Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 23 Aug 2025

Phần II. Thân Phận Tiểu Quốc

Chương 5

Tự túc tự cường

Vào lúc tám giờ sáng ngày 28 tháng Giêng 1973, từng đợt rồi lại từng đợt, tiếng còi tàu Hải Quân Việt nam dọc cảng Sài gòn rú lên, xé tan màn sương buổi ban mai. Khi còi ngưng, chuông nhà thờ lại tiếp theo, ngân vang khắp đó đây, làm tăng thêm bầu không khí náo nhiệt của đô thành ngày hôm ấy.

Dù chẳng biết thực hư ra sao, ta cứ ăn mừng đi đã. Hiệp định Paris ký rồi, chiến tranh chấm dứt. Từ góc đường Phan Đình Phùng khu Đa Kao, đài phát thanh phóng ra bài ca oai hùng “Việt nam, Việt nam nghe từ vào đời”. Nhiều nhà mở loa cho lớn, dường như muốn át đi tiếng ca ai oán vẳng lên từ radiô nhà bên cạnh: “Anh trở về trên đôi nạng gỗ… anh trở về dang dở đời em…” Hy vọng rằng từ nay, những chiếc băng ca không còn phải chở về trên trực thăng sơn mầu tang trắng.

Dân chúng đô thành tạm gác mọi nỗi lo âu sang một bên. Không khí ở những quán cà phê trở nên nhộn nhịp. Lệnh giới nghiêm nửa đêm chỉ được thi hành một cách lỏng lẻo và phòng trà đã bắt đầu mở cửa lại. Nha Du Lịch sửa chữa khách sạn Majestic, làm thêm một quán ngoài vỉa hè quay ra bờ sông, hết sức thơ mộng. Chiều chiều, giới phong lưu cũng như ái nữ của các nhân viên ngoại giao và du khách ngả mình trên những ghế võng mây mới mắc, uống chanh soda và nước dừa còn tươi, trông như một cảnh ở Hawaii. Bên kia đường, sông Sài gòn lặng lẽ trôi. Tiếng đại bác không còn vọng lại nữa, và hoả châu cũng thôi loé sáng trong đêm tối. Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh sầm uất, tiếng nói ồn ào của thực khách xen lẫn với những tiếng cười ròn rã, tiếng chuông rung từ những chiếc xe bán đồ rong trên bến; mùi khô mực nướng và mùi nước mía vừa mới cứ quyện lẫn vào nhau, làm cho không khí thêm mời mọc, hấp dẫn.

Lại một lần nữa viễn ảnh hoà bình ló rạng. Và cứ thế, Hiệp định Paris được các cơ quan truyền thông của Chính phủ mô tả như một thắng lợi cho Việt nam cộng hoà. Khác với Hiệp định Genève Pháp ký năm 1954 sau thất bại Điện Biên Phủ; đàng này Việt nam cộng hoà đâu có thất bại? Ban Tâm Lý Chiến trận đài đồng ca: “Cờ bay cờ bay trên thành phố thân yêu”. Tại Mỹ, các báo chí đăng hàng tít lớn “Hoà bình với danh dự” Đài VOA cứ vậy mà phát sóng. Biết đâu, biết đâu đấy một trang sử mới đã được mở ra rồi.

Thế là đã tới thời hậu chiến?

Bây giờ nhiệm vụ chính yếu là củng cố xã hội và tái thiết kinh tế. Về xã hội, việc bức xúc là hiệu năng của nền hành chính. Để hỗ trợ công tác này chương trình “Cải tổ hành chánh” được đề ra. Ông Quách Huỳnh Hà, người được giao trách nhiệm, đã cùng với sự tham gia tích cực của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đôn đốc việc cải tổ. Công chức mọi cấp mọi ngành thay nhau đi tham dự các lớp học tập được tổ chức tại trung tâm huấn luyện Vũng Tàu. Trung tâm nằm cạnh bờ biển Long Hải thơ mộng. Các vấn đề được đem ra thảo luận: tản quyền về địa phương, phát triển nông thôn, tay súng tay cày, bài trừ tham nhũng. Toàn là những chủ đề thực tế, hết sức hấp dẫn.

Khối Kinh tế – Tài chính được đốc thúc để đẩy được nền kinh tế đi tới tự túc tự cường. Càng sớm càng tốt. Lúc này cần nhìn thẳng vào thực trạng, xem mặt tốt, mặt xấu, tranh thủ thời gian để uốn nắn lại những bất quân bình của kinh tế vĩ mô. Muốn vậy, cần phải duyệt xét toàn bộ quá trình nền kinh tế để chỉ ra cho đúng những nhu cầu và ưu tiên. Nhìn lại con đường mà nền kinh tế Việt nam đã trải qua trong hai thập niên, tuy nó trắc trở, thăng trầm, nhưng cũng đã có thời điểm khá sáng sủa. Và bên cạnh những tàn phá lại có những xây dựng, phát triển đáng kể, cả về vật chất lẫn con người. Mục tiêu tiến đến tự túc, tự cường, chậm lắm là vào năm 1980 đã không phải là một ảo tưởng.

Thăng trầm của nền kinh tế thời chiến

Thập niên 1960: từ xuất sang nhập.

Thập niên này được Liên Hiệp Quốc tuyên dương là “Thập Niên Của Phát Triển.” Nắm lấy cơ hội, các nước Á châu như Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Singapore và kể cả Nhật Bản, đã nhảy vọt một bước dài trên đường mở mang kinh tế, xã hội. Họ đã vận dụng nhân lực, lấy đất cảng làm động lực thúc đẩy mở mang kinh tế, thu hút đầu tư và kỹ thuật tiên tiến để cải tiến công nghiệp. Việt nam đã mất cơ hội quý báu đó. Tuy nhiên trong những năm đầu thập niên, tình hình kinh tế còn khá triển vọng. Miền Nam vẫn còn xuất cảng được gạo. Với tổng xuất là 340.000 tấn, năm 1960 đánh dấu mức cao nhất trong lịch sử kinh tế Việt nam cộng hoà. Từ năm đó, nông thôn bắt đầu thiếu an ninh, xuất cảng gạo xuống dần, và tới năm 1962, còn 85 ngàn tấn. Sau đó, không đáng kể, nhưng vẫn còn là xuất. Từ 1965 trở đi thì xuất đã biến sang nhập, có năm lên tới 760 ngàn tấn. Một trời một vực so với thời tiền chiến. Năm cao điểm là 1939: xuất cảng gạo của riêng Nam Bộ lên tới gần hai triệu tấn. Tới năm 1954 cũng vẫn còn 520.000 tấn

1. 1969-1971: ba năm vàng son.

Khoáng thời gian 1969-1971, tình hình an ninh miền đồng bằng Cửu Long tương đối tốt, cho phép nhiều người nghĩ tới triển vọng kinh tế lâu dài. Đây là khoảng thời gian cao độ của nền đệ nhị Cộng hoà: chương trình “Người Cày Có Ruộng” ra mắt ngày 26 tháng Ba, 1970 đã thành công với dự đoán: gần một triệu mẫu ruộng được phân chia cho nông dân

2. Đúng là cho vì nông dân đâu có trả tiền.

Chính phủ bán công khố phiếu lấy tiền mua lại ruộng đất của điền chú rồi chia cho nông dân. Điền chủ nào có quá 15 mẫu phải bán đất còn lại. Bầu không khí nông thôn náo nhiệt. Mặc dù chiến tranh vẫn còn, nhưng quyền sở hữu ruộng đất có tác động hết sức mạnh mẽ. Đang từ tá điền, bốn triệu nông dân trở thành gia chủ. Nhưng làm tá điền là ăn chắc, còn địa chủ lại phái lo. Việc sở hữu nó có hai mặt: được hưởng trọn vẹn kết quả mình làm ra. nhưng ngược lại, cũng phải gánh vác rủi ro của mùa màng, thời tiết. Người “tân điền chủ” vất vả, lam lũ:

Người ta đi cấy lấy công,

Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.

Trông trời, trông đất, trông mây,

Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…

Người nông dân chăm chỉ làm ăn như vậy nên kết quả trông thấy. Khi chương trình Người cày có ruộng kết thúc vào tháng Ba, 1973, bộ mặt nông thôn đã trở nên sinh động.

Có ông giáo sư Mỹ nói với chúng tôi: “Người nông dân Việt nam toàn là con cháu Adam Smith”. Nhà kinh tế người Anh nổi tiếng Adam Smith (thế kỷ 18), được coi như cha đẻ của kinh tế thị trường. Ông đặt động lực cạnh tranh của nền mậu dịch tự do dựa trên quyền tư hữu, là yếu tố căn bản nhất của phát triển kinh tế

3. Thêm vào đó tà liến bộ kỹ thuật: loại lúa giống IR-3 phát xuất ở Phillippines được đem vào đồng bằng Cửu Long. Ở một số nước hậu tiến khác mà chúng tôi có dịp quan sát tại chỗ khi còn làm việc cho Quỹ tiền Tệ Quốc tế, thật là rất khó nhọc cho nông dân chấp nhận những kỹ thuật mới. Họ không muốn thay đổi cung cách làm việc, bám chặt lấy những phương pháp sản xuất mà họ quen thuộc. Đằng này, dù đã trồng lúa cổ truyền cả vài ba ngàn năm, đến lúc thấy có giống mới, nhân dân miền Nam vội vàng hưởng ứng. Và hưởng ứng rất nhiệt liệt, đặt ngay tên lúa là “thần công”. Cứ cho đủ phân bón, lượng nước cho đúng mức là nó lên đầy đồng. Cây lúa không cao như lúa cổ truyền, nhưng bụ bẫm, dẻo dai. Khi có bão tố nó nằm rạp xuống, chờ khi bão qua, lại đứng thẳng lên. Tới mùa gặt mà người ta về Cần Thơ, An Giang xem thì thật là sướng mắt: “Cánh đồng mênh mông, cánh đồng bát ngát, ôi cánh đồng dào dạt lúa thơm nồng”.

Đến năm 1971 thì lúa thần nông đã phủ được trên 2,6 triệu mẫu ruộng, bằng 42% diện tích canh tác rồi. Hai động lực này đẩy mạnh sản xuất thóc lên trên bảy triệu tấn, cao hơn năm 1966 là 63%. Nhập cảng gạo lập lức xuống chỉ còn 160.000 tấn. Với đà này thì chẳng mấy lúc nữa là đã đủ gạo ăn và có khi còn dư để xuất cảng

4. Nhiều quan sát viên quốc tế đã cho chương trình “Người cày Có ruộng” là một trong những chương trình cải cách điền địa thành công nhất ở các nước hậu tiến

5. Nó là điểm vàng son của nền Đệ nhị Cộng hoà. Bao nhiêu hy vọng! Biết đâu chẳng mấy lúc nữa, ánh bình minh lại chẳng chiếu rọi khắp thôn quê? Cuối năm đó, một chương trình phát triển kinh tế hậu chiến do nhóm nghiên cứu Lilienthal – Vũ Quốc Thúc được cơ quan viện trợ Hoa kỳ USAID tài trợ đã ra mắt. Người ta bắt đầu nghĩ tới phát triển lâu dài.

Mùa hè đỏ lửa 1972

Dân chúng Việt nam ăn cái tết năm Nhâm Tý khá vui vẻ. Pháo nổ rộn rã. Bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành câu đối đỏ, không có gì là thiếu. Tháng Giêng là tháng ăn chơi, mãi tới tháng hai mới đi trồng đậu, trồng khoai, trồng cà. Đậu phộng mọc nhanh nên tháng ba là đậu đã già và “ta đi ta hái về nhà phơi khô”.

Nhưng rồi nào có đi hái đậu. Tháng ba năm đó đại bác lại nổ rền trời trên vùng vĩ tuyến. Chiến tranh bỗng leo thang, bắt đầu từ cuộc “Tấn công mùa Xuân” của quân đội Bắc Việt tại Quảng Trị. Lúc này, thay vì thế công, Việt nam cộng hoà lại chuyển sang thế thủ. Đà tiến triển kinh tế bỗng khựng lại giữa “mùa hè đỏ lửa”. Trên 200 cầu bị hư hại, bao nhiêu cây số đường xá bị phá huỷ, 40% sản xuất cao su bị mất vì rừng cao su đã trở nên bãi chiến trường. Thêm mấy trăm ngàn người nữa từ miền vĩ tuyến chạy vào phía nam, làm cho số người di cư tăng vọt lên 1,2 triệu. Áp lực nhu cầu tiếp tế càng thêm nặng nề: lương thực, nước uống, thuốc men, vệ sinh, lều trại.

Năm ấy lại là năm mất mùa vì hạn hán! Nhập cảng gạo nhảy lên 284.000 tấn

6. Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm 1972, tình hình lại trở nên tốt đẹp hơn, và nền kinh tế bắt đầu có nhiều dấu hiệu phục hồi. Thần khí của đất nước linh thiêng, sức mạnh của nhân dân dồi dào. Cứ mỗi lần ngã xuống lại tìm cách hồi sinh. sức chịu đựng, ý chí kiên trì được quốc tế thán phục.

Nền kinh tế giao thời: 1973

Nói chung, nhìn vào kinh tế miền Nam lúc giao thời từ chiến tranh sang “hậu chiến”, từ có Mỹ tới không có Mỹ, ta thấy có sáu đặc tính rõ ràng

7. Thứ nhất là cơ cấu chênh lệch: nghiêng hẳn về cung cấp dịch vụ, tương đương bằng 55% tổng sản lượng quốc gia (GDP). Đặc biệt là dịch vụ quốc phòng, hành chánh, quân đội Đồng minh. Sản xuất hàng hoá, vật dụng chẳng có là bao;

Thứ hai là mức lệ thuộc vào nhập cảng: ngoài gạo còn xăng nhớt, phân bón, xi măng, hàng tiêu thụ, vật liệu sản xuất. Tất cả tương đương với hơn một nửa tổng số cung hàng hoá. Trung bình là phải nhập 750 triệu đô la một năm, khoảng 40 đô la đổ đồng trên đầu người (nên nhớ đây là đồng đô la với mãi lực thời ấy). Đang khi đó xuất cảng (cao xu, trà, hải sản, lông vịt) chỉ vào khoảng 4%-5% nhập cảng;

Thứ ba là mức tiết kiệm sụt xuống số âm: trung bình bằng -5% tổng sản lượng gộp nội địa GDP. Lúc còn hoà bình, nó là số dương. Có năm đã lên tới +6% GDP (1960). Khi không còn tiết kiệm nội địa thì đầu tư cho phát triển phải tuỳ thuộc vào tiền bạc từ bên ngoài;

Thứ tư là gánh nặng kinh tế của nạn nhân chiến cuộc: đoàn người di tản từ những vùng thiếu an ninh, đặc biệt là miền Trung, đã lên tới vài triệu. Một số đông di tản về thành thị, làm số người ở đây lên tới 40% tổng dân số (năm 1960 chỉ có 22%). Kết quả là thất nghiệp cao ở thành thị (14%) cùng với những tệ đoan xã hội đi kèm. Đang khi đó nông thôn lại thiếu người canh tác;

Thứ năm là gánh nặng quốc phòng: tình trạng an ninh “thời hậu chiến” còn đòi hỏi một nhu cầu quốc phòng quá lớn, cần chi tiêu tới 50% ngân sách (242 tỷ đồng).

Tài trợ cho phát triển chỉ còn 9% (66 tỷ đồng). Rồi vấn đề nhân lực: 1,2 triệu thanh niên còn phải vác súng, chưa kể 310.000 công, tư chức. Ngoài ra còn số người di tán kể trên, tất cả cũng vượt 30% nhân lực lao động.

Thêm vào năm điểm này phải kể tới một điểm quan trọng khác:

Thứ sáu, tâm lý dựa vào viện trợ: nhìn lại giữa thập niên 1960, ta thấy cái tâm lý này nó đã mau bén rễ. Nền kinh tế Việt nam bé nhó, hậu tiến, sản xuất căn bản là nông nghiệp. Khi quân đội Mỹ ào ạt kéo sang, nhu cầu quốc phòng, tiêu dùng, xây dựng hạ tầng cơ sở nhảy vọt. Mà sản xuất nội địa còn yếu kém, căn bản chỉ là gạo thóc. Để tránh tình trạng khan hiếm, lạm phát phi mã thì chỉ còn cách nhập hàng hoá từ ngoài vào. Nhưng lại nhập quá nhiều và quá nhanh. Tài trợ nhập hàng hoá gồm bốn nguồn: viện trợ nhập cảng (CIP)(Capital Improvement Projects có nghĩa là những dự án chính) + viện trợ thực phẩm phụng sự hoà bình + viện trợ dự án + số đô la phía Mỹ mua tiền Việt nam. Tổng số này đang từ 162 triệu năm 1964 tăng lên tới 830 triệu năm 1966, cao hơn năm lần. Tiền bạc dồi dào, cứ thế mà xài. Chi tiêu công cũng như tư có bề thả lỏng.

Cả Sài gòn chẳng thấy thiếu thứ gì: radio, TV, tủ lạnh, máy điều hoà không khí. Báo chí ngoại quốc gọi Sài gòn là Hondaville. Ngoài nhập cảng, lại còn một nguồn khác: thuốc lá, rượu mạnh, đồ gia dụng từ hệ thống tiếp liệu PX lọt ra thị trường. Cứ đứng trước cổng căn cứ Long Bình mà xem thì rõ.

Chính sách kinh tế thường hay được tính toán dựa theo dự phóng xem số tiền đô la sẽ bơm vào nền kinh tế là bao nhiêu.

Sự kiện này làm tăng lên cường độ của tâm lý lệ thuộc kinh tế VN tai hại hơn, nó lại mang tới nhiều cơ hội tham nhũng cho nhiều người, ở mọi tầng lớp, trở thành ung nhọt xã hội.

Triển vọng tái thiết

Thế nhưng, đằng sau những vấn đề khó khăn, những yếu kém, lại có những yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển.

Với một dân số 20 triệu, thị trường miền Nam lớn hơn các nước Afghanistan, Australia, Hồng Kông, Mã Lai, Nepal, New Zealand, Singapore, Sri Lanka, và Đài Loan. Lợi tức đổ đồng cho một người của miền Nam (tương đương khoảng 150 đô la một năm) còn cao hơn ở các nước Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan và Thái Lan hồi đó

8. Nông nghiệp.

Về nông nghiệp, cải tiến kỹ thuật và lúa thần nông đã nâng sản xuất lên tới bảy triệu tấn thóc vào năm 1973, tương đương bằng 4,6 triệu tấn gạo, gần tới mức đủ ăn. Dự phóng là chỉ tới 1976 đã có thể xuất cảng. Triển vọng này là niềm hy vọng không nhỏ trong lúc khó khăn. Chương trình đa dạng hoá nông nghiệp cũng bắt đầu có kết quả. Các loại cây ăn trái, bắp, đậu phụng, đậu nành, khoai tây, rau cỏ phát triển hết sức nhanh.

Cây công nghiệp được đẩy mạnh để thay thế nhập cảng: sản xuất thuốc lá đã tới trên 18.000 tấn so với 9.000 tấn năm 1971; mía đường lên trên 900.000 tấn, gần gấp ba mức 1970. Dự phóng cho 1975 là sẽ tăng gấp đôi, tức 1,8 triệu tấn. Ngô bắp thì từ 31.000 tấn (1970), tăng lên trên 50.000 tấn (1974).

Lại có khả năng phục hồi sản xuất 70.000 tấn cao xu mức tiền chiến

9. Ngành ngư nghiệp được canh tân, ngư thuyền với máy đuôi tôm lượn đi lượn lại khắp sông rạch. Xuất cảng tôm và hải sản từ vỏn vẹn 500.000 lên gần 11 triệu đô la. Dự phóng cho 1975 là 30 triệu. Tổng số xuất cảng năm 1973 lên tới 53 triệu, tuy khiêm nhượng nhưng cũng là tăng gấp ba lần năm 1972.

Phát triển con người.

Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Tỷ như nước Nhật, tài nguyên rất ít, không có một giọt dầu, thế mà thành quốc gia tiền tiến vào hạng nhất. Còn như những nước dầu lửa Kuwait, Saudi, tiền bạc nhiều biết mấy mà đâu có mức phát triển kinh tế, xã hội cao.

Với 80% dân số là người Kinh, đa số theo Phật Giáo, miền Nam không có vấn đề thù nghịch sắc tộc hay tôn giáo quá đáng như miền Trung Đông chẳng hạn. Ngôn ngữ lại đồng nhất, khác nhau chỉ là về cách phát âm. Việt nam là nước duy nhất ở Á châu dùng mẫu tự La mã a, b, c, rất tiện cho việc tiếp thu kỹ thuật, văn hoá ngoại quốc.

Gần 20 năm hoạt động, cơ quan Viện Trợ Hoa kỳ USAID đã giúp Chính phủ Việt nam phương tiện và kỹ thuật để phát triển giáo dục và đào tạo. Năm 1973, tỷ lệ biết đọc, biết viết là 70% rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó.

Trước năm 1954, miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà nội. Tới 1973, Đại học Sài gòn đã đứng vào hàng quốc tế. Vài thí dụ: bác sĩ xuất thân từ Đại học Y khoa đủ sức phục vụ cho đoàn quân 1,2 triệu mà không cần đến bác sĩ nước ngoài. Sau này họ di tản sang Mỹ, chỉ cần một hai năm đào tạo lại và học thêm tiếng Anh là hành nghề được ngay. Luật gia tốt nghiệp từ khuôn viên “cây dài bóng mát, con đường Duy Tân”, đã làm việc cho các hãng Mỹ ngay ở Sài gòn, và được thán phục. Khi họ đi du học thì thấy luật pháp Mỹ quá rõ ràng, học lại còn dễ nữa.

Ngoài đại học Sài gòn còn sáu đại học khác: Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Hoà Hảo, Cao Đài, Cần Thơ. Năm 1973, tổng số sinh viên đại học lên tới 98.832 so với chỉ vỏn vẹn có 2.900 vào năm 1955. Số học sinh trung học trong cùng năm ấy là trên một triệu so với 43.000; và học sinh tiểu học, trên ba triệu so với 401.000. Ngoài ra còn các trường cộng đồng, trường huấn nghiệp, các chương trình công nghệ mọc lên như nấm.

Chiến tranh lại cũng đào tạo được bao tay nghề đang chờ mong được đóng góp vào sản xuất cho nền kinh tế thời bình. Việc chuyển nhượng kỹ thuật trong thời chiến đã thể hiện rõ ràng ở Nhật. Quân đội Mỹ đóng ở Nhật sau đại chiến và chiến tranh Bắc Hàn đã giúp cho nhân công Nhật Bản tiếp thu được kỹ thuật lắp ráp xe tải, xe tăng. Đội ngũ này sau chuyển sang làm xe hơi, bây giờ cạnh tranh với xe Mỹ, Đức. Ở Miền Nam, mười năm chiến tranh đã giúp có biết bao nhiêu tay nghề: xây dựng, máy móc, lắp ráp, sửa chữa, truyền tin, kiến trúc sư. Đội ngũ thợ xây dựng Đà Nẵng được các nhà thầu ngoại quốc khen ngợi. Khối Công Binh tiếp nhận được ngành nghề cao về xây cất đường xá, cầu cống, nhà cửa. Rồi đoàn phi công bay trực thăng, máy bay vận tải, khu trục cơ, phản lực F5, ra chiến trường thì can đảm, đến khi lái máy bay dân sự có chiêu đãi viên lo cà phê, cơm nước thì lại càng vi vút hơn.

