vietmessenger.com
Nguyễn Đình Toàn
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 1 Sep 2025

34. Mai Thảo.
Không biết Mai Thảo bắt đầu viết văn từ bao giờ. Nhưng ông chỉthực sự nổi tiếng tại miền Nam, sau hiệp định Genève, 1954. Đóng góp của ông vào văn học Việt Nam được coi là rất quan trọng, và ngay từ tác phẩm đầu tay: Đêm Giã Từ Hà Nội.
Hà Nội 1954 đối với những người rời xa Hà Nội vào Nam là một Hà Nội bỏ lại. Chia tay với Hà Nội, cùng một lúc người ta cũng chia tay với một quá khứ. Một số văn nghệ sĩ đã nổi danh từ trước khi rời Hà Nội, một số khởi nghiệp vào đúng cái thời điểm đau thương đó, một số khác vừa lớn lên, bắt đầu công việc sáng tác, đã cùng với các văn nghệ sĩ miền Nam, tất cả, hợp sức tạo nên nền văn học nghệ thuật mới tại miền Nam. Mai Thảo đã đứng ra chủ trương tạp chí Sáng Tạo, theo nhận định của Võ Phiến “Trong Tổng Quan Văn Học Miền Nam” thì, “tuy chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn 31 tháng, nó đã phát huy được một số văn tài đông đảo”. Sau Sáng Tạo, Mai Thảo còn có lúc làm chủ biên cho các tạp chí Văn và tuần báo Nghệ Thuật. Riêng phần sáng tác, sau tập truyện ngắn đầu tay Đêm Giã Từ Hà Nội như một lên đường đầy mới lạ vào văn chương, ông đã liên tục cho ra đời gần 50 tác phẩm. Công trình sáng tác hết sức phong phú và nhiều mặt ấy gồm có 10 tập truyện ngắn, 2 tập tùy bút và 33 truyện dài, trong đó những cuốn được người đọc yêu thích nhất và được tái bản nhiều lần là “Sống Chỉ Một Lần, Mười Đêm Ngà Ngọc, Để Tưởng Nhớ Mùi Hương”.
Nói là giã từ Hà Nội, chia tay với quá khứ, nhưng đọc Mai Thảo, người ta sẽ nhận ra, cuộc rũ bỏ ấy ông đã làm suốt đời không xong.

Và, đó cũng chính là nguyên cớ để ông “đổ ra một biển chữ nghĩa”. Không nói thì thôi, hễ nói đến bất cứ điều gì Mai Thảo cũng có cách nói riêng của ông, và luôn luôn ào ào chữ nghĩa. Chỉ phát biểu một chút về thơ Bùi Giáng
chẳng hạn, ông viết: “Ngôn ngữ và tư duy Bùi Giáng hiển lộng tới không bến không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng ông cũng vậy. Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa. Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương”.
Vì thế, đọc Mai Thảo, không phải là đọc những gì ông viết mà là đọc cái cách ông viết ra những gì ông đã viết. Một căn nhà vùng nước mặn. Một chuyến tàu trên song Hồng. Một bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời. Đó không phải là những cái truyện, những tên truyện. Đó là mảnh vỡ của cuộc đời, long lanh hạnh phúc, ràn rụa nước mắt. Không kể lại được. Phải đọc từng dòng, từng chữ của Mai Thảo, để thấy ông nghĩ, ông viết thế nào về những truyện đó, chứ không phải những gì chất chứa trong những truyện đó.
