Vết xước đầu đời

vietmessenger.com

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 3 Sep 2025

Cái giá của mùa xuân

Xe lên đường vào lúc một giờ sáng. Con đường đi ngang Đập Đá vắng tanh. Ánh sáng các ngọn đèn đường mệt mỏi, miễn cưỡng chừng như chẳng muốn soi sáng thêm cái thành phố đang muốn ngủ vùi.  Hạnh ngồi ép sát trong thùng xe phía sau, lòng thấp thỏm. Thỉnh thoảng, nàng kéo tấm gỗ chắn cái ô trống phía trước để nhìn ra ngoài. Đường trống trơn, nhưng đầy đe dọa. Một vệt sáng có thể bất chợt lóe lên, một bóng người mặc đồng phục ở đâu đó có thể đột ngột đi ngang chắn giữa đường … Rình rập. Đâu đâu nàng cũng thấy như có ai rình rập, đợi chờ nàng. Số hàng bốn kí lô của nàng gói rất gọn được tay tài xế giấu trong các thùng sắt đập bẹp, chôn sâu dưới đống phế liệu gồm đủ thứ kim loại tạp nhạp, rỉ sét. Nhưng nàng vẫn lo. Công an, thuế vụ càng ngày càng ranh ma, giấu hàng đâu họ cũng biết để lục ra. Đúng là nghề dạy nghề. Nàng làm ăn, họ cũng làm ăn. Lục ra hàng, họ mới có tiền. Trên tuyến đường huyết mạch bắc nam này với hàng chục trạm thuế làm việc ngày đêm, luôn luôn diễn ra một trận chiến thầm lặng, nhưng ác liệt. Không có xác chết, không có máu đổ, nhưng không thiếu tiếng khóc và nụ cười. Bao số phận đã đổi thay. Bao kẻ giàu lên như một phép lạ và cũng không ít người tan nát gia đình.

Xe ra khỏi thành phố một cách bình an. Hạnh bắt đầu thấy yên bụng, ngả đầu dựa vào thành xe, nhắm mắt lim dim ngủ. Xe chạy chậm vì tài xế tính toán sao để vượt trạm Lăng Cô lúc 4 giờ hoặc 4 giờ rưỡi sáng. Kinh nghiệm cho biết vào thời điểm đó, những nhân viên trực trạm nửa thức nửa ngủ sẽ ít tích cực trong việc lục hàng. Quả đúng như vậy. Xe vượt trạm Lăng Cô lúc bốn giờ mười lăm. Không thấy bóng người. Ba-ri-e buông lỏng, xe từ từ chạy ngang trạm. Một lát sau, xe tăng tốc độ để lên đèo. Hạnh thở phào. Thế là thoát được cửa ải đầu tiên. Đây là cửa ải tàn ác nhất đối với dân buôn trầm. Bao chuyến hàng đã bị khám phá và tịch thu. Hạnh cũng dính một lần tại đây, vốn liếng bay sạch. Nhưng còn đến mười một cửa ải nữa. Rủi may vẫn còn nằm phía trước. Tuần tự nhi tiến, xe qua Kim Liên, rồi Nước Mặn, An Tân, Cù Mông. Nơi nào xe cũng phải dừng lại trạm, trình giấy tờ, cán bộ thuế vụ leo lên xe nhìn nhìn, chìa tay nhận xấp tiền từ chủ hàng phế liệu kín đáo trao cho, rồi xuống xe, dở ba-ri-e cho xe qua. Lần nào Hạnh cũng phải xuống xe cách trạm một đoạn, đi bộ khỏi trạm và đợi. Tài xế dặn nàng phải làm như vậy để tránh sự nghi ngờ của công an, thuế vụ là còn có hàng khác giấu trong xe. Thông thường thì hàng phế liệu là loại hàng cồng kềnh và được buôn bán hợp pháp. Chủ hàng chỉ khai bớt trọng lượng để giảm tiền thuế. Qua trạm, cứ như một hợp đồng bất thành văn, chủ hàng chung một ít tiền lót tay cho cán bộ là xong. Tuy nhiên, điều quan trọng đối với người đi buôn và cán bộ trạm là số hàng quý, gọn giấu trong đống phế liệu nham nhở kia: thuốc tây, trầm, thuốc lá, thuốc phiện … Người giấu, kẻ lục. Kẻ ngụy trang, người tìm cách khám phá. Rốt cuộc, đồng tiền làm trung gian. Đồng tiền là thứ ngôn ngữ dễ hiểu nhất để giải quyết mối mâu thuẫn thường  xuyên giữa các trạm thuế và con buôn. Hai bên đều có lợi, chỉ trừ cái gọi là nhà nước. Có sao đâu, cán bộ nhà nước có lợi để hăng hái làm việc là đủ rồi. Ba Ngòi, Du Long, Căn Cứ Bốn, xe lọt qua. Nhưng đến trạm Căn Cứ Năm thì có chuyện rắc rối. Số là anh tài xế quên dừng xe cho Hạnh xuống cách trạm một khoảng như thường lệ. Khi sực nhớ ra, thì thanh ba-ri-e và tấm bảng stop đã hiện ra trước mặt, nên tài xế cứ để vậy luôn, không gọi Hạnh xuống. Nàng nằm im trên thùng xe, nhắm mắt giả vờ ngủ say. Khi nhân viên thuế vụ lên xe, mở cửa thấy nàng bèn hỏi. Nàng nhướng mắt, giả giọng ngái ngủ trả lời nhát gừng. Nàng nói nàng đi nhờ xe và chẳng biết gì cả. Nhân viên thuế vụ gọi tài xế và chủ hàng phế liệu vào trạm làm giấy tờ ra săm soi, hạch hỏi. Chủ hàng phế liệu định tăng thêm tiền lót tay, tài xế bảo đừng vì tụi nó sẽ nghi. Đôi co qua lại một hồi, thấy giọng tài xế cương quyết, nên nhân viên thuế cho đi. Thực ra thì cũng may, vì lúc đó, công an vừa khám phá một xe chở thuốc tây từ Hà Nội vào.

Xe tiếp tục chạy. Trời gần về khuya. Đường quốc lộ vắng. Đoạn đường này rất xấu, ổ gà nhiều. Xe chạy nhồi lên nhồi xuống. Hạnh nằm không yên được vì đồ đạc trong xe cứ va vào nhau loảng xoảng. Nàng nhỏm dậy, kéo ô cửa nhìn ra. Một làn gió tạt qua. Nàng rùng mình, cảm thấy lạnh, mở xách lấy cái áo gió choàng lên người. Có tiếng xe đâu ở phía sau nghe mỗi lúc một gần. Đèn pha chiếu sáng rực một đoạn đường. Nàng thò đầu hẳn ra ngoài ô trống, ngoái nhìn lui. Khi xe sau đến gần, nàng mới giật nẩy mình khi thấy đó là chiếc xe mô tô của công an. Tim nàng đập thình thịch. Chiếc mô tô vượt nhanh qua xe tải, chớp chớp đèn hiệu, bóp còi rồi dừng trước xe tải. Hai người công an bước xuống xe, vẫy tay ra dấu cho xe tải dừng lại. Một người công an cầm đèn pin nhảy lên phía cửa có tài xế ngồi, nói lớn:

– Có lệnh cho xe quay lại trạm kiểm tra.

Tài xế hỏi, giọng mất bình tĩnh:

– Cái gì vậy anh. Xe tôi đã được kiểm tra kỹ và cho đi rồi. Chắc anh lộn xe.

– Lộn sao được. Anh xem lệnh đây, có phải số xe anh là 39A7506 không?

Vừa nói, người công an vừa chìa tờ giấy ra trước mặt anh tài xế. Anh chủ phế liệu liếc nhìn, mặt tái hẳn, giọng run run:

– Sao lại lạ lùng thế này!

Còn Hạnh thì thu mình trong thùng xe, tâm trạng vô cùng bối rối. Đầu óc nàng như rối tung lên, để trấn tĩnh, nàng lục xách lấy kẹo cao su để nhai, nhưng đôi tay cứ run lên bần bật. Xe tải theo lệnh quay đầu trở về trạm thuế. Bãi đậu xe trạm Căn Cứ Năm rộng thênh thang, đủ chỗ chứa cho vài chục chiếc xe đủ loại. Chẳng mấy khi bãi để trống. Xe cộ xuôi ngược bắc nam hàng ngàn chiếc mỗi ngày, để không thì thôi, chứ nếu cán bộ thuế đã lên lục lọi thì chiếc nào cũng có thể chứa hàng lậu. Xe tư, xe công, xe thương nghiệp, xe quân sự, xe ngoại giao, xe công an … bất cứ xe nào cũng tìm cách chở hàng lậu. Xe của tòa đại sứ Ba Lan, đại sứ Liên Xô bị bắt vì chở thuốc tây, xe bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên bị bắt vì chở trầm, xe tổng cục an ninh bộ nội vụ thì chở thuốc Jet, 555 … Bởi thế, trạm thuế nào cũng dành đất tối đa cho bãi đậu xe. Cái văn phòng nhỏ xíu với năm, bảy nhân viên thay nhau quản lý đủ loại xe, đủ loại hàng và làm bạt mặt biết bao tài xế, chủ hàng và kể cả các thủ trưởng.

Hạnh lặng lẽ xuống xe, ngồi ở quán nước bên ngoài, miệng mồm khô khốc, tay chân run rẩy, bụng dạ bồn chồn, mắt đăm đăm nhìn vào trạm thuế, chờ đợi, như một tội nhân đợi bản án được phán quyết. Rất lâu sau, anh tài xế từ trạm bước ra, mặt mày hốc hác:

– Không xong rồi. Tụi nó tuôn hết hàng phế liệu và tìm thấy hàng chị. Thật xui cho chị.

Hạnh rươm rướm nước mắt. Nàng im lặng, cắn môi suy tính, hai bàn tay bấu chặt mép bàn như muốn tìm một chỗ tựa. Đây chẳng phải là lần đầu nàng bị lấy hàng, nhưng là lần đầu nàng trực tiếp chứng kiến và tìm cách đối phó. Hạnh đứng sững người suy tính, trong lúc vẫn cố nén nỗi xúc động và niềm tuyệt vọng cứ muốn dâng lên, trào ra. Một chuỗi ý tưởng và hình ảnh hiện ra như làm đau buốt thêm trái tim đang thắt lại của nàng. Chồng, con, đồ tết, nợ, ngày sát chủ, hết vốn, đói … Nàng chợt ân hận là đã không nghe lời khuyên của Lực, chồng nàng. Ôi, bao nhiêu dự định bỗng tan thành mây khói. Nàng cắn răng để khỏi bật ra tiếng nấc, nhưng giọng vẫn mếu máo:

– Em phải đi Sài Gòn ngay, xoay tiền để gỡ ra.

Hạnh đón một chiếc xe Kamaz từ Hà Nội vào. Được xếp ngồi băng ghế sau lưng tài xế, nàng ngồi dựa lưng vào thành xe, nhắm mắt lại suy tính đến cách mượn vàng và những người có thể mượn được. Tiếng người tài xế chợt

vang lên cắt đứt dòng tư tưởng:

– Sao, người đẹp đi đâu giờ này? Đi chơi hay đi buôn?

Hạnh im lặng, chẳng muốn trả lời. Người tài xế có vẻ phật ý:

– Người gì mà cao đạo thế! Hỏi chẳng thèm trả lời.

Anh ta kéo dài chữ nhỉ với một cái giọng nghe rất bộ đội. Hạnh mở mắt nhìn rồi đáp, giọng mệt mỏi:

– Tôi đi có chút việc.

Lại im lặng, xe chạy đều trên một đoạn đường tương đối êm ả. Không ai quấy rầy nữa. Hạnh tiếp tục vùi mình trong những tính toán vẩn vơ. Nàng cố gắng không nghĩ đến những điều tệ hại nhất, nhưng những ý nghĩ muộn phiền cứ xâm chiếm lấy nàng. Chúng cắn xé, dằn vặt nàng. Môi nàng khô đi, cổ họng rát bỏng. Nàng muốn nấc lên một tiếng cho đã, nhưng không được. Mấy người đàn ông thỉnh thoảng quay lui nhìn nàng, mỗi người một ý nghĩ nào đó trong đầu. Chắc họ cho mình là gái ăn sương, Hạnh nghĩ. Nhưng Hạnh lại không lấy làm đau đớn lắm với thứ ý nghĩ đầy xúc phạm đó. Hạnh đang đau đớn hơn nhiều vì gói hàng đang bị giữ ở trạm thuế. Cho nên, nàng thực sự cũng không để ý đến cái cảnh ngồi trong xe ban đêm với ba người đàn ông lạ. Lẽ ra nàng nên cẩn thận hơn. Nhưng biết làm sao được trong tình cảnh này. Nàng không có nhiều điều để chọn lựa.

Xe chạy được một lúc khá lâu thì giảm tốc độ, từ từ dừng lại. Người tài xế xem đồng hồ và nói:

– Hai giờ sáng rồi. Ta dừng lại nghỉ, tảng sáng đi tiếp.

Hạnh giật thót mình, hỏi lại, giọng hốt hoảng:

– Sao? Dừng lại mai đi à? Dừng lại ở đâu thế này?

Người mặc đồ bộ đội cười bả lả:

– Thế người đẹp không chịu ngủ à? Chẳng lẽ chạy cả đêm. Rồi người đẹp chịu có nổi không?

Anh ta cố ý nhấn mạnh câu “chịu có nổi không”. Hạnh biết cái hàm ý tục tĩu của anh ta, nhưng nàng tảng lờ, quay sang hỏi tài xế:

– Thế các anh vẫn thường ngủ đêm thế này dọc đường à? Sao các anh chẳng cho tôi biết trước? Mà đây là đâu vậy anh?

Người tài xế cười:

– Thế hóa ra chị chẳng đi xe đêm à? Xe nào chẳng phải nghỉ dọc đường?

Nàng ấp úng:

– Mà … mà sao lại đậu ở chỗ hoang vắng thế này?

Một ý tưởng xuyên qua trí óc nàng khiến nàng cảm thấy lạnh buốt xương sống. Nàng định nói một câu gì để tỏ thái độ bất bình, nhưng cuối cùng nàng lại van vỉ:

– Thôi, các anh rán đi đi, đừng nghỉ nữa. Em cần lên Sài Gòn gấp trong đêm nay. Các anh giúp em đi.

Nàng hơi ngạc nhiên về tiếng “em” mà nàng vừa xưng hô với người tài xế, và cả với hai người đàn ông kia. Bây giờ nàng mới có dịp nhìn rõ từng người, và cố tìm đôi ba đường nét lương thiện trên những khuôn mặt xa lạ và đáng hoài nghi đó.

Người tài xế thắng xe lại, tắt máy rồi mới quay sang phía nàng, giọng hơi giễu cợt:

– Chị sợ chúng tôi à. Chúng tôi không ăn thịt chị đâu. Cùng lắm thì là …

Anh ta ngừng một chút, quan sát nét mặt nàng, rồi tiếp:

– Nói thế chứ không có gì đâu mà chị lo. Có lẽ chị sợ chúng tôi làm ẩu phải không. Nói thật với chị, nếu cần gái thì chúng tôi không thiếu. Hơn nữa, nói chị đừng buồn, chị cũng không phải là đối tượng đâu. Tôi hỏi thật chị nhé: chị cần lên Sài Gòn gấp để làm gì? Chị đi buôn hay đi làm gì?

Hạnh cắn môi suy nghĩ. Một lát, nàng thú thật:

– Tôi nói thật với anh, tôi đi buôn trầm và mới bị trạm Căn Cứ Năm, chỗ tôi lên quá giang xe anh, tịch thu. Hàng hiện giữ ở đó, mà tôi thì không đủ tiền để “chạy” ra, nên đi vội lên Sài Gòn mượn.

Người tài xế đập tay một cái rõ mạnh trên ghế rồi nói:

– Trời ơi, sao chị nói chậm thế. Khi mới lên xe, tôi hỏi có phải đi buôn không, chị cao đạo không thèm trả lời. Bây giờ thì quá trạm xa rồi. Mà trầm loại gì? Bao nhiêu kí? Ai làm biên bản tịch thu?

– Trầm loại một đến loại bốn, bốn kí lô. Ai làm biên bản em không rõ, vì em đâu dám vô trạm, sợ tụi nó nhận mặt và bắt cả người luôn. Nhưng nghe tài xế nói hình như trưởng trạm thì phải.

– Ối trời ôi, tên tài xế nào mà dở quá vậy. Chở có bốn kí trầm mà để bị bắt. Thế thì làm ăn cái cóc khô gì. Tôi nói thật với chị, xe tôi chở hơn một nửa là hàng lậu đấy, mà qua trạm tụi nó dám hỏi han gì tôi đâu. Trưởng trạm Căn Cứ Năm là thằng Bụi chứ ai. Thôi được, để tôi tính xem.

Hạnh nhìn anh tài xế, chờ đợi. Tự nhiên, trong lòng nàng trỗi lên một niềm hy vọng mới mẻ.

Suy nghĩ một lát, anh tài xế hỏi:

– Cô còn bao nhiêu tiền?

– Dạ, một chỉ và hai chục ngàn đồng.

– Đúng ra mà nói thì chừng đó chẳng ăn thua gì, muốn chuộc ra được thì phải mất nửa vốn. Đó là nói biên bản chưa ký. Còn nếu nó ký biên bản rồi thì mệt lắm, tốn nhiều hơn.

– Dạ, em biết vậy, nên mới đi gấp lên Sài Gòn đây.

– Lên Sài Gòn mượn tiền rồi về lại chứ gì? Sợ trễ, tụi nó tráo hàng mất. Mà nếu không thì nhiều thằng biết, thêm sinh chuyện. Thôi được, tôi rán giúp chị một phen. Nếu được thì tốt, bằng không chị đừng oán tôi nhé.

Hạnh nhìn người tài xế, vẻ dò hỏi. Anh ta tiếp:

– Tôi và chị đón xe trở lại trạm trong đêm nay. Xe tôi chở hàng không tiện quay lui, tôi giao cho thằng tài phụ. Nếu chị không ngờ vực gì thì ta đi ngay.

Hạnh dè dặt gật đầu. Lúc này có cái phao nào vớ được, nàng cũng vớ thử.

Tuy mất nhiều thời gian, nhưng với tài xoay sở, người tài xế đã gỡ được mối lo của Hạnh. Tin vui đến với Hạnh vào lúc xế chiều, sau khi anh ta trải qua một chầu nhậu bia, bốn tiếng đồng hồ với trưởng trạm thuế vụ và một số nhân viên. Hạnh mừng đến nỗi khi ký giấy nhận hàng về, nàng run tay không ký được tên mình. Lấy hàng ra khỏi trạm, nàng định hỏi han người tài xế nhiều điều, nhưng anh ta xua tay:

– Chẳng vội gì chị ạ. Phải trở về xe hàng đã. Hơn nữa, ở đây nói nhiều không tiện.

Trở về lại xe mình, người tài xế giấu hàng Hạnh vào một khoảng trống nhỏ trước đầu máy xe, chung quanh đầy cả dây nhợ để che mắt thuế vụ và công an. Anh ta giải thích:

– Không cần thiết lắm, nhưng tôi cẩn thận cho chị.

Hạnh yên tâm leo lên xe. Trời tối hẳn. Xe lại bắt đầu lăn bánh. Lần này, người tài xế nhường tay lái lại cho tài phụ, còn anh ra băng phía sau. Hạnh nhích sang bên một tí để anh tài xế ngồi. Băng ghế này thực ra là nơi ngủ của tài xế và tài phụ. Anh dồn mền chiếu lại cho gọn rồi ngồi bên cạnh Hạnh.

– Xin lỗi chị nhé. Hôm nay tôi uống bia hơi nhiều. Cái lệ nó vậy, uống bia ít thì không nói chuyện gì được với họ. Hạnh cố ép mình sát hông xe để nhường chỗ cho anh tài xế. Anh ta ngả đầu vào đống mền gối, nhắm mắt. Xe chạy đều. Lúc này, đầu óc Hạnh mới hoàn toàn thanh thản. Thực cái số mình nó quá hên mới gặp được tay tài xế này. Nàng nhìn kỹ anh tài xế. Anh ta nằm yên, mắt nhắm nghiền. Có lẽ anh ta say. Nét mặt trông già dặn, nhưng còn trẻ, có thể lớn hơn nàng chừng vài ba tuổi. Chắc cũng thuộc loại người đàng hoàng, nàng nghĩ. Chẳng biết phải trả ơn cho anh ta như thế nào đây.

Một lát, anh tài xế cựa mình, mở mắt, ngồi nhỏm dậy.

– Sao, chị không ngủ được à? Giờ thì yên bụng rồi, ngủ một giấc cho khỏe, mai mà tính chuyện bán hàng.

Hạnh chợt chột dạ:

– Còn đến mấy trạm nữa mà. Đâu đã hết lo.

Anh tài xế cười:

– Tôi bảo đảm. Nói thật với chị, trạm nào cũng có ăn có chịu với tôi rồi. Tôi là dân buôn chính gốc đây.

Hạnh nhìn anh ta, thắc mắc:

– Anh có chung tiền cho họ không?

Anh ta cười lớn:

– Mọi chuyện đều phải giải quyết bằng tiền, chị ạ.

Đồng tiền là sức bật.

– Thế vừa rồi anh chỉ tốn một chầu nhậu thôi à?

– Nói cho đúng, chẳng phải một chầu nhậu mà đủ đâu. Nhưng lần này thì chỉ một chầu thôi. Tụi nó thường tính gộp thôi, chứ ba thứ lẻ tẻ đủ thiếu gì. Chị biết không, bọn chúng chẳng bỏ vốn mà được chia lời. Chữ ký là cái vốn rồi. Nói thật, tôi cũng từ cái lò đó mà ra.

– Anh cũng thuế vụ à?

– Lý lịch tôi thế này: bộ đội phục viên, chuyển qua thuế vụ. Tôi làm ở trạm Ngọc Hồi, cửa ngõ vào Hà Nội, chị biết không? Mánh lới con buôn tôi thuộc như cháo. Nhưng chị biết vì sao tôi không làm nữa không? Thất đức quá. Làm bộ đội bắn chết người mà ít tổn đức hơn làm thuế.

– Anh cũng tin phúc đức à?

– Ồ, tin chứ, phúc đức, may rủi, hên xui. Đi buôn rồi  mới thấy. Chị gặp tôi chị cũng hên đấy! Lô hàng chị muốnlấy ra phải tốn cả cây chứ không ít đâu. Tụi nó lập biên bản tịch thu rồi mà xé đi đó.

Hạnh khen thật tình:

– Anh tài thật!

– Chẳng tài lắm đâu. Lần này thì thằng trưởng trạm có nhờ tôi một việc ở Hà Nội.

Anh ta châm thuốc hút. Anh rít một hơi dài, tiếp tục:

– Khi nãy có hơi say. Tiếp một lúc năm thuế vụ và hai công an. Bia vào như nước lã. Cái thằng trưởng trạm còn trẻ mà uống như giặc. Chị biết, uống chưa “tới chỉ” là không xong đâu.

Hạnh nhìn anh tài xế với một cảm giác khâm phục và biết ơn. Nàng ngập ngừng:

– Lên Sài Gòn em phải gửi cho anh một ít. Anh tính giùm cho em đi, em không biết phải làm sao cho đúng.

Anh tài xế xua tay:

– Thôi được, để khi khác. Chị cứ xem như thế là xong.

Hạnh năn nỉ:

– Đâu có được, em không thể yên bụng được.

Anh ta nhìn nàng:

– Chị muốn trả ơn lắm à?

– Đây là chuyện thường tình mà anh.

– Tôi cho chị khất đến lần sau.

– Sao lại lần sau? Biết anh ở đâu mà lần sau với lần trước.

– Chị đừng lo, còn đi buôn là còn gặp mà. Xin lỗi, tôi hơi mệt.

Anh ta ngả người nằm xuống. Nàng cũng tựa đầu vào thành xe, nhắm mắt, tưởng tượng lúc đã đến Sài Gòn. Nàng hình dung cái cảnh bán hàng suông sẻ, có lời. Nàng sẽ đi chợ Bình Tây, chợ An Đông, chợ Bến Thành mua sắm. Xe chạy ngang một đoạn đường tốt, êm ả. Đầu lắc lư, tay chân cựa quậy để tìm một chỗ dựa thuận tiện trong một khoảng không gian chật hẹp, vướng vít, nàng cố tránh không đụng chạm đến anh tài xế, nhưng dần dà, khi chìm dần vào giấc ngủ, thì người nàng cứ ngả về phía anh ta. Mơ mơ màng màng, có một lúc, nàng cảm thấy như có ai vừa hôn mình. Nàng cựa mình, hé mắt. Xe vẫn chạy đều. Anh chàng bộ đội nằm gác chân lên cửa kính, ngủ. Anh tài phụ chăm chú lái xe. Còn nàng thì tựa đầu vào vai anh tài xế. Nàng định nhích ra, nhưng bàn tay anh ta nâng nhẹ đầu nàng, kéo lại.

Nàng nhắm mắt, chân duỗi thẳng một khoảng hở dưới ghế, tay quơ quơ tìm một chỗ gác thuận tiện thì đụng phải bàn tay anh tài xế. Nàng hơi giật mình, nhướng mắt lên thì thấy bây giờ, nàng đang nằm gọn trong lòng anh tài xế, đầu gối lên cánh tay anh ta. Nàng khẽ nhấc chân, thì thấy một bàn tay anh ta đã đặt lên đùi nàng. Nàng định nhổm dậy hẳn, thì anh ta kéo nàng lại, giọng thì thào:

– Ngủ đi em, ngủ cho đỡ mệt.

Không hiểu sao, nàng lại nghe lời, nằm yên. Xe vẫn chạy đều. Hạnh lại chìm vào giấc ngủ. Nàng mơ thấy Lực ôm hôn nàng, rồi cứ thế, cứ thế, Lực nhỏm dậy. Nàng vùng vằng, rướn người lên. Một bàn tay kéo nàng xuống. Nàng bỗng có cảm giác êm đềm như soãi người trên một tấm nệm. Rồi chợt thấy như có cái gì nhột nhạt trong người, nàng lại mở mắt, định thần nhìn. Trong ánh sáng nhờ nhờ của buồng lái, nàng thấy bàn tay anh tài xế đặt trên bụng mình, còn bàn tay kia luồn vào ngực nàng. Nàng lấy bàn tay đè lên tay anh ta, giữ lại, nhưng anh ta lại dùng một tay giữ chặt tay nàng, còn tay kia tiếp tục sờ soạng. Bây giờ, nàng tỉnh hẳn và nàng hiểu anh tài xế đang muốn gì. Nàng cố vùng mạnh, nhưng anh tài xế vẫn ôm chặt. Nàng định nói “đừng anh, đừng anh”, nhưng lại sợ hai người đàn ông kia nghe thêm phiền, nên chỉ vùng vẫy trong im lặng. Anh tài xế định hôn môi nàng, nhưng nàng tránh ra. Anh ta lại hôn trên má.

Mùi đàn ông nóng hổi cộng với mùi bia phả vào nàng, khiến nàng tự dưng nhớ đến Lực. Nàng vẫn cố hết sức đẩy bàn tay anh ta ra, nhưng không được. Bây giờ, nàng như nằm trong gọng kềm của người đàn ông, thì hai bàn tay anh ta lại càng táo tợn. Sức nàng yếu dần, ý chí chống cự cũng dần dà tan

biến. Nàng lơi tay, người nàng như mềm đi, phó mặc. Không được, không thể được. Nàng muốn la, muốn nói lớn như vậy, nhưng rốt cuộc, nàng vẫn không nói gì được. Âm thanh của nó như một thứ điệp khúc vang vang trong đầu óc. Nhưng  thân xác nàng thì cứ trôi dài, trôi xuôi theo những cảm giác mê man kỳ bí. Nó dâng lên, dâng cao. Lực ơi, Lực ơi. Hình như nàng đã kêu lên như thế. Nàng cắn chặt đôi môi để khỏi phát ra tiếng rên. Nàng chao đảo, bồng bềnh giữa biên giới của sự ghê tởm và sự biết ơn, giữa sự chống trả mãnh liệt và sự buông lơi, đón nhận. Hai tay nàng bấu vào vai anh tài xế, vừa muốn đẩy ra, vừa muốn kéo sát vào mình. Có một lúc nào đó, nàng đã cắn vào vai anh tài xế.