Hạ tầng cơ sở

Một kết quả tốt của chiến tranh là mang tới cho Miền Nam một hạ tầng cơ sở khá tốt, giúp phát triển kinh tế lâu dài. Xây dựng hạ tầng là rất tốn phí và mất thời gian. Tỷ như quá trình xây một cái cầu: từ lúc làm dự án tiền khả thi, tới lúc đánh giá, rồi làm dự án khả thi, tìm nguồn tài trợ, thương thuyết, đi vay, tới xây cất, lúc xong trung bình cũng phải mất năm năm. Đó là một lý do tại sao lại hay có “kế hoạch ngũ niên”.

Nhu cầu quân sự trong thời chiến đòi hỏi xây cất nhiều phi trường. Ngoài những phi trường lớn như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng, Cần Thơ có thể tiếp nhận phản lực đủ loại còn có những phi trường nhỏ ở Đà Lạt, Huế, Kontum, Phú Quốc. Pleiku, Rạnh Giá, và Qui Nhơn. Cộng thêm vào là khoảng 100 sân bay tý hon, rải rác khắp nơi, rất tiện cho việc liên lạc giữa các địa phương

10. Về vận chuyển đường thuỷ thì miền Nam có tới 4.780 cây số sông, rạch (3.000 dậm Anh). Khoảng một nửa là sông ngòi, nửa kia là kinh, rạch. Đó là phương tiện giao thông rẻ tiền nhất và thuận lợi cho nông, ngư dân. Hải cảng lớn gồm Sài Gòn, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Rạch Giá. Những địa điểm rất tiện cho tàu bè cập bến, tiếp vận cho mọi miền dọc theo gần 1.000 cây số bờ biển và duyên hải. Nguồn lợi trông thấy là những cảng này lại có thể đáp ứng hết nhu cầu hàng hải của Lào, bị khoá chặt trong đất liền, miền Đông Kampuchia, và có thể cả miền đông bắc Thái Lan.

Còn đường xá, các nước hậu tiến trông thấy đường xá miền Nam mà thèm. Tất cả có tới 21.000 cây số đường (khoảng 13.000 dậm), trong đó gần 9.500 cây số đường nhựa, đi được quanh năm. Cầu các loại to, nhỏ bắc qua sông tới gần 4.000 cây rất nhiều cầu đã bị hư hỏng, nhưng sửa chữa lại thì cũng nhanh. Tính ra cũng có tới gần 170.000 xe tải và trên 51.000 xe hành khách lưu thông trên hệ thống đó.

Viễn thông của một nền kinh tế phồn thịnh.

Vì tài nguyên và con người như vậy, nên Miền Nam thực sự đã có triển vọng phát triển một nền kinh tế phồn thịnh, hết bị lệ thuộc.

Về hạ tầng cơ sở, không phải là ông Trời không ưu đãi. Có điều là tiềm năng nằm đó mà chưa khai thác ra được. Trên con đường tiến tới tự túc tự cường, có hai của quý Trời phú: túi dầu nằm ở thềm lục địa và Vịnh Cam Ranh.

Kho tàng dầu lửa: tài nguyên Trời cho.

Cho dù không bằng túi dầu của Indonesia, một nước trong khối OPEC, tiềm năng dầu lửa, dầu khí trong một vùng rộng 500.000 cây số vuông của thềm lục địa Miền Nam không phải nhỏ. Năm 1973, vừa hô lên đã có bao nhiêu hãng dầu quốc tế nhảy vào, bất chấp là tình hình an ninh chưa ổn định. Hai vòng đấu thầu năm đó cũng đã mang lại được 17 triệu đô la. Vào lúc liền đang cạn, giá trị tâm lý của số tiền này còn lớn hơn mấy lần. Đấu thầu năm 1974, số tiền lên tới 30 triệu.

Chính phủ cấp giấy phép cho sáu tổ hợp công ty dầu lửa được khai thác 13 địa điểm trong một khu vực 82.000 cây số vuông.

Đây mới chỉ là 16% của thềm lục địa.

Đến cuối 1974, tất cả các công ty đều hoàn thành nghiên cứu chi tiết về địa chất. Theo hợp đồng, các công ty khoan thầu phải bắt đầu khoan dầu thử nghiệm trong vòng 24 tháng kể từ lúc hợp đồng có hiệu lực. Thế mà hai công ty trúng thầu đợt một đã bắt đầu khoan một năm trước hạn chót: Pecten vào tháng Tám, và Mobil, tháng 10.

Chỉ hơn hai tuần, vào ngày 17 tháng Tám 1974, Pecten đào trúng ngay dầu ở lô 08-TLD, đặt tên là HÔNG-X. Kết quả cho thấy có dầu dưới độ sâu 1.374 mét. Rồi giếng thứ hai, DỪA l-X, trong cùng một diện tích lại tìm được khả năng dầu thô và dầu khí cao hơn. Thử nghiệm cho thấy tất cả có hai nguồn: mỗi nguồn có thể khai thác ngay 1.514 thùng dầu thô một ngày và 5,8 triệu thước khối Anh (cubic feet) dầu khí một ngày. Sau đó, lô DƯA l-x được chính thức tuyên bố chính xác là “mỏ dầu”. Hãng Pecten rất vui mừng, nên tiến hành khai thác ngay lô 06-LTD, và đã tìm thấy có dấu hiệu còn khả quan hơn.

Tới tháng 10, 1974 hãng Mobil khoan giàn BẠCH HỔ 1, tại lô 04-TLD, tìm được “lượng dầu quan trọng” dưới độ sâu trên 2,7 cây số (9.000 feet). Tin mừng cứ thế đến liên tục. Hãng Marathon và Union Texas quyết định khoan giếng đầu vào cuối 1974. Hai hãng Esso và Sunningdale có kế hoạch khoan dầu vào tháng 4-1975! Ước tính là vào cuối 1975, sẽ có ít nhất 20 dàn khoan. Sản xuất một lượng dầu khả quan sắp được bắt đầu muộn lắm là vào cuối năm 1977.

Có lần chúng tôi được một hãng khoan dầu mời ra xem dàn khoan ngoài khơi. Trên chuyến trực thăng, tôi hỏi anh phi công Pháp: “Anh nghĩ Việt nam có nhiều dầu không?” Anh vui vẻ trả lời tôi không biết rõ, nhưng theo kinh nghiệm làm việc cho các hãng dầu lửa nhiều năm, tôi thấy ở nơi nào có nhiều tôm là có dầu lửa”. Nghe thật mát ruột. Anh ta còn thêm: “Tôi nghĩ rằng quý ông có cả dầu lửa ở Đồng Bằng Cửu Long nữa”. Thực hư không biết, nhưng đầu năm 1975, có người giới thiệu một công ty ngoại quốc (mà hiện tôi không nhớ là hãng nào) tới văn phòng để bàn về chuyện này. Họ nói “chúng tôi nghiên cứu sơ khởi và tin rằng có dầu lửa, dầu khí ở vùng Cửu Long”.

“Ở đâu?” tôi vội vàng hỏi. “Chúng tôi không thể trả lời ông được, vì phải chi phí tốn kém mới có những thông tin này”. Họ đề nghị Chính phủ hai điểm: thứ nhất, cho công ty đào ngay mà không phải qua thủ tục đấu thầu, hành chánh rườm rà; thứ hai, khi khai thác được dầu sẽ chia đôi, một nửa cho công ty, một nửa cho Chính phủ. Tôi nói ngay với Tổng thống Thiệu về việc này. Ông tỏ vẻ vui mừng nói “trong lúc này, ai làm được gì giúp ích là phải cho ngay.”

Tin tức về dầu lửa luôn được báo chí đăng lên trang đầu. Truyền hình chiếu những cảnh dàn khoan bận rộn ngoài khơi, những ngọn đuốc đốt bằng dầu khí chiếu sáng vòm trời vào đêm khuya. Trong khung cảnh tối tăm cuối năm 1974, những ngọn đuốc này cũng mang tới một tia sáng loé lên trong tâm trạng dân quân Miền Nam.

Vịnh Cam Ranh.

Vịnh Cam Ranh được coi là vịnh có nước sâu, đẹp và tốt nhất ở Đông Nam Á. Người ta còn so sánh Cam Ranh với Vịnh San Francisco ở Mỹ. Thời Pháp thuộc, ngân sách các nước thuộc địa eo hẹp, tuy biết triển vọng của vùng này, nhưng họ vẫn để nằm ụ ở đó, chỉ dùng một cảng nhỏ cho vài chiếc tàu hải quân Pháp. Cách Sài Gòn 400 cây số, Vịnh nằm vào vĩ tuyến 12, gần ngay trục giao thông hàng hải quốc tế Singapore, Hồng Kông, Thượng Hải, Yokohama. Cam Ranh chỉ xa trục này chừng một giờ tầu biển, trong khi Vũng Tàu cách ba giờ, Hải Phòng cách tám giờ. Vịnh có chiều sâu trung bình từ 18 tới 20 mét. Chỗ sâu nhất là 30 mét. Hải sản nơi đây phong phú, nổi tiếng là tôm hùm Bình Ba và sò Trà Long. Ngoài ra còn nguồn cát trắng với chất lượng cao rất là phong phú. Dọc theo bờ biển năm sáu cây số, mỏ cát Thuỷ Triều nằm ở phía Bắc bán đảo Cam Ranh. Nơi đây có cát trắng với độ sạch tới 99%, là nguyên liệu dùng sản xuất pha lê loại thượng hạng và thuỷ tinh quang học. Ngoài ra còn có khoáng chất thạch anh (quazt) quý giá, dùng làm đồng hồ chạy thật chính xác. Tôi còn nhớ mỗi khi gặp ông Đại sứ Nhật, thấy ông chỉ hay hỏi han về tiến trình phát triển “Vùng Vịnh”. Sau này tôi mới được biết là vừa có Hiệp định đình chiến là đã có một công ty Nhật vào làm nghiên cứu khả thi cho một dự án hoá dầu (petrochemical).

Vịnh Cam Ranh là một bình phong chắn gió an toàn cho tàu bè trú ẩn khi bão tố. Cửa biển vào vịnh rộng ba cây số, sâu 20 mét, không có phù sa bồi. Vào thời “Nhật Nga Chiến kỷ”, năm 1905 hạm đội Nga do Đô đốc Z.P. Rozhestvensky chỉ huy trên đường đi đánh trận hải chiến Tsushima, đã vào Cam Ranh trú ẩn. Năm 1941 Nhật chiếm đóng Cam Ranh rồi rút năm 1945.

Nga tiếp tục nhòm ngó. Mùa xuân 1975, vào lúc tình hình căng thẳng nhất, ngày 23 tháng Ba, giữa một buổi họp trong văn phòng Tổng thống Thiệu, Đại tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn phòng gõ cửa vào đưa một báo cáo từ miền Trung cho ông Thiệu: hải quân ta vừa phát hiện có máy bay trực thăng Nga bay thám thính trên không phận Vịnh Cam Ranh”.

Ông Thiệu nổi sùng, “Để nó bay đi rồi còn báo cáo gì nữa!”

Bán đảo Cam Ranh.

Hai mươi năm sau khi Nhật rút khỏi Cam Ranh, quân đội Mỹ vào xây cất lên một công trình vĩ đại. Với diện tích 260 cây số vuông ( 100 square miles), bán đảo này giống như hình một cái chai, có chiều dài 12 cây số và chiều ngang bảy cây số ở điểm rộng nhất. Một hệ thống tiếp liệu rất lớn gồm các kho nhiên liệu, kho đạn, xưởng đại tu xe tăng, nhà máy điện, khu nhà ở, giải trí được xây cất. Thêm vào là phi cảng quân sự thật lớn. Sân bay có hai đường băng 3.200 mét, phi cơ loại nào đáp xuống cũng được. Hệ thống đường bộ chằng chịt, giao thông rất thuận tiện. Là một bán đảo, hai bên là biển mà lại có hồ chứa nước ngọt lớn, với trữ lượng thường xuyên hàng trăm ngàn mét khối. Đó là Hồ Ao Hổ rộng 250 mét, dài 1,5 cây số. Vào cuối mùa khô tính ra cũng còn gần 300 triệu ga-lông nước. Nhờ mỏ nước ngọt trong lòng đất nên cây cối xanh tươi. Ngoài hồ, còn một số giếng nước do quân đội Mỹ đào, tụ lại thành 10 điểm cung cấp nước ngọt cho 15.000 lính.

Hải cảng Cam Ranh.

Cảng này là một trong ba cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới, đứng sau Sydney (Úc) và hơn Rio de Janeiro (Brazil). Ngoài bốn bến tầu (trong chín bến lúc đầu) còn tốt, còn có nhiều cầu tầu có thể bỏ neo bốc rỡ hàng hoá, và 14 phao nổi được cột xuống chắc chắn.

Khi Mỹ trao lại cho Việt nam cộng hoà vào tháng Sáu thì bán đảo Cam Ranh là một của quý. Đã có sẵn một hải cảng lớn, vừa gần biển, vừa cách biển, lại có một hạ tầng cơ sở nằm sát bên để phát triển kỹ nghệ, du lịch, thuỷ hải sản, đóng tầu, sửa tàu, vận tải thương thuyền hàng hải. Cam Ranh còn có hệ thống ra đa tối tân, hệ thống thông tin liên lạc qua Thái Lan. Phillippines bằng giây cáp ngầm xuyên biển, hết sức hấp dẫn với các nhà đầu tư quốc tế. Bắt ngay lấy cơ hội, phía Việt nam cộng hoà yêu cầu Cơ quan viện Trợ Hoa kỳ SAID tài trợ một nghiên cứu sơ khởi, một dự án tiền khả thi, nhằm biến đổi một phần của bán đảo Cam Ranh, thành một khu công nghiệp.

Theo kết quả nghiên cứu thì Cam Ranh có thể phát triển theo nhiều giai đoạn.

Giai đoạn đầu là phát triển một khu công nghiệp khoảng 2.000 mẫu tây gồm khu nhà máy, khu nhà ở, giải trí, khuôn viên bảo tồn thiên nhiên. Cảng thì đã có sẵn. Khu kỹ nghệ có thể cho thuê được ngay gồm 480 mẫu tây mặt bằng, cộng với 85.40 mét vuông nhà xưởng. Vì không phải mất tiền đền bù việc di dân, cũng không phải xây cất hạ tầng cơ sở, nên dự án tiết kiệm được thời giờ và ít tốn kém. Chỉ trong hai năm là xong. Chi phí lại rất thấp: khoảng 10 triệu đô la, trong đó số tiền tương đương bảy triệu là tiền Việt nam để trả nhân công, chí phí nội địa. Chỉ cần ba triệu đô la trả tiền kỹ sư và vật liệu nhập cảng là đủ. Trong giai đoạn đầu có thể cho phát triển kỹ nghệ nặng. Đặc biệt là công nghiệp hoá-dầu, amonium, phân Urea, Natri cácbônát khan (soda ash), kỹ nghệ kính để cho các công trình kiến trúc. Tất cả những nhà máy này tốn khoảng 155 triệu đô la để xây dựng và chỉ trong vòng năm năm là có thể bắt đầu hoạt động sản xuất.

Thực ra, không phải đợi tới sau năm năm: đang phát triển giai đoạn đầu là đã có thể làm những bước cho giai đoạn hai, nhắm vào kỹ nghệ nhẹ, chế biến. Khách đầu tư sẽ đổ xô vào “vùng Vịnh” Việt nam. Rồi tới những kỹ nghệ nặng hơn nữa như sắt, thép, kỹ nghệ lọc dầu, kết hợp với các dàn khoan dầu ngoài khơi.

Cảng Cam Ranh dần dần sẽ được tận dụng. Từng bước một, công trình nghiên cứu kết luận: “Phát triển cho đúng mức, tiềm năng của cảng Cam Ranh bằng Singapore, nó sẽ là cảng Hồng Kông thứ hai.”

Tóm lại, nếu tổng kết toàn bộ những yếu tố tiêu cực, tích cực thì hình ảnh của nền kinh tế Miền Nam thời “hậu chiến” không phải là đen tối. Trái lại có thể nói là có nhiều triển vọng, nhiều nhà kinh tế đã đồng ý rằng Miền Nam hội đủ điều kiện cần thiết để tiến tới chỗ thoát khỏi tình trạng hậu tiến, cũng giống như Đài Loan, Nam Hàn. Và việc phát triển sẽ mất ít thời gian hơn là các quốc gia kia, một phần vì đã có sẵn những xây cất hạ tầng tương đối đầy đủ. Lại còn thêm của Trời cho. Quan sát tại chỗ, Đại sứ Martin đã phát biểu cho ký giả tuần báo U.S. News and World Report.

11. “Đôi khi ta thấy trong cùng một quốc gia có sự phối hợp giữa tài nguyên phong phú, một hệ thống hành chính có quyết tâm với những chính sách kinh tế hợp lý một dân tộc thông minh, khéo léo, và hết sức dẻo dai, với một khả năng cố gắng bền vững, một quyết lâm mãnh liệt và tha thiết bảo tồn tự do của mình.

“Khi có một kết hợp như vậy, như hiện đang có ở Miền Nam Việt nam, thì chỉ cần một nguồn tài chính từ ngoài vào làm vai trò tác dộng, để nối kết tất cả những yếu tố này lại với nhau thì có thể có những kết quả thật là xuất sắc”

Thực vậy, vào thời điểm đó, mục tiêu tiến tới độc lập về kinh tế sau một kế hoạch ngũ niên (1975-1980) là rất có thể tin được Bộ Kế hoạch ước tính là chỉ cần có nguồn tài chính khiêm nhường khoảng 700 triệu đô la một năm để giúp tài trợ cho kế hoạch này là “bung ra” được rồi (take-off). Từ 1980, miền Nam sẽ không còn phải dựa vào Hoa kỳ nữa.

Như vậy, tổng số của nguồn tài chính này tính ra là 3,5 tỷ đô la (700 triệu cho năm năm), xấp xỉ bằng số tiền người Việt từ nước ngoài đang gửi hằng năm về cho thân nhân ở Việt nam ngày nay.

——————————–

1          Về sản xuất gạo của hai miền Nam, Bắc, xem Nguyễn Tiến Hưng, Economic Development of socialis Vietnam, 1975-1980, trang 3-16 và Haut Commissariat de France Pour L’indochine, Annuaire Statistique de l’Indochine, 1939-1940.

2          Nguồn: USAID.

3          Sách nổi tiếng của Dam Smith là The Wealth of nations (1776).

4          Tài liệu Bộ kế hoạch, VNCH, và USAID.

5          Nguồn: USAID.

6          Nguồn: USAID.

7          Nghiên cứu của tác giả.

8          Xem Business International Asia/pacific Ltd., Risks and Rewards in Vietnam’s Market trang 13.

9          Tài liệu Bộ kế hoạch, VNCH, và USAID.

10        Business International Asia/pacific Ltd., Risks and Rewards in Vietnam’s Market, trang 74.

11        J. U.S. News and World Report, 29 tháng 4, 1974.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 23 Aug 2025

17. Hoàng Trúc Ly

Liên tiếp trong ít ngày gần đây, người ta được biết, giới cầm bút ở miền Nam trước 75 còn ở lại trong nước, đã mất đi thêm ba người nũa, đó là các nhà văn Trần Phong Giao, tổng thư ký tạp chí Văn, thi sĩ Hoàng Trúc Ly và nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn.

Thực ra, cả ba người, mất như thế, cũng không trẻ lắm. Nhưng cái chết của họ vẫn làm cho người ta bàng hoàng, nhất là những người ở xa, từ lâu đã bặt tin nhau. Dù thân hay sơ người ta đều cảm thấy trong lòng có điều ân hận. Ân hận vì đời sống đã có những lúc khốn cùng, đến nỗi, người ta không còn tâm trí nào nghĩ đến nhau nữa. Hoàng Trúc Ly thuộc thế hệ các thi sĩ trưởng thành tại miền Nam sau 1954. Người đọc biết đến thơ và yêu thơ Hoàng Trúc Ly từ trước khi thi phẩm duy nhất của ông, tập Trong Cơn Yêu Dấu được xuất bản.

Người giới thiệu thơ Hoàng Trúc Ly nồng nhiệt nhất với độc giả là Hoàng Trọng Miên khi ông phụ trách biên tập tuần báo Cải Tạo của Hoàng Văn Thụ, bộ mới, xuất bản khoảng 55-56. Sau biến cố 1975, Hoàng Trọng Miên tỏ ra hết sức hoạt động, nhưng dường như không được nhà cầm quyền mới chú ý, vì sau đó vài năm thấy ông cũng mất trong lặng lẽ.

Hoàng Trọng Miên coi Hoàng Trúc Ly như một thiên tài. Phạm Công Thiện viết về Hoàng Trúc Ly như sau:

“Thơ Hoàng Trúc Ly có ma lực kỳ quái của những câu phù chú. Đối với Hoàng Trúc Ly, ngôn ngữ hãy còn mới tinh. Mỗi chữ đều mang một linh hồn, mỗi chữ là một sinh vật. Tôi gọi Hoàng Trúc Ly là thi sĩ lớn, là nhà thơ bực thầy của thi ca hiện đại”.

Còn nhà phê bình văn học Tam Ích cho rằng: “Hoàng Trúc Ly đã và đang làm mọi người ngạc nhiên ít nhất là một lần nữa về thiên tài của mình.

Tôi dùng danh từ thiên tài không dè dặt chút nào, Ly vốn khiêm tốn; nhưng cách đây gần mười năm [1967-1957], một trong những người bạn đường văn nghệ đầu tiên của Ly là tôi, là người có quyền hãnh diện với chính mình, và hãnh diện cho cả văn và thơ hiện đại”.

Nguyệt san Khởi Hành của nhà thơ Viên Linh đã ra một số đặc biệt, tháng 6-2005 tưởng niệm Hoàng Trúc Ly, ngoài bài viết của chính Viên Linh còn có bài viết của các nhà văn nhà thơ: Nguyễn Thụy Long, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Đạt, hiện còn sống ở trong nước, kể lại những kỷ niệm vui buồn của họ với Hoàng Trúc Ly kể từ sau 1975.

Bài viết của Nguyễn Thụy Long, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Đạt không phải là những bài phê bình thơ Hoàng Trúc Ly, nhưng nó giúp cho những người đọc biết rất nhiều khía cạnh khác về đời sống, tâm hồn và con người Hoàng

Trúc Ly, để từ đó có thể hiểu rõ thơ ông hơn. Viên Linh kể lại một buổi gặp Hoàng Trúc Ly như sau: “Khoảng một hai ngày sau khi anh Tam Ích treo cổ tự ải, Hoàng Trúc Ly cầm một tờ giấy đến tòa soạn Khởi Hành ở số đôi 225-227 đường Phạm ngũ Lão đưa cho tôi một tờ giấy. Khóc Tam Ích. Tôi biết Ly khóc thật, hai người đó rất thân nhau.

Tôi đăng bài thơ Khóc Tam Ích ngay trên trang bìa tờ Khởi Hành ra ngày 13 tháng 1.1972, đúng một tuần sau ngày tác giả Sartre và Heidegger trên thảm xanh … đứng lên. Tôi đã định viết nằm xuống. Nhưng chợt nhớ Tam Ích không nằm xuống trên chồng tự điển và các sách khác, mà đứng lên, đứng trên chồng sách, nối sợi dây tròng vào cổ mình với xà nhà và đạp đổ chồng sách dưới chân. Vậy hành động cuối cùng của anh là đứng lên, chứ không phải nằm xuống.

