vietmessenger.com
Henri Charrière
Dịch giả: Đinh Bá Kha
Đời Mới xuất bản 1974
Post by Sơn râu 10 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu
19. Một Papillon Ra Đời
TRONG trận địa chấn, chúng tôi cũng có mất nhiều, nhiều hơn chúng tôi tưởng, nhất là công việc làm ăn bị trì trệ. Đến cuối tháng tám, số tiền chúng tôi để dành viết ra ít con số lắm, tôi nghĩ đến tương lai mà không khỏi lo ngại ít nhiều vì tôi đã gần 61 tuổi.
Tôi tìm, tôi tìm có thể làm nghề gì khác, nhưng nghề gì bây giờ?
Tôi lục lại hồ sơ cũ về một dự án kỹ nghệ tôm càng trên bờ biển xứ Guyane, tôi nghiên cứu tài liệu về việc nuôi cá hương, về bột cá, về việc câu cá xà, cá mập. Biết bao nhiêu vấn đề tôi đã nghiên cứu tìm tòi, không phải để nuôi sống, mà để bảo đảm tuổi già?
Tôi phải tìm ra một cái gì, nhưng cái gì mới được chứ?
Tôi quên hẳn một việc đã xảy ra trước cuộc địa chấn.
Ngày 11 tháng 7 năm 1967, Albertine Sarrazin vừa chết sau một cuộc giải phẫu. Vì, từ nhiều năm không đọc báo Pháp, tôi được người ta cho biết thiếu phụ trẻ ấy là một nhà văn có tác phẩm bán rất chạy, nàng đã thuật lại cuộc vượt ngục và cuộc đời tù nhân của nàng trong hai quyển sách, mà một cuốn “L’Astragale” đã làm cho nàng trở nên giàu. Nàng không hưởng được tiền ấy. Tôi đọc một bài nói về vấn đề này trong tờ El National, một nhật báo lớn và đúng đắn ở Venezuela.
Hay là tôi viết lại cuộc đời phiêu lưu của tôi?
– Rita!
– Gì anh?
– Anh sẽ viết lại đời anh.
– Anh nói chuyện ấy với em từ mười lăm năm nay, anh mãi nói đi nói lại rằng ngày nào anh cho xuất bản tập hồi ký của anh, thật là một quả bom. Trái bom lâu nổ quá! Anh cưng, em hết tin chuyện đó.
Bé Rita có lý, vì hầu như mỗi lần ngồi lại với các bạn, thế nào cũng có người bảo tôi: “Henri, anh phải viết lại những chuyện ấy đi”. Và mỗi lần như vậy, tôi trả lời: “Tôi sẽ viết thành sách, nổ như quả bom”.
– Em sẽ biết, lần này anh làm thật mà!
– Đừng có hứa gì hết, anh sẽ không làm.
Quả thật, tôi không làm gì hết.
Tại sao? Trước hết vì nghĩ tôi không đủ khả năng, không biết sao, tôi tin chắc tôi không viết được. Nói được lắm. Kể chuyện? Quá được, chắc chắn như vậy. Nhưng kể chuyện hay là một chuyện, còn viết được là chuyện khác. Tóm lại, tôi cho qua, và không nghĩ đến nữa.
Hai tháng sau cuộc địa chấn, cuối tháng chín, tôi rút trong chồng báo cũ một tờ báo El National trao cho Maria. Chị ấy cần che sàn nhà khỏi bị dính sơn, vì mấy người thợ đang sơn mấy bức tường sau khi đã bít các nơi bị nứt nẻ vì trận địa chấn. Và một lần nữa, trên tờ giấy nhàu nát, hiện ra bản tin về cái chết của Albertine Sarazin.
Đã hơn hai tháng rồi! Tội nghiệp con nhỏ, tôi may mắn hơn nó, dù rằng tôi không giàu.
Mày cũng không thử viết hồi ký của mày, mày xẹp xuống ngay. Như thế không tốt. Nhưng tôi có rất nhiều lý do bậy bạ để được tha thứ. Ở đây hầu như không ai biết quá khứ của tôi, con gái tôi làm việc tại Tòa Đại sứ Anh từ bảy năm nay, vợ chồng tôi được trọng nể như những nhà kinh doanh lương thiện, không có chuyện gì trong quá khứ. Ngoài trừ một vài cấp chỉ huy ngành cảnh sát, không ai biết gì hết, thế mà bây giờ, không lẽ đem phơi bày tất cả ra? Còn ở Pháp, các chị tôi, các cháu tôi, Dì Ju sẽ nghĩ sao? Vả lại, nổi tiếng là một vấn đề rất khó khăn, hầu như không thể có trong văn chương. Không, Papi, chuyện này không đứng đắn. Để tìm lối thoát cho hoàn cảnh hiện tại, tuy mày sống đàng hoàng, nhưng không dư tiền để bảo đảm chắc chắn tuổi già, phải tìm một cái gì khác. Cái gì bây giờ? Tôi không cần biết là cái gì, chỉ cần một lối thoát, thế thôi. Ý nghĩ trên ám ảnh tôi mãi, không còn là chuyện đùa nữa.
