lên thân cây Da nằm vắt ngang suối cạn nhìn ngôi mộ. Rồi bác nhìn trời… hiu quạnh. Rồi bác lại nhìn ngôi mộ. Nấm đất đắp cao, sạch sẽ, trong một khu đất vuông không có cây táo nào, chỉ mấy cây hoa móng tay, môt bụi vạn thọ, một cây hoa trang… những cây bông trồng không theo một sắp đặt nào cả, như là của nhiều bàn tay, của nhiều ý tứ, như là hoa dại, như là tự nhiên… Hiện không có khói nhang, trên mô đất chỉ có những cuống nhang màu đỏ, nhang của ai đó thắp từ bao giờ đã cháy hết để lại những cuống nhang này như là chứng tích của sự thờ cúng. Bác già móc điếu thuốc lá châm lửa rồi đem đến cắm vào đầu một que nhang. Gió thổi khói thuốc bay quyện vào bụi trang. “Trăm năm nào có gì đâu…”. Gió chiều thổi ào ào, điếu thuốc thay nhang rồi cũng cháy hết chỉ còn chừa lại cái đầu lọc dính bám trên cuống que nhang. Bác tù già lại trầm tư, đưa mắt nhìn đàn bò đủng đỉnh ngoài cánh đồng, bác thở dài nhìn lại nấm mộ người chiến hữu không quen biết. Bác gõ gõ cái gậy chăn bò vào thân cây Da mà bác đang ngồi lên, tiếng bồm bộp như tiếng mõ kêu, bác già bò trên thân cây Da đến chỗ gẫy, bác cúi nhìn vào lỗ bọng của gốc cây rỗng, bác thò cây gậy bò vào trong bọng cây mà thọc thọc, bác lại lẩm bẩm:

– Có con gì trong này thì liệu mà chui ra chạy đi, ta đốt chết cháy ráng chịu, ta cần có lửa có khói, lửa khói càng lớn càng quí, ta cần làm một cuộc tế lễ…

Rồi bác tù già đi gom một mớ cành khô và cỏ khô tấn vào trong lỗ bọng gốc Da, bác châm lửa, gió chiều thổi phù phù, cỏ khô và củi bốc cháy nhanh, ngọn lửa bốc lên, khói bốc lên, bác tù gìa mỉm cười, mắt bác sáng lên một tia long lanh. Ngọn lửa và khói bốc lên từ miệng lỗ bọng của cái gốc cây cụt trông như ngọn đuốc trên các bệ lễ đài. Bác già nhìn ngôi mộ, nhìn lửa, nhìn khói, nhìn đoá hoa vạn thọ, nhìn bông trang rồi lại nhìn ngôi mộ.

Bác lững thững đi trở về chỗ bụi tre ngồi nhìn ra cánh đồng có đàn bò chậm rãi gậm cỏ khô. Chốc chốc bác lại liếc nhìn về phía ngôi mộ với bệ đuốc lửa thiêng, tự nhiên, hùng tráng. Bác tù binh già nghĩ rằng hôm nay là ngày chiến sĩ trận vong. Bác tù binh già nghĩ rằng hôm nay bác chiêu hồn, truy điệu, tưởng nhớ, tri ân, ngậm ngùi… những liệt sĩ vị quốc vong thân vốn từng là đồng đội, chiến hữu. Mặc cho kẻ thù triệt hạ, mặc cho đồng minh phản bội phủi tay, mặc cho lãnh đạo bỏ chạy và đồng ngũ quên lãng, mặc cho thời gian lạnh lùng trôi qua, mặc cho lịch sử sang trang… hôm nay, ở đây, có người tù binh già thì thầm với anh, thì thầm với các anh, trong nỗi cô đơn tột cùng của kẻ sống người chết, nỗi cô đơn tột cùng của những người lính đã mãn phần hay đang là tù binh.

***

Gió chiều thổi mỗi lúc mỗi mạnh, tiếng reo ù ù và tiếng kẽo kẹt phát ra từ bụi tre tạo thành một thứ hòa âm lạ lùng. Bác tù già ngồi tựa lưng vào một tảng đá dưới bóng mát của bụi tre và bác thiu thiu ngủ. Thỉnh thoảng đầu bác gật xuống khiến bác lại phải cố gắng ngẩng lên. Chợt bác thấy như có ai cụi cụi vào người mình, mở mắt ra nhìn thấy cu tý đang húc đầu vào chân bác. Bác tỉnh ngủ hẳn khi thấy cu tý. Bác nhớ ra rằng chiều nào nó cũng thường sán đến bên mình bác mà cụi đầu, có khi nó cụi bác phải ngã người sang bên. Bác sờ tay vào lưng nó mà vuốt là cu cậu nằm phệch ngay ra, bốn chân duỗi in như con chó con trong nhà bác hồi còn thuở nhỏ. Cu tý mới mấy tháng tuổi, nó có bộ lông vàng ươm thật mượt và thật đẹp, nó chưa có sừng nhưng trên đầu cu cậu đã có hai bên hai cái nhú tròn. Bác già gác một chân mình lên người cu tý, nó để yên một lát rồi nhỏm dậy lăn người nằm đè lên chân bác! Bác già phì cười:

– Mày gớm lắm!

Một bác tù già đơn độc, một con bê con vô tư, hai bên chơi thân với nhau, nói chuyện với nhau, đùa rỡn với nhau, theo cách thế riêng, ngôn ngữ riêng, của họ. Cu tý thường lang thang một mình, hình như không có ai chơi với nó, nó chậm chạp, lơ đãng, gặm những đọt cỏ non hiếm hoi dọc theo các bờ vùng bờ thửa. Cu tý mới thôi bú nhưng cũng chưa thành “người” lớn, nó chưa được ngang hàng với những con bò lớn để có thể bình đẳng trong các sinh hoạt và cũng không còn thuộc loại được bú mẹ nữa, nó bắt đầu phải đi theo đàn tập tành kiếm ăn, “ai sao tôi vậy, ai làm gì tôi làm nấy”, nhưng mới chỉ bắt đầu tập tành, sơ khởi là thấy đồng loại gặm cỏ thì nó gặm cỏ, thế thôi… còn nhiều việc khác nó chưa biết, vì thế cu cậu thấy người ta nhảy đực thì chỉ đứng nhìn chẳng hiểu ra sao cả. Có lẽ cũng chẳng có ai dạy nó, bò không có một nền giáo dục được tổ chức soạn thảo nhồi sọ, ráng mà tự thích nghi lấy thôi. Cu tý không biết bố nó là ai, giống bò không có thói quen biết bố. Và cũng chẳng còn nhớ mẹ nó như thế nào kể từ khi không còn được bú sữa nữa. Mẹ nó đẻ nó trên đường đi gặm cỏ cùng với cả đàn. Vừa đi, vừa gặm cỏ, vừa đẻ. Đẻ xong mẹ nó liếm nó cho sạch nhớt rồi đem dấu nó trong bụi cây đi gặm cỏ tiếp, y như phụ nữ trong chế độ cộng sản phải tranh thủ lao động vậy! Mẹ nó cũng không tỏ vẻ gì là đau đớn cả, đẻ như… không vậy, đi gặm cỏ tiếp mà không cần biết cái nhau vẫn lòng thòng dưới háng kéo lê trên đất ruộng… Đến nỗi một bác tù già trông thấy phải lấy cây khều cho rớt ra, gom cái mớ lùng nhùng ấy lại đem xuống suối rửa sạch đất cát phân rác rồi xát muối và giặt như giặt áo quần. Tối về mấy bác nổi lửa chế biến ba ki lô nhau bò đẻ ấy thành món nhậu vô cùng độc đáo. Chủ tọa những bữa tiệc kiểu này thường là vị Hoàng đế. Bác tù nào sợ không giám ăn bèn bị Hoàng đế khuyên nhủ:

– Đừng sợ, không ăn uổng, sau này sang Mỹ sang Pháp sẽ chẳng bao giờ có món này mà ăn đâu. Tao là một “thằng” vua tao biết. Đời tao đã bôn ba, từng trải nhiều, tao đã là tướng Việt Nam Cộng Hòa, là tướng đặc công Việt cộng, là tướng dù của Tây, đã từng cùng với Salan đảo chánh Tổng thống De Gaulle, đáng lẽ tao là người kế vị Hoàng đế triều Nguyễn, tại chúng nó không biết đến ta, chúng nó sẽ bị trừng trị… Tao là người Việt Nam đầu tiên đáp chuyến bay đầu tiên qua Bắc cực…

– Thế anh hai đã bay ngang qua Nam cực chưa…?

– Ê, đừng hỏi móc, bay qua Bắc cực rồi thì Nam cực cũng thế mà thôi, tao nói thật, hãy nghe tao, ăn đi không uổng, sau này lại hối, đời tao hối nhiều rồi, bỏ qua nhiều cơ hội rồi, tao đã lỡ không làm ác những khi đáng lẽ phải ác, tụi cộng sản nó ngu mới bỏ tù tao, tao đếch cần, tao còn có một tỷ đồng Anh kim ở ngân hàng Thụỵ sĩ, khi nào tao ký thì mới lấy tiền ra được. Ăn đi các em, qua nói thật, qua thương các em là những sĩ quan ưu tú sa cơ chỉ vì các em lỡ phò phải hôn quân, nếu như gặp minh chúa mà thờ thì cũng công thành danh toại… ăn đi, ăn đi kẻo uổng, qua đã hưởng đủ thứ “sơn hào hải vị”, qua biết, ăn đi, ngon lắm…

– Ở bang California có món này không anh hai?

– Làm gì có, kiếm cả nước Mỹ cũng không thể có, cả những city đã “Việt Nam hóa” như Bolsa cũng không thể có. Nhau bò con so xào với khóm Bến Lức, cần tầu, tỏi mỹ, hành tây, dưa leo, sả và ớt ta… món này là món gì? Mỹ kêu là món gì? Thấy chưa? Ăn đi.

Hoàng đế và mấy bạn già nhập tiệc hào hứng. Hoàng đế còn nhân dịp thành lập nội các cho tương lai, phong cho mười một bạn tù những chức bộ trưởng trong chính phủ quân chủ lập hiến và chia tài sản của ngài dự trữ trong ngân hàng Thụy Sĩ cho anh em. Hoàng đế là vị tù già nhất trong số mười hai người còn lại, năm ấy ngài 72 tuổi… Ngài ngự còn rất phong độ, cao lớn, tướng đi dềnh dàng, vai ngang, đặc biệt ngài ngự rất thông minh và lịch lãm, tốt bụng, có bạn tù chợt nghĩ nếu là thực thì ngài cũng có thể hồi loan chấp chánh, hơn chán vạn kẻ khác …

Cu tý lớn lên theo vú mẹ, nó chạy lon ton theo mẹ đi trong đàn, mỗi khi nó đi lạc, mẹ nó chạy đi tìm kiếm kêu la inh ỏi nhắng cả lên. Tình mẫu tử chỉ đằm thắm khi mẹ nó còn cho nó bú, đến một hôm nào đó không rõ, nó và mẹ nó tự nhiên xa lạ nhau, không đi chung nhau, không cả nhìn nhau, như là không quen biết. Hình như cái hôm đó là cái ngày mà có một con đực nào đó nhảy mẹ nó. Và cu cậu trở thành kẻ một mình. Một “kẻ một mình” bé tí khờ khạo trước cuộc đời rất phức tạp!…

***

Con bê con bỏ đi tự lúc nào khi bác tù già giật mình thức dậy, bác cảm thấy ơn ớn phía sau như là có cái gì đáng sợ. Bác quay lại nhìn vào bụi tre phía sau, một con rắn hổ đang bò vào trong bụi, con rắn ngừng lại nhìn thẳng vào bác già, lưỡi nó thè ra thụt vô… bác già rùng mình nhưng chưa kịp cầm lấy cây gậy thủ thế thì con rắn hổ đã lủi mất vào trong bụi. Bác già bàng hoàng hồi lâu. Một bạn tù khác từ bìa rừng đi tới hỏi:

– Cái gì thế?

– Con rắn.

– Sao không đập?

– Nó chuồn mất tiêu rồi.

– Uổng. Mật rắn là thần dược. “Tam xà đởm” là một toa thuốc. Cháo rắn đậu xanh là một món bổ. Ông để cho nó chạy thoát thật là uổng.

Anh ta đập cây vào bụi tre hy vọng xua đuổi con rắn bò ra. Bác gìa lững thững đi tới đi lui dọc theo bìa rào. Ngọn đuốc thiêng vươn lên từ lỗ bọng gốc cây cụt ở ngôi mộ vẫn cháy phừng phừng, người tù binh già từ hàng rào tre cũng nhìn thấy cái đuôi lửa nhảy múa vươn lên theo gió. Bác tù già lại ngồi xuống cạnh tảng đá. Làm như chỉ có hòn đá tảng là bạn đời. Bác lại duỗi chân, tựa lưng. Bác cởi giầy vải tụt vớ đưa lên mũi ngửi rồi nhăn mặt quơ tay xua đuổi, đập đập đôi vớ vào tay kia mấy cái xong lại nhẩn nha xỏ vào chân. Bác đang cột dây giầy thì thấy ngứa nhói ở cổ. Bác già vỗ đánh bốp vào chỗ ngứa, một con muỗi chết bẹp dí cùng với một vết máu đỏ tươi nơi bàn tay. Bác già nhìn kỹ xác con muỗi và kêu khe khẽ:

– Bố tiên sư, cha tiên sư, chính cống là Anopheles!

Hai con sóc rượt đuổi nhau trên cây, không biết chúng đùa rỡn hay xung đột nhau, cái đuôi xù của chúng vẫy vẫy như muá như lượn. Một con bị rớt xuống đất chạy tọt vào trong bụi rậm, còn lại con trên cây một mình đứng hai chân, còn hai chân kia ôm đầu lặng thinh. Nắng chiều đã xế bóng, các bác gìa chăn bò dường như ngồi lâu mỏi lưng, có bác đã ra khỏi bụi rậm đi tới đi lui vung ve cái roi bò. Tiếng chim “bồ chao” líu lo trong bụi cây nơi bờ suối. Tiếng kêu “cuốc tà tà” của những con gà gô nghe sao nhẫn nại và buồn thảm. Những con cút rừng láu cá lủi rất nhanh trong đám cỏ.

Đi chăn bò mà nếu nhanh tay có thể quơ roi vụt được những con cút rừng hay gà gô chạy quẩn dưới chân. Gà gô béo có thể tới 3 lạng, cút rừng béo cũng chỉ một lạng là nặng nhất. Rồi vừa đi vừa vặt lông sống để khi về là có thể ướp xì dầu tỏi chiên ngay, nhậu nóng với một lon bia “33”, đó là một bữa chén “dã chiến” kỷ niệm ngày bước sang năm tù thứ mười bảy, ghi dấu một giai đoạn lịch sử sẽ qua ở đầu thập niên cuối cùng thế kỷ 20, tại Rừng Lá Việt Nam.

Bác già trưởng toán phát lệnh “rút quân” bằng những tiếng hô lớn bò… bò là các nhà quân sự sa cơ thất thế, từ trong các vị trí “chốt” bao quanh cánh đồng nhất loạt tiến ra, những cái roi quơ lên với những tiếng bò… bò… thế là cả đàn bò mấy trăm con vàng ươm trên cánh đồng cỏ cũng tự chuyển động ùn về một phía là khu chuồng bò. Đàn bò di chuyển trên cánh đồng tạo thành tiếng ồn ào rì rầm vang dội cả khu rừng. Ngọn đuốc vẫn cháy…

Bò vào chuồng rồi thì các bác già xuống suối tắm, cũng có bác đi thăm câu, cũng có bác đi đặt bẫy thú. Các bác ở trong những căn nhà lá phía ngoài hàng rào tre nơi cổng trại. Trại giam K2 đã biến thành chuồng bò. Cai tù trại trưởng có lần nói:

– Các bác bây giờ hết là tù rồi. Các bác chờ thả về để đi… Mỹ. Chỉ còn những “thằng em” này ở lại đây thôi. Các bác đi rồi nhớ thằng em này “chơi đẹp” nhé! Sau này có trở về các bác cũng đừng chấp những chuyện nhỏ nhặt đã qua! Cùng lắm các bác lại cho thằng em đi… chăn bò cũng là tốt lắm rồi.

Một bác già bàn “Có thể cho “thằng em” làm trật tự, thi đua hay ban tự quản đội gì đó cũng được!”

Ban đêm các bác tù binh gìa nằm trằn trọc nghe tiếng bò rống trong chuồng, tiếng voi gầm nặng nhọc và tiếng con “mang” kêu la thảm thiết trên núi Mây Tào. Bò sẽ bị giết thịt dần để đãi khách đến tham quan, “khách ăn một bà cốt ăn hai”. Voi Rừng Lá có một con mẹ bị bắn chết lấy sừng bán, voi con còn bú không biết đi đâu cứ luẩn quẩn quanh trại tù, ban giám thị sợ vạ lây bởi luật bảo vệ thú quí cứ phải đổ cháo cho nó ăn nhưng đẩy nó đi không được thì may quá có lệnh chở nó về thành phố, sau đó trên kênh truyền hình số 9 chiếu cảnh voi con được lên máy bay quốc tế xuất cảnh, quà của thủ tướng chính phủ “cống” cho vua nước Thụy Điển. Còn con “mang” kêu la để khóc cảnh “nước mất nhà tan”, các bác tù binh già nói vậy.

***

Căn nhà lá ngay trước cổng trại là chỗ ngủ của ba bác già trong đó có bác già tổ trưởng, các bác khác ở rải rác những căn nhà khác. Có bác ngủ ở chuồng dê một mình cho yên tĩnh, vì bác không thích có người ở gần mình và cũng không thích nói chuyện với ai. Có bác thích ở vườn xoài trong những căn nhà tường gạch dưới những lùm cây. Cũng có bác thích ngôi nhà bên suối. Có bác ở bờ ao để nuôi thêm vịt… Những căn nhà gạch trong vườn xoài vì có Hoàng đế ngự, có hàng rào bao quanh, có cây cao cổ thụ, cổng có mái che… nên được gọi là Cung Điện, với ngoại thành, nội thành, đàng hoàng. Ở đây có lần Hoàng đế nổi giận vì bị một nữ cán bộ hỏi:

– Tên anh là gì?

– Con “đĩ chó” muốn biết tên tao thì hỏi thằng Nhu xếp của mày, muốn biết cấp chức tao thì đi mà hỏi thằng bác hồ nhà mày…

Hoàng đế làm dữ gây ồn ào khiến mọi người cười lăn, riêng người nữ cán bộ phải chạy tháo thân ra khỏi cổng thành, suýt bị Hoàng đế nhốt lại trong cung cấm. Anh công an phụ trách khu vực đó và cũng là bồ của người nữ thì đứng cười hề hề:

– Ai bảo chọc vào tổ ong!

Người nữ cán bộ thè lưỡi lắc đầu:

– Khiếp, ông ấy dữ quá!

– Trung tuớng, Hoàng đế, không dữ sao được.

Hoàng đế cầm xâu chìa khoá đứng bên trong cổng nhìn ra:

– Tao cấm mày từ nay không được vác mặt tới đây nữa!

Ấy vậy mà quả nhiên từ đó cho đến ngày Hoàng đế bị thả về, “đĩ chó” không giám tới thăm người tình mà người tình phải hẹn gặp “đĩ chó” ở chỗ khác.

Căn nhà tổ trưởng ở trước cổng chuồng là nơi tất cả các bác già hàng ngày phải lui tới trước cũng như sau khi thả bò và vì thế nó được gọi là Bộ Tổng Tham Mưu. Tổ trưởng phu nhân mỗi tháng tiếp tế cho chồng phải mang lên thêm cả ki-lô trà móc câu Bắc Thái và vài cây thuốc lá đầu lọc hạng xuất khẩu nếu không là hàng nhập khẩu để bác tổ trưởng đãi khách mỗi sáng họp tham mưu trước khi “xuất quân”. Bác tổ trưởng nói:

– Tù cũng có phong cách của tù, chăn bò cũng có phong cách của chăn bò. Đói có phong cách của đói đến khi no cũng phải có phong cách của no. Ốm đau có phong cách của ốm đau, khoẻ mạnh có phong cách của khoẻ mạnh. Ngày xưa có phong cách sĩ quan thì bây giờ phải giữ lấy cái cốt cách ấy…

Căn nhà này trước kia là nhà trực trại, ở đây đã có lần là nơi nhà nước cộng sản phải dỗ dành một tù nhân để anh ta bằng lòng ra về. Anh là một sĩ quan cấp thiếu úy, hồi mới đi tù anh chống đối chửi bới lung tung bị nhốt trong nhà giam rồi trong conex, bị bắn cả một tràng đạn AK không chết chỉ bị chục viên đạn xuyên thủng khắp người, rồi bị nhốt bỏ đói trong hầm không chết, ốm đau không cho thuốc cũng không chết, mấy năm như thế không chết, khi chúng khiêng anh ra khỏi conex anh chỉ còn da bọc xương. Anh không đi, không đứng, không ngồi, không ăn, không nói được nữa. Anh chỉ trố mắt ra nhìn chúng. Mà không hiểu ánh mắt anh thế nào khiến chúng đứa nào cũng sợ hãi lảng tránh không dám nhìn anh. Chúng để anh nằm bệnh xá, dần dần anh có da có thịt, đi lại nói năng được, nhưng anh rất ít nói, anh thường chỉ viết thư. Thư anh viết gửi cho tổng thống Mỹ Reagan, bằng Anh ngữ, công an trại đưa cho một trật tự đọc để hỏi xem anh ta viết những gì thì thấy anh gọi tổng thống Mỹ là Dear P. đàng hoàng thân mật lắm. Cứ vài ngày anh lại đưa một lá thư cho trật tự để gửi trại chuyển đi cho anh. Nghe nói có thư anh còn phê bình chính sách sai lầm của Mỹ tại Việt Nam và khuyên tổng thống phải làm thế này thế nọ. Anh còn nhắc nuớc Mỹ phải có tình có nghĩa với đồng minh, với các nước trong thế giới tự do, phải giữ những lời cam kết, phải có những hành động xứng đáng với những nguyên tắc nhân quyền của hiến chương Liên Hiệp Quốc. Có thư anh còn yêu cầu Mỹ đổ quân vào Việt Nam theo kế hoạch anh vẽ ra với những hướng tiến quân có nỗ lực chính nỗ lực phụ đúng bài bản binh thư FM. của lục quân Hoa kỳ, để đánh chiếm các mục tiêu và thủ đô Hà nội. Anh còn áp dụng khoa quản trị theo phương pháp PPB đưa ra những đường lối hành động để người làm quyết định lựa chọn giải pháp optimum. Anh còn dặn tổng thống đừng cho Henri Kissinger đọc thư anh gửi cho tổng thống và anh không gửi lời hỏi thăm cái người này. Anh còn viết thêm là anh cũng không gửi lời hỏi thăm cả người tổng thống “xếp” của người này, vì cả hai đã thỏa hiệp với cộng sản, thua, nhượng bộ, rút quân, không dám can thiệp khi cộng sản vi phạm hiệp định ngưng bắn và bỏ rơi anh. Sĩ quan QLVNCH không thích chơi với những kẻ “chơi chạy”! Thư anh viết rất đều đặn đến nỗi nếu khi nào trễ một hai ngày là công an trại phải hỏi ngay, có khi gặp anh còn nhắc: “Nhớ viết thư cho tổng thống Mỹ nhá!” Không rõ tổng thống Mỹ có nhận được lá thư nào của anh, hay thất lạc mất cả? Thư từ bị thất lạc là chuyện rất thường, bưu điện cũng lu bu nhiều việc lắm! Thế rồi mấy năm sau chúng gọi tên anh trong danh sách thả ra khỏi trại. Mọi người được thả đều mừng rỡ chạy đôn chạy đáo thu xếp, nhận giấy tờ ra trại. Riêng anh vẫn cứ nằm yên trong nhà, trực trại và trật tự vào tận chỗ gọi anh cũng lắc đầu không chịu ra. Đem giấy ra trại đưa anh, anh xé làm đóm hút thuốc lào khiến cán bộ phải chạy đi làm một giấy thả khác, gấp bỏ túi anh và dặn phải giữ đừng để mất, vì giấy chỉ cấp một lần và phải có nó thì mới làm hồ sơ đi Mỹ được. Anh bĩu môi lắc đầu không tin. Chúng lôi anh đi xềnh xệch nhưng anh níu chặt lấy cột nhà giam, anh vẫn lắc đầu không tin, anh nói:

– Phải có xe Jeep và quân cảnh hộ tống thì anh mới đi, ra ngoài Việt cộng bắn lén anh không đi.

Không biết làm thế nào, cuối cùng bọn việt cộng muốn cho được việc phải dỗ dành anh:

– Hết Việt cộng rồi, quân cảnh chờ ở ngoài cổng, anh cứ ra ngoài ấy là có xe Jeep, có hộ tống về tới Saigon.

Anh hỏi:

– Quân cảnh Việt hay quân cảnh Mỹ?

Tên trưởng K đứng cạnh đó phải nhanh miệng nói ngay:

– Quân cảnh Mỹ, họ chờ anh lâu rồi.

Lúc ấy anh mới chịu đi ra cổng, tới nhà trực trại nhìn quanh không thấy xe Jeep cũng không thấy hộ tống anh ù té chạy ngược trở vào trại giam. Nhưng muộn rồi, cổng trại đã đóng lại, anh đứng ngoài réo chửi từ trên xuống dưới từ dưới lên trên. Chửi cả trại, cả đảng, cả nhà nước… Chúng để anh chửi mệt ngồi bệt xuống đất trước nhà trực trại rồi bốc anh lên xe bò chở ra ngoài quốc lộ bỏ anh ở đó. Không rõ rồi anh ra sao!

Trực trại tống được anh đi rồi mới thở phào nhẹ nhõm:

– Tù cũng khổ! Cai tù cũng khổ! Ở tù cũng khổ! Ra tù cũng khổ!

Ban đêm các bác già ngủ trong căn nhà trực trại cũ đi đái chỉ bước mấy bước ra cửa chĩa vào hàng rào tre là xong ngay. Già nên đêm nào cũng hai ba lần ra ngoài. Công an coi trại cho như thế là tiện lợi vì mỗi khi có bác đi đái đêm cũng là dịp ngó qua cái chuồng bò. Có lần có bác đái xong sao nghe như có cái gì lạ lạ, đêm sao im lặng quá, coi kỹ ra thì bốn trăm con bò trong chuồng đã phá cổng ra hết sạch. Chuồng trống trơn. Kéo nhau đi tìm, dưới ánh trăng thấy bò lổn ngổn vàng ươm từng tốp, từng tốp, đứng nằm dọc theo từ lũy tre qua cánh đồng tới bià rừng… Mãi đến sáng các bác mới “thu quân” xong bèn phạt cho chúng cả ngày nhốt trong chuồng, với lại các bác cũng phải ngủ bù. Có bác cằn nhằn:

– Bò cũng khổ! Người cũng khổ!

Một đêm đang giấc khuya có tiếng la lớn ở hàng rào, các bác già thức giấc chạy tới hóa ra không phải bò xổng chuồng mà là một bác già đi đái đêm bị rắn cắn. Bác rền rĩ kêu đau, rọi đèn thấy vết răng rắn ngay mu bàn chân bèn cấp cứu, dùng dây buộc chặt bắp chân ngăn nọc độc không cho chạy lên tim, bổ đôi quả “rắn cắn” , một loại quả thuốc rừng mà bác tù già nào cũng có một hột giữ trong người phòng thân, rịt một nửa hột vào ngay chỗ vết cắn, nửa cái hột “rắn cắn” này hút chặt vào chỗ vết thương và cứ để nguyên như thế cho đến khi nó tự rớt ra. Thuốc tiên! Chẳng hiểu do thuốc tiên hay cái gì khác mà nạn nhân sau một đêm đưa đi bệnh xá cấp cứu bác lại trở về ngày hôm sau bình yên vô sự. Hỏi bệnh xá chữa thuốc gì bác già bị rắn cắn lắc đầu:

– Nó có thuốc gì chữa trị đâu lại còn xin nửa cái hột còn lại để bệnh xá lỡ có ai bị rắn cắn sẽ rịt vào.

-Tưởng “bệnh xá cấp cứu” hoá ra “cấp cứu bệnh xá”, thôi cũng được, đằng nào cũng thế cả.

-Nửa đêm đưa nạn nhân sang tới nơi, họ bị thức giấc bèn nói bị rắn cắn nếu chết thì đã chết rồi, đi sang tới bệnh xá mà chưa chết là kể như con rắn này thuộc loại không độc, ngủ lại một đêm sáng sau đi về chuồng bò lại.

– Ở Rừng Lá này có loại “choàm quạp” độc lắm, bị nó cắn chết tại chỗ không kịp ngáp. Rắn này ngắn ngủn và cái đầu hình tam giác.

Bị rắn cắn rồi lại nghe chuyện rắn từ đó các bác tù binh già thấy ớn ban đêm và bụi rậm. Có bác đi tiểu đêm cũng mang giầy cầm gậy, có bác nhịn tiểu đêm, cũng có bác “đi” vào trong cái lon gô sáng ra đem đổ.

Một buổi chiều khi đang thả bò trong rừng chợt nghe tiếng một bác la lớn “rắn… rắn”, mọi người chạy lại thấy một bác mặt tái xanh chỉ vào một lùm cây ở bờ mương miệng lắp bắp:

– “Choàm quạp”, đầu tam giác!

– Nó cắn chỗ nào?

– Hình như chưa, tôi dẵm phải nó, nó vùng lên mổ chân tôi, nhưng có lẽ tôi “bay” né kịp.

– Tài! Để tới tìm coi, kiếm cái mật!

Rồi hai bác đi đến chỗ bụi rậm bên bờ mương, cầm cây khua động, bới tìm một lúc không thấy con rắn nào. Một bác dùng gậy khều một khúc rễ cây khô lên cho mọi người nhìn, khúc rễ cây cũng hao hao giống một con rắn. Im lặng! Lát sau có lời bình luận:

– Rắn này làm chó gì có mật!

Ôi cuộc sống sao phức tạp và lắm nguy cơ đe dọa thế. Nhưng thịt rắn và mật rắn thì vẫn được coi là món ăn ngon và thuốc bổ quí.

***

Hàng rào tre này đã nhuốm máu từ hồi những cây tre còn thấp và cành lá của nó chưa xum xuê rậm rịt. Người tù bị bắn chết đầu tiên ở bờ rào là một sĩ quan còn rất trẻ. Có thể nói anh mới bắt đầu làm sĩ quan, còn mang lon chuẩn uý của trường sĩ quan trừ bị Thủ đức, chưa kịp điều chỉnh lên thiếu úy thì anh đã bị đi tù. Chính ba anh và vợ anh đã hối thúc anh đi trình diện cải tạo sớm để còn về sớm. Họ quá tin vào cộng sản. Một kẻ mới bắt đầu dự trận sắp hàng cùng với những bậc đàn anh đã tham chiến ngay từ những ngày -N của hai cuộc chiến, anh đi tù trong niềm an ủi và cậy trông ở những người bạn tù, đàn anh, bậc thầy từng trải, hiểu biết và kinh nghiệm. Cũng lại là quá tin nữa của anh. Anh như một “con nai vàng ngơ ngác” giữa một khu rừng rất nhiều bí hiểm, khắc nghiệt. Người vợ anh cũng còn rất trẻ, hai người học trò yêu nhau rồi lấy nhau chưa có con cái gì thì anh chị đã phải xa nhau. Anh ở trong tù bồn chồn nghĩ tới chị từng phút từng giây, trong giấc ngủ kinh hoàng ở trại giam luôn luôn có hình bóng chị ấp ủ anh. Một vài tháng anh mới được thấy chị vài chục phút trong kỳ thăm nuôi. Khi được gặp chị như thế anh muốn điên lên vì thương vì nhớ, anh muốn nhào tới mà ôm chặt thân thể chị, chao ôi, anh có thể chết được, anh nhìn chị nước mắt trào ra, chị nhìn anh nước mắt cũng trào ra. Cuộc sống sao khốn khổ thế, sao hai người yêu nhau lại không được ở với nhau không được ngủ với nhau? Thế rồi bỗng dưng không thấy chị lên thăm anh nữa? Anh chờ đợi mòn mỏi, rồi ba anh lên cho biết chị bỏ nhà đi đã mấy tháng, ông còn an ủi anh đừng buồn, ông thở dài nói:

– Tình đời như thế cả, ba sẽ đi nuôi con cho đến ngày con được về.

Hôm đó anh vào trại nằm khóc than vật vã, một đồng cảnh nằm bên cạnh cũng an ủi anh:

– Đúng là nó thế cả đấy anh bạn trẻ a, như tôi đây này, vợ chồng ở với nhau hơn mười mặt con, con sống có con chết có, xưa kia mình lo cho nó đủ thứ nhà cửa xe cộ kim cương hột xoàn không thua kém ai không thiếu thứ gì ấy vậy mà mới sểnh ra có một năm nó đã bỏ mình đi theo thằng khác, mà theo ai cho nó cam, nó đi theo thằng cán bộ cộng sản mới tức mình chứ… Thôi kệ mẹ nó anh khóc lóc cũng chẳng giải quyết được gì, mình bây giờ nằm trong rọ là bó tay thôi. Tôi mà về kỳ này ấy à, tôi “xịt” hết cả hai đứa…

Anh không đợi chúng thả về, anh vượt ngục, nhưng anh bị chúng bắn chết ngay tại hàng rào. Chôn anh xong thì người vợ trẻ của anh lên thăm. Chị bị bắt giam ở công an Phan thiết hai tháng vì tội mua cá biển tính đem về Saigon bán kiếm lời nuôi chồng. Người ta chỉ còn cách đưa người vợ ra nghĩa địa thăm chồng. Chị lăn lộn trên mô đất mới. Khóc lóc. Thảm thiết. Những đêm sau, công an gác trại giam thường thấy có người vừa chạy trên những cây tre vừa la khóc, chúng tưởng tù vượt ngục bèn báo động, bắn súng đùng đùng náo loạn. Nhiều đêm như vậy, chúng quả quyết trông thấy tận mắt có người vượt rào nên mới bắn. Các tù binh nằm trong trại giam thì bàng hoàng, sững sờ…

*** *

Bác già nghĩ đến rắn ở bụi tre lại ớn sợ, ngồi mà cứ nơm nớp phía sau lưng như có nó đang rình. Nhìn ra ngôi mộ không còn cái gốc cây cụt vì nó đã cháy hết suốt mấy ngày đêm, lửa còn ăn luồn xuống cả đám rễ. Bác nghĩ cuộc tế lễ như thế là đã đạt, hồn người chết đã siêu thoát, nắm xương còn lại dưới đất chỉ là hài cốt phàm. Rồi sẽ có ngày người tù binh cuối cùng cũng sẽ rời khỏi đây, ngôi mộ không bia đá này có còn ai biết tới, thôi thì lại trở về với nhân dân Sông Giêng, hoặc là những bạn tù hình sự nào đó biết chuyện, cũng như những mồ mả “sắp lớp” trong cái nghĩa trang trại tù vẫn âm thầm từ thuở nào. Những người lỡ sống sót rồi sẽ ra đi, xin giã từ người ở lại, giã từ những bộ hài cốt còn ở lại… trong âm u, cô tịch, rừng núi, đất trời…

HB.93

Thảo Trường

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Chương 3

Củ cà rốt và cái gậy

Một chiếc máy bay hao hao giống loại Jetstar của Lockheed cất cánh từ phi trường Rhein-Main gần Frankfurt bên Đức. Chỉ vài phút sau, nó đã biến mất. Trên thật cao, anh phi công hướng về phía sông Seine, với tốc độ tối đa. Chẳng mấy lúc đã thấy Paris nằm ngay dưới. Máy bay giảm cao độ, đáp xuống Villacoublay, một phi trường nằm thoai thoải khoảng chín dậm phía tây nam. Hạ cánh rồi, phi công không lái thẳng vào ga, lại từ từ tiến về một địa điểm thật xa, ở mãi góc phi trường. Tới chỗ đậu, một chiếc Citroen DS-21 màu đen áp vào, vội bốc khách, rồi phóng đi thật nhanh. Trên đường, máy phát sóng từ trong xe gửi mật mã cho “Quarterback”. Điệp viên 007 đi công tác?

Không, Kissinger đi mật đàm. Tới nơi, ông đã báo cáo thẳng về cho Tổng thống Nixon, mật hiệu “Người tiền vệ”. Sáng sớm chủ nhật, lúc mọi người ở thủ đô Hoa kỳ còn an giấc, Kissinger đã tới phi trường quân sự Andrews cách đó không xa. Ông bước nhanh lên một chiếc C-135 không mang số, không bảng hiệu, rồi ngả lưng nghỉ ngơi. Chỉ sáu giờ sau là đã tới Rhein-main rồi. Đây là một phi trường quân sự, được canh gác cẩn mật, cũng giống như Villacoublay. Chiếc Citroen chở ông về Choisy-le-Roi, một khu trung lưu ngoại thành Paris. Lần vào một biệt thự nhỏ màu trắng, kín cổng, cao tường, hoàn toàn yên lặng. Sau vài giờ, ông lại đi xe khác tới một biệt thự rộng lớn hơn. Đó là nhà của phái đoàn Bắc Việt, cùng khu Choisy-le-Roi.

Họp xong, Kissinger bay ngược lại theo đúng tuyến cũ. Và từ lúc ông rời Washington tới khi trở về, chỉ khoảng 27 giờ. Người tài xế thân tín chở ông thẳng tới văn phòng làm việc. Nhân viên toà Bạch Ốc hay toà đại sứ Mỹ ở Paris chẳng ai hay biết gì

1. Gần hai năm rưỡi sau, mọi người mới chưng hửng: từ tháng Tám 1969, Kissinger đã họp kín với phía Bắc Việt tại Paris mười hai lần rồi! Lại một chuyện bất ngờ thứ hai về ngoại giao. Bất ngờ đầu tiên được tiết lộ (vào tháng Bảy 1971) là Kissinger đã bí mật đi Bắc Kinh nhiều lần, dàn xếp mọi chuyện, dẫn đến chuyến viếng thăm của Nixon sang Trung Quốc. Chuyến đi được ấn định vào ngày 21 tới 28, tháng Hai. Báo chí liền gọi Kissinger là James Bong, và ông rất thích. Để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm, ngày 25 tháng Giêng 1972, Tổng thống Nixon đã lên truyền hình tiết lộ những cuộc họp của Kissinger ở Paris, và đồng thời đọc bài diễn văn quan trọng, công bố một giải pháp hoà bình toàn diện về Việt nam. Trước hôm đó, Đại sứ Bunker đã đến dinh Độc Lập trao cho Tổng thống Thiệu một bản sao bài diễn văn của Tổng thống Nixon, yêu cầu ông tán thành và bình luận. Theo ông Hoàng Đức Nhã, bí thư Tổng thống Thiệu, đây là lần đầu tiên phía Việt nam cộng hoà được biết chi tiết những buổi họp kín giữa Kissinger với Bắc Việt, và biết được các kế hoạch của Nixon

2. Làm thế nào để tháo gỡ?

Để giải quyết chiến tranh Việt nam, Mỹ muốn áp dụng giải pháp song hành” (two track approach). Một mặt thì đàm phán với Bắc Việt về giải pháp quân sự (chủ đề chính là rút quân), và mặt kia, để cho hai bên Sài gòn và Hà Nội thương thuyết với nhau một giải pháp chính trị. Về đàm phán: cứ cho Hoà đàm Paris múa may bên ngoài, bên trong đã có Kissinger dàn xếp bí mật. Đến khi nào có kết quả mới công bố. Như vậy, nó sẽ huy hoàng, rực rỡ biết bao.

Từ khi hay tin ông Nixon đi Bắc Kinh, ông Thiệu hết sức e ngại. Ông biết rằng Mỹ vào Miền Nam Việt nam là để ngăn chặn làn sóng đó từ Trung Cộng lan tràn tới các nước khác”. Đó là theo học thuyết “Domino” từ thời Eisenhower: “Nếu để Miền Nam sụp đổ thì những quốc gia khác tại Đông Nam Á cũng đổ theo như những con bài domino”

3. Bây giờ Nixon sắp đi Bắc Kinh bắt tay với Mao Trạch Đông thì liệu Miền Nam có còn là “tiền đồn của Thế giới Tự Do” nữa không? Ông Thiệu thông báo sự lo ngại của Việt nam cộng hoà cho phía Mỹ. Và Tổng thống Nixon đã trấn an ngay.

White House

Ngày 31 tháng 12, 1971

Thưa Tổng thống,

“Vào lúc tôi đang chuẩn bị cho chuyến đi Bắc Kinh để gặp và nói chuyện với lãnh đạo nước Cộng hoà Nhân Dân Trung Quốc, tôi muốn chia sẻ với Ngài những tư tướng của tôi về các cuộc đàm đạo tại đó.

“Ngài có thể chắc chắn tuyệt đối rằng tôi sẽ không đi tới một thoả thuận nào tại Bắc Kinh nếu nó phương hại tời các quốc gia khác, hoặc về những vấn đề có liên hệ tới các nước khác…

“Ngài có thể tiếp tục tin cậy vào sự yểm trợ của Hoa kỳ trong những nỗ lực của Ngài hầu đem lạ hoà bình cho Việt nam và xây dựng nền thịnh vượng mới cho nhân dân Việt nam.

Trân trọng.

(ký) Richard Nixon

Để độc giả, đặc biệt là thế hệ trẻ biết xem trong văn bản gốc bằng tiếng Anh, Tổng thống Hoa kỳ đã viết như thế nào, tôi trích đăng nguyên văn một số phần đoạn quan trọng trong những thư chọn lọc sau dây (toàn bộ 35 văn bản được in trong Phụ Lục A).

Muốn cho cho chắc chắn hơn, ông Thiệu lại gửi ông Nixon một bức thư nữa bày tỏ thiện chí sẵn sàng hợp tác với Hoa kỳ để tìm giải pháp cho hoà bình, kể cả việc ông bằng lòng từ chức, nhưng kêu gọi Hoa kỳ đừng nhượng bộ gì nữa (ở Bắc Kinh) về vấn đề “rút quân”.

The White House

Washington

December 31 1971

Dear Mr. Preddent

As I prepare for my forthcoming trip to Peking to meet and talk with the leaders of the Peoplele’s Republìc of China.

I would like to share with you some thoughts concerning the conversations I expect to have there.

…

You may be absolutely certain that I will make no agreements in Peking at the expense of other countries or on matters which concern other countries. You should also know that the treaty commitments which the United States has established with other countries will not be affected by my visit to Peking

…Please accept my best wishes for the continued succeed of your economic and military programs as you embark on your second term in office. You can continue to rely on the assistance of the United States effort to bring peace to Vietnam and to build a new prosperity for the Vietnamese people

Sincerely,

Richard Nixon

Rút quân: từ song phương đổi sang đơn phương.

Vấn đề rút quân song phương ra khỏi Miền Nam: cả quân đội Hoa kỳ lẫn Bắc Việt, là vấn đề quan trọng nhất đối với Việt nam cộng hoà và là vấn đề chính yếu tại Hoà đàm Paris, như đã được phân tích trong cuốn “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập 4 . Sau đây là tóm tắt những bước chính của tiến trình thương thuyết về điểm này

5. Thời Tổng thống Johnson, điều kiện rút quân mà Mỹ mang ra rất cứng rắn: cả hai bên (Mỹ và Bắc Việt) đều rút; và quân đội Bắc Việt rút sáu tháng trước khi Hoa kỳ bắt đầu rút. Từ lập trường đó, khi Nixon mới lên Tổng thống, Mỹ xuống thang chút đỉnh: hai bên đều cùng rút đi một lúc; dành quyền tự quyết cho nhân dân Miền Nam.

Sau cùng, khi mật đàm kết thúc:

– Quân đội Mỹ rút đi hết;

– Và rút đi trong vòng 60 ngày;

– Quân đội Bắc Việt tiếp tục ở lại Miền Nam.

Đó là kết quả mật đàm của Henry Kissinger trên ba năm trời với cái giá phải trả là thêm 15.000 mạng người Mỹ, 62 tỷ đô la, và hàng trăm ngàn mạng sống người Việt nam, cùng với bao nhiêu tàn phá.

Lập trường vững chắc của Hoa kỳ và Việt nam cộng hoà khởi thuỷ được Nixon tuyên bố lúc Hoà đàm Paris chính thức bắt đầu. Ngày 14 tháng Năm 1969, Nixon lên truyền hình giải thích:

“Chúng tôi đã gạt bỏ ra ngoài hoặc là việc rút lui khỏi Việt nam một cách đơn phương, hoặc việc chấp nhận tại (Hoà đàm) Paris bất cứ một giải pháp. nào có tính cách như một thất bại nguỵ trang…”

“Và đó là phác hoạ về một giải pháp mà chúng tôi muốn đàm phán ở Paris. Nguyên tắc căn bản của nó rất là đơn giản: triệt thoái song phương bất cứ quân đội nào không phải là quân đội Miền Nam ra khỏi Miền Nam Việt nam và dành quyền tự quyết cho nhân dân Miền Nam”

6. Rồi ông còn đưa ra một thời biểu rút quân. Giai đoạn đầu là 12 tháng, tới giai đoạn cuối cùng thì “Quân đội Hoa kỳ và Đồng minh (Đại Hàn, Úc) sẽ đi tới kết thúc việc rút quân khi số quân đội Bắc Việt còn lại được rút đi và trở về Miền Bắc”

7. Lập trường là như vậy, và trước khi đi Bắc Kinh, Nixon còn hứa hẹn như trong thư trích dẫn trên đây: “Ngài có thể chắc chắn tuyệt đối rằng tôi sẽ không đi tới một thoả thuận nào tại Bắc Kinh nếu nó có phương hại tới các quốc gia khác? Thế nhưng, theo chính Nixon viết lại, trong những ngày viếng thăm Trung Quốc từ 21 tới 28 tháng 2, 1972, ông đã nói với Chu Ân Lai: “Giả sử như tôi có thể ngồi đối diện với bất cứ ai là người lãnh đạo Bắc Việt, và giá như hai bên có thể thương thuyết một cuộc ngưng bắn và trả lại tù binh cho chúng tôi, thì tất cả quân đội Mỹ sẽ được triệt thoái khỏi Việt nam trong vòng sáu tháng kể từ ngày đó

8. Như vậy, Nixon đã tiết lộ rõ ràng là Hoa kỳ muốn rút quân khỏi Việt nam để chỉ đổi lấy việc thả tù binh và một cuộc ngưng bắn. Theo các tài liệu thương thuyết mới được giải mật thì ngay từ 1971, trước cả khi Nixon đi Trung Quốc, trong cuộc họp với Chu Ân Lai ngày 9 tháng 7, Kissinger cũng đã tiết lộ với ông Chu rằng Hoa kỳ sẽ đơn phương rút khỏi Miền Nam

9. Đi sau lưng thì như vậy mà vừa từ Bắc Kinh trở về Washington, ông Nixon lại tiếp tục trấn an ông Thiệu:

White House

Ngày năm tháng Ba, 1972

Thưa Tổng thống,

“Xin Ngài yên tâm rằng tôi sẽ làm mọi việc trong quyền hạn của tôi để cho những hy sinh to lớn của hai dân tộc Việt và Mỹ sẽ không thành vô ích… “

“Chúng tôi đã không thương lượng điều gì đàng sau lưng những người bạn của Hoa kỳ; và đã không có sự đổi chác bí mật nào hết”

Trân trọng.

