vietmessenger.com
Henri Charrière
Dịch giả: Đinh Bá Kha
Đời Mới xuất bản 1974
Post by Sơn râu 8 Oct 2025

Google image edited by Sơn râu
18. Xứ Do Thái – Một Cuộc Địa Chấn
TÔI từ giã Ba Lê bay tới xứ Do Thái để gặp má của Rita, đồng thời cũng muốn biết rõ một quốc gia với một dân tộc mãi bị ngược đãi, hiện đang thực hiện nhiều kỳ công được thế giới thán phục.
Thành thật mà nói, tôi rất hoài nghi. Tôi xem Do Thái là một dân tộc nô lệ vào tôn giáo, các tu sĩ bắt buộc dân chúng phải theo quan niệm và lối sống của họ.
Phi cơ hạ cánh ở Tel Aviv. Tôi đi đến gần Haifa, tại một làng dọc bờ biển tên là Tel Hanam, nơi mẹ của Rita ở.
Quả thật tôi nhận thấy ngay thanh niên thiếu nữ xứ ấy không phải là đồ bỏ.Tất cả các tài xế tắc xi ít ra cũng nói được một ngôn ngữ, đôi khi hai, ngoài tiếng hébreu. Người đầu tiên tôi gặp chỉ nói tiếng Anh. Phải đến ba phút mới tìm một tài xế nói tiếng Pháp hoặc Tây Ban Nha. Rồi tôi đi trong một chiếc tắc xi cũ kỹ do một người trẻ lái, nói thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Tây Ban Nha. Tôi bắt chuyện:
– Anh từ đâu đến?
– Tôi sinh ở Casablanca và tôi đã có bằng tiểu học. Tôi là người Separdi. Đó là giống người Do Thái bị nữ hoàng Tây Ban Nha Isabell người Công giáo trục xuất. Tôi học trường Pháp, nhưng nói tiếng Tây Ban Nha như cha mẹ tôi.
– Anh đến đây lâu chưa?
– Mười năm. Tôi đến đây với cha mẹ tôi, một bà nội, hai em gái, chúng tôi sống đàng hoàng, mọi người đều làm việc, chúng tôi ở nhà chúng tôi, trên đất chúng tôi. Chúng tôi đều học tiếng hébreu. Tại sao? Chúng tôi phải có một ngôn ngữ chung bởi vì Do Thái là một dân tộc gồm tất cả mọi người Do Thái trên thế giới. Mỗi người mang theo ngôn ngữ của mình, nếu không có một ngôn ngữ cho tất cả mọi người, thì biết làm sao?
– Anh làm việc cho anh? Tắc xi này của anh?
– Không, tôi không đủ tiền mua một chiếc tắc xi.
– Đắt lắm phải không?
– Rất đắt, gần 50.000 quan.
– Thế thì ở đây cũng như các nơi, có kẻ giàu người nghèo?
– Ở đây có người giàu đúng, nhưng không có người nghèo vì không phải đi xin việc làm hay tiền bạc.
– Còn người già cả?
– Chính phủ lo cho họ chu đáo. Họ có tiền cấp dưỡng và một căn nhà nhỏ có vườn.
– Anh có nhà không?
– Chưa. Các cấp lãnh đạo chính quyền là người Do Thái gốc Ba Lan có ý kỳ thị đối với người Do Thái gốc Tây Ban Nha.
– Lạ nhỉ! Các anh đáng lẽ không có vấn đề kỳ thị chủng tộc.
Anh ta cười.
– Đúng vậy, nhưng biết làm thế nào. Chuyện này không hay ho gì. Nhưng qua thế hệ sau không còn tình trạng này nữa, vì tất cả đều là người Sabras.
– Thế những người Sabras hiện hữu, họ không có óc tôn chủng chứ? Sabras là những người sinh trưởng trên đất Do Thái, có phải vậy không?
– Vâng. Nhưng họ cũng có óc tôn chủng. Họ tự cho hơn người khác và có nhiều quyền lợi hơn người khác vì họ sinh trưởng trên đất Do Thái.
– Thế là mọi sự không toàn màu hồng trong xứ anh.
– Đúng, nhưng chúng tôi quên hết một khi chúng tôi hoạt động với tư cách người Do Thái, nghĩa là chúng tôi làm việc để có một nền kinh tế và một nền nông nghiệp thịnh vượng cơ sở trên công sức của chúng tôi.