Vài ngày sau, tôi đi ngang qua đường phố Acueducto. Tôi lại quên Albertine, tôi quên rằng, trong khoảng một giờ, tôi cũng đã có lúc định viết một cuốn sách. Tập hồi ký ấy, như lời Rita, sẽ chịu số phận một quả bom không nổ, vì không bao giờ được làm ra.
Trên đường phố Acueducto tai hại, có một nhà sách Pháp, và trong tủ kính trước mặt tôi, có một cuốn sách, trên cuốn sách có băng đỏ: 123.000 bản, và cái băng ác ôn ấy không che lấp tên cuốn sách: L’Astragale.
Trời, 123.000 cuốn đã bán! Một cuốn giá bao nhiêu nhỉ? Ba chục đồng, khoảng 33 quan. Và tôi bỏ tiền ra để làm chủ cuốn sách quí hóa ấy.
Thế là chỉ với cuốn sách ấy. Albertine đã kiếm được một bó bạc kỳ lạ. Sau khi có đồng bạc như vậy, muốn ăn sướng miệng, nàng với thằng Julien của nàng không cần phải đi phá cửa của thiên hạ nữa.
Rồi tôi đọc “L’Astragale”, và tôi thán phục L’Astragale. Nhưng thán phục cái gì trong L’Astragale? Câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm hay lời văn bóng bẩy? Phiêu lưu mạo hiểm thì chẳng có gì hoặc hầu như không có gì. Nàng đã bị gãy giò lúc vượt ngục, gặp thằng Julien tìm chỗ ẩn núp cho nàng, nàng yêu nó, rồi nàng bị lừa khi mọi việc giữa hai người đã dàn xếp êm xuôi. Thế thì không phải chuyện ấy. Nhưng viết rất hay. Không phải là một hoạt họa tầm thường, chính là một danh tác.
Những ai đọc các danh tác?
Những ai ngâm nga từng chữ, từng câu gọt dũa cẩn thận?
Những ai đi xem đại nhạc kịch? Ít người lắm.
Cuốn sách ấy là một nhạc kịch, đúng vậy. Thế thì 123.000 người thích nhạc kịch đã trả 20 phần trăm giá vé cho con bé bị xương ống chân (L′Astragale) gãy, kể cũng khá quá. Chỉ với số tiền đầu tay ấy, nàng cũng đã có thể mở trương mục ở Ngân hàng và mua một ngôi nhà để che mưa che nắng… Tôi cho nàng hai mươi phần trăm, như thể tôi là nhà phát hành. Tôi chưa biết gì về công việc xuất bản.
Tôi để sách xuống ngạc nhiên được biết có những đứa con gái ở tù mà có thể thi tú tài, học thi cử nhân văn khoa và viết văn rất cầu kỳ mà không mở tự điển.
Bồ ơi, mày nên nhớ rằng những chuyện phiêu lưu mạo hiểm của mày nhiều gấp trăm lần chuyện của Albertine, mày có cả vạn chuyện hay hơn để kể, và nếu mày viết ra được, mày sẽ không chỉ bán 123.000 cuốn, mà mười lần hơn. Chắc chắn như vậy, tuy nhiên, vấn đề là phải viết cho được, đó không phải là trường hợp của mày.
Nếu thay vì tìm những câu bóng bẩy, ru ngủ độc giả bằng nhạc điệu câu văn, tôi xô dậy độc giả thì sao? Thay vì viết cho người đọc xem, tôi nói chuyện với người đọc thì sao?
Nói chuyện với người đọc hả? Tại sao không? Tôi đã kinh nghiệm về tác dụng của lối viết ấy đối với quảng đại quần chúng.
– Rita! Em có còn giữ bức thư của đài phát thanh, truyền hình Âu Châu số 1 không? Ồ, lâu lắm rồi, năm 1957 hoặc 1958 gì đó, đã hơn mười năm.
– Có, anh ạ, em còn giữ.
– Em đưa cho anh đi.
Một lúc sau, nàng đưa cho tôi bức thư.
– Anh định làm gì với bức thư ấy?
– Thấm nhuần nó để có đủ can đảm viết cuốn sách độc đáo của anh.
