Những Nữ Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai

dongsongcu.wordpress.com

Posted on May 28, 2024 by dongsongcu

21/05/2024

Trần Anh

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Đại tá Diep T. Khanh, Tham mưu trưởng Học viện quân sự West Point ( Ảnh của westpoint.edu ).

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975. khiến nhiều người Việt phải di tản đến Hoa Kỳ tị nạn, tiếp theo là những đợt thuyền nhân vượt biên thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển, từ đó đến nay có trên 2,2 triêu người Việt sinh sống tại khắp các tiểu bang và lãnh thổ Hoa Kỳ. Từ những Cộng đồng người Việt lớn mạnh và phát triễn, nhiều nam nữ thanh niên người Mỹ gốc Việt đã gia nhập và phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, tuy chưa có thống kê chính xác, nhưng ước đoán có thể có trên 5000 Quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân đội hiện đại và hùng mạnh hàng đầu Thế giới, họ mang cấp bậc từ Binh sĩ, Hạ sĩ quan, Sĩ quan lên đến cấp Tướng. Người Việt Nam tại Hoa Kỳ và khắp nơi trên Thế giới rất hãnh diện về Quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt.

Theo các tài liệu tham khảo sưu lục được thì đã có hàng trăm phụ nữ gốc Việt phuc vụ trong các Quân chủng Hải, Lục Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Quân đội Hoa Kỳ, họ mang cấp bậc từ Thiếu úy lên đến Đại tá, trong số đó có 28 vị mang cấp bậc Đại tá, 20 vị đang phục vụ, 8 vị hồi hưu. Vậy thì trong tương lai ai trong số họ sẽ là nữ tướng Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên?

HQ Đại tá Josephine Nguyễn Cẩm Vân, Bác Sĩ Quân y Hải quân (Ảnh của của paxriver.tricare.mil).

Danh sách 20 nữ Đại tá đang phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ:

1- Diep T Khanh, Tham mưu trưởng Trường võ bị West Point.

2- Dana R. Nguyen. Bác Quân y Lục quân.

3- Nguyễn Kim Chi, Giáo sư Trường võ bị West Point.

4- Jennifer D. Nguyen, Lục quân trừ bị.

5- Josephine Nguyễn Cẩm Vân, Bác Sĩ Quân y Hải quân.

6- Thu Luu, Bác sĩ Nha khoa Hải quân.

7- TuAnh* C. Halquist, Bác sĩ Nha khoa Hải quân.

8- Hoan Nghiem, Bác sĩ Nha khoa Hải quân.

9- Elizabeth Phạm, Không quân Thuỷ quân lục chiên

10- Tina Nguyen, Sĩ quan hành chánh, tài chánh Không quân.

11- Duong T. An, Bác sĩ Quân y Không quân.

12- Tam T. Dinh, Quân y Không quân.

13- Roli Luu. Y tá Đoàn y tế công cộng (Commissioned Corps of the U.S. Public Health Service (USPHS)).

14- Mimi Thanh Uyen Phan, Dược sĩ USPHS.

15- Jade Ariel Pham, Dược sĩ USPHS.

16- Vu the ThuyAnh*, Dược sĩ USPHS.

17- Nguyen Thanh Thuy, Điều dưỡng USPHS.

18- Diem Kieu Hoang Ngo, Dược sĩ USPHS.

19- Quynh Chi Tan Duong, Dược sĩ USPHS.

20- Chau Minh Vu, Bác sĩ USPHS.

Đại tá An T. Duong, Bác sĩ quân y Không quân (Ảnh của afgsc.af.mil).

Danh sách 8 nữ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt hồi hưu:

– HQ Đại tá Tran Ngọc Nhung, Bác sĩ nha khoa Quân y Hải quân.

– HQ Đại tá Thu Phan Getka, Bác sĩ nha khoa Quân y Hải quân.

– HQ Đại tá Ho Thi Hoa, ngành kỹ thuật cơ khí Hải quân.

– Đại tá Lynda K Vu, Bác sĩ Quân y Không quân.

– Đại tá Mylene Tran Huynh, Bác sĩ Quân y Không quân.

– Đại tá Phuong T. Pierson, Lục quân.

– Đại tá Danielle Jaque Ngo, Lục quân.

– Đại tá Ly T. Fecteau, Thuỷ quân lục chiến.

Đại tá Diem Kieu Hoang Ngo, Dược sĩ USPHS (Ảnh của linkedin.com).

Theo tài liệu thăng cấp Lục quân Hoa Kỳ từ Đại tá (ĐT) lên Chuẩn tướng (CT), xin được tóm lược như sau: ( Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Hải Quân, cũng tương tự, vì mỗi Quân chủng đều có Hội đồng thăng cấp riêng ). Hội đồng thăng cấp Lục quân ( Army Promotion Board ) gồm nhiều Sĩ quan cấp tướng, đứng đầu là vị Tướng Chủ tịch Hội đồng thăng cấp, các vị Tướng của các Binh chủng và ngành của Quân chủng Lục quân và các vị Tướng thành viên. Họ quyết định chọn đề cử một số ĐT lên CT tùy theo nhu cầu mỗi năm Lục quân cần đề thay thế cho một số CT được thăng cấp Thiếu tướng và một số vị phải về hưu.

Hội đồng thăng cấp phải cân nhắc quyết định chọn đề cử một số Đại tá có tài lãnh đạo chỉ huy thăng cấp lên Chuẩn tướng, danh sách các vị ĐT được chọn sẽ được gởi đến Bộ quốc phòng và Bộ tham mưu liên quân duyệt lại. Tiếp theo danh sách sẽ được gởi đến Tổng thống đề cử thăng cấp. Tổng thống được ủy quyền với sự cố vấn của Bộ quốc phòng và Bộ tham mưu liên quân. ( Tổng thống cũng có thể đề cử thăng cấp cho bất cứ ĐT nào, dù không có tên trong danh sách đề cử, nếu vị ĐT đó đã phục vụ cho lợi ích của Quốc gia, nhưng điều này không thường phổ biến).

Sau khi Tổng thống đề cử thăng cấp, danh sách các Đại tá được đề cử thăng cấp sẽ được gởi đến Quốc hội chuyển qua Ủy ban Quân vụ Thượng viện xác nhận bầu chọn. Sau khi được Ủy ban Quân vụ Thượng viện bầu chọn, các vị ĐT được đề cử sẽ chính thức thăng cấp CT.

Thời gian mang cấp bậc Chuẩn tướng trung bình từ hai đến bốn năm. Ngoài việc tự nguyện về hưu, tất cả các CT phải về hưu sau 5 năm mang cấp bậc hoặc 30 năm phục vụ, trừ khi họ được thăng cấp lên Thiếu tướng, hoặc tái bổ nhiệm giữ thêm một nhiệm kỳ phục vụ. Nếu không, tất cả CT phải về hưu vào tháng sau sinh nhật thứ 64 của họ. Tuy nhiên, Bộ trưởng Quốc phòng có thể hoãn việc về hưu của một CT cho đến sinh nhật lần thứ 66, và Tổng thống có thể trì hoãn việc về hưu của một CT cho đến sinh nhật lần thứ 68 của của vị CT đó. Vì số lượng Chuẩn Tướng có hạn. Lục quân 118, Hải quân 104 (Phó Đề đốc), Thuỷ quân lục chiến 36, Không quân và Lực lượng không gian 126, nên một số CT phải về hưu trước khi một số Đại tá được thăng cấp. Do đó, các CT thường về hưu trước độ tuổi và giới hạn phục vụ theo luật định, để không cản trở quá trình thăng cấp và thăng tiến binh nghiệp của Sĩ quan cấp dưới.

Dựa trên các tài liệu tham khảo cho thấy, Hội đồng thăng cấp Lục quân phải cân nhắc tuyển chọn những Đại tá xuất sắc, có tài lãnh đạo chỉ huy, kiến thức và thành tích vượt trội để bảo đảm những Đại tá được đề cử xứng đáng là những Chuẩn tướng chỉ huy phù hợp với các hoạt động chiến đấu của Lục quân Hoa Kỳ!

Đại ta Tam T. Dinh, Quân y Không quân (Ảnh của facebook.com/VAUSAFAMILY).

Cho đến nay đã có hơn 28 nữ Đại tá gốc Việt*** phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ ( 8 vị hồi hưu ), nhưng vẫn chưa có phụ nữ gốc Việt mang cấp tướng****. Chúng ta hy vọng sẽ có phụ nữ Việt Nam trỡ thành những nữ tướng trong quân đội Hoa Kỳ như một số phụ nữ gốc Nhật, Hàn, Hoa, Phi Luật Tân và gốc Á Châu-Thái Bình Dương, đó là Đề đốc Hải quân Seiko Okano, Thiếu tướng Không quân Susan Mashiko (hồi hưu) và Chuẩn tướng lục quân Miyako Schanely (hồi hưu) gốc Nhật. Chuẩn tướng Không quân Sarah H. Russ, Thiếu tướng Không quân Sharon K.G. Dunbar (hồi hưu) gốc Hàn. Thiếu tướng Quân y vệ binh Quôc gia Lisa J. Hou, Thiếu tướng Không quân Carol A. Lee (hồi hưu), Phó Đề đốc Hải quân Alma M. Grocki (hồi hưu) và Chuẩn tướng Lục quân Coral Wong Pietsch (hồi hưu) gốc Hoa. Thiếu tướng Lục quân Suzanne Vares-Lum gốc Nhật-Hoa-Hawaii (hồi hưu). Phó Đô đốc Quân y Hải quân Raquel C. Bono, Phó Đề đốc Quân y Hải quân Eleanor V. Valentin, Phó Đề đốc Hải quân Babette Bolivar và Phó Đề đốc Quân y Hải quân Eleanor Mariano gốc Phi Luật Tân, những nữ tướng Hải quân gốc Phi Luật Tân trên đã hồi hưu, theo các tài liệu tham khảo.

HQ Đại tá Thu Luu, Bác sĩ Nha khoa Hải quân (Ảnh của linkedin.com).

Những Nữ Sĩ quan Hoa Kỳ gốc Á Châu-Thái Binh Dương trên đã phục vụ và chiến đấu trong Quân đội Hoa Kỳ trỡ thành những nữ tướng, họ đã đạt được binh nghiệp lên đến hàng tướng lãnh của một Quân đội hàng đầu Thế giới. Thiết nghĩ, trong tương lai, những nữ Sĩ quan gốc Việt cũng có thể đạt được binh nghiệp lến đến đỉnh cao để trở thành những nữ tướng Hoa Kỳ gốc Việt như họ ! Hy vọng Hội đồng thăng cấp của các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ sẽ thấy được năng lực lãnh đạo chỉ huy xuất sắc của những Nũ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt!

Chú thích: *Tên ghi theo tài liệu; **Hội đồng thăng cấp của các Quân chủng chính là nơi quyết định chọn đề cử các Đại tá thăng cấp Chuẩn tướng/Phó Đề đốc; ***Có thể hơn 28 nữ Đại tá gốc Việt, vì trong danh sách trên 153 Đại tá gốc Việt có 2 Đại tá có thể là phụ nữ, đó là Đại tá Lục quân Hang T. Nguyen (hồi hưu) và Đại tá Không quân Nga T Do ! Ngoài ra, có một số nữ Đại tá khác có họ giống họ Việt, nhưng chưa xác định được nguồn gốc; ****Không tìm thấy tài liệu Đại tá Danielle J. Ngô được thăng cấp Chuần tướng và Đại tá Vu The Thuy Anh thăng cấp phó Đề đốc Hải quân từ các tài liệu phối kiểm của Lục quân, Hải quân, USPHS và United States Senate Committee on Armed Services!

Bài Những Nữ Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai viết theo các tài liệu thu thập được để chia sẻ với bạn đọc. Sẽ có những thiếu sót ngoài ý muốn không sao tránh khỏi. Xin vui lòng lượng thứ. Trần Anh.

Nguồn: Congress.gov; defense.gov; usphs.gov; sgp.fas.org; dtphorum.com: Những vị Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai – Nam Yết; dongsongcu-Những Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt; bienxua-7 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2023; bienxua-28 Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Suốt thời gian được bổ nhiệm đến Yokusuka, tôi thường viếng thăm Ðông Kinh. Ðể thăm chú thím tôi và cũng để thăm Hatsuyo. Nàng vẫn thân mật, trìu mến và dịu dàng, tuy hai chúng tôi tránh nhắc đến việc chậm lập gia đình của cả hai. Tôi cùng dạo phố với Hatsuyo nhiều bận. Trong 18 tháng vắng mặt của tôi, thủ đô đã thay đổi. Màu sắc và sự vui tươi biến mất. Ðường phố ưu sầu, mất hẳn sinh động. Dân chúng cúi đầu bước đi với vẻ trầm tư. Con cái, cha anh, chú bác, thân thuộc của những người này đã ra đi, và không bao giờ trở lại. Những tiệm buôn đã cạn hàng hoá, bán theo tem phiếu hiện là một nội quy bắt buộc. Dân chúng kiên nhẫn đứng nối đuôi trong gió lạnh, chờ đợi để nhận thức ăn. Tôi ý thức để khoản đãi tôi trở về nhà, thím tôi với Hatsuyo đã phải xếp hàng và tích trữ thức ăn rất lâu. Tuy nhiên thủ đô vẫn nguyên vẹn, ngoại trừ một cuộc không tập duy nhứt xảy ra vào năm 1942.

Nhưng chiến tranh lấn bước đến Nhựt Bản vào tháng 6 năm 1944, gây ảnh hưởng không tốt đối với công chúng. Vào ngày 15 tháng 6, dân chúng Ðông Kinh đã xúc động khi nghe tin 20 pháo đài bay địch đã bay một mạch từ Trung Hoa đến tấn công một thành phố phía Bắc Kyushu là đảo Cửu Châu. Cuộc oanh tạc không gây hư hại bao nhiêu. Nhưng trong nhà và trong các cửa tiệm, trong những cơ xưởng và trên đường phố khắp nơi ở Nhựt, ai ai cũng bàn tán đến vụ oanh tạc, nói về việc các chiến đấu cơ của chúng tôi đã thất bại không chận đứng nổi các oanh tạc cơ địch. Tất cả đều có chung những câu hỏi: thành phố nào sẽ bị oanh tạc kế đó? Khi nào? Và bao nhiêu oanh tạc cơ? Bao nhiêu bom?

Ðài phát thanh lại loan đi một tin tức gây lo âu khác. Người Mỹ đã đổ bộ lên Saipan. Chiến tranh đã đến gần quê hương bằng một lối khác nữa. Saipan không xa mấy. Những tấm bản đồ được mở ra, và người dân giựt mình nhìn thấy hòn đảo nhỏ li ti sát bờ biển Nhựt. Và họ nhìn lẫn nhau. Họ đã bắt đầu đặt những câu hỏi, thì thầm, về các tin tức chiến thắng loan đi thường xuyên trên đài phát thanh. Làm sao Nhựt Bản có thể nghiền nát chiến hạm, tiêu diệt phi cơ địch, đánh tan lực lượng của đối phương một khi Saipan đã bị xâm phạm. Ðó là một câu hỏi mà ai ai cũng đặt ra, nhưng chỉ một vài người dám đưa ra lời giải đáp.

Tiếp liền tin tức về Saipan, chúng tôi nhận được tin các lực lượng hùng hậu thuộc hạm đội của chúng tôi tiến đến quần đảo Mariana, tham dự vào trận đánh mà mọi người ở Yokosuka đều biết sẽ là một trong những trận đánh quyết định cuộc chiến. Chúng tôi không còn mưu định đổ bộ lên các hòn đảo bên ngoài, chúng tôi đang canh gác ở ngay những cổng bước vào quê hương chúng tôi.