Cho nên khóc Tam Ích, Ly viết:

Nỗi buồn siết cổ nghìn thu

Cho người nghẹn họng giã từ khổ đau”.

Nguyễn Thụy Long cho biết, sau 75, ông và bao nhiêu văn nghệ sĩ chán đời khác, gặp nhau ở chợ trời là sẵn sàng cưa đôi một xị đế thời ấy gọi là “nước mắt quê hương”. Họ buôn đầu chợ bán cuối chợ bất cứ thứ gì, chôm đồ nhà đi bán, miễn có chút tiền uống rượu, cái thứ rượu nồng độ được tăng bằng methanol, bằng thuốc rầy. Hai người thân nhất với Nguyễn Thụy Long thường cùng ngồi uống với nhau là diễn viên điện ảnh Huy Cường và Hoàng Trúc Ly. Rồi cả Huy Cường và Hoàng Trúc Ly sau đều bị chết vì tai nạn xe.

Nguyễn Thụy Long viết:

“Một buổi chiều tôi lên Sài Gòn để thăm lại nơi Hoàng Trúc Ly, Huy Cường và tôi hay ngồi ngày nào, nhưng không còn như xưa nữa. Cái tượng đài Thủy Quân Lục Chiến đã bị giật sập từ lâu rồi, tòa nhà Quốc Hội nay trở lại nguyên dạng nhà hát, như tên người ta gọi Nhà Hát Tây ngày xưa.

Hàng rượu bán ‘nước mắt quê hương’ không còn nữa, tất cả đều là bóng mờ dĩ vãng”.

Trần Tuấn Kiệt nhắc lại những ngày đầu quen biết Hoàng Trúc Ly khi hai người, chắc là còn rất trẻ, cộng tác với báo Phổ Thông của Nguyễn Vĩ.

Trần Tuấn Kiệt có trích dẫn một bài thơ của Hoàng Trúc Ly, chép theo trí nhớ. Một người khác cũng thuộc bài thơ đó, theo như lần đầu nó được công bố, trên tờ Cải Tạo. So hai bài, có nhiều câu, chữ khác nhau.

Bài của độc giả báo Cải Tạo như sau:

Những người xưa đi rồi không về nữa

Một mình tôi lại gặp một mình em

Chiều lửng lơ nghe nắng rụng bên thềm

Em nín lặng mắt buồn ươn ướt đỏ

Nhà tôi nghèo mái tường rêu thiên cổ

Đời lạnh lùng bốn hướng gió và mưa

Ta lạc nhau từ em còn bé nhỏ

Tôi thương em, thương biết mấy cho vừa

Bởi vì đâu da em xanh sốt rét

Nắng rưng vàng lên mái tóc mồ côi

Ngày giặc giã quê hương mình mỏi mệt

Mười năm qua hình ảnh có ngậm ngùi

Bài Trần Tuấn Kiệt chép còn có thêm mấy khổ thơ nữa. Không biết bài thơ đã được xuất bản thành tập chưa? Nhưng cũng vẫn còn những tờ báo để người có thể sửa chữa những sai lầm của người này hay người khác, để có một bản chính thơ của Hoàng Trúc Ly. 12 câu thơ Trần Tuấn Kiệt nhớ thêm như sau

Nhà anh nghèo, anh đau tim, anh yếu phổi

Em bềnh bồng anh phiêu lãng về đâu

Không dĩ vãng cho đêm dài đợi sáng

Không mai sau cho nước chảy qua cầu

Em bảo anh người đi không trở lại

Nấm mồ ai như giọt lệ chưa tan

Ngọn gió nào mang anh vào mộng mị

Em giang hồ làm tiếng hát lang thang

Ta đến bên nhau sao chùng bước mỏi

Lời sắp xé môi sao bỗng nghẹn lời

Anh nhớ em: núi cao càng hiu hắt

Anh thương em, máu vọt bốn phương trời

Chỉ mới vài chục năm thôi mà ghi chép về tiểu sử Hoàng Trúc Ly đã có nhiều điều không rõ ràng, không thống nhất. Hoàng Trúc Ly tên thật là Đinh Đắc Nghĩa. Người ghi ông sinh năm 1937, người viết ông sinh năm 1933. Người nói ông sinh tại Đà Nẵng nhưng gốc Huế. Người lại kể rằng ông người làng Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông mất năm 1985, nhưng không ai biết ông mất ngày, tháng nào.

Đó là những điều thiếu sót đáng tiếc, đối với một nhà thơ tên tuổi như Hoàng Trúc Ly, những điều thiếu sót còn có thể sửa chữa được, vì Hoàng Trúc Ly hẳn còn những than nhân, để những người viết văn học sử Việt Nam thế kỷ XX kiểm chứng.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 23 Aug 2025

16. Hoàng Ngọc Tuấn

Hoàng Ngọc Tuấn là một trong những nhà văn trẻ được đọc rất nhiều trước 1975. Ông vừa mất ở trong nước. Nói như vậy để phân biệt ông với nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn hiện đang sống tại Úc.

Hoàng Ngọc Tuấn, nhà văn, là tác giả các tập truyện ngắn, truyện dài: Hình Như Là Tình Yêu, Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau, Chuyện Hai Người, Nhà Có Hoa Mimosa Vàng, Cô Bé Treo Mùng, Thư Về Đường Sơn Cúc … tất cả đều là những truyện tình.

Trong tập Văn Học Miền Nam tổng quan, phần nhận định về Hoàng Ngọc Tuấn, Võ Phiến viết:

Thư Về Đường Sơn Cúc là một thiên truyện chăng? Không. Là thơ đó. Mặc dù Hoàng Ngọc Tuấn không gieo vần, hầu hết các tác phẩm của ông đều có hoặc ít hoặc rất nhiều tính chất thơ. Bởi vậy, có thể xem đây là tác phẩm tiêu biểu của Hoàng Ngọc Tuấn, tiêu biểu về một xu hướng sáng tác chính yếu nơi ông.

Từ tác phẩm này đến tác phẩm khác – những tác phẩm ‘hình như là tiểu thuyết – Hoàng Ngọc Tuấn mải mê làm thơ về hai đề tài: Tình yêu và Thiên nhiên. Như thế có thể nói, Hoàng Ngọc Tuấn dùng những hình thức ‘hình như là tiểu thuyết’ theo cách nói của Võ Phiến để viết những truyện hình như là tình yêu’ theo cách nói của chính Hoàng Ngọc Tuấn. Tại sao lại chỉ hình như?

Bởi vì, đọc những truyện như Thư về đường Sơn Cúc quả thật người ta không biết Hoàng Ngọc Tuấn đang làm thơ hay đang viết truyện.

Truyện được viết dưới hình thức những lá thư trao đổi giữa một người Bạn Lớn và một người Bạn Nhỏ. Những chữ in nghiêng là lời [hay thư] của người Bạn Lớn, những chữ in thẳng là thư của người Bạn Nhỏ.

Nói rõ như vậy để các độc giả dù không có cuốn sách trong tay, cũng có thể mường tượng các trang sách được ấn loát thế nào.

Xin trích dẫn một đoạn sau đây:

“Căn nhà của em ở trên một con đường xác xơ ven biển, nhà không có số và gió đã thổi mất tấm bảng chỉ đường. Nhưng có hề gì đâu, tôi sẽ gửi cho em về địa chỉ mới: Con đường Sơn Cúc, vì em nói mỗi ngày em đều đi qua đó.

Ông có biết có một loài hoa ấy không Cả nhà gọi nó là cúc rừng. Chỉ mình em thầm gọi là hoa Sơn Cúc.

Hoa vàng óng ả

Hoa vàng mật ngọt

Vàng rực rỡ cả một lối mòn

Được gọi là Đường Sơn Cúc của em.

Tôi thấp thoáng trông hình bóng em chao mờ giữa một rừng hoa thắm. Mỗi sớm mai từ nhà đến trường, với cặp sách giáo khoa trên tay mà hồn đã bay lãng đãng đến tận cuối chân trời nào, một mình em lững thững, không hề nôn nóng vội vàng nhớ đến tiếng chuông reo vào lớp.

Em chê đường mòn

Dẫu rằng lối mòn dẫn đến trường lâu hơn

Vẫn thích một mình giữa đám lính hầu Sơn Cúc

Đứng ở hai bên làm vòm che mát cho em

Cả nhà gọi đùa em là cô bé quàng khăn đỏ

Nhưng đường dễ thương ấy

‘răng’ có sói thịt em nổi

Ở đây chỉ có nai

Bọn hắn mê xơi tái hoa cúc ghê lắm

Những cặp mắt nai

tia nhụy óng nhớ thương ngăn em kể lể

Rồi ngày nào em cũng băn khoăn

Vừa muốn về lại nhà lại vừa không

Nhưng ông sẽ về thăm con đường của em không?

Hơn là muốn nữa chứ. Tôi quá thèm bay về miền biển đó, nhảy nhót trên con đường của em theo tiếng sóng vỗ vào gềnh đá làm nhịp trống tưng bừng.

Truyện như vậy ta nên gọi là tiểu thuyết hay thơ? Có chăng tình yêu giữa người Bạn Lớn và người Bạn Nhỏ? Hay chỉ có chút gì đó ‘hình như là tình yêu’ giữa họ? Có lẽ không có gì cả. Chỉ có một thế giới thơ mộng do

Hoàng Ngọc Tuấn tạo ra để ông cất giữ cái tuổi đẹp nhất đời người, cái tuổi tất cả những ước mơ, tưởng tượng của người ta đều một nửa là sự thật. Ông không bận tâm gì đến cuộc chiến tranh tàn khốc đang vây quanh và trăm ngàn nỗi khó khăn của cuộc sống chính bản thân ông đang lận đận trong đó. Cũng có thể đó là cách Hoàng Ngọc Tuấn cố tình xây lưng lại thực tế để bảo vệ những ước mơ của mình. Đó là cái cõi ai cũng có lần trải qua nhưng vô tình bỏ lỡ không biết, hay không có cơ hôi tạo ra những kỷ niệm, nên không có dấu mốc để lần trở về, khi đi qua rồi, chỉ còn lại một vùng trắng trong ký ức.

Chỉ riêng trong năm 71-72 Hoàng Ngọc Tuấn đã cho ra đời 6 tác phẩm. Ông dự tính trong năm 1973 sẽ viết thêm ít ít nhất 6 tác phẩm nữa. Ông sinh ở Huế nên còn có ý định dành cho Huế một tác phẩm lớn. Ông viết dễ dàng. Nên người ta tin ông có thể thực hiện được hết những ước muốn. Nhưng kể từ biến cố 30 tháng 4/75, Hoàng Ngọc Tuấn đã hoàn toàn giữ im lặng. Ông không viết nữa hay không viết được nữa, điều đó chỉ một mình ông biết. Đã có một thời tuổi trẻ mang ơn ông vì ông đã đem đến cho tâm hồn họ thêm rất nhiều sự giàu có. Những người bằng tuổi ông, lớn hơn ông, cũng mang ơn ông vì ông đã giữ lại thế giới tuổi thơ cho họ trong các tác phẩm của mình, mặc dù cũng có những người cho rằng ông viết giản dị. Xin trích dẫn sau đây ít dòng trong truyện Mưa Mùa Đông, một truyện ngắn khác của Hoàng Ngọc Tuấn, chứng tỏ sự trong sáng, giản dị lại chính là cái đẹp của tâm hồn cũng như các trang văn của ông.

Như vậy không đủ sao?

“Đêm khuya, tôi nhìn sang nhà Bích Câu, phòng nàng vẫn còn thắp ánh điện vàng. Chắc nàng đang sửa soạn lại bài vở và ủi chiếc áo dài trắng. Tôi lấy chăn đắp kín người, để đôi mắt mở ra vẫn không nhìn thấy gì cả. Sáng mai, trên đường sẽ có nhiều người đi. Bích Câu sẽ thướt tha trong chiếc áo dài trắng, khuôn mặt nàng sẽ nghiêm trang như thường lệ, có thể nàng làm lơ khi thấy tôi hay chỉ nhếch mép cười mỉm rất nhanh. Dầu sao tôi cũng mong con đường của nàng đi sẽ đen nhánh, lóng lánh như hột nhãn sau những ngày nước mưa quét sạch bụi bậm. Nếu thỉnh thoảng trên đường có một vài màu xanh lấm tấm, đó là màu xanh của những trái sầu đông đã rơi vội vàng trong mùa mưa bão”.

Thương những nấm mồ

hung-viet.org

23 Tháng Tư 2012

Huy Phương

Post by Sơn râu 22 Aug 2025

Hai phụ nữ cầu nguyện cho thân nhân vừa chôn trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa ngày 29 Tháng Tư, 1975. (Hình: Francoise Demulder/AFP/Getty Images)

Mỗi lần Tháng Tư về, ai trong chúng ta cũng có những hồi tưởng và suy nghĩ khác nhau, phần tôi vẫn ám ảnh bởi những nấm mồ oan khuất gây ra bởi biến cố này, mà thủ phạm không ai khác hơn là những người thắng trận cuối cùng. Phải nhìn nhận sự thật rằng, điều khác nhau giữa một đoàn quân ngoại quốc xâm lược và Cộng Sản Bắc Việt “giải phóng miền Nam,” thì những người sau, cùng chung một thứ ngôn ngữ như chúng ta, nhưng sự tàn sát những người thất trận tệ hại hơn bất cứ một cuộc chinh chiến nào. Họ nhanh chóng bắn giết, cầm tù những người chống họ và đặt quyền đô hộ tức khắc lên đầu người dân ở “vùng chiếm đóng,” danh từ mà họ vẫn thường dùng để đối nghịch lại với những vùng đất gọi là “vùng giải phóng.” Theo tôi, danh từ “vùng chiếm đóng” là xác thực nhất để mô tả toàn bộ miền Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, và cộng sản đã tàn ác hơn bất cứ một quân đội xâm lược nào.

Như thế nào mới gọi là một cuộc “tắm máu?”

Mặc dầu đã có lệnh đầu hàng của cấp chỉ huy, những người lính VNCH, nhân viên chính quyền xã ấp, đảng viên các đảng phái khi ra đầu hàng đã bị du kích và lính chính quy Việt Cộng trả thù bằng cách tàn sát, thân xác bị vùi dập ở bìa rừng, bờ ruộng cho đến bây giờ gia đình nạn nhân cũng không hề biết họ ở đâu. Trong cuộc rút lui của những người lính miền Nam đã buông vũ khí, bọn du kích chọn trò chơi bắn sẻ và pháo tập trung để lại bao nhiêu máu xương trên những vùng cát biển của miền Trung, những hài cốt trôi dạt theo sóng biển hay lẫn lộn với đất cát thời gian. Những cái chết không để lại dấu tích, nhưng nỗi đau của những người thân không bao giờ phai nhạt vì ba mươi bảy năm qua gia đình chưa có nắm xương về.

Chính quyền mới bắt buộc trình diện và cầm tù không có bản án tất cả nhân viên chính quyền, quân đội, đảng phái miền Nam, tịch thu nhà cửa, xô đẩy gia đình của họ đi vùng “kinh tế mới” với mục đích trả thù, đày đọa những thành phần gọi “phản cách mạng,” dành nhà cửa, ruộng vườn cho cán bộ, viên chức được đưa từ miền Bắc vào.

Ở những trại tập trung ven rừng hay hốc núi, mộ những người tù “cải tạo” kiệt lực, mộ những người tù anh hùng bị xử bắn bây giờ ở đâu?

Làm kiệt quệ sinh lực của miền Nam bằng chính sách đánh tư sản mại bản, một lối cướp ngày công khai có súng đạn yểm trợ, bỏ tù họ và gia đình, xóa bỏ giai cấp tư sản miền Nam để tạo ra một lớp tư sản mới trung thành với chế độ. Nấm mộ những người chết vì trận chiến cướp bóc này xiêu lạc nơi nào?

Nấm mồ thủy táng trong lòng biển Thái Bình Dương là nấm mồ lớn nhất trong lịch sử loài người, nơi đó hằng trăm nghìn người Việt Nam đã chấp nhận cái chết hơn là phải sống với chế độ bất nhân. Thảm kịch thủy táng vô tiền khoáng hậu này kéo dài mười lăm năm và phải nói là không một gia đình nào không có người thân tử nạn trên đường vượt biên, vượt biển. Không một vòng hoa nào được gửi xuống đại dương để an ủi những linh hồn của những người ra khơi không bao giờ cặp bến, và làm sao chúng ta quên được nỗi đau này.

Xa hơn thời điểm 30 Tháng Tư vài năm chúng ta cũng chưa quên những nấm mồ tập thể của Mậu Thân, bắn giết, chôn sống càng nhiều càng tốt để đáp ứng lời kêu gọi “toàn thắng ắt về ta.” Chúng ta cũng chưa quên đoạn đường kinh hoàng của Quảng Trị mùa Hè 72 khi trung đoàn pháo Bông Lau của cộng sản “cứ nhắm vào dân mà pháo.” Rồi chiến xa, pháo binh chận đường dân di tản trên Quốc Lộ 13 A cho lá “cờ in máu chiến thắng…”

Ngày 30 Tháng Tư đưa đến cảnh đổ nát hoang tàn của nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi có 16,000 mộ phần của những người lính VNCH, những người được xem là của phe thất trận. Trừ những bộ lạc mọi rợ thời Trung Cổ, còn thì trên thế giới văn minh này, ai cũng biết tôn trọng di hài những người đã chết, dù mới hôm qua đây, họ đang cầm súng đứng ở bên kia chiến tuyến. Việc kết thúc nội chiến Nam Bắc của nước Mỹ là một bài học văn minh và đạo lý mà một quân đội mọi rợ, không tính người như Bắc Việt không thể nào học nổi. Tôi cho thảm trạng của Nghĩa Trang Quân Đội ngày nay là một điều ô nhục, một vệt máu bẩn không thể nào chùi sạch trên trên khuôn mặt của chế độ mới.

Cộng Sản Bắc Việt xây một nấm mộ nổi ngay giữa thành phố Hà Nội nhưng lại lấy lý do cần đất cho thành phố đã đào xới, hủy diệt, xua đuổi cả nghìn ngôi mộ của nghĩa trang lâu đời của Saigon là Mạc Đĩnh Chi, che giấu cho lòng ganh tỵ, thù hận hơn cả một chính quyền đô hộ. Trong đạo lý Đông phương, đào mồ cuốc mả là một hành động khó có thể tha thứ. Sau này ở trong nước đã có nhiều vụ đào mộ để tìm của, được đưa ra xử trước tòa án, bị lên án là hành động thất đức, nhưng vụ đào mả nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nơi có nhiều ngôi mộ của nhiều người có tiếng tăm và giàu có dưới thời Pháp thuộc, phải được coi như là một tội ác.

Hai ngôi mộ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu được cải táng từ nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi về quận Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương. Mộ bia của ông Diệm có khắc chữ Huynh, mộ bia của ông Nhu khắc chữ Đệ. Nghe nói chính quyền “cách mạng” không cho gia đình ghi tên hai người trên mộ bia. Sao lại có những hạng người thù hận, nhỏ nhen đến như vậy!

Đó là lý do vì sao cứ đến ngày 30 Tháng Tư, hình ảnh những ngôi mộ xa gần, mới cũ cứ ám ảnh trong tôi.

Huy Phương

Trên Chiến Trường Xưa

baovecovang2012.wordpress.com

Phạm Tín An Ninh

Posted on April 23, 2021 by Lê Thy

(33 năm sau ngày gãy súng)

Post by Sơn râu 22 Aug 2025

(nguồn: manhhai flickr)

Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ của những đồng đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới – thành phố Pleiku.

Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và hình dung tới từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.

Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến đây như để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút nào lòng trắc ẩn, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em – hy vọng rất mong manh.

Cả thành phố Kontum bây giờ đã đổi khác. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được các địa danh ngày trước. Những B12, B15, Thành DakPha, Đồi Sao Mai, Bệnh Viện Dã Chiến. Nơi có những bản doanh, căn cứ từng mang tên những người anh, người bạn anh hùng của tôi đã nằm xuống để bảo vệ Kontum: Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm…Chúng tôi tìm đến một số nhà quen lúc truớc. Tất cả không còn. Những người chúng tôi gặp đa số mới vào từ miền Bắc. Người Kontum xưa giờ chắc cũng đã tứ tán bốn phương trời. Tội nghiêp cho người dân Kontum bất hạnh. Bao nhiêu năm tháng hứng chịu chiến tranh, có lúc thành phố bị mỗi ngày hàng ngàn quả đạn pháo, vậy mà họ vẫn ở lại, vẫn cùng với những người lính chúng tôi giữ vững thành phố này trong suốt những thời kỳ ác liệt nhất. Nhưng rồi cuối cùng, giữa tháng 3/75, Kontum bị bỏ rơi tức tưởi khi không còn bóng dáng quân thù. Những người lính ở đây được lệnh tử thủ, ngăn chặn miền địa đầu tam biên cho Pleiku di tản. Tôi từng được nghe người Kontum kể lại chuyện những người lính hào hùng, tự sát vào giờ thứ 25, khi Kontum bị lọt vào tay giặc. Nghĩ tới đó, lòng tôi thấy nghẹn ngào, nước mắt cứ trào ra.

Đúng như chúng tôi dự đoán, tất cả mọi nghĩa trang trong thành phố, nơi bạn bè tôi được chôn cất, không còn nữa, người ta đã giải tỏa để xây lên một số cơ sở công quyền và những khu giải trí.

Chúng tôi tìm đến Tòa Giám Mục, cũng là nơi mà đơn vị chúng tôi đã phải đổ khá nhiều máu xương để tái chiếm trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Một vị linh mục đứng tuổi, tiếp chúng tôi niềm nở. Ông cho biết là, mồ mả trong các nghĩa trang lúc xưa đã được cải táng và chuyển đến địa điểm mới, nằm trên cây số 9, đường lên Tân Cảnh. Tuy nhiên chỉ có những ngôi mộ có thân nhân nhận lãnh và tự cải táng thì mới có mộ bia, còn những ngôi mộ khác thì không biết ra sao. Ngài còn tốt bụng, sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó. Cây số 9, gần căn cứ Non Nước, nơi ngày xưa đơn vị tôi đã bao lần cùng với các chiến sĩ thiết giáp hào hùng của Chi Đoàn 1/8 KB đẩy lui những đợt tấn công biển người của địch, giữ vững cửa ngõ vào thành phố Kontum.

Mất gần hai tiếng đồng hồ, đi khắp nghĩa trang, chúng tôi vẫn không tìm ra bia mộ nào có cái tên quen. Nhiều ngôi mộ không có bia. Đưa vị linh mục trở lại Tòa Giám Mục, cám ơn và chia tay ngài. Đã hơn 12 giờ trưa, chúng tôi tìm một nơi nào đó để ăn cơm. Nhớ tới quán ăn Bạch Đằng và Thiên Nam Phúc ngày xưa, nơi có mấy cô chủ quán dễ thương, mà đám lính tráng chúng tôi thường ghé lại đây ăn uống sau những tháng ngày dài hành quân trong núi, một anh bạn hỏi thăm đường đến đó. Nhưng quán bây giờ đã đóng cửa và những người xưa cũng đã trôi dạt về những nơi nào đó. Bọn tôi rủ nhau ra bờ sông Dakbla, dọc theo con đường về làngTân Hương, nơi lúc xưa có mấy cái quán nhỏ để những ngày tương đối bình yên, bọn tôi ra ngồi uống cà phê, ngắm dòng sông chảy ngược, tạo huyền thoại một thời này, mà nhớ tới vợ con hay người tình đang ở đâu đó, để rồi sau lúc chia tay chẳng biết ngày mai ai còn ai mất. Dọc theo bờ sông bây giờ là những hotel, nhà hàng, nhà trọ và biệt thự của các ông quan lớn. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra được một cái quán ăn bình dân, nhưng khá sạch sẽ, nằm dưới tàng của một cây trứng cá.

