Sài Gòn- Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

POst by Sơn râu 5 Sep 2026

Chuyện tôi sắp kể với các bạn là một chuyện tình rất đặc trưng ở vùng quê, từ thời chiến sang thời bình.

Và, chỉ ở nhà quê tôi mới biết được chuyện này cùng những chuyện tương tự như thế. Có rất nhiều tình tiết lạ lùng và cũng không kém phần hấp dẫn, tôi đã định viết thành một truyện dài mới diễn tả được hết những con người cùng những chi tiết trong đời sống những nhân vật có thật đó. Nhưng ở đây, tôi buộc phải tóm tắt nên đành gác lại một số tình tiết với những chuyện không kém phần thú vị xoay quanh các nhân vật chính.

Có dịp viết truyện dài, tôi sẽ viết tỉ mỉ hơn.

Mời bạn đọc vừa giải trí vừa tìm hiểu tính chất thời đại, của một trong những chuyện tình ở vùng quê ra sao.

***

Ông Phú là một ông “sếp” trong hai toán thợ làm nhà cho ông chủ xe đò. Nghe nói toán thợ này từ Bình Dương qua, chứ ở xóm này không còn thợ giỏi. Những thợ có tay nghề cao, hầu hết về thành phố kiếm ăn, còn những thợ vớ vẩn thì nhào vô làm ở những công trình của nhà nước, như xây mấy cái nhà tập thể, làm mấy cái trụ sở, mấy cái vườn hoa dọc theo những con đường lớn. Những nơi đó thì làm kiểu nào cũng được, có nghiệm thu cũng là anh em nhà cả, hoặc có cái “phong bì” là xong.

Ông chủ xe đò sắp cưới vợ cho cậu con trai lớn nên xây một cái nhà “ra cái nhà”, hoành tráng để “không mất mặt” với bà con trong ấp, trong xã, nên phải đi Bình Dương kiếm thợ. Lúc này, dân có tiền, có tí danh vọng ở nhà quê, như quản lý thị trường, ông chủ tiệm buôn bán xe máy, anh thư ký xã, bà chủ nhà hàng bán vật liệu xây dựng, chịu khó thi đua xây nhà đẹp, nhà lớn chứ không thi đua sản xuất cho hợp tác xã, không thi đua lập thành tích cho hội nông dân, hội phụ nữ nữa. Những kiểu thi đua như thế chỉ dành cho mấy anh còn bám vào mấy cái chức vụ linh tinh trong Uỷ Ban nào đó ở huyện, ở xã thôi. Và thi đua lấy lệ cho có “phong trào” chứ ai hơi đâu đi lo “chuyện tào lao.” Ông Phú là một ông “sếp” đám thợ xây, có tí chuyên môn cao, khác với toán thợ hồ, chuyên làm những việc táp nham, khuân xi măng, trộn hồ, đẩy xe “rùa”. Ông là người nhiều tuổi nhất và cũng được hơn hai chục thợ trẻ “khoái” nhất. Công việc của ông không rảnh, cũng chẳng bận bịu gì lắm. Lúc nào cần như làm móng, đổ tấm thì ông xắn quần, cởi áo, hò hét đám thợ làm túi bụi. Nhưng khi thợ xây làm công việc bình thường thì ông mắc võng dưới tàn bằng lăng nằm phì phèo thuốc lá. Ông có mấy tay thợ đàn em, lo cơm nước ngay trên “công trường”. Gọi là công trường cho oai chứ thật ra chỉ là cái bãi cát sỏi lồi lõm đầy vết bánh xe trước cửa nhà ông chủ xe đò chạy đường Bù Đốp – Bến xe Miền Đông Sài Gòn.

Khi căn nhà xây gần xong, tôi sang nhà ông chủ xe đò, nhờ ông Phú cho thợ xây giùm tôi cái hàng rào trước nhà để chắn nước lũ từ triền đồi đổ xuống. Hai hôm sau, ông Phú sang nhà tôi. Hình như ông biết về gia đình tôi do người trong xóm nói lại. Ông thân mật, cởi mở ngay từ phút đầu. Trò chuyện về công việc xong, ông thổ lộ:

– Nói chuyện với ông dễ dàng hơn mấy ông chủ nhà ở đây. Mặc dù tôi với ông là “hai chiến tuyến” từ xưa. Nhưng thú thật, tôi không hợp chuyện với mấy tay từ thời đó cho tới bây giờ.

Tôi chẳng hiểu nguyên nhân tại sao và cũng không tiện hỏi, nhưng thấy ông Phú rất chân thật, dễ gần. Tôi mời ông ở lại ăn cơm tối với chúng tôi, nhà chỉ có hai người. Ông vui vẻ nhận lời. Buổi tối, chúng tôi ăn cơm ngoài hàng hiên nhìn ra khu vườn trước mặt.

Bữa cơm chỉ có món tép rang khế, tô canh cá diêu hồng ao nhà, đĩa rau ghém thái chỉ theo kiểu “Bắc kỳ” chính hiệu. Ông gật gù khen ngon và ăn như… tàu hoả. Thấy khách vừa lòng món ăn nhà mình, chúng tôi cũng vui lắm. Ông chỉ cho chúng tôi cách trồng cây có nhiều trái ngon, nuôi cá sao cho mau lớn, giữ gìn vườn tược cách nào đỡ tốn kém và hiệu quả nhất. Rõ ràng ông là dân làm vườn chính hiệu. Ông tặc lưỡi nói:

– Nghề của tôi có phải là nghề xây dựng đâu. Thằng bạn tôi làm nhà thầu lớn ở Bến Cát, nó lôi tôi về ở với nó một thời gian rồi thành nghề luôn.

Ông mỉm cười nói tiếp:

– Trước kia tôi là dân cách mạng đấy chứ. Nhưng… là dân cách mạng bất đắc dĩ thôi. Thời đó ở những vùng quê như vùng này, không cách mạng cũng không được. Cũng như các ông không đi lính “quốc gia” cũng không được. Phải không?

Tôi ừ ào cho qua, bởi giải thích với ông là không đúng lúc. Ông Phú lại kể tiếp:

– Lẽ ra tôi cũng như những anh khác, bây giờ cũng làm lớn, cũng xe hơi nhà lầu đấy. Nhưng… có nhiều chuyện khó nói lắm. Mỗi người một số phận. Tôi có lỗi nên bị tụi nó gạt ra ngoài, khi “giải phóng” rồi, mấy đứa bạn tôi, đứa nào cũng khá cả. Chỉ có tôi là long đong. Nhưng xét cho cùng, tôi không ân hận gì cả.

Chuyện không đầu không cuối đó, chỉ là thứ nói cho vui, cho hiểu nhau chút ít mà thật ra chẳng hiểu gì. Ông Phú ngồi với tôi khá lâu, một lúc sau mới ậm ờ kết luận:

– Có những thằng bất mãn vì bị bỏ quên, vì không được làm lớn, không được ăn nhiều như anh em khác, nó chửi vung tàn tán. Nhưng tôi chưa hề chửi ai cả. Những thằng chửi bậy chửi bạ toàn là thứ ghen ăn tức ở thôi. Tôi hiểu rõ như thế nên không bao giờ vào hùa với tụi nó. Tôi chỉ giả ngu giả điếc cho nhàn. Vả lại chuyện của tôi khác hẳn với chuyện lôm côm của tụi nó.

Ông Phú nhìn quanh rồi ghé tai tôi nói nhỏ như tiết lộ một bí mật ghê gớm lắm:

– Ông biết không, tôi chỉ là thằng chết vì tình. Tôi trố mắt nhìn. Ông Phú giải thích kỹ hơn:

– Chết vì đàn bà, ông hiểu chưa?

Tôi gật đầu ra điều tâm đắc, nắm bàn tay gân guốc sù sì của ông:

– Hiểu. Tôi cũng không thua gì ông đâu.

Tiếng cười ồm ồm của ông Phú vang lên trong khu vườn tĩnh mịch làm những con dế im bặt, những ngọn cây ngọc lan dường như bất mãn vì ông phá giấc ngủ êm đềm của chúng. Ông Phú gât gù:

– Tôi đã nghe hàng xóm của ông kể về ông rồi. Ông cũng là tay có “số đào hoa” lắm. Vì thế tôi mới nói với ông chuyện của tôi. Để lúc nào sang làm hàng rào cổng nhà ông, tôi sẽ kể ông nghe.

Tôi thú vị coi như vớ được ông bạn “tri kỷ” ở chốn thôn quê này. Dân thành phố có chuyện tình thành phố, dân nhà quê có chuyện tình nhà quê. Tôi cũng sẵn sàng kể cho ông nghe tuốt mọi chuyện của tôi, do thói quen chẳng cần giấu giếm bao giờ, mà có giấu cũng chẳng được. Việc gì phải giấu. Cái số như thế thì cứ để nguyên cho nó như thế. Vả lại mình không dám kể chuyện của mình thì làm sao người ta thành thật kể hết với mình được. Cho nên tôi định bụng tuần sau, khi toán thợ sang làm, tôi sẽ lại mua thịt rừng về mời ông Phú ăn cơm tối để “moi” chuyện của ông cho vui.

Nhưng khi mấy người thợ sang làm ở nhà tôi thì ông Phú chỉ đưa sang rồi về gấp Bến Cát, vài hôm sau mới trở lại. Có một anh thợ cả, khoảng trên bốn mươi, trong lúc nghỉ trưa, tôi hỏi về ông Phú, anh này kể:

– Bố ạ, bác Phú đến bây giờ vẫn chưa có vợ đấy. Cháu là cháu họ và là người cùng quê với bác Phú nên cháu biết rõ. Chuyện của bác Phú… lôi thôi lắm.

Có lẽ anh ta muốn nói là “chuyện ly kỳ lắm”.

***

Duyên, cô gái 16 tuổi con bà thợ may ở cái xóm chợ rất xinh đẹp, trắng trẻo, khác hẳn những cô gái lam lũ ở vùng này. Cô chỉ học hết lớp ba rồi về phụ mẹ may đồ, suốt ngày ngồi bên chiếc máy may Singer ngay trước mặt chợ. Căn nhà khá khang trang, phía ngoài là cửa hàng, phía sau là nhà ở với người anh trai và một cô em gái.

Phú, con trai ông thư ký đồn điền, 17 tuổi, học ở trường huyện gần đó, có vẻ như đang “gò gẫm” cô gái mới lớn phổng phao này. Nhưng một cô gái như thế chẳng phải một mình Phú để ý mà năm bảy cậu vừa đôi phải lứa cũng đang tán nhăng tán cuội mỗi khi có dịp lượn qua hàng thợ may. Trong số đó có Tân, một anh chàng vừa bằng tuổi Phú cũng có hy vọng lọt vào mắt xanh của Duyên. Tân không được đi học như Phú, song lại được ông chú ruột truyền cho nghề thợ điện là một nghề hiếm có thợ chuyên môn ở nhà quê thời đó. Ngoài các việc sửa chữa ba thứ đồ điện gia dụng cho các nhà khá giả, Tân còn có thể quấn mô-tơ cho những máy bơm nước để bán hoặc đi sửa chữa cho những nhà làm vườn trong vùng. Nhờ vậy Tân có đồng ra đồng vào rủng rỉnh, ban ngày thì quần áo dầu mỡ đen đủi, song tối đến ăn mặc bảnh bao, lượn qua lượn lại qua hàng thợ may.

Có thể nói lúc đó Phú và Tân là hai đối thủ, nhưng hai cậu này lại khá thân với nhau. Bởi họ học với nhau từ hồi còn nhỏ và cả hai đều thích đá bóng và đá khá hay. Có lần trường của Phú đá với đội của công ty cao su, Phú phải mượn Tân đá “thuê”, uống một chầu nước mía. Nhưng việc bại lộ do đội banh công ty cao su thua to nên khám phá ra Tân không phải là học sinh trường huyện, họ bèn kiện lên Ty Giáo Dục. Rồi cũng huề, đội của trường huyện chỉ bị đội công ty cao su… chửi một thời gian, có lần hai phe suýt đánh lộn. Dĩ nhiên Tân và Phú đứng cùng một phe. Nếu có chuyện cãi vã, thậm chí sô sát là hai người luôn “sống chết bên nhau”.

Nhưng đến chuyện Duyên thì chẳng ai nhường ai.

Tuy có “chiến tranh”, nhưng là học trò mới lớn, mới biết yêu nên chẳng ai thổ lộ với ai. Cả hai cùng làm ra vẻ lững lờ, thỉnh thoảng chịu không nổi, nói chuyện về Duyên, cả hai cậu đều giấu biệt “cái đuôi” của mình.

Tình thế nhập nhằng kéo dài cả năm rồi Phú tấn công trước. Trong lớp học của Phú có nhiều tay “quân sư” rất khá. Chúng bày cho Phú đủ trò tán tỉnh để chiếm lấy tình yêu. Phú nhiều phen mang thư tình đi qua hàng thợ may rồi lại mang về, run quá không dám gửi.

Người chị của Phú thường hay ra may đồ ở cửa hàng nhà Duyên. Chị Ly vốn là học sinh ở thành phố nên hiểu rõ lòng em. Duyên lại rất thân và kính trọng chị Ly của Phú. Thỉnh thoảng ở thành phố về nhà, chị Ly mua cho Duyên một hai món quà nhỏ, cái trâm cài tóc, cái lược đồi mồi hoặc đôi dép “con hổ” Thái Lan.

Một lần chị Ly vô tình nhìn hộc bàn học của Phú, thấy lá thư tình chưa gửi hay không dám gửi. Chị lặng lẽ cầm ra, ngồi tâm sự với Duyên rồi trao luôn lá thư cho Duyên. Duyên rất bất ngờ, song vẫn nhận thư. Chị Ly đòi Duyên trả lời, nhưng Duyên cứ đỏ mặt làm thinh. Chị Ly nói là Phú đang mong và gia đình chị cũng đang mong.

Với một gia đình như Duyên, bố làm phu đồn điền, mẹ làm thợ may, được một chàng rể có học, con nhà gia giáo là mừng lắm rồi. Và Duyên cũng vậy. Tất nhiên, vào tuổi 15-16, cô gái thừa biết cậu con trai nào muốn “bờm xơm” với mình nhưng cứ giả vờ như không biết gì. Tự trong lòng Duyên, cô đã thầm để ý đến Phú nhiều hơn cả. Cho đến gần ngày chị Ly phải trở lại thành phố theo học, lúc đó chị mới nói cho Phú biết lá thư được gửi đi. Phú choáng váng, bởi khi lá thư biến mất, Phú đã tìm nhưng không thấy làm cậu băn khoăn mãi. Lúc đó Phú rất khó chịu với chị song chuyện đã rồi, có trách chị Ly cũng thế thôi. Vả lại, cậu cũng mừng đã có người quyết định giùm mình một dự tính làm cậu mất ăn mất ngủ.

Cậu mắc cỡ đến nỗi không dám đi qua hàng thợ may. Thế nhưng tình yêu vẫn chiến thắng tất cả, cậu Phú lại lảng vảng qua hàng thợ may. Phú để ý thấy Duyên lén nhìn mình rồi đỏ mặt cúi xuống. Hai ba lần như thế, Phú tin Duyên đã “chịu đèn”. Ánh si-nhan chớp chớp làm Phú nôn nao. Một ngày trước khi chị Ly trở về Sài Gòn, chị nhờ Duyên đưa vào sóc Thượng mua mật ong cho mấy người bà con ở thành phố. Tất nhiên chị Ly cho Phú đi theo. Chị Ly đèo Duyên trên chiếc xe đạp của bố, Phú đi xe đạp của mình. Ở vùng này, thời đó có cái xe đạp là bảnh lắm. Chuyện tình của hai người bắt đầu từ đó.

Duyên trở nên bạo dạn hơn. Những buổi hẹn hò bắt đầu ở các con đường vắng. Đôi khi họ xử dụng những chiếc chòi của mấy nhà trồng tiêu, trồng điều giữa rừng, làm tạm để trông coi và có chỗ trú chân khi mùa tiêu chín. Khi tiêu còn non, những cái lán, cái chòi bỏ không. Tha hồ tâm sự chẳng ai biết. Mỗi người đến nơi hẹn vào một khoảng thời gian và con đường khác nhau. Những cô gái quê hiền lành chân thật tưởng như không bao giờ cho ai đụng đến bàn tay mình, lại trở nên đằm thắm, cuồng nhiệt trong mối tình đầu. Khi nụ hôn thứ nhất đã trao đi, men say của tình yêu không kìm hãm được. Nhất là trong một nơi hoàn toàn vắng vẻ giữa chốn rừng già.

Hai cô cậu đắm mình trong hạnh phúc và hai gia đình cũng đã biết. Họ dự định cho Phú đậu xong cái tú tài mới làm đám cưới. Mối tình như trở thành công khai.

Hai gia đình xích lại gần nhau hơn, thân thiện đi lại thăm hỏi nhau. Thật ra khoảng cách giữa gia đình một “ông thư ký” và một “anh phu đồn điền” là khoảng cách khá xa ở chốn này. Nhưng ông bà Phiên, bố mẹ Phú vốn sinh trưởng ở thành phố, làm việc với người Pháp ở đồn điền, nên có quan niệm sống khá mới. Ông không hề phân biệt gì với gia đình Duyên.

Ngược lại gia đình Duyên vẫn giữ lễ phép hơi thái quá với gia đình Phú.

***

Rồi thời thế đổi thay. Chiến tranh ác liệt tràn về vùng này. Những người Pháp dần dần rút khỏi đồn điền. Cả một cơ sở lớn gần như bỏ hoang. Ông Phiên không còn chỗ làm và cũng sợ vạ lây nên tạm thời xin được một chỗ dạy học ở Bến Cát. Gia đình ông bóp nhặt lâu ngày, mua được vài mẫu đất ở đây. Bà Phiên phải ở lại trông coi vài mẫu cà phê và mở tạm ngôi hàng bán tạp hoá ở chợ kiếm sống. Phú theo bố về Bến Cát, việc học hành của cậu cũng dang dở. Chị Ly lấy một người chồng Pháp trước kia cũng làm việc ở đồn điền, đã theo chồng về Pháp.

Phú về Bến Cát một thời gian với bố rồi khi tình hình chiến sự tạm yên mới trở lại sống với mẹ. Nhưng mọi sự đã đổi thay. Gia đình Duyên đi đâu không rõ, bỏ cái tiệm may vắng khách cho người em chồng trông coi. Một thời gian sau, Phú mới biết, gia đình Duyên đã theo “kháng chiến”. Bố Tân cũng theo “cách mạng”. Riêng Tân vẫn ở căn nhà cũ với ông chú và cũng chẳng cần biết bố mình đi đâu. Bố

Tân đi được một thời gian, mẹ Tân bỏ nhà theo người tình đi biệt, chẳng bao giờ có tin tức. Nhưng nghề làm thợ điện của chú cháu Tân lúc có chiến sự đói khách lắm nên có khi Tân phải làm phu hồ.

Rồi đùng một cái, “giải phóng”, mọi sự lại đổi thay, rối tung rối xoè. Gia đình Duyên lừng lững trở về cùng đoàn tiếp thu các cơ sở hành chánh. Bố Duyên lên chức bí thư huyện. Mẹ Duyên làm chủ tịch công đoàn, được phân công quản lý nhân viên công ty cao su. Duyên trở thành cô gái “cách mạng” hoạt động hăng hái nhất.

Trong khi đó bà Phiên, mẹ Phú phải trở về Bến Cát vì ở đây họ coi gia đình bà như một gia đình làm việc với Tây, có vài mẫu đất là thành phần địa chủ. Ông Phiên cũng phải bỏ nghề dạy học lên Sài Gòn kiếm ăn với bạn bè, làm đủ thứ nghề chẳng ra nghề gì. Thời buổi này chữ nghĩa không còn giá trị gì, chỉ cần cái lý lịch cá nhân.

Phú học hành dở dang, anh cũng làm đủ thứ việc kể cả việc làm thợ hồ cho các ông chủ quen biết với bố anh từ xưa. Nhưng biến chuyển quan trọng nhất là bố Tân trở về, lúc này ông làm việc ở một cơ quan trung ương. Sau đó ông được cử về giữ một chức then chốt trong bộ máy hành chánh của tỉnh. Tân đang là một thợ hồ, thợ điện, bỗng được bố cất nhắc cho làm ở sở điện lực huyện và chẳng mấy lúc giữ chức trưởng ty. Từ trưởng ty nhảy sang quản lý thị trường. Gặp thời “mở cửa” nên tiền vào như nước. Rồi nhảy lên chủ tịch.