– Quả bom đó hả? Đã đến lúc nó nổ chứ?
Bức thư như thế này.
ÂU CHÂU SỐ 1
TRUYỀN THANH VÀ TRUYỀN HÌNH
22 tháng giêng năm 1958
Ông Henri Papillon
Caracas
(Venezuela)
Kính Ông,
Từ nhiều tuần nay, tôi nhất quyết gởi đến Ông mấy giòng này để gọi là mừng Ông và nồng nhiệt cảm ơn Ông.
Tuy cuối năm rất bận rộn, tôi không muốn diên trì nữa, vì ông bạn chí thân Carlos Alamon, mà tôi sung sướng vừa được gặp ở Ba Lê, ngày mai sẽ bay đi Caracas, mang theo thư này của tôi.
Ông đã chấp nhận cuộc phỏng vấn của Pierre Robert Tranié, một trong bảy đặc phái viên truyền thanh chúng tôi đưa đi khắp thế giới, và bản lĩnh của Ông đã khiến cho cuộc đối thoại thêm nhiều bản sắc và nhiệt tình, nên đã được truyền thanh trên hệ thống Âu Châu số 1, khán giả say mê đã thừa nhận đó là cuộc phỏng vấn hay nhất trong đêm ấy và đã đem lại cho Traniè giải nhất. Tôi tin chắc Ông là người trước tiên được “hoan hô”. Hẳn là sứ điệp của Ông sẽ được thông hiểu và tôi xin cùng Ông hy vọng rằng những lời kêu gọi của Ông sẽ phụng sự quyền lợi của các bạn Ông đã chứng tỏ khả năng thích ứng hóa với cuộc sống bình thường như Ông.
Vậy thì xin hoan hô và cảm ơn Ông đã giúp chúng tôi làm cho thính giả thích thú và cảm động.
Xin Ông nhận nơi đây tấm thịnh tình của tôi.
LOUIS MERLIN
Giám Đốc Đài Âu Châu số 1
Thế là khi tôi kể chuyện, không những tôi làm cho say mê vợ tôi, cháu trai cháu gái tôi, bạn bè tôi, một nhóm người lạ mặt trong một cuộc họp, tôi còn làm say mê các thính giả vô hình của Đài Âu Châu số 1.
Bảy đặc phái viên trên toàn cầu trong hai tháng, một tuần một cuộc phỏng vấn, vị chi năm mươi sáu cuộc phỏng vấn, thế mà mày, Papillon, đã về nhất. Vâng, thật là may.
Vậy thì hãy dấn thân vào cuộc phiêu lưu mới này.
Ngày hôm nay tôi đến Sears, nhà hàng lớn nhất Caracas, mua một máy ghi âm đẹp nhất, thứ nhà nghề, dĩ nhiên là mua chịu: 500 Mỹ kim.
Rồi tôi nói, tôi nói thao thao bất tuyệt, chiếc máy quay đều đều. Từ đó tôi không rời máy vi âm.
Tôi nói ban đêm.
Tôi nói ban ngày.
Tôi nói buổi chiều.
Tôi nói quá đến nỗi bị tắt tiếng, giọng nói hoàn toàn bị bể không thể nào lọt vào máy vi âm.
Vì bắt buộc phải ngưng nói, tôi lập tức bắt đầu viết lại cuốn băng trên giấy. Tôi hăng hết sức, tin chắc đang làm một việc ghê gớm. Một vài đoạn Rita nghe đã khóc sướt mướt như nữ thánh Madeleine. Thế thì không còn vấn đề gì nữa đối với anh chàng kể cho vợ nghe những chuyện nàng đã thuộc lòng mà vẫn còn cảm động; chắc chắn phải thành công.
Vậy mà không! Những chuyện đã được ghi âm, một khi viết ra trên giấy, tồi hết sức!
Tôi tức quá, không thể hiểu nổi.
Tôi đọc lại 52 trang giấy, tôi đưa cho Rita đọc, và khi chúng tôi cùng đọc lại một lần nữa, chúng tôi quyết định khỏi phải lật qua lật lại làm gì thêm nhọc, 52 trang ấy quả là dở ẹt.
Câu chuyện không kéo dài. Chiều hôm ấy, tôi giúp Clotilde đem để vào thùng xe của nó chiếc máy bất hủ giá 500 Mỹ kim mà tôi không muốn thấy, muốn nghe nói đến nữa. Đối với nó, là một món quà quí giá, đối với tôi, thật là rảnh nợ.
Cũng may mà dây thanh âm trong cổ tôi hỏng, nếu không tôi còn nói vào máy nhiều tuần lễ chẳng để làm gì.
– Em cưng, đừng nói đến chuyện ấy nữa. Giã từ bò con, bò mẹ, heo, gà đẻ trứng vàng, nhà xuất bản Jean Jacques Pauvert cứ ngủ yên, sẽ không có ai cạnh tranh để hạ mức bán cuốn L’Astragale.
Tháng mười một. Tôi cố moi óc tìm một cái gì độc đáo để tiến đến cảnh già, nhưng không thấy gì rõ rệt hết.
Vì tôi có bạn hữu đủ loại, nên đôi khi tôi nhận nhiều đề nghị kinh doanh hết sức kỳ lạ. Một người bạn có một mảnh đất ở Guyane thuộc Venezuela, và biết rằng trong vùng có một ít vàng, bảo tôi có thể “tìm ra” một mỏ vàng, và sau khi khai báo, đăng bạ, phân ranh kỹ lưỡng, có thể tìm một thằng khù khờ để bán. Công việc hết sức giản dị. Chỉ cần cho bột vàng cùng một ít miếng sinh kim trong một vỏ đạn, bắn vào trong đất thế là nhà địa chất học của thằng khù khờ chóa mắt, lấy một ít đất đai những chỗ mình đề nghị, và sẽ làm một bản phúc trình có vàng. Tôi chứng minh cho anh thấy nếu thử tính giá mỗi phát đạn đựng vàng, chỉ bắn một trăm phát là đã sạt nghiệp rồi. Vì phải nghĩ đến chuyện không có người mua…
Tôi đã viết những tập vở đầu tiên tại văn phòng quán rượu Scotch của chúng tôi.
Thời gian gần đây, thường xảy ra những chuyện mới lạ tại các quán rượu về đêm ở Caracas. Nhiều toán thanh niên đến như những khách hàng, không biết uống rượu và tìm cách gây sự. Trước ngày có cuộc địa chấn, chúng không hề đến quán chúng tôi. Sau một vài lần chúng đến sinh sự lộn xộn, tôi hiểu. Để dẹp yên vụ này, phải có mặt tôi, nhưng không ở trong phòng. Một văn phòng nhỏ bên cạnh giúp tôi vắng mặt lúc mọi việc êm xuôi và hiện diện khi cần. Tôi đọc báo và xem xét giấy tờ công việc để cho qua thì giờ.
Trên bàn có một quyển vở mới cùng nhiều quyển khác, một loại vở học trò có kẻ hàng. Các quyển vở ấy được dùng để ghi chép chi phí hằng ngày, số chai rượu đã nhận vân vân.
Vì tin chắc rằng lần này tôi có thể tập trung tư tưởng nên tôi đã viết quyển vở Papillon đầu tiên.
Chỉ sau khi đã xong, một hôm chúa nhật tôi mới đọc cho vợ tôi, con gái tôi và anh rể tôi đến ăn trưa nghe.
Họ thích quá nên quên cả việc xem chương trình “5 và 6”, một thứ bài bộ ba mà người chơi có cơ may ăn trên bạc triệu. Đó là hy vọng của ba trăm ngàn người chơi bài mỗi chúa nhật.
Nhờ kết quả bất ngờ ấy khuyến khích, tôi bắt đầu viết quyển vở thứ hai. Kết quả tốt đẹp một trăm phần trăm, chúng tôi đều tin chắc như vậy. Nhưng tôi lại hoài nghi. Phải chăng họ dễ dãi vì là vợ tôi, con gái tôi, anh rể tôi? Thật là ngốc nếu cứ tiếp tục mà không hỏi ý kiến những người khác, không có thiện cảm trước?
Một chai Whisky, một chai rượu hồi, một hủ rượu chát Ý Đại Lợi, tất cả đã sẵn sàng để tiếp một số người sẽ thẳng thắn phát biểu ý kiến của họ. Một vị giáo sư cũng được mời tới cho tôi biết, cuộc họp những nhân vật khác nhau như vậy, bên Pháp gọi là “một ủy ban đọc sách”.
Tôi sốt ruột. Sáu giờ họ sẽ đến, bây giờ là bốn giờ. Có thể là họ không thèm đến lắm.
Mong sao họ đừng giả nhân giả nghĩa! Tôi đã chọn lựa rất kỹ mà. Trước hết là hai thằng ma cô hoàn lương đã trở thành thương gia lương thiện. Hai người này quan trọng vì biết rõ giới giang hồ. Một kỹ sư, kinh tế gia tên tuổi, nguyên là cộng sự viên trực tiếp của Laval. Một thợ hớt tóc, đọc sách rất nhiều, biết tác phẩm của Albertine Sarrazin và của các nhà văn khác. Một giáo sư Pháp văn. Một giáo sư văn chương ở Viện Đại Học Caracas. Một võ sư ở Limoges, đai đen. Một kỹ nghệ gia hóa học người Lyon. Một anh làm bánh ngọt người Ba Lê. Tất cả đều là người Pháp.