– Các anh nhận nhiều tiền của những người Do Thái ở ngoại quốc?
– Tiền ấy không phải chỉ dùng để nuôi sống dân chúng mà được dùng để xây dựng kỹ nghệ, để dẫn nước vào sa mạc, để trồng hoặc kiến thiết tất cả những gì ích lợi cho tập thể.
– Anh yêu tổ quốc anh chứ?
– Tôi sẵn sàng chết cho tổ quốc của tôi.
– Trong người anh cái gì mạnh nhất, có phải lòng cuồng tín về tôn giáo không?
– Không, tôi là người Do Thái nhưng ở nhà chúng tôi ít theo những điều răn dạy của tôn giáo Do Thái. Anh biết không, phải hiểu rằng không nước nào trên thế giới chúng tôi được hoàn toàn bình đẳng với những người khác. Tôi có một người cha đã tham chiến với người Pháp và quân đội Maroc thế mà vẫn có một thằng ngu, hoặc người Pháp hoặc người Ả Rập mắng Ông là người Do Thái bẩn thỉu.
– Đồng ý, nhưng một người không đại diện cho một xã hội.
– Đúng vậy, nhưng khi người ta đã hy sinh tính mạng, đã mặc quân phục của một quốc gia, người ta phải được kính nể ngang hàng với mọi người.
– Đúng.
Đây là Haifa, trong mười lăm phút nữa chúng tôi sẽ đến Tel Hanam.
– Anh biết địa chỉ này chứ?
– Không người ta sẽ chỉ cho.
Mười giờ tối chúng tôi đến Tel Hanam, ngoại ô lớn rộng của Haifa. Đường phố đầy người, thanh niên, thiếu nữ đi từng đoàn, đủ mọi lứa tuổi. Họ cười, họ hát, họ chọc nhau, họ hôn nhau. Nhìn thấy những đứa trẻ 13, 14 tuổi ôm nhau, không mặc cảm chơi trò tình yêu trước mặt mọi người trong lúc còn quá trẻ, bỗng tôi có cảm tưởng trông thấy một cái gì rất mới lạ.
Tôi hỏi địa chỉ.
– Ở chỗ kia. Nhưng phải xuống xe ở đây, tắc xi không thể đến sát cổng tòa nhà, phải leo bậc cấp mới đến nhà.
Tôi trả tiền xe, một thanh niên tự động cầm va li của tôi, rồi rất vui vẻ, ba cô gái cùng ba chàng trai đi theo chúng tôi.
– Ông ở xa đến phải không?
– Từ Venezuela. Có biết xứ ấy không?
– Dĩ nhiên là biết. Ở Nam Mỹ.
– Lạ nhỉ? Em nói tiếng Pháp?
– Tôi là người Pháp, thằng kia cũng vậy, thằng kia là người Tanger, còn thằng kia là người Maroc.
– Còn mấy cô bé?
– Cả ba người đều gốc Ba Lan.
– Mấy cô ấy đẹp quá. Vị hôn thê của các cậu phải không?
– Không. Bạn tốt.
– Các cô cậu nói chuyện với nhau bằng tiếng gì?
– Tiếng hébreu.
– Nếu có người không biết tiếng hébreu thì làm thế nào?
– Ồ, Ông biết không, khi chơi, khi đi dạo với nhau, khi hôn nhau, khỏi cần phải biết tiếng hébreu, cậu bé xách va li cho tôi cười đáp. Vả lại, bây giờ chúng tôi không còn là người Pháp hay người gốc Ba Lan, tất cả đều là người Do Thái.
Đến ngôi nhà, cả bọn đều cùng tôi leo lên ba tầng lầu và chỉ từ giã tôi khi cánh cửa mở ra và má của Rita ôm chầm lấy tôi.
Xứ Do Thái kỳ lạ, quả là một quốc gia kỳ lạ đáng được tìm hiểu! Mặc dù rất cảm động khi gặp lại má của Rita cùng tất cả những gì bà kể cho tôi nghe và tôi kể cho bà nghe, tôi không ở luôn ngày trong nhà. Tôi đi chỗ này, chỗ nọ, tôi có ngay những người bạn mới, nhất là người trẻ, cần cho tôi hơn người già.