(ký) Richard Nixon

Thế nhưng, tại mật đàm Paris, từng bước một, Hoa kỳ đã đi tới chỗ nhượng bộ hoàn toàn: chỉ có Mỹ phải rút hết quân, và rút trong 60 ngày. Bình luận về điểm này, ông Thiệu nói với ký giả của một tạp chí Đức Der Spiegel vào cuối năm 1979: Điều mà Kissinger và Chính phủ Hoa kỳ hồi đó thực sự muốn là rút lui càng mau càng tốt và mang được tù binh của Mỹ về. Họ chỉ muốn phủi tay cho xong mọi chuyện rồi ù té chạy. Tuy nhiên, trong lúc phủi tay như thế, họ lại không muốn bị nhân dân Việt nam và thế giới buộc tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là tình trạng khó xử của họ”

10. Vào thời điểm đó, Bắc Việt đã mang thêm được một số quân lớn vào Miền Nam (từ cuộc tấn công mùa Xuân năm 1972). Cho nên tới khi kết thúc đàm phán, sự có mặt của quân đội Bắc Việt tại Miền Nam rất là hùng hậu. Tướng Charles Timmes, tư lệnh đầu tiên của “Bộ tư lệnh viện trợ quân sự cho Việt nam” (Military Assistance Command, Vietnam hay MACV), và là người theo rõi tình hình cả quân sự lẫn chính trị tại Miền Nam cho tới giờ phút chót, đã ước tính cán cân lực lượng hai bên vào lúc ký kết Hiệp định Paris. Ông cho biết: số quân đội chủ lực của Bắc Việt tại Miền Nam đã lên tới 176.000, chưa kể các đơn vị phòng không. Số này được đồn trú như sau

11. Quân Khu (QK) I: có bốn Sư đoàn: 304, 324-B, 2, 711; và khoảng 6 Trung đoàn biệt lập;

QK II: ba Sư đoàn: F-10, 320, 3, và ba Trung đoàn biệt lập;

QK III: ba Sư đoàn: 5, 7, 9 và khoảng sáu Trung đoàn biệt lập;

QK IV: Sư đoàn 1, và chín trung đoàn của MTGPMN.

Đối diện với số này, quân lực Việt nam cộng hoà tuy rất đông, những 1 triệu 200 ngàn, nhưng số quân tác chiến lại thực sự chỉ có khoảng 200.000, tức là một phần sáu của tổng số. Còn lại chỉ là địa phương quân, nghĩa quân, và những đơn vị tiếp vận, yểm trợ. Quân đội chiến đấu được rải ra như sau:

QK I: Sư đoàn Dù, Thuỷ quân lục chiến, các Sư đoàn 1 2, 3, Lữ đoàn Thiết Giáp 1, và 6 Tiểu đoàn Biệt Động Quân;

QK II: các Sư đoàn 22, 23, Lữ đoàn Thiết Giáp 2, và 18 Tiểu đoàn Biệt Động Quân;

QK III: các Sư đoàn 5, 18, 25, Lữ đoàn Thiết Giáp 3, và chín Tiểu đoàn Biệt Động Quân;

QK IV: các Sư đoàn 7, 9, 21, Lữ đoàn Thiết Giáp 4, và 12 Tiểu đoàn Biệt Động Quân.

Về số quân chủ lực thì coi như ngang nhau nhưng quân đội Bắc Việt có hai cái lợi: thứ nhất là đóng rải rác khắp nơi như những đốm da beo, đòi hỏi quân lực Việt nam cộng hoà phải dàn mỏng ra khắp lãnh thổ có một biên giới gần 700 dậm (1100 cây số) để tự vệ ; thứ hai là họ có thể chủ động trong việc chọn địa điểm và thời điểm để tập trung tấn công.

Và như vậy, khả năng tồn tại của Việt nam cộng hoà là rất mong manh…

Phải có một Hiệp định

Nhiều người đặt câu hỏi: nếu Mỹ quyết định rút quân thì cứ từ từ mà rút, lại sao lại nhất định phải có một Hiệp định? Đây là một câu hỏi quan trọng, vì nếu Mỹ cứ công khai, đơn phương mà rút thì Miền Nam còn có cơ may hơn. Đó là vì hai điểm. Thứ nhất, nếu không ký một Hiệp định thì có nghĩa là Mỹ không chính thức công nhận sự tiếp tục đóng quân của Bắc Việt tại Miền Nam (còn với Hiệp định thì chính Mỹ đã công nhận rồi); và nếu không công nhận thì khi xung đột xảy ra, Miền Nam cũng không bị Quốc hội Mỹ cho là “hiếu chiến”

12.  thứ hai, khi quân đội Mỹ đơn phương rút (mà không có Hiệp định) thì nhân dân Hoa kỳ ít nhất cũng sẽ nhận thức rằng Mỹ đã tự mình cuốn gói ra đi. Và vì vậy, để đền bù lại, có thể là Quốc hội vẫn còn tiếp tục viện trợ, tuy chỉ là trong một thời gian nhất định

13. Sau bao nhiêu cuộc chiến, khi kết thúc, Mỹ đã tiếp tục giúp các nước khác xây dựng lại những đổ vỡ như ở Âu châu, Nhật Bản, Nam Triều Tiên. Với khả năng này, Việt nam cộng hoà có thể có những dữ kiện chắc chắn cho kế hoạch tái thiết kinh tế cũng như quốc phòng, và đã không phải chờ đợi trong cái thế viện trợ bất ổn, nhỏ giọt như đã xảy ra (xem Chương 9).

Thế nhưng Mỹ muốn phải có một Hiệp định đình chiến, và do cả bốn bên (Bắc Việt, Nam Việt, Mặt trận giải phóng, và Mỹ) đều cùng ký vào. Có ba cái lợi: thứ nhất, Hiệp định giúp cho việc Mỹ rút quân khỏi Miền Nam được danh chính ngôn thuận trước công luận quốc tế: chính Việt nam Cộng Hoà ký vào Hiệp định, như vậy là đồng ý cho Mỹ rút đi, chứ không phải là Mỹ tự ý rút và bỏ rơi Đồng minh; thứ hai:Nixon-Kissinger có thể tuyên bố đã giữ lời hứa là mang lại cho Miền Nam cả hoà bình lẫn danh dự (chiến tranh đã ngưng rồi và Chính phủ VNCH vẫn còn nguyên, không bị truất phế); và thứ ba, Hiệp định giúp Mỹ mang được tù binh về. Trước đó, có lần Nixon đã cho trực thăng đổ bộ vào tận trại giam ở Sơn Tây để cứu tù binh mà cũng hoàn toàn thất bại.

Tại sao không có một Hiệp định Geneve thứ hai?

Câu hỏi thứ hai nhiều người đặt ra là vì sao, thay vì chấp nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại, Mỹ không ký một Hiệp định chia đôi Miền Nam như Hiệp định Genève hồi 1954? Ít nhất, Miền Nam còn có một biên giới rõ ràng, vẫn hơn là “giải pháp da beo” (gọi như vậy vì quân đội Bắc Việt đóng rải rắc khắp nơi như những đốm khoang trên da beo). Nếu chia đôi một lần nữa, biên giới Miền Nam sẽ nhỏ hẹp hơn nhiều, một phần lớn đã có bờ biển bao bọc nên vấn đề biên phòng tương đối dễ dàng hơn là giữ một biên giới dài gần 700 dậm (1.100 cây số)

Trả lời câu này cũng dễ. Có lần chúng tôi hỏi một tướng lãnh Hoa kỳ (nay đã về hưu) tại sao như vậy? Không cần suy nghĩ, ông ta trả lời ngay: “Ấy chết, Mỹ vào thì có bốn Quân Khu, chiến đấu 10 năm với trên nửa triệu quân, lúc ra đi lại chỉ còn có hai Quân Khu hay sao?” Chẳng lẽ giống như Pháp hồi 1954, sau khi bại trận ở Điện Biên Phủ? Ông cho rằng Mỹ sẽ mất mặt nếu phải đi tới giải pháp chia đôi lãnh thổ Miền Nam một lần nữa.

Để có một Hiệp định: Điều đình trong gian dối.

Thời gian qua nhanh, chẳng mấy lúc lại đã tới bầu cử Tổng thống tại Hoa kỳ. Khi ra ứng cử lần đầu (1968), ông Nixon đã hứa là sẽ giải quyết chiến tranh Việt nam một cách tốt đẹp và với danh dự (giống như lập trường ông John Kerry về chiến tranh Iraq trong kỳ bầu cử năm 2004). Nếu đến lúc vận động tái cử mà chiến tranh vẫn chưa chấm dứt thì làm sao ăn nói với nhân dân cho được?

Vì không thành công trong việc điều đình với Bắc Việt, Nixon-Kissinger quay sang điều đình với Miền Nam, nhưng là điều đình trong gian dối.

Ngày 17 tháng Tám, 1972, vào lúc sắp có Đại hội đảng Cộng hoà ở Miami (22 tháng Tám) để đề cử ứng viên Tổng thống, phái đoàn Kissinger tới Sài gòn thảo luận. Màn bi kịch 1968 lại tái diễn. Nhưng lần này thủ lãnh không phải là Johnson mà là Nixon; đạo diễn không phải Bunker mà là Kissinger. Đặc biệt là áp lực từ phía Nixon lại đảo ngược 180 độ: không phải khuyên ông Thiệu chống dối đàm phán mà là nên chấp nhận ngay kết quả của đàm phán. Không phải đừng di Paris mà phải đi Paris ngay để ký kết. Kissinger bắt đầu thuyết phục ông Thiệu với luận điệu rằng Hiệp định này rất tốt cho Miền Nam vì nó sẽ xoa dịu những chống đối chiến tranh, giúp Chính phủ Mỹ tiếp tục yểm trợ Miền Nam.

Thế nhưng, đã có nhiều dấu hiệu cho thấy sự gian dối của Kissinger, nên ông Thiệu chống đối mạnh mẽ. Đặc biệt là về việc Hoa kỳ đã thay đổi hẳn lập trường về vấn đề rút quân.

Lại theo đường cũ, ông không chịu chấp nhận bản dự thảo Hiệp định.

Vài ngày sau khi Đại hội Cộng hoà tái đề cử Nixon ra nhiệm kỳ hai, Nixon đã ở vào thế mạnh hơn. Ông thuyết phục ông Thiệu một cách lâm ly thống thiết:

The White House

Ngày 31 tháng Tám, 1972.

Thưa Tổng thống,

“Bước vào giai đoạn tế nhị hiện nay của cuộc thương thuyết, tôi muốn quả quyết với Ngài một lần nữa, nhân danh bản thân tôi và một cách dứt khoát về nền tảng sắt đá của lập trường Hoa kỳ: Hoa kỳ đã không kiên trì từ bao lâu nay, với sự hy sinh của bao nhiêu mạng sống người Mỹ, để thay đổi lập trường vào mấy tháng chót của năm 1972. Lúc này đây chúng tôi sẽ không làm điều gì mà ba năm rưỡi trước đây, chúng tôi đã từ chối không làm. Nhân dân Mỹ biết rằng Hoa kỳ không thể mua được hoà bình hay danh dự, hoặc chuộc lại được những hy sinh của mình với cái giá phải trả là bỏ rơi một Đồng minh dũng cảm. Điều này tôi không thể làm và sẽ không bao giờ làm…

“Nhưng nếu ta muốn thành công trong chặng đường cuối cùng của cuộc hành trình lâu dài này, ta phải hoàn toàn tin nhiệm lẫn nhau… “

Trân trọng

Richard Nixon

Tất cả những thư từ ông Nixon viết cho ông Thiệu là do Kissinger soạn thảo.

Trong thư này, lời lẽ có vẻ tâm huyết: bỏ rơi một Đồng minh là điều mà “tôi không thể làm và sẽ không bao giờ làm”. Tuy nhiên, ông Thiệu vẫn tin rằng Nixon-Kissinger chỉ muốn có chữ ký của Việt nam cộng hoà vào bản Hiệp định để Mỹ tháo lui cho đẹp. Nhằm làm sáng tỏ vấn đề, ngày 26 tháng Chín 1972, ông còn cho phía Mỹ biết rằng ông “sẽ công khai minh xác trước công luận để biện hộ quan điểm của Việt nam cộng hoà”

14. Không được! Ông Nixon đang ra tranh cử nhiệm kỳ hai và ngày bầu cử Tổng thống đã gần kề. Nếu có gì trục trặc về hoà bình là nguy to. Hồi 1968, chính Nixon đã xúi Sài gòn gây ra trục trặc đó để đánh bại Humphrey. Bây giờ Nixon đã có kinh nghiệm bản thân, đâu để xảy ra như vậy được. Thuyết phục mãi không thành công, cuối cùng Nixon lại dùng đến áp lực. Nhưng để cho áp lực có hiệu quả, trước hết là phải áp đảo tinh thần ông Thiệu: đảo chánh.

White House

Ngày sáu tháng 10, 1972

Thưa Tổng thống,

“Tôi yêu cầu Ngài áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968… “.

Trân trọng

Richard Nixon

Biến cố năm 1963 là đảo chánh và ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm. Còn biến cố 1968? Nixon đã nhắc khéo tới sự việc xảy ra sau cuộc bầu cử năm 1968 (ông Thiệu tháu cáy giúp Nixon thắng cử) làm Chính phủ Johnson phẫn nộ, định lật đổ ông trước khi Nixon nhậm chức vào tháng Giêng 1969 (xem Chương I). Hồi đó, Nixon và Kissinger nghe biết, đã cực lực phản đối và cứu được ông Thiệu. Bây giờ lại đến chính họ theo con đường này

15. Về việc cứu ông Thiệu năm 1969, sau này Kissinger còn tế nhị nhắc tới trong một bức thư ông gửi cho ông Thiệu vào đầu năm 1980: “Giá như ý định của Tổng thống Nixon và của tôi là phản bội Ngài, thì chúng tôi đã có thể làm như thế hồi đầu năm 1969 rồi”

16. Trở lại áp lực để ký Hiệp định Paris, ngày 21 tháng 10, 1972, hai chuyên viên trong Hội đồng an ninh quốc gia là Roger Morris và Tony La ke viết cho Kissinger một phúc trình, trong đó có nói tới các phương cách lật đổ ông Thiệu. Sau này Morris xác nhận: “Tôi bảo Tony rằng hai đứa mình phải cho Henry (Kissinger) hiểu rõ là ta sẵn sàng thanh toán Thiệu”

17. Đòn phép từ Toà Bạch Ốc tới Đinh Độc Lập Chiến lược của Nixon-Kissinger đối với Việt nam cộng hoà để đòi hỏi phải chấp nhận Hiệp định được gọi là “cái gậy và củ cà rốt”. Như người cái trên lưng con lừa, một tay cầm cái gậy và tay kia, củ cà rốt. Nếu lừa không chịu đi, đã có cái roi; nếu ngoan ngoãn đi thẳng thì có củ cà rốt lủng lẳng trực mắt:

White House

Ngày 16 tháng 10, 1972

Thưa Tổng thống,

“Riêng đối với tôi thì điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định, ngoài những khía cạnh quân sự của nó, là Chính phủ ngài, quân lực và những định chế chính trị của VNCH sẽ còn nguyên vẹn sau khi cuộc ngưng bắn được tôn trọng. Trong thời kỳ tiếp theo sau đình chiến, Ngài có thể hoàn toàn an tâm là chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho Chính phủ của Ngài sự yểm trợ đầy đủ nhất, kể cả viện trợ kinh tế và bất cứ viện trợ quân sự nào phù hợp với những điều khoản đình chiến của Hiệp định này.

“Ý định của chúng tôi là quyết tâm tôn trọng những điều khoản trong Hiệp định và những thoả thuận ký kết với Hà Nội, và tôi biết đó cũng là thái độ của Chính phủ Ngài. Chúng tôi đòi phải có đi có lại, và đã cảnh giác cho cả họ lẫn các Đồng minh chủ chốt của họ biết rõ như thế. Tôi xin cam kết với Ngài rằng bất cứ một sự bội tín nào về phía họ cũng sẽ bị chúng tôi lên án khắt khe nhất và nó sẽ có những hậu quả trầm trọng nhất.

Trân trọng

Richard Nixon

Ký thư xong, Nixon lại còn viết tay thêm:

“Tiến sĩ Kissinger, Tướng Haig và tôi đã bàn bạc rất kỹ về đề nghị (hoà bình) này. Tôi tin chắc ràng đó là giải pháp tốt nhất chúng ta có thể đạt được, và cũng là giải pháp đáp ứng được điều kiện tuyệt đối của tôi, là Việt nam cộng hoà phải được tồn tại là một quốc gia tự do…” (ký tắt) RN.

Độc giả lưu ý là ở đoạn này, chính Tổng thống Nixon đã gạch chân dưới chữ tuyệt đối.

Đó là củ cà rốt trong thông điệp do chính Kissinger mang sang Sài gòn đưa cho ông Thiệu. Những cuộc tranh luận giữa hai bên tại dinh Độc Lập lúc đó đã diễn ra trong bầu không khí hết sức căng thẳng 18 . Phía Việt nam cộng hoà nhất định không chấp nhận bản dự thảo Hiệp định.

Tuy bên trong là vậy, nhưng ngày 26 tháng 10, khi về tới Washington, Kissinger vẫn họp báo và tuyên bố câu lịch sử “Hoà bình đang trong tầm tay” (peace is at hand). Washington và Sài gòn chấn động. Đây là bất ngờ về ngoại giao thứ ba của Kissinger.

Vì khi ánh sáng của hoà bình chiếu rọi, hào quang của Nixon-Kissinger chiếu sáng theo. Không tới hai tuần sau, ngày bảy tháng 11, 1972, Nixon đã thắng cử nhiệm kỳ hai. Sự thành công của ông được người Mỹ gọi là “long trời lở đất” llld~lide). Đại đa số nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm ông: 60.7% so với 37.5% cho Mcgovern. Đây là số phiếu cử tri cao thứ nhì trong lịch sử nước Mỹ, và là số phiếu cao nhất mà một ứng cử viên Cộng hoà đã được. Từ Âu sang Á, tiếng tăm ông lừng lẫy.

Té ra viễn tượng hoà bình Việt nam lại một lần nữa đóng góp cho sự thành công của Nixon, và đưa đồ đệ của ông lên đài danh vọng. Nhưng chiêu bài “hoà bình” đã dược vận dụng một cách trái ngược nhau trong hai lần tranh cử. Lần thứ nhất (1968) thì hoà bình ngoài tầm tay; lần thứ hai (1972): hoà bình đang trong tầm tay.

Dù rằng Tổng thống Nixon chưa bắt đầu nhiệm kỳ hai, nhưng bầu cử xong là mọi việc cũng xong. Ngay từ lúc dọn vào toà Bạch Ốc, cả Nixon lẫn Kissinger đều muốn giải quyết vấn đề Việt nam cho dứt điểm. Muộn lắm là nội trong nhiệm kỳ đầu. Làm thế nào để còn hái được nhiều thành quả ngoại giao khác vào nhiệm kỳ hai. Nixon muốn chú trọng vào việc bang giao với Trung Cộng và Liên Xô. Kissinger thì muốn hướng về Âu châu và Trung Đông nên ông gọi 1973 là “Năm của Âu châu”.

Bầu cử ở Mỹ xong rồi, và nhiệm kỳ thứ hai của Nixon sắp bắt đầu mà tại sao ông Thiệu vẫn chưa chịu chấp nhận ký vào Hiệp định? Lý do chính là vì ông còn lo ngại về việc quân đội Bắc Việt tiếp tục ở lại. Để ông Thiệu yên tâm, ông Nixon an ủi rằng đừng có lo nữa, vì chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề này bằng cách là, thứ nhất, cố lồng vào bản Hiệp định một câu nói tới việc tôn trọng vùng phi quân sự (DMZ) và thứ hai, sẽ đề nghị thêm một khoản nói tới việc giải ngũ trên căn bản “bên này giải ngũ một, bên kia giải ngũ một”, rồi cho “những người giải ngũ trở về với gia đình họ”. Nghe đơn sơ là như vậy.

White House

Ngày 14 tháng 11, 1972

Thưa Tổng thống,

“Còn quan trọng hơn rất nhiều những gì chúng tôi nói trong Hiệp định về vấn đề này là những gì chúng tôi sẽ làm trong trường hợp quân địch tái diễn xâm lăng. Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng: nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp định này, thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và ác liệt

Trân trọng

(ký) Richard Nixon

Thư đi, thư lại, cũng vẫn chưa xong. Mà năm 1973 lại tới, Nixon doạ nặng hơn, rằng nếu ông Thiệu cứ tiếp tục chống đối và “tách rời” khỏi lập trường của Mỹ thì có thể đi tới thảm hoạ là làm mất đi tất cả những gì chúng ta đã cùng nhau tranh đấu trong cả một thập niên qua”. Và ngược lại:

White House

Ngày 5 tháng 1, 1973

Thưa Tổng thống,

Nếu Ngài quyết định và tôi tin tưởng Ngài sẽ quyết định, tiếp tay với chúng tôi, tôi xin bảo đảm vời Ngài rằng tôi sẽ tiếp tục yểm trợ Ngài trong giai đoạn hậu chiến, và chúng tôi sẽ trả đũa bằng toàn thể sức mạnh của Hoa kỳ nếu như Bắc Việt vi phạm Hiệp định. Cho nên, một lần nữa, tôi xin kết thúc thư này bằng lời kêu gọi Ngài hãy sát cánh với chúng tôi”.

Trân trọng

(ký) Richard Nixon

Khi ngày đăng quang nhiệm kỳ đã gần kề, chỉ còn một tuần lễ nữa, Nixon giơ cái gậy thật to

19. White House

Ngày 14-1-1973

Thưa Tổng thống,

“Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp định vào ngày 23 tháng 1, và sẽ ký vào ngày 27 tháng 1, 1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc này dù phải làm một mình, trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo Chính phủ của Ngài làm cản trờ cho công cuộc vãn hồi hoà bình tại Việt nam.

“Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong Chính phủ của Ngài cũng không thể cứu vãn được…”

Hồi tuyển cử 1968, Johnson sau cùng cũng quyết định là sẽ đơn phương đàm phán với Bắc Việt, nhưng ít nhất là ông còn mở cửa ngỏ, không khoá chặt lại. Johnson tuyên bố là nếu Miền Nam muốn tham gia thì vẫn dược tham gia. Bây giờ Nixon đe là sẽ “công khai tố cáo Chính phủ của Ngài làm cản trở cho công cuộc vãn hồi hoà bình ở Việt nam” rồi sẽ “cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức”, và sau đó, “dù có sự thay đổi về nhân sự…cũng không thể cứu vãn được?”.