Sáng hôm sau, Không đoàn Yokosuka nhận lịnh di chuyển đến đảo Iwo Jima. Bộ Tư Lịnh Tối Cao của chúng tôi e rằng một khi Saipan thất thủ, quân Mỹ sẽ bước thêm bước nữa, bằng cách tấn công địa điểm chiến lược này. Với Iwo Jima trong tay đối phương, toàn thể nước Nhựt sẽ bị uy hiếp.

Thực sự, việc Iwo Jima không bị chiếm đóng vào mùa Hạ năm 1944 là một kinh ngạc cho chúng tôi. Phòng thủ trên đảo này lúc đó rất yếu kém. Chỉ cần một phần lực lượng đổ bộ lên Saipan, địch quân có thể đặt chân lên các bãi cát Iwo Jima và tẩy sạch sức đối kháng của lực lượng phòng thủ trên đảo dễ dàng. Không hiểu vì lý do nào, cuộc đổ bộ bị trì hoãn nhiều tháng, cho phép Lục quân và Hải quân Nhựt đổ người và vũ khí lên hòn đảo chiến lược nhỏ bé này.

Khi nhận được lịnh thiết lập một mạng lưới bảo vệ không phận hòn đảo, Không đoàn Yokosuka do phần lớn máy bay đã tăng phái cho Phi Luật Tân chỉ có vỏn vẹn ba mươi chiến đấu cơ khả dụng. Ba mươi chiếc Zéro, giống như mấy chiếc Zéro mà tôi đã từng bay ở Trung Hoa gần 5 năm trước đây. Chỉ có bao nhiêu đó! Cho một Không đoàn Thủ đô có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng gia!

Tuy nhiên, cuộc đổ bộ chưa xảy ra. Chúng tôi coi biến cố này như một phép lạ. Trung tá Nakajima đã trở về Yokosuka. Một tháng sau khi ông rời căn cứ Toyohashi nằm trong vịnh Phong Kiều để đến Rabaul, Ðông Kinh đã gọi ông về và chỉ định chức vụ chỉ huy trưởng Không đoàn Yokosuka. Bây giờ, sau một năm trên đất liền, ông ta lại ra đi nữa. Lần này ông sẽ đối diện với một mặt trận bi tráng hơn bất kỳ mặt trận nào khác trong đời chỉ huy của ông. Tôi nhận được lịnh trình diện ông trong văn phòng. “Sakai, tại sao anh không đi với tôi lần này?” ông hỏi. “Anh biết là tôi nôn nóng muốn bay trở lại với anh đến mức nào không. Tôi bất cần những gì mấy thằng bác sĩ cứ lải nhải. Hiện thời, đối với tôi, anh vẫn là một phi công xuất chúng. Anh đã chứng tỏ điều này mỗi khi tôi thấy anh bay.”

“Saburo, tôi cần anh đi với tôi. Cần lắm. Anh sẽ giống như một vị thần hộ mạng đối với những phi công mới này. Có anh bay với chúng tôi, tinh thần của họ sẽ lên cao. Họ sẽ theo anh bất cứ nơi nào.”

“Trung tá cần phải hỏi tôi nữa sao?” Tôi nói. “Trung tá yêu cầu tôi đi với Trung tá phải không? Bao nhiêu lần tôi đã khẩn khoản! Bao nhiêu lần tôi đều bị lắc đầu, “anh không thể bay được đâu, Sakai, anh nửa đui nửa sáng mà còn bay với bổng gì nữa, Sakai.” Dĩ nhiên, tôi muốn đi! Tôi muốn đi với Trung tá. Tôi muốn chiến đấu trở lại!”.

Thời gian đã đổi thay. Không một viên y sĩ nào tỏ vẻ phản đối ý định của tôi. Những lời đầu môi để giữ một viên phi công độc nhãn đứng bên ngoài cuộc chiến không còn nữa. Nhựt Bản không thể nào lo nghĩ đến những chi tiết nhỏ mọn như vậy nữa. Nhựt Bản đang lâm nguy, và một phi công độc nhãn có đầy đủ kinh nghiệm chiến đấu như tôi phải gánh vác trách nhiệm.

Tôi lại ra đi. Xứ sở đang cần tôi.

Chúng tôi nhận lịnh đến Iwo Jima tức khắc. Chúng tôi không có cả thì giờ liên lạc với gia đình. Không có những lời từ biệt. Tôi thực tâm muốn từ giã Hatsuyo nhưng tôi chỉ kịp viết vội vài dòng thông báo vắn tắt lên một tấm bưu thiếp.

Vào sáng ngày 16 tháng 6-1944, chúng tôi cất cánh từ Yokosuka và bay trong đội hình, với tôi dẫn đầu, trực chỉ hòn đảo xa xôi. Nhưng chúng tôi không đến được mục tiêu. Sau 100 dặm bay trong những đám mây dầy đặc sa mù sà thấp và những cơn mưa như thác lũ, chúng tôi bắt buộc phải quay về Yokosuka. Mùa mưa của Nhựt Bản đã bắt đầu. Với tất cả dữ tợn của thiên nhiên. Nakajima và tôi, cũng như một số phi công kinh nghiệm khác có thể bay đến Iwo Jima dễ dàng, nhưng đa số ba mươi phi công thuộc không đoàn đều là tay mơ. Mưa bão sẽ đánh dạt họ ra khỏi đội hình không biết lúc nào, và điều đó có nghĩa là họ sẽ mất tích và mạng sống của họ chấm dứt.

Iwo Jima là một hòn đảo nhỏ cách phía Nam Yokosuka 650 dặm, tính bằng hải lý. Bề ngang lớn nhứt của hòn đảo chỉ khoảng hai dặm. Trên mặt bản đồ thế giới, Iwo Jima có vẻ như là một hòn đá cuối cùng của một loạt các hòn đá trải dài từ Yokosuka đến Guam. Tuy nhiên, các bản đồ thường đưa đến những sai lầm tai hại, và trên đường bay bao la của Thái Bình Dương, khoảng cách giữa mỗi điểm nhỏ có thể được phỏng định chênh lệch một cách khủng khiếp. Quả thật, không radar, ngay cả vô tuyến cũng không có, chúng tôi không dám liều lĩnh, vì như vậy hầu hết phi cơ của chúng tôi có thể đi đời.

Chúng tôi đã từng gặt hái kinh nghiệm bi thảm về vấn đề này. Ðầu năm 1943, nhiều phi đoàn chiến đấu cơ Lục quân, được lái bởi những phi công không có một chút kinh nghiệm nào trong các phi vụ vượt đại dương, vì chỉ tác chiến trên lục địa, cất cánh ở Nhựt Bản để đến một căn cứ phía Nam. Trên đường đi họ chạm trán với tình trạng thời tiết tồi tệ, nhưng họ không chịu quay về. Kết quả hầu hết phi cơ đều biến mất trong khoảng không trình hun hút sâu vô tận của Thái Bình Dương.

Chúng tôi cố lên đường một lần nữa vào sáng ngày 17 tháng 6. Lần này chúng tôi rời khỏi Yokosuka chưa đầy 200 dặm thì bị các trận bão đẩy bật trở lại, mặc dù theo báo cáo thì thời tiết ở Iwo Jima và quần đảo Mariana rất tốt đẹp. Chúng tôi nằm lì trong doanh trại, nghe tin tức do đài phát thanh loan đi liên quan đến quân trú phòng trên đảo Iwo Jima. Theo đó, đối phương đã tung các cuộc không tập lên hòn đảo này suốt ngày suốt đêm.

Bốn lần, chúng tôi cất cánh, và bốn lần chúng tôi đều bị các trận bão đẩy bật trở lại. Vào ngày 20 tháng 6-1944, khi chúng tôi cố gắng lên đường lần thứ năm, tình trạng thời tiết vẫn hoàn toàn không bảo đảm an phi. Tuy nhiên, Trung tá Nakajima quyết định lướt qua. Chúng tôi để những phi công không kinh nghiệm bay ở cánh và đuôi, rồi tất cả xông vào mưa bão mù mịt.

Không ai trong chúng tôi biết được vào ngày này nhiều hải hạm đội quan trọng của chúng tôi đã chịu đựng một cú đấm thảm khốc do phi cơ và trọng pháo của lực lượng đặc nhiệm đối phương ở quanh quần đảo Mariana tung ra.

Cuối cùng, chúng tôi thoát ra khỏi trận mưa bão. Chúng tôi bay được 650 dặm, là đã vượt 1,200 cây số và nhiều phút sau đó, đỉnh của ngọn núi lửa trên đảo Iwo Jima hiện ra lờ mờ trên mặt nước, Trung tá Nakajima bắt đầu đảo một vòng rộng lớn trên phi đạo thứ nhì, thiết lập trên sườn núi Motoyama, nằm chính giữa hòn đảo. Tôi những tưởng những phi đạo lấm bụi ở Lae là tồi tệ, nhưng phi đạo này còn tồi tệ hơn nữa. Ðáp xuống sân bay ngắn trên một hàng không mẫu hạm có lẽ còn đơn giản hơn đáp xuống phi đạo khủng khiếp ở dưới kia. Hai phía của phi đạo vách đá dựng đứng. Chỉ cần đáp trật một chút, chúng tôi sẽ đâm sầm vào núi và biến thành trái cầu lửa ngay. Và một tường đá cao chớn chở chắn ngang cuối phi đạo chờ đợi những phi công không thận trọng.

Trung tá Nakajima từ chối thử sức các phi công của ông trên phi đạo cấm kỵ này. Ông dẫn cả nhóm trở lại phi đạo thứ nhứt, nằm ở mặt phía Nam của hòn đảo. Phi đạo này rộng và dài. Lần lượt, các chiến đấu cơ hạ cánh.

Ðã có hơn 90 phi cơ đậu dọc theo phi đạo, không còn chỗ trống nào dành cho các chiến đấu cơ của chúng tôi. Nakajima đưa tay ra khỏi phòng lái vẫy vẫy ra dấu cho chúng tôi đi theo ông. Một con đường dốc lộng gió dẫn từ phi đạo chánh đến phi đạo phụ dài hơn một dặm. Tôi cảm thấy buồn cười khi chạy cà xốc men theo con đường này. Giống lái xe đò. Ðây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, tôi mới biết leo lên sườn núi với một chiến đấu cơ và một dọc ba mươi chiến đấu cơ phía sau, rồi chạy vòng như taxi đón khách.

Một tiểu đoàn bộ binh đã kinh ngạc đến nỗi há hốc khi nhìn đoàn công-voa tung xốc nối đuôi kêu vang rầm trời và quậy bụi mù mịt của chúng tôi. Nhiều người đưa tay chỉ chỏ, cười nghiêng ngửa. Riêng chúng tôi khó thể nào cười nổi. Lái một chiến đấu cơ lên dốc, với một chiếc ở phía trước và một chiếc khác quay cánh quạt vù vù thổi tung đất cát ở phía sau trong khi phải cố gắng đối phó với mấy chỗ lượn cong, đầy ổ gà còn hóc búa hơn duy trì đội hình bay khít khao trong một đám sương mù dầy đặc.

May mắn thay, chúng tôi đến Iwo Jima trong thời gian các trận đánh lắng dịu tạm thời. Chỉ vào ngày trước đó, hòn đảo đã náo động dưới hàng ngàn quả đại bác của lực lượng đặc nhiệm đối phương chạy dọc theo bờ biển. Hải pháo 400 ly từ các thiết giáp hạm Mỹ đào những hố sâu hơn bể bơi Ðông Kinh.

Chúng tôi may mắn, vì hiện thời đối phương đã quay hướng đến Saipan để dập các pháo đài Nhựt trên hòn đảo này. Trong ba ngày, chiến tranh buông tha Iwo Jima. Nhưng không một người đàn ông lành mạnh nào muốn ở đây. Nó vừa ảm đạm vừa bất an, không cảm thấy dễ chịu như ở Rabaul. Nhưng chúng tôi thích nghi với hoàn cảnh, lợi dụng thời gian yên tĩnh giả tạo để trầm mình trong các suối nước nóng chảy róc rách thường xuyên qua các kẽ đá từ bên này đến bên kia phi đạo.

Cuộc chiến chưa bao giờ kỳ dị hơn đối với chúng tôi. Chúng tôi biết được tin hạm đội của chúng tôi đã tan tác trong trận hải chiến ở quần đảo Mariana. Và tất cả các phi công của các hàng không mẫu hạm đều chết rụi không còn một mống. Những lực lượng đổ bộ của địch có sức mạnh siêu việt là điều không thể nghi ngờ được. Với sự yểm trợ của hàng ngàn phi cơ, hàng trăm đại bác trên các chiến hạm, những lực lượng này chắc chắn sẽ diệt các đơn vị Nhựt trên đảo Saipan đến người cuối cùng.

Các sĩ quan của chúng tôi đã đến hồi tuyệt vọng. Họ biết rõ Saipan cần được giúp đỡ. Nhưng chúng tôi có thể làm gì được? Một cuộc tấn công toàn lực bằng chiến đấu cơ của chúng tôi chỉ hiệu quả nhứt thời, nếu không nói là vô nghĩa. Bởi lẽ Saipan nằm cách phía Nam Iwo Jima đến 600 hải lý. Mặt khác, nếu chúng tôi rời Iwo Jima mà không để lại một số chiến đấu cơ khả dụng, lúc đó quân Mỹ có thể thừa nước đục thả câu, đập tan hệ thống phòng thủ và quét sạch sức đề kháng yếu ớt trên hòn đảo.

Cuối cùng, quyết định được đưa ra: chiến đấu cơ ở lại, nhưng các oanh tạc cơ sẽ cất cánh tấn công các tàu chiến Hoa Kỳ trên đường đến Saipan. Mỗi cuộc tấn công đều được thực hiện vào ban đêm, các oanh tạc cơ không hộ tống sẽ cất cánh từng nhóm tám hoặc chín chiếc.

Khoảng thời gian giữa mỗi phi vụ oanh tạc cơ cất cánh rồi quay về là một khoảng thời gian vô tận. Chúng tôi nôn nóng sốt ruột chờ đợi. Các phi công của chúng tôi đã thi hành nhiệm vụ với lòng dũng cảm tột cùng và đã đạt được một số hiệu quả. Nhưng mà những hiệu quả này có nghĩa lý gì? Ðó chỉ là cái đập cánh của lũ thiêu thân.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Họa sĩ Thái Tuấn 90 tuổi, từ trần lúc 13 giờ ngày 26-9-2007 tức ngày 16 tháng Tám năm Ðinh Hợi.

Trong gần một tháng vừa qua, lão họa sĩ đã nằm tại bệnh viện. Nhưng đến trưa ngày 26-9, ông được đưa về nhà và mất trên đường về nhà riêng tại số 150/31/5 đường Lý Chính Thắng, Quận 3, Sài Gòn.

Lễ viếng bắt đầu lúc 10 giờ ngày 27-9-2007 tại nhà thờ Tân Ðịnh, Quận 1, Sài Gòn.

Lễ động quan cử hành lúc 7 giờ sáng ngày 29-9- 2007, hỏa thiêu tại Bình Hưng Hoà.

Họa sĩ Thái Tuấn sinh năm 1918 tại Hà Nội. Sau năm 1975, đã có thời gian ông định cư tại Pháp.

Nhưng năm 2006, ông trở lại Sài Gòn sống cùng các con, tiếp tục sáng tác và đã có vài cuộc triển lãm tại Sài Gòn. Triển lãm cuối cùng của lão hoạ sĩ Thái Tuấn được mang tên Về Nguồn, từ ngày 9 đến 21-12-2006, tại Phòng tranh Tự Do đường Hồ Tùng Mậu Sài Gòn.

Theo thời gian và không gian, sáng tác của họa sĩ chia làm 3 giai đoạn: Trước 1975 tại Sài Gòn; sau 1975 ở nước ngoài và từ 2006 ở Việt Nam.

Xin chia buồn cùng tang quyến, cầu chúc linh hồn lão họa sĩ an nghỉ vĩnh hằng.

Thái Tuấn trong căn lầu nhỏ. năm 2006.

Người “Anh Em Cũ” Trong Tang Lễ Cố Họa Sĩ Thái Tuấn

Tang lễ Thái Tuấn chắc chắn sẽ có rất nhiều “anh em cũ” đến tiễn đưa “lão làng” về nơi an nghỉ cuối cùng.

Nguyễn Nghiệp Nhượng nói với tôi như thế trước khi tôi từ Lộc Ninh về Sài Gòn. Tôi hiểu “anh em cũ” có nghĩa là những anh em hoạt động trong lãnh vực văn học nghệ thuật trước năm 1975 ở miền Nam, chứ chẳng riêng gì ở Sài Gòn. Họa sĩ Thái Tuấn đã trở thành một trong số vài nghệ sĩ nhiều tuổi nhất còn sống ở thành phố này. Ông trở thành “cây đại thụ”, cũng như những hàng cây cổ thụ mà từ khi những người Bắc di cư vào Nam năm 1954, đã nhìn thấy trên những con đường đẹp nhất “đô thành” thời bấy giờ.

Ông hoạt động liên tục từ khi ở miền Bắc “di cư” vào miền Nam. Sau năm 1975, ông cũng như hàng triệu người Việt Nam khác, tìm đường ra nước ngoài định cư. Ông qua Pháp và vẫn tiếp tục sáng tác. Suốt cuộc đời ông không làm gì ngoài nghệ thuật, không biết việc gì khác ngoài vẽ tranh.

Năm 2006, ông trở lại Việt Nam và tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ông trở lại sống trong căn nhà ở “tuốt tắp” trong con hẻm nhỏ giữa đường Yên Ðổ, nơi ông đã sống từ nhiều ngày trước. Xin mở ngoặc: Chẳng biết cụ Tam Nguyên Yên Ðổ mắc tội gì, bây giờ con đường Yên Ðổ đã đổi thành đường Lý Chính Thắng. Xin bạn đọc nhớ kỹ. Nhà ông là một ngôi nhà khó tìm nhất trong những căn nhà ở Sài Gòn. Nhờ bất cứ ai chỉ đường vào nhà ông, chắc khó mà chỉ được. Lỗi ngõ quanh co, quẹo trái, rẽ phải liên miên và những con đường chỉ đủ cho hai chiếc xe gắn máy tránh nhau. Ngôi nhà nhỏ hẹp của ông nằm khép nép trong một xóm lao động. Từ hơn nửa thế kỷ qua đến nay, nó chỉ được sửa chữa qua loa cho “sạch nước cản”, chứ không phải là một sự “đi lên” hay “đi xuống”.

Cuộc sống của ông thanh đạm. Con người ông cũng vậy, giản dị, xuề xoà, đối với ai ông cũng thân thiện, niềm nở. Năm 2006, khi ông từ Pháp trở về Việt Nam, tôi đến thăm vài lần. Những ngày sau cùng, ông sống trên căn lầu nhỏ, hệt như cái chuồng chim. Chiều ngang 2 mét chiều dài gần 3 mét, nhưng có được cái máy lạnh. Khách đến chơi, không được quá 3 người. Chỗ đâu mà ngồi. Cũng chẳng có chỗ treo tranh như nhà nhiều hoạ sĩ khác. Trong phòng ông chỉ đủ chỗ treo một hai bức mới nhất. Mỗi khi cần giới thiệu một bức tranh nào, ông phải nhờ một người con mang từ một nơi nào đó trong nhà vào phòng.

Chính ở nơi này ông đã sáng tác 13 bức tranh trong triển lãm tháng 12-2006 — như đã tường trình trong bài viết ngày 20-12-2006.

Không ngờ đó lại là lần triển lãm cuối cùng của Thái Tuấn và sau đó vài ngày là bữa cơm thân mật của anh em chúng tôi, cũng là bữa ăn với nhau cuối cùng ở nhà hàng Cơm Niêu. Thái Tuấn mang theo một chai rượu vang, đúng là kiểu Tây. Bữa đó có cả cụ Mạnh Ðan, vợ chồng Ðằng Giao, Nguyễn Thụy Long, do bà chủ báo Cỏ Thơm ở Virginia về mời.

Những Ngày Cuối Cùng

Thái Tuấn cứ hẹn sẽ lên Lộc Ninh nằm chơi vài ngày, nếu thích sẽ vẽ mấy cô gái Thượng. Hàng loạt tác phẩm của anh đều diễn tả vẻ đẹp thiếu nữ thuộc nhiều thành phần khác nhau, có lẽ chỉ thiếu một số cô gái miền sơn cước. Tôi nghĩ đó cũng là dự định của anh vào thời gian này. Nhưng ý tưởng chưa thực hiện được thì anh đã nằm bệnh viện. Sau này, thỉnh thoảng anh điện thoại cho tôi, hỏi thăm cây cỏ hoa lá, nhưng tiếng anh khào khào qua điện thoại, chỉ được vài câu rồi con anh phải “phiên dịch” lại. Trước ngày anh ra đi, tôi vẫn nhận được tin anh qua điện thoại. Vài ngày trước khi mất, các con anh nói bây giờ anh chỉ “bút đàm”, tức là chỉ nói chuyện bằng giấy bút, chứ không nói được.

Mới ngày 25-9, được tin anh ra khỏi phòng cấp cứu. Trưa hôm sau, 13 giờ ngày 26-9-2007 đã được tin anh mất trên đường từ bệnh viện về nhà.

Tôi vội báo tin đến bạn bè khắp nơi. Một số bạn hồi âm ngay và giao cho tôi nhiệm vụ thay mặt đi phúng điếu hoặc chuyển lời phân ưu đến tang quyến.

Những Người “Anh Em Cũ”

Tôi đáp chuyến xe đò sáng sớm về Sài Gòn. Trước đó tôi đã nhờ Hàm Anh đặt sẵn vòng hoa để mang đến nhà tưởng niệm, trong khuôn viên nhà thờ Tân Ðịnh, nơi quàn linh cữu cố họa sĩ. Mới đó mà hôm nay đã thành “cố” rồi! Gần trưa tôi đến nơi.

Ba người con trai cố họa sĩ đón sẵn, đưa vòng hoa của các bạn ở nước ngoài và chúng tôi vào bên bàn thờ người quá cố. Rất nhiều vòng hoa của thân nhân và thân hữu để la liệt bên linh cữu. Những cái tên rất quen của “làng văn, làng báo Sài Gòn ngày xưa”, tôi không thể kể hết.

Thái, người con đầu của anh Thái Tuấn cũng đã ngoài 60, nắm tay tôi kể:

– Bác Tú Duyên và bác Mạnh Ðan vừa ở đây về thì chú tới.

Anh Tú Duyên đã 92 tuổi rồi nhưng vẫn còn khoẻ mạnh. Thái đưa cho tôi xem mấy hàng chữ của họa sĩ Tú Duyên vừa ghi trong cuốn sổ lưu niệm. Nét chữ mới chỉ hơi run, nhưng lời lẽ thì vẫn còn rất trẻ:

Anh viết:

“Cầu cho linh hồn họa sĩ yên vui. Còn tôi hơn bồ 2 tuổi còn ngồi đây viết những lời như thế này. Thân chào linh hồn hoạ sĩ.

Ngày 27-9-2007.

Ðồng nghiệp Tú Duyên”.

Phía dưới trang giấy kẻ ô vuông là dòng chữ của lão nghệ sĩ nhiếp ảnh “râu dài” Mạnh Ðan:

“Vô cùng thương tiếc người bạn cố tri. Thái Tuấn ra đi không bao giờ trở lại.

Vĩnh biệt.

Nguyễn Mạnh Ðan”.

Còn vài chục trang giấy như thế của những người thân, những người bạn, những người anh em, già trẻ lớn bé, lớp trước lớp sau, tôi không thể kể hết.

Ðiều đó chứng tỏ khi sinh thời ông đã sống như thế nào. Ðó là điều quan trọng chứ không phải là tên tuổi, nổi danh hay không nổi danh.

Thái độ sống và cách sống với những người xung quanh mới chính là con người thật.

Có Gặp Lê Xuyên xin Đừng Nói Chuyện Thế Gian

Ngày Thứ Bảy 29-9, linh cữu của cố hoạ sĩ Thái Tuấn được đưa lên tòa nhà thờ chính Tân Ðịnh làm lễ. Rất đông thân nhân bạn bè thuộc đủ thành phần đến dự lễ. Bước chân vào trong nhà thờ, tôi gặp ngay những khuôn mặt quen thuộc như Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Cù Nguyễn, Hàm Anh, Trịnh Cung, Nguyễn Quốc Thái, Mạnh Ðan, Nguyễn Ðạt…

Trong lúc chờ đợi đưa linh cữu ra ngoài xe, tôi có dịp nói chuyện với Dương Nghiễm Mậu. Hồi này anh cắt tóc ngắn, kiểu cắt “bốc” của những cậu học sinh khi còn nhỏ. Anh vẫn trẻ trung như thanh niên. Tôi chưa kịp cười anh đã giải thích ngay: “Ấy, cắt tóc như thế để chúng nó không nắm được tóc mình”.

Nguyễn Nghiệp Nhượng nhún vai phê một câu ngắn gọn, nhưng đầy đủ ý nghĩa: “Hơi muộn”.

Một anh bạn nào đó hùa theo: “Không những nó nắm tóc ông mà còn bị nó ghè cho gãy xương”.

Tôi hỏi lảng: “Cuốn sách của ông ra sao rồi? Hết bán được rồi phải không?”

Dương Nghiễm Mậu cười tỉnh như không: “Chỉ không bán được ở Sài Gòn thôi. Còn các nơi vẫn bán như thường. Mình chỉ ngại cho nhà xuất bản, họ bỏ vốn in khá nhiều. Mình thì cứ bình an vô sự”.

“Té ra thành phố Sài Gòn lại không cởi mở bằng những nơi khác?”

“Ở đó mà cởi…”

Chuyện xoay quanh các chuyện “văn nghệ lẩm cẩm” như thế. Tôi gặp một số các chị quả phụ Trần Lê Nguyễn, Minh Ðăng Khánh… cùng một số rất ít người làm văn làm báo sau này hoặc từ miền Bắc vô Nam sau năm 1975.

Nếu không có những dịp như thế này, khó có dịp nào anh chị em “Sài Gòn của chúng ta xưa” gặp nhau đông đủ được đến vậy. Dù trong tang lễ nhưng mọi người đều nhân cơ hội này thăm hỏi nhau vô số chuyện gia đình, chuyện anh em bên này bên kia.

Ðúng 8 giờ, chiếc xe chở linh cữu ra khỏi khuôn viên nhà thờ Tân Ðịnh, hướng về nhà hoả thiêu Bình Hưng Hòa.

Thôi, anh ra đó gặp Phan Nghị, Lê Xuyên và anh đừng nói với Lê Xuyên rằng dù anh ấy đã ở thế giới bên kia, nhưng sách của anh ấy cũng không được bán ở Sài Gòn, kẻo anh ấy buồn, tội nghiệp cả cho người đã chết!

Thế gian còn nhiều chuyện đau lòng lắm. Xin quý vị hãy yên nghỉ. Vĩnh biệt họa sĩ tài hoa Thái Tuấn.

(Sài Gòn 09-2007)

Chữ “CS?”

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

May 23rd, 2025

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Sau năm 1975, bà con mình vượt biên, vượt biển tới các nước nói tiếng Anh như: Mỹ, Canada, Úc… Bà con mình nói hay viết chêm tiếng Anh vào là chuyện thường ngày ở huyện.

Nhiều chữ nửa Tây, nửa ta như: ‘Little Saigon’, ‘chạy show’… Hoặc ‘boat people’ (thuyền nhân); ‘lifeboat’ (xuồng cứu sinh xài trong phim như Titanic); email, shopping, selfie…

‘Selfie, tự chụp hình mình, được Oxford công nhận là “Từ của năm” vào 2013. Selfie thì có người dịch là ‘tự sướng’? Nghe rất là thô tục; không nên xài!

Tháng Tư, năm 1975, CSBV xâm lược chiếm được nước VNCH. Cùng với những thay đổi lớn về chính trị và xã hội, tiếng Việt cũng trải qua nhiều biến chuyển. Có chữ  mới ra đời. Có hay; có dở. Hay sống dai. Dở chết yểu.

Như chữ ‘thả thính’? ‘Thính’ là gạo rang cho thơm rồi giã nhỏ thả xuống vó, dụ cá đến gần rồi kéo vó lên. ‘Thả thính’ của giới trẻ hiện nay, kiểu nhẹ nhàng, gây sự tò mò để ai kia chú ý đến mình, giống như cách thả thính xuống nước vậy.

Ca dao có câu: ‘Cô thương nhớ ai ngơ ngẩn đầu cầu, lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi.” Soi là coi đó mấy cha. Còn ‘Xoi’, động từ, là dùng vật hình que nhỏ chọc vào cho thông, cho hết tắc. Như: xoi cống, xoi vòi ấm, xoi thông ống điếu. Viết xoi ruột là viết trật lất!

Rồi tui có viết “FBI từ đó tới giờ chưa bắt được và không xác định chính xác nhân thân của tên không tặc này.”

Thì có một độc giả tình thương mến thương chụp cho tui cái mũ xài chữ CS như vầy: “Bây giờ tiến bộ xài ‘nhân thân’ thay cho ‘lý lịch’?” Nghe tới chữ lý lịch là cả một thời Miền Nam bị CS đày đọa bởi cái chữ nghĩa lý lịch 3 đời nó hiện về như cơn ác mộng. Tui bèn trả lời ổng như vầy:

“Câu này có hai mệnh đề phủ định (negative clause) nối với nhau bằng chữ ‘và’ liên từ đồng đẳng (coordinate conjunction). Mệnh đề nào quan trọng đứng trước. Có thể tách ra làm hai câu: ‘FBI từ đó tới giờ chưa bắt được (tên không tặc); nên chưa biết y là ai.’ FBI không xác định được một cách chính xác nhân thân của tên không tặc này.”

Nhân thân tức gốc gác, vợ con, cha, mẹ, anh em, họ hàng, FBI cũng không biết luôn. Như vậy, nhân thân không phải là lý lịch.

Trong từ điển Hán Việt không có chữ lý lịch (lý viết y dài). Chỉ có chữ ‘lí lịch’ (lí viết i ngắn). Lí lịch chỉ chung công việc đã làm và hoàn cảnh đã qua.

Mà CS biết lý lịch tới 3 đời kể cả bên vợ của mình để làm gì? Để trả thù; để đày đọa người dân Miền Nam.

Chế độ CS là một chế độ bị bệnh “Bách hại cuồng” – nhìn đâu cũng thấy kẻ thù muốn hại mình. Vì bị bệnh nặng như thế nên mới hành động tàn ác không giống ai. Chớ hồi xưa mình xài chữ ‘lai lịch’. Lai lịch, quá khứ, chỉ nguồn gốc, gốc gác của sự việc, của một người.

Chẻ cọng tóc ra làm 8, tui xin kết luận là: ‘Ông xúi tui xài chữ ‘lý lịch’ của CS để thay chữ ‘nhân thân’ là ông xúi tui viết bậy không hè!”