Và tôi đã khám phá ra lớp người trẻ xứ Do Thái. Họ không ngoan hiền hơn những người khác, họ thích sống, thích xe gắn máy, chạy đua như điên, thích bạn gái, vui đùa, khiêu vũ. Nhưng điều tôi tìm thấy nơi phần đông là niềm tin tưởng, do những người dạy dỗ họ đã đem đến cho họ, rằng cần phải biết nhiều ngôn ngữ, phải học một nghề vững vàng để sau này kiếm ăn đàng hoàng, nhất là để trở nên một phần tử tích cực và hữu ích cho xứ sở. Tôi đã trông thấy nhiều thanh niên sẵn sàng hy sinh để được hãnh diện đóng một vai trò xứng đáng trong xã hội. Họ không ham quyền cao chức trọng và tiền bạc hay xa hoa.
Tôi lại khám phá thêm điều này: người xứ Do Thái không ham tiền. Tại sao một dân tộc tỏ ra có óc kinh doanh cao độ trong các nước trên thế giới, hầu như chỉ sống để kiếm càng nhiều tiền càng tốt, lại có thể thay đổi hoàn toàn một khi họ trở về xứ sở của họ?
Nhưng dù sao, để biết ý chí cương quyết của một thanh niên đến mức nào, tôi hỏi anh, với nghề chuyên viên giỏi của anh, lương anh được bao nhiêu. Anh cho tôi biết một số tiền rất khiêm nhường, không được 200 Mỹ kim một tháng.
– Anh biết không, với nghề của anh, ở Venezuela anh lãnh năm lần hơn.
Anh vừa cười vừa đáp rằng ở Pháp người ta sẵn sàng trả bốn lần hơn, nhưng anh không thích, ở đây, anh được tự do, sung sướng và nhất là anh ở trong xứ anh.
Anh này cũng không theo đúng các nghi lễ tôn giáo, chỉ những gì hết sức cần thiết mà thôi. Anh không ưa mấy người Do Thái già râu ria, đội chiếc mũ nhỏ màu đen, nhất là các giáo sĩ gốc Ba Lan, rất hẹp hòi, muốn nhốt mọi người trong xích xiềng tôn giáo. Anh thích chủng tộc của anh, nhưng phải là lớp người trẻ, thể thao, tự do, sẵn sàng làm tình không chút mặc cảm. Anh khoái cuộc sống chung chạ giữa trai với gái. Mỗi thành công của dân tộc anh trong bất cứ địa hạt nào, kỹ nghệ hay nông nghiệp, đều là của anh và đều làm cho anh vô cùng hân hoan.
Phải nói rằng vì vấn đề ngôn ngữ, tôi chỉ nói chuyện thật sự với những người trẻ từ Pháp, từ Bắc Phi hay từ Tây Ban Nha đến. Một anh giải thích rằng, về phương diện chính trị, anh có xu hướng xã hội như đa số bạn bè của anh. Một anh khác, người Maroc, cho biết anh không thù ghét gì người Ả rập và anh hiểu rõ rằng vì mục đích tuyên truyền và vì vấn đề quyền lợi nên người Ả Rập đã trở thành kẻ thù. Anh rất hiểu điều ấy và nói với một giọng trìu mến về thời kỳ còn ở Casablanca, anh nói chuyện và vui chơi với những đứa bé Ả Rập trên đường phố, hai bên không có vấn đề gì hết. Anh nói anh rất thắc mắc và cho rằng tình trạng đố kỵ hiện nay là do những người không phải Ả Rập cũng không phải Do Thái tạo ra.
– Tại sao người Ả Rập tiến đánh chúng tôi, bởi vì những tin đồn về một cuộc chiến tranh đang lan tràn trong mấy ngày cuối tháng 5 năm 1967 này. Để chiếm các sa mạc chúng tôi đã trồng trọt? Họ không có những diện tích đất bỏ hoang mênh mông trên lãnh thổ của họ sao? Họ nói đến nền tự do của thế giới Ả Rập, đến nền độc lập của họ nhưng để tiến hành cuộc chiến tranh này với hy vọng sẽ thắng. Họ nhào vào vòng tay của người Nga. Thế mà người Nga khác nhiều với người Ả Rập hơn là người Do Thái là một người anh em họ nội.
Tuy nhiên, anh ta là người theo chủ nghĩa Do Thái tự trị, cực đoan, tôi và các bạn anh đều nhận thấy điều đó.
Tôi đến để thăm má của Rita, nhưng cũng để nghiên cứu các hợp tác xã Kibboutz, hình thức tập san, cùng cách quản trị các hợp tác xã ấy? Từ đầu, tôi đã quan tâm đến vấn đề này nhưng nhất là vụ tôm hùm bị thất bại ở Maracaibo, lúc bây giờ tôi thường tự nhủ, nếu công việc trôi chảy, tôi sẽ tạo dựng một cái gì tương tự như hợp tác xã Kibboutz cho các ngư phủ của tôi cũng như cho các ngư phủ khác, nhất định sẽ đem đến cho họ một mức sống và một nếp sinh hoạt cao hơn.
Không những tôi kinh ngạc vì những thành tích họ đạt được mà còn vì nhận thấy tình trạng an sinh của các tập thể nho nhỏ ấy.
Tôi có đến thăm nhiều loại khác nhau.
Tôi xúc động nhận thấy trong các cộng đồng ấy, mỗi người có một công việc. Ai cũng làm việc. Cộng đồng rất phồn thịnh nếu là một Kibboutz về nông nghiệp thì sau khi bán các nông phẩm, mỗi người hưởng kết quả như nhau. Nhưng có lẽ điều khiến tôi xúc động nhiều nhất là thấy các giáo sư, các y sĩ danh tiếng, các luật sư ban ngày ra thành phố làm việc, tối lại trở về. Họ bỏ tiền họ làm ra trong ngân quỹ chung.
Tôi cũng đi đây đi đó, với tính cách du khách. Haifa là một đô thị quan trọng. Một hải cảng nhiều xe cộ; đường phố vui tươi. Đêm rất nhộn. Tôi đã đến nhiều hộp đêm và cũng tìm thấy nhiều quán rượu có gái. Tại đây, thật là đáng phục. Trước hết các cô gái biết từ ba đến năm thứ tiếng, còn vấn đề lột khách hàng; các nàng cừ hơn nữ chiêu đãi viên bất cứ nước nào. Một ly bạc hà giá 4 Mỹ kim, với tốc độ các nàng uống và gọi ly khác, người ta nên đi ra gấp nếu còn muốn giữ lại trong túi vài Mỹ kim.
Thế là điều tôi nhận thấy ở xứ Do Thái là không bắt buộc phải tuân theo kỷ luật, đời sống thật sự tự do, mỗi người vui chơi hay làm việc tùy thích. Không có hành khất trên đường phố. Không có một người dù già hay trẻ.
Và tôi cũng thấy nhiều chuyện buồn cười. Tại bến xe buýt, vài chục người đang chờ. Nếu xe của người Ả Rập đến trước, họ có lên hay không? Có những người Do Thái không phân biệt gì hết, họ leo lên, nhưng có những người giải thích cho những người không lên xe rằng có công việc rất gấp không thể chờ xe buýt của người Do Thái.
Anh Ả Rập, với tấm mạng che mặt, nghiêm trang như một vị giáo hoàng, nhận tiền xe mà không nói cám ơn rồi xe chạy.
Chuyện kỳ lạ khác nữa, trong một xứ mà ngày xưa chúa Jésus đi câu, người Do Thái bây giờ bán cho các người Thiên Chúa Giáo những chai nước có đánh dấu thánh giá kèm theo một mảnh giấy có chữ ký một vị Giám Mục chứng nhận chính là nước sông Jourdain, nơi ngày xưa chúa Jésus câu cá. Họ cũng bán những gói đất Thánh. Những người này cũng có giấy chứng nhận của một vị Giám Mục. Mỗi chai và mỗi gói giá hai Mỹ kim, buôn bán như vậy khá phát tài vì đất không phải mua và sông Jourdain luôn luôn có thừa nước.
Tôi ở đây đã mười lăm ngày. Tôi đã sưu tập đầy đủ về cách quản trị một nông trại tập thể.
Người ta loan báo trong tuần này sẽ có chiến tranh. Tôi thấy không cần dính líu vào cuộc xung đột này chút nào, hoặc bị hy sinh vô lối nhưng khi tôi đến Hàng không Pháp để lấy vé gấp, người ta cho biết tất cả các chuyến bay đều dành cho đàn bà và con nít. Cuối cùng tôi tìm được một chiếc phi cơ bay từ Sabena qua Belgrade, tôi sẽ đi chiều mốt.