Xe vẫn chạy đều. Anh tài phụ dụi tàn thuốc. Anh bộ đội vẫn nằm vắt vẻo trên ghế, ngủ. Hạnh kéo quần lên, nằm im lặng, thật im lặng. Nàng có cảm giác như một cái gì đó đã qua đi, qua đi hẳn. Nàng nghĩ đến Lực và cảm thấy tội nghiệp. Lực thì điệu nghệ, nhẹ nhàng, tỉ mỉ. Như một bài học thuộc lòng. Bao giờ chàng cũng đi từng bước một, cẩn thận, cố gắng không để sót một chi tiết nào. Dù có nhậu nhẹt quá chén, hoặc có xa vắng lâu ngày, chàng vẫn thế, từ đầu chí cuối. Nàng tưởng mình là đứa trẻ con được người ta đẩy xe đi chơi trong một khu phố quen thuộc, theo một lộ trình không thay đổi. Bây giờ thì khác. Người đàn ông thứ hai trong đời này hấp tấp hơn, cuồng bạo hơn, dã man hơn và lạ hơn! Còn nàng thì như đứa trẻ con nọ bỗng một hôm, nhảy xuống xe, trốn đi rong chơi ở một khu phố chưa hề quen.

Nàng khẽ thở dài. Mình hư quá, hư thật rồi. Nàng ngồi ngay ngắn dậy, vuốt lại áo quần, dựa vào thành xe, vòng tay lại, miên man suy nghĩ, chỉ trong thoáng chốc, mọi chuyện như lật sang một trang khác. Nàng thấy mình như đang rời khỏi vùng quen thuộc cũ. Nàng quay sang anh tài xế. Anh ta hình như đã ngủ. Tóc lòa xòa trước trán. Hàng râu mép lởm chởm. Đôi môi dày, thô tháp, không che kín hàm răng. Đôi môi ấy đã hôn nàng, những sợi râu chích chích vào má. Trước sau, nàng đã nhìn khuôn mặt anh ta với nhiều cảm giác lẫn lộn. Khi thì ngờ vực, khi thì tin cậy, khi thì biết ơn, còn lúc này thì khó hiểu. Anh ta lương thiện hay đểu giả, nàng phân vân, không tìm thấy câu trả lời.

Tảng sáng, xe dừng lại ở một thị trấn nhỏ nào đó. Anh tài xế thức dậy, hôn nhẹ lên má nàng, gọi nàng đi ăn sáng. Hạnh nằm im làm bộ ngủ. Khi ba người đàn ông trở lại xe, trời đã sáng hẳn. Hạnh ngượng nghịu tránh nhìn họ. Anh chàng bộ đội cười:

– Sao, người đẹp ngủ ngon chứ?

Nàng có cảm giác câu hỏi hàm một ý khác, nên im lặng. Anh tài xế vẫn ngồi bên cạnh nàng. Nàng nhích hẳn người sang một bên, mắt nhìn thẳng phía trước. Anh ta nói nhỏ, vừa đủ cho nàng nghe:

– Anh xin lỗi nếu đã làm em không vừa ý. Nghĩ cho cùng, cũng vui thôi, đâu có gì ghê gớm lắm, phải không em.

Anh ta xưng em với nàng một cách gọn gàng, thoải mái như đã quen xưng từ lâu. Hạnh không trả lời, nhưng câu nói của ạnh ta khơi lên trong nàng một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ. Ừ, thì đâu có gì ghê gớm lắm. Nhưng nàng chợt thắc mắc chẳng lẽ đây là một cách trả ơn. Có đắt lắm không, nàng tự nhủ.

Anh tài xế xích sát gàn nàng, vòng tay sau lưng định ôm, nhưng nàng cương quyết giữ lại, và tránh ra xa. Anh ta cười:

– Em tôi làm bộ nữa.

Hạnh cương quyết:

– Em không thích.

Anh tài xế nhượng bộ, ngồi nhích xa một tí. Anh ta nói:

– Xe đã đến Biên Hòa. Sắp bước qua cửa ngục cuối cùng rồi đây.

Hạnh thắc mắc định hỏi, thì bỗng hiểu ra. Còn một trạm thuế nữa ở cửa ngõ Sài Gòn: trạm Ngã Ba Vũng Tàu. Nàng hơi bối rối khi nghĩ đến chuyện nàng có hơi làm phật lòng anh tài xế khi nãy. Nàng hỏi, giọng nhẹ nhàng:

– Chắc cũng qua lọt chứ anh.

Anh ta cười thoải mái:

– Thì cũng như mấy trạm kia thôi.

Nàng chăm chú nhìn xem thử trên nét mặt anh ta có gì bất bình không. Nàng bỗng mong anh ta xích lại và vòng tay ôm nàng. Lần này, chắc chắn nàng sẽ để yên. Thêm một chút có sao đâu, nàng nghĩ. Nhưng lúc này anh ta lại ngồi ngay ngắn, đàng hoàng.

Xe chạy nhanh trên xa lộ. Đến ngã ba Vũng Tàu, xe dừng lại. Anh tài xế nhảy xuống, vào trạm trình giấy tờ. Hạnh thò đầu ra nhìn, bụng hồi hộp. Có những xe hàng đang bị “sạc” xuống để khám xét. Rất nhiều xe khác chờ đợi, căng thẳng. Hành khách trên các xe đều xuống xe, kẻ đứng, người ngồi. So với các trạm thì trạm này đông đúc, ồn ào nhất vì số lượng xe ùn lại từ nhiều ngã. Hơn nữa, ở đây, thuế vụ lục lọi kỹ hơn trước khi vào thành phố.

Anh tài xế đã trở lại, tươi cười. Xe qua trạm bình an. Hạnh thở phào nhẹ nhõm. Xem như hàng đã lọt vào thành phố. Xe chạy nhanh và tấp vào một khu công sở nằm bên lề xa lộ. Anh tài xế nói:

– Đây là trụ sở công ty tôi. Vào đây, tôi sẽ lấy hàng ra và dùng xe Honda chở em về nhà.

Hạnh mừng rỡ:

– Thế à! Còn gì thuận tiện hơn.

Chỉ nửa giờ sau, anh tài xế chở Hạnh cùng gói hàng về nơi nàng tạm trú ở Bà Chiểu.

– Em thường ở đây? Anh ta hỏi.

– Vâng. Khi nào rảnh mời anh ghé chơi.

Anh ta nhìn nàng, cười ý nhị:

– Ghé chứ! Mà em có sẵn sàng không?

Anh ta nắm chặt bàn tay nàng, bóp mạnh:

– Nhớ anh nghe! Anh thì chẳng bao giờ quên một đêm tuyệt vời bên em. Giờ thì phải về cơ quan giao hàng. Tạm biệt!

Hạnh cười nhìn theo chiếc xe anh ta chạy xa dần. Hạnh xách hàng vào nhà, tự hỏi chẳng biết anh ta tên gì.

Hạnh bán hàng được giá ngoài cả những dự tính lạc quan nhất. Dù lượng hàng của nàng ít ỏi, nhưng gần tết, hàng hiếm, nên người ta nâng giá lên để mua. Con buôn từ Kampuchea chực sẵn ở Sài Gòn, gom hàng để chuyển hàng lậu qua biên giới nhân dịp tết.

Tính ra Hạnh bán lời hơn một cây vàng. Hạnh vui mừng không xiết. Nàng bay đi khắp các chợ mua sắm. Nàng quyết năm nay cho chồng con ăn một cái tết sung túc, đầy đủ nhất. Bao nhiêu năm rồi, chẳng có cái tết nào gọi là ngó cho được. Cũng sắm, cũng sửa, cũng pháo, cũng hạt dưa, cũng bánh mứt … nhưng vừa sắm vừa lo. Tiền thì cái mượn, cái còn nằm trong hàng hóa, chẳng biết lời lỗ, mất còn thế nào. Rồi lại vàng cao, vàng hạ nữa. Mượn thì mượn vàng. Hàng bán có lời tính trên tiền, nhưng khi mua vàng lại để trả thì đâm ra lỗ vì đồng tiền trượt giá, vàng đột ngột cao lên. Người đi buôn ăn tiêu, mua sắm, nhưng bụng không yên. Sợ vàng ế, sợ vàng cao, sợ công an, thuế vụ …

Mua sắm đã đời, chiều 27 tết, Hạnh nhảy tàu Thống Nhất trở lại nhà. Nàng tính mua một ít hàng ra bán tết, kiếm thêm chút đỉnh tiền lời, nhưng nghĩ đến chuyến vào quá vất vả, nàng đi không. Lại nữa, lời thế cũng vượt quá mơ ước rồi. Hạnh nôn nao trông được chóng về nhà. Chuyến tàu cuối năm ít người, sao đi chậm quá!

Nhưng rồi Hạnh cũng về đến nhà.

Thấy Hạnh ngồi ngất ngưỡng trên chiếc xích lô, Lực và ba đứa con chạy ùa ra vui mừng tíu tít. Mấy cha con thay nhau chuyền đủ thứ đồ đạc vào nhà. Lực hỏi:

– Lời khẳm không mà mua sắm dữ vậy em?

– Ngoài dự tính. Trên một cây. Đó, anh xem, em xuất hành ngày “sát chủ” và “thọ tử” mà.

Lực đấu dịu:

– Thì anh lo, anh nói. Còn chuyện buôn bán là chuyện của em, anh đâu dám xen vào.

Hạnh dọn một ít trái cây tươi, bánh mứt đặt lên bàn thờ, lên bếp, lên am, nàng dặn Lực:

– Anh thay áo quần vào thắp nhang cúng hộ em. Anh nhớ đọc tên tuổi anh, em và các con, rồi xin cám ơn tổ tiên,ông bà, cô hồn các đẳng đã phù hộ cho em đi đến nơi về  đến chốn. Nhớ khấn là mình không quên vái đầu heo. Chiều mai cúng tết và cúng tạ luôn thể. Không có ông bà phù hộ là vốn liếng bay sạch rồi đó, anh biết không?

Lực hỏi:

– Sao vậy?

– Hàng bị bắt, bị tịch thu rồi mà chuộc ra được, chỉ tốn không đáng kể. Anh biết không, cuối năm mà em được quý nhân phù trợ.

Tự dưng, Hạnh ngưng nói. Nàng cảm thấy lấn cấn. Lực vẫn đứng đợi nàng kể tiếp, nhưng thấy vợ im lặng, chàng bỏ đi, thay áo quần để đi cúng. Thắp nhang, khấn vái xong, chàng đi ra thì đã thấy Hạnh bày đủ thứ đồ đạc trên bàn: mứt, bánh, lạp xưởng, pháo, đồ chơi, đồ cúng, sách báo xuân, băng nhạc xuân … Mấy đứa con hân hoan rờ rịt, trầm trồ, giành giựt nhau. Lực đứng nhìn nàng, không ngờ Hạnh đã mua nhiều thế. Hạnh vui vẻ gọi:

– Thôi, mấy cha con lại đây.

Nàng mở đến cái xách nặng nhất. Lực và mấy đứa con hồi hộp chờ đợi. Hạnh lần lượt lôi ra từng món. Bọn trẻ reo lên:

– Đồ tết!

Nàng lấy áo quần phân phát cho các con, mỗi đứa hai bộ mới tinh, quần Jean, áo Pull, giày, nịt, mũ.

– Còn đây là đồ của anh.

Hạnh lấy ra hai bộ quần Jean, áo Pull, một xấp vải Terylene

-Anh.

Hạnh nói:

– Em mua cho anh xấp vải may Veston. Đây là thứ vải Anh đắt tiền nhất đây. Em nghĩ, đã không may thì thôi, may một bộ cho xứng một bộ, mặc cả chục năm. À, còn cái này nữa, em làm quà tết cho anh đây.

Hạnh rút trong túi ra một hộp nhỏ, cười:

– Anh đoán thử xem cái gì đây?

Lực lắc đầu. Nàng mở hộp. Cái đồng hồ Seiko 5 đời mới. Lực reo lên:

– Trời ơi!

Từ lâu chàng vẫn thèm thuồng cái đồng hồ Seiko Nhật có dáng hình chữ nhật này. Chàng gạ gẫm vợ mãi, nhưng Hạnh tiếc tiền, cứ hẹn rày hẹn mai. Bây giờ đeo vào tay, chàng vui mừng như trẻ con nhặt được tiền rơi ngoài đường.

– Còn nữa. Đây là để anh mời bạn.

Hạnh lôi ra một két bia Sài Gòn. Cuối cùng, nàng còn lôi ra thêm cái Radio Cassette Nhật. Nàng nhìn chồng tươi cười:

– Cái này để anh nghe đài BBC thì hết chỗ chê. Lại còn nghe nhạc xuân nữa chứ.

Lực cứ đứng ngẩn người ra mà nhìn. Chàng hết nhìn áo quần, vải vóc, đồng hồ, radio cassette rồi lại nhìn vợ. Chàng vừa ngưỡng mộ, vừa thương. Hạnh quả là bà tiên, là người vợ tuyệt vời.

– Thôi em đi tắm rửa rồi nói chuyện sau. Hạnh nói.

Lúc nàng đến cửa buồng tắm, Lực đi theo. Chàng ôm vợ vào lòng hôn tới tấp trên tóc, trên má, trên ngực nàng.

– Phải đền anh nghe!

Hạnh đẩy nhẹ chồng ra, âu yếm:

– Thì từ từ đã, làm gì mà vội thế!

Hạnh tắm rửa, kỳ cọ thật sạch sẽ như để tẩy sạch hết những nỗi gian truân, lo lắng dọc đường. Và cũng để đền cho Lực. Nhưng khi nhìn xuống thân thể mình, nàng bỗng cảm thấy như có cái gì thiếu hụt, mất mát, có cái gì không

còn nguyên vẹn nữa. Ừ, chẳng có gì ghê gớm lắm, nhưng tội nghiệp Lực. Tự dưng, Hạnh thở dài.

Trên nhà, mấy cha con đang mở băng nhạc xuân rộn rã.

Hạnh bước ra nhìn chồng, nói:

– Anh vặn nhỏ lại anh. Băng nhạc hải ngoại đó. Coi chừng công an khu vực vào thì phiền.

Tiếng nhạc và tiếng hát nhỏ dần: “Mùa xuân nâng chén ta chúc … “

Massachusetts 12-1993

Long Tân Day: Vietnam Veterans’ Day

dongsongcu.wordpress.com

Đoàn Xuân Thu – 30 tháng 8, 2025

Posted on September 2, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 Sep 2025

(Hình minh họa: BrianPenny-Pixabay)

Ngày 18 Tháng Tám năm 1966, giữa cơn mưa rừng nhiệt đới của tỉnh Phước Tuy, một trận đánh đã ghi dấu son trong lịch sử quân sử Úc Đại Lợi: trận Long Tân.

Lực lượng tham chiến là Đại đội D thuộc Tiểu đoàn 6, Trung đoàn Hoàng gia Úc (D Company, 6th Battalion, The Royal Australian Regiment – 6RAR). Đơn vị này, với quân số vỏn vẹn hơn một trăm binh sĩ, đã phải đối diện và cầm cự suốt nhiều giờ đồng hồ trước sức ép kinh hoàng của một lực lượng địch quân đông gấp bội, ước tính từ 1.500 đến 2.500 người gồm Trung đoàn 275 (CSBV) cùng Tiểu đoàn D445 (VC địa phương).

Kết cục, trong gian khó tưởng chừng không vượt qua nổi, những người lính Úc đã đứng vững, giữ trọn trận địa và gây thiệt hại nặng nề cho đối phương. Trận Long Tân từ đó trở thành một chương đặc biệt của cuộc chiến Việt Nam, không chỉ đối với nước Úc mà còn trong lịch sử liên quân đồng minh trên chiến trường Đông Dương.

Để hiểu ý nghĩa của Long Tân, cần đặt nó trong bối cảnh năm 1966. Lúc ấy, Úc Đại Lợi chính thức dấn thân sâu vào cuộc chiến Việt Nam, với lực lượng tác chiến chủ lực là Lữ đoàn Đặc nhiệm số 1 đặt căn cứ tại Núi Đất, tỉnh Phước Tuy. Trong cấu trúc này, 6RAR là đơn vị tân lập, được thành hình năm 1965, và chỉ ít tháng sau đã phải ra trận lần đầu tiên trong một cuộc thử thách sinh tử. Với truyền thống quân đội Hoàng gia, người lính Úc vốn được huấn luyện kỹ lưỡng trong tác chiến bộ binh, kỷ luật sắt và tinh thần đồng đội bền chặt. Tuy nhiên, chưa có kinh nghiệm chiến trường nào đủ khốc liệt như trận Long Tân để tôi luyện bản lĩnh của họ.

Chiều hôm ấy, Đại đội D được lệnh thám sát vùng đồn điền cao su Long Tân sau khi địch pháo kích dữ dội vào căn cứ Núi Đất. Không ngờ, họ rơi đúng vào ổ phục kích quy mô lớn.

Từng đợt xung phong dồn dập của đối phương như sóng tràn, trong khi mưa rừng trút xuống làm đất đỏ lầy lội. Đạn dược cạn dần, thương vong tăng cao, tình hình tưởng chừng tuyệt vọng. Thế nhưng, với sự bình tĩnh và quyết đoán của sĩ quan chỉ huy, cùng tinh thần kề vai sát cánh của binh sĩ, đội hình phòng ngự của Đại đội D không hề vỡ. Những cuộc yểm trợ hỏa lực của pháo binh và phi cơ đồng minh, cùng sự ứng cứu kịp thời của các đơn vị bạn, đã tạo nên thế trận vừa phòng thủ vừa phản công hiệu quả. Khi màn đêm buông xuống, quân địch buộc phải rút lui, để lại hơn 200 xác trận địa, trong khi phía Úc hy sinh 18 người. Tương quan tổn thất đã nói lên sự khốc liệt của cuộc giao tranh, đồng thời chứng minh sức chiến đấu phi thường của một đại đội trước một lực lượng đông gấp hàng chục lần.

Trận Long Tân không chỉ là một thắng lợi quân sự, mà còn mang tính biểu tượng. Nó khẳng định khả năng tác chiến độc lập của quân đội Úc, củng cố niềm tin nơi đồng minh và nâng cao tinh thần cho toàn bộ Lực lượng Đặc nhiệm tại Việt Nam. Bên cạnh đó, Long Tân còn trở thành một điển hình về giá trị quân sự của sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ binh, pháo binh và không quân. Các trường quân sự sau này đều lấy trận này làm bài học nghiên cứu trong giáo trình, như một minh chứng điển hình của học thuyết “chiến đấu trong điều kiện bất lợi với kỷ luật và hỏa lực tập trung.”

Tại quê nhà, tin tức Long Tân gây chấn động dư luận Úc. Dù phong trào phản chiến đang dâng cao, trận thắng này vẫn được nhìn nhận như một chứng tích cho sự hy sinh và lòng quả cảm của người lính Úc trên chiến trường xa lạ. Về mặt chính trị, nó giúp chính phủ Canberra củng cố lập luận rằng quân đội Úc có thể đảm đương vai trò độc lập trong chiến lược phòng thủ Đông Nam Á, không chỉ dựa vào Hoa Kỳ. Về mặt tâm lý chiến, Long Tân trở thành biểu tượng của sự kiên cường, được nhiều tài liệu lịch sử và phim ảnh nhắc đến như một “Gallipoli của thời hiện đại.”

Để tưởng nhớ sự kiện này, từ nhiều thập niên qua, ngày 18 tháng 8 hàng năm được chọn làm Ngày Long Tân (Long Tan Day), đồng thời cũng là Ngày Cựu chiến binh Việt Nam (Vietnam Veterans’ Day) tại Úc. Đây là dịp để quốc dân Úc cùng nhau tưởng niệm không chỉ những người lính đã hy sinh tại Long Tân, mà toàn thể quân nhân Úc từng phục vụ trong cuộc chiến Việt Nam. Các buổi lễ tưởng niệm thường được tổ chức trọng thể tại đài kỷ niệm Long Tân ở Việt Nam, tại Canberra và các thành phố lớn trên đất Úc, với sự hiện diện của cựu chiến binh, thân nhân những người lính Úc đã tử trận tại Việt Nam và công chúng. Ngày này, đối với người Úc, vừa là nhắc nhở về cái giá của tự do, vừa là dịp tri ân đối với một thế hệ đã cống hiến tuổi xuân nơi xứ người.

Khi nhìn lại, trận Long Tân không chỉ đơn thuần là một sự kiện quân sự. Nó phản ánh sự đan xen giữa chiến tranh và ký ức, giữa xung đột chính trị và tình người, giữa cái chết và sự vinh danh bất tử. Trên mảnh đất Việt Nam, những người lính Úc đã ngã xuống vì niềm tin rằng tự do và trật tự quốc tế cần được bảo vệ. Dù cách xa quê hương hàng vạn dặm, họ đã chiến đấu trong một cuộc chiến không phải của riêng dân tộc họ, mà là một phần của nghĩa vụ quốc tế. Sự hiện diện của họ, xét dưới lăng kính quốc phòng, là sự nối dài của chiến lược ngăn chặn cộng sản tại Đông Nam Á; nhưng xét dưới lăng kính nhân bản, đó còn là câu chuyện của những thanh niên mới đôi mươi, rời gia đình, bước vào chiến trường và chấp nhận hy sinh.

Ngày nay, mỗi khi đến 18 Tháng Tám, người Úc lại tưởng nhớ Long Tân như một dấu mốc thiêng liêng. Đằng sau nghi thức trang nghiêm, vẫn còn đó những giọt nước mắt của cựu binh nhớ đồng đội, của gia đình nhớ con em đã mãi mãi không về. Với những ai từng trải qua cuộc chiến, Long Tân không chỉ là một trang sách lịch sử, mà còn là vết khắc trong tâm hồn. Với thế hệ sau, đó là bài học về trách nhiệm và lòng can đảm. Và với chúng ta, những người Việt từng chia sẻ cùng họ mảnh đất máu lửa ấy, đó cũng là dịp để nhắc nhớ rằng trong cuộc chiến cho tự do, đã có những người bạn phương xa ngã xuống, máu của họ hòa vào đất này như minh chứng cho một tình liên minh không biên giới.

Tri ân những người lính Úc đã ngã xuốn ở Long Tân và khắp nẻo Việt Nam, ta nhận ra rằng tự do chưa bao giờ là tặng phẩm dễ dàng. Nó được trả bằng mồ hôi, bằng máu và bằng tuổi xuân của biết bao thế hệ. Những nấm mồ khắc tên những chàng trai Úc, mãi mãi là nhắc nhở cho cả hai dân tộc rằng tình đồng minh không chỉ ghi bằng hiệp ước, mà còn bằng sự hy sinh. Và trong buổi chiều tháng Tám, khi tiếng kèn truy điệu vang lên ở Canberra hay giữa đồn điền cao su Long Tân, ta hiểu rằng ký ức ấy sẽ không bao giờ nhạt phai.

Lest we forget!

(Melbourne)

John Walton – ‘người anh em’ của quân nhân VNCH

dongsongcu.wordpress.com

Posted on August 10, 2025 by dongsongcu

Đoàn Xuân Thu – 5 tháng 8, 2025

John Walton, con trai nhà sáng lập Walmart, người lính Mỹ đến chiến đấu ở Việt Nam vì tự do.

Có những người sinh ra để nối nghiệp gia đình, có người chọn con đường dễ dàng, nhưng cũng có những người từ bỏ mọi tiện nghi vật chất để theo tiếng gọi lương tâm. John Walton là một người như thế.

Ông là con trai của Sam Walton, nhà sáng lập đế chế bán lẻ Walmart. Sinh trưởng trong một gia đình tỷ phú, lẽ ra John có thể sống đời nhung êm nệm ấm giữa học đường Ivy League và những cuộc thương lượng làm ăn trong phòng họp điều hòa như Donald Trump đương kim tổng thống Hoa Kỳ từng 5 lần trốn lính. Nhưng khi tiếng súng của Tết Mậu Thân 1968 vang vọng qua màn hình truyền hình màu, John rời bỏ giảng đường, gạt phăng ý kiến phản đối của người cha quyền lực để khoác lên mình bộ quân phục của Quân Lực Hoa Kỳ.

Ông từng nói: “Ở ký túc xá, người ta nói về chiến tranh nhiều lắm, nhưng tôi không nghĩ họ thật sự hiểu nó.” Và thế là ông tình nguyện nhập ngũ, xin vào đơn vị đặc nhiệm danh tiếng Green Berets – Lực Lượng Mũ Nồi Xanh – và được huấn luyện thành y tá chiến trường (Special Forces Medic).

Không dừng lại ở đó, John còn được điều về MACV-SOG, một đơn vị bí mật chuyên thực hiện những phi vụ cực kỳ nguy hiểm tại các vùng rừng núi hiểm trở của Việt Nam, Lào, và Campuchia.

Tại căn cứ Phú Bài, ông được biên chế vào toán trinh sát Spike Team Louisiana, chuyên thực hiện các phi vụ do thám và đánh phá hậu tuyến địch, đặc biệt ở thung lũng A Shau – nơi được mệnh danh là “lò lửa” của mặt trận miền Trung.

Ngày định mệnh của đời John đến vào mùng 3 Tháng Tám, năm 1968, trong một phi vụ do thám sâu trong lãnh địa của quân Cộng Sản Bắc Việt. Toán trinh sát sáu người của ông, do Wilbur “Pete” Boggs chỉ huy, bị phục kích. Một đồng đội hy sinh ngay tại chỗ, Boggs bị thương nặng, và Tom Cunningham, người lính truyền tin, bị đứt mất một chân.

Giữa làn đạn như vãi trấu, John lúc ấy là y tá chiến trường, bò sát đất để cấp cứu đồng đội, trong khi vẫn nổ súng chống trả đợt tấn công áp sát của đối phương. Khi Boggs không còn khả năng chỉ huy, John tiếp nhận quyền chỉ huy, sử dụng máy PRC-25 gọi phi vụ không kích gần như ngay trên đầu họ, chỉ cách vài trăm thước, điều vô cùng nguy hiểm nhưng đã bẻ gãy đợt xung phong của lính cộng sản.

Khi cơ hội rút quân hé mở, một chiếc trực thăng H-34 “KingBee” của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa do Đại Úy Đinh Văn Thịnh lái, bất chấp mệnh lệnh, liều lĩnh hạ cánh ngay giữa lằn đạn để bốc toán quân Mỹ. John vừa đỡ đồng đội bị thương lên máy bay, vừa chống trả, trong khi đạn của lính cộng sản bắn xuyên thân máy bay.

Máy bay quá tải không thể cất cánh thẳng, Đại Úy Thịnh phải trượt xuống sườn đồi để lấy đà, rồi lạng lách qua tán rừng như phép màu để đưa cả toán về an toàn. Nhờ hành động dũng cảm ấy, John được tặng Huân Chương Sao Bạc (Silver Star) – danh hiệu cao quý thứ ba của Quân Đội Hoa Kỳ, với lời ca ngợi chính thức: “Vì lòng can đảm, bình tĩnh (cái đầu lạnh), và kỹ năng y khoa xuất sắc dưới hỏa lực địch.”

Nhưng với John, vinh quang không nằm ở huân chương. Ông từng nói với bạn bè rằng điều ông nhớ nhất không phải là chiến thắng, mà là một đồng đội đã không thể trở về.

Sự nghiệp và cái chết bi tráng: Sau khi xuất ngũ, John không chọn con đường trở thành doanh nhân như cha hay chú. Ông lặng lẽ sống cuộc đời phiêu lưu, trở thành phi công, nhà đầu tư cho công nghệ giáo dục, và đặc biệt say mê máy bay hạng nhẹ.

Trớ trêu thay, người từng sống sót qua địa ngục thung lũng A Shau lại thiệt mạng trong một vụ tai nạn máy bay nhỏ vào ngày 27 Tháng Sáu năm 2005, tại Công Viên Quốc Gia Grand Teton, tiểu bang Wyoming. Ông mất ở tuổi 58, để lại một di sản không nằm trong bảng xếp hạng tài sản, mà là trong trái tim những người lính từng chiến đấu bên ông.

Lời tri ân từ Việt Nam Cộng Hòa

Với người dân miền Nam Việt Nam, sự hiện diện của những người lính Mỹ như John Walton là một hành động cao cả. Họ không đến để chiếm đất, đến không vì tài nguyên, mà vì một lý tưởng: tự do và ngăn chặn làn sóng cộng sản đang đe dọa cả Đông Nam Á.

John Walton, cũng như hàng chục ngàn chiến binh Mỹ khác, đã dấn thân vào một cuộc chiến không dễ biện minh, nhưng lòng quả cảm và nhân cách của họ vẫn luôn là ánh sáng soi rọi qua màn sương lịch sử.