Tất cả đều đến, gần đúng giờ. Chỉ còn thiếu ông giáo sư Pháp văn, đến vào lúc tôi đã đọc được 20 trang.
Tôi đọc mà cổ họng khô lại vì lo sợ, không ai nói gì hết, các khuôn mặt bất động. Thật là một cuộc thử lửa. Khi người đi trễ đến, mọi người lào xào. Có tiếng xin lỗi, tiếng mấy cục nước đá rơi trong ly, rồi ông ta ngồi xuống.
– Thưa quí vị, tôi xin đọc tiếp.
– Không, ông giáo sư văn chương nói. Tôi muốn Henri đọc lại những trang đã đọc. Thật là hay tuyệt và tôi muốn ông được nghe, như vậy chúng tôi sẽ được thưởng thức hai lần. Tất cả đồng ý chứ?
Tất cả mọi người đồng ý. Và lúc ấy mặt trời đi vào lòng tôi. Tôi đọc trong nhiều giờ. Và trong nhiều giờ họ không ăn gì hết, chỉ uống chút ít thôi. Điều này chứng tỏ họ thích lắm.
Khuya lắm chúng tôi mới ra khỏi nhà. Tôi mời họ ăn tại một tiệm ăn trước quán rượu Scotch và trước khi ăn với họ, tôi chạy đến quán Scotch để lôi Rita ra khỏi két, kéo nàng vào văn phòng, ôm nàng hôn và nói:
– Em cưng, thắng rồi, nhất định thắng, anh cảm thấy như vậy, nhất định thắng. Quả bom sẽ nổ long trời lở đất.
Rồi tôi để nàng đó, nước mắt ràn rụa, chạy lại tìm “ủy ban đọc sách” trước khi người ta đem thức ăn ra. Và trong lúc ăn một món thịt nướng rất ngon, tôi hỏi người này, người kia.
Hai thằng ma cô: “Bồ ơi, thành thật mà nói, không thể tưởng tượng được”.
Anh cộng sự viên của Laval: “Thật sống động, mau lẹ, dễ đọc”.
Ông giáo sư Pháp văn và ông giáo sư văn chương: “Anh quả là người có tài”.
Anh võ sĩ, anh bán bánh và anh kỹ sư hóa học đều đồng ý tôi nên tiếp tục vì họ chắc chắn tôi sẽ thành công.
Anh thợ hớt tóc: “Nếu cả cuốn sách giống như hai quyển vở này, thì tuyệt quá”.
Trong hai tháng rưỡi, tôi viết xong tất cả các quyển vở.
Do việc các hội viên trong “ủy ban đọc sách” giành nhau để được đem về nhà, đọc các quyển vở trước người khác trong hai mươi bốn giờ, tôi biết rằng những gì tôi viết vẫn hay.
Tôi hoàn tất vào tháng giêng năm 1968.
Mấy quyển vở còn đó, tôi đọc lại rất nhiều đến gần thuộc lòng.
Vâng, mấy quyển vở còn ở trên bàn, tại nhà. Rồi sao nữa? Chúng nó nằm đó, chỉ có vậy. Làm gì bây giờ? Không thể gởi các quyển vở viết tay. Và gởi cho ai? Nếu tôi không giữ bản thứ hai, bất cứ thằng chó nào cũng có thể nói không biết ai là tác giả rồi giữ lại tất cả số tiền cho nó, nếu có tiền.
Hay thật! Tôi viết xong sách rồi, bây giờ không biết nên làm gì! Tôi kiểm điểm lại: Trước hết phải đánh máy thành ba bản.
Mấy người đánh máy Bảo Gia Lợi, Nga, Đức, và cô Mariniquaise đánh máy cuối cùng, đã khiến Castelnau sau này viết trong lời tựa: “Quyển sách này, do những người đánh máy hăng say, thay đổi luôn và không phải rặc là người Pháp…”.
Đúng vậy, không phải rặc người Pháp, nhưng luôn luôn hăng say, đến nỗi một hôm, đi nhè nhẹ vào phòng, tôi bắt gặp cô người Martiniquaise đang đứng múa máy trước bàn máy đánh chữ. Cô nàng đang biểu diễn một cảnh trong sách.
Tôi bắt đầu tốn tiền khá nhiều cho cuốn sách, nào là máy ghi âm, máy đánh chữ, rượu whisky, các bữa ăn của “ủy ban đọc sách”, các bó giấy và tiền công của các đả tự viên biết ít nhất hai thứ tiếng (vì chúng tôi đang ở Venezuela). Quả thật vấn đề trở nên quan trọng. Sau khi đánh máy xong cuốn sách dày 620 trang. Cứ mỗi ngày đánh 14 trang, phải tám tuần mới xong. Tổng số chi phí phỏng độ 3.500 Mỹ kim. May là chúng tôi đài thọ nổi và Rita, để trấn an tôi, đã nói đây là một chi tiêu rất hợp lý dù sách không xuất bản, cũng sẽ là ba tặng phẩm đặc biệt cho bà con.
Tôi nói: Không. Hai tặng phẩm thôi. Tặng phẩm thứ ba là của em. Vả lại, biết đâu tốt hơn nên giữ lại một bản.
Thế rồi, trước ba đống giấy, mỗi đống 620 trang ấy, tôi vẫn khổ tâm như trước. Có lẽ khổ tâm hơn.
Mấy quyển vở thuộc về tôi, chỉ về tôi mà thôi. Tôi tự tay viết ra. Tôi đã viết trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Bàn tay viết ra trên giấy những nét chữ của riêng tôi. Không ai có thể viết lại những nét chữ ấy, không giống những nét chữ khác. Trong mớ chữ viết ra ấy, chỉ có mỗi mình tôi có thể đọc không chút do dự những hàng chữ nói về dĩ vãng của tôi, và khi tôi đã viết ra trên giấy rồi, tôi sống lại dĩ vãng với tất cả nhiệt tình nên tôi thấm nhập vào từng câu, tôi sống với từng giòng chữ.
Mấy quyển vở là của riêng mình. Nhưng một khi các đả tự viên đã biến câu văn của mình thành chữ đánh máy rồi, vấn đề trở thành rất nghiêm trọng và rất quan hệ.
Các tờ giấy này không phải của mình. Chắc chắn là không phải của riêng mình. Những tờ giấy có thể được đem ra xét xử trong một vụ án mà quan tòa là người đọc, và mình sẽ không thể biện hộ được. Bên cạnh mỗi độc giả, sẽ không có luật sư của mình, phán quyết của họ sẽ là chung thẩm.
Làm thế nào xuất bản đây? Làm thế nào một nhà xuất bản chú ý đến cuốn sách này? Làm sao biết được? Sách phải đến tận tay ông ta. Thử kiểm điểm lại xem. Sách này đã được nhiều người thích, các nhân viên trong “ủy ban đọc sách”, tất cả người trong gia đình tôi, các bạn ở Venezuela biết tiếng Pháp, một cựu đại sứ ở Luân Đôn, ông Hector Santaella, một anh vừa am thạo, vừa chán ngấy loại chuyện này là Jean Maillet de la Trévanche và một tay bút chiến Cộng sản, Hernani Portocarrerro. Nhưng như vậy có nghĩa gì? Thực ra không gì hết.
Có lẽ họ chỉ thích chính các câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm mà thôi. Như thế không có nghĩa là công chúng sẽ thích sách này vì nó là một văn phẩm. Vậy thì không nên tự phụ, phải trình nó ra và nói: “Nếu anh không thích, anh có thể cho viết lại không?”. Trừ phi tôi đã cho viết lại trước. Nhưng làm như vậy rất tốn kém, rồi phải bỏ thêm tiền trong cuộc phiêu lưu này mà không biết có xuất bản được hay không.
Một thằng cha đi qua Caracas đã đem giải pháp đến cho tôi. Hắn ở nhà tôi chờ Joseph Carita, anh của các chị Carita ở Ba Lê, những tay uốn tóc nổi tiếng. Joseph đến trễ, thằng chả xin phép tôi xem qua các tờ giấy đánh máy. Hắn không nhận thấy hắn chờ đã hơn hai giờ. Đó là một triệu chứng tốt.
Hắn trở về Pháp mang theo hai quyển vở, một người bạn của hắn sẽ đọc và sẽ đánh máy lại nếu cần.
Cả tháng ngày nào tôi cũng đợi người phát thư. Tôi sẽ nhận lời phán quyết của một nhà văn chuyên nghiệp cùng với một đoạn trong cuốn sách được viết lại, đoạn nói về những người cùi.
Tôi không biết phải làm gì với bức thư và một gói giấy vừa tiếp được. Tôi không biết nên mở thư trước hay gói giấy trong ấy những người cùi không còn là “những người cùi của tôi”. Đã mười một giờ, tôi không động đến cái gì hết, không mở cái gì hết, bức thư và gói giấy vẫn nằm trên bàn, nguyên xi. Tôi chờ đến giờ ăn trưa, đông đủ mọi người.