Đám cưới của Duyên và Tân được tổ chức rất lớn.

Cái thời ăn thịt một con gà phải cắt bằng kéo để che tiếng chặt thịt, giấu kỹ như làm truyền đơn phản động, thời ấy qua rồi, lúc này người ta cần khoe của, khoe nền văn minh hiện đại trên con người và trong căn nhà của mình.

Lúc này Phú cũng đang cùng ông chủ thầu xây dựng làm một cơ sở lớn ngay tại đây, nhưng chẳng ai còn nhớ đến anh. Vợ chồng Duyên và Tân dường như chỉ có những người bạn mới, khá đông quan chức đi xe hơi từ tỉnh về dự. Họ là bạn của bố Tân và vài người trẻ tuổi “trèo cao” là bạn của Tân. Duyên vẫn đẹp và còn rực rỡ hơn vì cô đã biết son phấn, đi giày cao gót, mặc áo veste, hột soàn đeo vài cái như hạt ngô trên các ngón tay.

Duyên biết Phú làm ở công trình gần thị trấn, đôi lần cô đi ngang, thấy Phú, cô ngần ngại rồi quay lưng đi luôn. Hai người sống trong cùng thị trấn nhỏ này, có khi họ vô tình gặp nhau giữa đường, song cứ làm như không quen biết. Nỗi đau tím ruột, nhưng Phú đành câm lặng.

Cho đến một ngày, trong toán thợ của Phú có vài anh say rượu đánh lộn ngoài quán cà phê. Phú phải lên công an bảo lãnh cho họ về. Họ bị nôp phạt và bồi thường tiền cho chủ quán. Phú và cả toán thợ không có một cắc dính túi nên chưa được thả. Bữa đó chẳng hiểu Duyên có việc gì hoặc lên họp với ty công an. Cô thấy cảnh đó nên can thiệp cho toán của Phú được trở về tiếp tục làm việc. Đủ biết uy tín của vợ chồng Duyên rất lớn. Nhưng khi Phú định ngỏ lời cảm ơn thì Duyên đã biến vào phòng họp.

Lại một lần nữa Phú cay đắng, anh nghĩ thái độ đó của người yêu cũ coi như trả nợ tình xưa vậy thôi? Anh đã định bỏ đi nơi khác, nhưng công trình không có người trông coi nên đành nấn ná ở lại. Suốt ngày Phú lầm lì không nói chuyện với ai. Phú vẫn có một số bạn bè cũ ở đây, biết rất rõ về mối tình của Phú và Duyên. Vài anh thợ trẻ cũng biết chuyện. Có người trách móc vợ chồng Duyên – Tân bạc bẽo và có những anh thợ trẻ hung hăng, còn dám chửi bới lèm bèm về cái tội bỏ rơi bạn bè.

Những an ủi kiểu đó khiến Phú đau thêm, vết thương càng rỉ máu. Ngoài mặt, Phú ra vẻ bình thản, song chẳng đêm nào Phú không nghĩ đến Duyên và những giây phút âu yếm thuở đầu đời. Phú nhớ từng cử chỉ ngượng ngập nhưng rất tình tứ của Duyên, từng tiếng nói, từng hơi thở trong từng nụ hôn của cô gái nhà quê mới lớn. Mối tình tưởng có thể quên nhưng càng gợi nhớ khi hàng ngày trước mặt Phú, Duyên vẫn hạnh phúc, cao sang bên chồng… danh giá, tưởng như chọc vào mắt Phú. Anh không thể quên và càng thêm thù hận.

***

Bữa đó một bạn cũ của Phú mới làm xong một ngôi nhà phía trong lô cao su. Vào buổi trưa ngày Chủ nhật, Phú được mời tới dự. Người bạn cũng có chút chức tước ậm ờ trong cái Ủy Ban Chữ Thập Đỏ, thân chinh đến mời cả vợ chồng Duyên và Tân. Nhưng Tân đi công tác trên tỉnh nên không đến được. Chỉ có Duyên đến với hai chai rượu Tây trên tay, chứng tỏ mình thuộc thành phần “cấp cao” ở nơi này.

Chuyện trò rôm rả, nhưng hầu như Duyên chỉ liếc qua nhìn Phú và cố tránh không bao giờ ngồi chung bàn với Phú. Sự thờ ơ đó của Duyên không qua mắt được những bạn cũ của hai người. Họ cũng tỏ vẻ khó chịu nhưng chỉ nhìn Phú bằng ánh mắt thương hại. Càng như thế Phú càng đau thêm. Không chịu nổi, Phú lấy xe gắn máy ra về trước.

Hôm đó lần đầu tiên Phú uống khá nhiều rượu.

Chiếc xe chuyếnh choáng rời khỏi con đường nhựa cũ mấp mô, xen lẫn đất đỏ, quành vào một khu vườn tiêu. Đây cũng chính là nơi xưa kia Phú và Duyên đã từng hẹn hò. Bây giờ khu vườn này cũng chính vợ chồng Duyên mới mua lại với cái giá rẻ mạt trong khi hạt tiêu rớt giá. Bây giờ tiêu lại lên giá nên vườn tiêu đáng giá bạc tỉ.

Phú dừng xe, một phần vì con đường hẹp và lầy lội, Phú lại hơi say. Phần khác, chính Phú cũng không hiểu vì sao mình lại không đi nữa. Anh nhìn cái lán mới làm sau vườn tiêu xanh tốt ngút ngàn. Kỷ niệm ùa về như thác lũ, khiến Phú không thể nào đi được. Anh dừng lại bên vệ đường trong buổi xế trưa âm u.

Một lát sau, khi trời đổ mưa, bóng dáng Duyên bất ngờ hiện ra cuối con đường đất đỏ. Chiếc xe gắn máy mới tinh, loạng choạng bò trên mặt đường trơn trượt. Phú thấy tim mình đập rộn ràng. Con đường vắng ngắt, chỉ có Phú và Duyên. Phú nẩy ra ý định gặp Duyên và nói… những gì cần nói mà bao lâu nay Duyên không cho Phú cơ hội. Nghĩ vậy, nhưng ngay lúc này, Phú cũng chẳng biết phải nói thế nào, nói những gì.

Như con mèo rình chuột, khi Duyên đi qua, Phú bất ngờ nhảy ra, cản tay lái. Duyên hốt hoảng sững người, chiếc xe lăn kềnh xuống con mương. Duyên hỏi lớn:

– Anh muốn gì?

Phú cố cất tiếng ôn tồn:

– Tôi muốn cảm ơn vì bữa nọ cô đã can thiệp cho chúng tôi ở công an.

– Anh khỏi cần cảm ơn. Tôi thương hại những người thợ thôi. Anh không được phép cản đường tôi như thế.

Phú giận tái mặt, gầm lên:

– Em có thể tệ bạc đến như vậy sao?

– Chuyện của tôi và anh hết rồi, tôi đã có chồng. Chồng tôi là gì anh biết chứ?

– Biết thì sao?

– Anh ấy có thể bỏ tù anh bất cứ lúc nào.

Sự đe dọa đó càng làm Phú uất thêm. Duyên không hiểu trong trường hợp này, điều đó còn hơn là một liều thuốc kích thích cho đối phương hăng máu thêm.

Phú hất hàm:

– Ừ, có giỏi nó bỏ tủ tôi đi. Tôi thử xem nó bỏ tù tôi được không.

Phú như người điên, anh túm lấy cổ áo Duyên kéo về phía mình. Duyên ngã vào vòng tay Phú, chiếc cổ áo bằng lụa mỏng manh rách toạc làm lộ bộ ngực căng đầy nõn nà. Phú kéo Duyên vào con đường mòn. Duyên càng giẫy dụa, Phú càng xiết chặt. Anh bế xốc Duyên lên mang vào căn chòi gần đó sau những lùm tiêu, lên tiếng dọa nạt:

– Em kêu là anh giết em rồi tự tử theo. Anh không mất em dễ dàng như thế đâu.

Quả nhiên lời đe dọa của Phú với những cánh tay lực lưỡng đang xiết lấy cô đến nghẹn thở, có hiệu lực. Duyên không dám phản kháng mạnh nữa.

Phú quăng Duyên lên chiếc sàn tre ọp ẹp.

Chẳng biết tự bao giờ, thân hình Duyên phơi ra trong bóng tối mơ hồ của chiếc chòi chập hẹp. Như một hành động vô thức, Phú chồm lên, hung hãn và thèm khát tưởng có thể nuốt sống người đàn bà dưới mình.

Cơn điên dã thú vừa xong, Duyên vẫn nằm thở dốc.

Phú ngơ ngác, đẩy đống quần áo cho Duyên. Không nói một câu nào, Phú cũng chẳng biết phải làm gì thêm nữa. Duyên lại đe dọa:

– Tôi sẽ đi tố cáo anh hiếp tôi. Đồ… tồi.

Phú vẫn im lặng. Dường như lúc này Phú ý thức được mình là tên tội phạm nguy hiểm sẵn sàng chờ bất cứ hình phạt nào đến với mình. Mặc cho Duyên vừa mặc quần áo vừa nguyền rủa đe dọa, sau cùng Phú nói:

– Anh không thèm trốn đâu, em cứ làm cái gì em thấy phải làm.

– Được, anh cứ đợi đấy. Cho anh rũ tù. Phú lì lợm:

– Đi tù vì em cũng đáng lắm. Anh không hối hận đâu.

Anh đòi lại cái gì của anh.

Duyên bước xuống những bậc thang tre.

Cô thất thểu bước giữa những hàng tiêu rậm lá, ra đường tìm chiếc xe còn nằm dưới đường mương đầy cỏ dại. Phú lững thững đi theo, anh đứng sững chứng kiến Duyên leo lên xe, hầm hầm nổ máy cho xe lao nhanh trên con đường vẫn còn mưa như trút nước.

***

Câu chuyện đó im bặt. Chẳng biết Duyên có nói với chồng hay không. Phú vẫn sẵn sàng chờ đợi một lúc nào đó mấy cậu công an đến còng tay mình đưa về trụ sở. Đúng như đã hứa, anh không thèm trốn. Nếu bị điều tra, anh sẽ khai hết sự thật và nếu phải ra trước tòa anh cũng chẳng làm họ mất thì giờ, anh nhận hết mọi tội lỗi.

Nhưng mọi chuyện xảy ra khác hẳn với những gì Phú dự đoán. Một buổi tối, Phú vừa về đến nhà trọ, anh nhận được mảnh giấy của đứa bé mang lại. Đứa bé nói:

– Con đợi chú từ chiều.

Đó là lá thư ngắn của Duyên. Nét chữ như gà bới nhưng lời lẽ lại quá… tình tứ:

“Tối nay, 7 giờ, gặp em ở chỗ anh đã h… em nhé”.

Phú không kịp ngạc nhiên, anh xem đồng hồ, lúc đó đã là 7 giờ kém 15. Phú hấp tấp nhảy lên xe phóng tới nơi hẹn. Trời đầy sao, lại có mảnh trăng thượng tuần lơ lửng đầu núi. Phú không thấy xe của Duyên, có lẽ cô giấu xe ở một lùm cây nào đó. Phú dúi đại xe vào sau đống cỏ dại um tùm, nhảy ba bước lên thang tre. Căn chòi hơi tối, Phú đã thấy Duyên nằm dài ra đó.

Và… dường như cô không mặc gì.

Phú ngẩn ngơ một chút rồi cúi xuống. Duyên choàng lấy đôi vai lực lưỡng của Phú. Tiếng nàng vẳng lên nũng nịu như một người tình thiết tha nhất:

– Đi đâu làm người ta đợi…

– Ờ thì anh mới nhận thư của con bé mang lại là phóng đến ngay.

Phú chỉ thấy hàm răng trắng của Duyên ánh lên. Chàng ngây ngô hỏi:

– Em không bỏ tù anh sao? Tiếng Duyên cười nhỏ:

– Sợ hả?

Phú dứt khoát:

– Đã nói anh không thèm trốn là anh không sợ. Có chết vì em anh cũng vui, còn hơn là chết hay ở tù vì những thứ khác lãng nhách. Không đáng là đàn ông.

Duyên xúc động quằn người lên xiết chặt lấy Phú:

– Chính vì tìm được người đàn ông như anh quý thế cho nên làm sao em bỏ tù anh được. Phải để anh tự do mà… yêu em chứ.

Phú vẫn chưa hiểu hết những diễn biến trong lòng Duyên. Anh lừng khừng hỏi lại:

– Không ai biết chuyện của chúng mình chứ?

– Tất nhiên là không, mà dù có biết cũng phải im.

– Sao vậy?

Duyên lắc mình như con rắn:

– Thôi, lát nữa em nói cho nghe. Anh giỏi chữ nghĩa, nhưng đến những chuyện như thế này thì anh không biết được đâu. Thời này thằng giỏi làm phu hồ, thằng dốt làm quan là chuyện thường tình. Lát nữa em mới nói.

Phú chỉ còn biết làm theo lời Duyên. Ánh trăng lờ mờ chiếu qua những tấm phên mỏng rách vừa đủ soi hai thân hình trong cuộc tình vụng trộm điên dại.

Chẳng biết thời gian trôi qua bao lâu, Duyên mới lại rì rầm hỏi Phú:

– Thế nhận được thư em anh không ngạc nhiên sao?

– Ngạc nhiên lắm chứ.

– Anh không sợ đây có thể là một cái bẫy để chồng em bắt quả tang, đưa công an đến còng tay anh cho vào tù à?

– Anh không bao giờ nghĩ tới điều đó. Mà dù có biết như thế thì anh cũng vẫn cứ tới. Ở tù vì em còn hơn là ở tù vì hối lộ, vì ăn cắp…

Và với sự thông minh của mình, Phú nói thêm:

– Để em hiểu rằng lúc nào anh cũng còn yêu em như ngày xưa, còn hơn xưa…

Nụ hôn cháy bỏng của Duyên bít môi Phú lại và quăng Phú xuống sàn tre một lần nữa. Họ nằm bên nhau, khi những bông hoa rừng mùa xuân cũng vừa nở.

Ngón tay Duyên vẽ trên vai Phú hai chữ P. và D. như ngày xưa họ vẫn vẽ trên con đường đất đỏ đầy xác là khô khi mới yêu nhau. Duyên lại thủ thỉ:

– Anh yên tâm, dù Tân có biết cũng không dám làm gì đâu. Một người đang có chức có quyền như anh ấy không ai dại gì mang chuyện lôi thôi của gia đình mình ra mà kiện tụng um sùm. Mất uy tín và mất chức như chơi. Cho ăn kẹo anh ấy cũng không dám hé môi. Vả lại, anh biết không, hồi sau này có chức có quyền, thằng chồng em cũng đi liên miên, bồ bịch loạn xạ, rượu chè đàn đúm với đám quan to quan nhỏ, đàn em đàn anh lu bù. Nó có con bồ ruột là một con bé chân dài, mới 20 tuổi, là sinh viên ở Sài Gòn, nghe nói nó cho con kia nhiều tiền lắm. Em nói thật nhé, có khi nó bỏ “đói” em cả tháng không buồn hỏi đến.

– Sao em không mướn người điều tra cho ra lẽ?

– Có điều tra ra con này thì nó lại đi với con khác chứ ăn thua gì. Khi nó đã chán mình thì mình tha thiết với nó làm gì. Em cũng có tiền, có thừa điều kiện để ăn chơi, tội gì em phải bám theo nó.

Phú ngập ngừng một chút rồi cười:

– Vì thế nên em mới đến với anh phải không?

– Em không chối, nhưng xét cho cùng thì chỉ có anh là người yêu em nhất. Người đàn bà đến một lúc nào đó, có đủ thứ rồi thì chỉ cần tình yêu. Một tình yêu chân thật, bất chấp mọi thứ. Em cũng không chối với anh là xung quanh em có khối anh ve vãn, ngay cả những thằng mang tiếng là bạn của chồng em, cũng vai vế đàng hoàng, tán ngầm, tán thẳng cánh. Em cũng đã từng “cho” để trả thù. Nhưng bọn đó chán ngắt, yếu xìu. Phải có thuốc, có rượu và còn thì thầm to nhỏ với nhau “khoe thành tích ngủ với vợ người khác” nữa. Một bọn mất dạy.

Rồi Duyên thở hắt ra:

– Em chán những thứ như thế lắm rồi. Có lẽ nhiều gia đình cũng như tụi em thôi. Chồng làm gì cứ làm, vợ làm gì mặc kệ, để bảo đảm “an ninh” cho địa vị của mình. Cứ thế là được, cứ thế mà sống. Vì thế anh đừng lo, em có nói thẳng vào mặt Tân, nó cũng chỉ gầm lên trong nhà rồi lại im thin thít. Anh tưởng nhà em chưa từng xảy ra chuyện như thế à? Nó mà dở trò, em cũng dở trò với những con bồ của nó, em làm tan hoang là nó đi đứt. Có khối chuyện em hở ra là nó đi tù trước. Còn em bỏ về thành phố mở cái phòng ngủ cũng thừa sống. Muốn làm gì thì làm. Nó yếu thế hơn em. Ông già nó bây giờ mất tín nhiệm vì vụ gỗ lậu rồi, ông già em khôn hơn nên rất có uy tín với cấp trên. Nếu không vì tình nghĩa anh em bạn bè chiến đấu với nhau thì ông già em thừa sức nắm đầu bố nó, chứ nó mà ăn thua gì.

***

Rồi tiếp tục những ngày sau đó, Duyên vẫn hẹn với Phú. Nhưng bây giờ “lên đời” rồi, có những lần họ đưa nhau về thành phố Bình Dương, lên Sài Gòn, ra Vũng Tàu, chui vào những căn biệt thự cao cấp ở với nhau vài ngày. Chuyện đó thiên hạ đồn râm ran và những chú thợ xây láu cá cũng biết. Song mọi thứ vẫn cứ yên lặng, những bộ mặt vẫn cứ nghiêm chỉnh, thản nhiên lo công việc của mình. Nhà quê vẫn yên ắng bình dị như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Khi hàng rào nhà tôi làm sắp xong, ông Phú tâm sự. Sau này Duyên không còn mặn mà với ông nữa, cô đã có thêm những người khác. Sống nhởn nhơ như những mệnh phụ miệt vườn thứ thiệt.

Ông Phú vẫn chỉ là anh thợ xây và ông tiết lộ thêm một bí mật. Duyên ở với Tân nhiều năm không sinh con. Sau này, khi đã hẹn hò với Phú rồi, Duyên mới sinh được một đứa con gái. Ông Phú thắc mắc không biết có phải là con mình không. Và chính Duyên cũng không biết chắc có phải là con ông hay không. Ông lắc đầu:

– Trong trường hợp của tôi và Duyên thì không bao giờ đi xét nghiệm ADN được. Thôi thì cứ để vậy cho xong, làm ra cũng chẳng để làm gì cả. Con ai thì cũng thế thôi. Cứ coi như con của thằng Tân đi. Xã hội bây giờ là thế đấy ông ạ. Chẳng thiếu gì những đứa con như vậy.

Ông Phú nhìn ra ngoài trời khi nắng mùa xuân trải vàng những thảm cỏ trong vườn.

Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn:

– Thế cô Duyên không đặt vấn đề ly dị để kết hôn với ông sao?

Ông Phú cười sặc lên:

– Làm gì có chuyện đó được. Có lẽ đôi khi Duyên lại sợ tôi đặt vấn đề đó với cô ấy nên cô ta cứ chặn xa chặn gần rằng em chỉ muốn sống như thế này. Cứ hưởng thụ những cái gì Tân mang lại, cứ tự do làm những gì mình muốn mà lúc nào cũng có danh nghĩa là vợ ông chủ tịch, lúc nào cũng có quyền hành đối với ông chủ tịch. Thế không sướng hơn sao. Ly dị là lỗ vốn to. Tôi cũng nhận ra rằng mình biến thành một thứ cho cô ta giải trí, một thứ nhu cầu xác thịt như cơm áo hàng ngày của cô ta mà thôi. Tôi không cho rằng cô ta cần tình yêu đầu đời hay cuối đời của tôi đâu. Bây giờ những thứ đó chẳng còn có nghĩa gì với những người như thế. Nhưng tôi thì cần cô ta, không phải vì cô ấy giàu mà vì… tôi chưa thể quên được cô ấy. Tình yêu hay thù hận cũng chẳng còn đúng. Vì thế tôi vẫn chưa lấy vợ. Tôi cũng hưởng thụ cái gì cô ấy mang lại. Thế thôi. Con người lúc này, đôi khi không định nghĩa nổi chính mình nữa, phải không ông?

Tôi chịu, không trả lời được câu hỏi này.

Nhìn những mái nhà êm đềm bình dị sau những khu vườn cây, bên những triền dốc, lâu nay tôi cứ tưởng là bình dị. Nhưng sau những đổi thay của thời thế, của quyền lực, mỗi mái nhà là một câu chuyện, mỗi câu chuyện ẩn chứa một bi kịch hay thảm kịch và cũng có thể là hài kịch hoặc có cả ba thứ đó.

(Trích truyện dài Phá Sản đang viết)

(Lộc Ninh tháng 10-2007)

Chữ của quê tui!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 5 Sep 2026

Hồi học trung học Petrus Ký đệ nhứt cấp, đệ thất tới đệ tứ, môn Quốc Văn mỗi tuần được sáu giờ, sáu giờ chứ không phải sáu tiết, chia làm hai phần: Cổ Văn và Kim Văn.
Kim Văn là văn học hiện đại nhưng học trò mười mấy tuổi như tui tìm đỏ con mắt mà không có một tác giả miền Nam nào hết: Hồ Biểu Chánh không, Phi Vân không, Bình Nguyên Lộc không, Sơn Nam cũng không luôn! Chỉ toàn là Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo trong Tự Lực Văn Đoàn.
Tui đọc Đoạn Tuyệt với Dũng và Loan; Tiêu Sơn Tráng Sĩ với Phạm Thái và Quỳnh Như; còn những nhà văn Nam Kỳ không có một bóng… chớ nói chi tới hình?!

***

Nhớ cô dạy môn Quốc Văn lớp Đệ Lục, chọn bài ‘Hoa Súng’ của ông Đinh Gia Trinh, đăng trên báo Thanh Nghị số 74!
Nhưng trước khi tả Hoa Súng, ông tả Hoa sen. (Hoa Súng, Hoa Sen ngoài Bắc; còn quê mình, trong nầy gọi là Bông Súng, Bông Sen).
“Dọc đườmg đất quanh co, hai bên đầm rộng, ngòi dài. Cuối Thu, sen đã tàn còn để rớt lại trên mặt nước những lá nhăn nheo như buồn một nỗi buồn li biệt…
…Trên suốt một dải đầm sen, chỉ có lá cây súng tròn như một cái bánh đa, nổi trên mặt nước, duyên keo kết với nước, phô cả bộ mặt với trời xanh như tận hưởng tình của đất trời. Có những chiếc lá hơi tím vàng, có chiếc còn xanh mơn mởn. Nước phô bày một màu áo, như xô đẩ lên trên mặt một linh hồn. Giữa đám lá tẻ ngắt, bỗng ở phía bên kia hồ xa cách đường cái không bao nhiêu, lộ một bông hoa súng màu thanh thiên…
…Rồi cách đây một năm, cuối mùa thu vào chơi làng Triều Khúc ở Hà Đông, …, tôi mới lại được trông thấy một bông hoa súng đúng lúc vừa vặn nở ở một cái ao nhỏ gần một cái quán đầu làng. Vẫn hoa cô lập ngoi lên mặt nước độ hai gang tay, cánh bao dưới màu phớt nâu, cánh hoa thon thon, màu thiên thanh man mác, làm rạng cả mặt hồ.”

***

Quê nhà! Tui không biết đầm rộng, ngòi dài. Không biết thì làm sao mà thấy mà ‘cảm’ cho được. Nên cái hay này chỉ lớt lớt bên ngoài như xức thuốc đỏ, vậy thôi! Đọc thì kêu ‘rốp rẻn’! Rằng hay thì thiệt là hay nhưng đọc để ‘cảm’ thì không có gì; vì cái lối viết vòng vo Tam quốc, chạy vòng vòng như đèn cù (đèn kéo quân) nầy.
Cô dạy môn Quốc văn của tui bảo đó là lối nhập đề lung khởi. Còn các nhà văn miền Nam lại khoái cái lối nhập đề trực khởi hơn; nghĩa là vô đề một cái rẹt hè.
Nhập đề cái rẹt, không làm mất thời giờ vàng bạc của độc giả, hổng phải là dỡ ẹc đâu nhe. Bằng chứng là câu ca dao miền Tây Lục tỉnh quê mình: “Đôi mình mới gặp hôm nay. Cho hun một cái, em hai đừng phiền! Thì em cười chúm chiếm mà rằng: “Có hun thì hun cho liền! Đừng làm thổ lộ, láng giềng cười em”
Sao mà tôi thương chữ ‘hun’ này biết bao nhiêu mà kể?! Vì hun là ‘giựt giựt’ đôi môi rồi lan ra cả toàn thân, là khoái lắm hè!

***

Sau nầy hơi trộng trộng, biết ‘ve’ gái, tui áp dụng cái nhập đề trực khởi nầy chớ không bắt chước con gà trống chạy vòng vòng con gà mái, xòe dãy lông háo hức ra như Lữ Bố hí Điêu Thuyền. Vì làm như thế rất mất công, bởi tui vốn là thằng làm biếng!
Cái lối vô cái rẹt nầy đối với mấy em miền Nam mình, kết quả ăn hay thua như đánh bài ba lá, cứ giở ra là mình biết liền hè. Thua thì mình đi ‘ve’ em khác!
Đời ngắn lắm, đâu có quởn mà ‘ngày ấy cây si anh trồng ngay lối đi’ mà chi; cho chúng nó khi: mặt mày sáng láng mà ngu như con gà ‘rù’!
Nhưng mấy anh mình nhớ, đừng chơi chiêu trực khởi với mấy em gốc Bắc 54; vì chưa giở bài ra mình đã biết thua là cái chắc.
Để thử nghiệm, coi nghĩ vậy có trúng hay không, nên một hôm, tan học, tui ngóng cổ chờ một em Bắc Kỳ chín nút từ trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm, yểu điệu thục nữ ló ra; để tỏ chút lòng yêu!
Thì em biểu môi: “Giời ạ! Ve gái là phải từ từ vòng ngoài rồi mới vào tới vòng trong! Mới sơ bộ mà tính chiếm lũy đoạt thành như ăn cướp đánh vậy anh Hai?”
Phán xong kết quả em cười he he; còn tui về nhà khóc hu hu như ông Tú Xương mới vừa thi rớt Cữ nhân lần thứ 7.

***

Đó là bàn về kỹ thuật nhập đề! Mà trước khi nhập đề thì mình phải có cái đề tài, tìm nó ở đâu? Các nhà văn quê mình chỉ ra rằng: “Kiếm thẳng từ cuộc đời; (đi và viết); chớ đừng ăn không ngồi rồi, bắn thuốc lào ro ro mà ‘tưởng tượng’ để vẽ ra ‘con voi’.
Đọc Sơn Nam, môt nhà văn tiêu biểu cho cái trường phái: “Đời đẻ ra Văn”; tôi tìm ra được một giai thoại rất thú vị.
Nguyễn Quang Sáng kể rằng: “Khi ông chưa viết văn, thì Sơn Nam đã là nhà văn nổi tiếng. Quê ông Sáng có nhiều câu chuyện rất ly kỳ, ông muốn kể cho Sơn Nam nghe để viết.
Nhưng Sơn Nam lắc đầu từ chối: “Vùng đó tao không biết. Tao thấy rặng cây từ xa thôi. Mày cũng có chữ nghĩa, viết đi!”.
Theo quan niệm sáng tác của Sơn Nam: chưa có vốn sống, chưa hiểu biết, chưa trải nghiệm thì không nên viết ẩu! Chuyện gì biết thì viết; không biết thì tra cứu; thì đi hỏi bà con mình chớ không viết ẩu rồi viết trật lất.

***

Đó là cách tìm đề tài; còn cách dùng chữ của những nhà văn quê mình thì sao hè?
Xin quý độc giả thân mến của tui đọc lại một đoạn trong “Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc, mà thầy Võ văn Dung dạy thêm ngoài chương trình chính thức cho người viết vào năm 1963, lớp đệ thất 5, trường Petrus Ký:
“Độ rày cậu làm gì, cậu hai? Hoa lại hỏi. “Cũng hổng cần làm gì. À, tôi có tự túc một bầy gà Huê Kỳ, coi bộ tương lai “quá khứ”?
“Tự túc là gì cậu? Hương hỏi thật tình” “Tự túc là nuôi, chớ là gì!”
“Vậy hà, còn tương lai “quá khứ”?” “Tương lai là tương lai, còn quá khứ là “quá sá”. Tiếng mới mà. Tôi nghe họ nói hay quá, nên tôi bắt chước dùng theo. Đời bây giờ họ bày ra nhiều tiếng mới hay lắm. Thí dụ phạm tội, họ nói “phạm vi”. Thù vặt họ nói “cá nhân”, nghe hay “quá khứ”.
Hoa và Quá núp sau lưng hai chị mà cười đến chảy nước mắt.
Cô Quá, mặt mày còn đỏ rần, bước ra khỏi chỗ núp nói: “Hôm nay cậu mặt đồ xanh, trông đẹp trai “quá khứ” nhưng cậu lại “phạm vi” về đôi dép. Dép phải quay màu đỏ mới ăn với màu xanh nầy. Tôi tính thiệt nói ngay, cậu đừng có “cá nhân” tôi nghen!” “Tôi người quân tử mà, ai lại “cá nhân” cô”.
Công tử Quờn chẳng qua là khoái chữ, nhứt là từ Hán Việt cho nó sang chảnh, nên xài loạn lên, trạng từ chỉ thời gian quá khứ’ thành trạng từ chỉ mức độ, là ‘quá xá. Danh từ thành động từ! “Cá nhân’ công tử Quờn xài, theo tui : “Xin đừng ghét bỏ, đừng thù vặt thì nói đại cho rồi, cho nó rõ nghĩa phải không nè?!

Rồi sau 75, có nhiều công tử Quờn, từ đồng bưng về thành, dùng chữ cũng làm mình hết hồn, mất vía lắm đó!
Năm nẫm, người viết kiếm đường vượt biên, về quê vợ ở Cà Mau, phường Tám, nhậu với mấy thầy chú để tìm mua bãi, nghe một thầy chú kể rằng: “Thằng Chiến Thắng, tên của thầy chú, nhậu cho đã, nực… còn xuống kinh Rạch Rập lội rồi chết chìm. Thiệt là lãng mạn!”
Nghe cán bộ nói vậy, tui ‘ngẩn tò te’ (?!) Té ra cán bộ muốn nói thằng Chiến Thắng chết ‘lãng xẹt’. Cán bộ làm tôi nhớ ‘Đò Dọc’ quá chừng chừng!
Đọc Đò Dọc, nghe công tử Quờn, rồi nghe cán bộ Cà Mau ‘phán’, tôi đâm ra ‘ón’ từ Hán Việt. Chữ nào bình dị, dân dã mà thâm trầm, sâu sắc là tui lượm về bỏ vô bài văn của mình chớ không ‘a dua’, chạy theo cái trường phái màu mè, khoe mẻ; viết vòng vòng rồi hổng biết đường ra. Viết không cần ai hiểu mà chỉ để khoe thôi!
Vậy là tui đi tìm ông Hồ Biểu Chánh, ông Vương Hồng Sển, ông Bình Nguyên Lộc, ông Sơn Nam để học cách dùng chữ của mấy bậc ‘tiền bối’ nầy coi chữ mấy ổng dùng có ‘rối’ như tiếng Việt bây giờ hay không?
Thì tìm được một giai thoại khá thú vị khi nghe nhà văn Sơn Nam dạy đời một người bạn vong niên rằng: “Có gặp thằng Tín, nói tôi nhắn với nó chuyển sang viết văn xuôi đi, thời buổi này mà làm thơ là húp nước mắm!”

***

Chữ ‘húp nước mắm’ của nhà văn Sơn Nam là ‘chữ của quê tui’. Chữ của quê hương, giờ cách xa hàng ngàn hải lý, làm tui nhớ quê nhà tha thiết lắm …Má ơi!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Chuyện thật ngắn (ngán)

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 07/11/2018 

Post by Sơn râu 5 Sep 2026

Ruồi bu

Trái đất có nóng không? Cu Tí hỏi.

Ông bố nói: Mầy đang tập trả bài cho cô hở? Nóng, bắt buộc rồi. Nóng chết bố! Mầy không thấy tao đương ở trần sao?

Mẹ cu Tí chen vào: Hoa hậu trái đất là gì thế bố thằng cu? Mặc bikini trông nóng con mắt mới gớm.

Là Miss Earth. Để phân biệt với người đẹp ngoài hành tinh.

Lắm trò nhỉ! Đoạt được chức ấy có vẻ vang không? Có nhận được lắm tiền bằng ba lần bán trôn không?

Mai mốt tôi xem báo đài mới hay biết sự tình bà ạ. Nhưng mà vẻ vang thì người mình đã từng đoạt lắm danh hiệu rồi chứ đâu đợi tới giờ nầy.
Mẹ à, cô con bảo dân mình vô địch thế giới, đánh thắng thằng thực dân Pháp xong cái quay qua nện cho thằng đế quốc Mỹ tơi tả buộc phải cút.

Thì tao cũng biết vậy, khu phố mình từng lĩnh bằng ban khen của lãnh đạo là gói được đòn bánh tét phải huy động tới bốn chục người gánh đi.

Thế mẹ có biết ám số 24 t/ 1.71/ 80- 58- 94 là gì không hở?

Hỏi bố mày đấy, đừng mang chuyện toán học với giáo dục nhức đầu ra hỏi tao.

Có những bài toán mà mày không nên tìm ra đáp số con ạ. Cả bố cũng vậy. Nhưng dân thắc mắc thì lãnh đạo phải nên giả nhời cho đúng lệ làng. Số ấy là của riêng cô Nguyễn Phương Khánh sở hữu, không đụng hàng. Minh bạch là 24 tuổi, cao 1 mét 71. Ngực to 80 cm, eo thon 58 phân mà mông nở cực đoan tới số 94.

Bố mày rắc rối quá, cứ bảo là số đo ba vòng thì có phải dễ đả thông tư tưởng cho thằng cu Tí không.

Cô con dạy đã là con gái thì vừa hồng vừa chuyên mới quan trọng. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, đẹp cách mấy cũng chả ăn thua, chỉ tổ làm cho xã hội bát nháo gây thêm tội phạm.

Cô nào? Cô dạy văn hay cô chủ nhiệm? Cô Lựu hay cô Đào? Nói thật chớ mấy bà giáo viên từng gõ vào đầu mầy toàn cả hạng vừa xấu gỗ vừa xấu nước sơn. Đói cơm cứ y như con mắm ấy. Có sao người ta mới cất công đi tìm người đẹp để thi thố chuyện hơn thua. Nước sơn đẹp thì làm cho quần chúng mát con mắt, nên biểu dương cu Tí ạ.

Bố mày thường nói sai nhưng lần nầy e là đúng. Quần chúng nhờ vào những vụ bóng đá đẳng cấp với thi hoa hậu đủ loại như thế mà quên đi phần nào những oan ức bắt bớ tù đày. Cứ chém người ta xong thì nghĩ ngay tới chuyện xức thuốc. Chưa êm việc Thủ Thiêm thì để tâm tư vào việc ca ngợi um sùm người đẹp Bến Tre đoạt chức hoa hậu. Họ chủ trương bày ra toàn những thứ ruồi bu cho qua cơn hạn.

Cu Tí nói: Quê hương là chùm khế ngọt thì con biết, nhưng ruồi bu… Ruồi bu là gì hở mẹ?

Kiến đậu

Cô Vân Anh, sinh năm 1997, sinh viên năm thứ Tư Đại học Văn hoá Hà Nội là người có nhan sắc, được thầy cô lẫn bạn bè chí công vô tư khen ngợi. Vân Anh có lắm người theo đuổi, nhằm bảo toàn việc đang phiêu lưu vào con đường tình nhiều săn đón, Vân Anh buộc phải học thuật “mèo biết dấu cứt”. Tài nghệ cao cường tới độ lỡ bụng mang dạ chửa lớn bộn mà kẻ thân cận nào hay biết.

Một ngày đẹp giời, Vân Anh ghé ngang chung cư có căn hộ do đám bạn bè thuê ngụ trên tầng 31. Chuyện trò rôm rả liền ngưng huyên thuyên, Vân Anh đi vội vào phòng vệ sinh vì thời khắc vừa điểm, tức ăn khó ở, đến hẹn lại lên. Cô sinh viên 21 tuổi một mình dương đông kích tây cắn răng xử lý việc vượt cạn. Cô hốt gọn món nợ đời bầy nhầy cho vào một túi ny lông, xong theo ứng xử thói quen thường ngày cô thẳng tay ném “cái bịch rác” nọ qua cửa sổ xa đất gần trời 31 từng mây. Tạo dáng thanh thản khi bước ra. Bạn bè có đứa quan ngại khi nom dáng vẻ trông bất bình thường. Chuyện gì? Vân Anh hất mặt lên. Ờ, bị kinh nguyệt nó hành tớ. Mặt xanh đít đỏ chỉ là chuyện nhỏ.

Con thỏ nó lớn bao lăm thì chả rõ nhưng một hài nhi nát thân dưới mặt lộ thì xúi bá tánh đâm chộn rộn bàn ra tán vào. Bầy hầy một đống ra đó, chạy trời sao khỏi nắng? Có người trắc ẩn thắp cháy nguyên cả bó nhang đặt kề, khói ùn xám ngoét bên vũng máu loang có bầy kiến nhanh chân vừa tranh nhau đậu lại. Không riêng (dáng đứng) Bến Tre, mặt đất Hà Nội thủ đô ngàn năm văn vật càng lúc càng nóng.

Hồ Đình Nghiêm

New Orleans! Cho tôi một lời xin lỗi

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh   

August 20, 2008   

Post by Sơn râu 5 Sep 2026

Cái tựa bài viết này tôi mượn từ một tờ báo Pháp. Hôm qua, chiều thứ bảy, lên phi trường Gardemoen Oslo đón vợ chồng đứa con trai út nghỉ hè từ Tây Ban Nha về. Chuyến bay đến trễ 40 phút. Trong lúc chờ đợi tôi tạt vào quán cà phê, tìm một chỗ ngồi. Nhìn trên giá báo, tôi bất ngờ đọc được cái tựa lớn trên một tờ báo Pháp: “La Nouvelle Orléans! Je demande pardon!” Vốn liếng Pháp văn chỉ bì bõm vài ba chữ, nhưng vì tò mò, tôi cầm tờ báo lên tìm đọc.

Bài viết của một cô gái Pháp, có một thời lớn lên ở New Orleans. Năm mười hai tuổi, cô bé theo gia đình về lại quê cha. Từ đó cô chưa có lần trở lại New Orleans. Môt thành phố xinh đẹp, thơ mộng và lãng mạn. Isle d’Orléans của tổ tiên cô bé bao đời về trước. Với cô, nó là “một Pháp Quốc của thời thơ ấu”. Đã bao nhiêu năm về sống tại một vùng ngoại ô Paris, nhưng mỗi buổi sáng thức dậy, dư âm tiếng nhạc Jazz dọc theo con đường Bourbon trong khu Vieux Carré vẫn còn rộn rã bên tai, mùi thơm từ quán Café du Monde trong French Quarter vẫn còn làm cho cô ngây ngất. Nhưng quan trọng hơn hết là ở nơi đó, cô còn có biết bao hang động tuổi thơ. Cô ân hận, vì đã trót bỏ lỡ hai cơ hội khá lý tưởng để trở lại thăm thành phố yêu dấu xưa. Cách đây ba năm, khi cô vừa tốt nghiệp trung học, cha mẹ và người anh của cô trở lại thăm New Orleans, trong lúc cô theo bạn bè cùng lớp tổ chức một trại hè chia tay trên một hòn đảo ngoài khơi bờ biển Nice. Cô hẹn với cha mẹ sẽ sang thăm New Orleans một mình vào hè năm sau. Nhưng khi vào đại học, cô quen một người bạn trai và sau đó cô yêu chàng. Mùa hè năm ấy thay vì đi New Orleans, cô theo người yêu về quê ở Marseille ra mắt bố mẹ chàng. Hè năm sau, cô ngỏ ý với người yêu rủ chàng cùng sang New Orleans, nhưng chàng ta hẹn chờ thêm hai năm nữa, làm đám cưới, chàng sẽ đưa cô sang đó hưởng tuần trăng mật cho thật tròn ý nghĩa. Cô cám ơn thiện ý này. Nhưng rồi cuối mùa thu năm ngoái, buổi sáng, khi lái xe tới giảng đường, một tai nạn giao thông đã làm cô tê liệt cả hai chân. Mùa hè vừa qua, khi cô còn nằm trên giường bệnh, thì người yêu đã làm đám cưới với một cô con gái khác. Điều đau lòng, cô gái này lại chính là cô bạn thân của cô bé.