Nhớ hồi xưa 16 tuổi trở lên là mình làm giấy căn cước bọc nhựa để cho biết gia thế, xuất thân, lý lịch. CS vô thì bắt làm chứng minh nhân dân? Thiệt là chuyện ruồi bu! Người dân da vàng mũi tẹt húp nước mắm mà phải chứng minh mình là nhân dân?

Sau 50 năm, chắc nhận thấy dùng chữ như vậy là ngu lâu, ngu bền vững, nên CS lẳng lặng lấy chữ căn cước ra xài, nhưng vẫn còn ngoan cố, cố thòng thêm chữ công dân. Căn cước công dân? Thiệt là giành khùng hết ráo!

Tranh Bảo Huân

Trong quá trình đó, một số người đặt ra khái niệm ‘chữ CS’ – nhằm chỉ những từ ngữ mới được sản sinh là sản phẩm của chế độ cộng sản, và cho rằng ngôn ngữ đang bị làm hỏng.

Tui cho rằng tiếng Việt là một sinh ngữ, ngôn ngữ sống, phát triển tự nhiên và độc lập với chính trị. Việc ngôn ngữ thay đổi là tất yếu. Tiếng Anh và tiếng Pháp được trăm triệu người trên thế giới sử dụng hàng ngày cũng không đứng yên mà liên tục phát triển: từ vựng mới, cấu trúc mới, thậm chí cách phát âm cũng thay đổi theo thời gian.

Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian là chuyện tất nhiên phải xảy ra. Nếu so sánh tiếng Việt đầu thế kỷ 20 với giữa thế kỷ, rồi với hiện tại, chúng ta sẽ thấy rõ sự khác biệt trong từ vựng, cách dùng từ, và cả cấu trúc câu.

Mần văn là đụng tới chữ nghĩa. Đụng riết rồi quen. Quen mà thấy chữ gì thiên hạ xài không trúng (nghĩa là trật) theo ý mình thì trong lòng bứt rứt lắm. Không chỉ ra thì ấm ức, mà chỉ ra thì mích lòng. Nhưng đời văn mà sợ mích lòng thì kiếm chuyện khác mà mần đi, đừng có mần văn. Không sửa lưng người khác hoặc bị người khác sửa lưng thì đâu có học được gì. Viết lâu mà không tiến bộ chút nào, như con rùa chậm tiến bò vào cõi văn chương. Chán lắm!

Phần ông bà mình nói đời hổng có ai cái gì cũng biết. Tàu nói: “Nhân vô thập toàn”. Tây (là Tây Phương) nói: “No one is perfect.” Chính vì vậy, biết tới đâu mình nói tới đó. Cứ nói, cứ cãi sùi bọt mép. Cãi tới cái trúng, nó văng ra cái đụi mình lượm về xài. Người được lượm, dỉnh mặt vênh râu, ra vẻ thế gian có ba bồ chữ về tao hết ráo. Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Còn chính giữa, tức cái bụng đựng mồi và rượu. Nhớ đừng hung hăng mà lên cơn nhồi máu cơ tim bỏ mạng giữa sa trường cãi ‘nhe mấy cha!’

Trong thế giới văn chương, theo ý tui, nên cư xử như cục đá góc cạnh khác nhau, hay hơn là cư xử tròn vo như hòn sỏi. Một chuyện mà ông này nói ngược, bà kia nói xuôi đều đúng hết ráo thì chán lắm. Viết như vậy là người thừa trong cõi văn chương. Cãi để học. Cãi trong văn chương là cái cãi tao nhã của tao nhân mặc khách ở chỗ ‘tao đàn, mày đàn.’ Chớ không phải của dân chơi Cầu Ba Cẳng, cãi phải giống như quánh lộn.Kết luận CS không có khả năng làm ra chữ. Ông bà mình mới làm ra chữ và chữ nó hay! Mình phải ráng xài cho nó trúng.

ĐXT

Chuyến tàu không đợi

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Mỗi sáng, tôi vẫn có mặt dưới đường hầm khoảng 7.30. Tứ thời bát tiết đều vậy, nếu có sai biệt năm bảy phút là lỗi của chuyến buýt mang tôi tới đó, chứ người ngợm tôi đã như con robot chạy đúng lập trình. Battery chưa hỏng hóc yếu kém và hình như vi trùng chưa đến hồi thâm nhập làm rối loạn những mạch điện trở.

Trạm đợi trong đường hầm metro khá dài, có thể muốn làm vui mắt, người ta đã kiếm cách treo dọc những tấm poster quảng cáo đủ mọi thứ có thắp đèn đằng sau và tôi luôn đứng chôn chân đối diện với một cô gái mặc áo tắm hai mảnh. Da dẻ rám nắng, cơ thể săn chắc với hậu cảnh là một bãi biển xanh tiệp màu trời. Cuba hay Mexico thì chẳng rõ nhưng chắc hẳn chốn ấy không có tuyết rơi như chốn này. Nóng toát mồ hôi chứ chẳng cảm mạo ho hen run từ trong xương run ra. Năm bảy lớp áo xống đùm đụp mà ngó qua một kẻ điện nước đầy đủ thiếu đường lột truồng đang trửng giỡn với biển mặn nhằm quảng cáo cho công ty du lịch đường hàng không thì ngẫm cũng oái ăm, nhỉ!
Cũng chỗ này đứng trông sang, cảnh quang bên nọ non tháng là đổi thay. Trước, tôi dòm ra một dãy condo đường bệ tân kỳ, bán hoặc cho thuê. Thoáng cái, tấm bích chương quảng cáo phim “Ngày Tận Thế” 3D rùng rợn trám chỗ. Nhàm con mắt tình này huống nọ mãi thao diễn thì giờ đây là đóng khung một kẻ da thịt phì nhiêu bẹo hình bẹo dạng. Mỗi sáng sớm tôi được rửa mắt và tai tôi chừng như đang nghe có tiếng sóng vỗ rì rào từ bên đó tràn qua. Tôi nhớ biển, nhớ da diết một địa danh và tôi đã bần thần vì chốn đó mang trùng với tên em: Thuận An.

Tới bảy giờ bốn mươi a.m thì em xuất hiện. Mỗi ngày chúng tôi hẹn hò nhau ở trạm này để cùng lên tàu điện chạy đến chỗ làm. Với tôi, đó là thứ điểm tâm cung cấp nhiều năng lượng trước khi lao động. Tàu lao đi, băng qua sáu trạm thì đến chỗ buộc phải không còn đứng bên nhau, Thuận An biết nơi tôi cày bừa xa ngái phải lắc lư thêm bốn trạm nữa mới tới và em nói, như vậy thiệt cho anh quá, phải 9 giờ mới bắt đầu, đi sớm thế anh biết cách gì để đốt thời gian? Anh sẽ vào quán gọi một cốc cà phê, nếu trời ấm anh sẽ bảo “mang đi” rồi cầm ly giấy ra ngoài hàng hiên đứng hút thuốc. Nóng hay lạnh thì quanh quán cà phê ấy luôn có đàn chim không rõ lai lịch vẫn tụ bầy trên giây điện lãnh lót hợp xướng một bài, anh nghĩ là tình ca, nghe sướng đôi tai. Đôi tai mà trước đó nó hứng đọng lời em nhắn gửi: Hút thuốc có hại cho sức khoẻ, chừng nào thì anh nghe lời em để từ bỏ thuốc. Tây đầm chúng thường hôn nhau, chúc nhau một ngày lành trước khi tạm biệt. Anh đứng yên và em quay bước khi cửa tàu mở, chỉ ngần ấy thôi, đôi ta chưa thể làm khác hơn. Qua sông, nếu chẳng có cây cầu bắt ngang thì người muốn quá giang phải luỵ đò. Sức người quá hạn, anh không biết bơi và con sông chắn giữa đôi ta tuyệt chẳng hiện hữu một con đò hoặc hình ảnh cây cầu cho dù là cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi. Chúng ta chui xuống đường hầm, thứ hai tới thứ sáu mỗi sáng, đứng bên nhau khoảng mười lăm phút, nói dăm câu vô thưởng vô phạt về chuyện nắng mưa và tàu dừng, và tàu chạy, và đường ai nấy đi. Và tôi chưa nói trắng cái nguyên cớ vì sao siêng dậy sớm trong lúc phải 9 giờ chuông mới reo trong hãng xưởng, áo mão chỉnh tề để đứng lẻ loi chưa lại thần hồn trong đường hầm u u tiếng gió. Rằng tôi rất muốn nhìn thấy em mỗi ngày, nghe giọng em bâng quơ thường là phê bình hoặc trách cứ tôi. Rằng ít ra thì tôi lỡ phải mang ơn nhà thơ Vũ Hữu Định: “May mà có em đời còn dễ thương”. Sẽ buồn cho tôi khi hôm đó em “nhác chơi” không nhìn thấy tăm dạng, tôi đến chỗ làm và năng suất lao động hao hụt thấy rõ. Khi đồng minh tháo chạy, em nên hiểu là nó gây thương tổn biết dường nào cho đứa nhẹ dạ cả tin. Tan hoang, đổ nát và bể dâu hiện hình. Có một chuyện tôi từng tâm sự với em, tôi nói: Anh mang ơn Thuận An, vì Thuận An đã giúp anh xuôi chèo mát mái. Trước, anh nhờ Nha Trang, anh nhờ Thanh Bình Đà Nẵng thảy đều thất bại đổ bể. Anh bị tù với tội danh phản bội tổ quốc. Anh lì lợm tiếp tục phản bội mà may phước cho anh, Thuận An với sóng bạc đầu gầm thét xua đuổi anh ra hải phận quốc tế để một đêm tối trời anh mang lý lịch mới: Vô tổ quốc. Thuận An ơi, còn gì tủi hổ hơn khi thằng người mãi say sóng ấy chịu thêm nỗi dật dờ: Vô gia đình.

Sáng ấy trời rét hơn thường nhật, tháng hai vẫn có những cơn gió bê nguyên khối giá băng từ Bắc cực tràn về. Cái lạnh nhắc tôi về hình ảnh những nụ mai vàng hé nở chào Xuân, năm hết tết tới phía bên kia bán cầu. Cô gái mặc áo tắm đùa nghịch cùng biển cả đã trốn mất, thế chân là bích chương quảng cáo cuộc triễn lãm tranh sơn dầu của các danh hoạ phái ấn tượng được sự hợp tác quý báu từ viện bảo tàng của Paris giúp sức. Những sắc màu những đường nét sáng tạo ở vào đôi ba thế kỷ xa xưa kia như biết làm cho khoảng đường hầm này vơi hẳn sự nhiệt náo. Hoặc ít ra nó khiến thời gian phải đình trệ trong khoảnh khắc để khi chờ em tới tôi không nghe ra sự bồn chồn. Dẫu sao tôi linh cảm là Thuận An sẽ nghỉ làm bữa nay, những chuyến tàu đã vụt qua và tôi đang ở cuối lằn ranh đợi trông, tôi cần một rời đi trước khi chuông đồng hồ thong thả đổ xuống 9 tiếng. Tôi vẫn biết có nhiều người tự cho phép mình thong dong trong ngày đầu năm nhưng em không thuộc hạng người đó. Giống tôi, đã ngập đầy tháng năm mụ mị, Thuận An chẳng còn biết đến Tết. Chữ ấy được ai đó nhắc tới, thoáng qua tai và nó không gửi lại một thông điệp gì quan trọng. Dần dà nó sẽ chìm quên, sẽ biến mất trong cuốn tự điển của bộ nhớ. Vậy thì Thuận An ở nhà, không đi làm do bởi một lực cản trở bất ngờ, hơn là cái nguyên cớ xằng bậy mồng Một mồng Hai tinh khôi năm mới đón đường.

Thứ Tư thứ Năm và thứ Sáu tôi vẫn đi đúng giờ, vẫn đợi trong lẻ loi và vẫn chui đầu lên mặt đường ngập tuyết ghé mua một ly cà phê mang đi. Tôi chung tình, là khách quen của hàng quán ấy, đánh đổi bằng bộ mặt thân thiện của thằng đứng bán, hắn luôn thay đổi cách xưng hô, khi thì “Chào ngài Đại uý”. Khi thì “Ông sếp có khoẻ không?”. Khi thì “Người bạn lớn”… Điều này không làm sứt mẻ 3 đô, số tiền tôi phải trả cho ly cà phê size trung bình. Cà phê là thứ dung dịch đen đúa mang nhiều chất bổ dưỡng cho cơ thể, mỗi ngày có khoảng tám phần mười dân số trên hành tinh này uống lấy nó. Khi vui cũng ực khi buồn cũng xơi. Hôm nay đặc biệt đàn chim thôi tập trung trên dây điện hót líu lo, tôi đứng với sự câm lặng của tuyết khi chuyên cần rơi xuống mênh mông một khoảng trống vắng. Tôi co thân dưới mái hiên, cà phê và thuốc lá dần dà giúp đầu óc tôi chút minh mẫn: Rằng nhà ngươi phải nên cất công dọ hỏi cho ra lẽ. Điều gì đã xảy đến với Thuận An?

Hôm chủ nhật, khác với ngày trong tuần, tôi mặc bộ áo quần nghĩ là tử tế nhất, chỉ tuyền sắc đen. Tôi nghe tiếng chuông giáo đường đổ từng hồi ở chốn xa, hồi chuông như làm cho bông tuyết thêm vỡ vụn bay quàng xiên giữa khoảng không trắng ngần. Nhà thờ không là nơi tôi ghé tới, tôi sẽ dùng metro đi gấp đôi lộ trình hàng ngày để xuống đúng trạm cuối, nơi mà tôi băng qua hai ngã tư thì đụng mặt với nhà quàng được chưng bày thứ cảnh quang lạnh lẽo từ cổng cho tới tuốt đằng sau những bức tường xám xịt màu béton. Tôi sẽ nhìn thấy Thuận An và con tim tôi như đang thắt lại. Mọi thứ dường như chìm trong câm lặng hoặc đặt để đôi chân vào hành lang trải thảm màu huyết bầm này người ta cố gắng thực thi lời “cảnh buồn người có vui đâu bao giờ”. Vui mới mồm năm miệng mười. Buồn thì anh nên ngậm miệng hến. Anh rón rén, anh ngại ngần và nếu cần anh làm ra vẻ nhăn nhó chực khóc. Có năm bảy người đứng sắp hàng trước cái bục gỗ, cuốn vở lớn đã từng lật giở những tờ giấy trắng đang chận giữ họ để khiến họ nghịch tay vào cây bút, bôi bẩn thứ gì đó, cào xé vào lòng giấy. Tôi nhớ lại một câu chữ đọc trong cuốn sách ngày đầu tôi được định cư chốn này: “Chỉ năm phút sau khi chào đời, người ta khai sinh ra tên bạn, quốc tịch, tôn giáo, màu da… và rồi suốt cả cuộc đời, bạn phải chống chọi với những thứ mà bạn không hề có được sự chọn lựa”. Tôi quen Thuận An và tôi hằng tin đó là sự chọn lựa đúng đắn.

Đứng như loài hoa khiêm nhượng trong góc vườn, Thuận An nhìn thấy tôi và cả hai cứng thây bước chậm thu ngắn dần khoảng cách. Một vòng băng trắng quấn trên đầu và mùi khói nhang, chừng ấy thứ đã làm cho gương mặt em xanh gầy tuồng đã mất sinh khí. Chỉ còn đôi mắt ướt là linh hoạt, nó đang lưu trữ hình dáng một thằng người suốt tuần đã chẳng trông thấy nhau. Mặt đất như chết tiệt sức hút, em xiêu thân và tôi vội ôm lấy em, thổn thức. Sẽ chẳng có ngôn từ nào thích hợp cả, trong lúc này nếu bạn nói ra. Tôi chỉ biết dùng tay vỗ về ở lưng ở vai em. Bình thường chúng tôi chưa từng ôm lấy nhau và đến khi nghe rõ tiếng nhịp đập của trái tim vọng dội qua bao vách ngăn, nước mắt đổ ra và nhắc nhớ tới một niềm đau chẳng gì bù đắp được. Lý do của sự kề cận không gì khác hơn là cái chết. Tôi nhìn tấm ảnh đen trắng đặt trên bàn thờ nằm trước quan tài người vừa xuôi tay. Ba của Thuận An từng là cựu sĩ quan của quân lực miền Nam và ông từng không biểu lộ sự thiện cảm khi tôi đến nhà. Tôi phép tắc chào ông và “kỷ niệm” giữa hai người chỉ xảy ra có đôi lần. Tôi đủ khôn để hiểu một đứa cày sâu cuốc bẩm trên cánh đồng nhiều gió chướng như mình sẽ muôn đời chẳng đủ tư thế để gọi ông là bố. Ông là hình ảnh rập khuôn của ba tôi ngày cũ. Thương con gái mình, không gì khác hơn là mong cho con quen được một thằng người ngó tử tế, cái tử tế tính luôn tới công ăn việc làm.

Thuận An nói, có lẽ là hai đứa tạm vắng xa một thời gian. Đang chịu đại tang, đồng ý, nhưng điều luật nào bắt chúng ta phải tuân thủ cảnh đôi đàng cách chia? Khoan, em chưa nói hết. Ba em muốn rải tro cốt xuống dòng sông Hương và do vậy em phải về Huế để thực thi ước nguyện ấy. Rất tốn kém, rất nhọc sức, rất mệt mỏi nhưng bù lại em sẽ vui vẻ đảm nhận công việc đó. Em đã lấy vé… và như thế…

Và như thế tôi vẫn chuyên cần đi làm từ thứ hai đến thứ sáu mà không màng tới ba ngày Tết bạn nên xuất hành vào giờ nào, đi hướng nào để cả năm được thông suốt. Không còn gặp em, tôi dậy trễ hơn đi làm muộn hơn và vẫn đón nghe thằng bán cà phê xởi lởi: Chào Đại Uý buổi sáng. Tôi phải trả 3 đô 95 xu vì lấy cái ly to khủng. Hết nhìn ra em lóng rày tôi uống nhiều cà phê cũng như siêng đốt khói cho ấm bờ môi. Tôi vẫn đứng bên hiên quán, dưới bầu trời tuyết đổ. Tôi nghĩ tới chuyến tàu cuối cùng sẽ mang tôi đi trong thinh lặng. Có nên nằng nặc đòi hỏi phải mang đống tro tàn nhọc xác về trút xuống cố quận. Tôi đã thành thằng người Gia-nã-đại, nếu được, xin vui lòng cho tôi nằm xuống trên dòng St-Laurent. Và Thuận An ơi, liệu khi ấy em còn giọt nước mắt nào đổ xuống bề mặt một con sông đang đóng băng? Em đi về quê mạnh giỏi, đề phòng cướp giật, coi chừng xe cộ và cẩn tắc chuyện ăn uống. Có như vậy đôi ta mới còn nhìn thấy lại nhau. Ừ, thì hẹn gặp mặt sau đôi ba tháng đằng đẳng, dài bằng cách hoá thân của mùa màng đông xuân thu hạ. Cuộc đời đã không cho ta một chọn lựa nào khác, phải rứa không Thuận An? Muốn an lành phải nên thuận thảo?

Hồ Đình Nghiêm

Cái chết oan khuất của Nhạc sĩ Minh Kỳ

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

August 20, 2008    

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui

…….
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu”

Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.

Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác. Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, – dù còn ở trên quê nhà, hay tha phuơng khắp chốn – biết đến

Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết.

Đầu tháng 3/75, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị từng sống chết với Cao Nguyên có lệnh triệt thoái. Tôi theo đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài Gòn.

Ngày 28/4/75, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng. Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh ấy xuống tàu di tản. Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết” ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá, chắc không nhỏ. Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi, người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba, mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu đó ngoài Nha-Trang. Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh khốn cùng này.

Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều, nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi. Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/76, và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận đuợc tin buồn.

Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước khi ông chết.

Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân sự Biên Hòa. Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau đuợc chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.

Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một số mới đuợc chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và Cảnh Sát. Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1, còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp (gọi là hậu cần).

Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi. Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha Quân Pháp.

Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới thiệu tôi với anh Minh Kỳ.

Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông bằng Anh và xưng em.. Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng, ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói hơn. Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một nụ cười buồn.

Một đêm, cuối tháng 8/75 (31/08/75),vào khoảng 09:30 tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình, bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí, kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.

Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ, hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử…

Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng một số người bị thương lên bệnh xá.

Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi được đưa lên hội trường. Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm, nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chúng tôi bị “nghiêm khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã dấu diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành quả kách mệnh”(!). Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác” và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”.

Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.

Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hằng trăm lần kiểm soát, vã lại hành trang mang theo của mỗi người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại. Điều quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang đuợc lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?

Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó. Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:

Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại, chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẻm gai. Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8 người bị thương. Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị thương khác. Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình sắp chết nên trăn trối với những bạn tù:

– Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.

Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên :

–  Sao chân lạnh quá!

–  Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!

Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở.

Một cái chết mà chính Ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.

Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa.

Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.

(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá còn hơn cả lựu đạn).

Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự Biên Hòa.

Họ đã bày ra cái trò giết người dấu tay ở Nhà 3, để rồi lại lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.

Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường. Bây giờ, không có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ tham mưu, hay đuợc biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường. Vậy mà bây giờ phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng vẫn không làm giao động được tấm lòng của những người ” kách mạng!”.

Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam “giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện dược bốn ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong một mảnh rừng hoang. Trước mỗi ngôi mộ đuợc đắp đất sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó có tên Vĩnh Mỹ. (Tên trong khai sinh của nhạc sĩ Minh Kỳ  là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỵ (dấu nặng), nhưng có vài ngưới nhầm lẫn là Vĩnh Mỹ). Dưới sự canh gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.

Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô nào đó. Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm. Nhiều đêm sau đó tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi. Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang, đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ, của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè bạn thân quen… Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp trước.

Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn nhiều bi thảm hơn. Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó. Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến cho đời bằng chính trái tim mình. Đặc biệt với những người Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn Ông vì Ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến suốt cuộc đời.

Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của Ông và ngồi xuống viết lại những dòng này.

Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm thương, oan khuất… Cũng để được nói lên lòng tiếc thương một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình Ông.

Bắc Âu, một ngày không có mặt trời

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

PHAN NHẬT NAM

Không! Không được chôn vùi quá khứ,

Bởi anh sẽ mất luôn cả đôi mắt!

(Solzhenitsyn)

Vào tuổi sáu-mươi, người dần mất đi những tính cách, biểu hiện năng nổ, mạnh mẽ của thời trai trẻ, và xem đấy như là một điều thường tình, ắt có. Chuyện sẽ đến, tất phải đến vậy. Và trong tình thế “chẳng đặng đừng” nầy, họ rút ra những “kinh nghiệm khôn ngoan”, cách “ứng xử thuận lý” –

Coi như là tính chất, ưu điểm, thành quả có được từ tuổi già – tất cả sinh hoạt, nhu cầu vật chất, tinh thần đồng lần hạn chế, duy trì ở mức độ vừa đủ. Đủ theo nghĩa khắc kỷ. Biết mình, biết ta. Nhưng có một giới người, một tập thể người, tuy không hơn ai trong nấc thang giá trị của xã hội, nếu không nói phần lớn là thua sút qua so sánh với những tầng lớp xã hội khác về tài sản, công danh thâu đạt, sở hữu.. Tập thể nầy với một sinh hoạt đặc thù dường như không hề bị tác động bởi thời gian và điều kiện sống. Càng về già, nỗi nung nấu từ ngày trai trẻ của họ luôn được duy trì. Không những chỉ duy trì tồn tại, nhưng được nuôi dưỡng, phát triển với mức độ cao, sắc sảo, tinh tế, bền bỉ hơn – Nỗi nung nấu muốn được viết nên những chữ về cảnh đời họ chứng kiến, trải qua. Họ cũng nhận ra, không hẳn cần phải mô tả, nói tới những sự nghiệp ngoại hạng, thực hiện bởi những siêu nhân, kinh qua những tình thế “lớn” có tầm vóc lịch sử, thời đại (như tuổi trẻ họ (có thể) đã một lần nghĩ đến, dựng nên qua chữ viết).

Nay, mối nung nấu trong lòng những người xử dụng chữ, nghĩa kia (bản thân anh là một thành viên không lựa chọn, không thể chối từ) là nỗi canh cánh thao thức viết về những cuộc đời thường …Về những con người như bạn, như tôi .. Những người ta có thể bắt gặp nơi đâu trong suốt những năm tháng dài của thập niên 50, 60, 70, 80 … ở Việt Nam, và nay (qua Thế Kỷ 21), do một nghiệp vận kỳ lạ tràn đi khắp thế giới với từng bi kịch riêng rẽ. Phải, mỗi người, mỗi cảnh đời nơi Miền Nam, ở Việt Nam đã là một bi kịch toàn diện và toàn vẹn – Không phân biệt bất kỳ ai, vào thời điểm nào, trong bất cứ hoàn cảnh sống nào. Hơn thế nữa, qua vị thế người lính trong chiến tranh,  người tù sau chiến tranh, chúng tôi mặc nhiên chứng kiến những điều trông thấy, về người, việc vượt cao quá tầm tưởng tượng – cho dẫu trí tưởng tượng phong phú đến thế nào. Không cần nói đủ, viết hết, chỉ kể ra được một phần nhỏ âu cũng là công việc đáng trân trọng, đánh giá cao. Chúng tôi không nói quá lời về một bổn phận, quan trọng hóa một việc làm mà thật ra chỉ là phản ứng “bất bình tắc minh” – quá nặng lòng nên cố gắng viết lên. Bản thân chúng tôi và người bạn, Huy Phương, cùng đi chung đường kể trên từ một thuở rất lâu. Hơn bốn mươi năm, và nay vẫn tiếp tục với cách thắm thiết, kiên trì … Bởi việc sử dụng chữ nghĩa không chỉ do mối thúc giục nồng nhiệt từ tuổi trẻ ngày xưa, mà nay còn chập thêm sức nặng của bổn phận: bổn phận của người được sống sót khi bao nhiêu người ngã chết. Rất nhiều người đã nằm xuống dài theo cuộc lữ hành gian nan hiện tại chưa hề chấm dứt. Chúng tôi phải nói về người, việc của cuộc trường chinh miên viễn bi thương vĩ đại mà mỗi người chúng ta đã dự phần … Cho dù điều gì cũng có thể xẩy đến trong ngày mai với cái chết đang bền bỉ chờ đợi ở cuối đường, không cho phép công việc nầy hoàn tất.

Người Lính như một uất bận … Chẳng phải đợi sau ngày mãn khóa Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, người viết Huy Phương mới hiểu ra nỗi cay nghiệt thương tâm của cuộc sống Người Lính, những người dùng xác thân (chính xác thân mình chứ không gì khác) để xây đắp nên “vinh quang sự nghiệp” của những kẻ gọi là “công hầu, khanh tướng”. Và như một nghịch lý của vô vàn nghịch lý (rất hợp lý) của đời sống hằng ngày luôn diễn ra (đời quân ngũ càng thêm biểu hiện cụ thể), những nhân sự gọi là quân tướng, công khanh kia hoàn toàn không hiểu ra điều đơn giản (cũng là yếu tố độc nhất): “Toàn bộ cái gọi sự nghiệp của họ được dựng xây nên trên thân xác, mối nhọc nhằn, tân toan nguy nan của mỗi người lính.”

Họ không hiểu như thế (hoàn toàn không thấy ra điều đơn giản bi tráng nầy) nên đã xẩy ra một hoạt cảnh bình thường (rất bình thường) như sau đây qua trí nhớ của sinh viên sĩ quan Lê Nghiêm Kính hơn bốn mươi năm trước:

“Người viết bài này còn nhớ trong cuộc hành quân thực tập cuối khóa 16 SQTB Thủ Đức giữa năm 1963, ông Chỉ Huy Trưởng buổi chiều có theo giám sát cuộc hành quân của chúng tôi, nhưng theo ông là một đoàn xe và cả một tiểu đội lính để dựng lều, có “xi-tẹc” nước cho ông tắm, có cả tủ nước đá lớn và nhiều chai rượu mạnh. Một điều gây ấn tượng mạnh, giờ này, bốn mươi hai năm sau, tôi vẫn còn nhìn thấy như ngay trước mắt tôi, đó là tai nạn sau buổi thực tập tác xạ súng cối 60 ly của Đại  Đội I chúng tôi tại quân trường. Sau giờ học, SVSQ được lệnh đi lượm các vỏ đạn để thu vào một đống. Một bạn đã vô ý ném vào một viên đạn lép 60 ly vào đống vỏ đạn. Một tiếng nổ kinh hồn đã giết mất sáu bạn trong đại đội chúng tôi và hai buấn luyện viên vũ khí, vì lúc ấy tất cả đều đứng quanh đó để chuẩn bị tập họp về trường.

Đại đội trở về doanh trại với một tâm trạng buồn rầu và tang tóc. Phía trong cổng Số 6 (cổng sau ngõ ra Tăng Nhơn Phú), ông Chỉ Huy Trưởng của chúng tôi là Thiếu Tướng Trần Ngọc Tám đang cầm can chỉ huy chờ chúng tôi bên cạnh chiếc xe Hoa Kỳ có gắn bảng sao của ông và đứng gần ông là một người lính cầm trong tay một ly rượu còn sóng sánh vàng với những viên đá cục và tay kia một chai rượu whisky sẵn sàng chờ lệnh chủ. Ngày đó chúng tôi và bạn bè chưa biết là sẽ phải chết vì những viên tướng như thế kia và đó chỉ mới là cái ấn tượng sơ khởi ở một nơi gọi là quân trường, chưa phải là ngoài đơn vị tác chiến.” (Huy Phương; Tạp Ghi “Huynh Đệ Chi Binh”, Người Việt, CA 2005)

Chưa phải là chiến trận, chỉ mới là quân trường, và đối tượng bị thiệt mạng lại là những sinh viên sĩ quan (nhân sự sẽ trở thành sĩ quan, cấp chỉ huy tướng lãnh của ngày mai), còn bị coi rẻ đến thế .. Hỏi thử sinh mạng người lính cấp hàng binh chết nơi một góc đồn hẻo lánh, giữa trận lửa của những năm 1968, 1972, 1975 … sẽ được đánh giá là bao?! Vậy đừng đòi hỏi Người Lính Miền Nam (có thể) làm gì hơn kể từ ngày 10 tháng Ba (ngày đại quân Miền Bắc cường tập tấn công Ban Mê Thuột, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng cho đến 30 tháng Tư, 1975 tàn cuộc .. khi những “lãnh đạo cao cấp, những tướng lãnh chỉ huy” đã đồng loạt bày ra điều bất nhẫn coi thường sinh mạng người lính và gia đình của họ (cũng toàn thể dân chúng Miền Nam) – thái độ mà họ đã thường hằng hành xử, thực hiện suốt cuộc chiến tranh. Ba mươi năm sau định giá lại để có một lần công bằng cho dẫu có muộn màng.