Trong “tự điển chính trị” về mối bang giao Hoa KỲ-VNCH, “thay đổi nhân sự” là câu nói nhẹ, đồng nghĩa với việc đảo chánh. Năm 1963, khi việc chuẩn bị lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm đang tiến hành ráo riết, Tổng thống Kennedy, trong buổi phỏng vấn với Waller Cronkite trên đài CBS, đã nhắc tới nhu cầu “thay đổi nhân sự”

20. Tuy nhiên, khi nào Nixon giơ cái gậy ra, thì ông cũng có đem theo củ cà rốt. Trong cùng một văn thư, Nixon quả quyết:

“Chúng tôi sẽ phản ứng mãnh liệt trong trường hợp bản Hiệp định bị vi phạm:

“Cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh tới những cam kết tiếp tục của Chính phủ Hoa kỳ đối với tự do và tiến bộ của VNCH.

“Tôi quyết định sẽ tiếp tục viện trợ đầy đủ kinh tế và quân sự cho VNCH…”

Và rõ ràng hơn nữa:

White House

Ngày 17 tháng 1, 1973.

Thưa Tổng thống,

“Tự do độc lập của nước VNCH vẫn luôn luôn là mục tiêu trọng đại trong chính sách ngoại giao của Hoa kỳ. Tôi đã theo đuổi mục tiêu này trong suốt cuộc đời chính trị của tôi…

Tôi cả quyết rằng việc từ chối ký bản Hiệp định này sẽ đưa đến việc cắt đứt mọi viện trợ cho VNCH…

Nếu ngài khước từ ký vào bản Hiệp định, tôi sẽ không còn cách nào giúp đỡ Chính phủ VNCH nữa. Quốc hội và Dư luận Hoa kỳ sẽ trói chặt tay tôi…

“Tôi đang chuẩn bị gửi Phó Tổng thống Agnew qua Sài gòn để thảo luận với Ngài về mối quan hệ của chúng ta trong thời hậu chiến… Phó Tổng thống Agnew sẽ công khai tái xác nhận những bảo đám tôi đã hứa với Ngài. Tôi xin nhắc lại những cam kết đó như sau:

Thứ nhất, Hoa kỳ công nhận Chính phủ của Ngài là Chính phủ duy nhất hợp pháp ở Miền Nam Việt nam;

Thứ hai, HK không công nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ Miền Nam; và

Thứ ba, HK sẽ phản ứng mãnh liệt nếu bản Hiệp định bị vi phạm…

Tôi đang chuẩn bị để họp riêng với Ngài tại San Clemente, Califomia, và lúc dó chúng ta có thể xác nhận lại một lần nữa sự hợp tác giữa chúng ta và những bảo đám của Hoa kỳ…

Tôi cho rằng Ngài có hai lựa chọn chính yếu: một là tiếp tục cản trớ việc ký kết. Đó là hành động có vẻ lẫm liệt nhưng thiển cận; hai là dùng bản Hiệp định như một phương tiện để xây dựng một căn bản mới cho nền bang giao HK-VNCH. Tôi không cần phải nói Ngài cũng biết rõ đây là con đường duy nhất để bảo vệ mục tiêu chung của chúng ta.

Trân trọng,

(ký) Richard M. Nixon

Những lựa chọn được kê ra rõ ràng là như vậy. Dường như ông Thiệu chỉ còn một cách là bám víu: ông gạch dưới và đánh dấu ° bên chữ “guarantees” (bảo đảm) ở đoạn trên lá thư, và gạch dưới – hai lần – chữ “U.S.guarantees” (bảo đảm của Hoa kỳ) ở đoạn cuối.

Tuy không phải là một chuyên gia về ngoại giao, nhưng tôi nghĩ trong lịch sử của Hoa kỳ đã chưa có trường hợp nào lại có những áp lực trực tiếp, rõ ràng, cạn tàu ráo máng từ một vị Tổng thống gửi tới một Đồng minh như thế này. Cũng chưa bao giờ có những cam kết mạnh mẽ, dứt khoát, được lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy…

Tới đây thì VNCH nhượng bộ.

Mật đàm đã giúp Hoa kỳ thành công trong việc giải quyết chiến tranh Việt nam nội trong nhiệm kỳ đầu của Nixon. Chỉ chậm có hai ngày:

Ngày 20 tháng 1 năm 1973 là ngày Nixon đăng quang nhiệm kỳ hai.

Ngày 21 tháng 1, Tổng thống Thiệu họp với Đại sứ Bunker để trao văn thư gửi Tổng thống Nixon, thông báo VNCH sẽ ký bản Hiệp định;

Ngày hôm sau Nixon hồi âm:

White House

Ngày 22 tháng Giêng 1973

Thưa Tổng thống,

“Với lòng can đảm và kiên trì, Ngài đã bảo vệ được quyền lợi của dân tộc Việt nam trong công cuộc theo đuổi mục tiêu duy trì tự do và độc lập”.

Trân trọng,

Richard M. Nixon.

Trong bầu không khí xám ngắt lạnh lẽo và mưa sụt sùi buổi xế trưa ngày Thứ Ba, 23 tháng Giêng hồi 12 giờ 45, hai ông Henry Kissinger và Lê Đức Thọ đã phê chuẩn Hiệp định Paris tại “Trung tâm hội nghị quốc tế”, khách sạn Majestic, Đại lộ Kléber. Hai bên giằng co về số trang và so sánh bản chữ “HK” (Henry Kissinger) và ông Lê Đức Thọ ký vỏn vẹn một họ”. Kissinger dùng một số bút mực và tặng cho bộ tham mưu của ông mỗi người một cái. Lê Đức Thọ thì đưa bút của mình cho Kissinger “để nhắc Hoa kỳ về việc thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định này” . Vừa ký xong, Kissinger vội bay về Washington.

Ngày 27 tháng Giêng, Ngoại trưởng Mỹ William Rogers, Ngoại trưởng Việt nam cộng hoà Trần Văn Lắm đồng ký.

Hiệp định Paris bắt đầu có hiệu lực.

Khi mọi việc đã êm đẹp, có phóng viên UPI là bà Helen Thomas muốn tò mò hỏi xem Kissinger làm gì vào chính lúc ông Rogers đặt bút xuống ký. Vì múi giờ khác nhau, 11 giờ sáng bên Paris là năm giờ sáng tại Washington. Văn phòng báo chí của Kissinger trả lời: “Hãy làm tình, dừng đánh nhau” (Make love not war).

——————————–

1          Xem “Nixon’s Secret Agent”, TIME (Magazine), 7 tháng 2, 1972.

2          Phỏng vấn Hoàng Đức Nhã, 24-5-1985.

3          Về việc Tổng thống Eisenhower nói tới thuyết Domino: xem Public Paler of The Presidents: Dwight D. Eisenhower, 1954 (Government Printing Office, 1960), trang 383.

4          Xem Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold Schecter, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, chương 3, 5 và 6, 9.

5          Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 148, 158; Hưng và Schecter, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập.

6          Diễn văn của Nixon ngày 14-5-1969: Department of State Bulletin (Washington, 2 tháng 6, 1969); xem thêm: George M. Kahin và John W Lewis, The United States in Vietnam, trang517-524.

7          Marvin Kalb and Bemard Kalb, Kissinger, trang 158.

8          Richard Nixon, Memoiry trang 568-569.

9          Xem bài của Elaine Sciolino “Tài liệu (vừa có) đã đối chọi với Kissinger về chuyến viếng thăm Trung Quốc của ông năm 1971”. New York Times, ngày 28 tháng 2, 2002. Trong buổi họp, chính Kissinger đã cho ông Chu biết: “Dù có thương thuyết hay không thương thuyết với Bắc Việt đi nữa, rồi chúng tôi cũng sẽ rút quân ra – một cách đơn phương”.

10        Der Spiegel, Phỏng vấn Tổng thống Thiệu, 1 tháng 12, 1979.

11        Charles J. Timmes, “Vietnam Summary: Military Operation… “, Military Review, tháng 8, 1976, trang 63-66.

12        Năm 1974, nhiều nghị sĩ, đặc biệt là ông Kennedy, đã cho rằng, càng có nhiều viện trợ, Miền Nam càng kéo dài chiến tranh. Xem chương 8.

13        Ý kiến của Đại sứ Graham Martin về khả năng này: xem House of Representatives, Vietnam Evacuation: Testimony of ambassador Graham Martin, trang 539.

14        VNCH, Giác thư gửi Chính phủ Hoa kỳ, ngày tháng 9, 1972 (Xem Nguyễn Tiến Hưng và Jenold Schecter, The Palace File, Phụ lục B).

15        Xem Chương 2.

16        Thư của Henry Kissinger gửi Tổng thống Thiệu, đầu năm 1980.

17        Seymour Hersh, trích dẫn trong the price of power, trang 128.

18        Xem thêm: Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, Chương 5.

19.   United States-Vietnam Relations, Tài liệu do Bộ Quốc phòng Hoa kỳ soạn thảo, Quyển 3/12, trang  23  

20. Trích trong bài của Hồng Hà, Đài Phát Thanh Hà Nội, ngày 27 tháng 1, 1974, JPRS 61277, ngày 20-1-1985.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 21 Aug 2025

13. Hoàng Đình Báu

Còn Nợ là truyện dài đầu tay của Hoàng Đình Báu, kể lại đời sống của nhân vật Vinh, từ thời còn là một học sinh cho tới khi trở thành một sĩ quan hải quân trong QLVNCH, cùng những biến động lịch sử từ thời đệ nhất cộng hòa cho đến khi CS xâm chiếm miền Nam VN, với những hệ lụy của nó, kéo dài tới hiện tại. Truyện cũng có thể coi là một hồi ký của chính tác giả. Trong “lời nói đầu của” cuốn sách Hoàng Đình Báu cho biết:

“Còn Nợ là tác phẩm vẽ lại hình ảnh của người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa đã một thời tung hoành ngang dọc trên sông dài, biển rộng với bao mối tình chợt đến rồi chợt đi”.

Được biết Hoàng Đình Báu là một Hải Quân Thiếu Tá. Sau biến cố 1975, cũng như tất cả các cựu sĩ quan trong quân đội của chúng ta ở miền Nam khi ấy, ông đã phải trải qua nhiều năm trong các trại cải tạo. Sau khi được tha, ông cùng với gia đình, gồm vợ và 4 con [nếu chúng tôi nhớ không lầm] tham dự vào một cuộc vượt biên. Việc bại lộ, chiếc ghe chở vợ con ông đã bị công an vây bắt ngay trên sông Sài Gòn. Công an đã nổ súng, bắn thẳng vào ghe, gây hoảng loạn cho hơn hai trăm người gồm cả đàn ông, đàn bà, trẻ con chen chúc dưới hầm, làm chiếc ghe bị lật. Gần như toàn thể những người có mặt trên ghe đều thiệt mạng. Cả vợ và 4 con ông cùng đã bị chết hết trong vụ này. Sự việc đã gây một sự xúc động lớn trong toàn thể miền Nam lúc bấy giờ. Sợ, nhưng người ta vẫn cứ tiếp tục liều mạng tìm cách vượt biên. Trong nhiều năm liền, không khí Sài Gòn lúc nào cũng như ở trên một nồi nước sôi vì chuyện người ở người đi, kẻ sống người chết.

Người chết không nói làm gì nữa. Người sống, những người vượt biên thoát được ra ngoài, đối với những người còn lại, bố mẹ, anh em, vợ chồng, cũng coi như chẳng còn hy vọng sẽ có ngày gặp lại. Thế nhưng người vẫn cứ đi. Thay vì cố gắng để được đoàn tụ, người ta đã cố gắng để chia lìa nhau. Một người đi thoát, tất cả những người còn lại đều mừng rỡ, dù cho đó có là lần vĩnh biệt!

Hoàng Đình Báu đã ghi lại những ngày đen tối đó của toàn thể nhân dân miền Nam, bằng một giọng hiền lành, chân chất, nhưng đủ làm cho những người còn ở lại miền Nam sau ngày 30 tháng 4/75 phải rởn người khi đọc lại: “Từ ngày Thủy đưa chồng đi đến trường Tabert, một trong những địa điểm trình diện tập trung những người bị đưa đi cải tạo, đến nay đã gần hai năm. Trong khoảng thời gian này bao nhiêu chuyện đã xẩy đến cho gia đình nàng. Căn biệt thự ở đường Võ Tánh của bà Đan [mẹ Thủy] đã bị tịch thu để làm cơ sở cho Uỷ Ban Nhân Dân Phường. Chúng cấp cho bà Đan một căn nhà nhỏ ở ngã ba Ông Tạ. Căn nhà này là của một người đi di tản năm 1975 bỏ lại, chúng tịch thu. Bà Đan nay trắng tay vì qua ba lần đổi tiền, từ tiền miền Nam ra tiền miền Bắc.

Đây là lối đánh tư sản độc ác nhất để nhân dân chỉ còn vài đồng bạc của bác và đảng mà thôi. Cũng bắt đầu từ nay, chúng phát tem phiếu mua gạo hàng tháng theo đầu người. Người lớn mỗi tháng 13 ký lô, các em nhỏ ăn 7 ký lô. Ai ở đâu ở đấy, đi ra khỏi phường phải báo cáo. Đi ra khỏi tỉnh hay thành phố phải xin phép. Cứ hai căn hộ hay gia đình có một công an kiểm soát, gọi là công an khu vực. Các công an này phần đông là người miền Bắc mới đưa vào Nam. Chúng lập lý lịch trích ngang, phân chia những gia đình theo từng loại, từ nguy hiểm đến ít nguy hiểm, để bám sát và báo cáo lên trên. Năm mẹ con Thủy cũng phải theo bà ngoại đến ngã ba Ông Tạ. Gia đình 6 người này được chúng đánh giá là hộ nguy hiểm vì có người là sĩ quan Ngụy đi học tập cải tạo, đồng thời trước đây là một tư sản mại bản”.

Lồng trong chuyện nước, chuyện nhà là những chuyện tình tay đôi, tay ba, của nhân vật Vinh. Các cuộc gặp gỡ, ăn nhậu của Vinh với một số bằng hữu, đồng nghiệp. Tất cả được kể lại, theo một thứ tự thời gian bằng phẳng, ít rắc rối. Gần đây, đọc các tác giả Việt Nam, nhất là lớp trẻ, trưởng thành tại hải ngoại, đôi lúc người ta cảm thấy chóng mặt vì những suy nghĩ, hành động của các nhân vật. Tiểu thuyết không còn là những cuốn truyện nữa.

Mà gần như nó chỉ còn là cái cớ, một không gian, để cho các nhân vật, cũng làm đủ thứ trên đời như những nhân vật tiểu thuyết cũ, như những người ngoài đời, nhưng hình như không phải để sống với nhau nữa, mà người nọ trở thành tấm gương để người kia soi chiếu lấy chân dung mình, tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống … Cả sự sáng suốt lẫn sự tối tăm của họ đều dễ sợ. Tuy, cuối cùng, đó cũng chỉ là những cuốn truyện, nhưng không phải ai cũng đọc được. Muốn đọc nó độc giả phải có một trình độ nào đó. Đây không phải là một lời khen hay chê. Mà chỉ là một nhận định. Coi đó là một cái hay hay dở, điều ấy còn tùy thuộc mỗi người. Có điều: nếu không có những người dám mạo hiểm, sẽ chẳng bao giờ chúng ta có cái gì mới.

Truyện của Hoàng Ngọc Báu không có gì mới, hiểu theo nghĩa mạo hiểm đó, từ bố cục cho tới cách tạo dựng nhân vật. Nhưng nó cho người đọc cảm giác bình yên khi theo dõi, dù những điều được kể trong sách không phải là những chuyện bình yên. Các sen viết về sex bằng bút pháp bình dị của Hoàng Đình Báu cũng có những cái duyên riêng.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 21 Aug 2025

12. Hoàng Anh Tuấn

Nhật báo Người Việt đã cùng một số thân hữu đứng ra tổ chức một buổi họp mặt để phát hành tập thơ Yêu Em Hà Nội của Hoàng Anh Tuấn, được đông đảo độc giả các giới xa gần, tới dự. Hoàng Anh Tuấn cùng với Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng có vài điểm tương đồng: họ cùng ở Pháp về, xuất hiện gần như cùng một lúc với tư cách những thi sĩ tại miền Nam sau hiệp định Genève. Cả ba đều là những tài năng lớn. Họ vừa làm mới thi ca Việt Nam vừa đem đến cho ngành sinh hoạt này một sức sống, một niềm tin vào cuộc sống đang được hình thành tại miền Nam khi ấy. Không có báo hiệu nào tốt đẹp hơn đối với một xã hội bằng sự thành công của các tác phẩm nghệ thuật.

Paris có gì lạ không em?

Ga Lyon đèn vàng.

Nguyên Sa và Cung Trầm Tưởng đã làm cho những địa danh được nêu trong các câu thơ ấy, không chỉ còn là những tên gọi mà trở thành một hình thức nới rộng không gian, nới rộng đời sống, mặc dầu nó vẫn có một vẻ gì đó tựa tấm áo khoác của người đi xa về. Hoàng Anh Tuấn có nhiều cái khác. Trong thơ ông, không bao giờ người ta thấy Hoàng Anh Tuấn nhắc tới cái nơi ông đã từ đó trở về. Nếu có một vài thành phố nào đó Hoàng Anh Tuấn gọi tên ra, hay gợi nhớ tới, trong thơ ông, chính là Hà Nội, Sài Gòn hay Đà Lạt. Cho đến hiện tại Hoàng Anh Tuấn chưa cho xuất bản một tác phẩm nào của mình, dù ngoài thơ ông còn viết nhiều tiểu luận văn học, truyện ngắn v.v …

Yêu em Hà Nội là tác phẩm đầu tiên của ông được in ra và nghe nói còn thiếu rất nhiều bài trước đây đã được đăng báo, một số bài khác nhờ những người thuộc thơ ông chép lại mới có, để in trong tập.

Hoàng Anh Tuấn vốn thờ ơ với thơ mình. Rất có thể có những bài chính ông không nhớ hết. Yêu Em Hà Nội do con gái ông sưu tập, xuất bản, như một quà tặng cho bố. Hoàng Anh Tuấn năm nay tuổi cũng đã khá cao rồi.

Thơ Hoàng Anh Tuấn có vẻ gì đó rạo rực, nôn nóng. Người đọc có cảm tưởng, ý và lời đến với ông cùng một lúc.

Cái mới trong thơ ông không phải tìm kiếm. Hoàng Anh Tuấn thấy nó ở khắp mọi nơi. Hình như ông nói ra thơ rồi mới chép lại. Ký âu yếm không ân tình bảo chứng. Chỉ cần thay mấy chữ “ngân phiếu” và “có tiền” bằng mấy chữ “âu yếm” và “ân tình”, Hoàng Anh Tuấn đã mang đến cho chúng ta một câu thơ hoàn toàn mới, dù trong ngần ấy từ không có từ nào mới cả. Nếu muốn xài thêm một từ chuyên môn nữa thì đây là một cuộc “lạm phát” tình yêu.

Thơ Hoàng Anh Tuấn trẻ hơn thơ của tất cả các thi sĩ trẻ của chúng ta từ trước đến nay. Ông nói gấp gấp, nói thao thao, nói với đối tượng, thì thầm với lòng mình, nói và làm thơ cùng một lúc:

Bước rất nhẹ như mây mềm dưới gót

E nắng buồn làm rối tóc mưa ngâu

Em tìm anh nước uốn nhịp ven cầu

Năm tháng cũ rợn tình xưa tỉnh thức

Em vẫn bé, anh vẫn còn ngây ngất

Màu áo hường còn gợn sóng âm thanh

Mắt thuyền qua nên nón vẫn nghiêng vành

Chân cuống quýt nên guốc ròn gõ cửa

Anh vội mở cả nghìn lần hớn hở

Cho hồn nhiên mắc cỡ với hoài nghi

Em cúi đầu và lặng lẽ bước đi

Từ hôm ấy cửa nhà anh bỏ ngỏ …

Giả thử như “nàng thơ” nào đó, nhận được bài thơ, hẳn cũng bối rối, không biết câu nào nói về mình, câu nào vì thơ mà được làm ra.

Cũng những dòng thơ ấy, ai đang yêu, đang mong ước được yêu, ai đó muốn tỏ tình với ai nhưng còn ngại ngần, chưa có dịp, cứ việc chép bài thơ [bỏ bớt đi những lời trách móc] gửi cho nhau là đủ, không cần phải nói thêm gì nữa, cũng khó lòng có những lời tỏ tình đẹp hơn nữa:

Em đi qua xin ráng bước cho êm

Đừng đánh thức thời gian đang ngủ kỹ

Đừng đẹp quá để anh đừng rối chỉ

Lấy gì đây khâu vá lại tình xưa

Có đi qua xin chọn lúc tình cờ

Đừng nói trước để anh buồn vơ vẩn

Có đi qua xin em đừng đánh phấn

Tóc buông rèm lứa tuổi thích ô mai

Mắt vương tơ của những phút học bài

Tay kheo khéo khi đánh chuyền với bạn

Em dấu đi những nỗi lòng vỡ rạn

Anh cũng thề giấu hết gió mưa đi

Bao nhiêu ánh đèn rũ rượi tái tê

Những ngõ vắng tối tăm anh giấu hết

Có một điều hơi lạ là, tất cả những người làm thơ của chúng ta, được coi như tối tân nhất, cuối cùng cũng đều trở lại với thơ lục bát. Hoàng Anh Tuấn cũng vậy:

Hương còn ngấn ẩm trên môi

Ươm hơi rừng cũ đượm mùi gỗ xưa

Mượt lá đợi, rong rêu chờ

Sững im cương thạch, quanh co ôn tuyền

Ru em vào giấc hoang đường

Cũng nhân gian, cũng tầm thường nhỏ nhen

Cũng ưu tư, cũng muộn phiền

Cũng cô đơn lúc chúng mình chưa quen

Ru em vào giấc thần tiên

Cũng ngày mòn mỏi, cũng đêm ngậm ngùi

Cũng kiêu sa, cũng giận đời

Cũng yêu thơ của một người giống anh

Thơ tình có nhiều loại:

– vì người tình mà được làm ra và,

– vì tình mà được làm ra.

Thơ Hoàng Anh Tuấn có lẽ thuộc loại thứ hai. Nhưng nói tới thơ Hoàng Anh Tuấn không thể bỏ qua bài Lửa Ở Ngã Tư Đường ông sáng tác ngay hôm Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Đó là một trong những bài thơ hay nhất của ông [nhưng lại không thấy có trong sách].