Khi được cha mẹ an ủi về những điều bất hạnh, cô bé bảo điều cô ân hận không phải là cái kết thúc bi thảm của một cuộc tình tưởng chừng đẹp nhất, mà chưa có lần được trở lại thăm La Nouvelle Orléans thời thơ ấu của cô. Cha mẹ hứa nhất định sẽ đưa cô bé đi khi tình trạng đôi chân khá hơn.

Khi xem trên truyền hình, cơn bão Katrina tàn phá New Orleans, nhìn thấy cả một thành phố đẹp đẽ của cô ngày xưa bây giờ ngập trong biển nước, cô khóc nức nỡ, vì biết rằng chẳng bao giờ cô còn nhìn thấy lại một La Nouvelle Orléans của cô. Cô đã mất “quê hương thời thơ ấu” Cô cảm thấy mình có tội với New Orleans, nên đêm nào trong giấc ngủ, cô cũng gọi: “New Orleans ơi! Xin hãy tha lỗi cho tôi”.

Tôi biết tên thành phố này khi còn ở Việt Nam. Khi ra tù, tôi mới biết ông anh họ, con ông cậu của tôi, là một trong những người đầu tiên trong làng, vượt biển. Trước kia anh là một hạ sĩ quan thông dịch, lương ba cọc ba đồng. Sau đó không biết nhờ đường giây nào anh lại được “biệt phái” cho công ty RMK của Mỹ. Chỉ vài năm sau anh trở nên giàu có, lấy một cô vợ gốc Tàu Chợ Lớn. Vợ chồng có phần hùn trong hãng sữa Ông Thọ và nhà máy Xi Măng ở Thủ Đức. Sau tháng 4 /75, anh nhanh chóng hiến hết tài sản cho nhà nước để khỏi bị đánh “tư sản mại bản” và tình nguyện bỏ vốn liếng còn lại thành lập một hợp tác xã “đánh bắt hải sản”. Thấy anh sớm “giác ngộ cách mạng”, nhà nước chấp nhận thỉnh cầu và cấp giấy phép cho anh. Sau khi làm lễ hạ thủy chiếc tàu máy đầu tiên, người ta không thấy anh trở lại.

Khi tôi về, cả làng nói về anh. Khen anh ta vừa khôn ngoan lại vừa có tấm lòng. Cùng đi trên chiếc tàu của anh, có đến hai mươi anh em bạn bè vừa đi tù “cải tạo” trở về, anh đã giúp cho đi theo không tốn một đồng.

Định cư ở New Orleans, nhờ có kinh nghiệm làm ăn ở Việt Nam, cộng với một số vốn liếng mang theo, anh lập một tổ hợp công ty đánh cá. Anh mua mấy chiếc tàu biển hiện đại, và kêu gọi tất cả những bà con đồng hương nào chưa tìm được việc, về New Orleans cùng nhau làm ăn với anh. Chỉ hai năm sau, công ty của anh phát đạt, anh trở thành một trong những người tị nạn giàu có sớm.

Anh gởi cho tôi một số tiền, nói bóng gió là tìm mọi cách vượt biên. Đừng lo lắng vấn đề kinh tế khi sang Mỹ. Anh sẽ bảo lãnh cả nhà sang New Orleans để sống với anh. Hai năm sau, tôi cùng vợ con vượt biển sang đảo Bataan, Phi luật Tân. Gởi cho anh mấy lá thư nhưng chờ mãi không thấy hồi âm. Sau này, qua thư của một nguời bà con khác ở Cali, tôi mới biết, trong lúc làm ăn, anh đã đụng chạm với băng KKK, nên phải bán đổ bán tháo tàu bè, bỏ New Orleans, chạy mãi lên tận Detroit, Michigan, để tránh tai họa. Rời trại tị nạn Bataan, tôi không đến nơi đã từng hẹn trước, thành phố New Orleans, mà lại sang định cư tận một xứ Bắc Âu xa lạ. Không biết có phải do một lần lỡ hẹn, mà cho mãi đến bây giờ, tôi vẫn không có duyên mà chỉ có nợ với New Orleans.

Sau những đợt HO, bạn bè tôi tìm tới New Orleans khá nhiều. Những sinh hoạt cộng đồng ở tiểu bang Louisiana, mà trụ cột là thành phố New Orleans này rất thành công, nhờ vào nhiệt tình và lòng đoàn kết của anh em. Louisiana là tiểu bang đầu tiên ban hành Nghị quyết Cờ vàng. Lý Tống cũng “từ thành phố này.. người đã ra đi “.

Trong số bạn bè ở New Orleans, tôi có hai người bạn thân thiết. Nhưng hai người là hai mảnh đời khác biệt. Một người là bạn cùng đơn vị lúc xưa, nhanh chân đến đây năm 75 cùng với những người Việt tị nạn đầu tiên. Kinh tế gia đình vững vàng cũng như con cái đều đã thành công từ lâu. Đứa con trai lớn là bác sĩ giải phẫu não bộ, tiền vào như nước. Cô con gái là quản đốc thư viện trong một đại học danh tiếng. Bây giờ vợ chồng đi nhiều nơi xây chùa, hưởng phước. Người thứ hai là bạn học cùng lớp, cùng quê Ninh-Hòa với bà xã tôi, và cũng là nhà thơ mà tôi rất hâm mộ. Bởi tất cả những bài thơ, tập truyện, anh đã viết thay cho nỗi lòng của những thằng lính, đã trải qua thời kỳ nghiệt ngã như tôi. Anh chàng cùng gia đình sang Mỹ muộn màng theo diện HO. Thời gian chưa đủ để lành những vết thương, thì hơi sức đâu mà lo chuyện làm giàu, nên vốn liếng chỉ còn có tấm lòng, và gia tài chắc chiu chính là những bài thơ buồn đứt ruột. Sau này tôi trở thành người bạn già của anh. Tôi thích anh chàng, không phải chỉ vì tài thơ văn, mà lòng còn nặng tình “huynh đệ chi binh” và cái tính lúc nào cũng tếu, hoàn cảnh nào cũng cười thoải mái “lính mà em”.

Sáng thứ bảy 27 tháng 8, tôi ngủ nướng, lúc thức dậy, theo thói quen, bật TV, tìm đài CNN nghe tin tức. Dạo này sao thế giới có nhiều biến động quá. Có tin cơn bão Katrina từ vịnh Mexico, qua Florida và sắp sửa đổ bộ vào thành phố New Orleans, tiểu bang Louisiana. Ông thị trưởng thành phố New Orleans rồi tới bà thống đốc tiểu bang Louisiana kêu gọi dân chúng New Orleans phải rời khỏi thành phố, tránh bão. Tôi nghĩ bão mà vào Florida và New Orleans, cũng chẳng khác gì một cô gái đẹp, khó tính (cô nào đẹp mà chẳng khó tính ? ) bất ngờ ghé thăm người tình, không hẹn trước. Có ghen tuông, hờn dỗi mấy thì lúc ra đi cũng chỉ làm chàng trai tơi tả, buồn bã một đôi ngày rồi đâu cũng vào đó mà thôi. Cũng như mấy lần trước, bão ghé thăm nhà thơ Vinh Hồ, nhà thơ Đường có tâm Phật của Ninh-Hòa, cũng chỉ mang theo mấy cây bưởi, cây khế, chưa có khả năng làm mất đi một “mảng vườn quê hương” mà nhà thơ đã mang theo từ Điềm Tịnh.

Tôi gọi phôn cho hai người bạn. Nghe tiếng điện thoại reo, nhưng không ai bốc, tôi cười, thầm nghĩ là hai cha này rút kinh nghiệm xương máu từ tháng 4/75, nên đã nhanh chân bỏ của chạy lấy người. Tôi bèn viết e-mail vừa hỏi thăm vừa đùa (Hai hôm sau, tôi ân hận về cái đùa này lắm). Ông bạn cùng đơn vị cũ, thì tôi biết chắc đã bay sang thằng con trai bác sĩ ở Dallas, tôi bảo ” thôi thì lâu lâu ông bà lên Dallas vừa bồng cháu nội vừa hưởng tuần trăng mật”. Còn ông bạn nhà thơ với bà vợ, vốn là người đẹp một thời của quê quán Quang Trung, không biết đang trôi dạt về đâu. Trong cái mail tôi còn hỏi đùa: ” là lần di tản này có bi thảm hơn hồi di tản 75 không ? ” Còn dặn anh bạn trẻ nhớ làm một bài thơ chạy bão nữa chứ. Mấy tiếng đồng hồ sau, tôi nhận đuọc e- mail của cả hai. Không hoàn toàn như tôi nghĩ, ông bạn giàu kia không sống êm ấm ở nhà cậu con trai trên Dallas, mà lại mang tiền cúng dường cho một ngôi chùa ở đâu đó trên Houston để cùng giúp đỡ cho bà con cùng chạy nạn. Còn ông bạn nhà thơ thì cũng chạy thoát được đến Houston, tá túc ở nhà một người quen tốt bụng. Trong hoạn nạn mà anh vẫn cười như không, anh ta chỉ lo nước làm trôi mấy con dế sau hè, để mai mốt anh về không còn nghe tiếng gáy, và cây bưởi chính tay anh trồng mới vừa nở hoa trắng xóa chắc cũng đã bị “cuốn theo chiều gió”mất rồi. Đúng là một nhà thơ. Hôm sau, bà con  nghe được bài thơ BÃO RƯỢT của anh được đọc trên đài VOA. Tôi yên lòng mà thấy tội nghiệp cho anh.

Không ngờ chỉ hai hôm sau, khi xem truyền hình, tôi thẫn thờ khi thấy cả thành phố New Orleans dần dần chìm trong biển nước. Buồn hơn nữa, khi bên cạnh những thê lương chết chóc, là những cướp bóc, hổn loạn. Lòng tôi thắt lại khi người ta gọi New Orleans đã chết, bây giờ chỉ là một thành phố ma.

Khi đoàn xe quân đội đầu tiên mang theo lính cùng thực phẩm cứu trợ mò mẫm theo những con lộ chính ngập sâu trong nước, “bơi” vào thành phố, tôi nhìn thấy cây cầu Causeway nằm chơ vơ lạc lõng trên biển nước mênh mông. Dường như nó là cái biểu tượng duy nhất mà tôi còn thấy được của cái thành phố một thời đẹp đẽ và lãng mạn nổi tiếng của nước Mỹ. Cây cầu mà nhà thơ Quan Dương mỗi lần lái xe qua là nhớ đến cây cầu Dinh trong con phố nhỏ Ninh-Hòa. Tôi chạnh lòng khi thấy những chiếc trực thăng bay trong mưa gió, thả xuống từng bao đá nhỏ để lấp chỗ vỡ của con đê ngăn nước từ hồ Pontchartrain. Tôi có cảm giác vô vọng, như một ông bác sĩ đang cố may lại vết mỗ của một người ung thư tới thời kỳ cuối cùng, trong cơn hấp hối.

Tôi biết, như vậy là hết. Mãi mãi không bao giờ còn New Orleans để tôi đến thăm như bao lần đã hẹn.

Ngay từ khi mới sang định cư ớ Nauy, tôi được ông bạn đến New Orleans năm 75 gọi phôn sang thúc tôi và sẵn sàng tặng không tám cái vé máy bay cho vợ chồng tôi và sáu đứa con sang thăm thành phố mà anh ta hết lời ca ngợi. Lúc ấy tôi vừa học vừa làm, lại không muốn phiền lòng bè bạn, nên hẹn hai năm sau. Hai năm sau gia đình tôi sang Florida thăm cô em con bà cô, theo chồng sang Mỹ từ năm 70, và gởi lại đứa con gái lớn theo học ở đây. Dự trù tuần cuối sẽ sang thăm gia đình ông bạn vàng ở New Orleans. Nhưng đêm trước ngày lên đường, ông em rể bị cơn bệnh tim phải vào nhà thương cấp cứu. Tình trạng nguy kịch, tôi không thể bỏ cô em lo lắng một mình (mặc dù sau đó ở lại tôi cũng chẳng làm được việc gì). Đành lỗi hẹn với New Orleans.

Năm sau cả nhà tôi sang Houston dự đám cưới của một ông bạn khác, mà cô vợ là con ông bà chủ nhà ở phố Tuy Hòa, ngày xưa cả hai thằng tôi đóng quân…nhờ trước mái hiên. Vợ chồng ông bạn New Orleans cũng có mặt suốt mấy ngày, mang theo thêm một chiếc xe “van”, áp tải bọn tôi về dưới ấy. Nhưng hôm đám cưới bọn tôi gặp lại hơn hai trung đội bạn bè đồng đội cũ, nhất định giữ bọn tôi lại Houston. Phe đa số thắng thế. Vợ chồng anh bạn New Orleans đành phải ở lại với bọn tôi thêm mấy ngày, trước khi xách xe không trở về tuyến xuất phát. Như vậy là lần thứ hai tôi lỡ hẹn với New Orleans.

Hai năm sau, cô con gái lớn ra trường, được một công ty ở Houston nhận vào làm, vợ chồng tôi lại sang Houston và lại gặp anh bạn New Orleans lên đón. Mấy năm sống ở Bắc Âu, bà vợ Ninh-Hòa của tôi không chịu nổi cái nóng mùa hè của Texas, nên long thể bất an. Thay vì theo ông bạn về New Orleans, thì bọn tôi rủ rê anh ta bay xuống Cali thăm đám bạn cùng KBC mới sang theo diện HO. Tôi lên mặt thánh thiện, ” nên đến với đám bạn bè cùng khổ “. Động lòng trắc ẩn, nên anh bạn, thay vì bắt bọn tôi theo về New Orleans thì lại đi theo bọn tôi xuống Tiểu Sài Gòn.

Sau này chúng tôi có thêm ông bạn nhà thơ, gốc Ninh Hòa. Ngoài nhiều thứ tình, anh ta còn chung thủy với một thứ tình có đủ thứ “bi hùng” là tình lính. Hội hè nào có lính là có anh đứng hàng đầu. Mùa hè năm ngoái, Tổng Hội Cựu SVSQ Thủ Đức đại hội tại New Orleans, bởi những cựu alpha đen ở Louisiana là những con chim đầu đàn. Anh bạn nhà thơ “dành chỗ” cho vợ chồng tôi từ giữa mùa đông. Cả nhà tôi sang Cali, để lo tìm chỗ ở cho ba cô con gái đang làm việc ở đây. Đúng cái ngày hẹn lên với ông bạn nhà thơ, thì cũng là lúc phải bám theo trả giá một cái nhà vừa ý cho mấy cô con gái. Đành phải làm buồn lòng anh bạn nhà thơ và xin hẹn với New Orleans, rồi thế nào cũng có một ngày tương ngộ.

Nhưng rồi, bão đi nhanh hơn con người. Mặc dù Katrina không hề hẹn trước, vậy mà nàng đã đến sớm hơn tôi. Mang cái tên đẹp đẽ, nhưng nàng lại là mụ phù thủy ác độc, chỉ trong phút chốc đã biến New Orleans thành một bãi tha ma hoang địa, điêu tàn. Để hai người bạn thân thiết của tôi phải có thêm một lần di tản nữa.

Còn tôi, sẽ mãi mãi là một người lỗi hẹn. Làm sao tôi có thể tìm được quê hương của nhạc Jazz, mà Louis Armstrong đã trở thành vĩ đại khi chọn nơi đây để khai sinh sự nghiệp âm nhạc lừng lẫy của mình. Làm sao tôi có cơ hội để được đi bộ trên con đường Bourbon trong khu phố French Quarter của cô bé người Pháp bị tê liệt đôi chân. Tất cả đã trở thành huyền thoại.

Tôi biết, với sự giàu có và vĩ đại của nước Mỹ, người ta thừa khả năng xây dựng lại một thành phố mới trên New Orleans đổ nát, hoang tàn. Hai người bạn thân thiết của tôi rồi mai này cũng trở về lại niệm kinh và làm thơ trên nền nhà cũ. Thành phố mới chắc chắn to lớn hơn, sang trọng, hùng vĩ hơn. Nhưng đó không phải là New Orleans, mà sẽ là một New New-Orleans lạ lẫm.

Tôi nhớ lại cái tâm trạng trở lại quê nhà sau mười mấy năm biệt xứ. Tôi lạc lõng giữa Sàigòn, với nhiều nhà cao tầng và những con đường tràn ngập những chiếc xe gắn máy trong buổi trưa hè ồn ào, cháy nắng. Khó khăn lắm mới băng qua được những ngã tư, cho dù có đèn xanh đèn đỏ, tôi vẫn không tìm lại được “con đường Duy Tân cây dài bóng mát, buổi chiều công viên mây trời xanh ngắt” thuở nào. Sàigòn bây giờ không còn là của tôi nữa. Còn New Orleans, sau bao lần lỡ hẹn, mãi mãi trong tôi chỉ còn là cổ tích.

New Orleans ơi, La Nouvelle Orléans ơi! Cho tôi xin được nói một lời xin lỗi.

Phạm Tín An Ninh

Vương Quốc Nauy

Olso, ngày 11.9.2005

Mme Nhu – Trần Lệ Xuân – Quyền lực Bà Rồng

Vietmessenger.com

Monique Brinson Demery

Mai Sơn dịch

Post by Sơn râu 5 Sep 2026

Vào thời điểm tôi bắt đầu tìm hiểu bà Ngô Đình Nhu thì bà đã sống lưu vong hơn bốn chục năm rồi. Năm 1963, ở đỉnh cao danh vọng của bà, tờ New York Times gọi vị Đệ nhất Phu nhân miền Nam Việt Nam ba mươi chín tuổi này là người đàn bà “quyền lực nhất” ở châu Á và so sánh bà với Lucrezia Borgia. Nhưng chính cái tiếng tăm Rồng Cái của bà đã mang đến cho bà sự khác biệt đích thực. Khi các nhà sư tự thiêu trên đường phố Sài Gòn, phản ứng của bà Nhu là tàn bạo không thể tả: “Cứ để họ tự thiêu, rồi chúng ta sẽ vỗ tay”, bà mỉm cười nói. “Nếu các Phật tử muốn có thêm một cuộc nướng thịt, tôi sẽ hân hoan cung cấp dầu xăng và một que diêm”. Vẻ đẹp nguy hiểm, với đôi mắt đen nhanh chóng trở thành biểu tượng của mọi sai lầm cho sự can dự của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam.

Bà Nhu biến dần khỏi đời sống công cộng sau tháng Mười Một năm 1963, khi chồng bà, Ngô Đình Nhu, và anh chồng bà, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, bị giết chết trong một cuộc đảo chính được chính quyền Mỹ bật đèn xanh ủng hộ. Như Tổng thống John F. Kennedy giải thích với người bạn thân của ông, Paul “Red” Fay, Hoa Kỳ phải loại trừ anh em họ Ngô một phần vì bà Nhu. “Con chó cái đó”, ông nói với bạn, “nó gây ra hết… Con chó cái đó chĩa mũi vào và làm mọi thứ ở đó sôi sục lên hết”.

