Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

11. Đỗ Tốn.

Đề tựa cho tập truyện ngắn Hoa Vông Vang của Đỗ Tốn, xuất bản lần đầu tiên tại Hà Nội năm 1945, Nhất Linh đã coi Đỗ Tốn như một Thạch Lam thứ hai, có nghĩa là một trong những người viết truyện ngắn hay nhất của chúng ta rồi.

Hoa Vông Vang gồm các truyện: Điệu Thu Ca, Một Kiếp Sống, Duyên Số, Chú Tôi, Giáo Huấn, Định Mệnh, Tình Quê Hương và Hoa Vông Vang.

Cuốn sách dày hơn một trăm trang ấy, đến nay, có những người tóc đã bạc, nói rằng, mình đã gối đầu giường một thời.

Cái tựa Hoa Vông Vang khiến nhiều người nghĩ ngay tới hoa của cây vông, màu đỏ, lá thường dùng để gói nem. Nhưng không phải vậy. Đỗ Tốn cho biết, vông vang là thứ hoa lớn bằng hoa dâm bụt, màu vàng, thường mọc lẫn trong những đám cỏ, còn có các tên gọi khác là bụp vàng, bông rừng, quả nang, hạt có mùi xạ. Bộ phận dùng làm thuốc là rễ, lá và hạt, chữa bệnh đái đục và rắn cắn.

Không biết cho đến nay, có bao nhiêu người biết hay nhìn thấy tận mắt thứ hoa này, nhất là những người hiện còn đang lưu lạc ở các xứ người đây? Hình như người ta càng sống càng xa rời thiên nhiên, và cả cái thế giới tình ái Đỗ Tốn viết trong Hoa Vông Vang, cái thế giới trong suốt của những mối tình đầu, nay cũng không còn dấu vết trong các tiểu thuyết của chúng ta nữa. Đành rằng đời sống luôn thay đổi. Ngày nay người ta không thể yêu nhau như Lộc và Mai của Khái Hưng hay Dũng và Loan của Nhất Linh nữa.

Nhưng, và dầu sao, đó cũng là những nhân vật đã trưởng thành.

Còn những mối tình đầu?

Nếu ngày nay người ta không còn yêu nhau như thế nữa thì người ta yêu nhau ra sao nhỉ? Đỗ Tốn cũng là một hiện tượng lạ trong văn chưong của

chúng ta. Nổi tiếng từ thời tiền chiến, nhưng hình như sau tập Hoa Vông Vang, ông chỉ viết thêm một truyện ngắn nữa là A Hẩu, và mãi về sau này, khi cùng gia đình di cư vào Nam sau Hiệp định Genève, ông mới viết lại thành truyện dài. Truyện dài A Hẩu đã được nhà Khai Trí xuất bản nhưng

không mấy thành công. Tuy có một thời được các thanh niên và thiếu nữ hoan nghênh như vậy, nhưng cũng có lúc tên tuổi ông bỗng bằng đi, không thấy ai nhắc tới nữa. Rồi ông lại được đọc lại. Có điều, những người đọc ông, đọc lại ông, phần lớn là những người đứng tuổi, đã cao tuổi. Còn các thanh niên thì sao? Đó là câu hỏi chưa có lời đáp.

Nhưng đối với một tác giả thì nguyên việc được đọc lại đủ là một điều đáng kể rồi.  Đỗ Tốn có lối viết trong sáng, phân tích tâm lý tỉ mỉ, và cái hấp dẫn nhất trong các truyện của ông là người đọc luôn bắt gặp đâu đó một nụ cười ông dấu sau các dòng chữ, trong đối thoại của các nhân vật. Qua những nụ cười ấy, qua ngôn ngữ và cách cư xử của các nhân vật Đỗ Tốn, độc giả có thể hình dung ra nếp sống của cả một thời đã qua.

“Đỗ hỏi Tân, một cô bạn học của Phượng Trinh, thì Đỗ mới biết Trinh là tên gọi ở nhà, chứ ở trường chỉ gọi nàng là Phượng thôi. Tôi nói lại cho Đỗ biết là các bạn ở lớp đã biết chuyện Đỗ theo Phượng và trêu chế Phượng nhiều lắm … nhưng Phượng không hề cãi lại mà chỉ đỏ mặt cười chạy

trước những dịp cười của các bạn …

– Phượng yêu Đỗ rồi đấy!

Tôi nói thế làm Đỗ sung sướng ngây cả người rồi hỏi:

– Thật à?… Thế thì tôi chết mất!”

Chàng trai mới có mười chín, mỗi khi sung sướng quá là chỉ kêu chết.

Từ đấy Đỗ là người sung sướng. Chàng đứng nói chuyện một mình là thường; có bận người chú vui tính của Đỗ bắt gặp cười bảo:

– Đứng mà cười một mình thế thì chó nó cũng biết. Yêu và được yêu như thế, phải nói rằng, Đỗ chỉ mơ hồ cảm nhận mình được yêu qua cử chỉ của Phượng nhìn thấy từ xa, qua những điều do bạn Phượng nói lại chẳng hạn, chứ cũng chẳng có một bằng cớ cụ thể nào. Và, Đỗ cứ sống như trong một giấc mơ như thế cho đến khi Phượng lấy chồng.

Đỗ Tốn viết, theo lời kể của Tuyết:

“Ngày sắp cưới Phượng ấy, Phượng có chạy đến tôi nói chuyện. Tôi có hỏi sao không lấy Đỗ có hơn không thì Phượng nói: ‘Tại Đỗ không đến hỏi,  .. mà đợi thì biết đến ngày nào! Với lại Phượng cũng không biết Đỗ có ý định lấy Phượng hay không mà đợi cơ! Phượng bảo “Chả nhẽ em lại mang giầu cau đến hỏi Đỗ à!”.

Mối tình chấm dứt như thế. Nhưng mỗi lần có ai nhắc đến Phượng, nhắc đến những chi tiết gì đó chứng tỏ Phượng vẫn còn nhớ tới mình, nghĩa là Phượng có yêu mình, Đỗ lại sung sướng đến … đau khổ!

Tình yêu của hai người như thế có thể gọi là hạnh phúc được chăng?

Được biết Đỗ Tốn sinh năm 1921, mất năm 1973, khi ông đang làm Phó Quản Đốc Đài Tiếng Nói Quân Đội, với cấp bậc Thiếu Tá. Quản Đốc Đài khi ấy là Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến tức nhà văn Văn Quang.

Tuy ở địa vị một cấp chỉ huy như thế, nhưng Đỗ Tốn ít tiếp xúc với khách khứa của cơ quan và ngay cả với các thuộc cấp. Ông thường khép mình trong văn phòng và gần như chỉ giao thiệp với mọi người bằng nụ cười. Đôi khi người ta thấy ông đi về như một cái bóng.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply