This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng của Ngô Thế Vinh được ghi chú là tiểu thuyết. Nhưng đọc cuốn sách người ta thấy mình chạm phải một vấn đề
nghiêm trọng, thiết thân, có ảnh hưởng tai hại đến nhiều người, nhiều thế hệ, nhiều quốc gia, ít nhất là 7 quốc gia trong vùng Đông Nam Á, có liên hệ với một dòng sông, chứ không phải chỉ là những buồn vui, thơ mộng, của một cuốn truyện, theo ý nghĩa thông thường.
Bằng cuốn sách của mình, Ngô Thế Vinh đề cập tới việc người ta xử dụng dòng sông Cửu Long và những hệ lụy của nó. Có thể nói, qua các nhân vật của mình, như ông Khắc, bác sĩ Duy, Điền, Thuận, Cao, Hộ v.v … những người hành xử công tác chuyên môn của mình, Ngô Thế Vinh cho thấy, cùng một lúc họ tham gia vào một cuộc đấu tranh sinh tử để giành lại môi sinh, giành lại đất sống, giành lại chủ quyền đất nước.
Ở trang các trang 56, 57 tác giả viết:
“Từ những năm 75, Trung Hoa đã có kế hoạch xây một chuỗi 8 con đập Mekong Cascade trên thượng nguồn, nhưng do thiếu ngân sách nên mãi tới năm 80, con đập đầu tiên Manwan, cao 99 mét mới được khởi công. Đập chắn ngang khúc sông, giữa hai ngọn núi, với bức tường thành cao 35tầng và 13 năm sau mới xây xong. Con đập thứ hai, Đại Chiến Sơn, cũng đã được khỏi công năm 1996, sẽ tới con đập thứ ba, Cảnh Hồng, chủ yếuxuất cảng điện sang Thái Lan. Con đập thứ tư Xiaowan cao 248 mét, được coi là con đập mẹ / mother dam / trong chuỗi 8 con đập bậc thềm, dự trù xây xong trước thập niên thứ nhất của thế kỷ thứ 21″.
Vào năm 1993, do một hiện tượng được coi là bất thường xẩy ra, khi mực nước con sông Mekong đột ngột tụt thấp xuống mà không vào mùa khô, tới lúc đó người ta mới biết là do ảnh hưởng của con đập Manwan.
Rõ ràng hơn, tại Việt Nam thì: “Theo tin báo Tuổi Trẻ từ trong nước, 10 ngày trước Giáng Sinh, ngư phủ Nguyễn Văn Chơn và vợ, cư ngụ tại huyện Lấp Vỏ, tỉnh Đồng Tháp, đã lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét, ngang 2 mét và nặng tới 270 kí. Cá đuối thuộc loại cá sụn, gồm các giống cá mập, cá nhám, là cá nước mặn. Đây cũng là lần đầu tiên, ngư dân đồng bằng sông Cửu Long lưới được một con cá nước mặn lớn như vậy, rất xa biển và, trên một khúc sông nằm sâu trong đất liền”.
Ngô Thế Vinh viết tiếp:
“Nhưng có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai, bởi vì, khi mà nước sông Cửu Long xuống mức thấp nhất, so với 73 năm trở lại đây, và có nơi mực nước sông chưa được 2 thước, gây sạt lở hai bên bờ, làm thiệt hại nhà cửa và cả nhân mạng. Nhiều chuyên gia Việt Nam ở ngoại quốc và cả trong nước, đã lên tiếng báo động về hiểm họa hạn hán, với sông Cửu Long có thể cạn dòng, do các công trình xây đập ngăn nước của các quốc gia thượng nguồn Thái/Lào và chuỗi con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam, Trung Hoa, mà lâu nay, chính quyền Hà Nội vẫn không hề lên tiếng phảnđối. Và khi một con cá đuối nước mặn, lớn như vậy, có thể vào tới Đồng Tháp, thì đó là báo hiệu nạn ngập mặn, salt intrusion, đã vào rất sâu trong vùng châu thổ, nơi vốn là đất của “sữa và mật ngọt”, hay đúng hơn đất của “phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng”.
Dĩ nhiên sông cạn là một thảm họa. Thêm một thảm họa khác nữa là nạn ô nhiễm. Từ Nữu Ước tới Cali, từ Thái Lan qua Lào, Cam Bốt sang tới Việt Nam, đâu đâu người ta cũng thấy tràn ngập các món hàng do Trung Hoa sản xuất. Có bao nhiêu các món hàng ấy xuất phát từ Vân Nam dọc hai bờ con song Mekong? Cùng với 28 khu hầm mỏ đang được triệt để khai thác nơi thượng nguồn, trong đó có cả những mỏ chì, mỏ kẽm là nguồn ô nhiễm nặng nề nhất. Tóm lại, cuốn sách của Ngô Thế Vinh là một tiếng kêu thất thanh về một mối nguy đang đe dọa Tổ Quốc và nhân dân chúng ta.
Trung Quốc không bao giờ che dấu tham vọng bành trướng xuống phương Nam. Cuộc bành trướng ngày nay, không phải chỉ thuần túy là những đoàn quân ồ ạt xâm chiếm đất đai, mà là một trận địa mới, có sức tàn phá mãnh
liệt, lâu dài và khủng khiếp hơn. Đó là điều Ngô Thế Vinh muốn cảnh báo, nhắc nhở mọi người Việt Nam, nhất là giới trẻ, phải ghi nhớ nằm lòng.
Hình thức tiểu thuyết hóa không thích hợp lắm với một vấn đề thời sự nghiêm trọng như vậy. Nhưng cuốn sách đã hoàn tất. Người đọc phải tự phân biệt, đâu là văn chương, đâu là thảm họa.
Có lẽ không có nhà văn nào của chúng ta, những người đã viết trước 1975, cho đến nay vẫn tiếp tục viết, và viết như một cách đi tiếp con đường mình đã chọn như Ngô Thế Vinh.
Nguyễn Xuân Hoàng gọi đó là sự nhất quán toàn bộ những gì Ngô Thế Vinh đã viết trong suốt ba mươi năm qua:
ông tiếp tục là con người xã hội, là nhà văn xã hội. Nhờ có hai bản Anh ngữ The Green Belt [Vòng Đai Xanh] và The Battles of Saigon [Mặt Trận Ở Sài Gòn] nên Ngô Thế Vinh được nhiều người ngoại quốc đọc. Dư luận chung tỏ ra chia sẻ những suy nghĩ của ông về ý nghĩa cuộc chiến vừa qua và số phận của đất nước cũng như con người Việt Nam ở trong và khi ra khỏi cuộc chiến ấy. Nhà văn, ký giả Mark Frankland, từng là phóng viên của báo Anh “The Observer” tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, trong một bài điểm sách đã viết về cuốn Mặt Trận Ở Sài Gòn như sau:
“Mặt Trận Ở Sài Gòn sẽ tạo một xúc động và chú tâm cho những ai còn tha thiết với số phận của Việt Nam. Nó cũng sẽ gây ngạc nhiên cho những ai ít hiểu biết về tâmtrạng phức tạp của người dân miền Nam đối với cuộc chiếntranh mà cho đến nay vẫn còn để lại những hậu quả và ảnh hưởng trên số phận của họ. Trong và cả sau cuộc chiến tranh, tiếng nói của người dân miền Nam thường bị lãng quên.
Là một phóng viên ngoại quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam, tôi có may mắn được nghe phần nào tiếng nói ấy qua phụ tá người Việt của tôi. Nhưng lúc đó thì anh ta đã ở tuổi trung niên với cả gánh nặng gia đình nên đã không thể theo sát tôi đi vào vùng có giao tranh để giúp tôi hiểu biết hơn về những người lính Việt Nam Cộng Hòa thay vì hiểu sai lạc.
Ngô Thế Vinh đặc biệt quan tâm tới tâm trạng của những người lính Miền Nam. Trong “Mặt Trận Ở Sài Gòn”, những người lính ấy có cơ hội nói ra và kết quả là tác giả đã phác họa được một chân dung chính trực và nhân bản của những con người ấy giữa cuộc chiến, điều mà đáng lẽ phải được thế giới bên ngoài quan tâm thay vì lãng quên.
Đối với các cộng đồng người Việt đang sống lưu vong ở Bắc Mỹ, tác giả cũng đã đề cập tới những tình huống lưỡng nan cả về chính trị lẫn đạo lý khi mà họ vẫn bị giằng co giữa tình tự quê hương, một quê hương mà họ bị cưỡng bách phải xa rời, cùng với sự đối đầu với một nhà nước cộng sản hành xử thô bạo ở trong nước và rồi cả với sự khác biệt đến đau lòng về phong tục tập quán ngay trong bối cảnh một nền văn hóa Tây phương mà họ đang phải sống với”.
Còn Tim Page, trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam làm việc cho hãng thông tấn United Press International, các báo Life, Time, Paris-Match với tư cách phóng viên tự do, tường trình tại chỗ và hiện là giáo sư dạy về khoa Nhiếp Ảnh Truyền Thông tại Đại Học Brisbane, Úc, thì viết: “Vẫn liên tiếp xuất hiện những cuốn sách viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên có rất ít sách đề cập tới quan điểm từ miền Nam, từ góc cạnh của những người thất trận nhưng họ đã từng chiến đấu và tin tưởng ở một nền Cộng Hòa miền Nam mới khai sinh.
Ngô Thế Vinh qua kinh nghiệm một y sĩ trong một đơn vị Biệt Cách thiện chiến đã đem tới cho chúng ta những lý giải và soi sáng về những tình huống lưỡng nan ngoài trận địa. Rồi ông cũng đề cập tới cuộc sống hỗn mang ban đầu của một người tị nạn tạo dựng lại cuộc đời trong sự xa lạcủa một miền nam California, với phấn đấu để trở lại nghiệp cũ giữa một cộng đồng di dân gồm cả nửa triệu thuyền nhân với những khuynh hướng chánh trị phân hóa đa dạng. Một bối cảnh như vậy hầu như hoàn toàn bị lãng quên trong văn học.
Người đọc sẽ thấy mình bị lôi cuốn vào tâm thức của một người y sĩ tiền tuyến, của một tù nhân trong các trại tù Goulag và rồi đến một người ty nạn bị bật ra khỏi gốc rễ được giải thoát để hội nhập vào một tầng lớp trung lưu Mỹ vừa mới hình thành.
Đọc Mặt Trận Ở Sài Gòn “để cảm nhận lắng nghe nỗi bâng khuâng của một con người vẫn gắn bó với những cội rễ tinh thần của một quê hương Việt Nam không thể tách rời”.
Để trả lời câu hỏi anh kỳ vọng gì ở văn chương trong đời sống bây giờ, Ngô Thế Vinh nói: “Đất nước bị phân chia và cuộc chiến kéo dài hơn 30 năm, ngôn ngữ đã bị tận dụng cho những mục tiêu chính trị phân hóa và dối trá nên đã làm cho nó bị kiệt quệ. Chữ không còn mang nghĩa thật của nó nữa. Người ta nói tới tổn thất của chiến tranh về nhân mạng và sự tàn phá vật chất, nhưng theo tôi là sự hủy hoại ngay nơi chính những con người còn sống, đáng buồn là trên cả những đứa trẻ, mà khi sinh ra chúng đâu có thiếu vắng lòng từ thiện, mà sự sa đọa của ngôn từ không thể không là một trong những nguyên nhân. Rồi tôi tự hỏi, phải cần bao nhiêu năm nữa mới phục hồi sự trong sáng của chữ Việt? Đây chính là phần tôi kỳ vọng ở văn chương.Tôi nghĩ tới chức năng của nhà văn, bằng những tác phẩm nghệ thuật chân chính đủ sức làm xúc động sâu xa lòng người: chữ và nghĩa trở lại như một thực thể nhất quán, trở lại với chức năng như một nhịp cầu giao lưu và đối thoại giữa và trong xã hội”.
Còn Nguyệt Ánh của Đài Phát Thanh RFI [Pháp] viết:
“Có lẽ ‘Vòng Đai Xanh’ là một trong những tác phẩm hiếm hoi đã tìm kiếm và soi rọi căn nguyên cuộc chiến của những sắc tộc thiểu số ở Tây nguyên. Ít ai nhìn thấy bên trong cái vẻ chất phác của những con người sống gần vàsống với thiên nhiên ấy là niềm khao khát tự do, giống như một một ngọn lửa cháy mãi từ bao nhiêu năm qua mà không cơn cuồng phong nào rập tắt hẳn được. Nhưng khát vọng ấy nếu không bị vùi rập cũng bị bao nhiêu thế lực lợi dụng và, cho đến ngày nay, tình thế của người Thượng vẫn không thay đổi”.
Trả lời câu hỏi, anh có nghĩ rằng đang có sự khựng lại trong công việc viết lách của những người cầm bút ở hải ngoại chăng? Câu trả lời của Ngô Thế Vinh là không. Ông nhắc tới khoảng thời gian cần thiết để mọi người thích ứng với hoàn cảnh, vì người tới Mỹ sớm nhất cũng chỉ mới cách đây 20 năm. Ông nói ông biết có những nhà văn tài năng tuy không tuyên bố những câu xẻ núi lấp song nhưng vẫn ẩn nhẫn làm việc dài hạn cho những tác phẩm của họ.
Tác giả Minh Võ tên thật là Vũ Đức Minh. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành truyền thông của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Sau biến cố 1975 ông bị cộng sản bắt đi tù cải tạo 10 năm. Ông là dịch giả nhiều sách Anh và Pháp ngữ về các vấn đề tôn giáo, chính trị, văn học, sang tiếng Việt.
Các tác phẩm của ông cho xuất bản trước đây như Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản, Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê, Phản Tỉnh Phản Kháng, Thực Hay Hư và Tâm Sự Nước Non được rất nhiều người đọc.
Nói chung, ông lưu tâm nhiều đến những vấn đề chính trị. Trong những ngày gần đây, sách viết về ông Hồ Chí Minh của các tác giả Âu, Mỹ, Trung Quốc, lại được xuất bản khá nhiều, người ta thắc mắc tự hỏi, lại sắp có chuyện gì xẩy ra với Việt Nam chăng, hay đó chỉ là sự trùng hợp tình cờ? Để trả lời câu hỏi của báo về lý do nào đã khiến ông viết cuốn “Hồ Chí Minh, Nhận Định Tông Hợp”, ông Minh Võ cho biết, đại ý, thực ra, đối với những người đã từng sống trong chiến tranh, có kinh nghiệm xương máu và nước mắt với cộng sản, thì chẳng có lý do gì để viết thêm một cuốn sách về Hồ Chí Minh nữa.
Nhưng vì những suy nghĩ và thái độ của giới trẻ sinh từ 1970 trở về đây mà ông phải làm công việc này.
Ông Minh Võ nói:
“Nhiều người phàn nàn con cháu mình coi Hồ Chí Minh là nhà ái quốc. Nói ngược lại thì chúng bảo bố mẹ không đọc sách báo Mỹ nên không biết gì cả. Tại sao vậy? Thưa, vì trong các thư viện và trong lớp học của trường Đại Học, chúng luôn nghe các thầy cô người Mỹ, đa số ngưỡng mộ ông Hồ, và đọc sách báo toàn nói hay về ông Hồ. Các tác giả những cuốn sách đó hoặc vì thiên kiến, hoặc vì thiếu tài liệu vô tư chính xác hơn, đã viết theo luận điệu tuyên truyền của cộng sản. Rồi người đi sau cứ theo vết người đi trước mà viết, và cứ tưởng mình khách quan, vì đã tham khảo những tài liệu ‘chính thống’. Nhưng tiếc rằng những tài liệu được gọi là chính thống ấy hầu hết là của kẻ thắng. Họ toàn quyền muốn viết gì thì viết. Phía thua trận có viết khác đi thì họ bảo, các anh thua trận, các anh ấm ức viết không vô tư, chỉ vu khống chứ có bằng chứng gì đâu? Con cháu chúng ta đọc những cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh do các cây viết chống cộng viết, phần đông cũng nghĩ vậy. Tôi viết là để trình một nhận định đứng đắn và công bình hơn, dựa theo chính những tài liệu và dữ kiện mà phe cộng sản cung cấp hay do các nhà báo, học giả, sử gia ngoại quốc thiên cộng viết. Như vậy, khi đọc sách của tôi, con cháu chúng ta sẽ thấy, qua những trang sách trung thực, trưng dẫn chính xác các tài liệu của cộng sản và của các tác giả thiên cộng, một chân dung khác của Hồ Chí Minh, khiến chúng phải suy nghĩ, đối chiếu, so sánh để không còn bị thụ động tin theo những gì đã được viết nên một cách sai lạc từ trước tới nay”.
Ông Hồ Chí Minh tự mình và còn được cả một guồng máy chung quanh tạo những huyền thoại bao phủ. Chính vì thế, theo tác giả Minh Võ, Hồ Chí Minh trở thành đối tượng được diễn tả theo nhiều cách khác nhau.
Một số nhà văn, nhà báo, sử gia, không hết lời ca ngợi ông như một chính trị gia lỗi lạc, một nhà ái quốc của Việt Nam, một nhà tư tưởng, thậm chí còn có người coi Hồ Chí Minh là một tổng hợp của cả Phật, Chúa, Các Mác, Lê Nin, một người chủ gia tộc … Đa số các tác giả này đều cho rằng,
Hồ Chí Minh đã được toàn thể, hay ít nhất phần lớn, dân chúng Việt Nam coi như một “lãnh tụ vĩ đại”, một “anh hùng cứu quốc”, một “cha già dân tộc”. Một số người cầm bút khác lại nhìn Hồ Chí Minh như kẻ “phản quốc đại” đối với dân tộc Việt Nam. Dưới mắt những tác giả này, Hồ Chí Minh đã say mê chủ nghĩa cộng sản tới mức sẵn sàng đưa đất nước và đồng bào vào những thảm cảnh đau đớn tột cùng để cố dành thắng lợi cho khối Đệ Tam Quốc Tế trong cuộc đối đầu với các quốc gia Tây phương.
Không những thế, Hồ Chí Minh còn là con người tàn ác, xảo trá, trọn đời là một chuỗi dài những thủ đoạn hiểm độc. Chứng cớ viện dẫn cho nhận định này là hành vi sát hại các nhà ái quốc vào thời gian trước và sau 1945 để nắm độc quyền lãnh đạo, hành vi bịp bợm tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản năm 1945, hành vi dối gạt dư luận tự tô vẽ một bề ngoài thánh thiện trong khi sống nhầy nhụa như một kẻ vô luân, hành vi tắm máu nửa triệu người vô tội với chính sách cải cách ruộng đất khoảng thời gian 1953-1955, hành vi cưỡng chiếm miền Nam bằng võ lực gây nên cuộc chiến đẫm máu suốt 20 năm, và trên hết đẩy lui đất nước vào cảnh sống đọa đầy trong ngu dốt, đói nghèo và ngục tù áp chế cho tới hiện tại …
Chỉ riêng cái tên không thôi, người ta được biết, khi còn bé, ông có tên là Nguyễn Sinh Cung tự Cuông hay Coong hay Bé Con, mang tên Nguyễn Tất Thành khi đến trường, mang tên Ba khi ở trên tầu xuất dương, mang tên Nguyễn Ái Quốc khi ở Pháp cùng với các nhà cách mạng Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và có thể cả Phan Châu Trinh …
Theo bác sĩ Trần Ngươn Phiêu, cựu bộ trưởng Xã Hội đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa khi ấy cũng đang du học tại Pháp, thì Nguyễn Ái Quốc là cái tên ký chung của nhóm khi viết báo, để dễ bề đối phó với mật thám Pháp, khi ở Xiêm và Trung Hoa ông Hồ Chí Minh lấy tên Lý Thụy, Vương, Tống Văn Sơ, Hồ Quang … tên Hồ Chí Minh là tên ông lấy sau cùng, và cũng do chính ông bật mí, người ta được biết một phần là để ghi nhớ người vợ Trung Hoa tên là Tăng Tuyết Minh của ông. Như thế nhận dạng Hồ Chí Minh là một việc khó khăn. Do những nhu cầu xã hội, chính trị, văn hóa, an ninh, mưu lược ứng phó với hoàn cảnh ông trở thành con người muôn mặt.
Trong lá thư in ở đầu cuốn Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp của Minh Võ, nhà xuất bản Tiếng Quê Hương viết:
“Hơn 700 trang sách điểm lại các huyền thoại về nhân vật Hồ Chí Minh qua sự nhắc kể của hàng trăm cây bút trên thế giới đã liên tục đặt người đọc vào tâm cảnh ngổn ngang xoay quanh những tai ương biến dân tộc Việt Nam thành một dân tộc bất hạnh nhất trong lịch sử nhân loại.
Ở khắp mọi nơi trên thế giới hẳn không ai còn ngạc nhiên khi nghe kể về những bất hạnh do thời thế mà người dân Việt Nam đã phải trải suốt hơn năm mươi năm qua. Nhưng có lẽ không mấy ai nghĩ tới nỗi bất hạnh màngười dân Việt Nam đã phải nhận chịu và tiếp tục nhận chịu cho tới giờ này. Nỗi bất hạnh đó là hàng ngày vẫn phải nghe vẳng bên tai những lời lẽ liên tục gợi nhắc các tai ương mà mọi người phải gánh chịu theo kiểu cách diễn tả là những chứng tích huy hoàng của một thời kỳ vẻ vang nhất đối vớingười dân Việt Nam”.
Trong cuốn “Ho Chi Minh, a life”, ông Williams J. Duiker, một sử gia Mỹ, đã viết về ông Hồ Chí Minh như sau: “Bất kể cuối cùng người đời phán xét về di sản của ông để lại cho dân tộc mình ra sao, ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ”.
Còn ông David Halbertstam thì cho rằng:
“Hồ Chí Minh là anh hùng số một, anh hùng duy nhất của Việt Nam … là hiện thân cuộc cách mạng của dân tộc ông, là nhà ái quốc vĩ đại nhất Việt Nam ở thế kỷ hai mươi”.
Các nhà văn, nhà báo, người viết sử ấy, đã viết theo cảm xúc riêng của mình, đó là cái quyền của họ và là cái quyền chính xứ sở họ dành cho họ, nhưng có là điều quá đáng chăng, khi họ lại nhân đó nói lời cuối cùng, không cho cái dân tộc mà họ đang nói đến được nói thêm lời nào nữa về nhân vật, không biết họ nhân danh cái gì để đưa vào đền thờ dân tộc người ta như vậy?
Họ có biết có bao nhiêu người Việt Nam chết trong cuộc chiến kéo dài suốt nửa thế kỷ qua không?
Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế.
Từ Đà Lạt, một thành phố du lịch trên cao nguyên miền Trung Việt Nam, xuống Nha Trang, một thành phố miền biển phải theo quốc lộ 20, qua đèo Ngoạn Mục, nhà máy thủy điện Đa Nhim, khi đến thị trấn Sông Pha, các xe thường dừng lại để nghỉ ngơi một lúc. Đây là một thị trấn nhỏ, hẻo lánh, heo hút giữa rừng già, chung quanh là đồi núi chập chùng. Hôm nay trời mưa khiến cảnh vật thêm vắng vẻ và buồn.
Mưa càng lúc càng nặng hạt. Thị trấn Sông Pha với hai dãy phố trên quốc lộ 20 như chìm ngập trong mưa. Người đàn ông lom khom chạy, tay che đầu, cổ rụt xuống, tưởng như thế mưa sẽ không đổ xuống người. Khi đến một quán ăn, ông ta tạt vào hiên, đứng giũ giũ áo, phủi nước trên tóc rồi mới bước hẳn vào trong. Một cái quán bình thường, giống như bât cứ quán cơm, phở, mì nào trên quốc lộ, tỉnh lộ. Cũng mái tôle, vách ván, vài cái bàn gỗ mộc, trên để ống đũa, muỗng, mấy chai xì dầu, nước mắm…vài con ruồi bay lảng vảng. Mùi ẩm mốc, mùi đất lẫn với mùi thức ăn gợi cho ông ta cảm giác dễ chịu, tưởng như quen thuộc với nơi nầy rất lâu. Trong quán đã có vài ba người đang xì xụp ăn, mấy ly bia đã cạn. Có lẽ họ là thợ rừng vì bên lề đường có một xe be chở mấy súc gỗ to tướng, dài cỡ vài chục mét. Họ vừa ăn vừa nói chuyện nhát gừng với nhau. Người đàn ông tìm một góc, ngồi tránh gió lùa. Qua khung cửa sổ ông ta nhìn đăm đăm cái dốc cầu lỡ lói, rồi nghiêng người nhìn cho rõ cái cầu sắt, đen đủi, giống một con thú yên lặng chịu đựng cơn mưa lạnh. Mấy người đàn ông ăn xong, kêu lên. ” Tính tiền, bà chủ!” Một chị đàn bà, cỡ dưới bốn mươi, từ sau quày đi ra. Họ đối đáp, cười nói xã giao vài câu trong lúc trả tiền, rồi toán đàn ông cũng lom khom chạy ra xe, nổ máy. Chiếc xe be ì ạch leo lên giốc cầu, chậm chạp như con khủng long trườn qua giòng nước chảy xiếc phía dưới, mờ dần trong mưa.
Có tiếng lao xao ngoài đường. Mấy toán học sinh đi học về. Chúng đi từng bọn với nhau, trò chuyện. Những chiếc áo mưa đủ màu. Bọn con gái đi nép dưới hiên nhà, bọn con trai thì lội ngược giòng nước mưa, dùng chân tạt nước vào nhau, đuổi nhau…Buổi chiều mưa u ám bỗng như sống động hẳn lên vì lũ học sinh. Người đàn ông chợt nhớ lại, lần trước, cách đây vài mươi năm, ông cũng ngồi trong quán ăn nhìn ra đường và bọn học trò cũng đi học về. Cảnh vật, nhà cửa hai bên đường đã hoàn toàn đổi khác nhưng chiếc cầu sắt và lũ học trò vẫn thế, dù lần trước trời không mưa, các cô thì áo dài trắng, các cậu quần xanh áo trắng. Ông ngạc nhiên tưởng chừng những cô cậu học sinh ngoài kia vẫn cứ đi học từ lúc đó đến bây giờ. Dáng đi dịu dàng của các cô, vẻ nhanh nhẹn vô tư của các cậu vẫn thế. Và nếu không có cơn mưa, ông đã đứng trên dốc cầu ngắm các cô đi học về rồi lần xuống bờ sông, nhìn mê mãi giòng nước như ông đã làm trước đây, khi ông còn trai trẻ. “Thưa ông dùng chi?” Chị chủ quán đứng bên ông tự lúc nào. “Xin lỗi chị!..” “Dạ, không sao. Ông có định ăn hay uống món gì? Hay ông chỉ ngồi trú mưa, cũng không sao!” “Chị có cháo lòng không? Tôi nhớ lần trước, có ghé lại một quán ăn nào đó, hình như đằng kia kìa, có món cháo lòng ngon lắm” “Dạ tôi cũng có cháo lòng nhưng có lẽ không ngon như ở cái quán mà trước đây ông đã ăn” “Thú thật tôi cũng không nhớ có ngon không, nhưng ở đó có một kỷ niệm nên tất cả thành ra đẹp và ngon. Lúc nãy tôi đi tìm quán cháo lòng thì người ta chỉ đến đây. Bây giờ sao không còn thấy cái quán đó nữa, chị?” “Dạ, quán đó đã đóng cửa, bán nhà cho người khác rồi” “Tiếc quá! Chị cho tô cháo”. Trong lúc chị chủ quán lúi húi làm việc, ông ta để ý mới biết phía trước là quán ăn, phía sau làm nơi cư ngụ của cả gia đình. Lối đi vô nhà sau nằm ngay nơi bếp, cách biệt hẳn hai nơi rõ rệt. Một cô học trò chạy ùa vào nhà. “Thưa mẹ, con đi học về!” Nó quay qua chào ông khách. “Chào bác ạ!” “Vâng, chào cháu!” Nó chào xong là biến mất sau cửa. “Hùng ơi! Nhớ nấu cơm kẻo ba con về không kịp” Tiếng con bé từ sau nhà vọng ra. “Sao giờ nầy ba chưa về hả mẹ?” “Nghe ba con nói chiều nay ghé trường đón em con rồi ra xưởng họp hành gì đó” Chị chủ quán bưng tô cháo đến, ông ta hỏi. “Con gái sao đặt tên Hùng như con trai?” Chị cười. “Ở trường nó tên Hồng, ở nhà quen gọi Hùng từ lúc nhỏ, chúng tôi cắt tóc ngắn, cho mặc đồ con trai, chúng tôi thích con trai…” “Tôi thấy tên Hùng đặt cho con gái có vẻ hợp lý. Nhiều ông tên Hùng mà chẳng hùng dũng gì cả, như tôi chẳng hạn” Chị chủ quán đặt tô cháo trên bàn, không trả lời, chỉ liếc nhìn ông khách, xong chị quay về ngồi sau quầy, khuất sau mấy bó hành xanh, ớt chín đỏ treo như những vật trang trí. Người đàn ông thong thả ăn, mắt lơ đãng nhìn ra đường mưa. Chị chủ quán chăm chú nhìn ông khách, rồi như chợt nhớ ra điều gì, chị lấy trái chanh, xắc mấy miếng, đặt trên cái đĩa nhỏ mang ra. “Tôi quên đem chanh. Ông có uống gì không? Nước ngọt hay bia?” “Chị cho tôi xin trà nóng. Trời mưa uống trà thích lắm” “Dạ, ông chờ cho chút, tôi có sau nhà, trà cho khách uống không được ngon” “Cám ơn chị. Có lẽ tôi là khách đặc biệt mới được chị đãi trà ngon” “Dạ, tôi đoán ông sành uống trà nên phải có trà thơm cho ông” Chị chủ lại về ngồi chỗ cũ. Cô gái sau nhà đi ra, âu yếm ôm vai mẹ. Hai mẹ con chuyện trò nho nhỏ gì đấy. Ông khách nhìn và cười “Ra đường người ta tưởng là hai chị em. Giống nhau quá!” Chị chủ quán cũng cười “Nó lớn rồi, lên trung học mà cứ làm nũng với mẹ như con nít” Chị nói với con gái. “Nước sôi rồi, con lấy hộp trà trên bàn thờ ra đây cho mẹ. Xong rồi lo học bài, làm bài. Theo mẹ hoài, bác khách cười cho” Ông khách không dám nhìn lâu, sợ bất nhã, nhưng cũng nhận ra chị chủ quán có đôi mắt đẹp và buồn xa xăm như đăm chiêu về một nơi nào. Bỗng ông nhíu mày lại, đôi mắt đó, hình như ông đã gặp ở đâu? Ông ngước nhìn chị, bắt gặp chị ta cũng đang nhìn ông. Cả hai bối rối. Ông đành hỏi một câu cho bớt ngượng. “Chị lập quán nầy lâu chưa?” “Dạ, sau giải phóng độ vài năm” “Chắc chị người vùng nầy? Tôi nhớ lần trước có thấy đâu đó mấy chữ Thị Trấn Sông Pha, hình như lúc vừa từ đèo đổ xuống, chữ lớn lắm” “Nó còn đấy chứ, có lẽ trời mưa nên ông không thấy” Chị chủ quán bưng bình trà và một cái tách trên một khay nhỏ “Mời ông dùng trà” “Cám ơn chị. Buôn bán có khá không chị?” “Dạ, cũng đủ sống. Mọi khi trời không mưa thì giờ nầy cũng có lai rai khách đến nhậu” “Chị cho tính tiền” Sau khi trả tiền, ông khách nhìn ra đường. “Mưa lớn quá!” “Mọi năm, tháng nầy đâu có mưa. Hôm qua trời còn nắng mà cũng không lạnh” Và chị ngập ngừng. “Trời còn mưa…Nếu không vội, mời ông cứ ngồi” “Cám ơn chị, tôi định đi loanh quanh đây, nhưng mưa quá!” “Có lẽ ông muốn tìm ai?” “Tôi tìm một người quen. Thú thật, tôi chỉ nhớ tên, chứ không nhớ rõ người, lâu quá!” “Có lẽ ông biết nhà?” “Thì cái quán đằng kia, nhưng đã đổi chủ rồi nên tôi chỉ đi lang thang cho đỡ buồn. Nói đúng ra, tôi tìm một kỷ niệm. Mà chị biết, kỷ niệm thì người thích thì giữ, người không thích không muốn nhớ đến. Nhiều khi chuyện không đâu, chẳng có gì đáng nhớ, lại nhớ suốt đời…” Chị chủ quán về lại sau quày, có vẻ tò mò. “Người quen mà mình quên mặt! Thế làm sao ông tìm?” “Giả như có tìm ra người, chắc gì người nhớ ra mình. Lâu quá! Cỡ vài mươi năm, cho nên tôi tìm cho biết thôi. Tôi nói thế nầy, chắc chị thông cảm với tôi liền. Bây giờ, tình cờ chị tìm thấy quyển vở, quyển sách thời còn đi học, hay rõ hơn, chị đọc lại quyển lưu bút chẳng hạn, chị sẽ bồi hồi nhớ lại tất cả, thương yêu tất cả. Mà những người bạn trước kia, nay đã khác rồi, từ gương mặt đến tâm hồn, suy nghĩ, cho nên trong những giây phút hồi tưởng đó, cách tốt nhất là chị đến trường cũ đứng nhìn, chị sẽ thấy lại cả một quãng đời thanh xuân với bạn bè ngày trước… Nghĩa là nó ở một thế giới khác, cách biệt hẳn với hiện tại. Tôi cũng thế, tôi muốn đến đấy, ngồi lại cái quán ăn cách đây mấy chục năm, gọi một tô cháo, ăn xong, lang thang trên đường nầy, đứng ở dốc cầu kia, ngắm mấy cô nữ sinh đi học về, rồi xuống dưới bờ nhìn giòng sông. Cũng may, con đường còn nguyên, cây cầu còn nguyên, giòng nước thì vẫn thế, chỉ có cái quán ăn không còn mà thôi. Cái lạ là người tôi muốn tìm, tôi cũng ước ao cô ta vẫn chỉ độ mười sáu, mười bảy tuổi thôi. Không phải cho tôi bây giờ, mà để tôi tìm thấy tôi lần đầu tiên trong đời được cô ta ban cho cái hạnh phúc đẹp đẻ, thánh thiện của tình yêu. Cho nên tôi nói với chị là tôi đi tìm dĩ vãng, tìm người cũng có, nhưng lại không muốn gặp người” Ông khách nói một hơi như sợ không còn dịp để thổ lộ ý nghĩ mình. Chị chủ quán có vẻ thông cảm. “Coi bộ ông cũng lãng mạn dữ. Nhưng giả dụ, nay, ông gặp lại người cũ, dĩ nhiên bây giờ già rồi, xấu rồi, ông còn giữ tình cảm, đúng ra, tình yêu của ông đối với người đó không?” “Chị với tôi đều lớn tuổi rồi, nên tôi nói chị sẽ hiểu ngay. Tình yêu lúc đầu là dáng người, ánh mắt, miệng cười, lời nói…Rồi theo thời gian nó không là hình bóng nữa mà là sự cảm thông, chấp nhận nhau. Ý tôi muốn nói là dù cô ta có thế nào tôi vẫn cứ yêu thương. Tôi yêu cái tình mà tôi tin rằng cô ta yêu tôi, yêu cả tình tôi yêu cô ta nữa. Thật khó giải thích! …Qua bao năm dài những gì còn lại là tấm lòng chứ không phải sắc diện bề ngoài” Bàn của ông khách cách chỗ ngồi của chị chủ quán độ năm mét, nhưng tiếng mưa nghe rào rào trên mái tôle, ông khách sợ người nghe không rõ, không thông cảm nên ông nói lớn tiếng. Chị chủ quán có vẻ bối rối, nhìn ra đường rồi chị lại cúi xuống lấy ấm nước đến rót vào bình trà cho ông khách. “Ông bảo đi tìm người ta mà lại không muốn gặp, vậy ông đến đây làm gì?… Để tôi bỏ thêm ít trà nữa” “Cám ơn chị. Thật tâm, tôi muốn gặp nhưng sợ người ta quên nên không dám đối diện. Mà dù có còn nhớ, tôi cũng không nên xáo trộn cuộc sống của người ta. Chắc chắn cô ta đã lập gia đình, có con cái, sống với hạnh phúc bình thường của một người bình thường” Chị chủ quán đi lấy hộp trà, mở ra, nghiêng đổ một ít vào lòng bàn tay rồi mở nắp bình trà, cẩn thận bỏ vào. Ông khách ngước nhìn chị, hai khuôn mặt gần sát nhau, ông thấy rõ đôi mắt đen chăm chú vào bình trà, chiếc mũi thon, hơi hếch lên, vẻ nghịch ngợm, miệng mím lại nửa như làm nghiêm, nửa như cười, gò má hồng, da mịn. Ông nghe cả hơi thở nặng nề từ đồi ngực căng, phập phồng sức sống của tuổi sung mãn. Ông nói nhỏ “Cám ơn chị, trà thơm quá! Vị đậm và có hậu” Chị chủ vẫn cúi xuống, lắc nhẹ bình trà. “Ông chờ một lát cho trà ngấm. Trà Blao ướp ngâu, chúng tôi thường uống trà nầy, quen rồi” Chị quay về quày. “Nghe ông kể tôi cũng tò mò, muốn biết câu chuyện ra sao và tên của người hân hạnh được ông nhớ mãi, suốt mấy mươi năm. Tôi sẽ cố tìm giúp ông, biết đâu tôi sẽ tìm thấy. Tôi là người ở địa phương nầy” “Lúc nãy chị bảo tôi lãng mạn, có lẽ đúng. Chuyện chẳng có gì. Với người khác không đáng để nhớ, nhưng với tôi lại là một biến cố lớn trong đời. Đại khái như thế nầy. Năm đó, tôi học đại học sắp ra trường, ở Sài Gòn. Trong dịp tôi theo mấy người anh họ đi dự đám cưới của một người bà con trên Đa Lạt, lúc quay về chúng tôi đồng ý sẽ ghé Nha Trang chơi. Tôi nhớ đó là lần đầu tôi theo quốc lộ 20 nên tất cả đều mới lạ và đẹp. Đèo Ngoạn Mục, Đa Nhim, Sông Pha… Lúc vừa vào thị trấn Sông Pha thì xe bị trục trặc, người lái xe bảo phải chờ hơn hai tiếng đồng hồ để người phụ tài đi mua phụ tùng về thay. Chúng tôi rủ nhau vào quán đằng kia. Trong khi các người anh nhậu nhẹt, tôi chỉ kêu một tô cháo lòng. Cô con gái của chủ quán đem cháo ra. Tôi đoán thế vì tôi thấy cô đi học về, vào nhà rồi ra phụ với gia đình ngay. Cô trông rất có duyên và vui. Bây giờ gặp lại, có lẽ tôi không nhận ra, chỉ còn ấn tượng là cô có đôi mắt đẹp, đen nhánh, như cười, môi hồng tự nhiên. Tôi bảo cô “Anh đi chiếc xe đò kia kìa, nó bị hư phải sửa, ít nhất vài tiếng nữa. Anh ra đằng dốc cầu kia đứng chơi, khi nào xe đó sửa xong, em bảo họ chờ một lát và cho người ra kêu anh, được không?” “Được chứ, nhưng nếu kêu anh, anh sẽ thưởng gì?” “Nếu là người phụ việc ở đây, anh sẽ biếu ít tiền để cám ơn” “Nếu em gọi?” Tôi đùa “Nếu là em, anh sẽ tặng em quả tim của anh, để em nấu cháo, khách sẽ khen ngon” Cô vờ làm vẻ sợ hãi “Anh nói nghe mà ghê!” Tính tôi vẫn thế, đến chỗ lạ là thích lang thang, nghiêng ngó cảnh vật, đường sá, nhất là nơi nào có chiếc cầu bắc qua sông là tôi có thể đứng ngắm nhà cửa bên kia bờ, ngắm giòng nước không bao giờ chán. Tôi nhớ rất rõ, khi tôi đứng dưới dốc cầu, mặt trời lặn sau dãy rừng cây âm u phía xa, màu mây trời làm đỏ rực mặt sông, tiếng chim về tổ gọi nhau…Chị có ra đó đứng ngắm cảnh chiều tà lần nào chưa? Đẹp lắm! Vẻ êm đềm của thị trấn yên tĩnh, hiền hòa nầy cứ ở mãi trong trí tôi, biến thành ước ao ngày nào được về đây sống, và mỗi buổi chiều ra ngắm giòng sông… Trong lúc đang mơ màng thì tôi nghe tiếng kêu “Anh đó, về lẹ lên, xe sắp chạy rồi!” Tôi ngẩn lên thấy cô học trò, con chủ quán, vừa chạy trên bờ vừa kêu. Cái bờ sông, tuy không cao lắm, nhưng có cỏ, nên cô bị trược chân, gượng lại không được, cứ chạy chúi nhủi xuống phía tôi. Tôi giữ được tay cô nhưng cô cũng ngã nhào vào người tôi, khiến tôi cũng suýt ngã theo. Đôi mắt cô ngước nhìn tôi sáng long lanh. Cô mắc cỡ nên má cô hồng. Tóc cô dài và đen, vướng đầy cánh tay tôi. Không hiểu sao tôi lại đủ can đảm hôn lên môi cô, chỉ hôn phớt thôi. Môi cô mềm, hơi thở cô thơm như của trẻ thơ. Đó là nụ hôn khiến tôi rung động, hạnh phúc nhất trong đời. Bao nhiêu năm rồi, tôi vẫn cảm tưởng như mới đây. Cô đẩy tôi ra, lùi lại, nhìn sửng tôi rồi cô cười và nói “Chạy tìm anh bắt mệt!” Tôi nói “Cám ơn em”. Có lẽ cô bị xúc động nên cứ lúng túng không lên được bờ dốc. Tôi nắm tay cô kéo đi “Anh tên Hùng, em tên gì?” “Phúc Lan” “Anh sẽ trở lại thăm em” Lên khỏi bờ sông, cô gỡ tay tôi ra và chạy trước. Cô mới lớn, hơi cao và ốm nhưng dáng đi đã uyển chuyển, tóc cô bay trong gió…” Chị chủ quán bỗng kêu lên. “Thôi chết, trời mưa mà tôi quên đậy mớ củi, ướt hết!” Chị khoác áo mưa, cứ để đầu trần chạy ra cửa, vòng ra sau hè. Người đàn ông không quan tâm, rót nước trà uống, ông ta như muốn kể cho riêng mình nghe. Một lát chị quay vào, cởi áo mưa treo trước hiên. Đầu tóc, mặt mũi ướt đẫm nước mưa. Chị nói. “Mưa lớn quá, ướt hết cả!” Chị ra sau quày, lấy khăn xoa đầu tóc, lau mặt, rồi hỉ mũi sụt suỵt. Người đàn ông kêu lên. “Chị bị cảm rồi đó!” “Cám ơn, tôi sẽ uống thuốc. Ông kể tới đâu rồi? Xin lỗi, tôi vội quá” “Chuyện đến đó là hết, chẳng có gì hay ho” “Ông hứa trở lại, rồi ông có trở lại không?” “Thú thật, đôi khi tôi cũng quên bẵng đi. Chẳng phải tôi có người yêu khác, mà cuộc đời cứ bắt đầu óc mình quay cuồng với bao chuyện rắc rối, khi nhớ đến cô bé đó thì lại tự hẹn mình chờ dịp thuận tiện. Rồi vụ đổi đời năm bảy lăm, tôi không thể đi đâu được. Bây giờ tôi ở xa lắm. Hơn nửa đời người, bao nhiêu biến chuyển, chỉ còn đọng lại trong tâm hồn tôi kỷ niệm nhỏ bé với cô Phúc Lan và buổi chiều Sông Pha năm nào. Tôi nhớ người cũ, cảnh cũ lắm mới tìm về đây. Tôi thấy thích ở đây, ở đến già đến chết cũng được” Chị chủ quán cười “Nếu ông về ở đây, hễ đến quán nầy, tôi tính nửa giá thôi. Nhưng bây giờ ông định làm gì, có muốn gặp lại cô bé ngày xưa không? Theo ông kể, có lẽ tuổi cô ta cũng cỡ tôi, cũng đi học cùng trường với tôi, nhưng sao nghe cái tên lạ quá. Để tôi giúp ông, tôi sẽ hỏi các bạn tôi ở đây, dù cô ta có đi nơi khác cũng còn bà con, bạn bè biết cô ta. Nhưng hỏi ra thì báo cho ông cách nào. Ông có địa chỉ không? Ông có muốn nhắn gì với cô ta không?” “Ý kiến chị vậy mà hay. Tôi chỉ cần biết cô ta ở đâu để có dịp tôi chỉ đến nhìn thôi, chứ không gặp. E cô ta đã quên hẳn tôi rồi! Lại nữa tôi không muốn xáo trộn cuộc sống của cô ta. Tôi là kẻ ngoại cuộc rồi” “Ông cứ cho tôi địa chỉ, khi tìm ra, tôi sẽ báo cho ông” Rồi chị cười. “Tôi cũng bắt chước cô bé ngày xưa của ông, hỏi ông, nếu tìm ra cô ta, ông thưởng gì cho tôi? Tôi không cần tiền cũng không cần quả tim của ông” “Chà, khó thật! Thôi thì như chị nói, tôi sẽ đến quán nầy hằng ngày, suốt quãng đời còn lại của tôi” “Đùa với ông thôi, bây giờ ông cho tôi địa chỉ, nhưng bà xã ông nổi ghen thì không phải lỗi của tôi đâu nghe” “Tôi chẳng có gia đình. Tôi đã là thanh niên râu rồi, lỡ thì rồi! Chị có giấy cho tôi xin tờ, cây viết nữa” Chị chủ quán gọi lớn. “Hùng ơi, đem cho mẹ cây viết và tờ giấy” Cô bé chạy ra. “Con đem cho bác đằng kia” Chị chủ quán ngồi nhìn con gái và ông khách, ngạc nhiên thấy hao hao như hai cha con. Ông khách hỏi ý kiến chị chủ quán. “Có lẽ tôi nên viết mấy giòng cho cô ta để nhắc lại chuyện cũ xem cô có nhớ ra không. Tôi nên gọi cô ta là chị, là bà hay là cô?” “Tôi thấy ông nên viết là bà hợp lý hơn” “Phải rồi, gọi là bà đứng đắn hơn. Rủi người ta không nhớ ra mình cũng không bảo rằng mình thiếu lịch sự. Người đàn ông ngồi nép vào vách để tránh bụi mưa, chống cằm suy nghĩ một lúc rồi cắm cúi viết. Được độ nửa trang ông đọc lại rồi đem đến cho chị chủ quán. “Chị xem tôi viết thế nầy có được không?”