Bài Thơ Hà Nội

Em Hà Nội Hàng Đường trong giọng nói

Để Hàng Bông êm ái lót cơn mơ

Thương những buổi chiều Bác Cổ ngày xưa

Anh nắn nót một Trường Thi lãng mạn

Thơ thuở bé khắc ghi tình Ngõ Trạm

Hàng Cỏ ơi, nét thảo có mờ phai

Theo bước chân từng buớc Hàng Hài

Yêu Hàng Lược chải mềm hương mái tóc

Thương dĩ vãng chiều Cổ Ngư trốn học

Hồn ngây ngô theo điệp khúc Hàng Đàn

Hàng Guốc trưa hè gõ nhịp bình an

Khi Hàng Nón quay nghiêng che mắt nhỏ

Anh lúng túng cả Đồng Xuân xấu hổ

Gió mơn man Hàng Quạt, áo đong đưa

Đây Hàng Khay anh đưa tặng bài thơ

Em hốt hoảng chợ Hôm vừa tắt nắng

Thơ bay lạc hồn anh là Hàng Trống

Nghe Hàng Gai cùng mũi nhọn buồn đau

Ôi Hàng Ngang tội nghiệp mối tình đầu

Anh hờn giận mơ Hàng Buồm lãng tử

Em Hà Nội dáng Sinh Từ thục nữ

Tìm đến anh Hàng Giấy mỏng tương tư

Nghe khơi buồn sông Tô Lịch ngẩn ngơ

Thơ giầu có như thương về Hàng Bạc

Hàng Vôi đó nồng nàn trong ngây ngất

Ý Hàng Đào chín mọng trái môi chia

Xin Hàng Than rực cháy lửa đam mê

Khi quấn quýt trong ái ân Hà Nội

Những bàn tay vô hình

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on December 21st, 2020

Post by Sơn râu 20 Aug 2025

Trong khi tin tức toàn cầu trong năm 2020 này không ngừng nói về ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 thì ở đâu đó, những câu chuyện về lòng tốt của những người bình thường, xa lạ với những hy sinh, quan tâm chia sẻ thầm lặng đến người khác cũng trở nên phổ biến hơn. Câu chuyện về tổ chức thiện nguyện “Invisible Hands” – “Những Bàn Tay Vô Hình” do ba sinh viên trẻ tuổi đôi mươi khởi xướng là một trong những câu chuyện đẹp năm nay.

“Invisible Hands” bắt đầu từ một mẩu viết ngắn đăng lên trang Facebook cá nhân với nhã ý muốn giúp đỡ lấy hàng, lấy thuốc bất vụ lợi giùm những người cao niên sống đơn độc trong khu vực khi Covid-19 bắt đầu lan rộng khắp New York hồi tháng Ba năm nay. Chỉ trong vòng ba tháng đã có hơn mười ngàn thiện nguyện viên tại khắp các thành phố lớn nước Mỹ tình nguyện tham gia vào “Invisible Hands” và giao chuyển thực phẩm, thuốc men và các nhu yếu phẩm đến những người có nhu cầu.

Câu chuyện bắt đầu từ Liam Elkind, một sinh viên năm thứ ba 20 tuổi tại đại học Yale với một người bạn trong gia đình là Simone Policano, 25 tuổi – cũng là cựu sinh viên ÐH Yale và Healy Chait, một sinh viên tại đại học New York khởi xướng. Khi dịch bắt đầu và trường học đóng cửa, Liam nhận thấy có nhiều người quanh mình, đặc biệt với những người cao niên rủi ro với Covid, rất cần sự giúp đỡ qua câu chuyện tình cờ với một bà cụ thèm rau quả tươi nhưng không thể đi mua. Anh lặng lẽ đi mua một túi xà-lách và cam tươi đến đặt trước nhà bà, bấm chuông rồi đi về.

Những người sáng lập từ trái: Simone Policano, Healy Chait và Liam Elkind – nguồn InvisibleHandsdeliver.org

Cha của Liam là một bác sĩ và anh đã chứng kiến cha mình cùng những nhân viên y tế đã làm việc không mệt mỏi trong cơn dịch như thế nào để cứu những người khác. Ðiều đó đã thôi thúc thêm vào con người Liam mong muốn được tiếp tay phần nào.

Từ việc giúp đỡ bà cụ, Liam và Simone đã lập một trang mạng để những người cần đến sự giúp đỡ như đi lấy giùm thuốc, mang thực phẩm, hàng nhu yếu ở chợ về giùm rồi lấy tiền lại. Chỉ trong ba ngày đầu tiên đã có hơn ngàn người, phần lớn là sinh viên học sinh, giới trẻ đã hưởng ứng lời kêu gọi, tình nguyện giúp đỡ miễn phí cho người già. Họ in các tờ rơi bằng nhiều ngôn ngữ, đến nay là 16 ngôn ngữ để phát tán rộng rãi cho những người có nhu cầu cần giúp được biết hay gọi điện thoại nếu không sử dụng được máy điện toán.

Liam Elkind, mua hàng dùm bà Carol Sterling, 83 tuổi, người đang tự cách ly trong căn hộ của mình ở New York do dịch coronavirus bùng phát. photo AP / Jessie Wardarski

Khi số tình nguyện viên và người cần giúp đỡ tăng cao, Liam và Simone bắt đầu thiết kế trang mạng với các hướng dẫn chi tiết và rõ ràng hơn, các điều kiện giữa an toàn cho nhau cũng chi tiết hơn. Người cần giúp đỡ vào trang mạng của anh để yêu cầu và điền chi tiết họ muốn lấy thuốc, thực phẩm ở đâu. Họ có thể tự gọi điện thoại để đặt hàng và người thiện nguyện chỉ đến lấy và mang về cho họ hay họ có thể chuyển tiền cho những người thiện nguyện làm giúp. Ðịa chỉ của họ sẽ được trang mạng tự động tìm ra và chuyển đến những thiện nguyện viên cùng sống trong khu vực của họ giúp đỡ, kiểu như ứng dụng gọi xe tương ứng của Uber.

Lòng tốt nảy nở như những đóa hoa rực rỡ sau cơn mưa Xuân. Invisible Hands nhận được sự hưởng ứng ra đến nước ngoài khi các thanh niên các quốc gia sở tại này cũng muốn tham gia vào hoạt động thiện nguyện này, sang đến Châu Âu và về đến Châu Á. Hoạt động của họ cũng đồng thời thu hút sự chú ý của giới truyền thông quốc gia và quốc tế khi đưa tin, phỏng vấn những thanh niên trẻ đồng sáng lập tổ chức. Các mạnh thường quân cũng ủng hộ tài chính để Invisible Hands có thể duy trì sự hoạt động của mình.

Liam Elkind khử trùng túi giấy hàng tạp hóa trước khi giao cho Carol Sterling – Photo AP / Jessie Wardarski

Trả lời phỏng vấn trên tờ báo trường Yale, Liam kể có một bác sĩ trẻ đang làm nhiệm vụ cứu chữa các bịnh nhân nhiễm Covid-19 cũng gọi anh để tham gia thiện nguyện việc giao hàng miễn phí. Anh bảo câu chuyện của vị bác sĩ làm việc theo ca 19 tiếng đồng hồ nhưng vẫn muốn tham gia công việc thiện nguyện đã tạo cho anh một ấn tượng tuyệt đẹp về hành động của những con người bác ái và thầm lặng luôn có nhiều ngoài kia.

Việc bớt giới hạn sự đi lại trong vài tháng qua đã giúp cho nhiều người già có thể tự mình đi lấy thuốc, đi chợ, mua sắm thì Invisible Hands mở rộng hoạt động của mình khi hợp tác với các tổ chức thiện nguyện, các ngân hàng cung cấp thực phẩm miễn phí, các tổ chức tôn giáo để chuyển đồ đến những người vô gia cư hay kém may mắn, đang cần trợ giúp thực phẩm, đồ dùng.

Invisible Hands là câu chuyện không chỉ về những sẻ chia, quan tâm đến người khác mà ở mặt nào đó, nó là một ví dụ về các phong trào và sự tụ tập số đông cho mục đích nào đó trong thời đại thông tin. Có hàng ngàn, hàng triệu người tốt bụng như vị bác sĩ trẻ kể trên sẵn sàng bỏ thêm thời gian và công sức cho những việc làm ý nghĩa, có những nguồn tài lực dồi dào có sẵn để giúp đỡ cho những phong trào có mục đích cao đẹp. Còn lại là cách tiếp cận để tận dụng nguồn nhân lực và tài lực này qua các ý tưởng sáng tạo và giải pháp cho hành động như thế nào.

Nguồn Invisible-Hands-NYC

Bởi con người có khi không nhận được những cái đẹp và giá trị của chính mình cho đến khi nó có cơ hội được bộc phát hay được phản chiếu lại chính mình qua tấm gương hành động của lòng yêu thương, hy sinh từ người khác.

Từ những kinh nghiệm và ý tưởng cá nhân, nhóm bạn tuổi đôi mươi của Liam Elkind chắc chắn sẽ còn đi xa hơn với một tổ chức thiện nguyện quy củ, có đường hướng phục vụ xã hội như vậy. Liam bảo rằng, “Trong một giai đọan đầy khó khăn, nhiều người đã sợ hãi và cô đơn, họ cần sự gắn kết và cảm thông. Tất cả mỗi chúng ta đều rất tách biệt trong cộng đồng và một trong những điều chúng ta cần là sự gắn kết xã hội. Ðây là một cơ hội để giúp họ có được kết nối xã hội và mang mọi người lại với nhau”.

Lồng trong những bàn tay vô hình, những con người thầm lặng là những tấm lòng yêu thương hiển hiện luôn hiện diện trong đời sống. Bởi những gì Invisible Hands làm không phải xuất phát từ đôi tay mà là những con tim bác ái biết quan tâm chia sẻ.

ĐYT

Cao Đông Khánh. nhà thơ đốt lửa bên trời

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

July 15th, 2022

Post by Sơn râu 20 Aug 2025

Cao Ðông Khánh là khuôn mặt thi ca nổi bật trong văn học hải ngoại. Ông sinh năm 1941 tại An Phú Ðông, Gia Ðịnh, Việt Nam. Từng tham gia chiến đấu trong quân ngũ Việt Nam Cộng Hòa, bị mất một mắt năm 1964. Ði du học Hoa Kỳ năm 1966-1971.Từng chủ trương Echo of Vietnam, đài KQED, San Francisco năm 1969. Làm thương mại tại Cao Ðồng Hưng Inc., Phú Thọ Inc., năm 1971-1975. Ở Việt Nam, nhà thơ bị giam trong tù nhiều lần với nhiều tội danh các năm 1975-1979. Vượt biển đến Mã Lai tháng 6 năm 1979, đến Hoa Kỳ cuối năm 1979.

Làm thơ từ thuở thiếu niên, không ưng ý, tự đốt sạch hết vào năm 1975. Tiếp tục làm thơ năm 1976. Thơ xuất hiện lần đầu trên tạp chí Quê Hương, California 1980. Trong ban biên tập chủ lực Nhân Chứng 1981, Văn 1983. Có thơ, truyện ngắn, tạp văn, tác phẩm Lịch Sử Tình Yêu, Nhân Chứng xuất bản 1981.

Nổi bật nhất trong các tác phẩm của Cao Ðông Khánh là tập thơ Lửa Ðốt Ngoài Giới Hạn.

Nguyễn có những kỷ niệm đáng nhớ với Cao Ðông Khánh. Lần đầu gặp Khánh là vào khoảng cuối những năm 1990 ở Houston. Ðó là vào dịp Lê Uyên và Phương hát ở Ðại Học Rice trong chương trình Màu Thời Gian do Ngu Yên dàn dựng, có mời Nguyễn tới dự. Trong buổi diễn, Lê Uyên Phương giới thiệu tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa của Nguyễn vừa xuất bản và mời tác giả lên sân khấu. Lúc đi xuống thì bỗng nhiên một anh chàng hảo hớn tới gặp và tự giới thiệu là Cao Ðông Khánh trao tặng mình tập thơ Lửa Ðốt Ngoài Giới Hạn. Kể từ đó Cao Ðông Khánh và Nguyễn còn gặp nhau nhiều lần nữa. Lần cuối là chuyến đi Minnesota, Khánh thuê xe từ Houston ghé qua Dallas chở mình và Dung cùng đi. Tới nơi, ghé nhà Phan Thanh Tâm ăn uống rồi qua nhà Tô Thùy Yên và hôm sau dự buổi hội ngộ giới thiệu Thơ Cao Ðông Khánh. Còn nhớ mình từng phát biểu:

“Nghĩ tới Cao Ðông Khánh, một lần tôi đã viết: Một người bao năm vẫn không quên căn cước tị nạn của mình. Ðó là nhà thơ Cao Ðông Khánh, tác giả Lửa Ðốt Ngoài Giới Hạn, nổi tiếng một thời. Thơ của Khánh là lịch sử thuyền nhân dưới những góc nhìn táo bạo, khốc liệt nhưng vẫn tiềm ẩn hồn thơ. Nhớ một lần Cao Ðông Khánh nói với Nguyễn khi nghĩ tới việc đi đọc thơ ở các Ðại Học như Harvard University chẳng hạn: Chúng ta phải mau mau chiếm lãnh sân khấu kẻo mai đây khi những kẻ ngoại đạo kia tràn ngập sẽ không còn không khí để thở. Tiếc thay, Cao Ðông Khánh đột ngột bỏ anh em ra đi ngày 13 tháng 12 năm 2000, tại thành phố Houston.

Cao Đông Khánh

Xin ghi lại đây đôi điều nữa về thơ Cao Ðông Khánh

Khi mình ra báo Phố Văn vào năm 2000 nói chuyện với Khánh và bạn đã gởi ngay bài thơ Trăng Trong Vịnh Frisco. Ðây là bài thơ cuối cùng bạn cho in trước khi từ giã anh em ra đi. Ðúng vậy. Bài thơ đã mở đầu như một lời từ biệt: Hắn đã đến. Ðã ở. Ðã đi / Trống thêm một chỗ trống.

Nghĩ tới Cao Ðông Khánh, một lần Nguyễn tôi đã viết: “Một người bao năm vẫn không quên căn cước tị nạn của mình. Ðó là nhà thơ Cao Ðông Khánh, tác giả Lửa Ðốt Ngoài Giới Hạn, nổi tiếng một thời. Tiếc thay, Khánh vội ra đi và Nguyễn đã không giữ được số báo có bài thơ của Cao Ðông Khánh. Trong trí nhớ mù sương của mình chỉ còn lại dăm câu như những đốm lửa trời.

Gần đây, viết thư cho Nguyễn Vy Khanh, hỏi có còn giữ được bài thơ Trăng Trong Vịnh Frisco của Cao Ðông Khánh không (NVKhanh có viết một bài về CÐK trong đó có trích dẫn mấy câu của bài thơ). Ngay hôm sau, Nguyễn Vy Khanh scan bìa báo Phố Văn số 5 tháng 12 năm 2000 và bài thơ của Cao Ðông Khánh in trên báo. Mừng ơi là mừng. Trước hết vì cái tình với Cao Ðông Khánh sau nữa đây là bài thơ cuối cùng của Khánh mà lại là bài thơ hay. Xin cám ơn Nguyễn Vy Khanh, muôn vàn cảm ơn.”

Du Tử Lê sinh thời cũng là người yêu thơ Cao Ðông Khánh. Trong bài viết Thơ Cao Ðông Khánh, nhánh sông khác, nhà thơ họ Lê hạ bút: “Trước bảy lăm, không có Cao Ðông Khánh. Sau tám mươi, cũng không thể có một Cao Ðông Khánh khác. Như chính họ Cao cho biết, lớn lên giữa một cơ ngơi đồ sộ, Cao Ðông Khánh được chuẩn bị để trở thành một tài phiệt. Cao Ðông Khánh tự dọn mình để trở thành một “xì thẩu” hạng bự, tham vọng ngang hàng những tầm cỡ làm ăn quốc tế. Trước bảy lăm, Cao Ðông Khánh, là một thứ Hắc Công Tử hay Bạch Công Tử của thời đại mới. Cao Ðông Khánh của những canh bạc thâu đêm, của những tiệc rượu suốt sáng. Văn chương và chữ nghĩa, không chiếm cứ một diện tích nhỏ bé nào trong tâm trí trùng điệp con số, của Cao Ðông Khánh. Trước 75, thi ca không là mối ưu tư trong trí lự của một Cao Ðông Khánh. Vậy mà, đột nhiên ở những ngày tháng đầu tiên của thập niên 80, thơ Cao Ðông Khánh xuất hiện như những cơn mê sảng. Những dòng thơ đổ mồ hôi trộm trong những đêm về sáng. Giựt mình thức giấc giữa đất, trời xa lạ.

Ðiều gì ném ông theo vòng quay 180 độ như vậy? Phải chăng vì 1972, họ Cao trở về Sàigòn. Kẹt lại sau tháng 4-1975. Ði tù. Vượt biển 1979. Và, ông là một trong những nạn nhân thứ nhất của chín tầng địa ngục hải tặc, biển Ðông?

Ðổi thay tận tuỷ, tróc vỡ tự xương, đem Cao Ðông Khánh đến với thi ca.

Thi ca lại đem đến cho họ Cao những chê bai, những phê bình bằng nụ cười ngất ngất và cùng lúc, kinh ngạc, sững sờ. Bầu khí văn chương lưu vong ảm đạm, bỗng ầm ì dao động. Ðó là thời điểm đầu thập niên 80. Thời điểm sinh hoạt văn học Việt Nam, quê người, gần như tắt thở. Gần như khô héo, với Nguyên Sa, mới trở lại Hoa Kỳ, từ Pháp. Thanh Nam ở Seattle. Mai Thảo vừa tới đảo. Vũ Khắc Khoan ở Minnesota. Ngọc Dũng ở Hoa Thịnh Ðốn. Mặc Ðỗ ở Texas. Võ Phiến vừa dọn về Los Angeles từ Minnesota. Lê Tất Ðiều chọn ở San Diego… Tất cả hầu như không còn viết nữa. Hoặc có viết mà, không muốn đưa ra (?)

Lớp người mới, cầm bút sau biến cố 30-4, cũng chưa đông đảo. Ðội ngũ thưa thớt này, đa số chọn thi ca, làm đất trời để tung hoành, để thi thố tài năng; như một hốt hoảng trước bơ vơ, nhiều hơn một chọn lựa tử sinh, trí tuệ.

Có dễ vì thế, không một tên tuổi nào, cho thấy triển vọng bứt, thoát khỏi những người đồng hành. Giữa cảnh tình ấy, thơ Cao Ðông Khánh, xuất hiện. Bài thơ đầu tiên của Cao Ðông Khánh được in trên tuần báo Quê Hương, xuất bản ở miền nam California.

Cao Đông Khánh – tranh Đinh Cường

Cao Ðông Khánh hiện ra với những câu thơ bị một số người đọc cho là vô nghĩa. Những câu thơ không hề cho thấy mối bận tâm về văn phạm, chính tả.… Nhưng lạ lùng thay, đâu đó, giữa thế giới thi ca ngổn ngang, hà rầm kia, thơ họ Cao lại rất giầu có những danh từ mà, những người làm thơ cùng thời hoặc, trước ông, ít dùng hoặc, không hề ngó ngàng. Ở đây, phải nói tới sự táo tợn, bất ngờ tới kinh ngạc mang tên Cao Ðông Khánh.

Nếu trước tháng 4-75, không ít người sững sờ với thơ của Trần Thy Nhã Ca, khi Nhã Ca nói về những chuyển động tâm lý của mình trong chu kỳ kinh nguyệt; thì, Cao Ðông Khánh trong hồn cảnh đặc biệt của ông – – Hồn cảnh vượt biển tỵ nạn – – Ðã đề cập tới những phụ nữ thuyền nhân, giấu của cải, kim cương, hột xoàn trong âm hộ…

Trong bài “Hạt Kim Cương Di Tản,” Cao Ðông Khánh viết, từ tư cách một nhân chứng, đúng hơn, một nạn nhân sớm sủa của biển Ðông, của hải tặc:

một người ngồi hát trong trại tỵ nạn

những vết muỗi đỏ trên thân thể nàng

những chỗ rối rắm những chỗ chí rận

giấu trong chỗ kín một hạt kim cương

một hạt kim cương lọt vô tử cung

những cuộc bạo dâm đứt dây trí nhớ

cây lá một ngày trổ trái héo hon

đứa trẻ sơ sinh dính đầy cát bụi.

Cũng là Cao Ðông Khánh, khi ví quần áo lót của người nữ, bay phất phới, như cờ xí. Và, cũng Cao Ðông Khánh với ngôn ngữ miền Nam, thứ văn nói, đã chi phối hầu như, cùng khắp cõi thơ họ Cao.

Sàigòn Chợ Lớn mưa như chớp

nát cả trùng dương một khắc thôi

chim én bay ngang về Xóm Chiếu

nước ròng ngọt át giọng hàng rong

hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược

trái cây quốc cấm giấu trong lòng

hỏi thăm cho biết đường ra biển

nước lớn khi nào tới cửa sông?

Sàigòn Khánh Hội gió trai lơ

khi ấy còn tơ gái núi về

đào kép cải lương say tứ chiếng

ngã tư Quốc Tế đứng xàng xê….

Hoặc:

em hãy kể tôi như trái cây lột vỏ

để quá đêm ngày hôi gió thịt xương tôi

như gái tỉnh lẻ thất thân nơi thị trấn

lỡ một lần lỡ thêm nữa chẳng sao!

Chúng ta khó thể phủ nhận rằng, ngôn ngữ đường phố, địa phương rất ít được sử dụng trong văn chương 20 năm, miền Nam. Bất thành văn, một số người cho rằng, văn nói của miền Nam thiếu chất thơ, nếu không muốn bảo là không có thi tính, nói theo ngữ học. Thậm chí, những thi sĩ sinh trưởng ở miền Nam, điển hình như nhà thơ Tô Thùy Yên, cũng không dùng nhiều ngữ vựng đặc thù của vùng đất này. Nhưng, ở Cao Ðông Khánh, ông đã chứng minh, điều ngược lại.

Chỉ trong cõi thơ Cao Ðông Khánh, người ta mới bắt gặp văn nói Nam bộ rặt và, những hình ảnh tiêu biểu lục tỉnh, miền Nam máu thịt của chúng ta…

Một cách ngắn, gọn, tôi muốn nói, thơ ông, tựa một nhánh sông khác. Một nhánh sông gần như không có khởi nguồn nhưng, cùng chảy vào biển văn học Việt Nam, nơi đất nước người.” DU TỬ LÊNgu Yên trong sách Nháp Về Thơ Hải Ngoại 1975-2025, đã nhận định về thơ Cao Ðông Khánh:Bất kỳ một dòng thơ nào có căn cước chứng minh, có nét độc đáo để nhận diện, đều phải có tác phẩm nổi bật và tác giả phẩm hạng.

Cao Ðông Khánh là một trong vài nhà thơ trong giai đoạn đầu tiên sau 1975, xứng đáng làm dấu ấn cho dòng thơ hải ngoại qua ba sắc diện: 1. chống chế độ cộng sản, 2. hoài hương và 3. hội nhập. Phần thơ mang tâm trạng hoài hương vượt trội hơn hết.

Bạn đọc thơ, có bao giờ tự hỏi:

– Thơ Cao Ðông Khánh “hay” ở chỗ nào? Nói một cách kỹ thuật hơn, giá trị của thơ ông ở đâu?

– Vì sao tôi chọn Cao Ðông Khánh làm nhà thơ mở đầu cho cuốn sách Nháp Về Thơ Hải Ngoại 1975-2025? Thay vì nhà thơ Cao Tần, hoặc những nhà thơ chống cộng kịch liệt trong thời điểm di tản – vượt biên như Hà Huyền Chi, hoặc nhà thơ sáng tác trường giang tình tự như Du Tử Lê…

Bởi thơ họ Cao nổi bật: 1. thuật ngữ lạ lẫm, 2. tứ thơ biến ảo, 3. thẩm mỹ bao gồm tính và nét Ðông lẫn Tây, 4. thể hiện lịch sử, xã hội cố xứ và tha hương, 5. văn hóa chủ bàng bạc tự nhiên trong văn hóa khách. Trên hết, những điều vừa kể kết hợp với ý tưởng về nỗi “mơ hồ” đã tạo ra tầm vóc thơ của ông…NGU YÊN

Cao Ðông Khánh ra đi đã ngoài 20 năm. Thỉnh thoảng thơ ông còn được đọc đây đó khi nhớ lại một thời kỳ khốc liệt. Mãi mãi đó là chứng tích lịch sử.