Đã có nhiều cuốn sách mổ xẻ biến cố tháng Mười Một năm 1963 và coi sự lật đổ anh em họ Ngô như yếu tố then chốt dẫn đến việc Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng những nghiên cứu lịch sử về vụ đảo chính phần lớn đã không nhìn ra vai trò của bà Nhu. Làm thế nào mà một người đàn bà thậm chí chưa tới bốn mươi tuổi – và cao chưa tới một mét sáu với giày cao gót – có thể thu hút sự chú ý hoàn toàn của một siêu cường như Mỹ, và lôi kéo nước Mỹ vào một cuộc xung đột sẽ kéo dài thêm một thập kỷ và lấy đi mạng sống của hàng triệu người?

Tôi đã ở Paris để tìm hiểu – mặc dù, tôi phải thừa nhận, tôi hơi lo lắng. Phóng viên hãng tin AP (Associated Press) Malcolm Browne, từng được giải Pulitzer, viết trong hồi ký của ông rằng, từ “kinh nghiệm cá nhân” ông biết bà Nhu “có thể là kẻ thù nguy hiểm nhất mà một người có thể gặp”. Và đó chính là điều gây tò mò. Rồng Cái là hình ảnh tưởng tượng kiểu Tây phương về một người Đông phương – dâm dục, suy đồi, và nguy hiểm. Cái khuôn mẫu độc ác này đã đúc ra những người đàn bà châu Á quyền lực trước bà Nhu, như bà Tống Mỹ Linh, vợ Tưởng Giới Thạch và Từ Hi Thái Hậu. Vụ án phản quốc Tokyo Rose, giọng nói nữ của chương trình phát thanh tuyên truyền Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai, vẫn còn in đậm trong ký ức chung ở Mỹ khi bà Nhu buộc tội những người Mỹ ở Việt Nam đã hành động như “những tên lính đánh thuê”. Hậu quả là hình ảnh Rồng Cái mà công chúng thấy ở bà Nhu là một chiều, như một tên vô lại ria xoắn trong một kịch bản Hollywood tồi, mà như vậy thì hơi quá dễ dãi.

Mặc cho bạn nghĩ gì về bà, bà Nhu đã trực tiếp thò tay nhào nặn lịch sử. Nhưng bà đã im lặng trong mấy chục năm. Dù nổi tiếng là bộc trực, bản thân người đàn bà này đã cho thế giới biết rất ít về mình. Bà Nhu đã đuổi phóng viên New York Times cuối cùng tìm cách tiếp cận bà ra khỏi thềm nhà mình ở Ý vì quá ồn ào. Chuyện đó xảy ra vào năm 1986.

Dù gần hai mươi năm đã trôi qua, không có lý do gì cho thấy tôi sẽ có thêm chút may mắn nào, tôi tự nhủ khi nhìn lên tòa nhà bên kia đường. Cách chỉ vài trăm mét sau lưng tôi, tháp Eiffel vươn cao sừng sững. Tôi cố giữ kín đáo khi đếm các tầng của tòa nhà. “Một bà già gan lì”, tôi nghĩ. Theo những gì mà nhiều người biết, trong đó có những người được gợi là chuyên gia mà tôi đã phỏng vấn, bà Nhu đang sống trong một biệt thự xập xệ tường vôi trắng, đâu đó ở ngoại ô Rome. Đã từng có những đồn đoán về việc bà còn sống hay đã chết.

Nhưng tôi có lý do để tin rằng bà ở đây, giữa Paris.

Việc tôi tìm hiểu bà Nhu bắt đầu đơn thuần vì tò mò. Tôi ra đời năm 1976, khoảng mười bảy tháng sau khi kết thúc chiến tranh [Việt Nam]. Như hầu hết những đứa trẻ lớn lên trong những năm 1980, những hiểu biết đầu tiên của tôi về Việt Nam đến từ phim ảnh; người lớn chắc chắn đã không nói nhiều về nó; nó là một tạp âm của những cánh quạt máy bay trực thăng đập mạnh, những lều tranh bốc cháy, và những cánh rừng nhiệt đới bị bom na-pan tàn phá. Tôi giữ mãi ấn tượng đó cho đến năm thứ hai đại học, khi tôi ghi danh một học kỳ nước ngoài tại Đại học Quốc gia Việt Nam ở Hà Nội, mà tôi nghĩ chỉ học cho vui. Bộ Ngoại giao Mỹ khuyến cáo nên tiêm phòng bệnh thương hàn, uốn ván, và bệnh dại, cũng như mang theo thuốc chống muỗi và i-ốt. Cha tôi sửng sốt: “Cha đã trải qua những năm hai mươi tuổi tìm cách thoát ra khỏi Việt Nam, còn bây giờ thì con tìm cách bước vào đó!”

Đến trước năm 2003 tôi đã lấy được bằng thạc sĩ về châu Á học, đã sống ở Việt Nam hai lần, và nhận được học bổng của Bộ Giáo dục Mỹ, điều đó khiến tôi hết sức tự tin vào các kỹ năng tiếng Việt của mình – miễn là chỉ nói về những chuyện đơn giản, như thực đơn hay thời tiết. Nhưng khi nghĩ đến chuyện tìm một việc làm thực sự, tôi ước gì tôi đã làm nhiều hơn là lấy được chiếc bút CIA tuyệt đẹp tại hội chợ việc làm cho sinh viên.

Thay vì đối mặt với một tương lai bất trắc, tôi tìm thấy sự thoải mái ở nơi tôi luôn có – trong sách vở. Tôi không ngừng trở lại tầng hai Thư viện trung tâm của thành phố Boston, nơi lưu giữ những cuốn sách viết về Việt Nam. Bốn, năm người đàn ông trạc tuổi cha tôi mặc những cái áo choàng lỡ cỡ và những cái quần lùng thùng, thường ngồi quanh những chiếc bàn đặt cạnh các giá sách. Mùi cà phê thiu vương vấn trong không khí chung quanh họ. Thật khó để tôi hòa giải một Việt Nam tôi biết từ năm 2004 – những gương mặt thân thiện, chợ búa nhộn nhịp và những thành phố hiện đại, với một xứ sở – và cuộc chiến – đã chôn vùi quá nhiều cuộc đời. Những người đàn ông này có thể đã là gì nếu không có cuộc chiến tranh ở Việt Nam?

“Cuộc đời đầy tình cờ”, cha tôi thường nói, như một câu thần chú. Ông nói câu đó như để an ủi. Đó là cách ông xoa dịu cảm giác ngây thơ của tôi về bất công, và là cách ông hiểu thế giới này. Cha tôi nhận được lệnh gọi nhập ngũ qua bưu điện vào năm 1966, ngay sau khi tốt nghiệp đại học. Ông đã được nhận vào học sau đại học và được cấp lương của trợ giảng, nhưng ủy ban quân dịch đã bác đơn xin hoãn nhập ngũ của ông. Các thông số của cha tôi gần như bảo đảm ông vào bộ binh ở Việt Nam, nên giống như nhiều người cùng chung hoàn cảnh, ông nộp đơn vào trường Sĩ quan và được nhập ngũ. Ông gặp nhiều thuận lợi hơn, vì là sĩ quan tình nguyện, so với một anh lính quân dịch đi tuần.

Chỉ vài tuần trước khi đến hạn phải trình diện trại huấn luyện, cha đang xem truyền hình trong phòng khách ở nhà ông bà tôi. Tổng thống Lyndon Johnson xuất hiện trên màn hình và thông báo mở rộng diện hoãn thi hành quân dịch đối với các thầy giáo cao học. Cha nhảy cẫng lên khỏi ghế và ôm chầm lấy bà tôi; nhanh nhẹn và bình tĩnh, ông gọi cho ủy ban quân dịch địa phương, xác nhận hoãn nhập ngũ, rồi lấy quần áo trong các túi xách ra.

Ông bị các sĩ quan tuyển quân, những người nóng lòng muốn đạt chỉ tiêu, và Don bạn ông, trách móc. Don và cha tôi cùng đi đến trường đại học mỗi ngày suốt bốn năm. Họ là láng giềng của nhau trong khu ngoại ô của người lao động ở Seattle, và sống ở nhà cha mẹ mình để tiết kiệm tiền phòng và tiền cơm tháng. Họ từng băn khoăn học vấn của họ sẽ thế nào khi xuất thân từ gia đình nghèo. Don cũng có một chỗ trong chương trình sau đại học. Ông lẽ ra có thể sử dụng quyền hoãn nhập ngũ như cha tôi.

Nhưng Don cho rằng hoãn dịch chẳng để làm gì. Ông thuyết phục cha tôi trở lại đăng ký, “Chỉ để cho xong quách cho rồi”, ông lý luận. Họ sẽ thực hiện một chuyến đi nghĩa vụ ngắn ngủi ở Đông Nam Á trước khi sống phần đời còn lại của mình.

Hai tuần sau khi Don có mặt ở Việt Nam, chiếc máy bay trực thăng chở ông bị bắn rơi và ông thiệt mạng.

Khi còn là một cô gái, tôi thường nhón chân lên kệ sách trong phòng khách để lấy cuốn Time-Life bìa nâu nói về chiến tranh Việt Nam. Những tấm ảnh kinh khủng và hấp dẫn, gợi cho tôi nhiều câu hỏi mà người lớn khó có thể trả lời hết. Có một tấm ảnh chụp một cảnh sát người Nam Việt Nam bắn vỡ đầu một người đàn ông và một tấm chụp một cô bé trần truồng bỏng lửa đang chạy trên đường. Nó là một cuộc chiến tranh mà tôi sẽ không bao giờ tìm hiểu, tôi nghĩ vậy, nhưng thay vì gấp sách lại, tôi cứ thường xuyên mở ra đọc. Tấm ảnh tôi thích nhất là của Larry Burrows chụp bà Nhu năm 1962. Với những lọn tóc đen và móng tay sơn bóng nhoáng, bà nổi bật lên giữa đám đông mặc binh phục màu lục vàng thời chiến. Mặc chiếc áo dài truyền thống Việt Nam, màu trắng tinh khiết, và với cái eo nhỏ xíu, có thể nói bà là người đàn bà thanh nhã ngoại trừ khẩu súng lục màu đen mà bà giương lên, nhắm và sẵn sàng bắn. Có lần người anh chồng của bà, Tổng thống Ngô Đình Diệm, nghi ngờ sự kín đáo của cái áo vét vừa khít thân hình mảnh dẻ của bà Nhu, ý nói đến sự hở vai hở cổ của nó, nghe nói bà đã làm ông cứng họng bằng câu trả lời khinh thị: “Không phải cổ anh lòi ra mà là cổ tôi. Nên anh im đi giùm”.

Sự tò mò về bà Nhu của một thiếu nữ như tôi dần dần chuyển thành sự nhìn nhận một vấn đề rất thời đại. Một người đàn bà ăn mặc hoàn hảo và chăm sóc vẻ ngoài sẽ luôn bị buộc tội là thiếu nghiêm túc về những chính sách xã hội đang thay đổi. Ngày nay, Michelle Obama bị chỉ trích vì hai bắp tay và tóc ngang trán, nhưng bà chỉ là Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ gần nhất vật lộn với các câu hỏi về phong cách và quyền thế. Jacqueline Kennedy, người cùng thời với bà Nhu vào năm 1963, là một biểu tượng Mỹ về thời trang, sự thanh lịch, và yêu kiều. Lúc đó, bà cho rằng phụ nữ nên đứng ngoài chính trị vì “họ không phù hợp”. Jackie tự hào về cuộc hôn nhân “châu Á” của mình và hoàn toàn không phản đối bà Nhu, kẻ “đam mê quyền lực một cách kỳ dị”.

Việc thiếu những câu trả lời dễ dàng về bà Nhu bảo đảm rằng ý đồ của tôi vẫn còn cho đến khi tôi nhận ra mình ngồi trong thư viện hàng giờ không biết làm gì. Đi ngang qua những cái nhìn chằm chằm trống rỗng của các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam, ngồi cùng tôi cạnh các giá sách, tôi bắt đầu ráp nối câu chuyện cuộc đời của người đàn bà mà mọi người nói là đã gây ra quá nhiều rắc rối.

Tôi vẫn chỉ có những nét phác thảo về câu chuyện bà Nhu khi tôi đặt chân xuống Paris hai năm sau. Tôi đã lần theo một dấu vết mờ nhạt dựa trên bài báo của một người mà tôi chưa từng nghe tiếng, đăng trên một trang web tiếng Việt ít người đọc. Tác giả nói đã phỏng vấn bà Nhu, người mà ai cũng biết là sống ẩn dật, trong căn hộ của bà ba năm trước, năm 2002. Tôi đã tính bác bỏ tuyên bố đó, nhưng tác giả đã nói chính xác về căn hộ tầng mười một có cửa sổ nhà bếp nhìn ra tháp Eiffel. Chi tiết mô tả đó nhắc tôi nhớ đến một chuyện.

Trong khi sục sạo đống hồ sơ của Clare Boothe Luce ở thư viện Quốc hội vài tháng trước, tôi tìm thấy một lá thư của bà Nhu, đánh dấu bưu điện năm 1964. Luce từng là tác giả, nghị sĩ Mỹ, và, với tư cách một người ủng hộ kiên định những chính kiến cực bảo thủ của Đảng Cộng hòa ở Washington, bà có vẻ là bạn của bà Nhu. Địa chỉ người gởi được viết nguệch ngoạc ở mặt sau bì thư cho tôi ấn tượng đầu tiên về lối viết chữ nét mảnh của bà Nhu. Khi tôi đọc đến chỗ nhà có khoảng không nhìn ra tháp Eiffel, tôi nhớ lại mình đã cẩn thận phỏng theo nét chữ ngoằn ngoèo của bà vào sổ tay: Đại lộ Charles Floquet. Tôi chưa từng nghĩ rằng bà có thể vẫn còn sống ở đó, nhưng giờ đây tôi tự hỏi, tại sao không?

Một cái liếc nhìn và tôi biết tôi sai. Tòa nhà tráng lệ trên đại lộ Charles Floquet nơi bà từng sống, trông như chỗ trú ẩn của một nhà độc tài bị truất phế cho đến khi nhẵn túi. Nhưng nó chỉ có tám tầng. Thậm chí khi xét đến thiên hướng châu Âu về thiết kế tầng lầu bên trên tầng trệt tầng thứ nhất, tòa nhà này vẫn còn thiếu tầng mười một mà lâu nay tôi tìm.

Tôi gần như bỏ cuộc ngay chỗ này. Ngay cả khi bài báo viết đúng và bà Nhu đang sống ở Paris, phải có đến hàng trăm tòa nhà kiêu hãnh với khoảng trời nhìn ra tháp Eiffel? Có thể bà ở cách đây một dặm mà vẫn nhìn thấy nó. Cái tháp này là vật duy nhất nổi bật giữa một thành phố bằng phẳng như thế. Đúng lúc tôi ngước nhìn đường chân trời để nguyền rủa cái mỹ học của thành phố đẹp nhất thế giới này, tôi chợt nghĩ một điều điên rồ. Tôi ngồi xuống băng ghế đá gần đó và nhìn quanh. Một thành phố thấp như thế đơn giản là không có nhiều tòa nhà mười một tầng – nhất là ở khu vực này của Paris. Tôi phải đi tiếp cho đến khi tìm ra một tòa nhà như vậy.

Tôi vừa qua khỏi một dãy nhà thì thấy chúng: ba tòa nhà giống nhau, một sai lầm nửa thế kỷ, gần đại lộ Suffren dọc bờ sông Seine. Tất cả đều là bê tông và những góc cạnh đã xiên lệch. Không sao – tôi choáng váng khi nhìn thấy chúng, vì mỗi tòa nhà cao đến mười hai tầng lộng lẫy. Tại tòa nhà đầu tiên, tôi thấy một gói nhỏ của một phụ nữ ăn mặc xuềnh xoàng đang quét cầu thang. Tôi ngập ngừng tiến đến gần cô nói “Excusez moi” (tiếng Pháp: Xin lỗi bà) và hỏi tiếp, hết sức lịch sự, có một bà già người Việt sống trong tòa nhà của cô ở tầng mười một không. Cô ngừng tay đủ lâu để chỉ cái tòa nhà kế bên. “Tôi chắc là cô đang tìm người đàn bà ở số 24”, cô vừa nói vừa cười mỉm và lắc đầu. Có thể tôi hoang tưởng, nhưng hình như cô ta đang cười cợt tôi.

Cô ta không phải là người đầu tiên nghi ngại tôi. Khi tôi thổ lộ với giáo sư cố vấn cao học của mình rằng tôi đang đi tìm Rồng Cái, bà đã ném cho tôi cái nhìn trịch thượng – tôi nghĩ vậy, vì, như những người khác, bà cho rằng bà Nhu đơn giản chỉ là một chủ đề quá ngớ ngẩn. Tôi đã mất nhiều thời gian để hiểu rằng, vị giáo sư cố vấn của mình, người đã sống ở Sài Gòn suốt thời kỳ tham chính của bà Nhu và nhìn thấy bạn học của mình bị cảnh sát Nam Việt Nam bắt giữ, đã không nghĩ bà Nhu là một đề tài đáng xem lại.

Nhưng bây giờ tôi gần đến nơi rồi. Phấn chấn bởi một cái gì đó như là sự tự tin, hoặc có lẽ là sự lạc quan ngây thơ, tôi bấm chuông chỗ người bảo vệ ở số 24 đại lộ Suffren, và khi bà xuất hiện, tôi toét miệng cười nhìn bà. Sau khi bà để tôi vào trong, tôi thả lên bàn cái phong bì mỏng màu xanh đề tên Bà Ngô Đình Nhu.

“Cô muốn cái gì?” bà bảo vệ làu bàu hỏi. Bà hơi thiếu lịch sự thôi chứ không hẳn thô lỗ, nhưng tôi không quan tâm. Bà khẳng định bà Nhu ở trên lầu.

“Xin bảo đảm bà ấy nhận được cái này giùm tôi”, tôi nhẹ nhàng đáp. Bên trong phong thư là mẩu viết ngắn cẩn thận đề nghị một cuộc phỏng vấn và một trong những tấm danh thiếp chạm nổi do tôi tự làm phòng khi cần tỏ ra mình chuyên nghiệp. Ngày mai, bà Nhu sẽ biết đích xác tôi là ai. Khi tôi đi ngược về ga tàu điện ngầm, tôi đã lướt qua trong đầu những gì tôi sẽ nói khi bà gọi cho tôi: Tôi rất muốn làm cho câu chuyện về bà sáng rõ, tôi rất hy vọng lấp đầy những khoảng trống của lịch sử, và tôi dám nghĩ rằng chúng ta có thể bảo lưu phần nào di sản của Rồng Cái. Tôi chưa bao giờ có ý nghĩ rằng bà ấy có thể có những kế hoạch của riêng mình.

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 Sep 2026

(Bài phát biểu trong buổi giới thiệu sách “Đi Lấy Chồng Xa” tại Phòng Sinh Hoạt NB Người Việt ngày 26 tháng 3 năm 2006)

Tạp Ghi là một danh từ Hán Việt được kết hợp rất kỳ lạ, nửa Hán nửa Việt. Chữ Hán là tạp ký. Không thể là tạp ghi. Nhưng danh từ tạp ghi đã ở với tiếng Việt từ khá lâu và cũng không có một tiếng nói phản đối nào dành cho sự kết hợp đó. Huy Phương viết tạp ghi.

Ông không phải là người đầu tiên và cũng không phải là người cuối cùng viết tạp ghi. Tản Đà, Phan Khôi, Hiếu Chân, Đái Đức Tuấn, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền … đều đã viết tạp ghi. Gần như các nhật báo ở Sài Gòn trước năm 1975 đều có những mục tạp ghi, và người ta đọc báo rất nhiều khi là để đọc các cây bút tạp ghi vì tin tức trong nước cũng như thế giới thì các báo đều giống nhau cả. Những chuyện rất hàng ngày, những tin nghe được ở quán nước đầu đường, ở quốc hội, đôi ba câu tuyên bố của các ông tướng, các nhân vật trong chính phủ, các dân biểu, nghị sĩ được kéo dài thêm, vặn vẹo đi một chút là chúng ta có những bài viết khi thì cay độc, khi thì hài hước trong các báo. Báo nào cũng có những cây viết tạp ghi để lôi kéo độc giả.

Tạp ghi là một loại viết sau nhiều năm tiến hóa, đã trở thành một sản phẩm đặc biệt Việt Nam như danh từ tạp ghi.