– Buổi trưa nên vắng khách. Bà chủ vui vẻ vừa đón chúng tôi vừa giải thích.

Chúng tôi chọn một cái bàn nhỏ gần bờ sông. Xa xa phía bên kia là làng Phương Hòa thật dễ thương ẩn mình dưới những vườn cây. Nhìn mấy bờ đê bên bìa làng, tôi nhớ tới cái chết của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng. Tôi đã chứng kiến phi vụ thật can trường này. Anh là trưởng phi tuần gồm hai chiến đấu cơ AD-6 , đánh bom vào một mục tiêu có nhiều ổ súng phòng không của địch. Anh lao phi cơ xuống thật thấp bắn chính xác, tiêu hủy mục tiêu, tạo một đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ, rồi bay lên từ trong đám lửa ấy. Đang trên đường bay về, anh phát hiện có nhiều đạn phòng không bắn lên từ một khu vực khác. Anh quay trở lại, lao phi cơ xuống trút hết những quả bom còn lại, rồi bay vút lên không trung. Đúng lúc ấy, máy bay anh bị trúng đạn. Cánh bên phải phát hỏa. Anh phi tuần phó bay kèm theo, bảo vệ và hối thúc anh nhảy dù ra. Bộ binh chúng tôi cũng sẵn sàng tiếp cứu. Nhưng anh từ chối, bảo là nếu anh nhảy dù ra, phi cơ sẽ rớt xuống khu dân cư trong thành phố. Anh cố gắng bay qua bên kia bờ sông, đáp khẩn cấp (crash) xuống khu ruộng trống phía dưới. Anh điều khiển thật tài tình, nhưng vì phi cơ đã hư hỏng, không còn theo ý muốn, đâm vào một bờ đê và phát nổ. Anh Phạm văn Thặng đã anh dũng hy sinh. Điều cảm động hơn, khi người đại diện của Sư Đoàn đến nhà anh để chia buồn cùng gia đình và đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, đã kể lại cảnh nghèo nàn của gia đình anh, một trung tá phi công của QLVNCH.

– Mấy ông anh từ xa tới. Chắc tính làm ăn gì chứ cái thành phố này thì có cái gì mà tham quan. Phải không?

Câu hỏi của chị chủ quán làm tôi giật mình. Mấy anh em khác im lặng, nhìn tôi như thầm nhắc cho tôi cái nhiệm vụ trả lời.

– Không, bọn tôi tìm thăm người quen, nhưng không gặp.

– Ở khu vực nào, có nhớ địa chỉ không? Tôi sẽ tìm giúp các anh. Tôi là dân ở đây mà.

Tôi mỉm cười:

– Cám ơn chị. Ở trong nghĩa trang thành phố, nhưng đã bị dọn đi nơi khác rồi, biết đâu mà tìm.

Chị chủ quán khựng lại chưa kịp để thức ăn xuống bàn, nhìn tôi ngạc nhiên:

– Sao lại phải ở trong nghĩa trang?

– Vì họ đã chết rồi. Chết từ năm 1972 lận. Tôi buồn bã trả lời.

– Vậy chắc các anh đây là lính Cộng hòa mình? thuộc đơn vị nào?

Nghe mấy chữ “lính Cộng hòa mình” tự dưng tôi cảm thấy gần gũi với người đàn bà xa lạ này. Tôi thân thiện:

– Anh em bọn tôi thuộc sư đoàn 23, trung đoàn 44 chị ạ.

– À, vậy có anh nào ở đại đội trinh sát?

– Không, bọn tôi ở trung đoàn và tiểu đoàn. Một người trong chúng tôi trả lời.

Sau một khắc yên lặng, chị lên tiếng:

– Em có mấy người bạn ở trinh sát. Lúc trước cũng nằm trong nghĩa trang thành phố, nhưng khi có lệnh giải tỏa, em đã chuyển các anh ấy lên cây số 9 rồi. Chị chủ quán tỏ ra thân thiện và thay đổi cách xưng hô.

Chúng tôi vừa bất ngờ vùa xúc động. Sau khi dọn bàn xong, mang nước trà ra mời chúng tôi, chị kéo ghế ngồi xuống rồi tâm sự.

Thì ra chị là bạn gái của anh Bình, trung sĩ Bình, ở đại đội trinh sát của đại úy Minh, sau này là đại úy Mạnh. Anh tử trận hồi mùa hè 1972. Ngày đó chị còn đang đi học, nhưng chiến tranh ác liệt quá, trường phải tạm đóng cửa. Chị ở nhà phụ bán cà phê cùng với người chị ruột. Bà chị này quen khá thân với Mạnh. Khi ấy Mạnh còn là trung úy đại đội phó. Anh Bình thường theo Mạnh tới đây, rồi dần dà quen nhau. Từ khi Bình chết, chị thường đến thắp hương và chăm sóc mộ phần Bình và những đồng đội của anh nằm trong nghĩa trang thành phố.

Năm 1978, nhà cầm quyền Cộng sản ra lệnh giải tỏa nghĩa trang, chị chạy khắp nơi kêu gọi bà con cùng góp tiền góp sức với chị, nhưng cũng chỉ kịp cải táng hơn 20 ngôi mộ của những anh em trinh sát về địa điểm mới. Hầu hết mồ mả của những anh em chiến sĩ còn lại, đã bị san bằng. Chúng tôi cảm động. Không ngờ trong thời buổi nhá nhem tình nghĩa, có lắm kẻ sớm vong ơn, phản suy phù thịnh, vẫn còn có nhiều người Kontum nặng tình với lính.

Theo yêu cầu của bọn tôi, chị cùng chúng tôi đi thăm mộ anh Bình và các anh em trinh sát. Hơn hai mươi ngôi mộ được xây bằng đá đơn giản, nằm bên nhau ở khu phía đông nghĩa trang. Điều đặc biệt trên các tấm bia, trước mỗi cái tên đều có kẻ hai chữ TS. Chúng tôi thắp hương cho từng ngôi mộ xong, quay lại thì thấy chị đang ngồi sụt sùi trước mộ anh Bình. Khi thấy bọn tôi, chị lau nước mắt đứng dậy và nói một mình:

– Thật tội nghiệp, anh ấy hy sinh khi tìm cách chui qua hàng rào để bắn hạ chiếc xe tăng của VC vừa đột nhập vào chiếm bệnh viện

Tôi nhớ lại trận chiến ác liệt này. Khi VC mở đợt tấn công thứ nhì vào thành phố Kontum nhằm rửa hận lần thảm bại ở tuyến tây bắc: Hơn một trung đoàn bộ và nguyên một tiểu đoàn xe tăng của sư đoàn 320 bị chúng tôi xóa sổ. Lần này chúng dùng mấy chiếc M113 đã cướp được của Sư Đoàn 22 BB từ khi Tân Cảnh thất thủ, dẫn đầu môt đơn vị gồm những chiến xa T 54 + T59 có bộ binh yểm trợ, nhằm lừa phi cơ quan sát của ta, xâm nhập vào bệnh viện dã chiến, nằm cạnh thành DakPha, cách vòng đai phi trường chừng 800 mét, với thủ đoạn lợi dụng vào những thường dân và binh lính bị thương nằm trong bệnh viện, để uy hiếp lực lượng của ta. Tiểu Đoàn 4/44 do Thiếu Tá Võ Anh Tài chỉ huy đã đánh một trận chiến vô cùng gay go ác liệt với một lực lượng địch đông gấp ba lần, dùng chiến xa T 54 làm nổ lực chính. Xe tăng địch nép theo những vách nhà bệnh viện. Muốn diệt chúng phải tiếp cận để có thể dùng những khẩu M 72 hiệu quả, anh Tài cùng toán quân báo đã dẫn đầu đơn vị, tìm cách chui qua hàng rào bệnh viện, và anh đã hy sinh bởi bị chính mìn của ta phát nổ. Người anh cả của Tiểu Đoàn, một sĩ quan xuất thân từ khóa 16 VBĐL lừng danh, đã nằm xuống dọn đường cho đơn vị mình cứu nguy bệnh viện, nơi có đồng bào và cả đồng đội của anh bị địch quân dùng làm bàn đạp trong ý đồ bất nhân của chúng. Đại Đội Trinh Sát đang bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn được điều động tiếp ứng, đột nhập đánh vào sườn địch. Trinh Sát 44, một đại đội với bao chiến công hiển hách từ thời đại úy Trần Công Lâm, Phan công Minh và sau này là Đoàn quang Mạnh, đã đánh một trận thật tuyệt vời, bắn cháy nhiều chiến xa địch, đuổi đám tàn quân Cộng sản chạy thoát thân ra khỏi bệnh viện và giữ vững một lần nữa vòng đai thành phố. Đại đội Trinh sát này dưới sự chỉ huy tài ba và gan dạ của trung úy Phan Công Minh, đã từng đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một Tiểu Đoàn BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chin khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã cùng đại tá TMT/QĐ Lê Khắc Lý, đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liểu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.

– Đại úy Mạnh bây giờ ở đâu, các anh có gặp anh ấy không?

Câu hỏi của chị đã cắt mất dòng hồi tưởng của tôi. Tôi lên tiếng trả lời chị:

– Anh Mạnh đã chết trong tù cải tạo từ năm 1978 chị ạ.

Im lặng một lúc, tôi lại nghe tiếng chị khóc.

– Chị Hà em, bạn gái của anh Mạnh lúc xưa cũng bị chết năm 75 khi VC vào chiếm Kontum. Mộ chị nằm ở ngay phía trước đây.

Vừa nói, chị vừa dẫn chúng tôi đến đó. Nhìn bức ảnh trên mộ bia tôi mang máng nhớ lại người con gái tên Hà ở một quán cà phê nhỏ nằm trong vườn cây sau nhà, hơn ba mươi năm về truớc.

Nghĩa địa mới này nằm không xa làng Trung Nghĩa. Tôi rủ chị cùng với chúng tôi ghé lại lại thăm làng và khu nhà thờ. Nơi mà ngày xưa ông cha chánh xứ đã cùng chúng tôi chiến đấu bảo vệ những giáo dân ngoan đạo. Nghe nói ngài đã bị tra tấn đến chết trong trại tù cải tạo.

Ra khỏi nghĩa trang, nhìn về phía bắc, rừng núi ngày xưa, dù không tránh được dấu vết của đạn bom, nhưng vẫn còn xanh tốt, giờ sao lại xơ xác điêu tàn. Tôi hỏi chị bạn gái anh Bình, nghe tiếng chị thở dài:

– Tham nhũng bây giờ còn tàn phá nhiều hơn cả chiến tranh ngày trước.

Tôi nhớ lại những vụ án ở đây, có liên quan đến nhiều ông lớn. Mới đây bà Thao Y Bình, Bí Thư Tỉnh Đoàn Kontum đã ăn cướp đến gần 140 tỷ đồng của dân nghèo, và ông Trần văn Thiên, chủ tịch huyện Dak Glei đã thông đồng bán bao nhiêu gỗ quí.

Trên đường vào làng Trung Nghĩa, tôi hồi tưởng tới trận chiến trên tuyến Tây Bắc Kontum. Nơi đơn vị tôi đã thắng một trận thật lẫy lừng, làm tiêu hao cả sư đoàn 320 mà địch quân thường hãnh diện là Sư Đoàn Thép, mở đầu cho bao nhiêu chiến thắng sau đó để Kontum, Tây Nguyên không lọt vào tay giặc.

Đúng vào sáng 30 tết năm 1972, khi chuẩn bị buổi tiệc tất niên cho các đơn vị tại hậu cứ Sông Mao sau một năm đối mặt với chiến trường, Trung Đoàn 44 chúng tôi nhận khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II, di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ vừa rút quân về nước. Vừa đến An Khê vào chiều mồng một tết, chúng tôi đã cùng với Thiết Đoàn 3 KB tham chiến, giải tỏa áp lực địch đang bao vây một số căn cứ phòng thủ của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo đèo An Khê nằm trên QL 19. Tình hình tương đối yên tĩnh, các căn cứ Đại Hàn được giải tỏa, QL 19 đã khai thông, chúng tôi vừa đảm trách giữ an ninh cho QL19 từ Pleiku đến Bình Khê, vừa thiết lâp lại các căn cứ pháo binh, phòng thủ. An Khê là một địa danh làm người ta nhớ tới hai đoạn đèo Mang Yang và An Khê cùng những khúc quanh “tử thần”, mà ngày xưa cả một tiểu đoàn thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp bị lọt vào ổ phục kích, để gần như phải xóa sổ.

Ngày 24/4/72, Tân Cảnh thất thủ khi BTL Tiền Phương của SĐ22 bị tràn ngập. Đại tá Lê Đức Đạt, vị tư lệnh không được sự ủng hộ của tay phù thủy John Paul Vann, cố vấn Mỹ QĐII&QK2, đã từ chối lời mời lên máy bay của người cố vấn SĐ khi phòng tuyến bị chọc thủng bởi nhiều chiến xa T 54 của địch. Ông ở lại chiến đấu và vùi thây nơi chiến địa. Căn cứ Tân Cảnh thất thủ, quận Dakto mất, một BTL/Sư Đoàn bị rơi vào tay giặc mà không hề có bất cứ sự yểm trợ nào của lực lượng đồng minh, cùng cái chết của vị tư lệnh liêm sỉ, khí phách hào hùng thời ấy đã là một trang chiến sử nói lên cái bi phẫn của QLVNCH, báo trước sự bỏ rơi của người bạn đồng minh Mỹ, đã từng cam kết bảo vệ miền Nam, tiền đồn của Thế Giới Tự Do.

Căn cứ địa đầu thất thủ, kéo theo sự xáo trộn của một Sư Đoàn bao nhiêu năm trấn thủ tam biên, tạo thuận lợi để địch quân tràn xuống uy hiếp Kontum.

Trung Đoàn 44 nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Lúc này thành phố Kontum đang bất ổn, VC đã có mặt một số nơi trong thành phố và pháo kích thường xuyên vào phi trường, một vài phi cơ bị trúng đạn phải nằm ụ tại chỗ. Chúng tôi được lần lượt không vận vào ban đêm bằng C 130. Khi sắp vào không phận, máy bay tắt hết đèn. Phi cơ không đáp mà chỉ bay rà qua phi đạo để chúng tôi nhảy xuống từ cửa phía sau.

Tiểu Đoàn 1 và 2/44 đựơc chở thẳng tới phòng tuyến tây bắc, thay thế cho một liên đoàn BĐQ vừa bị tiêu hao quân số. Hai vị tiểu đoàn trưởng lại là hai người bạn cùng tốt ngiệp khóa 19 VBĐL thao lược, can trường: Đại úy Đặng Trung Đức và Nguyễn Xuân Phán. Ngay sau khi nhận khu vực trách nhiệm, từ vị tiểu đoàn trưởng đến binh sĩ cùng nhau lập phòng tuyến chiến đấu, đặc biệt là đào những hầm hố chống chiến xa phía trước.

Vào khoảng 5 giờ sáng, ánh trăng hạ tuần còn mờ ảo dưới màn sương, các toán tiền đồn phát hiện có nhiều chiến xa địch đang tiến về hướng nam. Các đơn vị được lệnh xuống giao thông hào, và dỡ bỏ tất cả các lều poncho để tránh sự phát hiện của địch. Trên hệ thống vô tuyến, tất cả báo cáo đã sẵn sàng. Địch quân tập trung đánh vào phòng tuyến TĐ 2 của Đại úy Nguyễn Xuân Phán. Chúng không ngờ có một đơn vị thiện chiến mới toanh vừa mới có mặt trên chiến trường này, nên sau một loạt tiền pháo, chúng xua những chiếc T54 dàn hàng ngang, lực lượng bộ binh ồ ạt theo sau. Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với xe tăng địch nhưng không hề nao núng, mặc cho những xích sắt tha hồ rú gào đe dọa, Đại úy Phán bình tĩnh vừa gọi pháo binh tác xạ ngăn chặn, phân tán và tiêu diệt bộ binh địch, vừa ra lệnh cho đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T 54 tới gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác hữu hiệu của những khẩu M 72, loại vũ khí chống tăng duy nhất mà đơn vị được cấp, và một số B40, B41 của địch thu dược từ chiến trường An Khê. Đó là một quyết định táo bạo và sáng suốt. Chiếc T54 đầu tiên bị bắn hạ do chính anh Tiểu Đoàn Phó, đại úy Nguyễn văn Hướng. Ngay sau đó, hàng loạt xe tăng địch bị bắn cháy. Cả một tiểu đoàn ồ ạt hô xung phong. Cộng quân bị đánh bất ngờ, khiếp sợ, quay đầu chạy. Một chiếc T54 ủi thẳng vào hầm BCH/TĐ, bị ta bắt sống cả xe lẫn địch, trong đó có tên đại đội trưởng. Tiểu Đoàn 1/44 của Đại úy Đức trở thành lực lượng ngăn chặn hữu hiệu, đánh bất ngờ bên hông địch, đám tàn quân chỉ còn kịp buông súng đầu hàng. Chiến thắng ấy tất nhiên là công trạng của tất cả mọi người, nhưng sẽ là thiếu sót lớn lao, nếu không nhắc tới thiếu tá Ngô văn Xuân, vị trung đoàn phó tốt nghiệp khóa 17 VBĐL hiền lành mà tài năng đảm lược. Lúc nào tiếng nói thật bình tĩnh, trấn an, dặn dò, đốc thúc của Bá Hòa (danh hiệu của anh) cũng vang trên hệ thống vô tuyến làm nức lòng chiến sĩ. Ngay sáng hôm ấy, khi khói lửa chưa an, Thiếu Tướng Nguyễn văn Toàn vừa nhận chức vụ Tư lệnh QĐII thay thế Tướng Ngô Dzu, bay lên thị sát mặt trận. Ông vẫn đội bê rê đen, đứng trên xe M113 và đi bộ ngay trên phòng tuyến, bắt tay từng anh em binh sĩ, vui mừng với chiến tích đầu tiên của ông và gắn lon thăng cấp cho vị trung đoàn trưởng. Người ta đã nói nhiều về cá nhân ông, nhưng ít ai biết được ông là một dũng tướng ngoài chiến trường.

Chiến công hiển hách này đã mở đầu cho hằng loạt chiến thắng khác của tất cả những đơn vị tham chiến để bảo vệ Kontum và giữ vững vùng địa đầu Tây Nguyên trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lên thăm Kontum, mừng chiến thắng. Khi trực thăng ông đáp xuống căn cứ B 12, bản doanh của BTL/SĐ23BB, đạn pháo của VC thi nhau rót xuống, nhưng vị Tổng Tư lệnh đã xua tay từ chối nhận chiếc áo giáp từ vị đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn. Ít nhất ông cũng đã chứng tỏ được cái uy dũng của một người xuất thân từ lính. Nhân dịp này Tổng Thống đã gắn lon Tướng cho đại tá Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư Đoàn. Các anh Tiểu Đoàn Trưởng đều được vinh thăng một cấp. Riêng vị trung đoàn phó thầm lặng Ngô văn Xuân được thăng cấp bằng một quyết định riêng sau đó. Anh được điều về làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn và sau này là một trong những vị trung đoàn trưởng thao lược của QLVNCH.

Trung Nghĩa bây giờ chẳng còn môt chút gì dấu tích chiến tranh, nhưng nhìn ở đâu tôi cũng thấy bóng dáng anh em đồng đội cũ, những người bạn trẻ tuổi can trường của chúng tôi ngày trước. Đặng Trung Đức đã hy sinh vào mùa hè 1973 khi vừa được trực thăng vận xuống phía bắc căn cứ Non Nước. Tên anh được đặt cho bản doanh BTL/SĐ. Vợ con anh đã sang Pháp, nhưng chị Đức đã mất từ năm 1982, hai đứa con nhỏ phải nhờ ông bà ngoại nuôi nấng. Bà mẹ già góa bụa, mà Đức là con một, cũng đau buồn mà đi theo Đức chưa đầy một năm sau ngày Đúc hy sinh. Trần Công Lâm, người bạn cùng khóa thân thiết nhất của tôi – người sĩ quan chưa hề biết mùi chiến bại, đi hành quân mà chưa gặp địch là không chịu quay về -, trước khi nắm Tiểu Đoàn 3/44, đã từng là một đại đội trưởng Trinh Sát lừng danh với bao chiến công hiển hách, vang dội khắp Quân Đoàn, cũng đã nằm xuống cuối năm 1973 trên đỉnh Ngok Wang đèo heo gió hú. Nguyễn xuân Phán sau những năm tháng tù đày, hiện lưu lạc ở một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Washington bên Mỹ và vẫn hăng say trong các tổ chức xã hội, cộng đồng. Thỉnh thoảng anh xuống San Jose gặp gỡ bù khú với anh em, vẫn cạn ly một trăm phần trăm, dễ thương, vui vẻ như ngày nào. Anh bảo chỉ có những lúc vui với anh em và say mèm mới có thể quên được nỗi đau. Phan Công Minh thì đang sống âm thầm ở một thành phố biển ngoại ô New York. Hơn 10 năm đi cày 2, 3 “job”, để đủ lo cho các con ăn học, thời gian còn lại chỉ đủ để uống rượu tiêu sầu. Bây giờ tương đối rảnh rang, truyền nghề đánh giặc lại cho thằng con trai lớn vừa tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đang hành quân trên chiến trường Irak. Riêng anh Ngô văn Xuân, mòn mỏi, bệnh hoạn sau hơn 13 năm tù. Nhưng dường như những vết thương chiến trường, tù ngục còn trên thân xác không làm cho anh đau đớn bằng vết thương trong lòng. Nỗi đau của một người đã hiến đời cho binh nghiệp mà giữa đường phải đành vất cung bẻ kiếm. Bây giờ anh sống lặng lẽ ở một nơi gần thành phố San Jose, làm thơ Hoa Tâm, nghiên cứu về Thiền và Phật học. Còn lại, những đồng đội khác, hoặc đang sống lê lết khốn cùng ở đâu đó bên quê nhà với thương tích trên người, hoặc lưu lạc muôn phương, một số đã hy sinh, xác thân nằm ở một nơi nào đó, giữa núi rừng Kontum này, hay hoang lạnh trong các nghĩa trang, đã dời đi hoặc bị san bằng, nhưng có lẽ hồn thiêng vẫn còn phảng phất đâu đây. Tôi đốt hết bó nhang còn lại chia cho anh em. Chị bạn gái của anh Bình cũng xin được chia phần. Chúng tôi đứng nghiêm khấn vái bốn phương trời. Cầu nguyện hồn thiêng của những đồng đội cũ được sớm siêu thoát trên chốn vĩnh hằng, và xin tất cả tha lỗi cho chúng tôi, những người còn sống nhưng đã không trả được – dù chỉ một phần nhỏ nào – món nợ máu xương cho họ.

Suốt đêm hôm ấy không ngủ được, chúng tôi nằm kể lại bao nhiêu chuyện vui buồn trên chiến trường xưa, nhắc lại từng tên, từng khuôn mặt bạn bè. Chúng tôi cũng tranh luận thật nhiều về cuộc chiến đã qua và những cái chết của đồng đội mà thấy lòng nặng trĩu những đau buồn với bao điều tức tưởi.

Sáng hôm sau, chị chủ quán, bạn gái anh Bình, mời chúng tôi ăn sáng rồi tiễn chúng tôi ra đầu cầu Dakbla. Chị đứng yên lặng không nói một lời gì. Nhìn những giọt nước mắt chảy dài trên má chị, trong lòng chúng tôi có lẽ ai nấy cũng đang giữ riêng một nỗi ngậm ngùi. Nhìn dòng sông Dakbla chảy ngược qua cầu, tôi có cảm giác như lòng mình cũng đang chảy ngược về những nơi nào đó, những chiến trường xưa, mà mãi mãi vẫn còn in bóng dáng hào hùng của bao nhiêu bè bạn, anh em – những người đồng đội cũ. Tất cả đã từng có một thời sống rất đáng sống.

Phạm Tín An Ninh

(33 năm sau ngày gãy súng)

(nguồn: phamtinanninh.com)

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 22 Aug 2025

Chương 4

Lui vào bóng tối

“Ngày Quân Lực” năm đó được tổ chức hết sức linh đình. Xe tăng, đại pháo, mọi quân, binh chủng với quân phục mới tinh, oai hùng diễn hành trên đại lộ Trần Hưng Đạo. Trên bầu trời, máy bay phản lực F-5 tung cánh sắt, lướt trên ngàn mây gió. Rõ ràng là hình ảnh của một Chính phủ, một quân đội đầy tự tín trên con đường xây dựng hoà bình, thịnh vượng.

Trước đấy, Tổng thống Nixon đã gửi đại diện sang Việt nam để gây ấn tượng cho tình đoàn kết giữa hai nước. Chỉ ba ngày sau Hiệp định, đài truyền hình Việt nam có phóng sự đặc biệt: Phó Tổng thống Spiro Agnew thăm viếng Sài gòn. Hôm đó là ngày 30 tháng Ba, 1973. Khi tới phi trường Tân Sơn Nhứt, vị quốc khách được đón tiếp linh đình. Hết sức ca ngợi Tổng thống Thiệu, ông Agnew nhắc tới lập trường Hoa kỳ là tiếp tục ủng hộ một Đồng minh trung thành của mình.

Dân chúng miền Nam thấy lên tinh thần. Sao mà nhanh thế? Vừa có đình chiến xong là đã có Phó Tổng thống Mỹ sang ủng hộ. Buổi chiều, phần tin tức hấp dẫn trong ngày được chiếu đi chiếu lại.

Bên ngoài thì rầm rộ lạc quan như thế, nhưng thực ra, bên trong hậu trường lại khác. Chuyến viếng thăm của ông Agnew đã báo hiệu một điềm dữ. Có cái gì đây chẳng được lành. Không phải là ông Phó Tổng thống đã tuyên bố hay mật đàm chuyện gì có phương hại cho hoà bình, nhưng cái nguy hiểm là những điều gì ông không nói.

Tổng thống Nixon đã hứa trong thư ngày 17 tháng Giêng, 1973 là khi tới Sà gòn, “Phó Tổng thống Agnew sẽ công khai cam kết những gì tôi đã hứa với Ngài…” Thế mà có thấy gì đâu: ngoài phi trường cũng như trong Dinh Độc Lập, chỉ thấy ông Agnew nói một cách chung chung quyết tâm ủng hộ Việt nam cộng hoà của Hoa kỳ. Người ta cho rằng ông chỉ lập lại những điểm gì đã được ông Kissinger soạn thảo sẵn từ Washington trước chuyến đi.

Và rồi chỉ có thế. Nhưng để an ủi Việt nam cộng hoà phần nào. John Negroponte, cố vấn của Kissinger về vấn đề Việt nam, người tháp tùng ông Agnew trong chuyến đi, đã kéo ông Hoàng Đức Nhã ra ngoài hiên sau một buổi họp và nói nhỏ:

– Tôi lấy làm tiếc vì những điều xảy ra mấy tháng trước đây. Chúng tôi biết không thể gây áp lực đối với các ông được, và bây giờ phải làm tất cả những gì có thể làm được để giữ lời hứa”

1. Thật là khôn: bên ngoài và chính thức thì Phó Tổng thống không nói đến những cam kết nữa, ông Nhã là người đã đứng cạnh Tổng thống Thiệu trong những giờ phút căng thẳng trước Hiệp định Paris. Ông Negroponte sau này được cử làm đại sứ đầu tiên của Mỹ tại Iraq thời hậu Saddam Hussein. Ông Thiệu kể lại là khi thấy Phó Tổng thống Agnew lờ đi về những cam kết của Tổng thống Nixon: “Tôi đã bắt đầu nghi ngờ Hoa kỳ từ lúc đó…”

Lại tìm củ cà rốt

Càng nghi ngờ, ông Thiệu lại càng sốt ruột. Trước khi ký kết Hiệp định, ông Nixon có hứa mời ông sang Mỹ để “chúng ta có dịp công khai nhắc lại mối hợp tác giữa hai nước và sự cam kết của Hoa kỳ”. Sau chuyến viếng thăm của ông Agnew, cuộc họp mặt với Tổng thống Nixon trở nên cấp thiết hơn nữa. Rồi lại nghe tin không hay từ Washington về vụ Watergate. Dinh Độc Lập bối rối, hoang mang. Bây giờ mà không gặp được Nixon ngay là nguy to. Biết đâu vì chính trị nội bộ, cuộc họp lại bị hoãn chăng? Ông Thiệu tìm mọi cách để chuyến đi Mỹ sớm được thực hiện.

Tổng thống Nixon chính thức mời ông Thiệu sang Mỹ họp với ông vào ngày 3-4-1973. Tuy trong thư trước, Nixon đã nói tới San Clemente là nơi họp, nhưng ông Thiệu lại ngỏ ý muốn thăm viếng Hoa kỳ tại thủ đô Washington. Là một nguyên thủ quốc gia, ông muốn được tiếp đón với đầy đủ nghi lễ. Sau cùng, Đại sứ Trần Kim Phượng đã điều đình để ông Thiệu được đón tiếp như một quốc khách ở San Clemente. Việt nam gửi một phái đoàn tiền phong sang Washington để cùng phía Mỹ hoạch định chương trình cho cuộc họp. Hàng không Việt nam thuê một phi cơ 707 của Pan American, sơn cờ Việt nam, chở Tổng thống để tăng phần trang trọng và chủ quyền quốc gia.

Ngoài hồ sơ về viện trợ quân sự, ông Thiệu mang theo hồ sơ kinh tế. Tuy nhu cầu vừa tái thiết vừa phát triển đòi tới cả tỷ đô một năm, nhưng phải thực tế mà đề nghị. Ban Kinh tế Tài chánh (với các ông Phạm Kim Ngọc, Hà Xuân Trừng) đem ra những con số khiêm nhượng. Theo “Chương trình phát triển 1973-1980”, Việt nam cộng hoà chỉ yêu cầu Mỹ tiếp tục viện trợ kinh tế 650 triệu đô la (1973) và 780 triệu (1974), rồi giảm dần xuống tới mức không đáng kể vào năm 1980 (95 triệu). Hy vọng là từ năm 1981 trở đi thì Việt nam cộng hoà có thể tự túc tự cường, khỏi phải đi xin xỏ nữa.

Không may là chỉ vài ngày trước khi ông Thiệu lên đường, vụ Watergatc lại vỡ lở lớn. Toà Bạch Ốc lo âu, bối rối vì báo chí đã phát giác: có “nhiều nhân vật cao cấp” trong chính quyền nhúng tay vào việc che chở cho vụ ăn cắp tài liệu của đáng Dân chủ ở toà nhà Watergate..

Ngày 29-3-1975, Tổng thống Nixon buộc phải bãi bỏ đặc quyền hành pháp để xúc tiến vụ điều tra này. Trong tình trạng đó, chuyến công du của Tổng thống Thiệu có thể được ví như một đoạn phim ngừng lại giây lát trước khi những biến cố chính xảy ra. Lúc này đầu óc ông Nixon đã rối bời, còn tâm trí nào mà tiếp đón ông Thiệu!

Tuy nhiên, lễ đón tiếp được cử hành khá trang trọng. Một hàng lính danh dự đứng dàn chào khi ông Thiệu tới San Clemente. Ông Nixon tiếp ông Thiệu trong khuôn viên biệt lập của Casa Pacifica. An ninh được bảo đảm chu toàn vì tư dinh này cách ngăn xa lộ chính, chỉ có một ngả đi vào thì đã được canh phòng cẩn mật. Nếu lái xe từ Orange County xuống San Diego, ta nhìn thấy San Clemente nằm kề bãi cát thoai thoải bên bờ Thái Bình Dương. Trời xanh, mây trắng, khí hậu mát mẻ của miền ôn đới sánh với cái nóng hừng hực ở Sài gòn lúc vào hè. ông Thiệu tuy mệt sau chuyến bay dài, nhưng cũng thấy thoải mái và có hy vọng.

Ông hy vọng Nixon sẽ “công khai tái xác nhận những bảo đảm của Hoa kỳ” như đã hứa ngày 17 tháng 1, 1973. Nhưng ngược lại, chỉ hai giờ đồng hồ sau khi đáp xuống San Clemente, hai phụ tá Tổng thống là Ron Ziegler và Bob Haldeman đã nói ngay với ông Nhã là “sẽ không có bản thông cáo chung giữa hai Tổng thống” sau cuộc họp. Ông Thiệu bàng hoàng, “Họ đối xử với Đồng minh như vậy đấy ư? Nói với họ tôi sẵn sàng trở về Sài gòn, và hãy chuẩn bị phi cơ đi!”. Ông Kissinger được thông báo về vụ đổ bể này, vội gặp Nhã và quả quyết: “Đó chỉ là sự hiểu lầm, sẽ có bản tuyên cáo chung”

2. Bữa tiệc ở dinh Casa Pacifica được coi là quốc yến. Tuy nhiên chưa thấy bao giờ quốc yến để khoản đãi vị nguyên thủ một quốc gia Đồng minh mà lại chỉ vỏn vẹn có mười hai người tham dự, kể cả chủ và khách. Lý do phía Mỹ đưa ra là “không đủ chỗ ngồi”. Trong bữa cơm, ông Thiệu cố nhá miếng bít tết dày cộm khó tiêu để khỏi phụ lòng chủ nhân. Về sau ông nghe chuyện báo chí chỉ trích ông Nixon là đã đãi ông Thiệu bít-tết trong khi giá thịt bò đang leo thang, ông phàn nàn “tôi đâu có muốn ăn thịt bò”. Phái đoàn tiền phong của Việt nam đã không được hỏi ý kiến trước về thực đơn.

Sau bữa ăn tại tư dinh ông Nixon, phái đoàn Việt nam có muốn đáp lễ bằng một bữa tiệc ở khách sạn Century Plaza ở Los Angeles. Nhưng phía Mỹ từ chối vì lý do an ninh. Ông Kissinger sau này viết lại trong hồi ký của ông là trên thực tế, ông ta sợ “biểu tình và không đủ số người dự tiệc”

3. Đối với ông Thiệu, điểm đặc biệt của chuyến công du là lối tiếp tân thân mật của ông Ronald Reagan, thống đốc Calilornia tại khách sạn Beverly Wilshire. Trước đây, ông Thiệu đã tiếp đón ông Reagan nồng hậu khi ông viếng thăm Sài gòn. Hồi đó, ông có tặng ông Reagan một cái ngà voi và nói đùa với ông ta: “Một ngày nào đó, Ngài sẽ lên voi”.

Không ngờ mà lại thành sự thật. Tổng thống Reagan thành công vẻ vang trong cả hai nhiệm kỳ.

Trong buổi tiếp tân hôm ấy có mặt hai tài tử nổi tiếng là Zsa Zsa Gabor và John Wayne. John Wayne có cảm tình ngay với ông Thiệu và cố làm cho ông vui, mặc dù có biểu tình phản chiến ngay trước khách sạn. John Wayne vừa nói đùa với ông Thiệu vừa lấy tay làm cử chỉ như người nắm lấy hai thanh niên biểu lình, giơ cao lên và đập đầu vào nhau: “Ông có biết tôi sẽ làm gì không? Tôi sẽ tóm cổ tụi nó và xách đi như trong phim xi-nê vậy”

4. Khi cuộc họp chấm dứt là tới lúc công bố bản thông cáo chung của hai bên. John Holdridge thuộc Hội đồng Cố vấn an ninh và phụ tá H. R. Haldeman lại giở giọng: không muốn nói rõ ràng chi tiết về viện trợ kinh tế. Phía Việt nam muốn ông Nixon hứa hẹn cho rõ. Ông Nhã hồi tưởng lại: “Chúng tôi phải tranh đấu từng gang tấc cho bản thông cáo này”. Cuối cùng còn vài phút trước khi họp báo, phía Hoa kỳ nhượng bộ.

Ông Thiệu kể lại là lúc Tổng thống Nixon tạm biệt để tiễn ông lên trực thăng ra phi trường, hồn vía ông ta như ở đâu đâu. Trực thăng vừa cất cánh, ông đã quay gót trở lại, vội vã đi vào nhà. Ông Thiệu nhớ lại những lần trước gặp Nixon ở Sài gòn hoặc ở đảo Midway năm 1969, lễ nghi tiễn biệt đã kéo dài, ông ta vui vẻ giơ tay vẫy thật lâu

5. Tuy linh cảm là có chuyện khó khăn, ông Thiệu cũng đã có được sự tái xác nhận về những cam kết yểm trợ Việt nam cộng hoà. Một tháng sau khi trở về, vào ngày 20 tháng Năm 1973, ông ra Quốc hội công bố những biện pháp “Tái thiết kinh tế hậu chiến”. Mục tiêu đề ra là tới năm 1980 thì Việt nam cộng hoà sẽ phát triển tới mức tự túc, tự cường. Ông nói là trong vòng bảy năm tới, với viện trợ Hoa kỳ đầy đủ, Miền Nam sẽ dốc toàn lực vào lãnh vực kinh tế và phát triển xã hội. Nghe phấn khởi quá, các nghị sĩ, dân biểu đứng lên vỗ tay rần rần, nồng nhiệt hưởng ứng.

Viện trợ lại thành con tin.

Ngày 29 tháng Ba, 1973, nhóm tù binh Mỹ cuối cùng rời Hà Nội. Tưởng rằng vậy là xong xuôi, ngờ đâu lại có tin Kissinger sắp đi Paris để “đàm phán” thêm. Ông Thiệu càng nghi ngờ chắc lại sắp có chuyện gì đây. Y như năm 1968, Nixon vừa lên ngôi lần thứ hai là lại trở mặt. Kissinger sắp đàm phán với phái đoàn Bắc Việt một “Thông cáo” (Commumqué) về việc thực thi Hiệp định đình chiến. Một lần nữa, mối giây liên lạc Mỹ-Việt rơi vào khủng hoảng. Hiệp định Paris ký rồi, bây giờ Mỹ lại bắt nhượng bộ thêm? Theo như “thông cáo”, một sự kiện ít ai để ý tới, là Bắc Việt lại có quyền di chuyển quân dụng qua vùng Phi quân sự (DMZ).

Ông Thiệu cho rằng trong suốt thời gian tranh đấu tại hoà đàm, Bắc Việt chỉ nhượng bộ một điểm là không chuyển quân qua vùng Phi Quân Sự. Giờ đây, chỉ bốn tháng sau, Kissinger lại qua Paris và nhường thêm điểm chót. Ông Thiệu chua chát hỏi lại: làm sao quân dụng như xe tăng, tàu bò có thể đi qua vùng DMZ mà không có “tài xế” và “nhân viên” bảo trì đi coi?” Và khi nhượng điểm chót này, vĩ tuyến thứ 17 không còn là ranh giới rõ rệt của miền Nam nữa.

Thế là viện trợ lại trở thành con tin. Lời đi tiếng lại giữa hai ông Nixon và Thiệu vào giai đoạn này còn gay gắt hơn lúc Tuyển cử xong rồi, Washington đã rảnh tay, hết lo Sài gòn chống đối. Ngày 21 tháng Năm 1973 (tức ngày 22/5 giờ Sài gòn), Tổng thống Nixon gửi Phụ tá Ngoại trưởng William Sullivan sang Sài gòn mang theo một mật thư. Sao mà quá bén nhậy: vừa đúng hai ngày sau khi ông Thiệu đưa chương trình tái thiết ra Quốc hội, Nixon đã đem ngay “kế hoạch kinh tế dài hạn Ngài vừa công bố” ra mặc cả.

Ông viết:

White House

Ngày 21 tháng Năm 1973

Thưa Tổng thống,

“Khi ở San Clemente, tôi đã nói với Ngài về việc xin Quốc hội Hoa kỳ viện trợ đầy đủ nó khó khăn như thế nào. Tuy nhiên tôi cũng đã nói với Ngài là chúng tôi sẽ dồn mọi nỗ lực để không những xin đầy đủ viện trợ cho nhu cầu hiện tại của Việt nam cộng hoà, mà còn yểm trợ cho nhũng kế hoạch kinh tế dài hạn mà Ngài vừa công bố. Nỗ lực này đang tiến hành tốt đẹp và được đặt vào ưu tiên hàng đầu….

Nhưng tôi thẳng thắn khuyên cáo Ngài rằng chỉ có mối bất đồng nhỏ nhoi giữa chúng ta trong tình thế này cũng đủ làm tiêu tan nỗ lực trên. Tôi tin chắc rằng Ngài sẽ cân nhắc kỹ lưỡng điều trên khi đọc lá thư này.

Trân trọng

(ký) Richard Nixon

Khi ông Thiệu vẫn không đồng ý ký vào bán thông cáo, Nixon đi đến chỗ quyết liệt:

White House

Ngày 6 tháng 6, 1973

Thưa Tổng thống,

“Quyết định mà Ngài phải làm là chỉ thị cho đại diện của Ngài đi Paris để cùng với Tiến sĩ Kissiger ký vào Thông cáo như hiện trạng…, hoặc ngược lại, Ngài không chịu ký, huỷ bỏ Hiệp định, và chịu hậu quả thảm khốc không thể tránh được….

Đó là sự nhận định tình hình trung thực của tôi, sự lựa chọn thật rõ ràng…

Tôi tin tưởng ở sự hiểu biết bao quát của Ngài về những quyền lợi chung của chúng ta và sẵn sàng trả lời thuận trước 12 giờ trưa ngày 7 tháng 6, giờ Sài gòn”.

Trân trọng,

(kí) Richard M. Nixon

Ông Thiệu viết thư trả lời Nixon, giải thích tại sao phía VNCH không chấp nhận được. Trong khi đó, ông cho báo chí ở Sài gòn bình luận rộng rãi về bản Thông cáo là rất bất lợi cho VNCH.

Vừa nhận được thư, Nixon hồi âm cùng một ngày:

White House

Ngày 7 tháng 6, 1973

Thưa Tổng thống,

Tôi không thể lường đoán nổi hậu quả quyết định của Ngài trước Quốc hội và công luận Hoa kỳ. Hậu quả đó chắc chắn sẽ bất lợi cho Ngài và có thể gây tai hoạ. Tôi rất tiếc và buồn phiền khi thấy công cuộc mà chúng ta đã cùng nhau chia sẻ rất nhiều nay bị sụp đổ như thế này.

Xin Ngài trả lời cho chúng tôi trước 8 giờ sáng ngày 8 tháng 6, giờ Paris để tiện tiến hành”.

Trân trọng

(kí) Richard M. Nixon

Đọc tới chữ “tai hoạ”, ông Thiệu phê ở ngoài lề bức thư: “Chúng ta phải chuẩn bị cẩn thận cho biến cố này”.

Thế rồi trong văn thư đề ngày 8 tháng 6, 1973 trả lời ông Nixon, ông Thiệu vẫn nói là phía VNCH đồng ý để Hoa kỳ và Bắc Việt ký kết với nhau trên nguyên tắc, rồi sau đó hai bên sẽ kêu gọi (appeal) cả Chính phủ VNCH và Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời (CMLT) chấp hành những điều khoản của bản Thông cáo.

Không được, Tổng thống Nixon đã phản ứng ngay. Ông Thiệu đang ngủ khi Văn phòng đánh thức ông dậy: có thông báo khẩn cấp. Lúc 2 giờ đêm, Ngoại trưởng Trần Văn Lắm chuyển cho ông một phiếu trình, kèm theo một thư mới của Tổng thống Nixon gửi cùng ngày (8 tháng 6, 1973): Việc gì gấp rút đến nỗi chính Phó Đại sứ đã đến tận nhà để đánh thức ông Ngoại trưởng dậy! Ông Lắm phải chuyển ngay giữa đêm để còn kịp đối phó, vì trong thư, ông Nixon tỏ ra hết sức cứng rắn. Cùng một ngày, mồng 8 tháng 6, (9 tháng 6, giờ Sài gòn) Nixon lại gửi một thông điệp nữa:

White House

Ngày 8 tháng 6, 1973

Thưa Tổng thống,

Nếu cuộc thương thuyết này thất bại thì sẽ có sự đối chất giữa hai bên. Tôi sẽ bác bỏ lý do không chịu ký kết của Ngài và tôi sẽ công khai tố cáo Ngài đã cản trí việc đi tìm một giải pháp cho hoà bình….

Rất có thể Quốc hội sẽ ngưng viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế cho đến khi Ngài chịu ký…

Tôi cần sự chấp thuật của Ngài để kịp chỉ thị cho phái đoàn Hoa kỳ ở Paris trước 7 giờ sáng ngày 9 tháng 6, giờ Paris…”

Trân trọng,

(kt) Richard M. Nixon

Ông Thiệu đọc lá thư cẩn thận. Ông phê nhiều điểm loằng ngoằng, bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh, Pháp vào phiếu chuyển thư của Đại sứ Whitehouse để Hội đồng an ninh quốc gia làm việc: “Unbalanced and Unjust” (không quân bình và bất công). Ông còn viết thêm bằng nét bút chì đậm: … Hoa kỳ để VNCH với “no choice” (không có lựa chọn nào tốt hơn)… để tỏ ra xây dựng và thiện chí, nhận những tối đa, chứ không nói “không” một cách thẳng thừng” (ông viết tắt lên văn bản: “chữ O nói NON Flatly”, chữ O hay “phi” có nghĩa là “không”.

Và cứ như vậy, thư đi, thư lại trong bốn ngày từ mồng 8 tới 11 tháng 6, lời lẽ mỗi lúc một căng thẳng hơn. Tới ngày 13 tháng 6 thì thời hạn chót đã tới. Một tối hậu thư được tống đạt:

White House

Ngày 13 tháng 6, 1973

Thưa Tổng thống,

Lá thư của Ngài đề ngày 12 tháng 6, là một đòn giáng mạch vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta.

“Nếu Ngài lựa chọn đường lối này, thì chính là Ngài đã vạch ra chính sách trong tương lai của Hoa kỳ đối với Việt nam rồi. Tôi sẽ bắt buộc chịu ý Quốc hội và công luận Hoa kỳ chỉ yểm trợ chút ít những nhu cầu có tính cách nhân đạo cho nhân dân miền Nam và, trên căn bản công bình đi nữa, tôi sẽ bỏ qua những quyết định và nhiệm vụ khó khăn để yểm trợ quân sự và kinh tế (cho VNCH) như chúng ta đã thảo luận ở San Clemente.

“Đây không còn phải là vấn đề của người đi thương thuyết, hay của một luật gia, hay chuyên gia nữa. Đây là vấn đề trước tiên giữa tôi và Ngài. Sự lựa chọn là do Ngài.

“Xin Ngài hiểu cho rằng, tôi sẽ nói tất cả những sự dè dặt, những điều cần sửa đổi thêm, trì hoãn, hay những hành động đính lạc hướng ra ngoài (chỉ) một việc là đồng ý ưng, thuận, (tôi sẽ coi đó) là một quyết định trực tiếp và cố tình của Ngài để chấm dứt mối tình giao hiện hữu giữa hai Chính phủ Hoa kỳ và VNCH “

Trân trọng,

(kt) Richard M. Nixon

Ông Nixon đã khoá chặt lại cái tủ của ông Thiệu. Câu giờ, lánh né, mưu lược, xoay xở đã tới lúc vô hiệu. Lời lẽ hăm doạ cay đắng lúc cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt. Chẳng bù cho những thông điệp nhẹ nhàng, ve vãn lúc tuần trăng mật do bà mối Anne Chennault chuyển vào mùa thu 1968. Nó đầy sức quyến rũ, thuyết phục.

Ông Thiệu phê vào bên lề câu cuối cùng:

“Quá đáng! Ông nói chứ tôi hoặc ND VNCH (Nhân dân Việt nam cộng hoà), hay ND USA (nhân dân Hoa kỳ) nào có quan niệm như vậy”

6. Đây là bức thư cuối cùng của Tổng thống Nixon. Câu ông Thiệu phê như trên cũng là cảm nghĩ cuối cùng của ông về hành động của Nixon-Kissinger.

Bản Thông cáo được ký kết vào lúc 4 giờ chiều ngày 13 tháng 6 tại Paris. Về phương diện lãnh thổ, biên giới của Miền Nam đã trở nên lu mờ. Trên thực tế, nó không còn nữa.

Lùi vào bóng tối

Mọi chuyện sắp xếp cho hoà bình Việt nam như vậy là xong. Kissinger vội vã bay về Washington để còn theo đuổi những tham vọng khác.

Ngày 22 tháng 8, 1973 Kissinger lên chức Bộ trưởng ngoại giao thay ông Rogers;

Gần hai tháng sau đó, Hiệp định Paris lại mang tới cho ông vinh dự của giải thưởng Nobel về Hoà Bình (Việt nam); và như vậy, thay vì nói “Hoà bình đang trong tầm tay” (Peace is at hand) nhẽ ra ông phải nói “Hoà bình đang trong tầm tay của tôi”; và thay vì tuyên bố đã có “Hoà bình và danh dự”, ông nên tuyên bố: “Hoà bình và danh dự cho tôi” thì mới đúng.

Về phía VNCH, từ giờ phút này đã trở nên cô thân cô thế, chỉ còn hy vọng rằng đã chịu đấm thì được ăn xôi, rằng những cam kết tại San Clemente sẽ được tôn trọng.

Thế nhưng, San Clemente chỉ là trạm dừng chân của Tổng thống Thiệu trước khi ông rời khỏi trọng tâm chú ý của Hoa kỳ.

Kể từ khi ký xong Bản Thông Cáo, hai ông Nixon và Kissinger hầu như đã chôn vùi Miền Nam vào dĩ vãng. Trước đó, khi có nhu cầu thì chỉ trong thời gian từ 31 tháng 1, 1971 tới 13 tháng 6, 1973, ông Nixon đã viết cho ông Thiệu tới 27 bức thư. Từ lúc đó cho tới khi ông từ chức (ngày 8 tháng 8, 1974) thì tuyệt nhiên không còn thư từ, thăm viếng, trao đổi gì nữa. Lời ông Winiam Sullivan, Phụ tá Thứ Trưởng ngoại giao tóm tắt về quan điểm của Hoa kỳ lúc ấy: “Chúng tôi hy vọng rằng Dông Dương sẽ lui vào chỗ của nó trong bóng tối, và nó xứng đáng như vậy 7 “.

——————————–

1          Phỏng vấn Hoàng Đức Nhã, 13-5-1985.

2          Phỏng vấn Hoàng Đức Nhã, 23-7-1985.

3          Henry Kissinger, Years of Upheaval, trang 310.

4          Phỏng vấn Hoàng Đức Nhã, 23-7-1985.

5          Phỏng vấn Tổng thống Thiệu, ngày 4-4-1978.

6          Phỏng vấn Tổng thống Thiệu, ngày 4-4-1978

7          N.T. Hưng and Jerrold Schecter, The Palace File, p.170.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 22 Aug 2025

15. Hoàng Khởi Phong

Có lẽ trong số những người cầm bút còn tiếp tục công việc của mình ở hải ngoại này, Hoàng Khởi Phong là người có lực bền bỉ nhất. Sống ở cái xứ người này, như một kẻ lưu lạc, người ta không thể không có lúc, tưởng chừng như, mình không còn đủ sức để làm một việc gì nữa. Có cả ngàn lý do khiến người ta suy sụp. Nào đất nước. Nào cộng đồng. Nào tương lai. Nào tuổi già. Trong hoàn cảnh ấy, Hoàng Khởi Phong vẫn viết được một cách đều đặn, và nhất là, vẫn viết với nhiệt tình, tưởng chừng, sức sống, lửa tin trong lòng ông vẫn bùng bùng cháy mặc dầu những gió bão.

Cây Tùng Trước Bão của Hoàng Khởi Phong được Ngô Thế Vinh giới thiệu như là “một cuốn sách nói về quá khứ và những người lính của cuộc chiến tranh đã qua nhưng lại có tác dụng sưởi ấm niềm tin hướng về tương lai”.

Cây Tùng Trước Bão dày 261 trang, gồm 8 đoản văn. Tác giả không ghi chú là bút ký, phóng sự hay gì khác. Nhưng nếu chúng ta coi đó như một tập truyện ngắn cũng chẳng sao.

Thực tế, cả 8 đoản văn đều là những truyện ngắn. Và nếu gọi là những truyện ngắn, thì lại phải nói thêm rằng, đây là một cách viết truyện ngắn mới của Hoàng Khởi Phong. Bởi vì tất cả các nhân vật trong cuốn truyện đều là những người có thật ngoài đời, còn sống quanh chúng ta, hoặc giả nếu có ai đó đã chết, thì cũng chỉ vừa mới chết cách nay không bao lâu.

Và truyện của Hoàng Khởi Phong là những cuộc trò chuyện, tâm tình của các nhân vật với tác giả, được ghi chép lại.

Các nhân vật đó là: Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, cũng là người giữ căn cứ An Lộc sau cùng, trước khi miền Nam mất. Nhà văn Cao Xuân Huy, người chúng ta vẫn đọc hàng ngày trên các báo chí. Lâm Ngọc Chiêu người lính biệt kích. N., tác giả cuốn Bông Hồng Gai vừa được phát hành tại quận Cam.

Đại úy Nguyễn Đình Liêm, trưởng phòng hành quân của tiểu khu Gò Công những năm cuối cuộc chiến, người treo trên cửa kính căn phòng khách hàng chữ ‘Phi Nhân Nghĩa-Bất Tri Giao’, nhưng tác giả, Hoàng Khởi Phong, sau khi trò chuyện đã phải nêu lên nghi vấn: “Anh là ai? Khiêm tốn? Thông Thái? Khoa trương?”.

Thầy giáo Võ Nguyên Thị, người có bạn là Trần Lam Giang, Nguyễn Khoa Tần, những người đã từng ăn học chơi đùa với Thị. Trần Lam Giang cho biết một chi tiết ít ai biết vì mẹ Thị giấu. Mãi sau này mới cho Thị biết. Sở dĩ mẹ anh đặt tên cho anh là Võ Nguyên Thị vì cha anh là con nhà chú của Võ Nguyên Giáp. Chúng tôi cũng nêu ra những chi tiết ấy để xác định thêm một lần nữa, tất cả các nhân vật của Hoàng Khởi Phong trong Cây Tùng Trước Bão đều là những người thật, việc thật.

Những người không phải là nhân vật, được nêu tên, hình như cũng là để xác định điều ấy. Các nhân vật có thật ấy, tất nhiên đã cùng chúng ta trải

qua những giai đoạn lịch sử đầy những biến động bi thảm vừa qua. Quá khứ trở thành một gánh nặng, một vết thương chưa lành, quên không được mà nhớ thì sẽ dùng được vào việc gì đây?

Đại Tá Phan Văn Huấn nói:

“Hồi mới đi tù, tôi phải xác nhận là tôi được coi bởi những người có gốc quân đội làm quản giáo. Họ đối với chúng tôi không có bạo hành thể xác như những trại giam do công an quản trị. Những người quản giáo trong cái trại của tôi, nơi giam giữ những cấp tướng và đại tá của miền Nam, được tuyển chọn một cách kỹ lưỡng …

Tất nhiên bạo hành về tinh thần thì khỏi phải nói. Họ thẩm vấn, họ bắt làm tờ khai, họ dò xét, bắt chúng tôi nhận những điều chúng tôi đã làm. Trong chiến tranh tất nhiên phải có những người chết, có những người bị giết và những người giết người. Giết và bị giết chẳng qua chỉ là một hình thái sinh hoạt của chiến tranh. Không một người lính nhà nghề nào lại lấy sự giết người làm thú tiêu khiển trong đời quân ngũ của mình cả. Nếu có những con người như thế thì chẳng qua đó là một con người bệnh hoạn, không bình thường. Xét cho cùng thì tôi thấy binh sĩ của tôi ít người bị bệnh tinh thần loại đó. Nhưng từ khi phải chuyển trại nhiều lần, tôi thấy những kẻ giam giữ tôi bị bệnh tinh thần nhiều hơn chúng tôi. Họ lạnh lùng, họ nóng giận, họ thay bộ mặt trong vài giây đồng hồ và quan trọng một điều là họ không bao giờ lộ vẻ xót xa trước những khổ đau của con người”.

Gần đây, người đọc đã dần dà và lần lượt được đọc một loạt sách được gọi là hồi ký của nhiều nhân vật, có thể coi là có trách nhiệm trực tiếp hay gián tiếp tới vận mệnh của đất nước những năm vừa qua. Những sự việc được lật đi lật lại. Hồi ký mà không có sự thành thật thì không thể gọi là hồi ký được. Chừng mực của sự thành thật lại cũng là điều khó kiểm chứng.

Chỉ có một điểm người ta dễ nhận ra, với tư cách độc giả là, tuy thua trận, nhưng miền Nam nói chung, vẫn có những nhân vật, những người tử tế, đàng hoàng, có sự hiểu biết, cư xử hơn hẳn phía đối phương. Đó vừa là điều làm chúng ta hãnh diện, vừa làm chúng ta đau lòng. Vì, sự việc dường lại giống như những bằng chứng cho thấy, nhiều khi cái ác lại thắng cái thiện, cái xấu thắng cái tốt.

Nhưng đọc hết cuốn Cây Tùng Trước Bão của Hoàng Khởi Phong, theo dõi những nhân vật của ông, chúng ta vẫn có thể đồng ý với Nguyễn Xuân Hoàng, trong lời bạt:

“Họ là những đốm lửa được nhóm lên trong những giây phút tăm tối của định mệnh. Những đốm lửa ấy sau đó tưởng như bị chìm khuất trong bóng tối quên lãng. Nhưng không.

Cuộc sống cho ta thấy ánh sáng của những đốm lửa kia vẫn còn chiếu mãi. Đó là những đốm lửa của niềm tin và hy vọng. Tôi không rõ cuộc sống của chúng ta sẽ ra sao nếu cứ phải nghe mãi những tiếng động ồn ào và vô nghĩa của những cái thùng rỗng hay những tiếng vo ve của ruồi nhặng … Nhưng tôi biết những đốm lửa kia sẽ mãi mãi giúp ta can đảm bước tới, nó như ánh sáng của biển đêm, là hơi ấm của mùa đông dài, là sự sống của cõi chết … “.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 22 Aug 2025

14. Hoàng Hải Thủy

Hoàng Hải Thủy là một trong những nhà văn đã nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975. Ông nổi tiếng trước nhất như một người viết phóng sự, sau đó, như một dịch giả và một người viết tạp văn. Từ tạp văn ở đây hiểu theo nghĩa, gặp gì viết nấy, trộn lộn cả phóng sư, văn chương, trích dẫn thi ca, âm nhạc, những ngôn ngữ do ông sáng tạo, bịa đặt ra. Cái cách viết của ông có thể có nhiều người không thích. Nhưng khi người ta nói không thích cách đùa cợt trớt nhả của ông, có nghĩa là, người ta đã đọc ông rồi. Có phải như vậy chăng? Phải công nhận rằng, tất cả những gì Hoàng Hải Thủy viết, đều có một sức hấp dẫn, dù nó được ký tên Hoàng Hải Thủy hay Công Tử Hà Đông. Đang viết bình thường, ông thêm vào một chữ “vưỡn”, “em vưỡn yêu anh, mí nị, em thơm như múi mít” chẳng hạn. Trong ngôn ngữ miền Bắc của chúng ta, hai từ “mí nị”, cũng có người nói là “mí ly”, là hai tiếng “mới lại” được phát âm trẹo đi. Hoặc những tiếng “ê, a” không có nghĩa gì, nhấn mạnh vào những chữ ấy chỉ để chê bai, chọc quê.

Nghe một người con gái nói: “Em vưỡn yêu anh” thì có lẽ không anh nào dám tin đó là sự thật, dù trong câu nói có thể có một phần sự thật. Cái phần sự thật có thể có đó, so với cái phần sự thật có thể không, trong câu nói nghiêm chỉnh hơn “Em vẫn yêu anh” có gì khác? Cái bông đùa của Hoàng Hải Thủy luôn ở trên làn ranh vui buồn, thật giả đó.

Đọc “Sống và Chết Ở Sài Gòn” người ta được biết những chuyện liên quan tới một số văn nghệ sĩ, trí thức, như Vũ Hoàng Chương, Thượng Tọa Trí Siêu [Lê Mạnh Thát] Thanh Nam, Vũ Bằng, Duyên Anh, Thái Thủy, Mai Thảo, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn, Uyên Thao … về trại giam Phan Đăng Lưu, nơi Hoàng Hải Thủy đã trải nhiều năm tù.

Chương Hoàng Hải Thủy kể lại những năm tù ở trại Phan Đăng Lưu với nhiều tù nhân khảng khái được nhà văn Đặng Trần Huân coi là một chương tuyệt tác. Người ta nhớ lại những năm sau 1975, hầu hết các văn nghệ sĩ ở Sài Gòn cũ, đều bị bắt giam. Hoàng Anh Tuấn sau khi được tha, đã được thân nhân bảo lãnh ra khỏi nước. Hoàng Hải Thủy có mấy câu thơ gửi Hoàng Anh Tuấn được các bằng hữu của ông thỉnh thoảng nhắc lại:

Hai chuyến xe hoa về đất mẹ

Bây giờ xa lộ sáng đèn chưa

Ở đây thì chán, đi thì nhớ

Sài Gòn mưa mà Mỹ cũng mưa

Như nhiều người đã biết, Hoàng Anh Tuấn ngoài làm thơ còn là một đạo diễn điện ảnh. “Hai Chuyến Xe Hoa”, “Đất Mẹ” và “Xa Lộ Không Đèn”, Hoàng Hải Thủy nhắc trong bài thơ là tên những cuốn phim Hoàng Anh Tuấn đã thực hiện. Sống Và Chết Ở Sài Gòn được viết theo kiểu tùy hứng,

nhớ đến đâu viết đến đấy. Chương ông viết về việc ông bở lỡ chuyến di tản năm 1975 là một chuyện cười ra nước mắt. Khi đó, Hoàng Hải Thủy đang làm việc cho USIS tức Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Trước ngày 30/4, ông giám đốc USIS cho biết sẽ cho nhân viên đi, nhưng con trai các nhân viên phải dưới 17 tuổi mới được ra đi theo bố mẹ. Nhân viên phàn nàn, ông trả lời, ông phải làm theo lệnh của chính phủ Việt Nam, không thể làm trái luật pháp, cũng không thể nhận diện em nào trên hay dưới 17 tuổi. Ngay lúc đó, Hoàng Hải Thủy thật thà không hiểu câu nói của ông giám đốc A. Carter, ý ông muốn bảo “các anh cứ khai con các anh 16 tuổi chứ tôi có cần các anh chứng minh đâu”. Y hệt câu thơ của T.T.KH, “đến khi tôi hiểu thì tôi đã” muộn mất mấy chục năm rồi.

Trong cuốn sách Hoàng Hải Thủy có nhắc tới cái chết của nhà các nhà văn Vũ Bằng, Nguyễn Mạnh Côn, nhà báo Minh Vồ, nhiều chi tiết về những năm đen tối, khốn khổ sau 1975 mà người dân miền Nam đã phải trải qua.

Được biết cuối năm 2002, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội / Hà Nội đã cho xuất bản cuốn “Hai Mươi Nhăm Năm Một Vùng Tiểu Thuyết” ý muốn nói tiểu thuyết ở miền Nam Việt Nam, nội dung đề cập tới tiểu thuyết miền Nam từ 1887 tới Hồ Biểu Chánh rồi nhẩy vọt qua tiểu thuyết từ 1975 tới 2000 đề cao những tác giả cộng sản nhất là các tác giả từ miền Bắc vào. Tất cả nền văn học miền Nam [từ 1954-1975] không có một dòng.

Nhà văn Đặng Trần Huân viết:

“Với chủ trương rõ ràng của nhà cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam hiện nay như thế, thử hỏi, nếu không có những bộ sách như Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, hay những tạp bút như Sống Và Chết Ở Sài Gòn thì sau này lấy đâu ra tài liệu về văn học và đời sống của văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa? Ta phải cám ơn Võ Phiến, cám ơn Hoàng Hải Thủy đã giúp ta tài liệu để còn nhớ không quên những văn nghệ một thời sáng chói, dù nhớ cách nào đi chăng nữa”. Các văn nghệ si của chúng ta sống ở miền Nam trước 1975, cho đến nay, đã mất đi nhiều lắm. Người chết trong tù, chết trong nước, người chết già, chết bệnh, người chết nơi xứ lạ quê người, số còn lại e rằng ít hơn số đã mất. Và, trong số những người còn lại, Hoàng Hải Thủy là một trong những người hiếm hoi, cho đến nay, vẫn viết và viết được một cách đều đặn. Cách viết của ông gần như không có gì thay đổi, pha trộn văn chương với phóng sự, nửa đùa nửa thật.

Nhưng với cái nhìn sâu sắc của một người đã ở ngoài cái tuổi “cổ lai hy”, đọc ông, người ta có cảm tưởng, mọi sự trên đời đều hình như lúc nào cũng có hai mặt, một mặt bi thương và một hài hước.

Nói mọi sự trên đời, bởi vì, Hoàng Hải Thủy đề cập tới rất nhiều chuyện trong các bài viết của ông, bằng hữu, nghề nghiệp, kỷ niệm, tình yêu, chính trị, thời sự, tù đầy, cảm khái trước cái đẹp của thiên nhiên, thời tiết, kiếp sống tha hương …

Loạt bài mới nhất của ông cho đăng trên các báo chí gần đây, những phê phán chua chát của ông đối với chế độ  cộng sản, sách báo của các tác giả ở trong nước và những người ông cho là đến bây giờ vẫn còn bị cộng sản mà mắt, được rất nhiều người đọc. Dù có cùng quan điểm với ông hay không, người ta vẫn thấy ở ông một tấm lòng thiết tha với đất nước, yêu cái đẹp, yêu sự thật.

Tập Đất Hồ Ngàn Năm của Hoàng Hải Thủy cho xuất bản mới đây, gồm tám đoản văn: Huyền Thoại Vương Chiêu Quân, Giang Tả Cầu Hôn, Rồng Nằm Ngựa Chạy, Sự Tất Như Thử, Trăm Năm Binh Lửa, Thơ Và Sự Khốn Cùng, Mơ Ngày Về Kẻ Lông Mày, Thiên Long Tình Sử.

Hoàng Hải Thủy cho biết, ông bắt chước ông Lê Quý Đôn ghi lại những chuyện hay hay đọc được cùng với những suy luận, những nhận xét của mình. Qua cuốn sách người ta được biết thêm một Hoàng Hải Thủy rất yêu thơ, đọc rất nhiều thơ Đường, dịch nhiều thơ Đường và còn có thể làm thơ bằng chữ Hán nữa. Đoản văn bàn về “Thơ Và Sự Cùng Khổ” của Hoàng

Hải Thủy gây nhiều xúc động trong lòng độc giả. Hoàng Hải Thủy đã viết đoản văn này sau khi đọc một bài thơ của Nguyễn Du trong “Bắc Hành Thi Tập”, chắc Nguyễn Du đã sáng tác trong chuyến đi sứ sang Bắc Kinh và qua nơi có ngôi mộ Đỗ Phủ.

Thi hào Đỗ Phủ trong một chuyến đi xa đã nhuốm bệnh và chết trên một con thuyền trên sông Tương. Vì nhà nghèo, vợ con không đưa được ngay di hài ông về quê nhà, phải tạm chôn tại Nhạc Châu. Bốn mươi năm sau, người cháu của Đỗ Phủ là Đỗ Tư Nghiệp mới rời được hài cốt Đỗ Phủ về Yểm Sư, mai táng trên núi Thú Dương, thuộc Hà Nam. Tuy vậy, ở Lỗ Dương vẫn có ngôi mộ giả của Đỗ Phủ do viên Huyện lệnh Lỗ Dương họ Nhất xây, để tưởng niệm nhà thơ lớn. Người Hoa ngày xưa thường xây mộ giả các nhân vật họ kính trọng. Đỗ Phủ thơ hay tuyệt thế nhưng suốt đời nghèo khổ, nghèo đến độ không nuôi nổi vợ con và thân mình, để đến nỗi một người con nhỏ của ông phải chết vì thiếu ăn. Nguyễn Du đặt câu hỏi, ông [Đỗ Phủ] cùng khổ đến thế phải chăng vì thơ? Phải chăng ta có thể quy tội làm ông khổ là thơ?

Chính Đỗ Phủ khi nhớ tới Lý Bạch, nhớ tới Khuất Nguyên tự trầm mình ở sông Mạch La đã than thở: “Làm thơ hay như Khuất Nguyên, như Lý Bạch mà cuộc đời khổ sở đó là vì văn chương ghen ghét những người mệnh đạt.

Văn chương không cho những người làm thơ được thành công trong đời”.

Bàn về thơ và sự cùng khổ, một danh sĩ khác của Trung Quốc viết: “Không phải thơ làm người ta cùng khổ. Chính vì người làm thơ có cùng khổ thơ của người đó mới hay”.

Đỗ Phủ nói: “Văn chương ghét mệnh”. Nguyễn Du cho rằng: “Làm gì có chuyện văn chương ghét mệnh. Làm gì có chuyện trời ghen với người”.

Nhưng trong truyện Kiều Nguyễn Du lại viết:

Lạ gì bỉ sắc tư phong

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

Hoàng Hải Thủy viết: “Đây không phải là một điều mâu thuẫn trong quan niệm về nhân sinh của thi sĩ. Không phải Nguyễn Du bất nhất trong quan niệm của ông về đời người. Ý thức của chúng ta rất phức tạp, đa dạng. Nguyễn Du tất nhiên là phức tạp hơn người thường”.

Hoàng Hải Thủy lấy trường hợp của ông để nói thêm về câu hỏi được nêu ra: thơ có làm cho người làm thơ phải khổ sở không?

“Viết tiểu thuyết từ năm 25 tuổi, có thể nói, tôi suốt một đời yêu thương, gắn bó, sống chết với việc viết truyện. Với tôi, viết là hạnh phúc. Tôi đã sống để viết, viết để sống và trước năm 1975, tôi đã sống được với việc viết truyện của tôi. Trước 1975, ở Sài Gòn, Thủ đô quốc gia Việt Nam Cộng Hòa của tôi, trong hai mươi năm, tôi đã sống để viết và tôi đã viết để sống. Sau 1975, tuy biết viết là tù tội, tôi vẫn viết. Dù vậy tôi vẫn không thể trả lời thỏa đáng câu hỏi: Thơ có làm cho người làm thơ cùng phổ hay không?

Tôi thấy Nguyễn Du đúng khi thi sĩ nói: Chữ tài liền với chữ tai một vần’, ‘ngu si hưởng thái bình’.

Người có tài thường gặp tai họa. Chuyện đó tôi thấy thường xẩy ra trong đời và trong thời loạn. Tôi chịu câu nói của Âu Dương Tu: “Thơ không làm cho người làm thơ cùng khổ. Chính vì có cùng khổ thơ mới hay”.

Chuyến Công-Tác cuối cùng của HQ 09

hung-viet.org

Hoàng Đình Báu

12 Tháng Ba 2011

Post by Sơn râu 22 Aug 2025

Đầu năm 1974 tôi được chỉ-định đảm-nhận Hộ-Tống-Hạm Kỳ-Hòa HQ 09. Suốt năm đó HQ 09 có hai nhiệm-vụ chính: Tuần-tiễu vùng Trường-Sa và yểm-trợ các giàn khoan dầu của Hoa-Kỳ ngoài khơi từ Vũng-Tàu đến Côn-Đảo. Mỗi chuyến công-tác kéo dài 3 tháng nên việc nghỉ bến để tiếp-tế lương-thực, dầu và nước là Vũng-Tàu, đôi lúc cũng ghé Côn-Sơn để nghỉ-ngơi và tiếp-tế. Đến năm 1975 khi các tỉnh ở Cao-Nguyên Trung-Phần bị lọt vào tay Cộng-Quân.Đầu tháng 2 thì Huế và Quãng-Trị bắt đầu rối-loạn, Sư-Đoàn 1 đóng tại Huế đang được di-tản vào Đà-Nẳng.

Vào thời-điểm này HQ 09 được lệnh chuẩn-bị ra công-tác khẩn cho Vùng 1 Duyên-Hải.Đây được coi như là chuyến công-tác cuối cùng của HQ 09 mà hằng năm vào dịp 30.04 vẫn còn ghi đậm trong lòng thủy-thủ-đoàn đã từng phục-vụ trong những ngày tháng cuối cùng đó.

– Sáng ngày 26-03-1975 chiến-hạm khởi-hành ra Vùng 1 Duyên-Hảị

– 6.00 AM ngày 28-03-1975 chiến-hạm tới cửa Sơn-Trà để chờ lệnh.

Các tin-tức nhận được từ Bộ-Tư-Lệnh Vùng 1 Duyên-Hải và do dân chúng tỏa ra bằng ghe cặp vào chiến-hạm lúc sáng nay như sau : Tối hôm qua Cộng-Quân pháo-kích vào BTL/HQ/V1DH bằng hỏa-tiễn 122 ly và sơn-pháo 130 ly, làm hư-hại chiếc trực-thăng của Tư-Lệnh V1DH, Phó Đề-Đốc Hồ-Văn-Kỳ-Thoại. Toàn thành-phố bị thiết-quân-luật 24/24. Lính của các Binh-Chủng di-chuyển về Đà-Nẳng quá đông, không nơi ăn chốn ở, gia đình ly-tán. Lợi-dụng cơ-hội nầy đặc-công Cộng-Sản trà-trộn để phá-hoại nên có nhiều tiếng súng và vài đám cháy nhỏ xảy ra trong thị-xã. Các đơn-vị cơ-giới hạng nặng cùng các chiến-xa, quân-xa của Quân-Lực VNCH đã đậu dài từ cầu Trịnh-Minh-Thế cho đến bờ biển Tiên-Sạ Một vài nhóm quân-nhân đã uy-hiếp 1 tầu Hải-Quân, buộc phải đưa họ tách bến. Nhưng tầu này bất-khiển-dụng nên rất may là không có gì đáng tiếc xảy ra. Với tình-hình đó HQ 09 được lệnh không vào Đà-Nẳng mà cũng không cập cầu Tiên-Sa.

Chiến-hạm vận-chuyển với 2 máy tiến 1, chạy lòng vòng ngoài cửa Đà-Nẳng để chờ lệnh. Chiến-hạm quan-sát thấy hàng trăm ghe tầu đủ loại đang tiến ra biển; một số ghe tiến về chiến-hạm rồi cập vào để đưa một số binh-sỉ và thường dân lên bơng tầu.

– 12.00 ngày 28-03-1975, chiến-hạm nhận lệnh xuôi về Qui-Nhơn để đón Sư-Đoàn 23 Bộ-Binh di-tản. Trên đường đi, chiến-hạm cũng đã vớt nhiều đồng-bào từ Quảng-Ngải, Cù-Lao-Chàm và Cù-Lao-Ré. Phần đông họ đi trên các ghe thúng hoặc ghe nhỏ. Chiều hôm đó chúng tôi đã chứng-kiến bao cảnh thương-tâm mà không sao cứu-giúpđược. Đó là các đồng-bào đang ở trên xà-lan do các tầu dòng của hảng thầu RMK kéo về Saigòn. Tầu kéo thì quá chậm, trên xà-lan lại quá đông người, lẫn lộn vơí nhiều binh-sĩ đầy đủ súng ống. Trời nóng như đốt, không nước, không lương-thực thì chuyện rối-loạn là điều không tránh khỏi. Chiến-hạm không thể đến gần để giúp đỡ vì lúc đó trên tầu cũng đang đầy người, nếu đến gần không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Đành bấm bụng cho tầu chạy lướt qua, để lại đàng sau những tiếng la cầu-cứu lẫn tiếng súng.

– 08.00 AM ngày 29-03-1975, đến Qui-Nhơn, lúc bấy giờ đã thấy hiện-diện nhiều chiến-hạm gồm LSM, LST, WHEC, DER và rất nhiều tiểu-đĩnh của Vùng 2 Duyên-Hải đang di-tản, một số quân-nhân của Sư-Đòan 23 từ bờ ra biển. Bải biển Qui-Nhơn với bãi cát vàng được ôm-ấp bởi hàng trăm cây dừa xanh tươi, nay nhìn vào chỉ thấy lửa và khói.

– 12.00 ngày 29-03-1975, chiến-hạm được lệnh tác-xạ để phá-hủy 3 bồn dầu

ở ngã ba quốc-lộ 1 và đường vào thị-xã. Cùng vài chiến-hạm bạn, sau gần nửa giờ tác-xạ, 3 bồn dầu đã bị phá-hủy, khói đen cao ngất che phủ một góc trờị

– 4.00 PM Cùng ngày, chiến-hạmđược lệnh về Nhatrang. Đến 4 giờ sáng

ngày hôm sau thì tầu đến Hòn-Pyramid, nằm ngoài khơi Nhatrang. Tầu tiếp-tục xuống Hòn-Yến rồi Hòn-Dungđể chờ sáng sẽ vào Nhatrang bằng ngỏ Cầu-Đá phiá bên Hải-Học-Viện. Trời sáng dần, biển êm, gió nhẹ, chiến-hạm bắt đầu nhiệm-sở tác-chiến. Trên đài chỉ-huy nhìn hướng 10 giờ là Hòn-Tre với đài kiểm-báo trên đĩnh như còn say ngủ. Bên hướng 3 giờ là con đường Duy-Tân với bao biệt-thự xinh đẹp cùng 1 dãy các Ky-ốt dọc theo bờ cát trắng. Xa xa là Chụt, phi-trường, quân trường Hải-Quân Nhatrang. Xa hơn nữa là Xóm-Bóng, Hòn-Chồng, Đồng-Đế. Tất cả đều lần lượt thấy rõ qua mắt thường. Chiến-hạm chạy từ từ, thận-trọng, quan-sát. Có lúc chiến hạm chạy sát bờ biển Nhatrang đến nổi có thể thấy rõ người đi bộ. Đặt ống nhòm nhìn càng rõ hơn, toàn người và người.Tuyệt nhiên không thấy xe thiết-giáp nào của Cộng-Sản cả. Có vài chiếc xe hơi rọi đèn pha ra phía biển, không biết có còn ai ngồi trong đó. Lúc đi ngang qua khách-sạn lớn của thành phố, chiến-hạm thấy có nhiều người đang đứng trước khách-sạn này, có người lấy nón vẫy cầu-cưú. Từ Cầu-Đá đến Xóm-Bóng, bờ biển Nhatrang dài độ 6 cây-số, chiến-hạm đi qua rồi vòng trở lại Cầu-Đá. Quan-sát kỷ nhưng chẳng thấy bóng dáng T 54 như lời đồn-đải lúc bấy giờ. Thủy-thủ-đòan làm việc ngày đêm, ngoài việc đi phiên hải-hành thường lệ, họ còn giúp-đỡ đồng-bào lúc lên tầụ Kiểm-soát an-ninh và trật-tự vì có nhiều binh-sỉ quá-gian, nhiều đàn-bà và trẻ em đang cần sự giúp-đỡ. Bận rộn nhất là nhân-viên nhà bếp, luôn luôn phải có cơm nóng và nước uống cho đồng-bào. Tôi còn nhớ tên một vài người đã làm việc rất tích-cực như giám-lộ Long và Thiếu-Úy trọng-pháo Dũng trong chuyến công-tác nàỵ Ngày hôm sau chiến-hạm được lệnh tuần-tiễu ngoài khơi vùng biển Nha-Trang. Chỉ-thị cuả Phó Đề-Đốc Hoàng-Cơ-Minh Tư-Lệnh V2 Duyên-Hải kiêm Tư-Lệnh tiền-phương sau khi mất Đà-Nẳng là: Tuần-tiễu và chận bắt các tầu lạ xâm-phạm hải-phận Vùng 2 từ Nhatrang đến Camranh. Vào lúc này, các tầu lạ mang quốc-tịch Trung-Quốc và Liên-Sô di chuyển về phiá Nam rất đông. Các thương-thuyền này ngang nhiên xâm-phạm hải-phận Việt-Nam một cách trắng-trợn.

Tôi báo-cáo lên cho Bộ-Tư-Lệnh Vùng 2 DH và xin chỉ-thị. Lần nầy tôi được lệnh không ngăn-chận nó mà chỉ theo dõi và báo-cáo mà thôi. Số lượng tầu ngoại-quốc đi sát bờ biển Việt-Nam càng lúc càng đông, đến nổi không thể nào kiểm-soát hết; vã lại các thương-thuyền lạ này có trọng-tải và vận-tốc lớn, nên chiến-hạm ta không đủ khả-năng bám-sát được. Có lần chiến-hạm thử chặn đầu 1 thương-thuyền có mang cờ Búa-Liềm bằng cách chớp đèn, nhưng nó vẫn tiến mà không hề giảm tốc-độ. Buộc lòng chiến-hạm phải né sang một bên, nếu không tránh kịp sẽ bị đứt làm đôi.

– Ngày 2-04-1975, chiến-hạm được lệnh tiến đến “Chụt” một làng nhỏ cách Cầu-Đá Nha Trang độ 1 Km để phá-hủy hai bồn dầu của kho xăng nằm dưới chân núi đối diện phiá bên kia con đường. Các bồn xăng sơn màu bạc, từ chiến-hạm nhìn vào giống như 2 ống khói khổng-lồ nhô lên trong đám dừa xanh. Tôi yêu-cầu Sĩ-Quan trọng-pháo lên đài-chỉ-huy để chuẩn-bị dùng 76 ly tác-xạ vào 2 bồn dầu dó. Chiến hạm tiến gần sát thêm vào mục-tiêu; giám-lộ Long và Sĩ-Quan đương-phiên xác-định điểm neo. Lúc đó là10 giờ sáng, trời tốt, biển động nhẹ, gió nhẹ. Khoảng cách mục-tiêu cần tác-xạ là 2 hải-lý. Nhân-viên vào nhiệm-sở tác-xạ, tất cả sẵn-sàng. Tôi nhìn kỷ mục-tiêu lần chót trước khi ra lệnh tác-xạ. Tôi cũng như mọi người trên tầu đều thấy rõ hàng ngàn đồng-bào đang lũ-lượt lên dốc núi để qua bên kia Cầu-Đá, họ đang hướng về bến cảng nơi đó có hàng trăm ghe-thuyền đang chờ đợi để di-tản về Saigòn. Các ụ súng cũng báo-cáo thấy rất đông đồng-bào đang di-chuyển ngang qua bồn dầu. Tôi ra lệnh ngưng tác-xạ, theo dỏi mục-tiêu và chờ lệnh. Tôi báo-cáo lên phòng hành-quân cuả Tư-Lệnh Hoàng-Cơ-Minh rằng mục-tiêu không thể tác-xạ được vì đồng-bào đang đi qua đó rất đông. Vài phút sau tôi lại được lệnh bằng mọi giá phải triệt-hạ 2 bồn dầu đó. Biết không thể nào từ chối việc thi-hành lệnh cấp trên, tôi chỉ cho Sĩ-Quan trọng-pháo nên bắn lên các đỉnh núi cao nằm phiá sau kho xăng đó.

Khẩu trọng-pháo 76 ly bắt đầu nhả đạn, từng viên, từng viên nổ chát-chúa rung chuyển cả con tầu, tạo nên những cột khói trắng trên đỉnh núi cao, tựa hồ như những đám khói của các người đốt rừng để trồng-trọt.

Sau khi tác-xạ theo lệnh xong, tôi lên máy báo-cáo: Đã tác-xạ 10 viên 76 lỵ. Bên kia hỏi cho biết kết quả. Tôi trả lời không trúng mục-tiêu. Sau đó tôi bị dằng vặt bởi lời báo-cáo này. Nhưng tôi không biết phải làm gì hơn, trong khi tất cả nhân-viên trên chiến hạm cũng như tôi ai cũng cảm thấy nhẹ nhõm.

Ngày hôm sau, chiến-hạm lại được lệnh tiêu-hủy 2 bồn dầu đó, trước khi rút về CamRanh nhận lệnh mới. Chiến-hạm trở lại “Chụt” lần nữa, vẫn còn thấy nhiều người qua laị gần bồn dầu. Vì lý do nhân-đạo tôi liền báo-cáo về Tư-Lệnh Vùng 2 Duyên-Hải là tôi sẵn-sàng chịu nhận mọi trách-nhiệm vì không thể tác-xạ vào 2 bồn dầu này được.

Ngày 5-04-1975, chiến-hạm khởi-hành về CamRanh mang theo gần 500 đồng-bào và binh-sỉ. Số người quá đông nên vấn-đề ăn-uống và vệ-sinh bắt đầu khó-khăn. Chiến-hạm cặp cầu CamRanh lúc 12 giờ trưạ Một số đông đồng-bào rời tầu để tìm phương-tiện khác vào Saigòn. Bộ-Tư-Lệnh Vùng 2 Duyên-Hải đã di-tản nên không thể liên-lạc được, một vài thủy-thủ còn lang-thang trên cầu tầu, xa xa các bồn dầu CamRanh đã tiêu-hủy từ các ngày trước chỉ còn lại đống tro tàn.

Ngày 8-04-1975, sau 14 ngày chiến-hạm liên-tục hoạt-động không ngơi nghỉ. Hai máy chánh bắt đầu có trở-ngại, máy quá nóng nên chiến-hạm cho chạy một máy, máy kia nghỉ. Nước ngọt và dầu cặn đã bắt đầu cạn mà không có nơi tiếp-tế. Tôi báo-cáo mọi hư-hỏng về Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân Saigòn xin được về để sửa-chữa và tiếp-tế. Một ngày sau Bộ-Tư-Lệnh cho chiến-hạm về Phan-Thiết để tuần-tiễu từ mủi Kê-Gà đến Vũng-Tàu. Tại đây chiến-hạm sẽ nhận tiếp-tế dầu, nước từ các chiến-hạm bạn đang cùng công-tác trong vùng. Khi nhận được tiếp-tế đầy đủ, chiến-hạm lại tiếp-tục chở đồng-bào và quân-nhân từ Phan-Thiết về Vũng-Tàụ Ngày 16-04-1975 mới được lệnh về Saigòn để sửa-chữa.

Ngày 17-04-1975, chiến-hạm ráng lết về Saigòn với 1 máy chánh tả. Cập cầu HQCX vị-trí 1 cho đồng-bào lên bờ. Các thủy-thủ bắt đầu dọn dẹp vệ-sinh. Tôi rời tàu, ra cổng HQCX gọi Honda ôm để về nhà. Trên đường đi tôi bị ám-ảnh bởi cảnh đoạ-đày trên xà-lan mà đồng-bào ta đang chịu đựng, làm lòng tôi nôn-nóng muốn mau về để thấy mặt vợ con. Tôi nghĩ lại mình còn có hạnh-phúc hơn nhiều ngườị

Ngày hôm sau tôi vào Hạm-Đội và trình-diện HQ Đ/Tá Nguyễn-Xuân-Sơn, Tư-Lệnh Hạm-Đội. Ông cũng là vị Hạm-Trưởng đầu tiên nhận lãnh chiến-hạm HQ09 năm 1960 tại Hoa-Kỳ. Ông nói tôi phải đưa lệnh công-tác sửa-chữa gấp cho HQCX, đồng-thời xúc-tiến ngay việc lãnh gạo và nhiên-liệu để sẵn-sàng công-tác. Đặc-biệt lần lãnh gạo này được cấp đầy kho, điều đó cũng đã nói lên ý-định của hạm-đội chuẩn-bị cho một cuộc di-tản sắp tới.

Ngày hôm sau Đ/Tá Sơn bị cách-chức và HQ Đ/Tá Phạm-Mạnh-Khuê lên thay thế. Một buổi họp khẩn-cấp các Hạm-Trưởng của Hạm-Đội, Đại-Tá Khuê tuyên-bố: Anh em yên chí, chúng ta vừa mới thả 2 trái bom CBU ở Long-Khánh, Cộng-Quân đang bị chận đứng. Mọi công-tác vẫn như thường lệ, việc chuẩn-bị chiến-hạm di-tản hủy bỏ. Tất cả mọi người lặng-lẽ ra về. Tuần lễ cuối cùng của tháng 4 năm 1975 là một tuần lể thê-thảm cuả HQCX. Máy chánh, máy điện rả ra mà chẳng có thợ xuống ráp laị. Mỗi ngày có 1 đốc-công xuống xem qua rồi lên, họ lắc đầu nói chờ “Part” v.v. Các nhân-viên chiến-hạm cũng điểm-danh đầy-đủ, có 1 Sĩ-Quan vào chào từ-biệt tôi để đi Hoa-Kỳ ngày 20-04-1975, anh nói đã có vé máy bay vì bà-xã làm ở cơ-quan Mỹ.

Chiều 29-04-1975, các chiến-hạm từ cầu A cho tới sở Hàng-Hà đều đầy nghẹt người, riêng các chiến-hạm đậu trong HQCX thì ít người hơn vì vào lối này phải có người hướng-dẫn. Tr/Tá Trị, Hạm-Trưởng HQ 406 đang đậu vị-trí ngoài cùng gặp tôi đang lúc anh đưa gia-đình ngang qua HQ09, anh bảo tôi cùng đi nhưng gia-đình tôi chưa vào được nên tôi từ chốị

Chiều lại, tôi tập-họp nhân-viên trên tầu, mọi người nhìn tôi chờ đợi. Tôi nói tầu mình hư không thể chạy được, anh em nào muốn đi thì qua HQ 406, tối nay tầu sẽ khởi hành. Riêng bản thân tôi thì ở lại, vì vợ con tôi không vào được. Một vài người qua HQ 406, còn bao nhiêu hầu như cùng ở lại chiến-hạm như tôi.

Tối hôm đó tôi vào phòng truyền-tin để theo-dỏi việc di-tản. Trong phòng đã có sẵn 2 nhân-viên vô-tuyến đang đàm-thoại với những chiến-hạm bạn. Tôi chỉ sợ nếu có một chiến-hạm bị bắn cháy trên đoạn đường từ Saigòn ra Vũng-Tàu thì cuộc di-tản của chúng ta sẽ như thế nào ? May thay đám du-kích Việt-Cộng hai bên bờ sông Lòng-Tào và Soài-Rạp chưa đủ sức để làm chuyện nàỵ

Sáng 30-04-1975, đứng trên đài-chỉ-huy tôi chỉ thấy một vài chiến-hạm còn lại đang cột ngoài phao ở giữa sông, hay cặp bến tại các cầu tầụ Phần đông các chiến-hạm đều bị bất-khiển-dụng, chỉ có một số ít chiến-hạm không đi, mặc dầu còn khiển-dụng 1 máy hoặc cả 2 máỵ Lý do vì không có Hạm-Trưởng hay cơ khí viên. Nhưng không phải vì thế mà chiến-hạm bị bỏ ngỏ. Tất cả vẫn nhiệm-sở tác-chiến. Họ là những người lính, nên dù ở hoàn-cảnh nào, họ cũngđều tuân-lệnh và chiến-đấu hết mình. HQ 09 cũng vậy, tất cả vào nhiệm-sở để chiến-đấu dù tuyệt-vọng. Nếu ông Dương-Văn-Minh không tuyên-bố đầu-hàng, chắc chắn các chiến-hạm còn lại cũng phải một sống một chết với Cộng-Quân.

11.00 AM ngày 30-04-1975, ông Dương-Văn-Minh tuyên-bố đầu-hàng.

Tôi tập-họp anh em một lần chót:

– Tôi nói anh em đã nghe rồi, chúng ta đầu hàng. Bây giờ các anh em có quyền về nhà..

Trước khi về, anh Quản-Nội-Trưởng cho anh em mang gạo về mà ăn. Cứ mở kho, ai mang được bao nhiêu thì mang.

Tôi thay thường phục lái xe về nhà. Tôi mang theo xách tay, trong đó có 2 khẩu súng (1 Ru-lô và 1 Colt 45). Theo xe tôi có Hạ-Sĩ Thành, anh là trọng-pháo nhưng luôn luôn sát cạnh để lo ăn-uống và giúp-đỡ cho tôi khi cần. Vừa ra khỏi HQCX tôi quẹo phải đường Cường-Để. Trước hết tôi thấy bao nổi kinh-hoàng còn ghi dấu hai bên đường. Nào là các xe hơi, xe JEEP, xe HONDA nằm đầy la-liệt với hàng đống Vali và xách-tay cùng hàng đống hình ảnh và Búp-Bê rơi tung-toé. Đến đường Hiền-Vương tôi quẹo trái, gần ngang cổng Nha Hàng-Không Dân-Sự thì gặp phải 1 chiếc T 54 của Cộng-Sản đang tiến nhanh ngược chiều về phía tôi, tôi nép qua phải, chút nữa là tôi bị cán nát. Đây là lần đầu tiên tôi thấy tận mắt T 54.