Trong hai ngày tôi chứng kiến công cuộc phòng thủ chống oanh tạc. Tôi thấy người ta lấy hết đồ đạc trong các phòng cất đồ đạc ở tầng dưới các tòa nhà ở Tel Hanam, vì ở đây không có hầm mà chỉ có phòng cất đồ trong mỗi căn nhà. Dân chúng không sợ hãi, cũng không lo lắng. Họ làm việc rất bình tĩnh. Chỉ có Má của Rita vì già cả nên có phần hốt hoảng.
Người ta cũng đào hầm. Mọi người đều tham gia, kể cả đàn bà và con nít.
Nhiều chiếc xe buýt đến chở những người đàn ông trong khu phố.
Một trung sĩ tay cầm một danh sách gọi tên những người phải đi. Trước khi lên đường họ điểm danh một lần nữa và nhận thấy bảy, tám người trội hơn số trong danh sách, những người đã lén đứng vào hàng ngũ tuy không được gọi. Đó là dấu hiệu tốt cho tương lai, không ai tìm cách trốn tránh.
Tôi đi Belgrade với hi vọng giờ phút chót chiến tranh sẽ tránh được. Hai ngày sau tôi bay từ Belgrade qua Caracas. Ngồi trên máy bay, đầu óc tôi còn đầy ắp các hình ảnh của cuộc viễn hành, hình ảnh theo đuổi tôi mãi, chi phối tất cả là hình ảnh tất cả các con đường nhỏ ở Titériade với những con lừa, những người Ả Rập, những kiến trúc Ả Rập, những người Do Thái, những người Ả Rập Thiên Chúa Giáo, những ngôi chợ, những người bán nước, những con đường mà ngày xưa Chúa Jésus đã đi chân không đến sông Jourdain tắm hoặc câu cá, cũng giữa những ngôi nhà ấy, trên những phiếm đá lót đường ấy, cũng những giếng nước ấy, những tiếng kêu ấy, những câu cãi vã ấy, những giọng ca hát ấy. Cảm tưởng ấy đã sâu đậm đến nỗi đã hằn mạnh vào một đứa vô thần như tôi.
Máy bay hạ cánh nhẹ nhàng xuống phi trường Caracas. Rita chờ đón tôi, vừa hôn tôi nàng vừa nói:
– Suýt nữa anh gặp chiến tranh.
– Chiến tranh hả? Tại sao lại có chiến tranh nhỉ? Phải hết lòng mong mỏi chiến tranh không xảy ra.
– Rồi, Henri, nó bắt đầu đã ba giờ rồi.
Sau sáu ngày cuộc chiến tranh chấm dứt. Má của Rita không hề gì và chúng tôi thanh thản đi vào tháng 7.
Công việc làm ăn của chúng tôi tiến triển khả quan, hai chúng tôi vui hưởng hạnh phúc, và từ Pháp trở về tôi đã mang theo một bó hoa khô héo nhiều đến nỗi mỗi ngày lấy ra một đóa hoa, tôi có cả một kho tàng vô tận, mẫu chuyện làm tôi suy nghĩ đến mãn đời.
Trong những năm gần đây tôi không ngớt nghĩ đến tương lai (vì phải nghĩ đến tuổi già chứ) tôi nhìn tương lai mà không chút lo sợ. Vì tôi đã dữ liệu những biện pháp để khi đến tuổi già khỏi phải túng thiếu, nên mọi việc tiến triển bình thường.
28 tháng 7 năm 1967, năm kỷ niệm thứ 400 ngày thành lập thành phố Caracas.
Tám giờ tối, tôi vừa đi qua bật đèn néon trong quán rượu ở ngay trước một tòa nhà tám tầng, trong đó chúng tôi có một căn nhà lớn ở tầng thứ sáu. Cửa sổ nhìn ra bao lơn, hai bộ đèn trên trần sáng rực rỡ, Rita với tôi đang ngồi cạnh nhau trên ghế dài xem một chương trình truyền hình.
– Tốt đẹp quá, Henri nhỉ?
– Rất tốt đẹp em ạ. Tháng 6 cũng vậy. Em mệt lắm không?