Người Việt Nam, thêm nối dài tiếng than … Nhưng người lính (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) cũng chỉ là một đối tượng riêng biệt (cho dẫu chiếm đa số, thành phần nhân vật trung tâm của hầu hết gia đình người Nam) của chiến tranh, trong chiến tranh. Và khi chiến tranh chấm dứt với ngày 30 tháng Tư, 1975, xã hội Việt Nam nói chung, Miền Nam nói riêng chịu sự tàn phá của cơn lốc “xã hội chủ nghĩa” dậy nên từ những người đồng chủng đến từ Miền Bắc … Cơn bão thù hận sụp xuống với giá trị con người (bị đảo ngược) được quy kết từ “thành phần lý lịch” để toàn bộ thị dân Miền Nam bị xếp hạng nên thành “dân cư loại hai” do tội có “nợ máu với nhân dân” vì những liên hệ với chế độ “Mỹ-Ngụy”.

Vắng mặt người đàn ông trụ cột (do phần đông đã vào trại cải tạo); nhà cửa bị trưng thu; con trẻ bị ném ra khỏi trường học … Tất cả gánh nặng, sự tồn tại của một gia đình đè xuống vai người đàn bà … Và những người vợ, người mẹ của gia đình thị dân Miền Nam bằng một phép mầu có thật (hiện thực cuộc vượt biên vĩ đại qua lớp lớp sóng biển), đưa đơn vị gia đình (đã toàn diện tan nát) hình thành những nhân tố ổn định nơi đất người, tạo nên sức tác động “cứu trợ” ở quê nhà …

Và quê nhà dưới chế độ xã hội chủ nghĩa “thời mở cửa”, đến lúc hứng chịu nghiệp quả “nạn nhân” do sự tàn phá của chính mình gây nên sau ngày 30 tháng Tư của ba mươi năm trước: Xã hội không sản xuất, phát triển qua ngả dịch vụ bàn giấy, cửa quyền; làm hàng gia công; môi trường bị tàn phá; giáo dục xuống cấp … Cuối cùng, con người không còn một cái “vốn” nào khác chính xác thân mình trong một xã hội tiêu thụ với hiện tượng “phồn vinh giả tạo”- nhóm từ ngữ ngày trước Hà Nội dùng để biếm nhẻ xã hội Miền Nam nay đem áp dụng với hiện tại Việt Nam hẳn có phần chính xác hơn”.

Tổng kết lại, người Việt chỉ còn lại phần “vốn” thương tâm, tội nghiệp hơn tất cả, chính là thân xác con người

trong một xã hội không lối thoát. Với chữ nghĩa trầm lắng, nhân hậu, Huy Phương viết nên hành trình “không đường trở lại” của những người nữ Việt Nam trong một dịch vụ buôn bán (đúng ra là buôn thân) gọi là “kết hôn với người nước ngoài”: “…Không ai muốn gả con đi lấy chồng xa, không phải vì còn nhờ cậy lúc tuổi già “gả con thì gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho”, mà chính vì mối tình cảm quyến luyến giữa mẹ con, gia đình: “Mẹ ơi đừng gả con xa, một mai cha yếu mẹ già ai trông?”

Nhưng hôm nay … Có phải ngày nay tấm lòng con không phải còn chơn chất, đơn thuần như ngày trước không, bay là vì tấm lòng cha mẹ đã đổi thay. Cái trò chơi háo hức làm người dự thí để được trúng tuyển lọt mắt xanh được một ông chồng Đại Hàn, Tàu Cộng hay Tàu Quốc rồi bây giờ tới Mã Lai, Singapore đã trở thành một câu chuyện “thường ngày ở huyện”, không dở không hay, không vui mà cũng không buồn. Nó đã trở thành một nếp sống, nói theo chữ dùng của bên nhà là “nếp sống văn hóa” phản ảnh con người và tư tưởng của cái xã hội ấy .. Ngày nay đã là chuyện đương nhiên, nếu việc (gả người con gái ấy) đem về cho gia đình một số lợi nhuận, để cái nhà mình có thể cất lên cao đẹp hơn những cái nhà khác trong xóm, và mặt mày cha mẹ cũng hãnh diện ngẩng cao hơn.

Đời này chúng ta có hằng chục nghìn cô Kiều cũng trẻ thơ xinh đẹp, cha mẹ chưa hề mắc vòng lao lý hay phải hầu cửa quan, chưa vướng lụy nỗi oan gia, mà cũng tự nguyện bán mình. Lý do mà quí cô đưa là nghèo đói làm không ra đủ ăn, không đủ tiền cho cha mẹ trả nợ hay cần sửa nhà, sửa cửa, mua xe. Xem ra thì những lý do đó vẫn quanh quẩn chung quanh chuyện tiền. Trong thời chiến tranh người ta mừng vì sinh con gái khỏi phải cầm súng ra mặt trận, ngày nay đông con gái cũng là điều mang giàu sang lại cho nhiều gia đình.

Thời chiến tranh, Thượng Nghị Sĩ Mỹ Mc Govern khi sang thăm Việt Nam chỉ mới nói một câu: “Saigon là một ổ điếm” mà những người có liêm sỉ đã thấy giận đỏ mặt, hôm nay đất nước này coi chuyện bán thân, làm đĩ là chuyện bình thường thì chúng ta còn dám ngẩng mặt lên nhìn ai nữa! (Huy Phương – “Đi Lấy Chồng Xa”), Người Việt CA 2005)

Nhưng sự việc không hẳn là một chiều – chiều cụ thể của kinh tế, vật chất … Nếu ở trong nước những giá trị tinh thần dần bị vất bỏ, đảo lộn: Mối tương quan cha mẹ-con cái; thầy-trò; nhà cầm quyền-người dân … đồng đặt trên trị giá của những tờ bạc đô-la Mỹ (mà đất nước không hề là một đơn vị sản xuất với định giá “một trong mười nước nghèo nhất thế giới”) thì ở bên ngoài, những người Việt đã một lần kề cận tử sinh lại rơi vào một tình trạng “bất hợp lý”: “ … Trong đời sống hằng ngày, câu thăm hỏi nhau phản ánh đầy đủ tâm trạng và suy nghĩ của con người trong xã hội. Sau tháng 4 – 1975, ở miền Nam, lúc khốn đốn người ta hỏi nhau “Bây giờ sinh sống ra sao, anh đi cải tạo về chưa?” Sau đó năm mười năm thì như một phong trào, câu hỏi đầu

môi mỗi người khi gặp nhau là “Nhà có cháu nào vượt biên không?” hay “Gia đình có ai ở ngoại quốc không?” Nhưng có một điều mâu thuẫn, là cũng những con người đó, sau khi đã vượt biên, tìm đủ mọi cách để ra đi, bây giờ gặp nhau ở ngoại quốc, lại vồn vã chào hỏi nhau “Về Việt Nam lần nào chưa?” Chúng ta nhớ lại, lúc ra đi, ai cũng muốn đi, bây giờ chuyện về Việt Nam lại rộ lên như một phong trào. Đi đâu người ta cũng hỏi nhau về chuyện đã về chưa, về bao nhiêu lần? (Huy Phương, Tạp Ghi “Quẳng Cầy Gậy Trúc”, Người Việt, CA 2005)

Tuy nhiên, một số người Việt không hoàn toàn như thế, họ vẫn giữ nguyên dấu ấn của buổi khổ nạn … Họ giữ lại vết tích của nỗi đau – không để gây chứng cớ thù hận, nhưng tập họp những điều bi thảm trên đoạn đường vượt biên để cho hậu thế và con cháu chúng ta biết thế nào là nỗi gian nguy của thế hệ đã bỏ nước ra đi.

“ … Chúng ta, những người Việt Nam có vụ tàn sát Mậu Thân tại Huế, có tấn thảm kịch trên biển Đông, có những trại tập trung cải tạo, mà tất cả nhân chứng giờ này hãy còn sống ở đây. Những người sống sót được tới bến bờ tự do sau bao nhiêu ngày hãi hùng trên biển cả, những suy nghĩ trong những giờ phút ấy và bây giờ tưởng như đã xa xôi, cách biệt, chẳng muốn nhìn lại con đường đã đi qua …Chúng ta không dạy con cháu hận thù, nhưng những bài học lịch sử cần phải để lại cho đời sau một cách nguyên vẹn, đúng đắn. Chúng ta có thể nào quên được quá khứ và chúng ta sẽ nói điều gì với những thế hệ tiếp nối sau này, nếu thực sự chúng ta không muốn lịch sử sẽ tái diễn và không muốn những nỗi thống khổ của con người trên trái đất vẫn còn tồn tại!

Tục ngữ cổ Trung Hoa có câu “Điều trước thanh trúc can, vọng khứ khiếu nhai thời”, tạm dịch bậy là “Vừa mới quẳng cây gây trúc, đã quên ngay thuở ăn mày” (Huy Phương, Tạp Ghi “Quẳng Cây Gậy Trúc”, Người Việt CA 2005)

Chúng ta không giữ chiếc gậy để xử dụng làm vũ khí tấn công (những kẻ đã đẩy ta vào đường cùng khốn).

Nhưng giữ chiếc gậy cơ khổ để hằng nhắc nhở … Tránh gây nên nỗi đau cho con người. Đừng bao giờ.

PHAN NHẬT NAM

Cali, Cuối Năm Ất Dậu, 2005

Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Từ giã Không đoàn Ðài Nam thuyên chuyển về thủ đô, với tôi là trút gánh nặng tập huấn cho những khóa sinh quá ít kinh nghiệm nhưng phải sớm ra mặt trận. Ngay sau khi đến Yokosuka, tôi xin nghỉ phép và lập tức đáp xe lửa đến Ðông Kinh, chỉ mất chín mươi phút. Gia đình chú thím tôi đã chào đón tôi như một đứa con xa nhà trở về. Tôi báo trước cho Hatsuyo bằng thơ nên cô em họ của tôi chưng diện bộ kimono mới nhất, vừa cắt may hãy còn thơm mùi vải. Gương mặt Hatsuyo rạng rỡ cố kềm vui sướng. Hatsuyo viết thơ cho tôi mỗi tuần kể lể những gì xảy ra chung quanh nàng; từ xưởng nhồi thuốc đạn cho đến trường học của em Michio đã cắt giờ học thay bằng việc may túi vải cho binh sĩ; hay giá một tô mì sưki đã tăng gấp đôi. Mỗi lá thơ tôi cũng kể cho Hatsuyo nghe những gì xảy ra trong công tác của mình. Tôi huấn luyện các khóa sinh tập định vị trí máy bay giữa trời ra sao. Cả những tiệc chia tay sau mãn khóa tôi cũng kể cho Hatsuyo nghe. Chúng tôi chung tiền trả cho các ca kỹ để nghe hát và không có gì đáng trách, vì không có gì khác, nhưng tiếng đàn của các geisha làm tôi buồn bã và tôi không muốn tham dự nữa. Trong thơ hồi âm, Hatsuyo nói hy vọng tôi sẽ không muộn phiền khi nghe nàng đàn. Hatsuyo theo học nhạc từ bé, những ngày còn ở nhà chú thím tôi vẫn thường nghe Hatsuyo tập đàn, tuy tiếng đàn khi ấy còn non nớt.

Chú thím tôi mừng vui ôm lấy tôi khi tôi bước vào nhà. Em Michio không ngớt trêu trọc tôi là ra dáng sĩ quan, duy chỉ có Hatsuyo có phần bẽn lẽn. Thím tôi với các em đã chuẩn bị mọi thứ, ngoài thịt heo bọc bột mì chiên vàng ruộm còn có súp củ mài với rau củ, nấm, rong biển và cá ngừ.

Ðêm đó, sau bữa ăn, Hatsuyo bắt đầu trách cứ về việc chậm lập gia đình của tôi. Giọng nàng nghiêm trang một cách đáng buồn cười. Tôi trả đũa ngay. “Tại sao em vẫn một mình, em của anh? Chưa có anh chàng nào đủ điều kiện phải không?”

Chú thím tôi ngừng nói chuyện, quay lại cười chúng tôi. “Anh em bây ồn ào quá!”. Chú tôi chế giễu.

Tôi cười: “Con không hiểu tại sao Hatsuyo không kiếm ra một ông chồng. Coi cô ta kìa. Ðẹp như một minh tinh màn bạc, và có bao nhiêu cô tự phụ đánh đàn giỏi hơn?” Tôi vừa nói với chú thím vừa nhìn Hatsuyo. “Con tin rằng chú có thể lựa cho em Hatsuyo một tấm chồng xứng đáng.”

“Nó khó tánh lắm.” Chú lắc đầu.

Cả chú thím tôi đều cười, nhưng Hatsuyo xụ mặt. Nàng liếc tôi rồi nhìn đi nơi khác. Ánh mắt của nàng xa xôi và trách móc một chuyện gì đó. Chú thím tôi đứng lên nói chúng tôi hãy cứ trò chuyện, còn chú thím vào nhà trong nghỉ sớm. Em Michio cũng về phòng. Trong nhà chỉ còn lại hai chiếc bóng của Hatsuyo với tôi lung linh trên vách. Hatsuyo lặng lẽ thu dọn chén bát rồi vặn nhỏ tim đèn trước khi trở lại quỳ gối đối diện tôi. Búi tóc nàng được búi kỹ lưỡng với trâm cài. Tôi thấy phải phá tan yên lặng.

“Vừa nãy anh nói không phải sao, Hatsuyo?”

Nàng không lý gì đến tôi. Không trả lời. Hatsuyo ngoảnh mặt đi nơi khác. Tôi giựt mình, nàng giận rồi. Tôi chuyển vấn đề ngay.

“Hatsuyo, dạo dương cầm cho anh nghe đi! Từ khi nghe em dạo đàn đến giờ đã lâu lắm rồi.”

Nàng nhìn tôi đầy nghi vấn. “Có thật anh muốn nghe em đàn không? Em chỉ đàn khi anh thật muốn nghe. Có thật là anh muốn nghe không Saburo?”

Giọng nàng rất nghiêm nghị. Tôi nói nhanh, “Em có nhớ lần phép đầu tiên của anh không Hatsuyo? Em dạo nhạc của…, để anh nhớ coi… phải rồi của Mozart. Em có thể dạo lại bản nhạc đó cho anh nghe không?”

Thay cho câu đáp, Hatsuyo bước đến chiếc dương cầm và ngồi xuống. Những ngón tay nhẹ bấc của nàng lướt trên phím ngà, ai có thể ngờ là chiến tranh đang diễn ra khốc liệt trên Thái Bình Dương lúc này? Tôi nhắm mắt và nhìn thấy lại những cuồng lửa xanh đốt cháy đêm, những chiến đấu cơ với oanh tạc cơ cất cánh hàng loạt trên phi đạo trước khi nhấc mình lên không trung và biến mất trong mây để rồi rất nhiều những đồng ngũ không bao giờ quay về. Còn tôi đang ngồi đây giữa một buồng khách bài trí thanh nhã ở Ðông Kinh, trong ấm áp sau một bữa cơm tối đầy đủ, trong thương yêu vây quanh của những người thân trong một gia đình xem tôi như con. Trong lúc các đồng đội đang chết trận. Một thế giới tương phản.

Tiếng nhạc dứt. Ngôi nhà rơi vào trầm lặng. Hatsuyo ngồi yên hồi lâu, rồi quay lại nhìn tôi với ánh mắt lạ lùng. Ðôi mắt mở lớn và dò hỏi ấy… Rồi nàng dịu dàng nói: “Saburo, em muốn dạo một khúc nhạc khác, đặc biệt cho anh. Hãy lắng nghe. Khúc nhạc ấy sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.”