“Kính gửi bà Phúc Lan,
“Tôi tên Hùng, cách đây gần hai mươi năm, tôi là người khách đến quán của gia đình bà ăn tô cháo. Xong, tôi ra bờ sông ngắm cảnh trong lúc chờ xe đò hỏng phải sửa chữa. Bà có ra gọi tôi vì xe đã sửa xong, tôi được biết tên bà là Phúc Lan. Tuy chỉ có thế nhưng tôi vẫn nhớ đến bà mãi. Hôm nay tôi ghé lại Sông Pha thì quán của gia đình bà không còn nữa! Tôi chỉ mong được biết tin về bà bây giờ ra sao? Bà chắc đã có gia đình, tôi thì cũng lớn tuổi rồi, không còn như ngày xưa! Thế nên tôi chỉ ước mong bà xem tôi như một người bạn nếu bà còn nhớ ra tôi. Còn như bà đã quên bẵng tôi thì tôi xin lỗi bà về những giòng chữ vô duyên nầy. Tôi đã kể hết cho chị chủ quán, người đưa mãnh giấy nầy, nếu tò mò, xin bà cứ hỏi chị ta. Kính chúc bà và ông nhà và các cháu khang an, vạn sự như ý. Kính thư. Hùng”
Chị chủ quán đọc xong. “Ông viết thế nầy đủ rồi, nếu cô ta có hỏi gì về ông, tôi sẽ kể lại như ông đã kể cho tôi nghe” “Cám ơn chị. Tiếc quá, hôm nay trời mưa, tôi không thể đi lòng vòng thị trấn nầy” “Ở đây buồn lắm, trời mưa lại càng buồn hơn. Ông từng đi đây đi đó…mà lại thích ở đây cũng lạ! Nếu ông chờ, hy vọng ngày mai mưa sẽ tạnh” “Sáng sớm tôi phải đi rồi. Chào chị!”
Nói xong ông ta lại xòe tay che đầu, rụt cổ lại đi nép vào hàng hiên. Chị chủ quán ngồi nhìn theo ông ta cho đến khi đi khuất. Chị bần thần đọc lại lá thư rồi xé, ném vào bếp lửa, chỉ giữ lại cái địa chỉ.
Sông Pha Ngày…tháng…năm…
“Anh thân yêu,
“Buổi chiều, lúc anh rời quán, em muốn chạy theo kêu anh, cho anh rõ rằng người anh muốn tìm là em, nhưng không hiểu sao, em chỉ biết ngồi chết lặng. Tối đó, em cứ thao thức mãi. Tưởng tượng anh đang ở trong quán trọ đằng kia, ngay tại Sông Pha nầy…Anh gần đó mà sao em thấy xa vời quá! Tình yêu của em, ước mơ của em, hạnh phúc của em…em tưởng là tuyệt vọng, bây giờ đã hiện ra, nhưng em không còn quyền quyết định nữa!
“Và giờ đây, em đang khóc khi viết cho anh. Khóc vì mừng và giận anh. Sao anh hẹn mà không trở lại? Chỉ một cái trượt chân định mệnh, em ngã vào vòng tay anh, em gỡ tay anh ra nhưng em không gỡ được linh hồn em, cuộc đời em ra khỏi anh. Đã bao buổi chiều em ra ngồi ở dốc cầu, âm thầm khóc vì nhớ anh. Em tưởng như anh còn đứng đấy. Dáng anh cao, mắt anh sáng, miệng tươi cười với em. Vì lời hứa của anh mà em hy vọng mãi. Nghe tiếng xe đò ngừng trước đường là em hồi hộp, thầm nhủ rằng anh đang xuống xe và đến với em. Chỗ anh ngồi trong quán, không lúc nào là em không nhìn chừng. Em yêu thương cả đến chỗ ngồi của anh! Và tên anh, nghe người ta gọi nhau, em cũng rung động, nhớ anh.
“Với tuổi thơ ngây, em chỉ cầu mong được gặp anh, nhìn anh, chuyện trò cùng anh, thế thôi. Đến khi trưởng thành, nụ hôn của anh, vòng tay anh thành ước mơ được anh ấp ủ, được quấn quít bên anh.
“Khi quyết định lấy chồng, em cũng ra dốc cầu ngồi khóc đến sưng cả mắt mà chẳng biết tâm sự với ai. Em chỉ biết kêu lên với giòng sông, với gió chiều “Xin hẹn anh kiếp sau” tưởng như gió sẽ đưa lời của em đến với anh. Nhưng biết anh nơi đâu?
“Chiều nay em cũng lại ra đấy, đứng nhìn giòng sông, lòng em vui khi anh đã quay lại nhưng không khỏi ngậm ngùi vì những ước mơ chẳng còn gì. Em cũng đành thì thầm với giòng sông, với gió chiều “Xin hẹn anh kiếp sau”. Anh bảo rằng đã quên em, chỉ nhớ đôi mắt em rất vui, rất đẹp. Bây giờ đôi mắt em không còn vui, cũng chẳng còn đẹp đến độ anh đã gặp mà không nhận ra em! Em thì giây phút đầu đã biết ngay là anh, nhưng không hiểu anh có còn nghĩ đến em không? Đến khi nghe anh kể lại, khi anh nhắc đến tên anh, tên em, em phải chạy ra ngoài mưa đứng khóc. Em khóc say sưa, vì vui mừng và cũng vì đau khổ. Anh ngồi đó mà như bị một hàng rào nhăn cách. Em đã là gái có chồng. Em không còn quyền gì với chính em nữa. Yêu anh, nhớ anh đã là một hạnh phúc. Được biết anh cũng nhớ đến em, hạnh phúc và lòng biết ơn anh tràn ngập lòng em. Bao nhiêu năm rồi, nụ hôn của anh, có bao giờ em quên. Nhiều đêm em nằm mơ, thấy gặp lại anh, em khóc vì vui mừng, nhưng khi tỉnh dậy, biết chỉ là giấc mơ, em càng khóc vì càng nhớ anh hơn. Và ngay khi đang viết thư nầy, em cũng đầm đìa nước mắt…Chiều hôm qua, anh đến với em. Có phải là giấc mơ không anh?
“Dù sao cũng là một an ủi cho em, không bỏ công em lập quán bên đường để chờ anh. Đứa con gái đầu lòng, em đặt tên anh để mỗi ngày gọi anh cho đỡ nhớ, và em cũng không ngờ nó lại phảng phất giống anh.
“Từ hôm nay em lại nhìn chừng về phía bàn anh ngồi, lại hy vọng anh sẽ quay về. Anh vẫn thế, nhưng em đã thay đổi. Em đã có chồng, có con. Em thương chồng, thương con. Em có một gia đình bình thường, một hạnh phúc bình thường như anh đã bảo. Lý trí em thì nghe theo lời anh “Không muốn xáo trộn cuộc sống của em” Nhưng tự tim em, tự tâm hồn em, cứ mong ngóng được gặp lại anh hằng ngày.
“Hay là thế nầy. Chúng ta thỏa thuận, cứ vào gần cuối mùa Xuân, mỗi năm anh về thăm em một lần, cũng vào buổi chiều như hôm trước. Anh như là khách lạ, ghé vào quán của em. Anh đừng chuyện trò, hỏi han gì em. Anh cứ ngồi đấy, để em được nhìn thấy anh trong chốc lát, là ban cho em hạnh phúc tuyệt vời rồi. Xin anh đừng liên lạc gì với em cả. Em không ghi địa chỉ của em là vì thế.
“Em van anh, đừng thực hiện ý định về sống suốt đời ở thị trấn nầy. Dốc cầu còn đó, giòng sông còn đó, ánh nắng chiều vẫn vậy. Nếu anh về ở hẳn nơi đây, mỗi chiều anh ra đứng đấy thì cái thảm cỏ kia sẽ làm trượt chân em. Lần nầy, em biết, sẽ không gỡ tay anh ra được nữa”
Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua.
Vợ chồng tôi ở quận Cam (Orange County) thuộc tiểu bang California. Nói quận Cam cho dễ biết, chứ chúng tôi ở cách đó gần một giờ lái xe, là nơi quê mùa vắng vẻ, toàn người Mễ và người da đen nghèo khổ. Người Việt chỉ có gia đình tôi. Vợ chồng tôi đã già, lãnh tiền hưu trí, thêm chút tiền các con tặng bố mẹ, cũng đắp đổi.
Nhà không rộng nhưng nhiều phòng, khi mấy đứa con học hành nên người, chúng lập gia đình, ra ở riêng, các phòng bỏ trống, chỉ có hai vợ chồng già, ra vô lặng lẽ, cũng buồn. Có người gợi ý, nên cho mướn mấy phòng trống, vừa có tiền vừa bớt vắng vẻ. Thế nên tôi kêu thợ đến trổ hai cửa ra vào cho hai phòng sau nhà (lối đi riêng), làm phòng vệ sinh, phòng tắm riêng. Đủ tiện nghi như vậy mới có người chịu mướn.
Chỉ mới đăng báo cho mướn phòng một tuần mà có đến chục người gọi. Người đến trước là một cô, tuổi trên ba mươi, là công nhân hay nhân viên văn phòng gì đó, người thứ hai là một bà sồn sồn, tuổi chưa đến năm mươi, mặt mũi hồng hào, chân tay, thân hình tròn trịa, mơn mởn, hai mắt ướt rượt, coi bộ lả lơi ngầm. Bà ta năn nỉ, xin trả thêm tiền mướn để cho hai người, bà ta và “ông xã” được thuê phòng. Theo lời bà ta kể thì hai vợ chồng ở chung với con gái, nhưng thằng rễ không tốt nên tìm chỗ ở riêng. Chúng tôi chỉ hỏi lấy lệ rằng từ đâu đến, làm gì, làm ở đâu? Bà ta bảo, hai người từ tiểu bang Arizona đến California được vài tuần nay, “ông chồng” vừa xin được việc làm ở tiệm buôn nào đó. Chúng tôi chưa quyết định thì hôm sau, bà ta đưa “chồng” đến. Ông ta khoảng năm mươi tuổi, người hơi thấp, mạnh khỏe, sung sức như một trung niên nhưng ít nói, chỉ ngồi cười xã giao. Thấy ông ta hiền lành, chúng tôi đồng ý. Hai ông bà rối rít cám ơn, xin trả trước vài tháng tiền mướn phòng.
Sau khi cho mướn hai phòng phía sau nhà, tuy bớt vắng vẻ nhưng chủ nhà và người mướn phòng ít khi trò chuyện. Họ đi vòng từ sau nhà ra chỗ đậu xe, chẳng phiền ai, có tình cờ gặp nhau, cũng chỉ vài câu về thời tiết, gió mưa vớ vẩn. Cô gái đi làm từ sáng, chiều mới về, thỉnh thoảng mới gặp vợ tôi tâm sự chuyện đàn bà với nhau, tôi không quan tâm. Riêng, cặp vợ chồng lớn tuổi nầy thì ít khi ra khỏi phòng, nghe nói ông chồng có việc làm nhưng chẳng biết giờ giấc. Thỉnh thoảng hai người ra ngồi ngắm hoa, trò chuyện trên chiếc ghế dài sau vườn.
Tôi có một vườn hoa sau nhà. Buổi sáng, trước khi ra chợ Phước Lộc Thọ uống cà phê, trò chuyện với mấy ông bạn già, tôi thường ra tưới nước, chăm sóc, nhưng hễ thấy cặp vợ chồng kia ngồi đó thì tôi bỏ đi, để họ được thoải mái. Tôi thấy, họ có vẻ âu yếm, quấn quít như đôi tình nhân hơn là vợ chồng.
Không bao giờ thấy người đàn bà đi đâu. Cần gì, bà ta nhờ vợ tôi đi chợ mua giùm, từ gạo cơm, mắm muối, thịt cá, rau cỏ cho đến các vật thường dùng khác.
Nếu đây là một đôi tình nhân lớn tuổi, chắp vá nhau mà tìm được hạnh phúc như vậy cũng thật hiếm thấy. Nhưng một hôm ngồi uống cà phê ngoài chợ, tôi nghe bàn bên cạnh có hai ông bàn tán về một ông, từ tiểu bang Arizona đến các chợ ở California tìm vợ. Ông ta đi rảo khắp các chợ người Việt, rình các bãi đậu xe, tìm bắt cho được bà vợ bỏ chồng, bỏ con theo trai. Tôi đoán, có lẽ người đàn bà bỏ chồng “theo trai” là người mướn phòng đang ở với tình nhân sau nhà tôi, nhưng tôi không nói gì, chỉ về kể cho vợ tôi nghe. Vợ tôi bảo, cũng đoán như thế ngay từ hôm đầu họ đến mướn phòng, nhưng vợ tôi trấn an tôi rằng, cô mướn phòng bên cạnh có nghe họ đánh chửi nhau, như vậy chỉ ít lâu sau, họ sẽ tan hàng, khỏi cần mời họ đi chỗ khác.
Chúng tôi ở nhà trên, cách các phòng cho mướn một bức tường gạch rất dày nên cặp tình nhân đó có cãi vả to tiếng cũng không cách nào nghe được. Chỉ cô mướn phòng bên cạnh lãnh đủ! Cô phàn nàn rằng, đi làm suốt ngày, buổi tối cần yên tĩnh nghỉ ngơi, vậy mà thỉnh thoảng, nửa đêm giật mình thức giấc vì tiếng chửi rủa rồi tiếng dộng vô vách, rầm rầm như hai người đánh nhau, vật nhau. Thời gian đầu, họ chỉ rù rì chửi nhau, sau nầy họ không thèm giữ ý, chửi to tiếng. Tôi có ý định sẽ bảo họ có cãi nhau cũng nên nhỏ nhẹ, để người khác được yên tĩnh nghỉ ngơi.
Một hôm, giữa khuya, cô mướn phòng gọi điện thoại cho chúng tôi, bảo xuống mà can thiệp, có thể họ đang giết nhau. Vợ chồng tôi ra sau nhà, cô ta ra dấu, bảo chúng tôi vào phòng cô, áp tai vô vách mà nghe. Chẳng cần áp tai chúng tôi cũng nghe rõ tiếng động, tiếng chửi rủa nhau, tiếng bôm bốp, tiếng hự hự… để hình dung ra được hai ông bà kia đang lăn xả vào nhau, đánh chửi nhau với tất cả căm thù, quyết giết cho được đối phương. Có lẽ người đàn ông vừa tát tai vừa bóp cổ người đàn bà, miệng gầm gừ, răng rít lại “Địt mẹ, con đĩ mẹ mầy! Mầy tưởng tao không dám giết mầy chắc? Tao tẩn mầy cho mầy chừa. Tao giết mầy! Mầy chửi đi! Tao đâm mầy một phát là mầy rồi đời nghe con!” Rồi tiếng bốp (tát tai!) liên hồi. Người đàn bà chửi lại, giọng èng ẹt, có lẽ bị bóp cổ “Tổ cha con đỉ mẹ mầy. Mầy tưởng tao sợ mầy. Mầy dám giết tao không? Mầy đâm tao đi! Dám không? Đâm đi! Đâm đi!…Trời ơi là trời! Nó giết tôi rồi! Nó giết tôi!…” Thật quá sức tưởng tượng! Chúng tôi không ngờ hai người nầy, đã lớn tuổi, mặt mũi sáng sủa, ra người có học mà lại đánh chửi nhau như hàng tôm hàng cá. Tôi bảo cô gái thử lấy một vật cứng dộng vô vách để lưu ý họ xem sao. Cô ta lấy chiếc guốc dộng vô vách thật mạnh, chỉ “cộp, cộp” mấy tiếng là phòng bên kia im re!? Tôi hỏi cô gái “Họ có thường đánh chửi nhau như thế nầy không?” Cô bảo “Cứ năm ba ngày họ đánh chửi nhau một lần. Ban ngày em đi làm nên không rõ, nhưng ban đêm, em cứ bị đánh thức kiểu nầy hoài!” Tôi bảo “Mỗi khi hai người đánh chửi nhau lớn tiếng, cô nhớ lấy guốc dộng vô vách như lúc nãy là yên ngay. Để sáng mai, tôi sẽ gặp họ và báo trước, nếu còn gấu ó nhau kiểu đó thì xin mời đi chỗ khác”.
Sáng hôm sau, vợ chồng tôi ra sau nhà định đến gõ cửa phòng hai ông bà tình nhân nầy để nói phải trái với họ thì thấy hai người đang ngồi trên ghế sau vườn ngắm hoa, rủ rỉ chuyện trò. Chị đàn bà ngồi tựa đầu vào vai ông bồ. ông ta cũng ôm vai người yêu. Tuy hai người xây lưng về phía chúng tôi, nhưng tôi cũng thấy rõ một bên má người đàn bà tím bầm, sưng to như quả trứng. Người đàn ông thì có mấy miếng băng dán ở cổ, có lẽ bị “đối phương” cào chảy máu. Chúng tôi chả hiểu ra làm sao? Mới đánh chửi nhau lại làm lành ngay, giống như trẻ con! Sợ quấy rầy giây phút thần tiên của họ, chúng tôi rút lui, định chờ dịp thuận tiện khác.
Mấy hôm sau, cô gái thuê phòng khoe với vợ tôi là hễ nghe hai người đánh chửi nhau, cô lấy cây dộng vào vách là họ im tiếng ngay. Nhưng hai người đàn bà (vợ tôi và cô thuê phòng), lại lo sợ rằng đánh nhau kịch liệt kiểu đó, có ngày cũng gây án mạng, nên tốt nhất là mời họ tìm nơi khác mà mướn.
Được vài tháng sau, một lần, cũng vào nửa khuya, cô gái lại gọi điện thoại phàn nàn “Em dộng cây vào vách mà họ vẫn đánh chửi nhau!” Lần nầy thì tôi nổi giận thực sự.
Vợ chồng tôi đi vòng ra sau nhà, đến phòng cô thuê phòng. Quả nhiên, từ phòng bên kia, hai người đang đánh chửi nhau với những lời lẽ hàng tôm hàng cá. Tuy cũng vẫn những lời đòi giết nhau với tiếng động như vật nhau, đụng vô vách rầm rầm, tiếng hự hự, khò khè như bị bóp họng… nhưng rõ ràng cả hai đang hồi quyết liệt lại có vẻ nguy cấp cho chị đàn bà. Vợ tôi và cô mướn phòng, mắc cỡ vì nghe những lời chửi rất vô học và tục tỉu, lại sợ có chuyện không may cho chị đàn bà nên thúc hối tôi qua can thiệp hoặc gọi cảnh sát ngay. Tôi qua phòng của hai người. Vợ tôi và cô mướn phòng tò mò theo sau. Ngoài trời tối đen, trong phòng đó hình như cũng không có đèn vì qua cửa kính, không thấy ánh sáng hắt ra. Tiếng chửi rủa, đánh đấm nhau nghe càng rõ, giống như âm thanh một phim bạo động mở hết công suất.
Tôi gõ cửa và chờ đợi. Hai người như say sưa chiến đấu nên không nghe. Tôi gõ mạnh hơn. Vẫn không ai mở cửa mà tiếng đánh chửi nhau không giảm. Tôi thử vặn nắm đấm cửa. Cửa không khóa. Tôi đẩy nhẹ cửa, hé mở và nhìn vào. Trong phòng tối mù. Đèn ngủ không đủ ánh sáng nên tôi chẳng thấy gì! Tôi đoán chừng hai người đang nằm xem phim bạo động, trinh thám gì đó nên mới nghe kêu gào giết nhau như vậy. Tôi cố nhìn cho rõ để lưu ý họ vặn bớt âm thanh.
Và rồi tôi thấy được hai người. Họ nằm trên giường, đầu hướng về phía cửa nên không thấy tôi đang thò đầu vô nhìn.
Hóa ra họ thực sự đánh nhau chứ không phải trong phim. Người đàn bà nằm dưới, trắng hếu, hai tay cào cấu người đàn ông rồi đập tay xuống giường thình thịch, hai chân như bơi vào khoảng không rồi chống xuống giường, nẩy ngược lên như cố thoát ra khỏi sự kềm chế của người đàn ông, miệng vừa chửi rủa vừa rên rỉ “Mầy đâm tao đi! Đâm đi! Trời ơi là trời! Nó đâm tôi! Nó giết tôi! Tôi chết. Tôi chết!…” Người đàn ông, cũng trần như nhộng, một tay bóp họng chị đàn bà, tay kia nắm tóc, dập mạnh đầu bà ta xuống nệm. Hai người vừa đánh nhau vừa gào lên, líu lưỡi như bị quỷ ám. Họ quên cả thế gian. Có lẽ trời sâp họ cũng không buông nhau ra.
Tôi khép cửa lại, quay về. Vợ tôi và cô mướn phòng, vì đứng xa, mà cửa chỉ hé mở, trong phòng lại tối mò nên không thấy gì, cứ theo hỏi tôi “Sao không vô can thiệp? Hay là gọi cảnh sát?” Tôi bảo “Đó là hai con quỉ. Mặc kệ họ!” Hai người có vẻ yên tâm nhưng vẫn hỏi “Nói gì chẳng hiểu! Hai con quỉ gì lại cứ đánh chửi nhau?”
Tôi muốn nói huỵch tẹt ra là hai người đó không mặc áo quần gì cả, nhưng giữ miệng kịp.
Đám đông cứ ùn ùn leo tường vào toà đại sứ Mỹ, cảnh rối loạn đã bắt đầu trông thấy. Lại có tin đồn toà đại sứ sắp bị pháo kích đêm nay. Bao vấn đề đang diễn ra ngay trước mắt.
Lúc đó là một giờ sáu phút ngày 29-4- 1975. Trí óc Đại sứ Martin rối bời. Giải pháp chính trị cho Miền Nam mà ông đã theo đuổi cả tháng nay vừa tan biến như mây khói khi phi trường Tán Sơn Nhất bị pháo kích. Cho tới lúc này, ông vẫn còn ôm một hy vọng thầm kín, đó là nếu tướng Dương Văn Minh thành công thì Toà đại sứ Mỹ vẫn có thể còn được duy trì ở Sài gòn, tuy chỉ là một toà đại sứ nho nhỏ. Đang khi hình ảnh phi trường Tân Sơn Nhất lởn vởn trong đầu ông, một người tuỳ viên vội bước tới: “Thưa ông Đại sứ, có điện từ văn phòng Tổng thống Ford”. Ông Martin vội vàng mở ra đọc. Sau bao nhiêu yêu cầu, gần như năn nỉ, ông đang chờ đợi Tổng thống cho thêm trực thăng để di tản số người Việt đã vào đầy toà đại sứ [1].
Ai ngờ lại là chuyện trời ơi đất hỡi: Đổng lý Văn phòng Donald Rumsfeld (đương kim Tổng trưởng quốc phòng của Tổng thống George W. Bush) không nói gì tới việc gửi thêm trực thăng lại còn yêu cầu ông Đại sứ cho người tới cao ốc hãng IBM để bốc đi trên một trăm nhân viên và gia đình họ, rồi dùng trực thăng sẵn có để cho di tản [2].
Martin bực tức chửi thề và lờ đi, không trả lời. Sắp tới giờ thứ hai mươi tư rồi. Theo kế hoạch của Washington thì đáng lẽ chính ông Đại sứ cũng đã phải ra đi từ mấy hôm trước. Nhưng ông Martin đã cố tình níu lại, ông câu giờ để giúp di tản thêm người Việt Nam càng nhiều càng hay, và phần nào ông vẫn còn hy vọng vào một giải pháp chính trị để Mỹ ra đi đỡ mất mặt.
Những kế hoạch chung quanh việc di tản người Mỹ và Việt Nam đợt đầu đã được giữ hết sức bí mật, rồi lời nửa kín nửa hở, tới lúc hở ra là giây phút tranh giành, trèo tường toà đại sứ, lộn xộn, gần như hỗn loạn.
Để tìm hiểu thêm về cuộc di tản, chúng tôi đã tới tận nhà Đại sứ Martin để thăm viếng và yêu cầu ông kể lại cho rành mạch những gì đã xảy ra bên trong Toà đại sứ vào những ngày giờ cuối.
Ông Đại sứ cuối cùng
Chúng tôi đến thăm ông vào một buổi chiều mùa hè năm 1985, mười năm sau lúc gặp ông lần cuối ở Sài gòn. Về hưu, ông cư ngụ và chăm sóc mấy cháu gái tại Winston-Salem, một thành phố nhỏ thuộc North Carolina. Ông sinh ngày 22 tháng Chín năm 1912 trong một gia đình sùng đạo ở Mars Hill một làng nhỏ cũng ở tiểu bang này. Cha ông là một mục sư đạo Baptist. Đạo này rất thịnh ở miền Nam và là một đạo giáo rất nghiêm ngặt, đặc biệt là về rượu chè. Có nhiều quận gọi là “dry counties” (những quận khô) vì Chủ nhật không được bán bia, rượu. Cha ông cấm ông uống rượu nhưng ông lại rất thích uống “Martini”. Tuy nhiên khi nào uống thì ông cũng thú thật vì cha ông đã dặn: “Nếu ta luôn nói sự thật thì không bao giờ cần nhớ xem mình đã nói gì” [3]. Ông còn giữ nhiều mật điện quan trọng về liên lạc Việt-Mỹ vào giai đoạn kết thúc. “Tôi muốn nói ra đợt cuối cùng về những gì đã xảy ra” ông tâm sự.
North Carolina là tiểu bang quen thuộc vì có đại học North Carolina Wesleyan College là nơi chúng tôi bắt đầu giảng dạy môn kinh tế học từ tháng Tám năm 1963. Carolina cũng là gạch nối giữa tôi với ông Martin khi ông làm đại sứ tại Việt Nam. Mỗi khi gặp ông, tôi thường bắt đầu bằng những câu chuyện vui về dân tình, phong tục và đời sống North Carolina, về những trận đấu bóng giữa Đại học Virginia, trường tôi học, về Wake Forrest College, trường của ông. Bây giờ ông đã về hưu, không còn trách nhiệm nữa, không còn lo nghĩ nữa nên thấy ông thoải mái và tươi tắn hơn lúc còn ở Sài gòn, dù đã già đi nhiều.
Vào làm việc cho Chính phủ từ năm 1933, ông thăng tiến nhanh và giữ nhiều chức vụ quan trọng. Trước khi nhậm chức tại Việt Nam, ông làm Đại sứ ở Thái Lan từ năm 1963. Lúc đó ông đã chống việc Mỹ mang quân vào Việt Nam. Tới năm 1966 đang khi nhiều thanh niên Mỹ biểu tình chống đối, người con nuôi mà gia đình ông vô cùng yêu quý, cậu Glenn sang Việt Nam và tử trận khi lái trực thăng trên vùng cao nguyên. Có lẽ vì vậy mà ông đã đổi hẳn thái độ.
Mười năm trước khi trở lại viếng thăm ông, sáng ngày 15-4-1975 tôi gọi điện tạm biệt ông để lên máy bay đi công tác tại Washington. Trước khi chấm dứt cuộc điện đàm, tôi hỏi:
“Ông Đại sứ nghĩ thế nào về tình hình khẩn trương lúc này?”
“Tôi nghĩ chắc sẽ có một thời gian nữa hầu có thể đi tới giải pháp chính trị”.
“Ông nghĩ tôi nên làm việc tại Washington độ bao lâu?”
“Khoảng một tuần…”
“Tạm biệt ông Đại sứ”.
“Chúc ông đi bình an, khi trở về nhớ gọi tôi ngay, tôi rất muốn gặp lại ông sớm”.
Ông tiếp tôi và anh bạn Jerold Schecter (đồng tác giả cuốn “Hồ sơ mật Dinh Độc Lập”) một cách cởi mở, khác hẳn phong thái ngày trước. Lúc ở Việt Nam, trông ông lúc nào cũng dè dặt, kín đáo, thầm lặng. Người ta cho là ông còn lạnh lùng hơn Đại sứ Ellsworth Bunker, người được gọi là ông “Đại sứ tủ lạnh”. Tống thống Thiệu thì gọi ông bằng một bí danh: “Ông Cà phê”. Ngày trước ở Sài gòn có cà phê Pháp “Martin” nổi tiếng.
“Đại sứ còn nhớ dặn tôi gọi lại khi về tới Sài gòn không?”
Ông nhìn tôi với đôi mắt đăm chiêu, xa vắng. Nhắc lại câu này dường như đã khơi lại cho ông những ngày giờ kinh hoàng của 10 năm về trước. Với những cảm xúc ấy chắc cũng chưa bớt đi mức độ nóng bỏng đối với ông. “Tôi đâu có ngờ tới một kết thúc thảm thương như vậy”.
Chúng tôi bắt đầu câu chuyện “phỏng vấn” thân mật. Ông tâm sự nhiều về những khía cạnh chính trị, ngoại giao, và về cuộc chiến Việt Nam. Khi nói tới cuộc di tản, ông thở dài rồi bỗng nhiên im lặng: “Thôi thì ít nhất tôi cũng đã làm được một chút gì cho nhân dân anh”. Ông muốn nói tới những cố gắng vượt mức vào ngày giờ chót để giúp một số người Việt di tản, nhiều hơn gần gấp ba số người Washington định cứu.
Ông nói là trong cuộc đời, ông cũng từng có nhiều kinh nghiệm về di tản: “Ngay từ 1939 tôi đã nghiên cứu xem những lý do nào đưa tới tình trạng hỗn loạn của cuộc di tản những đoàn người từ Paris xuống Bordeaux. Rồi đầu thập niên 1950, vì có trách nhiệm bao trùm cả khu vực Âu châu nên tôi phải tham dự EUCOM và SHAPE trong kế hoạch phòng hờ để di tản người Mỹ khỏi Âu châu. Vì vậy tôi đã hiểu là ở trong hoàn cảnh còn yên ổn thì một chiến dịch di tản cũng đã phức tạp đến chừng nào, mà sự yên ổn đó đâu có còn kéo dài được bao lâu nữa ở Sài gòn lúc ấy, trừ khi có những biện pháp đề phòng lối đa nhằm tránh sự hỗn loạn”.
Tranh đấu cho Miền Nam.
Một trong những biện pháp đề phòng là lấy cảm tình của người Việt Nam. Về việc này ông đã bắt đầu ngay từ khi mới đến Sài gòn.
Ông được bổ nhiệm làm Đại sứ vào tháng Bảy, 1973, sau Hiệp định Paris. Lúc đầu ông Thiệu rất dè dặt. Với bản tính đa nghi, nghe thấy nói ông Martin là người đã chống việc đem quân vào Việt Nam, ông Thiệu phân vân không biết rồi ông này có phải là một Henry Cabot Lodge thứ hai hay không.
Đại sứ Lodge là người đã đứng đằng sau cuộc đảo chính ông Diệm năm 1963. Khi Martin nhậm chức vào hè 1973, tình hình bang giao Việt-Mỹ lại rất căng thẳng. Ông Kissinger lại vừa mới kiêm chức Ngoại trưởng. Tuy nhiên, sự nghi ngờ của ông Thiệu đối với vị tân đại sứ đã sớm tiêu tan. Chỉ sau ba bốn lần tiếp xúc, ông Thiệu nhận ra rằng Martin là một người ủng hộ Việt Nam. Lý do chính là ông muốn bảo vệ uy tín của Hoa kỳ: không nhẽ mang trên nửa triệu quân vào chiến đấu mà lại để Miền Nam sụp đổ quá nhanh. Mặt khác ông cũng không muốn trở thành người phải “đổ vỏ” ốc. Những viên chức khác làm hỏng đại sự, đến lượt ông lại phải thực hiện công tác dẹp tiệm sao?
Hút thuốc lá liên tục và làm việc rất khuya tại căn phòng nhỏ ở tư thất, ông là người sống nhiều về nội tâm, lúc nào cũng chững chạc, dè dặt. Ông rất ít giao thiệp với các Đại sứ khác, trừ Đại sứ Pháp Merillon. Hai toà đại sứ lại ở sát bên nhau. Lúc nào ông Martin cũng trầm lặng, lủi thủi một mình. Nhân viên toà đại sứ khó tới gần ông và đã chỉ trích ông rất nhiều.
Vừa nhậm chức thì Đại sứ Martin đã có tin Quốc hội bàn cãi việc cắt viện trợ cho Miền Nam. Thế là một mặt ông tìm mọi cách trấn an ông Thiệu, một mặt ông không ngửng biện hộ cho Việt Nam Cộng Hòa tại Washington. Vào thời điểm đó, ông là một trong vài viên chức Hoa kỳ duy nhất còn nghĩ tới Miền Nam. Là bạn của Tổng thống Nixon, ông đã được Nixon phục chức cho ông trong ngành ngoại giao. Năm 1967 lúc còn làm Đại sứ ở Thái Lan, ông bị Ngoại trưởng Dan Rusk cho về ngồi chơi xơi nước vì quá bướng bỉnh, chống việc Mỹ mang không quân vào Thái Lan. Một năm sau thắng cử, Nixon đề bạt ông làm Đại sứ tại Ý. Ông tin là quan hệ cá nhân của ông với Tống thống giúp ông yểm trợ Việt Nam trong thời hậu chiến.
Đầu hè 1974, khi thấy viễn tượng Nixon phải từ chức đã rõ, ông hết sức lo âu. Từ tháng Sáu 1974, thỉnh thoảng ông mời tôi dùng cơm trưa tại tư thất để bàn về những vấn đề xoay quanh viện trợ Mỹ. “Hay là để tôi đề nghị Tổng thống Thiệu gửi ông sang làm Đại sứ ở Washington để cùng làm việc với tôi”, có lần ông gợi ý. “Chắc không đâu, vì tôi đã ở Mỹ quá lâu rồi”, tôi chối ngay. Biết là chúng tôi đã có gặp gỡ thượng nghị sĩ Kennedy lúc còn ở đại học, lại là cựu sinh viên của Schlesinger, Tổng trưởng quốc phòng và có quen biết gia đình Mục sư Elson, Tuyên uý Thượng Viện Mỹ, nên ông Martin đề nghị là dù không trở về Washington tôi cũng nên bắt tay với ông tranh đấu cho viện trợ.
Tháng Bảy, 1974 ông về Washington cố thuyết phục Quốc hội Hoa kỳ. Trong một buổi điều trần, ông đã trình bày một hình ảnh lạc quan về Việt Nam, và bị nhiều người chỉ trích [4].
Sau khi Miền Nam sụp đổ, năm 1976 ông lại ra điều trần tại Quốc hội, vẫn không thay đổi lập trường. Lúc chúng tôi gặp lại ông mười năm sau, ông còn nhắc lại: “Nếu không bị cắt hết viện trợ thì Miền Nam vẫn còn khả năng tồn tại, dù là một Miền Nam thu hẹp”.
Vào lúc Miền Nam sụp đổ, trước hết ông đã ra chỉ thị cho George Jacobson, Phụ tá đặc biệt về điều hành ở Toà đại sứ là phải dùng toàn bộ phương tiện tài chính, máy bay, tàu, sà lan của toà đại sứ ở khắp mọi địa điểm để giúp cả quân lẫn dân di tản từ Đà Nẵng và Nha Trang [5]. Sau đó đã tránh sự hỗn loạn có thể xảy ra ở Sài gòn (xem Chương sau). Đồng thời đã giúp tị nạn một số người Việt đợt đầu tiên, gần gấp ba lần Washington dự tính.
Tại những ngày cuối cùng, khi được lệnh phải di tản người Mỹ, ông chần chừ kéo dài thời gian di tản người Mỹ vì biết rõ là một khi người Mỹ cuối cùng đã ra khỏi miền Nam thì chẳng còn người Việt nào được bốc đi nữa.
“Đại sứ giữ tài liệu mật bị điều tra”, đó là đầu đề của tờ Washington Post ngày 13 tháng Chín, 1978, gần ba năm rưỡi sau khi Miền Nam sụp đổ. Bài này nói về việc Đại sứ Martin giữ lại toàn bộ tài liệu mật đã được lưu ở toà đại sứ tại Sài gòn. Căn nhà ông ở tương đối cũng nhỏ, ít chỗ lớn để xếp đồ đạc, nên khi về hưu, ông đã để một số hộp hồ sơ trong thùng xe hơi đậu trước nhà. Đến khi xe bị mất trộm, ông báo cho cảnh sát North Carolina. Lúc cảnh sát tìm được và mở thùng xe ra thì lại thay toàn là tài liệu đóng dấu “Tối mật” (Top Secret). FBI phóng xe đến điều tra ông.
Khi đăng tin này, toà báo có phỏng vấn ông Frank Snepp tác giả cuốn “Decent Interval” về ông cựu Đại sứ. Ông Snepp trả lời: “Ông ta nói với tôi là ông muốn giữ lại những tài liệu này để có thể nói lời cuối cùng về Kissinger”.
Thế nhưng, chưa kịp nói thì ông Martin đã từ trần.
Thật là một may mắn mà tôi được gặp lại và nghe những lời thổ lộ từ tâm huyết của vị Đại sứ Mỹ cuối cùng ở Miền Nam và được ông cung cấp một số tài liệu lịch sử.
Ai là người được chọn?
Khi Pháp rút lui hồi 1954, dù Mỹ không dính dáng trực tiếp vào chiến tranh Đông Dương thì cũng đã giúp di tản được một triệu người từ Bắc vào Nam một cách trật tự. Thời gian di tản còn kéo dài được 300 ngày. Lúc Mỹ rút năm 1975 sau 10 năm trực tiếp tham chiến với hơn nửa triệu binh sĩ, chẳng nhẽ lại cuốn gói ra đi một mình?
Sau đây là chi tiết về diễn tiến cuộc di tản mà Đại sứ Martin kể lại, cũng giống như ông đã điều trần tại Quốc hội vào tháng 1,1976 (xem Phụ Lục F) [6]:
Thoạt đầu, căn bản là Hoa kỳ chỉ muốn di tản người Mỹ ra khỏi Miền Nam cho nhanh, hầu như chẳng ai ở Washington muốn dính tới người Việt, ngoại trừ thân nhân của công dân Mỹ, một số chọn lọc những người đã cộng tác với Mỹ, và một số rất nhỏ viên chức cao cấp Việt Nam;
Đầu năm 1975 (đặc biệt là từ tháng Ba), Washington đã có lệnh cho di tản nhân viên làm việc tại văn phòng Tuỳ viên quốc phòng DAO (Defense Artache Office). Văn phòng này được thành lập sau Hiệp định Paris để thế MACV (Military Assistance Command, Vietnam), nhưng chỉ đặc trách về tiếp vận;
Tuần đầu tháng Tư, Đại sứ Martin nhận được lệnh “giảm bớt” cho nhanh số người Mỹ còn ở lại;
Trước ngày 14-4, tức là chỉ còn hai tuần trước khi sụp đổ, toà đại sứ chỉ có quyền cấp giấy phép “tạm dung” (parole authority) cho 2.000 trẻ mồ côi được di chuyển bằng máy bay vào Mỹ;
Ngày 14-4, toà đại sứ chỉ nhận được quyền cho tạm dung thân nhân người Mỹ nhưng phải theo những điều kiện ràng buộc hết sức chặt chẽ: đó là chỉ những thân nhân đang có mặt tại Việt Nam của những người Mỹ cũng đang có mặt tại Việt Nam;
Ngày 19-4, toà đại sứ nhận được quyền cho tạm dung, quyền này được nới rộng chút đỉnh, nhưng cũng chỉ bao gồm những thân nhân của công dân Mỹ và những người Việt Nam thường trú (có thẻ xanh) dù không có mặt tại Việt Nam nhưng với điều kiện là họ đã được thân nhân xin visa cho và đã được sở Di trú chấp thuận;
Sau cùng, mãi tới ngày 25-4, tức là năm ngày trước khi Sài gon thất thủ, toà đại sứ mới nhận được quyền cho tạm dung thêm các bà con, thân nhân của công dân Mỹ (khoảng 80.000 người) và 50.000 người Việt Nam có “mức rủi ro cao độ”, tổng cộng là 130.000 người [7].
Chỉ có 50.000 người thôi
Như vậy hết sức rõ ràng là chỉ còn bốn ngày trước lúc triệt thoái cuối cùng, ngoài người Mỹ, thường trú Mỹ và thân nhân của họ, Hoa kỳ chỉ cho phép di tản 50.000 người Việt Nam, mà số người này phải thuộc về diện những người có rủi ro cao độ.
Nhưng ai là người có mức rủi ro cao độ? Bộ Ngoại giao Hoa kỳ đã vạch rõ:
“Những nhân viên làm việc cho Mỹ và gia đình của họ;
“Thân nhân của công dân Mỹ;
“Viên chức cao cấp trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa;
và một số những người khác (được coi là) có “nguy hiểm cao độ” vì sẽ là đối tượng trả thù của Cộng sản” [8].
Và như vậy, hầu hết các bạn đang đọc quyền sách này đã không phải là người lọt vào con số được chọn.
Đó là về thủ tục nhập cảnh, thủ tục tạm dung, vốn đã quá khó khăn. Nhưng còn một khía cạnh khác: thái độ của các nghị sĩ, dân biểu, quan chức lại Washington đối với việc di tản. Nếu Quốc hội chống thì làm sao có ngân sách di tản?
Ngày 14-4, Uỷ ban Ngoại giao Thượng Viện đến họp tại toà Bạch Ốc. Diễn tiến buổi họp cho ta thấy thái độ của Quốc hội Mỹ đối với việc di tản người Việt tỵ nạn. Khi Kissinger trình bày là trong số trên một triệu người đã có những liên hệ với Mỹ, có 174.000 người là đặc biệt bị nguy hiểm với Cộng sản nên Mỹ phải cứu nếu có thể được. Các nghị sĩ đều thoái thác. Phụ tá Nessen kể lại buổi họp về di tản đó như sau [9]:
Nghị sĩ Frank Church: “Cho di tản 174.000 người Việt Nam sẽ có thể phải cần đến một số (quân đội) Mỹ rất lớn trong một cuộc chiến rất dài”;
Nghị sĩ Clifford Case nhấn mạnh rằng ý kiến chung của Uỷ ban là số người Mỹ ở Sài gòn phải được tập trung lại để đến lúc kết thúc có thể di tản chỉ bằng một chuyến bay thôi;
Nghị sĩ Charles Percy: “Chúng tôi không muốn người Mỹ phải làm con tin” (để di tản người Việt);
Kissinger bình luận: “Cá nhân tôi cũng không tin rằng ta sẽ có thể di tản một số nhất định nào đâu, như là 174.000 chẳng hạn. Nhưng ta có bổn phận là nếu mang được ai ra thì càng nhiều càng tốt”;
Tại đây, Tổng thống Ford cảnh cáo các nghị sĩ: “Nếu quý vị tuyên bố “không di tản người Việt Nam “, quý vị sẽ có khó khăn lớn trong việc di tản 6.000 người Mỹ” (vì sẽ gặp sự chống cự của miền Nam)”;
Nghị sĩ Jacob Javits tuyên bố: “Tôi không muốn bỏ phiếu cấp thêm tiền cho một Chính phủ do Thiệu lãnh đạo, nhưng tôi sẽ trả bất cứ món tiền chuộc nào để mang người chúng ta ra”;
Nghị sĩ Joseph Biden còn nói toạc móng heo: “Tôi không muốn trả bất cứ món nào để đưa người Việt Nam đi, chỉ trừ khi ta không thể mang được người Mỹ nào ra mà không phải mua 174.000 người Việt Nam. Trong trường hợp đó, tôi sẵn sàng mua 174.000 người Việt Nam “.
Sau cuộc họp, Tổng thống Ford còn dặn các nghị sĩ chớ để cho báo chí biết là tất cả phiên họp chỉ để bàn bạc về chuyện di tản.
Quý vị hãy nói: “Chúng tôi chỉ bàn chuyện làm thế nào để ổn định tình hình”.
Ai không muốn di tản người Việt?
Ngày 17-4, Đại sứ Martin nhận được một mật điện, trong đó có đoạn như sau [10]:
Người nhận: Martin
Độ mật: Tối mật
“Chúng tôi vừa họp xong một cuộc họp liên bộ để duyệt xét tình hình miền Nam Việt Nam . Ông Đại sứ phải biết rằng trong phiên họp của Uỷ ban Đặc nhiệm Washington hôm nay, hầu như không có ai ủng hộ việc di tản người Việt và việc dùng quân lực Mỹ yểm trợ bất cứ việc di tản (người Việt) nào.
Quan điểm chung của các giới quân sự, Bộ Quốc phòng, và CIA là phải rút ra cho lẹ và ngay lập tức.
(We have just completed an interagency review on the State of play in South Vietnam. You should know that the WSAG (Washington Section Action Group) meeting today, there was almost no support for the evacuation of Vietnamese, and for the use of American force to help protect any evacuation. The sentimen of our military, DOD (Department of defense) and CIA colleagues was to get out fast and now”
Với lệnh khẩn cấp đó, Kissinger hối thúc Martin phải gấp rút chạy cho nhanh. Ông Martin đã báo động Kissinger là nếu chỉ cho di tản người Mỹ thôi thì rất nguy hiểm. Kissinger không thèm để ý, và trả lời:
“Mặc dù những lo ngại như Đại sứ đã thông báo cho tôi và tôi cũng đồng ý như vậy, nhưng điều hết sức cần thiết là yêu cầu Đại sứ xúc tiến cho nhanh việc di tản những công dân Mỹ ra khỏi Việt Nam.
Chúng ta phải làm sao để vào thứ Ba, 22-4, tất cả số công dân Mỹ dù chính thức hay không cũng chỉ còn 2.000 trở lại mà thôi”.
Như vậy có nghĩa là trong năm ngày, ông Martin phải di tản khoảng 4.000 người Mỹ.
Ông ta đang cuống lên thì ngay hôm sau, Kissinger lại tống thêm một lệnh mới. Chính Kissinger đã viết lại trong cuốn “Ending the Vietnam war” là ngày 18-4, theo sự chấp thuận của Tổng thống, ông Martin nhận chỉ thị là phải giảm số người Mỹ xuống còn chỉ còn 1.250, cũng vào ngày 22-4. Đây là số người được tính toán là trực thăng sẽ có thể bốc đi trong chỉ một ngày. “Số người Mỹ này, và tuỳ khả năng có thể, những nhân viên người Việt làm cho Mỹ, sẽ đượcdi tản từ bãi đậu ở Toà đại sứ khi Tân Sơn Nhất bị đe doạ. Và khoảng thời gian còn lại (cho tới 22-4), sẽ cố gắng tối đa để di tản số người Việt bị nguy hiểm vì đã làm cho nước Mỹ (Those who had exposed themselves on America’s behalf) [11].
Washington chỉ hối thúc cho di tản căn bản là người Mỹ và một số nhỏ người Việt làm cho Mỹ. Vậy làm thế nào để cứu được thêm một số người Việt?
Câu thêm giờ
Có hàng triệu người cộng tác với Mỹ trong 20 năm qua, bây giờ lại chỉ cho di tản 50.000 người thì làm sao coi được. Ông Martin nhất định không chịu.
Trước hết là ông đã “câu giờ”: cố di tản người Mỹ thật nhanh để có thì giờ di tản thêm số người Việt. Tới Washington, khi ông Ford ra Quốc hội ngày 10-4 xin thêm tiếp viện bổ túc cho Miền Nam thì cuộc bàn cãi về Việt Nam xoay chiều: thay vì viện trợ, chủ đề lại là chỉ là di tản. Như vậy, một mặt Washington muốn đưa người Mỹ ra cho lẹ, một mặt ông Martin lại muốn kéo họ ở lại. Theo chính Kissinger kể, cũng trong cuốn “Ending the Vietnam war”, thì Đại sứ Martin đã chần chừ không chịu di tản cho nhanh vì: “Nhiệt tình gắn bó với những người mà ông sắp bị bắt buộc phải bỏ lại, ông Martin đã coi như bổn phận mình là phải dàn ra từng chặng, cuộc rút lui của Mỹ trong một thời gian dài nhất để giữ lại sự có mặt của Mỹ (tại Việt Nam) ở mức đủ để bào chữa cho việc cứu vớt người Việt Nam “.
“Tin rằng, ngay trước mắt, sự hoảng hốt ở Saìgòn còn đáng lo ngại hơn những kế hoạch tấn công của Hà nội, ông phấn đấu để cho cuộc di tản chậm nhiều hơn là chính Tổng thống Ford, Brent Scowcroft, hay là tôi – bọn diều hâu trong chính phú – đã cho là thích ứng” [12].
Nới rộng thẩm quyền
Ngoài việc chần chừ, Martin còn dùng mánh khoé riêng của mình để đi vòng. Ngày 25-4, khi nhận được phép cho di tản có 50.000 người, ông nới rộng quyền của mình bằng cách chú thích con số “50.000” một cách phóng khoáng hơn. Điều trần trước Quốc hội (1976), ông nói:
Ngày 25-4, chỉ còn bốn ngày trước lúc di tản cuối cùng bắt đầu ngày 29-4. Lúc đó chúng tôi mới nhận được phép cho mang đi tất cả tổng số là 50.000 người Việt Nam – một con số quá ư là ít ỏi. Bởi vậy tôi đã giải thích con số này là muốn nói tới chủ gia đình chứ không phải là tổng số người. Bởi vậy, dùng “phương pháp giải thích rộng rãi theo lối John Marshall”, chúng tôi đã nới thẩm quyền để giải quyết vấn đề”.
(On April 25, only four days before our evacuation began on April 29. Then we received authority to send out a grand total of 50,000 Vietnamese – a number which was clearly insufficient. So, I interpreted the number to include only heads of families and no the families too. So, song the John Marshal broad construction approach, we stretched the authority to cover the problem”) [12].
“Hành quân gió nhanh”
Vào lúc bốn giờ năm phút sáng Thứ Ba, ngày 29-4 (4:05 chiều 28/4 giờ Washington), những hoả tiễn đầu tiên của Bắc Việt rơi trúng phi trường Tân Sơn Nhất.
Đại sứ Martin lên chiếc xe an ninh của ông và cho lái ra sân bay để quan sát tại chỗ lúc chín giờ sáng. Một phi cơ C-130 bị phá huỷ, hai lính Thuỷ quân lục chiến Mỹ gác cổng bị chết. Các chuyến bay di tản phải ngừng. Tuy nhiên, thấy phi cơ dù bị hư hại mà còn dùng được, ông Martin lại điện về xin Tổng thống cho tiếp tục các chuyến bay loại lớn. Ông Martin kể lại là lúc bảy giờ 30 chiều, ông họp với Hội đồng an ninh Quốc Gia (NSC) và quyết định chờ một giờ xem pháo binh có ngừng không, nếu ngừng thì ông sẽ cho máy bay vào tiếp tục. “Pháo kích có ngừng thật”, ông viết, “nhưng chúng tôi lại có một vấn đề mới phải giải quyết. Dân chúng ào ra tận phi đạo và máy bay không đáp được. Tình hình rõ ràng không thể kiểm soát được nữa”. Trong lúc đó, các bồn xăng bị trúng hoả tiễn bắt lửa nổ và phát cháy hừng hực từ góc trụ sở Hãng hàng không dân sự Air America. Tướng Smith (chỉ huy cơ quan DAO ở Sài gòn) điện thoại tới Honolulu cầu cứu đô đốc Gayler, Tổng Tư lệnh quân đội Hoa kỳ ở Thái Bình Dương. Ông Gayler gọi Đại sứ Martin thông báo không thể tiếp tục di tản bằng C-130 được nữa. Miễn cưỡng, ông Martin đồng ý “Lựa chọn IV”, trong kế hoạch di tản, với mật danh “Hành quân gió nhanh” (Operation frequent wind), Lựa chọn này là chỉ dùng trực thăng bốc đi từ toà đại sứ Mỹ. Martin gọi Kissinger yêu cầu ông đề nghị Tổng thống chấp thuận.
Lúc 10 giờ 51 sáng cùng ngày (10 giờ 51 đêm 28/4, giờ Washington), Ford hạ lệnh bắt đầu cuộc “Hành quân gió nhanh”, mật hiệu của “Lựa chọn IV” [13]. Đài phát thanh quân đội Mỹ ở đường Hồng Thập Tự cho phát sóng mật hiệu cho người Mỹ và một số người Việt liên hệ biết là giờ phút di tản cuối cùng đã tới.
Chiếc trực thăng thứ nhất tới toà đại sứ đúng hai giờ chiều ngày 29-4. Có hai chỗ đáp: loại trực thăng lớn – CH-53 đáp xuống bãi trong khu sân đậu xe; loại nhỏ, CH-46 đáp trên nóc toà đại sứ.
Trong 16 giờ cuối cùng, Đại sứ Martin đã hét sức khẩn khoản nài xin thêm 30 chiếc trực thăng loại lớn CH-53 (chở được 50 người, nhưng ngồi chen chúc cũng được 70). Nhưng ông chỉ thấy lẻ tẻ vài chiếc loại nhỏ CH-46 (chở được 20 người) bay vào! Thấy số máy bay vào quá chậm và ít ỏi, ông Martin còn dùng lý do có số trẻ con lai còn bị kẹt lại để biện hộ. Ông cầu cứu Brent Scowcroft, Chánh Văn phòng Tổng thống: “Có lẽ ông nên cố vấn cho tôi làm sao tôi thuyết phục được một số người Mỹ để họ bỏ rơi lại những đứa con lai của họ, hoặc Tổng thống sẽ được đánh giá như thế nào nếu ông ta chỉ thị như vậy… “Tôi cần đến chết được (I damn well need) hối thúc 30 chiếc CH-53 hay một khả năng tương đương…”
Thúc rồi ông còn viện cớ rằng trong đám người kẹt lại, có cả một linh mục Mỹ, bởi vậy nếu không gửi thêm trực thăng vào mà đưa ông ta đi thì Tổng thống phải chịu trách nhiệm với lãnh đạo Công Giáo Hoa kỳ: “Giữa đám người Mỹ hiện còn lại, có cả linh mục Mcveigh, giám đốc cứu trợ Công Giáo; ngài không chịu đi nếu nhân viên của ngài không được đi.
Làm sao Tổng thống có thể giải thích cho Giám Mục Swanstrom… hay là Hồng Y Cooke được, nếu tôi bỏ ông ta ở lại, và cứ như vậy, Đại sứ Martin gửi hết điện này tới điện khác cách nhau vài chục phút. Nhưng ông Kissinger cũng như tư lệnh Thái Bình Dương đã đi tới kết luận là ông Martin đang đánh phé, giữ người Mỹ lại để di tản một giếng không đáy người Việt” [14].
Tại Washington, theo chính Kissinger thuật lại, ông và Schlesinger đã ước tính là còn 760 người đang ở trong khuôn viên toà đại sứ, và quyết định gửi thêm 19 trực thăng, chỉ ngần ấy thôi [15]. Ông Martin sẽ phải đi chuyến thứ 19 được kết thúc khoảng 3 giờ 30 sáng.
Lúc 3 giờ 15 sáng (30 tháng 4), một anh phi công chiếc CH-46 đáp xuống nóc toà đại sứ chuyển một trang giấy viết tay cho ông Martin do Đô đốc Gayler gửi, ông nói là được lệnh chỉ gửi lại thêm 19 trực thăng, và không gửi thêm nữa, Đại sứ Martin sẽ phải đi ra chuyến cuối cùng. Sau này ông Gayler tiết lộ: Ông đã có thẩm quyền để áp giải, nếu ông Đại sứ cưỡng lại lệnh Tổng thống. Khi Phó Đại sứ Lehman phát hiện ra những chiếc trực thăng sẽ vào lại là loại nhỏ, một nhân viên toà đại sứ, đại tá Madison, vô cùng sửng sốt vì ông đã hứa đi hứa lại với khoảng 420 người Việt còn kẹt lại ở Toà đại sứ là họ sẽ được mang đi hết. Bây giờ không có CH-53 đáp dưới bãi đậu ở sân nữa, chỉ có loại nhỏ đáp trên nóc toà nhà (và chỉ có người Mỹ được di tản thôi!). Vậy ông Madison biết ăn nói làm sao với những người đã tin cậy vào những lời hứa của ông? Madison vô cùng bất mãn! [16].
Vài giờ sau, toán lính Thuỷ quân lục chiến gác toà đại sứ lần vào cao ốc, khoá chặt cửa sau lại, để số người muốn tị nạn không vào được nữa. Chiếc trực thăng cuối cùng, yểm trợ bằng sáu chiếc Cobra gắn đại liên, chở toán này cất cánh.
Trước tám giờ sáng ngày 30-4. Họ ném những hộp hơi cay xuống chung quanh cao ốc trên đầu số 420 người Việt đứng bàng hoàng ngơ ngác [17]. Đám người này vẫn đứng chờ những chuyến trực thăng không bao giờ tới.
Hy vọng rằng những thế hệ con cháu của đoàn người di tản là những người Mỹ mai đây sẽ nắm địa vị quyền hành, sẽ không bao giờ đối xử như vậy đối với những đoàn người di tản từ các quốc gia Đồng minh khác trong một tình huống nào đó, như từ Iraq, Atghanistan, Đài Loan, Đại Hàn, khi Đồng minh của họ cuốn gói ra đi.
Trước 75 Mai Trung Tĩnh dạy học. Cũng như hầu hết các thanh niên miền Nam lúc bấy giờ, khi cuộc chiến tranh lên tới cao độ, ông bị động viên, theo học tại trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi sau đó được đưa về làm việc tại Đài Tiếng Nói Quân Đội, thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.
Sau 75 ông bị đưa đi cải tạo 7 năm. Được tha. Năm 1990 ông bị bắt một lần nữa và bị giam cho đến năm 1994.
Tháng 6/1995 ông cùng gia đình sang Mỹ định cư theo chương trình HO và hiện cư ngụ tại bang Maryland. Mai Trung Tĩnh từng được trao tặng Giải Thưởng Văn Chương toàn quốc năm 1960/61, bộ môn Thơ.
Thế giới thơ Mai Trung Tĩnh được nhà xuất bản tóm tắt như sản phẩm của một con người, và, con người ấy nhắc nhở đến một huyền thoại.
Huyền thoại như sau:
“Thuở ban sơ, sự xuất hiện của một vị thần trí tuệ đã dấy lên một cuộc dượt bắt quyết liệt. Ở khắp nơi, con người đều ráo riết truy lùng, do khao khát nắm được thần trí tuệ trong tay. Vì vậy, thần phải liên tục trốn chạy.
Trước tiên, thần trốn vào vùng rừng núi với ý nghĩ nhờ những lớp vách đá và cỏ cây trùng điệp xóa lấp mọi dấu vết của mình.
Thần đã nghĩ lầm. Con người biết ngay thần đang trốn ở đâu, nên lập tức vạch cây, xẻ núi, lùng sục ngày đêm. Thế là thần phải tìm nơi ẩn trốn khác. Thần quyết định chui xuống đại dương. Nhưng mặt nước mênh mông trên
khắp địa cầu vẫn không đủ che chở cho thần. Con người không tìm thấy dấu vết thần trong các vùng rừng núi đã đoán chắc là thần đang ẩn mình dưới đáy biển. Cuộc lùng sục từ mọi phía liền ào xuống đại dương và tiếp diễn vô cùng gay gắt. Biển sâu lại dậy sóng, sau khi rừng rậm, núi cao đã bị dẫm nát. Không chỗ dung thân trên mặt đất, thần đành bay thẳng lên trời với hy vọng con người sẽ nản chí ngưng truy tầm. Một lần nữa thần lại lầm. Nỗikhát khao nắm bắt được thần vẫn càng lúc càng tăng và con người theo thần bén gót. Vừa bay lên không trung, thần đã phát hiện ngay tình trạng đang bị bám đuổi sát nút từ mọi phía. Lúc này thần không còn nơi trốn tránh và lâm cảnh nguy khốn cùng cực. Thần không còn đủ suy tính mà chỉ kịp hành động chớp nhoáng kiếm lấy một chỗ tạm ẩn mình. Trong lúc cấp bách, thần đánh liều chui ngay vào cơ thể con người. Cái quyết định táo bạo, bất ngờ này, lại trở thành quyết định tuyệt vời của thần”.
Đây chính là hình ảnh con người trong thơ Mai Trung Tĩnh. Con người nồng nàn yêu thương cuộc sống, khao khát trông tìm ánh sáng hạnh phúc và chân lý nhưng bị giam cứng trong ngôi nhà ngục hoang mang vì lạc hướng. Những ai có dịp đọc thơ Mai Trung Tĩnh, từ những bài thơ đầu tiên ông cho đăng báo, cho đến những tuyển tập riêng của ông sau này, đều có thể nhận ra điều này: Mai Trung Tĩnh luôn chung thủy với thế giới thơ mà ông đã khởi sự, đó là cuộc truy tầm ý nghĩa của cuộc sống.
Ông muốn định nghĩa lại tất cả sự vật, định nghĩa lại tình yêu, hạnh phúc và hiện sinh của chính mình nữa. Ông muốn đào xới, sắp sếp lại mọi thứ.
Trong bài thơ Khi Chiều Trở Mặt Mai Trung Tĩnh viết:
“Tôi sống như người lạ mặt thiên hạ muốn tìm mà chẳng gặp. Hoặc có tình cờ nhận ra rồi lại sẽ quên ngay. Tôi vẫn còn nguyên khối âm u tự lấy đà đưa đẩy lưu hành cho hết cuộc. Tôi trang bị tôi bằng hơi thở nhịp nhàng cùng những con trùng tư tưởng ngoi ngóp trong trí não. Tôi nhìn những vết tích của hồn tôi để lại như hàng hàng tự thú cuộc thảm bại não nề. Định mệnh thét gào khi vắng lặng, và trĩu trên vai tôi kẻ chủ mưu trườn mình né tránh. Tôi thản nhiên giả đò làm đứa vô can, mặc cho tiếng đập vang mỗi lúc củaquan tòa”.
Nguyễn Xuân Hoàng cho rằng, Mai Trung Tĩnh không phải là người mềm yếu, ông chỉ là một người lãng mạn. Chúng ta cũng có thể nói thêm: Mai Trung Tĩnh là một thi sĩ, và, ở đâu nhìn thấy thơ, ông cũng cùng một lúc nhìn thấy những triết lý lẩn khuất, như ý nghĩa thứ hai của mọi sự vật.
Bài thơ Như Thế có thể coi như điển hình cho thơ của Mai Trung Tĩnh hình như đằng sau mỗi nỗi buồn còn ẩn dấu một nụ cười:
Không biết Mai Thảo bắt đầu viết văn từ bao giờ. Nhưng ông chỉthực sự nổi tiếng tại miền Nam, sau hiệp định Genève, 1954. Đóng góp của ông vào văn học Việt Nam được coi là rất quan trọng, và ngay từ tác phẩm đầu tay: Đêm Giã Từ Hà Nội.
Hà Nội 1954 đối với những người rời xa Hà Nội vào Nam là một Hà Nội bỏ lại. Chia tay với Hà Nội, cùng một lúc người ta cũng chia tay với một quá khứ. Một số văn nghệ sĩ đã nổi danh từ trước khi rời Hà Nội, một số khởi nghiệp vào đúng cái thời điểm đau thương đó, một số khác vừa lớn lên, bắt đầu công việc sáng tác, đã cùng với các văn nghệ sĩ miền Nam, tất cả, hợp sức tạo nên nền văn học nghệ thuật mới tại miền Nam. Mai Thảo đã đứng ra chủ trương tạp chí Sáng Tạo, theo nhận định của Võ Phiến “Trong Tổng Quan Văn Học Miền Nam” thì, “tuy chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn 31 tháng, nó đã phát huy được một số văn tài đông đảo”. Sau Sáng Tạo, Mai Thảo còn có lúc làm chủ biên cho các tạp chí Văn và tuần báo Nghệ Thuật. Riêng phần sáng tác, sau tập truyện ngắn đầu tay Đêm Giã Từ Hà Nội như một lên đường đầy mới lạ vào văn chương, ông đã liên tục cho ra đời gần 50 tác phẩm. Công trình sáng tác hết sức phong phú và nhiều mặt ấy gồm có 10 tập truyện ngắn, 2 tập tùy bút và 33 truyện dài, trong đó những cuốn được người đọc yêu thích nhất và được tái bản nhiều lần là “Sống Chỉ Một Lần, Mười Đêm Ngà Ngọc, Để Tưởng Nhớ Mùi Hương”.
Nói là giã từ Hà Nội, chia tay với quá khứ, nhưng đọc Mai Thảo, người ta sẽ nhận ra, cuộc rũ bỏ ấy ông đã làm suốt đời không xong.
Và, đó cũng chính là nguyên cớ để ông “đổ ra một biển chữ nghĩa”. Không nói thì thôi, hễ nói đến bất cứ điều gì Mai Thảo cũng có cách nói riêng của ông, và luôn luôn ào ào chữ nghĩa. Chỉ phát biểu một chút về thơ Bùi Giáng
chẳng hạn, ông viết: “Ngôn ngữ và tư duy Bùi Giáng hiển lộng tới không bến không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng ông cũng vậy. Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa. Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương”.
Vì thế, đọc Mai Thảo, không phải là đọc những gì ông viết mà là đọc cái cách ông viết ra những gì ông đã viết. Một căn nhà vùng nước mặn. Một chuyến tàu trên song Hồng. Một bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời. Đó không phải là những cái truyện, những tên truyện. Đó là mảnh vỡ của cuộc đời, long lanh hạnh phúc, ràn rụa nước mắt. Không kể lại được. Phải đọc từng dòng, từng chữ của Mai Thảo, để thấy ông nghĩ, ông viết thế nào về những truyện đó, chứ không phải những gì chất chứa trong những truyện đó.
“Thời gian nghiêng đi, mỗi thước vuông không khí là một phiến ngực trần chói lọi thở, gió và nắng chan hòa lẫn lẫn, niềm kiêu vạm vỡ cuối cùng của tạo vật”, đó là cách viết, cách nhìn, cách dùng chữ của Mai Thảo. Chỉ cần đọc một câu thôi, người ta có thể nhận ra ông ngay. Cầu kỳ quá chăng? Có thể như vậy. Nhưng đó là văn Mai Thảo. Và với cách viết ấy, nhiều đoạn văn của ông đạt tới vẻ đẹp chưamột nhà văn nào của chúng ta đạt tới:
“Tôi muốn bảo Luân: anh sót thương em những đêm dài trong núi, dưới mái nhà sàn cơ quan, trên những con đường hầm hố vết thương, những xóm làng hủy phá, trên những thềm nhà cỏ hoang phủ kín, trên những vì tường đổ gục, trên những thân cây chặt đứt, qua những chân cầu đổ nghiêng,trong hầm trú ẩn máy bay. Tôi muốn bảo Luân, anh sót thương em đêm giã từ Hà Nội ra đi nhìn về Hà Nội cái rừng lửa cháy, buổi chiều đứng trên con đê Hồng Hà, buổi trưa về thăm lại Hưng Yên. Buổi ra đi bãi ấy còn xanh biếc ngô non, buổi về chỉ thấy mênh mông phù sa kín nhòa bãi cũ. Tôi muốn bảo Luân, anh sót thương em trên những đầu ngón chân anh đi, cái hình ảnh xót thương lăn theo sỏi đá dọc đường, nằm trên từng cột câysố, từng nền lũy tre xanh, chảy theo mặt nước lúc xuống đò qua sông, khuân theo lòng đường lúc xuống đò lên bộ, từng buổi sớm xuống suối rửa mặt, cái hình ảnh sót thương trong veo trên nền sỏi trắng, từng buổi chiều không biết đi đâu, cái hình ảnh xót thương bát ngát đầy chiều.
Tôi muốn bảo Luân, anh nhớ em trong tiếng súng ban đêm, những vệt lửa dài cháy vào bóng tối, lúc bỏ núi sau lưng cái hình ảnh xót thương còn mang hình trái núi, lúc xuống đồng bằng trước mặt cái hình ảnh xót thương đã mang hình những ngọn lửa dài, lúc anh muốn chết, lúc anh muốn sống, lúc tuyệt vọng tối đen vực thẳm, khi tin yêu sáng chói mặt trời, lúc nhìn xa cái hình ảnh lớn theo ngút mắt, lúc tưởng gần cái hình ảnh thu cũng nhỏ vào một góc trái tim như một tấm hình kỷ niệm”.
Các câu chữ ấy là điển hình cho những dòng văn Mai Thảo. Đỏm dáng. Kiểu cách. Nhưng nó cũng chính là con người ông. Như cách ông ăn mặc, uống rượu, nói chuyện, vuốt tóc, đốt thuốc. Vừa kiểu cách vừa xóa bỏ kiểu cách. Không ai quen biết ông mà không một lần nhận được ở ông một chút tình cảm đặc biệt dành riêng cho mình, bằng lời nói, bằng cách ông đối xử. Nhưng đừng nhận là người than của ông. Hãy để ông làm điều đó. Ông rất thành thật. Không kiểu cách. Người ta sẽ nhận ra như thế khi gặp lại ông đôi ba lần, và, cả khi đọc lại ông đôi ba lần.
Những năm cuối đời Mai Thảo đã làm ngạc nhiên tất cả những người đọc ông khi ông cho xuất bản tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền. Tập thơ dường như đã đóng đúng vai trò của nó: đúc kết cái hồn thơ Mai Thảo đã dàn trải trong suốt một đời văn của ông.
Sau đây là vài bài thơ trích trong tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền.
Không Tiếng
Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy
Có Lúc
Có lúc nghĩ điều này điều nọ
Cảm thấy hồn như một biển đầy
Có khi đếch nghĩ điều chi hết
Hệt kẻ ngu đần cũng rất hay
Mấy câu thơ được khắc trên mộ chí của ông:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi
Đọc báo, nghe đài, thấy nhắc tới ngày giỗ Mai Thảo trong tháng giêng này.
Bây giờ nói tới tháng giêng, người ta thường liên tưởng tới tên một tác phẩm của ông: Tháng Giêng Cỏ Non. Có một cái gì đó mượt mà, hứa hẹn, chỉ riêng trong cái tên gọi ấy.
Đó cũng là cảm tưởng chung vào những năm đầu tiên người ta đọc Mai Thảo, rõ hơn, người ta đọc văn ông. Một biển chữ trùng trùng, điệp điệp.
Ông mất như thế đã được mấy năm? Nghe những người quen biết nhắc đến ông, người ta có cảm tưởng như Mai Thảo vẫn còn quanh quất đâu đây. Căn
phòng ông đã ở, cầu thang, ánh điện, bàn ghế, góc quán, cái dáng cao gầy lênh khênh đã khom xuống vì bệnh tật, tuổi tác.
Người ta nhớ đến ông như một người uống ruợu không cần ăn. Ngấm rượu rồi ông đọc thơ cho nghe. Thơ Tây, thơ Tầu, thơ Việt Nam. Trong ông là một kho tàng thơ vô tận. Cuộc rượu từ chập tối tới nửa khuya về sáng, ông có thể nói suốt về thơ của tác giả này, tác giả nọ, với những lời phẩm bình rất riêng tư, rất Mai Thảo. Nhất là khi ông nói về những người làm thơ ông quen biết và thơ của họ. Nghe Mai Thảo nói về thơ mới biết ông yêu thơ thế nào và thơ đáng yêu thế nào. Ông truyền cái tình yêu thơ ấy cho người nghe ông một cách dễ dàng. Người ta cũng cho rằng, hơi say một chút Mai Thảo trở nên dễ thương gấp đôi, và, cũng có thể trở thành khó chịu gấp đôi. Tất cả tùy thuộc vào những điều ông nói và các đối tượng. Ưng, người ta thấy ông là người thẳng thắn. Ghét, người ta coi là ông trịch thượng. Những dòng viết ở bìa sau tập thơ Ta thấy hình ta những miếu đền, có thể coi như tóm tắt gần đầy đủ hành trình một đời văn của ông, đồng thời giải thích vì sao, cuối đời ông lại làm thơ, hay nói cách khác, giải thích sự hiện hữu tác phẩm sau cùng, cũng là tập thơ duy nhất này của ông:
“Sau tập truyện ngắn đầu tay Đêm Giã Từ Hà Nội như một lên đường đầy mới lạ vào văn chương, nhà văn Mai Thảo, chủ nhiệm Tạp Chí Sáng Tạo, tuần báo Nghệ Thuật và tạp chí Văn đã bảy năm tục bản ở Hoa Kỳ, đã có 45 tác phẩm được in ra. Công trình sáng tác hết sức phong phú và nhiều mặt ấy gồm có 10 tập truyện ngắn, 2 tập tùy bút và 33 truyện dài, trong đó những cuốn được nhiều người đọc yêu thích nhất và được tái bản nhiều lần là Sống Chỉ Một Lần, Mười Đêm Ngà Ngọc, Để Tưởng Nhớ Mùi Hương …
Điều bất ngờ: mặc dầu chất thơ, hồn thơ đã thấp thoáng cùng khắp trong văn truyện của ông, văn xuôi ông là một văn xuôi thơ, người thi sĩ ở Mai Thảo thời gian gần đây và trên một bàn viết lữ thứ, mới đích thực tỏ hiện. Với ‘Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền. Có như thơ với ông, trọn đời như
một tình yêu kín thầm, tới cuối đời mới chịu phơi bầy ra ánh sáng. Có như thơ với ông là một khởi hành khác. Cho một cách thế rung động khác. Khác và sau. Có như, cuối cùng ông thấy thơ, chỉ thơ, mới là ngôn ngữ, là tiếng nói tận cùng và chung quyết của văn chương”.
Mai Thảo nói những gì trong thơ của mình?
Ông nói về những “bờ cõi khởi đầu”, về “cục đất”, về “ý thức”.
Vượt hết chiều rộng, vượt hết chiều cao, qua hết chiều sâu là cõi không, và đối với Mai Thảo: “Cõi không là thơ. Không còn gì nữa hết là thơ. Nơi không còn gì nữa hết là khởi đầu thơ. Một xóa bỏ tận cùng. Từ xóa bỏ chính nó. Tôi xóa bỏ xong tôi. Không còn gì nữa hết. Tôi thơ.”
Trong bài “Cục đất” ông viết:
Biển một đường khơi xa thẳm xa
Núi vươn trượng trượng tới mây nhòa
Thì treo cục đất toòng teng giữa
Cho cái vô cùng vẫn nở hoa”.
Bài “Ý thức” của Mai Thảo gồm 6 câu:
Sáng sáng chiều chiều óng ánh siêng năng
Như đóa vệ tinh nghìn ngày trái đất
Bay hết mặt trăng bay hết mặt trời
Đêm hoang đường nghiêng
sáng lòa sự thật
Cơn mộng dữ còn uy nghi khuôn mặt”.
Cũng chỉ là những điều người ta thường nghĩ tới, nói tới. Nhưng Mai Thảo nghĩ theo cách nghĩ của ông, và nói về những điều ấy theo cách nói của ông. Tập thơ không dày lắm, các bài thơ không bài nào dài lắm. Rất nhiều bài lại chỉ có 4 câu. Gọi theo lối gọi cũ là nhũng bài tứ tuyệt. Những bài ông nói về lịch sử, về đất nước, về bạn bè, cuộc lữ thứ, tha phương … đều nhuốm một chút gì đó bi thống, hơi khó đọc.
Những bài ông nói về chính mình thoải mái và dễ đọc hơn. Trong thi ca của chúng ta chưa có nhà thơ nào nói về nỗi cô đơn của người đàn ông trong cái tuổi xế chiều buồn và đẹp đến thế:
Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy
[Không tiếng, tr. 12]
Đi vắng từ xa trở lại nhà
Bộ đồ cũ mặc ấm trà pha
Tựa lưng vào vách tường thân thuộc
Trong cõi riêng buồn thấy lại ta
[Bộ đồ cũ mặc tr. 119]
Cái cô quạnh đẩy đến cùng thành các cuộc chuyện trò với bệnh:
Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Dỗ nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho
Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vàng
[Dỗ bệnh, tr. 46]
Trong cả tập thơ của Mai Thảo chỉ có một bài có thể gọi là thơ tình. Ông sống độc thân. Nên hình như tình chỉ để lại trong ông cái bóng áng u ám của nó chứ không phải một vết thương:
Em đi vừa khuất trên đầu phố
Anh đuổi theo sau bóng đã nhòa
Đứng sững. Mới hay lìa cách đã
Sơn cùng thủy tận giữa đôi ta
[Thủy tận, tr. 73]
Người đọc có cảm tưởng những bài thơ Mai Thảo nói về đàn bà hay hơn thơ tình của ông:
Tường. Ở bên kia có một nàng
Cỏ nằm phơi nắng chẳng che thân
Tường bên này có tên nhìn trộm
Hai cỏ cùng hai vũng mắt đằm
[Hai cỏ, tr. 12]
Đặt tay vào chỗ không thể đặt
Thế mà đặt được chẳng làm sao
Mười năm gặp lại trên hè phố
Cười tủm còn thương chỗ đặt nào
[Chỗ đặt, tr. 99]
Nhưng những bài thơ hay nhất của Mai Thảo vẫn là những bài ông nói về chính mình, những lúc cô quạnh nghĩ, cái tình của ông đối với bạn, nó bàng bạc nhưng nó là nỗi đau cùng khắp, lúc nhớ, lúc quên, lúc xa, lúc gần.
Thế giới thơ của Mai Thảo là thế giới người ta không nhập vào được. Đó là thế giới của riêng ông. Người ta có thể buồn cái buồn của ông nhưng không chia sẻ với ông được. Hệt như ông sống thân thiện với mọi người, nhưng ở
Qua khỏi đoạn đường đất rợp bóng tre, là con đường rải nhựa. Đứng ở ngã ba, chú Tâm chỉ về phía xa, nơi con đường như một gạch thẳng chạy suốt qua các đồng lúa hai bên:
– Đường này về đâu, cháu?
Lan đáp:
– Về chợ Bao Vinh.
– Thế à? Chú chưa hề biết con đường này.
Lan ngước mắt nhìn lên:
– Chú sinh trưởng ở đây mà.
– Ờ, nhưng chú ở phố. Ngay ở phố, nhiều con đường chú cũng chưa hề đi bao giờ.
– Cháu cũng tệ lắm. Chỉ biết đường đến trường, đường về chợ và vài đường đi về nhà o, nhà dì. Cháu hiếm khi đi đâu xa.
– Cháu có xe đạp mà?
– Dạ, nhưng mẹ cháu không cho đi nhiều.
Giọng Lan có vẻ buồn. Chú Tâm hơi nghiêng đầu, cúi xuống nhìn Lan. Lan quay đi, nhìn phía xa. Chú Tâm hỏi:
– Chú cháu mình đi uống cà phê nhé.
Lan lắc đầu:
– Không, cháu không biết uống cà phê.
– Thì cháu uống nước, còn chú uống cà phê vậy.
– Nhưng…nhưng mẹ cháu không chịu đâu. Mẹ cháu nói con gái đừng có đi vào quán nước. Như thế là không đứng đắn.
– Ừ. Thì thôi. Chú cháu mình đi dạo vậy.
Hai người đi qua đoạn đường hẹp, đầy ổ gà. Hai bên đường không có ruộng lúa như phần đường bên kia ngã ba. Chỉ có những ao, hồ, cỏ dại và những loại cây chẳng ai biết đến. Xế chiều, nắng vàng rực. Khói lam. Màu hoàng hôn thấp thoáng. Lan bước đi bên chú Tâm, ngập ngừng, lấn cấn. Lan đi bộ trên con đường này nhiều lần, nhưng không hề đi dạo như thế này. Lại chẳng bao giờ đi với một người đàn ông. Chú Tâm cao, Lan thấp. Giọng chú ngọt và ấm. Cách nói của chú cũng khác thường, đôi khi hơi lạ và khó hiểu. Đàn ông hiềm khi tốt lắm, mẹ nhiều lần bảo Lan thế. Phải luôn luôn dè chừng với đàn ông. Chú Tâm đàn ông, nhưng là bạn của mẹ. Vậy thì hề gì, Lan nghĩ.
– Cháu nghĩ gì thế? Giọng chú Tâm nghe dịu dàng.
– Không, không có gì cả. Cháu không biết nghĩ.
Chú Tâm cười:
– Muời sáu, mười bảy tuổi mà không biết nghĩ. Vậy là biết mơ.
– Không, mơ cũng không.
– Không mơ thì cháu sống bằng gì nào?
– Cơm, cá và mẹ.
Chú Tâm cười ha hả, bàn tay chợt bóp nhẹ vai Lan. Lan né người tránh, hơi khó chịu. Chú Tâm nói:
– Cháu làm như cháu mới có ba, bốn tuổi không bằng.
Lan nhìn lên:
– Vậy thì phải sống bằng gì bây giờ?
– Ước mơ. Tuổi của cháu là tuổi ước mơ. Thiếu ước mơ, cuộc đời vô nghĩa lắm. Tuổi chú là tuổi mọi giấc mơ đều tan tành, nhưng chú vẫn mơ.
Lan bâng khuâng:
– Ừ, hình như cháu cũng có ước mơ, nhưng không rõ ước mơ gì. Còn chú, chú mơ gì mà tan tành dữ vậy?
– Nhiều, nhiều lắm. Có lẽ vì tuổi trẻ của chú rộng đường hơn tuổi trẻ của cháu. Thời của chú vui hơn.
– Nhưng tại sao lại tan tành?
– Thì vui thời kỳ đầu lúc còn trẻ, nhưng sau đó thì chiến tranh, loạn lạc, thay ngôi đổi chủ, tù đày, chia ly…
– Chú cũng là “ngụy” chứ gì?
– Ờ, thì đương nhiên là “ngụy” rồi. Thì cháu cũng “ngụy” mà!
Lan cười:
– Cháu là con bác Hồ. Hồi nhỏ cháu vẫn hát “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ” mà chẳng bao giờ gặp cả.
Chú Tâm cười theo:
– Cháu nên chớ mơ thì khác với ước mơ nhé. Cháu nằm mơ thấy bác Hồ, còn ngày xưa chú mơ trở thành bác Hồ.
– Làm bác Hồ thì có gì vui mà chú mơ?
– Mơ thành bác Hồ cũng như mơ thành vua vậy thôi.
Lan lại cười:
– Hèn gì mà đời chú chẳng tan tành. Mẹ cháu dặn đừng có mơ mộng bậy bạ. Mơ nhiều, khổ nhiều. Mẹ khổ vì hồi xưa mẹ hay mơ.
Chú Tâm chợt dừng lại, nhìn Lan. Chú đưa bàn tay ra như muốn nắm tay Lan. Nhưng rồi chú rút tay lại. Chú nói:
– Mẹ cháu hơi khắc khe đấy nhé. Mơ nhiều thì khổ, nhưng khổ nhiều không phải vì mơ đâu. Mà lại, làm sao cấm cháu mơ được. Chú biết cháu có mơ đấy, mơ nhiều, nhiều hơn chú và mẹ hồi xưa nữa. Càng khó, càng mơ, càng cấm càng mơ.
Lan im lặng ngẫm nghĩ rồi nói:
– Ừ, để cháu nhớ thử xem.
Hai người đã đi hết đoạn đường từ ngã ba đến bến xe. Chú Tâm hỏi:
– Chú cháu mình qua cầu rồi rẽ lên phố chơi.
– Đi bộ lên phố à?
– Thế cháu muốn đi xe lam?
– Không, mình trở lại đi chú. Mẹ cháu không thích như thế đâu.
– Đi chơi với chú thì có sao đâu mà sợ mẹ.
– Không được. Chú là đàn ông.
Chú Tâm cười:
– Đàn ông thì đã sao. Chú là chú mà. Chú là bạn của mẹ, chứ có phải là bạn của cháu đâu.
Lan quay bước
– Trở lại đi chú.
– Ơ, kỳ thật cái cô bé này!
Nói thế nhưng chú Tâm cũng quay lại. Chú định cầm tay Lan, nhưng Lan tránh. Bàn tay chú chạm nhẹ trên cánh tay cô. Cô rùng mình.
Nắng tắt. Cả vùng ngoại ô lặng xuống. Cây cối như kết vào nhau thành từng chòm, rải rác. Hai người im lặng bước đi. Lan cố đi chậm lại đàng sau. Tự nhiên, cô cảm thấy bối rối. Chú Tâm bước, dáng cao lớn, chênh vênh như muốn ngã về phía trước. Lan có cảm giác như cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú. Chú, đàn ông trông vững, lớn và đáng tin cậy. Khác với mẹ. Mẹ bao dung, chu đáo, nhưng có cái gì không ổn. Bao giờ mẹ cũng thu vén, tém tủm, tránh trút. Mẹ ngăn, mẹ chặn. Trước và sau. Mẹ sợ mọi thứ. Mẹ đúng, dĩ nhiên. Nhưng Lan buồn.
Chú Tâm dừng lại, dịu dàng:
– Cháu không muốn đi nữa hay cháu sợ mẹ?
– Không, cháu không thích đi xa.
Chú Tâm chép miệng:
– Vậy thì chúng ta về.
Lan dừng lại. Đột nhiên cô chưa muốn về.
– Trời nóng quá, Lan than.
Chú Tâm đề nghị:
– Hay chú cháu mình đi dọc theo cánh đồng bên kia nhé. Cảnh hoàng hôn trên đồng ruộng đẹp quá. Còn sớm mà. Giờ này mẹ đi dạy về chưa?
– Rồi. Giờ này mẹ đang nấu cơm.
Hai người lại bước tiếp về phía cánh đồng. Lúa, gió và mùi thơm. Chú Tâm nói:
– Hôm trước, khi tìm về nhà cháu, chú đi lạc tận đoạn đường này.
– Chú xa Huế bao lâu rồi mà trông bộ quên hết thế.
Chú Tâm bước chậm lại chờ Lan.
– Xa lâu lắm. Hơn nửa cuộc đời chú. Thôi học, lang thang ở Sài Gòn, đi lính, lấy vợ tận Vĩnh Long, rồi ở tù.
Lan cười:
– Một nửa cuộc đời mà sao nghe chú nói gọn gàng thế. Nghe như mấy lần chú kể chuyện đi uống cà phê.
– Cuộc đời nào rồi thì cũng gọn thế thôi. Chỉ có những suy nghĩ của mình là rắc rối. Chú nghiệm, cái gì chưa tới thì tuế toái, phiền phức, còn cái gì qua rồi thì bao giờ cũng lớp lang, thứ tự y như có ai đó đã sắp xếp trước cho mình vậy.
Lan không hiểu lắm, nhưng cố lắng nghe. Lan hỏi:
– Ý chú muốn nói cái số…
– Ừ, cái số… không hẳn thế, ý chú muốn nói khác một chút. Cuộc sống nó đơn giản…
– Mẹ cháu hay nói cái số. Với lại, lúc nào mẹ cháu cũng nói “nếu mà”, “nếu mà”…Nếu mà hồi đó, mẹ đừng làm cái này hoặc mẹ làm cái kia chẳng hạn, thì bây giờ thế này thế nọ. Riết, cứ thấy mẹ quanh quẩn với cái hồi đó. Hồi đó, có chú, có ba…
– Cái “hồi đó” nào cũng giống nhau thôi. Hồi đó, mẹ cháu cũng như cháu, muời bảy mười tám, mơ mộng, yêu đời và yêu chú.
– Cháu biết, mẹ cháu thương chú nhất. Mẹ viết trong nhật ký. Nhưng chú không yêu mẹ, chú bỏ đi. Mẹ nói chú bạc tình.
Lan có cảm giác như chú Tâm thở dài. Chú nói:
– Cứ xem như thế đi. Hoặc chú hoặc mẹ cháu, có một kẻ bạc tình.
– Bạc tình. Cái chữ nghe thấy sợ. Theo cháu, chú lấy vợ, mẹ lấy chồng, thế là xong, đâu có chuyện gì nữa.
– Cháu nói như trong cải lương, chú Tâm cười.
Chú Tâm thọc hai tay vào túi quần. Lan vòng tay trước mặt, đi ngang hàng. Tự dưng, cô thấy chú Tâm gần gũi hơn một chút. Và cảm thấy thú. Đi dạo bên cạnh một người đàn ông, Lan có nhiều cảm giác hơn đi với mẹ hay với các bạn gái. Một đôi khi, trên đường đi học về, có vài ba đứa con trai rà xe theo hỏi han lẩm cẩm, Lan thấy sợ, nhưng cũng thích. Không có ai theo, cũng trông. Nhưng nghĩ đến cái chuyện có một người yêu hay một người bạn trai, cô sợ. Cô không hình dung nỗi cái loại quan hệ ghê gớm đó.
Chú Tâm đi sát bên Lan. Lan hỏi:
– Vợ con chú đâu?
– Bỏ chú hết, từ khi chú còn ở trong trại cải tạo.
Lan kêu lên:
– Đến thế lận à!
– Ừ, đang ở tù mà được ra tòa hai lần để ly dị
– Vợ chú đòi ly dị à?
– Chả lẽ chú đòi? Chú đang ở trong tù mà!
– Vợ chú thương ai khác sao?
– Ừ, tay tài xế lái xe cũ của chú.
– Trời, ghê gớm thế!
– Cũng không ghê gớm lắm đâu. Mọi chuyện đều có lớp lang cả.
– Chú có buồn không?
– Quen rồi cháu à. Buồn không nuôi mình sống được.
Lan thở dài:
– Thế mà mẹ cháu lại sống bằng nỗi buồn, mới lạ. Đôi khi cháu tưởng là nếu không buồn, mẹ cháu không sống được.
Giọng chú Tâm bỗng nghe xa vắng:
– Cũng nên thông cảm cho mẹ cháu. Không phải mẹ cháu sống bằng nỗi buồn đâu, mà bằng kỷ niệm đấy.
– Chẳng hề thấy có bóng ba cháu trong kỷ niệm của mẹ. Nên cháu biết về ba cháu rất lờ mờ. Hình như ông bị máy bay cán chết.
– Ba cháu bị cánh quạt máy bay trực thăng, à quên, máy bay lên thẳng, đụng phải khi đi hành quân.
– Khiếp thật! Lan la lên.
Lan cảm thấy lành lạnh. Gió bây giờ lồng lộng. Cô đi sát thêm vào chú Tâm. Chú Tâm chợt ôm vai cô. Cô để yên
– Gió quá chú ơi.
– Cháu lạnh à? Tội nghiệp cháu, mất ba sớm.
– Không phải đâu. Tuy không có ba nhưng mẹ cháu lo cho cháu đầy đủ lắm. Mẹ đi dạy, mẹ đi buôn, mẹ làm vườn. Có điều…
– Sao?
– Mẹ khó…
Chú Tâm an ủi:
– Không phải mẹ cháu khó đâu. Mẹ cháu thương cháu đấy.
– Mẹ thương, nhưng mẹ không hiểu cháu.
– Mẹ cháu hiểu cháu, chú biết mà.
Lan đẩy nhẹ chú Tâm ra.
– Không. Mẹ chỉ biết có mẹ thôi.
Lan cắn môi. Cô muốn khóc. Trời sẫm. Đường vắng. Cô bỗng muốn ngã vào lòng chú Tâm. Nhưng cô giật mình, nhẹ gỡ bàn tay thô nhám của chú Tâm vừa đặt lên bàn tay nhỏ nhắn của cô. Mùi áo quần từ nơi chú Tâm tỏa ra khiến cô ngây ngấy. Cái mùi lạ hoắc! Thơm không thơm, hôi không hôi, lại nồng nồng. Cô bồn chồn, lạc dạ, quay mặt đi chỗ khác.
Chú Tâm nhìn cô, ôn tồn:
– Chú có con, chú biết. Cha mẹ bao giờ cũng muốn cho con mình luôn luôn sống hạnh phúc.
Giọng Lan nghe tỉnh khô:
– Cháu không hạnh phúc.
– Mà cháu muốn gì nào?
– Ước mơ, như chú nói.
– Có ai cấm cháu ước mơ.
– Có. Mẹ cháu.
– Cháu nói không đúng đâu.
– Đúng. Ước mơ là ở trong đầu mình.Mình thích thì ước mơ, mẹ cháu làm sao cấm.
Lan ngẩng mặt lên:
– Chẳng lẽ cứ ước mơ rồi để luôn trong đầu ngày này qua tháng khác hay sao!
– Vậy cháu muốn mơ thành thực hay sao? Sự thực buồn lắm cháu.
– Buồn cũng được. Đau cũng được. Cứ nghe người ta nói cuộc đời này nọ, đỏ đỏ xanh xanh vàng vàng mà rồi y như chuyện cổ tích, kể xong rồi hết. Cháu không ham làm công chúa, cháu chỉ muốn có cái gì mà cắn một miếng, nhai một miếng. Còn không thì cầm trong tay một chút thử xem sao.
Chú Tâm đưa cánh tay ra. Trong một cử chỉ đột ngột, Lan không ngần ngại gì, ôm cánh tay chú Tâm, cắn một miếng. Chú Tâm kêu “ái” một tiếng, rút tay lại. Lan buông ra, giọng lắp bắp:
– Cháu…cháu…xin lỗi chú. Cháu định thử…thử nhẹ thôi.
Chú Tâm im lặng, nhìn Lan lạ lẫm. Lan nhìn vào mắt chú:
– Chú tha lỗi cho cháu.
Chú Tâm không nói gì. Bóng hoàng hôn làm khuôn mặt chú sẫm lại. Lan không rõ là chú có giận hay không. Một lát, chú nói, giọng như nhỏ hơn bình thường:
– Trời tối rồi, thôi ta về, cháu.
Lan lẵng lặng đi, người bần thần. Cô kéo cổ áo lại, che ngực. Thấy chú Tâm yên lặng bước, cô hỏi:
– Chú giận cháu đấy à?
– Không đâu.
– Chú không giận, nhưng trông bộ chú chẳng hiểu cháu tí nào, phải không?
Chú Tâm có vẻ lúng túng:
– Ờ, chú không hiểu. Mà chắc có hiểu, nhưng …để chú suy nghĩ đã.
Lan thấp giọng:
– Mà…cháu cũng chẳng hiểu cháu nữa.
Chú Tâm bước nhanh hơn. Lan hỏi:
– Chú đói bụng à?
– Không, nhưng về thôi cả mẹ cháu đợi.
Lan cười:
– Thế là đến phiên chú sợ mẹ cháu.
Chú Tâm im lặng bước. Bóng tốì nhòe nhòe trên dáng chú. Lan thay đổi đề tài:
– Từ ngày có chú về, mẹ cháu thay đổi hẳn.
Đang suy nghĩ gì đó, chợt nghe Lan nói thế, chú quay lại:
– Cháu nói…mẹ cháu sao?
– Cháu nói mẹ cháu thay đổi hẳn khi có chú về. Hẳn mẹ cháu còn thương chú lắm. Như ngày xưa vậy.
Lan tránh không dùng chữ “yêu”. Chú Tâm nói:
– Chú cũng thấy thường thường vậy thôi. Cái gì cũng muộn màng cả rồi.
Lan nói tiếp ý nghĩ của mình:
– Mẹ cháu độ rày chịu khó ăn mặt hơn, tiêu tiền nhiều hơn. Thỉnh thoảng cháu còn nghe mẹ cháu hát nữa. Trước đây, cứ nhìn mẹ cháu là cháu thấy rầu. Khuôn mặt khi nào cũng như đưa đám, hiếm khi cười.
– Tội nghiệp mẹ cháu. Mẹ cháu đôn hậu quá, chân chính quá, nên khổ.
– Mẹ cháu nói mẹ cháu khổ vì mơ mộng. Theo cháu, mẹ khổ vì mẹ thích khổ, thế thôi.
Chú Tâm cười:
– Ai lại thích khổ bao giờ.
– Thương chú, mẹ khổ. Lấy ba, mẹ khổ. Ba mất, mẹ cũng khổ. Có con, mẹ khổ. Con lớn, mẹ cũng khổ. Nhìn đâu mẹ cũng thấy khổ. Chẳng rõ, chú về đây, mẹ vui được bao nhiêu hôm rồi chưa chừng cũng lại thấy khổ. Mai kia mốt nọ, chú ra đi rồi, mẹ lại khổ thêm.
Chú Tâm nhìn chăm Lan:
– Mẹ cháu nói là cháu còn dại lắm. Dại như cháu còn bằng mười cái khôn.
Lan thở dài:
– Mẹ chỉ biết có mẹ thôi.
Ngưng một lát, cô tiếp:
– Gió chiều hôm lạnh quá, chú há! Chú đi về phía này che bớt gió cho cháu.
Hai người đi vào đoạn đường làng. Trời tối hẳn. Những khóm tre tù mù. Thỉnh thoảng Lan cố đi thật sát vào người chú Tâm, nhưng chú né người, tránh đụng vào cô. Leo lên con dốc đá trước khi vào đầu ngõ, Lan vấp khúc cây, té xuống. Cô vớ được cánh tay chú Tâm, vịn đứng lên, miệng xuýt xoa. Chú Tâm đỡ Lan dậy, cuống quít:
– Trời, có sao không cháu?
Lan không nói gì, bóp tay chú Tâm một cái rõ mạnh, rồi buông ra,giọng run run:
– Không sao chú. Trời tối, cháu không thấy đường. Mà lại, chú đi nhanh quá.
*
Khi hai người bước vào sân nhà, thì đã thấy mẹ Lan đứng ở đó, dáng vẻ bồn chồn. Lan không nhìn rõ khuôn mặt mẹ như thế nào, nhưng cô nghe giọng mẹ lạnh buốt:
– Các người sung sướng quá thể!
Mẹ quay ngoắt đi. Bóng mẹ nhập nhòa biến mất sau cánh cửa nhà bếp. Chú Tâm khựng lại, đứng bất động trong sân, hai tay vẫn đút túi quần. Lan bước vội vào nhà, tìm mẹ, nhưng không thấy mẹ đâu. Hỏi bà ngoại, bà ngoại không biết.
Bữa cơm dọn ra buồn tẻ. Bà ngoại mời:
– Cháu Tâm vào ăn cơm kẻo nguội.
Chú Tâm miễn cưỡng ngồi vào bàn ăn.
– Lan, mời mẹ ra ăn.
Lan vào giường, thấy mẹ về tự hồi nào, nằm yên lặng trên giường. Lan nói:
– Mẹ ra ăn cơm. Ngoại với chú Tâm đang đợi..
Mẹ nói, như một nhát dao cứa vào tay Lan, ứa máu:
– Không mắc mớ gì đến tôi mà mời. Các người cứ ăn đi.
Lan trở ra. Bàn ăn ba người lạnh lùng. Lan nhai cơm nghe đắng. Chú Tâm vân vê cọng rau muống luộc, không buồn chấm nước mắm. Bà ngoại thủng thẳng mút xương cá vụn. Ngọn đèn điện mờ, ánh sáng bị chận lại sau nhiều dãy cột đen bóng, không tỏa được khắp. Lan nhớ đến những bữa ăn chiều thường lệ trước khi chú Tâm đến. Cũng im lặng, nhưng không đến nỗi lạnh lẽo như thế này. Bây giờ, không có mẹ, nhưng bóng mẹ trùm lên cả bữa ăn. Món ăn nào cũng lạnh buốt như giọng mẹ.
Bà ngoại lên tiếng:
– Cháu với Lan đi chơi nhưng nơi nào?
Chú Tâm đặt đôi đũa xuống:
– Dạ, cháu dẫn Lan đi dạo loanh quanh ngoài con đường ruộng. Ở nhà nóng quá.
Bà ngoại nói như giải thích giùm cho mẹ:
– Mẹ cháu không rõ chú cháu đi đâu mà lâu về, mẹ cháu sợ có chuyện gì không hay. Thường thì Lan chẳng bao giờ đi đâu khỏi nhà.
Thấy chú Tâm yên lặng, bà ngoại tiếp:
– Từ hồi chồng mất, con Ánh nhà tui đâm ra đổi tính đổi nết. Sống cô độc, ít bạn bè. Khác hẳn thời con gái. Có cháu về đây, nhà này đỡ lạnh, con Ánh tui trông bộ cũng vui ra.
Ngẫm nghĩ một lát, bà chép miệng:
– Nhà thiếu đàn ông, hiu quạnh lắm. Cháu xem, cột kèo mối mọt lung lay, nhện giăng đầy. Vậy đó, vì không có đàn ông.
Chú Tâm nhìn quanh:
– Nhà này xưa ghê, thưa bác?
– Ừ, xưa lắm, xây đâu từ thời ông cố. Mấy đời rồi.
Im lặng. Ai cũng mong ngóng mẹ, nhưng mẹ không ra. Bữa cơm chấm dứt, uể oải. Bà ngoại hỏi một câu lấy lệ:
– Cháu định về Huế luôn hay rồi lại đi?
– Dạ, mới ra khỏi tù chưa tính gì dứt khoát cả, bác ạ.
– Có định đi xa không? Ra nước ngoài chẳng hạn.
Chú Tâm cười:
– Cũng có nghĩ đến, nhưng không có tiền.
Chú Tâm uống nước xong rồi bỏ ra sân, khuôn mặt còn sững sờ vì thái độ của mẹ. Lan phụ bà ngoại dọn dẹp xong rồi trốn vào phòng, đầu óc rối bời. Cô đem sách vở ra cố ôn bài, nhưng chữ nghĩa trôi tuột đi đâu hết. Chán nản với ý nghĩ không đâu, cô thiu thiu ngủ trên bàn học. Chợt có tiếng động. Cô mở mắt, thấy mẹ nhìn, tia mắt long lanh. Tiếng mẹ rít qua kẽ răng:
– Ai cho phép con đi lăng nhăng với đàn ông ngoài đường?
Lan nhìn mẹ, sững sờ, không biết trả lời thế nào.
– Con không nói hả?
Mẹ bất ngờ tát một cái vào mặt Lan. Lan ôm mặt, không cảm thấy đau, đôi mắt nhìn mẹ không chớp. Chưa bao giờ cô thấy mẹ lạ lùng dường ấy. Mẹ dịu giọng:
– Mẹ hỏi lại, ai cho phép con đi với đàn ông?
Lan tấm tức:
– Con đi với chú Tâm chứ có đi với ai đâu.
– Chẳng lẽ chú Tâm không phải là đàn ông?
Lan cúi mặt ấp úng:
– Thì là…đàn ông, nhưng chú ấy là…là…bạn của mẹ.
Giọng mẹ trở nên chua chát:
– Đời mẹ đã khổ vì đàn ông, con biết không. Đàn ông không có gì gì đáng tin hết. Họ luôn luôn phỉnh phờ, luờng gạt. Họ không hề biết yêu như đàn bà. Có họ mình cũng khổ, mất họ mình cũng khổ. Mẹ không muốn con gần đàn ông vì không muốn con khổ, con hiểu chưa?
– Chú Tâm cũng như ba con.
Mẹ trừng mắt:
– Ai bảo con thế! Ba con là ba con, chú Tâm là chú Tâm. Nội sự lầm lẫn như thế sẽ dẫn con đi xa, vô cùng nguy hiểm.
Lan im lặng. Cô không hiểu nổi mẹ cô muốn nói gì. Mẹ lại gằn giọng:
– Nhìn vào đây. Trả lời cho mẹ biết, chú Tâm nói với con những gì?
Lan lúng túng, vì sự thực cô không thể nhớ rõ là chú Tâm và cô đã nói những chuyện gì.
– Con không nhớ rõ. Đại khái là nói chuyện học hành, bạn bè…
– Có rủ con đi uống cà phê không?
– Dạ có, nhưng con không đi.
– Có khen tóc con đẹp, mắt con mơ mộng không?
– Dạ không.
– Có hát cho con nghe một bài tình ca nào không?
– Dạ không.
– Có cầm tay con không?
– Dạ không.
– Có hỏi con có người yêu chưa hay không?
– Dạ không.
Giọng mẹ hơi dịu xuống:
– Thôi được, mẹ hỏi con cho vui thôi, chứ thực ra, mẹ cũng đoán được chú ấy và con nói những chuyện gì rồi. Đàn ông chỉ có chừng ấy chuyện để nói với đàn bà. Họ tán hươu, tán vượn, thêm mắm dặm muối. Họ nói láo hết. Đôi khi họ chẳng hiểu họ nói những gì. Thế mà đàn bà chúng ta vẫn tin, cứ tin. Mẹ nghiệm đời mẹ, mẹ biết. Cả ba con, cả chú Tâm và nhiều người nữa, không có điều gì họ nói với mẹ là thật cả. Láo, từ đầu đến cuối. Con phải nhớ như vậy. Đàn ông, nghĩa là nói láo, con hiểu chưa?
Lan nhìn mẹ:
– Nhưng…nhưng mẹ đem chú Tâm về nhà mà.
Mẹ trừng mắt:
– Ai nói với con mẹ đem chú Tâm về? Chính chú ấy năn nỉ, van vỉ mẹ. Chú ấy bị vợ con ruồng bỏ, cô đơn, chú ấy tìm mẹ. Mẹ thấy tội…
Lan xen vào:
– Mẹ yếu lòng…
Mẹ ngơ ngác:
– Ờ, ờ…phải rồi, mẹ yếu lòng, mẹ tin. Nhưng sao mẹ lại tin nhỉ? Anh ấy …à chú ấy đã bỏ mẹ đi, đã…chú ấy dối mẹ nhiều lần, nhưng biết đâu lần này…
Mẹ ngừng lại, yên lặng. Mẹ không nhìn vào cô. Đôi mắt mẹ bỗng mông lung vô định. Cô sờ một bên má. Cái tát đọng ở đó. Cô không cảm thấy đau, mà nghe rưng rưng. Lần đầu tiên kể từ ngày cô lớn, mẹ tỏ ra giận dữ dường ấy. Cô chẳng thấy giận mẹ, chỉ thấy khó hiểu. Xưa nay, mẹ vất vả, khó khăn, nhưng cái gì mẹ cũng chìu cô. Thế mà bây giờ khác hẳn. Cô có làm gì sai trái đâu! Nhưng khi chợt nhớ đến việc cô cắn vào cánh tay chú Tâm, cô rùng mình. Cô nhìn mẹ, ân hận.
– Mẹ dặn con: con đừng tin ở đàn ông, bất cứ là thứ đàn ông nào.
Nói xong, mẹ quay bước ra khỏi phòng. Lan bàng hoàng lắng nghe tiếng chân mẹ đâu đó trong phòng, tự hỏi không biết có phải mẹ đang đi tìm chú Tâm hay không. Cô úp mặt xuống giường, thiếp đi.
*
Cô thức giấc vào một lúc nào đó trong đêm. Cô vừa trải qua một giấc mơ chắp nối, khi thì thấy chú Tâm bỏ đi, khi thì thấy mẹ đuổi cô đi, khi thì thấy mẹ cô chết. Cô ngồi dậy, định bật đèn, thì bỗng nghe có tiếng thì thào trong đêm vắng. Cô sởn tóc gáy, nghĩ đến ma. Không, tiếng nói chuyện. Cô nén sợ hãi, rón rén bước ra khỏi phòng, đi về phía cửa trước, nhìn ra sân qua những chấn song. Trăng hạ tuần méo mó chiếu xuống vườn một thứ ánh sáng nhờ nhờ, trông quái dị. Không nhìn thấy người nhưng nhận rõ giọng mẹ chen lẫn giọng chú Tâm vẳng lại từ đâu đó sau khóm chìa tàu.
Giọng mẹ nghe như rít:
– Ai cho phép anh rủ rê con bé Lan đi chơi?
– Thì bé Lan, con em cũng như con anh.
– Em không tin anh đã như thế. Anh chứng nào tật đó, rủ rê, tán tỉnh, giọng lưỡi ngon ngọt…
– Trời, em nói anh rủ rê, tán tỉnh con em thế mà nghe được à?
– Sao không! Em biết rõ bụng dạ đàn ông các anh. Cứ nói, cứ khen, cứ hát, cứ hứa cho đã. Anh có biết đâu, đàn bà nhẹ dạ, không tưởng có, giả tưởng thật. Em đây này, chừng này tuổi, cay đắng mùi đời, mà vẫn còn nhẹ dạ, huống hồ con bé Lan.
– Gì mà nhẹ dạ với không nhẹ dạ, Ánh. Em lấy chồng, có con đàng hoàng. Có điều, cái số em chẳng may, anh ấy tử trận.
– Anh biết vì sao em lấy Tuân không. Em trả thù anh đấy, anh biết không. Anh lăng nhăng, bội bạc.
– Thì cứ cho như vậy đi. Nhưng bây giờ, em cũng như anh, nếm đủ mùi đời. Anh tìm về với em tang thương, rách nát…
– Bộ em lành lặn lắm sao!
– Đâu có, anh với em, hai phần đời người hoài phí.
Giọng mẹ cắt ngang, nóng nảy:
– Thôi được rồi. Bây giờ em hỏi đây. Anh có rủ con bé Lan đi uống cà phê không?
– Có, nhưng bé Lan không đi.
– Anh có khen tóc con bé Lan đẹp, mắt con bé Lan thơ mộng không?
– Ồ kià, mắc mớ gì anh lại đi khen mắt với tóc con em.
– Anh có cầm tay bé Lan không?
– Không đời nào.
– Anh có hát cho bé Lan nghe một bài tình ca không?
– Không.
– Anh có nói chuyện với bé Lan về tình yêu, về kỷ niệm hay một cái gì đại loại như thế không?
– Trời ơi, em làm gì mà như thẩm vấn anh vậy. Y em muốn gì?
– Em không muốn gì hết. Em thương con em, em không muốn nó sa đà vào những chuyện hão huyền.
– Vậy là em ngờ vực anh…
– Em không ngờ vực gì hết. Em không muốn con em khổ như mẹ nó. Anh đừng chối cãi, biện luận. Anh phải nghe em, phải hiểu em.
Im lặng. Sương khuya rớt nhẹ, mơ hồ. Khu vườn mờ ảo như trong truyện liêu trai. Lan bồn chồn theo dõi cuộc nói chuyện trong đêm. Chú Tâm lên tiếng:
– Ánh, em cư xử với anh như vậy là quá thể
Mẹ nức nở:
– Không có gì là quá thể. Em lo sợ…
Tiếng mẹ nhỏ dần. Lan cố lắng nghe, nhưng không nghe được gì nữa. Khóm chìa tàu là một khối đen im lìm. Lan có cảm tưởng như chẳng có gì, chẳng hề có ai đàng sau đó. Một chút gì tái tê, một chút gì đăng đắng, nghèn nghẹn của mùi vị cuộc đời lan vào trong cô. Chỉ là một vết xước. Vết xước đầu đời, nhẹ nhưng buốt. Cô chợt nhận ra một mẹ khác, một mẹ lạ hẳn, một mẹ cô chưa hề biết, chưa hề thấy. Và cô, cô cũng khác. Cô trở thành một người khác.
Lan định trở vào thì nghe giọng chú Tâm:
– Có lẽ anh phải đi.
Trái tim cô chợt đau nhói. Giọng mẹ hốt hoảng:
– Anh đi. Đi đâu? Sao lại đi?
Chú Tâm nói:
– Đi đâu thì cũng phải đi thôi. Rõ ràng là ở lại chỉ làm khổ thêm cho em. Lại khổ cho bé Lan nữa. bé Lan nói đúng, Ánh chỉ tự làm khổ cho mình.
Nghe tiếng mẹ thút thít. Lan quay vào, bần thần, tê dại. Có tiếng động nhẹ đâu đó ở bàn ăn. Cô giật mình, định thần nhìn thì thấy bà ngoại đang ngồi im lặng ở đó. Cô không hỏi han gì, lặng lẽ vào phòng nằm xuống. Tiếng thút thít của mẹ như tràn hẳn vào giấc ngủ đầy mộng mị của cô.
*
Vừa tỉnh giấc, mở mắt, Lan vội vã bước ra khỏi phòng, nhìn quanh nhà. Chiếc giường nhỏ kê cạnh cửa sổ, nơi chú Tâm ngủ không chăn, không chiếu. Không có cái mũ lớn treo đầu cửa. Không có mấy tờ báo nằm trên bàn. Không có đôi dép dưới kệ sách. Không có cái áo sơ mi vắt trên ghế. Không có cái “xắc” nhỏ ở góc nhà. Thiếu chúng, căn nhà như trống trơn. Thế là chú Tâm đã đi! Cô đứng lặng người một lát, như để cho cái cảm giác buồn loáng thoáng đâu đó thấm sâu hơn vào trong người. Cô đi xuống bếp, thấy bà ngoại ngồi một mình, nhìn vơ vẩn ra sân. Thấy cô, bà ngoại lên tiếng:
– Chú Tâm đi rồi, Lan.
Lan im lặng. Như sợ Lan chưa nghe, bà ngoại lại nói:
– Chú Tâm đi rồi.
– Dạ, còn mẹ cháu đâu?
– Chắc là tiễn chú Tâm đi.
– Sao ngoại không nói chú ấy ở lại chơi cho vui. Có chú, nhà vui hơn.
– Ờ, thì vui hơn. Nhưng quyền của hai người, ngoại không có ý kiến.
– Chú Tâm ở chơi được tháng chưa ngoại nhỉ?
– Cỡ đó. Ngoại không nhớ rõ.
Bà ngoại chỉ chỗ phơi quần áo ngoài vườn:
– Còn cái áo chú Tâm phơi đó. Hai người đi rồi, ngoại mới nhớ ra có cái áo chưa giặt, ngoại đem ra giặt.
Ngừng một lát, ngoại chép miệng:
– Biết chú ấy ở đâu mà đưa chừ!.
Nhìn cái áo, Lan chợt nhớ đến mùi đàn ông phảng phất đâu đây. Cô hỏi vu vơ:
– Không biết chú ấy có trở lại không nhỉ?
Bà ngoại cười buồn:
– Ai mà biết. Đàn ông rộng chân rộng cẳng hơn đàn bà.
– Ngoại có thích chú Tâm về lại không?
Ngoại dứng dậy, thở ra:
– Ngoại không rõ lắm. Mà nhà có đàn ông thì cũng vui.
Trước kia ở miền Nam, chúng ta chỉ nghe nói duyệt binh, diễn binh mà không nghe nói đến tiếng “diễu binh,” “diễu hành.”
Trong thời đại này, chúng ta phải hiểu “diễu binh” như thế nào? Mới đây nhân cuộc diễu binh ngày 2 Tháng Chín tại Hà Nội, có ký giả cắc cớ hỏi Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó tổng tham mưu trưởng quân đội, cũng là tổng chỉ huy cuộc diễu binh này, vì sao chúng ta “diễu binh” mà không diễn binh. Sau đây là câu trả lời:
“Duyệt binh là có vũ khí trang bị đi theo, như tên lửa, máy bay, xe tăng, đạn pháo… còn diễu binh chỉ có người diễu hành. Tạm thời, nhà nước đang sử dụng ‘diễu binh’ – tức là chỉ có con người mà không có vũ khí tham gia. Có nhiều nguyên nhân chúng ta tổ chức diễu binh chứ không phải duyệt binh, trong đó có việc tiết kiệm.”
Về mặt mày, thì ông Tuấn này “sáng sủa” hơn cả ông Lê Đức Anh và ông Phùng Quang Thanh nhiều, nhưng lối giải thích của ông này lại quá “tối tăm.”
Như vậy, theo ông này “diễu binh” là chỉ có người, không có vũ khí kèm theo như xe tăng, đại pháo, hỏa tiễn! Nhưng trong lúc đó, báo chí, truyền hình Việt Nam đều loan tin hai cuộc “diễu binh” lớn của Nga ngày 5 Tháng Chín tại Moscow và của Trung Cộng ngày 3 Tháng Chín ở Bắc Kinh. Trong hai cuộc diễu binh này Nga va Trung Cộng đều phô trương các vũ khí hiện đại như phi cơ, hỏa tiễn tối tân nhất do chính các nước này sản xuất. Như vậy nói vì tiết kiệm mà Việt Nam chỉ có “diễu binh” mà không diễn binh là coi thường người đặt câu hỏi và khinh thường sự hiểu biết của quần chúng.
Trong tình thế này chính phủ CSVN không diễn binh mà chỉ “diễu binh” (không có vũ khí như lời ông Võ Văn Tuấn) chẳng qua là vì, không lẽ trong khi Tàu và Nga đang diễu võ dương oai, biểu dương vũ khí hiện đại do họ sản xuất, thì “bộ đội cụ Hồ” không lẽ đem AK47, B40, B41, pháo 130 ly, hỏa tiễn Sam, Stinger, giàn hỏa tiễn Kachiusa, Mig 15, xe tăng T54 thời “ta đánh là đánh (thuê) cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” ra để hù thiên hạ!
Ông Võ Văn Tuấn cũng chưa phân biệt được “duyệt binh” và diễn hay “diễu binh.”
Sau nghi lễ khai mạc, trước khi cuộc diễn binh hay “diễu binh” bắt đầu, vị nguyên thủ quốc gia lên xe mui trần cùng với chỉ huy của lễ diễn binh, đi “duyệt” hàng quân trong tư thế nghiêm và bắt súng chào. Sau khi vị nguyên thủ quốc gia trở về khán đài, cuộc diễn binh (hay diễu binh) mới bắt đầu và lần lượt các đơn vị tiến qua khán đài, được quan khách trên khán dài danh dự và dân chúng hai bên đường vỗ tay hoan hô.
Điều này chúng ta đã thấy qua các hình ảnh “duyệt binh” của VNCH với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và tại Bắc Kinh Tháng Năm, 2012 với Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào.
Khi ký giả hỏi về việc tại sao lại bắn 21 phát đại bác trong ngày Quốc Khánh mùng 2 Tháng Chín mà không phải con số khác, ông Võ Văn Tuấn cho rằng, “Đến bây giờ chưa có ở đâu lý giải được vì sao lại bắn 21 loạt đại bác nhưng có thể liên quan đến ý nghĩa một tuần nhân với 3. Giống như tượng Oscar khi người ta làm ra thì tình cờ giống ông chú tên Oscar của những người làm (!)”
Thật là khó hiểu khi ông tướng này so sánh “khập khễnh” 21 phát đại bác với với chuyện tượng Oscar. Nếu ông chịu khó vào Wikipedia mà tìm thì đâu đến nỗi!
Về chuyện cô gái xinh đẹp dẫn đầu cho khối Quân Y là Phạm Trúc Sơn Quỳnh, “nữ sĩ quan xinh đẹp khối trưởng khối diễu binh quân y, làm sốt cộng đồng mạng bởi khuôn mặt xinh xắn, tác phong mạnh mẽ, dứt khoát, các động tác điều lệnh chuẩn mực,” thì dư luận cho rằng được mượn từ bên Đại Học Thương Mại, và được mang cấp bậc trung tá (hai vạch, hai sao). Bộ Quốc Phòng khẳng định cô là quân nhân chuyên nghiệp mang cấp bậc thiếu úy, chứ không phải đi mượn về. Về cấp bậc trung tá đeo mang trên ngực cô, theo Trung Tướng Tuấn, cô là người đi đầu khối nên phải mang cấp bậc theo quy định thống nhất về cấp chỉ huy khi “diễu binh.”
Vào YouTube xem “diễu binh,” chúng ta thấy thêm một điều nữa là tất cả lính tráng trong hàng quân đều mang một loại huy chương và số lượng huy chương giống nhau, mỗi người ba cái. Quân đội thì có người già, người trẻ, có người có chiến công, nhưng cũng có người vô tích sự, vì sao phải dối trá đồng loạt như vậy, ông Tuấn có cho đây là “nguyên tắc diễu binh” không? Bốn mươi năm ngồi không, mà bây giờ có anh lính mặt non choẹt mang cấp tá và huy chương đầy ngực.
Theo kiểu nói bình dân Nam Bộ ngày trước, đây là “lon Lèo!” và “huy chương Lèo!” hay là đồ hàng mã, giả dối, lừa người!
Như vậy, cô Sơn Quỳnh được dẫn đầu khối quân y, mang cấp bậc trung tá chỉ vì cô trẻ, đẹp, và có lẽ sĩ quan cấp bậc lớn nhất trong khối này già và xấu, quá gầy hay quá mập nên đã bị “cách ly” không cho tham dự “diễu binh” như bọn cai tù vẫn thường giấu những anh tù “cải tạo” ốm đói bệnh tật mỗi khi có phái đoàn cấp trên hay báo chí đến thăm viếng trại tù. Theo tôi, Sơn Quỳnh có khuôn mặt khá bụ bẫm, nhưng nhan sắc cũng thuộc loại tầm tầm, nếu vị chỉ huy lễ “diễu binh” cần đến những cô trẻ, đẹp để dẫn đầu khối cho đẹp mặt chính phủ và đảng, tôi xin giới thiệu với ông, ngay đất Hà Nội, thiếu gì diễn viên, người mẫu, sinh viên chân dài, hiện nay đang làm nghề nằm, nên dựng mấy cô dậy mà cho đi “diễu hành” là đẹp nhất!
Câu chuyện dối trá này làm chúng ta liên tưởng đến câu chuyện của Thế Vận Hội Olympic Bắc Kinh năm 2008. Trung Cộng đưa một cô bé xinh đẹp tên là Lâm Diệu Khả, 9 tuổi, trình diễn ca khúc “Ngợi ca tổ quốc” tại lễ khai mạc, thực ra chỉ hát nhép môi và diễn thay cho giọng của ca sĩ thực là Dương Bái Nghi, 7 tuổi. Ca sĩ trẻ tuổi này không được xuất hiện vì nhan sắc và dáng dấp không bằng Lâm Diệu Khả.
Sự dối trá “vĩ đại” này được Trung Cộng ngụy biện rằng họ quyết định dùng em Lâm vì ”chúng ta phải đặt lợi ích của đất nước lên trước!”
Màn trình diễn pháo bông tại đêm khai mạc cũng là giả tạo, vì được ghép nối thêm trước khi chiếu trên TV cho cả thế giới xem. Ban tổ chức cũng giải thích “làm điều đó để tạo thuận lợi và ấn tượng ngoạn mục cho các đài truyền hình!”
Vậy thì sự thật và sự lương thiện không hề được “cha con nhà nó” tôn trọng.
Việt Nam khoe, một nhà báo Úc đã viết: “Gộp hết tất cả lễ hội lớn của Úc, các cuộc diễu hành, từ lễ hội Mardi Gras ở đường Oxford cho tới lễ hội Moomba ở Melbourne, cộng lại tất cả những đám đông đã đến dự Thế Vận Hội Sydney, hay những trận đấu bóng đá, cũng không bằng sự kiện 2 Tháng Chín ở Việt Nam.”
Úc thua Việt Nam là phải, nên chi dân Việt giờ này mà còn đóng tàu vượt biển sang Úc. Có gì đâu mà hãnh diện! Kiểu nhà nghèo, con nợ thiên hạ mà đòi chơi bảnh!
Mới đây, World Bank công bố Việt Nam nợ nần lên đến $110 tỷ và chỉ riêng khoản chi trả tiền lời đã lên đến 7.2% tổng chi ngân sách nhà nước.
Năm 1972, trong “Mùa Hè Đỏ Lửa,” với thiệt hại lớn lao của bốn mặt trận Kontum, Bình Long, An Lộc, Quảng Trị, của cả hai bên, để vinh danh những người lính VNCH đã nằm xuống, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã phát động một chiến dịch vinh danh và tri ân các chiến sĩ, bằng cách vẽ hình ảnh các tử sĩ và treo ở trên đường phố Sài Gòn. Tôi chỉ nhớ tên một vài vị, đều là sĩ quan, như cố Chuẩn Tướng Không Quân Nguyễn Huy Ánh, cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, cố Đại Úy Trần Thế Vinh, cố Đại Úy Nguyễn Văn Đương… Trong số anh hùng này, không thấy có một hạ sĩ quan hay binh sĩ nào.
Mộ Chiến Sĩ Vô Danh tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington. (Hình: Paul J. Richards/AFP/Getty Images)
Hồi ấy, tuần báo Diều Hâu là một tờ báo “tay trái” của Phòng Thông Tin-Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến do Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh và Thiếu Tá Phạm Huấn chủ trương, và chúng tôi, nhân viên của Phòng Báo Chí lâu lâu cũng mượn đất của Diều Hâu để múa bút. Vào dịp đó, trên Diều Hâu tôi đã viết một bài ngắn, cũng lấy đề tựa “Chiến Sĩ Vô Danh,” và câu hỏi tôi đặt ra trong bài báo là phải chăng, anh hùng, tử sĩ của VNCH đều là sĩ quan mà không có một anh lính nào? Vậy thì người lính tử sĩ ở đâu?
Bài viết này không làm cho Trung Tướng Trần Văn Trung mấy hài lòng, và sau khi tờ báo phát hành, nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh được gọi lên “trình diện” ông tổng cục trưởng. Ông Nguyễn Đạt Thịnh nổi tiếng là thẳng thắn và luôn luôn bênh vực nhân viên, mặt khác tờ báo do ông chủ trương, phần nào ông cũng có trách nhiệm, nên nội vụ được cho qua, và tác giả bài báo không phải khăn gói đi Kontum.
Người ta hay dễ dãi trong công việc, và tìm những việc dễ dãi mà làm. Tướng tá chết thì ai cũng biết, nhưng anh hùng vô danh, mặc dù là số đông mấy ai đã biết được tên tuổi.
Gần đây ở hải ngoại cũng vậy, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm, năm vị tướng tuẫn tiết lại được nhang khói, vinh danh. Về sau người ta thêm vào đó, Trung Tá Nguyễn Văn Long, tự sát trước tượng đài Thủy Quân Lục Chiến, rồi sau đó nữa là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng Chương Thiện, không tự sát, nhưng không chấp nhận đầu hàng, chiến đấu đến cùng, bị bắt và bị xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 Tháng Tám, 1975.
Cả miền Nam, vì mối nhục mất nước, có cả hàng nghìn chiến sĩ tự sát bằng cách này hay cách khác, từ một người lính quân cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu đến những anh em Thủy Quân Lục Chiến trên bãi biển Thuận An, hay các chiến sĩ Nhảy Dù chia nhau một quả lựu đạn tại ngã ba Ông Tạ, trên đường lui binh.
Câu hỏi ngày xưa vẫn còn nguyên: “Vậy thì người lính tử sĩ ở đâu?”Gần đây, tại San Jose, theo cung cách xây dựng tượng đài vinh danh các anh hùng tuẫn tiết, một bức tường tưởng niệm với năm vị tướng lãnh cùng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Trung Tá Nguyễn Văn Long được dựng lên.
Người lính Biệt Động Quân Đoàn Trọng Hiếu đã phê phán chuyện dựng bức tường này: “Việc làm dựng một bức tường tưởng niệm quân dân cán chính VNCH là một việc làm rất đáng hoan nghênh. Nhưng việc ủng hộ nội dung lại là hành động thiếu suy nghĩ đáng chê trách, vô tình biến chúng ta thành kẻ bất nhân bất nghĩa!” Và ông cũng cay đắng cho rằng: “Xin đừng phơi thây trăm họ, để chỉ vinh danh một người!”
Trên thế giới, không phải quốc gia nào hay ai có thể có khả năng làm một cuộc kiểm kê để có danh sách những người lính đã hy sinh, như người Mỹ đã làm khi xây dựng bức tường đá đen ở thủ đô Washington, DC, có tên của hơn 58,000 lính Mỹ đã chết hoặc mất tích tại chiến trường Việt Nam.
Có những người lính đã nằm lại ngoài mặt trận, không đem được về hậu phương, thân thể họ bị vùi lấp trong bom đạn, đất cát, không quan quách, không bia mộ, không ai gắn huy chương, không có nghi lễ phủ cờ đưa tiễn. Gần như không ai biết đến họ, không ai nhớ đến tên tuổi của họ, vì “họ là những anh hùng không tên tuổi,” được gọi là những “Chiến Sĩ Vô Danh.”
Nước Pháp có mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 Tháng Mười Một, 1920. Họ không có tên. Đây là ngôi mộ của một người lính Pháp vô danh chết trong trận Verdun, thời Thế Chiến 1. Cùng ở Paris, bảy chiến sĩ vô danh khác cũng được chôn cất ở Flandres, Artois, Somme, Chemin des Dames, Champagne, Verdun và Lorraine. Trên ngôi mộ ở Khải Hoàn Môn khắc dòng chữ: “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc.” (1914-1918)
Người Mỹ cũng có ngôi mộ chiến sĩ vô danh (Tomb of the Unknowns) tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, Virginia, để chôn cất các binh sĩ Hoa Kỳ vô danh tử trận trong Thế Chiến 1, Thế Chiến 2, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và những cuộc chiến tiếp theo sau đó!
Không ai kiểm kê được đầy đủ danh tánh những người đã tự sát hơn là đầu hàng giặc trong ngày tang tóc 30 Tháng Tư, 1975 của miền Nam Việt Nam, cũng không ai có đủ danh sách hàng triệu người đã chết cho tổ quốc, bởi vậy chúng ta cần thiết có một nấm mộ hay tượng đài cho những chiến sĩ vô danh. Chúng ta thường có thói quen ca tụng những người quen mặt biết tên!
Có khi nào bạn so sánh cái chết huy hoàng, rộn ràng của một tướng lãnh và cái chết của một người lính hòm gỗ đơn sơ với những nhánh hương lạnh lẽo trong một nghĩa trang buồn, hay những người lính không bao giờ trở về, thân xác chôn vùi đâu đó trên mảnh đất quê hương!
Chúng ta cần một bia mộ hay tượng đài cho những chiến sĩ vô danh như thế.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.