– Không, em vẫn khỏe. Ô, trời ơi…
Một con quái vật làm cho tòa nhà rung rinh như một chiếc xe vận tải nhảy lên nhảy xuống trên con đường đầy ổ gà, một thứ khủng long đu đưa tòa nhà từ trái sang phải, từ trước ra sau, các bộ đèn treo trên trần chạy qua chạy lại như quả lắc đồng hồ, nền nhà biến thành một tấm ván trượt tuyết, nghiêng bên này, bên kia quá ba mươi độ, hai con chó trợt trên nền gạch đánh xi từ vách bên này sang vách bên kia căn phòng, các bức tranh rơi xuống, các vách tường nứt ra như những trái lựu quá chín, chiếc máy vô tuyến truyền hình nổ tung, bàn ghế đi dạo như thể dưới chân có bánh xe, một tiếng gầm thét lớn hơn tiếng sấm sét trong các rạp hát, tiếng đổ vỡ khắp nơi, tiếng thét kinh hãi của chị vú Maria cùng những tiếng thét từ bên ngoài vọng vào, và hai chúng tôi, Rita với tôi ôm nhau, đeo vào nhau, má kề má, chờ đợi từng giây, từng giây, mọi vật đổ ào trên đầu chúng tôi và lôi cuốn chúng tôi theo…
Cơn khủng khiếp kéo dài đúng ba mươi lăm giây. Trước kia tôi tưởng tám phút của trái bom ám sát Betancourt dài nhất, nhưng nay thật là vô nghĩa đối với những giây đồng hồ này.
Tất cả những gì quay cuồng, đổ vỡ, lăn lóc, vừa ngưng lại, chúng tôi liền nắm tay nhau chạy ra cầu thang. Trong nháy mắt, chúng tôi đã xuống hết sáu tầng lầu, hai con chó và Maria cũng chạy ra đường một lượt với chúng tôi.
Trên đường phố, hằng trăm người thét lên vì kinh hãi, vì sung sướng đã còn sống sót sau trận địa chấn sáu, bảy độ Richter.
Rồi những người đã ở ngoài đường phố từ khi cuộc địa chấn bắt đầu và đã ẩn trú giữa lòng đường để khỏi bị các ngôi nhà đu đưa như những cây dừa đè bẹp, chạy lại siết chặt tay chúng tôi, và reo mừng nhờ có phép lạ, nên tòa nhà chúng tôi mới khỏi đổ nát như một lâu đài bằng giấy.
Đúng 20 giờ 41 phút, chúng tôi lại bị một luồng địa chấn thứ nhì, kéo dài mười giây.
Không ai dám trở vào nhà, chúng tôi cũng như những người khác. Có thể có những luồng địa chấn khác và tất cả có thể đổ xuống.
Chúng tôi phải ở trên mặt đất tại chỗ này, hai chân bám chặt vào đất, trên đầu chỉ có trời xanh ở đây, ăn ngủ và chờ đợi.
Tuy vậy, chúng tôi vẫn đến quán rượu của chúng tôi, trong biệt thự nhỏ phía bên kia đường, tin chắc sẽ chứng kiến một thảm họa. Không sao hết. Nửa tá chai rơi từ mấy cái bệ trong quán rượu, chỉ có vậy. Điện vẫn sáng, điện thoại vẫn chạy. Thay vì phải đi xuống sáu tầng lầu, ở đây chỉ đi sáu bậc cấp là đến đất. Cũng có thể nhảy ngả cửa sổ khi có các luồng địa chấn đầu tiên. Tôi nói với Rita:
– Cưng ạ, chúng mình ở đây. Chúng ta cũng có thể tiếp nhận một ít người cần đến đây.
Nàng đáp ngay:
– Chúng mình may không thể tả, anh ạ.
Rồi chúng tôi ôm nhau, chúng tôi hôn nhau, chị vú hôn mấy con chó, chúng tôi hôn chị vú, mấy con chó, mấy người láng giềng, con gái chúng tôi vừa chạy đến, mặt trắng bệch.