“Thời gian nghiêng đi, mỗi thước vuông không khí là một phiến ngực trần chói lọi thở, gió và nắng chan hòa lẫn lẫn, niềm kiêu vạm vỡ cuối cùng của tạo vật”, đó là cách viết, cách nhìn, cách dùng chữ của Mai Thảo. Chỉ cần đọc một câu thôi, người ta có thể nhận ra ông ngay. Cầu kỳ quá chăng? Có thể như vậy. Nhưng đó là văn Mai Thảo. Và với cách viết ấy, nhiều đoạn văn của ông đạt tới vẻ đẹp chưamột nhà văn nào của chúng ta đạt tới:
“Tôi muốn bảo Luân: anh sót thương em những đêm dài trong núi, dưới mái nhà sàn cơ quan, trên những con đường hầm hố vết thương, những xóm làng hủy phá, trên những thềm nhà cỏ hoang phủ kín, trên những vì tường đổ gục, trên những thân cây chặt đứt, qua những chân cầu đổ nghiêng, trong hầm trú ẩn máy bay. Tôi muốn bảo Luân, anh sót thương em đêm giã từ Hà Nội ra đi nhìn về Hà Nội cái rừng lửa cháy, buổi chiều đứng trên con đê Hồng Hà, buổi trưa về thăm lại Hưng Yên. Buổi ra đi bãi ấy còn xanh biếc ngô non, buổi về chỉ thấy mênh mông phù sa kín nhòa bãi cũ. Tôi muốn bảo Luân, anh sót thương em trên những đầu ngón chân anh đi, cái hình ảnh xót thương lăn theo sỏi đá dọc đường, nằm trên từng cột cây số, từng nền lũy tre xanh, chảy theo mặt nước lúc xuống đò qua sông, khuân theo lòng đường lúc xuống đò lên bộ, từng buổi sớm xuống suối rửa mặt, cái hình ảnh sót thương trong veo trên nền sỏi trắng, từng buổi chiều không biết đi đâu, cái hình ảnh xót thương bát ngát đầy chiều.
Tôi muốn bảo Luân, anh nhớ em trong tiếng súng ban đêm, những vệt lửa dài cháy vào bóng tối, lúc bỏ núi sau lưng cái hình ảnh xót thương còn mang hình trái núi, lúc xuống đồng bằng trước mặt cái hình ảnh xót thương đã mang hình những ngọn lửa dài, lúc anh muốn chết, lúc anh muốn sống, lúc tuyệt vọng tối đen vực thẳm, khi tin yêu sáng chói mặt trời, lúc nhìn xa cái hình ảnh lớn theo ngút mắt, lúc tưởng gần cái hình ảnh thu cũng nhỏ vào một góc trái tim như một tấm hình kỷ niệm”.
Các câu chữ ấy là điển hình cho những dòng văn Mai Thảo. Đỏm dáng. Kiểu cách. Nhưng nó cũng chính là con người ông. Như cách ông ăn mặc, uống rượu, nói chuyện, vuốt tóc, đốt thuốc. Vừa kiểu cách vừa xóa bỏ kiểu cách. Không ai quen biết ông mà không một lần nhận được ở ông một chút tình cảm đặc biệt dành riêng cho mình, bằng lời nói, bằng cách ông đối xử. Nhưng đừng nhận là người than của ông. Hãy để ông làm điều đó. Ông rất thành thật. Không kiểu cách. Người ta sẽ nhận ra như thế khi gặp lại ông đôi ba lần, và, cả khi đọc lại ông đôi ba lần.
Những năm cuối đời Mai Thảo đã làm ngạc nhiên tất cả những người đọc ông khi ông cho xuất bản tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền. Tập thơ dường như đã đóng đúng vai trò của nó: đúc kết cái hồn thơ Mai Thảo đã dàn trải trong suốt một đời văn của ông.
Sau đây là vài bài thơ trích trong tập Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền.
Không Tiếng
Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy
Có Lúc
Có lúc nghĩ điều này điều nọ
Cảm thấy hồn như một biển đầy
Có khi đếch nghĩ điều chi hết
Hệt kẻ ngu đần cũng rất hay
Mấy câu thơ được khắc trên mộ chí của ông:
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi
Đọc báo, nghe đài, thấy nhắc tới ngày giỗ Mai Thảo trong tháng giêng này.
Bây giờ nói tới tháng giêng, người ta thường liên tưởng tới tên một tác phẩm của ông: Tháng Giêng Cỏ Non. Có một cái gì đó mượt mà, hứa hẹn, chỉ riêng trong cái tên gọi ấy.