NGUYỄN & BẠN HỮU

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Post by Sơn râu 20 Aug 2025

Chương 2

Kissinger, ông là ai?

New York là thành phố “không bao giờ ngủ”. Từng dẫy cao ốc chọc trời. Đường phố rộng thênh thang, xe cộ chạy như mắc cửi. Mỗi khi phải đi băng qua phố ở những chỗ không đèn báo hiệu là cả một vấn đề khó khăn. Nếu vì lý do gì lại phải đợi có ai đi qua để cùng theo thì lại càng mất thời giờ. Uy thế mà cậu bé Heinz luôn luôn làm như vậy. Mới lớn lên mà đã rất cẩn thận. Mỗi khi phải qua phố, cậu luôn chờ xem có đám trẻ nào đi qua thì mới theo sau.

Cậu bé di cư từ làng Bavaria.

Đầu Thế chiến thứ hai nhiều người gốc Do Thái từ nước Đức sang tìm tự do tại Hoa kỳ, trong đó có gia đình cậu Henry Kissinger. Tên thật của cậu là Heinz Alfred Kissinger. Heinz đổi ra Henry từ khi sang Mỹ. Sinh trưởng ở làng Bavaria, thuộc vùng Furth ngày 27 tháng Năm, 1923. Lên bảy, làng cậu đã bị đám thanh niên theo Hitler quấy nhiễu. Heinz và các bạn trẻ Do Thái bị trẻ con trong làng đánh đập thường xuyên

1. Cậu sợ đến nỗi là dù đã tới đất của Nữ thần Tự do rồi mà vẫn luôn luôn nhút nhát, lúc nào cũng giữ thế thủ. Gia đình cậu được di cư sang Mỹ vào tháng Tám, 1933.

Thoát chết, vì chỉ ba tháng sau đó, trong một đêm gọi là “Đêm pha lê” (Crystal Night), đoàn “Thanh niên Hitler” cùng quân đội đã ào ạt tấn công một cách man rợ vào cư dân Do Thái khắp nước Đức. Trong số 3.000 dân Do Thái ở vùng Furth, chỉ còn đếm được có 70 người lúc chiến tranh kết thúc năm 1945.

2. Tới Mỹ, gia đình cậu Henry cư ngụ tại New York, sinh hoạt bình thường như những gia đình di cư khác. Ngay từ lúc còn học trung học, Henry đã tỏ ra là một học sinh xuất sắc.

Tiến sĩ Kissinger

Trưởng thành, Kissinger đi quân dịch và nhập trại huấn luyện ở tiểu bang North Carolina vào tháng Hai, năm 1943. Tới tháng Sáu cùng năm ông được nhập tịch, trở thành công dân Hoa kỳ. Sau khi giải ngũ, Kissinger được nhận vào đại học Harvard. Và đỗ tiến sĩ với điểm ưu hạng. Vừa học giỏi, Kissinger lại được một giáo sư nổi tiếng là William Elliott đỡ đầu. Ông Elliott cho Kissinger đảm nhiệm chương trình “Hội thảo chuyên đề quốc tế Harvard” (Harvard International Seminar). Chương trình này được tổ chức vào mỗi mùa hè để các chính khách, học giả từ các nước tới trao đổi về các vấn đề quan trọng. Đây là cơ hội quý giá cho Kissinger gặp nhiều yếu nhân từ khắp nơi. Và ông bắt đầu được biết đến từ lúc đó

3. Năm 1957, ông cho xuất bản cuốn sách “Vũ khí nguyên tử và chính sách ngoại giao” (Nuclear Weapons and Foreign Policy), một cuốn sách được liệt vào hàng bán chạy nhất năm đó. Cuốn này phản ảnh tư tưởng của ông về sự xung đột liên tục trên thế giới giữa phe bảo thủ và phe cách mạng. Nhưng làm sao tránh được một cuộc chiến tranh nguyên tử toàn diện giữa Hoa kỳ và Nga Xô? Ông đề nghị một chính sách “chiến tranh nguyên tử giới hạn” để theo đuổi một mục đích cũng giới hạn. Đọc cuốn sách này, Nixon và đồ đệ của ông đã rất khâm phục.

4. Cơ hội tiến thân.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1968, ai là người đã cho phía Nixon biết hết những bí mật về kế hoạch của Tổng thống Johnson tại Hoà đàm Paris? Người đó chính là Kissinger

5. Ông có nhiều mối liên lạc với những chuyên gia về ngoại giao trong Chính phủ Johnson vì chính ông đã làm tư vấn bán thời gian cho họ về vấn đề Việt nam. Biết vậy nên ông Richard Allen, trong ban tham mưu về ngoại giao của ứng cử viên Nixon, đã liên lạc với Kissinger để dò xét xem phía Dân chủ đang mưu tính những chuyện gì về kế hoạch hoà bình. Kissinger liền xác định với Allen là mình có nhiều bạn bè và đồng liêu hiện đang làm việc ngay tại Hoà đàm Paris (bắt đầu từ tháng Năm, 1968). “Tôi có cách liên lạc với họ”, Kissinger quả quyết. Và ông đã làm như vậy.

Phía Nixon được ông khuyến nghị là phải đề phòng vì: “Johnson đang chuẩn bị ngưng dội bom, và sẽ tung con bài bất ngờ ra trước ngày bầu cử”. Trong tập hồi ký, chính Nixon cũng xác nhận việc này và tiết lộ một văn thư của phụ tá Haldeman thuật lại báo cáo của Kissinger gửi ông Mitchell (người điều hợp ban tham mưu của Nixon rồi Tổng trưởng Tư Pháp) nói trước mưu lược của Johnson: “Nguồn tin của chúng tôi cho việc chống đối ngưng ném bom là không thực tế, nhưng khuyên ta phải để tâm tới sự kiện là việc đó có thể xảy ra – nghĩa là ta nên tiên liệu trước việc đó – và nhất định là ta phải chuẩn bị cho cái lúc mà việc đó xảy ra. Nguồn tin của chúng tôi vô cùng quan ngại về những nước cờ sắp tới của Johnson, và tiên đoán rằng Johnson sẽ có một hành động nào đó trước ngày bầu cử”

6. Bà Anna Chennault kể lại là vào thời điểm đó, bà đã không biết rõ “nguồn tin của chúng tôi” là ai. Mãi về sau này, ông Mitchell mới tiết lộ cho bà tông tích của “nguồn tin”: đó là Henry Kissinger. Khoảng 12 giờ trước khi Johnson ngưng ném bom, Kissinger đã gọi cho Allen để thông báo một tin sốt dẻo: tại Paris, hai ông Harriman và Vance, lãnh đạo phái đoàn Hoa kỳ tại hoà đàm, đã mở rượu xâm banh ăn mừng rồi! Mọi vấn đề liên hệ đã điều đình xong, và việc ngưng ném bom sẽ được tuyên bố sớm

7. Về hành động này của Kissinger, ký giả Seymour Hersh (người nổi tiếng về tiết lộ vụ Mỹ Lai) bình luận: khi đem những thông tin từ Paris cho phía Nixon, không những Kissinger đã lạm dụng tình đồng liêu nhưng còn phản bội những người mà ông đã từng cộng tác về những cố gắng đàm phán bí mật”

8. Sau khi đăng quang, Tổng thống Nixon đã lựa chọn ông vào chức Cố vấn an ninh Quốc gia. Nixon viết thẳng ra trong hồi ký của ông rằng “Trong những ngày cuối cùng của cuộc bầu cử, khi Kissinger cung ứng cho chúng tôi những tin tức về việc ngưng ném bom, tôi đã thấy được rõ hơn nữa, về sự hiểu biết sâu rộng và ảnh hưởng của ông ta… tôi có một trực giác mạnh về Henry Kissinger”

9. Trong cương vị Cố vấn của Tổng thống, Kissinger chẳng mấy lúc đã nắm được trọn quyền hành về ngoại giao, qua mặt cả Ngoại trưởng William Rogers. Và sau cùng, ngày 22 tháng Tám 1973, Tổng thống Nixon còn chọn ông làm Ngoại trưởng thay ông Rogers (từ chức ngày 16 tháng Tám). Và Kissinger đã trở thành người di cư đầu tiên lên tới chức vị này. Quan trọng hơn nữa, ông cũng là Ngoại trưởng đầu tiên kiêm cả chức Cố vấn Tổng thống về An ninh. Sau khi Nixon từ chức, ông Ford lên kế vị (ngày chín tháng Tám 1974), lại cũng tiếp tục bổ nhiệm Kissinger kiêm luôn hai chức như cũ. Tới tháng 11, 1975 (bảy tháng sau khi Miền Nam sụp đổ) ông Ford mới rút lại chức Cố vấn. Như Kissinger đã tự thuật sau này là: ông đã kịch liệt phản đối việc ấy vì làm cho người ta nghi ngờ về địa vị của ông. “Và trong mấy tuần, tôi còn có ý định từ chức nữa”

10. Trong tám năm trời và dưới hai thời Tổng thống, ông Kissinger đã nắm toàn quyền về ngoại giao Hoa kỳ. Chắc chắn lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng trong một thời gian là sáu năm ba tháng (lừ 20 tháng Giêng 1969 tới 30-4-1975), tức là gần một phần ba thời gian tồn tại của Việt nam cộng hoà, Kissinger đã đóng vai trò then chốt trong cả việc Mỹ tháo gỡ và việc Mỹ bỏ chạy ra khỏi Miền Nam.

Chuyên gia tư vấn: từ Dân chủ sang Cộng hoà.

Tư vấn cho Đảng Dân chủ. Đầu thập niên 1960, Kissinger theo đảng Dân chủ và được làm tư vấn bán thời gian cho bộ Ngoại giao về vấn đề Âu châu thời Tổng thống Kennedy. Tới thời Tổng thống Johnson, ông còn tư vấn thêm cả về vấn đề Việt nam, đặc biệt là trong một công tác được gán hiệu là “Pennsylvania”. Trong khi tham dự nhiều hội nghị quốc tế tại Paris, Kissinger có gặp một nhà vi trùng học người Pháp tên Herbert Marcovich. Marcovich cho biết ông có người bạn, một kỹ sư tên Raymond Aubrac, là chỗ quen biết với ông Hồ Chí Minh. Rất bén nhạy, Kissinger về Washington thuyết phục các cấp trên của ông dùng Aubrac làm đường dây với Hà Nội để điều đình. Chính phủ Johnson đồng ý và ngày 21 tháng Bảy 1967, hai người Pháp cùng với Kissinger bay ra Hà Nội gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng

11. Và đó là “Pennsylvania”, nguồn gốc của hoà đàm. Tháng Năm 1968, Cyrus Vance, đại diện Hoa kỳ và Hà Văn Lâu, đại diện Hà Nội đến họp tại Paris để thảo luận về chi tiết những cuộc hoà đàm về chiến tranh Việt nam. Tư vấn cho Đảng Cộng hoà. Khoảng năm 1964, Kissinger đổi sang Đảng Cộng hoà.

Trước hết là tư vấn cho Nelson Rockefeller, đối thủ của Richard Nixon. Nhà triệu phú Rockefeller, thống đốc tiểu bang New York, đã tuyển ông làm tư vấn về ngoại giao khi ra cạnh tranh với Nixon trong chức ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng hoà. Thời đó, Kissinger rất khinh miệt Nixon, cho ông này là người “nông cạn, tham quyền, chống cộng quá khích và có thể đưa Mỹ tới đụng độ nguyên tử với Nga Xô và Trung Cộng”. Ông còn nói với phe chống Nixon trước ngày họp Đảng “Con người Nixon đó không thích hợp để làm Tổng thống”. Để thuyết phục, ông thêm: “Trong ngần ấy những người ra tranh cử, Richard Nixon là con người nguy hiểm nhất nếu trở thành Tổng thống”. Thế nhưng, tại Đại hội đảng Cộng hoà, ngày 8-8-1968, ông Nixon được Đảng lựa chọn.

Khi thấy Rockefeller thất bại ngay lần bỏ phiếu đầu với số phiếu 277 so với 692 cho Nixon, Kissinger vô cùng buồn bã. Người ta kể lại rằng ông đã khóc. Ông còn nói: “Cái ông đó hả, ông ta không có quyền để cai trị”

12. Nhảy sang tư vấn cho Richard Nixon. Khinh miệt Nixon như vậy, mà khi ông này vừa được đảng Cộng hoà tuyển chọn, Kissinger xoay chiều ngay. Dù biết rằng Kissinger coi thường cấp trên của mình, ban tham mưu của Nixon cũng nhận ra tài năng của ông ta. Chính ông Nixon cũng biết về thái độ thù nghịch của Kissinger, nhưng ông cho rằng đó chỉ là chuyện chính trị trước bầu cử

13. Phía Cộng hoà liền đề nghị Kissinger cộng tác để làm việc cho đảng trong kỳ tuyển cử tới. Kissinger vui vẻ quá sức. Người ta cho đây là “cơ hội chủ nghĩa” ở đỉnh cao nhất của nó

14. Lúc đó, Nixon đang cần có một nhà tư tưởng, nhà quân sư như Mcgeorge Bundy, Arthur Schlesinger của Kennedy hay Walter Rostow của Johnson. Là một luật sư, tuy có nhiều kinh nghiệm thực tế về chính sách vì đã làm Phó Tổng thống thời Eisenhower, nhưng ông Nixon thiếu cách diễn tả lưu loát về ngoại giao và những quan niệm về cơ cấu quy mô của chính trị toàn cầu.

Về điểm này, chúng tôi cũng có nhận thức được phần nào, khi nghe ông Nixon tranh luận với ông Kennedy vào lúc bầu cử Tổng thống hồi tháng 11, năm 1960. Ngồi trong gian phòng giải trí dành cho sinh viên tại đại học Virginia, tôi được xem cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai ứng cử viên tại nước Mỹ trên truyền hình, tuy là TV đen trắng và nhỏ xíu. Chắc là ông Kennedy có những cố vấn ở đại học Harvard luyện cho trước cuộc tranh cãi, nên ăn nói lưu loát và bình luận về ngoại giao ở tầm lý thuyết cao. Còn ông Nixon thì mắt cứ chớp chớp, chỉ chống chế cho thành tích ngoại giao dưới thời Eisenhower. Sau cùng Nixon đã thất cử năm đó.

Tư vấn cho hai Đảng một lúc

Trong kỳ bầu cử 1968, khi Henry Kissinger ngấm ngầm làm việc với phía Cộng hoà qua Richard Allen, ông lại tiếp tục cộng tác với phía Dân chủ qua Zbigniew Brzezinski, người điều hợp về ngoại giao cho Humphrey. Tác giả Seymour Hersh trong cuốn The Price of power có dẫn chứng là Ted van Dyke, viên phụ tá thân cận của Humphrey có xác nhận chính ông đã là người tiếp nhận bức thư Kissinger viết cho. Humphrey vừa chỉ trích Nixon vừa xin tình nguyện làm việc với Chính phủ Humphrey. Trong một cuộc điện đàm với Brzezinski, Kissinger cho biết là ông có thể đưa cho xem cả hồ sơ riêng của Rockefeller về Nixon. Theo như lời Kissinger, đó là những “hồ sơ nhơ bẩn” (shitfiles) của Nixon

15. Và ông cứ đi hàng hai như vậy cho tới giữa tháng Chín khi những cuộc thăm dò dân ý cho biết Nixon đã bỏ xa Humphrey, lúc đó ông mới tỏ rõ thái độ, nghiêng hẳn về Nixon. Khi Brzezinski gọi điện thoại tới văn phòng Kissinger để hỏi xin hồ sơ này, cô thư ký trả lời: “Như ông đã biết, tiến sĩ Kissinger bây giờ đang làm việc cho ông Nixon rồi”. Và từ đó phía Humprey không nghe thấy gì về “shitfiles” của Nixon nữa

16.Vào đầu thập niên 1990, khi tôi có dịp quen biết với Richard Allen (trước đó là Cố vấn an ninh cho Tổng thống Reagan), trong cương vị là thành viên của Hội đồng quản trị Trung tâm nghiên cứu Á Châu (Asian Studies Center tại Heritage Foundation) do Allen làm Giám đốc, tôi tò mò hỏi xem ông nghĩ sao về việc đã giới thiệu Kissinger cho Nixon, Allen nhún vai, lắc đầu, như hối tiếc đã giúp cho tham vọng của ông này.

Lên chức Cố vấn Tổng thống.

Ngày 27 tháng 11, 1968, sau khi Nixon thắng cử, ông John Mitchell mời Kissinger tới căn phòng của Nixon ở lầu 39 khách sạn Pierre, New York để gặp Tổng thống tân cử. Nơi đây Nixon mời Kissinger làm Phụ tá an ninh quốc gia. Vui vẻ quá sức nhưng ông vẫn tỏ vẻ ngần ngại, nói là cần có thời gian để suy nghĩ.

“Được rồi, một tuần”, Nixon trả lời. Kissinger về hỏi ý kiến Rockefeller. Ông này đồng ý để tiến cử đệ tử mình. Ngày 20 tháng Giêng 1969, Nixon đăng quang, dọn vào Bạch Ốc. Kissinger dọn vào theo

17. Tổng thống Nixon là người muốn thành công ở lãnh vực ngoại giao nên muốn tập trung chính sách ngoại giao của Hoa kỳ vào toà Bạch Ốc, chứ không giao cho Ngoại trưởng như Tổng thống Eisenhower đã giao cho ông John Foster Dulles. Và như vậy cũng rất khôn ngoan. Quyền lực và danh vọng của một Tổng thống Mỹ thực ra chỉ được biểu lộ trong lãnh vực đối ngoại. Truman thả bom nguyên tử ở Hiroshima, Kennedy cho chiến hạm trực chỉ Cuba ép Krutschev gỡ hoả tiễn về. Và ngày nay, ông Bush Cha thả bom Baghdad, bắt Iraq rút khỏi Kuwait; ông Bush Con, đánh đuổi Taliban và Al Qaeda khỏi Kabul. Rồi chiếm Iraq, lại bắt được Saddam Hussein trốn trong hầm. Ngay chính bản thân Nixon, khi làm Phó cho Tổng thống Eisenhower cũng đã chỉ nổi tiếng về vụ “Kitchen Debate”, đốp chát với Krutschev ở trong một khu trưng bày đồ gia dụng nhà bếp tại hội chợ quốc tế ở Moscow.

Bây giờ lên dài, Nixon phải sáng chói. Cũng chỉ trong lãnh vực ngoại giao thôi. Vì trong thời hiện đại, có Tổng thống Mỹ nào nổi tiếng về vấn đề nội trị đâu? Nền kinh tế Mỹ như cái máy tự động, khổng lồ, chỉ làm sao đừng bị lạm phát (dưới 4%), giữ thất nghiệp cho thấp (khoảng 5%) là tốt rồi, đâu có làm phép lạ được. Xã hội thì đã có nền nếp; luật pháp thì đã thành khuôn, chắc như đanh đóng cột. Khó mà làm được gì nổi bật trong địa hạt chính sách đối nội. Ngược lại chỉ thấy nhức đầu: tăng thuế cũng bị chửi, giảm thuế cũng bị la. Tổng thống Johnson đã hái được nhiều thành quả trong nước, đặc biệt là đã để ý tới vấn đề xoá đói giảm nghèo, công bình xã hội, nhưng lại thất bại về mặt ngoại giao là chiến tranh Việt nam, nên rồi cũng chẳng đi đến đâu. Hiện giờ(2005) Tổng thống George Bush vừa thắng nhiệm kỳ hai, ông đặt ưu tiên cho chính sách đối nội là sửa đổi lại hệ thống “an ninh xã hội” (so- cial security system), nhưng rồi cũng sẽ gặp nhiều chống đối, và dù đa số ở Quốc hội là Cộng hoà, ông cũng sẽ phải đi đến thoả hiệp nếu muốn thành công. Và sau cùng thì kết quả về chiến tranh Iraq cũng vẫn là yếu tố quan trọng xác định địa vị của ông trong lịch sử.

Công cụ của quyền hành

Hiểu rõ nhu cầu của Nixon cần có thành quả ngoại giao, Kissinger lại có trong tay một cơ hội bằng vàng: đó là quyền điều khiển toàn bộ nhân viên làm việc cho “Hội đồng an ninh quốc gia” (National Security Council – NSC). Ông liền đưa ra một đề nghị để Nixon cho phép ông sửa đổi nó lại theo ý ông

18. NSC được thành lập từ 1947 để giúp Tổng thống điều hợp các vấn đề liên quan tới an ninh quốc gia. Về thực chất nó rất lỏng lẻo. Tôi còn nhớ từ khi du học ở Mỹ, dù là dưới thời Eisenhower, Kennedy hay Johnson, mỗi khi truyền hình chiếu những biến cố ngoại giao quan trọng vào phần tin buổi chiều thì đều thấy Ngoại trưởng hoặc Tổng trưởng quốc phòng lên trình bày. Bây giờ được Nixon ủng hộ, Kissinger sắp xếp lại để nó trở thành một công cụ tập trung quyền hành.

Guồng máy NSC được sửa lại thì giống như cái máy sàng lọc, mọi hồ sơ phải qua đây thì mới tới được bàn giấy Tổng thống. Ba cơ quan Ngoại giao, Quốc phòng, CIA có trách nhiệm phải nộp cho NSC các đề nghị về những giải pháp được cân nhắc kỹ lưỡng. Dựa theo đó, nhân viên làm việc tại NSC phải trình bày cho Tổng thống những lựa chọn và hậu quả về mỗi giải pháp và cho từng vấn đề.

Sự sắp xếp lại NSC cho phép Kissinger đóng hai vai trò: một là người điều hợp, tập trung các phân tích, đề nghị của các bộ về lãnh vực an ninh; hai là làm cố vấn cho Tổng thống về ngoại giao. Là người điều hợp, ông có quyền sàng lọc, thâu tóm các đề nghị. Quyền sàng lọc là quyền vô cùng quan trọng. Những điểm gì mình không thích hay không đồng ý thì có thể làm nhẹ đi, giảm tầm quan trọng của nó xuống, hay chỉ nói phớt qua thôi.

Ảnh hưởng của cố vấn cũng lợi hại. Có nửa ly rượu: nói đầy nửa ly cũng đúng hay vơi nửa ly cũng đúng, kiểu nào cũng được. Miễn là gần kề Tổng thống. Bộ Ngoại giao đã hết sức bất mãn, cho rằng Kissinger đã độc quyền hoá lãnh vực ngoại giao, nắm trọn vẹn quyền hạn đến nỗi một bộ lớn với 12 ngàn nhân viên, mà chỉ còn vai trò sắp xếp giấy tờ, hồ sơ. Nghị sĩ Stuart Symington còn bàn thêm rằng “Kissinger đã thực sự là Ngoại trưởng, trừ cái tên đó thôi”.