Nó không phải là potin của tiếng Phẩp. Potin theo lối giải thích của cụ Đào Duy Anh trong Pháp Việt Tự Điển, là chuyện chạo bậy, chuyện thìa la đôi mách. Có thể đó là cách hiểu, cách định nghĩa, cách nhìn của thời cụ viết cuốn tự điển, những năm 1930. Nhưng một cuốn tự điển Pháp Anh mới đây vẫn dịch potin là gossip và potiner là ngồi lê đôi mách, chuyện không nghiêm túc. Có lẽ film du jour, phim trong ngày là những chữ gần gũi nhất với tạp ghi của chúng ta. Phim trong ngày, phim hang ngày, mỗi ngày, trong đó các đào kép được người viết tạp ghi cho múa may quay cuồng, vẽ thêm tí râu, bôi thêm chút son phấn và đẩy ra sân quay.

Vì thế, những bài tạp ghi còn được gọi là phim và người viết tạp ghi là những cây bút viết phim cho các báo.

Nguyễn Xuân Hoàng đã nói đúng về thể tạp ghi, đó là người viết đem một sự kiện treo lên để nhìn ngắm và đắp thêm da thịt cho sự kiện đó. Chuyện đắp thêm da thịt, hay thêm mắm muối cho món ăn nấu trong bếp là việc làm của người viết tạp ghi. Đi chợ mua thịt cá, rau trái về để trên mặt bếp thì là chuyện ai cũng làm được. Nhưng pha chế, nấu những vật liệu đó để thành một món ăn được thì phải là những người biết làm bếp.

Nấu xong, mà chỉ múc đổ ra chén đĩa một đống xà bần thì giống những thứ thấy tại các quán ăn Mễ. Có thể ngon, nhưng không thấy hấp dẫn. Ông Tản Đà có thể thêm một điều kiện khác cho chuyện ăn ngon của ông, đó là nếu bầy biện, trình bầy không đẹp thì không ngon. Bầy biện cho đẹp, cho mỹ thuật thì chúng ta thấy tại các tiệm Nhật nhiều hơn. Vì thế, ngoài việc nấu nướng, nêm nếm, chuyện trình bầy những món ăn cũng là chuyện cần thiết.

Các cây viết tạp ghi vừa phải biết nấu, pha chế, nêm nếm, dầu mỡ, muối hành, nấu chín hay chỉ đảo qua trong chảo, hay ninh cho nhừ trong nồi đã đành, người viết tạp ghi còn phải trình bầy sao cho hấp dẫn.

Huy Phương là người làm những công việc đó, rất thành công như đã thấy trong hai cuốn tạp ghi của ông, Nước Mỹ Lạnh Lùng và Đi Lấy Chồng Xa. Huy Phương viết rất đều đặn, nhưng hệt như hai câu ca dao

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo dai một hột, đắng cay muôn phần

Cái đắng cay muôn phần đó nằm trong nỗi ám ảnh của tác giả. Phải viết. Phải viết. Không được nghỉ.

Việc làm của họ là việc rất khó của những người thợ nấu hồ. Họ được trao một thùng nước lã. Và họ phải làm sao gột được nên hồ. Không có bột, chỉ nước lã cho các ông. Và người ta chờ một nồi hồ mới khổ cho các ông. Từ nhưng chuyện không có gì đáng nói, a non-story, một chuyện không có chuyện, một bản tin dễ dàng bị chìm vào những trang trong của tờ báo, người viết tạp ghi tinh mắt, nhìn ra chuyện đó, đem kể lại cho người đọc. Nếu chỉ kể không thôi, thì nó chỉ là một bản tin, bản dịch của một cái tin trong báo. Nhưng vận dụng khả năng liên tưởng, đưa vào cái nhìn riêng của mình, có khi phẫn nộ. có khi ngậm ngùi, có khi hài hước, có khi rất thơ, có khi đơn sơ và mộc mạc là việc làm của những người viết như Huy Phương. Thí dụ tạp ghi Người Mễ Bán Hoa Bên Đường là một. Trong những lần lái xe ngoài đường chắc chắn ai cũng phải đã nhìn thấy những người đàn ông đứng ở đèn xanh đèn đỏ, tay cầm mấy bó hoa nhỏ để bán cho những người lái xe dừng lại chờ đèn xanh ở ngã tư. Chúng ta thấy những người này bao nhiêu lần. Họ đứng đó, nhẫn nại, chờ cái cửa kính của một chiếc xe hạ xuống, một bàn tay vẫy gọi, là chạy nhanh ra hy vọng bán được bó hoa vài ba đồng bạc. Huy Phương cũng nhìn thấy, nhưng ông đã kể lại bằng tới tám trang giấy. Đọc bài này, người ta thấy ra một điều trong những tạp ghi của Huy Phương. Đó là ông viết với xúc động, với lòng thương người. Ông thương cho người đàn ông mà dòng xe cuốn xe ông đi tiếp, không cho ông kịp nhìn người đàn ông Mễ này kỹ hơn một chút, cũng không kịp để mua giúp người đàn ông đứng ngoài đường vào lúc trời nhá nhem tối. Ông nghĩ tới thân phận của những người đàn ông này, liều lĩnh vượt biên giới sang nước Mỹ, không một thứ giấy tờ hợp lệ nào, làm đủ mọi công việc có thể kiếm được để sống chắt bóp, gửi gần hết số tiền về cho vợ con, cha mẹ ở một cái làng nghèo khó nào đó nằm ở miền nam biên giới nước Mỹ.

Thì đó, chỉ một người đàn ông không quen biết đứng bán mấy bó hoa, mà ông nhìn ra bao nhiêu chuyện để cảm thông với những ngưòi mà chúng ta, nhiều lắm, chỉ biết qua những con số thống kê về những thành phần nhập cư bất hợp pháp. Thống kê là những con số, vô tình và nhiều khi độc ác một cách tàn nhẫn. Nhưng ngó gần, ngó gần khuôn mặt của những người đằng sau những con số đó, Huy Phương làm hộ cho chúng ta.

Ông chứng minh một câu nói của Will Rogers, một kịch sĩ hài hước Mỹ, rằng không có người nào mà chúng ta không thể mến được. Người đàn ông Mễ ấy trở thành một con người có thật, với gia đình, ưu tư, băn khoăn lo lắng trong cuộc sống và ông chỉ làm có một công việc, là kiếm sống cho mình và gia đình bỏ lại ở quê nhà.

Thế nào chẳng có một hai người đọc, bỏ cuốn sách xuống, và bắt đầu nhìn những người đứng trước Home Depot chờ những chiếc xe chậm chậm chạy tới là ùa ra, bằng thứ tiếng Anh không đúng giọng, cố nói lớn để xin được thuê mướn làm vài tiếng đồng hồ những công việc chẳng có gì đáng kiêu hãnh.

Hay trong tạp ghi Đi Lấy Chồng Xa, tác giả kéo người đọc ngồi xuống, và kể chuyện người chị lấy chồng ở xa gia đình rồi cảnh người bắc kẻ nam, ly cách chị em không gặp được nhau mấy chục năm trời, mẹ qua đời không gặp lần cuối. Mà đó mới chỉ là chuyện một người lấy chồng rồi phải xa rời gia đình, cha mẹ vì hoàn cảnh đất nước. Một chút liên tưởng, ông đem ca dao và đoạn Kiều bán mình chuộc cha ra để kéo người đọc về hoàn cảnh của những phụ nữ Việt bây giờ cũng đang đi lại con đường tủi nhục của người con gái họ Vương ở Bắc kinh trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du. Ông làm người đọc có thể rơi lệ, không thì cũng ngậm ngùi ở dòng cuối của bài tạp ghi.

Người viết như lối viết của Huy Phương luôn luôn tạo ra hai thứ phản ứng nếu là người viết thành công.

Một là phải rất yêu những điều đọc được. Và hai là phải rất ghét bài viết của tác giả. Bao giờ cũng phải hoặc thế nọ, hoặc thế kia trong hai đầu của thái độ nhìn. Hoặc rất yêu, hoặc rất ghét. Đọc xong, gấp cuốn sách lại, hay bỏ tờ báo xuống mà không một thái độ yêu ghét thì tác giả đã hoàn toàn thất bại. Bài viết chỉ là một bản tin báo chí. Văn chương là thứ văn chương “huề vốn”, ba phải, nhạt nhẽo, vô duyên.

Huy Phương viết rất nhân bản, tình cảm và đầy xúc động. Ông viết về những chuyện quanh ông, về đời sống ở nước Mỹ, về nhận xét về đời sống ấy. Một chuyện bé, ông xé ra to. Một sợi tóc, ông chẻ ra cho thành bốn, thành tám. Ông không bao giờ đánh mất cái nét nhân bản, hiền lành và tử tế trong cách viết của ông.

 Ông nhắc người đọc bao nhiêu chuyện của quê nhà, của xứ Huế của ông mà không thấy ông địa phương khi viết về Huế mình của ông.

Huy Phương trong tác phẩm của ông và Huy Phương ngoài đời không khác nhau bao nhiêu. Đọc hai cuốn Nước Mỹ Lạnh Lùng và Đi Lấy Chồng Xa, người ta thấy thấp thoáng con người của ông ở trong, một con người của giáo dục, của quân đội, một ông Huế chay, một người viết có những nhận xét chi ly, nhưng không phải là một người viết khó tính và khó chịu tuy viết thể văn của ông khó mà không bị mang tiếng là khó tính và khó chịu.

Chuyện đọc sách, không ai chỉ cho ai được. Nhưng trong một bức thư viết cho một phụ nữ không quen biết trong cuốn Lettres À L’Inconnue, nhà văn André Maurois vẫn thử làm công việc đó. Maurois dẫn lời một ông thầy cũ, nói là nên đọc ít sách. Nhưng phải có lựa chọn. Chỉ đọc những cuốn sách đáng đọc. Bắt chước André Maurois, chúng tôi xin đề nghị quí vị đọc Huy Phương.

Quý vị hãy đọc Huy Phương, như chúng tôi đã làm. Đọc Huy Phương, quí vị sẽ thích Huy Phương.

BÙI BẢO TRÚC

(tác giả Thư Gởi Bạn Ta)

Những Nữ Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai

dongsongcu.wordpress.com

Posted on May 28, 2024 by dongsongcu

21/05/2024

Trần Anh

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Đại tá Diep T. Khanh, Tham mưu trưởng Học viện quân sự West Point ( Ảnh của westpoint.edu ).

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975. khiến nhiều người Việt phải di tản đến Hoa Kỳ tị nạn, tiếp theo là những đợt thuyền nhân vượt biên thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển, từ đó đến nay có trên 2,2 triêu người Việt sinh sống tại khắp các tiểu bang và lãnh thổ Hoa Kỳ. Từ những Cộng đồng người Việt lớn mạnh và phát triễn, nhiều nam nữ thanh niên người Mỹ gốc Việt đã gia nhập và phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, tuy chưa có thống kê chính xác, nhưng ước đoán có thể có trên 5000 Quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân đội hiện đại và hùng mạnh hàng đầu Thế giới, họ mang cấp bậc từ Binh sĩ, Hạ sĩ quan, Sĩ quan lên đến cấp Tướng. Người Việt Nam tại Hoa Kỳ và khắp nơi trên Thế giới rất hãnh diện về Quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt.

Theo các tài liệu tham khảo sưu lục được thì đã có hàng trăm phụ nữ gốc Việt phuc vụ trong các Quân chủng Hải, Lục Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Quân đội Hoa Kỳ, họ mang cấp bậc từ Thiếu úy lên đến Đại tá, trong số đó có 28 vị mang cấp bậc Đại tá, 20 vị đang phục vụ, 8 vị hồi hưu. Vậy thì trong tương lai ai trong số họ sẽ là nữ tướng Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên?

HQ Đại tá Josephine Nguyễn Cẩm Vân, Bác Sĩ Quân y Hải quân (Ảnh của của paxriver.tricare.mil).

Danh sách 20 nữ Đại tá đang phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ:

1- Diep T Khanh, Tham mưu trưởng Trường võ bị West Point.

2- Dana R. Nguyen. Bác Quân y Lục quân.

3- Nguyễn Kim Chi, Giáo sư Trường võ bị West Point.

4- Jennifer D. Nguyen, Lục quân trừ bị.

5- Josephine Nguyễn Cẩm Vân, Bác Sĩ Quân y Hải quân.

6- Thu Luu, Bác sĩ Nha khoa Hải quân.

7- TuAnh* C. Halquist, Bác sĩ Nha khoa Hải quân.

8- Hoan Nghiem, Bác sĩ Nha khoa Hải quân.

9- Elizabeth Phạm, Không quân Thuỷ quân lục chiên

10- Tina Nguyen, Sĩ quan hành chánh, tài chánh Không quân.

11- Duong T. An, Bác sĩ Quân y Không quân.

12- Tam T. Dinh, Quân y Không quân.

13- Roli Luu. Y tá Đoàn y tế công cộng (Commissioned Corps of the U.S. Public Health Service (USPHS)).

14- Mimi Thanh Uyen Phan, Dược sĩ USPHS.

15- Jade Ariel Pham, Dược sĩ USPHS.

16- Vu the ThuyAnh*, Dược sĩ USPHS.

17- Nguyen Thanh Thuy, Điều dưỡng USPHS.

18- Diem Kieu Hoang Ngo, Dược sĩ USPHS.

19- Quynh Chi Tan Duong, Dược sĩ USPHS.

20- Chau Minh Vu, Bác sĩ USPHS.

Đại tá An T. Duong, Bác sĩ quân y Không quân (Ảnh của afgsc.af.mil).

Danh sách 8 nữ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt hồi hưu:

– HQ Đại tá Tran Ngọc Nhung, Bác sĩ nha khoa Quân y Hải quân.

– HQ Đại tá Thu Phan Getka, Bác sĩ nha khoa Quân y Hải quân.

– HQ Đại tá Ho Thi Hoa, ngành kỹ thuật cơ khí Hải quân.

– Đại tá Lynda K Vu, Bác sĩ Quân y Không quân.

– Đại tá Mylene Tran Huynh, Bác sĩ Quân y Không quân.

– Đại tá Phuong T. Pierson, Lục quân.

– Đại tá Danielle Jaque Ngo, Lục quân.

– Đại tá Ly T. Fecteau, Thuỷ quân lục chiến.

Đại tá Diem Kieu Hoang Ngo, Dược sĩ USPHS (Ảnh của linkedin.com).

Theo tài liệu thăng cấp Lục quân Hoa Kỳ từ Đại tá (ĐT) lên Chuẩn tướng (CT), xin được tóm lược như sau: ( Không quân, Thuỷ quân lục chiến và Hải Quân, cũng tương tự, vì mỗi Quân chủng đều có Hội đồng thăng cấp riêng ). Hội đồng thăng cấp Lục quân ( Army Promotion Board ) gồm nhiều Sĩ quan cấp tướng, đứng đầu là vị Tướng Chủ tịch Hội đồng thăng cấp, các vị Tướng của các Binh chủng và ngành của Quân chủng Lục quân và các vị Tướng thành viên. Họ quyết định chọn đề cử một số ĐT lên CT tùy theo nhu cầu mỗi năm Lục quân cần đề thay thế cho một số CT được thăng cấp Thiếu tướng và một số vị phải về hưu.

Hội đồng thăng cấp phải cân nhắc quyết định chọn đề cử một số Đại tá có tài lãnh đạo chỉ huy thăng cấp lên Chuẩn tướng, danh sách các vị ĐT được chọn sẽ được gởi đến Bộ quốc phòng và Bộ tham mưu liên quân duyệt lại. Tiếp theo danh sách sẽ được gởi đến Tổng thống đề cử thăng cấp. Tổng thống được ủy quyền với sự cố vấn của Bộ quốc phòng và Bộ tham mưu liên quân. ( Tổng thống cũng có thể đề cử thăng cấp cho bất cứ ĐT nào, dù không có tên trong danh sách đề cử, nếu vị ĐT đó đã phục vụ cho lợi ích của Quốc gia, nhưng điều này không thường phổ biến).

Sau khi Tổng thống đề cử thăng cấp, danh sách các Đại tá được đề cử thăng cấp sẽ được gởi đến Quốc hội chuyển qua Ủy ban Quân vụ Thượng viện xác nhận bầu chọn. Sau khi được Ủy ban Quân vụ Thượng viện bầu chọn, các vị ĐT được đề cử sẽ chính thức thăng cấp CT.

Thời gian mang cấp bậc Chuẩn tướng trung bình từ hai đến bốn năm. Ngoài việc tự nguyện về hưu, tất cả các CT phải về hưu sau 5 năm mang cấp bậc hoặc 30 năm phục vụ, trừ khi họ được thăng cấp lên Thiếu tướng, hoặc tái bổ nhiệm giữ thêm một nhiệm kỳ phục vụ. Nếu không, tất cả CT phải về hưu vào tháng sau sinh nhật thứ 64 của họ. Tuy nhiên, Bộ trưởng Quốc phòng có thể hoãn việc về hưu của một CT cho đến sinh nhật lần thứ 66, và Tổng thống có thể trì hoãn việc về hưu của một CT cho đến sinh nhật lần thứ 68 của của vị CT đó. Vì số lượng Chuẩn Tướng có hạn. Lục quân 118, Hải quân 104 (Phó Đề đốc), Thuỷ quân lục chiến 36, Không quân và Lực lượng không gian 126, nên một số CT phải về hưu trước khi một số Đại tá được thăng cấp. Do đó, các CT thường về hưu trước độ tuổi và giới hạn phục vụ theo luật định, để không cản trở quá trình thăng cấp và thăng tiến binh nghiệp của Sĩ quan cấp dưới.

Dựa trên các tài liệu tham khảo cho thấy, Hội đồng thăng cấp Lục quân phải cân nhắc tuyển chọn những Đại tá xuất sắc, có tài lãnh đạo chỉ huy, kiến thức và thành tích vượt trội để bảo đảm những Đại tá được đề cử xứng đáng là những Chuẩn tướng chỉ huy phù hợp với các hoạt động chiến đấu của Lục quân Hoa Kỳ!

Đại ta Tam T. Dinh, Quân y Không quân (Ảnh của facebook.com/VAUSAFAMILY).

Cho đến nay đã có hơn 28 nữ Đại tá gốc Việt*** phục vụ trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ ( 8 vị hồi hưu ), nhưng vẫn chưa có phụ nữ gốc Việt mang cấp tướng****. Chúng ta hy vọng sẽ có phụ nữ Việt Nam trỡ thành những nữ tướng trong quân đội Hoa Kỳ như một số phụ nữ gốc Nhật, Hàn, Hoa, Phi Luật Tân và gốc Á Châu-Thái Bình Dương, đó là Đề đốc Hải quân Seiko Okano, Thiếu tướng Không quân Susan Mashiko (hồi hưu) và Chuẩn tướng lục quân Miyako Schanely (hồi hưu) gốc Nhật. Chuẩn tướng Không quân Sarah H. Russ, Thiếu tướng Không quân Sharon K.G. Dunbar (hồi hưu) gốc Hàn. Thiếu tướng Quân y vệ binh Quôc gia Lisa J. Hou, Thiếu tướng Không quân Carol A. Lee (hồi hưu), Phó Đề đốc Hải quân Alma M. Grocki (hồi hưu) và Chuẩn tướng Lục quân Coral Wong Pietsch (hồi hưu) gốc Hoa. Thiếu tướng Lục quân Suzanne Vares-Lum gốc Nhật-Hoa-Hawaii (hồi hưu). Phó Đô đốc Quân y Hải quân Raquel C. Bono, Phó Đề đốc Quân y Hải quân Eleanor V. Valentin, Phó Đề đốc Hải quân Babette Bolivar và Phó Đề đốc Quân y Hải quân Eleanor Mariano gốc Phi Luật Tân, những nữ tướng Hải quân gốc Phi Luật Tân trên đã hồi hưu, theo các tài liệu tham khảo.

HQ Đại tá Thu Luu, Bác sĩ Nha khoa Hải quân (Ảnh của linkedin.com).