Đó cũng là cảm tưởng chung vào những năm đầu tiên người ta đọc Mai Thảo, rõ hơn, người ta đọc văn ông. Một biển chữ trùng trùng, điệp điệp.
Ông mất như thế đã được mấy năm? Nghe những người quen biết nhắc đến ông, người ta có cảm tưởng như Mai Thảo vẫn còn quanh quất đâu đây. Căn
phòng ông đã ở, cầu thang, ánh điện, bàn ghế, góc quán, cái dáng cao gầy lênh khênh đã khom xuống vì bệnh tật, tuổi tác.
Người ta nhớ đến ông như một người uống ruợu không cần ăn. Ngấm rượu rồi ông đọc thơ cho nghe. Thơ Tây, thơ Tầu, thơ Việt Nam. Trong ông là một kho tàng thơ vô tận. Cuộc rượu từ chập tối tới nửa khuya về sáng, ông có thể nói suốt về thơ của tác giả này, tác giả nọ, với những lời phẩm bình rất riêng tư, rất Mai Thảo. Nhất là khi ông nói về những người làm thơ ông quen biết và thơ của họ. Nghe Mai Thảo nói về thơ mới biết ông yêu thơ thế nào và thơ đáng yêu thế nào. Ông truyền cái tình yêu thơ ấy cho người nghe ông một cách dễ dàng. Người ta cũng cho rằng, hơi say một chút Mai Thảo trở nên dễ thương gấp đôi, và, cũng có thể trở thành khó chịu gấp đôi. Tất cả tùy thuộc vào những điều ông nói và các đối tượng. Ưng, người ta thấy ông là người thẳng thắn. Ghét, người ta coi là ông trịch thượng. Những dòng viết ở bìa sau tập thơ Ta thấy hình ta những miếu đền, có thể coi như tóm tắt gần đầy đủ hành trình một đời văn của ông, đồng thời giải thích vì sao, cuối đời ông lại làm thơ, hay nói cách khác, giải thích sự hiện hữu tác phẩm sau cùng, cũng là tập thơ duy nhất này của ông:
“Sau tập truyện ngắn đầu tay Đêm Giã Từ Hà Nội như một lên đường đầy mới lạ vào văn chương, nhà văn Mai Thảo, chủ nhiệm Tạp Chí Sáng Tạo, tuần báo Nghệ Thuật và tạp chí Văn đã bảy năm tục bản ở Hoa Kỳ, đã có 45 tác phẩm được in ra. Công trình sáng tác hết sức phong phú và nhiều mặt ấy gồm có 10 tập truyện ngắn, 2 tập tùy bút và 33 truyện dài, trong đó những cuốn được nhiều người đọc yêu thích nhất và được tái bản nhiều lần là Sống Chỉ Một Lần, Mười Đêm Ngà Ngọc, Để Tưởng Nhớ Mùi Hương …
Điều bất ngờ: mặc dầu chất thơ, hồn thơ đã thấp thoáng cùng khắp trong văn truyện của ông, văn xuôi ông là một văn xuôi thơ, người thi sĩ ở Mai Thảo thời gian gần đây và trên một bàn viết lữ thứ, mới đích thực tỏ hiện. Với ‘Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền. Có như thơ với ông, trọn đời như
một tình yêu kín thầm, tới cuối đời mới chịu phơi bầy ra ánh sáng. Có như thơ với ông là một khởi hành khác. Cho một cách thế rung động khác. Khác và sau. Có như, cuối cùng ông thấy thơ, chỉ thơ, mới là ngôn ngữ, là tiếng nói tận cùng và chung quyết của văn chương”.
Mai Thảo nói những gì trong thơ của mình?
Ông nói về những “bờ cõi khởi đầu”, về “cục đất”, về “ý thức”.
Vượt hết chiều rộng, vượt hết chiều cao, qua hết chiều sâu là cõi không, và đối với Mai Thảo: “Cõi không là thơ. Không còn gì nữa hết là thơ. Nơi không còn gì nữa hết là khởi đầu thơ. Một xóa bỏ tận cùng. Từ xóa bỏ chính nó. Tôi xóa bỏ xong tôi. Không còn gì nữa hết. Tôi thơ.”