Tình cờ hôm ấy chúng tôi có hai người khách, ông giáo sư Pháp văn và vợ ông ấy.
– Nên mở phong thư trước.
Nhà văn Pháp cho tôi biết anh ta rất chú ý đến tập bản thảo của tôi, và hứa sẽ làm ra một quyển sách hay với tập hồi ký của tôi, một quyển sách, viết bằng lời văn chải chuốt, đứng đắn, có giá trị. Điều kiện như sau: 50% tác quyền cộng với 18.000 quan về công viết lại và các chi phí: “Đính hậu đoạn viết về những người cùi. Tôi hy vọng ông sẽ vừa ý”.
Im lặng như một nấm mồ. Nghẹt thở, tôi bắt đầu đọc “đoạn những người cùi, viết bằng lối văn chải chuốt”. Tôi sẽ biết câu chuyện của tôi được sửa lại để có thể xuất bản.
Tôi đã đọc xong. Thế này mà gọi là những người cùi của tôi à? Không thể được, không còn là những người cùi của tôi nữa!
– Henri, không được đâu! Những người cùi của anh mới hay đáo để, không phải thế này đâu, ông giáo sư Pháp văn quyết đoán như vậy. Sao anh có vẻ chán nản vậy Henri?
– Đừng có đùa, giáo sư! Không, tôi chỉ ngạc nhiên, bỡ ngỡ, đó là cái chắc. Đọc mấy trang này, tôi đâm hoang mang vì nhận thấy những người cùi của tôi không còn đầu óc nữa, đầu óc mà tôi từng trông thấy. Nếu bọn xuất bản là như vậy, thì còn tệ hơn trong ngục thất, phải chống đối nếu không muốn bị ăn tươi nuốt sống. Thằng chả đi quá trớn, để sửa cuốn sách của tôi, nó đòi 50%, không hơn không kém. Được rồi, giáo sư, tôi thích đấm đá, chuyện này bắt đầu mê ly, gay cấn. Thay vì cư xử ngay thẳng như tôi tính lúc đầu, tôi sẽ đi vào môi trường đặc biệt này, vào nơi rừng rú này, và sẽ tùy người, tùy lúc, có thái độ thích ứng. Anh nên tin tôi: đối với bọn rừng rú, bọn lưu manh ăn mặc bảnh bao và đầy huy chương, tôi sẽ rất khôn khéo, chỉ đưa mấy cây bài của mình ra khi biết mình ăn chắc để hốt tiền, tôi không dại đâu.
Chuyện này sẽ ghê gớm lắm, không thể tâm sự với ai, không thể tin ai, quả là ly kỳ. Thái độ cần phải có trước tiên: để cho người ta tin rằng mình là một thằng ngu, một thằng khốn nạn dễ lừa gạt, một loại Goriot trong sách của Balzac, ai hỏi gì thì trả lời cà lăm cà cặp và giả điếc để có thì giờ suy nghĩ về câu trả lời.
Giới xuất bản với bọn bồi bút sẽ biết tay chúng ta.
Phải để cho chúng tin rằng quả thật văn của anh, dù anh cho là hơn văn của chúng, cũng cần phải viết lại.
Van xin ai trước? Hachette? Plon? Tôi chỉ biết hai nhà xuất bản ấy. Chắc còn những nhà khác.
– Thế tại sao không phải là nhà xuất bản của Albertine Sarazin? Clotilde nói.
– Thật là một ý kiến tuyệt kỹ, bé ạ.
Sau bữa ăn, Clotilde gọi nhà sách Pháp để hỏi địa chỉ của Pauvert. Năm phút sau, nó đánh một bức thư gởi cho ông Jean Jacques Pauvert, 8 đường De Nesle, Ba Lê 6e; trong thư tôi nói tôi là người tù vượt ngục hơn hai mươi lăm năm nay, tôi bị phá sản vì một trận địa chấn và tuổi đã sáu mươi mốt, khó làm lại cuộc đời; ông ta đã xuất bản cuốn L’Astragale, tại sao lại không giúp tôi xuất bản tập hồi ký của tôi, chắc chắn viết không vững, vì tôi không phải là nhà văn, và ông sẽ dễ dàng tìm một người dùng chất liệu này để viết ra một cuốn sách hay: “Người giang hồ về già tin tưởng nơi ông, tôi linh cảm đã chọn đúng người. Tôi sẽ chấp nhận các điều kiện phải chăng do ông đề nghị. Xin gởi kèm theo đây một vài đoạn để xin ông xem qua”.
Không ngốc đâu, tôi không dại gì gởi hết. Chờ xem ra sao.