Tài nghệ ông Phụ tá

Ngoài tài ba về chính trị, ông Kissinger lại có tài hùng biện, rất khéo chơi chữ để nói quanh co. Chúng tôi còn nhớ có đọc một bài báo (mà không nhớ xuất xứ từ đâu) nói về điểm này và cho là Kissinger có nghệ thuật “làm sao không nói sự thực mà lại không là nói dối” (“how not to tell the truth with- but really lying”). Ông H. R. Haldeman, Đổng lý Văn phòng cho Tổng thống Nixon kể lại một câu chuyện khôi hài về tài của Kissinger. Hồi tháng 12, 1972, chính Kissinger là người đề nghị Nixon cho ném bom Bắc Việt vì ông đã tuyên bố “hoà mình đang trong tầm tay” (peace is at hand) hai tháng trước đấy mà bây giờ theo như ông nói, Hà Nội đã bội ước. Thế mà làm sao nhà báo James Reston lại viết trên tờ New York Times trái ngược lại. “Không thấy Kissinger nói gì công khai về vụ thả bom Bắc Việt cả, một hành động mà không hồ nghi gì là chính ông ta đã phản đối”. Nixon phẫn nộ, chỉ thị Haldeman tìm hiểu xem “Henry làm cái trò gì vậy” (find out what the hell Henry’s doing”).

Khi Haldeman hỏi, Kissinger đã chối phắt là ông đã chẳng nói với “bất cứ ai” về vụ thả bom. Ông quả quyết: “Tôi không cho ông Reston cuộc phỏng vấn nào cả. Sau đó Haldeman cho điều tra kỹ lưỡng và thấy rõ ràng là Kissinger đã nói chuyện với Reston. Quay lại cật vấn ông ta, Haldeman hỏi: “Ông nói với chúng tôi là ông đã không cho Reston cuộc phỏng vấn nào cả thế mà thực sự ông đã nói hết với ông này!”

“Đúng, nhưng đó chỉ là qua điện thoại”, – Kissinger trả lời.

Haldeman bình luận:

“Vâng, chỉ qua điện thoại thôi (chứ đâu có gặp mà phỏng vấn).

“Bất cứ học giả nào muốn xem nhà ngoại giao Henry giỏi đến thế nào thì nên phỏng vấn tất cả những người đã làm việc với ông ta tại Toà Bạch Ôc”

19. Cứ xem cách ông chơi chữ trong các văn bản, cách đối đáp, biện luận, từ những cuộc thương thuyết tới hồi ký hay họp báo, ta cũng thấy rõ cái tài năng này. Sau đây là vài thí dụ. Như sẽ thuật lại trong Chương 11, về cuộc họp báo của Kissinger sau Hiệp định Paris:

Hỏi: Có nghị định thư nào (protocols) đã được thoả thuận (với Miền Nam) không?

Đáp: Không có sự thông cảm (understanding) bí mật nào hết.

Đúng, Kissinger chỉ chối đi là không có sự thông cảm, hiểu ngầm nào chứ đâu có chối là không có nghị định thư?

Câu chuyện khác. Có lần Tổng trưởng quốc phòng Melvin Laird (người điều khiển chương trình “Việt nam hoá” thời Nixon) khi được chúng tôi hỏi về chuyện ông không biết gì đến những mật thư của Tổng thống Nixon gửi Tổng thống Thiệu, ông Laird trả lời: “Có lần tôi hỏi ông Kissinger tại sao không đưa cho tôi xem mấy lá thư đó, thì ông ta trả lời “Ồ, đó chỉ là một vụ qua lại giữa Tướng Haig và Tổng thống Thiệu”. Tướng Haig có lui tới Dinh Độc lập để trao đổi qua lại với ông Thiệu, nhưng thực ra ông chỉ là người đưa những bức thư do Kissinger thảo cho Nixon mà thôi.

Rồi đây tôi nhớ tới câu chuyện tiếu lâm mà ta đều đã nghe lúc còn nhỏ, về cậu bé láu lỉnh. Có cậu học trò đánh rắm trong lớp học. Thày đồ hỏi:

– Chi kêu đó bay?

– Lạy thày cóc kêu.

– Cóc kêu sao thối?

– Lạy thày cóc chết,

– Cóc chết sao kêu?

– Lạy thày hai con”.

Một biệt tài khác của Kissinger có tính cách quyến rũ: đó là luôn luôn nói với đối tác của mình trong các cuộc thương lượng rằng chỉ mình ông mới là người đứng về phía họ. Tổng thống Thiệu cũng như Ngoại trưởng Trần văn Lắm thường hay nói chuyện về điểm này. Ở Paris, theo Đại sứ Phạm Đăng Lâm, Kissinger lúc nào cũng muốn chứng tỏ ông là người ủng hộ VNCH mạnh nhất trong Chính phủ Nixon. Ký giả Matti Golan trong cuốn “The Secret Conversations of Henry Kissinger” (Những đối thoại bí mật của Henry Kissinger) còn nhớ như in rất rõ về đặc tính quyến rũ này của Kissinger trong một lần cuộc thương thuyết với Do Thái và các nước trong khối Ả Rập. Ông luôn nói với lãnh đạo Do Thái rằng chỉ có ông mới là Đồng minh, là bạn của họ ở Washington

20. Đơn thương độc mã

Khi ra tranh cử, Nixon hứa là sẽ giải quyết chiến tranh Việt nam trong danh dự. Kissinger biết bản tính của ông Nixon cũng rất là thực tế “realpolitik”, đặt nặng quyền lợi chứ không phải là luân lý, ý thức hệ, hay đạo đức. Bởi vậy ông bám chặt vào đó để thuyết phục Nixon cho ông làm sao thì làm, miễn có kết quả là được. Nixon đồng ý. Và trên thực tế đã trao toàn quyền giải quyết chiến tranh Việt nam cho ông.

Trong cuốn sách nổi tiếng “A World Restored” (Một thế giới được phục hồi), một tập nghiên cứu về Metternich lúc còn ở Harvard, Kissinger có viết: “Chính khách phải hành động như thể là trực giác của mình đã là kinh nghiệm, như thể là khát vọng của mình đã là chân lý rồi” 21 . Metternich là một Hoàng tử người Áo, đã cùng với Lord Castlereagh (Ngoại trưởng Anh) giúp sắp xếp lại trật tự ở Âu châu (Hội nghị Vienna (1814-1815) sau khi Napoleon bại trận ở Nga vào mùa đông 1812. Hai người này, đã không ngần ngại dùng mọi đòn phép và làm mọi việc trong vòng bí mật để tới được mục đích. Tôi nghĩ lập luận như thế này thì không ổn. Trong thời hiện đại, nếu những chính trị gia của các cường quốc, nắm quyền hành trong tay, mà lại quá tự kiêu, làm mọi việc trong vòng bí mật, và nghĩ rằng “những khát vọng của mình đã là chân lý rồi” thì thật là nguy hiểm cho thế giới!

Đơn thương độc mã là bản tính của Kissinger và ông rất tự hào về điểm đó. Trong một cuộc phỏng vấn với nữ ký giả người Ý, bà Oriana Fallaci, ông giải thích rằng sở dĩ ông có sức mạnh là nhờ ở lối hành động một mình: “Điểm chính là lúc nào tôi cũng hành động một mình. Người Mỹ thích cái đó vô cùng. Người Mỹ thích hình ảnh một gã chăn bò dẫn đầu một toán di dân, một mình trên lưng ngựa, đi đầu, thủng thẳng tiến vào một tỉnh lỵ, một thị xã; chỉ mình với ngựa thôi, không có gì khác. Có thể là không có cả súng nữa, là vì gã ta không cần bắn. Gã chỉ hành động bằng cách là ở đúng chỗ, vào đúng lúc, thế thôi. Nói gọn hơn, gã là một cao bồi (Westem)”

22. Chắc ông muốn nói tới cuốn phim “High Noon”, có chú cao bồi cỡi ngựa, lững thững đi một mình vào giữa phố mà ai cũng hãi sợ. Giờ đây, ông muốn một mình một ngựa để đưa Hoa kỳ ra khỏi Việt nam. Chướng ngại vật đối với ông là bộ Ngoại giao. Vì vậy, không biết ông thuyết phục thế nào mà Nixon đã gạt phắt Ngoại trưởng William Rogers ra ngoài. Trong cuốn hồi ký “Những năm biến động” (Years of Upheaval), Kissinger viết: “Tổng thống Nixon đòi hỏi là tất cả những sáng kiến ngoại giao quan trọng đều phải phát xuất từ Bạch Ốc; ông ta đã loại trừ bộ Ngoại giao và Ngoại trưởng, ông William P. Rogers ra khỏi những quyết định chủ chốt một cách liên tục và đôi khi còn có lính cách hạ nhục”

23. Đẩy được bộ Ngoại giao ra là hết bị vướng víu về bàn cãi, bất đồng ý kiến, thủ tục rườm rà, quan liêu. Từ đó, Kissinger lại có thể sắp xếp mọi chuyện. Đây là một cung cách thật lạ lùng! Nó rất “un-american”, không Mỹ chút nào. Ở trong một nền dân chủ, tính chất “minh bạch” (transparency) là điều cẩn thiết. Cái gì không trong sáng thì không thể kéo dài được lâu. không có tính cách bền vững (sustainabihty). Ngoài ra, chính sách hay lập trường đều đòi hỏi phải có “consensus”, sự đồng thuận của số đông. Muốn vậy, phải ngồi lại bàn bạc. Ba cái đầu phải to hơn một cái. Từ quản trị một công ty tới một hội, một nhà thờ, một trường tiểu học, bao giờ cũng có những buổi mít tinh để bàn cãi, bỏ phiếu, lấy quyết định. Làm sao một chuyện đại sự quốc gia, có tới bốn Tổng thống Mỹ dính vào mà Kissinger lại đòi giải quyết một mình? Ấy thế mà Nixon đã khoán trắng Miền Nam cho ông. Ông Jun Tsunoda, Cố vấn cho bộ Ngoại giao Nhật cũng đã phải phàn nàn: “Công tác ngoại giao trong một thế giới phức tạp như ngày nay là một công việc quá lớn lao để giao cho một người tự mình hành động”

24. Ba tháng sau khi nhậm chức, Tổng thống Nixon cho Kissinger sang Moscow tranh thủ sự giúp đỡ của Nga Sô để lập thêm một ngả thương thuyết riêng biệt, tách rời khỏi Hoà đàm Paris. Kissinger gặp Ngoại trưởng Nga Gromyko và trao cho ông ta một thông điệp

25: “Tổng thống (Nixon) sẵn sàng thăm dò những con đường khác ngoài khung cảnh đàm phán hiện tại. Điều đáng mong muốn là những người thương thuyết phía Hoa kỳ và Bắc Việt có thể gặp nhau tách biệt ra khỏi khuôn khổ hoà đàm Paris để bàn về những nguyên tắc tổng quát cho một giải pháp.

“Nếu những người thương thuyết đặc biệt của hai bên Hoa kỳ và Việt nam dân chủ cộng hoà có thể đi tới một Hiệp định trên nguyên tắc, thì vấn đề đàm phán cuối cùng về kỹ thuật sẽ được trao lại cho hoà đàm Paris”. Ký tắt RN (Richard Nixon).

Dĩ nhiên là Gromyko vui lòng giúp, và Kissinger đã thành công trong việc lập ra một hoà đàm sau hậu trường, do chính ông điều khiển.

Ngày 23 tháng Bảy 1969, nhân dịp phi thuyền Apollo của Mỹ vừa thành công lên cung trăng và sắp đáp xuống Thái Bình Dương, Tổng thống Nixon bay sang Guam để mừng và bắt đầu chuyến công du Á châu gồm Phillippines, Indonesia, Thái Lan, Nam Việt nam, India, Pakistan, Romania, và Anh Quốc. Nixon thuật lại: “Chuyến đi đã cho một cơ hội hoàn toàn nguỵ trang cho Kissinger gặp gỡ với phía Bắc Việt. Kissinger được sắp xếp cho đi Paris bề ngoài là để trình bày cho quan chức Pháp kết quả chuyến đi của tôi, nhưng đang khi đó ông ta sẽ gặp ông Xuân Thuỷ”

26. Ông Xuân Thuỷ là đại diện của Bắc Việt tại Hoà đàm Paris.

Được biết về chuyến đi này, Tổng thống Thiệu có mời Nixon ghé thăm Sài gòn để làm một cử chỉ ủng hộ Việt nam cộng hoà. Dường như để đền đáp công ơn của ông Thiệu trong kỳ bầu cử, Tổng thống Nixon đã quyết định vào giờ chót là sẽ viếng thăm dinh Độc Lập với Kissinger tháp tùng. Trong phiên họp làm việc, “Ông Nixon chỉ nói tới những khó khăn trong nước mà ông đang gặp phải”, ông Thiệu kể lại. “Ông yêu cầu tôi tiếp tay và nói: “Hãy giúp chúng tôi để chúng tôi giúp các ông” và tôi đáp: “Chúng tôi sẽ giúp ông để ông giúp chúng tôi”. Tuy nhiên, Nixon vẫn khẳng định lại lập trường rút quân trên căn bản song phương: cả quân đội Hoa kỳ lẫn quân đội Bắc Việt đều rút, và lịch trình rút quân còn tuỳ vào khả năng tự vệ cũng như mức độ viện trợ quân sự và kinh tế cho Miền Nam.

Sau khi nâng ly sâm banh chúc tụng cho Việt nam cộng hoà, các động cơ trực thăng bắt đầu nổ, cánh quạt quay ầm ầm mỗi lúc một nhanh, như để khẳng định lại một lần nữa sức mạnh và sự hiện diện của Hoa kỳ tại Miền Nam. Ông Thiệu tới đưa Tổng thống Nixon và ông Kissinger ra bãi phi cơ đậu trên cỏ trước dinh Độc Lập. Mỉm một nụ cười, ông giơ tay vẫy chào tạm biệt lúc chiếc trực thăng của Tổng thống Hoa kỳ bốc thẳng bay nhanh về hướng Bắc, lướt qua những mái nhà đỏ của thành phố. Ngày hôm đó, 30 tháng Bảy 1969, Nixon đã không hề tiết lộ cho ông Thiệu biết rằng ngay sau khi từ biệt, Kissinger đã trực chỉ qua Paris gặp gỡ phái đoàn Bắc Việt.

Và từ giờ phút đó cho tới 10 giờ sáng ngày 30-4 tức là trong gần hai phần ba thời gian của Đệ nhị Cộng hoà, Kissinger đã một mình thao túng chính sách Hoa kỳ về Việt nam. Trong cương vị đó, ông đã có những hành động gian dối với Đồng minh, dấu giếm Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ, như được chứng minh trong cuốn sách này.

Gần đây (năm 2001), một nhà báo, ông Christopher Hitchens, đã viết cuốn sách tựa đề “Xét xử Henry Kissinger (The Trial of Henry Kissinger) đem ra đầy đủ bằng chứng dựa trên những tài liệu mới được giải mật, về những sự lạm dụng quyền hành, và những hành động thiếu lương tâm mà Kissinger đã hành xử đối với các nước Đồng minh, ngoài các nước Đông Dương, còn có Chile, Bangladesh, Santiago, Nicosia và East Timor

27.Đối với Miền Nam, có thể là ông đã hối hận phần nào, nên năm năm sau ngày Miền Nam sụp đổ, vào đầu năm 1980, ông có viết một thư riêng cho Tổng thống Thiệu (xem cuối chương II và Phụ lục E): “Tôi không trông đợi sẽ thuyết phục được Ngài. Ít nhất tôi có thể cố gắng xin Ngài tin tưởng ở lòng hối hận và kính trọng vẫn còn của tôi”.

——————————–

1          Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 42.

2          Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 42-46.

3          Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 49.

4          Richard Nixon, Memoiry, trang 340; về cuốn Nuclear Weapons and Foreign Policy, nên đọc thêm: Warren G. Nutter, Kissinger’ Grand Design, trang 43-48.

5          Anna Chennault, do Seymour Hersh trích dẫn trong the price of power, trang 22.

6          Richard Nixon, Memoiry, trang 324.

7          Seymour Hersh, trích dẫn trong the price of power, trang 20.

8          Seymor Hersh, trích dẫn trong the price of power, trang 13.

9          Richard Nixon, Memoiry, xem Hersh, trích dẫn trong the price of power, trang 24.

10        Henry Kissinger, The White House years, trang 437.

11        Marvin Kalb and Bernard Kalb, trang 86.

12        Marvin Kalb and Bernard Kalb, trang 29. 25-26

13        Richard Nixon, Memoiry, trang 340.

14        Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 29.

15        Seymour Hersh, trích dẫn trong the price of power, trang 21

16        Seymour Hersh, trích dẫn trong the price of power, trang 14.

17        Seymour Hersh, trích dẫn trong the price of power, trang 35.

18        Seymour Hersh, trích dẫn trong the price of power, trang 481.

19        H.R. Haldeman, The End of power, trang 143.

20        Matti Golan, The Secret Conversations of Henry Kissinger

21        Henry Kissinger, A World Restored, trang 329.

22        Oriana Fallaci, Interview with History, trang 40-41.

23        Henry Kissinger, A World Restored, trang 414.

24        TIME (Magazine), “The Dilfìculty of being Henry Kissinger” (The Nation), 21 tháng 4, 1975.

25        Richard Nixon, Memoiry, trang 391.

26        Richard Nixon, Memoiry, trang 394.

27        Bạn đọc có thể vào Internet/google để tìm đọc về cuốn này.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

11. Đỗ Tốn.

Đề tựa cho tập truyện ngắn Hoa Vông Vang của Đỗ Tốn, xuất bản lần đầu tiên tại Hà Nội năm 1945, Nhất Linh đã coi Đỗ Tốn như một Thạch Lam thứ hai, có nghĩa là một trong những người viết truyện ngắn hay nhất của chúng ta rồi.

Hoa Vông Vang gồm các truyện: Điệu Thu Ca, Một Kiếp Sống, Duyên Số, Chú Tôi, Giáo Huấn, Định Mệnh, Tình Quê Hương và Hoa Vông Vang.

Cuốn sách dày hơn một trăm trang ấy, đến nay, có những người tóc đã bạc, nói rằng, mình đã gối đầu giường một thời.

Cái tựa Hoa Vông Vang khiến nhiều người nghĩ ngay tới hoa của cây vông, màu đỏ, lá thường dùng để gói nem. Nhưng không phải vậy. Đỗ Tốn cho biết, vông vang là thứ hoa lớn bằng hoa dâm bụt, màu vàng, thường mọc lẫn trong những đám cỏ, còn có các tên gọi khác là bụp vàng, bông rừng, quả nang, hạt có mùi xạ. Bộ phận dùng làm thuốc là rễ, lá và hạt, chữa bệnh đái đục và rắn cắn.

Không biết cho đến nay, có bao nhiêu người biết hay nhìn thấy tận mắt thứ hoa này, nhất là những người hiện còn đang lưu lạc ở các xứ người đây? Hình như người ta càng sống càng xa rời thiên nhiên, và cả cái thế giới tình ái Đỗ Tốn viết trong Hoa Vông Vang, cái thế giới trong suốt của những mối tình đầu, nay cũng không còn dấu vết trong các tiểu thuyết của chúng ta nữa. Đành rằng đời sống luôn thay đổi. Ngày nay người ta không thể yêu nhau như Lộc và Mai của Khái Hưng hay Dũng và Loan của Nhất Linh nữa.

Nhưng, và dầu sao, đó cũng là những nhân vật đã trưởng thành.

Còn những mối tình đầu?

Nếu ngày nay người ta không còn yêu nhau như thế nữa thì người ta yêu nhau ra sao nhỉ? Đỗ Tốn cũng là một hiện tượng lạ trong văn chưong của

chúng ta. Nổi tiếng từ thời tiền chiến, nhưng hình như sau tập Hoa Vông Vang, ông chỉ viết thêm một truyện ngắn nữa là A Hẩu, và mãi về sau này, khi cùng gia đình di cư vào Nam sau Hiệp định Genève, ông mới viết lại thành truyện dài. Truyện dài A Hẩu đã được nhà Khai Trí xuất bản nhưng

không mấy thành công. Tuy có một thời được các thanh niên và thiếu nữ hoan nghênh như vậy, nhưng cũng có lúc tên tuổi ông bỗng bằng đi, không thấy ai nhắc tới nữa. Rồi ông lại được đọc lại. Có điều, những người đọc ông, đọc lại ông, phần lớn là những người đứng tuổi, đã cao tuổi. Còn các thanh niên thì sao? Đó là câu hỏi chưa có lời đáp.

Nhưng đối với một tác giả thì nguyên việc được đọc lại đủ là một điều đáng kể rồi.  Đỗ Tốn có lối viết trong sáng, phân tích tâm lý tỉ mỉ, và cái hấp dẫn nhất trong các truyện của ông là người đọc luôn bắt gặp đâu đó một nụ cười ông dấu sau các dòng chữ, trong đối thoại của các nhân vật. Qua những nụ cười ấy, qua ngôn ngữ và cách cư xử của các nhân vật Đỗ Tốn, độc giả có thể hình dung ra nếp sống của cả một thời đã qua.

“Đỗ hỏi Tân, một cô bạn học của Phượng Trinh, thì Đỗ mới biết Trinh là tên gọi ở nhà, chứ ở trường chỉ gọi nàng là Phượng thôi. Tôi nói lại cho Đỗ biết là các bạn ở lớp đã biết chuyện Đỗ theo Phượng và trêu chế Phượng nhiều lắm … nhưng Phượng không hề cãi lại mà chỉ đỏ mặt cười chạy

trước những dịp cười của các bạn …

– Phượng yêu Đỗ rồi đấy!

Tôi nói thế làm Đỗ sung sướng ngây cả người rồi hỏi:

– Thật à?… Thế thì tôi chết mất!”

Chàng trai mới có mười chín, mỗi khi sung sướng quá là chỉ kêu chết.

Từ đấy Đỗ là người sung sướng. Chàng đứng nói chuyện một mình là thường; có bận người chú vui tính của Đỗ bắt gặp cười bảo:

– Đứng mà cười một mình thế thì chó nó cũng biết. Yêu và được yêu như thế, phải nói rằng, Đỗ chỉ mơ hồ cảm nhận mình được yêu qua cử chỉ của Phượng nhìn thấy từ xa, qua những điều do bạn Phượng nói lại chẳng hạn, chứ cũng chẳng có một bằng cớ cụ thể nào. Và, Đỗ cứ sống như trong một giấc mơ như thế cho đến khi Phượng lấy chồng.

Đỗ Tốn viết, theo lời kể của Tuyết:

“Ngày sắp cưới Phượng ấy, Phượng có chạy đến tôi nói chuyện. Tôi có hỏi sao không lấy Đỗ có hơn không thì Phượng nói: ‘Tại Đỗ không đến hỏi,  .. mà đợi thì biết đến ngày nào! Với lại Phượng cũng không biết Đỗ có ý định lấy Phượng hay không mà đợi cơ! Phượng bảo “Chả nhẽ em lại mang giầu cau đến hỏi Đỗ à!”.

Mối tình chấm dứt như thế. Nhưng mỗi lần có ai nhắc đến Phượng, nhắc đến những chi tiết gì đó chứng tỏ Phượng vẫn còn nhớ tới mình, nghĩa là Phượng có yêu mình, Đỗ lại sung sướng đến … đau khổ!

Tình yêu của hai người như thế có thể gọi là hạnh phúc được chăng?

Được biết Đỗ Tốn sinh năm 1921, mất năm 1973, khi ông đang làm Phó Quản Đốc Đài Tiếng Nói Quân Đội, với cấp bậc Thiếu Tá. Quản Đốc Đài khi ấy là Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến tức nhà văn Văn Quang.