Những Nữ Sĩ quan Hoa Kỳ gốc Á Châu-Thái Binh Dương trên đã phục vụ và chiến đấu trong Quân đội Hoa Kỳ trỡ thành những nữ tướng, họ đã đạt được binh nghiệp lên đến hàng tướng lãnh của một Quân đội hàng đầu Thế giới. Thiết nghĩ, trong tương lai, những nữ Sĩ quan gốc Việt cũng có thể đạt được binh nghiệp lến đến đỉnh cao để trở thành những nữ tướng Hoa Kỳ gốc Việt như họ ! Hy vọng Hội đồng thăng cấp của các Quân chủng Hải, Lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ sẽ thấy được năng lực lãnh đạo chỉ huy xuất sắc của những Nũ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt!

Chú thích: *Tên ghi theo tài liệu; **Hội đồng thăng cấp của các Quân chủng chính là nơi quyết định chọn đề cử các Đại tá thăng cấp Chuẩn tướng/Phó Đề đốc; ***Có thể hơn 28 nữ Đại tá gốc Việt, vì trong danh sách trên 153 Đại tá gốc Việt có 2 Đại tá có thể là phụ nữ, đó là Đại tá Lục quân Hang T. Nguyen (hồi hưu) và Đại tá Không quân Nga T Do ! Ngoài ra, có một số nữ Đại tá khác có họ giống họ Việt, nhưng chưa xác định được nguồn gốc; ****Không tìm thấy tài liệu Đại tá Danielle J. Ngô được thăng cấp Chuần tướng và Đại tá Vu The Thuy Anh thăng cấp phó Đề đốc Hải quân từ các tài liệu phối kiểm của Lục quân, Hải quân, USPHS và United States Senate Committee on Armed Services!

Bài Những Nữ Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai viết theo các tài liệu thu thập được để chia sẻ với bạn đọc. Sẽ có những thiếu sót ngoài ý muốn không sao tránh khỏi. Xin vui lòng lượng thứ. Trần Anh.

Nguồn: Congress.gov; defense.gov; usphs.gov; sgp.fas.org; dtphorum.com: Những vị Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai – Nam Yết; dongsongcu-Những Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt; bienxua-7 Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Đại tá năm 2023; bienxua-28 Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt.

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Suốt thời gian được bổ nhiệm đến Yokusuka, tôi thường viếng thăm Ðông Kinh. Ðể thăm chú thím tôi và cũng để thăm Hatsuyo. Nàng vẫn thân mật, trìu mến và dịu dàng, tuy hai chúng tôi tránh nhắc đến việc chậm lập gia đình của cả hai. Tôi cùng dạo phố với Hatsuyo nhiều bận. Trong 18 tháng vắng mặt của tôi, thủ đô đã thay đổi. Màu sắc và sự vui tươi biến mất. Ðường phố ưu sầu, mất hẳn sinh động. Dân chúng cúi đầu bước đi với vẻ trầm tư. Con cái, cha anh, chú bác, thân thuộc của những người này đã ra đi, và không bao giờ trở lại. Những tiệm buôn đã cạn hàng hoá, bán theo tem phiếu hiện là một nội quy bắt buộc. Dân chúng kiên nhẫn đứng nối đuôi trong gió lạnh, chờ đợi để nhận thức ăn. Tôi ý thức để khoản đãi tôi trở về nhà, thím tôi với Hatsuyo đã phải xếp hàng và tích trữ thức ăn rất lâu. Tuy nhiên thủ đô vẫn nguyên vẹn, ngoại trừ một cuộc không tập duy nhứt xảy ra vào năm 1942.

Nhưng chiến tranh lấn bước đến Nhựt Bản vào tháng 6 năm 1944, gây ảnh hưởng không tốt đối với công chúng. Vào ngày 15 tháng 6, dân chúng Ðông Kinh đã xúc động khi nghe tin 20 pháo đài bay địch đã bay một mạch từ Trung Hoa đến tấn công một thành phố phía Bắc Kyushu là đảo Cửu Châu. Cuộc oanh tạc không gây hư hại bao nhiêu. Nhưng trong nhà và trong các cửa tiệm, trong những cơ xưởng và trên đường phố khắp nơi ở Nhựt, ai ai cũng bàn tán đến vụ oanh tạc, nói về việc các chiến đấu cơ của chúng tôi đã thất bại không chận đứng nổi các oanh tạc cơ địch. Tất cả đều có chung những câu hỏi: thành phố nào sẽ bị oanh tạc kế đó? Khi nào? Và bao nhiêu oanh tạc cơ? Bao nhiêu bom?

Ðài phát thanh lại loan đi một tin tức gây lo âu khác. Người Mỹ đã đổ bộ lên Saipan. Chiến tranh đã đến gần quê hương bằng một lối khác nữa. Saipan không xa mấy. Những tấm bản đồ được mở ra, và người dân giựt mình nhìn thấy hòn đảo nhỏ li ti sát bờ biển Nhựt. Và họ nhìn lẫn nhau. Họ đã bắt đầu đặt những câu hỏi, thì thầm, về các tin tức chiến thắng loan đi thường xuyên trên đài phát thanh. Làm sao Nhựt Bản có thể nghiền nát chiến hạm, tiêu diệt phi cơ địch, đánh tan lực lượng của đối phương một khi Saipan đã bị xâm phạm. Ðó là một câu hỏi mà ai ai cũng đặt ra, nhưng chỉ một vài người dám đưa ra lời giải đáp.

Tiếp liền tin tức về Saipan, chúng tôi nhận được tin các lực lượng hùng hậu thuộc hạm đội của chúng tôi tiến đến quần đảo Mariana, tham dự vào trận đánh mà mọi người ở Yokosuka đều biết sẽ là một trong những trận đánh quyết định cuộc chiến. Chúng tôi không còn mưu định đổ bộ lên các hòn đảo bên ngoài, chúng tôi đang canh gác ở ngay những cổng bước vào quê hương chúng tôi.

Sáng hôm sau, Không đoàn Yokosuka nhận lịnh di chuyển đến đảo Iwo Jima. Bộ Tư Lịnh Tối Cao của chúng tôi e rằng một khi Saipan thất thủ, quân Mỹ sẽ bước thêm bước nữa, bằng cách tấn công địa điểm chiến lược này. Với Iwo Jima trong tay đối phương, toàn thể nước Nhựt sẽ bị uy hiếp.

Thực sự, việc Iwo Jima không bị chiếm đóng vào mùa Hạ năm 1944 là một kinh ngạc cho chúng tôi. Phòng thủ trên đảo này lúc đó rất yếu kém. Chỉ cần một phần lực lượng đổ bộ lên Saipan, địch quân có thể đặt chân lên các bãi cát Iwo Jima và tẩy sạch sức đối kháng của lực lượng phòng thủ trên đảo dễ dàng. Không hiểu vì lý do nào, cuộc đổ bộ bị trì hoãn nhiều tháng, cho phép Lục quân và Hải quân Nhựt đổ người và vũ khí lên hòn đảo chiến lược nhỏ bé này.

Khi nhận được lịnh thiết lập một mạng lưới bảo vệ không phận hòn đảo, Không đoàn Yokosuka do phần lớn máy bay đã tăng phái cho Phi Luật Tân chỉ có vỏn vẹn ba mươi chiến đấu cơ khả dụng. Ba mươi chiếc Zéro, giống như mấy chiếc Zéro mà tôi đã từng bay ở Trung Hoa gần 5 năm trước đây. Chỉ có bao nhiêu đó! Cho một Không đoàn Thủ đô có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng gia!

Tuy nhiên, cuộc đổ bộ chưa xảy ra. Chúng tôi coi biến cố này như một phép lạ. Trung tá Nakajima đã trở về Yokosuka. Một tháng sau khi ông rời căn cứ Toyohashi nằm trong vịnh Phong Kiều để đến Rabaul, Ðông Kinh đã gọi ông về và chỉ định chức vụ chỉ huy trưởng Không đoàn Yokosuka. Bây giờ, sau một năm trên đất liền, ông ta lại ra đi nữa. Lần này ông sẽ đối diện với một mặt trận bi tráng hơn bất kỳ mặt trận nào khác trong đời chỉ huy của ông. Tôi nhận được lịnh trình diện ông trong văn phòng. “Sakai, tại sao anh không đi với tôi lần này?” ông hỏi. “Anh biết là tôi nôn nóng muốn bay trở lại với anh đến mức nào không. Tôi bất cần những gì mấy thằng bác sĩ cứ lải nhải. Hiện thời, đối với tôi, anh vẫn là một phi công xuất chúng. Anh đã chứng tỏ điều này mỗi khi tôi thấy anh bay.”

“Saburo, tôi cần anh đi với tôi. Cần lắm. Anh sẽ giống như một vị thần hộ mạng đối với những phi công mới này. Có anh bay với chúng tôi, tinh thần của họ sẽ lên cao. Họ sẽ theo anh bất cứ nơi nào.”

“Trung tá cần phải hỏi tôi nữa sao?” Tôi nói. “Trung tá yêu cầu tôi đi với Trung tá phải không? Bao nhiêu lần tôi đã khẩn khoản! Bao nhiêu lần tôi đều bị lắc đầu, “anh không thể bay được đâu, Sakai, anh nửa đui nửa sáng mà còn bay với bổng gì nữa, Sakai.” Dĩ nhiên, tôi muốn đi! Tôi muốn đi với Trung tá. Tôi muốn chiến đấu trở lại!”.

Thời gian đã đổi thay. Không một viên y sĩ nào tỏ vẻ phản đối ý định của tôi. Những lời đầu môi để giữ một viên phi công độc nhãn đứng bên ngoài cuộc chiến không còn nữa. Nhựt Bản không thể nào lo nghĩ đến những chi tiết nhỏ mọn như vậy nữa. Nhựt Bản đang lâm nguy, và một phi công độc nhãn có đầy đủ kinh nghiệm chiến đấu như tôi phải gánh vác trách nhiệm.

Tôi lại ra đi. Xứ sở đang cần tôi.

Chúng tôi nhận lịnh đến Iwo Jima tức khắc. Chúng tôi không có cả thì giờ liên lạc với gia đình. Không có những lời từ biệt. Tôi thực tâm muốn từ giã Hatsuyo nhưng tôi chỉ kịp viết vội vài dòng thông báo vắn tắt lên một tấm bưu thiếp.

Vào sáng ngày 16 tháng 6-1944, chúng tôi cất cánh từ Yokosuka và bay trong đội hình, với tôi dẫn đầu, trực chỉ hòn đảo xa xôi. Nhưng chúng tôi không đến được mục tiêu. Sau 100 dặm bay trong những đám mây dầy đặc sa mù sà thấp và những cơn mưa như thác lũ, chúng tôi bắt buộc phải quay về Yokosuka. Mùa mưa của Nhựt Bản đã bắt đầu. Với tất cả dữ tợn của thiên nhiên. Nakajima và tôi, cũng như một số phi công kinh nghiệm khác có thể bay đến Iwo Jima dễ dàng, nhưng đa số ba mươi phi công thuộc không đoàn đều là tay mơ. Mưa bão sẽ đánh dạt họ ra khỏi đội hình không biết lúc nào, và điều đó có nghĩa là họ sẽ mất tích và mạng sống của họ chấm dứt.

Iwo Jima là một hòn đảo nhỏ cách phía Nam Yokosuka 650 dặm, tính bằng hải lý. Bề ngang lớn nhứt của hòn đảo chỉ khoảng hai dặm. Trên mặt bản đồ thế giới, Iwo Jima có vẻ như là một hòn đá cuối cùng của một loạt các hòn đá trải dài từ Yokosuka đến Guam. Tuy nhiên, các bản đồ thường đưa đến những sai lầm tai hại, và trên đường bay bao la của Thái Bình Dương, khoảng cách giữa mỗi điểm nhỏ có thể được phỏng định chênh lệch một cách khủng khiếp. Quả thật, không radar, ngay cả vô tuyến cũng không có, chúng tôi không dám liều lĩnh, vì như vậy hầu hết phi cơ của chúng tôi có thể đi đời.

Chúng tôi đã từng gặt hái kinh nghiệm bi thảm về vấn đề này. Ðầu năm 1943, nhiều phi đoàn chiến đấu cơ Lục quân, được lái bởi những phi công không có một chút kinh nghiệm nào trong các phi vụ vượt đại dương, vì chỉ tác chiến trên lục địa, cất cánh ở Nhựt Bản để đến một căn cứ phía Nam. Trên đường đi họ chạm trán với tình trạng thời tiết tồi tệ, nhưng họ không chịu quay về. Kết quả hầu hết phi cơ đều biến mất trong khoảng không trình hun hút sâu vô tận của Thái Bình Dương.

Chúng tôi cố lên đường một lần nữa vào sáng ngày 17 tháng 6. Lần này chúng tôi rời khỏi Yokosuka chưa đầy 200 dặm thì bị các trận bão đẩy bật trở lại, mặc dù theo báo cáo thì thời tiết ở Iwo Jima và quần đảo Mariana rất tốt đẹp. Chúng tôi nằm lì trong doanh trại, nghe tin tức do đài phát thanh loan đi liên quan đến quân trú phòng trên đảo Iwo Jima. Theo đó, đối phương đã tung các cuộc không tập lên hòn đảo này suốt ngày suốt đêm.

Bốn lần, chúng tôi cất cánh, và bốn lần chúng tôi đều bị các trận bão đẩy bật trở lại. Vào ngày 20 tháng 6-1944, khi chúng tôi cố gắng lên đường lần thứ năm, tình trạng thời tiết vẫn hoàn toàn không bảo đảm an phi. Tuy nhiên, Trung tá Nakajima quyết định lướt qua. Chúng tôi để những phi công không kinh nghiệm bay ở cánh và đuôi, rồi tất cả xông vào mưa bão mù mịt.

Không ai trong chúng tôi biết được vào ngày này nhiều hải hạm đội quan trọng của chúng tôi đã chịu đựng một cú đấm thảm khốc do phi cơ và trọng pháo của lực lượng đặc nhiệm đối phương ở quanh quần đảo Mariana tung ra.

Cuối cùng, chúng tôi thoát ra khỏi trận mưa bão. Chúng tôi bay được 650 dặm, là đã vượt 1,200 cây số và nhiều phút sau đó, đỉnh của ngọn núi lửa trên đảo Iwo Jima hiện ra lờ mờ trên mặt nước, Trung tá Nakajima bắt đầu đảo một vòng rộng lớn trên phi đạo thứ nhì, thiết lập trên sườn núi Motoyama, nằm chính giữa hòn đảo. Tôi những tưởng những phi đạo lấm bụi ở Lae là tồi tệ, nhưng phi đạo này còn tồi tệ hơn nữa. Ðáp xuống sân bay ngắn trên một hàng không mẫu hạm có lẽ còn đơn giản hơn đáp xuống phi đạo khủng khiếp ở dưới kia. Hai phía của phi đạo vách đá dựng đứng. Chỉ cần đáp trật một chút, chúng tôi sẽ đâm sầm vào núi và biến thành trái cầu lửa ngay. Và một tường đá cao chớn chở chắn ngang cuối phi đạo chờ đợi những phi công không thận trọng.

Trung tá Nakajima từ chối thử sức các phi công của ông trên phi đạo cấm kỵ này. Ông dẫn cả nhóm trở lại phi đạo thứ nhứt, nằm ở mặt phía Nam của hòn đảo. Phi đạo này rộng và dài. Lần lượt, các chiến đấu cơ hạ cánh.

Ðã có hơn 90 phi cơ đậu dọc theo phi đạo, không còn chỗ trống nào dành cho các chiến đấu cơ của chúng tôi. Nakajima đưa tay ra khỏi phòng lái vẫy vẫy ra dấu cho chúng tôi đi theo ông. Một con đường dốc lộng gió dẫn từ phi đạo chánh đến phi đạo phụ dài hơn một dặm. Tôi cảm thấy buồn cười khi chạy cà xốc men theo con đường này. Giống lái xe đò. Ðây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, tôi mới biết leo lên sườn núi với một chiến đấu cơ và một dọc ba mươi chiến đấu cơ phía sau, rồi chạy vòng như taxi đón khách.

Một tiểu đoàn bộ binh đã kinh ngạc đến nỗi há hốc khi nhìn đoàn công-voa tung xốc nối đuôi kêu vang rầm trời và quậy bụi mù mịt của chúng tôi. Nhiều người đưa tay chỉ chỏ, cười nghiêng ngửa. Riêng chúng tôi khó thể nào cười nổi. Lái một chiến đấu cơ lên dốc, với một chiếc ở phía trước và một chiếc khác quay cánh quạt vù vù thổi tung đất cát ở phía sau trong khi phải cố gắng đối phó với mấy chỗ lượn cong, đầy ổ gà còn hóc búa hơn duy trì đội hình bay khít khao trong một đám sương mù dầy đặc.

May mắn thay, chúng tôi đến Iwo Jima trong thời gian các trận đánh lắng dịu tạm thời. Chỉ vào ngày trước đó, hòn đảo đã náo động dưới hàng ngàn quả đại bác của lực lượng đặc nhiệm đối phương chạy dọc theo bờ biển. Hải pháo 400 ly từ các thiết giáp hạm Mỹ đào những hố sâu hơn bể bơi Ðông Kinh.

Chúng tôi may mắn, vì hiện thời đối phương đã quay hướng đến Saipan để dập các pháo đài Nhựt trên hòn đảo này. Trong ba ngày, chiến tranh buông tha Iwo Jima. Nhưng không một người đàn ông lành mạnh nào muốn ở đây. Nó vừa ảm đạm vừa bất an, không cảm thấy dễ chịu như ở Rabaul. Nhưng chúng tôi thích nghi với hoàn cảnh, lợi dụng thời gian yên tĩnh giả tạo để trầm mình trong các suối nước nóng chảy róc rách thường xuyên qua các kẽ đá từ bên này đến bên kia phi đạo.

Cuộc chiến chưa bao giờ kỳ dị hơn đối với chúng tôi. Chúng tôi biết được tin hạm đội của chúng tôi đã tan tác trong trận hải chiến ở quần đảo Mariana. Và tất cả các phi công của các hàng không mẫu hạm đều chết rụi không còn một mống. Những lực lượng đổ bộ của địch có sức mạnh siêu việt là điều không thể nghi ngờ được. Với sự yểm trợ của hàng ngàn phi cơ, hàng trăm đại bác trên các chiến hạm, những lực lượng này chắc chắn sẽ diệt các đơn vị Nhựt trên đảo Saipan đến người cuối cùng.

Các sĩ quan của chúng tôi đã đến hồi tuyệt vọng. Họ biết rõ Saipan cần được giúp đỡ. Nhưng chúng tôi có thể làm gì được? Một cuộc tấn công toàn lực bằng chiến đấu cơ của chúng tôi chỉ hiệu quả nhứt thời, nếu không nói là vô nghĩa. Bởi lẽ Saipan nằm cách phía Nam Iwo Jima đến 600 hải lý. Mặt khác, nếu chúng tôi rời Iwo Jima mà không để lại một số chiến đấu cơ khả dụng, lúc đó quân Mỹ có thể thừa nước đục thả câu, đập tan hệ thống phòng thủ và quét sạch sức đề kháng yếu ớt trên hòn đảo.

Cuối cùng, quyết định được đưa ra: chiến đấu cơ ở lại, nhưng các oanh tạc cơ sẽ cất cánh tấn công các tàu chiến Hoa Kỳ trên đường đến Saipan. Mỗi cuộc tấn công đều được thực hiện vào ban đêm, các oanh tạc cơ không hộ tống sẽ cất cánh từng nhóm tám hoặc chín chiếc.

Khoảng thời gian giữa mỗi phi vụ oanh tạc cơ cất cánh rồi quay về là một khoảng thời gian vô tận. Chúng tôi nôn nóng sốt ruột chờ đợi. Các phi công của chúng tôi đã thi hành nhiệm vụ với lòng dũng cảm tột cùng và đã đạt được một số hiệu quả. Nhưng mà những hiệu quả này có nghĩa lý gì? Ðó chỉ là cái đập cánh của lũ thiêu thân.

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Họa sĩ Thái Tuấn 90 tuổi, từ trần lúc 13 giờ ngày 26-9-2007 tức ngày 16 tháng Tám năm Ðinh Hợi.

Trong gần một tháng vừa qua, lão họa sĩ đã nằm tại bệnh viện. Nhưng đến trưa ngày 26-9, ông được đưa về nhà và mất trên đường về nhà riêng tại số 150/31/5 đường Lý Chính Thắng, Quận 3, Sài Gòn.