Phong thư cùng các đoạn văn gởi đi ngày 20 tháng 8, bằng thư bảo đảm.
Bạn ơi, chắc thằng cha Pauvert đã quăng đoạn văn của mày vào sọt rác rồi! Vì hôm nay là ngày 20 tháng 9 rồi. Một tháng không có thư trả lời. Nếu nó thích, nó đã trả lời từ lâu rồi.
Hy vọng là nó bận đi nghỉ hè. Đúng rồi, một nhà xuất bản có quyền dùng mồ hôi của các tác giả đi hưởng thụ những ngày nghỉ hè lê thê sang trọng. Nếu đến 30 tháng 9 mà không có gì, tôi sẽ viết cho nhà xuất bản khác.
Ngày 28 tháng 9, buổi sáng, một phong thư màu vàng. Tôi vừa run, vừa mở ra. Bên trong chỉ có một tờ giấy cũng màu vàng. Vừa tìm cặp kính, tôi vừa tự nhủ: “Tụi nhà xuất bản này đáng bị cắm sừng quá”.
Rita ngồi cạnh tôi.
– Tụi nó cũng trả lời đấy chứ.
– Xem nào.
Rồi tôi đọc:
“Kính Ông,
“Chúng tôi rất thích thú khi đọc mấy đoạn văn ông gởi cho chúng tôi. Các đoạn văn ấy là căn bản của một cốt truyện tuyệt hảo.
Nếu ông chưa làm, thì nên viết toàn thể cốt truyện như ông đã viết gởi cho chúng tôi đọc. Thật là sống động, trực tiếp. Chúng tôi sẽ hết sức chú tâm theo đõi công trình của ông.
Trước khi đưa đề nghị, chúng tôi ước mong được đọc toàn thể những gì ông đã viết”.
Vân vân
Ký tên: Jean Pierre Castelnau.
Chúng tôi đọc bức thư ba lần. Tôi trước, rồi Rita, rồi tôi nữa, đọc lớn từng câu, từng chữ, cân nhắc mọi khía cạnh, như thể một chưởng khế đọc một chúc thư cho những người thừa kế cần biết bản văn nói gì cùng ý nghĩa đích xác của mỗi chữ.
– Ê cưng! Ê, ngon lành, ngon lành quá! Thế là thằng cha… nó ký tên gì nhỉ? À phải rồi… thằng cha Castelnau nhận thấy nào là sống động, nào là trực tiếp trong câu chuyện, thằng chả không ngờ trong quyển sách cũng có như vậy.
– Vừa vừa thôi cưng ơi. Đành rằng là một tin mừng, nhưng từ đây đến việc sách được xuất bản, lại là vấn đề khác.
– Cưng ạ, mấy cha ấy không phí thì giờ để viết những chuyện không đâu. Họ trả lời tất nhiên họ thích, đúng không?
– Đúng, rồi sao?
– Ngoài ra họ gởi hoa tặng anh: “Thật là sống động, trực tiếp, đó là căn bản của một cốt truyện tuyệt hảo”. Không phải chuyện đùa nhé. Không lẽ em tưởng bọn nhà xuất bản khen mình để chơi à! Vì họ càng cho là hay, họ lại phải trả tiền nhiều. Thế là họ đã nói thật. Nhưng vì họ ranh mãnh nên chỉ nói một nửa cảm nghĩ của họ thôi. Em có muốn nghe anh nói, anh, một thằng tù vượt ngục, một nhà văn đứng đường, em có muốn nghe anh nói ý nghĩa của câu: “sống động, trực tiếp, căn bản của một cốt truyện tuyệt hảo, gởi cho chúng tôi tất cả” không?
– Muốn.
– Câu ấy có nghĩa: chúng tôi đã nhận ba đoạn hay tuyệt của một cuốn sách. Nếu toàn thể cuốn sách đều được viết như vậy, sẽ là một tác phẩm đặc biệt.
– Rồi anh sẽ gởi cho họ tất cả 620 trang sao?
– Dỡn hoài. Anh sẽ tự tay mang đến cho họ.
– Đi như vậy tốn kém lắm.
– Đánh bạc mà cưng! Chúng mình đánh bạc, anh nói cho em biết, trong canh bạc này chúng mình đem ra đặt cả nhà cửa, một ít tiền để trong ngân hàng, uy tín của chúng mình ở đây. Ăn thua đủ, em nghe không? Xả láng hết. Nghe anh nói đây. Lần này, anh linh cảm, anh chắc chắn, chính dân chúng Pháp sẽ trả lời: “9 nút, Papillon, hốt bạc đi, trong đời chó má của mày, bây giờ mày mới được một chén bạc lớn”.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.