Họ không phải là lính đánh thuê. Họ là người lính của tự do – từ Kansas, Texas, California – đã rời xa gia đình, người yêu, sự nghiệp, để sang một xứ sở xa lạ, chiến đấu và hy sinh vì tự do của người khác.

Có thể thế giới ngày nay nhìn cuộc chiến Việt Nam qua lăng kính chính trị, nhưng người dân miền Nam chưa bao giờ quên những cái tên như John Walton. Họ là người Mỹ đẹp nhất – những người không chỉ làm giàu bằng đô-la, mà làm vinh quang cho nước Mỹ bằng lòng can đảm.

Xin nghiêng mình tưởng nhớ John Walton – người con của đại gia đình Walton, nhưng hơn hết, là người anh em của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trên tuyến đầu khốc liệt năm xưa.

God bless this American hero!

(Melbourne)

Ăn Tết Ở California

vvnm.vietbao.com

17/02/2013

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 3 Sep 2025

Tác giả là một nhà văn đã xuất bản 3 tác phẩm, góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Ông sinh tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia. Truyện tết Cali sau đây của ông có lời của tác giả trân trọng đề tặng cho nhân vật:

Kính tặng cô Nguyệt.

“A lô! Cho tôi gặp nhà văn Lê Văn Tám ạ!” “Dạ, Tám tôi nghe đây” “Chú còn mấy tập truyện của chú không chú?” “Dạ còn. Đủ ba tập” “Chú gửi cho cháu ba tập nghe!” “Dạ. Cô cho tên và địa chỉ, sáng mai tôi đi gửi ngay cho cô” “Cháu tên Nguyễn thị Chín, địa chỉ… Đó là tiệm nail của cháu” “Cô là chủ tiệm nail? Giàu lắm nghe!” “Chẳng giàu có gì đâu chú ơi! Kinh tế xuống, tiệm ế quá, ngồi không cũng buồn, mua chuyện chú đọc để giết thì giờ. Chị Nguyệt Thu, bạn cháu khen chú viết hay lắm, bảo cháu mua sách chú mà đọc” “Cho tôi gửi lời cám ơn cô Nguyệt Thu đã có lời khen. Và cám ơn cô đã gọi mua sách”

Tuần sau, vào một buổi tối “A lô! Cho cháu gặp chú Tám ạ!” “Dạ, Tám tôi nghe đây” “Chú dạ, cháu giảm thọ” “Dạ. Trên điện thoại, già trẻ, nam nữ gì tôi cũng dạ trước, nói chuyện sau” “Cháu nhận được sách chú gửi rồi. Cám ơn chú”

“Tôi cũng nhận được check cô gửi rồi. Cám ơn cô nhiều. Đọc xong, cô cho tôi vài nhận xét, dở chỗ nào? Đề nghị sửa đổi ra sao. Được vậy tôi mới tiến bộ. Ai cũng khen lấy lòng, đâu quí bằng chê.” “Vậy là những lời chị Nguyệt Thu khen chú là vô giá trị, phải không? Cháu mét chị ấy. Người đọc khen thì phải cám ơn chứ!”

“Xin cô nói với cô Nguyệt Thu, tôi rất cám ơn. Còn nhận xét của cô ra sao sau khi đọc truyện của tôi?”

“Cháu chỉ mới đọc vài chuyện. Chẳng có gì hay ho. Nói chú viết dở thì tội nghiệp chú. Nhưng chị Nguyệt Thu thì lại khen nức nở. Đang ngồi đọc, chị ấy phì cười, đọc chuyện khác thì chùi nước mắt” “Bạn cô khóc hay ứa nước mắt?” “Chị ấy khóc, phải lấy khăn lau” “Vậy là cô ta gần năm mươi” “Sao chú biết?” “Những người lớn tuổi, hơi xúc động là chảy nước mắt dù họ đâu có muốn khóc. Ngáp cũng chảy nước mắt, ho cũng chảy nước mắt. Người ta nói mắt mũi kèm nhèm là vậy. Tuyến nước mắt bị hỏng rồi. Cô nhớ nhắc bạn cô, khi đọc sách tôi, xin cho vài ý kiến xây dựng nghe!” “Chị ấy khóc thiệt chứ không hơi xúc động như chú nói đâu, vì chị ấy chưa đến năm mươi. Ham nói chuyện, cháu quên những thắc mắc mà chị Nguyệt Thu nhờ cháu hỏi chú. Những chuyện chú viết, có thật không chú?” “Cũng có thật chút ít, viết thật quá, người ta chán. Tôi phải thêm chi tiết vào cho chuyện được hấp dẫn. Có ông nhà văn nào đó nói. Chuyện hư cấu bao giờ cũng thật hơn chuyện thật” “Cô gái ma trong tranh hiện ra với cậu thanh niên. Chuyện có thật không chú? Bức tranh đó bây giờ ở đâu chú?” “Làm gì có ma, thì làm sao mà chuyện thật được. Nói với bạn cô rằng đọc để giải trí, đừng tin những gì tôi viết mà bị ám ảnh. Có phải cô đang xuống xe không?” “Sao chú biết?” “Nghe cô đóng cửa cái rầm, còn bấm cái remote “tít, tít”. Cô đang vô nhà. Phải không?” “Sai rồi. Cháu vô tiệm cơm chỉ.” “Cơm chỉ là sao?” “Muốn ăn món nào thì chỉ món đó, người bán cho vô hộp, đem về nhà ăn, khỏi nấu nướng mất công” “Vậy cũng tiện. Nhưng tôi có ý kiến nầy, nếu không vừa ý thì đừng giận. Là nên nấu nướng cho chồng con, đó là niềm vui của người vợ. Nấu vài món đơn giản thôi, nhanh lắm.” “Chú dạy đời lầm người rồi. Cháu sống một mình, chồng con gì đâu mà phải nấu nướng.” “Cô chưa lập gia đình à? Xin lỗi nghe!” “Cháu cũng có chồng nhưng bây giờ tan hàng rồi. Đang ở chung với chị Nguyệt Thu, người mê truyện chú viết đó.” “Tôi không dám hỏi chuyện riêng tư của cô, nhưng người như cô, vui vẻ, khôn lanh, có công ăn việc làm vững vàng thì dư sức có một gia đình đàng hoàng như những người khác.” “Để hôm nào có thì giờ, cháu kể chuyện gia đình của cháu cho chú nghe. Chuyện dài lắm, chú mà nghe được dám viết thành tiểu thuyết hay lắm, nhưng kết cuộc là cháu đã li dị chồng cháu. Anh ta lăng nhăng quá. Trẻ không tha, già không từ. Hiện đang ở Việt Nam với cô vợ đáng tuổi con anh ta.” “Chia buồn với cô, và khen cô có nghị lực. Lần sau, lấy chồng phải cẩn thận, lựa người đàng hoàng. Đừng hấp tấp” “Còn chú thì sao? Vợ con ra sao?” “Tôi cũng như cô. Ăn cơm chỉ” “Vậy là cháu biết mục đích lời khuyên của chú rồi. Ý chú muốn nói đàng hoàng như chú phải không?” “Tầm bậy. Tôi tám mươi tuổi, già hơn cô nhiều lắm. Hơn nữa, tôi thích sống độc thân. Tự do, thoải mái quen rồi” “Ông nào gặp gái cũng hát bài “độc thân, vợ bỏ, vợ chết”. Khi người ta khám phá ra là có vợ sờ sờ ra đấy thì bảo không hạnh phúc, sắp li dị, rồi nói xấu vợ đủ điều. Mấy bài đó xưa quá chú ơi. Chú có bài hát nào khác mấy ông kia không?” “Biết hết! Vô mua đồ ăn mà về cho sớm.” “Cháu đang sắp hàng đây.” “Bye cô!” “Chú mất lịch sự. Để cháu, là đàn bà, nói bye trước.” “Dạ. Xin lỗi. Tôi quen nói với bạn trai. Không muốn chuyện trò nữa thì bye, chẳng ai trách. Mà trước sau gì cô cũng bye tôi trước.” “Bye chú!”

“A lô! Chú Tám!”

“Dạ. Tám tôi nghe đây. Tiệm vắng khách, gọi nói chuyện cho đỡ buồn. Phải không?” “Cháu bắt chước chú, nói. Biết hết! Quả nhiên, tiệm hơi vắng khách. Chị Nguyệt Thu, bạn cháu nhớ chú, bảo cháu gọi, hỏi thăm chú có mạnh khỏe không?” “Nói với bạn cô, đừng nhìn cái hình ở bìa sau tập truyện mà lầm. Cái hình đẹp trai, cao ráo đó tôi chụp cách đây cả vài chục năm. Bây giờ tôi già rồi, hom hem lắm. Có cảm tình thì tôi cám ơn, nhưng gặp thì sẽ thất vọng vô cùng” “Chị bạn cháu cũng rất già. Coi bộ còn già hơn chú nữa. Nhưng chị ấy nói, yêu chuyện chú viết, yêu nhân vật trong truyện, chứ tác giả thì chị ấy chỉ khen là có tài làm người đọc không chán” “Truyện tôi đăng báo, ra sách, từ trước đến nay, người ta không chê chỉ vì tội nghiệp tác giả, chứ khen thì hiếm lắm. Các ông văn sĩ khác được nhiều người khen nên họ coi thường, còn tôi, cô Nguyệt Thu là người duy nhất khen tôi nên tôi quí và có cảm tình với cô ấy lắm. Có cô Nguyệt Thu ở đó không? Cho tôi gặp trực tiếp để cám ơn cô ta” “Chú chờ cháu. Chị Nguyệt Thu ơi! Đến đây nói chuyện với nhà văn Lê văn Tám, “người đẹp” của chị nè. Sao chị lắc đầu? Mắc cỡ à? Cứ bắt em làm trung gian, mai mối mà chẳng ai trả công cả. Chú Tám ơi! Chị ấy mắc cỡ, không dám nói chuyện với chú” “Tết nay tôi qua Cali. ăn tết với bạn bè bên đó, tôi nhất định phải gặp cô Nguyệt Thu để cám ơn cô ta” “Để cháu hỏi trước chị Nguyệt Thu, có chịu cho chú gặp không? Cháu không quyết định được. Nếu chị Nguyệt Thu không muốn gặp chú, xin chú đừng đến tiệm của cháu mà tìm nghe. Chị ấy và cháu sẽ giận chú, không tiếp đâu. Nhưng hôm nào chú qua đây?” “Khoảng hăm chín, ba mươi tết. Tôi qua ăn tết với bạn bè” “Có thể cháu sẽ gặp chú, để xem mặt mũi hiện nay của chú ra sao. Dung nhan mùa hạ trong quá khứ của chú rất đáng để chị Nguyệt Thu của cháu chiêm ngưỡng. Cháu nói nhỏ với chú điều nầy. Chị Nguyệt Thu mặc cảm già và xấu, giọng khàn khàn như đàn ông nên không muốn nói chuyện với chú là vì vậy” “Thưa giùm tôi với cô Nguyệt Thu. Dù cô ta có già cỡ nào, đui què mẻ sứt, xấu xí cỡ nào tôi vẫn yêu thương, quí trọng cô ta. Nếu cô cũng có viết lách, cô sẽ thông cảm với tôi. Tôi rất yêu thương những nhân vật tôi dựng nên. Nay có người quan tâm đến chúng, tôi rất biết ơn. Tình cảm giữa tôi với cô Nguyệt Thu hoàn toàn trên tinh thần, trên sự cảm thông. Nó không liên hệ gì đến vật chất. Xin cô Nguyệt Thu đừng bận tâm về dung nhan hay giọng nói của mình” “Cháu không ngờ chú yêu nhân vật trong truyện của chú đến cỡ đó. Cháu tưởng những nhân vật chú dựng lên như là phương tiện để chú nói ra những suy nghĩ, tâm tình của chú, sau đó, chú sẽ quên đi” “Tôi có đọc đâu đó, hình như chuyện một nhà văn bên Pháp. Một hôm, một người bạn đến thăm nhà văn, thấy ông ta ngồi khóc sụt sùi. Hỏi vì sao khóc? Ông ta nói cô X. chết rồi. Ông bạn hoảng kinh hỏi. Cô X. nào? Cô ta là gì của anh? Vì sao chết? Chết khi nào? Ông ta mếu máo nói. Vừa mới chết. Bị bịnh chết. Người bạn hỏi. Cô ta chết, anh đến viếng thăm chưa? Đi ngay với tôi. Ông nhà văn lắc đầu, chỉ tay vào mấy trang giấy để trên bàn. Thì ra, cô X. là nhân vật do ông ta dựng nên trong một tác phẩm” “Cháu hiểu rồi. Cháu hiểu vì sao chú thương mến chị Nguyệt Thu của cháu. Để cháu thuyết phục chị ấy gặp chú, kẻo tội nghiệp chú”

“Chú Tám gọi, phải không? Cháu nghe đây. Cám ơn chú đã gọi cháu. Chị Nguyệt Thu nhớ chú nên cứ hỏi “Chú Tám có gọi không?” “Cô nói vậy để tôi mừng chứ tôi và cô Nguyệt Thu có gặp nhau, chuyện trò bao giờ mà nhớ? Cô biết hiện giờ tôi đang ở đâu không? Tôi đã về Cali. rồi. Sáng nay có mấy người bạn rủ đi điểm tâm, tôi mời cô và cô Nguyệt Thu cùng đi. Được không cô?” “Để cháu hỏi chị Nguyệt Thu. Gặp chú ở đâu? Lúc mấy giờ?” “Khách sạn tôi đang trọ nằm ở góc đường Westminster và Brookhurst. Gần đó có một tiệm phở. Mấy ông bạn hẹn tôi mười giờ sáng nay tại tiệm phở đó” “Cháu biết tiệm phở đó rồi. Khoảng mười giờ mà cháu và chị Nguyệt Thu không bận khách thì tụi cháu sẽ chạy đến ngay. Hi vọng sẽ đến đúng giờ. Bye chú”

Trước mười giờ, cô Chín đã đến tiệm phở. Cô ngồi vào một bàn ở góc tiệm, khuất sau mấy chậu cây cảnh. Cô gọi một tô phở, nhìn đồng hồ rồi nhìn quanh, tìm kiếm. Tiệm đông khách, đầy tiếng chào hỏi, chuyện trò, cười nói ồn ào. Một lúc có một toán đàn ông lớn tuổi đi vào, ngồi trên một bàn lớn, giữa tiệm. Ăn xong tô phở, cô Chín bình thản đến quày trả tiền, liếc nhìn mấy ông ngồi đó rồi về chỗ ngồi. Rồi cô rụt người xuống, nấp sau chậu cây cảnh, và lấy điện thoại ra bấm số. Bàn bên kia, một người đàn ông, tuổi trên sáu mươi, cao và gầy, đứng lên, lấy điện thoại ra, nhìn rồi áp lên tai “A lô. Cháu là Chín đây. Xin lỗi chú, cháu và chị Nguyệt Thu đang kẹt khách, không đến tiệm phở gặp chú được.” “Khi nào xong?” “Khoảng nửa tiếng nữa” “Tụi tôi chờ được” “Cám ơn chú. Nhưng xin lần khác, nghe chú! Chị Nguyệt Thu có ý kiến như thế nầy. Tối mai, mời chú đến nhà tụi cháu ăn tất niên rồi đón giao thừa với tụi cháu. Được không chú?” “Mấy ông bạn cũng mời tôi đến nhà ăn tết, nhưng khi hai cô mời thì dù ông tổng thống Mỹ năn nỉ tôi đến nhà trắng, tôi cũng từ chối để đến thăm hai cô.” “Tối mai, lúc mười giờ, tụi cháu chờ chú trước chợ Phước Lộc Thọ” “Chợ đông người, làm sao nhận ra hai cô?” “Tụi cháu sẽ ngồi trước cửa chợ, bên cạnh con sư tử bằng đá trắng” “Sợ lúc đó, nhiều cô ngồi bên con sư tử đá, tôi biết ai?” “Một trong hai đứa cháu sẽ ve vẫy chiếc khăn tay màu đỏ” “Tôi hiểu rồi. Đúng mười giờ tối mai. Phải không cô?” “Dạ. Nhưng tụi cháu sẽ ngồi ở đó từ mười giờ đến mười giờ năm phút là đi ngay. Như vậy để tiện cho chú, không muốn gặp thì cứ bảo là tới trễ. Dĩ nhiên, sau đó, coi như chấm dứt. Chú đừng gọi cháu, cũng đừng tới tiệm tụi cháu” “Tôi qua đây để thăm hai cô. Sao lại không muốn gặp?” “Lúc gặp mặt, chú sẽ biết tại sao. Hai đứa cháu xấu và già lắm. Không dám soi gương để nhìn mặt mình, nói vậy chú đủ biết xấu cỡ nào” “Bạn bè mà cô bận tâm làm gì chuyện đó. Chỉ sợ gọi taxi đến không kịp” “Nếu kẹt đường thì gọi cho cháu để tụi cháu chờ thêm ít phút nữa” “Tôi sẽ đến trước mười giờ cho chắc ăn.”

Ông Tám đến chợ Phước Lộc Thọ đúng giờ. Trước chợ vắng hoe, chỉ có một bà già ngồi trên ghế dài, bên cạnh con sư tử đá. Ông không nghĩ rằng đó là cô Chín, vì giọng nói trong điện thoại là của người còn trẻ, khoảng bốn chục tuổi. Bà cụ nầy mà nói chuyện, tất giọng phải thều thào, run rẩy.

Ông Tám cứ đứng phân vân, không biết hai cô có đến không? Bỗng nhiên, ông thấy bà già đó cầm chiếc khăn tay màu đỏ, giơ lên và vung vẫy như người ta đuổi ruồi. Như vậy, bà cụ nầy là cô Nguyệt Thu, vì nghe cô Chín bảo rằng, cô Nguyệt Thu già và không dám nói trên điện thoại. Ông hết sức cảm động. Một người lớn tuổi như thế mà chịu đọc truyện của ông còn nhắn gửi lời khen nữa, thật đáng quí trọng. Ông Tám bước đến trước người đàn bà, cúi chào và nói “Chào cô Nguyệt Thu. Tôi là Lê Văn Tám đây. Có phải cô chờ tôi không?” Bà cụ ngước lên, giọng run run “Cô Nguyệt Thu nào? Tôi đâu có phải là cô Nguyệt Thu” Ông Tám cười vui vẻ “Tôi biết rồi. Cô là cô Chín. Phải không?” Bà cụ lắc đầu “Ông hỏi lầm người rồi” “Xin lỗi cụ. Tôi đến đây tìm một cô bạn. Thấy cụ vẫy khăn, tôi tưởng là dấu hiệu để nhận biết nhau.” Bà cụ ngước nhìn ông Tám và nói “Cô hàng xóm của tôi, đưa tôi đi chơi từ chiều đến giờ. Cô ấy bảo tôi ngồi đây chờ, cô ra sau chợ lấy xe, rồi quay lại đón về. Cô ấy đưa cái khăn nầy, bảo vẫy lên. Có ai đến hỏi thì bảo ra parking sau chợ mà tìm.”

Ông Tám cám ơn bà cụ rồi đi băng qua thương xá, ra cửa sau, bước xuống parking, đứng nhìn quanh. Bãi đậu xe còn lưa thưa mấy chiếc, có lẽ của người buôn bán trong thương xá, đang dọn dẹp để về chuẩn bị đón giao thừa. Ông Tám ra đứng giữa khoảng trống, để cô Chín, nếu có ở đó, dễ nhìn thấy. Đứng một lúc, không thấy ai, ông lấy điện thoại ra gọi “A lô! Phải cô Chín đó không? Tôi đang đứng trên parking sau chợ Phước Lộc Thọ đây. Tôi đến rất đúng giờ. Hiện cô đang ở đâu?”

“Chú đến đúng giờ hả? Có gặp cháu không?” “Cô hỏi kỳ cục vậy? Gặp cô thì đã không gọi điện thoại đến cô. Tôi chỉ thấy một bà cụ ngồi ở đó thôi” “Bà cụ đó là cháu. Chú thấy già quá nên không đến gặp. Phải không? Từ nay đừng gọi cháu, đừng đến tiệm cháu. Vĩnh biệt chú. Chú nói đủ thứ, nào là tinh thần, nào là tình cảm thôi chứ tuổi tác hay dung nhan chú không quan tâm. Bây giờ thấy bà già thì không thèm gặp” “Tôi có đến gặp. Hỏi có phải là cô Nguyệt Thu không? Bà cụ lắc đầu. Hỏi phải cô Chín không? Cũng lắc đầu. Nhưng bà cụ bảo tôi ra sau chợ, chỗ parking mà tìm cô. Tôi ra đây nãy giờ mà chẳng thấy ai cả! Bây giờ cô đang ở đâu? Tôi đến đúng giờ mà cô cũng cho tôi “leo cây” (thất hứa). Hay là lúc tôi xuống xe trước thương xá, cô thấy một ông già, cô chán quá không muốn gặp chứ gì? Bây giờ cô đang ở đâu?” Có tiếng cười rộ lên trong điện thoại “Cháu đang đứng sau lưng chú chớ ở đâu!”

Ông Tám quay ra phía sau. Một chị đàn bà, khoảng bốn mươi tuổi đang đứng nhìn ông cười “Cháu là Chín đây nè!” Ông Tám mừng rỡ “Tôi tưởng cô bỏ tôi bơ vơ nơi đất khách quê người…” Cô Chín cười, đến một chiếc xe đậu gần đó, mở cửa xe “Mời chú lên xe. Mình ra trước chợ đón bà cụ. Để bà cụ ngồi chờ nãy giờ, tội nghiệp.”

Ông Tám lên ngồi ghế trước, liếc nhìn chị đàn bà, chỉ thấy mái tóc che nửa mặt và chiếc mũi thanh tú hơi hếch lên vẻ nghịch ngợm. Ông không dám nhìn lâu, nhưng cũng áng chừng, chị ta là một người đàn bà bình thường, chí thú làm ăn và vui tính, dễ gây cảm tình với khách. Người rất thực tế, không sống bằng nội tâm, không thích đọc sách báo “Sao cô Nguyệt Thu không đến?” “Chị Nguyệt Thu đang ở nhà cháu, sửa soạn, trang điểm cho đẹp để đón chú.” “Cô làm tôi cảm động và hồi hộp quá.”

Xe ngừng trước thương xá, ông Tám xuống xe, mở cửa, bà cụ lên ngồi ở ghế sau. Xe chạy ra đường lớn. Một lúc sau, vào một khu gia cư với cây cối um tùm hai bên, với đèn đường tù mù, với những ngôi nhà thấp, kiểu xưa.

“Mình phải đưa bà cụ về nhà rồi mới về nhà cháu. Chị Nguyệt Thu đang chờ chú ở nhà. Chú cứ tiếp tục hồi hộp và cảm động. Gặp người đẹp xong, dám sáng tác thành một chuyện tình lãng mạn, hấp dẫn lắm. Phải không chú?” “Không có đâu! Tình bạn bè làm sao biến thành chuyện tình lãng mạn được. Lúc nãy có hồi hộp, nhưng bị lầm người, bây giờ hồi hộp lần nữa, hi vọng không bị lầm người” “Chú sắp thất vọng, vì chị nguyệt Thu còn già hơn bà cụ nầy nữa” “Không sao. Người lớn tuổi mà chịu khó đọc sách tôi thì tôi càng quí mến hơn.”

Xe ngừng trước một ngôi nhà thấp, cũ kỹ. Cô Chín bấm điện thoại nói gì đấy. Cửa mở, một lũ nhỏ chạy ra xe, reo hò “Ngoại về! Ngoại về! Ngoại đi chơi có vui không ngoại? Có mua gì cho tụi con không ngoại?” Chúng mở cửa xe, dìu bà cụ vào nhà “Cha bây! Đứa nào cũng có quà cả. Cám ơn cô Nguyệt nghe!” “Dạ. Không có chi. Chúc bác năm mới sức khỏe, vui vẻ. Sáng mai bác có đi chùa không? Con ghé đón” “Đi chớ! Nhớ nghe. Tôi có phong bì mừng tuổi cô. Sáng mai, mời cô đến xông đất” “Con không dám đâu. Sáng mai con ngừng xe ngoài đường, bác đi ra.”

Xe chạy tiếp, vòng vèo một vài khúc quanh rồi ngừng trước một ngôi nhà cũng giống như ngôi nhà lúc nãy “Mời chú vô nhà. Không biết chị Nguyệt Thu đi đâu mà không thấy xe?” Ông Tám giúp cô Chín xách mấy bịch rau quả, đi theo cô Chín. Cô lại mở điện thoại “Chị Nguyệt Thu đó hả. Em về nhà rồi, nhưng chị đi đâu? Em có đón nhà văn Lê Văn Tám về đây. Sao? Chị đang ở nhà bà chị trên Los. hả? Khi nào về? Chuẩn bị lên đường về đây hả? Không sao, chị yên tâm. Nếu chị không về kịp trước mười hai giờ thì em sẽ nhờ chú Tám giúp em nấu nướng, chuẩn bị đón giao thừa. Chị về sau giao thừa thì xông đất nhà em, em sẽ được hên suốt năm. Chị hên lắm nghe, được chú Tám hỏi thăm hoài, còn em, gặp chú, đón chú về đây mà chú không thèm nhìn em, không thèm khen em đẹp. Không phải người thiếu lịch sự mà vì hồn vía bị chị bắt mất rồi. Chú Tám nói, chưa gặp mặt mà chú đã “trồng cây si” chị rồi. Thực mà! Không phải chuyện vô lý, mà em cũng không nói thêm đâu. Chị nói sao? Chị cũng “trồng cây si” chú Tám à? Xứng đôi quá rồi. Tuổi hơi chênh lệch nhưng không sao. Chưa đến sáu mươi. Còn ngon lành, không phải tám mươi tuổi, già lọm khọm như chú nói đâu. Dạ. Bye chị! Nhớ về sớm kẻo chú Tám trông nghe!”

Ông Tám lắc đầu, không lên tiếng phản đối, chỉ yên lặng theo cô Chín vô nhà. Một ngôi nhà tiêu biểu của giai cấp bình dân ở Mỹ. Một phòng khách có xa lông, bàn ăn, nhà bếp …Một bàn thờ nhỏ sát vách, có vẻ tạm bợ, cúng xong thì dẹp đi. Trên bàn thờ có hai chân đèn bằng đồng, cao cỡ gang tay, một lư hương bằng cái chén lớn, để phía trước, giữa bàn là đĩa trái cây, một bình hoa. Tựa vào vách là hai tấm hình của hai người lớn tuổi, có lẽ là cha mẹ cô Chín.

“Mời chú ngồi, cháu chuẩn bị lễ vật rước ông bà. Còn cúng giao thừa nữa” “Hình như người ta rước ông bà về vui xuân với con cháu từ chiều ba mươi tết, sao cô lại đón ông bà khuya quá vậy? Hay là các cụ gọi điện thoại cho cô, báo bị trễ tàu?” “Năm nào cháu cũng rước ông bà vào chiều ba mươi tết, đến khuya cúng giao thừa. Tết nào cháu cũng khóc vì nhớ nhà. Năm nay, có chú nên cháu rước ông bà hơi trễ, để khoe với ông bà rằng năm nay cháu không cô đơn, như vậy, các ngài cũng vui lây. Và cháu sẽ cười chứ không khóc như mọi năm. Bây giờ chú giúp cháu vài việc vặt. Cháu đã nấu sẵn mấy món rồi, chỉ hâm lại là xong. Chú lấy giùm cháu ấm nước, cho nước vào, bắt lên bếp, rồi lấy gói trà, cho vào bình trà nhỏ, để lát nữa cúng. Bình trà lớn thì dành cho chú và chị Nguyệt Thu. Cháu không biết uống trà. Chú lại đây phụ với cháu khiêng cái bàn nhỏ nầy ra trước cửa, để cúng giao thừa… Từ từ kẻo đổ bánh trái, hoa quả. Được rồi. Cám ơn chú! Chú mở cửa trước giùm cháu. Có lẽ chị Nguyệt Thu cũng sắp về rồi, chú đừng sốt ruột” “Tôi đâu có sốt ruột. Chỉ sợ cô thúc hối, cô ấy chạy xe quá nhanh, nguy hiểm”

Ông Tám làm theo lời cô Chín sai bảo, loanh quanh trong nhà, bưng thức ăn để lên bàn thờ, chế nước sôi vô bình trà… Đôi khi ông lúng túng, lớ ngớ khiến cô Chín cười “Vụng về như vậy, chú chỉ xứng với chị Nguyệt Thu thôi” “Bộ cô Nguyệt Thu cũng vụng về như tôi sao?” “Chị Nguyệt Thu giỏi lắm. Gì cũng làm được. Chú sẽ khỏi phải làm gì cả” “Khi nào có cô Nguyệt Thu, cô đừng nói vậy, cô ấy giận tôi, nghĩ rằng tôi không đứng đắn. Tôi với cô ấy chỉ là tình bạn văn nghệ thôi” “Cháu xin lỗi. Nhưng hình như chị Nguyệt Thu có cảm tình với chú nhiều lắm. Quá tình bạn văn nghệ” “Cô nói cho tôi vui thôi, chứ cô Nguyệt Thu có gặp người thật của tôi bao giờ mà vượt quá tình bạn. Tôi sợ lát nữa, về đây, cô ấy không thèm nhìn tôi vì tôi không giống như trong hình. Cô gọi cô Nguyệt Thu, hỏi đến đâu rồi? Định chờ cô ta về để cùng cúng giao thừa hay đúng mười hai giờ thì bắt đầu?” “Đúng giờ thì cúng. Chị ấy về trễ coi như xông đất năm mới” “Bây giờ còn sớm. Có lẽ mình nên rước ông bà trước”

Cô Chín trao cho ông Tám mấy chén, đũa để ông đặt lên bàn thờ và nói “Bây giờ cháu phải tắm rửa cho sạch sẽ, tinh khiết mà rước ông bà, đón chúa Xuân” “Nhiều người về Việt Nam ăn tết. Sao cô không về thăm nhà?” “Ba mẹ cháu mất rồi. Cháu không có anh chị em gì cả. Nói nhớ nhà chứ đúng ra là tủi thân. Nhà đâu còn mà nhớ!” Ông Tám an ủi “Mấy ông bà Việt kiều về Việt Nam “thăm nhà”, nhưng rồi lại mong chóng đến ngày “về nhà” ở hải ngoại. Nơi nào mình sống tự do, an toàn, thoải mái, nơi đó là nhà”

Cô Chín đi vào phòng. Ông Tám ngồi xuống xa lông, nhìn quanh. Ông quen sống một mình, cô đơn cũng có cái thú của nó, nhưng ông biết, cô Chín, là đàn bà sẽ buồn lắm, nhất là trong những ngày cuối năm, thấy thiên hạ rộn ràng sắm tết, đón xuân, gia đình đoàn tụ, cô thì chỉ một mình. May mà có cô Nguyệt Thu ở chung, có người trò chuyện, chứ về nhà, thui thủi, cũng buồn thật.

Đang suy nghĩ vơ vẩn thì cô Chín đi ra. Cô như một người khác. Ông Tám chỉ nhìn thoáng nhưng cũng biết cô đẹp hơn lúc nãy. Mái tóc cô ngắn ngang vai, ôm lấy khuôn mặt bầu bỉnh, sáng như trăng rằm. Một chút phấn hồng lên má và chút son nhẹ trên môi. Cô mặc áo dài nhung đen, óng ánh màu tím đậm. Cô đến trước ông Tám cười duyên dáng “Chú cháu mình cùng cúng nghe!”

Vì cô đứng gần nên ông Tám mới thấy đôi mắt cô Chín đẹp. Vừa như ngơ ngác vừa buồn buồn, nhất là hàng mi dài khiến đôi mắt như sâu thẫm, long lanh. Ông Tám không dám nhìn lâu. Ông đến bàn thờ, thắp đèn, đốt nhang đưa cô Chín “Cô cúng trước, tôi cúng sau” Cô Chín vùng vằng, phụng phịu “Chú! Sao chú không khen cháu đẹp? Dù cho cháu xấu, chú cũng phải khen đẹp. Chú mất lịch sự!” Ông Tám bối rối “Xin lỗi cô. Lúc nãy tôi buột miệng định khen cô đẹp, áo cô cũng đẹp, nhưng trong nhà nầy chỉ có mình tôi với cô, tôi phải giữ lời, sợ cô hiểu lầm, cô sợ tội nghiệp” Cô Chín nhìn ông Tám cười “Chú nói vậy để an ủi cháu nhưng cháu biết, chú mong gặp chị Nguyêt Thu nên không quan tâm đến người khác. Hay là chú sợ chị Nguyệt Thu ghen. Phải không?” “Mong cô Nguyệt Thu thì có, nhưng thật tình tôi không có ý nghĩ gì khác ngoài tình bạn cả. Bây giờ cô cúng đi. Nhớ đừng khóc”

Cô Chín cầm mấy cây nhang, đến trước bàn thờ, ngần ngừ như mắc cỡ “Chú đừng nghe cháu khấn! Cháu cũng không khóc đâu” “Tôi sẽ ra cửa đứng, nhưng trước sau gì tôi cũng sẽ được nghe cô hoặc cô Nguyệt Thu khấn vong linh tôi” “Sao vậy chú?” “Tôi chết trước hai cô, sẽ hiện hồn đến thăm hai cô, hai cô sợ quá, khấn vái, năn nỉ tôi đừng đến thăm hai cô nữa” Cô Chín lại phụng phịu “Chú đừng làm cháu sợ. Cháu không biết chú đang đứng đây là ma hay là người? Chú viết chuyện ma nên bây giờ chú thành ma rồi” “Ma cà bông thì có. Tôi đứng xa rồi, cô cúng đi” Ông Tám đứng nhìn cô Chín cúng lạy. Hai bàn tay cô cầm nhang vái trước bàn thờ, thong thả, dịu dàng. Cô khấn lầm thầm rồi cắm nhang vào lư hương và ngồi xuống xếp chân, thành kính cúi lạy. Trong không khí trang nghiêm, mùi nhang thoang thoảng, ánh đèn lung linh, cô Chín như một cô bé đang lễ phép dâng lên cha mẹ, tổ tiên những lời chúc mừng với tấm lòng thành. Có thể cô cũng cầu xin quí ngài phù hộ cho cô, sang năm mới được sức khỏe, gặp nhiều may mắn.

Khi cô Chín cúng xong, ông Tám cũng đến trước bàn thờ, thắp nhang và vái lạy nhưng không khấn lời nào.

Cô Chín mời ông Tám đến xa lông uống trà. Hai người ngồi đối diện. Cô rót trà “Mời chú. Còn nửa giờ nữa là đến giao thừa” Ông Tám nhìn ra cửa. Cô Chín cười “Mong người đẹp về. Phải không?” “Tôi muốn gặp cô Nguyệt Thu để tìm hiểu, vì sao cô muốn gặp tôi mà lại không chịu nói trong điện thoại?” “Lát nữa, chị Nguyệt Thu về đây, chú sẽ hiểu vì sao. Cháu nói chuyện nầy chú nghe. Trong tập truyện của chú, có một truyện ngắn mà mỗi lần đọc đến là chị ấy khóc. Truyện “Núi Đá Chồng”. Chị Nguyệt Thu nói. Chú kể chuyện chứ không viết truyện. Chuyện chú kể giống y như đã xảy ra cho chính chị ấy, cũng tại một quán cơm, nhưng trên đường Đa Lạt – Sài Gòn chứ không phải trên đường Đa Lạt – Nha Trang như trong truyện của chú. Truyện ngắn đó có thật không chú? Chú có phải là anh chàng đó không?” “Một cậu thanh niên gặp và chuyện trò với một cô gái, sau đó chia tay. Nó rất bình thường, có thể xảy ra bất cứ đâu. Tôi cũng gặp một cô bé như thế, nhưng mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn xúc động. Tôi kể chuyện đó để tưởng nhớ cô, để tưởng niệm một tình yêu ngây thơ, tinh khiết” “Chú có thể kể hết câu chuyện cho cháu nghe được không?” “Cô gái thật mà tôi gặp chỉ khoảng mười hai tuổi thôi. Chúng tôi đi từ Đa Lạt về Sài Gòn, dừng lại ăn cơm ở Định Quán. Cô bé đó phụ giúp gia đình bưng thức ăn cho khách. Cô bưng tô canh ra đứng sau lưng tôi. Thấy thức ăn nóng, sợ cô làm đổ, tôi đỡ lấy tô canh, nhưng cô lại để nguyên hai bàn tay cô với tô canh trên tay tôi. Cả hai lúng túng. Cô cười, tôi cũng cười rồi cả bàn ăn cùng cười vui, chế giễu cô, khiến đôi má cô hồng lên, rất dễ thương. Từ lúc đó, dù không có việc gì, cô cũng đứng loay hoay sau lưng tôi. Chúng tôi trò chuyện. Tôi hỏi cô tên gì? Học trường nào? Lớp mấy?… Chỉ vơ vẩn thôi, nhưng cô trả lời như hụt hơi, sau nầy nhớ lại, tôi mới biết là cô bé rất xúc động. Cô vào bếp một lúc lại đi ra, lại đứng sau lưng tôi, lính quính, lo lắng như muốn nói gì với tôi, rồi nhìn chiếc xe đò, như sợ xe chạy. Đến khi chúng tôi lên xe thì cô đứng trước cửa nhìn tôi đăm đăm. Không hiểu sao, xe không nổ máy. Mọi người lại phải xuống xe, vào quán ngồi chờ người tài xế sửa xe. Tôi lang thang đến một tảng đá lớn gần quán cơm, ngồi ngắm cảnh núi rừng hoang vắng. Chiều hôm đó, trời đầy mây, u ám như sắp mưa. Đường vắng, nhà thưa thớt, chung quanh là rừng. Cảnh vật thật buồn. Cô bé đó lại đến bên tôi. Tôi ra dấu, cô ngồi xuống cạnh tôi. Chúng tôi lại chuyện trò. Tôi hỏi về hai tảng đá vĩ đại chồng lên nhau gần đó, hỏi về cuộc sống của cô, nơi núi rừng, có buồn không? Cô trả lời, giọng bình tĩnh và vui chứ không ngập ngừng, hụt hơi như lúc nãy. Tôi xem cô như một em bé ngây thơ, và cô, quả thật rất ngây thơ, trong sáng. Khi xe sửa xong, tôi đứng dậy, ôm hôn lên trán cô và hẹn, có dịp, sẽ ghé thăm cô”

Cô Chín yên lặng một lúc rồi nói “Chị Nguyệt Thu nói chú tên Tâm chứ không phải tên Tám” Ông Tám ngạc nhiên “Sao cô ấy biết tên thật của tôi?” “Lát nữa gặp, chú hỏi chị ấy, cháu làm sao biết được. Chị ấy còn nói, chú ít tuổi, chứ không phải tám mươi như chú nói” “Cô nầy mới thật là tài. Chưa gặp mà biết hết về tôi”

Cô Chín nhìn xuống tách trà “Dám chị Nguyệt Thu là cô bé ở Định Quán, nên khi đọc truyện ngắn đó, chị ấy khóc. Lần nào cũng khóc và mong được gặp chú” “Có lẽ vậy nên cô Nguyệt Thu muốn gặp tôi. Nhưng điều chắc chắn là tôi và cô ta không nhận ra nhau. Mấy mươi năm rồi, ai cũng thay đổi, thành người lạ rồi!”

Đêm ba muơi tết, dù ở xứ người nhưng không khí thiêng liêng, đầm ấm của gia đình vẫn tràn ngập khắp nơi. Cả hai yên lặng lắng nghe bước chân của chúa Xuân đâu đây, để nhớ lại niềm vui rộn rã, háo hức chờ đợi tết của thời còn trẻ ở quê nhà. Bỗng nhiên cô Chín ngẩn lên nhìn ông Tám cười, như muốn nói điều gì quan trọng lắm nhưng lại thôi. “Chị Nguyệt Thu chưa về kịp. Chú cháu mình cúng giao thừa nghe!”

Cô đứng lên, đến thắp nhang, đưa cho ông Tám một cây nhang “Chú đứng cạnh cháu đây. Chú cháu mình cùng chào đón chúa Xuân. Chú có biết khấn như thế nào thì khấn giùm cháu.” “Tôi cũng như cô, nhưng mình cứ thưa gửi bình thường, tưởng tượng như chúa Xuân và các vị thần đó đang đứng trước mặt vậy. Cốt ở lòng thành và tin tưởng rằng các vị đó có uy lực siêu nhiên, sẽ chấp nhận lời cầu xin của mình và ban phước lành cho mình. Cô cầm nhang để lên trán như tôi, tôi sẽ thưa với đất đai, thổ thần phù hộ cho cô được sức khỏe và nhiều may mắn trong việc làm ăn.”

Ông Tám lầm thầm khấn, cô Chín thành kính lắng nghe và cùng lạy với ông. Cúng xong, cô vui vẻ nói “Sang năm mới rồi. Chị Nguyệt Thu chưa về. Chú xông đất nhà cháu nghe!” Ông Tám ngạc nhiên “Tôi đang đứng trong nhà cô thì làm sao xông đất được?” “Cháu có cách. Chú đi cửa sau, ra đường, lòng vòng đâu đó chừng mươi phút, rồi chú đến cửa trước, gõ cửa, cháu ra đón chú, vậy là chú xông đất nhà cháu” “Chỉ có cô mới nghĩ ra được cách xông đất kỳ lạ như thế nầy. Thôi thì, cô bảo sao, tôi cũng phải vâng lời để cô vui lòng” “Chú đi ra cửa nầy. Để cháu mở đèn sau nhà cho chú thấy đường. Nhớ nhà cháu chưa? Đừng đi lộn vào nhà khác, bị bà nào giữ lại thì chị Nguyệt Thu bắt đền cháu. Cháu làm sao kiếm một ông, vừa già vừa xấu như chú mà đền cho chị ấy?” Ông Tám cũng cười “Cô nói tôi mới biết vì sao tôi tán tỉnh cô nào cũng bị nhìn bằng nửa con mắt.”

Ông Tám theo cửa sau, ra đường, một lát, quay lại. Cửa trước hé mở. Ông gõ cửa và chờ đợi. Cô Chín mở cửa và reo lên “Chào chú. Mời chú vào. Năm mới, chúc chú sức khỏe, vạn sự như y.” Ông Tám bước vào nhà và lấy trong túi áo ra hai phong bì nhỏ màu đỏ, loại dùng để mừng tuổi cho trẻ con. Ông trao cho cô Chín một phong bì “Mừng cô thêm một tuổi. Thêm đẹp, thêm xinh.” Cô Chín cầm lấy phong bì rồi ôm luôn ông Tám khiến ông ngỡ ngàng. Cô tựa đầu vào ngực ông và xoè tay ra “Phong bì kia cũng của cháu.” Cô vói tới thì ông Tám giơ chiếc phong bì lên cao. “Không được. Đây là của cô Nguyệt Thu.” Cô vẫn vói tay đến chiếc phong bì “Nguyệt Thu nào? Cháu là Nguyệt Thu dây!” Ông Tám kinh ngạc “Chứ lúc nãy cô gọi ai?” “Có gọi ai đâu? Cháu giả bộ nói vô điện thoại chứ có bấm số đâu!” “Vậy cô Chín là cô nào? Cô có hai tên à?” “Tên Chín là tên giả. Chú là Tám thì cháu là Chín. Em út, thua một nút. Tên thực của cháu là Nguyệt Thu. Nhưng mọi người đều gọi cháu là Nguyệt. Con bé Nguyệt trong tiệm cơm ở Định Quán đó. Tên Nguyệt. Đúng không?”

Trong nhà, yên tĩnh kỳ lạ, thơm nức mùi tết, mùi của nhang trầm, của hơi thở xúc động, của tiếng thì thầm vỗ về dịu dàng, của mùa Xuân len lén bước qua cửa, vào phòng khách…

Một lúc sau, cô Chín dụi mặt vào ngực ông Tám để chùi nước mắt. Rồi cô thở ra “Cám ơn Trời Phật đã xui khiến cháu đọc truyện chú viết và tìm thấy chú.”

Phạm Thành Châu

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng
Post by sơn râu 3 Sep 2025

Chương 16.

Vĩnh biệt ông Đại sứ

Lệnh “Hành quân gió nhanh” vừa ban hành. Từ xa xa, dăm ba chiếc trực thăng đang lừ lừ bay lại, lúc nghiêng sang bên phải, lúc sang bên trái, tiếng động cơ vang rền. Những cánh quạt xoáy vòng ngang, vòng dọc, làm lung lay cả ánh mặt trời lúc giữa trưa. Đài phát thanh quân đội Mỹ ở đường Hồng Thập Tự đưa tin tức về khí hậu: “Nhiệt độ ở Sài gòn là 105 độ và còn đang tăng”. Nóng như vậy mà tiếng hát của Bing Crosby từ những máy thu thanh lại cứ văng vẳng “I am dreaming of a white Christmas” (Tôi đang mơ ước một Giáng Sinh tuyết trắng).

Trong lúc tình hình rối ren, dân chúng đô thành nghe bài ca êm đềm cũng thấy có vài phút thư giãn. Thế nhưng, người Mỹ và một số nhỏ người Việt liên hệ với Mỹ lại hết sức căng thẳng, vì biết rằng giờ thứ 24 sắp tới. Tín hiệu của cuộc di tản cuối cùng, “Hành quân gió nhanh” đã được phát sóng. Họ hoang mang, bối rối, tìm mọi cách để tới những địa điểm đã hẹn trước, mong được bốc đi.

Trước Toà đại sứ Mỹ, tình trạng lộn xộn, xô xát để trèo tường đã diễn ra. Bên trong, các nhân viên cuống cuồng, vừa lo giữ trật tự an ninh, vừa đốt cháy tài liệu mật. Phải sắp xếp cho lẹ vì trực thăng sắp đáp xuống rồi. Đại sứ Martin cũng thắt cà vạt, mặc quần áo chỉnh tề, đứng chờ sẵn trong văn phòng ông ở lầu ba. Ông sắp lên trực thăng để ra đi. Không, “Tôi muốn trở về qua tư thất”, bất chợt ông quay lại nói với mấy người lính cận vệ. Sững sờ, nhóm cận vệ không hiểu tại sao ông lại muốn trở về nhà. Mà làm thế nào để lái xe cho ông ra được khỏi Toà đại sứ? Mặc dù họ tỏ ý không đồng ý, ông Martin nhất định cứ đi. Ông đã có cách: lách tường bên hông để qua toà đại sứ Pháp và đi bộ về nhà. Cận vệ bắt buộc phải đi theo. Đồ đạc, tranh ảnh trong căn nhà ông ở đường Phùng Khắc Khoan vẫn còn y nguyên. Chắc ông muốn về để lấy một vài món đồ quan trọng nào đó? Nhưng không, ông về để ẵm con Nit Noy đi với ông. Nit Noy là tên tiếng Thái (“món vật nhỏ”) của con chó xù màu đen mà ông yêu quý. Chỉ có thế thôi. Ông lững thững trở lại Toà đại sứ, cũng qua ngả nhà Đại sứ Merillon. Trở về văn phòng, ông buộc Nit Noy vào chân một cái ghế [1]. Thế rồi tiếp tục làm việc.

Sau này báo chí chi trích ông về vụ chó xù, ông cãi: “Báo chí cũng chỉ trích Tổng thống Rossevelt về con “Fala” của ông như vậy! Tôi rất bất bình về việc họ công kích một con chó. Trước hết, không phải là chó của tôi mà là của con gái tôi (cô Janet). Vá thực ra tôi đã không định mang nó đi, vì đã sắp xếp để nó xin được ông Đại sứ Pháp cho tỵ nạn rồi” (“… had arl angedfor Nit Noy to seek asylum with the Ambassador office”) [2].

Vào giây phút cuối, phóng viên tờ Los Angeles Times, ông George Mcarthur trông thấy Nit Noy bị buộc vào chân ghế đã mủi lòng, và quyết định để lại cái máy chữ của mình rồi ẵm nó đi theo. “Tôi sẽ mãi mãi ghi ơn ông Mcarthur vì vợ tôi rất yêu quý con Nit Noy. Và trong gia đình tôi thì vợ tôi là người đã chịu đựng nhiều nhất vì cuộc di tản”. Bà Martin chỉ có 11 phút để đóng gói, và phải để lại hết tất cả những kỷ niệm quý báu thu thập được trong bao nhiêu năm qua. Sở dĩ như vậy, vì như ông nói “Nêu chúng tôi đóng gói sớm hơn thì tín hiệu (về Mỹ bỏ chạy) sẽ truyền đi khắp Sài gòn”[3].

Đằng sau Toà đại sứ, có cây me cổ thụ rất lớn, cây dài bóng mát. Sáng sớm ngày 29 tháng 4, nhân viên yêu cầu ông cho chặt xuống để trực thăng dễ đáp. Không chịu, ông tỏ rõ thái độ: “Nêú như cây này ngả xuống thì uy tín của Mỹ cũng ngả theo” [4].

Ngày trước hôm đó, ông đã gửi điện cho Ngoại trưởng Kissinger nói rằng theo ông, sự có mặt của Hoa kỳ ở Sài gòn còn có thể kéo dài được chừng một năm nữa [5]. Rồi chiều ngày 29, ông lại xin phép được ở lại Miền Nam cùng với vài chục nhân viên. Lý do là để “tối thiểu cũng làm cho việc Mỹ ra đi có nhân cách đôi chút” [6].

“Được rồi, Jim (Schlesinger),” Kissinger gọi cho Tổng trưởng quốc phòng, “Anh phải nói thắng với ông ta, vì nếu anh không nói “đây là lệnh Tổng thống” thì ông ta không chịu ra đi đâu”.

“Xong rồi, tôi sẽ làm chuyện đó”, Schlesinger trả lời.

“Như anh biết, ông ta đã mất một người con ở Việt nam”. Kissinger tiếp.

“Đúng vậy, ta phải thán phục ông ta” [7].

Ngoài người con là cậu Glenn lái trực thăng chết ở vùng cao nguyên chín năm về trước, ông Martin còn nặng lòng với uy tín của nước Mỹ. “Tôi luôn nghĩ tới sự kiện là đã có năm Tổng thống Mỹ dinh líu tới Việt nam và trong những hai thập niên”

Trong cuốn sách Ending the Vietnam war (2003), chính Kissinger đã bình luận về việc ông Martin chần chừ không chịu đi:

“Nhiệt tình gắn bó với những người mà ông sắp bị bắt buộc phải bỏ lại, ông Martin đã coi như bổn phận của mình là phải kéo dài cuộc rút lui của Mỹ trong một thời gian dài nhất để giữ lại sự có mặt của Mỹ (tại Việt nam) làm sao cho còn đủ để biện hộ “cho việc cứu người Việt nam”.

“Tin rằng, ngay trước mắt, sự hoảng hốt ở Sài gòn còn đáng lo ngại hơn những kế hoạch tấn công của Hà nội, ông đã phấn đấu để cho cuộc di tản quá chậm hơn là chính Tổng thống Ford, Scowcroft, và tôi – con diều hâu trong Chính phủ- đã cho là thích ứng” [8]

Vào dịp Lễ Phục Sinh (tháng 3) 1975, cô thư ký Eva cho hay là ông lâm bệnh, tôi có ghé thăm, thấy ông xanh xao, mệt mỏi. Ông nói là bị cúm, nhưng tôi nghi là viêm phổi. Hút thuốc lá liên tục, càng hút, ông càng ho thêm.

Trong điều kiện sức khoẻ như vậy mà ông đã hầu như một mình đứng ra chịu trận để vớt vát cho Miền Nam và cho nước Mỹ vào giờ phút cuối cùng. Trung sĩ Colin Broussard, người cận vệ luôn theo sát ông có viết: “Tôi nghĩ rằng Đại sứ Martin đã cứu được cả ngàn người Việt, những người Mỹ dân sự và cả Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ nữa, chính vì ông không chịu nói tới “di tản” quá sớm và gây nên một tình trạng hoảng hốt”. [9]

Về việc ông xin ở lại bất chấp những gì có thể xảy ra, Kissinger bình thêm: Việc đó đã xác nhận sự nghi ngờ của tôi là ông Martin muốn giống như tướng George Gordon, viên chỉ huy nổi tiếng nước Anh, là người đã bị hạ sát tại Khartoum (nước Sudan) do quân Mahdi vào năm 1885 khi ông ta không chịu ra đi”. [10]

Đúng 4 giờ 45 phút sáng ngày 30 tháng 4, có anh phi công vạm vỡ bay chiếc trực thăng mang bảng hiệu Lady Ace 09 lượn đi lượn lại rồi đáp xuống bãi đậu trên nóc toà đại sứ. Anh gỡ miếng giấy buộc vào đùi, rồi đưa cho ông Martin: đó là lệnh của Tổng thống buộc ông phải ra đi trên chuyến bay cuối cùng này. Nếu không, theo như tiết lộ về sau của Đô đốc Gayler (Tư lệnh Thái Bình Dương) “Tôi đã có thẩm quyền để áp giải trong trường hợp ông Đại sứ không tuân lệnh của Tổng thống.” [11]

Thế là hết đường tháo lui. Đại sứ Martin bơ phờ ôm lá cờ Mỹ bước lên chiếc Lay Ace 09 vào lúc 4 giờ 58 phút. Anh phi công phát sóng “Tiger, Tiger, Tiger” (Con hổ, Con hổ, Con hổ), mật hiệu là đã đưa được ông Đại sứ lên trực thăng rồi.

Sự có mặt của Hoa kỳ tại Miền Nam tới đây đã hoàn toàn chấm dứt.

Sau ngày Miền Nam sụp đổ, ông Martin tiếp tục bị chỉ trích. Ngoài việc chần chừ không lo di tản người Mỹ theo lệnh cấp trên, ngoài con chó Nit Noy, ông còn bị công kích về việc đã chủ quan và luôn luôn bào chữa cho Miền Nam.

Hè 1974, giữa lúc Washington hầu như đã lãng quên và Quốc hội bắt đầu cắt xén viện trợ cho Miền Nam, ông Martin hết sức chống đỡ. Ông điều trần về viễn tượng của Miền Nam một cách lạc quan:

“Về chính trị. Chính phủ Miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Về quân sự, quân đội Miền Nam đã chứng tỏ khả năng bảo vệ đất nước mà không cần có sự yểm trợ của lục quân Hoa kỳ” [12].

Còn về kinh tế, liệu Miền Nam có phải dựa mãi vào Mỹ hay không? Không, ông Martin biện luận:

“Đôi khi ta thấy trong cùng một quốc gia có sự phối hợp giữa tài nguyên phong phú, một hệ thống hành chính có quyết tâm với những chính sách kinh tế hợp lý, một dân tộc thông minh, khéo léo, và hết sức dẻo dai, với một khả năng cố gắng bền vững, một quyết tâm mãnh liệt và tha thiết bảo tồn tự do của mình”.

Khi có một kết hợp như vậy, như hiện đang có ở Miền Nam Việt nam, thì chỉ cần một nguồn tài chính từ ngoài vào làm vai trò tác dộng, để nối kết tất cả những yếu tố này lại với nhau thì có thể có những kết quả thật là xuất sắc” [13].

Nhiều người đã chỉ trích ông về việc ông tô điểm hình ảnh quá lạc quan cũng giống như việc tướng Westmoreland đã làm thời Tổng thống Johnson. Ngay gần Tết Mậu Thân, Westmoreland còn lên đài truyền hình nói tới tình hình quân sự khả quan.

Dù chỉ trích, ông Martin vẫn tiếp tục. Cứ vài tháng ông lại về Washington để vận động. Thông điệp chính ông mang ra nói với mọi người là nếu để Miền Nam sụp đổ thì uy tín của Mỹ sẽ xuống mạnh, và đem theo hậu quả về lâu về dài. Những nước thù địch sẽ không coi Mỹ ra gì, và hoà bình sẽ bị đe doạ. Và là vào thời gian đó, như ông đã tường trình lại cho Quốc hội Mỹ năm 1976: “Tôi chưa biết rõ đã có những trao đổi “riêng tư giữa Tổng thống Hoa kỳ và Tổng thống Việt nam cộng hoà”. [14]. Nếu như ông biết được những cam kết đó thì không rõ ông còn cố gắng đến như thế nào để ngăn chặn sự xuống dốc của nền ngoại giao Hoa kỳ lúc đó. Suy lại thông điệp ấy, ta có thể đặt câu hỏi: liệu Saddam Hussein, Bin La den đã có coi thường Mỹ không, trước khi có những hành động mà hậu quả là đã đưa thế giới tới tình trạng rối rắm như ngày nay?

Khi tôi hỏi ông nghĩ sao đối với chỉ trích về những lời tuyên bố và công việc ông làm, ông Martin trả lời: “Tôi chỉ nói sự thật, và nếu tôi có tranh đấu cho Miền Nam, thì cũng chỉ là vì quyền lợi của nước Mỹ về lâu về dài, đó là uy tín của chính sách ngoại giao Hoa kỳ”.

Nhân dịp kỷ niệm mười năm Miền Nam sụp đổ (ngày 30 tháng 4, 1985), tờ New York Times có đăng câu phê phán của vị Đại sứ cuối cùng, được nhiều ngươi nhắc tới:

“Rút cuộc, chúng ta chỉ lo tháo chạy. Ý chí dân tộc của Hoa kỳ đã sụp đổ”. (In the end, we simply cut and ran. The American national will had collapsed).

Để vinh danh ông, tôi xin mượn một phần câu ông nói làm đầu đề cho cuốn sách này.

Ngày ông qua đời (1990), tôi gửi lời chia buồn cùng gia quyến: “Thay mặt cho những người Việt nam bạn ông, đặc biệt là những người đã được ông cứu giúp, chúng tôi bùi ngùi thương tiếc và xin chân thành chia buồn cùng toàn thể gia đình. Nguyện xin Thiên Chúa sớm đưa linh hồn ông về an nghỉ nơi vĩnh phúc”.

——————————–

1          David Butler, The fall of Saigon, trang 436.

2          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 549.

3          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 550.

4          U.S. Marines, “A Moment in Time with Dan Roberts”, trong tài liệu “The Fall of Saigon by the U.S. Marine” vào internet “Letter to CMC@FALL of Saigon by U.S. Marines”, trang 7.

5          George J. Church, “A Look at the Storm…” trong “The Fall of Saigon by the U.S. Marines”, vào internet: “Letter to CMC@FALL of Saigon by U.S. Marines”, trang 9.

6          David Butler, The Fall of Saigon, trang 386.

7          Henry Kisinger, Ending the Vietnam war, trang 552.

8          Henry Kisinger, Ending the Vietnam war, trang 540.

9          Colin Broussard, Ambassador Graham Martin, trong tài liệu The Fall of Saigon By The U.S. Marines, xem Letter to CMC@FALL of Saigon by U.S. Marine”, trang 3.

10        Henry Kissinger, A World Restored, trang 547-548

11        Phỏng vấn John Munay, 20 tháng 4, 1985.

12        TIME (Magazine), 21 tháng 4, 1975.

13        U.S. News and World Report, 29 tháng 4, 1974

14        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 587.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 3 Sep 2025

39. Nguyễn Bạt Tụy

Trước 1975, ở miền Nam, người ta được biết có hai ôngBạt Tụy: nhạc sĩ Bùi Bạt Tụy tác giả Chim Chiều Bạt Gió và nhà ngữ học Nguyễn Bạt Tụy. Nhạc sĩ Bùi Bạt Tụy, có bao nhiêu tác phẩm ít người biết. Phần đông các thính giả chỉ được nghe có một ca khúc duy nhất của ông là bài Chim Chiều Bạt Gió. Thời gian ca khúc này được hát nhiều nhất là trước 1954. Đó là lúc chiến tranh đã lan tràn khắp đất nước, và, chỉ nguyên cái tên của bài hát đủ gây ra nỗi ngậm ngùi trong lòng người nghe. Có một chút gì đó, giống như định mệnh của tác giả, được báo trước trong cách đặt tên cho tác phẩm của mình. Hiện ông còn hay mất, bạt gió tới phương nào, có vẻ như cũng chẳng ai hay.

Nói vậy chứ với cuộc tang thương biến đổi trên đất nước những năm qua thì dường như “cái điều hạc mệnh có chừa ai đâu”!

Về phần nhà ngữ học Nguyễn Bạt Tụy, gần đây, đọc một bài báo của ông Bùi Minh Quốc ở trong nước, người ta được biết, hiện ông đang sống tại Đà Lạt: “Người dân ở khu Hòa Bình – trung tâm thành phố Đà Lạt – rất đỗi quen thuộc với hình ảnh một ông già ngoài bảy mươi, vóc người cao lớn, mái tóc bạc phơ cắt ngắn và cặp mắt sáng đầy vô tư, ngày ngày vào một giờ nhất định thường chống can dạo bước trên hè phố. Ông bước từng bước khó khăn, bởi một bên chân bị bệnh tê liệt cách đây hơn mười năm”.

Đó là hình ảnh nhà ngữ học Nguyễn Bạt Tụy do ông Bùi Minh Quốc phác họa.

Ông Nguyễn Bạt Tụy vừa là nhà ngôn ngữ học, vừa là nhà dân tộc học của miền Nam Việt Nam trước đây. Ngay từ năm 1949 ông đã nổi tiếng cả ở trong và ngoài nước, khi cho xuất bản cuốn sách nghiên cứu “Chữ Và Vần Việt Nam”, sau được ông tăng bổ và cho xuất bản thành cuốn “Ngôn Ngữ Học Việt Nam”. Trường hợp ông Nguyễn Bạt Tụy cũng có chút gì đó tương tự trường hợp ông Cung Giũ Nguyên.

Quá nửa số tác phẩm của cả hai ông đều được viết bằng ngoại ngữ, phần lớn lại chưa được công bố, nên trừ các nhà chuyên môn và các thân hữu của họ, độc giả thông thường, và nhất là những người không đọc được tiếng Anh, tiếng Pháp, ít người biết.

Theo ông Việt Thường trên báo Người Việt “tạm kê” các tác phẩm của ông Nguyễn Bạt Tụy thì gồm có:

1. Dân Và Ngữ Ở Đất Giao [hay Việt Nam] dày hơn 500 trang, công trình 10 năm của tác giả với những chi tiết văn hóa vật chất và tinh thần cùng những đặc điểm về ngôn ngữ với nhiều bản đồ hình ảnh.

2. Khảo Về Dân Việt Ở Hoa Nam và Dân Ta Không Phải Là Dân Việt hai quyển đầu trong loại “tìm về nguồn”, chứa đựng những bằng chứng về sử học, nhân chủng học, cổ cốt học, ngôn ngữ học, cho thấy rằng dân tộc Việt thật sự là ai? Ở đâu?

3. Các cuốn Phonologie Vietnamienne, Les Voyelles Vietnamienne NOA recherche languistique en Giaoland v.v …tất cả đều được viết bằng tiếng Pháp, trình bày những biến chuyển về tư tưởng của tác giả qua hơn hai mươi năm suy tư về ngôn ngữ, trong mọi ngành ngữ âm, ngữ nghĩa, văn phạm, văn phong, và nhất là sự phát minh ra “thuyết độ tiếp xúc” [theorie du degré de contact] mà tác giả tin rằng sẽ làm đảo lộn các thuyết ngôn ngữ trên thế giới và chứng tỏ giá trị bấp bênh của mọi công trình nghiên cứu trước đây.

Ngoài ra ông Nguyễn Bạt Tụy còn viết một số tác phẩm bằng Anh ngữ, trong đó có cuốn “New Principles of Phonology” [Những nguyên lý mới của âm học] nhằm chống lại Trubezcoy, tác giả cuốn sách nổi tiếng tựa đề là Principe de Phonologie.

Được biết, sau khi chiếm được miền Nam tháng 4/75, tối ngày 4 tháng 7/75. Hà Nội đã cử một số các nhà ngôn ngữ học, dân tộc học đến thăm ông Nguyễn Bạt Tụy tại Đà Lạt, sơ bộ, để hỏi về những công trình nghiên cứu của ông. Hơn một tuần sau đó, ông Nguyễn Bạt Tụy đã viết một bức thư gửi ông Tố Hữu, xin được giúp đỡ về hành chánh, tài chánh và phương tiện để ông có thể đi nghiên cứu khắp nơi trên đất nước, nhất là những nơi trên miền Bắc. Thư của ông cho đến nay vẫn chưa được hồi âm, và chắc rằng sẽ

không bao giờ được hồi âm, vì Tố Hữu đã chết. Không biết trước 75, có bao giờ ông Nguyễn viết và gửi thư cho một cấp chính quyền nào đó ở miền Nam đề nghị một việc tương tự? Không thấy ai nói tới chuyện này.

Lý do vì sao ông làm hay không làm chuyện đó, chỉ mình ông biết. Nhưng việc ông gửi thư cho ông Tố Hữu thì gần như một việc công khai.

Và, khi gửi thư cho ông Tố Hữu, thì ông Việt Thường cho rằng, ông Nguyễn Bạt Tụy đã gõ đúng cửa, vì khi đó Tố Hữu đang là Phó Thủ Tướng, cùng một lúc là người lãnh đạo nền khoa học xã hội và văn học nghệ thuật cả nước. Có vẻ như ông Nguyễn Bạt Tụy tin ở sự liêm khiết, tin ở sự lương thiện, tin ở sở học của mình, chọn cơ hội để hiến dâng tất cả những điều tốt đẹp ấy cho đất nước. Nhưng có thể có sự hiểu nhầm về tiêu chuẩn giá trị giữa hai bên chăng?

Thực tế là từ bấy đến nay, ông Nguyễn Bạt Tụy chỉ nhận được sự im lặng.

Ai muốn hiểu sự yên lặng ấy ra sao cũng được. Tố Hữu cũng không còn nữa. Trước khi chết, Tố Hữu cũng đã bị tước bỏ mọi quyền hành và đã có lúc làm thơ than thở với cái bóng cô đơn của mình. Cái bóng đã mất cùng với người ấy, so với cái bóng xiêu vẹo của một học giả già nua, bệnh tật, đổ trên mấy con dốc ở Đà Lạt, còn đó, cái nào buồn hơn?

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 3 Sep 2025

38. Nguyên Sa.

Báo chí Việt Nam nhiều nơi ở hải ngoại, vừa ra những số đặc biệt để tưởng nhớ Nguyên Sa, nhân ngày giỗ lần thứ ba của ông. Các bài viết nhắc lại những kỷ niệm, những ngày cuối cùng của Nguyên Sa. Đọc những bài báo ấy, đọc bộ sách ‘Nguyên Sa, Tác Giả, Tác Phẩm’ của nhiều người viết để biết ảnh hưởng của Nguyên Sa đối với ngay các bạn bè, học trò và những thế hệ sau rộng lớn thế nào. Thơ của ông, cách thế sống của ông, đều có một vẻ gì đó thuyết phục đối với những người quen biết ông. Ngay từ những bài thơ đầu tiên cho phổ biến, ông đã khẳng định sự thuyết phục này:

Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên cánh tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chẳng là nước biển

Tại sao Nga ơi, tại sao

Đôi mắt em nghẹn như sát từng lần vỏ hến

Những bước chân không đều

Như chiếc thước kẻ ai làm cong

Ai dám để ở ngoài mưa, ngoài nắng

Nguyên Sa không viết tuyên ngôn thơ. Những câu thơ ấy của Nguyên Sa tự nó là một tuyên ngôn. Tình cảm, ngôn ngữ, hình ảnh tràn ra trong bài thơ như một mạch nguồn đã bị ứ đọng từ lâu vừa được giải thoát. Tuổi trẻ nhận ra ngay rằng tình yêu của mình đã có một thực phẩm mới. Người ta không phải yêu lại cái cách thế yêu của Xuân Diệu nữa:

Tôi đã gặp em từ bao giờ

Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya

Kể từ gió thổi trong vừng tóc

Hay lúc thu về cánh nhạn kia

Có phải em mang trên áo bay

Hai phần gió thổi một phần mây

Hay là em gói mây trong áo

Rồi thở cho làn áo trắng bay …

Nguyên Sa đã mở một thế giới mới cho tình yêu. Cái thế giới ấy gần gụi với mọi người, ở trong tầm tay của mọi người. Nó chính là người yêu của bạn.

Những gì thi sĩ nhìn thấy, cái đẹp, cái đáng yêu, đều có nơi người yêu của ta.

Gặp một bữa anh đã mừng một bữa

Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn

Đó không phải là điều chỉ thi sĩ mới làm được. Chúng ta đều làm được.

Hãy dựa tóc vào vai cho thuyền ghé bến

Hãy nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa

Hãy gửi cho nhau từng hơi thở mùa thu

Có gió và nắng vàng rất nhẹ

Và hãy nói năng những lời vô nghĩa

Hãy cười bằng mắt ngủ bằng vai

Hãy để môi rót rượu vào môi

Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn

Không, không có gì lạ trong cái thế giới tình gọi là mới Nguyên Sa mở ra. Cũng không phải ông làm mới lại những gì đã cũ. Ông chỉ cho chúng ta nhìn lại những cái có sẵn quanh mình. Rồi sự hiện hữu như một khám phá tự nó trở thành cái mới.

Nhưng không phải Nguyên Sa chỉ làm thơ tình. Thơ ông chạm tới nhiều ngõ ngách sâu thẳm khác của đời sống, của ước mơ, của tâm hồn con người.

Năm ngón tay

Trên bàn tay năm ngón

Có ngón dài ngón ngắn

Có ngón chỉ đường đi

Có ngón tay đeo nhẫn

Ngón tay thử coóc-sê

Ngón tay cài khuy áo

Em còn ngón nào

Để giữ lấy tay anh …

Diễn đã chết, Diễn đã chết

Chúng tôi nhẩy múa reo hò

[ … ] Thế là nó thoát, thế là nó thoát

Cuồng lưu dằn vặt đã trôi qua

Khỏi phải nghĩ, khỏi lo âu, sợ hãi

Sự thật có phải bao giờ cũng tối như đêm

Tình ái có phải suốt đời là canh bạc

Lịch sử, rút lại, có phải là thằng mù sờ soạng …

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta .

Cắt cho ta sợi dài

Cắt cho ta sợi ngắn

Cắt cái sợi ăn gian

Sợi xích chiến xa, sợi giây thòng lọng

Sợi hưu chiến mỏng manh,

sợi hận thù buộc chặt

Sợi Hà Nội khóc trong mưa

Sợi Sài Gòn buồn trong nắng

Sợi rỗng như khẩu hiệu

Sợi nhọn như lưỡi lê

Sợi nhố nhăng như cuộc đời

Sợi ngu si như lịch sử …

Có những người khi mất đi, cho ta cảm tưởng quanh mình, dường có những ngọn đèn nào đó tắt theo, và ta mất đi thêm một chút ánh sáng. Cái chết của Nguyên Sa cũng có ý nghĩa như vậy. Ông nhìn đâu cũng thấy thơ, thấy cái đẹp. Những câu thơ đau đớn nhất của ông cũng thấm đẫm chất mật của thơ.

Thơ xuôi Việt Nam có nhiều người làm. Nhưng cũng chính Nguyên Sa là người làm cho thơ xuôi được chấp nhận.

Tuấn Ngọc

Sĩ Phú

Tôi Bị Đẩy Vào Nước Mỹ

vvnm.vietbao.com

26/11/2002

Nguyễn Bùi Lẩm Cẩm

Post by Sơn râu 2 Sep 2025

Tác giả không ghi tiểu sử, chỉ cho biết ông hiện cư trú tại Garden Grove, CA.

Là một tài công bất đắc dĩ, tôi được ơn Trời ban cho để đưa 70 nam phụ lão ấu, sau gần một tuần lễ đầy khiếp đảm trên biển cả, đến được bến bờ Mã Lai bình an.

Ngày bước chân vào trại tị nạn Pulau Bidong, 14 tháng 4-81, chúng tôi vô cùng sung sướng, vì vào được trại tị nạn rồi thì ít nhất mạng sống đã có phần được bảo đảm, sau khi thoát ra khỏi một chế độ cầy cáo.

Sau vài ngày được tẩm bổ cơm rau của Cao ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tôi được Hội đồng trại kêu lên trình diện. Khi gặp ông Trưởng Trại và anh Hoài Điệp Tử, lúc đó là Trưởng Khối Thông Tin của Trại, (nay đã ra người thiên cổ), trao cho tôi nhiệm vụ “phối kiểm nghệ thuật, kiêm trưởng ban Chương trình Quê Mẹ”. Tôi thưa với ông Trưởng Trại và anh HĐT là cái việc “phối kiểm nghệ thuật” thì phải trao cho Hoàng đức Nhã, chứ tôi đâu phải là dân cầm kéo đâu! Nhưng rồi vì việc chung tôi cũng đành phải nhận. Chuyện nầy nó lòng thòng lắm, viết bao nhiêu cho đủ, lại còn bị lạc đề bài thi.

Một tuần sau tôi được gặp phái đoàn Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ), quí vị ấy bảo tôi khai lý lịch và quá trình hoạt động trong chế độ VNCH, cũng như thời gian sau ngày 30-4-75 cho tới ngày vượt biên. Tôi khai đi lính VNCH vào tháng 3-1964, đến mùa thu năm 1965 thì tôi được lệnh Phòng 7 Bộ TTM/QLVNCH sai đi công tác một tháng trên Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, trong chiến dịch Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ dọc theo duyên hải Miền Trung, từ tỉnh Bình Định ra đến tỉnh Bình Tuy. Cuối năm 1965 tôi bị thương và trở về nguyên quán. Tháng 3-67, tôi được tuyển vào ngành công chức và được phái đến làm thẩm định viên tại Trung Tâm Thẩm Vấn Chính trị tỉnh Bình Thuận. Sau đó tôi làm UV. HĐX, rồi làm thông tín viên địa phương cho vài tờ nhật báo như Sóng Thần, Thẳng Tiến, Diều Hâu….Sau khi Việt Cộng chiếm Miền Nam Việt Nam, tôi trốn về Vũng Tàu một thời gian, sau đó bị bắt và bị biệt giam 18 tháng tại nhà tù tỉnh Bình Tuy. Cuối cùng tôi cũng được anh em tù cứu vượt ngục.

Cao ủy Tị Nạn LHQ ghi nhận xong, họ nói sẽ chuyển tôi qua phái đoàn Hoa Kỳ. Tôi thưa với họ cho tôi được gặp phái đoàn Úc Đại Lợi hoặc Tân Tây Lan thì họ trả lời một cách thẳng thắn là không có một phái đoàn nào khác nhận, vì họ không muốn dẫm chân lên nhau!!

Trong thời gian đó, hàng ngày anh em chúng tôi gặp nhau, hầu hết là cựu quân cán chính VNCH và rất nhiều anh em cựu tù nhân chính trị, từ cựu Chuẩn úy đến cựu Đại tá QL. VNCH, đến quý vị giáo sư, luật sư, Trưởng ty, Sở…và đã đến ở trại tị nạn nầy từ sáu tháng đến vài năm. Lúc bấy giờ, các anh em cựu tù nhân chính trị có ý định đúc kết một tuyển tập viết về những ngày bị hành hạ đau khổ, tàn nhẫn trong các nhà tù. Anh em đồng ý ủy thác việc đúc kết tài liệu và thành hình Bản Cáo Trạng Tội Ác của Việt Cộng, vì cho rằng tôi có thể làm được việc nầy, nhất là anh em nghĩ là tôi sẽ được đi định cư sớm. (Chuyện nầy nó cũng dài giòng, xin hẹn dịp khác). Do những thân tình, anh em cũng hỏi về quá khứ thời VNCH, tôi cũng trả lời với anh em khuyên tôi coi chừng bị “Xù”, mất công “chờ hốt rác”, không chừng ở đây làm “Chúa Đảo”! Tôi nói chỉ mong được đến một nước tự do, nếu bị đến Congo cũng được. Có một vài anh em biết nhiều chuyện ở đây, như một vài người nào đó cấp bậc thấp mà khai cao, hoặc được nước nầy nhận rồi đòi đi nước khác, nằm ở đây xé lịch hơi mỏi tay!

Tôi nửa thật nửa đùa là tôi không muốn nhìn cái mũi két và đôi mắt dã nhân của “Kít-sinh-dơ”! Cái bọn ăn trúng phẩn của băng đảng sát nhân Hà Nội, và đồng lõa đẩy toàn dân Việt xuống tận cùng hố sâu địa ngục và bọn chúng reo hò vui sướng trên nỗi thống khổ của một dân tộc! Nhưng cuối cùng, vì sự thông cảm tâm tư của tôi và lời khuyên đầy thương mến của cựu Đại tá Hoàng Xiêm (Cụ đã thanh thản về chốn Thiên Đường hoặc cõi Phật trước khi đến hưởng mùi tự do ở nước thứ ba của chốn trần gian): “Cậu mày đừng tự ái, cái đau mất nước là cái đau và nhục của mọi người, cậu mày loạng quạng thì ở đây mà làm chúa đảo, nhiều người muốn bàn giao chức vụ nầy mà chưa có ai thay thế. Cậu này có muốn không”” Do nhiều áp lực bất khả kháng, tôi phải chấp nhận để “bị đẩy đi Mỹ”.

Lần thứ hai, sau gần hai tháng thì phái đoàn Mỹ gọi tôi lên. Họ cho biết là tôi được định cư tại Hoa Kỳ và đã có Hội Tolstoy bảo lãnh. Họ còn quả quyết là tôi sẽ được đi rất nhanh, không phải ở lâu sau ba tháng tại trại tị nạn. Thú thực là tôi rất vui mừng vì đã được một quốc gia chập nhận cho đi định cư, mà còn được đi sớm. Đây cũng là tâm trạng chung của hàng chục nghìn thuyền nhân. Rời trại tị nạn sớm ngày nào là phúc đức ngày đó, vì ở đây vẫn là nơi tầm gửi.

Ngày đầu tiên đạp chân lên nước Mỹ, phải nói rằng tôi tá hỏa tam tinh vì những kiến trúc vĩ đại của xứ nầy. Khi bước vào phòng đợi tại phi trường Salt Lake, tiểu bang Utah, tôi được một nhân viên của Hội bảo lãnh Tolstoy Foundation chở tôi về văn phòng của Hội. Tại đây họ chào đón tôi một cách niềm nở, trao cho một tấm ngân phiếu hai trăm đô và dẫn tôi vào nhà kho, bảo tôi muốn lấy cái gì tùy ý. Nhìn đống áo quần lẫn lộn cả những nịt vú, quần lót, cà vạt, áo vét, quần jean, áo sơ mi đủ màu sặc sỡ, nhưng cái mùi thì rất là tạp chủng… tôi cũng lom khom lựa được vài cái quần, mấy chiếc áo vừa khổ cái xác cao hơn mét bảy của tôi. Tôi nghĩ, có còn hơn không!

Tôi trân quí cầm tấm ngân phiếu và mấy bộ áo quần lựa được, cúi đầu tạ ơn Hội đã bảo lãnh tôi đến Mỹ. Họ nhìn tôi qua những ánh mắt tội nghiệp cho một kiếp tị nạn. Họ chúc tôi sớm hội nhập vào Hiệp Chủng Quốc!

Ngày đến Sở Xã Hội, tôi được một ông Mỹ thuộc loại hộ pháp gọi đi theo vào phòng làm việc. Sau khi xét đơn, ông cho biết là tôi được trợ cấp mỗi tháng 200 đô la và 35 đồng phiếu thực phẩm. Tôi mừng như vừa được trúng lô độc đắc xổ sổ “Kiến Thiết Quốc Gia”, tôi trở thành triệu phú.

Ông dẫn tôi qua một phòng khác, nơi đây tôi được trao cho một tấm lệnh phiếu và một xấp giấy màu nâu, xanh, tím. (Vì là tháng đầu tiên sau khi đơn xin trợ cấp được chấp thuận thì được lãnh tại chỗ. Sau đó hàng tháng được gửi về địa chỉ cư trú, theo luật của tiểu bang Utah lúc bấy giờ. Tôi cũng được giải thích những tờ giấy màu đó là phiếu thực phẩm). Tay chân tôi rung lên vì mới vớ được của.

Vào năm 1981, thành phố tôi ở nếu thuê một căn chung cư vừa phải chỉ khoảng 70 đôla, nếu ở chung vài ba người thì thuê một căn có vài phòng thì mỗi người chỉ tốn khoảng 30 đôla. Vậy thì số tiền được trợ cấp của tôi như vậy, sau khi trừ chi phí tiền thuê nhà, tiền xăng và chi tiêu lặt vặt thì vẫn còn đủng đỉnh trong túi quần, nếu biết tiết kiệm. Nói theo kiểu vui tếu của người Việt Nam thì như vậy là cha quá rồi. Còn đòi gì nữa! Thế là mới đến Mỹ, tôi được trở thành một kẻ ăn mày có “Chứng Minh Thu” của chính phủ Cờ Sao Sọc!

Thuở còn nhỏ, tôi đã mài rách hàng chục cái đũng quần từ lớp mẫu giáo… đến mười mấy năm ở trường. Tôi ham học ngoại ngữ Pháp, lõm bõm được một nhúm, nhưng khi vào đời thì cũng đã trả lại cho Tây! Chứ lúc ấy mà ôm chân “đế quốc Mỹ” thì cũng đã đỡ ghiền. Tôi vội vã đến trường ghi danh học Anh ngữ vào lúc tuổi ba hai. Thú thực trí óc tôi bất ổn, phần vì nhớ mẹ già em dại. Phần đau hận vì bị đẩy ra khỏi tổ ấm quê hương để sống kiếp lưu vong. Hàng ngày ở lớp ESL, bà giáo cứ khen tôi là mày học khá lắm, mà khi về nhà thì bao nhiêu chữ In-lít cất cánh bay xa, trong lúc cái cục óc của tôi không lớn hơn nửa quả trứng gà mà bị dồn nén đủ chuyện. Mỗi lần đến lớp học, ánh mắt của tôi luôn như cầu khẩn bà giáo “đừng mắng tôi là thằng ngu, dù tôi vốn dốt!” Thông cảm được tâm trạng của tôi, bà giáo cũng cố nhét cho tôi mỗi ngày được dăm chữ Mỹ.

Hai tháng sau, tôi được “trát đòi” của Sở Xã Hội (quen gọi là văn phòng oeo-phe). Bà cán sự người Việt, có quốc tịch Lào-Mỹ hân hoan cho tôi biết là kể từ tháng sau tôi phải “đi làm công quả” mỗi ngày 5 tiếng đồng hồ. Tôi tả oán nếu phải đi làm như vậy thì không có thời giờ để đi học Anh ngữ nữa. Có lẽ lúc ấy tôi đã có chút da thịt, có vẻ hơi đẹp trai và sau khi liếc một cái nhanh như chớp. Bà ấy phán rằng tôi còn trẻ, độc thân thì phải đi làm. Tôi rất nghiêm chỉnh thưa là xin chính quyền giúp cho tôi một thời gian bởi vì tôi chưa nói được tiếng Mỹ thì làm sao các hãng xưởng thuê mướn” Bà ta xếp tập hồ sơ lại, rất lạnh lùng như tuyết đang đổ ngoài kia. Rằng thì “Nếu anh không đi làm việc tình nguyện như vậy thì anh không còn được nhận trợ cấp. Nước Mỹ không có nợ gì anh. Nước Mỹ cũng không phải là một cái kho tiền.”

Một vài đồng hương biết chuyện tôi bị “cúp viện trợ”, họ lắc đầu ngao ngán và ngỏ lời phân ưu: “Anh gặp Hoa Trà Tuyết Sơn Nữ thì đã được nhận cái búa tạ. Bà ấy điêu luyện đến nỗi cái móp bóp thành bầu dục – Kẻ từ tay có trở thành tay không!”

Ngày tôi đến nhận “nhiệm sở mới” theo lệnh của văn phòng oeo-phe, hay chính xác hơn là lệnh của “người đẹp Hoa Trà Tuyết Sơn Nữ”. Nhân viên trường tiểu học giảng cho tôi là mỗi ngày phải đến đây làm việc 5 tiếng. Hàng tuần họ sẽ báo cáo về Sở Xã Hội. Tôi cũng được trình diện ông xếp “cờ-lin-ấp” của trường. Ông ta xổ cho tôi tràng giang ngôn ngữ Mỹ… Tôi thầm nói “Du-thoóc-du-hia. Ai-đông-nô-goắt-du-thoóc”. Tôi đã phải vận dụng “động từ tu-quơ” đến mỏi cả hai tay. Kể ra ông ta cũng thông minh hơn tôi nhiều khi biết tôi nửa điếc nửa ngọng. Ông dẫn tôi đi vòng quanh nhà trường, và cũng học theo tôi ” động từ tu-quơ”, đưa tay chỉ, khi thấy rác lặt cho sạch. Rồi ông dẫn tôi vào nhà ăn, cũng bằng “bo-đi lăng-guýt” rằng đến giờ bọn nhóc học trò ăn xong, lấy cái khay đựng đồ ăn còn dư đẩy vào cho nhân viên nhà bếp. Khi bọn học trò vào lớp rồi thì quét dọn cho sạch cái “ca-phê-té-re-ra” rồi đi về!