Trong bài “Cục đất” ông viết:
Biển một đường khơi xa thẳm xa
Núi vươn trượng trượng tới mây nhòa
Thì treo cục đất toòng teng giữa
Cho cái vô cùng vẫn nở hoa”.
Bài “Ý thức” của Mai Thảo gồm 6 câu:
Sáng sáng chiều chiều óng ánh siêng năng
Như đóa vệ tinh nghìn ngày trái đất
Bay hết mặt trăng bay hết mặt trời
Đêm hoang đường nghiêng
sáng lòa sự thật
Cơn mộng dữ còn uy nghi khuôn mặt”.
Cũng chỉ là những điều người ta thường nghĩ tới, nói tới. Nhưng Mai Thảo nghĩ theo cách nghĩ của ông, và nói về những điều ấy theo cách nói của ông. Tập thơ không dày lắm, các bài thơ không bài nào dài lắm. Rất nhiều bài lại chỉ có 4 câu. Gọi theo lối gọi cũ là nhũng bài tứ tuyệt. Những bài ông nói về lịch sử, về đất nước, về bạn bè, cuộc lữ thứ, tha phương … đều nhuốm một chút gì đó bi thống, hơi khó đọc.
Những bài ông nói về chính mình thoải mái và dễ đọc hơn. Trong thi ca của chúng ta chưa có nhà thơ nào nói về nỗi cô đơn của người đàn ông trong cái tuổi xế chiều buồn và đẹp đến thế:
Sớm ra đi sớm hoa không biết
Đêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy
[Không tiếng, tr. 12]
Đi vắng từ xa trở lại nhà
Bộ đồ cũ mặc ấm trà pha
Tựa lưng vào vách tường thân thuộc
Trong cõi riêng buồn thấy lại ta
[Bộ đồ cũ mặc tr. 119]
Cái cô quạnh đẩy đến cùng thành các cuộc chuyện trò với bệnh:
Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Dỗ nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho
Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vàng
[Dỗ bệnh, tr. 46]
Trong cả tập thơ của Mai Thảo chỉ có một bài có thể gọi là thơ tình. Ông sống độc thân. Nên hình như tình chỉ để lại trong ông cái bóng áng u ám của nó chứ không phải một vết thương:
Em đi vừa khuất trên đầu phố
Anh đuổi theo sau bóng đã nhòa
Đứng sững. Mới hay lìa cách đã
Sơn cùng thủy tận giữa đôi ta
[Thủy tận, tr. 73]
Người đọc có cảm tưởng những bài thơ Mai Thảo nói về đàn bà hay hơn thơ tình của ông:
Tường. Ở bên kia có một nàng
Cỏ nằm phơi nắng chẳng che thân
Tường bên này có tên nhìn trộm
Hai cỏ cùng hai vũng mắt đằm
[Hai cỏ, tr. 12]
Đặt tay vào chỗ không thể đặt
Thế mà đặt được chẳng làm sao
Mười năm gặp lại trên hè phố
Cười tủm còn thương chỗ đặt nào
[Chỗ đặt, tr. 99]
Nhưng những bài thơ hay nhất của Mai Thảo vẫn là những bài ông nói về chính mình, những lúc cô quạnh nghĩ, cái tình của ông đối với bạn, nó bàng bạc nhưng nó là nỗi đau cùng khắp, lúc nhớ, lúc quên, lúc xa, lúc gần.
Thế giới thơ của Mai Thảo là thế giới người ta không nhập vào được. Đó là thế giới của riêng ông. Người ta có thể buồn cái buồn của ông nhưng không chia sẻ với ông được. Hệt như ông sống thân thiện với mọi người, nhưng ở
ông vẫn luôn toát ra một vẻ gì đó xa lạ:
Nửa khuya đợi bạn từ xa tới
Cửa mở cầu thang để sáng đèn
Bạn tới lúc nào không biết nữa
Mưa thả đều trên giấc ngủ đen
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.