Tuy ở địa vị một cấp chỉ huy như thế, nhưng Đỗ Tốn ít tiếp xúc với khách khứa của cơ quan và ngay cả với các thuộc cấp. Ông thường khép mình trong văn phòng và gần như chỉ giao thiệp với mọi người bằng nụ cười. Đôi khi người ta thấy ông đi về như một cái bóng.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 20 Aug 2025

10. Đỗ Quỳnh Dao

Phải nói ngay Đỗ Quỳnh Dao không liên quan gì tới nữ văn sĩ Trung Hoa Quỳnh Dao, tác giả Hải Âu Phi Xứ, cũng không liên quan gì tới nữ ca sĩ Quỳnh Giao của chúng ta. Đỗ Quỳnh Dao xuất hiện trên văn đàn hải ngoại trong khoảng 10 năm gần đây. Bà viết ít. Vì không có thì giờ. Và có lẽ vì thận trọng nữa.

Nhưng người đọc bà, cách cấu tạo mhân vật, chữ nghĩa xử dụng, những ẩn ý xếp đặt trong các câu truyện, chứng tỏ Đỗ Quỳnh Dao mất nhiều công phu.

Không một nhà văn nào lại không có lúc tìm cách lẩn tránh công việc viết.

Francoise Sagan có một thời gian gần như ngưng viết. Được hỏi tại sao, bà đã trả lời rằng, mình đã có đủ kinh nghiệm để sợ viết. Con Nữ của Đỗ Quỳnh Dao gồm 10 truyện ngắn. Người đọc có cảm tưởng, chất liệu được lấy ra để viết những truyện ngắn ấy đều có thực, nghĩa là nó đã được tác giả rút ra từ những mảnh đời nhìn thấy, bắt gặp bên mình.

Dĩ nhiên đó chỉ là những chất liệu. Không có truyện nào thực cả. Giả thử như đó là một truyện có thật ngoài đời, khi đưa vào trong truyện, nó chỉ còn là sự thật của cái truyện, không còn là sự thật ở ngoài đời nữa.

Chính vì thế nỗi khổ đau của các nhân vật nhiều khi lại là niềm hạnh phúc của người đọc. Thúy Kiều của Nguyễn Du, Mai của Khái Hưng, Loan

của Nhất Linh không là những thí dụ sao? Người phụ nữ trong truyện của chúng ta gần đây, những nhân vật nữ do chính các tác giả nữ tạo ra, đem lại cho người đọc cảm xúc khác.

Có một cái gì đó khô héo trong dáng dấp chung của các nhân vật nữ. Họ có vẻ lạnh lùng. Đối với mọi sự trong tình, họ không nhìn ngắm nữa mà quan sát. Sáng suốt và cay đắng.

“Nó ngồi yên năm đầu, ba mẹ khắng khít. Nó ngồi yên năm thứ hai, ba mẹ xô xát. Nó ngồi yên năm thứ ba, ba nó bỏ đi”.

Pa thấy mệt, Pa đi nằm trước. Ông thất thểu bước về phòng, lưng khòm mệt nhọc. May mà Man về kịp đưa đi nhà thương xúc ruột, chậm tí nữa là anh em mình mồ côi cha rồi”.

Theo nhận xét của Bùi Bích Hà, cũng là một tác giả nữ, nhân vật đàn ông trong truyện của Đỗ Quỳnh Dao mang bộ mặt của một thứ định mệnh tàn nhẫn đến mức phi lý. Nhân vật trong “Nói Một Mình” là một thí dụ điển hình. Hắn nôn mửa sau bữa nhậu để: “Vợ hầu hạ, chùi rửa, hứng tình bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu: mẹ nằm sấp trên bàn, hai tay giang thập tự bên cạnh mớ cà rốt và khoai tây gọt dở, ba đứng đằng sau, mắt đỏ ngầu”.

Bùi Bích Hà viết:

“Người đàn ông này, khi men calvas luồn lỏi trong máu, hiện nguyên hình một con đực lom lom nhìn con cái; hoặc họ là tên tội phạm man rợ, tùng xẻo người đàn bà không những đã tàn phế bởi sự độc ác của chính nó, mà nó còn thừa biết rằng nay người đàn bà đó không còn có thể làm gì để chống cự lại, để đòi hỏi công lý, để tự vệ, để sống đàng hoàng nếu không là tức nước vỡ bờ, nhúng tay vào máu và cũng đồng thời đánh mất vĩnh viễn đời mình”.

Vâng, những cảnh tượng diễn ra giữa bố mẹ, con cái nhìn thấy, những lời nói được nhả ra như những viên đạn, làm cho các câu chuyện nhuốm một vẻ gì đó đau đớn, mặc dầu, cũng trong nỗi đau đó, người ta vẫn nhận ra cái tài hoa, sắc sảo của tác giả, nhất là trong trường hợp Đỗ Quỳnh Dao, là người, nghe nói đã sống ở ngoài nước nhiều năm. Người đọc phải làm quen dần với những từ ngữ, những điều trước đây, dường như được sự thỏa thuận ngầm với nhau, không nên gọi tên, không nên nói đến một cách thẳng tuột như vậy, bởi vì, đối với hầu hết các người viết hiện nay thì không còn điều gì cần phải né tránh hay coi là cấm ky. Cái gì cần phải nói đến cứ việc nói, hà cớ phải tìm cách che đậy hay nói bóng gió. Nói bóng gió là nói khác đi. Nói khác đi là nói sai. Và đó mới chính là điều không chấp nhận được.

Để trả lời câu hỏi của một phóng viên, rằng, bà có ở trong số các nhà văn bắt đầu sự nghiệp bằng cách viết tự truyện hay không, Đỗ Quỳnh Dao cho biết: “Nếu hiểu tự truyện là lấy đời sống nghề nghiệp làm chất liệu thì câu trả lời là: có. Nhưng nếu hiểu tự truyện là giãi bầy thân phận của tác giả thì tôi xin thưa: không”.

Các nhà phê bình cho rằng nền văn chương quan trọng nhất của tân thế kỷ này là nền văn chương di dân. Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại con người bị đảo lộn chỗ ở vì những lý do khác nhau nhiều như hiện tại.

Các cuộc di dân đem đến các cuộc pha trộn văn hóa, và tất nhiên, tạo ra những tâm trạng. Mỗi nhóm di dân có những tâm trạng và phản ứng

riêng. “Con Nữ” của Đỗ Quỳnh Dao ngoài giá trị văn chương còn có thể là một tài liệu quý cho các nhà nghiên cứu xã hội sau này về các khía cạnh nhân sinh của người Việt Nam cuối thế kỷ hai mươi và nhóm Việt Nam di dân tản mạn khắp nơi sau biến cố tháng 4/1975.

Cảm tưởng sau cùng của độc giả sau khi đọc “Con Nữ” của Đỗ Quỳnh Dao, cũng tương tự như đọc phần lớn các tác giả nữ của chúng ta trong những năm gần đây, đó là: các nhân vật nữ có một vẻ gì đó, cô đơn, từa tựa những nhân vật nam thiếu đàn bà. Họ đang tự đánh mất bản thân chăng? Các nhân vật nam và nữ thất lạc nhau chăng? Và, nếu đúng như vậy thì, nguyên nhân vì sao?

‘Người Nhái’ Trần Xuân Tin và những công tác đặc biệt chưa thố lộ

dongsongcu.wordpress.com

Posted on January 30, 2020 by dongsongcu

Lâm Hoài Thạch

Post by Sơn râu 19 Aug 2025

(NV) – Nức lòng vì trách nhiệm bảo vệ đất nước, Trần Xuân Tin, chàng trai quê Nha Trang nhập ngũ vào Tháng Ba, 1969, tại quân trường Quang Trung để học khóa căn bản quân sự. Sau đó, ông được nhập Khóa 5/69 Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường Tháng Tư, 1970, ông về học Khóa 4 Người Nhái ở Trung Tâm Huấn Luyện Người Nhái Cam Ranh. Sau khi ra trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, những bè bạn của ông trong khóa này phần nhiều chọn về những binh chủng tác chiến để thỏa chí “tang bồng hồ thỉ,” như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến… Riêng ông lại muốn trở thành một Người Nhái. Lý tưởng này bắt nguồn từ hình ảnh hào hùng của người anh họ học Khóa 2 Người Nhái. Mặc dù anh họ của ông ra trường với cấp bậc hạ sĩ quan, nhưng bọn du đảng trong xóm hay xóm khác ở Nha Trang khi nghe nhắc đến tên đều kiêng dè. Trong thời chiến, đúng là danh tiếng của đơn vị Người Nhái đã ảnh hưởng đến tâm lý xã hội khiến người ta nể phục.

Thời gian huấn luyện Người Nhái

Năm 1970, Trung Tâm Huấn Luyện Người Nhái Quân Lực VNCH thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng II ở Cam Ranh đã có các khóa huấn luyện Người Nhái cho sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên thủy thủ. Lúc bấy giờ, Tư Lệnh Hải Quân Vùng II Duyên Hải là Hải Quân Đại Tá Trịnh Quang Xuân, và chính ông đã chủ tọa cho các lễ nhập khóa Người Nhái.

Ông Trần Xuân Tin kể: “Những quân nhân chọn đơn vị Người Nhái đều phải trải qua những khóa huấn luyện đầu tiên là lội giỏi, chạy bền và chịu đựng cao. Sức chịu đựng bao hàm ý chí, sự am tường chiến thuật, khả năng biến báo trong trường hợp khẩn cấp… Trải qua các vòng trui rèn về cá thể cũng như tinh thần, nếu ai không chịu nổi thì phải bị quân trường loại ra. Những người vượt qua được sự rèn luyện đanh thép trên thì được đưa về Trung Tâm Huấn Luyện Người Nhái ở Cam Ranh. Và, nếu ai có trình độ Anh Ngữ cao thì sẽ được sang Hoa Kỳ để học khóa huấn luyện Người Nhái ‘Team One’ và ‘Team Six’ ở Puerto Rico, New York.”

“Người Nhái” Trần Xuân Tin, hình chụp năm 1972. (Hình: Trần Xuân Tin cung cấp)

Theo ông, trong thời gian huấn luyện, các khóa sinh không mặc quân phục, không đeo cấp bậc mà chỉ mặc một quần đùi màu vàng và chỉ mang một lưỡi lê (dao găm) bên hông người. Mọi khóa sinh trở nên bình đẳng dưới sự hướng dẫn của các huấn luyện viên hạ sĩ quan hay đoàn viên của những khóa đàn anh trước. Đến khi ra trường, chính vị Tư Lệnh Hải Quân Vùng II Duyên Hải sẽ trả lại cấp bậc cho từng khóa sinh.Đoạn đường huấn luyện đầy cam go và nguy hiểm như dìu một người nặng cân từ biển khơi vào bờ cách khoảng bốn đến năm hải lý. Hoặc khi xác định được tọa độ, các khóa sinh vừa lội vừa dìu bạn mình trong đêm tối để đến mục tiêu. Các khóa sinh không được rời khỏi toán, ít nhất là phải đi đôi với nhau.Trong tuần “Địa Ngục,” các khóa sinh hầu như phải thức trắng đêm, chỉ ngủ được vài mươi phút trên bãi cát và sóng biển; còn những thời gian khác thì phải luyện chịu đựng gian khổ từ thể xác đến tinh thần như chạy bền, học cách đặt và tháo gỡ những loại mìn bẫy, học sử dụng vũ khí đặc biệt để chống đặc công. Ngoài ra, còn phải trau giồi khả năng linh hoạt khi gặp trở ngại,…Sau tuần “Địa Ngục,” từ 6 giờ chiều, huấn luyện viên thả 10 khóa sinh ra giữa biển khơi cho đến 2 giờ sáng hôm sau phải tìm ra mục tiêu đã ấn định, có khi mục tiêu ở trên núi cao hay trong rừng sâu hiểm độc.

Người Nhái và những công tác đặc biệt 

Đơn vị Người Nhái thuộc loại đặc biệt nên tin tức trong đơn vị không được tiết lộ ra bên ngoài. Trần Xuân Tin và đồng đội thực hiện những công tác bí mật mà không ai được biết, ngoại trừ những đơn vị bạn có chung mục tiêu, hoặc những đơn vị đóng quân gần nơi thực hiện công tác. Đặc biệt nhất là chỉ có Quân Trường Người Nhái thì mới thấu rõ các anh thực hiện những công tác gì. Trong tinh thần bảo mật, cho đến bây giờ, có những công tác đặc biệt mà các chiến sĩ Người Nhái vẫn chưa thố lộ cho ai biết.

Trần Xuân Tin (phải) tại Quân Trường “Người Nhái” Cam Ranh. (Hình: Trần Xuân Tin cung cấp)

Còn các Giang Đoàn Thủy Bộ hoặc Giang Đoàn Trục Lôi trên các sông gạch trực diện với địch hằng ngày. Các chiến sĩ đó đã chiến đấu dũng cảm và thậm chí hy sinh cả tính mạng để bảo vệ hải trình. Người Nhái Trần Xuân Tin được gởi lên trường Quân Cụ trong năm tháng để học tháo gỡ chất nổ, đạn dược, bom, mìn bẫy ở trên bờ. Sau khi khóa học hoàn tất, ông được nhập khóa học chuyên về chất nổ dưới nước tại Quân Trường Người Nhái Cam Ranh. Các loại mìn mà Người Nhái đã học qua đều thuộc loại nguy hiểm.Ông Tin kể: “Lúc bấy giờ, cơ quan MACV (Military Assistance Command Vietnam – Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quan Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam) còn hoạt động, thì người Mỹ đã chiêu mộ một số hồi chánh viên để làm công tác gián điệp nhị trùng. Những người này vào vùng địch họp rồi trở ra cung cấp tin tức cho các toán Người Nhái. Chính vì vậy, chỉ trong vòng một năm, thành quả của các công tác của Liên Đoàn Người Nhái rất thành công tốt đẹp, bằng hoặc hơn cấp trung đoàn thiện chiến. Vì có khi chỉ có hai cho đến bốn toán Người Nhái lại có thể đánh úp được cả hai đại đội của địch quân. Đó là những chiến công đều được ghi danh, nhưng không bao giờ tiết lộ ra ngoài. Chỉ có Bộ Tổng Tham Mưu và Ban Quấn Huấn là biết rõ.”

Các chiến sĩ Người Nhái biết sử dụng mọi vũ khí như AK, K-54 (của địch), M-16, M-15, M-79, Đại Liên M-60, Colt-45 (của VNCH). Từ những chuyến công tác về lại thành phố, họ thường bị Quân Cảnh xét hỏi, vì theo luật quân đội, họ chỉ được mang trên mình súng cá nhân, nhưng Người Nhái lại mang theo nào AK, M-16 kể cả Đại Liên M-60 về thành phố. Vì thế, Quân Cảnh tạm giữ họ lại để sưu tra. Đến khi nhân viên của Liên Đoàn Người Nhái đến bảo lãnh, thì họ đã giải thích cho Quân Cảnh biết, những vũ khí của địch là những chiến lợi phẩm mà toán Người Nhái mới vừa thực hiện xong chuyến công tác mật.

Trong sự vụ lệnh của Người Nhái là đương sự có quyền sử dụng tất cả những quân phục để ngụy trang và để râu tóc. Vì có chuyến công tác kéo dài từ một đến hai tháng, nhưng đến khi công tác xong thì họ vẫn thực hành theo tiêu chuẩn của quân phong, quân kỷ.

Phù hiệu đơn vị “Người Nhái.” (Hình: Trần Xuân Tin cung cấp)

Hoạt động của Liên Đoàn Người Nhái 

Liên Đoàn Người Nhái của Hải Quân VNCH có ba đơn vị chính: Một là Hải Kích, tổng cộng có bảy khóa, xuất phát từ UDT (Underwater Demolition Team). Các toán viên được huấn luyện qua chiến thuật rộng hơn với danh hiệu Navy SEALs (Sea-Air-Land-Teams) để có thể hoạt động trong cả ba môi trường là chiến đấu trên không, nhảy dù bằng trực thăng vận đeo theo bình hơi xuống biển khơi, sông rạch hoặc trong đất liền. Đơn vị Hải Kích chuyên đi vào vùng địch đánh phá, lấy tin tức nên công tác rất nguy hiểm. Biệt đội Hải Kích còn được gọi là “Biệt Đội Mặt Rằn,” vì họ phải vẽ mặt rằn ri khi thực hành công tác bằng những chiếc xuồng nhỏ với động cơ giảm thanh đi từ ngoài biển vào những sông rạch nhỏ. Một toán viên phải ở lại một địa điểm ấn định để canh giữ xuồng rồi chờ rước toán về, vì đó là vận mệnh của anh em trong toán. Những người còn lại tuần tự đi theo tiền sát viên mang Đại Liên M-60. Khi xâm nhập vào vùng địch, họ thường ngụy trang đội nón cối, mang dép Bình Trị Thiên, có lúc bị địch phát hiện thì toán dùng ám số để tránh bị bắt, rồi tìm đường rút. Hai là Biệt Đội Tháo Gỡ Chất Nổ và Chống Đặc Công, tổng cộng có sáu khóa. Nhiệm vụ của họ là hằng đêm, những Người Nhái này phải lặn kiểm soát xung quanh mạn tàu dưới nước để tránh đặc công địch có thể gài mìn các tàu chiến, các thương thuyền địa phương hay ngoại quốc đang neo đậu tại vùng biển thuộc chính phủ VNCH kiểm soát.Ba là Đơn Vị Trục Vớt, đơn vị này không huấn luyện theo khóa, vì quân trường sẽ gởi những toán viên Trục Vớt đi tu nghiệp ở Phi Luật Tân. Nhiệm vụ của toán Người Nhái này là mỗi khi có chiếc tàu nào đó bị chìm do tai nạn, hoặc bị địch đánh chìm thì Giang Đoàn Người Nhái Trục Vớt sẽ làm nhiệm vụ trục vớt để khai thông thủy trình.

Khóa 4 Người Nhái tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. (Hình: Trần Xuân Tin cung cấp)

Giang Đoàn Trục Vớt đã từng trục vớt chiếc Giang Pháo Hạm HQ-327 mang rất nhiều đạn dược bị chìm ở Kênh Chợ Gạo, Mỹ Tho. Đây là một vùng khá nguy hiểm nên đòi hỏi sự phối hợp của ba đơn vị: Chiến đấu trên bờ, lặn xuống gỡ mìn và trục vớt tàu.Năm 1971, trong một đêm mưa gió, toán của ông bắt được một Việt Cộng từ Nam Ô, Đèo Hải Vân, người này đang tìm cách vận chuyển mìn qua bán đảo Sơn Trà. Đó là những bẫy mìn cực kỳ nguy hiểm. Có lần chiếc Trans Colorado bị đặc công đặt loại mìn này. Lúc đó, các thủy thủ đoàn phải rời khỏi tàu, chỉ có hạm trưởng ở lại để lái tàu vào bãi cát chờ toán Người Nhái tháo gỡ và cắt mìn.

Trục vớt tám Thiết Giáp M-84 bị chìm dưới sông 

Tuy trực thuộc Biệt Đội Tháo Gỡ Chất Nổ Chống Đặc Công, nhưng mỗi lần có tàu chìm, ông Trần Xuân Tin đều tham gia công tác trục vớt. Năm 1973, khi đang làm trưởng toán ở Cát Lái, toán của ông được gọi đến cầu Quân Cảng để dò tìm tọa độ của tám chiếc thiết giáp M-84 bị rơi xuống lòng sông. Nguyên do là các nhân viên có nhiệm vụ chở những chiếc thiết giáp, vì buộc cột không đúng kỹ thuật, nên khi tàu lớn đi ngang qua gây sóng đánh khiến sà lan tròng trành lật chìm những chiếc thiết giáp xuống sông.

Bối cảnh thời bấy giờ là phía Hoa Kỳ yểm trợ cho VNCH trên nguyên tắc “một đổi một.” Vì vậy, khi những chiếc thiết giáp nói trên đã qua thời gian hoạt động, chính phủ VNCH phải đưa trả chúng để phía Hoa Kỳ, rồi được Hoa Kỳ đổi cho những chiếc mới. Ông Tin kể: “Lệnh công tác trục vớt còn đưa ra yêu cầu là phải thực hiện càng nhanh càng tốt để bảo toàn các thiết bị máy móc của tám chiếc thiết giáp. Công việc hết sức vất vả, bởi vì do nước sông chảy xiết lại thêm nước bùn khuấy đục nên mọi thứ chỉ có thể quan sát mờ mờ trong tầm nhìn hạn chế. Vậy mà tám chiếc thiết giáp đều được trục lên chỉ trong vòng 10 ngày. Đó cũng nhờ các toán Người Nhái đã dày công khổ luyện, và đã học chi tiết của các loại thiết giáp nên họ đã nắm rõ chỗ nào có thể câu móc được và sử dụng loại cần cẩu nào cho phù hợp.”

Toán “Người Nhái” trong ngày Lễ Thánh Tổ Trần Hưng Đạo tại Bến Bạch Đằng, Sài Gòn. (Hình: Trần Xuân Tin cung cấp)

Trục vớt trực thăng rơi xuống biển 

Một kỷ niệm khiến Người Nhái Trần Xuân Tin không bao giờ quên được, và ông rất hãnh diện khi thực hiện xong công tác này. Đó là sự kiện xảy ra vào 25 Tháng Hai, 1972, khi Chuẩn Tướng Phan Đình Soạn, tư lệnh phó Quân Đoàn 1 và Quân Khu 1, và Đại Tá Ngô Hán Đồng, chỉ huy trưởng Pháo Binh, cùng Thiếu Úy Nguyễn Đình Thư, sĩ quan tùy viên của Tướng Soạn, cùng bay trực thăng từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 đến họp với phía Quân Đội Hoa Kỳ tại tàu Hải Quân Mỹ đậu ngoài khơi Đà Nẵng. Người lái chiếc trực thăng này là một thiếu tá phi công Mỹ. Trên chuyến bay trở lại đất liền, trực thăng bị rơi và gây tử thương cho cả đoàn. Chỉ có xác của Thiếu Úy Thư do không có cột dây an toàn đã nổi lên qua vài ngày sau, còn xác của Tướng Soạn, Đại Tá Đồng và thiếu tá phi công vẫn không tìm được.Sau đó, chiếc tàu Mỹ đã thả phao nổi để đánh dấu tọa độ chiếc trực thăng bị rơi. Thời đó, Giang Đoàn Trục Vớt của Hải Quân Hoa Kỳ đang đóng ở bán đảo Tiên Sa, nên họ muốn thực hiện việc vớt xác. Tuy nhiên, sóng gió và độ sâu của biển cả khoảng 500 mét đã khiến họ không tìm ra tọa độ trong vòng ba tuần lễ, lại thêm có một chiếc tàu đánh cá của dân thấy một phao nổi đã vô tình lấy phao nổi đó đi. Phía Quân Đội Hoa Kỳ yêu cầu VNCH xác định lại tọa độ của chiếc trực thăng bị rớt. Tư Lệnh Phó Hải Quân Vùng I là Trung Tá Nguyễn Hữu Xuân cho lệnh toán Người Nhái của Trần Xuân Tin lên nhận công tác này.

Thời đó, chưa có trang thiết bị tối tân như bây giờ để dò tìm tàu chìm hay máy bay bị rớt xuống biển. Trực thăng bị rớt từ trên cao có thể bị rớt ra từng mảnh, nên khả năng để tìm được tọa độ chính xác thì rất là mông lung. Trần Xuân Tin mới nghĩ ra cách trình lên cấp trên là xin cho ba chiếc ghe giả cào của ngư dân đi song hành trên vùng mà chiếc trực thăng bị rớt, vì những chiếc ghe giả cào có lưới cào bắt cá tôm sâu xuống đáy biển, và họ di chuyển để bắt cá tôm, nên có thể ghe sẽ cào trúng vào chiếc trực thăng bị rớt.

 (Lâm Hoài Thạch)