Kể ra cái công việc ở nhiệm sở nầy nó nhẹ nhàng như mấy tờ giấy rác, và hàng trăm cái khay đựng đồ ăn cho bọn trẻ chẳng nhằm nhò gì so với cái xác nặng 150 cân anh của tôi lúc đó. Nhưng…

Buồn tủi cho thân phận một kẻ phải bỏ nước trốn chạy bọn thảo khấu răng vồ chó sói để phải lê kiếp lưu vong sầu phục. Tôi nói với nhân viên nhà trường, nơi “nhiệm sở” tôi mới nhận chức được vài ngày, thông báo cho “người đẹp có làn da ngăm ngăm, cán sự Oeo-phe” là tôi không đi làm theo lệnh của bà ấy nữa – Và cứ cắt…! Nhân viên nhà trường hỏi tôi lý do. Tôi chỉ lắc đầu! Không biết họ có hiểu rằng 5 tiếng đồng hồ ở đó quá nhàn hạ. Nhưng là cả một thời gian dài khủng bố, đầy đọa tinh thần của tôi. Không khác nào những ngày tháng nằm trong lao ngục Việt Cộng!

Tôi đưa nàng “Vodka”, chính tông của Nga sô về nhà. Nàng trong trẻo nhưng cay nóng đến 80 độ. Tôi thè lưỡi liếm, hớp từng…ngụm. Nàng chạy rần rần trong châu thân và dồn lên trí não! Mỗi ngày tôi xách một nàng về, chỉ khoảng 2 xị, và trời đất quay cuồng, mặc cái xác bất động của tôi. Ngoài kia tuyết băng đổ mù mịt. Linh hồn tôi cũng chầu chực để nếu được lệnh bay đi!

Chân tôi nằm kín trong đôi bốt-đờ-sô, mà đôi giày nầy không phải của thời trai lính chiến. Tôi chuộc nó ở chợ trời với giá 50 xu, để lội tuyết mùa đông. Lần mò đến một khu thương mại, nhìn bảng hiệu “Car seat cover” có dán mảnh giấy “wanted”. Tôi thập thò ở cửa, có tiếng nói Việt Nam nghe mát ngọt như nước dừa. Tôi cúi đầu chào, và ông bà chủ tiệm, người Việt Nam chính tông, di tản sang Mỹ trước ngày bọn nón cối dép râu phá sập cổng sắt của lũ quan quyền nhu nhược.

Thông cảm cho hoàn cảnh của tôi, ông bà chủ cho tôi làm mỗi ngày 3 tiếng và trả 15 đô tiền công. Với thời điểm ấy, tiền công cho như vậy là sộp lắm rồi. Chỉ vì vào mùa đông tuyết lạnh nên ít khách. Tuy nhiên, tôi được nhìn thấy sinh lộ, có miếng cơm và rủ rê “nàng Vodka” về ru tôi ngủ vẫn còn vua hơn những người Homeless cầu bơ cầu bất. Thấy đau lòng nhưng bất lực vì chính thân phận của mình cũng đang trong cảnh bọt bèo trên biển khổ trần gian. Tôi tạ ơn Trời- Tôi mang ơn ông bà chủ tiệm may nệm xe! Ít ra, tôi cũng đã trả lại được “tấm thẻ bài” cho Sở Oeo-phe, thành phố Ogden, quận Weber, tiểu bang có một ngôi đền thờ tháp tượng bằng vàng ròng, nằm ở trung tâm Salt Lake City, thủ phủ của Utah!.

Số tôi cũng kị với con bích. Cũng có khi vớ được ả chuồn. Tình cờ, sau khi bao cột bộ nệm xe cho một bà Mỹ, trả tiền cho chủ, cho tới 5 đô gọi là tiền tip. Bà hỏi tôi một tràng, và sẵn có bà chủ niệm, thông dịch lại là có muốn đi học không” Tôi nói là thèm đi học lắm mà không có điều kiện! Bà Mỹ nói với chủ tiệm là ngày mai, tôi cầm tờ giấy nầy đến gặp bà ấy ở địa chỉ cho sẵn.

Sau khi điền đơn, dĩ nhiên là tôi có thông dịch viên hộ tống, bà Mỹ mà tôi bao nệm xe hôm qua, nói với người thông dịch rằng tôi được hưởng chương trình CETA. Hàng ngày tôi phải đến trường học 4 tiếng In-lít, 2 tiếng học nghề. Chương trình trong vòng 8 tháng – Và mỗi tháng được cấp 400 mỹ kim. Nghe vậy, tôi la lên “Cái gì. Đừng giỡn, Tội nghiệp tôi.”

Bà Mỹ cũng rất rành tâm lý, bà hiểu được thân phận của một kẻ gần chết trôi cầu cứu một cái phao. Bà cười vui: “This isn’t your dream. You were just lucky at the time!”.

Tôi ôm sách bút trở lại mái trường. Bộ tịch oai hơn mấy tháng trước khi mới đến nước Hoa Kỳ. Chiếc quần jean, áo sơ mi màu đen, khoác ngoài là áo vét màu cà phê sữa mà tôi mới sắm được ở yard sale. Chân mang đôi bốt-đờ-sô cũng gần há mỏ. Gặp lại hai bà giáo cũ, họ ôm tôi rất kiểu Mỹ. Họ cũng hiểu được sự hoạn nạn của tôi. Họ vỗ về, an ủi “ông cố gắng học In-lít, ông khá thông minh thì có lẽ cũng không dốt tiếng Mỹ trong ít tháng tới. Chúng tôi sẽ giúp ông!”

Hằng ngày sau giờ học chữ Mỹ. Tôi cũng được “ăn chùa” buổi trưa ở trường. Rồi vào lớp khác học “ráp nối điện tử!”

Lúc nầy tôi tự chứng tỏ là một kẻ hiếu học. Tôi dần xa rời em bé “Vodka” kẻo cứ bị say sưa. Tôi cũng cố gắng tiết kiệm số tiền trợ giúp chương trình huấn nghệ. Nhờ đó, sáu tháng sau tôi sắm được con ngựa sắt. Mà thật, vì trước đầu có hình tượng con ngựa phi: Ford Mustang, mới ra đời khoảng mười tám năm! Tôi vuốt ve nựng nịu và thầm nói với nó: “Ngựa ơi, cứ bò cho đến trường ta học, chiều lết về nơi ta tạm trú. Đừng bất kham trở chứng nằm lề đường, tội nghiệp ta lắm nghe cưng!” Vậy mà nó cúc cung với tôi một cách dễ thương lạ!

Mỗi buổi trưa, tôi không đi ăn, chỉ hút vội điếu thuốc rồi vào lớp học nghề. Bất chợt ông thầy thấy tôi ngồi một mình. Ông hỏi tôi có phải người Việt Nam không” Thú thực lúc đó tôi cố vét óc thì biết được vốn Anh ngữ cũng khoảng một ly xây chừng! Tôi gật đầu. Rồi tự nhiên ông tâm sự trước đây là một sĩ quan TQLC, đã phục vụ tại VN từ năm 1965 đến 1967. Sau khi bị thương thì hồi hương và giải ngũ! Tôi xúc động nhìn ông, và hình như lúc đó đôi mắt có vẻ lờ mờ… Tôi cũng thật tình nói với ông:

“Vào năm 1965, tôi đi công tác trên Đệ Thất Hạm Đội, trong chiến dịch TQLC Mỹ đổ bộ dọc theo duyên hải Miền Trung từ Phú Cát, tỉnh Bình Định đến Mũi Đèn tỉnh Bình Tuy trong suốt một tháng.”

Nghe tôi nói, ông trợn mắt “really”” Rồi ông ôm tôi! Cả hai đều ứa nước mắt! Ôi một cuộc hội ngộ giữa hai kẻ xa lạ mà sao quá xúc động! Phải chăng đây là tình thiêng liêng giữa những kẻ cùng chiến đấu trên một trận tuyến cho tự do mà cả hai đã cùng ê chề góp máu xương!

Srey

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

August 22nd, 2025

Post by Sơn râu 2 Sep 2025

Ra tù

Anh ký tên đã nhận đủ.

Ông cảnh sát thủ kho chỉ tay vô tờ giấy.

– Gồm. Một đồng hồ Rolex vàng, một áo khoác Polo, một phone tay Vertu vàng, và 5,000 đô!

Lộc ký tên, ông cảnh sát đưa hộp nhựa.

– Kiểm tra giùm!

Lộc đeo đồng hồ, lấy mọi thứ.

– Cám ơn ông!

Anh cảnh sát trại giam đưa Lộc tới trước cánh cửa sắt. Anh ta đút thẻ vô hộp màu đỏ.

– Bíp bíp! Bíp bíp! Bíp bíp

Tiếng loa báo động vang lên, cho đến khi hai người ra khỏi cửa.

– Chúc anh vui vẻ trở về với gia đình và cuộc sống …

Anh cảnh sát bắt tay.

– Tôi không nghĩ rằng chúng ta sẽ gặp lại! Bye!

– Bye!

Lộc rợn người, nổi da gà! Tiếng bíp bíp giống như ngày nào Lộc bị tống vô đây với cái án 10 năm.

Tranh Hồ Đắc Vũ

Srey

Chiếc Mercedes trắng thắng gấp, mở cửa. Srey bước ra vẫy tay.

– Hello anh!

Lộc bước vô xe. Srey quẹo nhanh.

– Ré… ttttt! Rétttttttt!

Srey xoay chiếc xe một vòng trước nhà tù, bánh xe rít lên bốc khói. Chạy đi.

Thành phố Lowell, bắc Boston. Khuất sau 4 phía rào cao bằng gỗ trắng, là căn biệt thự màu xám, ngói đỏ. Sau lưng nhà, một quầy rượu bên hồ tắm hình bầu dục. Srey bỏ 3 cục đá vô ly, rót 2 sót (shots) whiskey đem tới chiếc bàn trắng, nơi Lộc đang bận rộn với cái phone tay.

– Cám ơn! Tao mới ra được 3 ngày… Thứ Hai này, tao bắt đầu trở lại…. Đúng! Mọi buôn bán, cung cấp sẽ do tao điều hành! Không có ai khác!

Srey uống một ngụm chát trắng, chị để ly xuống bàn.

– Em nghĩ… Anh khoan nhúng tay vô công việc, vì còn trong thời gian bị kiểm soát. Em có thể làm mọi chuyện thay anh.

Lộc đưa tay.

– Không! Đó là chuyện của anh, anh phải làm… Bù lại những năm trong tù!

Srey ngồi xuống

– Nhưng khi anh vô tù, đường dây buôn bán của anh cũng chết theo… Suốt 10 năm đó em ra tay lấy thêm được vùng đất tiêu thụ mới, lôi kéo được nhiều khách hàng, nhiều nguồn lợi lớn…

– Tất cả những gì em đã làm đều dựa vô tổ chức của anh… Nên ngày hôm nay nó sẽ thuộc về anh.

– Không được! Việc của anh đã chết… Phần 10 năm nay là của em!

Lộc đứng dậy.

– Không có chuyện đó! Anh sẽ tự tìm thị trường mới, khách mới!

– Viển vông!

– Anh không xử dụng mối của em, thị trường của em!

Srey bắt đầu lớn tiếng.

– Như vậy!… Coi như em tách riêng?

– Nếu em muốn!

Srey lặng thinh, chị tới quầy, rót ly whiskey, nốc cạn. Ra khỏi nhà

Cuối tuần đó.

– Thứ Sáu. Anh sẽ qua Montreal bằng xe bus, hôm sau đi bus ngược về Casino Mohegan Sun. Sáng thứ Bảy em mang số hàng tới phòng 305 S ở Mohegan Sun. Anh sẽ giao cho khách tại đó.

Chuông cửa phòng 305 S kêu. Srey mở cửa.

– Mời ông ăn bữa sáng với chúng tôi!

– Cám ơn! Vậy tôi xin mời bữa tối!

Srey, nhét khẩu súng vô lưng quần.

– Mời vô!

Ông khách ngồi xuống bàn.

– Tôi là Romano.

Romano

Romano là kiểu dân gốc Ý màu mè. Tóc bôi gel đen mướt, chải ngược ra phía sau như găng tơ thời 45, áo lụa bông hoa, quần linen rộng, nhăn, kiểu bụi đời, dưới chân là đôi giầy màu đỏ, mũi nhọn. Tuốt trên đôi mắt là cặp kiếng đen Maybach đắt tiền, kè kè trên cái mũi quặm, nhìn rất gian. Romano hay ra dấu khi nói và nói rất nhiều.

– Tôi là chủ đường dây thuốc ở khu Ý, Saint Michel của Montreal.

– Tôi là Lucky… Chủ đường dây này!

Romano xoa tay, chỉ Srey.

– Nhưng tôi lấy hàng của Srey đã 3 năm nay…

Lộc giải thích.

– Lúc đó tôi bị tù, Srey giúp tôi, bây giờ tôi làm trở lại!

Romano đứng dậy.

– Xin lỗi! Tôi là khách hàng của Srey!…

Anh ta chỉ Srey.

– … Chỉ muốn làm với cô ta!

– Ok! Romano! Tôi làm…

Srey cầm túi xách tới bàn, Lộc đứng dậy, bước ra canh cửa.

Romano lấy trong xách tay gói ny lông.

– Đây! Đúng $400,000.

Srey đếm. Chị đẩy túi xách tới.

Romano cầm lấy, kéo dây khóa.

– Quá tốt!

Romano đứng dậy, ra khỏi cửa. Lộc bỏ gói tiền vô chiếc va ly nhỏ.

– Đi lẹ!

Hai người hấp tấp lấy xe chạy qua casino Foxwoods, gần đó.

Nhà hàng chuyên bán ‘bíp tếch’ bò ủ khô 30 ngày, nằm một góc trong lối đi vòng cung giữa khu sảnh chính của Foxwoods. Người phục vụ khui chai rượu chát đỏ, rót hai ly.

Lộc cụng ly với Srey.

– Mừng chuyến giao hàng êm thắm.

Lộc móc túi, đưa cho Srey $20,000.

– Tiền tip của em.

– $20,000?

Srey cười khan.

– Anh có nghe Romano nói?… Nó chỉ muốn làm với em… Đây là mối của em trong mấy năm qua… Lý ra anh phải trừ vốn và chia đôi phần tiền lời với em!

Đang cắt miếng bíp tếch, Lộc ngưng lại.

– Đây là đường dây của anh bao nhiêu năm, khi em làm thay, thì đó là khách của em, nhưng bây giờ anh làm…

Lộc nhún vai.

– … Khách của em là khách của anh! Em là vợ!  Anh đã lo hết nhà cửa con cái, tiền lương của em $20,000 một tháng, mỗi chuyến giao hàng, anh đều chi cho em tiền tip… Anh nghĩ… Vậy là đủ rồi!

Srey lạnh lùng nói.

– Không được! Anh phải chi cho em ít nhất 40%… Nếu đó là khách của em!

Chị đứng lên, bỏ đi.

Srey lên thang cuốn, dưới thang cuốn là một cái bar rượu rất lớn, hình tròn, choán gần hết khu sảnh trung tâm của Casino Foxwoods, quầy rượu nằm ngay giữa, quẹo qua phải, thẳng tới chiếc bàn tròn nhỏ sát tường gỗ. Romano nâng ly rượu cognac Courvoisier màu hổ phách đậm, làm một ngụm, bập nhẹ điếu xì gà Cohiba, liếc nhìn Srey trên thang.

Montreal

– Hello! Sao? Bán thuốc trong vùng của mình? Tụi mầy hãy nằm im…Được! Đích thân tao sẽ tới!

– Tụi nó giành mối của mình hả anh?

Srey hỏi.

– Nhóm thằng Ý nào đó, giành bán thuốc trong khu vực của mình… Chém bị thương thằng em!

– Không được! Anh phải thanh toán nó ngay!… Nếu không mình sẽ mất thị trường Montreal!

Bốn giờ chiều thứ Sáu, Srey chở Lộc trong bộ đồ rằn ri đi săn, tới tiệm Donut ở trạm xe bus sát biên giới Canada.

Hai người đang uống cà phê.

– Hello! Lucky! Khỏe không.

Một anh Mỹ, mặc đồ săn, từ ngoài bước vô chào Lộc.

– Hello Jimmy! Lâu quá không gặp… Kể từ mùa săn năm trước… Ngồi đi!

Jimmy ngồi.

Lộc tới quầy, mua cà phê và hộp bánh donut cho Jimmy.

– Xong rồi! Anh đi săn vui vẻ, em về.

– Nhớ rước anh 6 giờ chiều Chúa Nhật! Điểm hẹn sẽ cho em biết sau.

– Ok!

Jimmy và Lộc ra xe, chạy về hướng Alburgh, hồ Champlain. Jimmy giấu xe trong rừng. Hai người theo đường mòn xuống tới con lạch nhỏ. Núp sau hàng lau dầy.

– Đợi 5 phút!

Chừng 2 phút, có tiếng rì rì trên nước. Jimmy đè vai Lộc xuống, tay rút khẩu Colt.

– Nếu động… Chạy thẳng vô rừng, chừng 50m. Có chiếc dip phủ lá cây. Chìa khóa đây.

Jimmy đưa chìa khóa.

Trên mặt lạch lấp lánh ánh nắng chiều. Chiếc xuồng cao su nhỏ từ lùm cây ló ra với tiếng rì rì.

– Nằm im!

Jimmy chĩa súng.

– Crít! Crít! Crít!

Có tiếng chim kêu 3 lần.

Jimmy huýt sáo 3 lần.

– Xong! An toàn.

Jimmy lận súng vô quần, kéo tay Lộc.

– Xuống!

Lộc leo lên xuồng, Cậu nhỏ trùm áo mưa kín mít, ngồi ngay động cơ.

– Hello! Chúng ta đi! 5 phút là tới! Có người đợi sẵn.

Chiếc xuồng rì rì chạy vô khoảng lạch phía trước. Chừng 5 phút, có tiếng huýt sáo nhỏ, và 2 tiếng chim kêu từ cậu nhỏ.

– Tới rồi! Anh lên bờ.

Trời bắt đầu tối. Có người cầm cái đèn pin, ánh sáng màu đỏ, nhỏ như hạt đậu.

– Lucky! Ở đây!

Lộc leo lên. Xe chạy đi.

Thanh toán

6 giờ sáng. Người bạn chở Lộc vô thành phố Montreal, ghé một gara sửa xe.

– Hello! Anh Lộc… Hưng đây!

Hưng đưa Lộc vô căn phòng sau lưng gara. 2 ly cà phê pha sẵn, để trên bàn. Anh ta lấy xấp hình trong túi.

– Anh coi! Hôm kia tụi nó chém thằng em ruột của tui ở quán cà phê… xém chút là đi con mắt… Khi nó đang giao thuốc vùng Saint Michel… Cà phê anh!

– Cho anh 2 sót whiskey! Không uống cà phê!

Hưng để ly rượu xuống bàn.

– Mới sáng mà anh đã hừng hừng rồi!

Lộc cười.

– Đổ xăng để chút nữa làm công chuyện cho ngon!… Em biết mặt thằng đó?

– Thằng Ý này là dân bán thuốc ở tuốt trên khu Jarry, Tụi Ý trùm khu Saint Michel đã cho anh bán từ 10 năm trước… Mẹ! Nó nhảy vô đó hớt tay trên của mình…

– Tên gì? Có hình không?

Hưng lấy phone, bấm.

– Đây anh! Hình và video.

Lộc đứng dậy.

– Anh biết nó! Romano.

Hưng ngạc nhiên nhìn Lộc.

– Anh cần đồ chơi ngay bây giờ. Một bình xịt hơi cay. Một dao chặt xương loại vừa.

Hưng lấy đồ chơi bỏ vô bao da, đưa cho Lộc.

Lộc lấy dao chặt xương cầm thử trong tay.

– … Khi xong việc! Em ra xe trước, anh ra sau. Em chở anh chạy thẳng tới Alburgh, gần hồ Champlain…

Lộc chém thử một phát. Anh bỏ dao vô bao.

– Sau đó, mọi người vui vẻ về nhà…

Lộc cười.

– … Coi như không có gì xảy ra…

Lộc uống thêm một sót whiskey, lên xe đi với Hưng.

Còn quá sớm để quán Cà phê Milano đông khách, nên chỉ có 2 người đàn ông ngồi ở 2 bàn bên ngoài, một bàn ở giữa ăn sáng. Sát bên trong. Romano ngả người, dựa lưng ghế, đang rung đùi ăn chiếc bánh pa tê, nhìn ly cà phê đen đóng lớp kem quế dày trên mặt.

– Hello Romano!

Hưng đã đứng sát bên trái ghế.

– Hello Hunk!

– Tao tới đây xin lỗi vụ thằng em…

Romano đưa tay khuấy ly cà phê, không nhìn Hưng

– Nó chết rồi à!

– Không! Bị thương nặng ngay mắt vì cú chém của mày!

– Chưa chết thì mầy khỏi xin lỗi!… Vì tao sẽ chém lại cho nó chết!

– Không!…

Lộc bước tới sát cánh tay phải đang khuấy ly cà phê của Romano.

Romano nhướng mắt. Anh ta ngồi bật dậy.

– Không! Romano! Mầy không thể chém chết thằng em của tao!

– Tại sao?

Romano đứng dậy, rút con dao trong lưng quần.         

– Xiiiii… it!

Lộc xịt hơi cay vô mặt Romano, tay phải anh đưa dao lên, chém mạnh xuống.

– Aaaaa..Aaaaahhhhh!

Romano rú lên như con bò bị thiến, chụp cườm tay đang phun những tia máu nhỏ…

– Tại vì mầy không còn tay để chém nữa!

Romano gục xuống, tay trái chụp lấy bàn tay phải, đã bị cắt ngay khuỷu, nằm trên bàn, 5 ngón tay đang co giựt.

Về nhà

Đã trưa. Xe đang chạy tới Alburgh, Lộc chỉ tay.

– Ghé tiệm burger phía trước, anh phone cho bạn.

Hai người vô tiệm ăn trưa. Chừng 10 phút.

Một anh Mỹ, mặc đồ đi săn rằn ri, từ ngoài bước vô chào Lộc.

– Ok! Tới giờ picnic rồi! Đi!

Jimmy chạy ra xa lộ, ghé vô một cây xăng, có gara. Lộc lấy trong túi da dài đeo bên thắt lưng, một xấp tiền đưa cho Jimmy. Anh ta đưa tay chào người bạn trong gara, bước vô. 10 phút sau, chiếc Toyota cũ chạy ra.

Lộc vỗ vai Hưng.

– Jimmy sẽ ném xe kia xuống sông phi tang, em chạy xe này về Montreal, ghé shopping mua bộ đồ, vô phòng vệ sinh thay liền. Giao xe theo địa chỉ có trong xe, lấy chiếc Camry mới, anh tặng em! Về nhà vui với vợ con, ngủ một giấc… sáng mai tiếp tục giao thuốc! Ok?

Lộc lên xe đi với Jimmy vô rừng, ngay chỗ con lạch đã đưa anh tới đây.

Bẫy!

– Hello Srey!

– Hello Lộc! Xong chưa? Tốt đẹp không?

Lộc cười lớn trong máy

– Ha! Tốt đẹp lắm!… Ok! Bây giờ, anh đang đợi em ở nhà ga phía Nam, ăn trưa trong tiệm pizza Regina. Rước liền!

– Được anh!

Srey bấm nhắn tin, lên xe, chạy.

Lộc đưa tay, cô phục vụ tươi cười.

– Hello! Anh chọn món nào?

– Một xà lách Caesar, một cái Giambotta lớn… Nhớ cho nhiều phô mai và xin vui lòng cho một lít bia lạnh… Thật lạnh!

Lộc rót đầy ly bia, mấy ngón tay xoa lớp hơi lạnh bám thành lớp sương mù bên ngoài chiếc ly cao… Anh nhắm mắt, đưa ly bia vô miệng. Bỗng anh để ly bia xuống bàn. Từ ngoài cửa 2 cảnh sát sắc phục bước vô. Đi hai bên, quan sát từng bàn.

– Người đàn ông Á Châu?

Anh cảnh sát hỏi nhỏ.

Cô phục vụ mặt xanh lè, tay run run chỉ vô phòng vệ sinh.

Hai cảnh sát bước vô. Có tiếng la.

– Ê!

Một cô gái chạy ra, theo sau là Lộc.

Lộc đẩy chiếc bàn vô hai anh cảnh sát, chạy nhanh ra cửa.

– Rét…tttt!

Tiếng xe thắng.

– Mẹ mầy!

Chửi!

Lộc băng qua bên kia đường, chạy thẳng vô cổng chào của phố Tàu Boston.

Ba chiếc xe cảnh sát chớp đèn, hụ còi, thắng gấp ngay cổng. Ba cảnh sát nhào vô. Nhiều xe cảnh sát khác, kéo rào cản, chận các con đường ra vô phố Tàu. Lộc từ dưới tầng hầm của một tiệm ăn nhỏ, chạy lên mặt đường, đúng lúc anh cảnh sát từ ngã ba quẹo vô.

– Đùng!

Anh ta nổ một phát. Lộc trúng đạn, anh quỵ xuống ôm vai, chạy vô con hẻm nhỏ đầy rác và chuột. Có tiếp bíp bíp của chiếc xe chở rác từ ngoài hẻm đang lùi vô trong. Anh công nhân nhảy xuống, ném những thùng rác vô xe. Xe rác chạy đi. Lộc đu theo.

– Srey! Anh bị thương… Đón gấp… Trạm xe điện Malden. Srey bấm nhắn tin.

Những người đi đường nghĩ rằng. Nhóm khủng bố Taliban đang tấn công Malden. Khi họ thấy cả chục chiếc xe cảnh sát chiến đấu bọc thép, trang bị đại liên hạng nặng và mấy toán SWAT với hỏa tiễn cá nhân M-72 lăm lăm tại cửa lên xuống của trạm. Một tràng súng nổ. Những tiếng chân chạy.

Tám cảnh sát chiến đấu, xách Lộc như một con heo bị đem đi quay, họ ném anh vô xe nhốt tù. Hụ còi, chạy đi

Bên kia đường là dãy nhà hàng. Trong tiệm ăn “Lẩu cay Siemriep”. Trên chiếc bàn nhỏ, chị người Miên lai Việt đang ngửa đầu uống cạn một lít bia lạnh… Khà một tiếng! Chị nhắm mắt cười.

Đúng là Srey!

HĐV

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 2 Sep 2025

Phần 4.

Chương 15.

Vào để giúp… Ra lại bắn nhau?

Các em nữ sinh Việt Nam mặc đồng phục màu trắng, đứng dàn chào trên bãi biển, chờ đón để cài hoa lan lên áo người chiến sĩ Đồng minh. Hôm đó là ngày 8 tháng 3, 1965. Hai sư đoàn TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng. Họ là nhóm đầu tiên mở đường cho một đoàn quân trên nửa triệu vào tham chiến tại Việt Nam Họ đến để giúp nhân dân miền Nam chiến đấu với quân đội cộng sản Bắc Việt.

Mười năm sau, cũng vào tháng 3, Mỹ lại có kế hoạch đưa TQLQLC vào. Nhưng lần này không phải vào Đà Nẵng mà là vào Sài Gòn. Không phải vào để tham chiến mà là vào để đưa Mỹ rút đi. Kế hoạch rút lui của Mỹ đòi hỏi phải có tới ba chứ không phải hai sư đoàn, cùng với oanh tạc cơ bao phủ vòm trời để yểm trợ Tại sao lại như vậy? Vì vào thời điểm này, ngoài quân đội Bắc Việt, Mỹ còn lo ngại hơn nữa là phải chạm súng với chính quân đội VNCH! Ôi chao, sao lại có thể ê chề đến như vậy? Ăn ngủ với nhau đã vài chục năm, lúc ra đi lại bắn nhau hay sao?

Ấy thế mà khả năng này lại có thật! Với thời gian, dần dần ta mới thấy rõ hơn những biến chuyển đàng sau hậu trường khi giờ hấp hối của VNCH đã gần kề. Đại sứ Martin kể lại với tôi:

“Lúc đó đã có biết bao nhiêu những kế hoạch điên rồ (crazy plans) được mang ra. Tôi phải cố ngăn chặn lại. Suýt nữa thì hoàn toàn đổ vỡ, chẳng ai đi được mà còn có thể gây ra thảm hoạ lớn?”