Lễ viếng bắt đầu lúc 10 giờ ngày 27-9-2007 tại nhà thờ Tân Ðịnh, Quận 1, Sài Gòn.

Lễ động quan cử hành lúc 7 giờ sáng ngày 29-9- 2007, hỏa thiêu tại Bình Hưng Hoà.

Họa sĩ Thái Tuấn sinh năm 1918 tại Hà Nội. Sau năm 1975, đã có thời gian ông định cư tại Pháp.

Nhưng năm 2006, ông trở lại Sài Gòn sống cùng các con, tiếp tục sáng tác và đã có vài cuộc triển lãm tại Sài Gòn. Triển lãm cuối cùng của lão hoạ sĩ Thái Tuấn được mang tên Về Nguồn, từ ngày 9 đến 21-12-2006, tại Phòng tranh Tự Do đường Hồ Tùng Mậu Sài Gòn.

Theo thời gian và không gian, sáng tác của họa sĩ chia làm 3 giai đoạn: Trước 1975 tại Sài Gòn; sau 1975 ở nước ngoài và từ 2006 ở Việt Nam.

Xin chia buồn cùng tang quyến, cầu chúc linh hồn lão họa sĩ an nghỉ vĩnh hằng.

Thái Tuấn trong căn lầu nhỏ. năm 2006.

Người “Anh Em Cũ” Trong Tang Lễ Cố Họa Sĩ Thái Tuấn

Tang lễ Thái Tuấn chắc chắn sẽ có rất nhiều “anh em cũ” đến tiễn đưa “lão làng” về nơi an nghỉ cuối cùng.

Nguyễn Nghiệp Nhượng nói với tôi như thế trước khi tôi từ Lộc Ninh về Sài Gòn. Tôi hiểu “anh em cũ” có nghĩa là những anh em hoạt động trong lãnh vực văn học nghệ thuật trước năm 1975 ở miền Nam, chứ chẳng riêng gì ở Sài Gòn. Họa sĩ Thái Tuấn đã trở thành một trong số vài nghệ sĩ nhiều tuổi nhất còn sống ở thành phố này. Ông trở thành “cây đại thụ”, cũng như những hàng cây cổ thụ mà từ khi những người Bắc di cư vào Nam năm 1954, đã nhìn thấy trên những con đường đẹp nhất “đô thành” thời bấy giờ.

Ông hoạt động liên tục từ khi ở miền Bắc “di cư” vào miền Nam. Sau năm 1975, ông cũng như hàng triệu người Việt Nam khác, tìm đường ra nước ngoài định cư. Ông qua Pháp và vẫn tiếp tục sáng tác. Suốt cuộc đời ông không làm gì ngoài nghệ thuật, không biết việc gì khác ngoài vẽ tranh.

Năm 2006, ông trở lại Việt Nam và tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ông trở lại sống trong căn nhà ở “tuốt tắp” trong con hẻm nhỏ giữa đường Yên Ðổ, nơi ông đã sống từ nhiều ngày trước. Xin mở ngoặc: Chẳng biết cụ Tam Nguyên Yên Ðổ mắc tội gì, bây giờ con đường Yên Ðổ đã đổi thành đường Lý Chính Thắng. Xin bạn đọc nhớ kỹ. Nhà ông là một ngôi nhà khó tìm nhất trong những căn nhà ở Sài Gòn. Nhờ bất cứ ai chỉ đường vào nhà ông, chắc khó mà chỉ được. Lỗi ngõ quanh co, quẹo trái, rẽ phải liên miên và những con đường chỉ đủ cho hai chiếc xe gắn máy tránh nhau. Ngôi nhà nhỏ hẹp của ông nằm khép nép trong một xóm lao động. Từ hơn nửa thế kỷ qua đến nay, nó chỉ được sửa chữa qua loa cho “sạch nước cản”, chứ không phải là một sự “đi lên” hay “đi xuống”.

Cuộc sống của ông thanh đạm. Con người ông cũng vậy, giản dị, xuề xoà, đối với ai ông cũng thân thiện, niềm nở. Năm 2006, khi ông từ Pháp trở về Việt Nam, tôi đến thăm vài lần. Những ngày sau cùng, ông sống trên căn lầu nhỏ, hệt như cái chuồng chim. Chiều ngang 2 mét chiều dài gần 3 mét, nhưng có được cái máy lạnh. Khách đến chơi, không được quá 3 người. Chỗ đâu mà ngồi. Cũng chẳng có chỗ treo tranh như nhà nhiều hoạ sĩ khác. Trong phòng ông chỉ đủ chỗ treo một hai bức mới nhất. Mỗi khi cần giới thiệu một bức tranh nào, ông phải nhờ một người con mang từ một nơi nào đó trong nhà vào phòng.

Chính ở nơi này ông đã sáng tác 13 bức tranh trong triển lãm tháng 12-2006 — như đã tường trình trong bài viết ngày 20-12-2006.

Không ngờ đó lại là lần triển lãm cuối cùng của Thái Tuấn và sau đó vài ngày là bữa cơm thân mật của anh em chúng tôi, cũng là bữa ăn với nhau cuối cùng ở nhà hàng Cơm Niêu. Thái Tuấn mang theo một chai rượu vang, đúng là kiểu Tây. Bữa đó có cả cụ Mạnh Ðan, vợ chồng Ðằng Giao, Nguyễn Thụy Long, do bà chủ báo Cỏ Thơm ở Virginia về mời.

Những Ngày Cuối Cùng

Thái Tuấn cứ hẹn sẽ lên Lộc Ninh nằm chơi vài ngày, nếu thích sẽ vẽ mấy cô gái Thượng. Hàng loạt tác phẩm của anh đều diễn tả vẻ đẹp thiếu nữ thuộc nhiều thành phần khác nhau, có lẽ chỉ thiếu một số cô gái miền sơn cước. Tôi nghĩ đó cũng là dự định của anh vào thời gian này. Nhưng ý tưởng chưa thực hiện được thì anh đã nằm bệnh viện. Sau này, thỉnh thoảng anh điện thoại cho tôi, hỏi thăm cây cỏ hoa lá, nhưng tiếng anh khào khào qua điện thoại, chỉ được vài câu rồi con anh phải “phiên dịch” lại. Trước ngày anh ra đi, tôi vẫn nhận được tin anh qua điện thoại. Vài ngày trước khi mất, các con anh nói bây giờ anh chỉ “bút đàm”, tức là chỉ nói chuyện bằng giấy bút, chứ không nói được.

Mới ngày 25-9, được tin anh ra khỏi phòng cấp cứu. Trưa hôm sau, 13 giờ ngày 26-9-2007 đã được tin anh mất trên đường từ bệnh viện về nhà.

Tôi vội báo tin đến bạn bè khắp nơi. Một số bạn hồi âm ngay và giao cho tôi nhiệm vụ thay mặt đi phúng điếu hoặc chuyển lời phân ưu đến tang quyến.

Những Người “Anh Em Cũ”

Tôi đáp chuyến xe đò sáng sớm về Sài Gòn. Trước đó tôi đã nhờ Hàm Anh đặt sẵn vòng hoa để mang đến nhà tưởng niệm, trong khuôn viên nhà thờ Tân Ðịnh, nơi quàn linh cữu cố họa sĩ. Mới đó mà hôm nay đã thành “cố” rồi! Gần trưa tôi đến nơi.

Ba người con trai cố họa sĩ đón sẵn, đưa vòng hoa của các bạn ở nước ngoài và chúng tôi vào bên bàn thờ người quá cố. Rất nhiều vòng hoa của thân nhân và thân hữu để la liệt bên linh cữu. Những cái tên rất quen của “làng văn, làng báo Sài Gòn ngày xưa”, tôi không thể kể hết.

Thái, người con đầu của anh Thái Tuấn cũng đã ngoài 60, nắm tay tôi kể:

– Bác Tú Duyên và bác Mạnh Ðan vừa ở đây về thì chú tới.

Anh Tú Duyên đã 92 tuổi rồi nhưng vẫn còn khoẻ mạnh. Thái đưa cho tôi xem mấy hàng chữ của họa sĩ Tú Duyên vừa ghi trong cuốn sổ lưu niệm. Nét chữ mới chỉ hơi run, nhưng lời lẽ thì vẫn còn rất trẻ:

Anh viết:

“Cầu cho linh hồn họa sĩ yên vui. Còn tôi hơn bồ 2 tuổi còn ngồi đây viết những lời như thế này. Thân chào linh hồn hoạ sĩ.

Ngày 27-9-2007.

Ðồng nghiệp Tú Duyên”.

Phía dưới trang giấy kẻ ô vuông là dòng chữ của lão nghệ sĩ nhiếp ảnh “râu dài” Mạnh Ðan:

“Vô cùng thương tiếc người bạn cố tri. Thái Tuấn ra đi không bao giờ trở lại.

Vĩnh biệt.

Nguyễn Mạnh Ðan”.

Còn vài chục trang giấy như thế của những người thân, những người bạn, những người anh em, già trẻ lớn bé, lớp trước lớp sau, tôi không thể kể hết.

Ðiều đó chứng tỏ khi sinh thời ông đã sống như thế nào. Ðó là điều quan trọng chứ không phải là tên tuổi, nổi danh hay không nổi danh.

Thái độ sống và cách sống với những người xung quanh mới chính là con người thật.

Có Gặp Lê Xuyên xin Đừng Nói Chuyện Thế Gian

Ngày Thứ Bảy 29-9, linh cữu của cố hoạ sĩ Thái Tuấn được đưa lên tòa nhà thờ chính Tân Ðịnh làm lễ. Rất đông thân nhân bạn bè thuộc đủ thành phần đến dự lễ. Bước chân vào trong nhà thờ, tôi gặp ngay những khuôn mặt quen thuộc như Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Cù Nguyễn, Hàm Anh, Trịnh Cung, Nguyễn Quốc Thái, Mạnh Ðan, Nguyễn Ðạt…

Trong lúc chờ đợi đưa linh cữu ra ngoài xe, tôi có dịp nói chuyện với Dương Nghiễm Mậu. Hồi này anh cắt tóc ngắn, kiểu cắt “bốc” của những cậu học sinh khi còn nhỏ. Anh vẫn trẻ trung như thanh niên. Tôi chưa kịp cười anh đã giải thích ngay: “Ấy, cắt tóc như thế để chúng nó không nắm được tóc mình”.

Nguyễn Nghiệp Nhượng nhún vai phê một câu ngắn gọn, nhưng đầy đủ ý nghĩa: “Hơi muộn”.

Một anh bạn nào đó hùa theo: “Không những nó nắm tóc ông mà còn bị nó ghè cho gãy xương”.

Tôi hỏi lảng: “Cuốn sách của ông ra sao rồi? Hết bán được rồi phải không?”

Dương Nghiễm Mậu cười tỉnh như không: “Chỉ không bán được ở Sài Gòn thôi. Còn các nơi vẫn bán như thường. Mình chỉ ngại cho nhà xuất bản, họ bỏ vốn in khá nhiều. Mình thì cứ bình an vô sự”.

“Té ra thành phố Sài Gòn lại không cởi mở bằng những nơi khác?”

“Ở đó mà cởi…”

Chuyện xoay quanh các chuyện “văn nghệ lẩm cẩm” như thế. Tôi gặp một số các chị quả phụ Trần Lê Nguyễn, Minh Ðăng Khánh… cùng một số rất ít người làm văn làm báo sau này hoặc từ miền Bắc vô Nam sau năm 1975.

Nếu không có những dịp như thế này, khó có dịp nào anh chị em “Sài Gòn của chúng ta xưa” gặp nhau đông đủ được đến vậy. Dù trong tang lễ nhưng mọi người đều nhân cơ hội này thăm hỏi nhau vô số chuyện gia đình, chuyện anh em bên này bên kia.

Ðúng 8 giờ, chiếc xe chở linh cữu ra khỏi khuôn viên nhà thờ Tân Ðịnh, hướng về nhà hoả thiêu Bình Hưng Hòa.

Thôi, anh ra đó gặp Phan Nghị, Lê Xuyên và anh đừng nói với Lê Xuyên rằng dù anh ấy đã ở thế giới bên kia, nhưng sách của anh ấy cũng không được bán ở Sài Gòn, kẻo anh ấy buồn, tội nghiệp cả cho người đã chết!

Thế gian còn nhiều chuyện đau lòng lắm. Xin quý vị hãy yên nghỉ. Vĩnh biệt họa sĩ tài hoa Thái Tuấn.

(Sài Gòn 09-2007)

Chữ “CS?”

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

May 23rd, 2025

Post by Sơn râu 4 Sep 2026

Sau năm 1975, bà con mình vượt biên, vượt biển tới các nước nói tiếng Anh như: Mỹ, Canada, Úc… Bà con mình nói hay viết chêm tiếng Anh vào là chuyện thường ngày ở huyện.

Nhiều chữ nửa Tây, nửa ta như: ‘Little Saigon’, ‘chạy show’… Hoặc ‘boat people’ (thuyền nhân); ‘lifeboat’ (xuồng cứu sinh xài trong phim như Titanic); email, shopping, selfie…

‘Selfie, tự chụp hình mình, được Oxford công nhận là “Từ của năm” vào 2013. Selfie thì có người dịch là ‘tự sướng’? Nghe rất là thô tục; không nên xài!

Tháng Tư, năm 1975, CSBV xâm lược chiếm được nước VNCH. Cùng với những thay đổi lớn về chính trị và xã hội, tiếng Việt cũng trải qua nhiều biến chuyển. Có chữ  mới ra đời. Có hay; có dở. Hay sống dai. Dở chết yểu.

Như chữ ‘thả thính’? ‘Thính’ là gạo rang cho thơm rồi giã nhỏ thả xuống vó, dụ cá đến gần rồi kéo vó lên. ‘Thả thính’ của giới trẻ hiện nay, kiểu nhẹ nhàng, gây sự tò mò để ai kia chú ý đến mình, giống như cách thả thính xuống nước vậy.

Ca dao có câu: ‘Cô thương nhớ ai ngơ ngẩn đầu cầu, lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi.” Soi là coi đó mấy cha. Còn ‘Xoi’, động từ, là dùng vật hình que nhỏ chọc vào cho thông, cho hết tắc. Như: xoi cống, xoi vòi ấm, xoi thông ống điếu. Viết xoi ruột là viết trật lất!

Rồi tui có viết “FBI từ đó tới giờ chưa bắt được và không xác định chính xác nhân thân của tên không tặc này.”

Thì có một độc giả tình thương mến thương chụp cho tui cái mũ xài chữ CS như vầy: “Bây giờ tiến bộ xài ‘nhân thân’ thay cho ‘lý lịch’?” Nghe tới chữ lý lịch là cả một thời Miền Nam bị CS đày đọa bởi cái chữ nghĩa lý lịch 3 đời nó hiện về như cơn ác mộng. Tui bèn trả lời ổng như vầy:

“Câu này có hai mệnh đề phủ định (negative clause) nối với nhau bằng chữ ‘và’ liên từ đồng đẳng (coordinate conjunction). Mệnh đề nào quan trọng đứng trước. Có thể tách ra làm hai câu: ‘FBI từ đó tới giờ chưa bắt được (tên không tặc); nên chưa biết y là ai.’ FBI không xác định được một cách chính xác nhân thân của tên không tặc này.”

Nhân thân tức gốc gác, vợ con, cha, mẹ, anh em, họ hàng, FBI cũng không biết luôn. Như vậy, nhân thân không phải là lý lịch.

Trong từ điển Hán Việt không có chữ lý lịch (lý viết y dài). Chỉ có chữ ‘lí lịch’ (lí viết i ngắn). Lí lịch chỉ chung công việc đã làm và hoàn cảnh đã qua.

Mà CS biết lý lịch tới 3 đời kể cả bên vợ của mình để làm gì? Để trả thù; để đày đọa người dân Miền Nam.

Chế độ CS là một chế độ bị bệnh “Bách hại cuồng” – nhìn đâu cũng thấy kẻ thù muốn hại mình. Vì bị bệnh nặng như thế nên mới hành động tàn ác không giống ai. Chớ hồi xưa mình xài chữ ‘lai lịch’. Lai lịch, quá khứ, chỉ nguồn gốc, gốc gác của sự việc, của một người.

Chẻ cọng tóc ra làm 8, tui xin kết luận là: ‘Ông xúi tui xài chữ ‘lý lịch’ của CS để thay chữ ‘nhân thân’ là ông xúi tui viết bậy không hè!”

Nhớ hồi xưa 16 tuổi trở lên là mình làm giấy căn cước bọc nhựa để cho biết gia thế, xuất thân, lý lịch. CS vô thì bắt làm chứng minh nhân dân? Thiệt là chuyện ruồi bu! Người dân da vàng mũi tẹt húp nước mắm mà phải chứng minh mình là nhân dân?

Sau 50 năm, chắc nhận thấy dùng chữ như vậy là ngu lâu, ngu bền vững, nên CS lẳng lặng lấy chữ căn cước ra xài, nhưng vẫn còn ngoan cố, cố thòng thêm chữ công dân. Căn cước công dân? Thiệt là giành khùng hết ráo!

Tranh Bảo Huân

Trong quá trình đó, một số người đặt ra khái niệm ‘chữ CS’ – nhằm chỉ những từ ngữ mới được sản sinh là sản phẩm của chế độ cộng sản, và cho rằng ngôn ngữ đang bị làm hỏng.

Tui cho rằng tiếng Việt là một sinh ngữ, ngôn ngữ sống, phát triển tự nhiên và độc lập với chính trị. Việc ngôn ngữ thay đổi là tất yếu. Tiếng Anh và tiếng Pháp được trăm triệu người trên thế giới sử dụng hàng ngày cũng không đứng yên mà liên tục phát triển: từ vựng mới, cấu trúc mới, thậm chí cách phát âm cũng thay đổi theo thời gian.

Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian là chuyện tất nhiên phải xảy ra. Nếu so sánh tiếng Việt đầu thế kỷ 20 với giữa thế kỷ, rồi với hiện tại, chúng ta sẽ thấy rõ sự khác biệt trong từ vựng, cách dùng từ, và cả cấu trúc câu.

Mần văn là đụng tới chữ nghĩa. Đụng riết rồi quen. Quen mà thấy chữ gì thiên hạ xài không trúng (nghĩa là trật) theo ý mình thì trong lòng bứt rứt lắm. Không chỉ ra thì ấm ức, mà chỉ ra thì mích lòng. Nhưng đời văn mà sợ mích lòng thì kiếm chuyện khác mà mần đi, đừng có mần văn. Không sửa lưng người khác hoặc bị người khác sửa lưng thì đâu có học được gì. Viết lâu mà không tiến bộ chút nào, như con rùa chậm tiến bò vào cõi văn chương. Chán lắm!

Phần ông bà mình nói đời hổng có ai cái gì cũng biết. Tàu nói: “Nhân vô thập toàn”. Tây (là Tây Phương) nói: “No one is perfect.” Chính vì vậy, biết tới đâu mình nói tới đó. Cứ nói, cứ cãi sùi bọt mép. Cãi tới cái trúng, nó văng ra cái đụi mình lượm về xài. Người được lượm, dỉnh mặt vênh râu, ra vẻ thế gian có ba bồ chữ về tao hết ráo. Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Còn chính giữa, tức cái bụng đựng mồi và rượu. Nhớ đừng hung hăng mà lên cơn nhồi máu cơ tim bỏ mạng giữa sa trường cãi ‘nhe mấy cha!’

Trong thế giới văn chương, theo ý tui, nên cư xử như cục đá góc cạnh khác nhau, hay hơn là cư xử tròn vo như hòn sỏi. Một chuyện mà ông này nói ngược, bà kia nói xuôi đều đúng hết ráo thì chán lắm. Viết như vậy là người thừa trong cõi văn chương. Cãi để học. Cãi trong văn chương là cái cãi tao nhã của tao nhân mặc khách ở chỗ ‘tao đàn, mày đàn.’ Chớ không phải của dân chơi Cầu Ba Cẳng, cãi phải giống như quánh lộn.Kết luận CS không có khả năng làm ra chữ. Ông bà mình mới làm ra chữ và chữ nó hay! Mình phải ráng xài cho nó trúng.

ĐXT