Nàng có vẻ lạ lùng làm sao! Má nàng phơn phớt hồng e thẹn và nàng lảng nhanh đôi mắt sau khi nhìn tôi chăm chăm. Chưa bao giờ tôi thấy Hatsuyo trong trạng thái ấy.

Nàng dạo khúc nhạc một chập nữa. Tiếng nhạc trầm bổng. Tôi nhìn cô gái này. Chưa bao giờ tôi thấy nàng như vậy. Ý nghĩa gì khi nàng nói: “Khúc nhạc sẽ nói với anh những gì mà chính em không thể thốt nên lời.”

Tiếng đàn của Hatsuyo tiếp tục vang lên, càng lúc càng mạnh mẽ. Các thanh âm đuổi bắt nhau cuồng nhiệt. Bỗng nhiên tôi hiểu, tôi đang nhìn Hatsuyo, không nhìn như một cô gái nhỏ, không như một người em họ chung huyết thống với tôi, nhưng tôi đang nhìn nàng như một thiếu nữ! Lần đầu tiên, tôi thật sự “nhìn thấy” nàng, chăm chú trên phím đàn, mười ngón tay nhảy múa, khuôn mặt say mê, như rót hết tâm hồn nàng vào tiếng nhạc. Hai cườm tay Hatsuyo nhấc lên thoăn thoắt, có lúc đan chéo và búng mười ngón tay trên phím.

Hatsuyo? Và tôi..? Ý nghĩ làm tôi chấn động. Nhưng, nàng không còn là một cô bé nữa. Hãy thức tỉnh, Sakai, anh thật ngu muội. Nàng là một thiếu nữ. Nàng đang nói với anh, trong giây phút này, rằng nàng yêu anh! Hãy nói yêu em là tiếng đàn của nàng. Bây giờ tôi hiểu những gì mà nàng muốn bày tỏ. Trong lúc bồng bột, tôi muốn đáp trả. Không thể được, tôi nhủ thầm. Nhưng đó là sự thật. Tôi nhớ lại lúc còn trong bịnh viện, khi nàng choàng tay qua tôi, kéo tôi vào nàng và thổn thức nói rằng nàng tin chắc tôi sẽ được bay trở lại. Mỗi tối nàng sẽ khấn nguyện cho tôi bình phục… Nàng đã yêu tôi lâu hơn tôi tưởng. Vào lúc ấy, trong sâu thẳm của lòng tôi, tôi cũng yêu nàng.

Tôi nhận thức đã nghĩ đến nàng thường xuyên và tôi đã viết thơ cho Hatsuyo nhiều hơn viết cho Fujiko. Suốt ba năm chiến trận tôi gần như chỉ tâm sự với một mình nàng và nàng chăm chỉ hồi âm cho tôi từng lá thơ một. Những tháng nằm bịnh viện không tuần nào nàng không vào thăm, không tháng nào mà nàng không gửi cho tôi những thùng quà nhỏ, tuy không có chi mắc tiền nhưng là những chiếc bánh ngọt, lọ mứt do chính tay nàng làm lấy. Bao giờ cũng có những dòng chữ trìu mến, “Saburo, anh hãy ăn nhiều, hết rồi em sẽ làm thêm. Nói cho em biết là anh thích gì…” Làm sao tôi đã ngu ngốc không nhận ra. Từ tấm bé Hatsuyo đã lẽo đẽo theo tôi, chúng tôi như hai con lăng quăng. Khi bay giữa trời nhiều lần tôi nghe tiếng nàng cười khúc khích trên mây. Và tôi hay nhoẻn cười một mình mỗi khi nghĩ đến nàng. Nhưng tôi có thể làm gì được? Tôi đã từ chối tình yêu của Fujiko bởi lẽ tôi đui mù một nửa, bởi lẽ tôi không muốn Fujiko phải lấy một tấm chồng thương phế binh. Tôi có thể làm khác hơn với tình yêu thầm kín của Hatsuyo không? Không.

Khi tiếng dương cầm chấm dứt, tôi cố giữ bình tĩnh, không hề để lộ vẻ gì cho nàng thấy là tôi đã cảm thông nỗi lòng của nàng. Tôi nán lại một lúc cho phải phép rồi kiếu từ đi nghỉ. Chúng tôi nói chuyện nhát gừng pha im lặng đầy vụng về. Hatsuyo cúi gập lưng khi tôi đứng lên, nàng không ngước lên chào lúc tôi về phòng mà nhìn xuống sàn gỗ trong dáng quỳ kính cẩn. Trải qua nhiều giờ, tôi không sao chợp mắt được. Ánh mắt đăm chiêu lo lắng của Hatsuyo sau bản đàn, cử chỉ lúng túng của nàng bám lấy tôi suốt đêm.

Buổi sáng tôi ra đi thật sớm để tránh đối diện với Hatsuyo nhưng nàng đã dọn sẵn điểm tâm và đợi tôi ở phòng ăn. Nàng đã phải thức rất khuya vì hai mắt nàng quầng thâm trên da xanh xao. “Saburo, em đã cầu nguyện cho anh tối qua được lành lặn và bình an như em vẫn khấn hàng đêm cho anh.” Nàng nói. “Em biết có lỗi đã bắt anh thức khuya với em đêm qua, em xin anh thứ lỗi, em sẽ biết ý tứ hơn.” Nàng nói chậm rãi, nghiêm trang. “Hatsuyo, em không có lỗi gì cả, chính anh…” Tôi không nói được hết câu. Khi ấy chú thím tôi bước ra. Tôi chào chú thím mình với Hatsuyo rồi ra đi.

Thiếu tá Christopher Huynh (gốc Việt), Trưởng phòng chiến lược dữ liệu không gian, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on September 3, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 Sep 2026

Thiếu tá Christopher Huynh được trao tặng giải thưởng xuất sắc dành cho Sĩ quan Trưởng Phòng dữ liệu không gian (hình của linkedin.com).

Thiếu tá Christopher Huynh được bổ nhiệm chức Trưởng phòng chiến lược dữ liệu không gian, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ tại Washington D.C từ tháng 5 năm 2025. Ông là Sĩ quan chuyên viên trí tuệ nhân tạo và dữ liệu hỗ trợ bộ phận kỹ thuật số (S6D) của Bộ Tư lệnh Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (HQ USSF). Văn phòng này chịu trách nhiệm thiết lập các chính sách, khuôn khổ và tiêu chuẩn toàn diện cho việc thu thập, lưu trữ, giải quyết và bảo mật dữ liệu, bảo đảm tuân thủ các yêu cầu pháp lý, quy định và nhiệm vụ quan trọng để ra quyết định và hiệu quả hoạt động trên toàn Lực lượng Không gian Hoa Kỳ.

Thiếu tá Christopher Huynh từng là Nghiên cứu sinh Quốc phòng tại Trung tâm an ninh và công nghệ mới (CSET) của Trường Đại học Georgetown. Ông chỉ huy điều hành các nhóm tại Western Range hỗ trợ các hoạt động phóng Phi thuyền vũ trụ và thử nghiệm hoả tiễn, cũng như tại Văn phòng tình báo Quốc gia (NRO), nơi ông điều chỉnh hỗ trợ tình báo cho các Chiến binh và Nhà hoạch định chính sách. Sau đó, ông giữ chức Trưởng phòng học thuật của Guardian Education, nơi ông đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập một chương trình giáo dục quân sự chuyên nghiệp độc lập cho các Chiến binh không gian. Gần đây nhất, ông là Sĩ quan điều hành cho các hoạt động tương lai tại Phòng tình báo Quốc gia, dẫn đầu các nỗ lực đa cơ quan nhằm bảo vệ và phòng thủ năng lực của Bộ quốc phòng và Cộng đồng tình báo không gian.

Lực lượng Không gian Hoa Kỳ (USSF) là Quân chủng tác chiến không gian trong sáu Lực lượng quân sự của Quân đội Hoa Kỳ, và là một trong tám Lực lượng đồng phục của Quốc Gia này. Được thành lập lần đầu vào ngày 1 tháng 9 năm 1982 với danh xưng là Bộ tư lệnh vũ trụ Không quân. Ngày 20 tháng 12 năm 2019, Lực lượng Không gian được tách ra thành một Quân chủng độc lập với việc ký kết đạo luật Không gian Hoa Kỳ, một phần của đạo luật ủy quyền Quốc phòng Quốc gia năm 2020. Lực lượng Không gian Hoa Kỳ được tổ chức thành một Quân chủng trong Bộ Không quân, một trong ba Bộ quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Không quân là người đứng đầu Lực lượng Không gian do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện xác nhận, và tường trình trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đây là lực lượng quân sự có quân số ít nhất trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Lực lượng Không gian hiện nay do Đại tướng B. Chance Saltzman làm Tư lệnh, ông xuất thân là Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ.

Thiếu tá Christopher Huynh “giữa” và các nhân viên Phòng dữ liệu không gian trong buổi lễ nhận giải thưởng xuất sắc (hình của linkedin.com).

Thiếu tá Christopher Huynh thụ huấn và tốt nghiệp Học viện Không quân Hoa Kỳ (USAFA) với Văn bằng Cử nhân khoa học-tín hiệu quân sự/tình báo không gian địa lý, năm 2013. Sau khi ra trường, Thiếu tá Christopher Huynh được chỉ định lần lượt phục vụ tại các đơn vị từ tháng 4 năm 2014 đến nay được ghi nhân: Sĩ quan kiểm soát dàn phóng, vận hành hệ thống Phi thuyền vũ trụ, kiểm soát tầm bắn và các ứng dụng an toàn tại căn cứ Không quân Vandenberg; Giảng viên kiêm Sĩ quan điều hành Trường phóng phi thuyền và hoả tiễn tại căn cứ Không quân Vandenberg; Trưởng phòng điều hành huấn luyện tại căn cứ Không quân Vandenberg; Trưởng Phi hành đoàn yểm trợ hoạt động tại Santa Barbara, California; Sĩ quan Phụ tá Giám đốc điều hành tại Santa Barbara, California; Sĩ quan chỉ huy nhóm 10 nhân viên hỗ trợ hệ thống hợp tác Liên hợp, cung cấp hỗ trợ khẩn cấp 24/7 cho các khách hàng Quốc gia, chiến lược và chiến thuật bằng cách vận hành các quy trình của NGA và NRO, phối hợp với các chuyên gia về lĩnh vực liên quan tại Washington D.C; Chỉ huy trưởng Phi hành đoàn yểm trợ hoạt động không gian tại Washington D.C; Sĩ quan Trưởng phòng học vụ, Guardian Education; Sĩ quan điều hành, Phi đoàn Không gian Delta 13, Bộ Tư lệnh huấn luyện và sẵn sàng Không gian tại Montgomery, Alabama; Giám đốc Điều hành, Space Delta 21, văn phòng tình báo Quốc gia (NRO), tại Washington D.C; Nghiên cứu sinh Quốc phòng Trung tâm an ninh và công nghệ mới (CSET) tại Washington D.C; và hiện nay, Trưởng phòng chiến lược dữ liệu không gian, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ tại Washington D.C.

Thiếu tá Christopher Huynh tốt nghiệp các Văn băng: Văn bằng Nghiên cứu sinh Quốc phòng, Trường Đại học Georgetown, Bộ Không quân Hoa Kỳ, năm 2025; Văn bằng Cao học kỹ thuật hệ thống ứng dụng, Viện Công nghệ Không quân Hoa Kỳ (U.S. Air Force Institute of Technologynăm) năm 2020; Văn bằng Cử nhân khoa học – tín hiệu quân sự/tình báo không gian địa lý, Học viện Không quân Hoa Kỳ (USAFA), năm 2013.

Sĩ quan gốc Việt mang cấp Thiếu tá phục vụ trong Lực lượng không gian Hoa Kỳ ngoài Thiếu tá Christopher Huynh còn có khoảng 30 vị khác đang phục vụ các ngành trong Lực lượng không gian, một số vị được ghi nhận bao gồm: Thiếu tá Jesse Nguyen, Sĩ quan tác chiến Lực lượng không gian; Thiếu tá Ronald Nguyen, Sĩ quan tác chiến, Lực lượng không gian; Thiếu tá Simon Duong, Sĩ quan quản lý chương trình, Lực lượng Không gian; Thiếu tá Tan Van, Chỉ huy phó Hệ thống Delta 88, Lực lượng Không gian và các Thiếu tá Hai Hoang Duong, Tung T H Ngo, Tuan U Tran, Thomas V Truong, Brandon D Nguyen, Thomas V Truong, Minh Cao Pham, Duc M Bui, Dan T Nguyen, Quang N Tran và Maichi M Tran. Một số Thiếu tá Không quân gốc Việt chuyển sang phục vụ Lực lượng không gian.

Kỳ tới: Trung tá Tan Van (gốc Việt), Chỉ huy phó Hệ thống Delta 88, Lực lượng Không gian Hoa Kỳ.

Nguồn: cset.georgetown.edu; linkedin.com; bienxua-Thiếu tá Jesse Nguyen (gốc Việt), Sĩ quan tác chiến Lực lượng không gian Hoa Kỳ.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 3 Sep 2026

Ðây là bài thứ nhất tôi viết về Thanh Nam, một người bạn thân trong số vài người bạn thân của tôi từ xưa tới nay. Khi Thanh Nam mất ở Mỹ, tôi hoàn toàn không biết và dù có biết cũng chưa thể “nói gì” với nhau được khi Việt Nam còn “mù internet” và hoàn cảnh của tôi cũng chẳng dễ chịu chút nào. Thấm thoát thế mà đã hơn hai mươi năm. Ngày giỗ Thanh Nam lại đến. Tôi chỉ còn nhớ có một người bạn nào đó gửi cho tôi một bài và vài tấm hình về những ngày tháng cuối cùng của Thanh Nam, có các cháu Mai Hương, Quỳnh Giao… đến bên giường bệnh hát cho chú nghe lần cuối. Những chi tiết làm tôi cảm động. Bùi ngùi nhớ lại khoảng thời gian dài chúng tôi sống và làm việc cùng nhau từ tòa soạn báo Ðiện Ảnh của anh Nguyễn Ngọc Linh rồi đến Kịch Ảnh của Ông Quốc Phong đến tòa báo Chiến sĩ Cộng Hòa của Quân Ðội.

Nhưng nhiều kỷ niệm nhất vẫn là những ngày tháng Thanh Nam chưa lập gia đình. Hầu như mỗi buổi tối chúng tôi thường ngồi với nhau hoặc ở một quán cà phê, hoặc ở một quán ăn, hoặc ở một “dancing” nào đó, mà thường là Tự Do, Mỹ Phụng giữa Sài Gòn.

Có Thanh Nam là có Mai Thảo, Hoài Bắc, đôi khi có cả các anh Vũ Khắc Khoan, Mặc Ðỗ. Các ông này uống rượu tì tì, tôi thì không dám uống vì bịnh bao tử, nên chỉ ngồi ăn giỗ mồi. Có khi các ông ấy say khướt, người tỉnh nhất là tôi nên phải lái xe đưa các ông về từng nhà. Có lúc hứng, tan tầm ở tiệm nhảy Baccara đã là 3-4 giờ sáng, các ông ấy đòi đi Vũng Tàu – Ðà Lạt cùng với mấy em ca-nhe nổi máu điên bất tử, tôi cũng lại là người lái xe. Ðúng là những anh tỉnh táo thường bị thiệt.

Từ ngày Thanh Nam lập gia đình với chị Túy Hồng, chàng có vẻ ngoan hơn và tôi cũng ít có dịp đi chơi với Thanh Nam. Chúng tôi vẫn cứ nói lén là chỉ có cô gái Huế mới làm chàng lãng tử dừng bước chân giang hồ. Một điều dễ nhận ra là Thanh Nam đã từng quen biết khá thân thiết với với ít nhất 3 người đẹp, toàn là danh ca, kể cả tân nhạc và cải lương, nổi tiếng ở Sài Gòn thời đó mà không một người nào giữ chân Thanh Nam được. Chỉ có Túy Hồng mới làm được việc này.