Sau khi nói chuyện với ông và nghiên cứu thêm tôi thấy các tình huống xoay quanh kế hoạch của Mỹ rút khỏi Việt Nam nó ăn khớp với nhau. Nói chung, để giúp cho việc ra đi được yên ổn và không lổn hại nhiều tới uy tín của mình, Hoa Kỳ đã có bốn dự định chính:

– Thứ nhất, một kế hoạch quân sự: mang thuỷ quân lục chiến vào Sài Gòn để phụ trách di tản 6,000 người Mỹ và một số rất ít người Việt Nam liên hệ;

– Thứ hai, tác động với phía Việt Nam để tránh tình trạng hỗn loạn vào giờ phút chót.

– Thứ ba, nhờ cậy Liên Xô dàn xếp với Hà Nội để không cản trở việc di tản; và

– Thứ tư, sắp xếp một giải pháp chính trị để có một thời gian chuyển tiếp.

Dù là cả bốn hành động đi chung với nhau, về tầm quan trọng và ưu tiên, có sự khác biệt giữa những quan chức Mỹ ở Washington và ở Sài Gòn. Washington thì đặt nặng giải pháp quân sự và việc cầu cầu Liên Xô. Tại Sài Gòn, Đại sứ Martin lại cực lực chống đối kế hoạch quân sự, chỉ tập trung vào việc tránh xáo trộn và sắp xếp giải pháp chính trị.

Về mục tiêu của các giải pháp cũng có sự khác biệt: Washington theo đuổi một mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu tình thế, đó là rút ra cho mau lẹ, trong khi Đại sứ Martin lại muốn có một thời gian lâu hơn để việc rút lui không quá lộ liễu, đồng thời giúp di tản một số người Việt Nam.

Suýt có đụng độ lớn?

Tình trạng hỗn loạn, tắc nghẽn ở Sài Gòn làm kẹt việc di tản 6.000 người Mỹ là một tình huống đã làm cho Đại sứ Graham Martin lo nghĩ nhiều nhất. Ông kể lại là mình đã mất ngủ từ khi trông thấy cảnh rút lui thê thảm khỏi Cao Nguyên, rồi tới tình trạng rối loạn, kiêu binh ở Đà Nẵng, Nha Trang: dân chúng tràn ngập đường phố để tìm lối thoát, rồi tới tình trạng rối ren ở phi trường. Máy bay không đáp xuống được nữa khi các phi đạo bị tắc nghẽn. Ông giải thích về bài học quan trọng để rút ra: yếu tố đáng sợ nhất chính là sự hoảng hốt. Sự hoảng hốt có thể là kẻ giết người, là kẻ phá đổ, và là yếu tố làm tê liệt mọi việc mà ta cần phải tránh với bất cứ giá nào vào lúc đó” [1]

Bỏ rơi là phản bội. Phản bội và hậu quả của nó là điều mà Đại sứ Martin đã vô cùng lo ngại trong những ngày cuối cùng.

Nếu cảnh hoảng hốt lại tái diễn ra ở Sài Gòn thì hơn 6,000 người Mỹ và số người Việt được chọn sẽ bị kẹt. Trong trường hợp dó, quân lực Mỹ sẽ phải vào can thiệp, dẫn tới khả năng đụng độ giữa hai quân đội MỸ-VNCH. Đó là một tình huống xấi nhất, mà lại vào giờ chót.

Kế hoạch để di tản số người Mỹ và bà con hoặc đã có dính líu tới Mỹ, có mật hiệu là “Talon Vise”. Lựa chọn thứ nhất của kế hoạch này là di tản bằng những máy bay lớn từ phi trường Tân Sơn Nhất, yểm trợ bằng quân lực Mỹ.

“Tôi cho rằng mang quân đội Mỹ vào là một sai lầm lớn, vì, thưa quý vị, nếu quý vị đứng vào hoàn cảnh của người Việt Nam thì quý vị sẽ phản ứng như thế nào?” ông Martin trình bày với Quốc hội về sau này [2].

Khi bị chất vấn là tại sao ông không yêu cầu Tổng thống cho di tản trước ngày 29 tháng 4 (ngày Tân sơn Nhất bị pháo kích), ông Martin trả lời:

“Không, vì theo đánh giá kỹ nhất của tôi, nếu làm sớm hơn sẽ có nguy cơ là xảy ra một tình trạng hỗn loạn với kết quả là một số rất đông người Mỹ sẽ chết. Nó sẽ đưa tới một sự khủng khiếp nặng nề nhất, đó là nhu cầu phải đưa quá nhiều quân lực Mỹ vào, và chúng ta sẽ phải chiến đấu với quân đội Miền Nam để mở đường tháo lui” [3].

Ngày nay ta mới hiểu hết được tâm tư của Đại sứ Martin. Rõ ràng là thoạt đầu Washington chỉ muốn di tản nhân viên toà đại sứ Mỹ, cơ quan Tuỳ viên quốc phòng DAO, công dân Mỹ và một số rất ít người Việt làm việc cho Mỹ mà thôi. Và phương thức di tản thì lại quá ư là nguy hiểm. Ta thử tưởng tượng: nếu Mỹ đem từ 3 tới 6 sư đoàn vào để chỉ di tản người Mỹ và bà con, trước hết là TQLC chiếm đóng phi trường Tân Sơn Nhất, rồi Toà đại sứ Mỹ; sau đó, trực thăng và từng đoàn xe Mỹ chở người tới phi trường. Và cũng như vậy, di tản từ các địa điểm khác như Biên Hoà, Cần Thơ. Khi thấy sự phản bội quá lộ liễu như thế, liệu các đơn vị quân đội, cảnh sát, nghĩa quân, địa phương quân, dân chúng VNCH có để yên hay không? Vào đầu tháng 4, sau những buổi họp tại Dinh Độc lập và Phủ Thủ tướng, tôi cũng đã bắt đầu nghe thấy hai chữ “Đ.m”. Sau này, nhiều người cũng kể lại sự phẫn nộ lúc đó tại các đơn vị quân đội VNCH khắp nơi.

Vào thời điểm đó, “kế hoạch điên rồ” mà ông Martin lo ngại đang được bàn định tại Ngũ Giác Đài. Kế hoạch này được tuần báo TIME tiết lộ như sau:

“Sự nguy hiểm là Cộng sản sẽ pháo kích các phi trường. Cũng có một khả năng ác liệt khác là quân đội miền Nam Việt Nam sẽ quay súng bắn vào phi trường Tân sơn Nhất, vào phía Tân cảng (cảng Newport), hay bắn vào chính cả cái bãi đáp trực thăng trên nóc toà đại sứ Mỹ nữa, nếu những người Mỹ rục rịch di tản…” [4].

Hoa Kỳ đã tập hợp lại một đoàn hạm đội ở vùng biển Nam Hải cho công tác này. Đoàn này gồm 4 hàng không mẫu hạm: Hancock, Coral Sea, Midway, và Enterprise. Một đơn vị 2.200 lính Thuỷ quân lục chiến (TQLC) đã được huy động tới trên bốn mẫu hạm này và những tàu hộ tống khác. “Nếu cần, quân đội Mỹ có thể được không vận vào Sài Gòn, bắn phá mở đường tiến một địa điểm an toàn, rồi chở đoàn người di tản ra bằng trực thăng tới các tầu ngoài khơi” [5].

Địa điểm an toàn đó là phi trường Tán Sơn Nhất. TQTC Mỹ sẽ chiếm và bao vây phi trường (xem hình). Để thi hành kế hoạch này, cũng theo tờ TIME: Theo ước lượng của các chuyên viên Ngũ Giác Đài, sẽ cần tới 3 sư đoàn – mỗi sư đoàn 18,000 người- và hơn nữa, nếu tình hình trở nên bết bát hơn là dự đoán. Ngoài những máy bay phản lực bảo vệ trên vòm trời, lại còn cần đến yểm trợ hoả lực từ ngoài khơi, và hàng tá, nếu không phải là hàng trăm chiếc trực thăng nữa” [6].

Tờ NEWSWEEK còn tiết lộ là Ngũ Giác Đài rất lo ngại về tình huống có thể xảy ra như một ác mộng, đó là nhu cầu phải có một lực lượng làm hậu thuẫn cho kế hoạch Talon Vise, nhất là khi họ đã trông thấy cái cảnh kiêu binh của nhiều binh chủng ở Đà Nẵng [7]:

“Dù rằng đã có 20,000 quân ở Miền Tây Thái Bình Dương và vài tá chiến hạm – gồm 4 hàng không mẫu hạm cớ lớn và một mẫu hạm chở trực thăng ở ngay bên trong, hay sát gần hải phận Việt Nam, lực lượng này gần như chẳng đủ để thi hành công tác đó. Sau kinh nghiệm Đà Nẵng và Nha Trang hai tuần trước đây… Ngũ Giác Đài đã trở nên thận trọng”.

Tờ báo này trích dẫn một viên chức cao cấp ở Ngũ Giác Đài đã tiết lộ:

“Tôi đã được nghe một số tướng lãnh nói có thể cần tới 6 sư đoàn mới lập được một hành lang di tản”. Viên chức cao cấp khác thêm: “Phải chiếm phi trường Tân Sơn Nhất để máy bay và trực thăng đáp, chỉ việc này không thôi cũng đã cần 3 sư đoàn. Rồi cần giữ an ninh ngoài cảng cho tầu cập bến nên lại cần thêm ba sư đoàn nữa”.

Ngày 28 tháng 4, tờ NEWSWEEK còn tiết lộ thêm là có thể cần tới 200,000 quân đội Mỹ, nhưng các nhà quân sự đã phải thừa nhận rằng khó có thể nào điều động được một số quân lớn như vậy trong một thời gian ngắn. Tờ này nói thêm: “Một viên chức Mỹ ở Sài Gòn đã giải thích “Chúng tôi thật lòng cố gắng để di tản tất cả những người đã làm việc cho chúng tôi hay những người bị nguy hiểm. Thế nhưng, hãy nhìn vào thực tế: chúng tôi phải lo cho người chúng tôi trước, và trong lúc này thì chỉ việc đó cũng là một cơn ác mộng rồi”.

Đại sứ Mỹ cực lực phản đối

Từ khi biết được kế hoạch này vào khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, Đại sứ Martin đã chống lại. Rồi ngày 8-4, ông lại thấy trong bài diễn văn đọc trước Quốc hội, Tổng thống Ford lại còn nói rõ ra rằng ông yêu cầu Quốc hội cho phép dùng quân lực Mỹ để thực hiện một mục tiêu giới hạn là bảo vệ mạng sống người Mỹ bằng cách đảm bảo cuộc di tản của họ, nếu trở nên cần thiết”. Ông Ford còn xin Quốc hội sửa đổi luật lệ hiện hành (về quyền hạn chiến tranh của Tổng thống) để ông còn có thể dùng quân lực giúp di tản một số người Việt mà Mỹ có trách nhiệm đặc biệt đối với họ (những người làm cho Mỹ).

Nghe Tổng thống nói tới “dùng quân lực” là ông Martin hết hồn. Ông cực lực phản đối. Không, ông không thể nào để xảy ra một tình huống có thể dẫn đến cái cảnh Mỹ-Việt chĩa súng bắn nhau, mà lại bắn nhau vào giờ phút chót! Cái cảnh nồi da xáo thịt ấy còn làm cho Mỹ bẽ mặt thêm biết bao nhiêu nữa. Trong mật điện rất dài gửi Kissinger đêm ngày 17 tháng 4, ông Martin đã thẳng thắn đề cập tới vấn đề và cố thuyết phục [8]:

“Lệnh di tán người Mỹ đột ngột có thể gây bạo động ở Sài Gòn. Nếu không giữ bình tĩnh mà lại đưa thuỷ quân lục chiến vào đây thì có thể gây sự nổi giận không thể lường được… “

Rồi ông nhấn mạnh thêm:

“Tôi nhắc lại một lần nữa là sẽ có náo động lớn, nếu gửi quân đội Mỹ vào Sài Gòn, ngoại trừ một số ít và không quí lộ liễu”.

“Tất cả phòng tin tức lặt vặt nhận được về phản ứng (của phía Miền Nam) đều xác định đây là điều ta không nên làm… “

Chắc chắn ông Martin đã nhận được nhiều tin tức tình báo về khả năng này.

NEWSWEEK (28 tháng 4) còn viết thẳng ra: “Thực vậy, kế hoạch phòng hờ để bảo vệ người Mỹ được soạn thảo ra dường như là để đối phó với những người lính Miền Nam đang liều mạng tìm lối thoát hoặc uất hận vì bị bỏ lại, còn nhiều hơn là đối phó với đoàn quân cộng sản đang tiến tới”.

Tờ này còn thuật lại câu chuyện là một buổi sáng nọ, khi quan sát nhóm người Mỹ và thân nhân Việt của họ kéo đến trước toà đại sứ, một viên chức cảnh sát Sài Gòn bỗng nhiên chặn lại và quát lên: “Các anh không thể bỏ xứ này ra đi, tôi sẽ nhốt hết các anh lại”. Lính gác vội vàng đưa đoàn người này lọt vào qua cổng toà đại sứ.

Trường hợp khác, tại Cần Thơ, những chuyến trực thăng của hãng Air America đã phải bay ban đêm tới một khu chung cư của người Mỹ để bốc họ đi, vì viên sĩ quan chỉ huy phi trường có nói với ông Lãnh sự Hoa Kỳ ở Cần Thơ rằng ông ta không thể bảo đảm được kỷ luật của quân lính dưới quyền mình nếu người Mỹ cố di tản bất cứ ai ra khỏi phi cảng” [9].

Về điểm này, chính bản thân nhiều độc giả chắc cũng đã chứng kiến những bất mãn tương tự tại các đơn vị quân đội hay tại địa phương.

Tại Nha Trang, NEWSWEEK thuật lại: “Khi Toà Lãnh sự Mỹ di tản, chỉ có đủ máy bay để chở người Mỹ, những lính gác Mỹ đã phải chĩa súng tự động vào số nhân viên để họ khỏi tràn ngập máy bay. Và một nhân viên CIA còn kể đến một chuyến phản bội nhẫn tâm hơn khi di tản Toà Lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng: tới lúc ra đi, người Mỹ nhận thức rằng họ không thể nào cho di tản số nhân viên Việt Nam được, nên họ đã cho đậu ba chiếc xe vận tải trước cổng Toà Lãnh sự. Người Việt vội vàng trèo lên, thế là xe phóng đi liền. Khi đám đông đi rồi, người Mỹ mới chạy thoát ra. Rồi những chiếc xe vận tải thả ngay lại số người này xuống một bãi ở cách Toà Lãnh sự mấy dậm” [10].

Theo những thông tin nhận được, ông Martin ra sức ngăn chặn việc mang quân vào. Trong cùng một mật điện (ngày 17 tháng 4), ông báo động về Washington.

“Người Việt Nam sẽ cho rằng Hoa Kỳ mang TQLC vào để di tản người Mỹ và mặc kệ số phận người Việt ở đây. Đó là một hành động phản bội trắng trợn của Hoa Kỳ”.

“Họ sẽ tin rằng Mỹ chẳng còn cần để ý tới những gì sẽ xảy ra cho họ nữa. Và từ cái cảm nhận sâu đậm đó, nếu chỉ có một việc gì bất ngờ xảy ra, dù là nhỏ nhoi tới đâu, cũng có thể gây ra tình trạng vô cùng hỗn độn. Cứ để như tình trạng hiện tại, chúng tôi sẽ gây được cảm tình với người Việt Nam vì họ cho rằng người Mỹ còn ở lại đây cũng chịu chung số phận với họ…”

“Hôm nay tôi đã cho di tản, một cách bất hợp pháp, bà vợ của một viên chức tình báo cao cấp. Ông ta sẽ không bao giờ ra đi, nhưng như vậy ta luôn luôn có thông tin đầy đủ, và chính ông ta cũng đã dùng ảnh hưởng lớn của mình can thiệp với tư lệnh một vài đơn vị quân đội trong số những đơn vị mạnh nhứt để giúp cho “những người bạn trung thực nhất” của Việt Nam ra đi cho an toàn”.

Rồi như không còn chế ngự được mình nữa Đại sứ Martin đã đi tới chỗ gần như chửi thề ông Ngoại trưởng và Tổng thống:

“Thế nhưng tất cả những điều này đều có thể thay đổi đột ngột nếu như có một tên điên rồ khốn kiếp nào đó (some god-damned fool) lại thuyết phục được một trong các quý ông ở địa vị lãnh đạo cao cấp, mang TQLC vào trước khi tôi yêu cầu”.

“Và tôi sẽ không ngần ngại chút nào để yêu cầu khi trật tự công cộng bắt đầu tan rã”.

Để cho tăng phần quan trọng, ông thêm: “Đây là công điện tôi tự đánh máy lấy, không có bản sao, ngoại trừ hồ sơ tại Washington”.

Chữa xong, trước khi chấm dứt bức công điện, ông đã bỏ hết mọi ràng buộc về ngoại giao và còn dứt khoát với cấp trên:

“Có một điều tôi đoan chắc tuyệt đối (deadly certain) là nếu đưa quân đội Hoa Kỳ ào ạt vào đây trong điều kiện hiện nay thì họ sẽ phải chiến đấu với quân đội miền Nam để tìm đường tháo chạy”.

“Nếu ta hành động một cách bình tĩnh thì ta có thể rút khỏi một cách êm đẹp – tôi xin nhắc lại – và ta sẽ không làm một lỗi lầm ghê gớm nữa trong trăm ngàn lỗi lầm người Mỹ đã làm ở Việt Nam và về vấn đề Việt Nam”.

Trân trọng,

Martin

Tác động phía miền Nam

Một mặt thì ngăn chặn Washington gửi TQLC vào Sài Gòn, một mặt ông lại cố tác động phía Miền Nam để giữ cho tình hình khói xáo trộn. Ông làm ba hành động: một là sinh hoạt hết sức bình tĩnh để không đổ thêm dầu vào lửa, không làm xôn xao thêm dư luận là Mỹ đang bỏ chạy; hai là cố kéo dài cuộc di tản người Mỹ để giúp một số người Việt ra đi; và ba là cho di tản sớm một số phi công và gia đình quan chức, tướng lãnh nòng cốt. Ông giải thích cho Quốc hội Hoa Kỳ đầu năm 1976:

Điều lo ngại nhất của chúng tôi lúc đó là tránh khỏi cảnh hoảng hốt, hỗn loạn. Sự lo nghĩ này nó ảnh hưởng đến tất cả những hành động khác. Liên quan tới điều này là mối lo âu thứ hai của tôi, có là: nếu chúng ta không cư xử cho đúng mức thì Đồng minh của chúng ta (phía VNCH) sẽ cảm thấy mình đang bị bỏ rơi, và trở mặt với Mỹ trong những ngày cuối cùng”.

“Bởi vậy phải hết sức bình tĩnh nếu muốn di tản được người Mỹ, những người Việt có liên hệ gia đình với Mỹ, và càng nhiều nếu có thể được, số người Việt mà Mỹ có trách nhiệm đối với họ” [11].

Dù bị Kissinger hối thúc liên tục, tại tư thất cũng như văn phòng làm việc, ông Martin nhất định không chịu đóng gói. Đồ đạc, sách vở, hồ sơ, hình ảnh trên tường vẫn được để nguyên vẹn, không xê dịch. Ngày 18 tháng 4, ông còn cho Giám đốc Thông tin Hoa Kỳ, ông Lan Carter lên TV Sài Gòn để tham dự một cuộc phỏng vấn. Những câu hỏi và trả lời được soạn kỹ lưỡng trước, nhằm làm giảm nhẹ những lo âu là Mỹ đang bỏ Việt Nam. Việc đầu liên Carter phải làm là đánh tan cái tin đồn là “nếu Quốc hội Mỹ không chấp thuận quân viện cho VN vào hạn chót như Tổng thống Ford đã đặt ra (đó là 19-4), thì toàn bộ người Mỹ sẽ được di tản”.

Tôi còn nhớ là ngày 11 tháng 4, sau khi ông Ford ấn định ngày 19 tháng 4 là ngày Quốc hội phải quyết định có hay không cấp quân viện phụ trội cho VNCH, toàn bộ Nội các hết sức xôn xao. Ông Thiệu cũng hỏi tôi tại sao lại là ngày 19-4? Tôi trả lời là thực sự tôi cũng không hiểu. Sau đó tôi tới Đại sứ Martin hỏi, ông nói lơ mơ là không có gì đặc biệt. Rồi ông soạn một trang gợi ý cho ông Thiệu mấy điểm để giải thích lập trường của ông Ford (xem chương sau).

Trong cuộc phỏng vấn trên TV, ông Carter đã nhan mạnh “Ngày 19 tháng 4 chỉ là một ngày đề ra cho Quốc hội hành lang, chẳng có gì quan trọng cả. Ngoài ra, ông nói: “Ta cũng nên nhớ rằng Tổng thống Ford đã tuyên bố ông sẽ còn yêu cầu những $1.29 tỉ quân viện cho VNCH vào tài khoá tới (1975/76)”.

Để chứng tỏ là tình hình vẫn bình thường, Carter nói thêm: “Nếu quý vị ghé thăm tư thất Đại sứ và bà Martin, quý vị sẽ thấy hoàn toàn không có đóng gói gì hết. Và ở nhà riêng tôi cũng vậy”.

Được hỏi về lời đồn thổi là Văn phòng lãnh sự Mỹ đã cấp chiếu khán cho một số người Việt di tản, Carter chối phắt đi:

“Đây cũng chỉ là một lời đồn đại khác nữa, không có một chút sự thật nào cả” [12].

Người ta kể lại là ông Martin đã rất khó chịu với ông Polgar (trùm CIA) khi nghe tin ông này đã đóng gửi đồ đạc gia dụng đi từ đầu tháng 4 [13]. Theo ông Von Marbod, Đệ nhất Phó phụ tá Bộ trưởng quốc phòng kể lại, dù đã tới ngày 28 tháng 4, ông Martin cũng vẫn còn chưa muốn cho Marbod di chuyển số máy bay còn lại và quân cụ nặng ra khỏi VN vì e ngại ảnh hưởng tới tinh thần quân đội VNCH. Dĩ nhiên là Marbod cứ tiếp tục vì ông đã có lệnh từ Washington.

Vì sao phi công VN được di tản trước?

Ngoài bà vợ viên chức tình báo cao cấp, Đại sứ Martin đã sắp xếp để đưa một số khá nhiều phi công VNCH và gia đình được ưu tiên ra đi. Tất cả khoảng 2,000 người di tản trước hết là tới phi cảng Utapao ở Thái lan. Mục đích của việc này là để giảm thiểu khả năng trả thù và đụng độ với lực lượng Mỹ. Trình bày cho Quốc hội về việc này, ông Martin cho rằng nếu cảm thấy bị bỏ rơi quá tàn nhẫn, phía Việt Nam sẽ trút sự giận dữ trên đầu những người Mỹ còn lại:

“Tình báo của chúng tôi đã có rất nhiều những báo cáo chính xác là nếu chúng ta mang số đông TQLC vào để di tản người Mỹ, chúng ta sẽ phải chiến đấu để mở đường tháo chạy; Không quân Việt Nam sẽ bắn rơi các máy bay vận tải của mình, khi chúng ta bỏ rơi chiến hữu, phó mặc họ cho Bắc Việt” [14].

Ông Martin cho rằng phi công là những phần tử trong quân đội VNCH bị uất hận nhiều nhất nên có thể phản ứng:

“Tôi có một sự lo nghĩ trong lòng nhưng nó đã được giải quyết trước ngày cuối cùng của cuộc di tản, đó là một phần đông không quân Miền Nam đã được bay sang căn cứ Utapao ở Thái Lan. Như vậy là đã di chuyển được khả năng (chiến đấu) của một số phi công chống đối trên bầu trời, họ có lẽ là phần tử uất hận nhất trong các quân chủng. Và để trả thù, họ sẽ ngăn chặn cuộc di tản cuối cùng của chúng ta” [15].

Nếu phi công VNCH bắn rơi ba bốn chiếc máy bay vận tải Mỹ chắc chắn là sẽ có nhiều trong số 6,000 người Mỹ phải chết. Thêm vào đấy là số thương vong không thể lường của quân đội hai bên. Dĩ nhiên là không lực từ Đệ thất hạm đội sẽ vào uy hiếp, dẹp tan hết mọi cuộc tấn công. Nhưng Sài Gòn sẽ đổ nát như Baghdad, và bao nhiêu người dân sẽ là nạn nhân. Về điểm này, Đại sứ Martin đã trình bày với Quốc hội hết sức dứt khoát. Ông nói rằng nhân dân Mỹ đều “biết đếm”, họ đếm được những kết quả việc ông đã làm, đó là [16]:

– Giúp cho bất cứ người Mỹ nào muốn di tản đều đã đi được;

– Tránh khỏi sự hoảng hốt lúc Mỹ ra đi;

– Sự chuyển tiếp qua ba Chính phủ trong mười ngày ở Miền Nam đã không bị lộn xộn, và vì vậy, đã vớt vát được chút đỉnh tính cách hợp hiến, hợp pháp ở Miền Nam;

– Sài Gòn đã không bị tàn phá, chúng ta đã không bị Đồng minh trước đây của chúng ta (VNCH) tấn công khi rút đi”; và

– Cuộc triệt thoái đã được diễn ra tương đối với đôi chút phẩm cách.

Trong tình huống có xô xát lớn giữa quân đội của hai Đồng minh vào những ngày cuối cùng, thì ngay tức khắc VNCH sẽ trở thành thù địch của Hoa Kỳ. Trong trường hợp này thì đã không một người nào trong chúng ta được di tàn.

Và nếu đã là thù địch, nếu đã không có di tản đợt đầu thì làm sao có đợt hai, đợt ba, làm gì có chương trình “Ra đi có trật tự” (ODP) và chương trình “Chiến dịch nhân đạo” (HO).

Chắc chắn là đã không có “Little Saigon” ở Nam Cali hay Eden Center” ở vùng Washington D.C. Lịch sử Hoa Kỳ sẽ ghi lại: “Chính Miền Nam là kẻ phản bội, sát hại một Đồng minh đã tiêu phí 150 tỷ đô la, hy sinh trên 53,000 mạng người để yểm trợ họ ròng rã hai mươi năm trời”. Ngày nay, người Mỹ sẽ nhìn người Miền Nam với con mắt như thế nào? Nghĩ lại mà rùng mình! Như ông Martin đã đánh giá tình hình lúc đó: “Nếu chỉ có một việc gì bất ngờ xảy ra dù là nhỏ nhoi tới đâu, thì rất có thể gây ra tình trạng vô cùng hỗn loạn!” Thử tưởng tượng: đang khi TQLC Mỹ ào ào túa vào, dân chúng chắn trước cổng Toà đại sứ, đường phố Sài Gòn bế tắc, phi trường Tân Sơn Nhất lộn xộn, chỉ một quả lựu đạn nổ, làm chết vài người lính Mỹ là tan vỡ rồi, chứ đừng nói tới không quân bắn vào máy bay vận tải Mỹ.

Huỷ bỏ “kế hoạch điên rồ “

Trước sự phản đối liên tục và mạnh mẽ của Đại sứ Martin, ông Ford sau cùng đã được thuyết phục. Ông lập luận theo ông Marlin và cảnh cáo các thượng nghị sĩ của Uỷ ban Ngoại giao trong một cuộc họp kín tại Bạch Cung [17]:

“Nếu quý vị tuyên bố là sẽ không di tản người Việt Nam, quý vị sẽ có khó khăn lớn để đưa 6,000 người Mỹ ra”.

Về cuộc họp này, Ron Nessen kể lại như sau [18]:

“Kissinger, với vẻ mặt mệt mỏi và phiền muộn, đã báo cáo rằng một quan chức Sài Gòn có nói với ông: “Nếu các Ngài rút người Mỹ ra và bỏ rơi chúng tôi trong hoạn nạn, các Ngài có thể sẽ phải đánh nhau với một sư đoàn quân đội Miền Nam để có lối ra”.

Trong hồi ký của ông xuất bản năm 1979, Tổng thống Ford cũng đã kết luận về cuộc di tản đúng như nhận xét của ông Martin hồi đó [19].

“Chúng tôi cảm thấy rằng một cuộc di tản vội vã sẽ có những hậu quả trầm trọng. Một tình trạng hoảng hốt lớn tại thủ đô miền Nam sẽ có thể phát sinh, và trong sự chua cay là bị “phản bội”, quân đội miền Nam có thể quay súng vào người Mỹ”.