Về đến nhà, tôi thấy vợ con tôi và một số bà con đang ngồi bẹp dưới sàn nhà. Có lẽ mọi người cũng như tôi đã chờ đợi suốt đêm qua, nhưng mỗi người chờ đợi mỗi cách. Gia-đình và bè bạn thì chờ tôi về để đưa đi. Còn tôi và toàn thể nhân-viên trên chiến-hạm thì chờ đợi những giờ phút cuối cùng của lịch-sử trong đời quân-ngủ. Một lúc sau chẳng ai nói với ai một điều gì, mọi người tự giải-tán trong nặng nề và u-uất. Tôi đưa cho HS Thành khẩu COLT 45 và một ít tiền để anh vể xe, anh ở tận Cần-Thợ Từ đó tôi chẳng bao giờ gặp lại mặt anh.

Những ngày đầu tháng 5 này, Sàigòn như lên cơn sốt bệnh-tật. Nhà nhà đóng cửa, ngoài đường xe cộ chạy loạn-xạ, một chiếc đâm vào nhà tôi làm sập cánh cửa sắt, mặc dầu nhà tôi ở trong hẽm nhỏ. Người lái xe chẳng ai xa lạ, mà là một cậu Xì-Ke nhà đầu xóm. Cậu ta vừa mới vớ được chiếc xe Jeep của ai mới bỏ sáng nay nên lái chạy chơi, có người còn cầm súng bắn lên trời mừng chiến-thắng. Sực nhớ còn khẩu Ru-Lô trong túi xách, tôi bảo vợ tôi lấy tờ báo gói lại rồi đem ném vào đống rác ở chợ Bàn-Cờ. Vợ tôi lặng-lẽ ra đi một lát sau bà về bảo đã làm xong nhiệm-vụ. Tôi tự nhủ thầm, hôm nay tôi mới thực-sự từ giả vũ-khí.Ngày 2-05-1975, tôi đứng dậy sau một ngày nằm dài như người mê-mang. Tôi cố đi một vòng quanh khu Bàn-Cờ chỗ tôi ở. Hai bên đường cờ Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam treo đầy, các Bộ-Đội Giải-Phóng hồ-hởi phấn-khởi mặc đồ đen, đồ xanh, có người quấn khăn rằng, có người đội nón tai-bèọ Họ vừa chạy xe Honda vưà bóp còi inh-ỏi. Một tuần sau tôi lại đi lần nữa để xem có gì khác lạ không, khi đi ngang qua rạp hát Văn-Hoa trên đường Điện-Biên-Phủ gần Ngả-Bảy, tôi thấy Bộ-Đội Miền-Bắc đóng đầy trong đó, ngoài cổng có hai tên đầu đội nón cối, chân đi dép râu, tay cầm AK bán đỏ đứng gác. Nhìn chung quanh đường tôi chẳng còn thấy bóng-dáng cờ Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam đâu cả mà thỉnh thoảng có vài lá cờ đỏ sao vàng bay trên nóc các cao-ốc. Tôi nghĩ bụng, Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam chỉ chiến-thắng có vài ngày thôi, họ hy-sinh nhiều nhất mà thua cũng mau nhất.

Vài ngày sau tôi đạp xe chạy xuống bến Bạch-Đằng. Hôm đó trời mưa lất-phất, dẫn xe đạp qua gần cầu B, tôi thấy vài chiến-hạm còn đậu ngoài phao, nhìn về phía HQCX tôi thấy mủi tầu HQ 09. Tôi im-lặng với bao niềm-thương nổi-nhớ. Vĩnh-biệt HQ 09!

Tôi đạp xe về nhà mà lòng tái-tê.

Hoàng-Đình-Báu

Tô Thùy Yên Và Những Bài Thơ Viết Trong Tù

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh   

Post on May 22, 2022   

Post by Sơn râu 21 Aug 2025

(Để tưởng niệm anh – nhân dịp giỗ lần thứ ba của nhà thơ Tô Thùy Yên)

(Tô Thùy Yên mất ngày 21.5.2019)

Một người dốt đặc về thơ phú như tôi mà lại từng được làm bạn và lạm bàn về thơ cùng với một nhà thơ nổi danh như Tô Thùy Yên thì đúng là chuyện lạ. Cho dù đó là chuyện ở trong tù. Vì vậy, khi biết tin anh qua đời, một số bạn tù khuyên tôi nên viết một bài để tưởng niệm anh, nhưng tôi không dám, vì thấy rất nhiều nhà văn nhà thơ tên tuổi bậc thầy đã viết về anh, hơn nữa tôi ngại người đời thường dị nghị chuyện “thấy người sang bắt quàng làm họ.” Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ ba của anh, theo tập tục Việt nam, là ngày chính thức mãn tang anh, tôi xin viết đôi điều để tưởng nhớ anh và nhắc lại vài kỷ niệm cùng anh trong tù.

Khi còn ngoài Bắc, có thời gian tôi đã từng ở chung trại tù với anh Đinh Thành Tiên (tên khai sanh của Tô Thùy Yên), nhưng khác đội, lúc ấy chưa biết nhiều về anh và cũng chưa có dịp thân quen anh. Mãi đến tháng 9 năm 1981, chuyển vào Nam, đến Trại Z- 30 C Hàm Tân, anh và tôi được “biên chế” ở cùng một đội, và nằm gần nhau trong gần hai năm, cho đến khi tôi ra tù. Đặc biệt trong đội này có cả anh Đặng Trần Huân, cũng nằm cách chúng tôi vài ba người. Và tôi được hân hạnh thân thiết với cả hai. Khi ấy, tôi biết danh anh Đặng Trần Huân nhiều hơn là anh Đinh Thành Tiên, vì trước đây quanh năm chỉ hành quân trong núi rừng chưa có cơ hội được đọc nhiều thơ Tô Thùy Yên, chỉ biết mỗi bài Chiều Trên Phá Tam Giang được phổ nhạc và loáng thoáng chuyện tình giữa anh và nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Riêng anh Đặng Trần Huân thì có nhiều chuyện vui trên báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, và “Chuyện Cấm Đàn Bà”mà tôi thường đọc. Cả hai anh đều lớn tuổi hơn tôi, và sau khi biết cha tôi bị chết ở một trại tù khác trong Nam, vợ con nheo nhóc, nên tôi trở thành một trong những con bà Phước trong tù, hai anh đều thương quí tôi. Nằm bên cạnh anh Tô Thùy Yên, nên tôi thường được anh đọc cho nghe những đoạn thơ anh ứng khẩu hay sáng tác. Anh có thói quen làm bài thơ nào cũng dài. Bất cứ lúc nào, ngay cả khi đang phải lao động, anh thì thầm ứng khẩu một vài câu hay vài đoạn, đến tối nằm đọc lại, ghi vào mẩu giấy nhỏ để sau đó ghép thành một bài dài. Có khi cả năm mới đủ một bài. Nghe anh thì thầm những câu thơ anh viết, thét rồi tôi thuộc lòng và còn nhớ hơn cả chính anh. Tôi dốt về thơ nhưng lại có tính mê thơ từ nhỏ. Vì vậy có nhiều khi anh quên, tôi có nhiệm vụ phải nhắc bài thơ đã đến đâu rồi, để anh tiếp tục. Anh làm thơ trong trí, lẩm bẩm một minh, đọc cho tôi nghe, rồi chép vội vào một mảnh giấy nhỏ, nhét ở đâu đó. Thỉnh thoảng anh nhờ tôi giữ hộ một số. Có lần anh bỏ vào cuốn tự điển Anh-Việt được gia đình thăm nuôi, không biết nhờ ngụy trang bằng cái bìa của cuốn truyện “Thép Đã Tôi Thê Đấy” hay bằng cách nào đó, nên qua mắt được gã công an kiểm soát. Anh học Anh văn bằng cách say sưa đọc cuốn sách gối đầu giường của người cộng sản, tác phẩm nổi tiếng của văn hào Nga Nikolai A. Ostrovsky, nhưng kỳ thực, chỉ có cài bìa, còn cả phần ruột là cuốn tự đỉển Anh – Việt của tác giả Nguyễn Văn Khôn. Có một lần không may, bất ngờ cả trại bị khám xét “đột xuất”. Các tù nhân có lệnh mang theo tất cả đồ đạc tư trang ra ngoài sân để chuyển trại. Một tên công an lục lọi đủ mọi thứ, khám phá cuốn sách mang tên “Thép đã tôi thế đấy” lại là cuốn sách toàn chữ của “đế quốc Mỹ”, và trong đó còn có cả mấy mẩu giấy có vài câu thơ “phản động” nên anh bị cùm hơn hai tuần. Cuốn sách và mấy bài thơ, tất nhiên bị tịch thu. Hôm mới được thả về đội, anh yếu và mệt quá, thêm một chút “phản kháng” nữa, nên anh dặn tôi, khuya này, khi nào nghe anh rên thì tôi hô to ‘cấp cứu, có tù bệnh đột xuất”. Lúc ấy người phụ trách trạm xá là Bác sĩ Anh, nguyên là Y sĩ Thiếu Tá bị bắt trong vụ nhà thờ Vinh Sơn sau 1975, kêu án 30 năm tù. Nghe nói ông có một ông anh lại là Trung Tá Bác sĩ Công An CS, nên bảo lãnh để được ra làm ở trạm xá thay vì phải lao đông. Dường như Bác sĩ Anh là bạn khá thân với anh Đinh Thành Tiên trước kia, nên hai người có hẹn nhau, nếu khi nào anh Tiên gọi cấp cứu thì bác sĩ Anh đến khám và cho lên bệnh xá nằm vài hôm, khỏi phải đi lao động. Anh được ban cho cái bệnh loét bao tử. Đây cũng là dịp để anh thoải mái làm thơ. Chỉ có tôi là người duy nhất biết được giao kèo bí mật này, nên khi anh Tiên kéo tay tôi và bắt đầu rên là tôi hô to “Cấp cứu! Cấp Cứu! Có tù bị bệnh đột xuất”. Và lần nào, đám công an cũng đưa Bs Anh đến khám và cho khiêng anh vê trạm xá! Bac sĩ Anh là một bác sĩ giỏi, một con người khẳng khái, tư cách và rất hết lòng với anh em.

Trong những bài thơ anh viết, bài mà tôi thuộc lòng và thích nhất đó là bài “Tháng Chạp Buồn”. Anh viết mấy đoạn đầu của bài thơ này vào giữa tháng Chạp năm 1981, mãi đến tháng Chạp năm 1982 anh mới viết xong mấy đoạn cuối (tức là khi đã ở tù gần tám năm, nhưng sau này có bài được viết là chín năm) Anh đọc và giải thích từng câu, từng đoạn trong bài thơ cho tôi nghe. Có nhiều câu tôi rất tâm đắc, như : “Tám năm áo rách bao nhiêu lượt, con vá chồng lên những nỗi niềm”, nhưng cũng có đôi câu tôi dốt nên không hiểu,  như “Cha mẹ già như trúc trổ bông”, nhờ anh giải thích tôi mới biết khi trúc trổ bông là trúc sắp chết. Tôi nể phục sự hiểu biết, tài làm thơ của anh và rất cảm động khi đọc bài thơ anh viết, bởi câu nào cũng mang đầy tâm trạng của anh mà cũng của chính tôi và những người bạn tù khác nữa. Anh bảo viết bài thơ này tặng tôi. Và anh tặng thật. Anh viết vào một mảnh giấy được xếp thật nhỏ với chữ cũng thật nhỏ đầy kín cả hai mặt. Chữ anh viết khá đẹp. Mảnh giấy xếp nhỏ có thể kẹp giữa hai ngón tay. Khi nghe báo tin tôi được ra tù, anh mừng cho tôi, nhưng tôi cũng nhận ra nét thoáng buồn trong mắt anh, vì từ nay sẽ mất thằng bạn tù anh xem như thằng em thân thiết, từng lắng nghe và thuộc những bài thơ mang cả nỗi lòng anh. Biết tôi đã thuộc nằm lòng, anh vẫn bảo cố giấu mảnh giấy có chép bài thơ mang về làm kỷ niệm, vì khá dài nên cũng chóng quên. Nhưng khi lên ban chỉ huy trại xếp hàng chờ lãnh tấm giấy ra trại, thấy mấy anh bạn tù phía trước bị khám xét quá kỹ quá, tôi nhát gan, vội bỏ mảnh giấy vào miệng nhai nát rồi nuốt vao cái dạ dày đang đói. Khi về đến nhà, tôi liền ngồi viết lại cả bài thơ và đưa cho vợ tôi đọc. Nàng rơm rớm nước mắt.

Khi biết tin anh đến Mỹ, tôi đang định cư ở NaUy, nên nhờ cô con gái lớn đang sang học ở Cali liên lạc tìm thăm anh. Anh vui lắm. Từ đó anh em thường liên lạc thăm nhau. Tôi chép lại bài thơ “Tháng Chạp Buồn” gởi cho anh, vì anh cho biết đã không còn nhớ rõ một vài câu trong đó.

THÁNG CHẠP BUỒN

Tết này con vẫn chưa về được

Chân mỏi còn lê nặng kiếp tù

Con nghĩ mà đau muôn nỗi nhớ

Tám năm lòng bạc những thiên thu

Tám năm những tưởng là vô tận

Rồi cũng qua như tiếng rụng rời …

Thương nhớ nghe chừng sông biển cạn

Nghe chừng gãy những cánh chim bay

Con đi đã mấy miền Nam Bắc

Ðâu cũng thì đau đớn giống nòi

Con khóc hồn tan thành nước mắt

Lâu rồi trời đất hết ban mai

Tuổi con đã quá thời nghi hoặc

Sao vẫn như người đi giữa đêm

Tám năm áo rách bao nhiêu lượt

Con vá chồng lên những nỗi niềm

Con nhớ cội mai già trước ngõ

Xuân này có gắng gượng ra hoa

Xót xa thế, thiết tha là thế

Ðời mất đi từng mảng thịt da

Căn nhà đã có thời gian ngụ

Bụi mọt rơi và ngọn gió qua

Thăm thẳm nghìn đêm chong mắt đợi

Ai trầm luân đó đã về chưa?

Con nhớ khu vườn sau vắng lạnh

Mỗi cây làm chứng một thâm tình

Quây quần bên mẹ cha buồn bã

Như một phần con đứng lặng thinh

Tám năm con thức ngàn đêm trắng

Mơ sáng ngày mai đời đổi thay

Con nắm tay mình trong bóng tối

Hiểu rằng sống được cũng là may

Tám năm con giấu trong tâm tưởng

Thanh kiếm giang hồ thuở thiếu niên

Mà đợi ngày mai trời trở giấc

Ðem thân làm trận lốc kinh thiên

Tết này con vẫn chưa về được

Sông núi còn ngăn những tấm lòng

Nên đành lấy nhớ thương mừng tuổi

Cha mẹ già như trúc trổ bông

* * *

Tết này anh vẫn chưa về được

Chắc hẳn em buồn như cỏ thu

Ngọn gió mùa xưa hiu hắt thổi

Dòng đời nghe lạnh nỗi thờ ơ

Tám năm hiu quạnh vang mòn mỏi

Những tiếng vang từ mỗi nhịp tim

Những tiếng vang sâu từ cõi chết

Qua ngàn lớp cửa nặng nề im

Con sông nước chảy đôi miền nhớ

Biền biệt trôi, ngày một một xa

Còn gọi nhau qua từng giấc mộng

Bàng hoàng như một cánh chim sa

Trong ấy mùa xuân có đến không?

Mùa xuân hoa nở má em hồng

Mùa xuân áo mới như hy vọng

Nắng mật ngời lên ánh mắt trong

Ở đây có lẽ xuân không đến

Rừng núi chưa tan giấc não nề

Thương nhớ tràn như cơn lũ máu

Lòng anh đã vỡ những con đê

Lòng anh đau nỗi quê hương mất

Ðời bỏ đi chưa hả nhục nhằn

Có chết cũng thành ma vất vưởng

Ðêm về thương khóc nhớ quê hương

Anh nhớ con đường em vẫn đi

Cỏ hoa bối rối gọi nhau về

Thời gian có ngủ mê từ đó

Nhan sắc bây giờ có ủ ê?

Anh nhớ bao điều tưởng đã quên

Tình xưa như nước chảy trăm miền

Tình xưa như hạt cây khô rụng

Từ những mùa xa lá phủ lên

Anh nhớ làm sao mà chẳng nhớ

Căn nhà ấm tiếng nói thân thương

Căn nhà như giấc chiêm bao biếc

Có ánh trăng và hương dạ lan

Làm sao em chẳng buồn cho được

Tám độ mai rơi hết mộng vàng

Mái tóc ủ thời con gái cũ

Bây giờ e cũng đã phai hương

Tết này anh vẫn chưa về được

Lau sậy già thêm một tuổi xuân

Còn nhớ thương ai miền gió cát

Bao giờ mới dứt được trầm luân!

* * *

Tết này cha vẫn chưa về được

Chắc hẳn con buồn cạn tuổi thơ

Từ buổi cha đi, nhà tróc nóc

Tuổi thơ thôi cũng nhuốm bơ phờ

Từ buổi cha đi đời lặng lẽ

Mắt nai héo đỏ nỗi mong chờ

Mỗi lần có khách đi vào ngõ

Con bỏ vui đùa đứng ngẩn ngơ

Con sáo trong lòng con đã chết

Bé ơi sao bé mãi đi tìm

Con kêu lạc giọng ơi… ơi… sáo

Rồi khóc trong chiều muộn nhá nhem

Tám năm mưa gió qua rền rĩ

Chim nhỏ không còn vui líu lo

Ngơ ngác tuổi thơ người lớn sớm

Nhìn đâu cũng chỉ thấy bơ vơ

Ðã tám năm rồi con bỏ học

Cuộc đời như một bát cơm thiu

Mỗi lần có phải qua trường cũ

Con bước nhanh vì sợ bạn kêu

Lần hồi rau cháo mẹ nuôi con

Con lớn lên theo vạn nỗi buồn

Mơ ước ngày sau làm tráng sĩ

Ðem thân vào những chốn đau thương

Ngày sau con dựng ngôi nhà lớn

Trồng lại tình thương dọc nẻo đời

Tạc lại con người khôi việt đẹp

Làm nên thế giới mới tinh khôi

Cha thương con biết bao mà kể

Ôi mắt nhung reo ánh nỗi niềm

Mái tóc tơ hồng hương nắng hạ

Tuổi thơ mùi sách mới lâng lâng

Xa con cha thấy buồn vô hạn

Như mất thêm lần nữa tuổi thơ

Cha tiếc không cùng con sống lại

Ngày vui cha vẫn giấu trong mơ

Ôi cánh diều băng mùa hạ cũ

Xương tàn còn đọng ngọn tre cao

Ðến nay trời nổi bao lần gió

Con tưởng oan hồn vật vã đau

Tết này cha vẫn chưa về được

Ðành hẹn cùng con tết khác thôi

Con nhớ để dành cây pháo cũ

Ðể dành một chút tuổi thơ vui.

Tô Thùy Yên

Sau này, bài thơ TA VỀ, anh viết khi ra tù, đã trở thành một tuyệt tác, đưa tên tuổi anh lên tột đỉnh thi ca. Bài thơ mà gần như người Việt khắp thế giới đều biết đến, ngay một vài tờ báo văn nghệ trong nước cũng đã đăng tải, bình phẩm và ngợi ca. Bài thơ rất dài, nhưng nhiều người thuộc nằm lòng, chỉ cần nhắc đến một vài chữ, như “cám ơn hoa đã vì ta nở” …là biết ngay đến Tô Thùy Yên. Nhưng với tôi, bài thơ “Tháng Chạp Buồn” lại gây cho tôi nhiều xúc động hơn, không chỉ nó mang nhiều tâm trạng của “tám năm áo rách bao nhiêu lượt, tôi vá chồng lên những nỗi niềm” mà còn gợi lại nhiều kỷ niệm gắn bó giữa anh Tô Thùy Yên và cá nhân tôi trong những năm tù ngục

Trong tù, anh có kể cho tôi nghe cuộc tình của anh với nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Anh cũng tỏ ra ân hận và thấy có lỗi với cả hai người đàn bà, chị Nguyễn Thị Thụy Vũ và chị Huỳnh Diệu Bích, người vợ chính thức mà anh hết lời ca ngợi. Cuộc tình này đã gây cho anh khá nhiều tai tiếng và cũng để lại nhiều dằn vặt trong anh.

Anh Đặng Trần Huân lớn hơn anh Đinh Thành Tiên mười tuổi, khi ấy tóc đã bạc trắng, cùng phục vụ trong Tổng Cục CTCT nhưng người Bắc người Nam, khác tính nhau và dường như không mấy thân nhau. Tô Thùy Yên thì trầm ngâm, ít nói, còn Đặng Trần Huân thì thường vui đùa, bỡn cợt. Khi tâm tình với tôi, anh Đặng Trần Huân cũng thường có ý trách anh Tô Thùy Yên về chuyện Nguyễn Thị Thụy Vũ. Tôi vừa đùa vừa bênh vực: tình của giới văn nghệ mà, nên thông cảm, bố ạ! Tôi thường gọi anh Đặng Trần Huân là bố và anh cũng xưng bố với tôi. Vì có lần anh đùa, bảo “bố có cô con gái út chưa chồng, nếu mai này mày ra tù mà vợ đã lấy chồng khác tao sẽ gã nó cho mày!” (xin lỗi cô gái út, nếu đọc được mấy dòng này)

Cả hai anh đều sang Mỹ cùng gia đình theo diện HO. Anh Đặng Trần Huân mất vào năm 2003 tại Nam Cali, sau khi sinh hoạt báo chí, văn nghệ một thời gian. Anh Tô Thùy Yên thì nổi tiếng với bài thơ Ta Về, nhưng không còn sáng tác nhiều. Sau khi in Thơ Tuyển (1994 và 1995), anh chỉ tổ chức ra mắt duy nhất tập thơ Thắp Tạ (2004), và sau đó in thêm Tô Thùy Yên-Tuyển Tập Thơ (2019), nhưng chỉ dành để tặng bạn bè).

Đọc tập thơ Thắp Tạ anh gởi tặng, tôi nghĩ có lẽ đây là một kết thúc, khi ở đầu tập thơ anh viết:

Thắp tạ càn khôn một vô ích

Thắp tạ nhân quần một luyến thương

Và

Thức cho xong bài thơ

Mai sớm ra đi

Cài hờ lên cửa tặng

Tôi gọi sang cám ơn anh và đùa:

–Đọc tập thơ này có nhiều câu em không hiểu được. Vả lại, ông anh còn yêu đời quá mà “thắp tạ” làm chi sớm vây?

Tập thơ xuất bản năm 2004, mãi đến mười lăm năm sau, ngày 21 tháng 5 năm 2019, nhà thơ Tô Thùy Yên mới ra đi. Và đúng là anh cũng đã yêu đời thật, khi trải qua một cuộc tình đẹp đầy tính văn nghệ với một cô con gái trẻ, mê thơ và ngưỡng mộ anh!

Rồi mọi người sẽ nhớ tới anh, nhớ mãi thơ anh. Bài thơ Ta Về sẽ trở thành bất tử. Riêng tôi sẽ không thể nào quên người anh, bạn tù, một nhà thơ lớn, có tâm hồn, lãng mạn, nhưng luôn khí khái, đã cho tôi nhiều kỷ niệm dễ thương, thi vị ngay trong cảnh khốn cùng nhất của kiếp con người.

Bắc Âu, 21.5.2022