Tuy nhiên, trước khi kể về những ngày tháng đó, tôi phải xin lỗi chị Túy Hồng vì kỷ niệm nào “thời son trẻ” cũng không… qua ải mỹ nhân. Chính vì điều này nên tôi cứ ngần ngại mãi, định dành cho một dịp khác. Nhưng chị Lai Hồng và chị Lê Thị Huệ chủ biên website Gió-O cứ khuyến khích mãi, kể rằng chị Túy Hồng biết hết các chuyện đó rồi, chính chị ấy cũng viết về những “người đẹp” mà Thanh Nam đã từng quen biết. Cứ viết đi, không sao đâu. Vậy nếu chị Túy Hồng có buồn thì nhớ buồn luôn cả những người đã “xúi” tôi nhé. Thật tình tôi cũng mong có một lần được “sống lại” cùng một người bạn trên những dòng chữ này. Tuy nhiên, ở đây tôi chỉ xin nhắc lại vài kỷ niệm nhỏ đủ để “góp giỗ” cùng bạn bè.

Thời Thanh Nam Mới Ra Lò

Tôi quen biết Thanh Nam từ năm 1951 hay 1952 gì đó khi tôi từ Hải Phòng đi với Cuồng Phong lên Hà Nội. Tôi gặp Thanh Nam, Huy Quang, Phan Nghị, Nguyễn Minh Lang trong một khu Hội Chợ bên Hồ Gươm. Lúc đó các ông này là một tổ phụ trách việc phát thanh trong hội chợ. Toàn những anh mới lớn mà được giao một nhiệm vụ khá quan trọng. Bởi dù sao những anh “nhóc mới lớn” này, đều đã từng có tiểu thuyết xuất bản hẳn hoi. Người lớn tuổi và nổi tiếng nhất thời đó là Nguyễn Minh Lang với những cuốn tiểu thuyết đầy vẻ “lãng đãng” như Cuộc Ðời Một Thiếu Nữ. Nguyễn Minh Lang như cái đầu tàu. Sau đó là Thanh Nam, hai người như lá bài trùng, chỉ khác là Nguyễn Minh Lang đã có vợ con và còn có cả một người yêu mà anh thường tự phụ là “đệ nhất danh ca Bắc Hà”. Sau này Nguyễn Minh Lang cũng điêu đứng vì niềm tự hào ấy. Chỉ Thanh Nam là vẫn nhởn nhơ ngoài vòng cương tỏa. Bẵng đi một thời gian, tôi được động viên vào Thủ Ðức, ra trường tôi ở Trường Commandos Nha Trang rồi sau đó về làm ở Ban Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến, tôi mới có dịp gặp Thanh Nam nhiều hơn.

Những Nơi Thanh Nam Sống Và Làm Việc

Khi đó Thanh Nam làm ở Ðài Phát Thanh Quân Ðội với Vũ Quang Ninh và Huy Quang Vũ Ðức Vinh, cùng một lô các nghệ sĩ nổi tiếng như Ðan Thọ, Anh Ngọc, Vũ Huyến, Nhật Bằng, Ngọc Bích, Xuân Tiên, Xuân Lôi… Công việc của anh là biên tập viên, có lẽ anh phải làm đầu bếp, “nấu nướng” đủ các món hầm bà làng từ tin tức đến bình luận, phóng sự và hợp tác trong những chương trình ca nhạc đặc biệt. Ngoài ra chương trình phát thanh Tao Ðàn trên đài phát thanh Sài Gòn, do thi sĩ Ðinh Hùng phụ trách cũng có Thanh Nam.

Hồi đó ba chàng nghệ sĩ Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư thường thuê nhà ở chung vì cả ba người đều không có gia đình cùng vào miền Nam. Từ ngõ Phan Văn Trị, đến con hẻm bên rạp Quốc Thanh và cuối cùng là Building Cửu Long nằm trên Ðường Hai Bà Trưng. Cả ba ông nghệ sĩ nổi tiếng này chỉ có một căn phòng hẹp téo, chiều ngang chừng 2 mét, vừa đủ kê một chiếc giường cá nhân và một lối đi. Thường là các ông ấy chia phiên nhau, một anh nằm trên giường, hai anh nằm dưới sàn nhà. Mãi sau này Thanh Nam mới sắm được một cái tủ lạnh, trong chứa la-de nhiều hơn đồ ăn.

Cuộc Đời Quân Ngũ Dính Liền Với Nghiệp Phóng Viên

Thanh Nam vào quân đội theo diện “đồng hóa” tức không phải lính động viên mà là lính do nhu cầu chuyên môn, được nhập ngũ theo khả năng phục vụ. Những văn nghệ sĩ có tiếng thường được nhập ngũ vào những phòng “tác động tinh thần” hay Phòng 5, sau này là Chiến Tranh Tâm Lý. Cũng như các anh Phạm Xuân Ninh tức Hà Thượng Nhân, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Côn… Phục vụ một thời gian nhất định rồi giải ngũ.

Sau thời gian phục vụ ở Ðài Quân Ðội, Thanh Nam được giải ngũ. Anh quay về với nghề làm báo. Cái số của tôi và Thanh Nam hay đi liền với nhau ở các tờ báo dân sự. Từ Truyện Phim, Kịch Ảnh, Tiếng Vang, Thời Thế đến các tờ báo của những ông chủ báo miền Nam như Tiếng Chuông, Phụ Nữ Diễn Ðàn… đều có mặt. Thời kỳ này, Thanh Nam vẫn ở Building Cửu Long, nơi có khá nhiều nghệ sĩ, nhà quay phim, phóng viên thuê phòng ở trọ bên cạnh phòng năm ba em ca-ve ở Sài Gòn. Ðã ở chung thường coi nhau như “người nhà” chứ không có những chuyện lộn xộn khác.

Buổi tối chúng tôi thường ngồi ở Phòng Trà Hòa Bình của anh Ngọc Bích. Hầu hết ca sĩ trẻ hạng A, đều “chạy xô” qua đây. Từ Bạch Quyên, Minh Hiếu, Bích Chiêu, Băng Tâm, Thùy Nhiên, Thanh Thúy, Ngân Hà, Trúc Mai… đến ca sĩ hạng B mới ra lò nhiều triển vọng cũng được các ông bầu gửi đến cho tập tành “xuống núi.” Chúng tôi viết cho vài tờ báo chuyên về sân khấu kịch trường nên quen biết khá nhiều và cũng có khối chuyện lơ mơ… cho vui cuộc đời. Thanh Nam là một chàng rất dễ thương, nhưng có “tật” thích những cô đào hạng nhất của các sân khấu, nhất là sân khấu cải lương.

Tôi nói là thích chứ không phải yêu. Rất nhiều lần, sau khi ngà ngà say, Thanh Nam rủ tôi và Mai Thảo đến phía sau sân khấu đoàn Thanh Nga… xem đào cải lương trang điểm và… rung đùi ngồi sau cánh gà xem diễn.

Tài Đạo Diễn

Hôm nào có tuồng tích mới, bà bầu Thơ gửi vé mời, chúng tôi có ghế hàng đầu ngồi, như những VIP chính hiệu. Tôi nhớ có một lần ngồi ở hàng ghế đầu xem vở diễn mới, khán giả chật ních. Mai Thảo xem được một lát bèn dựa đầu vào thành ghế ngủ ngon lành, ngáy o o.

Cuối đêm diễn, bà bầu Thơ mời đi ăn đêm ở nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bên Sông Sài Gòn, tất nhiên là có cả cô con gái cưng và là “đào nhất” Thanh Nga. Bà bầu Thơ chỉ nói “chắc là vở diễn hôm nay không hay nên các anh không chú ý”. Thanh Nam hiểu ý nên càu nhàu với Mai Thảo: “Mày hại tao rồi”. Chắc bạn hiểu vì sao.

Mai Thảo vốn chiều bạn nên chỉ cười xòa.

Bức ảnh đẹp nhất của nữ nghệ sĩ Bích Sơn mà anh Cao Lĩnh chụp là do Thanh Nam đạo diễn. Khi lên phòng Thanh Nam, tôi thấy bức ảnh đó, Thanh Nam kể: “Bích Sơn có mái tóc dài rất đẹp, chưa ai khai thác thành công bằng tao. Mày biết không, trên tấm drap trắng giường tao kìa, Bích Sơn nằm nghiêng, trải mái tóc ra, uốn nắn một tí, xoay ngang tấm ảnh lại, giống hệt gió đang bay “mái tóc thiên thần” chứ có phải chụp ở ngoài trời đâu”.

Tôi lại biết Thanh Nam có thêm tài đạo diễn nữa.

Nhưng tất cả những chuyện tạm gọi là các mối tình “lửng lơ” như thế chấm dứt lúc nào không biết. Bởi anh chàng nhà văn này lúc bình thường, không uống rượu thì rất đàng hoàng và với tôi đó là một anh rất “nhát gái”. Cứ ngồi nói chuyện như một cuộc phỏng vấn chứ không dám tỏ thái độ “thân thiện” nào. Nhưng khi uống rượu rồi thì chân tay quờ quạng như chiếc xe vọt hết tốc độ. Những người đẹp đâm hoảng. Thật ra chỉ vài ly la-de là đã đủ “vật ngã” anh chàng hiền lành đó rồi. Vì thế ngoài cái biệt danh “người rung đùi”, anh còn một biệt danh nữa là “ba băm ba”, tức chỉ ba ly bia 33 đã say. Bình thường Thanh Nam rất chiều bạn, nhưng đến lúc đó thì hầu như tất cả bạn bè đều chiều anh.

Ðáng Lẽ Của Thanh Nam Lại Là Cái Tội Của Tôi!

Tôi với Thanh Nam còn một chuyện khá “khôi hài” nữa. Sau khi Thanh Nam tái ngũ, anh về làm báo Chiến Sĩ Cộng Hòa với tôi suốt thời gian tại ngũ lần thứ hai.

Dịp Tiểu đoàn 30 Chiến Tranh Chính Trị tổ chức tuyển chọn ca sĩ vào phục vụ, tôi và Nhật Bằng được cử làm đại diện Phòng Báo Chí và Ðài Phát Thanh Quân Ðội, kéo theo Thanh Nam sang làm giám khảo.

Có một cô rất xinh, khỏe mạnh và hát cũng rất khá, được ban giám khảo chấm điểm cao. Tôi và Nhật Bằng đều đã có gia đình nên bàn nhau giới thiệu cho Thanh Nam. Vài hôm sau, khi đi ăn tối với nhau xong, tôi đề nghị Thanh Nam đưa cô bé đi xem phim. Nhưng cô bé níu tay tôi nói “anh Thanh Nam say rồi, em đi với anh được không?”. Thế là Thanh Nam lại cho tôi thêm một cái tội nữa. Cũng may cho tôi, cuộc tình chỉ kéo dài vài tháng rồi chia tay… trong êm đềm.

Tất cả các cuộc tình của Thanh Nam đều nhẹ nhàng, dường như chẳng có chuyện nào làm anh mất ăn mất ngủ, kể cả khi người đẹp sang ngang. Chỉ có một cuộc tình, theo tôi, là “đáng kể” nhất.

Thanh Nam được giải ngũ, vài năm sau vì nhu cầu quân lực mở rộng, lại được lệnh tái ngũ. Trung Tâm nhập ngũ Quang Trung, gần Sài Gòn, đông quá nên một số quân nhân được gửi ra Trung Tâm nhập ngũ Ðà Nẵng học tập. Vào các dịp Tết Nguyên Ðán, tôi thường đi làm phóng sự Tết Ðơn Vị. Lần đó, tôi xin sự vụ lệnh đi miền Trung, tất nhiên đã tính tới chuyện ghé qua Ðà Nẵng “lôi” Thanh Nam ra khỏi Trung Tâm Huấn Luyện đi giang hồ.

Ngày 28 Tết đi xe lửa ra đến Ðà Nẵng, tôi đến thẳng tư dinh của tướng Ðỗ Cao Trí thăm ông vì đã có thời gian tôi làm việc với ông ở Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 ở Pleiku. Nói là thăm nhưng mục đích là xin ông cho Thanh Nam đi cùng tôi làm phóng sự trong quân đoàn của ông từ đây cho đến Bến Hải.

Ðêm Trên Đèo Hải Vân

Tướng Ðỗ Cao Trí rất “hắc búa” nhưng cũng rất “chịu chơi”. Ông điện thoại ngay cho Trung Tâm yêu cầu cho thượng sĩ Trần Ðại Việt — tên thật của Thanh Nam — trình diện Tư Lệnh Quân Đoàn.

Hôm đó là ngày Trung Tâm được nghỉ, cả bộ chỉ huy chạy tán loạn, bủa đi tìm Trần Ðại Việt khắp thành phố Ðà Nẵng. Họ đâu có biết tôi và Thanh Nam đã gặp nhau ở nhà một người bạn. Tôi phải điện thoại cảm ơn tướng Trí đã tìm thấy rồi. Tết đó, tôi và Thanh Nam trên chiếc xe “jeep” đi khá nhiều đơn vị. Một đơn vị đáng nhớ nhất là đồn Bảo An đóng trên đỉnh đèo Hải Vân, cao chót vót. Chúng tôi ăn một cái Tết trên đỉnh đèo với sương mù dăng ngang túi quần. Nhưng trước khi tôi đi Ðà Nẵng, một nữ ca sĩ mà tôi coi như cháu gái đã cẩn thận gửi theo một túi quà cho “chàng”. Tất nhiên không thể thiếu một “cánh thư hồng”, chở đầy nước mắt nhớ thương.

Thú thật lúc đó tôi mới biết chắc mối tình này của Thanh Nam là “nặng” và là “thật”. Lâu nay tôi cứ ngỡ, đó chỉ là chuyện “nhẹ nhàng” giữa “chú cháu” rồi lại như “ngàn năm mây bay”, như những chuyện trước đây tôi đã chứng kiến. Anh chàng quân nhân ngoài… tiền tuyến đó suốt cuộc hành trình ôm gói quà bên mình. Anh lấy ra một chiếc khăn, không phải là khăn thêu mà là một chiếc khăn len quàng cổ, có vẻ người tình mới mua ở chợ Bến Thành. Anh đứng giữa ba quân dõng dạc tuyên bố đây là quà của người yêu tôi gửi từ Sài Gòn ra, tôi sẽ làm giải thưởng cho bạn nào kể chuyện tình hay nhất.

Cuộc thi kể chuyện tình đó vào đêm 29 Tết trên đỉnh đèo Hải Vân, một anh lính láu cá chiếm được giải thưởng hí hửng lắm. Chẳng biết anh giữ được đến bao giờ hay cũng mang tặng cho người yêu của mình? Ðúng ngày 1 Tết, chúng tôi ra đến Bến Hải vào các đơn vị Pháo Binh, Bộ Binh, rồi sau đó nghỉ lại nhà ông Ninh Con và bà Phượng vài ngày, lúc đó đang ở Huế.

Cuối cùng rồi những cuộc tình cũng đã qua, chỉ còn lại một. Cuộc đời cũng đã qua, chỉ còn những kỷ niệm.

Kỷ niệm thì quá nhiều, nói làm sao cho hết.

Tôi viết những hàng này như một nén hương cho bạn tôi vào đúng ngày giỗ Thanh Nam 2-6-2007.

(Sài Gòn, 2-6-2007)