Cảnh cáo các Nghị sĩ xong, cũng theo Nessen, ông Ford vẫn tiếp tục yêu cầu cấp $722 triệu quân viện mà tướng Weyand đã đề nghị. Ford và Kissinger nghĩ rằng đối với Chính phủ VNCH, yêu cầu Quốc hội khoản tiền này sẽ có tác động hối lộ”. Tổng thống Ford cảnh cáo quý vị nghị sĩ: “Tôi không thể đảm bảo được rằng nếu chúng ta nói “không cấp tiền nữa”, mà ông Thiệu … lại không có thể làm một chuyện gì đó là hoàn hoàn phi lý”

Nói rõ hơn, ông Ford còn thêm: nếu rút hầu hết người Mỹ cùng một lúc sẽ làm cho người Việt Nam nghĩ rằng Mỹ đang tháo chạy, sẽ có thể gây ra hoảng hốt, rồi những cuộc tấn công vào những người Mỹ còn lại”.

Sau cuộc họp, Ford còn dặn các nghị sĩ là chớ có để cho báo chí biết là tất cả phiên họp chỉ toàn bàn tới chuyện di tản.

Quý vị hãy nói: “Chúng tôi chỉ bàn chuyện làm thế nào để ổn định tình hình lại Miền Nam”.

Cầu cứu Nga Xô

Đó là tác động về phía Miền Nam. Còn đối với Bắc Việt thì sao? Trong cuốn sách vừa xuất bản năm 2003 về “Kết thúc chiến tranh Việt Nam” (“Ending the Vietnam war”)

Kissinger có tiết lộ rằng, tác động duy nhất mà Mỹ có thể làm được về chính trị vào lúc đó là tiếp xúc với Liên Xô. Ông cho rằng mặc dù có những đình trệ trong cuộc thương thuyết về nhiều vấn đề, Nga Xô vẫn tiếp tục thấy quyền lợi của mình trong mối bang giao giữa hai nước. Bởi vậy, Kissinger viết 20 : “Ngày 19 tháng 4, tôi gửi một “lời nhắn miệng” của Tổng thống Ford cho Tổng Bí Thư Brezhnev qua Đại sứ Dobrynin rằng chúng tôi cần có một cuộc đình chiến để “di tản công dân Mỹ và những người Miền Nam có liên hệ trực tiếp và đặc biệt với Mỹ”. “Chúng tôi đã liên lạc với Moscow vì, dựa trên quyền lợi hỗ tương và lâu dài giữa hai nước, tình hình phải được kết thúc mà không gây phương hại tôi quan hệ Mỹ-Nga, hoặc có ảnh hưởng tới thái độ của dân chúng Mỹ đôi với các vấn đề quốc tế khác”.

Ông còn tin rằng để làm cho giải pháp cầu cứu phía Nga Xô có hiệu quả, “Chúng tôi đã nhấn mạnh thiện chí chúng tôi muốn thảo luận về những tình huống đặc biệt cần thiết cho cuộc đình chiến – nói cách khác, tới một sự thay đổi về tình thế chính trị ở Sài Gòn”.

“Về thay đổi tình thế chính trị”, ý Kissinger muốn nói về nhượng hộ chính trị, đó là thay đổi Chính phủ Thiệu. Ông bình luận thêm trong cuốn sách: “Chúng tôi giả bộ nêu ra những hậu quá nguy hiểm nếu phi trường hay phi cơ dân sự bị tấn công – tuy nhiên, một người quá chuyên môn về những cuộc tranh luận tại Quốc hội Hoa Kỳ như ông Dobrynin thì cũng chẳng thấy một chút trọng lượng nào trong lời hăm doạ ấy” [21].

Hà Nội không can thiệp di tản

Sau này, khi được hỏi về vai trò của Nga Xô trong những cuộc thương thuyết từ trung tuần tháng 4, 1975, Đại sứ Martin có xác định lại là: “Phía Nga Xô có cho phía Hoa Kỳ hay rằng Hà Nội sẽ không làm trở ngại cuộc di tản của chúng ta”

Về thái độ của Liên Xô, Kissinger kể lại: “Ngày 24 tháng 4, ông Dobrynin gọi điện thoại cho tôi lúc 4 giờ chiều và đọc cho tôi nghe lời phúc đáp về đề nghị ngày 19 tháng 4 của Mỹ. Lời phúc đáp này có vẻ đã bật đèn xanh cho cuộc di tản người Mỹ, và cũng nói rằng Hà Nội muốn tìm một giải pháp chính trị theo hướng Hiệp định Paris. Hà Nội còn nhắn với Moscow là “họ không có ý định làm tổn thương tới uy tín của Mỹ…” Và như vậy, Brezhnev đã cố ngăn cản Mỹ can thiệp bằng quân sự: ông ta đã mạnh dạn hơn để kìm hãm cái bản chất phiêu lưu mà thực sự đã không có của Hoa Kỳ lúc đó, bằng cách bày tỏ hy vọng là Mỹ sẽ không có những hành động có thể làm cho tình hình tại Đông Dương thêm trầm trọng hơn” [22].

Trong khi chờ đợi Liên Xô tham khảo với Hà Nội để trả lời, ngày 24 tháng 8, lúc 8:25 phút, Mỹ đáp lại lời nhắn của mình: “Theo như phúc đáp xây dựng của phía Nga Xô, phía Hoa Kỳ đang tiến hành cuộc di tản với tin tưởng là điều kiện sẽ tiếp tục thuận lợi”.

Kissinger còn thêm:

“Tổng thống Ford trấn an Brezhnev là… bao lâu cuộc di tản không bị cản trở thì Hoa Kỳ sẽ không có hành động gì có thể làm cho tình hình trở nên trầm trọng hơn”. (tức không can thiệp trở lại).

Tại Sài Gòn, Đại sứ Martin lại không mấy lo về phía Hà nội.

Kissinger cũng xác nhận điều này: “Tin rằng, ngay trước mắt, sự hoảng hốt ở Sài Gòn còn đáng lo ngại hơn những kế hoạch tấn công của Hà nội, ông phấn đấu để cho cuộc di tản chậm nhiều hơn là chính Tổng thống Ford, Scowcroft, hay là tôi – con diều hâu trong Chính phủ- đã cho là thích ứng” (xem Chương 14).

Ông Martin trình bày lại cho Quốc hội: “Vì phải được bảo mật, tôi là người duy nhất ở Sài Gòn nhận được thông tin do Bắc Việt chuyển qua phía Liên xô cho hay rằng họ sẽ không can thiệp bằng quân sự vào cuộc di tản của chúng ta” 23 . Ông còn tin rằng sở dĩ Bắc Việt vẫn muốn điều đình một giải pháp chính trị, vì họ cũng không muốn bước vào Sài Gòn trên một đống gạch vụn”. Lý do khác, theo ông: “Hà nội còn muốn nhận được viện trợ quốc tế nữa” [24].

Nhưng nếu Hà Nội không can thiệp vào di tản thì tại sao lại có vụ pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhất ngày 29 tháng 4?” Ông Martin trả lời: “Theo sự suy nghĩ của tôi, lý do có pháo kích vào phi trường sáng ngày 29 tháng 4, là vì ngày hôm trước đó, chúng tôi bắt đầu cho một số Không quân Việt Nam đưa máy bay ra ngoại quốc; tôi nghĩ rằng vụ pháo kích nhằm mục đích chỉ là để ngăn chặn việc di chuyển này mà thôi (chứ không vì muốn chặn cuộc di tản) [25].

Giải pháp chính trị.

Mười ngày cuối cùng của cuộc chiến là những ngày cực kỳ khó khăn. nguy hiểm. Trong những ngày đó, phía Hoa Kỳ, đặc biệt là ông Marttin đã cố gắng sắp xếp một giải pháp chính trị cho Miền Nam. Kết quả là trong mười ngày, có tới ba Chính phủ. Nhưng rồi kết cuộc cũng là hoàn toàn thất bại.

Về hành động sắp xếp đằng sau hậu trường thì trong khi tại Washington, các ông Ford và Kissinger đi qua ngả Dobrynin để nhờ Nga Xô áp lực Hà Nội, thì ở Sài Gòn, hai ông Martin và Polgar liên lạc qua ngả đại diện Hungary trong phái đoàn Kiểm soát đình chiến và Đại sứ Pháp Merillon.

Về mục tiêu của giải pháp chính trị cũng có tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Trong khi Ford-Kissinger chỉ mong có một giải pháp tình thế, một tình huống trong tầm kiểm soát, để Mỹ có thể rút ra cho yên ổn, thì Martin lại muốn theo đuổi một mục tiêu lâu dài hơn: đó là có được một giai đoạn chuyển tiếp để:

– thứ nhất, giúp Mỹ ra đi tư từ, chứ không vội vã và mất mặt;

– thứ hai, di tản một số người Việt nhiều hơn là Washington đã dự tính; và

– thứ ba, như đã đề cập ở trên, để tránh xung đột Mỹ-Việt

Tại Washington: trong cả hai thông điệp cho Nga Xô, Tổng thống Mỹ đều nói tới một giải pháp chính trị. Về thông điệp ngày 19 tháng 4, Kissinger viết [26]:

Chúng tôi nhấn mạnh thiện chí của chúng tôi muốn thảo luận về tình huống cần thiết đặc biệt cho việc đình chiến – nói cách khác, một sự thay đổi về tình hình chinh trị ở Sài Gòn”.

Đây là sự mập mờ bắn tiếng về việc áp lực ông Thiệu phải từ chức. Một tuần trước khi sụp đổ, trong thông điệp ngày 24-4 gửi Brezhnev, Kissinger lại nhắc tới giải pháp chính trị:

Lời đáp của Hoa Kỳ cũng khích lệ quan điểm của Hà Nội “cách thức thi hành Hiệp định Paris để đi tới một giải pháp chính trị”.

Dù từ Washington hay Sài Gòn, đòi hỏi đầu tiên của giải pháp chính trị là việc ông Thiệu phải từ chức. Ở đây, tôi còn nhớ khi tạm biệt Đại sứ Martin để lên đường đi công tác Washington ngày 15 tháng 4, tự nhiên ông hỏi tôi:

“Nhân tiện tôi muốn hỏi ông bao giờ thì Tổng thống của ông từ chức?”

Hết sức ngạc nhiên: “Tôi không hiểu ông Đại sứ muốn nói gì cả!”, tôi đáp. Tôi để ý đây là lần đầu tiên thấy ông Martin dùng từ ngữ “Tổng thống của ông” thay vì “Ông Tổng thống” hay là “Tổng thống Thiệu”. Tôi thông báo cho ông Thiệu ngay về câu hỏi trở trêu này trước khi lên máy bay.

Hai ngày sau, 17 tháng 4, ông Martin đã đề nghị với Kissinger trong một công điện tối mật để đồng ý cho ông thuyết phục ông Thiệu từ chức [27]:

“Nếu Quốc hội bỏ phiếu chống (viện trợ cho VNCH) thì địa vị ông Thiệu là hết rồi… Bởi vậy trừ khi có chỉ thị không đồng ý, tôi sẽ cố gắng thuyết phục ông Thiệu và cho ông ta biết rõ rằng đây chỉ là ý kiến cá nhân của tôi với tư cách là người bạn chân thật. Sau khi suy nghĩ mọi đàng, tôi đã đi đến kết luận là chỗ đứng của ông ta trong lịch sử sẽ được bảo đảm hơn nếu xét tất cả những gì ông đã làm cho đất nước này. Nếu ông ta không chịu mà cứ tham quyền cố vị, thì cơ hội cuối cùng để cứu vãn miền Nam Việt Nam như một quốc gia còn chút tự do sẽ không còn nữa”.

“Tôi sẽ cho ông Thiệu rõ tôi đã đi đến một kết luận vô tư là nếu ông ta không chịu xuống thì các tướng lãnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm điều này”; “Có một cách rút lui êm đẹp và trang trọng nhất là tự ý ông từ chức, và nói cho đồng bào biết rằng ông phải làm như vậy để bảo vệ hiến pháp và để Chính phủ kế vị có thể dễ dàng điều đình cứu vãn nước Việt Nam tự do…”

Kissinger đồng ý. Ông thuật lại là vào ngày 20 tháng 4 (21 tháng 4, Sài Gòn), chỉ một ngày sau thông điệp của Ford gửi Brezhnev, và trong khi chờ đợi Nga Xô trả lời: “Đại sứ Martin đã bắn tiếng cho ông Thiệu, khuyến cáo vị Tổng thống VNCH nên từ chức. Ông Martin đã cố nói như đây chỉ là theo ý riêng cá nhân của ông, nhưng thực ra thì sự vận động này đã được Tổng thống Ford và tôi chấp thuận trước rồi” [28].

Theo Đại tá Cầm, Chánh Văn phòng Tổng thống, ông Martin đã đưa cho ông Thiệu xem những bản đồ về tình hình quân sự rất bi quan do CIA soạn để khuyến dụ ông Thiệu. Ông Thiệu hỏi Martin: “Nếu tôi từ chức thì liệu viện trợ Mỹ có đến không?”

Martin trả lời:” Tôi không dám hứa nhưng cũng có thể”.

Trước khi ông Đại sứ ra về, ông Thiệu hứa: “Tôi sẽ làm điều gì có lợi nhất cho nước tôi”.

Mọi việc dàn xếp vừa xong thì ông Đại sứ lại nhận được một mật điện rất lạ do Kissinger gửi. Bây giờ Kissinger lại muốn hoãn việc ông Thiệu từ chức lại, có lẽ là để dùng việc này thương thuyết với phía Nga Xô (Hà nội) và để lấy điểm là chính ông ta là người ép ông Thiệu từ chức. Nhưng ông Martin không chịu chơi cái trò bỉ ổi ấy nữa. Đọc xong công điện, ông bực tức và gấp ngay nó lại: “Công điện đó được xếp ngay vào hồ sơ và tôi lờ đi, không thi hành” [29].

Ông Thiệu kể lại cho tôi (năm 1984) là ngày hôm sau khi gặp ông Martin, ông đã mời các tướng lãnh đến Dinh Độc Lập Trong buổi họp, ông cho họ biết về những chuyện Đại sứ Martin đề cập tới. Ông Thiệu nói nếu các tướng lãnh cho ông là một chướng ngại vật cho hoà bình của đất nước thì ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu gì cả. Thế là đã rõ họ không muốn ông ngồi lại ghế Tổng thống nữa. Giữa lúc đó ông tuyên bố từ chức và để Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay.

Họp xong, ông lên đài truyền hình thông báo quyết định từ chức. Lòng đầy cay đắng với Đồng minh, ông đọc một bài diễn văn rất dài, tuy rời rạc, thiếu mạch lạc, nhưng căng thẳng và xúc động:

“Các ông để chiến sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đó là một hành động vô nhân đạo của một Đồng minh vô nhân đạo. Đó cũng là một lý do tại sao, khi phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ đến Việt Nam, tôi đã nói với họ rằng đây không còn phải là vấn đề 300 triệu nữa mà là vấn đề Hoa Kỳ có còn giữ lời hứa giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong công cuộc bảo vệ nền độc lập và tự do của họ hay không?”

“Hoa Kỳ hãnh diện là một quốc gia bảo vệ đến cùng chính nghĩa và lý tưởng tự do trên thế giới, và sẽ ăn mừng lễ độc lập năm thứ 200 vào năm tới. Tôi hỏi họ rằng: “Lời nói của Hoa Kỳ có còn giá trị gì nữa không? Những cam kết của Hoa Kỳ có còn hiệu lực không?”

Ba trăm triệu không phải là món tiền lớn đối với các ông…Từ chối món tiền này, các ông còn muốn chúng tôi thắng Cộng sản hay ngăn chặn làn sóng xâm lăng của Cộng sản – là công việc rnà các ông đã không làm nổi trong suốt sáu năm trường với quân đội và chi phí khổng lồ của Hoa Kỳ. Thật là phi lý…“

Bắc Việt đổi ý đêm 27 tháng 4

Tại Sài Gòn, theo Đại sứ Martin, tuy là hồi tháng ba, ông đã có tin tình háo là Hà Nội đã quyết định đi tới một chiến thắng hoàn toàn quân sự, nhưng cả ông và Polgar không đặt nặng sự chính xác của bản tin này. Theo ông, lý do là vì cũng cùng một lúc đó, lại có thông tin từ phía đại diện của Mặt trận giải phóng bên Âu châu, một từ Stockholm (Thuỵ Điển), và một từ Paris, cả hai đều cho biết rằng họ cũng muốn có một giải pháp chính trị [30]. Ngoài ra, Martin còn suy luận, như đã trình bày ở trên, là chính Hà Nội cũng muốn một giải pháp chính trị để kết thúc một cách êm đẹp vì họ còn muốn nhận được viện trợ của quốc tế sau này.

Thế nhưng, theo ông, “Không hiểu vì một lý do nào đó, đêm ngày 27 tháng 4, Bắc Việt đã bất chợt thay đổi tín hiệu, quyết định chọn giải pháp hoàn toàn quân sự, và như vậy, giải pháp chính trị đã không còn nữa” [31] . Về điểm này, chính Kissinger cũng đã xác nhận trong cuộc họp báo ngày 5 tháng 5- 1975 rằng cho tới ngày 27 tháng 4, Hoa Kỳ vẫn có nhiều hy vọng Hà Nội không định đi tới một chiến thắng hoàn toàn quân sự, và còn muốn điều đình với ông Dương Văn Minh [32]

Một Chính phủ Thiệu không có Thiệu

Sau khi được trao quyền Tổng thống, ông Hương e ngại rằng vì ông đã là Phó Tổng thống, nên người ta cho rằng bây giờ ông chỉ điều hành một Chính phủ theo ý ông Thiệu. Ông liền yêu cầu Đại sứ Martin nên cố vấn ông Thiệu ra ngoại quốc và dàn xếp giùm chuyến đi này 33 . Sau đó ông Hương tới chỗ ông Thiệu khuyên ông sớm rời khỏi Việt Nam, vì nếu không, Cộng sản sẽ nói “tôi đang điều khiển một Chính phủ Thiệu không có Thiệu” [34].

Lúc đó có một cơ hội thuận tiện. Để cho việc ra đi được hợp Pháp, ông Hương ký nghị định đề cử ông Thiệu làm đặc sứ VNCH đi Đài Bắc phúng điếu Tổng thống Tưởng Giới Thạch vừa qua đời ngày 5 tháng 4. Theo Frank Snepp cả ông Minh cũng đã yêu cầu tướng Timmes tìm cách đưa ông Thiệu khỏi Việt Nam [35].

Chiếc máy bay DC-6 dưới quyền sử dụng của Đại sứ Hoa Kỳ từ Thái Lan bay qua Sài Gòn trong đêm 25 tháng 4. Ông Polgar, trùm CIA ở Sài Gòn và tướng Timmes gặp ông Thiệu và đoàn tuỳ tùng ở nhà Thủ tướng Khiêm trong Bộ Tổng tham mưu. Polgar chuẩn bị ba chiếc công xa màu đen chở mọi người ra phi trường. Đoàn xe lướt qua đài tưởng niệm Chiến sĩ trận vong của Đồng minh gần phi trường,với ba hàng chữ nỗi bật trên bảng: “Những hy sinh cao quý của các chiến sĩ Đồng minh sẽ không bao giờ bị quên lãng”. Ông Thiệu ngồi giữa ông Polgar và tướng Timmes. Nhìn thấy bảng, ông thở dài và quay mặt đi [36].

Đoàn xe chạy vút về phía sân bay của hãng Air America. Đại sứ Martin đã đợi sẵn ở đó để tiễn đưa. Dù buồn thảm và cam chịu số phận, ông Thiệu vẫn đi thủng thẳng, cố giữ phong độ ông quay lại cám ơn ông Martin đã dàn xếp chuyến đi.

Với một giọng xúc động, ông Martin đáp lễ:

“Thưa Tổng thống, đó là điều tối thiểu tôi có thể làm. Xin tạm biệt và chúc Ngài may mắn” [37].

Danh chính ngôn thuận

Ở phi trường về, Đại sứ Martin, cùng với Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon, lại tiếp lục công việc sắp xếp giải pháp chính trị. Ông gửi cho ông Kissinger một điện văn cho biết vẫn còn có thể điều đình giữa Chính phủ Sài Gòn và Việt Cộng. Ngày 26 tháng 4, Kissinger gửi mật điện gạt đi liền:

“Ông Đại sứ đã hiểu lầm ý kiến của tôi về các cuộc điều đình với Việt Cộng. Tôi đã không nói đến dàn xếp giữa Chính phủ Sài Gòn và Việt Cộng mà đến thương lượng giữa Hoa Kỳ và Việt cộng. Tôi muốn bất cứ cuộc thảo luận nào giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng cũng phải được diễn ra tại Paris”.

Vào giờ chót. Kissinger vẫn không muốn hai miền Bắc và Nam trực tiếp điều đình với nhau mà không có sự kiểm soát của ông [38].

Tổng thống Hương mời tướng Dương Văn Minh lên làm Thủ tướng trong Chính phủ mới. Tướng Minh không chịu, nhất định đòi giữ chức Tổng thống. Ông Thiệu kể lại cho tôi rằng: “Tôi đã đề nghị với cụ Hương nên mời tướng Trần Văn Đôn để “neutraliser” (vô hiệu hoá) ông Minh nhưng cụ Hương chịu quá nhiều áp lực!”

Ông Minh chính thức lên giữ chức Tổng thống chiều ngày 28 tháng 4 (sáng ngày 27 tháng 4, Washington). Việc đầu tiên ông làm là viết một công hàm cho Đại sứ Martin. Văn bản được chuyển giao sáng ngày 29 tháng 4. Ông Kissinger bình luận về ông Minh [39]:

“Ông Minh giữ chức Tổng thống được không tới 72 giờ, chỉ đủ để làm được hai việc quan trọng: một là yêu cầu Hà nội ngưng chiến và thương thuyết chính trị – điều mà Hà nội đã từ chối thẳng thừng – và hai là, ngày 29 tháng 4 (28 tháng 4, giờ Washington, ông yêu cầu tất cả người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ”.

Mười năm sau ngày sụp đổ, Đại sứ Martin cho tôi xem bản công hàm của Tổng thống Minh. Tài liệu này có tính cách lịch sử vì nó là văn kiện cuối cùng của Chính phủ VNCH gửi Chính phủ Hoa Kỳ:

“Thưa ông Đại sứ,

“Tôi trân trọng yêu cầu ông Đại sứ vui lòng ra chỉ thị cho các nhân viên của Cơ quan Tuỳ viên quốc phòng DAO ròi khỏi Việt-nam trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29-4-1975 để vấn đề Hoà bình Việt Nam sớm được giải quyết”.

Trân trọng kính chào ông Đại sứ.

Sài Gòn, Ngày 28 tháng 4 năm 1975

Đại tướng Dương Văn Minh

Bình luận về thư này, Kissinger nói thẳng ra: “Vì lịch trình này trùng hợp với lịch trình rút lui của chúng tôi, nó đã thực sự giúp cho chúng tôi tháo ra mà không bị chỉ trích là Mỹ đã bỏ rơi Đồng minh của mình” [40].

Nhận được thư, Đại sứ Martin vội vã gọi cô Eva Kim vào đánh thư trả lại Tổng thống Minh [41]. Nhân dịp này, ông cũng yêu cầu phía quân đội VNCH giúp cho cuộc di tản ngươi Mỹ được thực hiện an toàn. Và như vậy, nguy cơ “ra đi lại bắn nhau” đã không còn nữa:

“Kính thưa Tổng thống,

“Tôi vừa nhận được thư của Ngài đề ngày 28 tháng 4 về yêu cầu tôi ra chỉ thị ngay cho các nhân viên của Cơ quan Tuỳ viên quốc phòng DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ.

“Tôi xin thông báo để Ngài hay là tôi đã ra chỉ thị như Ngài yêu cầu. Tôi tin rằng Ngài sẽ ra lệnh cho quân dội của Chính phủ Ngài cộng tác bằng mọi cách để làm dễ dàng cho việc di chuyển các nhân viên DAO.

Tôi cũng hy vọng Ngài sẽ can thiệp với phía bên kia (phía Bắc Việt) để Tuỳ viên quốc phòng và nhân viên của chúng tôi được ra đi an toàn và trật tự”.

Trân trọng

Graham Martin

Đại sứ Hoa Kỳ

Câu cuối cùng chắc là để gợi ý khéo với ông Minh là từ lúc này ông đã có thể nói với phía Hà nội là chính ông đã yêu cầu Mỹ rời khỏi Việt Nam cho dễ bề thương thuyết.

Nhưng yêu cầu như vậy là đã cho Mỹ cái “danh chính ngôn thuận” để ra đi. Như Kissinger bình luận, thư ông Minh: “Đã thực sự giúp cho chúng tôi tháo ra mà không bị chỉ trích là Mỹ đã bỏ rơi Đồng minh của mình”.

Nếu bây giờ, ông Minh giúp cho Mỹ ra, thì mười hai năm về trước, ông cũng đã giúp cho Mỹ vào, khi ông lật đổ Tổng thống Diệm.

Lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, Tổng thống Minh ra lệnh cho Quân đội VNCH buông súng đầu hàng.

Miền Nam Việt Nam có hai nền Cộng hoà, vô tình hay hữu ý, ông Minh đã trở nên người chấm dứt cả hai.

Bức thư của ông đã cho Mỹ cái “danh chính ngôn thuận” một cách giả tạo: Mỹ bị yêu cầu ra đi chứ đâu có tháo chạy, đâu có phản bội! Giả tạo vì Mỹ đã và đang tháo chạy gần hết rồi. Vào giờ phút chót chỉ còn có một số vài chục người, gồm ông đại sứ và mấy nhân viên của cơ quan DAO: họ cũng sắp được bốc đi vì đã có lệnh phải rút ra ngay.

Đúng 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4, tức là gần 24 giờ kể từ khi một sĩ quan trẻ tuổi phóng xe từ Dinh Độc Lập đến Toà đại sứ Mỹ trao thông điệp của Tổng thống Minh cho Đại sứ Martin, một chiếc trực thăng Chinook-46 đáp trên nóc toà đại sứ Mỹ để bốc đi số 11 vệ binh còn lại canh gác. Họ được hộ tống bằng sáu chiếc Cobra có võ trang để bay ra khỏi không phận Việt Nam.

——————————–

1          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 589.

2          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 576.

3          Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 569.

4          Tuần báo TIME, số ngày 21-4-1975, trang 16.

5          Tuần báo TIME, số ngày 21-4-1975, trang 16.

6          Tuần báo TIME, số ngày 21-4-1975, trang 16.

7          NEWSWEEK, 21 tháng 4, 1975, trang 19.

8          N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 328-330.

9          David Butler, The Fall of Saigon, trang 372; NEWSWEEK, 21 tháng 4, 1975, trang 18.

10        NEWSWEEK, 21 tháng 4, 1945, trang 18.

11        Graham Martin, Testimony, trang 543.

12        David Butler, The Fall of Saigon, trang 264.

13        David Butler, The Fall of Saigon, trang 437.

14        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 548.

15        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 586.

16        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 544.

17        Ron Nessen, It Sure Looks Dịffèrent from the Inside, trang 105.

18        Ron Nessen, It sure looks different from the inside, trang 105-106.

19        Gerald Ford, A time to heal, trang 253.

20        Henry Kissinger, Ending the Viertnam War, trang 542.

21        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 608.

22        Henry Kissinger, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 545-546.

23        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 585.

24        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 584.

25        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 586.

26        Henry Kissinger, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 542.

27        Xem N.T. Hưng and J. Schecter, Palace File, trang 329; Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 545-546.

28        Henry Kissinger, A World Restored, trang 543.

29        Phỏng vấn ông Graham Martin, 27-3-1985

30        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 584.

31        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 609.

32        Graham Martin nói về cuộc họp báo ngày 5/5/1975 của Kissinger, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 608.

33        Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 547.

34        Phỏng vấn Thomas Polgar, 6 tháng 3, 1986.

35        Frank Snepp, Decent Interval, trang 434.

36        Frank Snepp, Decent Interval, trang 436.

37        Phỏng vấn ông Graham Martin, 26 tháng 3, 1985.

38        Kissinger viết lại là Bộ Ngoại giao Pháp đã giúp liên lạc giữa Mỹ và MTGPMN. Kissinger, A World Restored, trang 549.

39        Kissinger viết lại là Bộ Ngoại giao Pháp đã giúp liên lạc giữa Mỹ và MTGPMN. Kissinger, A World Restored, trang 548-549.

40        Kissinger viết lại là Bộ Ngoại giao Pháp đã giúp liên lạc giữa Mỹ và MTGPMN. Kissinger, A World Restored.

41        David Butler, The fall of Saigon, trang 385-386.