Chúng tôi trở xuống đường để nghe tin tức, nhiều tòa nhà đã đổ, tòa nhà nào? Tòa nhà này, tòa nhà kia, một cái lớn một cái nhỏ. Chúng tôi đi xem những đống đá khổng lồ là tất cả những gì còn lại của các tòa nhà từ mười hai đến mười lăm tầng. Lính cứu hỏa đã đào bới các đống gạch đá để xem may ra có ai sống sót. Đây là công trường Alfamira, một khu phố Caracas, trước một tòa nhà đồ sộ bị cắt làm đôi. Một nửa bị đổ nát hoàn toàn, nửa kia nghiêng hết sức nguy hiểm, có thể nhào xuống bất cứ lúc nào. Vợ người bạn tôi, anh Jean Mallet de la Trévanche, Giám Đốc Pháp Tấn Xã ở Caracas, ở trong ngôi nhà ấy. Chỉ có một mình chị ấy trong nhà, vì anh ta gặp địa chấn ngay ngoài đường phố lúc đang lái xe. May hết sức, chị ấy vẫn còn sống bước ra khỏi phân nửa căn nhà chênh vênh.
Tôi đang rầy la Ông Trời đã gieo thảm họa, bỗng nhiên thấy trước tòa nhà hai anh em Ducourneau, bạn tôi. Tôi gọi như thường ngày:
– Sao, anh em Ducourneau! Hai anh cũng thoát nạn hả. Hoan hô.
Họ chậm rãi đi về phía tôi, vẻ mặt nghiêm trọng, đôi mắt đầy lệ:
– Henri, Rita, anh chị thấy đống gạch đá này chứ? Dưới đó, có ba má chúng tôi, bé gái của chị và chị người làm.
Chúng tôi ôm hai anh em trong vòng tay, khóc nức nở. Chúng tôi rút lui khỏi nơi khủng khiếp ấy. Tôi nói với Rita: “Chúng ta nên cảm ơn Thượng Đế, đã rất đại lượng đối với chúng ta”.
Quả vậy, ngày hôm sau, trong các câu chuyện ghê rợn người ta kể lại, chúng tôi được nghe thảm cảnh của gia đình Azerad, cư ngụ trên tầng thứ tám tòa nhà Edificis Neveri. Ông cha, bà mẹ và bốn đứa con đang ngồi quanh một chiếc bàn dùng cơm tối thì tòa nhà sụp đổ ngay từ luồng địa chấn đầu tiên. Như bị đất cuốn hút, tòa nhà gập đôi lại và gia đình Azerad bị kẹt dưới đống gạch đá, trong thế ngồi gần như lúc họ ngồi ăn quanh chiếc bàn, bà mẹ và ba đứa con cách người cha và đứa con thứ tư bởi một khối bê tông đã đè bẹp họ. Họ không chết ngay, giây phút cuối cùng của bà mẹ và mấy đứa con thật khủng khiếp.
Người chồng và người vợ hấp hối nhưng không bất tỉnh. Trong bóng tối, họ còn nói với nhau nhưng không thấy nhau. Ngực bị dập nát, bà đã chứng kiến ba đứa con chết bên cạnh bà, có một đứa mới tám tháng. Có một lúc bà nói: “Thằng bé vừa chết”, rồi vài giờ sau: “Bây giờ thằng kia chết rồi”. Sau đó là im lặng, bà không trả lời chồng bà nữa. Nàng cũng vừa chết.
Ông cha, Jean Claude Azerad, 38 tuổi và đứa con thứ tư, Rémy, được đào lên, trong tình trạng hôn mê, bảy mươi hai giờ sau. Người ta đã tìm cách lôi ra và cứu sống hai cha con. Bé Remy bị cắt hết một chân. Ông cha phải chịu nhiều lần giải phẫu, vì bị gẫy xương khắp nơi và bị thương nặng ở mông. Ông cha giải phẫu lần đầu ở Caracas; Bác sĩ Bénaim giải phẫu ông ta theo sự chỉ dẫn bằng tín hàm và bằng điện thoại của giáo sư Hamburger thuộc bệnh viện Necker ở Ba Lê, nhà chuyên môn danh tiếng về khoa giải phẫu thận, cuộc giải phẫu thành công, nhưng ông Azerad chỉ muốn chết nên không thích được chữa trị. Phải nhiều tuần lễ, người ta mới thuyết được ông phải sống vì bé Remy.
Trong hơn một tuần lễ, thiên hạ ngủ trong xe, trong công viên, trên các ghế đá, tại các công trường, nhưng vẫn ở ngoài trời. Mặt đất lâu lâu còn rung chuyển, rồi sau cơn bão tố, cảnh thanh bình trở lại mọi người. Trong cảnh thanh bình, người người lấy lại niềm tin và về lại dưới mái nhà. Chúng tôi cũng làm như mọi người.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.